0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng Bảy và 7 tháng năm 2026 tỉnh Hà Tĩnh
  •   06/08/2026 11:11

I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTháng 7 năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tại Hà Tĩnh duy trì ổn định dù thời tiết nắng nóng kéo dài. Kết quả này đạt được nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành cùng tính chủ động của người dân. Lĩnh vực chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng an toàn sinh học, chú trọng tiêm phòng và chống nóng cho đàn vật nuôi. Ngành thủy sản diễn ra thuận lợi khi nhiều diện tích nuôi tôm, cá bước vào giai đoạn sinh trưởng tốt và thu hoạch. Người nuôi tích cực kiểm soát môi trường nước và áp dụng quy trình thâm canh để tối ưu năng suất. Trong lâm nghiệp, các địa phương tiếp tục chăm sóc, đẩy mạnh trồng mới diện tích rừng tập trung. Đồng thời, công tác tuần tra và phòng cháy, chữa cháy rừng được triển khai nghiêm ngặt trong thời kỳ cao điểm.1.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọtTháng Bảy hoạt động trồng trọt trên địa bàn tỉnh tập trung vào sản xuất vụ Hè Thu. Sau khi hoàn thành thu hoạch vụ Đông Xuân, các địa phương khẩn trương làm đất, gieo cấy lúa và gieo trồng cây hằng năm theo đúng khung thời vụ. Tiến độ gieo trồng cây vụ Hè Thu 2026: Đến ngày 20/7/2026, diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu toàn tỉnh ước đạt 43.591 ha trên 45.516 ha kế hoạch, đạt 95,77% kế hoạch và bằng 95,86% so với cùng kỳ năm trước. Đầu vụ Hè Thu, nắng nóng kéo dài tại một số khu vực đã gây khó khăn về nguồn nước tưới, ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy. Bên cạnh đó, giá lúa vụ Đông Xuân năm 2026 duy trì ở mức thấp so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá vật tư nông nghiệp, chi phí thuê nhân công và dịch vụ cơ giới hóa vẫn ở mức cao, làm giảm hiệu quả sản xuất của người dân. Hiện nay, các địa phương đang tập trung chăm sóc diện tích lúa đã gieo cấy, tăng cường kiểm tra đồng ruộng, chủ động phòng trừ sâu bệnh và điều tiết nước hợp lý nhằm bảo đảm cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt. Tiến độ gieo trồng các cây trồng cạn còn chậm so với kế hoạch, đặc biệt là cây lạc chỉ đạt 38,53% kế hoạch.Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa, sâu cuốn lá nhỏ lứa 2 phát sinh gây hại tại hầu hết các địa phương, diện tích nhiễm 192 ha; mật độ phổ biến 10-15 con/m², nơi cao 30-40 con/m², chủ yếu trên các ruộng xanh tốt, bón thừa đạm. Nhện gié xuất hiện trên các chân ruộng thiếu nước và ruộng xanh tốt, diện tích nhiễm 55 ha; tỷ lệ gây hại phổ biến 5-7%, nơi cao 10-15%, cục bộ 30-40%, phân bố tại các xã trung tâm. Chuột gây hại tại hầu hết các địa phương, tập trung ở vùng cao cưỡng và khu vực gần khu dân cư; diện tích nhiễm 175 ha, tỷ lệ gây hại phổ biến 2-3%, nơi cao 5-10%, cục bộ đến 15%.b. Chăn nuôi Nhìn chung, cơ cấu chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần đàn đại gia súc, tăng tỷ trọng chăn nuôi lợn và gia cầm phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu thị trường. Trong thời gian tới, hoạt động chăn nuôi được dự báo tiếp tục phát triển theo hướng an toàn sinh học, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị và nâng cao chất lượng giống nhằm giảm chi phí sản xuất, hạn chế rủi ro do dịch bệnh và biến động thị trường.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng Bảy dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 3 xã Kỳ Xuân, Kỳ Văn, Hương Xuân; Cúm gia cầm xảy ra tại xã Cẩm Xuyên làm 228 con gia cầm mắc bệnh, chết, tiêu hủy; dịch Lở mồm long móng xảy ra tại xã Sơn Giang làm 15 con trâu bò mắc bệnh. Hiện nay, dịch Lở mồm long móng tại xã Sơn Giang, Cúm gia cầm tại xã Cẩm Duệ chưa qua 21 ngày.Lũy kế 7 tháng năm 2026, Dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 31 xã, phường làm 1.593 con lợn mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng 134.031 kg; dịch Viêm da nổi cục đã xảy ra tại 3 xã làm 25 con bò mắc bệnh trong đó chết, tiêu hủy 7 con với khối lượng 660 kg; Cúm gia cầm có 1.128 con gia cầm mắc bệnh chết, tiêu hủy của 34 hộ chăn nuôi; Lở mồm long móng đã xảy ra tại 2 xã (Kỳ Thượng và Sơn Giang) làm cho 19 con bò mắc bệnh.1.2. Sản xuất lâm nghiệpTrong tháng Bảy hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai theo kế hoạch. Công tác trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng được các địa phương quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài làm gia tăng nguy cơ cháy rừng, cần tiếp tục tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.Về trồng rừng: Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng Bảy ước đạt 57,2 nghìn cây, tăng 47,9 nghìn cây so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2026 số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.404,79 nghìn cây bằng 90,09% giảm 154,51 nghìn cây so với cùng kỳ năm trước. Về diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 811,4 ha, bằng 236,57% tăng 468,4 ha so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế đến tháng 7/2026 diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.528,5 ha, bằng 152,43% tăng 1.901,5 ha so với cùng kỳ năm trước. Về khai thác gỗ và lâm sản: Trong tháng Bảy sản lượng gỗ khai thác ước đạt 62.943,3 m3, bằng 154,68%. Lũy kế từ đầu năm đến nay sản lượng gỗ khai thác ước đạt 410.410,4 m3 bằng 145,08% tăng 127.523,4 m3 so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng chủ yếu do nhiều diện tích rừng trồng đến chu kỳ khai thác; một số diện tích rừng bị ảnh hưởng bởi bão cuối năm 2025 tiếp tục được khai thác tận thu. Bên cạnh đó, giá gỗ nguyên liệu và nhu cầu tiêu thụ của các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn vẫn duy trì ở mức khá, tạo động lực để người dân đẩy mạnh khai thác.Thiệt hại về rừng: Trong tháng Bảy đã xảy ra 06 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 1,99 ha, bằng 70,52% (giảm 0,83 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời không gây hậu quả nghiêm trọng. Cũng trong tháng do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng gay gắt, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 05 vụ cháy rừng tại khu vực các xã Sơn Tiến, Kim Hoa và Vũ Quang với tổng diện tích thiệt hại là 9,99 ha. Các địa phương cần tiếp tục tăng cường trực ban, tuần tra và siết chặt hơn nữa các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trong những tháng cao điểm mùa khô sắp này.1.3. Tình hình thủy sảnKết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng Bảy ước đạt 5.860 tấn, bằng 104,92%, tăng 275 tấn so với cùng kỳ, trong đó khai thác tăng 5,05% và nuôi trồng tăng 4,56%. Tính chung 7 tháng đầu năm sản lượng đạt 36.091 tấn, tăng 1.092 tấn so với cùng kỳ năm trước, bằng 103,12%.Về khai thác thủy sản, sản lượng ước đạt 4.369 tấn, bằng 105,05 % so với cùng kỳ năm trước, chỉ tính riêng khai thác biển ước đạt 3.980 tấn, bằng 105,71% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động khai thác thủy sản trong tháng diễn ra khá thuận lợi nhờ điều kiện thời tiết trên biển ổn định, ngư trường xuất hiện nhiều đàn cá nổi và một số đối tượng hải sản có giá trị kinh tế. Tính chung 7 tháng năm 2026 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 27.385 tấn, bằng 102,96% so với cùng kỳ năm trước. Về nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng ước đạt 1.491 tấn, bằng 104,56% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 7 tháng đầu năm 2026 sản lượng ước đạt 8.706 tấn, bằng 103,62% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh phát sinh bệnh đốm trắng trên tôm với diện tích bị ảnh hưởng 0,6 ha tại xã Thạch Hà. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, tổng diện tích thủy sản bị dịch bệnh là 19,66 ha, chủ yếu là bệnh đốm trắng trên tôm. Nhờ công tác giám sát được thực hiện thường xuyên, dịch bệnh được phát hiện sớm, báo cáo kịp thời, chẩn đoán chính xác và xử lý ngay từ khi mới phát sinh. Đồng thời, ngành chuyên môn đã hỗ trợ hóa chất Chlorine để xử lý môi trường nuôi, khoanh vùng và khống chế hiệu quả các ổ dịch, góp phần ngăn chặn dịch bệnh lây lan trên diện rộng, hạn chế thiệt hại cho người nuôi.2. Sản xuất công nghiệpNhìn chung, trong 7 tháng năm 2026, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh, khẳng định vai trò là động lực chủ yếu của nền kinh tế tỉnh. Kết quả này được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng tích cực của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện, cùng với việc các dự án công nghiệp trọng điểm đi vào vận hành ổn định. Mặc dù một số ngành như khai khoáng, chế biến gỗ và sản xuất đồ uống còn gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ và nguồn nguyên liệu, song xu hướng phục hồi của phần lớn doanh nghiệp đã tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng chung. Với việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, mở rộng năng lực sản xuất và phát huy hiệu quả các dự án mới, ngành công nghiệp Hà Tĩnh được kỳ vọng sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng cuối năm, đóng góp tích cực vào mục tiêu hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 của tỉnh.2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP)Ước tính tháng Bảy chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,42% so với tháng trước và tăng 72,83% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 37,5% so với năm 2025. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 10,88% làm giảm 0,18 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 34,75% đóng góp 26,51 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 56,94% đóng góp 11,09 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,9% đóng góp 0,08 điểm mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh.Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng khả quan, với động lực chủ yếu đến từ ngành sản xuất và phân phối điện (tăng 56,94%), ngành sản xuất thiết bị điện (tăng 55,78%), ngành dệt (tăng 31,83%), ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (tăng 26,48%) và ngành sản xuất kim loại (tăng 14,75%). Bên cạnh đó, ngành chế biến thực phẩm vẫn duy trì mức tăng 10,74% nhờ hoạt động sản xuất ổn định của các doanh nghiệp, mặc dù chịu ảnh hưởng của thời tiết làm giảm sản lượng chè nguyên liệu trong tháng 7; ngành sản xuất đồ uống tăng 8,53%. Kết quả trên cho thấy các ngành công nghiệp chủ lực tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt, góp phần quan trọng vào tăng trưởng sản xuất công nghiệp và phát triển kinh tế của tỉnh trong 7 tháng đầu năm 2026.2.2. Một số sản phẩm chủ yếuTrong 7 tháng năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Kết quả tổng hợp từ 23 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực cho thấy có 17 nhóm ghi nhận sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước và 2 nhóm sản phẩm tăng mới (sản phẩm ô tô điện và xe máy điện), chiếm 82,61% tổng số nhóm sản phẩm được theo dõi.Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực của Hà Tĩnh duy trì tăng trưởng khá, nổi bật là điện, pin lithium, thiết bị điện, dệt may, bao bì giấy, chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và thép. Đặc biệt, sản lượng điện tăng mạnh nhờ Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II vận hành thương mại cả hai tổ máy cùng với Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I hoạt động ổn định, tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng công nghiệp của tỉnh. Các doanh nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì đơn hàng, đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường tiêu thụ. Mặc dù một số sản phẩm giảm sản lượng do ảnh hưởng của nhu cầu thị trường, nguồn nguyên liệu và điều chỉnh kế hoạch sản xuất, nhưng không tác động lớn đến xu hướng tăng trưởng chung. Nhìn chung, cơ cấu sản phẩm công nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo và công nghệ cao, tạo nền tảng thuận lợi để hoàn thành mục tiêu phát triển công nghiệp năm 2026.Trong 7 tháng năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ắc quy bằng ion lithi tăng 94,84%; điện sản xuất tăng 59,07%; bê tông trộn sẵn tăng 59,28%; thức ăn gia súc tăng 33,38%; sợi xe từ các loại sợi tự nhiên (bông, đay, lanh, xơ dừa, cói) tăng 31,83%;...Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước, gồm: Nước uống được giảm 7,83%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 20,23%; đá xây dựng khác giảm 20,57%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 47,17%;…2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệpChỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2026 tăng 1,33% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 58,49%. Cộng dồn 7 tháng năm 2026 tăng 27,74% so với cùng kỳ năm 2025. Trong 7 tháng năm 2026, tình hình sử dụng lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, phản ánh sự phục hồi và mở rộng hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp.Số lượng lao động tăng chủ yếu tập trung tại các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế, chế tạo trong lĩnh vực sản xuất pin và thiết bị điện, chế biến thực phẩm, sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi lim loại và các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác. Đặc biệt, việc các dự án công nghiệp quy mô lớn trên địa bàn đi vào vận hành ổn định đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, góp phần thu hút lao động địa phương và lao động kỹ thuật từ các khu vực lân cận. Cụ thể, ngành sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 11,54%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu đang phục hồi mạnh mẽ. Bên cạnh đó, ngành sản xuất thiết bị điện tăng 35,33%, cho thấy sự mở rộng sản xuất và gia tăng đơn hàng. Đặc biệt công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh Vinfast đi vào hoạt động từ tháng 7/2025 và tiếp tục mở rộng sản xuất xe máy điện từ tháng 4/2026 làm gia tăng đáng kể nhu cầu tuyển dụng và sử dụng lao động. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số lao động năm 2026 tăng mạnh so với cùng kỳ.3. Đầu tư và xây dựngNgày 26/5/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra Nghị quyết số 24/NQ-HĐND về việc giao bổ sung kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 từ nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại của ngân sách cấp tỉnh năm 2025, trong đó bổ sung nguồn vốn gần 2.900 tỉ đồng vào kế hoạch đầu tư công trong năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Các cấp, các ngành, cơ quan quản lý trên địa bàn tỉnh đã tập trung triển khai quyết liệt nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm.Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Bảy ước đạt 1.236,32 tỷ đồng, tăng 21,93% so với tháng trước và tăng 43,72% so với cùng kỳ năm nước. Trong tháng, một số công trình có khối lượng thực hiện lớn gồm: Dự án đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt khoảng 26 tỷ đồng; Dự án Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Hương Khê ước đạt 27 tỷ đồng; Tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Kỳ Anh ước đạt 24 tỷ đồng; Hạ tầng khu dân cư tổ dân phố 7, phường Hà Huy Tập ước đạt 8 tỷ đồng.Tính chung 7 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng ước đạt 4.428,03 tỷ đồng, tăng 30,76% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, mặc dù việc thực hiện vốn đầu tư công còn gặp nhiều khó khăn do giá vật liệu xây dựng, nhiên liệu và chi phí nhân công tăng, cùng với vướng mắc về giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư, nhưng tiến độ thực hiện và giải ngân vốn trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn duy trì xu hướng tăng tích cực. Kết quả này có được nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, sự chủ động trong phân bổ, điều chỉnh kế hoạch vốn, đặc biệt là việc bổ sung kế hoạch vốn theo Nghị quyết số 24/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh. Nhiều công trình trọng điểm, nhất là các dự án giao thông, đô thị và phòng chống thiên tai được đẩy nhanh tiến độ thi công. Đồng thời, kỷ luật tài chính được tăng cường, công tác nghiệm thu, thanh toán được rút ngắn, năng lực quản lý dự án từng bước được nâng cao. Những yếu tố này góp phần nâng cao tỷ lệ giải ngân, thúc đẩy tăng trưởng đầu tư công và tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.4. Thương mại, dịch vụ4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngMặc dù bối cảnh thị trường thế giới vẫn còn nhiều biến động phức tạp làm tăng chi phí vận chuyển quốc tế, song kinh tế địa phương vẫn giữ vững được sự ổn định nhờ kiểm soát tốt giá xăng dầu và các chi phí đầu vào như vận tải, sản xuất. Nhìn chung, thị trường hàng hóa trong tháng 7 luôn được đảm bảo, nguồn cung tại các chợ, cửa hàng, siêu thị dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của người dân mà không xảy ra tình trạng khan hiếm hay biến động giá bất thường. Kết quả tăng trưởng của tháng 7 so với tháng trước không chỉ phản ánh sự chủ động thích ứng, nhạy bén của các doanh nghiệp trong mùa cao điểm tiêu dùng, mà còn khẳng định tính hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành thị trường của các cấp, các ngành địa phương.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Bảy ước đạt 5.261,35 tỷ đồng, tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa hè và thời điểm chuẩn bị năm học mới, cùng với các chương trình khuyến mại, kích cầu của doanh nghiệp và điều kiện thuận lợi cho hoạt động xây dựng, qua đó thúc đẩy doanh thu của nhiều nhóm hàng chủ lực. Mặc dù một số nhóm hàng giảm nhẹ so với tháng trước, mức tăng của các nhóm hàng còn lại vẫn góp phần giữ vững đà tăng trưởng chung của thị trường.Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 35.753,16 tỷ đồng, tăng 14,56% so với cùng kỳ năm trước với phần lớn các nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng dương (10/12 nhóm hàng hóa). Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhóm ô tô con, phương tiện đi lại, hàng may mặc, đồ dùng gia đình, vật phẩm văn hóa, giáo dục và các nhóm hàng tiêu dùng khác; trong khi nhóm gỗ và vật liệu xây dựng, dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy giảm nhẹ. Kết quả này phản ánh sức mua trên địa bàn tiếp tục được cải thiện và hoạt động thương mại duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực.Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành doanh thu tháng Bảy ước đạt 686,32 tỷ đồng, tăng 11,32% so với tháng trước và tăng 22,29% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này chủ yếu nhờ đang trong cao điểm du lịch hè, nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng và sử dụng dịch vụ ăn uống tăng cao; đồng thời các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức sôi nổi cùng chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao đã góp phần thu hút du khách và thúc đẩy doanh thu.Lũy kế 7 tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.912,12 tỷ đồng, tăng 16,23% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này phản ánh sự phục hồi tích cực của nhu cầu du lịch và tiêu dùng dịch vụ, cùng với hiệu quả từ các hoạt động xúc tiến du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ và ứng dụng công nghệ trong kinh doanh, tạo động lực cho ngành tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm.Dịch vụ khác doanh thu tháng Bảy ước đạt 893,65 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 11,24% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu đến từ các ngành kinh doanh bất động sản, hành chính và dịch vụ hỗ trợ, giáo dục - đào tạo, y tế và trợ giúp xã hội, cùng với hoạt động nghệ thuật, vui chơi, giải trí và các dịch vụ phục vụ đời sống, phản ánh nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân và doanh nghiệp tiếp tục tăng. Tính chung 7 tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.897,26 tỷ đồng, tăng 10,55% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ và kinh tế địa phương.4.2. Hoạt động vận tảiHoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 7/2026 tiếp tục duy trì ổn định. Nhu cầu đi lại của người dân tăng trong mùa du lịch hè, cùng với hoạt động vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất công nghiệp, xây dựng và thương mại diễn ra sôi động, đã góp phần làm tăng sản lượng vận tải và doanh thu vận tải. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng giao thông được khai thác hiệu quả, hoạt động vận tải diễn ra ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân.Doanh thu vận tải, kho bãi tháng Bảy ước đạt 886,10 tỷ đồng, tăng 3,33% so với tháng trước và tăng 25,64% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách ước đạt 172,3 tỷ đồng, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 20,27% so với cùng kỳ năm trước, nhu cầu đi lại của người dân tăng trong mùa du lịch hè. Trong đó, vận tải hàng hóa ước đạt 513,31 tỷ đồng, tăng 2,95% so với tháng trước và tăng 24,3% so với cùng kỳ năm trước. Do hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tiếp tục được duy trì ổn định, làm gia tăng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng. Bên cạnh đó, các mặt hàng chủ lực của tỉnh như vật liệu xây dựng, khoáng sản, nông sản và hàng hóa xuất nhập khẩu qua khu vực cảng biển tiếp tục được lưu thông thuận lợi. Hoạt động logistics và dịch vụ kho bãi được cải thiện, cùng với việc các doanh nghiệp vận tải chủ động mở rộng năng lực khai thác, đã góp phần thúc đẩy doanh thu vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước.Tính chung 7 tháng năm 2026 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 5.666,19 tỷ đồng, tăng 17,95% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải 7 tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng khá, doanh thu các loại hình vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Sự phục hồi của sản xuất công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu và nhu cầu tiêu dùng, cùng với hoạt động ổn định của Khu kinh tế Vũng Áng và hệ thống cảng biển, đã tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng của ngành. Bên cạnh đó, lĩnh vực kho bãi, logistics và bưu chính, chuyển phát tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóaTrong tháng Bảy năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu ghi nhận xu hướng tăng trưởng tích cực ở chiều xuất khẩu so với tháng trước và bứt phá mạnh ở chiều nhập khẩu so với cùng kỳ. Cán cân thương mại tháng Bảy nhập siêu 139,8 triệu USD, thu hẹp so với mức nhập siêu 173,2 triệu USD của tháng 6/2026.Tính chung 7 tháng năm 2026, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 2.748 triệu USD, tăng 6,32% so với cùng kỳ năm 2025. Cán cân thương mại 7 tháng tiếp tục duy trì trạng thái nhập siêu 868 triệu USD (tăng 11,06% so với mức nhập siêu cùng kỳ năm trước).Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu toàn tỉnh trong tháng Bảy ước đạt 150,6 triệu USD, tăng 22,94% so với tháng trước và tăng 7,40% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 7 tháng năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 940 triệu USD, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm 2025.Đóng góp chính vào quy mô xuất khẩu toàn tỉnh tiếp tục là nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến, chế tạo. Thép và phôi thép tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi đạt 117,5 triệu USD trong tháng 7/2026 (tăng 19,02% so với tháng trước và tăng 15,03% so với cùng kỳ), tính chung 7 tháng năm 2026 trị giá xuất khẩu thép đạt 789,1 triệu USD, tăng 6,99% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 83,95% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh; dăm gỗ duy trì đà tăng trưởng bứt phá với trị giá tháng 7 đạt 12 triệu USD (tăng 57,69% so với cùng kỳ), tính chung 7 tháng đạt 65,8 triệu USD, tăng 87,75% so với cùng kỳ năm 2025 do nhu cầu nguyên liệu thị trường quốc tế gia tăng; hàng dệt và may mặc cũng có sự phục hồi mạnh mẽ, đạt 5,00 triệu USD (tăng 50,15% so với tháng 6 và tăng 31,58% so với cùng kỳ), tuy nhiên, do khó khăn từ các tháng đầu năm nên lũy kế 7 tháng chỉ đạt 24,8 triệu USD, bằng 83,74% so với cùng kỳ năm 2025; đối với các mặt hàng xuất khẩu nông, lâm nghiệp, thủy sản thì xuất khẩu thủy sản bước đầu có tín hiệu khả quan ngược lại, xuất khẩu chè vẫn tiếp tục gặp khó khăn.Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng Bảy ước đạt 290,4 triệu USD, giảm nhẹ 1,79% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 73,19% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng trị giá nhập khẩu đạt 1.808 triệu USD, tăng 7,41% so với cùng kỳ năm trước.Nhìn chung, tình hình xuất nhập khẩu tháng Bảy và 7 tháng năm 2026 duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực. Điểm sáng lớn nhất là sự tăng trưởng ổn định của các sản phẩm chủ lực như thép, dăm gỗ, xơ sợi, cùng với sự bứt phá đơn hàng trong tháng 7 của ngành may mặc. Tuy nhiên, kinh tế đối ngoại của tỉnh vẫn đối mặt với một số hạn chế: hoạt động xuất nhập khẩu còn phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp FDI (đặc biệt là Formosa); kim ngạch xuất khẩu nông sản truyền thống như chè sụt giảm sâu; cán cân thương mại duy trì nhập siêu lớn do đặc thù nền công nghiệp chủ yếu là chế biến, gia công và sản xuất thép.5. Chỉ số giá tiêu dùngTháng Bảy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh ghi nhận mức giảm 0,50% so với tháng trước. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến xu hướng hạ nhiệt này xuất phát từ đà giảm giá của các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu (theo diễn biến thị trường thế giới), vật liệu bảo dưỡng nhà ở, lương thực, thực phẩm và giá vàng. Dù có sự sụt giảm trong tháng, CPI tháng Bảy vẫn tăng so với tháng 12/2025 và so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2026, CPI bình quân của tỉnh vẫn ở mức cao cho thấy áp lực lạm phát cơ bản vẫn duy trì ở mức cần tiếp tục theo dõi. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Bảy ghi nhận mức giảm 0,5% so với tháng trước. Sự biến động này diễn ra theo xu hướng giảm giá của các mặt hàng năng lượng, nhiên liệu trên thị trường thế giới cùng với nguồn cung nông sản trong nước dồi dào. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 05 nhóm tăng giá và 06 nhóm giảm giá.Nhóm hàng thiết yếu và chiếm tỷ trọng lớn là hàng ăn và dịch vụ ăn uống ghi nhận mức giảm 0,37%. Trong đó, mặt hàng lương thực (giảm 0,76%) do nguồn cung lúa gạo dồi dào từ vụ thu hoạch cùng áp lực giảm giá xuất khẩu khiến giá gạo và thực phẩm giảm nhẹ khi giá quả tươi giảm sâu nhất (-6,29%) do nhiều loại trái cây vào mùa thu hoạch rộ, giá thịt gia súc (lợn, bò) giảm nhẹ 0,25%, thủy sản tươi sống giảm 0,16%, rau tươi giảm 0,24%, chỉ có giá thịt gia cầm tăng nhẹ 0,23%. Trong các nhóm hàng giảm giá thì Giao thông là nhóm có mức giảm sâu nhất (giảm 2,26%) chịu tác động trực tiếp từ đà sụt giảm của giá năng lượng thế giới, làm cho giá xăng giảm 4,78% và giá dầu diesel giảm 9,19%. Chi phí nhiên liệu hạ nhiệt đã kéo theo giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 1,15% (trong đó vận tải đường hàng không giảm 3,24%, xe buýt giảm 5,71%, taxi giảm 1,48%). Tiếp đến là nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng do xu hướng đi xuống của giá nhiên liệu thế giới kéo giá gas trong nước giảm mạnh 11,67%.Bên cạnh các nhóm hàng giảm giá thì vẫn có các nhóm hàng vẫn giữ đà tăng giá, trong đó hàng hóa và dịch vụ khác (tăng 2,92%) là nhóm có mức tăng cao nhất, chủ yếu do chỉ số bảo hiểm y tế tăng 8,12% theo điều chỉnh mức lương cơ sở. Bên cạnh đó, giá dịch vụ phục vụ cá nhân cũng tăng theo chi phí đầu vào. Giáo dục (tăng 1,34%) do nhu cầu học thêm, ôn luyện kiến thức trong kỳ nghỉ hè gia tăng, cùng việc một số trung tâm, cơ sở đào tạo điều chỉnh mức thu học phí.Tính chung, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng năm 2026 ghi nhận mức tăng 4,06% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, toàn bộ 11/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính đều ghi nhận xu hướng tăng giá, phản ánh đà tăng lan tỏa trên diện rộng của nền kinh tế.Các nhóm hàng có biến động tăng mạnh, tác động lớn đến CPI có thể kế đến như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 4,72%) đây là nhóm tạo áp lực lớn nhất lên CPI chung; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép (tăng 12,73%) là nhóm ghi nhận tỷ lệ tăng cơ học lớn nhất trong rổ hàng hóa tính CPI bình quân; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 6,91%) do sản lượng tiêu thụ tăng vọt trong đợt nắng nóng kéo dài cùng lộ trình điều chỉnh giá theo quy định đã làm giá điện sinh hoạt tăng 9,02% và nước sinh hoạt tăng 6,43% cộng với việc giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 6,34% và dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 2,77% do chi phí sản xuất, vận chuyển và nhân công leo thang trong khi nhu cầu cải tạo nhà ở của người dân vẫn duy trì mức khá; Nhóm giao thông (tăng 3,40%) do chịu sức ép trực tiếp từ thị trường năng lượng thế giới, căng thẳng địa chính trị và xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn chuỗi cung ứng, đẩy giá dầu thô neo cao. Kéo theo đó, giá nhiên liệu trong nước tăng 8,43% (trong đó xăng tăng 7,99%, dầu mỡ nhờn tăng 13,27% và dầu diesel tăng đột biến 34,17%) làm gia tăng chi phí vận tải toàn bối cảnh.Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (tăng 1,68%) bị chi phối mạnh bởi giá đồ trang sức (tăng 35,05%) do đà tăng phi mã của giá vàng. Bên cạnh đó, giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 4,95% (do chi phí mặt bằng, nhân công lên cao) và chi phí bảo hiểm y tế tăng 1,12% (do điều chỉnh mức đóng theo lương cơ sở mới từ 01/7/2026). Nhóm giáo dục (tăng 0,96%) nguyên nhân do giá đồ dùng học tập, văn phòng phẩm tăng 3,70% từ áp lực chi phí sản xuất và phân phối, đồng thời, một số cơ sở dân lập, tư thục và các trung tâm đào tạo kỹ năng đã chủ động tăng học phí năm học 2025-2026 (tăng 0,56%) nhằm bù đắp chi phí vận hành. Các nhóm hàng còn lại trong rổ tính CPI duy trì mức tăng nhẹ, không tạo ra áp lực quá lớn lên lạm phát chung của tỉnh nhà.Nhìn chung, mặt bằng giá cả 7 tháng năm 2026 tại Hà Tĩnh tuy chịu áp lực gia tăng từ biến động giá nhiên liệu, năng lượng, vàng thế giới và chi phí nguyên vật liệu nội địa, nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Dự báo CPI tháng tới có thể tiếp tục tăng, xu hướng này đòi hỏi các cơ quan quản lý cần tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, chủ động điều tiết cung cầu đối với các mặt hàng thiết yếu (lương thực, năng lượng, vật liệu xây dựng) nhằm bình ổn tâm lý tiêu dùng và kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm.II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hộiTrong tháng 7 năm 2026, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh nhìn chung được bảo đảm. Thị trường lao động có nhiều tín hiệu tích cực do sự phát triển mạnh mẽ của các khu kinh tế, khu công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất đang tạo ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề xã hội cần quan tâm như dịch bệnh truyền nhiễm theo mùa, tai nạn giao thông và tai nạn đuối nước. Công tác an sinh xã hội được triển khai kịp thời, các chế độ, chính sách đối với người có công, hộ nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ. Đặc biệt, trong tháng nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026), các cấp, ngành trong tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động tri ân như thăm hỏi, tặng quà người có công, thân nhân liệt sĩ, dâng hương, thắp nến tri ân tại các nghĩa trang liệt sĩ, góp phần phát huy truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" và chăm lo tốt hơn đời sống các gia đình chính sách. Nhân dịp này, toàn tỉnh đã trao tặng 78.517 suất quà với tổng kinh phí hơn 24 tỷ đồng cho người có công, thân nhân liệt sĩ. Trong đó có 47.936 suất quà của Chủ tịch nước trị giá hơn 14,6 tỷ đồng; 30.512 suất quà của tỉnh trị giá hơn 9,5 tỷ đồng; 69 suất quà tặng người có công tiêu biểu tại các địa phương trị giá hơn 172 triệu đồng.2. Hoạt động y tế Trong tháng Bảy ngành Y tế tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh công tác giám sát, chủ động phòng, chống các loại bệnh truyền nhiễm mùa hè như sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi, COVID-19 và các bệnh đường tiêu hóa. Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận một số ca mắc truyền nhiễm, tiêu biểu như: 850 ca mắc cúm, 68 ca sốt xuất huyết Dengue, 65 ca tiêu chảy, 53 ca quai bị, 26 ca tay chân miệng và 14 ca thủy đậu. Đáng chú ý, công tác phòng chống HIV/AIDS phát hiện 06 ca nhiễm mới (tăng 05 ca so với tháng trước) và 01 ca tử vong do AIDS. Về an toàn vệ sinh thực phẩm, toàn tỉnh không ghi nhận vụ ngộ độc tập thể nào tuy vậy, toàn tỉnh ghi nhận 255 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, tăng 67 ca so với tháng trước, đòi hỏi tiếp tục tăng cường khuyến cáo người dân về vệ sinh an toàn thực phẩm trong mùa nắng nóng.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về lĩnh vực văn hóa, trong tháng hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi gắn với các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước và địa phương. Nổi bật là chuỗi hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) với các chương trình nghệ thuật, lễ dâng hương, dâng hoa, thắp nến tri ân tại các nghĩa trang liệt sĩ. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh tổ chức Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, chiếu miễn phí nhiều bộ phim cách mạng phục vụ người dân tại rạp CGV Vincom Plaza Hà Tĩnh từ ngày 22-24/7/2026, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng biết ơn các thế hệ đi trước và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân.Về hoạt động thể thao, trong tháng đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia: giải Vô địch Karate Đông Nam Á 2026 diễn ra tại Ninh Bình và giành 6 huy chương (2 HCV, 2 HCB, 2 HCĐ); giải vô địch Muay trẻ quốc gia năm 2026 diễn ra tại Đồng Nai và giành 5 huy chương (2 HCV, 2 HCB, 1 HCĐ). Ngoài ra, hoạt động thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phát triển sôi nổi. Các địa phương, cơ quan đơn vị trong tỉnh tổ chức nhiều giải thi đấu như bóng đá, bóng chuyền, pickleball… nhằm chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước.4. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng Bảy (tính từ ngày 15/6-14/7/2026) đã xảy ra 25 vụ tai nạn đường bộ, làm 21 người chết, 16 người bị thương (giảm 8 vụ; giảm 1 người chết; giảm 3 người bị thương so với tháng trước), không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào. Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 669 triệu đồng. Ghi nhận công tác tuần tra, kiểm soát và đảm bảo an toàn giao thông trong tháng 7 đã mang lại hiệu quả rõ rệt khi số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương đều đồng loạt giảm so với tháng trước.Tuy nhiên, tính chung 7 tháng năm 2026 tình hình trật tự an toàn giao thông vẫn diễn biến phức tạp so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vụ tai nạn giao thông xảy ra 224 vụ (tăng 8,21%) trong đó, đường bộ xảy ra 223 vụ (tăng 8,78%); đường sắt xảy ra 01 vụ (giảm 50%); đường thủy không phát sinh tai nạn. Số người chết là 143 người, (tăng 2,88%) TNGT đường bộ chết 142 người, đường sắt chết 01 người; số người bị thương là 167 người (tăng 62,14%) toàn bộ bị thương ở TNGT đường bộ.5. Bảo vệ môi trườngTrong tháng Bảy công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Số vụ vi phạm phát hiện, xử lý cũng như số tiền phạt đều giảm mạnh so với tháng trước và cùng kỳ năm 2025. Toàn tỉnh chỉ phát hiện 01 vụ vi phạm môi trường, giảm 05 vụ so với tháng 6/2026 và giảm 17 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đã xử lý 03 vụ, giảm 03 vụ so với tháng trước và giảm 08 vụ so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số tiền xử phạt đạt 33 triệu đồng, giảm 13,5 triệu đồng so với tháng trước và giảm mạnh 337,55 triệu đồng (giảm 91,09%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân nhờ các lực lượng chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường kiểm tra, hướng dẫn và nhắc nhở, qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn.Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã phát hiện 203 vụ vi phạm môi trường, tăng 25 vụ (tăng 14,04%) so với cùng kỳ năm 2025. Số vụ đã xử lý 110 vụ, giảm 38 vụ (giảm 25,68%) so với cùng kỳ. Với tổng số tiền xử phạt là 712,23 triệu đồng, giảm 1.150,27 triệu đồng (giảm 61,76%) so với cùng kỳ năm 2025. Mặc dù số vụ vi phạm phát hiện lũy kế 7 tháng có xu hướng tăng so với cùng kỳ, nhưng quy mô và mức độ nghiêm trọng của các vụ việc đã giảm đáng kể, phản ánh qua tổng số tiền xử phạt hành chính giảm sâu trong cả ngắn hạn và dài hạn.6. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạnTrong tháng Bảy (từ ngày 15/6/2026-14/7/2026) đã xảy ra 7 vụ cháy (giảm 3 vụ so với tháng trước) không gây thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.518,7 triệu đồng. Tình hình an toàn cháy nổ trong 7 tháng đầu năm 2026 có chiều hướng gia tăng về mức độ nghiêm trọng. Dù số vụ cháy tăng không đáng kể (tăng 01 vụ), nhưng việc phát sinh các vụ nổ, thiệt hại về người (01 người chết) và đặc biệt là thiệt hại về tài sản gia tăng đột biến (gấp đôi cùng kỳ) phản ánh rủi ro từ các sự cố cháy lớn tại các cơ sở hạ tầng, khu vực sản xuất hoặc dân cư. Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ cần tiếp tục được tăng cường siết chặt, đặc biệt trong các tháng mùa khô cao điểm.Cũng trong tháng 7 năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 4 vụ đuối nước làm 5 người tử vong, trong đó có 4 trẻ em. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh ghi nhận 17 vụ tai nạn đuối nước làm 22 người tử vong, trong đó có 19 trẻ em. Mặc dù các địa phương đã triển khai nhiều giải pháp phòng, chống đuối nước nhưng vẫn xảy ra một số vụ việc đáng tiếc. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền và nâng cao trách nhiệm của gia đình trong quản lý, giám sát trẻ emVề tình hình thiên tai, trong tháng Bảy, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ thiên tai nào xảy ra. Lũy kế 7 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa đá kèm dông lốc, sấm sét và nhiều đợt mưa lớn tuy nhiên, không gây thiệt hại lớn về người và tài sản.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Bảy và 7 tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội Quý II và 6 tháng năm 2026 tỉnh Hà Tĩnh
  •   06/08/2026 11:05

Trong sáu tháng đầu năm 2026, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng kinh tế tỉnh Hà Tĩnh vẫn duy trì được đà phục hồi và đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ. Kết quả này có được nhờ sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh; cùng với sự nỗ lực vượt bậc của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp Nhân dân trong toàn tỉnh. Hầu hết các ngành, lĩnh vực chủ yếu đều ghi nhận những kết quả tích cực, đáp ứng yêu cầu phát triển đề ra. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, khẳng định rõ hiệu quả công tác điều hành, khả năng khai thác tốt các động lực tăng trưởng và tạo dựng nền tảng vững chắc để phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2026.I. LĨNH VỰC KINH TẾ1.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 67.468 tỷ đồng; theo giá so sánh ước đạt 55.977 tỷ đồng tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh quý II năm 2026 ước tăng 12,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,12%, đóng góp 0,19 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 27,51%, đóng góp 9,97 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 5,99% đóng góp 2,23 điểm %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 5,29%, đóng góp 0,49 điểm % vào mức tăng trưởng chung.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh ước tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,72%, đóng góp 0,24 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 24,25%, đóng góp 9,40 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 6,73% đóng góp 2,53 điểm %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 6,41%, đóng góp 0,62 điểm % vào mức tăng trưởng chung.Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay diễn ra trong thời tiết không mấy thuận lợi. Tuy nhiên, với quan điểm linh hoạt trong sản xuất bà con nông dân bám đồng quyết tâm khắc phục hậu quả sau mưa giông, vì vậy năng suất, sản lượng các loại cây trồng ước đạt kế hoạch. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, ngành nông nghiệp tăng 0,58%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 13% đóng góp 0,13 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,16%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung toàn ngành kinh tế tỉnh Hà Tĩnh.Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng toàn ngành công nghiệp ước đạt 28,34%, đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Riêng ngành xây dựng tăng 10,21%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng được dự báo tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của tỉnh trong năm 2026, đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng để Hà Tĩnh hoàn thành, thậm chí vượt mục tiêu tăng trưởng GRDP đã đề ra. Điểm nhấn nổi bật của ngành công nghiệp Hà Tĩnh trong 6 tháng đầu năm 2026 là sự tham gia đồng loạt của nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Trong đó, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng đi vào vận hành ổn định đã góp phần gia tăng đáng kể sản lượng điện sản xuất. Bên cạnh đó, dự án Nhà máy sản xuất ô tô điện và xe máy điện đã từng bước đi vào hoạt động, hình thành ngành công nghiệp chế tạo mới, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng hiện đại. Cùng với đó, hoạt động mở rộng công suất của Nhà máy Pack Pin và sự tham gia sản xuất của Nhà máy Cell Pin đã tạo thêm động lực tăng trưởng cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Ngoài những dự án động lực mới, các ngành công nghiệp chủ lực hiện có trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, đặc biệt là ngành luyện thép, sản xuất điện, công nghiệp hỗ trợ và vật liệu xây dựng. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp lớn được duy trì, góp phần bảo đảm tăng trưởng giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp. Đồng thời, tiến độ triển khai các dự án đầu tư xây dựng trọng điểm, hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế và các công trình giao thông quan trọng tiếp tục được đẩy mạnh, tạo động lực cho ngành xây dựng tăng trưởng tích cực. Với những yếu tố thuận lợi trên, khu vực công nghiệp và xây dựng được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao trong các quý cuối năm, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GRDP của tỉnh năm 2026.Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2026 tăng 6,73% so với cùng kỳ, đóng góp 2,53 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Cho thấy sự phục hồi của khu vực dịch vụ chưa đồng đều, mức tăng này do ảnh hưởng của chỉ số giá tăng nên sức cầu nội địa và các hoạt động thương mại, vận tải, lưu trú, ăn uống, logistics, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp chưa đạt kỳ vọng. Đây đều là những lĩnh vực có tính lan tỏa lớn, liên quan trực tiếp đến tiêu dùng, lưu thông hàng hóa, du lịch và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; vì vậy, sự chậm lại của khu vực dịch vụ đã tác động đáng kể đến tăng trưởng chung của tỉnh.Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 6,41% đóng góp 0,62 điểm phần trăm tăng trưởng.Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12,15%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 43,74% (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 34,41%; ngành xây dựng chiếm 9,33%); khu vực Dịch vụ chiếm 34,94%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,17% trong tổng GRDP toàn tỉnh.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong tháng toàn tỉnh tập trung thu hoạch vụ Xuân và triển khai sản xuất vụ Hè Thu theo đúng khung thời vụ; các giống cây trồng có khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với điều kiện thời tiết bất lợi tiếp tục được đưa vào sản xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định.2.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọt* Cây hàng nămTháng 6 năm 2026, hoạt động trồng trọt trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung phơi, bảo quản và tiêu thụ lúa vụ Đông Xuân sau thu hoạch; đồng thời khẩn trương làm đất, chuẩn bị các điều kiện để gieo cấy vụ Hè Thu.Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2026: Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 58.611 ha, bằng 98,88% giảm 665 ha so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm chủ yếu do thu hồi đất phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Toàn tỉnh có khoảng 4.300 ha áp dụng công nghệ tưới ngập - khô xen kẽ (AWD) và hơn 150 ha thí điểm sản xuất giảm phát thải gắn với thâm canh lúa cải tiến (SRI). Trong thời gian tới, kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ dự kiến sẽ được mở rộng trên 23 xã, phường với diện tích tăng thêm khoảng 5.400 ha, nâng tổng diện tích áp dụng lên gần 9.800 ha. Năng suất lúa vụ Đông Xuân năm 2025 - 2026 ước đạt 61,02 tạ/ha, bằng 99,62% (giảm 0,23 tạ/ha) với sản lượng lúa ước đạt 357.671 tấn, bằng 98,50% so với cùng kỳ năm trước, giảm 5.444 tấn, tương ứng giảm 1,50%.Ngoài ra kết quả sản xuất một số cây trồng cạn khác như ngô, khoai lang, lạc mặc dù diện tích gieo trồng giảm do một phần đất sản xuất nông nghiệp được thu hồi để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội tuy nhiên năng suất các loại cây vẫn đạt khá, đặc biệt rau các loại tăng cả về diện tích và sản lượng.Sản xuất vụ Hè Thu năm 2026 được các địa phương triển khai đúng tiến độ, diện tích lúa được gieo cấy bảo đảm kế hoạch, tính đến ngày 20/6/2026, toàn tỉnh gieo cấy khoảng 43,59 nghìn ha lúa Hè Thu. Cây màu tiếp tục được bố trí phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu thị trường, tuy nhiên diện tích một số loại cây trồng có xu hướng giảm so với cùng kỳ.Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa Ốc bươu vàng phát sinh gây hại ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tập trung trên những diện tích ngập nước, sâu trũng, mật độ trung bình 2-3 con/m2, nơi cao 7-10 con/m2, diện tích nhiễm 103 ha; Chuột gây hại tỉ lệ trung bình 2-3%, cục bộ 5-10%, diện tích nhiễm 15 ha, Sâu cuốn lá đã xuất hiện tại một số địa phương, trên những diện tích gieo cấy sớm, ruộng xanh tốt, mật độ phổ biến 2-3 con/m2, nơi cao 5-10 con/m2, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3…Trên cây ngô Sâu keo mùa thu gây hại trên trà ngô 4-6 lá, diện tích nhiễm 05 ha, phân bố tại một số xã trên địa bàn.* Cây lâu nămTổng diện tích hiện có cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 30.675 ha, bằng 98,20% (giảm 563 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích cây lâu năm giảm chủ yếu do thu hồi đất phục vụ các dự án và chuyển đổi những diện tích cây già cỗi, kém hiệu quả.Trong quý II năm 2026, sản lượng của một số loại cây ăn quả trên địa bàn ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước, cho thấy tín hiệu tích cực từ sản xuất nông nghiệp. Mặc dù thời tiết trong quý II năm nay không thực sự thuận lợi với những đợt mưa nắng xen kẽ và khó dự báo, song vẫn tạo điều kiện nhất định cho cây trồng sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất cao. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng cây ăn quả ước đạt 36.733 tấn, bằng 102,45% (tăng 879 tấn) so với cùng kỳ năm 2025.Sản lượng cao su ước đạt 1.677 tấn, bằng 106,27% (tăng 99 tấn) so với cùng kỳ năm 2025 do diện tích khai thác ổn định, cây sinh trưởng tốt và điều kiện khai thác mủ thuận lợi, giúp nâng cao hiệu quả thu hoạch. Sản lượng chè búp ước đạt 6.220 tấn, tăng 155 tấn so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng chè hái lá ước đạt 11.875 tấn, tăng 126 tấn. Mặc dù diện tích chè giảm so với cùng kỳ, việc đẩy mạnh thâm canh, cải tạo diện tích chè hiện có và tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăm sóc đã góp phần nâng cao năng suất, giúp sản lượng chè tăng so với cùng kỳ năm trước.b. Chăn nuôiHoạt động chăn nuôi tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng giảm đàn gia súc lớn và duy trì tăng trưởng ở đàn lợn, gia cầm. Quy mô chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn, việc áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học ở một số hộ còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Bên cạnh đó, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa thực sự bền vững, thị trường đầu ra còn phụ thuộc nhiều vào biến động giá cả, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của người chăn nuôi.Tổng đàn trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả chăn nuôi chưa cao, chi phí thức ăn chăn nuôi và lao động tăng, trong khi diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Bên cạnh đó, người chăn nuôi có xu hướng chuyển đổi sang các đối tượng vật nuôi có thời gian quay vòng vốn nhanh và hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong khi đó, chăn nuôi gia cầm duy trì ổn định, tổng đàn và sản lượng xuất chuồng tăng nhẹ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 19/6/2026 dịch tả lợn châu Phi xảy ra xảy ra tại 31/69 xã, phường, làm cho 1.591 con lợn mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng 133.627 kg. Cúm gia cầm có 900 con gia cầm mắc bệnh chết, tiêu hủy của 29 hộ chăn nuôi. Viêm da nổi cục xảy ra tại 3 xã (Kỳ Xuân, Kỳ Văn, Hương Xuân) làm cho 25 con bò mắc bệnh, 5 con chết, tiêu hủy, khối lượng 660 kg. Lở mồm long móng xảy ra tại xã Kỳ Thượng làm cho 4 con bò mắc bệnh Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi tại xã Đồng Tiến chưa qua 21 ngày (đã qua 15 ngày không phát sinh dịch).2.2. Lâm nghiệpSáu tháng đầu năm 2026, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định; công tác trồng rừng, khai thác lâm sản và bảo vệ rừng được triển khai theo kế hoạch.Kết quả sản xuất: Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng 6 ước đạt 57 nghìn cây. Tính chung quý II năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 372,75 nghìn cây, bằng 355% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng năm 2026 số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.348 nghìn cây bằng 86,94% giảm 202 nghìn cây so với cùng kỳ năm trước.Về khai thác gỗ và lâm sản, sản lượng khai thác trong tháng ước đạt 3.499 m³, bằng 143,64% so với cùng kỳ năm trước. Quý II năm 2026 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 207,96 m3 bằng 159,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 347,47 m3 bằng 143,47% so vớ cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác năm nay tăng cao chủ yếu do các địa phương đẩy mạnh khai thác tận thu diện tích rừng bị thiệt hại bởi các cơn bão số 5, số 6 và số 10 năm 2025 nhằm khôi phục sản xuất và tái trồng rừng.Thiệt hại về rừng: Trong tháng 6 đã xảy ra 01 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 0,17 ha, giảm 06 vụ và giảm 0,59 ha so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 13 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 2,1 ha, chủ yếu tại khu vực Hương Khê và Hương Sơn. Các vụ vi phạm đã được phát hiện, xử lý kịp thời. Mặc dù thời tiết nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng ở mức cao, công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được tăng cường. Trong tháng 6 không xảy ra vụ cháy rừng gây thiệt hại; lũy kế 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy rừng tại các xã Sơn Tiến, Hà Linh và Hương Bình, với tổng diện tích thiệt hại 6 ha.2.3. Thủy sảnKết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng 6 ước đạt 5.680 tấn, bằng 102,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác tăng 2,88% và nuôi trồng tăng 2,34%. Tính chung quý II năm 2026, tổng sản lượng thủy sản đạt 15.662 tấn bằng 101,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác tăng 1,48% và nuôi trồng tăng 3,41%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 30.231 tấn, tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác tăng 2,58% và nuôi trồng tăng 3,43%.Về khai thác thủy sản sản lượng trong tháng 6 ước đạt 4.101 tấn, bằng 102,88% so với cùng kỳ năm trước, tăng 115 tấn. Trong đó, khai thác biển đạt 3.702 tấn, tăng 103 tấn; khai thác nội địa đạt 402 tấn, tăng 12 tấn. Tính chung 6 tháng năm 2026, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 23.016 tấn, bằng 102,57% so với cùng kỳ năm trước, tăng 578 tấn. Trong đó, khai thác biển đạt 20.896 tấn, tăng 556 tấn; khai thác nội địa đạt 2.120 tấn, tăng 22 tấn. Sản lượng khai thác tăng nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và nguồn lợi thủy sản trên ngư trường khá phong phú. Tuy nhiên, chi phí nhiên liệu và vật tư đầu vào vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác của ngư dân, nhất là đối với hoạt động khai thác xa bờ.Về nuôi trồng thuỷ sản sản lượng ước đạt 1.576 tấn, bằng 102,34% (tăng 36 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 7.215 tấn, bằng 103,43% so với cùng kỳ năm trước, tăng 239 tấn. Riêng sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 1.173 tấn, tăng 51 tấn so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng bệnh đốm trắng trên tôm phát sinh trên diện tích 7,95 ha tại phường Hải Ninh. Các địa phương đã triển khai xử lý kịp thời các diện tích phát sinh dịch bệnh, hạn chế nguy cơ lây lan và giảm thiểu thiệt hại cho người nuôi. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, diện tích thủy sản bị dịch bệnh là 19,06 ha, chủ yếu do bệnh đốm trắng trên tôm. Công tác giám sát, phòng, chống dịch bệnh được các địa phương triển khai thường xuyên, góp phần hạn chế dịch bệnh lây lan trên diện rộng.3. Sản xuất công nghiệpBước sang quý II năm 2026, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sự đóng góp của các dự án trọng điểm và các doanh nghiệp sản xuất chủ lực. Việc Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II chính thức đi vào vận hành thương mại cùng với nhà máy sản xuất xe máy điện đưa vào hoạt động đã tạo thêm năng lực sản xuất mới cho ngành công nghiệp. Đồng thời, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh duy trì sản xuất ổn định, bảo đảm sản lượng các sản phẩm chủ lực. Những kết quả này góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất công nghiệp, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2026.3.1 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP)Ước tính tháng 6/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành giảm 0,79% so với tháng trước và tăng 55,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 9,11% so với tháng trước và giảm 4,55% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 1,38% so với tháng trước và tăng 44,3% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 121,05% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước tăng 5,74% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 6,83%.So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 55,79%, cho thấy năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp chủ lực tiếp tục được cải thiện rõ nét. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là khu vực đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Ngành sản xuất và phân phối điện cơ bản ổn định so với tháng trước đồng thời ghi nhận mức tăng rất cao 121,05% so với cùng kỳ nhờ các dự án nguồn điện mới đi vào vận hành và phát huy hiệu quảQuý II/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 41,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng giảm 8,74%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 35,96%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 71,28%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,65% so với cùng kỳ năm trước. Ngành sản xuất kim loại, Pack Pin, Cell Pin, ô tô điện, xe máy điện và điện sản xuất đang là lợi thế tăng trưởng. Trong thời gian tới, thị trường của các sản phẩm chủ lực dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tăng 32,83% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,15% làm giảm 0,19 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 30,67% đóng góp 23,17 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 48,25% đóng góp 9,81 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,55% đóng góp 0,04 điểm mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh.Công nghiệp Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2026, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong đó: Chỉ số sản xuất ngành sản xuất kim loại (thép) 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,23% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực chính dẫn dắt sự hồi phục mạnh mẽ này xuất phát từ việc Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa đã chủ động khai thác và ký kết thành công các đơn hàng xuất khẩu quy mô lớn, tạo đà bứt phá cho năng lực sản xuất và tiêu thụ thép ngay từ những tháng đầu năm. Sản lượng thép không gỉ 6 tháng đầu năm ước đạt 2.091 nghìn tấn, tăng 13,28% so với cùng kỳ năm trước.Các tháng đầu năm 2026, ngành sản xuất thiết bị điện tại Hà Tĩnh tiếp tục đà tăng trưởng từ năm 2025. Chỉ số sản xuất ngành này 6 tháng đầu năm tăng 42,59% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có được nhờ nhu cầu sản xuất gia tăng, trong đó sản lượng từ nhà máy sản xuất ô tô điện của VinFast ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất pack pin và các thiết bị điện liên quan mở rộng sản xuất. Sản lượng pack pin ước đạt hơn 42 nghìn pack, gấp 3 lần cùng kỳ; cell pin ước đạt 11 triệu cell, tăng 23,08% so với cùng kỳ năm 2025. Ước tính 6 tháng đầu năm 2026, ô tô điện đạt 37.676 chiếc, xe máy điện ước đạt 74.350. Đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng ngành công nghiệp, góp phần gia tăng sản lượng công nghiệp và giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.Từ tháng 4/2026, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II chính thức hoạt động thương mại với 2 tổ máy. Bên cạnh đó, các nhà máy sản xuất điện trên địa bàn duy trì vận hành ổn định, bảo đảm sản lượng phát điện theo kế hoạch. Đây là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành trong năm 2026. Tính đến hết tháng 6/2026, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 48,25%; sản lượng điện sản xuất trên địa bàn 6 tháng đầu năm dự tính đạt 9,5 tỷ KWh, tăng 49,75% so với cùng kỳ năm trước.Có thể thấy, điểm nhấn quan trọng trong bức tranh ngành Công nghiệp Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2026 chính là sự xuất hiện đồng loạt của các dự án công nghiệp động lực mới như Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng, Nhà máy sản xuất ô tô điện, xe máy điện, cùng với sự mở rộng công suất Pack Pin và sự tham gia của Cell Pin đã làm gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao.3.2 Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớnƯớc tính đến hết tháng 6 đầu năm 2026, trong 21 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng và có 5 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước.Trong đó, một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 48,25%; Sản xuất thiết bị điện tăng 42,59%; Dệt tăng 21,86%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,74%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,05%; ...Một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành: Khai thác quặng kim loại giảm 31,62%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 14,76%; sản xuất trang phục giảm 13,53%; khai khoáng khác giảm 11,64%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 2,8%.3.3 Chỉ số tiêu thụ, tồn kho, tình hình sử dụng lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạoTrong tháng 6 năm 2026, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn Hà Tĩnh ước tăng 0,62% so với tháng trước, cho thấy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số tiêu thụ tăng 25,46%, phản ánh sự gia tăng nhu cầu đối với một số sản phẩm công nghiệp chủ lực và kết quả sản xuất kinh doanh tích cực của các doanh nghiệp trong ngành. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước.Ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 26,02%, phản ánh nhu cầu đối với các sản phẩm thiết yếu tiếp tục duy trì ở mức cao. Ngành sản xuất đồ uống tăng 10,32%, cho thấy thị trường tiêu dùng nội địa có dấu hiệu cải thiện so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất sợi tăng 37,59%, phản ánh tác động tích cực từ sự phục hồi của ngành dệt may và nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng dệt. Ngành sản xuất kim loại tăng 15,59%, cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp nền tiếp tục duy trì ổn định và có sự cải thiện về tiêu thụ sản phẩm.Nhìn chung, hoạt động tiêu thụ của các nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 có sự cải thiện khá đồng đều ở nhiều lĩnh vực. Kết quả này phản ánh xu hướng phục hồi của sản xuất công nghiệp và nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm công nghiệp chủ lực.Sang tháng 6/2026, chỉ số tồn kho ước tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy mức tăng tồn kho có xu hướng chậm lại so với tháng trước, đồng thời phù hợp với diễn biến tiêu thụ sản phẩm đang có xu hướng cải thiện. Hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tiếp tục duy trì tăng trưởng, trong khi tiêu thụ có sự cải thiện ở nhiều nhóm ngành, góp phần hỗ trợ kiểm soát tồn kho ở mức hợp lý. Một số ngành có mức tồn kho tăng nhẹ gắn với việc doanh nghiệp chủ động dự trữ nguyên vật liệu và thành phẩm nhằm đáp ứng các đơn hàng theo kế hoạch trong các tháng tiếp theo. Trong đó, doanh nghiệp sản xuất đồ uống tiếp tục duy trì công suất sản xuất ở mức cao (tăng 191%), các dây chuyền vận hành ổn định, qua đó hình thành lượng tồn kho cần thiết để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường trong giai đoạn tiếp theo. Đối với ngành chế biến thực phẩm, may mặc hoạt động sản xuất đã phục hồi tích cực, nhiều doanh nghiệp chủ động tăng sản lượng, tạo nguồn hàng dự trữ nhằm sẵn sàng đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu trong thời gian tới. Bên cạnh đó, ngành sản xuất pin lithium ghi nhận mức tồn kho tăng mạnh (tăng 232,99%) do các nhà máy đẩy mạnh sản xuất với quy mô lớn. Nguyên nhân là nhu cầu pin phục vụ ngành công nghiệp ô tô điện đang gia tăng nhanh, buộc doanh nghiệp phải chuẩn bị nguồn cung từ sớm. Tuy nhiên, tốc độ tiêu thụ thực tế chưa theo kịp sản lượng sản xuất trong giai đoạn đầu năm, dẫn đến tồn kho tăng cao.Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2026 giảm 0,05% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 58,52%. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2026 tăng 49,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình sử dụng lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, phản ánh sự phục hồi và mở rộng hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp. Nhu cầu lao động tăng lên tại nhiều ngành công nghiệp chủ lực đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động trên địa bàn tỉnh.Số lượng lao động tăng chủ yếu tập trung tại các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong lĩnh vực sản xuất pin và thiết bị điện, chế biến thực phẩm, sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại và các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác. Đặc biệt, việc các dự án công nghiệp quy mô lớn trên địa bàn đi vào vận hành ổn định đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, góp phần thu hút lao động địa phương và lao động kỹ thuật từ các khu vực lân cận.4. Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệpTrong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực, tăng cả về số lượng và quy mô so với cùng kỳ năm trước. Triển khai thực hiện các gói chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh.4.1 Thu hút đầu tưTừ đầu năm đến nay, đã chấp thuận chủ trương 27 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 155.000 tỷ đồng và 04 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 412,6 triệu USD (tăng 06 dự án và gấp 8 lần vốn đăng ký đối với dự án trong nước; tăng 02 dự án và gấp 31 lần vốn đăng ký đối với dự án đầu tư nước ngoài so với cùng kỳ năm 2025). Trong đó, có các dự án quy mô lớn được chấp thuận chủ trương đầu tư, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới, như: dự án Nhà máy sản xuất xe máy điện VinFast Hà Tĩnh (13.254 tỷ đồng), dự án Nhà máy sản xuất thép VinMetal Hà Tĩnh (79.986 tỷ đồng), dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Vũng Áng III (51.430 tỷ đồng), dự án Nhà máy thép không gỉ (9.800 tỷ đồng), Khu công nghiệp Hưng Long (3.019 tỷ đồng)... Phối hợp với PVN nghiên cứu, xây dựng Đề án Trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái tại KKT Vũng Áng.4.2. Tình hình đăng ký kinh doanhTính đến ngày 26/6/2026, toàn tỉnh có 1.179 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký 11.601 tỷ đồng, gấp 2 lần về số lượng doanh nghiệp, và gấp gần 4 lần số vốn đăng ký; có 327 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 40,34%; 294 doanh nghiệp giải thể, tăng 105,59%; 392 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 18,84% so với cùng kỳ năm 2025.Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Tuy nhiên do sự tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp... Vì vậy số lượng doanh nghiệp giải tăng cao so với cùng kỳ năm trước.4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệpKết quả khảo sát doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy trong quý II/2026, hai khó khăn lớn nhất được doanh nghiệp phản ánh là nhu cầu thị trường trong nước thấp (50,98% doanh nghiệp lựa chọn) và tính cạnh tranh của hàng trong nước cao (68,63%). Bên cạnh đó, thiếu nguyên, nhiên vật liệu cũng là khó khăn được 27,45% doanh nghiệp phản ánh. Các doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh quý III/2026 có nhiều chuyển biến tích cực so với quý trước. Có 41,18% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt hơn, 50,98% cho rằng ổn định và chỉ 7,84% đánh giá khó khăn hơn. Dự báo 98,04% doanh nghiệp có khối lượng sản xuất tăng hoặc giữ nguyên; 90,02% dự kiến đơn đặt hàng tăng hoặc ổn định; 88,24% doanh nghiệp giữ nguyên hoặc tăng quy mô lao động.Triển vọng 6 tháng cuối năm 2026 tiếp tục khả quan. Có 49,02% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng và 49,02% dự báo ổn định so với 6 tháng đầu năm. Đồng thời, 92,16% doanh nghiệp kỳ vọng đơn đặt hàng mới tăng; 92,31% đánh giá thị trường xuất khẩu mở rộng hoặc giữ ổn định. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, 23,53% doanh nghiệp dự kiến tăng và 66,67% giữ nguyên số lượng lao động. Nhìn chung, mặc dù vẫn chịu tác động của nhu cầu thị trường trong nước thấp, sức ép cạnh tranh và một số hạn chế về nguyên vật liệu, lao động, doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo trên địa bàn Hà Tĩnh đều kỳ vọng tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý III và 6 tháng cuối năm 2026 tiếp tục phục hồi, duy trì đà tăng trưởng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng công nghiệp và kinh tế của tỉnh.5. Thương mại, dịch vụ5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngHoạt động thương mại, dịch vụ 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Mặc dù thị trường thế giới còn nhiều biến động, làm gia tăng chi phí vận chuyển quốc tế, song kinh tế trong nước và địa phương vẫn giữ được sự ổn định nhờ kiểm soát tốt giá xăng dầu và các chi phí đầu vào. Nguồn cung hàng hóa trên thị trường luôn dồi dào, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá bất thường.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 6/2026 ước đạt 5.406,59 tỷ đồng, tăng 8,19% so với tháng trước và tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng cao chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng gia tăng trong dịp hè, tập trung ở các mặt hàng điện lạnh, đồ gia dụng, thời trang và các mặt hàng phục vụ sinh hoạt. Cùng với đó, hoạt động du lịch biển bước vào mùa cao điểm đã thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tại các địa phương. Tính chung quý II/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.584,12 tỷ đồng, tăng 2,86% so với quý trước và tăng 17,19% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 30.735,074 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng hóa có 10 nhóm hàng hóa tăng trưởng dương trong khi đó nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng giảm 2,59% và sửa chữa ô tô, xe máy, xe có động cơ khác giảm 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm ô tô dưới 9 chỗ và phương tiện đi lại tiếp tục ghi nhận mức tăng khá nhờ nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống, các chương trình ưu đãi của doanh nghiệp và xu hướng sử dụng phương tiện tiết kiệm nhiên liệu. Bên cạnh đó, nhóm lương thực, thực phẩm và đồ dùng gia đình duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển chung của thị trường bán lẻ.Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6 ước đạt 632,82 tỷ đồng, tăng 8,51% so với tháng trước và tăng 16,42% so với cùng kỳ năm trước. Kỳ nghỉ hè cùng với thời tiết thuận lợi đã thu hút lượng lớn du khách đến các khu du lịch biển của tỉnh, qua đó làm gia tăng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các dịch vụ du lịch. Đồng thời, việc duy trì niêm yết giá, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và triển khai các chương trình kích cầu tiếp tục góp phần nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến. Quý II/2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.760,34 tỷ đồng, tăng 1,19% so với quý trước và tăng 17,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 3.242,11 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch, tổ chức lễ hội và khai trương mùa du lịch biển ngay từ đầu năm, cùng với việc nâng cao chất lượng dịch vụ và ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động du lịch, góp phần duy trì lượng khách và doanh thu ở mức tích cực.Doanh thu dịch vụ khác tháng 6 ước đạt 877,22 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 10,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, các hoạt động nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng khá nhờ nhu cầu của học sinh, sinh viên trong dịp nghỉ hè, trong khi doanh thu nhóm giáo dục và đào tạo giảm theo tính chất mùa vụ. Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.010,45 tỷ đồng, tăng 10,57% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động của nhóm ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì mạch tăng trưởng ổn định, có sự phân hóa theo tính chất chu kỳ và nhu cầu thực tế của thị trường. Mặc dù chịu sức ép từ chi phí nhiên liệu đầu vào và áp lực bệnh dịch mùa hè, song với sự điều hành linh hoạt của các cấp chính quyền cùng khả năng tự cân đối, thích ứng của các đơn vị kinh doanh, nhóm ngành dịch vụ khác đã khẳng định tốt vai trò bình ổn và bảo đảm chất lượng cuộc sống nhân dân. Đây chính là tiền đề quan trọng để khối dịch vụ này tiếp tục vận hành ổn định, đóng góp bền vững vào bức tranh phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh nhà trong thời gian tới.5.2. Hoạt động vận tảiHoạt động vận tải và kho bãi 6 tháng đầu năm trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục duy trì đà tăng ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Nhu cầu đi lại của người dân tăng trong mùa du lịch hè cùng với hoạt động lưu thông hàng hóa diễn ra sôi động đã góp phần thúc đẩy doanh thu ngành vận tải. Các doanh nghiệp vận tải tiếp tục đầu tư nâng cấp phương tiện, nâng cao chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa hoạt động khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường.Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 6 ước đạt 862,47 tỷ đồng, tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 165,84 tỷ đồng, tăng 2,11% so với tháng trước và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước; Vận tải hàng hóa ước đạt 503,44 tỷ đồng, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 22,33% so với cùng kỳ năm trước, trong tháng, nhiều công trình xây dựng bước vào giai đoạn thi công cao điểm khiến nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu tăng cao. Đồng thời, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng như đồ gia dụng, nước giải khát, đồ uống có cồn, hàng may mặc cũng tăng theo mùa.Quý II/2026, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục tăng trưởng khá, ước đạt 2.481,97 tỷ đồng, tăng 20,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hàng hóa giữ vai trò chủ đạo với mức tăng 17,98%, vận tải hành khách tăng 15,89%. Dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, lần lượt tăng 31,68% và 33,78%, phản ánh nhu cầu vận chuyển, logistics và thương mại trên địa bàn tiếp tục được mở rộng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 4.785,02 tỷ đồng, tăng 16,75% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, những tháng đầu năm 2026, tình hình vận tải diễn ra sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao. Vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác. Dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt, số lượng phương tiện vận chuyển ổn định, giá cước vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.6. Tài chính, ngân hàng6.1. Hoạt động tài chínhThu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2026 có nhiều thuận lợi hơn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ, thị trường bất động sản ổn định, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế.Thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 28/6/2026 đạt 12.017,26 tỷ đồng (tăng 5,77% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 7.308,68 tỷ đồng (chiếm 60,82% trong tổng thu) giảm 5,30% so với cùng kỳ. Một số thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 379,75 tỷ đồng, giảm 74,49%; thu khác ngân sách đạt 179,31 tỷ đồng, giảm 28,84% so với cùng kỳ năm 2025.Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp, 6 tháng đầu năm 2026 thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 714,61 tỷ đồng tăng 34,41% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.414,19 tỷ đồng, tăng 47,02%; tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.421,81 tỷ đồng tăng 23,95% so với cùng kỳ năm 2025.Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 28/6/2026 đạt 14.060,49 tỷ đồng giảm 23,86% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 5.966,91 tỷ đồng chiếm 42,44% tổng chi, giảm 31,50% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 8.093,55 tỷ đồng chiếm 57,56% tổng chi, giảm 16,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 2.828,33 tỷ đồng giảm 1,48%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 1.526,25 tỷ đồng giảm 45,52% so với cùng kỳ năm 2025.6.2. Hoạt động ngân hàngNgành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực sự nỗ lực trong việc đảm bảo cung ứng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế. Công tác huy động vốn được các tổ chức tín dụng trên địa bàn đẩy mạnh ngay từ đầu năm. Với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt.Tổng nguồn vốn huy động dự ước đến 30/6/2026 đạt 133.000 tỷ đồng, tăng 5,35% so với cuối năm 2025. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.890 tỷ đồng, chiếm 9,69% tổng nguồn vốn huy động, tăng 1,64%; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 120.110 tỷ đồng, chiếm 90,31%, tăng 5,76% so với cuối năm 2025.Dư nợ cho vay dự ước đến 30/6/2026 đạt 137.850 tỷ đồng, tăng 8,77% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 106.600 tỷ đồng (chiếm 77,33 % tổng dư nợ), tăng 8,85%; dư nợ trung dài hạn đạt 31.250 tỷ đồng (chiếm 22,67% tổng dư nợ), tăng 8,50% so với cuối năm 2025. Công tác huy động vốn, tín dụng được tập trung chỉ đạo. Các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay, các chương trình lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, tiếp cận tín dụng.7. Đầu tư và xây dựngGiải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được tập trung chỉ đạo, Ngày 26/5/2026, HĐND tỉnh Hà Tĩnh đã ra Nghị quyết số 24/NĐ-HĐND về việc giao bổ sung kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 từ nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại của ngân sách cấp tỉnh năm 2025, trong đó bổ sung nguồn vốn gần 2.900 tỉ đồng vào kế hoạch đầu tư công trong năm 2026 trên địa bàn tỉnh.Thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ, Hà Tĩnh tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; quyết liệt triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công và đầu tư ngoài ngân sách. Đồng thời, tỉnh tập trung hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp như VSIP, Vinhomes Vũng Áng, cụm công nghiệp Gia Lách (mở rộng); đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, cải cách thủ tục hành chính, xử lý các tồn đọng để tạo điều kiện triển khai nhiều dự án trọng điểm như Nhà máy xe máy điện VinFast, các khu đô thị Mipec Thạch Trung, Kỳ Trinh, Nam Cầu Phủ, các dự án tái định cư và mở rộng hệ thống đường bộ.. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý II/2026 ước đạt 17.886,70 tỷ đồng tăng 37,10% so với quý trước và tăng 20,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.777,36 tỷ đồng, tăng 69,22% so với quý trước và giảm 25,61% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn khối Nhà nước tăng mạnh so quý trước nhờ công tác giải phóng mặt bằng của các dự án lớn như đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài về phía đông, đường sắt cao tốc, hạ tầng tái định cư được triển khai với khối lượng lớn.Vốn ngoài nhà nước ước đạt 13.123,61 tỷ đồng, tăng 41,23% so với quý trước và tăng 53,62% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết quý 2 thuận lợi hơn, tác động đến nguồn vốn đầu tư của hộ dân cư tăng trong bối cảnh nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở gia đình đang ở mức cao.Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 1.985,73 tỷ đồng, giảm 6% so với quý trước và giảm 23,17% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực này nguồn vốn đầu tư giảm do hiện tại không có dự án lớn nào triển khai, chỉ còn một số hạng mục bổ sung, sửa chữa máy móc tại các dự án lớn cũ đã đi vào hoạt động.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 30.932,91 tỷ đồng, tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.418,58 tỷ đồng, giảm 32,43% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trên địa bàn tỉnh giai đoạn này cũng không có các dự án lớn do Nhà nước triển khai (cùng kỳ năm trước vẫn còn một số hạng mục của dự án đường bộ cao tốc Bắc-Nam thực hiện); vốn ngoài nhà nước ước đạt 22.416,09 tỷ đồng, tăng 48,16% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so cùng kỳ chủ yếu do các khu đô thị, hạ tầng các khu công nghiệp và nhóm các công trình thuộc tập đoàn Vingroup như Khu công nghiệp Vinhomes, nhà máy xe máy điện Vinfast thực hiện với khối lượng lớn; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 4.098,24 tỷ đồng, giảm 27,49% so với cùng kỳ năm trước. Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh không có dự án lớn nào của khối FDI được triển khai đầu tư mới, khối lượng vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở công tác sửa chữa, phục hồi, hoàn thiện tại Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, hạ tầng KCN VSIP và một số dự án quy mô nhỏ khác.Thời gian qua, hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh gặp một số khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp làm giá nhiên liệu, vật liệu xây dựng, chi phí vận hành máy móc và nhân công tăng cao. Một số dự án phải điều chỉnh, bổ sung dự toán, ảnh hưởng đến tiến độ thi công; việc tuyển dụng lao động kỹ thuật tay nghề cao vẫn còn khó khăn. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương và tỉnh, cùng sự vào cuộc của các cấp, các ngành trong đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, thu hút đầu tư, tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, nguồn vật liệu xây dựng và ổn định thị trường lao động, nguyên vật liệu, vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn vẫn duy trì tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.8. Xuất nhập khẩu hàng hóaTình hình xuất, nhập khẩu trong tháng Sáu và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục có nhiều khởi sắc và duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tổng trị giá xuất - nhập khẩu tháng 6 ước đạt 450,2 triệu USD, tăng 6,04% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng trị giá xuất - nhập khẩu toàn tỉnh ước đạt 2.530 triệu USD, tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước.Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng Sáu ước đạt 162,5 triệu USD, tăng 6,87% so với tháng trước và tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục tăng khá so với tháng trước như dăm gỗ tăng 50,0%, hàng dệt may tăng 19,05%, thép, phôi thép tăng 10,51%, góp phần duy trì tăng trưởng xuất khẩu. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu đạt 830 triệu USD (tương đương 37,7% kế hoạch năm), tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước. Đây là kết quả tích cực trong bối cảnh hoạt động thương mại quốc tế còn nhiều biến động, tạo nền tảng để tỉnh tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu, phấn đấu hoàn thành mục tiêu 2,2 tỷ USD trong năm 2026.Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu trong tháng Sáu ước đạt 287,70 triệu USD, tăng 5,57% so với tháng trước và tăng 1,02% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, trị giá nhập khẩu đạt 1.700 triệu USD, tăng 9,56% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu và máy móc phục vụ sản xuất tiếp tục duy trì ở mức cao. Trong đó, nhập khẩu từ Formosa đạt 1.050,00 triệu USD, giảm 8,31% so với cùng kỳ năm trước, song vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh.Nhìn chung, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng tích cực, phản ánh sự ổn định của hoạt động sản xuất và thương mại trên địa bàn tỉnh. Hoạt động xuất khẩu tăng chủ yếu nhờ các mặt hàng chủ lực như dăm gỗ, xơ sợi, dệt may và thép, trong khi nhập khẩu tăng do nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất. Mặc dù nhập khẩu từ Formosa giảm so với cùng kỳ nhưng tổng trị giá nhập khẩu toàn tỉnh vẫn duy trì mức tăng khá. Kết quả này tạo nền tảng thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những tháng tiếp theo.9. Giá cả, lạm phátTrong tháng giá xăng, dầu giảm theo giá thế giới, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, giá lương thưc, thực phẩm…giảm là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh tháng 6/2026 giảm 0,88% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước chỉ số CPI vẫn tăng tăng 4,64%. Tính chung 6 tháng năm 2026, CPI tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước.So với tháng trước, CPI tháng 6/2026 giảm 0,88%. (trong đó khu vực thành thị Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 03 nhóm hàng hóa tăng giá, có 07 nhóm hàng hóa giảm giá và có 01 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng chủ yếu do Nhóm lương thực, đặc biệt là gạo, rau tươi, khô và chế biến giá giảm do tháng 6 là thời điểm ngay sau vụ thu hoạch đông xuân, nguồn cung trong nước tăng. Ngược lại, nhóm thịt gia súc, gia cầm lại tăng nhẹ so với tháng trước do chi phí sản xuất đầu vào tăng và nhu cầu tiêu dùng cải thiện, nhất là trong bối cảnh nhu cầu thực phẩm tươi sống phục hồi. Bên cạnh đó, do trong tháng nắng nóng nên nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống, giải khát, điện, nước các loại tăng nên giá tăng. Giá chất đốt, nhiên liệu xăng, dầu giảm theo xu hướng giảm giá thị trường thế giới. Nhưng nhìn chung mức tăng giá CPI trong tháng vẫn ở mức 4,64% so với cùng tháng năm trước, trong đó mức tăng ở khu vực thành thị là 5,41% trong khi ở khu vực nông thôn là 4,34%.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 CPI bình quân tăng 4,06% so với cùng kỳ năm 2025. Cả 11 nhóm hàng hóa chính đều tăng giá so với cùng kỳ, trong đó, tác động lớn nhất là chỉ số giá nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 4,76%, tiếp theo là nhóm giao thông tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng mạnh, tác động trực tiếp đến mặt bằng giá chung của nhóm. Ngoài ra, các nhóm hàng có biến động tăng mạnh như may mặc, mũ nón và giày dép (tăng 12,87%) và nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 6,68%) cung kéo theo chỉ số CPI chung bình quân tăng.Xét theo từng quý trong 6 tháng đầu năm 2026, mặt bằng giá cả có xu hướng tăng rõ rệt trong quý II. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý II tăng 1,65% so với quý I; đồng thời mức tăng so với cùng kỳ năm trước đạt 5,21%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 2,93% của quý I. Diễn biến này cho thấy áp lực tăng giá trong quý II lớn hơn, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa hè cùng với biến động giá của một số nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu.Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh duy trì ổn định, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân. Tuy nhiên, giá cả một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có mức biến động đáng kể do tác động của thị trường trong nước và quốc tế. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2026 tiếp tục tăng nhẹ so với tháng trước. Áp lực tăng giá chủ yếu đến từ nhu cầu tiêu dùng, du lịch và dịch vụ ăn uống trong cao điểm mùa hè; cùng với biến động giá một số mặt hàng thực phẩm, nhiên liệu và vật liệu xây dựng theo diễn biến thị trường.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, việc làmQuý II và 6 tháng đầu năm 2026, thị trường lao động Hà Tĩnh tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Việc làm và thu nhập của người lao động được cải thiện; nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp duy trì ở mức cao nhờ hoạt động mở rộng sản xuất tại các khu kinh tế, khu công nghiệp và các doanh nghiệp, đặc biệt trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.1.1. Giải quyết việc làmTheo số liệu của Sở Nội vụ, trong quý II năm 2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho 7.887 người, tăng 68,56% so với quý trước nhưng giảm 44,64% so với cùng kỳ năm 2025. Mặc dù số lao động được giải quyết việc làm giảm so với cùng kỳ song cơ cấu việc làm đã chuyển dịch theo hướng tích cực khi lao động có việc làm trong tỉnh chiếm 50,29% tổng số lao động được giải quyết việc làm, thay vì chủ yếu thông qua xuất khẩu lao động và làm việc ngoài tỉnh như trước đây. Điều này cho thấy khả năng tạo việc làm tại địa phương tiếp tục được cải thiện, góp phần nâng cao tính ổn định của thị trường lao động trên địa bàn tỉnh. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 đã giải quyết việc làm và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho 12.566 người, giảm 37,08% so với cùng kỳ năm 2025.1.2. Lực lượng lao độngTheo kết quả Điều tra lao động, việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh trong quý II/2026 ước đạt 551.541 người, tăng 1,85% so với quý trước và tăng 2,21% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lao động nam chiếm 52,13% tổng lực lượng lao động, cao hơn 4,26 điểm phần trăm so với lao động nữ (47,87%). Xét theo khu vực cư trú, lực lượng lao động vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với tỷ trọng 75,43%, trong khi khu vực thành thị chỉ chiếm 24,57%, phản ánh đặc điểm cơ cấu dân cư và lao động của tỉnh. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số từ 15 tuổi trở lên trong quý II đạt 55,92%, tăng 1,02 điểm phần trăm so với quý I và tăng 0,88 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy nguồn cung lao động tiếp tục được cải thiện.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước đạt 546.532 người, tăng 2,70% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lao động nam đạt 284.993 người, chiếm 52,15% tổng lực lượng lao động; lao động khu vực thành thị đạt 134.513 người, chiếm 24,61%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động bình quân đạt 55,41%, tăng 1,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, phản ánh xu hướng gia tăng mức độ tham gia của người dân vào thị trường lao động. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm dân cư vẫn còn khá rõ nét. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn nữ 9,17 điểm phần trăm; đồng thời, tỷ lệ tham gia của dân số khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn 8,65 điểm phần trăm.1.3. Lao động có việc làm Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2026 là 539.035 người, chiếm 97,73% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,05 điểm phần trăm so với quý I và tăng 1,16 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 131.424 người, chiếm 24,38% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 279.568 người, chiếm 51,86% trong tổng số. Số lao động có việc làm tiếp tục tăng trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh phục hồi tích cực, đặc biệt là khu vực công nghiệp. Cùng với đó, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp duy trì xu hướng tăng đã góp phần mở rộng cơ hội việc làm của nền kinh tế địa phương.Tính chung 6 tháng năm 2026, lao động có việc làm đạt 534.010 người, chiếm 97,71% tổng số lực lượng lao động, giảm 0,56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 129.516 người, chiếm 24,25%; ở nam giới là 276.313 người, chiếm 51,74%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh: Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 28,14% tổng số lao động có việc làm, tăng 0,89 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (tăng 9.378 người). Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,71%, giảm 0,92 điểm phần trăm về tỷ trọng nhưng số lao động vẫn tăng 310 người, cho thấy quy mô việc làm tiếp tục được mở rộng trong bối cảnh tổng số lao động có việc làm tăng. Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42,15%, tăng nhẹ 0,03 điểm phần trăm, tương ứng tăng 7.374 lao động. 1.4. Tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý II/2026 là 2,11%, giảm 0,21 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, tỷ lệ này ở mức 2,21%, tăng 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.Lao động không có việc làm (thất nghiệp) ước tính quý II/2026 là 12.506 người, chiếm 2,27% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,05 điểm phần trăm so quý trước và giảm 1,16 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 67,08% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn và tỷ lệ nam giới chiếm đến 63,41%. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý II/2026 ước tính là 3,88%, tăng 0,22 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng năm 2026, số người thất nghiệp ước tính là 12.522 người, chiếm 2,29% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 60,09% (tương đương 7.525 người) và ở nam giới là 69,32% (8.680 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,99%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý II/2026 là 1.920 người; tính đến tháng 6 năm 2026 là 2.607 người.2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hộiNhìn chung, đời sống dân cư trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ổn định, từng bước được cải thiện cùng với đà phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế. Thực hiện chủ trương của Trung ương về tiếp tục sắp xếp đơn vị hành chính và tinh gọn tổ chức bộ máy ở cơ sở, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 1508/QĐ-UBND phê duyệt “Phương án tổng thể sắp xếp thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”. sau khi hoàn thành, toàn tỉnh còn 827 thôn, tổ dân phố, giảm 1.074 đơn vị so với trước khi sắp xếp, tương ứng giảm 56,50%. Việc sắp xếp góp phần tinh gọn bộ máy ở cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.2.1. Công tác đảm bảo an sinh xã hộiCông tác an sinh xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục được quan tâm thực hiện, các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo và hộ cận nghèo được chi trả đầy đủ, kịp thời cụ thể:Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Quý II/2026, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền là 352,152 tỷ đồng so với quý trước giảm 31,893 tỷ đồng (giảm 8,3%) và so với cùng kỳ năm trước giảm 114,97 tỷ đồng (giảm 24,61%). Chủ yếu do nguồn hỗ trợ đột xuất trong quý II giảm 99,54% so với quý trước và giảm 99,38% so với cùng kỳ năm trước do năm nay không phải năm kỷ niệm trọng điểm nên không phát sinh các khoản chi đột xuất quy mô lớn như năm trước. Tính chung 6 tháng đã chi trả tổng số tiền là 736,197 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước tăng 8,968 tỷ đồng (tăng 1,23%). Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý II năm 2026, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền là 181,365 tỷ đồng, toàn bộ số tiền này là nguồn trợ cấp, phụ cấp hàng tháng, không có nguồn hỗ trợ đột xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 đã chi trả với tổng số tiền là 364,79 tỷ đồng. Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý II năm 2026, đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất số tiền là 18,41 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng toàn tỉnh đã chi trả tổng số tiền là 100,81 tỷ đồng.Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương: Tính chúng 6 tháng đầu năm 2026, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 401.067 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 10.163 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 23.373 thẻ cho hộ cận nghèo; 131.746 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 40.708 thẻ cho người có công và 195.077 thẻ cho các đối tượng khác. Thẻ bảo hiểm quý II tăng 13.443 thẻ so với quý I chủ yếu là do tăng các loại thẻ khác. Tình hình hỗ trợ gạo tại địa phương trong 6 tháng đầu năm 2026, theo Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 30/01/2026 của UBND tỉnh, các địa phương đã cấp phát 1.171 tấn gạo, trong đó: hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ 604 tấn; hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 243,56 tấn; hỗ trợ nhân dân trong thời kỳ giáp hạt đầu năm 2026 là 323,52 tấn. Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương: Trong quý II không phát sinh hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường nhưng tính chung 6 tháng đầu năm 2026 Hà Tĩnh đã chi nguồn hỗ trợ từ Ban vận động cứu trợ Trung ương cho các đối tượng có nhà ở bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ xảy ra năm trước với tổng số tiền 58,582 tỷ đồng.3. Giáo dục đào tạo.Trong quý II năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh đã tổ chức thành công 2 kỳ thì quan trọng của năm học 2026-2027. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT đã có hơn 21 nghìn thí sinh đăng ký dự thi; công tác tổ chức thi, chấm thi và xét tuyển được thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế. Theo kết quả tuyển sinh, mặt bằng điểm chuẩn năm nay có xu hướng tăng tại nhiều trường THPT công lập. Trường THPT Phan Đình Phùng tiếp tục có điểm chuẩn cao nhất toàn tỉnh với 24,75 điểm; tiếp đến là THPT Kỳ Anh và THPT Nghèn cùng đạt 21,25 điểm. Kỳ thi tốt nghiệp THPT có gần 18.600 thí sinh đăng ký dự thi. Ngành giáo dục đã phối hợp với các địa phương và đơn vị liên quan chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực, an ninh, an toàn và hỗ trợ thí sinh tham gia kỳ thi.4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm.Nhìn chung, công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh trên địa bàn Hà Tĩnh 6 tháng năm 2026 tiếp tục được triển khai đồng bộ, góp phần kiểm soát hiệu quả các bệnh truyền nhiễm, không ghi nhận trường hợp tử vong do các bệnh thuộc diện giám sát. Tuy nhiên, một số bệnh có xu hướng gia tăng trong quý do là các tháng mùa hè, điều kiện thời tiết nắng nóng, mưa nhiều xen kẽ tạo môi trường thuận lợi cho mầm bệnh phát triển.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên, các ca nhiễm HIV tiếp tục có xu hướng giảm. Trong quý II/2026, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện 3 ca nhiễm mới HIV, không có ca nào chết do AIDS. Tính chung 6 tháng phát hiện 6 ca nhiễm mới HIV/AIDS, không có ca nào chết vì AIDS giảm 4 ca nhiễm mới, giảm 5 ca chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước.Công tác an toàn thực phẩm: Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường thông qua việc đẩy mạnh tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống. Toàn tỉnh không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào, giảm 1 vụ và 4 ca ngộ độc tập thể so với cùng kỳ. Tuy nhiên vẫn ghi nhận 780 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 422 ca ngộ độc đơn lẻ so với dùng kỳ) diễn biến các ca ngộ độc tăng dần trong các tháng mùa hè, trong đó tháng 6 có số người mắc cao nhất với 188 người. Các trường hợp ngộ độc đều được ngành y tế tiếp nhận, điều trị và xử lý kịp thời, không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.Tình hình dịch bệnh khác: Trong quý II/2026 một số bệnh có xu hướng gia tăng so với quý I như sốt xuất huyết Dengue, tay - chân - miệng, quai bị, bệnh do vi rút Adeno và tiêu chảy do điều kiện thời tiết nắng nóng, mưa nhiều tạo thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, các bệnh truyền nhiễm chủ yếu ghi nhận số mắc cao gồm cúm (4.173 ca), tiêu chảy (407 ca), quai bị (338 ca), bệnh do vi rút Adeno (230 ca), sốt xuất huyết Dengue (143 ca), thủy đậu (127 ca), viêm gan vi rút khác (120 ca) và tay - chân - miệng (93 ca); các bệnh khác chỉ ghi nhận số mắc rải rác. Nhờ tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các ca bệnh, không để xảy ra ổ dịch lớn.5. Hoạt động văn hóa - thể thaoHoạt động văn hóa: Trong quý II năm 2026, nhiều hoạt động văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức trên địa bàn tỉnh. Nổi bật là lễ khai trương du lịch biển Hà Tĩnh năm 2026 với chủ đề "Hà Tĩnh - Âm vang biển Thiên Cầm" diễn ra tại Khu du lịch Thiên Cầm vào ngày 25/4; đồng thời các địa phương ven biển như Thiên Cầm, Xuân Thành, Kỳ Xuân, Hải Ninh và Thạch Khê đồng loạt tổ chức khai hội du lịch biển với nhiều chương trình nghệ thuật, thể thao và trò chơi dân gian phục vụ Nhân dân, du khách. Bên cạnh đó, tỉnh phát động cuộc thi “Ảnh đẹp và video clip ấn tượng về du lịch Hà Tĩnh” năm 2026. Các hoạt động góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân và quảng bá hình ảnh Hà Tĩnh đến du khách trong và ngoài tỉnh.Hoạt động thể dục, thể thao: Hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi. Nổi bật là Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Hà Tĩnh lần thứ X năm 2026 được tổ chức thành công với sự tham gia của hơn 2.500 vận động viên, tranh tài ở 77 bộ huy chương. Đây là sự kiện thể thao lớn nhất của tỉnh trong năm, góp phần đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng và tuyển chọn vận động viên xuất sắc chuẩn bị tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Bên cạnh đó, các giải thể thao cấp tỉnh, cấp cơ sở tiếp tục được duy trì, thu hút đông đảo cán bộ, Nhân dân tham gia, góp phần nâng cao sức khỏe và đời sống tinh thần của người dân.Đối với thể thao thành tích cao trong 6 tháng đầu năm 2026 đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia thi đấu 13 giải quốc gia, quốc tế giành 110 huy chương (39 HCV -32 HCB - 39 HCĐ). Đối với thể thao chuyên nghiệp Hà Tĩnh đã phối hợp với Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam tổ chức thành công trận đấu Play-off trên sân vận động Hà Tĩnh.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phươngTai nạn giao thông: Quý II/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 102 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 65 người chết và 71 người bị thương; so với quý trước tăng 5 vụ, tăng 8 người chết nhưng giảm 9 người bị thương. Tai nạn giao thông đường sắt không xảy ra, tương đương quý trước. Số vụ tai nạn và số người tử vong tăng cho thấy tình hình trật tự, an toàn giao thông vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, nhất là khi nhu cầu đi lại và vận tải hàng hóa gia tăng trong mùa hè. Tuy nhiên, số người bị thương giảm cho thấy công tác cứu hộ, cứu nạn và xử lý sau tai nạn tiếp tục được cải thiện.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 199 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 122 người chết và 151 người bị thương, tăng 21 vụ, tăng 1 người chết và tăng 60 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù số người tử vong chỉ tăng nhẹ, số vụ tai nạn và số người bị thương tăng khá cao cho thấy tình hình tai nạn giao thông vẫn diễn biến phức tạp, đòi hỏi các cấp, các ngành tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành của người tham gia giao thông nhằm kiềm chế và kéo giảm tai nạn trong thời gian tới.Cháy, nổ: Trong quý II năm 2026, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 24 vụ cháy, tăng 10 vụ so với quý trước; không có thiệt hại về người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 3.858,66 triệu đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 38 vụ cháy, không có người chết, giá trị thiệt hại ước tính 6.905,48 triệu đồng; ngoài ra xảy ra 01 vụ nổ làm 01 người bị thương. Số vụ cháy tăng trong quý II chủ yếu do thời tiết nắng nóng kéo dài, làm gia tăng nguy cơ cháy tại khu dân cư, cơ sở sản xuất và khu vực rừng. Tuy nhiên, công tác phát hiện, xử lý và chữa cháy được triển khai kịp thời nên không xảy ra thiệt hại về người.Ngoài ra, trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 13 vụ đuối nước làm 18 người tử vong, trong đó có 11 trẻ em dưới 16 tuổi, 4 học sinh trên 16 tuổi và 3 người lớn. Mặc dù các cấp, các ngành đã tăng cường tuyên truyền và triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa, tình trạng đuối nước vẫn diễn biến đáng lo ngại, đặc biệt trong thời gian nghỉ hè và những tháng nắng nóng. Trước thực trạng đó, nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh đã tích cực chung tay triển khai các hoạt động phòng, chống đuối nước, như tổ chức các lớp dạy bơi miễn phí, hướng dẫn kỹ năng bơi an toàn và kỹ năng phòng tránh tai nạn dưới nước cho trẻ em. Đây là những hoạt động thiết thực, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và trang bị kỹ năng cần thiết cho trẻ em, đồng thời là mô hình cần tiếp tục được duy trì và nhân rộng trong thời gian tới.7. Tình hình vi phạm môi trường và thiên taiCông tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 6 năm 2026, trên địa bàn tỉnh phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường, giảm 40,00% so với tháng trước và giảm 40% so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đã xử lý 6 vụ vi phạm, số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt 46,50 triệu đồng, tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm giảm cho thấy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường, cùng với việc tăng cường thanh tra, kiểm tra và triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 202 vụ vi phạm môi trường, tăng 42 vụ (26,25%) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, số vụ đã xử lý là 107 vụ, giảm 21,9%; tổng số tiền xử phạt đạt 679,23 triệu đồng, giảm 54,47% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các cơ quan chức năng đã tập trung xử lý các vụ việc theo đúng quy định, đồng thời đẩy mạnh công tác phòng ngừa thông qua tuyên truyền, hướng dẫn và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy vậy, số vụ vi phạm vẫn có xu hướng tăng so với cùng kỳ, cho thấy công tác quản lý, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường cần tiếp tục được tăng cường trong thời gian tới. Về tình hình thiên tai trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh có xảy ra mưa đá kèm dông lốc, sấm sét và gió kèm đợt mưa lớn tuy nhiên không gây thiệt hại lớn về người và tài sản.III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚITrong thời gian tới, tình hình thế giới dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp phục hồi chưa đồng đều, thiên tai, dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đối với Hà Tĩnh, mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên trong năm 2026 đặt ra yêu cầu rất cao và khối lượng công việc của năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 là rất lớn. Vì vậy, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt, triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:Một là, tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên; thực hiện hiệu quả việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và hoàn thiện cơ chế vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp;Hai là, đẩy nhanh triển khai Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch đô thị Hà Tĩnh, đô thị Nghi Xuân và các quy hoạch chung xã. Chủ động phối hợp hoàn thiện Đề án mở rộng KKT Vũng Áng, điều chỉnh Quy hoạch chung KKT Vũng Áng, Đề án Khu thương mại tự do Vũng Áng, Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Hà Tĩnh và triển khai Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung KKT Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đến năm 2045;Ba là, đẩy mạnh thu hút đầu tư có trọng tâm, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển sản xuất; tháo gỡ khó khăn cho các dự án trọng điểm, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng, dự án Nhà xưởng cho thuê sản xuất ngành phụ trợ ô tô điện và các dự án công nghiệp trong khu kinh tế, khu công nghiệp. Phối hợp với PVN triển khai Đề án Trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái tại Khu kinh tế Vũng Áng và nghiên cứu Trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo quốc tế tại Khu kinh tế Vũng Áng và thực hiện các thủ tục đối với dự án mỏ sắt Thạch Khê theo quy định;Bốn là, tập trung sản xuất vụ Hè Thu năm 2026; đẩy nhanh việc tập trung, tích tụ ruộng đất theo Nghị quyết số 06-NQ/TU; nhân rộng mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và triển khai Dự án Tổ hợp kinh tế nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn sinh thái 4F; tăng cường phòng chống dịch bệnh và xây dựng nông thôn mới bền vững;Năm là, triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thu ngân sách, phấn đấu hoàn thành và vượt dự toán; tăng cường chống thất thu, trốn thuế, gian lận thuế, thu hồi nợ đọng; xác định đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị.Sáu là, tăng cường ứng dụng thương mại điện tử, hỗ trợ các doanh nghiệp và hợp tác xã quảng bá, giới thiệu, và xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng; tăng cường quản lý thị trường, kiểm soát giá cả, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; đẩy mạnh liên kết phát triển tour, tuyến du lịch, nâng cao chất lượng trải nghiệm và thời gian lưu trú của du khách.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Năm và 5 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
  •   03/06/2026 08:54

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Hoạt động sản xuất nông, lâm và thủy sản trong tháng Năm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục duy trì ổn định. Hiện nay lúa vụ Đông Xuân năm 2026 trên địa bàn tỉnh cơ bản đã thu hoạch xong, bà con nông dân đang tích cực xuống giống gieo trồng mùa vụ mới. Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng an toàn sinh học, các địa phương tăng cường kiểm soát dịch bệnh, chủ động tái đàn phù hợp với điều kiện thực tế. Hoạt động nuôi trồng thủy sản tiếp tục được mở rộng theo hướng thâm canh, nâng cao hiệu quả sản xuất tại các vùng nuôi trọng điểm. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Trong tháng Năm hoạt động trồng trọt trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào thu hoạch lúa vụ Xuân. Tuy nhiên, thời tiết diễn biến thất thường với các hiện tượng nắng nóng xen kẽ mưa trái mùa, dông lốc và gió mạnh tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sản xuất nông nghiệp. Tiến độ gieo trồng vụ Xuân 2026: Tổng diện tích gieo, cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 58.611 ha/59.152 ha, đạt 99,13% kế hoạch, bằng 98,88%, giảm 665 ha so với cùng kỳ năm trước, giảm do có 300 ha diện tích chuyển đổi sang xây dựng khu công nghiệp Vinhomes và có 434 ha chuyển sang trồng cây hằng năm khác. Trong mùa vụ này đã triển khai nhiều phương pháp mới trong sản xuất lúa, mang lại hiệu quả tích cực. Toàn tỉnh có khoảng 4.300 ha áp dụng công nghệ tưới ngập - khô xen kẽ (AWD) và hơn 150 ha thí điểm sản xuất giảm phát thải gắn với thâm canh lúa cải tiến (SRI). Kết quả sản xuất, gieo trồng cây hàng năm khác đạt khá[1]. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô xoắn nõn - phát triển bắp, diện tích nhiễm 30 ha; bệnh đốm nâu gây hại trên cây lạc với tỉ lệ phổ biến 10-15%, diện tích nhiễm 25 ha. b. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi chi phí chăn nuôi vẫn đang ở mức cao, bên cạnh đó tình hình dịch bệnh đang diễn biến khá phức tạp. Chăn nuôi gia súc lớn có xu hướng giảm, trong khi chăn nuôi lợn và gia cầm cơ bản ổn định và tăng nhẹ, đây là sự chuyển dịch cơ cấu vật nuôi tất yếu trên địa bàn. Chăn nuôi trâu, bò hiệu quả kinh tế không cao nên người dân hạn chế tái đàn; trong khi đó, chăn nuôi lợn, gia cầm có chu kỳ sinh trưởng ngắn hơn, thời gian quay vòng vốn nhanh, dễ thích ứng thị trường, phù hợp với điều kiện sản xuất hiện tại nên tiếp tục được duy trì[2]. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng tính đến ngày 20/5/2026 dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại một địa phương làm cho 129 con lợn mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng 9.328 kg. Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 3 xã Kỳ Xuân, Kỳ Văn, Hương Xuân làm cho 13 con bò mắc bệnh. Lũy kế từ đầu năm đến nay, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 31 xã/phường làm 1.567 con lợn mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng 132.044 kg; Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 3 xã làm 25 con bò mắc bệnh trong đó chết, tiêu hủy 5 con với khối lượng 660 kg. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng Năm hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra cơ bản ổn định. Công tác trồng rừng vụ Xuân, chăm sóc và bảo vệ rừng được các địa phương tích cực triển khai. Điểm đáng lưu ý nhất trong tháng là thời tiết bắt đầu chuyển sang nắng nóng gay gắt, làm tăng rủi ro cháy rừng. Trước tình hình đó, các cấp, ngành đã chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát và tuyên truyền nâng cao ý thức người dân. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng năm ước đạt 1.105 ha, bằng 163,96% so với cùng kỳ năm trước (tăng 431 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 diện tích rừng trồng mới ước đạt gần 4.157 ha, bằng 149,62% tăng 1.379 ha so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 108 nghìn cây, bằng 152,17%, tăng 37 nghìn cây so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.291 nghìn cây bằng 83,02% giảm 264 nghìn cây so với cùng kỳ năm trước. Khai thác gỗ và lâm sản trong tháng ước đạt 103.420 m³, tăng 68.285 m³ (bằng 294,35%) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến nay sản lượng gỗ khai thác ước đạt 343.968 m3 bằng 189,11% tăng 162.076 m3 so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác năm nay tăng mạnh do nhiều diện tích rừng đến tuổi khai thác, năng suất rừng trồng được cải thiện và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5, số 6 và số 10 (năm 2025) khiến nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân phải khai thác tận thu. Thiệt hại về rừng: Trong tháng Năm xảy ra 03 vụ phá rừng với diện tích 0,45 ha, bằng 60,04% (giảm 0,31 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm đã được lực lượng Kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời không gây hậu quả nghiêm trọng. Trong tháng do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng gay gắt, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 02 vụ cháy rừng tại khu vực các xã Sơn Tiến, Hà Linh và Hương Bình với tổng diện tích thiệt hại là 6 ha. Các địa phương cần tiếp tục tăng cường trực ban, tuần tra và siết chặt hơn nữa các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trong những tháng cao điểm mùa khô sắp tới. 1.3. Tình hình thủy sản Kết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng Năm ước đạt 5.489 tấn, bằng 103,37% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng tăng ở cả hoạt động khai thác và nuôi trồng, (khai thác tăng 4,10%; nuôi trồng thuỷ sản tăng 4,83%). Tính chung 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng đạt 24.548 tấn, tăng 725 tấn (tăng 3,04%) so với cùng kỳ năm trước. Về khai thác thủy sản, sản lượng trong tháng ước đạt 4.121 tấn, bằng 102,87% so với cùng kỳ năm trước, chỉ tính riêng khai thác biển ước đạt 3.741 tấn, bằng 102,97% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác thủy sản nội địa ước đạt 380 tấn, bằng 101,88% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động khai thác thủy sản trong tháng diễn ra khá thuận lợi nhờ điều kiện thời tiết trên biển ổn định, tạo điều kiện cho ngư dân tích cực vươn khơi bám biển. Tính chung 5 tháng năm 2026 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 18.909 tấn, bằng 102,84% so với cùng kỳ năm trước. Về nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng trong tháng ước đạt 1.368 tấn, bằng 104,91% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng ước đạt 5.639 tấn, bằng 103,73% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng tôm bị bệnh đốm trắng với diện tích 8,26 ha xảy ra tại: Xã Cẩm Lạc 1,94 ha; phường Hải Ninh 0,47 ha; xã Thạch Khê 1,85 ha; phường Thành Sen 4 ha. Khi phát hiện dịch được xử lý kịp thời hạn chế thiệt hại cho người nuôi. Tính chung luỹ kế 5 tháng đầu năm 2026 tình hình dịch bệnh thủy sản là bệnh đốm trắng ở tôm với diện tích nhiễm 11,11 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh 5 tháng đầu năm 2026 phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động sản xuất công nghiệp duy trì đà phục hồi tích cực; các dự án quy mô lớn như sản xuất ô tô, pack pin, cell pin, thép… vận hành ổn định, từng bước nâng cao công suất và hiệu quả sản xuất. Những dự án này không chỉ tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn lan tỏa tích cực đến thương mại, dịch vụ, logistics và phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng Năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,22% so với tháng trước và tăng 32,85% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 7,11% so với tháng trước và giảm 10,26% so với cùng kỳ. Ngành chế biến chế tạo tăng 5,09% so với tháng trước và tăng 26,17% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,76% so với tháng trước và tăng 65,98% so với cùng kỳ. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước tăng 1,77% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 10,38%. Ước tính 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 27,11% so với cùng kỳ[3]. Các tháng đầu năm ghi nhận những dấu hiệu tích cực làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng cao: Thứ nhất, chỉ số sản xuất ngành dệt tăng 21,01% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành cơ bản ổn định, đơn hàng có xu hướng tăng trở lại so với cùng kỳ, góp phần cải thiện công suất sử dụng của các cơ sở sản xuất. Thứ hai, chỉ số sản xuất ngành sản xuất kim loại (thép) 5 tháng đầu năm 2026 tăng 9,31% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực chính dẫn dắt sự hồi phục mạnh mẽ này xuất phát từ việc Công ty Formosa đã chủ động khai thác và ký kết thành công các đơn hàng xuất khẩu quy mô lớn, tạo đà bứt phá cho năng lực sản xuất và tiêu thụ thép ngay từ những tháng đầu năm. Sản lượng thép không gỉ 5 tháng đầu năm đạt 1.715 nghìn tấn, tăng 9,99% so với cùng kỳ năm trước. Thứ ba, ngành sản xuất thiết bị điện tại Hà Tĩnh tiếp tục đà tăng trường từ năm 2025. Chỉ số sản xuất ngành này 5 tháng đầu năm tăng 43,57% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có được nhờ nhu cầu sản xuất gia tăng, trong đó sản lượng từ nhà máy sản xuất ô tô điện của VinFast ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất pack pin và các thiết bị điện liên quan mở rộng sản xuất. Thứ tư, từ tháng 4/2026, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II chính thức hoạt động thương mại với 2 tổ máy. Bên cạnh đó, các nhà máy sản xuất điện trên địa bàn duy trì vận hành ổn định, bảo đảm sản lượng phát điện theo kế hoạch. Đây là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành trong năm 2026. Tính đến hết tháng 5/2026, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 36,8%; sản lượng điện sản xuất trên địa bàn 5 tháng đầu năm dự tính đạt 7,6 tỷ Kwh, tăng 37,75% so với cùng kỳ năm trước. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong 5 tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh duy trì tăng trưởng tích cực. Trong 21 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực, có 16 nhóm tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước, chiếm 76,19%, cho thấy hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cơ bản ổn định và từng bước phục hồi. Cơ cấu công nghiệp tiếp tục chuyển biến theo hướng cân đối hơn, góp phần củng cố nền tảng tăng trưởng của toàn ngành. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu với nhiều sản phẩm duy trì mức tăng khá, phản ánh sự cải thiện về sản xuất và tiêu thụ. Doanh nghiệp từng bước ổn định nguồn nguyên liệu, duy trì đơn hàng, nâng cao hiệu quả thiết bị và quy trình sản xuất. Kết quả đạt được đã tạo tác động lan tỏa tích cực đến các lĩnh vực thương mại, logistics và dịch vụ hỗ trợ sản xuất, góp phần nâng cao khả năng hoàn thành mục tiêu phát triển công nghiệp trong cả năm 2026. Một số sản phẩm tăng cao so với cùng kỳ gồm: Ắc quy ion lithi tăng 67,44%; bê tông trộn sẵn tăng 51,81%; thức ăn gia súc tăng 42,17%; điện sản xuất tăng 37,75%; sợi xe từ sợi tự nhiên tăng 21,01%... Ngược lại, một số sản phẩm giảm như: đá xây dựng khác giảm 26,95%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 38,3%; nước uống được giảm 13,81%... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2026 tăng 4,61% so với tháng trước và tăng 60,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số này tăng 47,91% so với cùng kỳ năm 2025. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động như sản xuất ô tô VinFast, pack pin… đã góp phần làm gia tăng nhu cầu tuyển dụng và số lượng lao động trên địa bàn. Theo ngành, công nghiệp khai khoáng giảm 14,67% do một số mỏ hết trữ lượng khai thác và việc ứng dụng công nghệ hiện đại thay thế lao động thủ công. Ngược lại, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 59,97%, tiếp tục là động lực chính của toàn ngành; trong đó sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 42,79%, sản xuất thiết bị điện tăng 67,59%. Bên cạnh đó, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đi vào hoạt động góp phần đưa chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,98%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm nhẹ 0,1% so với cùng kỳ năm trước. 3. Đầu tư và xây dựng Năm 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng khi diễn ra Đại hội XIV của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XVI và là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động, giá nguyên liệu và chi phí logistics duy trì ở mức cao, Hà Tĩnh vẫn tập trung đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ bản, triển khai các dự án trọng điểm và thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Nhiều giải pháp được thực hiện đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ dự án, tạo động lực tăng trưởng kinh tế và phấn đấu hoàn thành mục tiêu GRDP năm 2026 tăng trên 10%. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Năm ước đạt 595,83 tỷ đồng, tăng 26,19% so với tháng trước và tăng 0,13% so với cùng kỳ năm trước[4]. Từ đầu tháng thời tiết thuận lợi, nguồn cung vật liệu ổn định cùng với việc hoàn thiện thủ tục đầu tư, đấu thầu và giải ngân kịp thời đã tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy thực hiện vốn đầu tư công tăng mạnh. Ngoài ra, trong tháng, một số công trình có khối lượng thực hiện lớn gồm: Dự án đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đến cảng Vũng Áng - Sơn Dương đạt khoảng 23 tỷ đồng; Dự án Trường Tiểu học và THCS Hương Khê đạt 28 tỷ đồng; Tiểu dự án cải thiện hạ tầng đô thị Kỳ Anh đạt 25 tỷ đồng. Nhìn chung, hoạt động đầu tư xây dựng tiếp tục chuyển biến tích cực, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt. Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng ước đạt 2.113,33 tỷ đồng, tăng 16,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.678,26 tỷ đồng, tăng 0,16%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 435,07 tỷ đồng, tăng 226,35% so với cùng kỳ năm trước. Thời gian qua, hoạt động đầu tư công trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn do giá nhiên liệu, vật liệu xây dựng và chi phí nhân công tăng cao, một số dự án phải điều chỉnh dự toán, thiếu lao động kỹ thuật cao ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và địa phương trong đẩy nhanh giải ngân, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng, vật liệu xây dựng và nâng cao trách nhiệm chủ đầu tư, kết quả thực hiện vốn đầu tư công vẫn đạt tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, công tác nghiệm thu, thanh toán, tổ chức thi công và giải ngân vốn tiếp tục được cải thiện. Dự kiến thời gian tới, việc bổ sung nguồn vốn và đẩy nhanh tiến độ các dự án sẽ tiếp tục tạo động lực thúc đẩy giải ngân đầu tư công, hoàn thiện các công trình trọng điểm và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế địa phương. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng diễn ra ổn định, thị trường hàng hóa cơ bản được giữ vững, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của người dân. Mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động, làm chi phí vận chuyển hàng hóa quốc tế tăng cao, nhưng kinh tế trong nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng vẫn duy trì được sự ổn định. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục triển khai các giải pháp kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Năm ước đạt 5.034,50 tỷ đồng, giảm 2,82% so với tháng trước nhưng tăng 15,36% so với cùng kỳ năm trước. Sự sụt giảm này chủ yếu do nhu cầu mua sắm của người dân hạ nhiệt sau các kỳ nghỉ lễ, sức mua quay về mức bình thường. Sự phân hóa giữa các nhóm hàng diễn ra khá rõ nét. Các mặt hàng phục vụ nhu cầu thiết yếu, năng lượng và đời sống như xăng dầu, vật phẩm văn hóa, may mặc hay dịch vụ sửa chữa phương tiện đều tăng nhẹ, cho thấy nhu cầu sinh hoạt và sản xuất vẫn duy trì ổn định. Đặc biệt, nhóm ô tô con có mức tăng đột biến so với cùng kỳ năm ngoái, một phần do xu hướng người dân chuyển sang các dòng xe tiết kiệm nhiên liệu. Ngược lại, các nhóm hàng có giá trị lớn như đồ dùng gia đình, lương thực thực phẩm hay vật liệu xây dựng có dấu hiệu giảm nhẹ do người dân đang cân đối lại chi tiêu sau giai đoạn cao điểm để ưu tiên cho các nhu cầu thực tế hơn. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 25.365,87 tỷ đồng, tăng 14,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng hóa có đến 11 nhóm hàng hóa tăng trưởng dương[5], trong đó nhóm hàng tỷ trọng lớn và tăng trưởng ổn định là nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 16%, chỉ có nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng giảm 2% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường bán lẻ của Hà Tĩnh trong tháng duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực với sức mua cải thiện ở hầu hết các nhóm hàng. Tiêu dùng dân sinh ổn định, nhu cầu mua sắm tài sản giá trị lớn và phương tiện đi lại tăng mạnh cho thấy niềm tin tiêu dùng đang phục hồi tốt. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành doanh thu tháng Năm dự tính đạt 584,35 tỷ đồng, tăng 7,35% so với tháng trước và tăng 18,89% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp nối đà khởi sắc từ đầu mùa, doanh thu và lượt khách lưu trú tháng 5/2026 tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ khi du lịch hè bước vào giai đoạn bứt phá, dưới sự tác động tích cực từ định hướng phát triển đồng bộ của tỉnh. Thị trường ghi nhận sức bật lớn nhờ hạ tầng lưu trú chất lượng cao được tăng cường (điển hình như các dự án khách sạn 4 sao đi vào vận hành tại biển Xuân Thành) kết hợp cùng nỗ lực nâng cao trải nghiệm số cho du khách thông qua việc phủ sóng wifi miễn phí và số hóa điểm đến tại các bãi biển trọng điểm. Thêm vào đó, thời tiết nắng nóng gay gắt trên diện rộng đã kích cầu tối đa nhu cầu nghỉ dưỡng biển dài ngày của các tour gia đình và đoàn lữ hành tại các bãi biển Xuân Thành, Thiên Cầm, Kỳ Xuân, Thạch Hải. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, doanh thu nhóm ngành này ước đạt 2.610,45 tỷ đồng, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Do có sự chỉ đạo, quan tâm kịp thời của cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bàn tỉnh tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, bổ sung dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ; tổ chức các sự kiện đón tiếp và phục vụ khách; bảo đảm công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, không để xảy ra tệ nạn trong cơ sở kinh doanh dịch vụ mà các lễ hội, khu vui chơi được diễn ra vui vẻ, an toàn. Dịch vụ khác doanh thu tháng Năm ước đạt 843,74 tỷ đồng, tăng 2,07% so với tháng trước và tăng 8,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng trưởng mạnh mẽ nhờ sức hút từ các chương trình nghệ thuật và lễ hội khai trương du lịch biển tại địa phương. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026 dự ước thực hiện đạt 4.115,67 tỷ đồng, tăng 10,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động của nhóm ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những tháng đầu năm 2026 đã duy trì được mạch tăng trưởng ổn định, có sự phân hóa theo tính chất chu kỳ và nhu cầu thực tế của thị trường. Dưới sự điều hành linh hoạt của các cấp chính quyền cùng khả năng tự cân đối, thích ứng của các đơn vị kinh doanh, nhóm ngành dịch vụ khác đã khẳng định tốt vai trò bình ổn và bảo đảm chất lượng cuộc sống nhân dân. Đây chính là tiền đề quan trọng để khối dịch vụ này tiếp tục vận hành ổn định, đóng góp bền vững vào bức tranh phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh nhà trong thời gian tới. 4.2. Hoạt động vận tải Nhu cầu đi lại và vận chuyển trong tháng tăng cao do tác động từ chuỗi kỳ nghỉ lễ kéo dài như Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 30/4 và 1/5. Các đơn vị vận tải trên địa bàn tỉnh đã chủ động tăng cường phương tiện, nâng cao chất lượng phục vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, đồng thời bảo đảm lưu thông hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải hàng hóa trong tháng ghi nhận khối lượng vận chuyển tăng nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh. Nhu cầu vận chuyển hàng tiêu dùng, đặc biệt là các mặt hàng điện tử, điện lạnh và nông sản như lúa tăng cao. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng Năm ước đạt 814,83 tỷ đồng, tăng 2,92% so với tháng trước và tăng 18,14% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách ước đạt 160,90 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước và tăng 13,01% so với cùng kỳ năm trước, trong tháng nhu cầu đi lại của người dân tăng sau kỳ nghỉ lễ dài. Vận tải hàng hóa ước đạt 406,73 tỷ đồng, tăng 3,57% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, nhiều công trình xây dựng bước vào giai đoạn thi công cao điểm khiến nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu tăng cao. Đồng thời, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng như đồ gia dụng, nước giải khát, đồ uống có cồn, hàng may mặc và sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp - chăn nuôi cũng tăng theo mùa. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải ước đạt 3.909,55 tỷ đồng, tăng 14,94% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, những tháng đầu năm 2026, tình hình vận tải diễn ra sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao. Vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác. Dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt, số lượng phương tiện vận chuyển ổn định, giá cước vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình Xuất - Nhập khẩu trong tháng Năm và 5 tháng đầu năm 2026 tiếp tục có nhiều tín hiệu tích cực, tổng trị giá xuất - nhập khẩu tháng Năm ước đạt 431,5 triệu USD tăng 13,28% so với tháng trước và tăng 5,75% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, tổng trị giá xuất - nhập khẩu toàn tỉnh ước đạt 1.932,46 triệu USD tăng 5,43% so với cùng kỳ năm trước. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu toàn tỉnh trong tháng Năm ước đạt 155,8 triệu USD, tăng 8,09% so với tháng trước và tăng 5,89% so với cùng kỳ. Nhìn chung các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đều tăng so với tháng trước, chỉ có mặt hàng dăm gỗ có trị giá xuất khẩu giảm so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng khá; tính riêng trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép xuất khẩu trong tháng đạt 130,5 triệu USD tăng 5,55% so với tháng trước và tăng 57,84% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu ước đạt 670,82 triệu USD tăng 11,41% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do mặt hàng thép, phôi thép ước đạt gần 572,9 triệu USD (chiếm 85,4% tổng trị giá xuất khẩu toàn tỉnh) tăng 13,99% so với cùng kỳ. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu trong tháng Năm ước đạt 275,7 triệu USD, tăng 16,43% so với tháng trước và tăng 5,67% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do một số dự án công nghiệp, xây dựng bước vào giai đoạn triển khai, phát sinh nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026 trị giá nhập khẩu ước đạt hơn 1.216,64 triệu USD tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng Năm, giá xăng quay đầu tăng nhẹ trong khi dầu diesel tiếp tục ghi nhận đà giảm, nối tiếp xu hướng giảm mạnh vào cuối tháng 4. Tuy nhiên, do độ trễ của chi phí vận tải và nguyên liệu đầu vào, giá xăng dầu vẫn tạo áp lực nhất định lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chi phí sản xuất, kinh doanh. Các cấp ngành, địa phương vẫn triển khai nhiều giải pháp giám sát chặt chẽ biến động giá cả thị trường. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh tháng Năm tăng 0,27% so với tháng trước và tăng 5,68% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 06 nhóm hàng hóa tăng giá, 04 nhóm hàng hóa giảm giá và có 01 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm.[6]. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng chủ yếu do các nguyên nhân chính như: Thứ nhất, nhóm lương thực đặc biệt là giá gạo tẻ thường giảm do tháng 5 trùng vào vụ thu hoạch đông xuân, nguồn cung tự nhiên tăng, giá có xu hướng giảm. Thịt gia súc, gia cầm tăng so với tháng trước do chi phí sản xuất tăng. Giá các loại rau tươi, khô và chế biến tăng do tháng 5 thời tiết nắng nóng hơn, đồng thời hết mùa thu hoạch của một số loại rau, củ nên nguồn cung hạn chế đã tác động làm chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng quả tươi và chế biến tăng. Thứ hai, thời tiết nắng nóng nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống đặc biệt là nước giải khát có ga, bia tăng nên giá tăng. Bên cạnh đó, giá điện, nước sinh hoạt tăng do nhu cầu sử dụng vào mùa nắng nóng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng do nhu cầu xây dựng (đặc biệt là đầu tư công) tăng đột biến trong khi nguồn cung cát, đá khan hiếm. Thứ ba, biến động theo thị trường thế giới như giá các loại chất đốt gas, dầu hoả giảm nhẹ, giá dầu diesel giảm 16,44% so với tháng trước, trong khi giá xăng tăng 2,07%. Tính chung, bình quân 5 tháng đầu năm 2026 chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,95% so với cùng kỳ năm 2025, cả 11 nhóm hàng hóa chính đều có sự tăng giá so với cùng kỳ. Trong đó, tác động lớn nhất là chỉ số giá là nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 4,67%[7], đây là nhóm hàng chiếm tỷ trọng các mặt hàng lớn và cũng là nhóm hàng thiết yếu trực tiếp ảnh hưởng tới chỉ số giá tiêu dùng chung (CPI). Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có sự biến động giá khác như nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng giá tăng 6,23% do sự điều chỉnh giá của nhà nước ở các mặt hàng điện, nước cùng với nhu cầu tiêu dùng tăng. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 3,64% do mặt hàng nhiên liệu tăng 8,92% so với cùng kỳ năm trước.  Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, vật liệu xây dựng… tuy nhiên mức tăng chỉ số giá vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát và được theo dõi chặt chẽ. Dự báo CPI tháng tới có thể tiếp tục tăng do bước vào mùa cao điểm nắng nóng, bên cạnh đó mức giá tiêu dùng sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng Năm, đời sống người dân Hà Tĩnh trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội cơ bản ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực. Hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tiếp tục được duy trì, tuy nhiên thời tiết diễn biến thất thường đã làm ảnh hưởng đến một số diện tích lúa và hoa màu của người dân. Bên cạnh đó, các hoạt động công nghiệp, thương mại và dịch vụ ngày càng phát triển; nhiều dự án đầu tư tại Khu kinh tế Vũng Áng và Khu công nghiệp VSIP Hà Tĩnh được triển khai và mở rộng đã góp phần tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho lao động địa phương. Nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm và cải thiện môi trường lao động được triển khai nhằm khuyến khích người lao động đang làm việc tại các tỉnh, thành phố lớn quay trở về quê hương làm việc. Bên cạnh đó, các hoạt động an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân, đầu tư hạ tầng và đảm bảo an ninh trật tự tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên địa bàn tỉnh. 2. Hoạt động y tế Trong tháng, ngành y tế tiếp tục triển khai đồng bộ các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Công tác phòng, chống dịch bệnh mùa hè được tăng cường, đặc biệt đối với các bệnh như sốt xuất huyết, tay chân miệng, cúm mùa và các bệnh truyền nhiễm khác. Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận 43 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, 17 ca mắc tay chân miệng, 694 ca mắc cúm, 83 ca tiêu chảy, 28 ca mắc thủy đậu, 128 ca mắc quai bị và một số bệnh nhỏ lẻ khác. Về an toàn thực phẩm, đã không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào nhưng có 169 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 12 ca so với tháng trước). Ngoài ra, trong tháng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh phát hiện 2 ca nhiễm mới HIV nhưng không phát sinh ca chết vì AIDS. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về lĩnh vực văn hóa trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi với nhiều chương trình ý nghĩa nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026). Nhiều hoạt động văn nghệ, giao lưu quần chúng, biểu diễn dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được tổ chức tại nhiều địa phương trong toàn tỉnh, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và giáo dục truyền thống cho nhân dân. Ngoài ra, đã tham gia giải thưởng về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” giai đoạn 2021-2025 và vinh dự có 5 tác giả, nhóm tác giả đạt 4 giải C, 1 giải khuyến khích giải thưởng về sáng tác tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí và 1 tập thể đạt giải quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí. Về hoạt động thể thao trong tháng đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia các giải đấu như: Giải vô địch các CLB karate quốc gia khu vực miền Trung lần thứ XII năm 2026 và giành 31 huy chương (15 HCV, 7 HCB, 9 HBĐ); giải Điền kinh Cúp Tốc độ Thống nhất TP HCM năm 2026 từ 10-18/5/2026 giành 7 huy chương (3 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ). Câu lạc bộ Bóng đá Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tham gia Giải Vô địch quốc gia mùa giải 2025-2026 đến thời điểm hiện nay giành được 27 điểm, đứng vị trí thứ 8 trên 14 đội tham gia giải. Ngoài ra, hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục phát triển sôi nổi, các địa phương, cơ quan đơn vị trong tỉnh tổ chức nhiều giải thi đấu như bóng đá, bóng chuyền, picklepall… nhằm chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước. 4. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng Năm tính (từ ngày 15/4-14/5/2026) xảy ra 31 vụ tai nạn đường bộ, làm 20 người chết, 24 người bị thương (giảm 7 vụ; giảm 3 người chết; giảm 4 người bị thương so với tháng trước); trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 666 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh đã xảy ra 166 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 100 người chết và 132 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính gần 2,37 tỷ đồng, tăng 12 vụ tai nạn, tăng 61 người bị thương nhưng giảm 10 người chết so với cùng kỳ năm trước. Không xảy ra vụ tai nạn giao thông đường sắt nào, giảm 2 vụ tai nạn và 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. 5. Bảo vệ môi trường Trong tháng Năm toàn tỉnh phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường, giảm 2 vụ so với tháng trước nhưng tăng 4 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng là 4 vụ, giảm 4 vụ so với tháng trước nhưng giữ nguyên so với cùng kỳ năm trước. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong tháng là 10,4 triệu đồng, giảm 3,15 triệu đồng so với tháng trước và giảm 116,13 triệu đồng so với tháng cùng kỳ năm trước. Ghi nhận công tác tuyên truyền, kiểm tra, quản lý môi trường và ý thức người dân đã được tăng cường. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 196 vụ vi phạm môi trường, tăng 46 vụ (tăng 30,67%) so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm xử lý đã xứ lý là 101 vụ, giảm 34 vụ (giảm 25,19%) với số tiền xử phạt 632,73 triệu đồng, giảm 839,72 triệu (giảm 57,03%) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung,  công tác bảo vệ môi trường luôn được các cấp, ngành địa phương và xã hội quan tâm. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành công văn số 2558/SNNMT-MT ngày 14/4/2026 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trước mùa du lịch biển năm 2026 để chỉ đạo các địa phương, đơn vị liên quan triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn. 6. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn Trong tháng Năm tính (từ ngày 15/4/2026-14/5/2026) đã xảy ra 5 vụ cháy (giảm 4 vụ so với tháng trước); không gây thiệt hại về người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 169,66 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ cháy và 2 vụ nổ, làm 1 người chết và 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tài sản ước tính hơn 3,66 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ cháy nhưng tăng 2 vụ nổ, tăng 1 người chết và giảm 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tăng hơn 429 triệu đồng. Từ tháng Năm, Hà Tĩnh bước vào mùa nắng nóng, nền nhiệt nhiều thời điểm duy trì ở mức cao, kéo dài trong nhiều ngày liên tiếp. Thời tiết khô hanh, nhu cầu sử dụng điện tăng đột biến đã và đang gây áp lực lên hệ thống điện, tiềm ẩn nguy cơ cháy, nổ đồng thời làm gia tăng nguy cơ cháy rừng. Để chủ động kiểm soát tình hình, lực lượng chức năng đã ban hành các văn bản chỉ đạo tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy trong mùa nắng nóng; đẩy mạnh rà soát địa bàn, tập trung vào các khu vực có nguy cơ cao như chợ, làng nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các khu vực rừng trọng điểm. Về tình hình thiên tai, trong tháng Năm có xảy ra mưa đá kèm dông lốc, sấm sét và nhiều đợt mưa lớn tuy nhiên không gây thiệt hại lớn về người và tài sản.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Năm và 5 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./. [1]Cây ngô ước đạt 7.142,54 ha/6.403 ha, đạt 111,55% KH ; cây lạc ước đạt 4.889,72 /5.628 ha, bằng 86,82% KH; khoai lang ước đạt 1.419,02 /1.415 ha, bằng 100,2% KH; rau các loại: 5.834,65 /5.807 ha bằng 100,47% KH[2] Đàn trâu hiện có 46.187 con (giảm 28,88%); đàn bò 127.155 con (giảm 20,72%); Đàn lợn 352.426 con, (tăng 2,03%); đàn gia cầm 10.062 ngàn con, (tăng 0,47%), trong đó đàn gà có 8.605 ngàn con, bằng 101,61% so với cùng kỳ năm trước.[3] Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 15,23% làm giảm 0,23 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,19% đóng góp 19,67 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 36,8% đóng góp 7,68 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,46% làm giảm 0,01 điểm mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh.[4] Tháng 5/2026: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 476,72 tỷ đồng, tăng 26,26% so với tháng trước và giảm 13,72% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 119,11 tỷ đồng, tăng 25,9% so với tháng trước và tăng 180,08% so với cùng kỳ năm trước[5] Hàng may mặc tăng 20,71%; đồ dùng gia đình tăng 8,97%; vật phẩm, giáo dụ tăng 19,26%; ôtô con tăng 69,67%; xăng, dầu các loại tăng 10,13%; Nhiên liệu khác tăng 38,04%; Đá quý, kim loại tăng 41,83%; phương tiện đi lại tăng 33,59%; hàng hóa khác tăng 21,97%; sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 0,38%[6] So với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+0,13%); Đồ uống và thuốc lá (+0,75%); May mặc, mũ nón, giày dép (-1,01%); Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+0,91%); Thiết bị và đồ dùng gia đình (-0,12%); Thuốc và dịch vụ y tế (+0,02%); Giao thông (+0,54%); Thông tin và truyền thông (-0,04%); Giáo dục (+0,17%); Hàng hóa và dịch vụ khác (-0,01%).[7] Nhóm lương thực tăng 7,89%; thực phẩm tăng 4,4% và nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,39%.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 tỉnh Hà Tĩnh
  •   30/04/2026 21:12

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 4/2026 hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tại Hà Tĩnh tiếp tục duy trì ổn định. Lĩnh vực trồng trọt được triển khai đúng tiến độ, đảm bảo kế hoạch đề ra, đặc biệt là lúa Vụ Xuân đang chuẩn bị bước vào giai đoạn thu hoạch. Chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, chú trọng an toàn sinh học; các địa phương tăng cường kiểm soát dịch bệnh và thực hiện tái đàn hợp lý. Tuy nhiên, những thách thức đáng kể từ biến động chính trị và xung đột quân sự khiến giá nhiên liệu và phân bón tăng cao tạo áp lực lớn đến chi phí sản xuất và vận chuyển, ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi tiêu thụ và lợi nhuận của nông sản. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Trong tháng 4/2026, hoạt động trồng trọt tập trung theo dõi quá trình sinh trưởng cây trồng vụ Xuân, đặc biệt là cây lúa trong giai đoạn trổ bông, ngậm sữa, một số trà lúa gieo cấy sớm đã được thu hoạch. Nhìn chung, bước đầu năng suất các giống lúa được người nông dân đánh giá khá khả quan. Tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2026: Tính đến ngày 20/4/2026, tổng diện tích gieo, cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 58.580 ha, bằng 98,83%, giảm 696 ha so với cùng kỳ năm trước (diện tích lúa gieo thẳng là 56.119 ha, diện tích cấy 2.461 ha). Nguyên nhân giảm chủ yếu do có 300 ha diện tích chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp ở phường Vũng Áng xây dựng khu công nghiệp Vinhomes, bên cạnh đó có 434 ha chuyển sang trồng cây hằng năm khác. Ngoài ra diện tích gieo trồng một số cây trồng cạn khác đạt khá[1]. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa bệnh đạo ôn xuất hiện rải rác, cục bộ 10-15% trên giống Khang dân 18, P6, BT09, TBR225, Hạt Ngọc 9,… diện tích nhiễm 2,1 ha; bệnh Khô vằn tiếp tục phát sinh gây hại, diện tích nhiễm 2.500 ha, phân bố hầu hết địa phương trong tỉnh; Rầy xuất hiện cục bộ dạng ổ ở xã Đức Thọ, Việt Xuyên, Thạch Lạc mật độ 300 - 500 con/m2; Chuột gây hại trên vùng cao cưỡng, gần khu dân cư, diện tích nhiễm 379 ha. Trên các cây trồng cạn cũng xuất hiện bệnh thối nõn dứa gây hại nặng (22,5 ha), tỉ lệ phổ biến trên 70% tại vùng trồng dứa tập trung xã Cẩm Xuyên; Châu chấu non đã xuất hiện thành các ổ, mật độ 150-200 con/m2. b. Chăn nuôi Kết quả sản xuất: Đàn trâu hiện có 46.850 con, bằng 72,08%; đàn bò hiện có 128.260 con, bằng 79,57% so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao nên người dân hạn chế tái đàn. Đàn lợn hiện có 352.215 con, bằng 100,99%; đàn gia cầm hiện có 9.962 ngàn con, bằng 102,47%, trong đó đàn gà có 8.572 ngàn con, bằng 106,48% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, đàn lợn và gia cầm trên địa bàn duy trì ổn định và tăng nhẹ cho thấy xu hướng chuyển dịch sang các đối tượng nuôi có thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay. Trong thời gian tới, xu hướng tái đàn dự kiến tiếp tục diễn ra nhưng ở mức thận trọng, tập trung vào các đối tượng vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao như lợn và gia cầm, đồng thời phát triển các mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, liên kết theo chuỗi nhằm nâng cao hiệu quả và giảm rủi ro. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng (tính từ ngày 23/3/2026 đến 20/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch tả lợn châu Phi và viêm da nổi cục trên trâu bò, cụ thể: Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 15 xã, phường làm cho 297 con lợn mắc bệnh chết, khối lượng tiêu hủy 26.092 kg; dịch viêm da nổi cục xảy ra tại 3 xã Kỳ Xuân, Kỳ Văn, Hương Xuân làm cho 12 con bò mắc bệnh, trong đó chết và tiêu hủy 5 con, khối lượng 660 kg. Lở mồm long móng xảy ra tại xã Kỳ Thượng từ ngày 01/4/2026 làm cho 4 con bò mắc bệnh. Tính chung từ đầu năm đến nay, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 30 xã, phường làm 1.438 con lợn mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng 122.716 kg; dịch viêm da nổi cục và lở mồm long móng chỉ mới xuất hiện trong tháng 4/2026. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra cơ bản ổn định. Các địa phương tiếp tục triển khai kế hoạch trồng rừng vụ Xuân, tập trung chăm sóc diện tích rừng trồng mới và khoanh nuôi, bảo vệ rừng hiện có. Tuy nhiên, do thời tiết bước vào giai đoạn nắng nóng, nguy cơ cháy rừng có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các khu vực rừng trồng (như rừng thông, rừng keo,…) và những nơi có thực bì khô. Trước tình hình đó, các cấp, ngành đã chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát và tuyên truyền nâng cao ý thức người dân. Kết quả sản xuất: UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch trồng cây trên địa bàn toàn tỉnh là hơn 2,2 triệu cây, số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 208 nghìn cây, bằng 533,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.183 nghìn cây bằng 79,72% so với cùng kỳ năm trước. Về diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 4 ước đạt 1.034 ha, bằng 128,18% so với cùng kỳ năm trước (tăng 227 ha). Tính chung 4 tháng đầu năm ước đạt 3.052 ha, bằng 145,03% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tăng mạnh trong khi số cây lâm nghiệp trồng phân tán giảm là do tác động nghiêm trọng của các cơn bão năm trước khiến nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, hư hại nặng, kéo theo nhu cầu khôi phục rừng trên diện rộng. Về khai thác gỗ và lâm sản, sản lượng khai thác trong tháng 4/2026 ước đạt 59.659 m3, bằng 171,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm ước đạt 240.548 m3 bằng 163,91% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều diện tích rừng đến tuổi khai thác, năng suất rừng trồng được cải thiện và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5, số 6 và số 10 khiến nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân phải khai thác sớm. Thời gian chăm sóc ngắn, chi phí thấp nhưng lợi nhuận khá nên người dân tiếp tục đầu tư vào trồng rừng. Thiệt hại về rừng: Trong tháng đã xảy ra 2 vụ phá rừng với diện tích 0,2 ha, bằng 50% (giảm 0,22 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời không gây hậu quả nghiêm trọng. 1.3. Tình hình thủy sản Kết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng 4 ước đạt 4.491 tấn, tăng 0,58% (tăng 26 tấn) so với cùng kỳ năm trước, tính chung 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng đạt 19.059 tấn tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước. Về khai thác thủy sản, sản lượng trong tháng 4 ước đạt 3.767 tấn, bằng 100,11% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong tháng thời tiết nhìn chung thuận lợi, tạo điều kiện cho tàu thuyền ra khơi, tuy nhiên, do giá dầu tăng cao nên nhiều tàu cá, đặc biệt là tàu công suất lớn khai thác xa bờ, phải giảm tần suất ra khơi hoặc hoạt động cầm chừng ảnh hưởng đến sản lượng khai thác trong tháng. Tính chung 4 tháng đầu năm sản lượng khai thác ước đạt 14.788 tấn bằng 102,83%, tăng 407 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 13.450 tấn, tăng 3,11% (tăng 406 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Về nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng trong tháng 4 ước đạt 724 tấn, bằng 103,13%, tăng 22 tấn so với cùng kỳ năm trước, tính chung 4 tháng đầu năm sản lượng ước đạt 4.271 tấn, bằng 103,36% tăng 139 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực tăng trưởng chính nhờ mở rộng diện tích nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, tăng cường quản lý môi trường và chủ động phòng, chống dịch bệnh, qua đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, giá tôm thẻ duy trì ở mức ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế nên khuyến khích người dân duy trì và mở rộng diện tích nuôi. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng dịch đốm trắng xảy ra tại 6 hộ nuôi bán thâm canh tại phường Kỳ Ninh với diện tích bị nhiễm 1,35 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay đã có 2,85 ha bị nhiễm dịch đốm trắng. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh bước vào quý II/2026 tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh nhà. Sản xuất công nghiệp duy trì đà phục hồi tích cực, các dự án công nghiệp quy mô lớn như nhà máy sản xuất ô tô, nhà máy sản xuất pack pin, cell pin, thép… vận hành ổn định, từng bước nâng cao công suất và hiệu quả sản xuất. Những dự án này không chỉ tạo động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn lan tỏa tác động tích cực đến các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, logistics, đồng thời thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Trong tháng 4/2026 chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 0,26% so với tháng trước và tăng 22,43% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 23,16% so với cùng kỳ năm 2025[2]. Các tháng đầu năm ghi nhận những dấu hiệu tích cực làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng cao: Thứ nhất, chỉ số sản xuất ngành sản xuất đồ uống tăng 24,13% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu thụ đồ uống đầu năm 2026 ghi nhận những tín hiệu khả quan hơn. Nhu cầu tiêu dùng trong nước có xu hướng phục hồi, góp phần cải thiện đầu ra cho sản phẩm. Các doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường. Thứ hai, chỉ số sản xuất ngành sản xuất kim loại (thép) 4 tháng đầu năm 2026 tăng 6,66% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực chính dẫn dắt sự hồi phục mạnh mẽ này xuất phát từ việc khu vực Formosa đã chủ động khai thác và ký kết thành công các đơn hàng xuất khẩu quy mô lớn, tạo đà bứt phá cho năng lực sản xuất và tiêu thụ thép ngay từ những tháng đầu năm. Sản lượng thép không gỉ 4 tháng đầu năm đạt 1.311 nghìn tấn, tăng 6,75% so với cùng kỳ năm trước. Thứ ba, ngành sản xuất thiết bị điện tại Hà Tĩnh tiếp tục đà tăng trường từ năm 2025. Chỉ số sản xuất ngành này 4 tháng đầu năm tăng 52,81% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có được nhờ nhu cầu sản xuất gia tăng, trong đó sản lượng từ nhà máy sản xuất ô tô điện của VinFast ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất pack pin và các thiết bị điện liên quan mở rộng sản xuất. Thứ tư, từ tháng 4, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II chính thức hoạt động thương mại với 2 tổ máy. Bên cạnh đó, các nhà máy sản xuất điện trên địa bàn duy trì vận hành ổn định, bảo đảm sản lượng phát điện theo kế hoạch. Đây là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành trong năm 2026. Tính đến hết tháng 4, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,71% so với cùng kỳ năm trước. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong 4 tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Kết quả tổng hợp từ 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực cho thấy có 15 nhóm ghi nhận sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước, chiếm 75% tổng số nhóm sản phẩm được theo dõi. Chỉ tiêu này phản ánh tín hiệu cải thiện của khu vực sản xuất, cho thấy năng lực duy trì hoạt động và ổn định sản lượng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn biến động. Trong đó, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng toàn ngành, giữ tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Nhiều mặt hàng chủ lực thuộc lĩnh vực này duy trì mức sản lượng tăng khá so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi rõ nét của hoạt động sản xuất và tiêu thụ. Đây là tín hiệu tích cực, góp phần nâng cao khả năng hoàn thành các chỉ tiêu phát triển công nghiệp năm 2026, đồng thời tăng cường tính bền vững và khả năng chống chịu của khu vực sản xuất trước biến động thị trường thế giới. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2026 tăng 9,28% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 55,37%, cộng dồn 4 tháng đầu năm 2026 tăng 45,37% so với cùng kỳ năm 2025. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì ở mức cao. Trong 4 tháng đầu năm, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 15,63% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 56,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số ngành ghi nhận mức tăng trưởng cao, đóng vai trò động lực chính cho toàn ngành. Cụ thể, ngành sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 51,48%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu đang phục hồi mạnh mẽ. Bên cạnh đó, ngành sản xuất thiết bị điện tăng 74,51%, cho thấy sự mở rộng sản xuất và gia tăng đơn hàng, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu về thiết bị điện và công nghệ ngày càng tăng. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,66%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,56% so với cùng kỳ năm 2025. 3. Đầu tư và xây dựng Trên địa bàn tỉnh, một số dự án đầu tư trọng điểm đang từng bước hoàn thành và chuẩn bị đi vào hoạt động, đồng thời nhiều dự án mới được khởi công triển khai, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong bối cảnh chung chịu tác động từ thị trường quốc tế, đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng trong việc ổn định kinh tế trên địa bàn, tạo hiệu ứng lan tỏa, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 theo định hướng đã đề ra. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4 đạt 395,39 tỷ đồng, tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước. Từ đầu tháng 4, điều kiện thời tiết trên địa bàn tỉnh nhìn chung thuận lợi hơn, tạo điều kiện tích cực cho hoạt động thi công xây dựng và vận chuyển vật liệu. Nhờ đó, nguồn cung vật liệu xây dựng khá ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các dự án. Số ngày và thời gian thi công tại hầu hết các công trình được gia tăng, góp phần đẩy nhanh tiến độ và khối lượng thực hiện trên công trường. Các chủ đầu tư đã chủ động xây dựng kế hoạch tiến độ chi tiết theo từng dự án, xác định rõ các mốc “đường găng” và cam kết tiến độ thực hiện, giải ngân, phấn đấu cùng tỉnh hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026. Trong tháng 4, một số công trình có khối lượng thực hiện lớn gồm: Dự án đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt khoảng 20,5 tỷ đồng; dự án Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Hương Khê ước đạt 29 tỷ đồng; tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Thạch Hà ước đạt 22,50 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng ước đạt 1.440,73 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước[3]. Nhìn chung, trong thời gian qua, hoạt động triển khai vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả tích cực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhận thức rõ vai trò của đầu tư công, các cấp chính quyền đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị dự án, bảo đảm đủ điều kiện triển khai ngay từ đầu năm. Đồng thời, tập trung tháo gỡ vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, chủ động bố trí quỹ đất tái định cư, bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng; điều hành linh hoạt kế hoạch vốn, ưu tiên các công trình trọng điểm và dự án chuyển tiếp. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại trong tháng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, doanh thu bán buôn và bán lẻ có xu hướng tăng so với tháng trước, chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng nội địa được cải thiện khi thời tiết thuận lợi hơn và người dân bắt đầu chuẩn bị cho kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5. Bên cạnh đó, các hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi và chợ truyền thống tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cung ứng hàng hóa, hàng thương mại điện tử tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 5.155,87 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng có hai kỳ nghỉ lễ kéo dài, cùng với hoạt động du lịch trên địa bàn, đặc biệt là du lịch biển, tăng mạnh khi thời tiết chuyển sang nắng nóng, đã góp phần làm gia tăng nhu cầu đối với thực phẩm và đồ uống. Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 20.306,82 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng hóa đều tăng trưởng doanh thu. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 4 tháng đầu năm tăng trưởng khá, nhu cầu mua sắm của người dân tăng mạnh, tập trung vào các nhóm hàng thiết yếu, sức mua tăng phản ánh thu nhập của người dân được cải thiện qua đó tạo động lực cho tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng cao. Một số nhóm hàng như vật liệu xây dựng, ô tô con và đồ dùng gia đình tăng khá, phản ánh hoạt động xây dựng dân dụng, đầu tư và tiêu dùng sinh hoạt được đẩy mạnh trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Mặc dù nhu cầu tăng cao, giá cả các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định, chỉ tăng nhẹ cục bộ do áp lực chi phí và sức cầu, song vẫn trong tầm kiểm soát. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành doanh thu tháng 4 dự tính đạt 555,99 tỷ đồng, tăng 8,03% so với tháng trước và tăng 21,58% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động lưu trú và du lịch trong tháng tăng trưởng rõ rệt do bước vào đầu mùa du lịch hè. Đây là thời điểm các bãi biển như Thiên Cầm, Xuân Thành, Thạch Hải bắt đầu khai trương mùa du lịch, thu hút lượng lớn du khách đổ về tham quan và nghỉ dưỡng. Đặc biệt, sắp tới có hai đợt nghỉ lễ lớn và kéo dài trong tháng (Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5) đã tạo ra 'cú hích' mạnh mẽ, thúc đẩy nhu cầu lưu trú tăng đột biến từ nhóm khách gia đình và đoàn du lịch ngoại tỉnh. Tính chung 4 tháng đầu năm doanh thu nhóm ngành này ước đạt 2.037,76 tỷ đồng, tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước. Do có sự chỉ đạo, quan tâm kịp thời của cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bàn tỉnh tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, bổ sung dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ; tổ chức các sự kiện đón tiếp và phục vụ khách; đăng ký và bán đúng giá niêm yết; bảo đảm công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, không để xảy ra tệ nạn trong cơ sở kinh doanh dịch vụ mà các lễ hội, khu vui chơi được diễn ra vui vẻ, an toàn. Dịch vụ khác doanh thu tháng 4 ước đạt 833,05 tỷ đồng, tăng 2,04% so với tháng trước và tăng 9,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng trưởng mạnh mẽ nhờ sức hút từ các chương trình nghệ thuật và lễ hội khai trương du lịch biển tại địa phương. Tính chung 4 tháng đầu năm dự ước thực hiện đạt 3.278,38 tỷ đồng, tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động của nhóm ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh đầu năm 2026 đã duy trì được đà tăng trưởng ổn định với nhiều chuyển biến tích cực. Dưới sự điều hành linh hoạt của các cấp chính quyền cùng sự chủ động thích ứng của các đơn vị kinh doanh trong việc nâng cao chất lượng phục vụ, nhóm ngành dịch vụ đã khẳng định được vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung. Đây chính là tiền đề vững chắc để các ngành lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ tiếp tục đạt được những kết quả khả quan hơn nữa trong các tháng cao điểm mùa hè sắp tới. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng 4/2026 trùng với các kỳ nghỉ lễ như Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch), Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5 góp phần làm tăng lượng hành khách đi lại, du lịch, tham quan, nghỉ mát và về quê trong tháng 4. Các phương tiện vận tải hành khách đảm bảo chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải hàng hóa trong tháng cũng ghi nhận khối lượng vận chuyển tăng nhờ thời tiết thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 4 ước đạt 828,50 tỷ đồng, tăng 5,72% so với tháng trước và tăng 22,71% so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu đi lại của người dân tăng, đặc biệt dịp nghỉ lễ dài ngày, bên cạnh đó giá xăng dầu tăng nên các cơ sở vận tải điều chỉnh tăng cước vận chuyển. Vận tải hàng hóa tăng trưởng mạnh mẽ, cao hơn tháng trước do hoạt động xây dựng đẩy mạnh và nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu tăng. Ngoài ra, tháng 4 thời tiết nắng nóng kéo dài nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, đặc biệt là nước giải khát, thực phẩm và các mặt hàng mùa hè, tăng đột biến, thúc đẩy vận chuyển tăng. Cùng lúc, giá xăng dầu tăng trong tháng đang tạo áp lực lớn, buộc doanh nghiệp điều chỉnh tăng cước vận tải để duy trì hoạt động. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải ước đạt 3.131,54 tỷ đồng, tăng 15,48% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, những tháng đầu năm, tình hình vận tải diễn ra sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao. Vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác. Dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt, số lượng phương tiện vận chuyển ổn định, giá cước vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tiếp nối những tín hiệu tích cực từ đầu năm đến nay, tình hình xuất - nhập khẩu tiếp tục đà tăng cao. Tính chung, tổng trị giá xuất khẩu và nhập khẩu tháng 4 ước đạt 425 triệu USD tăng 13,18% so với tháng trước và tăng 10,61% so với cùng kỳ năm trước. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu toàn tỉnh trong tháng 4 ước đạt 132,5 triệu USD, tăng 25,97% so với tháng trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đều tăng mạnh so với tháng trước, tuy nhiên vẫn chưa đạt mức kỳ vọng như cùng kỳ năm trước. Tính riêng trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép (chiếm tỷ trọng trên 85,7% trong tổng giá trị xuất khẩu) tăng mạnh 20,39% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 5,54% so với cùng tháng năm trước. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu trong tháng 4 ước đạt ước đạt 292,5 triệu USD, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 19,76% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất đầu năm của các doanh nghiệp trên địa bàn tăng cao; một số dự án công nghiệp, xây dựng quy mô lớn bước vào giai đoạn triển khai, phát sinh nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị; đồng thời thủ tục thông quan được cải cách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng 4/2026 nhìn chung tình hình giá cả có biến động tăng nhẹ so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước và trên địa bàn có xu hướng ổn định hơn, thậm chí giảm mạnh ở một số kỳ điều hành, tuy nhiên, do độ trễ của chi phí vận tải và nguyên liệu đầu vào, giá xăng dầu vẫn tạo áp lực nhất định lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chi phí sản xuất, kinh doanh. Chỉ số CPI tháng 4 tăng 0,76% so với tháng trước, nhưng so với cùng tháng năm trước tăng 5,30%. So với tháng trước trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 08 nhóm hàng hóa tăng giá, có 02 nhóm hàng hóa giảm giá và có 01 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm[4]. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng chủ yếu do các nguyên nhân chính: Thứ nhất, nhóm lương thực đặc biệt là giá gạo tẻ thường tăng do nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá. Đồng thời tháng này không vào vụ thu hoạch chính, nguồn cung tự nhiên giảm, giá có xu hướng tăng. Nhóm thịt gia súc, gia cẩm tăng so với tháng trước do chi phí sản xuất và vận chuyển tăng. Giá các loại rau tươi, khô và chế biến tăng cao do tháng 4 thời tiết nắng nóng hơn, đồng thời hết mùa thu hoạch của một số loại rau, củ nên nguồn cung hạn chế đã tác động làm chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng quả tươi và chế biến tăng. Thứ hai, thời tiết nắng nóng nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống đặc biệt là nước giải khát có ga, bia tăng nên giá tăng. Bên cạnh đó, là tháng trùng các dịp nghỉ lễ dài ngày nên nhu cầu đi du lịch, nghỉ dưỡng tăng kéo theo nhu cầu mua sắm đồ áo, giày dép, mũ nón các loại tăng. Thứ ba, giá điện, nước sinh hoạt tăng do nhu cầu sử dụng vào mùa nắng nóng nhiều nên giá tăng. Giá các loại chất đốt dầu hỏa và gas tăng mạnh do tăng theo xu hướng tăng của thế giới. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng do nhu cầu xây dựng (đặc biệt là đầu tư công) tăng đột biến trong khi nguồn cung cát, đá khan hiếm. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí sản xuất, vận chuyển tăng. Giá nhiên liệu xăng, dầu trong nước trong tháng biến động mạnh do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thế giới, trong tháng 4 giá nhiên liệu điều chỉnh liên tục 6 đợt vào các ngày 02/4; 03/4; 08/4; 09/4; 16/4; 21/4 làm giá xăng giảm 2,90% và giá dầu diesel tăng 18,92% so với tháng trước. Bình quân 4 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 3,52% so với cùng kỳ năm 2025, cả 11 nhóm hàng hóa chính đều có sự tăng giá so với cùng kỳ. Giá vàng, đô tăng, giảm theo thị trường giá vàng, đô của thế giới, giá vàng tăng 72,75% và giá đô la Mỹ giảm 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, vật liệu xây dựng, giá vàng, Đô la Mỹ. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo chỉ số CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng 4/2026 đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh duy trì đà ổn định nhờ sự tăng trưởng khả quan từ các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp đối mặt với thách thức lớn khi đợt nắng nóng gay gắt diễn ra đúng vào thời kỳ lúa Xuân trổ bông, phơi màu là giai đoạn quyết định đến năng suất cuối vụ. Trên địa bàn tỉnh chính thức triển khai ứng dụng công dân số i-HaTinh, qua ứng dụng này người dân được tiếp cận nhiều tiện ích như tra cứu thông tin, phản ánh hiện trường, thực hiện một số thủ tục hành chính trực tuyến, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ của chính quyền. Ngoài ra, cũng trong tháng địa phương đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cho mùa du lịch biển, hứa hẹn tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. 2. Hoạt động y tế Trong tháng 4/2026 ngành y tế tiếp tục tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt trong giai đoạn chuyển mùa, chủ động giám sát dịch tễ và khuyến cáo người dân phòng tránh các bệnh truyền nhiễm như tay chân miệng và các bệnh do thời tiết nắng nóng gây ra như sốc nhiệt. Bên cạnh đó, tỉnh đã triển khai “tháng hành động vì an toàn thực phẩm” từ ngày 15/4 đến ngày 15/5/2026, đẩy mạnh tuyên truyền, kiểm tra và nâng cao ý thức bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong cộng đồng. Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận 31 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, 43 ca mắc tay chân miệng, 1030 ca mắc cúm, 71 ca tiêu chảy, 56 ca mắc thủy đậu, 83 ca mắc quai bị. Về an toàn thực phẩm, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, có 181 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 49 ca so với tháng trước). Trong tháng trên địa bàn tỉnh không phát hiện thêm ca nhiễm mới HIV nào, không có ca chết vì AIDS. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về lĩnh vực văn hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động nổi bật và sôi động. Tiêu biểu là việc tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, với quy mô lớn, được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, góp phần giáo dục truyền thống và khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong nhân dân. Bên cạnh đó, ngành văn hóa - thể thao và du lịch đã triển khai nhiều hoạt động nhằm quảng bá hình ảnh quê hương, như phát động cuộc thi “Ảnh đẹp và video clip ấn tượng về du lịch Hà Tĩnh” năm 2026, tạo sân chơi sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa, con người Hà Tĩnh. Ngoài ra, tỉnh cũng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật gắn với khai trương mùa du lịch biển, tạo không khí sôi động tại các địa phương ven biển và thu hút đông đảo người dân, du khách tham gia. Về thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động nổi bật. Tiêu biểu là việc tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Hà Tĩnh lần thứ X, được triển khai đồng bộ từ cơ sở đến cấp tỉnh, tạo phong trào rèn luyện thể chất rộng khắp trong nhân dân. Tính đến nay phần lớn các xã, phường đã hoàn thành đại hội cấp cơ sở; cấp tỉnh đã tổ chức thi đấu 14/15 môn với hơn 2.500 vận động viên tham gia, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Điểm nổi bật của kỳ Đại hội lần này là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức và điều hành, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý. Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Hà Tĩnh tham gia giải Vô địch các đội mạnh toàn quốc môn Kickboxing giành 01 Huy chương Bạc, 03 Huy chương Đồng; tham gia Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 (vòng bảng), sau 04 lượt trận hiện xếp thứ 5/7. Câu lạc bộ Bóng đá Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tham gia giải Vô địch quốc gia mùa giải 2025-2026, sau vòng 18 hiện xếp thứ 9/14. 4. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng 4 (tính từ ngày 15/3/2026 - 14/4/2026) trên địa bàn xảy ra 38 vụ tai nạn đường bộ, làm 23 người chết, 28 người bị thương (tăng 9 vụ; tăng 6 người chết; tăng 2 người bị thương so với tháng trước); trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 127 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm toàn tỉnh đã xảy ra 135 vụ tại nạn giao thông đường bộ làm 80 người chết và 108 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 1,7 tỷ đồng (tăng 6 vụ tai nạn, tăng 52 người bị thương nhưng giảm 12 người chết so với cùng kỳ năm trước). Không xảy ra vụ tại nạn giao thông đường sắt nào, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Bảo vệ môi trường Trong tháng 4 toàn tỉnh phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường, tăng 7 vụ so với tháng trước; tăng 7 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng là 8 vụ, tăng 4 vụ so với tháng trước và tăng 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong tháng là 13,55 triệu đồng, giảm 31,5 triệu đồng so với tháng trước và giảm 612 triệu đồng so với tháng cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng tăng do thời tiết nắng nóng kéo dài làm gia tăng lượng rác thải sản xuất nhưng việc thu gom, xử lý ở một số nơi chưa kịp thời. Ngoài ra thời gian này các hoạt động kinh tế và dịch vụ phát triển mạnh, đặc biệt tháng này tỉnh đang đẩy mạnh công tác rà soát, kiểm tra chuẩn bị cho khai trương mùa du lịch biển do đó làm tăng nguy cơ phát sinh các vụ vi phạm môi trường. Trước tình hình đó các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra giám sát quyết liệt hơn. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 186 vụ vi phạm môi trường (tăng 42 vụ), đã xử lý 97 vụ (giảm 34 vụ) với số tiền xử phạt hơn 622 triệu đồng (giảm 53,76%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn Trong tháng 4 (tính từ ngày 15/3/2026 - 14/4/2026) trên địa bàn đã xảy ra 9 vụ cháy (tăng 8 vụ so với tháng trước), không gây thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 62,5 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh đã xảy ra 23 vụ cháy và 2 vụ nổ, làm 1 người chết và 2 người bị thương, giá trị thiệt hại tài sản ước tính hơn 3,1 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 5 vụ cháy, 1 vụ nổ, 1 người chết và 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tăng hơn 634 triệu đồng. Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm không xảy ra vụ thiên tai nào trên địa bàn tỉnh. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./. [1] Cây ngô ước đạt 7.089/6.403 ha bằng 110,72% KH; cây lạc ước đạt 4.694/5.628 ha, bằng 80,06% KH; khoai lang ước đạt 1.384/1.415 ha, bằng 97,84% KH; rau các loại: 6.316/5.807 ha bằng 108,77% KH[2] Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,44% làm giảm 0,27 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 24,19% đóng góp 18,13 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,71% đóng góp 5,21 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,5% đóng góp 0,08 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh[3] Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.126,65 tỷ đồng, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 314,08 tỷ đồng, tăng 245,96% so với cùng kỳ năm trước.[4] So với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,12%); Đồ uống và thuốc lá (+0,88%); May mặc, mũ nón, giày dép (+0,31%); Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+1,94%); Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,37%); Thuốc và dịch vụ y tế (+0,14%); Giao thông (-0,37%); Thông tin và truyền thông (+0,07%); Văn hoá, giải trí và du lịch (+0,05%); Hàng hóa và dịch vụ khác (-0,03%); Nhóm Giáo dục ổn định.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Ba và Quý I năm 2026 tỉnh Hà Tĩnh
  •   30/04/2026 21:50

Năm 2026 là năm tiền đề thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ 5 năm 2026-2030, đòi hỏi cả hệ thống chính trị nỗ lực, quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng. Bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, giá vàng, ngoại tệ, xăng, dầu, nguyên vật liệu biến động liên tục, tác động trực tiếp đến trong nước và Hà Tĩnh. Dù vậy, kinh tế - xã hội địa phương cơ bản ổn định, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn được bảo đảm; Nhân dân đón Tết Nguyên đán vui tươi, an toàn. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã kịp thời ban hành chương trình, kế hoạch, triển khai đồng bộ nhiệm vụ ngay từ đầu năm, trước, trong và sau Tết; tập trung sản xuất vụ Xuân, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và tiến độ các dự án trọng điểm; tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; đồng thời thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ văn hóa, an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và tăng cường hoạt động đối ngoại. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành quý I năm 2026 ước đạt 29.694 tỷ đồng; theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 26.980 tỷ đồng tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông lâm nghiệp thủy sản tăng 2,81%, đóng góp 0,29 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 20,67%, đóng góp 8,65 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 7,14% đóng góp 2,67 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,8%, đóng góp 0,81 điểm % vào mức tăng trưởng chung. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Năng suất, sản lượng các loại cây trồng ước đạt kế hoạch, tăng so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, ngành nông nghiệp tăng 1,88%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 12,21% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,09 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,53%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung toàn ngành kinh tế tỉnh Hà Tĩnh. Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng toàn ngành công nghiệp ước đạt 22,59%, đóng góp 7,73 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Ngành xây dựng tăng 12,06%, đóng góp 0,92 điểm phần trăm. Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GRDP quý I năm 2026. Điểm nhấn quan trọng trong bức tranh ngành Công nghiệp Hà Tĩnh trong quý I này chính là sự xuất hiện đồng loạt của các dự án công nghiệp động lực mới. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong những năm tới. Ngay từ đầu quý I năm nay, cùng với nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I, nhiệt điện của Formosa, tổ máy số 1 của nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã đi vào sản xuất, cùng với đó là lượng sản xuất ô tô điện, thiết bị điện (Pack pin, Cell pin) đều tăng cao đã tạo bước nhảy vọt tăng trưởng cho ngành công nghiệp. Khu vực dịch vụ quý I tăng 7,14% đóng góp 2,67 điểm % vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Lĩnh vực dịch vụ thương mại của tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trở thành một trong ba trụ cột quan trọng thúc đẩy GRDP toàn tỉnh. Một số thuận lợi nổi bật như tốc độ một số ngành tăng trưởng ổn định; sức mua trong dân cải thiện; hoạt động thương mại sôi động; du lịch phục hồi; vận tải hàng hóa và hành khách tăng; các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm phát triển ổn định. Khu vực dịch vụ đóng vai trò hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt trong tiêu dùng nội địa. Về cơ cấu kinh tế quý I năm khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 9,48%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 42,59% (trong đó, ngành công nghiệp chiếm 33,81%; ngành xây dựng chiếm 8,78%); khu vực dịch vụ chiếm 37,87%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,06%. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong quý I năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tại tỉnh Hà Tĩnh cơ bản ổn định, các địa phương tập trung triển khai vụ Xuân, phát triển chăn nuôi và mở rộng nuôi trồng thủy sản. Ngành lâm nghiệp tiếp tục chú trọng trồng và bảo vệ rừng, góp phần nâng cao độ che phủ. Tuy nhiên, sản xuất vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gia tăng giá nhiên liệu, chi phí vận tải và ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ. Từ đó đòi hỏi ngành nông nghiệp cần có giải pháp thích ứng linh hoạt trong thời gian tới. 2.1. Sản xuất nông nghiệp 2.1.1. Trồng trọt a. Cây hàng năm Kết quả sản xuất vụ Đông 2025-2026 đạt kế hoạch đề ra, với các chỉ tiêu cụ thể như: Tổng diện tích gieo cấy toàn tỉnh đạt 13.851 ha cây trồng các loại, bằng 101,52% (tăng 207 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu sản xuất vụ Đông là cây ngô, khoai và rau màu[1]. Năm nay thời tiết thuận lợi, cây ngô sinh trưởng và phát triển tốt, bắp to, hạt đều, ít sâu bệnh nên tăng cả về năng suất và sản lượng. Cây lấy củ có chất bột gieo trồng đạt 1.060 ha, bằng 88,51% (giảm 138 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cây rau, đậu các loại diện tích gieo trồng đạt 5.146 ha bằng 104,06% (tăng 201 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích tăng chủ yếu ở nhóm rau lấy quả, trong khi các nhóm rau lấy lá và rau lấy củ vẫn tiếp tục được duy trì. Nguyên nhân diện tích rau tăng là do thời gian gần đây mô hình sản xuất vườn mẫu, vườn liền kề đang mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, được người dân quan tâm đầu tư, mở rộng sản xuất. Nhờ diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng rau tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Xuân 2026: Tính đến ngày 20/3/2026, diện tích gieo, cấy lúa toàn tỉnh là 58.493 ha/59.152 ha đạt 98,89% kế hoạch. Hiện nay các trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên, do thời tiết âm u, độ ẩm cao nên dễ xuất hiện các loại sâu bệnh bà con nông dân cần tích cực kiểm tra đồng ruộng, theo dõi và xử lý kịp thời. Diện tích gieo trồng các cây trồng cạn khác 18.721/19.253 ha, đạt 97,24% kế hoạch[2]. Trong canh tác vụ Mùa địa phương đã tích cực phối hợp với các doanh nghiệp triển khai xây dựng mô hình sản xuất lúa áp dụng mạ khay, máy cấy kết hợp với điều tiết nước ngập khô xen kẽ với diện tích 150 ha; Viện Khoa học kỹ thuật Bắc Trung bộ phối hợp Công ty TNHH Green Carbon Japan Việt Nam triển khai mô hình sản xuất lúa áp dụng biện pháp tưới ngập khô xen kẽ với tổng diện tích 4.391 ha. Diện tích tập trung, tích tụ ruộng đất đến nay đạt 14.111,52/15.000 ha (đạt 94,07% so với kế hoạch Nghị quyết số 06-NQ/TU). Các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, tuần hoàn tiếp tục được duy trì; đến nay có 535 ha/35 cơ sở sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP còn hiệu lực và 12 ha/3 cơ sở đã được chứng nhận hữu cơ còn hiệu lực. b. Cây lâu năm Cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Do điều kiện thời tiết khá thuận lợi, sản lượng thu hoạch các loại cây lâu năm trong quý đạt sản lượng khá khả quan[3]. Hiện nay, mô hình trồng dứa liên kết với Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao đã tạo bước đột phá trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại Hà Tĩnh, tập trung vào giống dứa Queen ngọt thơm, bao tiêu sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật, giúp khai phá tiềm năng vùng đất đồi, tạo sinh kế mới cho người dân địa phương. Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh nhưng đến nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Cây ăn quả đang trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định. c. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa: Bệnh đạo ôn lá xuất hiện tại một số xã, diện tích nhiễm 65 ha, diện tích phòng trừ 72 ha. Chuột gây hại trên vùng cao cưỡng, gần khu dân cư với diện tích 323 ha. Bệnh khô vằn phát sinh trên những chân ruộng cấy dày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 568 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Trên cây trồng cạn: Nhóm sâu ăn lá (sâu xanh, sâu khoang) và bệnh do nấm gây hại trên diện tích 26 ha. Bệnh lở cổ rễ, héo rũ, gốc mốc hại 13 ha. Sâu keo mùa thu nhiễm 10 ha. Bệnh thối nõn dứa gây hại nặng 22,5 ha, tỷ lệ phổ biến trên 70%. Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc Xuân với diện tích 15 ha. Bệnh loét xuất hiện trên các vườn cây không thông thoáng, chưa tỉa tán sau thu hoạch tại một số xã trên địa bàn. 2.1.2. Chăn nuôi Trong tháng Ba và cả quý I hoạt động chăn nuôi trên địa bàn duy trì ổn định[4]; công tác phòng, chống các dịch bệnh được tập trung chỉ đạo quyết liệt. Đặc biệt trong giai đoạn trước và trong dịp Tết Nguyên đán, người chăn nuôi đã chủ động tăng đàn, tập trung sản xuất nhằm cung ứng đầy đủ các sản phẩm chăn nuôi phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân, giá cả có xu hướng tăng nhẹ theo quy luật thị trường nhưng không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa hay biến động giá đột biến, góp phần đảm bảo cân đối cung - cầu và ổn định thị trường. Tổng đàn lợn và sản lượng xuất chuồng quý I tăng hơn so với cùng kỳ do trùng vào dịp Tết nguyên đán nên sản lượng xuất bán tăng cao; đàn gia cầm cũng có xu hướng tăng, hiện nay chu kỳ nuôi gà được rút ngắn hơn (khoảng 125 ngày/lứa) so với trước đây 5-6 tháng/lứa, trọng lượng xuất chuồng cao hơn, một số mô hình nuôi gia công mới bắt đầu được thả với quy mô mỗi hộ lên đến hàng chục nghìn con. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ 15/02 đến 23/3/2026, dịch tả lợn châu Phi và Viêm da nổi cục trên trâu bò xảy ra tại 14 xã, phường, làm 558 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy 52.487 kg. Riêng bệnh Viêm da nổi cục phát hiện từ 18/3 tại xã Kỳ Xuân, làm 3 con bò của 3 hộ mắc bệnh (tiêu hủy 1 con nặng 50 kg). Tổng quý I/2026: Dịch tả lợn châu Phi tại 25 xã, phường, làm 1.218 con lợn chết, tiêu hủy 103.271 kg. Tình trạng hiện tại: Dịch tả lợn châu Phi tại 14 xã, phường và dịch Viêm da nổi cục tại xã Kỳ Xuân chưa qua 21 ngày. Dịch Cúm gia cầm H5N1 (phát hiện từ 8/2 tại xã Cẩm Xuyên) làm 902 con gia cầm chết, 27 hộ tự tiêu hủy không báo cáo - đã qua 21 ngày. 2.2. Lâm nghiệp Trong quý I/2026 thực hiện lời kêu gọi “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, các địa phương trong toàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng phong trào “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”. Tổ chức phong trào Tết trồng cây, toàn tỉnh trồng được 2,3 triệu cây xanh đạt 104% kế hoạch. Diện tích rừng trồng mới trong quý ước đạt 2.017 ha, bằng 155,52% so với cùng kỳ năm trước (tăng 720 ha). Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 975 nghìn cây, bằng 67,46% so với cùng kỳ năm trước (giảm 470 nghìn cây). Diện tích rừng trồng mới tăng mạnh trong khi số cây lâm nghiệp trồng phân tán giảm là do tác động nghiêm trọng của các cơn bão số 5 và số 10 xảy ra vào cuối năm 2025. Cùng với diện tích rừng trồng tăng thì sản lượng gỗ khai thác tháng 3 và quý I cũng tăng so với cùng kỳ. Tổng số gỗ khai thác trong quý đạt 180.889 m3, bằng 161,61%, tăng 68.958 m3 so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về rừng: Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 20/3/2026, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 7 vụ phá rừng (tăng 5 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,03 ha (tăng 0,34 ha) so với cùng kỳ năm trước. 2.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 5.172 tấn, bằng 99,44% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.636 tấn, bằng 97,19%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.536 tấn, bằng 105,21%. Quý I năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 14.569 tấn, bằng 103,68% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 11.021 tấn, bằng 103,76%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.548 tấn, bằng 103,44%. Địa phương đã tích cực tăng cường chỉ đạo các giải pháp chống khai thác IUU về khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định, nhằm đảm bảo môi trường khai thái công bằng tránh sự tận diệt trong các hoạt động khai thác thủy hải sản. Nhìn chung thời tiết trong tháng Ba và cả quý I khá thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng của bão lớn, tạo điều kiện cho tàu thuyền vươn khơi khai thác. Tuy nhiên, xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông đã làm giá nhiên liệu tăng cao khiến nhiều tàu thuyền, đặc biệt là tàu công suất lớn, phải giảm số chuyến ra khơi do hiệu quả kinh tế không đảm bảo. Dịch bệnh và thiệt hại: Trong tháng dịch đốm trắng xảy ra tại Phường Hải Ninh với diện tích 0,7 ha, đây cũng là dịch bệnh đầu tiên trên thủy sản phát sinh trong quý I/2026. 3. Sản xuất công nghiệp Quý I năm 2026, ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các dự án công nghiệp quy mô lớn như nhà máy sản xuất ô tô, nhà máy sản xuất Pack pin, Cell pin… đã tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền các cấp và cộng đồng doanh nghiệp cùng với hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Hà Tĩnh đang từng bước khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao. 3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 3/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 18,77% so với tháng trước và tăng 15,39% so với cùng kỳ. Trong thời gian tới, thị trường pin lithium-ion tại Việt Nam, đặc biệt là sản phẩm của VinES, dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Cùng với sản lượng Pack tăng mạnh, Cell là nguyên liệu đầu vào cũng đạt sản lượng lớn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất Pin. Bên cạnh đó, ngành sản xuất kim loại đang có dấu hiệu tăng trở lại chủ yếu do Công ty Formosa ký kết được các đơn hàng có quy mô lớn vào thời điểm cuối năm, qua đó thúc đẩy nhu cầu sản xuất và tiêu thụ thép. Mặt khác, ngành sản xuất ô tô đang trên đà phát triển mạnh mẽ, quý I năm 2026 ước sản xuất hơn 16 nghìn xe. Đặc biệt, từ tháng 01/2026, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 2 đã hòa lưới điện trở lại sau khi khắc phục ảnh hưởng của thiên tai, góp phần ổn định nguồn cung năng lượng cho sản xuất, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong quý I năm 2026. Dự ước quý I năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 13,97% so với năm 2025. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 16,98% làm giảm 0,25 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,31% đóng góp 10,12 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 20,05% đóng góp 4,02 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,38% đóng góp 0,08 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. 3.2. Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớn Ước tính đến hết quý I/2026, trong 21 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng và có 5 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất thiết bị điện tăng 109,73%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,46%; sản xuất đồ uống tăng 23,64%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,61%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 20,51%. Một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 5,48%; khai khoáng khác giảm 16,52%; sản xuất trang phục giảm 35,42%. 3.3. Các chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng 3/2026 tại Hà Tĩnh ước giảm 0,54% so với tháng trước, cho thấy sự chững lại mang tính ngắn hạn của hoạt động tiêu thụ. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số này tăng mạnh 30,93%, phản ánh sự phục hồi rõ nét của thị trường. Tính chung quý I năm 2026 chỉ số tiêu thụ toàn ngành tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy xu hướng tăng trưởng ổn định. Đáng chú ý, nhiều nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ, góp phần thúc đẩy tiêu thụ chung và sự phục hồi diễn ra ở nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau[5]. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2026 tăng 4,04% so với tháng trước và tăng 13,7% so cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp chủ động tích trữ sản phẩm và nguyên vật liệu nhằm chuẩn bị cho kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong các tháng tiếp theo. Việc sản xuất được duy trì ổn định, tạo nguồn cung sẵn sàng cho tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, hạn chế rủi ro đứt gãy nguồn cung. Trong đó, chỉ số tồn kho mặt hàng sợi tăng cao, ở mức 150%. Doanh nghiệp Sợi Nghệ Tĩnh tiếp tục duy trì công suất sản xuất ở mức cao, các dây chuyền vận hành ổn định, qua đó hình thành lượng tồn kho cần thiết để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường trong giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, ngành sản xuất pin lithium ghi nhận mức tồn kho tăng mạnh do các nhà máy đẩy mạnh sản xuất với quy mô lớn. Nguyên nhân là nhu cầu pin phục vụ ngành công nghiệp ô tô điện đang gia tăng nhanh, buộc doanh nghiệp phải chuẩn bị nguồn cung từ sớm. Tuy nhiên, tốc độ tiêu thụ thực tế chưa theo kịp sản lượng sản xuất trong giai đoạn đầu năm, dẫn đến tồn kho tăng cao. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2026 tăng 8,48% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 1,62%. Tính chung quý I năm 2026 tăng 44,79% so với cùng kỳ năm 2025. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì ở mức cao. Trong quý I, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 15,93% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước, một số ngành ghi nhận mức tăng trưởng cao, đóng vai trò động lực chính cho toàn ngành[6]. 4. Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp Trong quý I năm 2026, việc thu hút đầu tư và thành lập mới doanh nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng cả về số lượng và quy mô. Tổ chức làm việc, ký kết bên bản ghi nhớ với các tập đoàn, các nhà đầu tư chiến lược về nghiên cứu triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn. 4.1. Thu hút đầu tư Trong kỳ, toàn tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 12 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 94.318 tỷ đồng và 02 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký hơn 411 triệu USD. Một số dự án có quy mô lớn như: Dự án Nhà máy sản xuất xe máy điện VinFast Hà Tĩnh, Dự án Nhà máy sản xuất thép VinMetal Hà Tĩnh, Dự án Nhà máy thép không gỉ, … đã góp phần tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng trong thời gian tới. 4.2. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính đến ngày 26/3/2026, toàn tỉnh có 592 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký 8.305 tỷ đồng, tăng 92,83% về số lượng doanh nghiệp và tăng gấp 12 lần về số vốn đăng ký; có 238 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 95%; có 382 doanh nghiệp giải thể, đăng ký tạm ngừng giảm 37,79% so với cùng kỳ năm 2025. Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho biết, trong quý I/2026, hai yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 43,14% và 60,78%. Bên cạnh đó, “lãi suất vay vốn cao” là khó khăn mà doanh nghiệp đánh giá với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn là 41,18%. Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý II/2026 dự tính có nhiều chuyển biến tích cực so với quý trước. Cụ thể, có 66,67% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt hơn so với quý I/2026, cho thấy xu hướng phục hồi và cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, có 21,57% doanh nghiệp đánh giá tình hình giữ nguyên, trong khi chỉ 11,76% doanh nghiệp cho rằng hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn hơn, phản ánh mức độ rủi ro chung của toàn ngành ở mức thấp. Về xu hướng khối lượng sản xuất, kết quả khảo sát cho thấy 64,71% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất trong quý II/2026 tăng lên so với quý I/2026, đồng thời 29,41% doanh nghiệp đánh giá sản xuất giữ ổn định. Điều này cho thấy đa số doanh nghiệp có kế hoạch duy trì hoặc mở rộng sản xuất, phù hợp với tín hiệu cải thiện của thị trường tiêu thụ. Cùng với xu hướng tích cực về sản xuất, đơn đặt hàng được dự báo có triển vọng khả quan khi 91,31% doanh nghiệp cho rằng số lượng đơn đặt hàng tăng lên hoặc giữ ổn định. Đây là yếu tố quan trọng tạo nền tảng cho việc duy trì nhịp độ sản xuất trong ngắn hạn. Đồng thời, 92,16% doanh nghiệp đánh giá quy mô lao động tăng lên hoặc giữ nguyên, cho thấy doanh nghiệp có xu hướng ổn định lực lượng lao động và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sản xuất trong thời gian tới. Nhìn chung, các chỉ tiêu khảo sát phản ánh xu hướng sản xuất, kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 tiếp tục theo chiều hướng tích cực, với mức độ cải thiện rõ nét so với quý trước, tạo tiền đề thuận lợi cho tăng trưởng trong các quý tiếp theo. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ trong quý I năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, căng thẳng và xung đột tại khu vực Trung Đông đã làm gia tăng rủi ro đối với chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu, kéo theo sự biến động của giá dầu thô, giá vàng và tỷ giá ngoại tệ. Những yếu tố này đã làm gia tăng chi phí nhập khẩu, nhất là đối với các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu, từ đó tạo áp lực lên chi phí sản xuất và giá bán hàng hóa trong nước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2026, ước đạt 5.065,2 tỷ đồng, giảm 0,95% so với tháng trước và tăng 17,16% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường bán lẻ trong tỉnh tăng khá đều và ổn định ở cả 3 tháng đầu năm, tính chung cả quý I, doanh thu ước đạt 15.199 tỷ đồng tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng đều có doanh thu tăng trưởng khá, trong đó một số mặt hàng chiếm doanh thu lớn và tăng cao so với cùng kỳ[7]. Hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh ổn định; nguồn cung được bảo đảm, không xảy ra gián đoạn; chưa phát hiện tình trạng ngừng bán không đúng quy định, đầu cơ, găm hàng hoặc vi phạm về điều hành giá. Trong quý do trùng thời điểm lễ Tết nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của người dân tăng mạnh, mức tăng trưởng tập trung chủ yếu vào dịp trước, trong Tết. Thị trường giá cả hàng hóa mặt bằng giá cả nhiều nhóm hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát, chống gian lận thương mại, hàng giả, kiểm soát chặt chẽ bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân và doanh nghiệp. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 3/2026 ước đạt 508,42 tỷ đồng, tăng 4,48% so với tháng trước, tăng 15,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình thời tiết thuận lợi, các cơ sở kinh doanh nhà hàng ăn uống hoạt động ổn định hơn. Mặt khác, do là tháng trùng vào dịp Quốc tế Phụ nữ 8/3 nên nhu cầu ăn uống ngoài gia đình tăng. Bên cạnh đó, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2026 với các hoạt động khai hội chùa Hương Tích, các khu, điểm du lịch văn hóa tâm linh đón hàng ngàn lượt khách du xuân, tham quan. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.475,52 tỷ đồng, tăng 12,45% so với cùng kỳ năm trước[8]. Mức tăng trưởng của các ngành lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trong quý I năm 2026 so với cùng kỳ năm trước chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng và du lịch của người dân tiếp tục phục hồi và gia tăng rõ rệt. Các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 3 tháng trong quý, quyết định trực tiếp đến doanh thu khu vực dịch vụ này. Dự tính trong quý tới khi Hà Tĩnh bước vào cao điểm mùa nóng các hoạt động du lịch, lưu trú và ăn uống cũng vào mùa, đây là cơ hội để tỉnh nhà phát huy tiềm năng lợi thế với nhiều bãi biển đẹp và hải sản chất lượng. Ngoài ra, các khu du lịch sinh thái với cảnh đẹp thu hút khách quan cũng là hình thức du lịch mới phát triển khá nhiều trên địa bàn thúc đẩy tăng trưởng nhóm ngành này trong quý tới, góp phần là động lực vào tăng trưởng chung toàn tỉnh. Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 3 năm 2026 ước đạt 809,67 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả quý I, doanh thu ước đạt 2.438,56 tỷ đồng, tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Với việc thị trường bất động sản trên địa bàn đang có dấu hiệu ấm dần lên từ đầu năm khiến doanh thu nhóm hàng này ước đạt 759,61 tỷ đồng, tăng đến 18,21%, ngoài ra các nhóm ngành hàng khác cũng tăng trưởng khá do nhu cầu làm đẹp, chăm sóc cá nhân chuẩn bị đón Tết của mọi người dân tăng nên các cơ sở kinh doanh dịch vụ này hoạt động hết công suất, một số cơ sở phải thuê thêm thợ thời vụ. Dịch vụ làm biển quảng cáo tăng hơn do nhu cầu làm market chào mừng năm mới, mừng thọ, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền, chào mừng các ngày lễ trọng đại của quê hương, đất nước. Bên cạnh đó hoạt động cho thuê đồ dùng gia đình phục vụ cưới hỏi, ăn uống diễn ra khá nhộn nhịp. 5.2. Hoạt động vận tải Trong quý I/2026 do ảnh hưởng của xung đột địa chính trị, đặc biệt là tại Trung Đông, đã đẩy giá dầu thô toàn cầu vọt đỉnh khiến giá xăng dầu trong nước chịu áp lực tăng cao ảnh hưởng nặng nề đến chi phí vận tải của người dân đẩy giá cước vận tải tăng. Việc điều chỉnh giá xăng dầu luôn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và sâu rộng đến ngành vận tải. Trong bối cảnh chi phí nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí, bất kỳ biến động nào về giá xăng dầu cũng đều kéo theo những thay đổi đáng kể trong hoạt động của các doanh nghiệp vận tải cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng. Kết quả vận tải, kho bãi trong tháng 3 năm 2026, doanh thu ước đạt 779,28 tỷ đồng, tăng 18,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng do thời điểm sau dịp Tết Nguyên đán, nhu cầu đi lại của người dân giảm đáng kể so với tháng trước. Nhưng bên cạnh đó, doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa lại tăng do các đơn vị vận chuyển hàng hoá hoạt động lại bình thường sau kỳ nghỉ tết dài ngày, cùng với đó ra tết nhu cầu xây dựng cũng tăng cao nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong tháng tăng. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu vận tải ước đạt 2.298,63 tỷ đồng, tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước[9]. Nhìn chung, dịch vụ vận tải đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, nhất là các thời điểm trước, trong và sau Tết. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa và nhu cầu đi lại đều tăng, đồng thời lượng khách du lịch tăng so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị từ hoạt động vận tải, tạo đà cho nhóm ngành này phát triển ổn định. Bến số 3 của Cảng quốc tế Lào - Việt đi vào khai thác góp phần nâng cao năng lực xếp dỡ hàng hóa, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa ngày càng cao. Xu hướng tiêu dùng của người dân trong tỉnh hiện nay là chuyển từ mua sắm truyền thống trực tiếp qua mua sắm online ngày càng nhiều, với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện từ hiện nay các doanh nghiệp hoạt động ngành bưu chính, chuyển phát cạnh tranh khốc liệt để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ và kéo theo đó doanh thu ngành này đang có chiều hướng tăng. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh quý I năm 2026 có nhiều thuận lợi hơn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ, thị trường bất động sản ổn định, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 31/3/2026 đạt 6.384,09 tỷ đồng (tăng 25% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 4.002,53 tỷ đồng (chiếm 62,70% trong tổng thu) tăng 26,43% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.127,33 tỷ đồng (chiếm 33,32% trong tổng thu) tăng 22,02% so cùng kỳ năm trước. Một số thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chỉ đạt 186,14 tỷ đồng, giảm 85,54%. Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp, quý I năm 2026 thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 800,89 tỷ đồng tăng 57,28%; các khoản thu về thuế nhà, đất đạt 1692,21 tỷ đồng, tăng 350,94% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 31/3/2026 đạt 6.492,78 tỷ đồng giảm 15,44% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 2.726,48 tỷ đồng chiếm 41,99% tổng chi, giảm 26,23% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 3.766,30 tỷ đồng chiếm 58,01% tổng chi, giảm 5,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 1.365,23 tỷ đồng giảm 1,13%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 732,02 tỷ đồng giảm 24,29% so với cùng kỳ năm 2025. 6.2. Hoạt động ngân hàng Ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực sự nỗ lực trong việc đảm bảo cung ứng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế. Nguồn vốn tín dụng tiếp tục được tăng cường cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các động lực tăng trưởng theo đúng chủ trương của Chính phủ, đồng thời siết chặt dòng vốn đối với các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Mặt bằng lãi suất ngân hàng tại Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng có xu hướng tăng nhẹ so với cuối năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu vốn của nền kinh tế phục hồi, các ngân hàng điều chỉnh lãi suất để thu hút tiền gửi và đáp ứng tín dụng đầu năm. Tổng nguồn vốn huy động ước tính quý I năm 2026 đạt 129.400 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2025. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.820 tỷ đồng, chiếm 9,91% tổng nguồn vốn huy động, tăng 1,08%; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 116.580 tỷ đồng, chiếm 90,09%, tăng 2,66% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay ước tính quý I năm 2026 đạt 132.440 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 103.077 tỷ đồng (chiếm 77,83 % tổng dư nợ), tăng 5,25%; dư nợ trung dài hạn đạt 29.363 tỷ đồng (chiếm 22,17% tổng dư nợ), tăng 1,95% so với cuối năm 2025. Công tác huy động vốn, tín dụng được tập trung chỉ đạo. Các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay, các chương trình lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, tiếp cận tín dụng. 7. Đầu tư và xây dựng Trong những tháng đầu năm 2026, đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang được tập trung cao độ để hoàn thành kế hoạch năm 2025 và triển khai kế hoạch năm 2026. Kế hoạch năm 2026 đến nay đã phân bổ chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án là 5.698,935 tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và 100% kế hoạch HĐND tỉnh giao ; giải ngân đến ngày 20/3/2026 đạt 791,343 tỷ đồng, bằng 13,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý I/2026 dự ước đạt 13.748,96 tỷ đồng, giảm 27,11% so với quý trước, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 1.483,66 tỷ đồng, giảm 73,45% so với quý trước và giảm 47,13% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trong giai đoạn này, việc triển khai khởi công các công trình mới còn gặp nhiều khó khăn do quy trình, thủ tục đầu tư kéo dài, cần nhiều thời gian hoàn thiện. Một số dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị giải phóng mặt bằng nên chưa thể tổ chức thi công. Trên địa bàn tỉnh giai đoạn này cũng không có các dự án lớn do Nhà nước triển khai (cùng kỳ năm trước có dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam thực hiện khối lượng vốn lớn). Vốn ngoài nhà nước ước đạt 8.550,89 tỷ đồng, giảm 21,82% so với quý trước nhưng tăng 29,81% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so cùng kỳ chủ yếu do nhóm các công trình thuộc tập đoàn VinFast như Khu công nghiệp Vinhomes, nhà máy xe máy điện. Cùng với đó là nguồn vốn đầu tư của hộ dân cư tăng trong bối cảnh nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở gia đình đang ở mức cao và giá vật liệu tăng so cùng kỳ. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.714,41 tỷ đồng, tăng 58,87% so với quý trước và tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực này nguồn vốn đầu tư tăng mạnh do các dự án lớn như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II phát sinh chi phí sửa chữa, khắc phục thiệt hại do ảnh hưởng của các cơn bão dịp cuối năm vừa qua. Nhìn chung, trong quý I/2026, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ghi nhận mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, phản ánh xu hướng phục hồi và mở rộng hoạt động đầu tư. Kết quả này có được nhờ hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện, đặc biệt là hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ giữa các khu công nghiệp, khu kinh tế với cảng biển, tuyến cao tốc Bắc - Nam, các tuyến quốc lộ và hành lang vận tải kết nối sang Lào - Thái Lan. Bên cạnh đó, các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư của Nhà nước cùng với việc tỉnh quan tâm, tập trung chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư trên địa bàn. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất nhập khẩu trong quý I/2026 có nhiều tín hiệu khởi sắc so với quý trước và so với cùng kỳ. Tổng trị giá xuất nhập khẩu ước đạt hơn 1.149,5 triệu USD tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ghi nhận những tín hiệu đáng mừng đến từ việc xuất khẩu. Trị giá xuất khẩu tháng 3 năm 2026, ước đạt 154,2 triệu USD, tăng 30,13% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, trị giá xuất khẩu ước đạt 419,9 triệu USD, đạt gần 20% so với kế hoạch cả năm và tăng 24,81% so với cùng kỳ năm 2025. So với các tỉnh trong khu vực Bắc Trung Bộ trị giá xuất khẩu của Hà Tĩnh tiếp tục giữ vững vị trí thứ 3 xếp sau tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Nguyên nhân tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu do sự phục hồi của các mặt hàng công nghiệp chủ lực, đặc biệt là thép và phôi thép. Sau giai đoạn khó khăn của năm 2025, việc chủ động đa dạng hóa thị trường đã giúp nhóm hàng này duy trì vai trò "trụ cột", chiếm tỷ trọng hơn 85% tổng trị giá xuất khẩu toàn tỉnh. Bên cạnh đó, các mặt hàng khác như chè, thủy sản, sợi cũng giữ vững đà tăng trưởng ổn định nhờ tận dụng tốt các đơn hàng mới ngay từ đầu năm, góp phần quan trọng vào sự khởi sắc chung của hoạt động ngoại thương[10]. Dự báo trong các quý tới "bức tranh" xuất khẩu năm nay kỳ vọng sẽ có đóng góp của các sản phẩm công nghiệp xanh và công nghệ cao. Theo kế hoạch, các nhà máy sản xuất tại Hà Tĩnh của Tập đoàn Vingroup và đối tác dự kiến tham gia xuất khẩu với các sản phẩm chủ lực như: Cell pin (dự kiến kim ngạch xuất khẩu khoảng 30 triệu USD); ô tô điện (theo kế hoạch khoảng 20 triệu USD). Đây không chỉ là sự bổ sung về giá trị mà còn mang ý nghĩa chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng vào nhóm sản phẩm công nghiệp với chuỗi giá trị cao hơn. Trong bối cảnh thế giới đang đẩy mạnh chuyển đổi xanh, việc tham gia vào chuỗi sản xuất pin và xe điện giúp Hà Tĩnh đón đầu xu hướng, gia tăng sức cạnh tranh dài hạn. Trị giá nhập khẩu tháng 3 năm 2026 ước đạt 250,8 triệu USD, tăng 8,81% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, trị giá nhập khẩu ước đạt 729,6 triệu USD, tăng hơn 15 triệu USD so với thực hiện quý IV năm 2025 và tăng 0,55% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và một số thiết bị phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh tăng trong những tháng đầu năm 2026 nhằm phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đồng thời, hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp dần phục hồi và mở rộng sau giai đoạn cuối năm 2025, kéo theo nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào tăng so với quý IV năm 2025. Năm 2026, Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2025. Vì vậy cần các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì ổn định sản xuất, lưu thông hàng hóa; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy thương mại điện tử; hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu; tiếp tục thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án công nghiệp mới, đặc biệt là các dự án sản xuất hàng hóa xuất khẩu để tạo thêm nguồn hàng cũng như giá trị cho sản phẩm xuất khẩu. 9. Giá cả, lạm phát Trong tháng 3 và quý I/2026 thị trường giá tiêu dùng diễn biến phức tạp do ảnh hưởng tổng hợp của xung đột Mỹ - Iran, làm gián đoạn nguồn cung năng lượng và đẩy giá nhiên liệu xăng dầu chất đốt tăng cao. Giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 chịu áp lực tăng từ việc giá xăng dầu đồng loạt tăng mạnh từ ngày 5/3/2026, làm tăng chi phí vận tải và nguyên vật liệu đầu vào. Sự biến động này ảnh hưởng đến sản xuất, doanh thu doanh nghiệp và thói quen tiêu dùng, mặc dù Chính phủ áp dụng các chính sách kiểm soát. Tháng 3 năm 2026, trên địa bàn tỉnh ghi nhận sự tăng mạnh của giá xăng dầu và giá vật liệu xây dựng ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng trong tháng. Chỉ số CPI chung tăng 1,03% so với tháng trước, so với tháng 12/2025 tăng 3,32% và so với cùng tháng năm trước tăng 4,64%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 3 nhóm hàng hóa tăng giá, có 6 nhóm hàng hóa giảm giá và có 02 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 3/2026 như sau: Thứ nhất, Nhóm lương thực đặc biệt là giá gạo tẻ thường tăng do nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá. Thứ hai, do nhu cầu tiêu dùng giảm sau Tết Nguyên đán nên giá các mặt hàng đồ uống, quần áo, giày dép, khăn, tất, giày thể thao giảm hơn. Thứ ba, nhu cầu sử dụng điện nhiều hơn nên giá cả tăng. Thứ tư, giá gas, nhiên liệu biến động mạnh do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thế giới, đặc biệt là các cuộc xung đột tại khu vực Trung Đông gây gián đoạn nguồn cung, trong tháng 3 giá nhiên liệu điều chỉnh liên tục 9 đợt làm giá xăng, dầu tháng 3/2026 tăng mạnh. Tính chung quý I năm 2026, CPI bình quân tăng 2,93% so với cùng kỳ năm 2025. Chịu tác động bởi quy luật tiêu dùng tăng trong dịp Lễ, Tết và ảnh hưởng của giá cả thị trường thế giới cũng như trong nước. Cụ thể, CPI tháng 01/2026 tăng cao nhất với mức tăng 1,3%; sang tháng 2 tăng 0,94% do là tháng trùng với trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên nhu cầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ, đi lại của người dân tăng cao; tháng 3/2026 tăng 1,03% do chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố địa chính trị và nguồn cung. Tác động lớn nhất là chỉ số giá nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 4,26%. Trong đó: Nhóm lương thực tăng 6,39%; nhóm thực phẩm tăng 4,06% và nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,53%. Tiếp đến là chỉ số giá nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,69%. Nguyên nhân do giá điện, nước tăng do có sự điều chỉnh giá của nhà nước cùng với nhu cầu tiêu dùng tăng; nguồn cung hạn chế cùng với nhu cầu tiêu dùng đặc biệt giá nhiên liệu xăng dầu tăng đẩy giá vật liệu xây dựng tăng tác động làm tăng giá vật liệu kéo theo việc các nhóm hàng khác cũng đều tăng. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, vật liệu xây dựng, giá vàng, Đô la Mỹ tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự kiến CPI tháng 4/2026 có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Giá cả thị trường dự ước tăng so với tháng 3/2026, nhất là các mặt hàng thực phẩm thủy sản biển, khách sạn, nhà nghỉ, điện lạnh, điện tiêu dùng và nước sinh hoạt do là tháng chuyển vào mùa nắng nóng cũng là mùa du lịch biển nên nhu cầu hải sản và các loại dịch vụ du lịch tăng. Cùng với đó khi thời tiết chuyển mùa nắng nóng nhu cầu mua sắm đồ dùng điện lạnh, quạt điện và điện nước tiêu thụ đều tăng. Qua đó, cần có những giải pháp trong việc điều tiết nguồn cung và các biện pháp kiểm soát giá, nhất là các dịch vụ liên quan đến hoạt động du lịch sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định thị trường. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Tình hình lao động việc làm tại Hà Tĩnh trong quý I/2026 tiếp tục có chiều hướng tốt. Ngay từ những tháng đầu năm, hoạt động sản xuất - kinh doanh khá nhộn nhịp kéo theo nhu cầu tuyển dụng lao động tăng mạnh ở nhiều lĩnh vực như công nghiệp, dệt may, cơ khí, dịch vụ. Theo khảo sát của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh, có 101 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh có nhu cầu tuyển dụng với số lượng hơn 8.300 lao động với các ngành nghề chủ yếu như: Nhân viên kỹ thuật điện, cơ khí; văn phòng, kế toán; lái xe, lái máy; công nhân, lao động phổ thông. Bên cạnh đó, trung tâm cũng đã phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức các phiên, sàn giao dịch lưu động, tổ chức hội nghị tư vấn, giới thiệu việc làm thu hút hàng ngàn lượt lao động tham gia. Tình hình giải quyết việc làm: Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý I năm 2026 là 4.679 người, tăng 10,41% so với quý trước và giảm 18,23% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 1.947 người, chiếm 41,61% trong tổng số, tăng 89,77% so với quý trước; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.355 người, chiếm 28,96%, tăng 260,37%; xuất khẩu lao động 1.377 người, chiếm 29,43%, giảm 51,45%. Tất cả điều đó đã góp phần làm cho tình hình về lao động, việc làm quý I/2026 ở Hà Tĩnh được ổn định và khởi sắc. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước quý I năm 2026 là 541.523 người, tăng 0,15% so với quý trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nguồn nhân lực của tỉnh đang được duy trì ổn định và có dấu hiệu phục hồi, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, nam giới chiếm tỷ trọng 52,17%, cao hơn 4,34 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 47,83%); khu vực thành thị chỉ chiếm 24,65% trong khi lao động chủ yếu vẫn đang tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 75,35%. Lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên ở Hà Tĩnh ước tính quý I năm 2026 là 528.985 người, chiếm 97,68% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 1,01% so với quý trước và giảm 0,06% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực thành thị là 128.807 người, chiếm 24,35%; lao động có việc làm ở nam giới là 274.058 người, chiếm 51,81%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế quý I/2026, ta thấy lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng là 28,26% (tương ứng 149.503 người), giảm 0,07 điểm phần trăm so với quý trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,37% (tương ứng 155.375 người), tăng 0,36 điểm phần trăm; dịch vụ chiếm 42,37% (tương ứng 224.107 người), giảm 0,30 điểm phần trăm. Sự chuyển dịch này cho thấy tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp tiếp tục giảm, trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng có xu hướng tăng lên, phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Mặc dù khu vực dịch vụ có giảm nhẹ về tỷ trọng, song vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu lao động, khẳng định vai trò quan trọng của khu vực này trong giải quyết việc làm và phát triển kinh tế của tỉnh. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Quý I/2026 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 12.538 người, chiếm 2,32% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 1,01 điểm phần trăm so quý trước và tăng 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 62,69% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 7.860 người), còn nam giới chiếm 67,23% (tương đương 8.429 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý I/2026 ước tính là 4,11%, tăng 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý I/2026 là 2,32%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,18 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý I/2026 là 687 người, tăng 131 người so với quý trước. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Trong quý I năm 2026, đời sống người dân Hà Tĩnh tiếp tục được cải thiện cả về vật chất và tinh thần, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển ổn định và bền vững trong thời gian tới. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 trên địa bàn Hà Tĩnh đã diễn ra dân chủ, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm. Tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu đạt rất cao (khoảng 99,98%, nhiều khu vực đạt 100%). Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tiếp tục tăng, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn nhất định như việc làm chưa thật sự bền vững ở một bộ phận lao động, thu nhập chưa đồng đều giữa các nhóm dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được triển khai kịp thời, tình hình chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất trong quý I/2026 cụ thể như sau: Hỗ trợ cho các đối tượng người có công và thân nhân người có công với tổng số tiền là 384,045 tỷ đồng, so với quý trước giảm 10,305 tỷ đồng, nhưng so với cùng kỳ năm trước tăng 123,94 tỷ đồng; hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền là 183,43 tỷ đồng; Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP số tiền là 82,40 tỷ đồng. Ngoài ra, trong quý I năm 2026, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 387.624 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Thực hiện Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 30/01/2026 về việc phân bổ gạo dự trữ quốc gia hỗ trợ người dân trên địa bàn tổng số gạo được phân bổ là 1.171 tấn, trong đó: Hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ 604 tấn; hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 243,56 tấn; hỗ trợ nhân dân trong thời kỳ giáp hạt đầu năm 2026 là 323,52 tấn. Về hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương trong quý Hà Tĩnh chi nguồn hỗ trợ từ Ban vận động cứu trợ Trung ương cho các đối tượng có nhà ở bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ xảy ra trong năm 2025 với tổng số tiền 58,582 tỷ đồng. 3. Giáo dục đào tạo Trong quý I năm 2026, ngành giáo dục tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực trong các hoạt động giáo dục. Tại kỳ thi Olympic Toán học châu Á - Thái Bình Dương năm 2026, Hà Tĩnh vinh dự có 1 thí sinh lọt top 10 thí sinh đạt điểm cao nhất của đoàn học sinh Việt Nam. Ngoài ra tại Hội thi “An toàn giao thông cấp tiểu học, THCS, THPT” năm học 2025-2026 do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia tổ chức, Hà Tĩnh đã đạt 3 giải nhất và 2 giải nhì. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm nay dự kiến diễn ra vào ngày 25/5/2026, sớm hơn khoảng một tuần so với năm trước, khiến quỹ thời gian dành cho ôn tập càng trở nên gấp rút. Cùng đó, áp lực càng gia tăng khi số lượng học sinh lớp 9 tăng mạnh nhưng dự báo chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường THPT công lập không tăng tương ứng. Điều đó đồng nghĩa với mức độ cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, nhất là tại các trường ở khu vực trung tâm. 4. Hoạt động Văn hóa - Thể thao: - Về văn hóa: Trong quý các hoạt động văn hóa trên địa bàn diễn ra sôi nổi, đạt nhiều kết quả nổi bật. Các hoạt động văn hóa được triển khai đồng bộ, gắn với tuyên truyền mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ; tuyên truyền thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng gắn với tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tuyên truyền kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập (1906 - 2026); tổ chức 11 buổi chiếu phim lưu động tại các phường, xã phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026. Bên cạnh đó ngành Văn hóa phối hợp UBND xã Can Lộc tổ chức lễ khai hội chùa Hương, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2026. Hướng dẫn các địa phương bảo đảm thực hiện nếp sống văn minh, an toàn, tiết kiệm trong các hoạt động lễ hội sau Tết Nguyên đán và lễ hội xuân 2026. - Về thể dục thể thao: Đối với thể thao quần chúng, đã hướng dẫn chỉ đạo các xã, phường xây dựng kế hoạch, thành lập Ban Tổ chức và tổ chức các hoạt động, giải thể thao phong trào cơ sở mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ 2026: giải Bóng chuyền nam Thanh niên, Vật, Cờ thẻ tại lễ khai hội Chùa Hương năm 2026; giải Đua thuyền tại lễ hội Hải Thượng Lãn Ông năm 2026 tại xã Hương Sơn và các giải thể thao Đua thuyền, Kéo co, Việt dã, Cờ tướng ở các xã, phường khác. Đối với thể thao thành tích cao: Trong quý đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 02 giải đấu quốc tế là Giải Bán Marathon quốc tế Việt Nam tại Hà Nội giành 2 HCB; giải Vô địch các CLB Muay quốc gia tại Gia Lai, giành 1 HCV, HCB và 1 HCĐ. Đối với thể thao chuyên nghiệp: Câu lạc bộ bóng đá Hồng Lĩnh Hà Tĩnh thi đấu giải Vô địch quốc gia 2025-2026, đến nay sau vòng 16 xếp thứ 8/14 đội tuyển. 5. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Trong tháng thời tiết diễn biến khá thất thường điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của các loại vi khuẩn, nấm mốc ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân, đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ. Công tác bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm được tập trung thực hiện hiệu quả, trong quý này không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra. Tuy nhiên có 132 người bị ngộ độc đơn lẻ. Cũng trong quý I này toàn tỉnh ghi nhận 12 ca mắc sốt xuất huyết Dengue; 03 ca mắc sởi; 06 ca mắc tay chân miệng và 01 ca viêm màng não mô cầu. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong những năm qua, nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phòng, chống HIV/AIDS có sự thay đổi tích cực, các ca nhiễm HIV/AIDS tiếp tục có xu hướng giảm. Trong tháng xuất hiện 01 ca nhiễm mới giảm 02 ca so với cùng kỳ, tính chung quý I/2026 đã phát hiện 3 ca nhiễm mới HIV/AIDS giảm 01 ca so với quý trước và giảm 2 ca so với cùng kỳ năm trước, không có người chết do AIDS. 6. Tai nạn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông cho Nhân dân vui đón Tết ngay từ những ngày đầu năm 2026, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã chủ động triển khai lực lượng, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông. Trong đêm giao thừa có 100% cán bộ, chiến sĩ được bố trí trực xuyên đêm tại các tuyến đường, khu vực bắn pháo hoa; chủ động phân luồng, điều tiết giao thông, không để xảy ra ùn tắc. Đồng thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm như vi phạm nồng độ cồn, chạy quá tốc độ, lạng lách, đánh võng, với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Trong tháng Ba (tính từ 15/02/2026 - 14/03/2026) trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 29 vụ tai nạn đường bộ, làm 17 người chết, 27 người bị thương, so với tháng trước tăng 2 vụ tai nạn, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương; giá trị thiệt hại tài sản ước tính 738 triệu đồng. Tính chung quý I năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 97 vụ tai nạn đường bộ, làm 55 người chết, 82 người bị thương (số vụ tai nạn giữ nguyên so với quý trước, tăng 3 người chết, tăng 15 người bị thương so với quý trước); trong quý này không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào, so với quý trước giữ nguyên. 7. Bảo vệ môi trường Trong tháng 3/2026, toàn tỉnh phát hiện 05 vụ vi phạm môi trường, giảm 05 vụ so với tháng trước nhưng tăng 1 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng là 04 vụ, giảm 45 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong tháng là 45,05 triệu đồng, giảm 165,53 triệu đồng so với tháng trước và giảm 176,30 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng giảm mạnh là do tháng 3 là thời điểm sau Tết Nguyên đán, hoạt động của các loại đối tượng trên lĩnh vực tài nguyên, môi trường có xu hướng giảm; đồng thời, các lực lượng chức năng duy trì công tác tuyên truyền, vận động và kiểm tra nên số vụ việc vi phạm giảm mạnh. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 174 vụ vi phạm môi trường, xử lý 89 vụ với số tiền xử phạt là 608,78 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 37 vụ phát hiện (tăng 27,01%) nhưng giảm 37 vụ xử lý (giảm 29,37%) số tiền xử phạt giảm 112,59 triệu (giảm 15,49%). Thời gian qua, ý thức, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đã từng bước được nâng lên. Tuy vậy, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại các hạn chế như số cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ chưa có hồ sơ, thủ tục, công trình, biện pháp bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều, nhất là các cơ sở quy mô nhỏ thuộc đối tượng phải đăng ký môi trường ở cấp xã; nhiều cơ sở chưa chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động, qua kiểm tra đã bị xử phạt vi phạm hành chính, việc thực hiện chế độ báo cáo công tác bảo vệ môi trường định kỳ hằng năm chưa được quan tâm, ô nhiễm môi trường trong một số lĩnh vực như chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn nhiều tiềm ẩn, chậm khắc phục. Vì vậy, ngày 20/3/2026 UBND tỉnh tiếp tục ban hành Văn bản số 2164 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh giao các sở ngành liên quan thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục các tồn tại, hạn chế. 8. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn Tình hình cháy: Trong tháng 3/2026 trên địa bàn đã xảy ra 1 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại tài sản ước tính 25 triệu đồng. Tính chung cả quý I năm 2026, đã xảy ra 14 vụ cháy, không gây ảnh hưởng về người, giá trị thiệt hại tài sản ước tính hơn 3 tỷ đồng (giảm 8 vụ so với quý trước nhưng tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm trước). Tình hình vụ nổ: Trong tháng xảy ra 01 vụ nổ tại thôn Sơn Trung 2, xã Kỳ Thượng, nguyên nhân do bình gas mini phát nổ trong quá trình sử dụng tại gia đình làm 01 người bị thương. Tính chung quý I/2026 đã xảy ra 2 vụ nổ làm 01 người chết và 02 bị thương trong khi cả năm 2025 không xảy vụ nổ nào. Tình hình thiên tai: Trong tháng cũng như cả quý I năm 2026 không xảy ra vụ thiên tai nào. III. DỰ BÁO, ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Thứ nhất, rà soát cập nhật kịch bản tăng trưởng quý II, 6 tháng và cả năm 2026; thực hiện các giải pháp phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 từ trên 10%; trong đó đánh giá các yếu tố khách quan bất lợi về giá xăng dầu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Chủ động chuẩn bị tốt các nội dung báo cáo, đề án, nghị quyết trình kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh giữa năm 2026. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình khung thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Thứ hai, tiếp tục đồng hành, hỗ trợ nhà đầu tư; kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Tập trung hoàn thành thủ tục đầu tư các dự án hạ tầng KCN Bắc Hồng Lĩnh, KCN Hạ Vàng. Tăng cường thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp, tăng tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp; các dự án quy mô lớn, hiện đại. Thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình sản xuất công nghiệp, nhất là đối với các sản phẩm công nghiệp chủ lực; tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp mới như sản xuất ô tô điện, xe máy điện, Pack pin, Cell pin và các sản phẩm công nghệ cao. Tiếp tục tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tập trung chỉ đạo sản xuất, phòng trừ sâu bệnh hại trên cây trồng vụ Xuân 2026; xây dựng và triển khai Đề án sản xuất vụ Hè thu 2026 và Đề án sản xuất vụ Đông 2026. Chủ động phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là dịch tả lợn châu Phi; tổ chức tiêm phòng vắc xin đợt 1 năm 2026. Tiếp tục theo dõi chỉ đạo sản xuất dứa liên kết với Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Công ty Cổ phần Nafoods Group. Tập trung cao cho công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh, đặc biệt trong mùa nắng nóng sắp tới. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án du lịch, dịch vụ khu vực dải ven biển. Đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư phát triển các trung tâm logistics, cảng cạn và hệ thống kho bãi phục vụ kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực Vũng Áng và Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo. Thứ ba, triển khai quyết liệt nhiệm vụ thu ngân sách, phấn đấu thu đạt và vượt dự toán; chống thất thu do trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế. Triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Thực hiện nhanh công tác bàn giao mặt bằng; không để tình trạng dự án chờ mặt bằng; ưu tiên bố trí nguồn lực giải phóng mặt bằng, chủ động tạo quỹ đất sẵn sàng phục vụ thu hút đầu tư. Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn, tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên đầu tư. Thứ tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư nhà ở xã hội, sắp xếp lại, xử lý nhà, đất gắn với xử lý các trụ sở dôi dư. Triển khai Đề án phát triển vật liệu xây dựng giai đoạn 2025-2030; nâng cao chất lượng công tác thông báo giá vật liệu xây dựng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, rà soát việc sử dụng đất của các dự án, đặc biệt là các dự án có nguy cơ chậm tiến độ để đôn đốc, hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện theo đúng quy định. Thứ năm, xây dựng, phát triển đồng bộ hạ tầng và các nền tảng số của tỉnh; khẩn trương hoàn thiện, chuẩn hóa, làm sạch các cơ sở dữ liệu ngành, sẵn sàng tích hợp vào kho dữ liệu dùng chung của tỉnh sau khi hình thành. Tiếp tục hoàn thiện Ứng dụng công dân số (i-HaTinh), từng bước tích hợp thêm các dịch vụ, tiện ích số trên một nền tảng thống nhất. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong quản lý, sản xuất và đời sống. Thực hiện đồng bộ giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy hiệu quả bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và các địa phương (DDCI), nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Thứ sáu, chú trọng định hướng trong hoạt động thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2026; thông tin đầy đủ, kịp thời về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030; tạo niềm tin và đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Ba và quý I năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./. [1] Vụ Đông xuân 2025-2026: Cây ngô diện tích thu hoạch đạt 4.920 ha, giảm 272 ha; Năng suất ngô đạt 46,37 tạ/ha, tăng 2,19 tạ/ha; Sản lượng ngô đạt 22.812 tấn, giảm 121 tấn so với cùng kỳ năm trước. DT khoai lang chính thức đạt 1.052ha, giảm 133 ha; Năng suất khoai đạt 67,57 tạ/ha, tăng 1,03 tạ/ha; sản lượng khoai lang đạt 7.105 tấn, giảm 774 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây rau, đậu các loại diện tích gieo trồng đạt 5.146 ha, tăng 201 ha; Năng suất đạt 66,23 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha; sản lượng rau  đạt 34.031 tấn, tăng 2.131 tấn so với cùng kỳ năm trước.[2] Lạc 5.479/5.628 ha bằng 97,35% KH; ngô 6.179/6.403 ha bằng 96,51% KH; khoai lang 1.380/1.415 ha bằng 97,53% KH; rau các loại 5.683/5.807 ha bằng 97,87% KH[3] Sản lượng chuối ước đạt 6.281 tấn, bằng 100,02%; Đu đủ ước đạt 12 tấn, bằng 99,82% (giảm 1 tấn); Dứa ước đạt 139 tấn (tăng 25 tấn) bằng 121,93%; Ổi ước đạt 450 tấn, bằng 104,17% (tăng 18 tấn); Cam ước đạt 8.140 tấn, bằng 101,06% (tăng 85 tấn); Chanh ước đạt 884 tấn, bằng 104,12% (tăng 35 tấn); Cao su ước đạt 751 tấn, bằng 104,12% (tăng 29 tấn); Chè búp ước đạt 3.324 tấn, bằng 101,81% (tăng 59 tấn); Chè hái lá ước đạt 6.553 tấn, bằng 101,08% (tăng 70 tấn) so với cùng kỳ năm trước.[4] Kết quả chăn nuôi quý I: Đàn trâu hiện có 47.600 con, bằng 73,12%, sản lượng xuất chuồng quý I ước đạt 962 tấn, bằng 98,67%; đàn bò hiện có 129.100 con, bằng 80,19%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 2.720 tấn, bằng 99,63% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) hiện có 354.960 con, bằng 101,56%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 19.000 tấn, bằng 99,51%; đàn gia cầm hiện có 9.950 ngàn con, bằng 101,32%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 8.685 tấn, bằng 103,83% so với cùng kỳ năm trước[5] CS tiêu thụ ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 50,68%; Ngành sản xuất đồ uống tăng 30,25%; Sản xuất sợi tăng 10,04%; Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,72%.[6] CS sử dụng LĐ ngành sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 52,44; gành sản xuất thiết bị điện tăng 88,93%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,01%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,34% so với cùng kỳ năm 2025[7] Lương thực, thực phẩm ước đạt 3.687,39 tỷ đồng, tăng 4,47%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 3.784,34 tỷ đồng, tăng 12,62%; xăng,dầu các loại ước đạt 3.809,73 tỷ đồng, tăng 15,83%...[8] DV lưu trú ước đạt 76,62 tỷ đồng, tăng 10,04% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 1.383,23 tỷ đồng, tăng 12,61% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 15,66 tỷ đồng, tăng 10,79% so với cùng kỳ năm trước[9] Vận tải hành khách dự tính đạt 465,68 tỷ đồng, tăng 9,78%; Vận tải hàng hóa dự tính đạt 1.316,71 tỷ đồng, tăng 9,17%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 488,02 tỷ đồng, tăng 26,99% so với cùng kỳ năm trước.[10] Quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu xơ, sợi dệt đạt khoảng 5,7 triệu USD; hàng dệt may gần 8,6 triệu USD; dăm gỗ đạt khoảng 24,22 triệu USD; chè đạt gần 0,9 triệu USD…

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
  •   30/04/2026 21:29

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của Hà Tĩnh cơ bản ổn định, tăng trưởng khá. Trồng trọt đảm bảo khung thời vụ; chăn nuôi lợn, gia cầm tăng; lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, trước nguy cơ thời tiết bất lợi và dịch bệnh, cần sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền các cấp trong công tác chỉ đạo, kiểm tra, phòng chống dịch và hỗ trợ sản xuất, nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu kế hoạch năm. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Hiện nay tranh thủ thời tiết nắng ráo sau kỳ nghỉ Tết, bà con nông dân đang chạy đua với thời gian, quyết tâm hoàn thành tiến độ sản xuất theo đúng kế hoạch. Đối với cây lúa vụ Xuân 2026, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và sự chủ động của các địa phương, đến nay, các diện tích cơ bản hoàn thành xuống giống, cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt. Trong đó, 4.150 ha lúa tiến hành áp dụng phương pháp tưới ngập - khô xen kẽ cũng đang được chính quyền địa phương cùng người dân chủ động triển khai. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn mà sâu bệnh như bọ trĩ, đạo ôn, ruồi đục nõn có nguy cơ phát sinh mạnh. Nông dân cần thường xuyên thăm đồng, phát hiện sớm để phòng trừ kịp thời. Tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2026: Tính đến ngày 23/02/2026, tổng diện tích gieo, cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 58.493 ha/59.152 ha, đạt 98,89% kế hoạch (diện tích lúa gieo thẳng là 56.032 ha, diện tích cấy 2.461 ha). Hiện nay các trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng phát triển tốt, ngoài ra diện tích gieo trồng một số cây trồng cạn khác như: Cây ngô ước đạt 5.562/6.403 ha bằng 87,87% KH; cây lạc ước đạt 3.419/5.628 ha, bằng 60,75% KH; khoai lang ước đạt 1.040/1.415 ha, bằng 73,54% KH; rau các loại: 4.602/5.807 ha bằng 79,25% KH. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa bệnh đạo ôn xuất hiện và gây hại tại một số xã trên địa bàn tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, cục bộ 10 -15%; nạn ốc bươu vàng gây hại trên những diện tích sâu trũng, ruộng ngập nước, diện tích nhiễm 55 ha; chuột gây hại hầu hết các địa phương, nhất là trên những vùng cao cưỡng, gần khu dân cư, diện tích nhiễm 150 ha; bọ trĩ, tuyến trùng rễ gây hại trên những chân ruộng khô diện tích nhiễm 35 ha, ngoài ra, trên một số diện tích xanh tốt sâu cuốn lá nhỏ đã xuất hiện và gây hại với mật độ 7-10 con/m2. Trên các cây trồng khác cũng xuất hiện nạn sâu ăn lá, bệnh do nấm (sương mai, đốm vòng) phát sinh gây hại chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, diện tích nhiễm 45 ha; sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên các trà ngô giai đoạn 3-7 lá, diện tích nhiễm 25 ha, bệnh đốm lá, khô vằn gây hại trà ngô giai đoạn phát triển bắp, diện tích nhiễm 10 ha. Trên cây có múi nạn sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc non, diện tích nhiễm 10 ha; bệnh loét gây hại trên các vườn cây không thông thoáng, chưa tỉa tán sau thu hoạch. Trên cây dứa bệnh thối nõn phát sinh gây hại trên các vùng trồng tập trung diện tích nhiễm 25,5 ha, trong đó 8,5 ha nhiễm nặng ở xã Cẩm Xuyên. b. Chăn nuôi Kết quả sản xuất: Đàn trâu hiện có 45.085 con, bằng 69,38%; đàn bò hiện có 125.840 con, bằng 78,17% so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm vì hiện nay chi phí chăn nuôi tăng trong khi giá bán thấp nên người dân không tăng tổng đàn. Đàn lợn hiện có 391.050 con, bằng 100,22%; đàn gia cầm hiện có 9.820 ngàn con, bằng 102,51%, trong đó đàn gà có 8.060 ngàn con, bằng 102,54% so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn và gia cầm trên địa bàn duy trì ổn định và tăng so với cùng kỳ nhờ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Mặc dù dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, song giá lợn hơi ở mức cao đã tạo động lực cho người chăn nuôi tái đàn. Bên cạnh đó, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, tăng cường công tác phòng, chống và xử lý dịch bệnh được đẩy mạnh đã góp phần kiểm soát rủi ro, giúp người dân yên tâm tiếp tục khôi phục và phát triển đàn sau Tết. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 16 xã làm 413 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy. lũy kế đến nay, dịch xảy ra tại 20 xã, phường làm cho 692 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy. Dịch cúm gia cầm được phát hiện từ ngày 08/02/2026 đến nay đã có 900 con gia cầm của 29 hộ chăn nuôi mắc bệnh chết, tiêu hủy. Việc thời tiết diễn biến thất thường, mưa rét kéo dài, độ ẩm không khí cao tiềm ẩn nguy cơ bùng phát của nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Để đảm bảo hoạt động chăn nuôi ổn định, ngành chuyên môn đã chỉ đạo các địa phương thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn bà con tuân thủ các quy trình nuôi an toàn. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng 02, là tháng trùng Tết Nguyên đán, thực hiện lời kêu gọi “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, các địa phương trong toàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng phong trào “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện môi trường sinh thái theo hướng xanh - sạch - đẹp; tạo cảnh quan môi sinh trên địa bàn, cùng với phong trào trồng cây xanh, hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ tiếp tục được triển khai. Tranh thủ điều kiện thời tiết mát mẻ, người dân tiến hành khai thác rừng trồng đã đến kỳ thu hoạch và trồng rừng theo kế hoạch. Kết quả sản xuất: UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch trồng cây trên địa bàn toàn tỉnh là hơn 2,2 triệu cây, số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 188 nghìn cây, bằng 29,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm ước đạt 208 nghìn cây, giảm 77,12% so với cùng kỳ năm trước. Về diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng Hai ước đạt 695 ha, tăng 99,04% so với cùng kỳ năm trước (tăng 13 ha), tính chung 2 tháng đầu năm ước đạt 1.192 ha, tăng 43,08% so với cùng kỳ năm trước. Do trong năm diện tích rừng khai thác lớn, bao gồm cả khai thác cây gãy đổ do bão, sau khi thu hoạch người dân chủ động trồng lại trên diện tích đã khai thác nhằm bảo đảm chu kỳ sản xuất lâm nghiệp. Về khai thác gỗ và lâm sản, sản lượng khai thác trong tháng ước đạt 68.898 m³, tăng 49.383 m³ (tăng 253,05%). Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 129.206 m³, tăng 214,22% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá sản phẩm đang ở mức khả quan, nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ và xuất khẩu tăng cùng với việc đẩy nhanh tiến độ khai thác sau thời gian bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Thiệt hại về rừng: Trong tháng xảy ra 2 vụ phá rừng với diện tích 0,75 ha, bằng 192,31% (tăng 0,36 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời không gây hậu quả nghiêm trọng. 1.3. Tình hình thủy sản Kết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng Hai ước đạt 4.153 tấn, tăng 2,75% (tăng 111 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó cả khai thác tăng 3,35% và nuôi trồng tăng 1,03%. Tính chung 2 tháng đầu năm sản lượng đạt 9.460 tấn tăng 4,15% so với cùng kỳ năm trước. Về khai thác thủy sản, sản lượng ước đạt 3.103 tấn, bằng 103,35% so với cùng kỳ năm trước, chỉ tính riêng khai thác biển ước đạt 2.876 tấn, tăng 103,47% so với cùng kỳ năm trước. Do trong tháng thời tiết tương đối thuận lợi, số ngày biển động ít, tạo điều kiện cho tàu thuyền tăng số ngày vươn khơi, đặc biệt là nhóm tàu công suất lớn. Bên cạnh đó, ngư dân tích cực vươn khơi bám biển nhằm nâng cao thu nhập phục vụ nhu cầu chi tiêu dịp Tết và đầu năm. Sau thời gian nghỉ Tết, nhiều tàu thuyền khẩn trương ra khơi sớm, tận dụng thời tiết thuận lợi và tâm lý phấn khởi đầu năm cùng với giá hải sản ổn định ở mức khá đã tạo động lực để bà con đẩy mạnh hoạt động khai thác, trong 2 tháng đầu năm 2026 tính riêng sản lượng thủy sản khai thác biển ước ước đạt 6.853 tấn, bằng 105,16% so với cùng kỳ năm trước. Về nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng ước đạt 1.051 tấn, bằng 101,03% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 2 tháng đầu năm 2026 sản lượng ước đạt 2.012 tấn, bằng 102,01% so với cùng kỳ năm trước. Người dân đã dần thay đổi phương thức sản xuất để thích ứng với biến đổi khí hậu, bên cạnh áp dụng mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao thì việc đa dạng hóa các đối tượng nuôi trồng cũng được nhiều địa phương tuyên truyền, hướng dẫn bà con nông dân triển khai thực hiện. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026, ngành công nghiệp tỉnh nhà tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt, từ tháng 01/2026, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã hòa lưới điện trở lại sau khi khắc phục ảnh hưởng của thiên tai, góp phần ổn định nguồn cung năng lượng cho sản xuất. Bên cạnh đó, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền các cấp và cộng đồng doanh nghiệp cùng với hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Hà Tĩnh đang từng bước khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng Hai chỉ số sản xuất ngành công nghiệp giảm 3,41% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành khai khoáng giảm 26,71% so với tháng trước và tăng 2,24% so với cùng kỳ. Ngành chế biến chế tạo giảm 6,43% so với tháng trước và tăng 9,88% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,19% so với tháng trước do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất cải thiện và tăng 16,99% so với cùng kỳ. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước giảm 3,81% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,12%. Tháng 02 trùng với ngày lễ tết kéo dài, vì vậy hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp giảm mạnh so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 15,52% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 8,71%, nhu cầu sử dụng khoáng sản làm vật liệu đầu vào cho các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh từ nửa cuối năm 2025 giảm dần qua các tháng, nhất là sau khi một số dự án lớn đã hoàn thành. Cùng với đó, một số mỏ đã hết trữ lượng hoặc hết hạn giấy phép khai thác, đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục gia hạn, cấp phép lại cũng làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, góp phần làm chỉ số sản xuất ngành giảm trong các tháng cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,44%, công ty Formosa ký kết được các đơn hàng có quy mô lớn vào thời điểm cuối năm, qua đó thúc đẩy nhu cầu sản xuất và tiêu thụ thép. Ngoài ra, việc hạ tầng cảng biển và logistics trong khu kinh tế đáp ứng tốt quá trình nhập nguyên liệu và xuất hàng; nguồn điện cung ứng ổn định bảo đảm chu trình luyện kim liên tục; cùng với nhu cầu thép trong nước phục hồi ở một số phân khúc xây dựng và cơ khí chế tạo đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi để ngành sản xuất kim loại trên địa bàn duy trì mức tăng trưởng khá trong những tháng đầu năm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 23,74%, cuối tháng 01/2026, ngành này ghi nhận sự đóng góp trở lại của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II sau thời gian tạm ngừng sản xuất khắc phục thiên tai từ tháng 10/2025, bên cạnh đó các nhà máy sản xuất điện trên địa bàn duy trì vận hành ổn định, bảo đảm sản lượng phát điện theo kế hoạch. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,09%. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 12 nhóm sản phẩm trong 2 tháng đầu năm 2026 tăng so cùng kỳ năm trước, chiếm 60% tổng số nhóm sản phẩm được theo dõi. Chỉ tiêu này phản ánh tín hiệu cải thiện của khu vực sản xuất, cho thấy năng lực duy trì hoạt động và ổn định sản lượng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn biến động. Đồng thời, sự gia tăng ở phần lớn nhóm sản phẩm chủ lực cho thấy cơ cấu công nghiệp của tỉnh đang vận hành theo hướng cân đối hơn, góp phần củng cố nền tảng tăng trưởng và nâng cao tính ổn định của ngành trong giai đoạn đầu năm. Một số sản phẩm công nghiệp 2 tháng đầu năm tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước như: Ắc quy bằng ion lithi tăng 234%; thức ăn gia súc tăng 84,15%; bia đóng lon tăng 38,56%; điện sản xuất tăng 24,21%; sợi tăng 11,07%;... Bên cạnh đó cũng có các sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Đá xây dựng khác giảm 28,27%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 14,02%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 12,5%;.... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2026 tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 45,46% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 2 tháng đầu năm 2026 tăng 44,06% so với cùng kỳ năm 2025. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Trong 2 tháng đầu năm, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 16,44% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 54,65% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,86%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,81% so với cùng kỳ năm 2025. 3. Đầu tư và xây dựng Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2026 là 7.028,49 tỷ đồng, giảm 35,35% so với năm 2025. Trong đó: Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách cấp tỉnh được giao 5.678,13 tỷ đồng, giảm 45,29% so với năm trước; kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 1.350,36 tỷ đồng, tăng 173,79%, nguồn vốn cân đối ngân sách cấp xã chủ yếu là vốn thu từ quỹ sử dụng đất. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Hai ước đạt 285,34 tỷ đồng[1], giảm 29,43% so với tháng trước và tăng 4,14% so với cùng kỳ năm trước. Dịp Tết Nguyên đán năm nay rơi vào nửa cuối tháng 02, thời gian nghỉ kéo dài dẫn tới thời gian thi công tại các công trình đạt thấp. Việc triển khai khởi công các công trình mới vẫn đang gặp nhiều khó khăn do quy trình thủ tục đầu tư cần nhiều thời gian. Một số công trình mới chuẩn bị thực hiện giải phóng mặt bằng nên dự kiến thời gian tới vẫn có nhiều công trình chậm thực hiện đầu tư. Giá trị thực hiện vốn đầu tư chủ yếu là các công trình chuyển tiếp của năm 2025 chuyển sang. Một số công trình có khối lượng thực hiện lớn trong tháng tiêu biểu như: Dự án đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt 16 tỷ đồng; tiểu dự án đô thị Kỳ Anh (vốn vay WB) ước đạt 31,1 tỷ đồng; dự án đường từ Quốc lộ 12C đi Khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh ước đạt 7,7 tỷ đồng; dự án Bệnh viện đa khoa huyện Cẩm Xuyên ước đạt 15 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 689,69 tỷ đồng, đạt 9,81% kế hoạch vốn, tăng 33,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 559,5 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 130,19 tỷ đồng, tăng 271,51% so với cùng kỳ năm trước. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng Hai là tháng trong và sau Tết Nguyên đán, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động với tháng trước, với nhiều loại mặt hàng chủng loại phong phú, mẫu mã đa dạng, đặc biệt tập trung vào nhóm hàng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, đồ uống, may mặc. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Hai ước đạt 5.433,23 tỷ đồng, tăng 8,24% so với tháng trước và tăng 23,42% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường hàng hóa trong tháng diễn ra sôi động với tháng trước, với nhiều loại mặt hàng chủng loại phong phú, mẫu mã đa dạng, đặc biệt tập trung vào nhóm hàng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, đồ uống, may mặc. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.453,05 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng hóa thì tất cả các nhóm hàng đều tăng trưởng dương[2]. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 2 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng khá, nhu cầu mua sắm của người dân tăng mạnh, tập trung vào các nhóm hàng thiết yếu, sức mua tăng phản ánh thu nhập của người dân được cải thiện qua đó tạo động lực cho tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng cao. Mặc dù nhu cầu tăng cao, giá cả các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định, chỉ tăng nhẹ cục bộ do áp lực chi phí và sức cầu, song vẫn trong tầm kiểm soát; không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng hay tăng giá đột biến. Công tác quản lý thị trường, kiểm tra niêm yết giá và kiểm soát chất lượng hàng hóa được tăng cường, góp phần ổn định tâm lý tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi người dân và tạo nền tảng tích cực cho tăng trưởng kinh tế địa phương. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành doanh thu tháng Hai dự tính đạt 493,91 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước[3]. Hoạt động lưu trú và du lịch trong tháng tăng khá do nhu cầu tham quan, du lịch, vãn cảnh đầu xuân năm mới. Ngoài ra, nhu cầu liên hoan, gặp mặt và tổ chức tiệc đầu xuân của người dân tăng khiến doanh thu hoạt động ăn uống ước tăng khá so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm doanh thu nhóm ngành này ước đạt 974,38 tỷ đồng, tăng 11,58% so với cùng kỳ năm trước. Do có sự chỉ đạo, quan tâm kịp thời của cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bàn tỉnh tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, bổ sung dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ; tổ chức các sự kiện đón tiếp và phục vụ khách; đăng ký và bán đúng giá niêm yết; bảo đảm công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, không để xảy ra tệ nạn trong cơ sở kinh doanh dịch vụ mà các lễ hội, khu vui chơi được diễn ra vui vẻ, an toàn. Dịch vụ khác doanh thu tháng Hai ước đạt 805,22 tỷ đồng, giảm 4,17% so với tháng trước nhưng tăng đến 14,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, nhóm ngành dịch vụ khác, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng do nhu cầu làm đẹp, chăm sóc sức khỏe và chuẩn bị cho dịp Tết tăng mạnh. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 dự ước thực hiện đạt 1.645,48 tỷ đồng, tăng 13,78% so với cùng kỳ năm trước[4]. Nhìn chung, kết quả hoạt động dịch vụ khác tăng trưởng khá ổn định so với cùng kỳ, dịch vụ hoạt động bất động sản đã có nhiều tín hiệu khởi sắc sau thời gian có phần trầm lắng. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động kinh doanh vận tải tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao, đặc biệt vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng Hai ước đạt 764,29 tỷ đồng, tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 12,78% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách tăng do yếu tố thời vụ khi trùng với dịp Tết Nguyên đán nhu cầu đi lại của người dân gia tăng đột biến, đặc biệt là các luồng di chuyển ngoại thành về quê. Bên cạnh đó, hoạt động du xuân, thăm thân và tham gia lễ hội đầu năm cũng làm gia tăng đáng kể lượng khách nội tỉnh và liên tỉnh, nhất là trên các tuyến xe đường dài. Trong khi ở vận tải hàng hóa tiếp tục đạt thấp và giảm nhẹ so tháng trước, do trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán làm số ngày sản xuất và kinh doanh thực tế trong tháng bị rút ngắn. Nhiều doanh nghiệp đang tạm ngừng hoạt động nên nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa thành phẩm giảm. Cùng với đó, các hoạt động xuất nhập khẩu cũng chững lại trong thời gian nghỉ lễ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải ước đạt 1.523,78 tỷ đồng, tăng 10,35% so với cùng kỳ năm trước[5]. Nhìn chung, những tháng đầu năm 2026, tình hình vận tải diễn ra sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao. Vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác. Dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt, số lượng phương tiện vận chuyển ổn định, giá cước vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất khẩu trong tháng có dấu hiệu tích cực hơn khi giảm nhẹ so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước tăng ở mức khả quan. Tính chung, tổng trị giá xuất khẩu và nhập khẩu tháng Hai ước đạt 416 triệu USD giảm 1,91% so với tháng trước nhưng tăng đến 28,49% so với cùng kỳ. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu toàn tỉnh tháng Hai ước đạt 155,20 triệu USD, tăng 2,81% so với tháng trước và tăng 26,01% so với cùng cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 trị giá xuất khẩu toàn tỉnh ước đạt 306,16 triệu USD, tăng 26,01% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường xuất khẩu đang ghi nhận những tín hiệu tích cực từ các mặt hàng xuất khẩu như dăm gỗ, hàng dệt và may mặc, sợi dệt các loại và đặc biệt là mặt hàng thép, phôi thép. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu toàn tỉnh trong tháng Hai ước đạt 260,80 triệu USD, giảm 4,51% so với tháng trước nhưng tăng 30,01% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do việc nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ sản xuất của Formosa đã có sự phục hồi. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 trị giá nhập khẩu toàn tỉnh ước đạt 523,93 triệu USD, tăng 30,01% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu trong thời gian tới sẽ có sự phục hồi và duy trì ổn định. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán 2026 diễn ra sôi động, nguồn cung dồi dào, tập trung vào các mặt hàng thiết yếu đi kèm nhiều chương trình khuyến mãi được triển khai sớm, góp phần bảo đảm ổn định giá cả thị trường. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh tháng Hai tăng 0,95% so tháng trước, bình quân 2 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng Hai ghi nhận sự sôi động của thị trường hàng hóa phục vụ cho Tết Nguyên đán, giá cả các một số mặt hàng tăng cao, các hoạt động mua sắm tốt. Chỉ số CPI trong tháng tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 3,03% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các mặt hàng đều tăng giá so với tháng trước do nhu cầu tăng vào dịp Tết nguyên đán, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính chỉ 01 nhóm hàng hóa ổn định về giá còn đến 10 nhóm hàng hóa tăng giá[6]. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng chủ yếu do các nguyên nhân chính như: Thứ nhất, do tăng mạnh nhu cầu trong dịp Tết đặc biệt là giá các mặt hàng thiết yếu lương thực, thực phẩm, đồ uống, quần áo, điện, nước,… tuy nhiên bên cạnh đó giá các loại rau tươi, khô và chế biến đã giảm mạnh do thời tiết thuận lợi và vào mùa thu hoạch của một số loại rau, củ nên nguồn cung dồi dào. Thứ hai, do chi phí vận hành sản xuất và vận chuyển các loại hàng hoá tăng nên kéo theo việc tăng giá các loại sản phẩm. Thứ ba, thị trường giá vàng trong tháng bình quân tăng theo xu hướng của thị trường thế giới kéo theo giá các mặt hàng trang sức từ vàng cũng tăng. Bình quân 2 tháng đầu năm 2026 chỉ số giá CPI tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,55%, nông thôn tăng 2,35%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, giá vàng, đô la. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo CPI tháng tới sẽ giảm hơn do thời điểm sau Tết Nguyên đán, tuy nhiên diễn biến nhiều mặt hàng sẽ rất khó lường do chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 02 năm 2026, do trùng với dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên đời sống người dân trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi động và rộn ràng hơn. Các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị thực hiện chi trả lương, thưởng Tết kịp thời, tạo điều kiện để người lao động chuẩn bị đón xuân đầy đủ hơn. Bên cạnh đó, công tác đảm bảo an sinh xã hội được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói trong dịp tết; mọi người, mọi nhà đón Tết cổ truyền trong không khí vui vẻ, đầm ấm. Công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách, thăm hỏi, tặng quà các đối tượng, đảm bảo an sinh xã hội trong dịp Tết. Tổng số đối tượng là người có công với cách mạng và thân nhân người có công được tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ là 78.587 đối tượng, tổng kinh phí hơn 23,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đồng bào dân tộc Chứt sinh sống tại xã Phúc Trạch tiếp tục nhận được sự quan tâm kịp thời của Nhà nước và các tổ chức xã hội. Nhân dịp Tết Nguyên đán và thời kỳ giáp hạt, địa phương đã trao tổng cộng 264 suất quà với tổng trị giá 153,8 triệu đồng. Đồng thời, gần 10 tấn gạo từ nguồn hỗ trợ của tỉnh và các tổ chức xã hội cũng được cấp phát đầy đủ, đúng đối tượng góp phần giúp bà con dân tộc Chứt ổn định đời sống, yên tâm đón tết đầm ấm và vượt qua giai đoạn giáp hạt khó khăn. 2. Hoạt động y tế Tình hình y tế trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cơ bản ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân. Công tác phòng, chống dịch bệnh mùa Đông - Xuân được tăng cường; ngành y tế chú trọng giám sát các bệnh truyền nhiễm thường gặp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong các dịp lễ hội. Trong tháng Hai trên địa bàn ghi nhận 6 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, 36 ca tiêu chảy ngoài ra còn phát sinh một số ca bệnh đơn lẻ khác như quai bị, thuỷ đậu, tay chân miệng và 543 ca mắc cúm do là thời điểm mưa ẩm kéo dài dễ phát sinh các loại dịch bệnh, tuy nhiên nhờ sự chủ động phòng ngừa các ca bệnh đều được phát hiện và cứu chữa kịp thời không có người chết vì dịch bệnh. Về an toàn thực phẩm giai đoạn trước, trong và sau Tết không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, tuy nhiên trong tháng vẫn có 55 người bị ngộ độc đơn lẻ (tăng 5 người so với tháng trước, tính chung 2 tháng đầu năm 2026 đã có 105 ca ngộ độc đơn lẻ chỉ tăng 4 ca so với cùng kỳ năm trước. Về công tác phòng chống HIV/AIDS vẫn luôn được các cấp ngành tuyên truyền, số các ca mắc HIV/AIDS đang giảm thiểu rõ rệt, tuy nhiên trong tháng Hai trên địa bàn vẫn ghi nhận 01 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca bệnh nào chết vì AIDS. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hoá: Trong tháng Hai các hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi, đồng bộ và đúng định hướng. Các hoạt động chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2026 - 2031), chương trình văn nghệ lưu động phục vụ Nhân dân với chủ đề ca ngợi quê hương, đất nước, mừng Đảng, mừng Xuân, chào mừng Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; chương trình nghệ thuật biểu diễn tại Lễ hội chùa Hương Tích, mở đầu năm Du lịch 2026. Cùng với đó, nhiều chương trình văn nghệ, tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026 được tổ chức rộng rãi khắp các địa phương, tổ chức tốt tuần phim phục vụ nhân dân, tổ chức trưng bày sách, báo Xuân nhân dịp năm mới 2026. Ngoài ra, tổ chức thành công bắn pháo hoa đêm giao thừa tại các địa phương trên địa bàn tỉnh; tổ chức các giải thể thao như bóng đá, bóng chuyền, kéo co, các trò chơi dân gian phù hợp với phong tục, tập quán của quê hương nhân dịp đầu Xuân năm mới. Về thể dục thể thao: Trong tháng Hai phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, gắn với các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Các hoạt động thể thao này không chỉ giúp tăng cường rèn luyện sức khỏe mà còn góp phần gắn kết tình cảm cộng đồng, tạo không khí hân hoan những ngày đầu năm mới. 4. Tình hình an toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông cho Nhân dân vui đón Tết, lực lượng Cảnh sát giao thông thường trực 100% quân số trong các ngày cao điểm để phân luồng, điều tiết và tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông, đảm bảo giao thông thông suốt tại các đô thị, nơi tập trung mật độ giao thông cao, không để xảy ra ùn tắc kéo dài. Qua công tác tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông đã phát hiện, lập biên bản xử lý 432 trường hợp vi phạm giao thông, phạt tiền hơn 966 triệu đồng, tước giấy phép lái xe 6 trường hợp, trừ điểm 168 trường hợp, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông trên địa bàn. Tính riêng trong 9 ngày nghỉ Tết trên địa bàn tỉnh xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông, làm chết 5 người, bị thương 5 người. Tính từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026 xảy ra 27 vụ tai nạn đường bộ, làm 15 người chết, 24 người bị thương (giảm 14 vụ; giảm 08 người chết; giảm 07 người bị thương so với tháng trước); trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước), giá trị thiệt hại ước tính khoảng 489 triệu đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2025 đã xảy ra 68 vụ tại nạn giao thông đường bộ làm 38 người chết và 55 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 837 triệu đồng (tăng 6 vụ tai nạn nhưng giảm 07 người chết và giảm 23 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Không xảy ra vụ tại nạn giao thông đường sắt nào, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Bảo vệ môi trường Trong tháng Hai trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 58 vụ vi phạm môi trường, xử lý 49 vụ với tổng số tiền xử phạt 210,58 triệu đồng. So với tháng trước giảm 53 vụ phát hiện (giảm 47,75%), tăng 10 vụ đã xử lý (tăng 36,11%), giảm 142,57 triệu đồng. Nguyên nhân do tháng 2 trùng với thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh và hoạt động xây dựng tạm ngừng hoặc giảm quy mô hoạt động dẫn đến số hành vi vi phạm phát sinh ít hơn. Bên cạnh đó trong tháng này công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan chức năng được triển khai với tần suất ít hơn so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 169 số vụ vi phạm môi trường (tăng 27,07%), xử lý 85 vụ (giảm 28,57%) với số tiền xử phạt hơn 563 triệu đồng (tăng 12,97% so với cùng kỳ năm trước) 6. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn Từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026 đã xảy ra 07 vụ cháy, tăng 01 vụ so với tháng trước, không làm thiệt hại về người; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 1,2 tỷ đồng. Ngoài ra, trong tháng đã xảy ra 01 vụ nổ tại xã Cẩm Trung, nguyên nhân nghi do nổ bình gas, làm 1 người chết và 1 người bị thương. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 đã xảy ra 13 vụ cháy và 1 vụ nổ, làm 1 người chết và 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tài sản ước tính hơn 3 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 5 vụ cháy, tăng 1 vụ nổ, tăng 1 người chết và tăng 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tăng hơn 2,8 tỷ đồng. Về thiên tai: Trong tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn không xảy ra thiên tai. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.[1] Vốn NSNN cấp tỉnh ước đạt 232.738 triệu đồng, giảm 28,77% so với tháng trước và giảm 8,53% so với cùng kỳ năm trước; cấp xã ước đạt 52.605 triệu đồng, giảm 32,9% so với tháng trước và tăng 169,18% so với cùng kỳ năm trước[2] Nhóm hàng lương thực, thực phẩm (tăng 5,15%); hàng may mặc (tăng 24,40%); đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (tăng 25,29%); vật phẩm văn hóa giáo dục (tăng 33,31%); gỗ và vật liệu xây dựng (tăng 8,12%); ô tô con (tăng 74,67%); nhiên liệu khác (tăng 32,52%)[3] Doanh thu ăn uống ước đạt 463,28 tỷ đồng, tăng 2,47% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú dự tính đạt 25,81 tỷ đồng, tăng 17,31% và du lịch lữ hành đạt 4,82 tỷ đồng, tăng 10,17% so với cùng kỳ[4] Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 29,51%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 6,05%; giáo dục đào tạo tăng 14,02%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 3,92%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 9,4%; dịch vụ khác tăng 12,33%.[5] Vận tải hành khách ước đạt 313,19 tỷ đồng, tăng 7,56%; vận tải hàng hóa ước đạt 868,81 tỷ đồng, tăng 7,24%; vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 324,26 tỷ đồng, tăng 22,83%; vận tải bưu chính, chuyển phát ước đạt 17,51 tỷ đồng, tăng 12,27% so với cùng kỳ năm trước.[6] Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,55%); đồ uống và thuốc lá (+1,79%); may mặc, mũ nón, giày dép (+0,48%); nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+0,27%); thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,72%); giao thông (+1,46%); thuốc và dịch vụ y tế (+0,01%); thông tin và truyền thông (+0,11%); văn hoá, giải trí và du lịch (+0,7%); hàng hóa và dịch vụ khác (+2,14%); chỉ số giá vàng (+11,72%); chỉ số giá đô la Mỹ (-1,01%).

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 01 năm 2026
  •   05/02/2026 08:20

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Điểm mới của vụ xuân năm nay khi tỉnh chú trọng mở rộng diện tích áp dụng công nghệ tưới ngập - khô xen kẽ (AWD là kỹ thuật canh tác lúa thông minh, tiết kiệm nước bằng cách không giữ nước ngập liên tục mà để mặt ruộng khô tự nhiên trong vài ngày rồi mới tưới lại) trong canh tác thích ứng biến đổi khí hậu lên trên 4.000 ha. Thí điểm sản xuất giảm phát thải, bằng việc áp dụng cơ giới hóa sạ cụm, sạ hàng hoặc máy cấy, kết hợp tưới ngập - khô xen kẽ, bón phân hữu cơ vi sinh, xử lý gốc rạ bằng chế phẩm sinh học, sử dụng máy cuốn rơm. Sản xuất vụ Xuân năm 2026: Tính đến ngày 20/01/2026, tiến độ gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 47.393/59.089 ha, đạt 80,21% kế hoạch, trong đó diện tích gieo thẳng là 46.882 ha, diện tích cấy 511 ha. Hiện nay, diện tích lúa được liên kết sản xuất theo hướng hữu cơ, bao tiêu sản phẩm, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Các giống lúa dài ngày đang dần được thay thế bằng các bộ giống ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng ổn định và có khả năng chịu rét, kháng sâu bệnh tốt như: ST25, VNR20, Hạt Vàng 36, ADI168, Bắc Thịnh, Nếp 98, Nếp 87... Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa xuất hiện nạn chuột, ốc bươu vàng,...các cây trồng cạn bị sâu ăn lá, bọ nhảy, bệnh giả sương mai, lở cổ rễ, sâu keo mùa thu...nhưng nhìn chung, tình hình dịch bệnh gây hại trên diện tích nhỏ, được người dân chủ động phòng trừ và kiểm soát không ảnh hưởng lớn đến các cây trồng nông nghiệp. b. Chăn nuôi Thời điểm này, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn cao điểm, bà con đang tập trung chăm sóc, phòng chống dịch bệnh nhằm đảm bảo nguồn cung thực phẩm cho thị trường cận kề tết Nguyên đán. Trong bối cảnh giá thức ăn chăn nuôi từng bước ổn định, nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng mạnh vào dịp Tết, nhiều hộ dân kỳ vọng sản phẩm tạo ra sẽ tiêu thụ thuận lợi, mang lại thu nhập khá. Kết quả chăn nuôi: Đàn trâu hiện có 45.919 con, bằng 69,76%; đàn bò hiện có 127.013 con, bằng 78,43% so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn hiện có 352.013 con, bằng 101,41% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm hiện có 10.688 nghìn con, bằng 102,02% so với cùng kỳ năm trước; trong đó đàn gà hiện có 8.746 ngàn con, bằng 102,17% so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm vì trong năm chi phí chăn nuôi tăng trong khi giá bán chưa được như mong đợi; trong khi đó đàn lợn và gia cầm tăng nhẹ do nhu cầu phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Hiện nay, ngành chuyên môn tỉnh đang tăng cường công tác kiểm soát hoạt động giết mổ, vận chuyển và tiêu thụ động vật nhằm bảo đảm an toàn dịch bệnh trên đàn vật nuôi và an toàn thực phẩm trước, trong và sau Tết Nguyên đán. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, yêu cầu các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi, kinh doanh, giết mổ nâng cao ý thức, trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy trình vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng tình hình dịch bệnh vẫn diễn ra khá phức tạp, tính từ ngày 20/12/2025 đến ngày 18/01/2026 dịch tả lợn Châu Phi đã làm 314 con lợn chết, tiêu hủy với trọng lượng 21.338 kg tại 53 hộ thuộc 13 xã, phường, đến nay 19 xã, phường tình hình dịch chưa qua 21 ngày. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Công tác trồng rừng, khai thác và bảo vệ rừng tiếp tục được sự quan tâm của các cấp, các ngành nhằm phát triển rừng trồng gắn với khai thác hiệu quả rừng nguyên liệu để ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân. Trồng rừng: Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước đạt 497 ha, bằng 102,73% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả tăng chủ yếu do trong năm qua diện tích rừng đến kỳ khai thác lớn, sau khi thu hoạch người dân chủ động trồng lại trên diện tích đã khai thác nhằm bảo đảm chu kỳ sản xuất lâm nghiệp. Khai thác gỗ và lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 01/2026 ước đạt 60.309 m³, bằng 279,14% (tăng 38.704 m³) so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng tăng mạnh so với cùng kỳ do nhiều diện tích rừng trồng bước vào chu kỳ khai thác. Công tác bảo vệ rừng: Trong tháng 01/2026 đã xảy ra 2 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 0,23 ha bằng 77,94% (giảm 3,27 ha) so với cùng kỳ năm trước, các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời. 1.3. Hoạt động thủy sản Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 5.307 tấn, tăng 5,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cả hoạt động khai thác và nuôi trồng đều có mức sản lượng tăng. Về khai thác thuỷ sản: Sản lượng thủy sản ước đạt 4.346 tấn, bằng 105,77% so với cùng kỳ năm trước. Riêng khai thác biển ước đạt 3.977 tấn, tăng 6,42%, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng khai thác. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng thời tiết tương đối thuận lợi, số ngày biển động ít, tạo điều kiện cho tàu thuyền tăng số ngày vươn khơi, đặc biệt là nhóm tàu công suất lớn. Sản lượng cá, tôm và thủy sản khác khai thác biển đều tăng so với cùng kỳ. Ngược lại, khai thác nội địa đạt 369 tấn, bằng 99,19%, giảm nhẹ do nguồn lợi thủy sản tự nhiên có xu hướng suy giảm và thời điểm đầu năm không phải mùa cao điểm khai thác. Về nuôi trồng thuỷ sản. Trong lĩnh vực nuôi trồng, sản lượng thủy sản đạt 961 tấn, tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích nuôi tôm sú ổn định, trong khi diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tăng 3,13%, góp phần nâng sản lượng chung. Sản lượng nuôi cá đạt 623 tấn, tăng 2,13%; nuôi tôm đạt 120 tấn, tăng 3,45%; nuôi thủy sản khác đạt 218 tấn, tăng 5,83%. Bên cạnh áp dụng mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao thì việc đa dạng hóa các đối tượng nuôi trồng cũng được nhiều địa phương tuyên truyền, hướng dẫn bà con nông dân triển khai thực hiện. Người dân đã dần thay đổi phương thức sản xuất để thích ứng với biến đổi khí hậu. Về tình hình dịch bệnh. Trong tháng không có dịch bệnh xảy ra trong nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Bước sang năm mới 2026, ngành công nghiệp tỉnh tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các dự án công nghiệp quy mô lớn như nhà máy sản xuất ô tô, nhà máy sản xuất Pack Pin, Cell Pin… không chỉ tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn ảnh hưởng tích cực đến các lĩnh vực dịch vụ, logistics và các ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 01/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 11,26% so với tháng trước và tăng 15,74% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 2,21% so với tháng trước và giảm 33,68% so với cùng kỳ. Ngành chế biến chế tạo giảm 14,33% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 16,33% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,6% so với tháng trước do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất cải thiện và tăng 20,61% so với cùng kỳ. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước tăng 5,13% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,15%. Ngành sản xuất kim loại giảm mạnh so với tháng trước (giảm 18,56%) là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chỉ số sản xuất tháng 01/2026 giảm mạnh so với tháng trước. So với cùng kỳ, nhờ công suất sản xuất được mở rộng, nhu cầu xuất khẩu phục hồi và sự khởi sắc rõ rệt của các ngành kim loại, điện tử, dệt may và thực phẩm và sự hồi phục của sản xuất dăm gỗ đã góp phần quan trọng vào mức tăng chung của chỉ số sản xuất tháng 01/2026.  2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Tháng 01/2026, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục ghi nhận xu hướng phục hồi rõ rệt và duy trì mức tăng trưởng tích cực. Kết quả theo dõi 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu cho thấy có 15 nhóm tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ắc quy bằng ion lithi tăng 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 48,41%; bia đóng lon tăng 24,37%; Sợi tăng 22,47%;... Diễn biến này phản ánh nỗ lực duy trì sản xuất, mở rộng quy mô và thích ứng linh hoạt của các doanh nghiệp trước những biến động của thị trường. Đồng thời, cơ cấu sản xuất công nghiệp của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng ổn định và bền vững hơn. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp 01 tháng năm 2026 giảm so với năm trước: Đá xây dựng khác giảm 36,65%; dịch vụ sản xuất dược phẩm giảm 12,06%, thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 1,76%; than cốc giảm 0,47%... 2.3 Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 01/2026 tăng 12,63% so với tháng trước và tăng 46,65% so với cùng kỳ năm trước. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Tính riêng, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 17,57% so với năm trước do một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động, là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Chỉ số lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 56,63% so với cùng kỳ năm trước do hiện nay một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đã đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,05%, trong khi ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2025. 3. Đầu tư và xây dựng Bước sang năm 2026, tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục thể hiện tinh thần chủ động, quyết liệt và hiệu quả trong công tác triển khai thực hiện vốn đầu tư công, với tiến độ giải ngân bước đầu đạt kết quả khả quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư công năm. Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2026 là 7.028,49 tỷ đồng, giảm 35,35% so với năm 2025. Trong đó: Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách cấp tỉnh được giao 5.678,13 tỷ đồng, giảm 45,29% so với năm trước; kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 1.350,36 tỷ đồng, tăng 173,79%, nguồn vốn cân đối ngân sách cấp xã chủ yếu là vốn thu từ quỹ sử dụng đất. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2026 đạt 397,09 tỷ đồng, bằng 29,06% so với tháng trước và bằng 133,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 317,6 tỷ đồng, bằng 23,72% so với tháng trước và bằng 139,31% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 79,49 tỷ đồng, bằng 293,02% so với tháng trước và bằng 512,81% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 01/2026 là tháng đầu năm, thời điểm cuối tháng tiến dần dịp Tết Nguyên đán, nguồn vốn chưa được giao nhiều theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỹ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2025, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2026 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng nên giá trị vốn đầu tư dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước. Bên cạnh đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách cấp xã trong tháng có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, do mức độ tự chủ của cấp xã được nâng cao sau khi sau khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, nên việc một số nhiệm vụ chi đầu tư được phân cấp, giao trực tiếp cho cấp xã quản lý và triển khai. Nhìn chung, hoạt động đầu tư công tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng góp phần ổn định kinh tế địa phương, đồng thời thúc đẩy thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội năm 2026 theo định hướng đã đề ra. Cùng với đó, việc tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng trọng điểm, dự án chuyển tiếp và các công trình phục vụ phát triển sản xuất, đời sống dân sinh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, mà còn tạo sức lan tỏa, dẫn dắt và kích hoạt các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh, củng cố nền tảng phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong những tháng cận Tết Nguyên đán năm 2026, thị trường tiêu dùng trên địa bàn tỉnh nhìn chung diễn biến sôi động và ổn định, nhu cầu mua sắm của Nhân dân tăng dần, tập trung vào các nhóm hàng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, đồ uống, hàng may mặc, quà biếu và các mặt hàng phục vụ Tết Nguyên đán. Thị trường hàng hóa nhìn chung ổn định, nguồn cung được đảm bảo, các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh tích cực mở rộng hoạt động bán lẻ, quảng bá sản phẩm và triển khai nhiều chương trình kích cầu. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01/2026 ước đạt 5.129,63 tỷ đồng, tăng 5,16% so với tháng trước và tăng 10,51% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng chủ yếu biến động tăng so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ chứng tỏ sức mua vẫn tăng mạnh mẽ và niềm tin vào nền kinh tế vẫn duy trì. Các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng doanh thu cao vẫn đạt mức tăng trưởng khá như nhóm lương thực, thực phẩm tăng 4,61% so với cùng kỳ, nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 15,33% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc tăng 23,22% so với cùng kỳ, đá quý, kim loại quý cũng tăng 26,56% so với cùng kỳ. Việc thị trường hàng hóa ngày càng đa dạng, hệ thống phân phối được mở rộng và hiện đại hóa, từ chợ truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại đến các kênh thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn và nâng cao tính cạnh tranh của thị trường. Một số nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng ghi nhận mức tăng khá, góp phần giữ ổn định thị trường tiêu dùng trong bối cảnh giá cả thế giới có nhiều biến động. Đặc biệt, chuyển đổi số thông qua thương mại điện tử, livestream bán hàng, thanh toán không tiền mặt và khai thác dữ liệu tiêu dùng là yếu tố then chốt giúp tăng cường kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, mở rộng thị trường và cải thiện hiệu quả kinh doanh. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2026 ước đạt 509,79 tỷ đồng, tăng 5,33% so với tháng trước và tăng 11,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng doanh thu hoạt động lưu trú, lữ hành dự ước tăng nhẹ so với tháng trước do lượng khách giữ ở mức ổn định. Hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống ghi nhận sự tăng trưởng rõ rệt so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 482,24 tỷ đồng, tăng 5,71% so với tháng trước, tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú ước đạt 23,42 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước, tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành chỉ đạt 4,12 tỷ đồng, giảm 8,53% so với tháng trước và tăng 6,35% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ khác doanh thu tháng 01/2026 ước đạt 867,38 tỷ đồng, tăng 2,28% so với tháng trước và tăng 16,49% so với cùng kỳ năm trước. Tháng này là thời điểm gần với Tết Nguyên đán nên nhu cầu dọn vệ sinh nhà cửa cũng tăng cao. Bên cạnh đó, thời điểm cuối năm cũng khiến thời vụ và nhu cầu sử dụng lao động các dịch vụ hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp tăng lên, góp phần thúc đẩy doanh thu toàn ngành. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng đầu năm 2026, tình hình vận tải ở Hà Tĩnh sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát nhờ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong dịp gần Tết Nguyên đán tăng cao, đặc biệt vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 01/2026 doanh thu ước đạt 748,38 tỷ đồng, tăng 8,07% so tháng trước và tăng 12,24% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 147,25 tỷ đồng, tăng 4,50% so tháng trước và tăng 0,64% so cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 429,75 tỷ đồng, tăng 11,23% so tháng trước và tăng 13,33% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 171,08 tỷ đồng, tăng 3,70% so tháng trước và tăng 21,35% so cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính chuyển phát ước đạt 0,29 tỷ đồng, tăng 4,88% so với tháng trước và tăng 7,91% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất nhập khẩu trong tháng có khởi sắc so với tháng trước do nhu cầu hàng ngoại cho dịp Tết Nguyên đán. Tổng trị giá xuất, nhập khẩu tính chung tháng 01/2026 ước đạt 399,1 triệu USD tăng 11,54% so với tháng trước và tăng 4,41% so với cùng kỳ. Trị giá xuất khẩu tháng 01/2026 ước đạt 128,6 triệu USD, tăng 12,28% so với tháng trước và so với cùng kỳ tăng 12,04%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi của thị trường quốc tế và các doanh nghiệp đẩy mạnh giao hàng vào những tháng cuối năm. Trị giá nhập khẩu tháng 01/2026 ước đạt 270,5 triệu USD, tăng 11,20% so với tháng trước và tăng 1,13% so với cùng kỳ. Trong đó, trị giá nhập khẩu của Formosa ước đạt 210,8 triệu USD, chiếm 77,93% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, tăng 21,48% so với tháng trước nhưng giảm 9,98% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2026, Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2025. Đây là con số thách thức nhưng có cơ sở khi nhiều ngành hàng chủ lực đã khởi động năm mới với những tín hiệu khả quan. Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngay từ đầu năm, tỉnh nhà đã tăng cường chỉ đạo các sở, ngành, địa phương bám sát động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tham mưu kịp thời các giải pháp gỡ khó cho hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động. Cùng đó, đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp, theo dõi sát tình hình sản xuất công nghiệp; chủ động dự báo thị trường. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận sự sôi động của thị trường hàng hóa phục vụ cho tết nguyên đán. Giá cả các một số mặt hàng tăng cao, người tiêu dùng duy trì hoạt động mua sắm tốt. Chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh trong tháng tăng 1,3% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,15%. CPI tháng 01/2026 tăng 1,3% so với tháng trước, cụ thể trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 08 nhóm hàng hóa tăng giá, có 01 nhóm hàng hóa giảm và có 02 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm. Biến động so với tháng trước mạnh nhất ở các nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt (tăng 6,46%) và nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép (tăng 3,18%) do nhu cầu mua sắm tăng cao vào thời điểm giao mùa và giáp Tết Nguyên đán, các mặt hàng cụ thể có biến động lớn trong 2 nhóm ngành này có thể kể đến như vải các loại tăng 6,94%, giày dép tăng 6,68%, nhà ở thuê tăng 13,02% và sự điều chỉnh giá gas tăng 5,62%. Nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống là nhóm thiết yếu, đóng góp nhiều mặt hàng cũng biến động tăng nhẹ 0,5%. Trong đó, lương thực tăng 0,7% và thực phẩm tăng 0,47%. Nguyên nhân do giáp Tết cổ truyền nên nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá. Bên cạnh đó, do dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tới nguồn cung và việc nhu cầu tăng cao đẩy giá thịt lợn hơi tăng đến 6,71%, các loại thịt hơi khác cũng biến động tăng nhưng bù lại giá các loại rau giảm mạnh (giảm 16,19%) do thời tiết thuận lợi hơn, nhiều loại rau củ quả vào mùa thu hoạch nên nguồn cung dồi dào đã tác động làm giảm giá. Bên cạnh các nhóm hàng đều có biến động tăng do yếu tố mùa vụ thì duy nhất nhóm hàng giao thông vẫn giảm giá so với tháng trước (giảm 1,61%). Do giá nhiên liệu điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới, như xăng giảm 5,53%, dầu diezel giảm 3,41%. Thị trường vàng vẫn đang diễn biến khá phức tạp, giá cả đang ở mức cao và vẫn tiếp tục tăng lên, giá vàng bình quân tháng trong tháng ở mức 15.140 nghìn đồng/chỉ 9999. Trong khi đó, giá đô la Mỹ lại giảm xuống, giá USD bình quân trên thị trường dao động ở mức 26.603 VNĐ/USD. Dự kiến CPI tháng 02/2026 sẽ tiếp tục tăng mạnh, do là tháng trùng Tết Nguyên Đán nên nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều tăng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 01 năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh nhìn chung khá ổn định. Thời điểm này người dân đang tập trung chăm sóc cây trồng vụ Đông Xuân, hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động do nhu cầu tiêu dùng và chuẩn bị Tết Nguyên đán, góp phần tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận người lao động. Công tác kiểm tra, kiểm soát về chất lượng mẫu mã, giá cả các mặt hàng đã được các cơ quan liên quan vào cuộc đồng bộ, hiệu quả. Công tác an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục được quan tâm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được cải thiện. Trong tháng, tỉnh cũng đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động cụ thể nhằm bảo đảm cho mọi đối tượng có điều kiện đón tết đầm ấm, vui tươi và an toàn. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong toàn tỉnh tổ chức quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 418/NQ-CP về việc tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và đối tượng yếu thế khác. Theo kết quả rà soát, toàn tỉnh có 131.648 người có công với cách mạng và đối tượng bảo trợ xã hội được tặng quà đợt này (theo Nghị quyết số 418/NQ-CP). Trong đó, có 48.636 người có công và 83.012 đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội. Mức quà tặng bằng tiền mặt 400.000 đồng/người; trường hợp một người được xác nhận là 2 đối tượng trở lên đủ điều kiện được hưởng cả 2 mức quà thì chỉ nhận 1 suất quà. Ban Vận động quỹ “Vì người nghèo” tỉnh vừa ban hành quyết định về việc phân bổ quà dịp Tết Bính Ngọ 2026 cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. Theo đó, trích Quỹ “Vì người nghèo” số tiền hơn 3,5 tỷ đồng để trao 7.089 suất quà tết cho các đối tượng nêu trên, mỗi suất trị giá 500 nghìn đồng. Ngoài ra trong tháng này quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn Vingroup) phối hợp Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hà Tĩnh trao 6.950 suất quà tết với tổng số tiền là 4,17 tỷ đồng cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hộ bị ảnh hưởng nặng của thiên tai trong năm 2025. Mỗi suất quà trị giá 600 nghìn đồng, gồm 500 nghìn đồng tiền mặt và phần quà hiện vật trị giá 100 nghìn đồng. 2. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận 4 ca mắc sốt xuất huyết, 01 ca mắc tay chân miệng, còn các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp được theo dõi sát không ghi nhận ổ dịch lớn. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, có 50 người bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc thực phẩm. Cũng trong tháng này, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 01 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca chuyển sang AIDS và chết vì AIDS. Từ ngày 01/01/2026, nhiều chính sách y tế mới có hiệu lực, như mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế cho người dân, cải thiện chế độ đãi ngộ cho nhân viên y tế. Trong đó, mức đóng bảo hiểm y tế của học sinh, sinh viên điều chỉnh theo Nghị định số 188 của Chính phủ. Học sinh và sinh viên thuộc nhóm tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, mức đóng hàng tháng của nhóm này là 4,5% mức tham chiếu (tương đương lương cơ sở). Tuy nhiên, gánh nặng tài chính được giảm nhẹ đáng kể khi Ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng. 3. Giáo dục Kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia THPT năm học 2025 - 2026, Hà Tĩnh giành được 85 giải/103 thí sinh dự thi. Cụ thể có 6 giải nhất, 22 giải nhì, 36 giải ba và 21 giải khuyến khích. Ngoài ra trong tháng diễn ra kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 năm học 2025-2026 với sự tham gia của 1.888 học sinh đến từ các địa phương trong toàn tỉnh. Kỳ thi cho kết quả với 117 giải nhất, 310 giải nhì, 429 giải ba và 433 giải khuyến khích. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao Trong tháng 01/2026, các hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, đúng định hướng, bám sát nhiệm vụ chính trị và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân được thực hiện hiệu quả, tạo không khí phấn khởi, lành mạnh trong cộng đồng dân cư. Đặc biệt, chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” năm 2026 được tổ chức tại các địa bàn biên giới đã góp phần chăm lo Tết cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; qua đó tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân và lan tỏa các giá trị nhân văn sâu sắc. Về thể dục thể thao: Trong tháng 01/2026, Giải Bán Marathon Quốc tế Việt Nam 2026 được tổ chức với sự tham gia của nhiều vận động viên trong và ngoài nước. Tham dự giải, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã giành được 2 huy chương bạc ở các nội dung 21 km nam và 21 km nữ. Ngoài ra phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thường xuyên, gắn với việc tổ chức các giải thể thao phong trào trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao cấp cơ sở xã, phường lần thứ X năm 2026. Bên cạnh đó một số địa phương, đơn vị tổ chức các giải thể thao chào mừng năm mới nhằm tạo không khí vui tươi, nâng cao sức khỏe nhân dân. Công tác quản lý hoạt động thể dục thể thao được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm an toàn, hiệu quả. 5. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng trên địa bàn đã xảy ra 41 vụ tai nạn đường bộ, làm 23 người chết, 31 người bị thương (tăng 8 vụ; tăng 7 người chết; tăng 12 người bị thương so với tháng trước); trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (như tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 348 triệu đồng. Trước thực trạng các vụ tai nạn có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng, các lực lượng chức năng cần tăng cường tuần tra, kiểm soát trong dịp Tết Nguyên đán, tập trung xử lý nghiêm các vi phạm về nồng độ cồn, tốc độ để đảm bảo an toàn cho nhân dân vui xuân, đón Tết cổ truyền. 6. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, tính từ ngày 15/12/2025 - 14/01/2026 đã xảy ra 06 vụ cháy, tăng 01 vụ so với tháng trước, không làm thiệt hại về người; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.820,65 triệu đồng. Trong tháng không xảy ra vụ nổ nào. Vi phạm môi trường: Trong tháng 01/2026, toàn tỉnh phát hiện 111 vụ vi phạm môi trường, tăng 91 vụ (tăng 455,00%) so với tháng trước; tăng 27 vụ (tăng 32,14%) so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng là 36 vụ, tăng 16 vụ (tăng 80%) so với tháng trước và giảm 15 vụ (giảm 29,41%) so với cùng kỳ năm trước. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong tháng là 353,15 triệu đồng, tăng 320,75 triệu đồng (tăng 989,97%) so với tháng trước và giảm 48,25 triệu đồng (giảm 12,02%) so với tháng cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng tăng mạnh là do thời điểm cận kề Tết Nguyên đán, nhu cầu sản xuất, kinh doanh, giết mổ, vận chuyển và tiêu thụ hàng hóa diễn ra sôi động, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Trước tình hình đó các lực lượng chức năng đã chủ động tăng cường kiểm tra, kiểm soát và tổ chức các đợt kiểm tra cao điểm. Bên cạnh đó một bộ phận tổ chức, cá nhân chưa chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường dẫn đến số vụ vi phạm trong tháng tăng mạnh. 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai, so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước không thay đổi. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2025 - Tỉnh Hà Tĩnh
  •   07/01/2026 10:00

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá, về đích, năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, tổ chức đại hội đảng các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Bối cảnh tình hình thế giới, trong nước tiếp tục chuyển biến nhanh, khó lường, thời cơ và thách thức đan xen, trong tỉnh thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 vẫn đạt được những kết quả tích cực, kinh tế duy trì đà tăng trưởng khá; bộ máy chính quyền hai cấp vận hành ổn định, hiệu lực và hiệu quả được nâng cao. Các dự án công nghiệp trọng điểm được đảm bảo tiến độ, trong khi lĩnh vực du lịch - dịch vụ khởi sắc với nhiều hoạt động quảng bá và giải trí sôi nổi. Công tác giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược cũng được đẩy mạnh; sự phục hồi mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sức tiêu dùng nội địa. Các lĩnh vực quan trọng khác như du lịch, logistics và bất động sản cũng cho thấy dấu hiệu phục hồi rõ nét. Thành quả này phản ánh hiệu quả bước đầu từ chiến lược tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng mà tỉnh đã triển khai. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 ước tăng 8,78% so với năm trước, xếp thứ 10 toàn quốc và thứ 01/5 khu vực Bắc Trung Bộ. Trong mức tăng trưởng chung toàn tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước giảm 1,29%, đóng góp 13,38%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước tăng 12,73%, đóng góp 40,41%; khu vực dịch vụ ước tăng 8,02% đóng góp 37,37% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 6,49%, đóng góp 8,84% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Ngành nông nghiệp ước giảm 3,32%, làm giảm 0,33 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp ước tăng 10,23% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,11 điểm phần trăm; ngành thủy sản ước tăng 3,08%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong năm 2025, ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản phải đối mặt với những thách thức nghiệm trọng từ thời tiết bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất các loại cây trồng chủ lực. Về chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp khiến người chăn nuôi e ngại, dẫn đến việc thu hẹp đàn và giảm nguồn cung thịt lợn, cùng với đó, tâm lý lo ngại dịch bệnh từ phía người tiêu dùng cũng làm giảm sức tiêu thụ. Khu vực công nghiệp, xây dựng: Trong năm 2025, ngành công nghiệp tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng. Nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng tiến độ, cơ bản hoàn thành các mục tiêu và kế hoạch đề ra trong năm. Cùng với đó, Nhà máy sản xuất Cell Pin, Pack Pin nhanh chóng vận hành ổn định, sản lượng sản xuất đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Hai dự án công nghiệp quy mô lớn này không chỉ tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn lan tỏa tích cực đến các lĩnh vực dịch vụ, logistics và các ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất công nghiệp trong năm cũng chịu tác động từ một số yếu tố khách quan. Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã hòa lưới điện thương mại tổ máy số 1 từ tháng 7/2025 và triển khai chạy thử tổ máy số 2. Tuy nhiên, từ tháng 10/2025, nhà máy phải tạm ngừng sản xuất để khắc phục sự cố, ảnh hưởng nhất định đến kết quả sản xuất công nghiệp của tỉnh trong những tháng cuối năm. Ngành công nghiệp ước tăng 15,22%, đóng góp 5,13 điểm phần trăm. Trong đó, ngành khai khoáng ước tăng 1,64%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,79%, đóng góp 3,84 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 14,89%, đóng góp 1,25 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,82%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành xây dựng tăng 4,60%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm vào mức tăng chung tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh. Ngành xây dựng duy trì mức tăng trưởng khá khi các công trình dự án đều được triển khai đẩy nhanh tiến độ và một số dự án quy mô lớn được khởi công trong năm, góp phần không nhỏ vào mức tăng chung của toàn ngành. Khu vực dịch vụ: Dịch vụ, du lịch tăng trưởng khá. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch diễn ra sôi nổi, hạ tầng du lịch có nhiều cải thiện, chất lượng dịch vụ ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 8,85% so với năm trước, đóng góp 0,58 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành vận tải kho bãi tăng 11,94%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,15%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,21%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm;... Quy mô kinh tế và cơ cấu kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành ước đạt 120.811 tỷ đồng. Về cơ cấu kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 13,38%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,41% (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 30,74%; ngành xây dựng chiếm 9,67%); khu vực Dịch vụ chiếm 37,37%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,84%... 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Năm 2025, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chịu tác động lớn từ diễn biến thời tiết khắc nghiệt và tình hình dịch bệnh phức tạp, trong trồng trọt, các vụ Đông Xuân và Hè Thu gặp nhiều bất lợi làm giảm năng suất nhiều loại cây trồng chủ lực; ở lĩnh vực chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi vẫn tiềm ẩn rủi ro và phát sinh tại một số địa phương, cùng với chi phí thức ăn và phòng, chống dịch duy trì ở mức cao đã gây khó khăn cho việc tái đàn và ổn định sản xuất. Trong khi đó, lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản vẫn giữ được xu hướng phát triển khả quan, sản lượng đạt và vượt kế hoạch năm. 2.1. Nông nghiệp a. Trồng trọt * Sản xuất cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2025 toàn tỉnh ước đạt 156.399 ha, bằng 99,47% (giảm 828 ha). Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 564.200 tấn, bằng 84,11% (giảm 106.579 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Kết quả sản xuất một số cây trồng chủ lực trong năm như sau: Cây lúa: Diện tích gieo trồng cả năm đạt 104.789 ha, bằng 100,42% (tăng 433 ha); Năng suất gieo trồng lúa cả năm ước tính đạt 46,61 tạ/ha, bằng 81,31% (giảm 10,71 tạ/ha) với sản lượng năm 2025 ước tính đạt 488.393 tấn, bằng 81,65% (giảm 109.744 tấn) so với năm 2024. Năng suất trong năm giảm chủ yếu do vụ Hè Thu trong quá trình sản xuất gặp nhiều thời tiết bất lợi. Cụ thể từ đầu vụ nắng nóng xen kẽ những trận mưa dông gây ngập úng, nhiều diện tích đã gieo phải gieo cấy lại; trong giai đoạn sinh trưởng, tình trạng nắng mưa đan xen tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển mạnh, năm nay được đánh giá là dịch bệnh phát sinh với biên độ rộng. Đặc biệt là ảnh hưởng bão số 5 (Kajiki) gây mưa lớn, gió mạnh, làm nhiều diện tích lúa bị ngập úng, đổ gãy; rồi bão số 6 (Nongfa) gây mưa to trên diện rộng. Nhiều diện tích lúa bị ngâm lâu ngày dẫn đến thối rễ, mất trắng; một số diện tích lúa đang trổ gặp mưa gió nên không kết hạt. Hai cơn bão liên tiếp xảy ra trong thời điểm lúa bước vào giai đoạn quyết định năng suất đã khiến sản lượng lúa Hè Thu toàn tỉnh giảm đáng kể so với kỳ vọng, gây tổn thất lớn cho người sản xuất. Cây ngô: Diện tích gieo trồng đạt 14.667 ha, bằng 101,97% (tăng 284 ha) so với năm trước[1]. Năng suất gieo trồng cả năm ước tính đạt 51,69 tạ/ha, bằng 102,34% (tăng 1,18 tạ/ha) so với năm trước với sản lượng ngô cả năm ước đạt 75.807 tấn, bằng 104,36% (tăng 3.165 tấn) so với năm 2024. Năm nay năng suất ngô tăng chủ yếu ở vụ Đông Xuân, do diện tích gieo trồng tăng cộng với thời tiết vụ Đông thuận lợi, cây ngô sinh trưởng và phát triển tốt, bắp to, hạt đều, ít bị sâu bệnh. Bên cạnh đó, giá bán ngô ổn định đã khuyến khích người dân đầu tư chăm sóc, thâm canh hơn so với năm trước, góp phần nâng cao năng suất. Cây lạc: Diện tích gieo trồng đạt 6.268 ha, bằng 89,78% (giảm 714 ha) so với năm trước[2]. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, do chi phí đầu vào tăng cao nên người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà chuyển sang cây trồng khác. Năng suất ước đạt 27,73 tạ/ha, bằng 99,68% (giảm 0,09 tạ/ha) với sản lượng cả năm ước đạt 17.381 tấn, bằng 89,49% (giảm 2.041 tấn) so với năm trước.Cây rau các loại: Diện tích rau ước đạt 13.948 ha, bằng 98,93% (giảm 151 ha) so với năm trước[3]. Năng suất cả năm ước đạt 73,62 tạ/ha, bằng 101,05% (tăng 0,76 tạ/ha) với sản lượng rau cả năm ước đạt 102.629 tấn, bằng 99,92% (giảm 85 tấn) so với năm trước. * Sản xuất cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm sơ bộ đạt 30.599 ha, bằng 97,50%, giảm 783 ha so với năm 2024. Diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 18.945 ha, bằng 96,84%, giảm 618 ha so với năm 2024. Trong năm, Hà Tĩnh đã chịu thiệt hại do mưa bão, đặc biệt là 3 cơn bão liên tiếp là bão số 5, số 6 và số 10 làm một số cây trồng bị ảnh hưởng, tuy nhiên nhờ chủ động, tập trung cao độ huy động cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến xã tham gia quyết liệt công tác phòng, chống bão và triển khai đồng bộ các biện pháp đã đề ra nên hạn chế thiệt hại về cây lâu năm. Trong đó, diện tích dứa sơ bộ đạt 457 ha, tăng 109 ha, mô hình trồng dứa liên kết với Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao đã tạo bước đột phá trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại Hà Tĩnh, tập trung vào giống dứa Queen, bao tiêu sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật, giúp khai phá tiềm năng vùng đất đồi, tạo sinh kế mới cho người dân địa phương. Sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 184.594 tấn, bằng 101,05%, tăng 1.914 tấn so với năm 2024. Đặc biệt, năng suất cam sơ bộ đạt 112,66 tạ/ha, tăng 4,63 tạ/ha với sản lượng sơ bộ đạt 69.060 tấn, giảm 771 tấn. Năng suất bưởi sơ bộ đạt 110,31 tạ/ha, tăng 0,84 tạ/ha với sản lượng sơ bộ đạt 39.492 tấn, giảm 303 tấn so cùng kỳ năm trước. * Tiến độ sản xuất vụ Đông năm 2026 ước tính đến ngày 22/12/2025, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông đạt 10.666 ha/12.400 ha, bằng 86,01% kế hoạch[4]. Sản xuất vụ Đông năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh được triển khai trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp. Nắng nóng kéo dài vào đầu tháng 9 và mưa lớn rải rác trong tháng 10 đã ảnh hưởng đến công tác làm đất và gieo trồng, đặc biệt đối với cây ngô và các loại rau màu gieo sớm. Trước tình hình đó, các địa phương đã chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện thực tế. * Tình hình sâu bệnh và thiệt hại: Các đối tượng sâu bệnh như bọ nhảy, sâu ăn lá, bệnh sương mai, giả sương mai tiếp tục phát sinh gây hại trên các vườn rau nông hộ và các vùng rau tập trung, diện tích bị nhiễm 48 ha. Trên cây ăn quả, thời điểm này tại một số vườn bắt đầu có lộc, các đối tượng như sâu nhớt, ruồi đục quả đã xuất hiện; trên các vườn cam đang cho thu hoạch có ruồi đục quả tiếp tục gây hại; bệnh chảy gôm, loét gây hại trên vườn cây không thông thoáng, chưa cắt tỉa; diện tích nhiễm 38 ha. b. Tình hình chăn nuôi Bên cạnh tình hình dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, được sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và việc triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch, tái đàn và chăn nuôi an toàn sinh học, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát và duy trì ổn định, cho thấy ngành chăn nuôi từng bước phục hồi và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của địa phương, sản lượng thịt hơi xuất chuồng trâu, bò bắt đầu tăng trở lại. Kết quả sản xuất chăn nuôi: Đàn trâu ước 47.894 con, bằng 73,43% (giảm 17.326 con), số con xuất chuồng ước đạt 17.881 con, bằng 114,11% (tăng 2.211 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 3.754 tấn, bằng 108,86% (tăng 305,51 tấn) so với cùng kỳ năm 2024; Đàn bò ước 130.173 con, bằng 80,77% (giảm 30.989 con), số con xuất chuồng ước đạt 60.884 con, bằng 103,67 % (tăng 2.153 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 10.059 tấn, bằng 104,17% (tăng 247 tấn) so với cùng kỳ năm 2024; Đàn lợn ước 342.216 con, bằng 97,10% (giảm 10.212 con) so với cùng kỳ năm 2024, số con xuất chuồng ước đạt 827.402 con, bằng 88,81% (giảm 104.234 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 71.304 tấn, giảm 7,11 % (giảm 2.124 tấn) so với cùng kỳ năm 2024; Đàn gia cầm duy trì ổn định ở mức 10,089 triệu con nhờ tình hình dịch bệnh được kiểm soát. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo từ Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi, diễn biến dịch bệnh trên đàn gia súc trong tháng 12/2025 dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 41 xã, phường làm cho 4.201 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy với khối lượng 275.061 kg; Dịch Viêm da nổi cục trâu, bò xảy ra tại 02 xã (Thạch Lạc, Tứ Mỹ) làm 03 con bò mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy với khối lượng 117 kg. Lũy kế đến ngày 22/12/2025 dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 65 xã làm cho 51.587 con lợn, mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng hơn 3.557 tấn; dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 23 xã làm cho 32 con bò mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng hơn 4 tấn; dịch Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã làm 02 con bò mắc bệnh, con chết, buộc tiêu hủy với khối lượng hơn 500 kg. 2.2. Tình hình lâm nghiệp Năm 2025, tình hình hoạt động ngành lâm nghiệp trên địa bàn cơ bản ổn định, công tác bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm, thực hiện có hiệu quả, không để xảy ra điểm nóng về phá rừng, cháy rừng, an ninh rừng được giữ vững. Trồng rừng: Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 10.574 ha, bằng 107,99%, tăng 782 ha so với năm 2024. Công tác chỉ đạo, hỗ trợ về vốn, phân bón, cung cấp giống cây trồng đạt tiêu chuẩn, chất lượng theo quy định và sự cố gắng của các cơ quan chuyên môn trong việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về chính sách và lợi ích của trồng rừng đến mọi tầng lớp nhân dân. Khai thác gỗ: Sản lượng gỗ khai thác đạt 775.178 m3, bằng 120,52%, tăng 131.993 m3 so với năm 2024. Sản lượng gỗ khai thác năm nay tăng mạnh do nhiều diện tích rừng đến tuổi khai thác nhiều, năng suất rừng trồng được cải thiện và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5, số 6 khiến nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân phải khai thác sớm. Cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 2 triệu cây, bằng 70,57%, giảm 834 nghìn cây so với năm 2024. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng trên các tuyến đường, hội quán, nhà văn hóa... Hiện nay, quỹ đất dành cho trồng cây phân tán hạn chế, đồng thời nhiều diện tích đã được trồng từ các năm trước, nên số lượng cây trồng phân tán trong năm giảm so với năm trước. Bảo vệ rừng: Trong tháng 12 năm 2025 đã xảy ra 01 vụ phá rừng (giảm 4 vụ so năm trước) với diện tích 0,05 ha. Tính chung cả năm 2025 đã xảy ra 41 vụ phá rừng (giảm 15 vụ), với diện tích 10,72 ha (giảm 4,95 ha) so với cùng kỳ. 2.3. Tình hình thủy sản Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với việc mở rộng nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, tăng cường quản lý môi trường và phòng, chống dịch bệnh, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Hoạt động khai thác thủy sản duy trì ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi; công tác quản lý tàu thuyền và thực hiện các quy định về chống khai thác IUU được triển khai nghiêm túc, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Về thủy sản khai thác: Sản lượng trong tháng 12/2025 ước đạt 3.023 tấn, bằng 101,96% (tăng 58 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, sản lượng khai thác ước đạt 43.497 tấn, bằng 105,12% (tăng 2.119 tấn). Trong đó, sản lượng khai thác biển vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động khai thác thủy sản, tính riêng trong tháng sản lượng ước đạt 2.067 tấn, bằng 103,51% (tăng 70 tấn) so với cùng kỳ năm trước, tính chung từ đầu năm đến nay sản lượng khai thác biển ước đạt 43.497 tấn, bằng 105,12% (tăng 2.119 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Về thủy sản nuôi trồng: Đến nay, tổng diện tích nuôi tôm toàn tỉnh đạt khoảng 2.250 ha, trong đó diện tích nuôi tôm thâm canh, nuôi công nghệ cao đạt 668 ha, chiếm trên 29% tổng diện tích nuôi tôm. Nhiều cơ sở đã ứng dụng hiệu quả các mô hình nuôi tiên tiến như nuôi tôm hai - ba giai đoạn, nuôi tôm trong bể tròn khung sắt lót bạt, nuôi tôm trong nhà lưới, nuôi tôm theo hướng VietGAP…, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, ước đạt 20 - 30 tấn/ha/vụ. Trong tháng 12/2025, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 956 tấn, bằng 98,76% so với cùng kỳ năm trước (giảm 12 tấn). Tính chung cả năm 2025 sản lượng nuôi trồng ước đạt 17.765 tấn, bằng 102,45% so với cùng kỳ (tăng 424 tấn), góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và ổn định nguồn cung cho thị trường. Tính riêng quý IV/2025: Tổng sản lượng thủy hải sản ước đạt 11.382 tấn, tăng 2,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 8.396 tấn, tăng 5,66%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.986 tấn, giảm 4,75% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động thủy sản trong quý IV giảm khá sâu so với các quý khác trong năm, do yếu tố thời tiết và mùa vụ nuôi trồng, tuy nhiên hoạt động khai thác vẫn đảm bảo nguồn cung thị trường vào thời điểm cận năm mới, do vậy tình hình trong quý vẫn tăng khả quan so với cùng kỳ năm trước. Về tình hình dịch bệnh: Trong tháng 12 không phát sinh dịch bệnh, tính chung cả năm 2025 chỉ xuất hiện diện tích bệnh đốm trắng với diện tích bị nhiễm là 6,95 ha. 3. Sản xuất công nghiệp Trong năm 2025, ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng; Nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng tiến độ, cơ bản hoàn thành các mục tiêu và kế hoạch đề ra trong năm. Cùng với đó, Nhà máy sản xuất Cell Pin, Pack Pin nhanh chóng vận hành ổn định, sản lượng sản xuất đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất công nghiệp trong năm cũng chịu tác động từ một số yếu tố khách quan. Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã hòa lưới điện thương mại tổ máy số 1 từ tháng 7/2025 và triển khai chạy thử tổ máy số 2. Tuy nhiên, từ tháng 10/2025, nhà máy phải tạm ngừng sản xuất để khắc phục sự cố. Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm thị trường xuất khẩu cũng như cạnh tranh thị trường trong nước. Bên cạnh đó, lò cao số 1 tạm ngừng hoạt động trong tháng 8,9 để bảo dưỡng là nguyên nhân chính dẫn đến ngành này giảm mạnh trong năm 2025. 3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh quý IV năm 2025 đạt 117,12% cao hơn quý I (đạt 94,89%), quý II (đạt 115,5%), quý III (đạt 100,41%) năm 2025. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 29,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,96%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 16,17%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,27%. Ước tính năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh tăng 7,12% so với năm 2024, cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,4% làm giảm 0,05 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,34% đóng góp 4,81 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,09% đóng góp 2,25 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,02% đóng góp 0,11 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,4% so với năm trước, phản ánh nỗ lực đáng kể của doanh nghiệp trong việc duy trì hoạt động. Sau giai đoạn đối mặt khó khăn do đơn hàng thủy sản giảm, các cơ sở chế biến tại Hà Tĩnh - trong đó có Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Nam Hà Tĩnh – đang dần ổn định trở lại. Doanh nghiệp chủ động đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh cải tiến quy trình chế biến và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao từ đối tác giúp ngành chế biến thực phẩm của tỉnh củng cố đà phục hồi trong thời gian tới... Sản xuất đồ uống tăng 1,95% so với năm trước, mặc dù gặp khó khăn và một doanh nghiệp lớn không đạt kế hoạch, nhưng tổng thể ngành vẫn tăng nhẹ nhờ sự nỗ lực của các doanh nghiệp khác hoặc các sản phẩm khác trong ngành. Cụ thể, sản lượng của Công ty Bia Sao Vàng chưa đạt kế hoạch đề ra trong năm 2025, do một phần thị trường tiêu thụ chính sụt giảm. Đồng thời, doanh nghiệp phải phân bổ nguồn lực cho việc sản xuất các sản phẩm khác nhằm đa dạng hóa danh mục, điều này cũng ảnh hưởng đến sản lượng bia. Những yếu tố này đã hạn chế tốc độ tăng trưởng chung của ngành đồ uống, khiến chỉ số sản xuất nhóm ngành chỉ tăng nhẹ trong năm 2025. Dệt tăng 13,07% so với năm 2024. Trong các tháng đầu và giữa năm 2025, nhu cầu đơn hàng dệt may, đặc biệt là sản phẩm sợi, từng bước phục hồi khi thị trường quốc tế có dấu hiệu cải thiện, giúp các doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và đóng góp vào mức tăng trưởng chung của cả năm. Bên cạnh đó, một số cơ sở sản xuất trong ngành đã chủ động đầu tư đổi mới thiết bị, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 55,84% so với năm trước. Các doanh nghiệp trong ngành giấy trên địa bàn tỉnh đã mở rộng quy mô sản xuất, vận hành ổn định và nâng cao công suất trong năm 2025. Bên cạnh đó, việc chủ động tìm kiếm và ký kết thêm các hợp đồng tiêu thụ dài hạn, đặc biệt với đối tác ngoài tỉnh và thị trường xuất khẩu; công tác cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, cùng với việc kiểm soát tốt chi phí đầu vào cũng tạo điều kiện thuận lợi giúp sản lượng sản xuất tăng mạnh trong năm 2025. Bên cạnh đó, một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất kim loại giảm 6,01% so với năm trước khi trong năm 2025 công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng của nhu cầu thị trường suy giảm và phải tạm dừng lò cao một thời gian để bảo dưỡng đã khiến cho sản lượng sản xuất thép vị sụt giảm. Ngành khai khoáng khác giảm 1,42% so với năm trước, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu sử dụng khoáng sản làm vật liệu đầu vào cho các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh trong nửa cuối năm 2025 giảm so với cùng kỳ, nhất là sau khi một số dự án lớn đã hoàn thành. Đồng thời, việc một số mỏ đã hết trữ lượng hoặc hết hạn giấy phép khai thác, đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục gia hạn, cấp phép lại cũng làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, góp phần làm chỉ số sản xuất ngành giảm trong các tháng cuối năm. 3.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp năm 2025 tăng mạnh so với năm trước có thể kể đến như: Ắc quy bằng ion lithi tăng gần 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 33,06%; điện sản xuất tăng 13,67%; Sợi tăng 13,07%; mực đông lạnh tăng gần 4 lần;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp năm 2025 giảm khá sâu so với năm trước. Trong đó, sản phẩm chủ lực tỉnh nhà là thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 6,32%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 33,18%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 33,13%... 3.3. Chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ: Năm 2025 chỉ số tiêu thụ giảm 4,09% so với năm trước. Năm nay, mặc dù chỉ số tiêu thụ giảm, tuy nhiên tỷ trọng các nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm ưu thế, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang có dấu hiệu tích cực trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2025 giảm 3,72% so với tháng trước và tăng 6,39% so cùng kỳ năm trước. Việc sản xuất được duy trì ổn định, tạo nguồn cung sẵn sàng cho tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, hạn chế rủi ro đứt gãy nguồn cung. Trong đó, chỉ số tồn kho mặt hàng sợi tăng cao, ở mức 210,6%; ngành chế biến thực phẩm tăng 39,32%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 157,82%... Tình hình sử dụng lao động: Cộng dồn đến cuối năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 17,89% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 7,54% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,97% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,94%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,18% so với năm 2024. 4. Tình hình thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp Năm 2025 tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá gặp nhiều khó khăn, thách thức hơn trước. Theo các doanh nghiệp, khó khăn nhất hiện nay vẫn là nhu cầu thị trường sụt giảm và chi phí sản xuất cao. 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 25/12/2025, toàn tỉnh thành lập mới 1.900 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc, tăng 42,22% so với cùng kỳ năm 2024. Tổng vốn đăng ký đạt gần 12.476 tỷ đồng, tăng 77,69% so với cùng kỳ năm 2024, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 6,57 tỷ đồng, tăng 24,90% so cùng kỳ năm trước. Trong năm có 458 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại, tăng 11,98% so với năm 2024. Bên cạnh các doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm ngừng và giải thể, cụ thể có 725 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 9,68% so với cùng kỳ năm trước; 445 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc giải thể tăng 83,88% so với cùng kỳ năm 2024. Hiện nay để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, phát triển, tháo gỡ khó khăn về thị trường tiêu thụ. Khi có thêm những giải pháp thúc đẩy đầu ra thì doanh nghiệp mới cải thiện được khả năng trả nợ, tăng khả năng hấp thụ vốn. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho biết, trong quý IV/2025, hai yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 43,14% và 68,63%. Bên cạnh đó, “Khó khăn về tài chính” là khó khăn mà doanh nghiệp đánh giá với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn là 37,25%. Đối với nhóm ngành chủ lực của Hà Tĩnh như dệt, sản xuất kim loại, sản xuất sản phẩm từ giấy đang gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường hàng xuất khẩu. Dự báo quý I/2026 sẽ có nhiều chuyển biến tích cực so quý IV/2025 với 94,12% doanh nghiệp đánh giá tốt hơn và giữ ổn định (62,75% tốt hơn và 31,37% giữ ổn định), 5,88% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn. Xu hướng về khối lượng sản xuất năm 2026 có 68,63% doanh nghiệp đánh giá tiếp tục gia tăng về khối lượng. Bên cạnh đó, 72% doanh nghiệp dự báo sẽ có đơn đặt hàng mới, cho thấy tín hiệu cải thiện rõ rệt về đầu ra sản phẩm, góp phần tạo động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhìn chung, các kết quả khảo sát cho thấy xu hướng sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2026 được đánh giá theo chiều hướng tích cực, với niềm tin của doanh nghiệp vào sự gia tăng sản lượng, mở rộng thị trường tiêu thụ và cải thiện đơn hàng. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Nhìn chung năm 2025, ngành thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm, giá cả cơ bản ổn định đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Nhóm ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ghi nhận kết quả khả quan nhiều sự kiện, lễ hội được tổ chức và hạ tầng du lịch ngày càng được đầu tư hoàn thiện, thu hút lượng lớn du khách. Nhóm dịch vụ khác tiếp tục tăng trưởng, thể hiện vai trò góp phần nâng cao giá trị của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh nhà. Tổng mức bán lẻ hàng hoá trong tháng 12 ước đạt 7.064,62 tỷ đồng, giảm 4,53% so với tháng trước, tăng 19,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý IV/2025 doanh thu ước đạt 20.362,72 tỷ đồng, tăng 4,06% so với quý trước và tăng 11,59% so với cùng kỳ. Xét theo từng quý trong năm thì tổng mức bán lẻ tăng trưởng khá ổn định và tăng trưởng doanh thu khá, luôn duy trì mức tăng trưởng ở hai con số. Bên cạnh việc giá cả tăng cao thì các yếu tố mùa vụ trong quý như thời điểm bắt đầu năm học, thời tiết chuyển mùa và cũng là quý gần Tết nên ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm các loại hàng hoá. Cả năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 78.238,44 tỷ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng bán lẻ, có 10 nhóm hàng tăng trưởng dương (chiếm trên 89% tổng mức). Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 38.346,49 tỷ đồng, chiếm 49,01% tổng mức và tăng 15,11% so với năm 2024, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã kéo theo tổng mức bán lẻ tăng. Bên cạnh đó còn có các nhóm hàng khác cũng tăng trưởng doanh thu mạnh so với năm trước, chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu so với năm trước là nhóm ô tô con (giảm 29,96%), và nhóm xăng, dầu các loại (giảm 13,22%) do mặc dù đã có nhiều ưu đãi trong việc sản xuất và tiêu dùng ô tô, tuy nhiên đây là các mặt hàng giá trị lớn trong khi thu nhập người đang phải gồng gánh các chi phí thì việc mua sắm các mặt hàng có giá trị dường như hạn chế. Nhìn chung, trước sự biến động khó lường kinh tế thế giới tình hình thương mại tỉnh nhà vẫn có sự tăng trưởng khá. Bên cạnh những yếu tố chính sách, khuyến khích đầu tư của trung ương, sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh đảm bảo không để xảy ra tình trạng về biến động giá cả hay thiếu hàng dịp cao điểm; tránh găm hàng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng; thì doanh nghiệp, người dân đã chủ động đầu tư, mở rộng nhiều thị trường để tăng doanh thu. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ, những sản phẩm của tỉnh nhà đã được người tiêu dùng trong nước, nước ngoài biết đến thông qua những trang thương mại điện tử. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 12/2025 ước đạt 854,9 tỷ đồng, giảm 2,32% so với tháng trước nhưng tăng 17,74% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý IV doanh thu ước đạt 2.592,48 tỷ đồng, giảm 2,62% so với quý trước nhưng tăng đến 14,33% so với cùng kỳ. Mặc dù trong quý yếu tố thời tiết không thuận lợi, trời rét, có mưa, cũng hết mùa du lịch nên nhu cầu du lịch và lưu trú giảm hơn so với các tháng trước, nhưng việc nhu cầu ăn uống ngoài gia đình trong các ngày lễ đang có xu hướng gia tăng, nên doanh thu chung nhóm ngành vẫn tăng khá so với cùng kỳ. Cả năm 2025, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 9.862,84 tỷ đồng, tăng 14,40% so với năm trước. Xét riêng các nhóm ngành trong năm, ta thấy được sự tăng trưởng vượt bậc của ngành dịch vụ lưu trú (tăng 34,91%), mặc dù mức doanh thu không quá lớn (gần 397 tỷ đồng) những cũng tạo nên điểm sáng đáng kể và hướng đi đúng đắn cũng như tiềm lực cần khai thác của tỉnh nhà. Xét riêng trong các quý, doanh thu dịch vụ lưu trú chủ yếu phát triển mạnh ở quý II và quý III, bước sang quý IV khi hết mùa du lịch doanh thu giảm hơn các quý trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng ở mức 9,22%. Hoạt động dịch vụ ăn uống vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 4 quý trong năm[5], mức tăng trưởng doanh thu chủ yếu do ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố mùa vụ khi trong quý phát sinh các ngày lễ khác nhau, thời tiết. Việc dịch vụ ăn uống ngoài gia đình phát triển mạnh cho thấy cách thay đổi suy nghĩ truyền thống của người dân cũng cho thấy đời sống người dân đang ngày càng được nâng lên, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành. Tính chung cả năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.260,04 tỷ đồng, tăng 15,81% so với năm trước, do trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng nghệ thuật, vui chơi và giải trí là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương. Nhìn chung, cả năm doanh thu dịch vụ khác đạt mức tăng trưởng khá cho thấy đời sống và nhu cầu người dân đang dần được cải thiện. 5.2. Hoạt động vận tải Trong năm 2025, hoạt động vận tải và kho bãi trên địa bàn tỉnh đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác, dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt. Vận tải hàng hóa được thực hiện kịp thời, đảm bảo uy tín với giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 12/2025 doanh thu ước đạt 792,13 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước, tăng 13,03% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu trong tháng có sự khởi sắc hơn các tháng khác trong quý IV do yếu tố mùa vụ là tháng trùng với dịp lễ Noel và là tháng cuối năm, nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Nhưng tính cả quý IV/2025 doanh thu vẫn giảm 9,17% so với quý trước do vận tải hàng hoá gặp những khó khăn về thời tiết trong tháng 10 và 11; mặc dù vậy, doanh thu trong quý IV vẫn đạt mức khá so với kỳ vọng khi tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 12,46%). Tính chung cả năm doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 9.660,66 tỷ đồng, tăng 14,12% so với năm trước. Trong đó, Vận tải hành khách ước đạt 1.647,43 tỷ đồng, tăng 12,87%; Vận tải hàng hoá ước đạt 5.964,91 tỷ đồng, tăng 12,60%; Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.963,2 tỷ đồng, tăng 19,32% so với năm trước; Hoạt động bưu chính chuyển phát ước đạt 83,12 tỷ đồng, tăng 35,15% so với năm trước. Mặc dù vận tải hành khách chiếm tỷ trọng doanh thu không lớn nhưng tăng trưởng khá đều trong các quý; trong khi vận tải hàng hoá mức doanh thu lớn tập trung tăng mạnh ở 2 quý I và III (tăng 24,53% và 12,80%), doanh thu quý IV mặc dù vẫn tăng khá ấn tượng nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của các quý trước (6,50%), nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết khiến việc bảo quản và lưu thông hàng hoá chưa đạt mức như kỳ vọng như các quý trước. Nhìn chung, nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế cùng với các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lãi suất và thủ tục vay vốn được cải thiện, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua sắm phương tiện kinh doanh; Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi. Tuy nhiên, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như phải cạnh tranh với các trung tâm logistics lớn khác ở khu vực Bắc Trung Bộ như Nghệ An và Quảng Trị. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải ứng phó với giá nhiên liệu biến động, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ từ khách hàng, và thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong quản lý chuỗi cung ứng và vận hành các hệ thống logistics thông minh. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2025 đạt cao hơn so với năm trước. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tính đến hết ngày 30/12/2025 đạt 21.250 tỷ đồng, vượt 19,38% so với dự toán và tăng 17,37% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, thu nội địa đạt 14.449 tỷ đồng, tăng 40,71% so với cùng kỳ năm trước. Các khoản thu về nhà, đất đạt 6.257 tỷ đồng, tăng gần gấp 2 lần so với năm trước nhờ do sự sôi động lại của thị trường mua bán, chuyển nhượng bất động sản, khởi sắc ở một số địa phương như Phường Thành Sen, xã Toàn Lưu;… thu từ doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 1.922 tỷ đồng, tăng 76,77%; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.709 tỷ đồng, tăng 8,82% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các doanh nghiệp ngoài nhà nước năm 2025 hoạt động sản xuất kinh doanh gặp thuận lợi hơn năm trước; tuy nhiên ngược lại với các doanh nghiệp này thì doanh nghiệp nhà nước gặp không ít khó khăn, sản xuất sụt giảm, chính vì vậy thu từ các doanh nghiệp khu vực này chỉ đạt 1.290 tỷ đồng, giảm 1,75% so với cùng kỳ năm 2024. Thu xuất nhập khẩu đạt 6.656 tỷ đồng, bằng 86,37% năm trước nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa gặp khó khăn trong sản xuất, sản lượng thép sản xuất sụt giảm, vì vậy giảm nhập nguyên liệu đầu vào (than, quặng), xuất khẩu thép giảm mạnh so với năm trước. Đây đều là những mặt hàng có số nộp ngân sách lớn. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến hết ngày 30/12/2025 đạt 30.985 tỷ đồng, tăng 19,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 11.224 tỷ đồng, chiếm 36,22%, tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Chi thường xuyên đạt 19.746 tỷ đồng, chiếm 63,73% tổng chi, tăng 26,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 5.864 tỷ đồng, tăng 14,67% so với cùng kỳ năm trước; Chi sự nghiệp y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình đạt 1.433 tỷ đồng, tăng 11,45%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 6.078 tỷ đồng, tăng 67,61% so với cùng kỳ năm 2024. Nhìn chung hoạt động chi ngân sách ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, cấp bách gắn với việc thực hiện các mục tiêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 6.2. Hoạt động ngân hàng Năm 2025 ngành Ngân hàng tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ, người dân và doanh nghiệp, tiếp cận vốn tín dụng tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Huy động vốn tăng khá, dư nợ tín dụng xu hướng tăng trưởng tích cực hơn. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Hà Tĩnh ước đến thời điểm 31/12/2025 đạt 125.995 tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2024. Số dư huy động vốn bằng đồng Việt Nam đạt 122.659,6 tỷ đồng, bằng ngoại tệ đạt 3.335,5 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 13.383,9 tỷ đồng, chiếm 10,62% tổng nguồn vốn huy động, tăng 23,42% so với cuối năm 2024; nguồn dư huy động vốn ngắn hạn đạt 112.611,1 tỷ đồng, chiếm 89,38% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 15,18% so với cuối năm 2024. Lãi suất huy động trong năm 2025 có xu hướng tăng dần, cùng với việc triển khai nhiều chương trình ưu đãi, tổng nguồn vốn huy động toàn địa bàn đạt mức tăng trưởng tốtt. Dư nợ tín dụng ước đến 31/12/2025 đạt 126.350 tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 97.683,3 tỷ đồng (chiếm 77,31% tổng dư nợ), tăng 15,69% so với cuối năm 2024; dư nợ trung dài hạn đạt 28.666,6 tỷ đồng (chiếm 22,69% tổng dư nợ), tăng 17,07% so với cuối năm 2024. Hoạt động tín dụng chủ yếu hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng; đơn giản hóa thủ tục cho vay, niêm yết công khai, minh bạch các thủ tục, quy trình vay vốn; đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả. 7. Đầu tư và xây dựng Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 tăng khá, ước tính cả năm 2025 đạt 61.019 tỷ đồng, tăng 3,50% so với năm trước nhờ đóng góp của các dự án lớn khu vực kinh tế ngoài nhà nước (Nhà máy sản xuất ô tô điện VinFast, nhà máy sản xuất xe máy điện Vinfast với tổng vốn đầu tư dự kiến 11.406 tỷ đồng…) Bước sang quý IV/2025, khắc phục mọi điều kiện bất lợi về thời tiết để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình nhằm đảm bảo các công trình hoàn thành đúng tiến độ đề ra. Tỉnh cũng đã tiến hành nắm chắc tình hình, đảm bảo tiến độ các dự án công nghiệp trọng điểm, đẩy nhanh tiến độ xác định giá đất, tiếp tục quản lý chặt hoạt động mỏ, đảm bảo tối đa vật liệu cho các dự án trọng điểm. Vì vậy tình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục khởi sắc. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý IV/2025 dự ước đạt 17.532 tỷ đồng, tăng 8,46% so với quý trước, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 5.807,28 tỷ đồng, tăng 28,59% so với quý trước và giảm 26,52% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 10.022,36 tỷ đồng, tăng 8,49% so với quý trước và tăng 84,53% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 1.702,66 tỷ đồng, giảm 29,37% so với quý trước và giảm 57,16% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2025 ước đạt 61.019 tỷ đồng, tăng 3,50% so với năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 16.863 tỷ đồng, chiếm 27,64% tổng vốn, giảm 28,83% so với năm trước do các dự án trọng điểm Trung ương triển khai trên địa bàn như Cao tốc Bắc - Nam; Dự án đường dây 500 kV sau giai đoạn thi công cao điểm năm trước đã giảm mạnh khối lượng đầu tư trong năm nay. Vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 34.391 tỷ đồng chiếm 56,36% tổng vốn, tăng 92,73% so với năm trước do hoạt động đầu tư từ khu vực doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, trong đó: Khu vực doanh nghiệp đạt 19.361 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với năm trước; khu vực dân cư tăng trưởng ổn định, đạt 15.030 tỷ đồng, tăng 7,02%. Vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 9.765 tỷ đồng, chiếm 16% tổng vốn giảm 43,92% so với năm trước do một số dự án quy mô lớn đã bước sang giai đoạn hoàn thiện, làm giảm khối lượng thực hiện trong năm, đặc biệt là dự án như Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II. Nhìn chung tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân chủ yếu: (1) dự án sản xuất ô tô điện Vinfast hoàn thành xây dựng trong năm giá trị xây dựng ước đạt 6.505 tỷ đồng; (2) Quý IV/2025 trên địa bàn tỉnh khởi công xây dựng nhà máy sản xuất xe máy điện Vinfast với tổng vốn đầu tư dự kiến 11.406 tỷ đồng; (3) chính quyền cấp tỉnh và xã quyết liệt trong việc giải ngân nguồn vốn đầu tư công. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất - nhập khẩu trong năm 2025 mặc dù không đạt mục tiêu Nghị quyết hội đồng đề ra với giá trị xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD. Mặt hàng thép vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm thị trường đầu ra, nhưng việc các hàng hoá khác đạt giá trị xuất khẩu tăng vượt bậc là những tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế tỉnh nhà khi đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, giảm dần sự phụ thuộc vào ngành thép. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 12 ước đạt 118,4 triệu USD, tăng 13,3% so với tháng trước nhưng giảm 2,84% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng ước đạt 85 triệu USD (chiếm 71,79% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), tăng 33,44% so với tháng trước nhưng giảm 17,32% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài mặt hàng thép, phôi thép thì mặt hàng dăm gỗ và chè cũng có trị giá xuất khẩu giảm cùng kỳ năm trước (mặt hàng dăm gỗ giảm 11,43% và mặt hàng chè giảm 3,64% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung cả năm 2025, trị giá xuất khẩu ước đạt 2.000 triệu USD, giảm 16,67% so với năm trước (giảm 400 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do từ nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, mặc dù quý IV đã có nhiều tín hiệu tích cực tuy nhiên vẫn chưa đạt mức kỳ vọng như năm trước, ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng chè, dăm gỗ cũng giảm lần lượt 3,64% và 11,43 so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu các mặt hàng khác như xơ, sợi dệt các loại; dệt và may mặc tăng trưởng khá tuy nhiên do tỷ trọng không lớn nên không tác động nhiều đến kết quả chung toàn tỉnh. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 12 năm 2025 ước đạt 180,5 triệu USD, tăng 9,16% so với tháng trước nhưng giảm đến 21,87% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân việc giá cả hàng hoá đang ở mức cao, cộng với việc thị trường Tết năm trước sức mua hàng ngoại thấp gây tồn đọng nên năm nay các doanh nghiệp đang cầm chừng và chọn lọc trong việc nhập khẩu các loại hàng hoá phục vụ dịp Tết. Tính chung cả năm 2025, trị giá nhập khẩu ước đạt 2.900 triệu USD giảm 22,46% so với năm 2024. Việc nhập khẩu hàng hoá giảm nguyên nhân chủ yếu do việc Formosa gặp khó khăn trong xuất khẩu và sản xuất khiến việc nhập nguyên liệu giảm, bên cạnh đó nhu cầu dùng hàng ngoại của người dân đang giảm dần và có sự lựa chọn khắt khe hơn. 9. Giá cả, lạm phát Năm 2025 thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ diễn ra sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng, chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Tháng 12 giá lương thực, thực phẩm tăng, giá vàng tăng theo xu hướng tăng của giá vàng thế giới...là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh tháng 12/2025 tăng 0,55% so tháng trước. So với tháng 12/2024, CPI tháng 12 tăng 1,16%. Bình quân năm 2025, CPI tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, CPI tháng 12/2025 tăng 0,55% (khu vực thành thị tăng 0,28%, và khu vực nông thôn tăng 0,65%). Trong tháng, nhóm lương thực đặc biệt là giá gạo tăng do cuối năm nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá, thực phẩm thịt tiếp tục gia tăng về giá khi tình hình dịch bệnh cũng như nhu cầu vào dịp lễ, tuy nhiên giá rau củ các loại đã có dấu hiệu hạ nhiệt khi nguồn cung dồi dào hơn. Các mặt hàng khác trong tháng giá cả cũng tăng do nhu cầu tiêu dùng tháng cuối năm và lễ Noel, bên cạnh đó thì giá như giá điện, nước sinh hoạt và xăng dầu giảm khá rõ do nhu cầu tiêu dùng và điều tiết giá. Cả quý IV mức CPI bình quân tăng 0,52% so với quý III và tăng 0,79% so với quý IV năm trước, nhìn chung biến động trong quý cuối năm 2024 khá bình ổn trong khi cùng thời điểm này năm trước mức giá biến động khá lớn. Tính chung cả năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 tăng 3,04% so với cùng kỳ năm 2024, (khu vực thành thị tăng 3,54%; khu vực nông thôn tăng 2,83%). Tác động lớn nhất là chỉ số giá nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 2,67%, trong đó, nhóm thực phẩm tăng 2,25% và nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,88%. Tiếp theo là chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,28% do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo nghị quyết số: 217/NQ- HĐND tỉnh Hà Tĩnh. Chỉ số giá nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,94%, chủ yếu tăng ở các mặt hàng như: điện sinh hoạt tăng 7,37%; nước sinh hoạt tăng 4,65%; nhà ở thuê và chủ nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 13,74% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với việc EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân vào tháng 5/2025. Ở chiều ngược lại, yếu tố tác động kìm hãm chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2025 có chỉ số giá nhóm giao thông giảm 3,48%, do mặt hàng nhiên liệu giảm 8,26% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong năm của Chính phủ. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, giáo dục, y tế. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo CPI năm tới có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Giá vàng và đô la vẫn ở đỉnh giá và đang tăng theo thị trường thế giới, bình quân năm 2025 đã ghi nhận giá vàng tăng đến 44,8% và giá đô la Mỹ tăng 6,96% so với cùng kỳ năm trước. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Dân số, lao động việc làm 1.1. Dân số Dân số trung bình năm 2025 ước tính 1.335.144 người, tăng 0,40% so với năm 2024. Trong đó, dân số thành thị 274.770 người, chiếm 20,58%; dân số nông thôn 1.060.374 người, chiếm 79,42%; dân số nam 664.726 người, chiếm 49,79% và dân số nữ 670.418 người, chiếm 50,21%. 1.2. Lao động việc làm Những tháng cuối năm, các doanh nghiệp Hà Tĩnh tăng tốc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô sản xuất nên có nhu cầu tuyển dụng lao động ở nhiều lĩnh vực do vậy tình hình lao động việc làm quý IV/2025 tiếp tục có chiều hướng tốt. Kết quả giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2025 vượt kế hoạch đề ra, cùng với mức tăng chủ yếu đến từ giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh, phản ánh năng lực tạo việc làm của nền kinh tế địa phương được nâng lên, góp phần ổn định đời sống người lao động và bảo đảm an sinh xã hội. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh ước tính quý IV/2025 là 540.709 người, tăng 0,74% so với quý trước và tăng 2,87% so với cùng kỳ năm 2024. Có đến 55,91% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, tăng 0,41 điểm phần trăm so với quý III/2025 và tăng 1,36 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung năm 2025, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 535.443 người, tăng 1,6% so với năm 2024, trong đó, lực lượng lao động nam là 272.028 người, chiếm 50,8%; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 129.845 người, chiếm 24,25%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2025 là 55,37%, tăng 2,74 điểm phần trăm so với năm 2024, tỷ lệ này có sự chênh lệch đáng kể khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn 4,98 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị cao hơn 6,96 điểm phần trăm so với nông thôn. Lực lượng lao động có việc làm ước tính quý IV năm 2025 là 522.684 người, chiếm 96,67% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,04% so với quý trước và tăng 0,91% so với cùng kỳ năm 2024. Khi phân theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động ở Hà Tĩnh tiếp tục chuyển theo chiều hướng tích cực: Quý IV/2025, lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng là 28,33%, giảm 0,26 điểm phần trăm so với quý trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,01%; dịch vụ chiếm 42,66% tăng lần lượt 0,15 và 0,11 điểm phần trăm Tính chung năm 2025, lao động có việc làm ước đạt 518.826 người, chiếm 96,90% tổng số lực lượng lao động và tăng 2,38% so với năm 2024. Trong đó,lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 28,48% giảm cả về số lượng và tỷ trọng so với năm trước (lần lượt giảm 0,45% và 0,81 điểm phần trăm); công nghiệp - xây dựng chiếm 28,82%, tăng cả số lượng và tỷ trọng (lần lượt tăng 2,94% và 0,15 điểm phần trăm); dịch vụ chiếm 41,89% (tương ứng 217.356 người), tăng về số lượng (tăng 2,02%) và giảm tỷ trọng (giảm 0,15 điểm phần trăm). Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý IV/2025 là 2,34%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,17 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,44%, giảm 0,05 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp: Trong quý IV/2025 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) 18.025 người, chiếm 3,33% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,04 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,91 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, số người thất nghiệp ước tính là 16.617 người, chiếm 3,10% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,74 điểm phần trăm so với năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 68,91% (tương đương 11.450 người) và nam giới chiếm 55,0% (tương đương 9.140 người). Tình hình giải quyết việc làm: theo số liệu Sở Nội vụ, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý IV năm 2025 là 4.238 người, giảm 20,25% so với quý trước và giảm 18,19% so cùng kỳ năm 2024, so với quý trước chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trong tỉnh (giảm 36,47%) và đi xuất khẩu lao động (giảm 9,71%). Tính chung năm 2025, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 23.800 người, đạt 101,28% so với kế hoạch và tăng 1,27% so với năm 2024, chủ yếu tăng ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (tăng 18,1%). Kết quả số liệu lao động việc làm năm 2025 cơ bản đã phản ánh sát với tình hình thực tế của địa phương. Quy mô lực lượng lao động tiếp tục mở rộng, đi kèm với sự cải thiện rõ rệt về tỷ lệ tham gia thị trường của người dân. Đặc biệt, việc sụt giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động đã phản ánh trực tiếp sự phục hồi mạnh mẽ của các doanh nghiệp cùng tính hiệu quả từ các chính sách an sinh. Cơ cấu nhân lực có sự chuyển dịch tích cực theo hướng hiện đại: giảm dần tỷ trọng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản để tập trung nguồn lực cho khối công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Sự thay đổi này không chỉ nâng cao chất lượng việc làm mà còn tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống an sinh xã hội tại địa phương. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Năm 2025, về tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền là 1.504,18 tỷ đồng; đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền 647,55 tỷ đồng; hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác số tiền 65,17 tỷ đồng. (tính riêng trong quý IV/2025 số tiền cho các đối tượng trên lần lượt là 394,35 tỷ đồng; 158,8 tỷ đồng; 17,18 tỷ đồng). Ngoài ra cũng trong năm đã cấp phát miễn phí khoảng 388.313 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí, trong đó, 11.474 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 25.443 thẻ cho hộ cận nghèo; 134.509 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 41.438 thẻ cho người có công và 175.449 thẻ cho các đối tượng khác. Hỗ trợ gạo trong năm 153,3 tấn, trong đó 130 tấn gạo hỗ trợ khắc phục thiên tai. Về hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương trong quý IV năm 2025 nguồn kinh phí tiếp nhận hỗ trợ đến thời điểm 10/12/2025 với tổng số tiền hơn 284,58 tỷ đồng[6], tính chung cả năm 2025 con số này đạt gần 285,16 tỷ đồng. Tình hình phân bổ đến thời điểm 10/12/2025 đã hoàn thành 240,22 tỷ đồng[7] nguồn kinh phí còn lại chưa giải ngân là 44,94 tỷ đồng. Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội theo Nghị quyết số 72/2022/NQ-HĐND về giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội giai đoạn 2022-2025. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chung tay của cộng đồng và ý chí vươn lên của người dân, các chương trình hỗ trợ từ giáo dục, y tế, nhà ở đến tín dụng ưu đãi đã phát huy hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao đời sống, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, hướng tới mục tiêu “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. 3. Giáo dục Trong tháng 12/2025, ngành giáo dục  Hà Tĩnh đã tổ chức kỳ thi học sinh giỏi tỉnh đảm bảo an toàn, nghiêm túc đúng quy chế. Đối với kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 12 có 1.036 em tham gia dự thi, có 716 em đạt giải[8] và đặc cách công nhận 157 học sinh giỏi tỉnh[9]. Đối với kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 có 1.433 học sinh dự thi và 988 em đạt giải[10], đặc cách công nhận 47 học sinh lớp 9 môn Tiếng Anh[11]. Tổ chức thi chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025- 2026, toàn tỉnh có 217 thí sinh đăng ký dự thi; gồm 11 môn thi. Tổng số học sinh được chọn vào đội tuyển tham dự Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia là 103 học sinh. Phát huy truyền thống và những thắng lợi của các kỳ thi trước, cùng quyết tâm và nỗ lực của các thầy cô giáo, các em học sinh, tin tưởng đội tuyển học sinh giỏi sẽ giành được kết quả cao trong Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm nay. Chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tăng cường công tác tuyển sinh đào tạo. Tổng tuyển sinh GDNN ước đạt 18.000 người, tăng 1,07% so với năm 2024 (16.831 người), đạt 83,7% kế hoạch. Tốt nghiệp ước đạt 14.000 người, tăng 1% so với năm 2024 (13.877 người). 4. Hoạt động y tế Năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành Y tế Hà Tĩnh trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, đặt ra nhiều cơ hội và thách thức trong công tác tổ chức bộ máy, quản lý điều hành và bảo đảm hoạt động chuyên môn liên tục. Ngành Y tế đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đạt nhiều kết quả quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đề ra nhiều mục tiêu, đối với lĩnh vực y tế, nghị quyết đặt ra chỉ tiêu từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần. Đến năm 2027 có ít nhất 4 bác sỹ/trạm y tế và đến năm 2030 có ít nhất 14,6 bác sỹ và 45 giường bệnh trên 1 vạn dân. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong quý IV năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện 4 ca nhiễm mới HIV và có 02 trường hợp chết do AIDS. So với quý trước số ca nhiễm mới tăng 02 ca và tăng 02 người chết do AIDS. Tính chung cả năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 16 ca nhiễm mới HIV/AIDS và ghi nhận 7 ca chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước giảm 15 ca nhiễm mới nhưng tăng 01 ca chết vì AIDS. Công tác an toàn thực phẩm: Chủ động đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là vào các dịp lễ, tết. Các cấp, các ngành thường xuyên phối hợp, tăng cường công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Trong quý IV/2025 không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra, nhưng vẫn có 34 người bị ngộ độc đơn lẻ. Tính chung cả năm, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 23 người bị ngộ độc và có 639 người bị ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể giảm 01 vụ, nhưng tăng 10 người bị ngộ độc; giảm 233 người ngộ độc đơn lẻ và số người chết vì ngộ độc thực phẩm không xảy ra. Tình hình dịch bệnh khác: Trong năm đã ghi nhận 71 ca mắc sốt xuất huyết, trong đó có 02 ổ dịch tại phường Sông Trí và xã Đồng Tiến với tổng số 08 ca mắc. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn xuất hiện các ca bệnh đơn lẻ như quai bị, thủy đậu, lỵ, hơn 1 nghìn ca tiêu chảy và hơn 16,2 nghìn ca cúm... Các ca bệnh và ổ dịch đều được phát hiện, ngăn chặn và điều trị kịp thời, không có người chết do các bệnh trên. 5. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong năm 2025 hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi, đạt nhiều kết quả nổi bật. Các hoạt động văn hóa được triển khai đồng bộ, gắn với tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước. Nhiều lễ hội lớn được tổ chức quy mô, an toàn, thu hút du khách như Lễ hội Chùa Hương Tích, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông, các lễ hội khai trương du lịch biển Xuân Thành, Thiên Cầm, Kỳ Anh... Đặc biệt, thời điểm cuối năm, Hà Tĩnh long trọng tổ chức Lễ Kỷ niệm 260 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du. Đây là sự kiện chính trị - văn hóa quan trọng, nhằm tôn vinh, tri ân những đóng góp to lớn của Đại thi hào Nguyễn Du đối với nền văn học, văn hóa Việt Nam và nhân loại; đồng thời quảng bá hình ảnh, văn hóa và con người Hà Tĩnh trong giai đoạn phát triển mới. Bên cạnh đó công tác bảo tồn di tích và phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tiếp tục được duy trì, góp phần phát triển du lịch và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Hoạt động thể thao: Đối với thể thao quần chúng, đã hướng dẫn chỉ đạo các xã, phường xây dựng kế hoạch, thành lập Ban Tổ chức và tổ chức Lễ Khai mạc Đại hội Thể dục thể thao cấp xã lần thứ X; tổ chức giải Bóng đá Nam Đại hội Thể dục thể thao cấp tỉnh lần thứ X; Đối với thể thao thành tích cao: Trong quý IV/2025 đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 15 giải thi đấu, giành được 58 huy chương các loại (21 HCV - 16 HCB - 21 HVĐ). Tính chung cả năm 2025 đoàn thể thao tỉnh nhà đã tham gia 57 giải thi đấu, giành được 272 huy chương các loại (102 HCV - 75 HCB - 95 HVĐ); Đối với thể thao chuyên nghiệp: Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tiếp tục tham gia thi đấu giải Vô địch quốc gia mùa giải 2025-2026; tính đến hết vòng đấu thứ 11, đội đang xếp thứ 6/14 câu lạc bộ tham dự. 6. Tình hình an toàn giao thông Trong quý IV năm 2025, trên địa bàn đã xảy ra 97 vụ tai nạn đường bộ, làm 52 người chết, 67 người bị thương (tăng 20 vụ so với quý trước, giảm 8 người chết, tăng 10 người bị thương so với quý trước; Trong quý này không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào, so với quý trước giữ nguyên. Tính chung cả năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 352 vụ tai nạn đường bộ, làm 233 người chết, 215 người bị thương (giảm 51 vụ, tăng 6 người chết, giảm 31 người bị thương so với năm trước); xảy ra 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương (giảm 2 vụ, tăng 2 người chết so với năm trước). Trong thời gian tới, Ban An toàn giao thông phối hợp với Công an tỉnh và các cấp ngành liên quan đang tích cực tham mưu phương án, kế hoạch phòng ngừa tai nạn giao thông và giữ gìn trật tự, an toàn giao thông phục vụ nhân dân đón Tết Dương lịch, Tết nguyên đán. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ Tình hình cháy, nổ: Trong năm 2025, Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung tình hình cháy tại khu vực nhà dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh đang diễn biến phức tạp, nhất là những tháng cuối năm công tác chữa cháy và cứu hộ cứu nạn đang được tập trung cao độ. Trong quý IV năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 22 vụ cháy, làm 01 người bị thương (giảm 01 vụ, tăng 01 người bị thương so với quý trước), không có vụ nổ nào xảy ra. Giá trị thiệt hại do cháy ước tính gần 3 tỷ đồng. Tính chung cả năm 2025, đã xảy ra 83 vụ cháy, làm 03 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính hơn 8,2 tỷ đồng (giảm 03 vụ, tăng 03 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Vi phạm môi trường: Trong tháng 12, toàn tỉnh phát hiện 20 vụ vi phạm môi trường, giảm 15 vụ so với tháng trước nhưng tăng 14 vụ so với cùng kỳ năm trước; Đã xử lý 20 vụ, giảm 52 vụ so với tháng trước nhưng tăng 14 vụ so với cùng kỳ; Với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 32,4 triệu đồng, giảm 431,84 triệu đồng so với tháng trước và giảm 444,25 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Tính cả quý IV đã phát hiện 91 vụ, xử lý trong quý được 109 vụ với số tiền xử phạt gần 1,3 tỷ đồng (tăng 63 vụ phát hiện, 76 vụ xửa lý và hơn 461 triệu đồng so với cùng quý năm trước) Tính chung cả năm 2025, đã phát hiện 346 vụ, xử lý 321 vụ với số tiền xử phạt hơn 4,6 tỷ đồng. Tăng 86 vụ phát hiện (tăng 33,08%), tăng 74 vụ xử lý (tăng 29,96%) với số tiền tăng hơn 2,5 tỷ đồng so với năm trước. Năm nay tỉnh đặc biệt quan tâm đến công tác môi trường, chỉ đạo nhiều giải pháp nhằm quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động xả thải và tuân thủ pháp luật môi trường khiến tổng số tiền xử phạt tăng cao do việc tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện một số cơ sở vi phạm có tính chất nghiêm trọng, áp dụng mức xử phạt cao để nâng cao tính răn đe và đảm bảo tính tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. 8. Tình hình thiên tai Năm 2025 được ghi nhận là năm có nhiếu biến cố về thiên tai, hỏa hoạn và dịch bệnh, chỉ tính riêng tại địa bàn đã hứng chịu nhiều diễn biến thiên tai phức tạp. Đặc biệt trực tiếp hứng chịu 03 cơn bão lớn là bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi), gây mưa lớn diện rộng, khiến 3 người chết và 62 người bị thương, với thiệt hại về tài sản ước tính lên tới 9.294 tỷ đồng. Ngoài ra, đã xảy ra 09 vụ mưa lớn, sét đánh và mưa đá, làm 01 người chết do mưa lũ, 06 người chết do sét đánh và 02 người mất tích trên biển, tổng giá trị thiệt hại gần 45 tỷ đồng Trước diễn biến phức tạp của khí hậu, thời tiết và hậu quả do thiên tai gây ra, chính quyền địa phương được sự quan tâm của các cấp trung ương và các mạnh thường quân trên khắp các miền tổ quốc đã kịp thời chung tay hỗ trợ người dân. Tính riêng quý IV năm 2025 đã hỗ trợ với tổng số tiền hơn 234,09 tỷ đồng, đây là toàn bộ số tiền hổ trợ người dân chịu ảnh hưởng thiệt hại do bão số 5 và số 10 gây ra. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Một là, tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030; Tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, đổi mới, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm. Tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ, giải pháp, nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng năm 2026. Phát triển hài hoà, cân đối thu nhập giữa các khu vực kinh tế; tạo việc làm ổn định cho người lao động, góp phần nâng cao đời sống và bảo đảm an sinh xã hội. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050. Triển khai xây dựng Đề án thành lập Khu Thương mại tự do Vũng Áng sau khi có chủ trương thực hiện. Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển kinh tế vùng, thúc đẩy hình thành cụm liên kết ngành kinh tế biển Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Trị và hành lang kinh tế Hà Tĩnh - Lào - Đông Bắc Thái Lan. Hai là, đẩy mạnh sản xuất công nghiệp; duy trì ổn định sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; nâng cao sức cạnh tranh của du lịch, thương mại, dịch vụ. Tập trung xây dựng và triển khai hiệu quả các Nghị quyết, Đề án, Chương trình về phát triển công nghiệp của tỉnh, trong đó trọng tâm là phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến - chế tạo đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Xây dựng và triển khai Đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026-2030; Tiếp tục thực hiện Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Ba là, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, tăng cường quản lý hiệu quả thu, chi ngân sách, tín dụng. Triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và các chương trình mục tiêu quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên đầu tư các công trình, dự án lớn, có tác động lan tỏa. Bốn là, tiếp tục thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, kinh tế tập thể. Đánh giá thực chất môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh; triển khai đồng bộ giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy hiệu quả Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và các địa phương (DDCI), góp phần nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Xây dựng và triển khai Đề án phát triển doanh nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2030; thực hiện hiệu quả Chương trình hành động số 46-CTr/TU ngày 03/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch số 366/KH-UBND ngày 03/7/2025 của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Năm là, tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ; quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên khoáng sản. Tập trung giải phóng mặt bằng để triển khai dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đoạn qua Hà Tĩnh; phối hợp triển khai Dự án mở rộng tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông; tiếp tục phối hợp các bộ ngành Trung ương xúc tiến đầu tư các dự án giao thông trọng điểm. Triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2026 - 2030; Đề án phát triển vật liệu xây dựng Hà Tĩnh giai đoạn 2025 - 2030, định hướng đến năm 2050; Phê duyệt các mỏ khoáng sản theo cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ; lập phương án quản lý về địa chất, khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo Chương trình hành động số 42-CTr/TU của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Bảy là, phát huy giá trị văn hóa, con người Hà Tĩnh, phát triển toàn diện, hài hòa các lĩnh vực văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống, bảo đảm an sinh xã hội; làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, tạo đồng thuận xã hội.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.Phòng Thống kê Tổng hợp - Thống kê tỉnh Hà Tĩnh[1] Diện tích ngô vụ Đông Xuân đạt 12.303 ha (tăng 323 ha); vụ Hè Thu đạt 2.364 ha (giảm 39 ha)[2] Diện tích Lạc vụ Đông Xuân đạt 5.867 ha (giảm 744 ha); vụ Hè Thu đạt 401 ha (tăng 31 ha)[3] Rau vụ ĐX đạt 10.818 ha (giảm 45 ha); vụ Hè Thu đạt 2.952 ha (giảm 39 ha); vụ Mùa ước đạt 178 ha (giảm 67 ha).[4] Vụ Đông: Ngô lấy hạt 4.667 ha/5.007 ha, đạt 93,2% kế hoạch; Ngô sinh khối 982 ha/1.078 ha, đạt 91,1% KH; Khoai lang 823 ha/1.254 ha, đạt 65,6% KH; Rau các loại 4.179 ha/5.060 ha, đạt 82,6% KH.[5] Mức tăng lần lượt ở các quý năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024 (Quý I tăng 8,02%, quý II tăng 16,07%, quý III tăng 15,10%, quý IV tăng 14,45%)[6] Nguồn TW hỗ trợ 40,5 tỷ đồng; nguồn từ các địa phương khác 74,15 tỷ đồng; các đơn vị doanh nghiệp cá nhân 47,475 tỷ đồng; tập đoàn Vingroup hỗ trợ về nhà ở trị giá 94 tỷ đồng; tổ chức nước ngoài 1,014 tỷ đồng.[7] Phát 600 suất cháo trị giá 15 triệu đồng đến bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đang điều trị tại các trung tâm y tế. Hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng do hạn hán, xâm nhập mặn 150 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho người dân bị ảnh hưởng bão số 5 số tiền 340 triệu đồng; hỗ trợ chi trả cho chủ chăn nuôi có gia súc phải tiêu hủy do dịch bệnh 68 triệu đồng; hỗ trợ người dân khắc phục thiệt hại do bão số 5, số 10 với tổng số tiền 139,63 tỷ đồng; hỗ trợ trực tiếp cho 4.637 hộ dân bị thiệt hại về nhà ở với tổng số tiền 94 tỷ đồng của Vingroup và 1,01 tỷ đồng nước ngoài hỗ trợ; Chuyển hỗ trợ các địa phương khác 5 tỷ đồng (tiền MTTQ).[8] Hsg tỉnh lớp 12: Giải Nhất 61; Giải Nhì 190; Giải Ba 287; Giải Khuyến khích 178.[9] Hsg tỉnh lớp 12 đặc cách: môn Tiếng Anh 156 học sinh (14 nhất; 56 nhì; 86 ba), môn Tiếng Pháp có: 01 giải Nhất.[10] Hsg tỉnh lớp 9: Giải Nhất: 64, Giải Nhì 217, Giải Ba 335, Giải KK 372[11] Hsg tỉnh lớp 9 đặc cách: Môn Tiếng Anh giải Nhất 14; giải Nhì 15; giải Ba 18.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 Tỉnh Hà Tĩnh
  •   01/12/2025 10:51

Trong bối cảnh nền kinh tế cả nước đang từng bước phục hồi sau nhiều biến động, ngành nông nghiệp và xuất khẩu vẫn tiếp tục đối mặt với những khó khăn. Tuy nhiên, tại Hà Tĩnh, đà tăng trưởng vẫn được duy trì vững chắc. Điều này chủ yếu đến từ sự phục hồi mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sức tiêu dùng nội địa. Các lĩnh vực quan trọng khác như du lịch, logistics và bất động sản cũng cho thấy dấu hiệu phục hồi rõ nét. Thành quả này phản ánh hiệu quả bước đầu từ chiến lược tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng mà tỉnh đã triển khai. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất trồng trọt và chăn nuôi tháng 11 cũng như 11 tháng năm 2025 vẫn chưa có nhiều khởi sắc, chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh làm giảm quy mô đàn và ảnh hưởng đến sản lượng. Tuy nhiên bên cạnh đó, lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế và tạo sinh kế cho người dân, sản lượng thủy sản vẫn giữ được đà ổn định cả ở giá trị và chất lượng. 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1. Trồng trọt * Cây hàng năm Kết quả sản xuất năm 2025: Hà Tĩnh phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng từ thời tiết bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất các loại cây trồng chủ lực. Cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu đều chịu tác động kép của dịch bệnh và thiên tai. Trong vụ Đông Xuân, mưa lớn làm gãy đổ 1.870 ha lúa và thiệt hại 90 ha ngô. Sang vụ Hè Thu, tình hình càng phức tạp với nắng nóng gây hạn hán đầu vụ, tiếp đó là mưa ẩm làm bùng phát sâu bệnh và kết thúc bằng mưa bão khiến lúa đổ ngã trên diện rộng. Các cây trồng khác như ngô, lạc, rau màu cũng không tránh khỏi tổn thất. Trước hoàn cảnh đó, ngành Nông nghiệp và chính quyền địa phương đã kịp thời triển khai các biện pháp ứng phó như tiêu úng, dựng lúa, sấy khẩn cấp, góp phần giảm thiểu đáng kể thiệt hại và ổn định sản xuất. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 156.399 ha, bằng 99,47% so với cùng kỳ năm trước (giảm 828 ha). Trong đó, cây lúa diện tích cả năm ước đạt 104.789 ha, tăng nhẹ 0,42% so với năm trước. Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ vụ Hè Thu khi diện tích đạt 45.476 ha, tăng 602 ha so với cùng kỳ. Tuy nhiên, năng suất lúa cả năm chỉ đạt 46,61 tạ/ha, giảm tới 18,69% so với năm 2024. Nguyên nhân chính đến từ các yếu tố bất lợi liên tiếp, thời tiết cực đoan ngay từ đầu vụ, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng và đặc biệt là hai cơn bão lớn số 5 và số 6 đổ bộ vào thời kỳ lúa trổ bông - giai đoạn then chốt quyết định năng suất. Hậu quả là nhiều diện tích lúa bị ngập úng, đổ ngã, thối hỏng, dẫn đến sản lượng vụ Hè Thu sụt giảm mạnh, gây thiệt hại nặng nề cho người sản xuất, dẫn đến tổng sản lượng lúa cả năm chỉ đạt 488.393 tấn, bằng 81,65% (giảm 109.744 tấn) so với năm 2024[1]. Đối với cây trồng hàng năm khác, chỉ có cây ngô[2] vẫn có tín hiệu tăng trưởng khá do thời tiết vụ Đông Xuân thuận lợi, cây sinh trưởng tốt, cùng với giá bán ổn định đã khuyến khích nông dân đầu tư thâm canh. Còn lại các cây trồng khác[3] cũng gặp nhiều khó khăn và sản lượng giảm so với năm trước. Tiến độ sản xuất vụ Đông: Sản xuất vụ Đông trên địa bàn tỉnh diễn ra trong bối cảnh thời tiết có nhiều biến động. Ngay từ đầu vụ, công tác chỉ đạo và triển khai kế hoạch đã được các địa phương và người dân thực hiện chủ động. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết không thuận lợi (nắng nóng muộn đầu tháng 9, mưa lớn rải rác tháng 10) đã gây trở ngại cho khâu làm đất và xuống giống, buộc một số diện tích phải điều chỉnh lịch thời vụ hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Bước vào giữa và cuối vụ, thời tiết ổn định hơn đã tạo điều kiện mở rộng diện tích. Trước diễn biến phức tạp của sâu bệnh do mưa ẩm kéo dài, ngành Nông nghiệp đã tăng cường công tác hướng dẫn kỹ thuật phòng trừ. Công tác chăm sóc, tưới tiêu được nông dân thực hiện tích cực. Các mô hình sản xuất tiên tiến (rau an toàn, nhà màng) tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc ổn định sản xuất, đảm bảo nguồn cung thực phẩm và nâng cao thu nhập cho người dân * Cây lâu năm Trong tháng 11/2025, nhiều địa phương vừa tiến hành trồng mới cây ăn quả, vừa thu hoạch chính vụ các loại cây chủ lực như cam, bưởi. Tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 30.340 ha, giảm 3,32% so với năm 2024. Nguyên nhân chính do đất nông nghiệp bị thu hồi cho các dự án hạ tầng, diện tích cam và bưởi đều giảm khoảng 6,5%. Mặc dù diện tích giảm, nhưng nhờ chủ trương thay thế vườn tạp bằng cây ăn quả có giá trị cao, tổng sản lượng vẫn đạt 184.129 tấn, tăng nhẹ 0,79%. Đáng chú ý, sản lượng bưởi tăng 7,6% và chanh tăng 1,14% bù đắp cho việc sản lượng cam giảm 1,67%. Định hướng tới là phát triển các vùng sản xuất tập trung, an toàn, gắn với chế biến và thị trường để nâng cao giá trị. Bên cạnh đó, cây công nghiệp như cao su và chè tiếp tục khẳng định hiệu quả kinh tế, với sản lượng đều tăng so với cùng kỳ, góp phần ổn định thu nhập cho người dân. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Đối với cây hàng năm: Tình trạng mưa kéo dài đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây rau, dẫn đến hiện tượng vàng lá, thối rễ do ngập úng tại nhiều xã với tổng diện tích nhiễm gần 25ha. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu và sâu cắn lá xuất hiện phổ biến tại các địa phương, diện tích nhiễm 15ha. Đối với cây lâu năm: Các vườn cây ăn quả tại xã Sơn Tây, Hương Đô,... đang chịu ảnh hưởng bởi bệnh loét, ruồi đục quả và thối quả, với diện tích nhiễm 45ha. Tình trạng thoát nước kém cũng khiến lá vàng và rụng quả tiếp diễn. Trước tình hình trên, Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi tỉnh đã chủ động triển khai các biện pháp chỉ đạo và hướng dẫn nông dân phòng trừ dịch hại kịp thời. 1.1.2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng 11/2025 tiếp tục gặp nhiều thách thức. Dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp khiến người chăn nuôi e ngại, dẫn đến việc thu hẹp đàn và giảm nguồn cung thịt lợn, cùng với đó, tâm lý lo ngại dịch bệnh từ phía người tiêu dùng cũng làm giảm sức tiêu thụ. Đàn lợn ước tính giảm 9.856 con so với cùng kỳ, chủ yếu do các hộ nhỏ lẻ không tái đàn. Đàn gia cầm vẫn duy trì ổn định ở mức gần 10,4 triệu con, tuy nhiên đàn trâu, bò lại giảm mạnh (trâu giảm 27,18%, bò giảm 17,82%) do hiệu quả kinh tế thấp và đầu ra khó khăn. Nguyên nhân chung đến từ dịch bệnh, thời tiết bất lợi và thị trường tiêu thụ bị thu hẹp. Để ổn định sản xuất, tỉnh cần tăng cường giám sát dịch bệnh, hỗ trợ tái đàn an toàn và tìm giải pháp ổn định thị trường. Trong bối cảnh hiện nay, các cơ sở chăn nuôi đang nỗ lực duy trì đàn và tăng cường phòng dịch để đáp ứng nhu cầu thị trường dịp lễ sắp tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng, dịch tả lợn châu Phi đã phát sinh tại 45 xã, phường, dẫn đến việc tiêu hủy bắt buộc 20.858 con lợn, tương đương tổng khối lượng 1.439 nghìn kg. Bệnh Viêm da nổi cục xuất hiện tại 03 xã (Kỳ Anh, Cẩm Duệ, Cẩm Lạc), với 03 con bò mắc bệnh đã được tiêu hủy (568 kg). Bệnh Lở mồm long móng được ghi nhận tại xã Kỳ Văn, làm 17 con bò mắc bệnh. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 21/11/2025, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận một số dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sau: Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 64 xã, với 46.886 con lợn buộc phải tiêu hủy; Viêm da nổi cục xảy ra tại 22 xã làm 94 con bò mắc bệnh (đã tiêu hủy 30 con). Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã làm 45 con bò mắc bệnh (đã tiêu hủy 02 con). Tính đến thời điểm báo cáo, dịch bệnh vẫn đang được kiểm soát với số xã còn dịch chưa qua 21 ngày là: 51 xã đối với Dịch tả lợn châu Phi, 03 xã đối với Viêm da nổi cục và 01 xã đối với Lở mồm long móng. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tháng 11/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 1.657,88 ha, bằng 147,03% (tăng 530,28 ha), cây trồng phân tán ước đạt 162 nghìn cây, chỉ bằng 75,7% (giảm 52 nghìn cây); sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 99.005 m³, bằng 110,94% (tăng 9.765 m³) so với cùng kỳ. Việc sản lượng rừng khai thác lớn khiến người dân gia tăng trồng mới trên diện tích đã thu hoạch xong. Tính chung 11 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt hơn 8.950 ha, bằng 108,64%, tăng hơn 711 ha so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán ước đạt 1.748 nghìn cây, bằng 71,27% (giảm 705 nghìn cây) so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 705.067 m³, bằng 121,7% (tăng 125.711 m³). Hoạt động lâm nghiệp trong tháng 11 và 11 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, các địa phương tập trung trồng rừng, chăm sóc rừng và khai thác theo kế hoạch. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường, đặc biệt trong bối cảnh thời tiết chuyển sang mùa hanh khô. Thiệt hại về rừng: Trong tháng xảy ra 4 vụ phá rừng với diện tích 1,78 ha. Tính từ đầu năm đến 21/11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 40 vụ phá rừng (giảm 11 vụ), diện tích rừng bị phá là 10,68 ha (giảm 3,27 ha) so với cùng kỳ. Các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời. 1.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản trong tháng và 11 tháng vẫn tăng trưởng khá và duy trì khá ổn định mặc dù sản lượng nuôi trồng có giảm nhẹ so với tháng trước nhưng bù lại hoạt động khai thác lại tăng mạnh và đạt sản lượng cao. Sản lượng khai thác tháng 11 ước đạt 3.047 tấn, bằng 110,52% (tăng 290 tấn) so với cùng kỳ năm trước[4]. Tính chung 11 tháng năm 2025, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 41.430 tấn, bằng 105,2% (tăng 2.049 tấn). Bước sang tháng 11, cường độ mưa bão giảm, biển ít động hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền vươn khơi. Nhờ thời tiết ít ảnh hưởng xấu, số ngày bám biển của ngư dân tăng, góp phần làm sản lượng khai thác biển tăng 290 tấn so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng tháng 11 ước đạt 1.016 tấn, giảm nhẹ 0,29% (tương đương 3 tấn) so với cùng kỳ. Tuy nhiên, xét về tổng thể 11 tháng, sản lượng nuôi trồng vẫn duy trì mức tăng trưởng với 16.949 tấn, tăng vượt 3,52% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng 11, dịch bệnh đốm trắng trên tôm thẻ chân trắng đã xuất hiện trên diện tích 0,6 ha. Tính lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng diện tích nhiễm bệnh là 6,95 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh trong tháng 11 năm 2025 tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhà máy sản xuất Pack Pin VinES đã nhanh chóng đi vào vận hành ổn định, bên cạnh đó, nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất. Mặc dù chịu một số ảnh hưởng từ sự cố tại nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II, ngành công nghiệp toàn tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng cao. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 11/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,33% so với tháng trước và tăng 24,65% so với cùng kỳ năm trước[5] nhờ hoạt động sản xuất bước vào giai đoạn cao điểm cuối năm, nhu cầu thị trường cải thiện và các doanh nghiệp đẩy mạnh hoàn tất đơn hàng. Ngành khai khoáng tăng nhẹ so với tháng trước do một số mỏ hoạt động trở lại sau ảnh hưởng của thiên tai, nhưng do một số mỏ cạn kiệt trữ lượng, khiến sản lượng khai thác suy giảm đáng kể so với cùng kỳ. Ngành chế biến chế tạo công suất sản xuất được mở rộng, nhu cầu xuất khẩu phục hồi và sự khởi sắc rõ rệt của các ngành kim loại, điện tử, dệt may và thực phẩm; đáng chú ý là các đơn hàng thép phục vụ nhu cầu cuối năm cùng sự hồi phục của sản xuất dăm gỗ sau khó khăn từ năm 2024 đã góp phần quan trọng vào mức tăng chung. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất cải thiện, tuy nhiên do mức nền năm trước cao và cơ cấu nguồn điện chuyển dịch mạnh sang thủy điện, khiến sản lượng từ nhiệt điện than giảm. Tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 6,64% so với cùng kỳ năm 2024. Ngành công nghiệp khai khoáng đóng góp 0,03 điểm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 4,09 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện đóng góp 2,39 điểm và ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải đóng góp 0,13 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. 2.2. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong 11 tháng năm 2025, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục cho thấy xu hướng phục hồi rõ rệt và duy trì mức tăng trưởng tích cực. Trong số 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu được theo dõi, có 15 nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ắc quy bằng ion lithi đạt gấp 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 32,04%; gạch xây dựng bằng đất nung tăng 48,41%; điện sản xuất tăng 14,71%...Diễn biến này phản ánh nỗ lực duy trì sản xuất, mở rộng quy mô và thích ứng linh hoạt của các doanh nghiệp trước những biến động của thị trường. Đồng thời, cơ cấu sản xuất công nghiệp của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng ổn định và bền vững hơn. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng năm 2025 giảm so với năm trước: Như thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 6,93%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 32,32%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 34,15%... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2025 tăng 2,26% so với tháng trước và tăng 36,17% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tình hình sử dụng lao động tại Hà Tĩnh có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phục hồi và chuyển dịch trong cơ cấu lao động của tỉnh. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Cộng dồn đến cuối tháng 11 năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 14,92% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 6,9% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,79%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,55% so với cùng kỳ năm 2024. 3. Đầu tư và xây dựng Bước vào những tháng cuối năm, áp lực hoàn thành kế hoạch ngày càng lớn khi thời gian còn lại không nhiều, trong khi mùa mưa bão tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ các công trình, dự án. Trước tình hình này, UBND tỉnh đã có chỉ đạo khẩn trương: các sở, ngành và chủ đầu tư phải tập trung tháo gỡ khó khăn về giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh thi công, và chủ động nguồn vật liệu xây dựng để bảo đảm chất lượng, ổn định giá. Các đơn vị cần rà soát, ưu tiên vốn cho các dự án có khả năng hoàn thành trong năm, phấn đấu giải ngân đạt 100% kế hoạch được giao trước hết năm 2025. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2025 đạt 1.439,089 tỷ đồng, tăng 13,65% so với tháng trước, tăng 32,15% so với cùng kỳ năm trước[6]. Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng, thời tiết nhìn chung thuận lợi hơn, các chủ đầu tư tranh thủ mọi nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình để đảm bảo về đích đúng thời hạn, mặt khác kế hoạch vốn vừa được bổ sung hơn 600 tỷ đồng nên nguồn vốn thực hiện tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai, giải ngân các dự án; bám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo giải ngân toàn bộ số vốn được giao. Các sở, ngành tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm theo chỉ đạo của Chính phủ. Một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; Phát triển tổng hợp các đô thị động lực - Tiểu dự án đô thị Kỳ Anh (vay vốn WB); Dự án Đường từ Quốc lộ 12C đi khu liên hợp gang thép Formosa, tỉnh Hà Tĩnh; Đường vành đai phía Đông thành phố Hà Tĩnh. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 8.079,32 tỷ đồng, tăng 33,12% so với cùng kỳ năm trước[7]. Hiện nay các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai, giải ngân các dự án; bám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo giải ngân toàn bộ số vốn được giao; Các sở, ngành, đơn vị liên quan tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2025 theo chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh, phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách Nhà nước năm 2025 đạt 100% kế hoạch vốn được cấp có thẩm quyền giao. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng tăng dần vào thời điểm cuối năm, cùng với sự chủ động của các cơ quan quản lý trong việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu và chuẩn bị cho mùa mua sắm cao điểm. Thị trường hàng hóa nhìn chung ổn định, nguồn cung được đảm bảo, các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh tích cực mở rộng quảng bá sản phẩm và triển khai các chương trình kích cầu. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 6.781,62 tỷ đồng, tăng 3,7% so với tháng trước, tăng 6,74% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng chủ yếu biến động tăng so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ chứng tỏ sức mua vẫn tăng mạnh mẽ và niềm tin vào nền kinh tế vẫn duy trì. Đặc biệt các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng doanh thu cao vẫn đạt mức tăng trưởng khá như nhóm lương thực, thực phẩm chiếm 46,84% doanh thu, tăng 13,88% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, vật phẩm, văn hóa, giáo dục; đá quý, kim loại quý cũng tăng trưởng mạnh trong tháng điều này cho thấy người dân đang đầu tư nhiều hơn vào chất lượng cuộc sống. Tính chung 11 tháng năm 2025 doanh thu bán lẻ ước đạt 71.196,84 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước. Việc thị trường hàng hóa ngày càng đa dạng, hệ thống phân phối được mở rộng và hiện đại hóa, từ chợ truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại đến các kênh thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn và nâng cao tính cạnh tranh của thị trường. Một số nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng ghi nhận mức tăng khá, góp phần giữ ổn định thị trường tiêu dùng trong bối cảnh giá cả thế giới có nhiều biến động. Đặc biệt, chuyển đổi số thông qua thương mại điện tử, livestream bán hàng, thanh toán không tiền mặt và khai thác dữ liệu tiêu dùng là yếu tố then chốt giúp tăng cường kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, mở rộng thị trường và cải thiện hiệu quả kinh doanh. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 11/2025 ước đạt 885,73 tỷ đồng, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 15,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng doanh thu hoạt động lưu trú, lữ hành gặp nhiều khó khăn do yếu tố mùa vụ, khi địa phương bước sâu vào thời kỳ mưa lũ, thời tiết diễn biến phức tạp với mưa lớn kéo dài, khiến nhu cầu đi lại, tham quan và du lịch của du khách bị hạn chế đáng kể. Điều kiện thời tiết bất lợi cũng làm giảm lượng khách nội địa đi nghỉ dưỡng cuối tuần – nhóm khách thường duy trì ổn định vào các tháng trước Mặc dù vậy, hoạt động ăn uống chiếm tỷ trọng doanh thu cao và vẫn duy trì ổn định. Trái ngược với lĩnh vực lưu trú và lữ hành, dịch vụ ăn uống ghi nhận doanh thu tăng nhẹ so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 865,45 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước, tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú ước đạt 16,51 tỷ đồng, giảm 18,12% so với tháng trước, tăng 6,07% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành chỉ đạt trên 3,77 tỷ đồng, giảm 2,31% so với tháng trước và tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 9.011,31 tỷ đồng, tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm 94,92% tổng doanh thu) tăng 13,27% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động ăn uống vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định, dịch vụ giao đồ ăn vẫn tiếp tục phát huy vai trò là kênh hỗ trợ hiệu quả cho các cơ sở kinh doanh trong những ngày thời tiết không thuận lợi Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2025 ước đạt 464,92 tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 18,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, bước vào mùa cưới hỏi cũng như các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công trước mùa mưa và cận cuối năm nên nhu cầu các dịch vụ cho thuê đồ dùng gia đình, máy móc sử dụng thiết bị phục vụ thi công, xây dựng, sản xuất tiếp tục tăng. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu ước đạt 4.794,75 tỷ đồng, tăng 15,67% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành dịch vụ tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, mặc dù tốc độ tăng không bằng tháng 10 do tâm lý thận trọng trước cuối năm cùng một số yếu tố mang tính mùa vụ. Ngành bất động sản, y tế, giáo dục và các dịch vụ cá nhân vẫn đóng vai trò là những động lực chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trên địa bàn tiếp tục đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Chất lượng phương tiện được nâng cao, số lượng ổn định, cùng với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và mở rộng mạng lưới tuyến đường, đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu đi lại, vận chuyển và tiêu dùng duy trì ổn định và có xu hướng tăng. Đặc biệt, sự phục hồi của sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu và thương mại điện tử là động lực chính thúc đẩy ngành vận tải và dịch vụ kho bãi. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 11/2025 doanh thu ước đạt 785,1 tỷ đồng, tăng 0,59% so tháng trước và tăng 14,64% so cùng kỳ năm trước[8]. Trong tháng thời tiết khá thuận lợi, nhu cầu đi lại người dân bằng phương tiện công cộng tăng, bên cạnh đó là tháng cuối năm thời điểm hoàn thiện các công trình xây dựng. Vận tải hàng hoá vẫn là nhóm ngành có doanh thu lớn và tăng tăng trưởng khá ổn định. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu vận tải dự tính đạt 8.870,59 tỷ đồng, tăng 14,25% so với cùng kỳ năm trước[9], với số lượng vận chuyển hành khách đạt hơn 15,5 triệu người và khối lượng vận chuyển ước đạt gần 57,6 triệu tấn, tăng 19,27%. Nhìn chung điều kiện kinh tế của người dân đang cải thiện rõ rệt, nhu cầu tham quan đi lại, sử dụng các dịch vụ vui chơi giải trí ngày càng cao. Các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, công trình xây dựng trong dân cư tăng thúc đẩy hoạt động vận tải hàng hoá, xu hướng tiêu dùng của người dân chuyển từ mua sắm truyền thống qua mua sắm online thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động ngành bưu chính, chuyển phát đa dạng hoá có tính cạnh tranh cao để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mười một tháng năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt hơn 4,3 tỷ USD, giảm 23,29% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính là do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) gặp khó khăn trong xuất khẩu thép và phôi thép do các chính sách bảo hộ thương mại quốc tế, dẫn đến giảm sản lượng và nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu. Trị giá xuất khẩu tháng 11/2025 ước đạt 151,80 triệu USD, tăng 32,46% so với tháng trước và so với cùng kỳ tăng 31,92%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi của thị trường quốc tế và các doanh nghiệp đẩy mạnh giao hàng vào những tháng cuối năm. Tính chung 11 tháng năm 2025, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.760,54 triệu USD, giảm 19,82% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ tính riêng ngành xuất khẩu thép, phôi thép đạt gần 1,2 tỷ USD (chiếm 67,47% tổng trị giá) giảm 35,19% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm xuất khẩu nằm ở sự tụt dốc của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh với trị giá xuất khẩu lũy kế giảm 35,55%. Bên cạnh những khó khăn từ ngành thép, vẫn có một số điểm sáng cần ghi nhận. Các mặt hàng như hàng dệt may và xơ, sợi dệt tiếp tục tăng trưởng mạnh (dệt may tăng 78,20% và xơ sợi dệt tăng 83,58% so với cùng kỳ). Trị giá nhập khẩu tháng 11/2025 ước đạt 260,9 triệu USD, tăng 24,01% so với tháng trước và tăng 36,64% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025 trị giá nhập khẩu ước đạt 2.557,71 triệu USD, giảm 25,51%. Trong đó, trị giá nhập khẩu của Formosa ước đạt 1.793,82 triệu USD, chiếm 70,13% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, giảm 33,09% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, hoạt động xuất khẩu của Hà Tĩnh vẫn đối diện nhiều thách thức, với mục tiêu xuất khẩu đạt 2,2 tỷ USD, đến nay con số thực hiện mới chỉ đạt gần 80% kế hoạch đề ra. Những khó khăn chủ yếu đến từ biến động thị trường, đặc biệt là sự sụt giảm từ các đơn hàng ngành thép – mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Tuy nhiên, so với tình hình chung Hà Tĩnh vẫn cho thấy nền tảng tăng trưởng bền vững nhờ sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và vai trò đồng hành tích cực của chính quyền địa phương. Việc tỉnh chủ động tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường và tận dụng tốt FTA sẽ là “chìa khóa” để bứt phá trong giai đoạn cuối năm. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường tiêu dùng hàng hoá càng về cuối năm càng diễn ra sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng, chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận sự sôi động của thị trường hàng hóa, nổi bật nhất là Hội chợ Công thương với gần 200 gian hàng đã thu hút hàng chục ngàn lượt khách. Giá cả các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định, một số mặt hàng tăng nhẹ nhưng không tạo cú sốc lớn. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 11 năm 2025 tăng 0,44% so tháng trước, tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,61% so với tháng 12 năm trước. CPI trong tháng tăng so với tháng trước, chủ yếu do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng đến 1,12%, trong đó thực phẩm tăng mạnh 1,60%, thịt gia súc tiếp tục tăng theo đà tháng trước, giá thịt lợn dao động từ 125.000 đồng/kg đến 143.000 đồng/kg. Ngoài ra, do yếu tố thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến sinh trưởng các loại cây trồng khiến nguồn cung hạn chế nên giá các loại rau, củ, quả đang ở mức cao và vẫn trên đà tăng lên càng về cuối năm, vì vậy đạt ra yêu cầu đa dạng hoá nguồn cung, đảm bảo bình ổn giá thực phẩm nhất là thời điểm gần giáp Tết. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, trong tháng 11/2025 vẫn có các nhóm hàng giảm giá so với cả tháng trước và cùng kỳ, điển hình là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,50% so tháng trước và giảm đến 3,22% so với cùng kỳ, ảnh hưởng do giá điện sinh hoạt giảm 1,41% so với tháng trước do thời tiết lạnh nhu cầu sử dụng điện giảm; giá gas trong tháng giảm 2,20% so với tháng trước và giảm 10,10% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do giá gas thế giới theo hợp đồng (CP) giảm, cùng với nguồn cung LPG toàn cầu dồi dào nhờ sự gia tăng sản xuất từ các nhà máy lọc dầu và tách khí tự nhiên. Bình quân 11 tháng năm 2025 chỉ số CPI tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 3,93%, nông thôn tăng 2,91%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng vẫn đang được theo dõi và kiểm soát chặt chẽ. Dự báo sắp tới sẽ có các biện pháp từ các cơ quan chức năng nhằm điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường thời điểm giáp Tết. Thị trường vàng và Đô la Mỹ giá cả vẫn đang ở mức cao biến động mạnh theo xu hướng của giá vàng thế giới. Dự báo CPI tháng 12/2025 tiếp tục tăng do càng gần Tết Nguyên đán, cơ cấu và giá cả các mặt hàng dịch vụ tiêu dùng càng biến động mạnh, cùng với sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng vào các dịp cuối năm thường khiến giá các mặt hàng thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng tăng. Ngoài ra, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng tăng. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng, tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực để khắc phục hậu quả thiên tai và phát triển kinh tế. Các hoạt động nổi bật bao gồm việc phát động phong trào “Toàn dân ra quân làm thủy lợi”, hỗ trợ vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để phục hồi sản xuất, mở rộng chăn nuôi, trồng trọt, cùng với đó là trao tặng các mô hình sinh kế như gà giống, trâu bò giống cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Công tác cứu trợ cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các tổ chức trong cả nước. Cụ thể, Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã trao 525 triệu đồng, Bộ Công an hỗ trợ 5 tỷ đồng từ Quỹ Nghĩa tình đồng đội, và tỉnh Thanh Hóa hỗ trợ 4 tỷ đồng. Các nguồn lực này được sử dụng để khắc phục hậu quả bão lũ, sửa chữa nhà ở, trường học và các công trình dân sinh bị hư hại. Bên cạnh những nỗ lực khôi phục, người dân Hà Tĩnh còn tích cực tham gia Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong không khí vui tươi, phấn khởi. Đồng thời, tỉnh cũng tổ chức Hội chợ Công Thương Bắc Trung Bộ từ ngày 19 đến 24/11, thu hút hơn 146 doanh nghiệp, hợp tác xã và làng nghề tham gia, tạo cơ hội kết nối giao thương, quảng bá thương hiệu và mở rộng thị trường. 2. Giáo dục - đào tạo Công tác Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt. Điểm nhấn trong tháng là lễ khởi công hai trường Phổ thông nội trú liên cấp tại Hà Tĩnh với tổng vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng. Chủ trương xây dựng trường học vùng biên không chỉ góp phần phát triển hạ tầng mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với học sinh vùng khó. Bên cạnh đó, nhiều công trình an sinh khác cũng được khánh thành, như hai trường học tại Hương Khê do BIDV tài trợ với tổng trị giá 10,5 tỷ đồng. 3. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận 4 ca mắc sốt xuất huyết, 40 ca mắc tay chân miệng các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do dịch bệnh. các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp... vẫn được theo dõi sát và không ghi nhận ổ dịch lớn. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, có 33 người bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc thực phẩm. Tính chung 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 23 người bị ngộ độc tập thể và có 624 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước có giảm 1 vụ ngộ độc tập thể (nhưng tăng 10 người bị ngộ độc), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 174 ca, các ca ngộ độc đều được phát hiện và điều trị kịp thời không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên. Trong tháng ghi nhận thêm 01 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca chết vì AIDS, so với tháng trước số người nhiễm mới không thay đổi nhưng giảm 6 ca tử vong do AIDS. Tính chung 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 14 ca nhiễm HIV mới và 6 ca tử vong do AIDS, giảm 13 ca nhiễm mới và số ca tử vong do AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa mang dấu ấn cộng đồng mạnh mẽ. Đặc biệt, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức tại nhiều khu dân cư với các tiết mục văn nghệ, trò chơi dân gian, hoạt động thể thao và trao quà cho hộ nghèo, góp phần thắt chặt tinh thần gắn bó cộng đồng. Ngoài ra, tỉnh còn có triển lãm ảnh nghệ thuật “Sắc màu cuộc sống” và nhiều chương trình giao lưu, biểu diễn, phóng sự văn hóa trên truyền hình địa phương, tạo nên không khí phấn khởi, đậm đà bản sắc trong đời sống tinh thần của nhân dân Hà Tĩnh. Về thể dục thể thao: Thể thao thành tích cao ghi dấu ấn với 17 huy chương quốc gia. Trong tháng 11, các vận động viên Hà Tĩnh liên tiếp tỏa sáng. Tại giải Vô địch Pencak Silat, đoàn giành 12 huy chương (4 HCV, 1 HCB, 7 HCĐ). Tiếp đó, tại giải Đua thuyền Sailing, các VĐV mang về 5 huy chương (1 HCV, 1 HCB, 3 HCĐ). Thành tích này là minh chứng cho sự phát triển vượt bậc của thể thao đỉnh cao tỉnh nhà. Phong trào thể thao quần chúng sôi nổi, thiết thực. Cùng thời gian, nhiều hoạt động ý nghĩa đã thu hút đông đảo người dân tham gia. Nổi bật là Giải Pickleball do Thanh tra tỉnh tổ chức, quy tụ 60 vận động viên là cán bộ, công chức toàn ngành. 5. Tình hình trật tự và an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn đã xảy ra 34 vụ tai nạn đường bộ, làm 19 người chết, 26 người bị thương, tăng 4 vụ, 02 người chết và 4 người bị thương so với tháng trước. Cũng trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào, giữ nguyên so với tháng trước. Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 99 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2025 trên địa bàn đã xảy ra 319 vụ tai nạn đường bộ, làm 217 người chết và 196 người bị thương; 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước gần 3,6 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn đường bộ giảm 54 vụ, tăng 07 người chết nhưng giảm 29 người bị thương; tai nạn đường sắt giảm 2 vụ và giảm 2 người chết, số người bị thương không thay đổi, giá trị thiệt hại tăng hơn 1,3 tỷ đồng. 6. Bảo vệ môi trường, thiên tai và phòng chống cháy, nổ Tình hình cháy, nổ: Trong tháng đã xảy ra 05 vụ cháy, giảm 04 vụ so với tháng trước, không làm thiệt hại về người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 73 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2025, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 75 vụ cháy, làm 3 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 1,7 tỷ đồng. Cũng trong tháng 11 và 11 tháng năm 2025 không xảy ra vụ nổ nào, không thay đổi so với năm trước. Vi phạm môi trường: Trong tháng toàn tỉnh phát hiện 35 vụ vi phạm môi trường, giảm 01 vụ (giảm 2,78%) so với tháng trước; tăng 30 vụ so với cùng kỳ năm trước; Số vụ vi phạm đã xử lý là 72 vụ, tăng 55 vụ so với tháng trước và tăng 67 vụ so với cùng kỳ với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là hơn 464 triệu đồng, giảm gần 328 triệu đồng so với tháng trước nhưng tăng gần 450 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ môi trường của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực trong năm nay. Việc ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mới cùng với phạm vi kiểm tra được mở rộng đã giúp phát hiện 326 vụ vi phạm (tăng 72 vụ). Bên cạnh đó, do một số vi phạm có tính chất nghiêm trọng, tỉnh đã áp dụng các mức phạt cao hơn (tổng số tiền xử phạt đạt 4,5 tỷ đồng, tăng hơn 2,8 tỷ đồng) nhằm bảo đảm tính răn đe và sự tuân thủ pháp luật. Tình hình thiên tai: Tình hình thiên tai trên địa bàn diễn biến hết sức phức tạp. Trong tháng vừa qua, một đợt mưa lớn đã gây ngập lụt tại nhiều xã, phường, với mực nước tại các hộ dân phổ biến từ 0,5 đến 2,0 mét. Hậu quả là một người tử vong do bị lũ cuốn khi di chuyển đàn gia súc; 01 ngôi nhà bị thiệt hại hoàn toàn và hơn 7,1 nghìn nhà khác bị ngập, trong đó 1.645 nhà chìm trong nước với độ sâu từ 1-3m. Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng: 28 điểm trường, 16 cơ sở y tế, 06 công trình văn hóa và 3 di tích lịch sử bị ngập hoặc hư hỏng; hơn 2.415m kênh mương và 300m bờ sông suối bị sạt lở. Về giao thông, Quốc lộ có 9 điểm sạt lở, trong khi đường địa phương có khoảng 30.500 m³ đất và 5.400 m³ vật liệu (đá, bê tông, nhựa) bị sạt trôi, nhiều tuyến đường bị chia cắt trong nhiều ngày. Sản xuất nông nghiệp và thủy sản thiệt hại nặng với 106 ha hoa màu, 30 ha cây trồng bị dập nát, gãy đổ; 130 tấn lương thực bị hư hỏng và 198,4 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 266,5 triệu đồng. Tính đến thời điểm hiện tại, địa bàn đã trực tiếp hứng chịu 03 cơn bão lớn là bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi), gây mưa lớn diện rộng, khiến 3 người chết và 62 người bị thương, với thiệt hại về tài sản ước tính lên tới 9.294 tỷ đồng. Ngoài ra, đã xảy ra 09 vụ mưa lớn, sét đánh và mưa đá, làm 01 người chết do mưa lũ, 06 người chết do sét đánh và 02 người mất tích trên biển, tổng giá trị thiệt hại gần 45 tỷ đồng.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.[1] Năm 2025, sản lượng lúa Đông Xuân đạt 363.115 tấn, tăng 0,06% (tăng 214 tấn); lúa Hè Thu đạt 125.195 tấn, bằng 53,31% (giảm 109.666 tấn); lúa Mùa ước tính đạt 83 tấn, bằng 22,16% (giảm 292 tấn)[2] Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước đạt 14.667 ha, tăng 1,97% (284 ha); năng suất ước đạt 51,69 tạ/ha, tăng 2,34% (1,18 tạ/ha); sản lượng ước đạt 75.807 tấn, tăng 4,36% (3.165 tấn).[3] Cây lạc: Diện tích 6.268ha, giảm 714 ha; Năng suất 27,73 tạ/ha, giảm 0,09 tạ/ha; Sản lượng 17.381 tấn, giảm 2.041 tấn. Rau các loại: Diện tích 13.948 ha, giảm 151ha; NS 73,62 tạ/ha (tăng 0,76 tạ/ha); SL 102.629 tấn, giảm 85 tấn. Cây đậu các loại: Diện tích 2.456 ha, giảm 17 ha; NS 9,4 tạ/ha, giảm 1,93 tạ/ha; SL 2.309 tấn, giảm 492 tấn so với cùng kỳ năm trước.[4] Trong đó, sản lượng khai thác biển ước đạt 2.620 tấn (tăng 11,3%), đưa sản lượng lũy kế đầu năm lên 37.139 tấn (tăng 5,76%); Khai thác nội địa ước đạt 427 tấn (tăng 5,96%) lũy kế 11 tháng đạt 4.291 tấn (tăng nhẹ 0,61%).[5] Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,38% so với tháng trước và giảm 24,18% so với cùng kỳ; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,61% so với tháng trước và tăng 39,68% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện tăng 9,73% so với tháng trước và giảm 26,31% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 12,84% so với cùng kỳ.[6] Tháng 11/2025: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.406,89 tỷ đồng, tăng 16,66% so với tháng trước và tăng 32,46% so với cùng kỳ; cấp xã 32,2 tỷ đồng, giảm 46,59% so với tháng trước, tăng 20,15% so với cùng kỳ.[7] 11 tháng 2025: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 7.602,84 tỷ đồng, tăng 33,05%; Cấp xã ước đạt 476,47 tỷ đồng, tăng 34,25% so với cùng kỳ năm trước[8] Tháng 11/2025: Doanh thu vận tải hành khách đạt 124,1 tỷ đồng, tăng 0,86% so tháng trước và tăng 6,41% so cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đạt 473 tỷ đồng, tăng 0,07% so tháng trước và tăng 8,88% so cùng kỳ[9] 11 tháng 2025: Doanh thu vận tải hành khách đạt 1.523,27 tỷ đồng, tăng 13,73%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 5.485,98 tỷ đồng, tăng 13,19%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.783,41 tỷ đồng, tăng 17,24% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tỉnh Hà Tĩnh
  •   03/11/2025 15:36

Trong 10 tháng năm 2025, bộ máy chính quyền địa phương vận hành ổn định, hiệu lực và hiệu quả quản trị được nâng cao. Các dự án công nghiệp trọng điểm được duy trì đúng tiến độ, lĩnh vực du lịch - dịch vụ có nhiều khởi sắc nhờ các hoạt động quảng bá sôi nổi. Công tác giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược tiếp tục được đẩy mạnh. Bên cạnh những kết quả đạt được, địa bàn tỉnh phải đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là ảnh hưởng nặng nề từ 3 cơn bão đến sản xuất và đời sống nhân dân. Trong bối cảnh còn nhiều thách thức từ biến động giá cả và thời tiết bất thường, toàn bộ hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các chỉ tiêu đề ra, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2025 và tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp trong tháng 10/2025 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2025, cũng vào thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam đang bắt đầu thu hoạch chính vụ. Hoạt động chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch tả lợn Châu Phi tái bùng phát làm giảm quy mô đàn và ảnh hưởng đến sản lượng. Hoạt động lâm nghiệp tập trung chăm sóc, khôi phục rừng và thu mua diện tích bị đổ gãy do bão; thủy sản tiếp tục giữ đà tăng trưởng cả ở khai thác và nuôi trồng. 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1. Trồng trọt * Cây hàng năm Hiện nay, người dân đang tích cực triển khai kế hoạch sản xuất vụ Đông với mục tiêu phủ kín diện tích đất màu, đất vườn. Tuy nhiên, vụ Đông năm nay được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức về thời tiết, đặc biệt là mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại cuối vụ. Kết quả sản xuất vụ Mùa: Diễn ra trong điều kiện thời tiết nắng nóng nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy. Diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2025 đạt 877 ha, bằng 87,24% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giảm ở diện tích cây lúa. Hoạt động vụ Mùa hàng năm chủ yếu với mục đích sản xuất để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân nên kết quả thường đạt thấp. Cây lúa diện tích gieo trồng ước đạt 35,72 ha, bằng 21,58% (giảm 129,8 ha) so với cùng kỳ năm trước, hiện nay trên toàn tỉnh diện tích lúa Mùa chỉ còn gieo trồng ở xã Đan Hải. Cây lấy củ có chất bột diện tích ước tính đạt 246 ha, bằng 96,13% (giảm 10 ha) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại diện tích gieo trồng vụ Mùa ước tính đạt 240 ha, bằng 98,25% (giảm 4 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Đông 2025: Thời tiết vụ Đông năm nay dự báo chịu ảnh hưởng của mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại giai đoạn cuối vụ. Vì vậy, nhân dân cần chủ động, linh hoạt trong bố trí thời vụ và cơ cấu cây trồng để né tránh thiên tai, hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn, hiệu quả trong sản xuất. Về kế hoạch sản xuất năm nay, có mở rộng diện tích trồng hoa gần 30.000 m2 tại một số địa phương như: Xã Toàn Lưu 25.000 m2, xã Thạch Khê 2.500 m2, xã Thạch Hà 500 m2, xã Thạch Xuân 1.000 m2. Về tổ chức sản xuất, tỉnh nhà tập trung quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức sản xuất vụ Đông, đảm bảo phủ kín và mở rộng tối đa diện tích có thể sản xuất, với các đối tượng cây trồng phù hợp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa ở những vùng có điều kiện thoát nước tốt để mở rộng tối đa diện tích, tăng hệ số sử dụng đất. Trên cơ sở khung thời vụ và thời gian sinh trưởng các giống, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của từng địa phương, từng vùng và diễn biến thời tiết, bố trí thời vụ gieo trồng phù hợp, sản xuất an toàn, hiệu quả. * Cây lâu năm Trong năm, người dân tiếp tục tập trung đầu tư thâm canh trên diện tích cây lâu năm hiện có, đồng thời triển khai trồng mới và tái canh với quy mô hợp lý, gắn với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Công tác vệ sinh vườn, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là giai đoạn sau thu hoạch. Ngành chuyên môn tăng cường hướng dẫn nông dân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật từ khâu đào hố, bón phân, trồng đến chăm sóc sau trồng; đồng thời phổ biến các biện pháp kỹ thuật tiên tiến như tạo tán, tỉa cành, phòng trừ dịch hại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây. Bên cạnh đó, các địa phương chủ động triển khai phương án bảo vệ vườn cây trong mùa mưa lũ, tiêu úng kịp thời nhằm hạn chế thiệt hại, đảm bảo sản xuất ổn định. Từ đó các loại cây ăn quả chủ lực như cam, bưởi trong năm được cải thiện rõ rệt, sản lượng dự kiến tăng so với năm trước. Ngoài ra, các cây công nghiệp lâu năm như chè, cao su tiếp tục được chăm sóc, khai thác ổn định, mang lại nguồn thu nhập thường xuyên, góp phần nâng cao đời sống và thúc đẩy phát triển kinh tế cho người dân. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Trên cây rau: Sâu xanh, sâu khoang gây hại trên rau họ hoa thập tự trong vườn hộ và các vùng rau diện tích nhiễm 18 ha tập trung ở các địa phương như: Xã Đông Kinh, phường Thành Sen, xã Cẩm Xuyên, xã Việt Xuyên, phường Trần Phú; bệnh do nấm gây hại trên cây như cà chua, cây dưa chuột. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên trà ngô 3-7 lá, mật độ trung bình 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 17 ha ở các xã như: Đức Thọ, Đức Thịnh, Hà Linh, Hương Khê, Sơn Giang, Sơn Tiến. Trên các loại cây lâu năm: Bệnh nứt thân xì mủ, bệnh loét, ruồi đục quả phát sinh gây hại trên các vườn cây ăn quả diện tích nhiễm 52 ha như ở: Xã Sơn Tây, Sơn Giang, Sơn Tiến, Vũ Quang, Hương Khê, Hương Trạch, Mai Hoa, Toàn Lưu. 1.1.2. Chăn nuôi Kết quả sản xuất chăn nuôi: Đàn trâu hiện có 57.602 con, bằng 86,15%; đàn bò hiện có 150.936 con, bằng 91,72%; đàn lợn hiện có 332.380 con, bằng 94,34% (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ); đàn gia cầm hiện có 10.380.000 con, bằng 100,92%, trong đó đàn gà hiện có 8.602.000 con, bằng 100,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng do ảnh hưởng của dịch bệnh trên gia súc diễn biến phức tạp, hoạt động tái đàn và mở rộng quy mô chăn nuôi của người dân gặp nhiều khó khăn. Nhiều hộ phải tạm dừng việc nhập con giống mới để tập trung khoanh vùng, xử lý ổ dịch và giảm thiểu thiệt hại. Giá lợn hơi dù vẫn ở mức tương đối cao, song tâm lý e ngại dịch bệnh khiến người chăn nuôi thận trọng, chưa đầu tư tăng đàn. Trong bối cảnh đó, ngành chuyên môn khuyến cáo người dân tăng cường công tác phòng chống dịch, thực hiện nghiêm các biện pháp vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, tiêm phòng vắc-xin đầy đủ, theo dõi sát tình hình sức khỏe vật nuôi và báo ngay cho cơ quan thú y khi phát hiện dấu hiệu bất thường. Đồng thời, khuyến khích các địa phương rà soát, hỗ trợ tiêu hủy, xử lý môi trường đúng quy định, không để dịch lây lan sang các khu vực lân cận, nhằm ổn định lại sản xuất và bảo vệ nguồn cung thực phẩm trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc trên địa bàn tỉnh diễn biến tương đối phức tạp, xuất hiện tại nhiều địa phương. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết thay đổi thất thường, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh tồn tại và phát tán; công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại một số cơ sở chăn nuôi còn hạn chế; một số hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, chưa thực hiện nghiêm quy trình an toàn sinh học. Ngành chuyên môn đã chỉ đạo các địa phương tăng cường giám sát dịch bệnh, tổ chức tiêm phòng, tiêu độc khử trùng định kỳ, hướng dẫn người dân áp dụng biện pháp phòng bệnh chủ động, không giấu dịch, không vứt xác động vật ra môi trường, đồng thời thực hiện nghiêm quy trình xử lý ổ dịch theo quy định, nhằm hạn chế lây lan và giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi. Tình hình dịch bệnh trong tháng 10/2025 như sau: Dịch tả lợn Châu Phi: Xảy ra tại 49 xã làm cho 11.345 con lợn mắc bệnh, chết buộc tiêu hủy với khối lượng 857.748 kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2025 xảy ra tại 63 xã làm cho 31.124 con lợn mắc bệnh chết buộc tiêu hủy. Lở mồm long móng: Xảy ra tại 02 xã (Kỳ Lạc, Kỳ Văn) làm 28 con bò mắc bệnh, buộc tiêu hủy với khối lượng 110 kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2025 xảy ra tại 04 xã làm 44 con bò mắc bệnh, trong đó làm 02 con bò chết buộc tiêu huỷ. Viêm da nổi cục: Xảy ra tại 03 xã (Sơn Tiến, Cẩm Xuyên, Cẩm Hưng) làm 3 con bò mắc bệnh, chết, buộc tiêu hủy với khối lượng 320kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2025 xảy ra tại 20 xã làm 91 con bò mắc bệnh, trong đó có 27 con bị chết. Công tác tiêm phòng: Hiện nay các địa phương đang triển khai công tác tiêm phòng đợt 2 năm 2025 theo Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh. Kết quả tiêm phòng đợt 2 (tính đến ngày 22/10/2025): Đàn trâu bò tiêm phòng các vắc xin đạt trên 63% kế hoạch (vắc xin Lở mồm long móng đạt 68% kế hoạch). Đàn lợn tiêm phòng các vắc xin đạt trên 48% kế hoạch (vắc xin Dịch tả đạt 48% kế hoạch). Đàn gia cầm tiêm phòng vắc xin Cúm gia cầm tiêm đạt 25% kế hoạch. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Kết quả sản xuất lâm nghiệp: Tháng 10/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.248 ha, bằng 104,61%, tăng 99 ha so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 12,92 nghìn cây, bằng 6,66% giảm 181,08 nghìn cây; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 136.792 m3, bằng 178,97% (tăng 60.358 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh do diện tích đến kỳ khai thác nhiều hơn, năng suất rừng trồng được cải thiện và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5 và số 10 đã làm nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân khai thác sớm, việc khai thác tăng cũng kéo theo việc trồng lại cây được đẩy lên sớm hơn. Về cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và quỹ đất trồng cây phân tán trên các tuyến đường, hội quán, nhà văn hóa đã được trồng từ những năm trước đây nên lượng cây trồng phân tán có xu hướng giảm. Tính chung 10 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 7.292 ha, bằng 102,55%, tăng 181 ha so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán ước đạt 1.586 nghìn cây, bằng 70,85% giảm gần 653 nghìn cây so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 606.062 m3 bằng 123,66%, tăng 115.946 m3 so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về rừng: Nhìn chung, hoạt động lâm nghiệp 10 tháng năm 2025 vẫn đảm bảo duy trì khá ổn định, trong tháng không phát sinh thiệt hại về rừng. 1.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản trong tháng 10/2025 tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm so với tháng trước, sản lượng chỉ đạt khoảng hơn 50% so với tháng trước. Nguyên nhân do thời tiết chuyển sang mùa mưa bão, biển thường xuyên động mạnh khiến tàu thuyền hạn chế ra khơi khai thác, đồng thời nguồn lợi hải sản tự nhiên giảm hơn so với tháng trước. Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 10/2025 ước đạt 4.436 tấn, bằng 102,21% (tăng 96 tấn). Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 3.282 tấn, bằng 102,82% (tăng 90 tấn) so với năm trước, chỉ tính riêng khai thác biển ước đạt 2.821 tấn, bằng 103,18% (tăng 87 tấn); Sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.154 tấn, bằng 100,52% (tăng 6 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sau các cơn bão cuối năm 2025, hoạt động khai thác hải sản trên các ngư trường đã trở lại bình thường. Ngư dân tích cực ra khơi, sản lượng khai thác tăng so với thời điểm trước bão. Đối với nuôi trồng thủy sản, người dân đã thu hoạch xong vụ Xuân Hè và hiện nay đang tiến hành thả nuôi vụ mới phục vụ Tết Nguyên Đán sắp tới. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 54.316 tấn, bằng 104,50% (tăng 2.338 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 38.383 tấn, bằng 104,80% (tăng 1.759 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 15.933 tấn, bằng 103,77% (tăng 579 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động thuỷ sản vẫn đang mang lại nhiều tín hiệu tích cực trong nhóm ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản, giá trị thuỷ hải sản đang ngày được nâng cao cả về chất lượng cũng như giá trị kinh tế, cho thấy hướng đi đúng đắn trong phát triển ngành thuỷ sản trên địa bàn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng 10/2025 dịch đốm trắng trên tôm thẻ chân trắng với diện tích 1,1 ha của 01 hộ ở phường Trần Phú. Lũy kế từ đầu năm đến nay, diện tích bệnh đốm trắng bị nhiễm là 6,35 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh trong tháng 10 năm 2025 tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt, sau khi hoàn thành việc nâng công suất, nhà máy sản xuất Pack Pin VinES đã nhanh chóng đi vào vận hành ổn định với sản lượng tăng mạnh, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, lắp ráp theo đúng tiến độ, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra trong năm. Bên cạnh những thuận lợi, do ảnh hưởng của bão nên nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đã tạm ngừng sản xuất để khắc phục sự cố làm ảnh hưởng không nhỏ tới ngành công nghiệp Hà Tĩnh những tháng cuối năm. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 10/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành giảm 0,84% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước ước tăng 9,76%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 4,91% so với tháng trước và giảm 24,97% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 11,26% so với tháng trước và tăng 16,98% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 43,06% so với tháng trước và giảm 19,07% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước giảm 12,8% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,16%. So với tháng trước, nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số toàn ngành giảm là do nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II ngừng sản xuất khắc phục sự cố sau bão. Bên cạnh đó, do thời tiết mưa nhiều, thủy điện tăng mạnh, vì vậy sản lượng nhiệt điện than từ nhà máy nhiệt điện I cũng giảm mạnh so với tháng 9/2025. Mặt khác, các nhóm ngành như dăm gỗ, thép không gỉ đang chật vật trong việc tiêu thụ sản phẩm, các đơn hàng cũ giảm sút rõ rệt, trong khi thị trường mới chưa mở rộng kịp thời. Ngành sản xuất kim loại tiếp tục giảm, đặc biệt là thép không gỉ. Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,19% đóng góp 0,1 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,35% đóng góp 1,11 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,73% đóng góp 3,07 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,61% đóng góp 0,1 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn ghi nhận những dấu hiệu tích cực làm tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh như: (1) Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng khác tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, nhờ tiếp nối đà tăng trưởng mạnh từ cuối năm 2024, cùng với mức tăng cao trong các tháng đầu năm 2025. (2) Nhà máy sản xuất Pack pin đã hoàn thành việc nâng công suất dây chuyển sản xuất số 1, đi vào sản xuất trong tháng 8/2025. Đồng thời, nhà máy ô tô điện VinFast bắt đầu sản xuất - kinh doanh, kéo theo nhu cầu lớn về pin và thiết bị điện, từ tháng 9, bên cạnh sản phẩm VF6, VF7, nhà máy bắt đầu sản xuất Pack Pin VF3 và các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu thị trường ô tô điện. Dự kiến đến hết tháng 10/2025, sản lượng Pack pin đạt hơn 34.000 sản phẩm, gấp hơn 7,5 lần cùng kỳ năm trước; Cell pin đạt trên 15,5 triệu đơn vị. Chỉ số sản xuất toàn ngành duy trì ở mức cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng công nghiệp địa phương; (3) Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đưa vào vận hành một số tổ máy mới (tổ máy số 1) và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I duy trì hoạt động ổn định trong nhiều tháng đầu năm. Nhờ đó, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tính chung 10 tháng đầu năm tăng 18,73% so với cùng kỳ năm trước, trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của công nghiệp tỉnh nhà. 2.2. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong 10 tháng năm 2025, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục cho thấy xu hướng phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong số 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu được theo dõi, có 12 nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ắc quy bằng ion lithi đạt gấp 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 31,4%; đá xây dựng khác tăng 10,03%; sợi tăng 15,87%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2025 giảm so với năm trước: Như quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 29,9%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 10,88%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,84%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 32,8%. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2025 tăng 2,32% so với tháng trước và tăng 35,0% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tình hình sử dụng lao động tại Hà Tĩnh có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phục hồi và chuyển dịch trong cơ cấu lao động của tỉnh. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Cộng dồn đến cuối tháng 10 năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 13,05% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 6,08% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,86% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,58%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,61% so với cùng kỳ năm 2024. 3. Đầu tư và xây dựng Trong thời gian qua, công tác giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền tỉnh Hà Tĩnh. UBND tỉnh đã xác định đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công với quyết tâm chính trị cao hơn nữa; coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2025. Cùng với đó, năm nay UBND tỉnh Hà Tĩnh đã bổ sung hơn 2.000 tỷ đồng vào kế hoạch vốn (theo Quyết định 917/QĐ-UBND ngày 29/4/2025), triển khai sớm hơn gần hai tháng so với năm trước, tạo dư địa giải ngân. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2025 đạt 1.078,38 tỷ đồng, tăng 3,11% so với tháng trước, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.017,49 tỷ đồng, tăng 3,73% so với tháng trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 60,89 tỷ đồng, giảm 6,28% so với tháng trước và tăng 66,26% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng với khối lượng thực hiện được duy trì ở mức cao so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai, giải ngân các dự án; bám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo giải ngân toàn bộ số vốn được giao. Các sở, ngành tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm theo chỉ đạo của Chính phủ. Một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; phát triển tổng hợp các đô thị động lực - Tiểu dự án đô thị Kỳ Anh; dự án Đường từ Quốc lộ 12C đi khu liên hợp gang thép Formosa, tỉnh Hà Tĩnh; đường vành đai phía Đông thành phố Hà Tĩnh. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.452,33 tỷ đồng, tăng 29,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.007,46 tỷ đồng, tăng 29,13% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 444,88 tỷ đồng, tăng 35,58% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư công cho thấy sự cải thiện tích cực về tốc độ giải ngân, đặc biệt tác động hiệu quả của Quyết định 917/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Là một trong những địa phương có tỷ lệ giải ngân cao trong cả nước, Hà Tĩnh đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác điều hành, huy động hệ thống chính trị vào cuộc, cũng như xử lý linh hoạt các vướng mắc phát sinh. Tỉnh cũng yêu cầu các ban quản lý, chủ đầu tư cam kết tiến độ giải ngân theo từng tháng, quý và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh. Chủ động điều chỉnh phương án quản lý đầu tư công trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm không bị gián đoạn trong quản lý dự án. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Lĩnh vực thương mại và dịch vụ nội địa tại tỉnh Hà Tĩnh ghi nhận những tín hiệu ổn định và có đà tăng trưởng tốt. Hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra sôi động và tăng trưởng khá (tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2025 ước đạt hơn 77 nghìn tỷ, tăng 12,62% so với cùng kỳ) từ thương mại bán lẻ đến du lịch, logistics và bất động sản phản ánh hiệu quả từ chiến lược tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 6.648,81 tỷ đồng, tăng 1,95% so với tháng trước, tăng 11,11% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng chủ yếu biến động tăng so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ chứng tỏ sức mua vẫn tăng mạnh mẽ và niềm tin vào nền kinh tế vẫn duy trì. Đặc biệt các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng doanh thu cao vẫn đạt mức tăng trưởng khá như nhóm lương thực, thực phẩm chiếm 47,73% doanh thu tăng 15,48% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, vật phẩm, văn hóa, giáo dục; đá quý, kim loại quý cũng tăng trưởng mạnh trong tháng điều này cho thấy người dân đang đầu tư nhiều hơn vào chất lượng cuộc sống. Tính chung 10 tháng năm 2025 doanh thu bán lẻ ước đạt 64.524,52 tỷ đồng, tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước. Việc thị trường hàng hóa ngày càng đa dạng, hệ thống phân phối được mở rộng và hiện đại hóa, từ chợ truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại đến các kênh thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn và nâng cao tính cạnh tranh của thị trường. Một số nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng ghi nhận mức tăng khá, góp phần giữ ổn định thị trường tiêu dùng trong bối cảnh giá cả thế giới có nhiều biến động. Tuy vậy, thị trường bán lẻ vẫn chịu tác động từ yếu tố giá năng lượng, vàng và thời tiết mùa vụ, ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển, lưu thông hàng hóa và hành vi tiêu dùng. Dự báo càng về cuối năm thị trường bán lẻ càng sôi động, vì vậy trong thời gian tới, các ngành chức năng cần tăng cường công tác dự báo, bình ổn giá, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và chuyển đổi số trong lĩnh vực bán lẻ, qua đó duy trì đà tăng trưởng, mở rộng thị trường tiêu thụ và phát triển thương mại theo hướng bền vững, hiện đại. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 10/2025 ước đạt 880,81 tỷ đồng, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 12,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng doanh thu hoạt động lưu trú, lữ hành gặp nhiều khó khăn do bước vào mùa mưa, thời tiết thường xuyên có mưa lớn kéo dài, ảnh hưởng của các cơn bão khiến nhiều khu vực ven biển như Thiên Cầm, Xuân Hải sau bão vẫn chưa khôi phục hoàn toàn hạ tầng, khiến công suất khai thác phòng lưu trú giảm đáng kể. Mặc dù vậy, hoạt động ăn uống chiếm tỷ trọng doanh thu cao và vẫn duy trì ổn định, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình ngày càng tăng. Như doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 855,61 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước, tăng 12,61% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú ước đạt 21,68 tỷ đồng, giảm 29,88% so với tháng trước, tăng 8,88% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành chỉ đạt trên 3,5 tỷ đồng, giảm 9,19% so với tháng trước và tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 8.140,15 tỷ đồng, tăng 14,22% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm 95,50% tổng doanh thu) tăng 13,17% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động ăn uống vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định chứng tỏ đời sống người dân đang dần cải thiện. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên khi mùa du lịch cao điểm đã qua thì 2 nhóm ngành này dự ước sắp tới sẽ tiếp tục giảm doanh thu vì vậy cần có các hướng đi mới về du lịch trải nghiệm giải trí. Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2025 ước đạt 460,03 tỷ đồng, tăng 2,91% so với tháng trước và tăng 19,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, bước vào mùa cưới hỏi cũng như các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công trước mùa mưa và cận cuối năm nên nhu cầu các dịch vụ cho thuê đồ dùng gia đình, máy móc sử dụng thiết bị phục vụ thi công, xây dựng, sản xuất tiếp tục tăng cao. Bên cạnh đó, hoạt động khắc phục hậu quả sau bão, đặc biệt là các dịch vụ vệ sinh công nghiệp, thuê thiết bị, bảo trì hệ thống khiến nhóm ngành hành chính và dịch vụ hỗ trợ cũng tăng đáng kể. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu ước đạt 4.338,05 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Điểm sáng của khu vực dịch vụ khác nằm ở các nhóm ngành có xu hướng phục hồi và tăng trưởng dịch vụ cá nhân như làm đẹp, spa, chăm sóc sức khỏe, cùng với bất động sản, giáo dục, y tế và dịch vụ hành chính hỗ trợ. Những ngành này không chỉ duy trì được mức tăng trưởng ổn định mà còn phản ánh sự chuyển dịch nhu cầu tiêu dùng theo hướng thiết thực và đa dạng hơn. Đây là tín hiệu tích cực, tạo nền tảng để các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ tiếp tục ổn định trong các tháng cuối năm. 4.2. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi 10 tháng năm 2025 ước đạt 8.177,35 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu đi lại, vận chuyển và tiêu dùng vẫn khá ổn định và trên đà gia tăng. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu diễn biến tích cực đã thúc đẩy nhu cầu vận tải hàng hóa và dịch vụ kho bãi. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử cũng góp phần làm tăng doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 10/2025 doanh thu ước đạt 872,36 tỷ đồng, tăng 0,66% so tháng trước và tăng 23,02% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 144,71 tỷ đồng, tăng 0,75% so tháng trước và tăng 27,77% so cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 538,64 tỷ đồng, tăng 0,44% so tháng trước và tăng 19% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 180,52 tỷ đồng, tăng 1,24% so tháng trước và tăng 31,13% so cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính chuyển phát ước đạt 8,50 tỷ đồng, tăng 0,97% so với tháng trước và tăng 52,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu vận tải dự tính đạt 8.177,35 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 1.420,83 tỷ đồng, tăng 16,20% với số lượng vận chuyển đạt 14.260,17 nghìn hành khách, tăng 16,45% và luân chuyển đạt 2.582,58 triệu hành khách.km, tăng 13,61%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 5.078,98 tỷ đồng, tăng 15,11% với khối lượng vận chuyển ước đạt 53.446,86 nghìn tấn, tăng 22,30% và luân chuyển ước đạt 1.721,72 triệu tấn.km, tăng 22,99%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.605,49 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mười tháng năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 3.671,62 triệu USD, giảm 26,24% so với cùng kỳ năm trước (trị giá nhập khẩu giảm 26,07% và trị giá xuất khẩu giảm 26,53%. Nguyên nhân chính là do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) gặp khó khăn trong xuất khẩu thép và phôi thép do các chính sách bảo hộ thương mại quốc tế, dẫn đến giảm sản lượng và nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu. Trị giá xuất khẩu tháng 10/2025 ước đạt 150,55 triệu USD, tăng 9,99% so với tháng trước và so với cùng kỳ giảm 11,19%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi nhẹ của xuất khẩu, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, quy mô còn thu hẹp đáng kể. Điều này phản ánh bối cảnh thị trường xuất khẩu còn nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu dùng toàn cầu chưa phục hồi hoàn toàn, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn đối mặt với áp lực về đơn hàng, chi phí sản xuất và cạnh tranh quốc tế. Tính chung 10 tháng năm 2025, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.384,69 triệu USD, giảm 26,53% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 1.110,17 triệu USD (chiếm 80,17% tổng trị giá) giảm 33,5% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm xuất khẩu nằm ở sự tụt dốc của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh với trị giá xuất khẩu lũy kế giảm 33,8%. Bên cạnh những khó khăn từ ngành thép, vẫn có một số điểm sáng cần ghi nhận. Các mặt hàng như hàng dệt may và xơ, sợi dệt tiếp tục tăng trưởng mạnh (dệt may tăng 69,33% và xơ sợi dệt tăng 101,57% so với cùng kỳ). Trị giá nhập khẩu tháng 10/2025 ước đạt 214,74 triệu USD, tăng 2,68% so với tháng trước và giảm 7,41% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025 trị giá nhập khẩu ước đạt 2.286,93 triệu USD, giảm 26,07%. Trong đó, trị giá nhập khẩu của Formosa ước đạt 1.638,42 triệu USD, chiếm 71,64% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, giảm 27,99% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD. Dù mới đạt 55,39% mục tiêu nhưng vẫn còn dư địa để tăng tốc trong những tháng còn lại. Với việc tận dụng ưu đãi từ 13 trong số 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký kết. Kim ngạch xuất khẩu từ các FTA này chiếm hơn 50% trị giá toàn tỉnh, hàng hóa của Hà Tĩnh đã có mặt tại hơn 20 quốc gia, trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, ASEAN,... Các hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP,… tiếp tục tạo điều kiện để doanh nghiệp địa phương mở rộng thị trường, giảm thuế và tăng tính cạnh tranh. Đồng hành cùng doanh nghiệp, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch 341/KH-UBND thực hiện Chỉ thị 13/CT-TTg về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Đồng thời cũng đang xây dựng chính sách phát triển logistics và xuất khẩu giai đoạn 2026-2030, nhằm hoàn thiện hạ tầng thương mại, giảm chi phí vận tải, hỗ trợ xúc tiến thị trường. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng giá lương thực, thực phẩm tiếp tục có xu hướng tăng do sự khan hiếm về nguồn cung, giá vàng tiếp tục biến động mạnh theo xu hướng của giá vàng thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh Hà Tĩnh trong tháng tăng nhẹ (0,15%) so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ tăng 0,74%. Bình quân mười tháng năm 2025 đang ở mức tăng 3,44% so với cùng kỳ. CPI tháng 10/2025 tăng 0,15% so với tháng trước, chủ yếu do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,7%, trong đó thực phẩm tăng mạnh 0,84%. Nguyên nhân chính là thịt gia súc tăng 1,37% so với tháng trước, thịt gia súc đảo chiều tăng so với tháng trước do dịch tả lợn Châu Phi đã giảm hơn nên người dân có xu hướng tiêu dùng mặt hàng thịt lợn nhiều hơn trước. Ngoài ra, thời tiết bắt đầu chuyển mùa nên nhu cầu mua sắm hàng may mặc và giảy dép phục vụ cho mùa lạnh tăng lên. Ở chiều ngược lại, trong tháng 10/2025 có một số giảm giá như giá điện sinh hoạt giảm 0,18% , do thời tiết mát mẻ và bắt đầu chuyển lạnh, nhu cầu sử dụng điện điều hòa giảm nên giá điện giảm. Giá gas, xăng dầu giảm do quy định điều chỉnh giá của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. Bình quân 10 tháng năm 2025 chỉ số CPI đã tăng ở mức 3,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 4,39%, khu vực nông thôn tăng 3,03%. Chủ yếu do giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống, điện sinh hoạt, dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI. Dự báo CPI tháng 11/2025 tiếp tục tăng do giá các loại lương thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn. Giá gạo cũng tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm giảm dần. Sang tháng có thể xuất hiện tình trạng không khí lạnh, rét đậm khiến các loại hàng may mặc, đồ dùng gia đình tăng cao. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng 10/2025, nhân dân Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng nặng nề của bão số 10, làm hàng chục nghìn ngôi nhà hư hỏng, nhiều diện tích hoa màu và thủy sản bị thiệt hại. Trước tình hình đó, Chính quyền các cấp đã thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình công tác tháng 10/2025 của UBND tỉnh, huy động lực lượng khẩn trương khắc phục hậu quả, hỗ trợ người dân ổn định nơi ở, khôi phục sản xuất và bảo đảm an sinh xã hội. Chính phủ đã ban hành Quyết định 2171/QĐ-TTg ngày 2/10/2025 hỗ trợ 500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương để khắc phục hậu quả thiên tai. Tỉnh đã phân bổ hơn 81,5 tỷ đồng từ Quỹ Cứu trợ tới các xã, phường bị thiệt hại nặng (mức hỗ trợ 250 triệu đến một tỷ đồng/xã tùy mức độ). Các tổ chức, doanh nghiệp và ngân hàng cũng đồng hành hỗ trợ, cụ thể Đoàn công tác tỉnh Hưng Yên 4 tỷ đồng; ngân hàng BIDV Hà Tĩnh 2,4 tỷ đồng. Cùng với đó, tỉnh cũng triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ sửa chữa nhà ở, khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định trường lớp, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng thiên tai. Các phong trào “Cả tỉnh chung tay vì đồng bào vùng lũ” và “Thi đua yêu nước” được hưởng ứng mạnh mẽ. Nhờ sự quan tâm của các cấp, sự đồng lòng của nhân dân và đông đảo các lực lượng công an, quân sự, thanh niên, phụ nữ tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, đời sống người dân đang từng bước được cải thiện, góp phần giữ vững ổn định xã hội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025. 2. Giáo dục - đào tạo Trong tháng 10/2025, ngành giáo dục tập trung khắc phục hậu quả sau bão số 10, khoảng hơn 400 trường học bị ảnh hưởng với tổng thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Các lực lượng chức năng, giáo viên, đoàn viên thanh niên và phụ huynh đã tích cực tham gia dọn dẹp, sửa chữa để sớm ổn định việc dạy và học. Bên cạnh đó, các trường tiếp tục đẩy mạnh giáo dục truyền thống, đặc biệt qua các hoạt động kỷ niệm 111 năm ngày sinh anh hùng Lý Tự Trọng (20/10/1914 - 20/10/2025), nhằm giáo dục lý tưởng và tinh thần yêu nước cho học sinh. Ngành giáo dục duy trì chuyển đổi số, đổi mới phương pháp giảng dạy và triển khai các chính sách hỗ trợ học sinh sau thiên tai, hướng tới bảo đảm an toàn, ổn định và nâng cao chất lượng giáo dục toàn tỉnh. 3. Hoạt động y tế Công tác y tế có nhiều chuyển biến tích cực, tập trung vào nâng cao chất lượng phục vụ và ứng dụng công nghệ. Đặc biệt trong tháng ngành y tế đã chủ động triển khai công tác vệ sinh môi trường, giám sát dịch tễ, cấp phát Cloramine B, Aquatabs xử lý nguồn nước, đảm bảo vệ sinh và sức khỏe nhân dân. Nhờ thực hiện tốt công tác xử lý môi trường và phòng chống dịch bệnh do đó trên địa bàn tỉnh không xuất hiện dịch bệnh sau bão lũ, một số ca bệnh truyền nhiễm được bao vây xử lý kịp thời. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng ghi nhận 16 ca mắc sốt xuất huyết, tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 66 ca mắc sốt xuất huyết. Ngoài ra các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp được theo dõi sát, không ghi nhận ổ dịch lớn các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do dịch bệnh. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng 10/2025, xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 19 người bị ngộ độc; ngoài ra cũng phát sinh 40 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 23 người bị ngộ độc và xuất hiện 481 ca ngộ độc đơn lẻ, so với cùng kỳ năm trước có giảm 1 vụ ngộ độc tập thể (nhưng tăng 10 người bị ngộ độc tập thể), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 139 ca. Các ca ngộ độc đều được phát hiện và điều trị kịp thời không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên. Trong tháng 10/2025, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 1 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca chuyển sang AIDS nhưng có 6 trường hợp tử vong do AIDS. So với tháng trước, tăng 1 ca nhiễm HIV mới và tăng 6 ca tử vong do AIDS. Tính chung 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 13 ca nhiễm HIV mới và 6 ca tử vong do AIDS, giảm 13 ca nhiễm mới nhưng tăng 5 ca tử vong do AIDS so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Trong tháng 10/2025, hoạt động văn hóa - du lịch của tỉnh chủ yếu tập trung tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10), Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10) và 111 năm Ngày sinh Anh hùng liệt sĩ Lý Tự Trọng,... Nhiều chương trình sinh hoạt chính trị, văn nghệ, tuyên truyền được tổ chức nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc cho cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu niên. Về thể dục thể thao: Trong tháng diễn ra giải Pickleball Đại hội TDTT toàn tỉnh Hà Tĩnh lần thứ X năm 2025, thu hút 200 VĐV đến từ 39 đơn vị tham gia tranh tài ở 3 nội dung đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ. Đây cũng là hoạt động chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XX, đồng thời là dịp gặp gỡ, giao lưu giữa các đơn vị trong toàn tỉnh. Cũng trong tháng này diễn ra giải Đua thuyền Rowing vô địch châu Á năm 2025 diễn ra từ ngày 16/10 - 19/10 tại Thành phố Hải Phòng, tham gia giải các vận động viên Hà Tĩnh đã xuất sắc giành 3 HCV, 1 HCĐ, góp phần quan trọng vào thành tích chung của đội tuyển Việt Nam. 5. Tình hình trật tự và toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn đã xảy ra 29 vụ tai nạn đường bộ, làm 16 người chết, 22 người bị thương (tăng 4 vụ; tăng 1 người chết; tăng 6 người bị thương so với tháng trước); cũng trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính 55 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2025 trên địa bàn đã xảy ra 284 vụ tai nạn đường bộ, làm 197 người chết và 170 người bị thương; 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản dự ước 3.497 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn đường bộ giảm 63 vụ, tăng 04 người chết nhưng giảm 41 người bị thương; tai nạn đường sắt giảm 1 vụ và 1 người chết, số người bị thương không thay đổi, giá trị thiệt hại tăng 1.327 triệu đồng. 6. Bảo vệ môi trường, thiên tai và phòng chống cháy, nổTình hình cháy, nổ: Trong tháng đã xảy ra 9 vụ cháy (giữ nguyên so với tháng trước), làm 01 người bị thương; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 60 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2025 đã xảy ra 70 vụ cháy, làm 3 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.617,72 triệu đồng. Trong tháng 10/2025 và 10 tháng năm 2025 không xảy ra vụ nổ nào, không thay đổi so với năm trước.Vi phạm môi trường: Trong tháng 10/2025, trên địa bàn phát hiện 36 vụ vi phạm môi trường, giảm 24 vụ (giảm 40,0%) so với tháng trước; tăng 19 vụ (tăng 111,76%) so với cùng kỳ năm trước; Số vụ vi phạm đã xử lý là 17 vụ, giảm 27 vụ (giảm 61,36%) so với tháng trước và giảm 5 vụ (giảm 22,73%) so với cùng kỳ với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 792 triệu đồng, tăng 646,78 triệu đồng (tăng 445,35%) so với tháng trước và tăng 456 triệu đồng (tăng 135,72%) so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện 291 vụ, tăng 42 vụ (tăng 16,87%); đã xử lý 227 vụ, giảm 9 vụ (giảm 3,81%) với tổng số tiền xử phạt gần 4 tỷ đồng, tăng gần 2,4 tỷ đồng (tăng 146,79%) so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng giảm so với tháng trước do trước đó ngành Công an đã triển khai đợt cao điểm kiểm tra, giám sát, xử phạt và tuyên truyền, nhờ đó các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã chủ động khắc phục sai phạm và hạn chế hành vi xả thải trái phép. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường lại tăng do năm nay tỉnh tăng cường công tác quản lý môi trường, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mới và mở rộng phạm vi kiểm tra, giám sát, nên việc phát hiện và xử lý vi phạm được thực hiện chặt chẽ, kịp thời hơn. Tình hình bất thường về thiên tai: Trong tháng 10/2025 trên địa bàn không xảy ra vụ thiên tai nào, nhưng tính chung 10 tháng trên địa bàn đã xảy ra 03 cơn bão lớn là bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi) gây mưa lớn trên diện rộng khiến 3 người chết và bị thương 62 người, tài sản thiệt hại lớn, ước tính 9.294 tỷ đồng. Ngoài ra, trên địa bàn cũng xảy ra 08 vụ mưa lớn, sét đánh, mưa đá khiến 06 người chết do sét đánh, 02 người mất tích trên biển, giá trị tài sản thiệt hại gần 45 tỷ đồng.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.