Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2016
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
1.1. Nông nghiệp
Thời gian qua, hoạt động trồng trọt chủ yếu tập trung thu hoạch cây vụ Mùa, gieo trồng và chăm sóc cây vụ Đông, chuẩn bị các điều kiện để sản xuất vụ Xuân năm 2017.
- Vụ Mùa năm 2016: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh sơ bộ đạt 19.695 ha cây trồng các loại, bằng 91,81% so với cùng kỳ năm trước (giảm 1.756 ha). Thời điểm trung tuần tháng 10/2016, khi mà các loại cây trồng vụ Mùa bước vào kỳ thu hoạch thì trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra mưa lũ nên đã ảnh hưởng làm giảm năng suất các loại cây trồng. Sơ bộ kết quả sản xuất một số loại cây trồng chủ yếu đạt được như sau:
Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa sơ bộ đạt 1.191 ha, bằng 64,48% (giảm 656 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Huyện Hương Khê giảm 620 ha, huyện Lộc Hà giảm 61 ha, huyện Thạch Hà giảm 8 ha, huyện Nghi Xuân tăng 33 ha. Nguyên nhân diện tích lúa Mùa giảm là do vụ Hè Thu năm nay gieo cấy chậm hơn năm trước, cùng với nguồn nước tưới được bảo đảm nên một số bà con đã chuyển diện tích vụ Mùa sang gieo cấy lúa Hè Thu. Mặt khác, do hiệu quả kinh tế lúa vụ Mùa thấp nên bà con nông dân đã không đầu tư sản xuất. Năng suất lúa sơ bộ đạt 15,04 tạ/ha, bằng 59,21% (giảm 10,36 tạ/ha) so với cùng kỳ. Nguyên nhân làm cho năng suất lúa Mùa giảm mạnh là do sắp đến thời kỳ thu hoạch trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra lũ lụt nên đã gây thiệt hại đối với lúa vụ Mùa. Sản lượng lúa Mùa ước đạt 1.791 tấn, bằng 38,18% (giảm 2.900 tấn) so với cùng kỳ. Diện tích lúa giảm 656 ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 1.666 tấn và năng suất lúa giảm 10,36 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 1.234 tấn.
Diện tích ngô vụ Mùa sơ bộ đạt 1.732 ha, bằng 133,64% (tăng 436 ha) so với cùng kỳ. Năng suất ngô sơ bộ đạt 30,29 tạ/ha, bằng 97,42% (giảm 0,81 tạ/ha) với sản lượng sơ bộ đạt 5.247 tấn, bằng 130,17% (tăng 1.216 tấn) so với cùng kỳ. Diện tích ngô tăng 436 ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 1.355 tấn và năng suất ngô giảm 0,81 tạ/ha đã làm cho sản lượng ngô giảm 139 tấn. Các huyện có diện tích ngô tăng như: Hương Khê tăng 159 ha, Hương Sơn tăng 77 ha, Thạch Hà tăng 62 ha, Nghi Xuân tăng 44 ha...
Diện tích khoai lang sơ bộ đạt 762 ha, bằng 51,59% (giảm 715 ha) so với cùng kỳ. Năng suất khoai lang sơ bộ đạt 54,24 tạ/ha, bằng 98,76/% (giảm 0,68 tạ/ha) với sản lượng sơ bộ đạt 4.133 tấn, bằng 50,96% (giảm 3.978 tấn) so với cùng kỳ. Diện tích giảm 715 ha đã làm cho sản lượng giảm 3.927 tấn và năng suất giảm 0,68 tạ/ha đã làm cho sản lượng giảm 51 tấn.
Diện tích sắn sơ bộ đạt 3.110 ha, so với cùng kỳ bằng 76,06% (giảm 979 ha) chủ yếu giảm ở huyện Kỳ Anh 869 ha, Cẩm Xuyên 97 ha...Năng suất sắn sơ bộ đạt 137,98 tạ/ha, so với cùng kỳ năm trước bằng 86,46% (giảm 10,38 tạ/ha). Sản lượng sơ bộ đạt 42.913 tấn, bằng 65,76% (giảm 22.345 tấn). Diện tích sắn giảm 979 ha đã làm cho sản lượng sắn giảm 15.626 tấn và năng suất sắn giảm 10,38 tạ/ha đã làm cho sản lượng sắn giảm 6.719 tấn.
Diện tích rau các loại toàn tỉnh sơ bộ đạt 2.688 ha, so với cùng kỳ bằng 99,78% (giảm 6 ha). Năng suất các loại rau đạt 68,76 tạ/ha, bằng 96,34% (giảm 2,61 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng rau sơ bộ đạt 18.482 tấn, so với cùng kỳ bằng 96,13% (giảm 745 tấn). Vụ Mùa năm nay, đầu vụ gặp nắng hạn kéo dài, ít mưa, cuối vụ gặp mưa lũ nên một số diện tích cây rau lấy quả giảm.
- Vụ Đông 2016: Sản xuất vụ Đông năm 2016 trong điều kiện thời tiết hết sức khó khăn. Mưa lớn xuất hiện ngay từ đầu vụ, từ tháng 9 đến nay trên địa bàn Hà Tĩnh đã hứng chịu 5 trận mưa lớn, đặc biệt là lũ chồng lũ (đợt lũ từ ngày 12 đến ngày 15/10 và đợt lũ từ ngày 30/10 đến ngày 4/11) đã ảnh hưởng lớn đến tiến độ sản xuất cũng như gây thiệt hại đối với những diện tích đã gieo trồng. Theo thống kê, toàn tỉnh có đến 2.184,1 ha cây trồng vụ Đông bị hư hại hoàn toàn, chiếm 66% diện tích thực hiện; 20 ha rau, củ, quả trên cát ven biển bị ảnh hưởng, hư hại. Trước tình hình đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành phương án số 796/PA-SNN ngày 26/10/2016 về bổ cứu sản xuất sau mưa lũ. Trong đó, chú trọng các giải pháp như: Tranh thủ thời tiết thuận lợi để chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho các cây trồng đang khôi phục được, tạo điều kiện thuận lợi nhất để cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt; khi điều kiện thời tiết và đất đai phù hợp, khẩn trương gieo trồng các loại rau, mở rộng diện tích rau ngắn ngày phục vụ nhu cầu thị trường; chuẩn bị đầy đủ các loại vật tư để gieo trà ngô Đông muộn - Xuân sớm và các loại ngô làm thực phẩm, phục vụ chăn nuôi.
Diện tích gieo trồng các loại cây vụ Đông năm 2016 toàn tỉnh ước đạt 6.300 ha, bằng 54,84% so với cùng kỳ năm trước (giảm 5.188 ha). Trong đó: Diện tích ngô ước đạt 2.442,3 ha, bằng 55,51% kế hoạch và bằng 61,46% (giảm 1.531,7 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích khoai lang ước đạt 1.516,6 ha, bằng 57,71% kế hoạch và bằng 63,0% (giảm 890,4 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích rau các loại ước đạt 2.110,2 ha, bằng 50,18% kế hoạch và bằng 56,05% (giảm 1.654,8 ha) so với cùng kỳ năm trước và diện tích lạc ước đạt 35 ha, bằng 145,83% (tăng 11 ha) so với cùng kỳ năm trước.
- Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra chăn nuôi 1/10/2016 (số lượng tổng đàn tính đến thời điểm 01/10/2016, số con xuất chuồng và sản lượng xuất chuồng là số liệu 12 tháng từ 01/10/2015 đến 01/10/2016). Tổng đàn đại gia súc trâu bò hiện có 308.747 con, bằng 112,88% (tăng 35.230 con) so với thời điểm 01/10/2015, trong đó:
Đàn trâu hiện có 85.542 con, bằng 105,89% (tăng 4.757 con); số con xuất chuồng đạt 19.478 con, bằng 104,93% (tăng 916 con), sản lượng xuất chuồng đạt 4.553,3 tấn, bằng 102,76% (tăng 122,3 tấn) so với cùng kỳ. Do hiện nay chăn nuôi trâu đang mang lại hiệu quả kinh tế nên tổng đàn trâu năm nay phát triển ổn định và tăng so với năm trước, số đầu con hiện có ở một số huyện tăng so với cùng kỳ năm trước như: Hương Sơn tăng 1.000 con, Hương Khê tăng 1.837 con, Vũ Quang tăng 855 con...Bên cạnh đó, một số huyện đàn trâu có xu hướng giảm như: Đức Thọ giảm 1.589 con, Thạch Hà giảm 357 con...
Tổng đàn bò toàn tỉnh hiện có 223.205 con, bằng 115,81% (tăng 30.473 con); số con xuất chuồng đạt 70.560 con, bằng 135,08% (tăng 18.326 con), sản lượng xuất chuồng đạt 12.196,4 tấn, bằng 140,59% (tăng 3.521,4 tấn) so với cùng kỳ. Chăn nuôi bò thời gian qua có những bước tiến quan trọng, phù hợp với xu thế phát triển, từng bước chuyển từ chăn nuôi tận dụng, nhỏ lẻ trong nông hộ sang chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn. Đàn bò lai Zêbu và bò thịt chất lượng cao (Brahman, Charolaise, 3B…) chiếm hơn 34% tổng đàn. Đặc biệt, đã thu hút được các dự án chăn nuôi bò quy mô lớn như: Dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty CP chăn nuôi Bình Hà là Dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi Hà Tĩnh tính đến thời điểm hiện nay. Tổng đàn tại thời điểm 1/10/2016 có khoảng hơn 15 ngàn con, trong 12 tháng qua dự án này đã xuất được gần 16 ngàn con với sản lượng xuất chuồng đạt 3.419 tấn. Dự án bò thịt của Tổng Công ty Khoáng sản và TM Hà Tĩnh quy mô 15 ngàn con, Dự án bò sữa của Công ty Vinamilk quy mô hơn 5 ngàn con. Qua đó cho thấy, Hà Tĩnh đang từng bước phát triển một ngành công nghiệp chăn nuôi bò, chủ động trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Một số huyện có tổng đàn bò tăng khá như: Cẩm Xuyên tăng 10.054 con, Kỳ Anh tăng 6.090 con, Hương Sơn tăng 5.512 con, Hương Khê tăng 6.220 con, Thạch Hà tăng 6.611 con...
Tổng đàn lợn hiện có 483.057 con, bằng 101,95% (tăng 9.226 con). Số con xuất chuồng đạt 1.130.675 con, bằng 102,81% (tăng 30.930 con) với sản lượng xuất chuồng đạt 83.546 tấn, bằng 108,57% (tăng 6.596 tấn) so với cùng kỳ. Tổng đàn lợn phát triển ổn định và tăng nhẹ so với thời điểm 1/10/2015. Hiện nay, tỉnh đã xây dựng được 156 mô hình chăn nuôi lợn quy mô từ 300 đến 6.000 con và 36 cơ sở lợn nái ngoại quy mô 300 con trở lên, đáp ứng cơ bản nhu cầu nguồn giống của địa phương.
Tổng đàn gia cầm hiện có 8.167,2 ngàn con, bằng 111,5% (tăng 842,3 ngàn con); số con xuất chuồng đạt 10.975,3 ngàn con, bằng 115,42% (tăng 1.466,42 ngàn con); sản lượng gia cầm đạt 16.611 tấn, bằng 115,32% (tăng 2.206,9 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, đàn gia cầm hiện nay đang phát triển mạnh cả về số lượng cũng như sản lượng xuất chuồng. Năm 2016, mặc dù dịch bệnh có xẩy ra rải rác ở một số địa phương nhưng đã được dập tắt kịp thời nên không gây thiệt hại đối với hoạt động chăn nuôi gia cầm. Mặt khác, tổng đàn gia cầm tăng nhanh do mô hình chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại ngày càng phát triển.
- Tình hình dịch bệnh: Theo báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh thì tính từ ngày 15/10/2016 đến ngày 15/11/2016 trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên và Thành phố Hà Tĩnh đã xẩy ra dịch tai xanh ở lợn, cụ thể: Từ ngày 19/10/2016 đến ngày 15/11/2016, tại 194 hộ nuôi ở 31 thôn thuộc 4 xã (Cẩm Nam, Cẩm Dương, Cẩm Thăng, Cẩm Phúc) trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên đã xẩy ra dịch lợn tai xanh với 2.941 con lợn mắc bệnh (202 con lợn nái, 2.284 con lợn thịt và 455 con lợn con). Trong đó, số lợn bị chết, tiêu hủy là 1.328 con (50 con lợn nái, 1.062 con lợn thịt và 216 con lợn con). Tại xã Thạch Bình, Thành phố Hà Tĩnh dịch bệnh xẩy ra từ ngày 31/10/2016, đến nay đã có 30 con lợn của 7 hộ nuôi ở 2 thôn mắc bệnh (8 con lợn nái, 22 con lợn thịt). Trong đó, số lợn bị chết, tiêu hủy là 7 con lợn thịt. Như vậy, dịch bệnh tai xanh đã làm cho 2.971 con lợn bị mắc bệnh (210 con lợn nái, 2.306 con lợn thịt và 455 con lợn con). Trong đó, số lợn bị chết, tiêu hủy là 1.335 con (50 con lợn nái, 1.069 con lợn thịt và 216 con lợn con). Theo kết quả điều tra sơ bộ ban đầu cho thấy, dịch bệnh phát sinh trên đàn lợn là tại các xã bị ngập lụt trong đợt mua lũ vừa qua, môi trường bị ô nhiễm nặng, các ổ dịch tai xanh kế phát và bội nhiễm trầm trọng hơn, khả năng phục hồi thấp, tỷ lệ lợn bị mắc bệnh chết tăng. Khi dịch bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp, bao vây, dập dịch theo đúng quy trình. Tổ chức rà soát tình hình dịch bệnh trên địa bàn toàn huyện và tổng đàn lợn tại xã có dịch, các xã bị dịch uy hiếp để tiêm phòng bao vây ổ dịch bằng vắc xin tai xanh. Tính đến ngày 15/11/2016, tại huyện Cẩm Xuyên đã tiêm phòng được 13.158 con lợn, sử dụng 570 lít hóa chất và 14.600 kg vôi bột để khử trùng, tiêu độc vùng có dịch và khu vực liên quan. Lập 6 chốt kiểm dịch, biển cảnh báo tại khu vực có dịch; thông báo tạm thời đình chỉ việc mua bán, vận chuyển, giết mổ lợn trên địa bàn các xã có dịch.
1.2. Lâm nghiệp
Diện tích trồng rừng mới tập trung trong tháng 11/2016 là 412 ha, bằng 84,25% (giảm 77 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Huyện Hương Sơn trồng được 170 ha, huyện Can Lộc trồng được 20 ha, huyện Thạch Hà trồng được 35 ha, huyện Cẩm Xuyên trồng được 10 ha, huyện Kỳ Anh trồng được 167 ha, Thị xã Kỳ Anh trồng được 10 ha. Toàn tỉnh cũng đã trồng được 694,1 ngàn cây phân tán, bằng 56,50% (giảm 534,3 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Huyện Hương Sơn trồng được 150 ngàn cây, huyện Kỳ Anh trồng được 38 ngàn cây, huyện Can Lộc trồng được 30 ngàn cây, huyện Lộc Hà trồng được 28 ngàn cây, huyện Thạch Hà trồng được 18 ngàn cây, huyện Cẩm Xuyên trồng được 400 ngàn cây...Nguyên nhân trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán giảm so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của đợt mưa lũ kéo dài từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11/2016.
Sản lượng lâm sản khai thác ước đạt 16.046 m
3
_
gỗ, bằng 157,77% (tăng 5.876 m
3
) so với cùng kỳ năm trước và 58.823 ste củi, bằng 128,5% (tăng 13.048 ste). Trong đó: Huyện Hương Sơn đã khai thác 5.000 m
3
gỗ và 12.200 ste củi, huyện Vũ Quang khai thác 120 m
3
gỗ và 750 ste củi, huyện Nghi Xuân khai thác 376,3m
3
gỗ và 1.068 ste củi, huyện Can Lộc khai thác 1.000 m
3
gỗ và 7.500 ste củi, huyện Hương Khê khai thác 1.200 m
3
gỗ và 3.250 ste củi, huyện Cẩm Xuyên khai thác 1.500 m
3
gỗ và 1950 ste củi, huyện Kỳ Anh khai thác 5.762m
3
gỗ và 24.859 ste củi, huyện Lộc Hà khai thác 36 m
3
gỗ và 1.100 ste củi, thị xã Kỳ Anh khai thác 180m
3
gỗ và 1.200 ste củi...
Trong tháng, công tác chăm sóc và bảo vệ rừng vẫn được duy trì nên không có thiệt hại về rừng xẩy ra.
1.3. Thủy sản
Trong tháng 11/2016 không phát sinh diện tích thả nuôi mới. Nguyên nhân do mưa lớn, nước lũ dâng cao, hồ nuôi ngập nên người dân không thả giống nuôi trồng thủy sản. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 611 tấn, bằng 62,86% (giảm 361 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm sản lượng nuôi trồng là do thời tiết mưa lũ lớn, kết hợp với việc xả nước ở các hồ đập (Hố Hô, Kẻ Gỗ) làm cho nhiều sản lượng nuôi trồng thủy sản bị trôi. Các huyện bị thiệt hại lớn là Hương Khê, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh...
Dự ước sản lượng khai thác tháng 11/2016 đạt 1.232 tấn, bằng 40,73% (giảm 1.793 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do thời tiết không thuận lợi và hiện đang là thời điểm ngư dân hoàn tất các thủ tục nhận tiền bồi thường do sự cố môi trường biển xẩy ra nên số lượng tàu thuyền ra khơi đánh bắt giảm.
Tính chung 11 tháng năm 2016, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 35.366 tấn, bằng 80,53% (giảm 8.548 tấn) so với cùng kỳ năm 2015, trong đó: Sản lượng nuôi trồng ước đạt 10.889 tấn, bằng 85,9% (giảm 1.788 tấn) và sản lượng khai thác ước đạt 24.477 tấn, bằng 78,36% (giảm 6.760 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng từ sự cố môi trường biển và mưa lũ đã làm cho sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản giảm.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2016 bằng 92,12% (giảm 7,88%) so với tháng trước và bằng 97,42% (giảm 2,58%) so với cùng kỳ năm trước.

Từ đó cho thấy, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 11/2016 ước tính giảm so với tháng trước và cả 4 ngành công nghiệp cấp I đều có chỉ số phát triển sản xuất giảm. Ngành công nghiệp khai khoáng giảm, do hiện nay trữ lượng quặng sau nhiều năm khai thác đang dần cạn kiệt; hoạt động khai thác đất, đá, cát, sỏi được quản lý chặt chẽ hơn. Đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm do: hiện nay Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Mitraco đang gặp rất nhiều khó khăn, thị trường tiêu thụ manh mún, nhỏ lẻ và phải chịu sự cạnh tranh trực tiếp với các hộ giết mổ tư nhân; công ty cổ phần xuất khẩu nam Hà Tĩnh đang trong quá trình thay đổi mặt hàng sản xuất, tay nghề chưa cao, năng suất giảm, chi phí sản xuất tăng nhưng giá bán không tăng như giá thành, nguyên vật liệu thiếu, tiêu thụ gặp khó khăn; hoạt động ngành chế biến gỗ đang gặp khó khăn khi nhu cầu thị trường quốc tế thấp, tính cạnh tranh của hàng trong nước cao, thiếu nguyên vật liệu sản xuất, chi phí sản xuất tăng; đối với ngành sản xuất sắt, thép, gang thì Công ty TNHH gang thép hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh vẫn đang tiến hành hoạt động sản xuất thép, than cốc nhưng với mức sản lượng ít hơn trước, do gây ra sự cố ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng nên đang tập trung thực hiện các giải pháp để khắc phục sự cố. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện giảm do tổ máy số 2 của Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 đang ngừng để khắc phục sự cố bơm nước cấp dự kiến tháng 11/2016 chỉ duy trì hoạt động của tổ máy số 1. Còn ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm so với tháng trước do ảnh hưởng của mưa lũ. Tất cả những nguyên nhân đó đã làm cho chỉ số phát triển công nghiệp giảm so với tháng trước.
Tính chung 11 tháng năm 2016, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp bằng 115,81% (tăng 15,81%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số sản xuất công nghiệp khai khoáng giảm 9,19%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,23%; công nghiệp phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,16%; công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,19% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh 11 tháng đầu năm 2016 vẫn duy trì ổn định sản xuất và vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ năm trước. Nhiều ngành công nghiệp cấp 2 có mức tăng khá như: Khai thác quặng kim loại tăng 9,62%; dệt tăng 28,61%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,69%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 10,13%; thu gom rác thải tăng 29,36%.
3. Vốn đầu tư
Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2016 đạt 285,01 tỷ đồng, giảm 4,23% so với tháng trước và giảm 2,27% so với cùng kỳ năm trước.

- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã
41,27
46,77
113,33
Theo trên ta thấy, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện tháng 11/2016 đều giảm, chỉ có cấp xã tăng so với tháng trước. Do nguồn vốn thuộc ngân sách cấp xã chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn (chiếm 16,41%), chủ yếu là nguồn cân đối ngân sách xã; còn nguồn vốn tỉnh (chiếm 79,96%) hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu rất ít nên tình hình thực hiện các nguồn vốn này đạt thấp. Mặt khác, do chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, đồng thời các công trình cũng đã đi vào giai đoạn hoàn thành và đi vào sử dụng nên giá trị thực hiện trong tháng giảm so với tháng trước.
Tính chung 11 tháng năm 2016, thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.615,65 tỷ đồng, giảm 9,95% so với cùng kỳ năm trước và đạt 86,25% so với kế hoạch năm.

Như vậy, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 2016 giảm sút hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do việc thực hiện thắt chặt đầu tư công. Các nguồn vốn cân đối từ ngân sách tỉnh, huyện, xã gặp khó khăn, nhất là đối với cấp xã. Các tháng cuối năm, thời tiết bước vào mùa mưa bão, việc thực hiện thi công các công trình sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, dự ước vốn thực hiện trong các tháng cuối năm sẽ tiếp tục giảm.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 11/2016 đạt 2.187,12 tỷ đồng, giảm 2,91% so với tháng trước và giảm 16,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 137,62 tỷ đồng, tăng 0,49%; kinh tế tập thể ước đạt 0,52 tỷ đồng, tăng 4,88%; kinh tế cá thể ước đạt 1.410,53 tỷ đồng, giảm 1,86%; kinh tế tư nhân ước đạt 638,45 tỷ đồng, giảm 5,84% so với tháng trước.
Phân theo nhóm hàng, ta nhận thấy cũng có sự khác nhau về tổng mức bán lẻ giữa các nhóm hàng hóa.

Theo bảng trên cho thấy, chỉ có ba nhóm hàng có tổng mức tăng so với tháng trước, đó là: Nhóm xăng dầu các loại tăng 1,31%; nhóm hàng nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 0,54% và nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm khác tăng 3,56%. Do giá xăng dầu tiếp tục được điều chỉnh tăng từ ngày 04/11/2016, cụ thể: xăng A95 là 17.940 đồng/lít (tăng 500 đồng/lít so lần điều chỉnh gần nhất ngày 05/10/2016), xăng A92 là 17.220 đồng/lít (tăng 500 đồng/lít); giá dầu diezen 0.05S là 13.280 đồng/lít (tăng 620 đồng/lít); đồng thời, kéo theo giá gas đầu tháng 11 cũng tăng, giá gá tăng 20.000 đồng/bình/12kg từ ngày 02/11/2016, nên làm cho tổng mức hai nhóm hàng xăng dầu và nhiên liệu khác đều tăng so với tháng trước. Còn nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng, do là tháng trùng mùa cưới hỏi nên nhu cầu mua sắm trang sức tăng, lại ảnh hưởng của giá vàng Thế giới tăng đã tác động kết quả kinh doanh tăng so với tháng trước.
Tính chung tổng mức bán lẻ hàng hoá 11 tháng năm 2016 ước đạt 27.522,09 tỷ đồng, giảm 3,72% so với cùng kỳ năm trước. Sau khi loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ giảm 6,07% so với cùng kỳ năm trước.

Từ đó nhận thấy, trong các thành phần kinh tế, kinh tế Nhà nước giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm trước do khu vực này chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ xăng dầu mà giá xăng dầu năm 2016 giảm so với năm 2015 nên doanh thu giảm.
- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 11/2016 ước đạt 255,31 tỷ đồng, giảm 3,1% so với tháng trước và giảm 37,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 18,16 tỷ đồng, giảm 2,73%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 235,91 tỷ đồng, giảm 3,08%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,24 tỷ đồng, giảm 11,43% so với tháng trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 11/2015 giảm so với tháng trước. Do trong tháng thời tiết mưa lũ nhiều, nhu cầu tham quan nghỉ mát, du lịch của cả khách trong tỉnh, ngoài tỉnh đều giảm; nhu cầu khách nghỉ và giá phòng nghỉ tại các điểm du lịch cũng giảm, nên doanh thu dịch vụ lưu trú và du lịch lữ hành giảm. Mặt khác, sau sự cố môi trường biển và thiệt hại do mưa lũ, các gia đình đang hạn chế trong chi tiêu, đặc biệt là ăn uống ngoài gia đình giảm mạnh. Đây chính là các yếu tố làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành giảm.
Tính chung 11 tháng năm 2016, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.623,07 tỷ đồng, giảm 18,03% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 27,25 tỷ đồng, giảm 42,18%; kinh tế tập thể ước đạt 0,85 tỷ đồng, giảm 39,64%; kinh tế cá thể ước đạt 3.220,98 tỷ đồng, giảm 17,24%; kinh tế tư nhân ước đạt 360,63 tỷ đồng, giảm 21,77% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 13,35 tỷ đồng, giảm 28,77% so với tháng trước.
- Hoạt động dịch vụ: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 11 năm 2016 ước đạt 79,28 tỷ đồng, tăng 2,95% so với tháng trước và giảm 39,95% so cùng kỳ năm 2015.

Như vậy, hầu hết doanh thu các nhóm ngành dịch vụ đều giảm so với tháng trước, chỉ có nhóm ngành dịch vụ y tế, hoạt động trợ giúp xã hội và nhóm ngành dịch vụ khác tăng. Nhóm ngành dịch vụ khác tăng chủ yếu là do doanh thu các hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân như nhu cầu làm đẹp, cắt tóc, gội đầu, uốn sấy, ... của người dân tăng. Còn nhóm ngành dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng là do thời tiết chuyển mùa, lại ảnh hưởng hậu quả của đợt mưa lũ kéo dài làm phát sinh một số dịch bệnh nên trong tháng lượt người đến các cơ sở khám chữa bệnh tăng hơn. Đây cũng là những yếu tố làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 11/2016 tăng.
Tính chung 11 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.058 tỷ đồng, giảm 12,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 49,48 tỷ đồng, tăng 9,85%; kinh tế tập thể ước đạt 1,72 tỷ đồng, tăng 12,92%; kinh tế tư nhân ước đạt 187,58 tỷ đồng, giảm 20,29%; kinh tế cá thể ước đạt 800,52 tỷ đồng, giảm 9,31% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 18,7 tỷ đồng, giảm 61,22% so với cùng kỳ năm trước.
4.2. Hoạt động xuất nhập khẩu
- Hoạt động xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2016 ước đạt 13.345,6 nghìn USD, tăng 58,12% so với tháng trước và giảm 13,79% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 2.047,9 nghìn USD, tăng 64,56% so tháng trước; kinh tế tư nhân ước đạt 3.426,7 nghìn USD, tăng 584,63%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 8.371 nghìn USD, tăng 19,39%. Trong tháng 11/2016 dự ước tăng do thực hiện một số đơn hàng xuất khẩu với giá trị tăng hơn so với tháng trước như: Gỗ các loại ước đạt 7.071 nghìn USD, tăng 38,07%; hàng dệt may ước đạt 102 nghìn USD, tăng 47,83%; xơ, sợi dệt các loại ước đạt 1.125 ngìn USD, tăng 23,21%; than đá ước đạt 2.000 nghìn USD, tăng 29,45%. Đây chính là nguyên nhân làm cho kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2016 ước tính tăng so với tháng trước.
Tính chung 11 tháng năm 2016, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 112.342,6 nghìn USD, tăng 4,64% so với cùng kỳ năm 2015. So sánh kim ngạch xuất khẩu giữa các thành phần kinh tế ta cũng thấy có sự khác nhau rõ rệt.
Như vậy, từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng tập trung chủ yếu ở khối kinh tế Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, do có sự thay đổi tác động giữa việc cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của tỉnh thay đổi, giảm mặt hàng gỗ xẻ, tăng các mặt hàng công nghiệp (than đá, sắt thép, hắc ín), nông sản chế biến.
- Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2016 ước đạt 43.766,3 nghìn USD, giảm 4,04% so với tháng trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 2.245,3 nghìn USD, tăng 55,77%; kinh tế tư nhân ước đạt 9.791 nghìn USD, tăng 118,17% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 31.730 nghìn USD, giảm 20,03% so với tháng trước. Như vậy, lượng máy móc thiết bị cùng nguyên liệu phục vụ sản xuất dự kiến giảm nhập khẩu do việc vận tải từ nước về gặp khó khăn là nguyên nhân chủ yếu làm cho kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2016 giảm so với tháng trước.
Tính chung 11 tháng năm 2016, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 793.915,8 nghìn USD, giảm 65,32% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá dự ước 11 tháng 2016 giảm, do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm lượng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng nhập khẩu về phục vụ việc lắp ráp các công trình. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tư nhân cũng giảm nhập khẩu lượng gỗ xẻ các loại do ảnh hưởng từ việc xuất khẩu khó khăn.
4.3. Hoạt động vận tải
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 11/2016 ước đạt 1,74 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 302,36 triệu lượt hành khách.km. So với tháng trước tăng 3,73% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 3,84% về lượt hành khách.km luân chuyển. Doanh thu vận tải hành khách tháng 11/2016 ước đạt 126,79 tỷ đồng, tăng 4,1% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng, số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 19,12 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 3.334,33 triệu lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 3,82% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 6,49% về lượt hành khách.km luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.412,1 tỷ đồng, tăng 7,36% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11/2016 ước đạt 2,59 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 64,79 triệu tấn.km hàng hóa. So với tháng trước tăng 1,63% về khối lượng vận chuyển và tăng 2,66% về khối lượng luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa tháng 10/2016 ước đạt 202,14 tỷ đồng, tăng 7,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 27,62 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 679,4 triệu tấn.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 7,19% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,83% về khối lượng luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.060,24 tỷ đồng, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, hoạt động vận tải tháng 11/2016 có xu hướng tăng so với tháng trước. Sang tháng 11, các tuyến đường không còn bị ngập, hoạt động lưu thông của các phương tiện trở lại ổn định. Nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng nhằm phục vụ công tác sữa chữa công trình giao thông bị hư hỏng do mưa lũ gây ra; đồng thời, gần hết năm các nhà thầu cũng đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành công trình; nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng nội thất, điện tử, điện lạnh, ... tăng nhiều hơn nhằm chuẩn bị cho kỳ mua sắm cuối năm. Mặt khác, cuối tháng 10/2016, hoạt động kinh doanh của các đơn vị vận tải hành khách đã thực hiện lại việc khai thác trên tất cả các tuyến; giá vé hành khách vẫn giữ được ổn định, không xuất hiện việc tăng giá, nên thu hút được số lượt hành khách đi lại tăng. Đây chính là yếu tố làm cho cả hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước.
4.4 Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số chung giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2016 tăng 0,31% so với tháng trước (khu vực thành thị tăng 0,33% và khu vực nông thôn tăng 0,3%), tăng 2,28% so với tháng 12/2015 và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước (chỉ số giá tháng 01/2016 tăng 0,04%, tháng 02/2016 tăng 0,41%, tháng 3/2016 tăng 0,39%, tháng 4/2016 tăng 0,13%, tháng 5/2016 tăng 0,35%, tháng 6/2016 tăng 0,36%, tháng 7/2016 tăng 0,09%, tháng 8/2016 giảm 0,19%, tháng 9 tăng 0,19%, tháng 10 tăng 0,26% và tháng 11 tăng 0,31% so với tháng trước). Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 11 năm 2016 là:
(1) Đây là thời gian các doanh nghiệp thực hiện sản xuất, dự trữ hàng hóa để tăng cường chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhân dân trong dịp tết Dương lịch và tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017, nên đã tác động làm cho giá một số mặt hàng có xu hướng tăng lên.
(2) Do chịu ảnh hưởng thời tiết mưa lũ, làm cho một số địa phương bị ngập úng nặng, thiệt hại nhiều về sản phẩm lương thực, thực phẩm. Dẫn đến nguồn cung bị thiếu hụt, làm giá tăng hơn so với tháng trước.
(3) Ngoài ra, ảnh hưởng giá xăng dầu tăng 6 lần liên tiếp trong thời gian qua (từ ngày 19/8 đến ngày 4/11/2016) làm cho nhóm nhiên liệu trong tháng tăng mạnh (tăng 3,64%), dẫn đến chi phí sản xuất cũng như chi phí vận chuyển một số mặt hàng tăng lên. Bên cạnh đó, ảnh hưởng giá gas thế giới tăng, tăng 60 USD/tấn so với tháng 10/2016 nên giá gas trong nước được điều chỉnh tăng (tăng 20.000đ/bình/12kg). Những điều này phần nào tác động đến chỉ số giá chung trong tháng tăng.

Như vậy, từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng tập trung chủ yếu ở khối kinh tế Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, do có sự thay đổi tác động giữa việc cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của tỉnh thay đổi, giảm mặt hàng gỗ xẻ, tăng các mặt hàng công nghiệp (than đá, sắt thép, hắc ín), nông sản chế biến.
- Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2016 ước đạt 43.766,3 nghìn USD, giảm 4,04% so với tháng trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 2.245,3 nghìn USD, tăng 55,77%; kinh tế tư nhân ước đạt 9.791 nghìn USD, tăng 118,17% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 31.730 nghìn USD, giảm 20,03% so với tháng trước. Như vậy, lượng máy móc thiết bị cùng nguyên liệu phục vụ sản xuất dự kiến giảm nhập khẩu do việc vận tải từ nước về gặp khó khăn là nguyên nhân chủ yếu làm cho kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2016 giảm so với tháng trước.
Tính chung 11 tháng năm 2016, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 793.915,8 nghìn USD, giảm 65,32% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá dự ước 11 tháng 2016 giảm, do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm lượng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng nhập khẩu về phục vụ việc lắp ráp các công trình. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tư nhân cũng giảm nhập khẩu lượng gỗ xẻ các loại do ảnh hưởng từ việc xuất khẩu khó khăn.
4.3. Hoạt động vận tải
Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 11/2016 ước đạt 1,74 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 302,36 triệu lượt hành khách.km. So với tháng trước tăng 3,73% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 3,84% về lượt hành khách.km luân chuyển. Doanh thu vận tải hành khách tháng 11/2016 ước đạt 126,79 tỷ đồng, tăng 4,1% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng, số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 19,12 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 3.334,33 triệu lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 3,82% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 6,49% về lượt hành khách.km luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.412,1 tỷ đồng, tăng 7,36% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11/2016 ước đạt 2,59 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 64,79 triệu tấn.km hàng hóa. So với tháng trước tăng 1,63% về khối lượng vận chuyển và tăng 2,66% về khối lượng luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa tháng 10/2016 ước đạt 202,14 tỷ đồng, tăng 7,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 27,62 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 679,4 triệu tấn.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 7,19% về khối lượng vận chuyển và tăng 11,83% về khối lượng luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.060,24 tỷ đồng, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, hoạt động vận tải tháng 11/2016 có xu hướng tăng so với tháng trước. Sang tháng 11, các tuyến đường không còn bị ngập, hoạt động lưu thông của các phương tiện trở lại ổn định. Nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng nhằm phục vụ công tác sữa chữa công trình giao thông bị hư hỏng do mưa lũ gây ra; đồng thời, gần hết năm các nhà thầu cũng đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành công trình; nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng nội thất, điện tử, điện lạnh, ... tăng nhiều hơn nhằm chuẩn bị cho kỳ mua sắm cuối năm. Mặt khác, cuối tháng 10/2016, hoạt động kinh doanh của các đơn vị vận tải hành khách đã thực hiện lại việc khai thác trên tất cả các tuyến; giá vé hành khách vẫn giữ được ổn định, không xuất hiện việc tăng giá, nên thu hút được số lượt hành khách đi lại tăng. Đây chính là yếu tố làm cho cả hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước.
4.4 Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số chung giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2016 tăng 0,31% so với tháng trước (khu vực thành thị tăng 0,33% và khu vực nông thôn tăng 0,3%), tăng 2,28% so với tháng 12/2015 và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước (chỉ số giá tháng 01/2016 tăng 0,04%, tháng 02/2016 tăng 0,41%, tháng 3/2016 tăng 0,39%, tháng 4/2016 tăng 0,13%, tháng 5/2016 tăng 0,35%, tháng 6/2016 tăng 0,36%, tháng 7/2016 tăng 0,09%, tháng 8/2016 giảm 0,19%, tháng 9 tăng 0,19%, tháng 10 tăng 0,26% và tháng 11 tăng 0,31% so với tháng trước). Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 11 năm 2016 là:
(1) Đây là thời gian các doanh nghiệp thực hiện sản xuất, dự trữ hàng hóa để tăng cường chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhân dân trong dịp tết Dương lịch và tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017, nên đã tác động làm cho giá một số mặt hàng có xu hướng tăng lên.
(2) Do chịu ảnh hưởng thời tiết mưa lũ, làm cho một số địa phương bị ngập úng nặng, thiệt hại nhiều về sản phẩm lương thực, thực phẩm. Dẫn đến nguồn cung bị thiếu hụt, làm giá tăng hơn so với tháng trước.
(3) Ngoài ra, ảnh hưởng giá xăng dầu tăng 6 lần liên tiếp trong thời gian qua (từ ngày 19/8 đến ngày 4/11/2016) làm cho nhóm nhiên liệu trong tháng tăng mạnh (tăng 3,64%), dẫn đến chi phí sản xuất cũng như chi phí vận chuyển một số mặt hàng tăng lên. Bên cạnh đó, ảnh hưởng giá gas thế giới tăng, tăng 60 USD/tấn so với tháng 10/2016 nên giá gas trong nước được điều chỉnh tăng (tăng 20.000đ/bình/12kg). Những điều này phần nào tác động đến chỉ số giá chung trong tháng tăng.

- Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tiếp tục ổn định so với tháng trước, đó là: Nhóm giáo dục và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch.
- Có 02/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước: + Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD giảm 0,06% so với tháng trước. Do nhu cầu sử dụng điện nước sinh hoạt trong tháng giảm nên giá điện nước bình quân trong tháng giảm hơn so với tháng trước (Điện sinh hoạt giảm 3,92%; nước sinh hoạt giảm 2,63%). Đồng thời, trong tháng giá xi măng đen PC40 Hoàng Mai giảm 1.500đ/50kg (giảm 1,35%) làm cho chỉ số giá chung nhóm này giảm hơn so với tháng trước.
+ Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04% so với tháng trước. Nguyên nhân làm cho nhóm này giảm, chủ yếu do thiết bị dùng trong gia đình giảm (giảm 0,28%).
- Còn lại 07/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, đó là:
+ Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,32% so với tháng trước, trong đó:
Các mặt hàng lương thực tăng 1,1% so tháng trước. Do nguồn cung trên địa bàn khan hiếm trong khi đó nhu cầu dự trữ của người dân lại tăng lên. Mặt khác ảnh hưởng giá xăng dầu tăng mạnh trong tháng làm cho chi phí vận chuyển lượng gạo về trên địa bàn tỉnh tăng, làm cho giá các loại gạo tăng hơn so tháng trước. Thị trường khu vực thành thị giá gạo tẻ thường mức 11.000 - 13.000 đ/kg (tăng 1,53%), gạo tẻ ngon tám thơm địa phương 14.000 - 15.000đ/kg (tăng 1,42%); gạo tẻ thái lan 26.000-28.000 (tăng 1,05%); Gạo nếp Thái Lan 28.000-29.000đ/kg. Khu vực nông thôn: Nghi Xuân, Can Lộc, Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Đức Thọ giá gạo tẻ thường dao động từ 11.000-12.000đ/kg; Gạo tẻ ngon từ 15.000-16.000đ/kg; Gạo nếp Thái Lan 27.000-28.500đ/kg.
Các mặt hàng thực phẩm tăng 0,24% so tháng trước, tăng chủ yếu ở nhóm thủy sản tươi sống (tăng 2,06%) và nhóm rau tươi khô, chế biến (tăng 1,0%). Do ảnh hưởng thời tiết mưa bão trong tháng 9 và tháng 10 làm cho một số địa phương diện tích rau màu bị ngập lụt và hư hỏng nhiều, nguồn thực phẩm bị thiếu hụt, nguồn hàng khan hiếm; đồng thời, ảnh hưởng các yếu tố chi phí đầu vào cũng như các chi phí vận chuyển tăng mạnh nên giá các loại thực phẩm có xu hướng tăng.
Ăn uống ngoài gia đình tăng nhẹ (tăng 0,04%) so tháng trước và chủ yếu ở nhóm uống ngoài gia đình, tăng 0,28%. Nguyên nhân tăng do nguồn quả tươi chế biến hàng giải khát sinh tố như: bơ, na, cam... trên địa bàn không có mà được đưa về từ các địa phương khác, với giá thành và chi phí vận chuyển cao, tác động đến nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng.
+ Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,15% so với tháng trước. Tăng chủ yếu ở mặt hàng rượu mạnh (tăng 0,73%). Do nhu cầu thu mua rượu thời điểm cuối năm tăng hơn so với các tháng trước, đồng thời ảnh hưởng giá gạo nếp 2 tháng gần đây đang có xu hướng tăng lên, làm cho chi phí sản xuất rượu tăng. Vì vậy, giá các loại rượu trắng do địa phương sản xuất tăng hơn so với tháng trước, đã tác động đến chỉ số giá chung của nhóm này tăng.
+ Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,07% so với tháng trước. Tăng chủ yếu nhóm may mặc (tăng 0,08%) và may mặc khác, mũ nón (tăng 0,07%). Do ảnh hưởng thời tiết chuyển mùa, lượng hàng may mặc được nhập về với số lượng phong phú, đảm bảo chất lượng, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Mặc dù, nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng còn dè dặt, tuy nhiên so với tháng trước giá một số mặt hàng áo khoác có xu hương tăng, nên làm cho chỉ số giá ở nhóm này tăng.
+ Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,11% so với tháng trước. Tác động đến nhóm thuốc và dịch vụ y tế trong tháng tăng, chủ yếu do nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 1,62%.
+ Nhóm giao thông tăng 1,57% so với tháng trước. Mặc dù, ngày 19/11/2016 Liên Bộ Công Thương – Tài chính có văn bản gửi các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu giảm. Song ảnh hưởng giá xăng dầu tăng 6 lần liên tiếp (từ ngày 19/8 đến ngày 4/11/2016) làm cho nhóm nhiên liệu trong tháng tăng mạnh (tăng 3,64%). Theo đó xăng A95 tính từ ngày 20/10 đến 21/11/2016 có mức giá BQ 17.885 đ/lít (tăng 2,96%), giá bán lẻ xăng A95 hiện tại ở mức giá 17.410đ/lít, xăng A92 giá bình quân 17.165đ/lít (tăng 3,06%). Hiện nay thị trường giá bán lẻ xăng A92 có mức 16.690đ/lít, Dầu diezel giá bình quân 13.246đ/lít (tăng 5,11%), giá bán lẻ dầu diezel hiện tại ở mức 12.750 đ/lít.
+ Nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,59% so với tháng trước. Nguyên nhân, tăng chủ yếu do thiết bị điện thoại trong tháng tăng (tăng 2,99%).
+ Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu do nhu cầu làm đẹp vào những tháng cuối năm tăng cao nên giá các dịch vụ phụ vụ cá nhân tăng hơn so với các tháng trước (tăng 0,32%).
- Chỉ số giá vàng giảm 1,58% so tháng trước, tăng 10,37% so với cùng kỳ năm trước, tăng 12,24% so với tháng 12 năm trước. Do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới nên giá vàng trong nước thời gian qua có nhiều biến động. Thị trường giá vàng những ngày cuối tháng 10 có xu hướng giảm, giảm xuống còn 3.450 nghìn đồng/chỉ, đến những ngày đầu tháng 11 giá vàng bắt đầu tăng lên 3.570 nghìn đồng/chỉ, song đến cuối tháng 11 giá vàng lại lao dốc giảm xuống còn 3.400 nghìn đồng/chỉ. Tính bình quân tháng 11/2016 giá vàng của tỉnh 3.482 nghìn đồng/chỉ, giảm 53 nghìn đồng/chỉ (giảm 1,49%) so với giá vàng bình quân tháng trước.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,37% so tháng trước, giảm 0,82% so cùng tháng năm trước, giảm 0,98% so với tháng 12 năm trước và bình quân cùng kỳ tăng 2,82%. Giá USD tự do tại thị trường Hà Tĩnh ngày 22/11/2016 mức giá bán ra 2.270 nghìn đồng/100USD (tăng 35 nghìn đồng/100USD) so tháng trước.
Nhìn chung, thị trường giá cả hàng hóa trong tháng có xu hướng tăng hơn so với tháng trước nhưng mức tăng nhẹ chưa có hiện tượng tăng giá đột biến. Mặt khác, công tác quản lý thị trường trên địa bàn được tăng cường chặt chẽ, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vị buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. Vì thế, trên địa bàn không có tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức, gây bất ổn thị trường. Dự kiến CPI tháng 12/2016 có xu hướng tiếp tục tăng so tháng trước. Do sang tháng thời điểm chuyển mùa, nhu cầu mua sắm hàng may mặc sẵn bộ đồ thể thao, áo ấm, áo len, giày, dép... cũng như đồ dùng chăn, ga, gối, đệm tăng; đồng thời, sang tháng nhu cầu mua sắm vào thời điểm cuối năm tăng cao nên giá cả một số mặt hàng cũng tăng theo, tác động đến chỉ số giá chung tăng.
5. Một số vấn đề xã hội
5.1. Tình hình thiếu đói
Tình hình đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự vào cuộc quyết liệt, kịp thời của cả hệ thống chính trị trong việc khắc phục sự cố môi trường biển. Tính đến nay, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường gồm 2 đợt với số tiền 162,3 tỷ đồng (đợt 1 là 47,36 tỷ đồng; đợt 2 là 114,94 tỷ đồng), trong đó: thị xã Kỳ Anh 6,02 tỷ đồng; huyện Cẩm Xuyên 1,95 tỷ đồng; Lộc Hà 19,58 tỷ đồng; Thạch Hà 10,16 tỷ đồng; Kỳ Anh 29,83 tỷ đồng, Nghi Xuân 85,11 tỷ đồng và thành phố Hà Tĩnh 9,65 tỷ đồng. Việc chi trả bồi thường được đảm bảo minh bạch, công bằng và đúng đối tượng. Bên cạnh đó, thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện tốt cho người nông dân trong việc sản xuất các loại cây rau màu ngắn ngày vụ Mùa, vụ Đông và làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập; đồng thời, đợt lũ lụt vừa qua, nhờ sự cứu trợ kịp thời của tỉnh, cùng các đơn vị, tổ chức, cá nhân nên trong tháng không xảy ra thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói không xảy ra.
5.2. Thiệt hại thiên tai
Từ ngày 29/10/2016-02/11/2016, do ảnh hưởng của không khí lạnh, trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 01 đợt mưa lũ gây ngập lụt trên diện rộng, làm cho một số địa phương bị ngập sâu từ 1-2m, trong đó nặng nhất là huyện Hương Khê có 07 xã bị ngập. Mưa lũ đã làm cho 1.080 hộ dân bị ngập (trong đó: Huyện Hương Khê có 812 hộ bị ngập, Vũ Quang có 40 hộ bị ngập, Cẩm Xuyên có 228 hộ bị ngập); 01 nhà bị sập và nhiều tuyến đường liên thôn, liên xã bị ngập sâu từ 1-1,5m, gây ách tắc giao thông. Tổng giá trị thiệt hại ước tính là 220 tỷ đồng.
Ngay sau đợt mưa lũ, tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các địa phương tích cực phục hồi sản xuất và ổn định đời sống cho người dân bị thiệt hại. Đồng thời, các huyện cũng đã tập trung huy động lực lượng tại chỗ khắc phục hậu quả, vệ sinh nhà cửa, trường học, trạm y tế bị ngập, đảm bảo cho học sinh đi học và hoạt động của người dân trở lại bình thường. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã trích từ ngân sách hỗ trợ giống cây trồng và giống vật nuôi cho các địa phương bị thiệt hại trong đợt mưa lũ, với số tiền là 9 tỷ đồng, hạn chế mức thiệt hại thấp nhất cho người dân.
5.3. Hoạt động Y tế
- Tình hình dịch bệnh: Trong thời gian qua, Hà Tĩnh liên tiếp xảy ra mưa to, ngập lụt trên diện rộng, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân toàn tỉnh. Đặc biệt sau lũ lụt là nguy cơ làm cho nhiều dịch bệnh bùng phát. Do đó, để đảm bảo sức khỏe cho nhân dân vùng lũ, ngành y tế đã chủ động tích cực kiểm soát dịch bệnh, không để dịch bùng phát, khám bệnh và cấp thuốc cho người dân vũng lũ. Ngoài ra, ngành cũng chỉ đạo tất cả các địa phương bị ảnh hưởng lũ lụt đều phải chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh; công tác xử lý môi trường phải được triển khai nhanh chóng, kịp thời; việc xử lý giếng nước, công trình vệ sinh cho người dân được gấp rút hoàn thành, nhằm hạn chế dịch bệnh bùng phát ở diện rộng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chỉ xảy ra 17 trường hợp sốt xuất huyết, 07 trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệng và điều đáng mừng là các dịch bệnh này đều không có trường hợp nào bị tử vong.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tình hình HIV/AIDS, tệ nạn ma túy, mại dâm trên địa bàn tỉnh đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Chính vì vậy, thời gian tới tỉnh tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng chống ma túy, mại dâm và HIV/AIDS, mở các lớp tập huấn cho các học viên. Qua mỗi lớp tập huấn các học viên đã được cán bộ Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS cung cấp các thông tin về tình hình dịch HIV/AIDS trên Thế giới, Việt Nam và tỉnh Hà Tĩnh; kiến thức cơ bản về phòng, chống HIV/AIDS và điều trị Methadone; kỹ năng truyền thông, tiếp cận cộng đồng trong phòng, chống HIV/AIDS cũng như cung cấp thông tin về các chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS đang triển khai trên địa bàn tỉnh. Trong tháng Hà Tĩnh có 01 người nhiễm mới HIV (so với cùng kỳ năm trước giảm 02 người), 02 người chuyển AIDS và không có người chết vì AIDS.
- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hiện nay, công tác bảm bảo an toàn thực phẩm còn gặp khó khăn trong công tác giám định, kiểm nghiệm, xử lý; chưa có các trang thiết bị, phương tiện để kiểm tra giám định chất lượng. Trong khi đó thực trạng về sản xuất, kinh doanh thực phẩm có số lượng khá nhiều và phần lớn là hộ gia đình kinh doanh nhỏ, lẻ, manh mún. Cho nên, tỉnh đã huy động sự hỗ trợ, vào cuộc của toàn xã hội, đẩy mạnh công tác thanh, kiểm tra, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để răn đe, đặc biệt là tại khu kinh tế Vũng Áng; đồng thời, tích cực tuyền truyền để nâng cao nhận thức cho người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng không sản xuất và sử dụng thực phẩm kém chất lượng cũng như hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng; quản lý chặt chẽ việc quảng cáo sản phẩm, thực phẩm, nhất là thực phẩm chức năng. Trong tháng ở Hà Tĩnh đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể tại huyện Hương Khê, làm 05 người bị ngộ độc. Ngoài ra, còn có 205 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm.
5.4. Hoạt động Văn hoá - Thể thao
- Hoạt động văn hóa: Hướng tới kỷ niệm 180 năm thành lập huyện Kỳ Anh (1836-2016), huyện Kỳ Anh phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức chương trình nghệ thuật “Kỳ Anh - miền quê yêu thương”. Chương trình nghệ thuật “Kỳ Anh - miền quê yêu thương” với hơn 15 tiết mục ca múa nhạc đặc sắc, ca ngợi quê hương, đất nước, mảnh đất và con người Hà Tĩnh nói chung, Kỳ Anh nói riêng. Cũng nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, Đoàn trường Đại học Hà Tĩnh tổ chức Liên hoan Ca múa nhạc sinh viên năm 2016 với 14 tiết mục văn nghệ đặc sắc là những món quà đầy ý nghĩa được dành tặng các thầy giáo, cô giáo và ca ngợi công lao của những người kỹ sư tâm hồn.
Thời gian này, Hội đồng hương Nghệ An tại Hà Nội đã phối hợp với tỉnh Hà Tĩnh tổ chức chương trình “Ân tình ví, giặm” nhân 2 năm ngày dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc gia. Đoàn Hà Tĩnh tham gia 30 người, thể hiện 3 tiết mục dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh về ví phường cấy, giặm xay lúa, hát giặm lời cổ tái hiện lại không gian sinh hoạt, lao động xưa.
-
Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa:
Thanh tra sở Văn hóa, Thể dục và Du lịch đã phối hợp các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao trên toàn tỉnh. Qua kiểm tra tại 52 cơ sở, đoàn đã đình chỉ 09 cơ sở không đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn quy định đối với từng loại hình hoạt động thể thao, cụ thể: đình chỉ 05 cơ sở tập thể hình, 03 sân bóng đá nhân tạo và 01 bể bơi.
- Hoạt động thể thao:
Tại Giải Đua thuyền Rowing và Canoeing vô địch quốc gia năm 2016, đoàn Hà Tĩnh có 7 vận động viên tham gia và đều thi đấu ở nội dung Rowing; kết quả, đoàn giành được 2 huy chương: 01 HCB và 01 HCĐ.
Còn ở Giải bóng chuyền trẻ Cúp các CLB toàn quốc năm 2016, đoàn Hà Tĩnh đạt giải nhì ở nội dung bóng chuyền nam. Đây là lần đầu tiên tham gia giải, nhưng đội bóng chuyền trẻ Hà Tĩnh đã tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong làng bóng chuyền Việt Nam khi liên tục giành chiến thắng trước các đội bóng mạnh và tiến thẳng vào đến trận cuối cùng của giải.
5.5. Tình hình an toàn giao thông
Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, tỉnh đã ban hành công điện về việc tăng cường các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong những tháng cuối năm 2016 và trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017. Công điện nêu rõ, tình hình trật tự ATGT trên địa bàn tỉnh có nhiều diễn biến phức tạp, TNGT tăng cả 2 tiêu chí về số vụ và số người chết. Do đó UBND tỉnh đã yêu cầu giám đốc các sở, thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã tiếp tục chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt các nhiệm vụ và giải pháp đảm bảo trật tự ATGT theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Ban ATGT tỉnh. Đặc biệt, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ATGT đến cán bộ, hội viên, đoàn viên, thanh niên, học sinh, nhân dân, nhất là lứa tuổi thanh niên, học sinh đi học và làm ăn xa về quê ăn Tết. Có hình thức biểu dương gương người tốt, việc tốt đi đôi với phê phán, lên án các hành vi vi phạm, coi thường kỷ cương, pháp luật trật tự, an toàn giao thông. Tính từ ngày 16/10/2016 đến ngày 15/11/2016, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 16 người, bị thương 03 người, thiệt hại tài sản 75 triệu đồng. So với tháng trước tăng 06 vụ, tăng 07 người chết và giảm 03 người bị thương; so cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ, tăng 06 người chết và giảm 11 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.
Như vậy, tính từ ngày 16/12/2015 đến ngày 15/11/2016 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 170 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 03 vụ tai nạn đường sắt làm chết 146 người, bị thương 94 người, ước tính thiệt hại tài sản là 1.477 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 09 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tai nạn đường sắt không thay đổi, tăng 11 người chết và giảm 26 người bị thương.
5.6. Tình hình cháy, nổ và vi phạm môi trường
- Tình hình cháy, nổ:
Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 09 vụ cháy, thiệt hại về tài sản trị giá ước tính 2,43 tỷ đồng, gồm: 03 vụ cháy xe, 03 vụ cháy ki ốt, 01 vụ cháy nhà dân, 01 vụ cháy kho rơm và 01 vụ cháy lò phun sơn. Nguyên nhân chủ yếu là chập điện và sơ suất của người dân trong sử dụng điện. Trong số các vụ cháy, vụ cháy cơ sở kinh doanh coffee tại thành phố Hà Tĩnh là lớn nhất. Vụ cháy đã làm lan sang các cơ sở kinh doanh liền kề gồm 01 cửa hàng tạp hóa và 03 kiot kinh doanh điện thoại, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 2 tỷ đồng.
-
Về vi phạm môi trường:
Trong tháng, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố tăng cường chỉ đạo công tác vệ sinh môi trường, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trên địa bàn. Sau khi kiểm tra đã phát hiện 03 vụ vi phạm môi trường của hộ trang trại chưa chấp hành đúng quy định về bảo vệ môi trường. Đoàn đã tiến hành lập biên bản và xử phạt hành chính 4 triệu đồng đối với cơ sở vi phạm nói trên.
Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2016./.
Tập tin : So lieu thang 11 -2016 (Ha Tinh).pdf
Tin khác