Báo cáo ước tính tình hình kinh tế - xã hội năm 2016
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế
1.1. Quy mô tăng trưởng của nền kinh tế
- Giá trị sản xuất theo giá hiện hành: Giá trị sản xuất năm 2016 theo giá hiện hành ước đạt 86.212,2 tỷ đồng, giảm 16,06 % so với năm 2015, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 18.146,8 tỷ đồng, tăng 7,04% so với cùng kỳ; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 43.958,6 tỷ đồng, giảm 28,61% so với cùng kỳ; khu vực dịch vụ ước đạt 24.106,8 tỷ đồng, giảm 0,31% so với cùng kỳ.
- Giá trị sản xuất theo giá so sánh: Giá trị sản xuất năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước đạt 62.405,9 tỷ đồng, giảm 16,48% so với năm 2015, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 11.815,6 tỷ đồng, tăng 4,18% so với cùng kỳ; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 33.271,4 tỷ đồng, giảm 27,37% so với cùng kỳ; khu vực dịch vụ ước đạt 17.318,9 tỷ đồng, giảm 1,45% so với cùng kỳ.
- Giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2016 theo giá hiện hành ước đạt 45.126,7 tỷ đồng, giảm 15,12% so với năm 2015, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản ước đạt 10.362,7 tỷ đồng, tăng 8,28% so với cùng kỳ; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 14.670,1 tỷ đồng, giảm 27,93 so với cùng kỳ và khu vực dịch vụ ước đạt 20.093,9 tỷ đồng, giảm 13,53 so với cùng kỳ (các ngành thương mại, dịch vụ ước đạt 16.058,1 tỷ đồng, tăng 0,79% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 4.035,8 tỷ đồng, giảm 44,76%).
- Giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá so sánh: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2016 theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 31.900,9 tỷ đồng, giảm 16,85% so với năm 2015, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản ước đạt 6.733 tỷ đồng, tăng 4,97% so với cùng kỳ; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 10.734,5 tỷ đồng, giảm 27,89 so với cùng kỳ và khu vực dịch vụ ước đạt 14.433,4 tỷ đồng, giảm 15,42 so với cùng kỳ (các ngành thương mại, dịch vụ ước đạt 11.514,9 tỷ đồng, giảm 0,77% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 2.918,5 tỷ đồng, giảm 46,56%).
1.2. Cơ cấu và tăng trưởng kinh tế
- Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế (GRDP) năm 2014 và năm 2015 tương đối ổn định và chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, năm 2016 do sự sụt giảm của khu vực công nghiệp, xây dựng và thuế sản phẩm nên cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tăng tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và giảm ở khu vực công nghiệp, xây dựng và thuế sản phẩm.

- Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) năm 2016 ước giảm 16,85% so với năm 2015. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tăng 4,97% so với năm 2015, đóng góp 0,83 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng ước giảm 27,89% so với năm 2015, đóng góp -10,82 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ ước giảm 15,42% so với năm 2015, đóng góp -6,86 điểm phần trăm (trong đó các ngành sản xuất thương mại, dịch vụ ước giảm 0,77% so với năm 2015, đóng góp -0,23 điểm phần trăm và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước giảm 46,56% so với năm 2015 và đóng góp -6,63 điểm phần trăm).
1.3. Đánh giá đối với các ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế
- Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong điều kiện thời tiết đầu năm gặp rất nhiều khó khăn, tiếp đó ảnh hưởng sự cố môi trường biển, cuối năm liên tục các đợt mưa lớn kéo dài gây ngập lụt, hư hỏng nhiều diện tích lúa, cây màu, nuôi trồng thủy sản đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Đối với khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 tuy vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng thấp hơn. Khu vực này năm 2016 tăng trưởng 4,97% và đóng góp 0,83 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Trong đó hoạt động trồng trọt vẫn phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết. Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay được mùa khá toàn diện với sản lượng lúa tăng 15.758 tấn so với năm 2015. Tuy nhiên, vụ Hè Thu và vụ Mùa lại bị ảnh hưởng do mưa lũ vào thời kỳ thu hoạch nên đã làm cho năng suất cây trồng giảm (sản lượng lúa vụ Hè Thu giảm 3.955 tấn và sản lượng lúa vụ Mùa giảm 3.060 tấn). Hoạt động chăn nuôi có bước phát triển khá trong thời gian qua mà chủ yếu là hoạt động chăn nuôi lợn và chăn nuôi bò. Dự án chăn nuôi bò thịt quy mô lớn của Công ty Bình Hà đã thả nuôi 29.959 con, với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt hơn 3.400 tấn, đây là sản phẩm mới nên có sự tác động lớn đến tốc độ phát triển chung của ngành nông nghiệp. Tốc độ tăng trưởng GRDP của riêng ngành nông nghiệp tăng 6,92% và đóng góp 0,99 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là khai thác sản phẩm từ rừng trồng phục vụ cho các nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu nhưng hiện nay việc xuất khẩu mặt hàng này gặp khó khăn nên phát triển chậm hơn so với những năm trước. Tốc độ tăng trưởng GRDP của riêng ngành lâm nghiệp tăng 2,1% và đóng góp 0,02 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Đối với hoạt động thủy sản năm 2016 giảm mạnh do ảnh hưởng từ sự cố môi trường biển. Sản lượng hải sản khai thác biển ước tính giảm 9.296 tấn so với cùng kỳ. Tốc độ tăng trưởng GRDP của ngành sản xuất thủy sản năm 2016 ước tính giảm 14,17% (làm cho tốc độ tăng GRDP chung giảm 0,18%).
Năm 2016 vẫn đang tiếp tục tập trung chỉ đạo quyết liệt thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đi vào chiều sâu; ưu tiên nguồn lực, thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao; chuyển đổi cơ cấu gắn với xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển các sản phẩm hành hóa chủ lực vẫn còn chậm; đổi mới mô hình tăng trưởng chưa rõ nét. Vì vậy, năm 2016 tăng trưởng kinh tế trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của Hà Tĩnh vẫn chưa có bước đột phá.
- Sản xuất công nghiệp tiếp tục ổn định tăng trưởng nhưng vẫn còn đạt thấp so với kế hoạch và điều kiện sẵn có. Hoạt động xây dựng trong năm qua gặp nhiều khó khăn, giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm mạnh.
Khu vực công nghiệp và xây dựng trong những năm qua luôn có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung (năm 2014 tăng trưởng 38,72%, đóng góp 13,15 điểm phần trăm; năm 2015 tăng trưởng 18,46%, đóng góp 7,04 điểm phần trăm). Tuy nhiên, năm 2016 kết quả hoạt động sản xuất khu vực công nghiệp và xây dựng đạt thấp. Tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2016 dự ước giảm 27,89% so với cùng kỳ năm 2015, đóng góp -10,82 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Sự sụt giảm của khu vực này là một trong những nguyên nhân chính tác động làm giảm chỉ tiêu GRDP năm 2016, trong đó:
+ Năm 2016, ngành công nghiệp vẫn có mức tăng trưởng 9,97% so với năm 2015, đóng góp 1,2 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (năm 2014 tăng trưởng 42,29%, đóng góp 2,97 điểm phần trăm; năm 2015 tăng trưởng 73,63%, đóng góp 5,95 điểm phần trăm). Bên cạnh một số ngành vẫn duy trì được mức tăng ổn định như: Sản xuất bia, sản xuất sợi...thì 2 dự án sản xuất công nghiệp lớn là Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I và Dự án luyện cán thép Formosa Hà Tĩnh sản xuất không đạt kế hoạch. Nguyên nhân ngay từ đầu năm do sự cố độ rung gối trục tuabin nên Tổ máy số 01 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I đã phải tạm dừng sản xuất từ ngày 25/11/2015 đến ngày 7/9/2016 để khắc phục và Tổ máy số 2 cũng phải ngừng sản xuất từ ngày 29/5/2016 đến ngày 09/6/2016 để khắc phục sự cố bất thường thiết bị nên sản lượng điện sản xuất của Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I năm 2016 ước đạt 3.165 triệu kwh, giảm 23,09% so với năm 2015 (tương đương giảm 749 tỷ đồng giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 2010). Nhà máy luyện cán thép thuộc Dự án Fomosa năm 2016 chỉ mới sản xuất được 0,216 triệu tấn thép, so với kế hoạch sản xuất cả năm chỉ đạt 12,01% (tương đương giảm 10.544 tỷ đồng giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 2010). Với ảnh hưởng từ sự cố Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I và việc sản xuất đạt thấp hơn kế hoạch của Nhà máy luyện cán thép Fomosa đã làm giảm 11.293 tỷ đồng giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 2010, tương đương làm giảm 55,1% về tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp và làm giảm 6,64 điểm phần trăm đóng góp của ngành công nghiệp trong mức tăng chung. Như vậy, mặc dù có mức tăng trưởng và đóng góp dương nhưng với mức tăng trưởng này của ngành công nghiệp thì chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có và không đạt kế hoạch đặt ra.
+ Năm 2016, ngành xây dựng có mức tăng trưởng -44,95% so với năm 2015, đóng góp -12,02 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (năm 2014 tăng trưởng 37,79%, đóng góp 10,18 điểm phần trăm; năm 2015 tăng trưởng 3,63%, đóng góp 1,09 điểm phần trăm). Như vậy, một trong những nguyên nhân chính làm cho GRDP có tốc độ tăng trưởng -16,85% chủ yếu là do ngành xây dựng giảm mạnh. Nguyên nhân do Dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh cơ bản đã hoàn thành giai đoạn I nên làm cho giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm. Năm 2016, Dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh dự ước vốn đầu tư đạt 24.200 tỷ đồng, giảm 64,96% so với năm 2015 và ước tính giá trị sản xuất xây dựng theo giá so sánh năm 2010 từ dự án này đạt 6.356 tỷ đồng, giảm 70,74% so với năm 2015. Với giá trị sản xuất xây dựng của Dự án Fomosa giảm 70,74%, giảm 15.360 tỷ đồng giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 2010, tương đương làm giảm 59,5% về tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng và làm giảm 15,91 điểm phần trăm đóng góp của ngành xây dựng trong mức tăng chung.
Như vậy, do ảnh hưởng của sự cố Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I, việc sản xuất đạt thấp hơn kế hoạch của Nhà máy luyện cán thép Fomosa và việc xây dựng cơ bản của Dự án Fomosa cơ bản hoàn thành đã làm giảm 26.653 tỷ đồng giá trị sản theo giá so sánh năm 2010, tương đương làm giảm 58,13% về tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng và làm giảm 22,55 điểm phần trăm đóng góp của khu vực công nghiệp và xây dựng trong mức tăng chung. Như vậy, nếu như không có ảnh hưởng của 3 yếu tố trên thì khu vực công nghiệp và xây dựng dự ước tăng trưởng 30,24% (công nghiệp tăng 65,07% và xây dựng tăng 14,55%) và đóng góp vào mức tăng chung 11,73 điểm phần trăm (công nghiệp đóng góp 7,84 điểm phần trăm và xây dựng đóng góp 3,89 điểm phần trăm).
- Kết quả sản xuất của khu vực dịch vụ năm 2016 giảm so với năm 2015. Trong đó các ngành ngành thương mại dịch vụ có giảm nhẹ còn thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm giảm mạnh.
Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ năm 2016 dự ước giảm -15,42% so với năm 2015, đóng góp -6,86 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Nhìn chung lượng cung hàng hóa tương đối dồi dào nhưng sức mua chỉ tăng nhẹ do thu nhập của người dân vẫn còn thấp. Với kết quả thu ngân sách không đạt kế hoạch cũng đồng nghĩa với việc các khoản chi khó đảm bảo. Vì vậy, một số ngành dịch vụ nhất là dịch vụ công gặp khó khăn. Khi tính chỉ tiêu GRDP trong khu vực dịch vụ sẽ bao gồm kết quả sản xuất của các ngành thương mại, dịch vụ và thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm, trong đó:
+ Kết quả sản xuất của các ngành thương mại và dịch vụ năm 2016 dự ước tốc độ tăng trưởng giảm -0,77% so với năm 2015, đóng góp -0,23 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (năm 2014 tăng trưởng 8,27%, đóng góp 3,04 điểm phần trăm; năm 2015 tăng trưởng 9,41%, đóng góp 3,03 điểm phần trăm). Nhìn chung, các ngành thương mại và dịch vụ năm 2016 giảm nhẹ so với năm 2015. Nguyên nhân do nền kinh tế đang có xu hướng chững lại nên lượng tiền chi tiêu cho mua sắm hàng hóa trong dân tăng không đáng kể. Hiện nay các công trình xây dựng trong Khu kinh tế Vũng Áng từng bước đang được hoàn thành nên số lượng lao động trên địa bàn giảm cũng đã góp phần làm giảm lượng cầu hàng hóa và dịch vụ. Bên cạnh đó, do sự cố môi trường biển xẩy ra vào đúng thời điểm bắt đầu mùa du lịch biển nên đã tác động mạnh đến hoạt động khách sạn, nhà hàng trên địa bàn toàn tỉnh, làm giảm kết quả kinh doanh của ngành du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống.
+ Hiện nay, thực hiện tính chỉ tiêu GRDP theo giá cơ bản thì thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP mà năm 2016 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm giảm 46,56% so với năm 2015 đã làm giảm -6,63 điểm phần trăm trong tổng mức tăng trưởng chung. Nguyên nhân do lượng máy móc thiết bị nhập khẩu phục vụ Dự án Fomosa giảm mạnh nên thuế nhập khẩu giảm 57,2% và thuế VAT hàng nhập khẩu giảm 61,33% so với năm 2015.
Với kết quả trên, nếu loại trừ yếu tố giảm (sản lượng điện Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I, sản lượng thép Fomosa Hà Tĩnh, xây dựng Fomosa và thuế sản phẩm) thì dự ước GRDP năm 2016 tăng 12,33% so với năm 2015 (khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,97%, đóng góp 0,83 điểm phần trăm trong mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 30,24%, đóng góp 11,73 điểm phần trăm trong mức tăng chung; khu vực dịch vụ giảm 0,52%, đóng góp -0,23 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng này phản ánh đúng với thực tế giai đoạn hiện nay khi mà các công trình, dự án lớn ở Hà Tĩnh đã hoàn thành quá trình đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và lắp đặt máy móc thiết bị (làm giảm ngành xây dựng và thuế nhập khẩu), trong khi sản xuất còn gặp khó khăn, sản phẩm mới (thép, điện) tạo ra với khối lượng chưa lớn.
Tóm lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm so với cùng kỳ năm 2015. Trong thời kỳ mà kinh tế tỉnh nhà đang vận hành theo mô hình tăng trưởng nóng và theo chiều rộng thì sẽ có sự biến động tăng giảm đột biến của chỉ tiêu GRDP giữa các năm mà nhất là các năm đầu và cuối của chu kỳ đầu tư. Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì vẫn còn có những nguyên nhân chủ quan tác động đến chỉ tiêu tăng trưởng như: Kế hoạch sản xuất kinh doanh của các đơn vị xây dựng còn chưa sát với tình hình thực tế, vượt so với khả năng nội tại của đơn vị nên đã gây khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và làm giảm chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch; các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn nhất là khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm và khả năng cạnh tranh...Với quy mô GRDP của Hà Tĩnh không lớn nên với bất kỳ tác động của một yếu tố nào cũng có thể làm thay đổi nhiều đến chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
2.1. Sản xuất nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước đạt 9.978,1 tỷ đồng, tăng 6,92% so với năm 2015, chiếm 84,45% trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.
a. Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh sơ bộ đạt 160.203 ha, bằng 101,55% (tăng 2.448 ha), cây lương thực có hạt đạt 113.019 ha, chiếm 70,54% tổng diện tích gieo trồng và bằng 102,3% so với năm 2015.
Trong đó: Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 103.384 ha, bằng 101,6% (tăng 1.636 ha) so với năm trước; lúa Xuân đạt 58.196 ha, bằng 100,47% (tăng 275 ha); lúa Hè Thu đạt 43.997 ha, bằng 104,8% (tăng 2.017 ha); lúa Mùa đạt 1.191 ha, bằng 64,48% (giảm 656 ha). Năm 2016, với điều kiện thời tiết đầu vụ sản xuất thuận lợi nên diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân và vụ Hè Thu đều tăng so với năm trước.
Năng suất lúa cả năm ước đạt 51,31 tạ/ha, so với năm trước bằng 100,1% (tăng 0,04 tạ/ha). Năng suất lúa vụ Xuân đạt 56,48 tạ/ha, bằng 104,54% (tăng 2,45 tạ/ha); năng suất lúa vụ Hè Thu đạt 45,45 tạ/ha, bằng 93,56% (giảm 3,12 tạ/ha) và năng suất lúa vụ Mùa sơ bộ đạt 15,04 tạ/ha, bằng 59,21% (giảm 11,22 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng lúa cả năm 2016 sơ bộ đạt 530.416 tấn, bằng 101,71% (tăng 8.743 tấn) so với năm trước. Trong đó: Sản lượng lúa vụ Xuân đạt 328.677 tấn, bằng 105,04% (tăng 15.758 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu đạt 199.948 tấn, bằng 98,06% (giảm 3.955 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa sơ bộ đạt 1.791 tấn, bằng 38,18% (giảm 3.060 tấn) so với năm trước. Vụ Hè Thu và vụ Mùa do bị ảnh hưởng mưa lũ vào thời kỳ thu hoạch nên đã làm cho năng suất và sản lượng lúa giảm.
Diện tích ngô sơ bộ đạt 9.635 ha, bằng 110,44% (tăng 911 ha). Với năng suất ngô sơ bộ đạt 36,89 tạ/ha, bằng 100,01% (tăng 0,26 tạ/ha) thì sản lượng ngô sơ bộ đạt 35.539 tấn, bằng 110,46% (tăng 3.579 tấn) so với năm trước. Điều kiện thời tiết thuận lợi cùng với việc đưa các giống ngô có năng suất cao vào sản xuất. Hiện nay, sản xuất ngô làm thức ăn chăn nuôi đang có xu hướng phát triển nên năm 2016 kết quả sản xuất cây ngô tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng so với năm 2015.
Kết quả sản xuất một số loại cây hàng năm khác thiếu ổn định cả về diện tích và năng suất so với năm trước, cụ thể: Cây khoai lang diện tích sơ bộ đạt 4.746 ha, bằng 85,1% (giảm 831 ha), năng suất sơ bộ đạt 64,52 tạ/ha, bằng 104,25% (tăng 2,66 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 30.620 tấn, bằng 88,72% (giảm 3.879 tấn); cây lạc diện tích sơ bộ đạt 15.484 ha, bằng 96,98% (giảm 483 ha), năng suất sơ bộ đạt 24,79 tạ/ha, bằng 107,22% (tăng 1,67 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 38.389 tấn, bằng 103,98% (tăng 1.478 tấn); cây rau các loại diện tích sơ bộ đạt 10.710 ha, bằng 106,51% (tăng 655 ha), năng suất sơ bộ đạt 64,86 tạ/ha, bằng 98,12% (giảm 1,22 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 69.467 tấn, bằng 104,52% (tăng 3.021 tấn); cây đậu các loại diện tích sơ bộ đạt 8.150 ha, bằng 97,55% (giảm 205 ha), năng suất sơ bộ đạt 8,97 tạ/ha, bằng 93,24% (giảm 0,65 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 7.311 tấn, bằng 90,96% (giảm 727 tấn).
Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 26.144 ha, bằng 104,01% (tăng 1.007 ha) so với năm 2015, trong đó diện tích cây ăn quả sơ bộ là 12.724 ha, bằng 109,54% (tăng 1.108 ha), chiếm 48,66% tổng diện tích cây lâu năm. Hiện nay, các địa phương đang tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, bên cạnh chính sách hổ trợ kinh phí mua cây giống và hệ thống phun tưới của Nhà nước thì bà con nhân dân đã tích cực thực hiện trồng cây ăn quả với nhiều mô hình, khu vườn mẫu được hình thành và ở một số địa phương cây ăn quả đã thực sự trở thành cây hàng hóa chủ lực để phát triển kinh tế. Vì vậy, một số địa phương có diện tích cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: Huyện Cẩm Xuyên tăng 91 ha, huyện Kỳ Anh tăng 29 ha, huyện Can Lộc tăng 12 ha...
Hoạt động trồng trọt hiện nay đang tập trung chăm sóc và thu hoạch cây vụ Đông năm 2016, chuẩn bị các điều kiện và tập trung chỉ đạo sản xuất vụ Xuân năm 2017 nhằm đảm bảo đúng lịch thời vụ và đạt được mục tiêu kế hoạch đặt ra.
b. Tình hình sâu bệnh đối với cây trồng: Năm 2016, các đối tượng sâu bệnh gây hại trên cây trồng diễn biến ở mức độ bình thường. Với sự vào cuộc tích cực của các cơ quan chuyên môn và bà con nông dân trong công tác phòng, trừ sâu bệnh nên nhìn chung thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất trồng trọt trong thời gian qua là không lớn.
Trên cây lúa thì rầy nâu với diện tích nhiễm bệnh là 200 ha, nhiễm nặng 21 ha; bệnh đạo ôn diện tích nhiễm bệnh 41,5ha, nhiễm nặng 1,5 ha; bệnh bạc lá diện tích nhiễm bệnh 16 ha, nhiễm nặng 1 ha...Không có diện tích lúa mất trắng do sâu bệnh gây hại. Trên cây lạc thì nhóm bệnh nấm gây hại (mốc đen, mốc xám) với diện tích nhiễm bệnh là 8 ha. Cây ngô có bệnh xoắn lùn phát sinh gây hại với tỷ lệ rãi rác 2%, nơi cao 5%, diện tích nhiễm bệnh là 0,5ha và bệnh đốm lá với tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7%, nơi cao 15% với diện tích nhiễm bệnh là 4 ha (tập trung ở Sơn Trung, Sơn Giang huyện Hương Sơn). Các đối tượng sâu bệnh khác như: Rệp, sâu đục thân, đục nõn…chỉ phát sinh gây hại rãi rác.
Đối với cây ăn quả có múi thì nhện phát sinh gây hại với tỷ lệ trung bình 3-4%, nơi cao 7-9%, diện tích nhiễm bệnh là 1,5 ha. Bệnh loét, sẹo với tỷ lệ gây hại 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm bệnh là 2 ha. Bệnh chảy gôm phát sinh gây hại vườn cây ăn quả già cỗi, tỷ lệ hại trung bình 5-7%, nơi cao 10%, diện tích nhiễm bệnh là 4ha. Trên cây chè thì các đối tượng sâu bệnh như: Nhện, bọ trĩ, bệnh phồng lá chè phát sinh gây hại rãi rác. Sâu bệnh chủ yếu tập trung trên các vườn cây ăn quả lâu năm, những vườn không thông thoáng, độ che phủ lá dày và phân bố chủ yêu ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang.
c. Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm và chăn nuôi khác trên địa bàn vẫn ổn định và tiếp tục có sự phát triển khá. Dự ước số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 86.092 con, bằng 106,28% (tăng 5.087 con) với sản lượng xuất chuồng năm 2016 ước đạt 4.553,3 tấn, bằng 102,76% (tăng 122,3 tấn) so với năm 2015. Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 229.549 con, bằng 116,44% (tăng 32.404 con) với sản lượng xuất chuồng năm 2016 ước đạt 12.196,4 tấn, bằng 140,59% (tăng 3.521,4 tấn) so với năm 2015. Chăn nuôi bò thời gian qua có những bước tiến quan trọng, phù hợp với xu thế phát triển, từng bước chuyển từ chăn nuôi tận dụng, nhỏ lẻ trong nông hộ sang chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn. Đàn bò lai Zêbu và bò thịt chất lượng cao (Brahman, Charolaise, 3B…) chiếm hơn 34% tổng đàn. Đặc biệt, đã thu hút được các dự án chăn nuôi bò quy mô lớn như: Dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà là Dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi Hà Tĩnh tính đến thời điểm hiện nay. Tổng đàn tại thời điểm 1/10/2016 có khoảng hơn 15 ngàn con, trong 12 tháng qua dự án này đã xuất được gần 16 ngàn con với sản lượng xuất chuồng đạt 3.419 tấn. Dự án bò thịt của Tổng Công ty Khoáng sản và TM Hà Tĩnh quy mô 15 ngàn con, Dự án bò sữa của Công ty Vinamilk quy mô hơn 5 ngàn con. Qua đó cho thấy, Hà Tĩnh đang từng bước phát triển một ngành công nghiệp chăn nuôi bò, chủ động trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Tổng đàn lợn hiện có 483.015 con, bằng 100,96% (tăng 4.590 con). Sản lượng xuất chuồng năm 2016 ước đạt 82.457 tấn, bằng 107,16% (tăng 5.507 tấn) so với cùng kỳ. Hiện nay, tỉnh đã xây dựng được 156 mô hình chăn nuôi lợn quy mô từ 300 đến 6.000 con và 36 cơ sở lợn nái ngoại quy mô 300 con trở lên, đáp ứng cơ bản nhu cầu nguồn giống của địa phương.
Tổng đàn gia cầm hiện có 8.230 ngàn con, bằng 113,47% (tăng 977 ngàn con). Sản lượng gia cầm năm 2016 ước đạt 16.611 tấn, bằng 115,32% (tăng 2.206,9 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, đàn gia cầm hiện nay đang phát triển mạnh cả về số lượng cũng như sản lượng xuất chuồng. Năm 2016, mặc dù dịch bệnh có xẩy ra rải rác ở một số địa phương nhưng đã được dập tắt kịp thời nên không gây thiệt hại đối với hoạt động chăn nuôi gia cầm. Mặt khác, tổng đàn gia cầm tăng nhanh do mô hình chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại ngày càng phát triển.
Trong năm 2016, trên địa bàn toàn tỉnh đã xuất hiện một số dịch bệnh đối với đàn vật nuôi cụ thể như sau: Dịch lở mồm long móng gia súc xảy ra tại 21 xã thuộc 10 huyện làm tổng số 365 con gia súc mắc bệnh (74 con trâu, 242 con bò và 49 con lợn); dịch tai xanh ở lợn xuất hiện với tổng số lợn mắc bệnh là 3.358 con (huyện Cẩm Xuyên 2.941 con, huyện Thạch Hà 387 con và Thành phố Hà Tĩnh 30 con). Số lợn chết, tiêu hủy là 1.667 con (huyện Cẩm Xuyên 1.328 con, huyện Thạch Hà 332 con và Thành phố Hà Tĩnh 7 con). Một số loại dịch bệnh khác như: Tụ huyết trùng trâu, bò, lợn; dịch tả lợn...cũng đã xẩy ra nhỏ lẽ ở một số địa phương nhưng được phát hiện sớm và xử lý kịp thời nên đã không gây thiệt hại cho đàn vật nuôi. Tính đến ngày 15/12/2016, trên địa bàn toàn tỉnh không còn các loại dịch bệnh trên gia súc, gia cầm chưa qua 21 ngày.
Bên cạnh đó, trong đợt rét đậm, rét hại (từ ngày 22/01/2016 đến ngày 28/01/2016) cũng đã làm cho 208 con trâu, bò, dê bị chết (15 con trâu, 80 con bò, 21 con bê, 32 con nghé, 2 con hươu, 58 con dê) và 2.450 con gia cầm bị chết. Số gia súc bị chết rét ở các huyện cụ thể như sau: Huyện Hương Khê 55 con, huyện Kỳ Anh 86 con, Thị xã Kỳ Anh 44 con, Can Lộc 9 con, Vũ Quang 4 con, Nghi Xuân 10 con con. Đợt rét này cũng đã làm cho 2.450 con gia cầm bị chết (Nghi Xuân 1.650 con, Can Lộc 550 con, huyện Kỳ Anh 250 con).
Để hạn chế dịch bệnh đối với đàn vật nuôi. Năm 2016, các địa phương đã triển khai tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm với kết quả đạt được như sau: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò đạt 64% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 59% kế hoạch; dịch tả lợn đạt 40,5% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng lợn đạt 38% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó đạt 40% kế hoạch; tiêm phòng dịch cúm gia cầm đạt 11% kế hoạch. Tiêm vắc xin định kỳ cho gia súc, gia cầm chính là biện pháp chủ động, hữu hiệu nhất đối với công tác phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên, công tác tiêm phòng cho đàn vật nuôi ở Hà Tĩnh thực hiện vẫn còn đạt kết quả hạn chế, thiếu sự vào cuộc quyết liệt và đồng bộ giữa các cơ quan chuyên môn và người chăn nuôi.
2.2. Lâm nghiệp
Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước đạt 711,5 tỷ đồng, tăng 2,1% so với năm 2015, chiếm 6,02% trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Năm 2016, diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 6.399 ha, bằng 103,19% (tăng 198 ha), trong đó chủ yêu là rừng sản xuất với diện tích ước đạt 5.755 ha (chiếm 89,93%) tổng diện tích rừng trồng. Diện tích rừng trồng tập trung chủ yếu ở các huyện có diện tích đồi núi lớn như: Hương Sơn ước đạt 1.050 ha, huyện Kỳ Anh ước đạt 1.700 ha, huyện Thạch Hà ước đạt 800 ha, huyện Hương Khê ước đạt 1.660 ha, huyện Cẩm Xuyên ước đạt 396 ha...Diện tích rừng được chăm sóc là 21.706 ha, bằng 85,48% (giảm 3.688 ha); diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh là 16.450 ha, bằng 80,31% (giảm 4.033 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 222.877 ha, bằng 111,41% (tăng 22.670 ha). Nguyên nhân do thực hiện chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp bằng việc giao đất vùng đồi núi gần dân và hỗ trợ vốn của chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững giai đoạn 2011-2020; cùng với vốn đầu tư tái sản xuất trong dân từ kết quả trồng và khai thác rừng nên diện tích rừng trồng tiếp tục phát triển.
Số lượng cây trồng phân tán năm 2016 ước đạt 5.823 ngàn cây, bằng 104,42% (tăng 247 ngàn cây) so với năm 2015. Do thực hiện trồng cây xanh vào dịp đầu Xuân và phong trào trồng cây xanh ven đường lãng, ngõ xóm trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới nên số lượng cây trồng phân tán tăng.
Sản lượng gỗ khai thác năm 2016 ước đạt 268.471 m
3
, bằng 101,94% (tăng 5.120 m
3
) so với năm 2015, chủ yếu là các loại gỗ được khai thác từ rừng trồng phục vụ làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất dăm gỗ xuất khẩu. Một số huyện có sản lượng gỗ khai thác tăng như: Hương Sơn tăng 13 ngàn m
3
, huyện Kỳ Anh tăng 15,169 ngàn m
3
...Bên cạnh đó, một số huyện lại có sản lượng gỗ khai thác giảm như: Huyện Hương Khê giảm 13,672 ngàn m
3
, huyện Vũ Quang giảm 14,317 ngàn m
3
...đây là những huyện có sản lượng gỗ rừng trồng lớn nhưng do một số diện tích rừng trồng chưa đến tuổi khai thác nên sản lượng khai thác giảm.
Công tác phòng chống cháy rừng tiếp tục được tăng cường chặt chẽ từ cơ sở, đơn vị và vùng dân sống ở gần rừng. Năm 2016, đã xẩy ra 17 vụ cháy rừng (giảm 1 vụ), diện tích bị cháy ước thiệt hại 113,85 ha thuộc rừng trồng (tăng 41,63 ha), giá trị thiệt hại ước 1.820 triệu đồng (giảm 1.956 triệu đồng) so với năm 2015. Số vụ cháy rừng xẩy ra ở các huyện: Đức Thọ 1 vụ, huyện Vũ Quang 4 vụ, huyện Cẩm Xuyên 3 vụ, huyện Hương Khê 1 vụ, huyện Hương Sơn 3 vụ và Can Lộc 5 vụ. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng đã tập trung cao độ, song do thời tiết nắng nóng với nền nhiệt cao cùng với sự thiếu cẩn trọng của người dân nên cháy rừng vẫn xẩy ra.
2.3. Thuỷ sản
Giá trị sản xuất thủy sản năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước đạt 1.126 tỷ đồng, giảm 14,17% so với năm 2015, chiếm 19,53% trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Toàn tỉnh hiện có 17.972 cơ sở nuôi trồng thủy sản (giảm 672 cơ sở) so với năm 2015. Trong đó: Số cơ sở nuôi bằng diện tích mặt nước là 17.523 cơ sở (giảm 709 cơ sở) so với năm 2015. Nguyên nhân số lượng cơ sở giảm do nhiều hộ nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ không mang lại hiệu quả kinh tế nên đã không tiến hành nuôi trồng hoặc đã liên kết để có quy mô sản xuất lớn hơn. Số cơ sở nuôi lồng bè là 427 cơ sở (tăng 37 cơ sở), số lồng bè nuôi là 647 cái, tăng 76 cái với thể tích lồng bè nuôi là 51.204 m
3
, tăng 6.508 m
3
so với năm 2015. Nguyên nhân tăng là do địa hình thuận lợi, nuôi lồng bè đang mang lại hiệu quả kinh tế, đặc biệt là Tỉnh có chính sách hỗ trợ 30 triệu đồng/lồng có thể tích trên 90m
3
nên nghề nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè đang phát triển. Hiện nay toàn tỉnh vẫn có 22 cơ sở sản xuất giống. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2016 ước đạt 6.793 ha (tăng 67 ha) so với năm 2015, trong đó: Diện tích nuôi trồng nước lợ đạt 2.312 ha (giảm 41 ha), chiếm 34,03% tổng diện tích nuôi trồng; diện tích nuôi trồng nước mặn đạt 481 ha (tăng 66 ha), chiếm 7,08% tổng diện tích nuôi trồng và diện tích nuôi trồng nước ngọt đạt 4.000 ha (tăng 42 ha) so với năm 2015, chiếm 58,89% tổng diện tích nuôi trồng.
Năm 2016, có 5.058 cơ sở khai thác hải sản (tăng 20 cơ sở) so với năm 2015. Toàn tỉnh hiện có 3.368 chiếc tàu thuyền khai thác hải sản (tăng 26 chiếc) với tổng công suất 125.183 CV, bằng 117,92% (tăng 19.024 CV) so với năm 2015. đã hổ trợ kinh phí triển khai đóng mới 28 tàu cá và cải hoán 6 tàu cá có công suất trên 90 CV. Do một số tàu có công suất lớn được đóng mới và cải hoán đưa vào hoạt động nên tăng cả về số lượng và tổng công suất. Cùng với đội tàu khai thác hải sản thì toàn tỉnh hiện đang có 664 chiếc thuyền có động cơ và 1.150 chiếc thuyền, xuồng không có động cơ tham gia khai thác thủy sản nội địa.
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy hải sản năm 2016 ước đạt 38.659 tấn, bằng 78,95% (giảm 10.308 tấn) so với năm 2015, trong đó: Sản lượng nuôi trồng là 12.493 tấn, bằng 92,71% (giảm 982 tấn) và sản lượng khai thác là 26.166 tấn, bằng 73,72% (giảm 9.326 tấn) so với năm 2015. Kết quả hoạt động thủy sản năm 2016 giảm mạnh so với năm 2015. Nguyên nhân do ảnh hưởng từ sự cố môi trường biển và mưa lũ đã làm cho sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản giảm.
Năm 2016, do ảnh hưởng của các đợt mưa lũ, sự cố môi trường biển và dịch bệnh xuất hiện rãi rác đã làm cho một số diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn bị thiệt hại. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại là 2.710,4 ha, 409 lồng nuôi có cá chết với sản lượng thiệt hại ước tính là 3.727,8 tấn.
3. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước đạt 14.879,2 tỷ đồng, tăng 19,71% so với năm 2015, chiếm 44,72% trong tổng giá trị sản xuất khu vực công nghiệp và xây dựng.
Dự ước năm 2016, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 19,71% so với năm 2015, trong đó: Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp khai khoáng giảm 12,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 25,44%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 0,03% và công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,3%. Như vậy, năm 2016 có 2 ngành công nghiệp cấp I có chỉ số phát triển tăng cao so với cùng kỳ năm trước là ngành công nghiệp sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí và ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải. Hai ngành này đóng vai trò quyết định đến mức tăng chung.
Mặc dù năm 2016, toàn ngành công nghiệp vẫn có chỉ số sản xuất tăng 19,71% so với năm 2015 nhưng kết quả đó vẫn không đạt được như kế hoạch đặt ra từ đầu năm. Bên cạnh một số ngành vẫn duy trì được mức tăng ổn định như: Sản xuất bia tăng 4,4%, sản xuất sợi tăng 26,57%, sản xuất cấu kiện kim loại tăng 7,38%, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 7,7%...thì 2 dự án sản xuất công nghiệp lớn là Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I và Dự án luyện cán thép Formosa Hà Tĩnh sản xuất không đạt kế hoạch. Nguyên nhân ngay từ đầu năm do sự cố độ rung gối trục tuabin nên Tổ máy số 01 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I đã phải tạm dừng sản xuất từ ngày 25/11/2015 đến ngày 7/9/2016 để khắc phục và Tổ máy số 2 cũng phải ngừng sản xuất từ ngày 29/5/2016 đến ngày 09/6/2016 để khắc phục sự cố bất thường thiết bị nên sản lượng điện sản xuất của Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I năm 2016 ước đạt 3.165 triệu kwh, giảm 23,09% so với năm 2015. Nhà máy luyện cán thép thuộc Dự án Fomosa năm 2016 chỉ mới sản xuất được 0,216 triệu tấn thép, so với kế hoạch sản xuất cả năm chỉ đạt 12,01%. Với ảnh hưởng từ sự cố Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I và việc sản xuất đạt thấp hơn kế hoạch của Nhà máy luyện cán thép Fomosa đã làm giảm khoảng 11.293 tỷ đồng giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 2010. Như vậy, mặc dù có mức tăng trưởng và đóng góp dương nhưng với mức tăng trưởng này của ngành công nghiệp thì chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có và không đạt kế hoạch đặt ra.
Theo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV/2016 được điều tra thu thập thông tin tại 27 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 48,15% số doanh nghiệp được điều tra đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh quý IV/2016 tốt lên so với quý III/2016, có 29,63% đánh giá không thay đổi và 22,22% đánh giá có sự kém hơn. Nhận định về tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2017 so với quý IV/2016 có 25,93% số doanh nghiệp được điều tra đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tốt lên, có 51,85% đánh giá không thay đổi và 22,22% đánh giá có sự kém hơn. Đối với khối lượng sản phẩm sản xuất trong quý IV/2016 có 44,44% số doanh nghiệp được điều tra có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên so với quý trước, có 33,33% đánh giá không thay đổi và 22,22% đánh giá có sự sụt giảm. Nhận định về khối lượng sản phẩm sản xuất trong quý I/2017 so với quý IV/2016 có 25,93% số doanh nghiệp được điều tra có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên so với quý trước, có 44,44% đánh giá không thay đổi và 29,63 đánh giá có sự sụt giảm. Bên cạnh đó, về số lượng đơn đặt hàng mới trong quý IV/2016 thì có 40,74% số doanh nghiệp được điều tra có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên so với quý trước, 40,74% đánh giá không thay đổi và 18,52% đánh giá có sự sụt giảm. Nhận định về số lượng đơn đặt hàng trong quý I/2017 so với quý IV/2016 có 19,23% số doanh nghiệp được điều tra có số lượng đơn đặt hàng tăng lên, có 46,15% đánh giá không thay đổi và 34,62% đánh giá có sự sụt giảm. Như vậy, với kết quả khảo sát trên thì hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn quý IV/2016 là tương đối ổn định và dự kiến quý I/2017 cũng vẫn rất khả quan khi mà có 77,78% doanh nghiệp đánh giá là sản xuất kinh doanh sẽ tốt lên hoặc không thay đổi, có 70,37% doanh nghiệp đánh giá là khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên hoặc không thay đổi và có 65,38% doanh nghiệp đánh giá là số đơn đặt hàng tăng lên hoặc vẫn giữ nguyên. Với sự đánh giá từ các doanh nghiệp như trên, chúng ta có thể kỳ vọng hoạt động sản xuất công nghiệp trong quý I/2017 vẫn tiếp tục có bước phát triển tích cực.
4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2016, toàn tỉnh Hà Tĩnh có 696 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, tổng số vốn đăng ký đạt 5.693,9 tỷ đồng (tăng 84,3% so với cùng kỳ), vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt 8,2 tỷ đồng. Những năm gần đây số lượng đăng ký mới hàng năm và số vốn bình quân trên một doanh nghiệp tăng cao so cùng kỳ, số vốn đăng ký năm 2015 tăng 97,3%, năm 2016 tăng 84,3%; số vốn bình quân trên một doanh nghiệp năm 2016 tăng 1,3 tỷ/doanh nghiệp điều đó chứng tỏ quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn. Trong năm các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. đến 15/12/2016 đã tạo việc làm mới cho 12.219 lao động, trong đó loại hình công ty cổ phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất, tiếp đến là loại hình công ty TNHH và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động đến 15/12/2016 là 155 doanh nghiệp và có 153 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Bên cạnh một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nêu trên, đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chưa có doanh nghiệp nào bị thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh do vi phạm quy định pháp luật hay bị phá sản.
Như vậy, số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng cũng tăng mạnh, thể hiện các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
5. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ
5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2016 đạt 29.672,3 tỷ đồng, giảm 4,89% so với năm 2015. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 1.678,7 tỷ đồng, giảm 45,57%; kinh tế tập thể ước đạt 8,8 tỷ đồng, giảm 45,36%; kinh tế cá thể ước đạt 18.670,4 tỷ đồng, tăng 2,16%; kinh tế tư nhân ước đạt 9.224,4 tỷ đồng, giảm 4,48% so với năm 2015.

Từ đó nhận thấy, trong các thành phần kinh tế, kinh tế Nhà nước giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm trước (giảm 45,57%), do khu vực này chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ xăng dầu mà giá xăng dầu năm 2016 giảm so với năm 2015 nên doanh thu giảm. Chỉ có khu vực kinh tế cá thể vẫn tăng (tăng 2,16%), nhưng chỉ tăng nhẹ, do luôn chủ động tìm kiếm thị trường kinh doanh cũng như khai thác nguồn hàng hóa phong phú, đa dạng đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm năm 2016 ước đạt 11.392,1 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,39%, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 4.468,5 tỷ đồng, chiếm 15,06% và nhóm hàng xăng, dầu các loại ước đạt 2.968,7 tỷ đồng, chiếm 10%. Như vậy, hoạt động bán lẻ chủ yếu là phục vụ các mặt hàng đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của người dân (chiếm 63,46%).
Nhìn chung, thị trường cung - cầu hàng hóa trên địa bàn Hà Tĩnh trong năm 2016 giảm so với năm trước, do ảnh hưởng của sự cố về môi trường biển, làm cho đời sống của người dân và nhiều lĩnh vực ngành nghề nói chung, lĩnh vực thương mại nói riêng gặp khó khăn. Mặc dù, lượng cung hàng hóa tương đối dồi dào, phong phú nhưng sức mua của người dân giảm. Thời gian tới, để từng bước phát triển bền vững hoạt động thương mại, cần phải định hướng loại hình bán lẻ truyền thống, bán lẻ hiện đại; hệ thống chợ, siêu thị, đại lý...cần bố trí một cách hợp lý đáp ứng yêu cầu thực tế của người tiêu dùng.
5.2. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành
Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành năm 2016 ước đạt 3.846,1 tỷ đồng, giảm 20,34% so với năm 2015. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 266,2 tỷ đồng, giảm 39,95%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 3.564,2 tỷ đồng, giảm 18,41% và doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 15,7 tỷ đồng, giảm 3,94% so với năm 2015. Nhìn chung, năm 2016 hoạt động dịch vụ vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành ở Hà Tĩnh giảm mạnh so với năm trước. Hiện nay, các công trình xây dựng trong Khu kinh tế Vũng Áng đang từng bước hoàn thành nên số lượng lao động trên địa bàn giảm, làm cho lượng cầu hàng hóa và dịch vụ cũng giảm theo. Bên cạnh đó, với sự cố môi trường biển xảy ra đúng thời điểm bắt đầu mùa du lịch biển, đã tác động mạnh đến hoạt động khách sạn, nhà hàng trên địa bàn toàn tỉnh, làm cho kết quả hoạt động kinh doanh của ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành giảm.
5.3. Doanh thu hoạt động dịch vụ
Doanh thu hoạt động dịch vụ năm 2016 ước đạt 1.140,2 tỷ đồng, giảm 15,13% so với năm 2015, trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 53,7 tỷ đồng, giảm 29,33%; kinh tế tập thể ước đạt 1,8 tỷ đồng, giảm 72,93%; kinh tế cá thể ước đạt 867,3 tỷ đồng, giảm 12,24%; kinh tế tư nhân ước đạt 197,9 tỷ đồng, giảm 19,33% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 19,4 tỷ đồng, giảm 28,5% so với năm 2015.

Năm 2016, hầu hết doanh thu hoạt động dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế đều giảm. Trong các thành phần kinh tế, giảm mạnh nhất là khu vực kinh tế tập thể và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân giảm chủ yếu là doanh thu từ hoạt động cho thuê đồ dùng dụng cụ, máy móc thiết bị công trình ở Khu kinh tế Vũng Áng giảm do dự án cơ bản hoàn thành. Mặt khác, hoạt động xây dựng trong năm cũng giảm mạnh nên nhu cầu về hàng hóa vật liệu xây dựng giảm.
5.4. Hoạt động vận tải
Khối lượng hàng hóa vận chuyển năm 2016 ước đạt 30.472,5 nghìn tấn, tăng 13,33% với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 755,5 triệu tấn.km, tăng 14,09% so với năm 2015. Số lượt hành khách vận chuyển năm 2016 ước đạt 20.899,9 nghìn.HK, tăng 5,91% với số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 3.647,1 triệu HK.km, tăng 8,07% so với năm 2015.
Tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2016 ước đạt 4.421,82 tỷ đồng, tăng 7,15% so với năm 2015, trong đó: Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.277,2 tỷ đồng (chiếm 51,5% tổng số), tăng 7,19%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.540,4 tỷ đồng (chiếm 34,84% tổng số), tăng 12,3% và doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 604,22 tỷ đồng (chiếm 13,66% tổng số), giảm 4,18% so với năm 2015.
Mặc dù, từ đầu năm đến nay giá xăng dầu có điều chỉnh tăng giảm nhiều lần liên tiếp, tuy nhiên giá cước vận tải hành khách vẫn ổn định, chỉ có giá taxi trên địa bàn Hà Tĩnh được điều chỉnh tăng giá. Công ty Cổ phần Vận tải ô tô Hà Tĩnh đã mở thêm tuyến xe buýt mới chạy theo đường ven biển, từ thành phố Hà Tĩnh đi theo lộ trình qua Thị trấn Thiên Cầm-huyện Cẩm Xuyên, huyện Lộc Hà, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) và Thành phố Vinh (Nghệ An), thúc đẩy giao thông công cộng khu vực ven biển. Như vậy, năm 2016 đã có thêm 5 tuyến xe bus mới đi vào hoạt động so với cùng kỳ năm 2015 (Hương Sơn - Vinh, Hà Tĩnh - Vũ Quang - Hương Sơn, Hà Tĩnh - Hồng Lĩnh - Hương Sơn, Hà Tĩnh - Nghi Xuân-Vinh và Hà Tĩnh-Thị trấn Thiên Cẩm). Các tuyến xe mới này đi vào hoạt động làm tăng năng lực vận tải và thúc đẩy phát triển hoạt động vận tải hành khách công cộng trên địa bàn. Còn vận tải hàng hóa tăng do hiện nay phương tiện xe trọng tải nhỏ giảm và được thay thế bằng các loại xe có tải trọng lớn hơn. Mặt khác, thời gian qua các ngân hàng thương mại trên địa bàn đang giải ngân gói vay với lãi suất ưu đãi để xây dựng nhà ở thì hoạt động xây dựng nhà ở trong dân cư tăng cao dẫn đến nhu cầu vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng tăng
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
1. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số chung giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2016 tăng 2,39% so với tháng trước (khu vực thành thị tăng 2,81% và khu vực nông thôn tăng 2,1%), tăng 4,74% so với cùng kỳ năm trước (chỉ số giá tháng 01/2016 tăng 0,04%, tháng 02/2016 tăng 0,41%, tháng 3/2016 tăng 0,39%, tháng 4/2016 tăng 0,13%, tháng 5/2016 tăng 0,35%, tháng 6/2016 tăng 0,36%, tháng 7/2016 tăng 0,09%, tháng 8/2016 giảm 0,19%, tháng 9 tăng 0,19%, tháng 10 tăng 0,26%, tháng 11 tăng 0,31% và tháng 12 tăng 2,39% so với tháng trước). Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 12 năm 2016 là:
(1) Do chỉ số giá dịch vụ y tế trong tháng tăng cao (tăng 56,83%), tác động đến chỉ số chung trong tháng tăng.
(2) Do đây là thời điểm các doanh nghiệp thực hiện sản xuất, dự trữ hàng hóa bắt đầu tăng cường để chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhân dân trong dịp tết Dương lịch và tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017 đã tác động gây sức ép lên mặt bằng giá làm cho giá một số mặt hàng có xu hướng tăng. Như nhóm mặt hàng bia rượu, đồ dùng gia đình, nhóm may mặc mũ nón….
(3) Ngày 05/12/2016 và ngày 20/12/2016 liên Bộ Công thương – Tài chính có văn bản về việc điều chỉnh tăng giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu; từ ngày 02/11/2016 giá gas tăng nên giá gas bình quân trong tháng tăng hơn tháng trước; đồng thời, ảnh hưởng nhu cầu sử dụng điện nước sinh hoạt trong tháng tăng nên giá điện nước sinh hoạt bình quân trong tháng tăng hơn tháng trước. Những điều này phần nào tác động đến chỉ số giá chung trong tháng tăng.
(4) Ngoài ra, trong tháng giá một số mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng cũng phần nào góp phần làm chỉ số giá chung tăng.

- Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tiếp tục ổn định so với tháng trước, đó là: Nhóm bưu chính viễn thông, nhóm giáo dục và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch.
- Có 02/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước:
+ Nhóm giao thông giảm 0,87% so với tháng trước. Mặc dù, ngày 05/12/2016 và ngày 20/12/2016 liên Bộ Công thương – Tài chính có văn bản gửi các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu về việc điều chỉnh tăng giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu, tăng mạnh nhất vào ngày 20/12/2016 (mặt hàng xăng tăng 940đ/lít; dầu ddiezeel tăng 770đ/lít). Nhưng do ảnh hưởng giá xăng, dầu giảm ngày 19/11/2016 nên giá xăng dầu bình quân trong tháng đang giảm hơn so với tháng trước, theo đó xăng A95 tính từ ngày 20/11 đến 21/12/2016 có mức giá BQ 17.601 đ/lít (giảm 1,59%), giá bán lẻ xăng A95 hiện tại ở mức giá 18.650đ/lít; xăng A92 giá bình quân 16.887đ/lít (giảm 1,62%). Hiện nay thị trường giá bán lẻ xăng A92 có mức 17.940đ/lít, Dầu diezel giá bình quân 12.866đ/lít (giảm 2,87%), giá bán lẻ dầu diezel hiện tại ở mức 13.690 đ/lít.
+ Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06% so với tháng trước. Nguyên nhân giảm do ảnh hưởng giá vàng trong tháng giảm mạnh, nên chi phí đầu vào của mặt hàng đồ trang sức giảm (giảm 1,89%), tác động đến chỉ số chung giảm.
- Còn lại 06/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, đó là:
+ Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05% so với tháng trước, trong đó:
Các mặt hàng lương thực tăng 0,37% so tháng trước. Do những tháng cuối năm nguồn thóc chủ yếu từ các vụ mùa trước để lại trong dân cư ở mức thấp, nguồn cung trên địa bàn khan hiếm trong khi đó nhu cầu dự trữ của người dân lại tăng lên. Ảnh hưởng giá xăng dầu tăng làm cho chi phí vận chuyển tăng, nguồn cung giảm, làm cho giá lương thực gạo, nếp các loại tăng so tháng trước. Thị trường khu vực thành thị: Giá gạo tẻ thường ở mức 11.000 - 13.000 đ/kg (tăng 0,55%), gạo tẻ ngon tám thơm địa phương 14.000 - 15.000đ/kg (tăng 0,19%); gạo tẻ thái lan 26.000-28.000 (tăng 0,28%); Gạo nếp Thái Lan 28.000-29.000đ/kg. Khu vực nông thôn: Nghi Xuân, Can Lộc, Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Đức Thọ giá gạo tẻ thường dao động từ 11.000-12.000đ/kg; Gạo tẻ ngon từ 15.000-16.000đ/kg; Gạo nếp Thái Lan 27.000-28.500đ/kg.
Các mặt hàng thực phẩm giảm 0,02% so tháng trước, giảm chủ yếu ở nhóm thịt gia súc tươi sống giảm 0,22%, nhóm rau tươi khô và chế biến giảm 0,27%. Tháng 4 và 5 giá thịt lợn tăng cao nên các cơ sở chăn nuôi tái đàn nhiều, một số cơ sở có xu hướng găm hàng chờ đến gần tết mới xuất chuồng do đó nguồn thịt lợn hơi dồi dào, giá thịt lợn hơi giảm còn 39-43.000đ/kg (giảm 4-7.000đ/kg), tại điểm Can Lộc giá thịt lợn hơi chỉ dao động từ 38-40.000đ/kg. Điều này làm giá thịt lợn bán lẻ cũng giảm theo. Ngoài ra, do thời tiết thuận lợi nên không những nguồn rau xanh của địa phương sản xuất phong phú mà nguồn rau xanh được vận chuyển từ nơi khác về trên địa bàn tỉnh cũng tương đối nhiều nên giá rau giảm hơn so với tháng trước.
Ăn uống ngoài gia đình tăng 0,02% so tháng trước và chủ yếu ở nhóm uống ngoài gia đình, tăng 0,14%. Nguyên nhân tăng do nguồn quả tươi chế biến hàng giải khát sinh tố như: bơ, na, xoài...trên địa bàn không có mà được đưa về từ các địa phương khác. Với giá thành và chi phí vận chuyển cao, tác động đến nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng.
+ Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,78% so với tháng trước. Tăng chủ yếu ở mặt hàng rượu bia (tăng 1,27%). Tuy năm nay, thị trường bia rượu ngoại vào thị trường trong nước cũng như trên địa bàn Hà Tĩnh tương đối sôi động với nhiều nhãn hiệu có chất lượng được xuất xứ từ nhiều nước khác nhau. Nhưng do mặt hàng bia Tiger, bia Sài Gòn trong tháng đang có sức mua tăng mạnh, dẫn đến giá các mặt hàng này tăng hơn so với tháng trước, đã tác động đến chỉ số giá chung của nhóm này tăng.
+ Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,22% so với tháng trước. Tăng chủ yếu nhóm may mặc (tăng 0,27%), may mặc khác và mũ nón (tăng 0,15%) và dịch vụ may mặc, mũ nón (tăng 0,12%). Ảnh hưởng thời tiết chuyển mùa, lượng hàng may mặc được nhập về với số lượng phong phú, đảm bảo chất lượng cũng nhu mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Mặc dù, nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng nhìn chung đang còn dè dặt, nhưng so tháng trước sức mua đã có phần tăng hơn, giá một số mặt hàng áo len và bít tất các loại xu hướng tăng. Ngoài ra nhu cầu giặt là quần áo trong tháng cũng có tăng hơn so với tháng trước, điều này đã tác động đến chỉ số giá chung của nhóm này tăng
+ Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,37% so tháng trước. Do ảnh hưởng giá gas tăng ngày 02/11/2016 (tăng 20.000đ/bình 12kg) nên giá gas bỉnh quân trong tháng đang tăng 2,56% so với tháng trước. Nhu cầu sử dụng điện nước sinh hoạt trong tháng tăng nên giá điện nước sinh hoạt bình quân trong tháng tăng hơn so với tháng trước (Điện sinh hoạt tăng 0,65%; nước sinh hoạt tăng 0,54%), tác động đến chỉ số chung tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu lượng hàng hóa vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép, sơn tăng nhằm tập trung hoàn thiện các công trình tránh mùa mưa bão nên giá các mặt hàng này đều có xu hướng tăng. Những điều này tác động đến chỉ số chung trong tháng tăng.
+ Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02% so tháng trước. Do đây là tháng có nhu cầu mua sắm các mặt hàng thiết bị và đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng đã tác động đến chỉ số chung của nhóm này tăng. Như mặt hàng thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,02%; Đồng hồ treo tường, để bàn và gương 0,54%; Đệm mút tăng 0,25%; Chăn màn gối tăng 0,17%.
+ Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 56,83% so với tháng trước. Thực hiện Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính, Bộ y tế đã có Công văn số 9033/BYT-KH-TC ngày 21/12/2016 về thực hiện giá dịch vụ khám chữa bệnh, theo đó giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo quy định tại khoản 2 điều 5 thông tư 37 cho 4 tỉnh Hồ Chí Minh, Nghê An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa từ ngày 21/12/2016. Điều này đã làm cho chỉ số giá dịch vụ khám sức khỏe trong tháng tăng 77,88% so với tháng trước (trong đó: Khám chữa bệnh ngoại trú tăng 29,28%; khám chửa bệnh nội trú tăng 140,21%).
- Chỉ số giá vàng giảm 2,53% so tháng trước, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới nên giá vàng trong nước thời gian qua có nhiều biến động. Thị trường giá vàng trong tháng trên địa bàn có xu hướng giảm, những ngày cuối tháng 11 giá vàng giảm xuống còn 3.370 nghìn đồng/chỉ, đến những ngày đầu tháng 12 giá vàng mạnh xuống chỉ còn 3.340 nghìn đồng/chỉ, song đến giữa tháng 12 giá vàng có tăng lên nhưng mức tăng không cao (tăng 20 nghìn đồng/chỉ), đến ngày 21/12/2016 giá vàng lại lao dốc giảm mạnh xuống còn 3.300 nghìn đồng/chỉ. Tính BQ tháng 12/2016 giá vàng của tỉnh 3.385,9 nghìn đồng/chỉ (giảm 2,78%, giảm 96,7 nghìn đồng/chỉ) so tháng trước.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,37% so tháng trước, tăng 1,37% so cùng tháng năm trước và bình quân cùng kỳ tăng 2,73%. Giá USD tự do tại thị trường Hà Tĩnh ngày 22/12/2016 mức giá bán ra 2.336 nghìn đồng/100USD (tăng 66 nghìn đồng/100USD) so tháng trước.
Chỉ số bình quân chung giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2016 tăng 2,68% so với năm trước, trong đó: Có 8 nhóm chỉ số giá tăng (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,98%; Đồ uống và thuốc lá tăng 3,50%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,98%; Thiết bị và đồ dùng gia đình 2,19%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 22,39%; Giáo dục tăng 12,10%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 9,15%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,49%), ba nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm (Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,28%; Giao thông giảm 7,47%; Bưu chính viễn thông giảm 0,40%).
Nhìn chung, thị trường giá cả hàng hóa năm 2016 có xu hướng tăng hơn so với năm trước nhưng mức tăng nhẹ chưa có hiện tượng tăng giá đột biến. Dưới tác động của giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng giảm theo giá thị trường thế giới đã phần nào tác động đến chí phí nguyên liệu đầu vào một số mặt hàng giảm, giá cả ổn định hơn, một số mặt hàng giá có biến động nhưng chỉ biến động nhẹ. Bên cạnh đó, công tác quản lý địa bàn được tăng cường chặt chẽ, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vị buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. Vì thế từ đầu năm đến nay chưa xẩy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức, gây bất ổn thị trường; hàng hóa trên thị trường chủ yếu do Việt Nam sản xuất, có mẫu mã đẹp đa dạng về chủng loại, phong phú về kiểu dáng đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng của người dân.
Để đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân và đảm bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu các tháng cuối năm và trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017 ngày 12 tháng 12 năm 2016 Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch số 465/KH-UBND tỉnh triển khai công tác quản lý, bình ổn giá trên địa bàn tăng cường công tác quản lý điều hành và bình ổn giá cả thị trường, nhất là các mặt hàng thiết yếu trên địa bàn tỉnh góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội.
2. Đầu tư và xây dựng
2.1. Vốn đầu tư phát triển: Tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2016 ước đạt 42.671 tỷ đồng, bằng 48,32% so với năm 2015, trong đó: Vốn Nhà nước ước đạt 6.501 tỷ đồng, bằng 89,66%, chiếm tỷ trọng 15,23% tổng vốn; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 11.100 tỷ đồng, bằng 94,58%, chiếm tỷ trọng 26,01% tổng vốn; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 25.070 tỷ đồng, bằng 36,17%, chiếm tỷ trọng 58,76% tổng vốn. Như vậy, xét về nguồn vốn thì vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2016 chủ yếu vẫn là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 58,76% tổng vốn) và xét về khoản mục đầu tư thì nguồn vốn chủ yếu được đầu tư cho xây dựng cơ bản (chiếm 93,2% tổng vốn). Tuy nhiên, tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2016 đã giảm mạnh so với năm 2015 (giảm 51,68%), trong đó giảm mạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chủ yếu là vốn đầu tư thuộc Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh (năm 2016 ước thực hiện đạt 24.200 tỷ đồng, giảm 64,96%). Nguyên nhân do hiện nay Dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh cơ bản đã hoàn thành và đi vào hoạt động sản xuất nên vốn đầu tư giảm mạnh so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, năm 2016 là năm đầu thực hiện kế hoach đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn bổ sung từ ngân sách Nhà nước cũng giảm mạnh so với những năm trước.
2.2. Xây dựng: Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước đạt 18.392,2 tỷ đồng, giảm 44,90% so với năm 2015, chiếm 55,28% trong tổng giá trị sản xuất khu vực công nghiệp và xây dựng. Với kết quả giá trị sản xuất như trên thì ngành xây dựng có mức tăng trưởng -44,95%. Một trong những nguyên nhân chính làm cho GRDP có tốc độ tăng trưởng -16,85% chủ yếu là do ngành xây dựng giảm mạnh. Nguyên nhân do Dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh cơ bản đã hoàn thành giai đoạn I nên làm cho giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm. Năm 2016, Dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh dự ước vốn đầu tư đạt 24.200 tỷ đồng, giảm 64,96% so với năm 2015 và ước tính giá trị sản xuất xây dựng theo giá so sánh năm 2010 từ dự án này đạt 6.356 tỷ đồng, giảm 70,74% so với năm 2015. Ngoài việc giảm mạnh của Dự án khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh thì các công trình khác như: Dự án khu phúc hợp Vincom Hà Tĩnh, Khu đô thị Bắc thành phố Hà Tĩnh, Dự án thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang...vẫn được thực hiện đảm bảo kế hoạch và tiến độ.
3. Tài chính, ngân hàng
3.1. Thu - chi ngân sách:
- Thu ngân sách Nhà nước: Thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước năm 2016 trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển chậm, sự cố môi trường biển đã tác động đến cả sản xuất của cả khối doanh nghiệp cũng như khối sản xuất kinh doanh cá thể nên cũng đã ảnh hưởng đến nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước.
Năm 2016, kế hoạch Bộ Tài chính giao thu ngân sách nội địa toàn tỉnh 5.415 tỷ đồng, HĐND tỉnh giao 7.500 tỷ đồng, tăng 39% so với kế hoạch Bộ giao. Tuy nhiên, nhiều biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thu ngân sách. Mặc dù được cả hệ thống chính trị quan tâm chỉ đạo sử dụng các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp cùng hàng loạt các biện pháp cải thiện và chống thất thu NSNN được triển khai nhưng kết quả thu ngân sách nội địa tính đến thời điểm hiện nay vẫn đạt thấp so với cùng kỳ và kế hoạch đề ra. Thu nội địa cả năm ước đạt khoảng 5.434,7 tỷ đồng, đạt 100,4% kế hoạch Trung ương giao và 72,5% kế hoạch HĐND tỉnh giao; thu hải quan ước đạt 2.012,5 tỷ đồng, đạt 38,7% kế hoạch Trung ương giao và đạt 28,75% kế hoạch HĐND tỉnh giao. Nguyên nhân thu ngân sách đạt thấp chủ yếu do tình hình hoạt động của các doanh nghiệp gặp khó khăn. Hiện nay nguồn thu ngân sách của tỉnh chủ yếu từ doanh nghiệp (chiếm trên 70%) tổng thu ngân sách, nhưng ở Hà Tĩnh hiện rất nhiều doanh nghiệp giải thể, bỏ kinh doanh, hoặc không phát sinh doanh thu. Một số nguồn thu phát sinh có số nộp lớn trong năm 2015 và các năm trước nhưng năm 2016 giảm mạnh như: Thuế từ Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh; thuế các đơn vị vãng lai đến sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh; tiền thuê đất, tiền sử dụng đất...
- Chi ngân sách Nhà nước: Chi ngân sách cơ bản đáp ứng những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cũng như an ninh, chính trị của địa phương. Tổng chi ngân sách địa phương năm 2016 ước đạt 22.557,78 tỷ đồng, trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 4.190,95 tỷ đồng, các nhiệm vụ chi thường xuyên ước đạt 7.183,69 tỷ đồng. Măch dù các nhiệm vụ chi được đảm bảo nhưng do thu ngân sách đạt thấp nên ngân sách chỉ cân đối, đảm bảo các nhiệm vụ chi thật sự cần thiết, cấp bách, các nhiệm vụ chi cho bộ máy quản lý nhà nước, đảng đoàn thể, chi cho con người, chi an ninh quốc phòng, an sinh xã hội; một số nhiệm vụ chi khác chưa thật sự cấp thiết đã được điều chỉnh giãn tiến độ thực hiện theo tiến độ thu ngân sách. Điều hành quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản được chú trọng. Trên cơ sở kế hoạch vốn được giao, đã đảm bảo kịp thời nguồn vốn để giải ngân, đẩy nhanh tiến độ các dự án.
3.2. Hoạt động ngân hàng: Hoạt động ngân hàng trong năm 2016 vẫn ổn định, thực hiện đảm bảo về các hoạt động tín dụng và chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước, của Ngành, của tỉnh đến các tổ chức tín dụng và các đối tượng liên quan nhằm đảm bảo tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả.
- Hoạt động huy động vốn: Tính đến ngày 31/10/2016, nguồn vốn huy động và quản lý trên địa bàn đạt 33.165 tỷ đồng, tăng 8,22% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2016, nguồn vốn huy động và quản lý trên địa bàn đạt 34.615 tỷ đồng, tăng 12,95% so với đầu năm, đạt 86,33% kế hoạch năm. Nhìn chung, nguồn vốn huy động trên địa bàn 10 tháng đầu năm tăng trưởng thấp nhưng nguồn vốn huy động tiết kiệm của dân cư vẫn tăng trưởng tốt (tăng 12,45%). Nguồn vốn huy động giảm do tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiền gửi Kho bạc có xu hướng giảm (tiền gửi tổ chức kinh tế giảm 8,48%, tiền gửi KBNN giảm 12,31%).
- Hoạt động cho vay nền kinh tế: Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tính đến ngày 30/10/2016 là 31.024 tỷ đồng, tăng 15,62% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2016, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế là 32.074 tỷ đồng, tăng 19,53% so với đầu năm, vượt kế hoạch đề ra (kế hoạch năm tăng 16%). Chất lượng tín dụng tương đối tốt, nợ xấu trong giới hạn cho phép (chiếm 1,5% tổng dư nợ). Dư nợ của các nhóm ưu tiên đến 31/10/2016 chiếm hơn 50% tổng dư nợ, tăng 12,91% so với đầu năm, trong đó: Doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 0,82%, nông nghiệp nông thôn tăng 15,41% và lĩnh vực xuất khẩu, phục vụ xuất khẩu tăng 31,25%.
- Kết quả tháo gỡ khó khăn cho khách hàng: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tích cực thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng. Dư nợ theo các quyết định hỗ trợ lãi suất của Trung ương, của tỉnh đạt 2.444 tỷ đồng (lũy kế từ khi triển khai đến 30/9/2016 đã có 37.868 khách hàng với doanh số cho vay là 7.409 tỷ đồng và tổng số lãi đã và sẽ hỗ trợ là 285 tỷ đồng). Từ đầu năm đến 30/9/2016, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ cho 1.873 khách hàng với dư nợ được cơ cấu, điều chỉnh kỳ hạn là 243 tỷ đồng và đã miễn giảm lãi cho 575 khách hàng, với số tiền miễn giảm là 2.097 triệu đồng. Để kịp thời giúp đỡ khách hàng do thiệt hại từ sự cố môi trưởng biển. Tính đến 31/10/2016, Tổng số dư nợ được cơ cấu lại là 51.572 triệu đồng, của 316 khách hàng; miễn giảm lãi vay cho 319 khách hàng với tổng số dư nợ được miễn giảm lãi vay 138.544 triệu đồng, số tiền lãi được miễn giảm là 956 triệu đồng. Đến thời điểm hiện nay đã cho 3 khách hàng vay thu mua muối với doanh số cho vay đạt 8.450 triệu đồng.
- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các dịch vụ ngân quỹ, thanh toán tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn.
Trong năm 2016, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu Tư Kỳ Anh khai trương đi vào hoạt động, nâng tổng số các chi nhánh NHTM cấp 1 trên địa bàn lên 16 đơn vị; 2 quỹ tín dụng khai trương hoạt động, nâng tổng số quỹ tín dụng trên địa bàn lên 30 quỹ tín dụng.
Tính đến 30/9/2016, trên địa bàn toàn tỉnh có 128 máy ATM đang hoạt động (Thành phố 58 máy và các huyện, thị xã 70 máy), với số lượng thẻ phát hành hơn 410 nghìn thẻ, tăng 8,09% so với đầu năm. Toàn tỉnh có 345 máy POS, tăng 102 máy so với đầu năm, có 290 điểm chấp nhận thẻ đã kết nối liên thông với các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
4. Hoạt động xuất nhập khẩu
- Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu năm 2016 ước đạt 130.428,4 nghìn USD, tăng 3,81% so với năm 2015. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 21.423,2 nghìn USD, giảm 12,21% và chiếm 16,43% tổng số; kinh tế tư nhân ước đạt 25.415,8 nghìn USD, giảm 55,3% và chiếm 19,48% tổng số và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 83.589,4 ngàn USD, tăng 88,52% và chiếm 64,09% tổng giá trị xuất khẩu.

Như vậy, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2016 có tăng so với năm 2015, nhưng chỉ tăng nhẹ và đạt 90,82% kế hoạch. Tuy nhiên, mức tăng giảm giữa các thành phần kinh tế không đồng đều. Khối kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng mạnh nhất, do Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã đi vào sản xuất; cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của tỉnh có sự thay đổi, giảm mặt hàng gỗ xẻ, tăng các mặt hàng công nghiệp (than đá, sắt thép, hắc ín), nông sản chế biến; đồng thời, mặt hàng dăm gỗ của thành phần này vẫn giữ được sự ổn định nên làm cho giá trị xuất khẩu ở khu vực này tăng mạnh. Kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân giảm, do điểm yếu tồn tại nhiều năm nay của hai thành phần này là mẫu mã mặt hàng kém đa dạng, thị trường xuất khẩu phụ thuộc vào một số quốc gia và vùng lãnh thổ như: Các mặt hàng quặng khoáng sản và gỗ xẻ là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu nhưng phụ thuộc thị trường Trung Quốc và giá thành giảm mạnh, dẫn tới giá trị xuất khẩu các thành phần kinh tế này giảm sâu.
- Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2016 ước đạt 826.160,6 nghìn USD, giảm 61,02% so với năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 25.423,1 nghìn USD, tăng 79,78%; kinh tế cá thể ước đạt 480 nghìn USD, giảm 6,71%; kinh tế tư nhân ước đạt 133.656,2 nghìn USD, giảm 13,54% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 666.601,3 nghìn USD, giảm 65,81% so với cùng kỳ năm 2015. Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá dự ước năm 2016 giảm, do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm lượng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng nhập khẩu về phục vụ việc lắp ráp các công trình. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tư nhân cũng giảm nhập khẩu lượng gỗ xẻ các loại do ảnh hưởng từ việc xuất khẩu khó khăn.
III. BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HÓA VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC
1. Dân số, lao động việc làm và đời sống dân cư
- Dân số: Ước tính quy mô dân số năm 2016 là 1.266.200 người, tăng 0,39% so với năm 2015 (tăng 4.912 người). Trong đó: Dân số nam là 622.280 người, tăng 0,48% so với năm 2015, chiếm tỷ lệ 49,15% và dân số nữ là 643.920 người, tăng 0,3%, chiếm tỷ lệ 50,85%; dân số khu vực thành thị 229.700 người, tăng 0,74%, chiếm tỷ lệ 18,14% và khu vực nông thôn 1.036.500 người, tăng 0,31%, chiếm tỷ lệ 81,03%.
- Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm: Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch số 17/KH-UBND ngày 19/01/2016 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2016. Cũng trong thời gian này, Bộ LĐ-TB&XH đã làm việc với UBND tỉnh Hà Tĩnh về tình hình lao động, việc làm và các giải pháp hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng sau sự cố môi trường ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới việc làm thuộc 56 xã của 6 huyện ven biển, bao gồm: Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và thị xã Kỳ Anh. Các nhóm lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, chế biến thủy sản, nghề muối và nhà hàng, khách sạn. Năm 2016 toàn tỉnh đã đào tạo cho 12.895 người, trong đó: Cao đẳng nghề là 382 người, trung cấp nghề là 1.959 người, sơ cấp nghề là 7.698 người và đào tạo nghề dưới 3 tháng là 2.856 người. Giải quyết việc làm cho 21.986 người, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 11.142 người, xuất khẩu lao động 6.212 người, lao động đi làm việc ngoại tỉnh 4.632 người.
- Đời sống dân cư: Tình hình đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự vào cuộc quyết liệt, kịp thời của cả hệ thống chính trị trong việc khắc phục sự cố môi trường biển. Tính đến nay, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã trích 6.240,5 tấn gạo cho 19.247 hộ và hỗ trợ 23,07 tỷ đồng cho 5.012 chủ tàu thuyền, nhằm đảm bảo ổn định cho người dân tham gia sản xuất kinh doanh; đồng thời, ban hành quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường với số tiền hơn 640 tỷ đồng và đã thực hiện chi trả được 461,8 tỷ đồng. Việc chi trả bồi thường được đảm bảo minh bạch, công bằng và đúng đối tượng nên đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn được đảm bảo. Bên cạnh đó, với chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu, các chính sách trợ cấp đối với người lao động, phụ cấp đặc thù, ưu đãi...nên đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương được cải thiện hơn. Mặt khác, thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện tốt cho người nông dân trong việc sản xuất các loại cây rau màu ngắn ngày vụ Mùa, vụ Đông và làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập; trong năm tuy có xảy ra mấy đợt lũ lụt, nhưng nhờ sự cứu trợ kịp thời của tỉnh, cùng các đơn vị, tổ chức, cá nhân nên đời sống của người dân vẫn ổn định. Dự kiến trong thời gian tới, tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra.
2. Công tác an sinh xã hội
- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội trên các lĩnh vực: giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề; cải thiện nhà ở cho người có công, gia đình nghèo...Tập trung ưu tiên cho các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển nhằm tạo điều kiện để người dân được hưởng lợi từ các chương trình, dự án một cách hiệu quả nhất. Đồng thời nghiên cứu và triển khai các chính sách, chương trình giảm nghèo mới như hỗ trợ vay vốn xây dựng nhà phòng, tránh bão lụt theo Quyết định số 48/2015/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 về chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền trung; hỗ trợ tiền điện hộ nghèo, hộ chính sách xã hội; Triển khai cho hộ mới thoát nghèo, hộ nghèo vay vốn làm nhà ở theo Quyết định số 167/QĐ-TTg giai đoạn II.
Theo kết quả công tác điều tra xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, năm 2016 toàn tỉnh có 39.386 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 10,56%), giảm 0,64 điểm % và 32.663 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 8,76%), tăng 0,43 điểm % so với năm 2015. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn tốc độ giảm nghèo chung của cả nước, tuy nhiên kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, các hộ nghèo, hộ cận nghèo phải tham gia vào chuỗi sản xuất, tránh ỷ lại, thông qua các tổ chức hội để tạo động lực mới giúp đỡ các hộ nghèo, cận nghèo vươn lên phát triển kinh tế.
- Công tác bảo trợ xã hội: Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội đã được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định. Đã chi trả trợ cấp thường xuyên cho 72.280 đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí hơn 20 tỷ đồng, cấp 68.004 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 169.620 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 167.398 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 72.319 thẻ BHYT cho người có công.
Huy động nhiều nguồn lực để tặng 270.835 suất quà với tổng số tiền 61,664 tỷ đồng, trong đó: Người có công 157.376 suất với số tiền 30,345 tỷ đồng; người cao tuổi 42.070 suất với số tiền 4,618 tỷ đồng; quà đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 6.096 suất với số tiền 1,377 tỷ đồng; quà người nghèo 40.158 suất với số tiền 14,454 tỷ đồng; quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các đối tượng khác 25.135 suất với số tiền 10,87 tỷ đồng. Nhìn chung, công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời, các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn.
- Thực hiện chính sách đối với người có công: Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa đối với các đối tượng chính sách, người có công. Đã trao 47 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách, trị giá 42 triệu đồng; xây mới 254 nhà tình nghĩa, trị giá 10,321 tỷ đồng và sữa chữa 149 nhà với tổng giá trị là 3,09 tỷ đồng.
Phát huy những truyền thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, thể hiện sự biết ơn đối với những người có công với cách mạng, góp phần đẩy mạnh công tác "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn". Sáng ngày 06/5/2016, tại nghĩa trang liệt sỹ Nầm (huyện Hương Sơn), Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu và an táng 19 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại nước CHDCND Lào về an nghỉ trong lòng đất mẹ. Đồng thời, nhân kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ, thị xã Kỳ Anh cũng đã trao 46 suất quà (mỗi suất 1 triệu đồng) cho các gia đình có công tiêu biểu trên địa bàn.
Bên cạnh đó, theo kế hoạch của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã phê duyệt, năm 2016 Trung tâm Điều dưỡng người có công và Bảo trợ xã hội Hà Tĩnh sẽ tổ chức điều dưỡng tập trung từ ngày 14/3 -03/12/2016 cho 35 đoàn, với 3.500 đại biểu người có công với cách mạng thuộc 13 huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh.
3. Giáo dục và Đào tạo
a. Giáo dục phổ thông
Năm học 2016-2017, ngành giáo dục Hà Tĩnh đã thực hiện tốt các nội dung đổi mới giáo dục, đào tạo với cách làm cụ thể, hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục và tổ chức dạy học. Chăm lo đầu tư và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Nhờ chủ động triển khai đồng bộ kế hoạch, nhiệm vụ của bậc học, năm học 2015-2016 chất lượng học sinh về mũi nhọn và đại trà tiếp tục tăng: Trong kỳ thi học sinh giỏi cấp Quốc gia năm 2016, Hà Tĩnh có 10 đội tuyển với 91 học sinh tham gia; kết quả đạt xuất sắc, có 77 em đạt giải (tăng 8 giải so với năm 2015), Hà Tĩnh đứng thứ 4 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải.
Năm học 2016 - 2017 toàn tỉnh có: 723 trường, tăng 02 trường so với cuối năm học 2015 - 2016 (gồm 269 trường mầm non, tăng 02 trường; 259 trường tiểu học, giảm 01 trường; 151 trường THCS, tăng 01 trường so với năm trước và 44 trường THPT, so với năm trước không thay đổi ) với 10.001 lớp (mẫu giáo 2.769 lớp, tiểu học 3.673 lớp, THCS 2.375 lớp, THPT 1.184 lớp) và 18.451 giáo viên (mầm non 5.018 người, tiểu học 5.432 người, THCS 5.060 người, THPT 2.941 người) và 305.515 học sinh (nhà trẻ 13.951 em, mẫu giáo 72.653 em, tiểu học 99.318 em, THCS 74.653 em và THPT 44.940 em).
Bên cạnh đó, ngành giáo dục Hà Tĩnh cũng đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm bổ sung trang thiết bị dạy học; hệ thống trường, lớp đảm bảo các điều kiện về vệ sinh. Huy động được các nguồn lực trong xã hội tăng cường cơ sở vật chất cho trường học, xây dựng đạt chuẩn Quốc gia. Đầu tư 309 tỷ đồng xây dựng cơ sở vật chất trường học, xây mới 530 phòng học, 331 phòng chức năng tại 199 trường học. Ngoài ra, các trường học cũng đã chú trọng xây dựng trường xanh, sạch, đẹp, an toàn và thân thiện; đến nay, 100% trường học đã có nguồn nước sạch.
b. Giáo dục đào tạo:
Năm học 2015-2016 vừa qua, các trường chuyên nghiệp trong tỉnh đã đổi mới mạnh mẽ trong công tác quản lý; tiếp tục thực hiện phân cấp trong hệ thống quản lý, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong nhà trường; ứng dụng tốt các phần mềm quản lý đào tạo. Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp loại khá ở tại các trường đạt trên 50%. Đại học Hà Tĩnh có 04 sinh viên đạt giải trong kỳ thi Olimpic toán học toàn quốc và 06 sinh viên đạt giải trong kỳ thi Olimpic vật lý. Cao đẳng Y tế có 03 đề tài tham dự báo cáo Hội nghị Khoa học trẻ Y-Dược ...
Năm học 2016-2017 ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh vẫn tiếp tục đổi mới công tác quản lý; chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; phát triển mạng lưới trường, lớp và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2016-2017 là 2.540 chỉ tiêu (so với năm học 2015-2016 giảm 4,69%), trong đó: Trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.620 chỉ tiêu (hệ đại học 1.200 chỉ tiêu, hệ cao đẳng 180 chỉ tiêu và hệ trung học chuyên nghiệp 240 chỉ tiêu); các trường cao đẳng tuyển sinh 920 chỉ tiêu (hệ cao đẳng 315 chỉ tiêu và hệ trung học chuyên nghiệp 605 chỉ tiêu). Trong kỳ thi Đại học Cao đẳng năm học 2016-2017, các trường Đại học, Cao đẳng chuyên nghiệp đã tuyển mới được 2.049 học viên hệ chính quy đạt 80,67% chỉ tiêu tuyển sinh, giảm 7,49% so với năm học trước, chia ra: Hệ đại học 1.417 học viên (tăng 13,45%), hệ cao đẳng 331học viên (tăng 2,48%), hệ trung cấp 301học viên (giảm 53,19%).
4. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Năm 2016, ngành Y tế Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: Phòng chống dịch bệnh ổn định; công tác khám chữa bệnh và các chỉ tiêu đều đạt được theo kế hoạch; cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ chuyên môn từng bước được nâng lên. Chất lượng khám chữa bệnh ở tất cả các tuyến được nâng lên; dịch bệnh ổn định, không có dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế đều thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu. Cụ thể công tác y tế năm 2016 đã đạt được những kết quả sau:
- Công tác khám và chữa bệnh: Năm 2016, Các đơn vị y tế đã thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh, nhất là triển khai thông tuyến huyện khám chữa bệnh BHYT; tình hình thu dung, điều trị bệnh nhân tăng cao. Triển khai nhiều phòng khám ngoại trú và kê thêm giường bệnh điều trị nội trú. Triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý KCB và thanh toán BHYT tại tất cả các cơ sở KCB trên địa bàn tỉnh. Duy trì tốt công tác xử lý chất thải, vệ sinh môi trường, cảnh quan bệnh viện xanh, sạch đẹp; tinh thần phục vụ, y đức, giao tiếp có chuyển biết tích cực. Bên cạnh đó ngành Y tế Hà Tĩnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện, chất lượng KCB, nhất là ở tuyến cơ sở tuy đã có chuyển biến, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân. Do vậy trong thời gian tới Ngành y tế sẽ tiếp tục giám sát, đôn đốc các đơn vị thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chuyên môn; chuẩn bị các điều kiện để triển khai hoạt động KCB khi tăng giá dịch vụ trong thời gian tới theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
- Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ. Để chủ động phòng chống các dịch bệnh mùa hè, ngành Y tế đã chỉ đạo các địa phương theo dõi việc giám sát dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh đặc biệt là các ổ dịch cũ, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh để xử lý kịp thời; tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng cách phát hiện các loại dịch bệnh và các biện pháp dự phòng tại cộng đồng; triển khai công tác đào tạo, đào tạo lại và tập huấn chuyên môn nghiệp vụ công tác phòng chống dịch cho cán bộ tuyến huyện, xã và thôn bản; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất và trang thiết bị cần thiết phục vụ khi có dịch xảy ra. Năm 2016, trên địa bàn Hà Tĩnh có 39 trường hợp sốt xuất huyết, 858 trường hợp sốt rét, 73 trường hợp mắc lỵ trực trùng và lỵ a míp, 05 trường hợp viêm não virut, 32 trường hợp mắc tay-chân-miệng và 131 trường hợp mắc bệnh do adeno. Các dịch bệnh trên đã được ngăn chặn kịp thời nên không có trường hợp nào bị tử vong.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh đã phát hiện hơn 1000 ca nhiễm HIV; có 13/13 huyện, thành phố, thị xã với 188/262 xã, phường, thị trấn có người nhiễm HIV/AIDS; đối tượng có xu hướng trẻ hóa, với hơn 85,3% tổng số người nhiễm mới nằm trong độ tuổi 20-39; lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma túy có chiều hướng giảm rõ rệt nhưng qua đường tình dục không an toàn có xu hướng tăng. Như vậy, Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, cần huy động và đầu tư các nguồn lực từ địa phương, đơn vị cho công tác phòng, chống HIV/AIDS, nhất là trong những năm tới, khi nguồn lực hỗ trợ của các tổ chức quốc tế bị cắt giảm và ngân sách trung ương có nhiều khó khăn.Về phía ngành Y tế, chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường giới thiệu, quảng bá rộng rãi về lợi ích của việc tiếp cận sớm các dịch vụ dự phòng, chăm sóc, điều trị HIV/AIDS; mở rộng độ bao phủ và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội, chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là dịch vụ cung cấp các phương tiện dự phòng lây nhiễm HIV và chương trình điều trị Methadone. Năm 2016, Hà Tĩnh có 53 người nhiễm HIV, giảm 44,2% so với cùng kỳ năm trước; có 51 người chuyển thành AIDS (giảm 51 người) và có 14 người chết vì AIDS (giảm 49 người).
- Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề được quan tâm thường xuyên. Vì vậy, tỉnh đã huy động sự hỗ trợ, vào cuộc của toàn xã hội, đẩy mạnh công tác thanh, kiểm tra, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để răn đe. Đồng thời, tích cực tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nhằm hạn chế sản xuất và sử dụng thực phẩm kém chất lượng cũng như hàng giả, hàng nhái; quản lý chặt chẽ việc quảng cáo sản phẩm, thực phẩm, nhất là thực phẩm chức năng. Năm 2016 trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể (tăng 01 vụ so với năm 2015) làm 27 người bị ngộ độc (tại huyện Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Kỳ Anh, Hương Khê và thị xã Kỳ Anh). Ngoài ra, còn có 2.886 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 235 ca) và có 01 trường hợp chết vì ngộ độc thực phẩm.
5. Hoạt động văn hoá, thể thao
- Hoạt động văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước được tổ chức chu đáo, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh. Trong thời gian qua ở tất cả các địa phương đã tập trung tuyên truyền cổ động cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 với nhiều hình thức phong phú và thiết thực. Đặc biệt, chào mừng kỷ niệm 126 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chào mừng cuộc bầu cử ĐBQH, HĐND các cấp, Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh phối hợp với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh tổ chức chương trình nghệ thuật “Cảm xúc tháng 5”, nhằm ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, ca ngợi quê hương, đất nước trên con đường đổi mới, phát triển và không khí rạo rực, hân hoan trước ngày hội của non sông.
Đồng thời, tham gia Liên hoan Nghệ thuật 5 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Thái Lan 2016 do Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VH,TT&DL) chủ trì, phối hợp với Sở VH,TT&DL tỉnh Quảng Trị, Cục Hợp tác quốc tế, Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Quảng Trị. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển giữa các nước Đông Nam Á và cộng đồng ASEAN; giới thiệu, quảng bá về văn hóa nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam tới các nước láng giềng. Đoàn Hà Tĩnh tham gia 11 tiết mục với chủ đề “Khúc ân tình người Hà Tĩnh” và vinh dự giành được 4 huy chương: 01 Huy chương Vàng cho tiết mục “Múa vị biển” và 3 huy chương Bạc là các tiết mục: “Hát múa mở màn: Quê tôi ngày mới”, “Nam giới long ngân xứ”, “Dân ca: Gái phường vải và trai phường nhủi”.
Bên cạnh đó, tham gia “Liên hoan đàn, hát dân ca 3 miền” do Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VH-TT&DL) phối hợp cùng với Sở VH-TT&DL Kiên Giang tổ chức, là một trong các hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện hưởng ứng năm du lịch quốc gia 2016. Đoàn Hà Tĩnh tham dự liên hoan với 4 tiết mục mang đậm bản sắc văn hóa núi Hồng sông La. Kết quả, tiết mục hoạt cảnh dân ca ví giặm “Một chồng đôi vợ” xuất sắc giành Huy chương Vàng, tiết mục diễn xướng dân ca “Nhất sỹ nhì nông” giành Huy chương Bạc và giành huy chương Bạc toàn đoàn tại liên hoan này.
Trong thời gian này, tỉnh Hà Tĩnh cũng đã tổ chức thành công lễ đón bằng công nhận Mộc bản Trường học Phúc Giang là di sản tư liệu ký ức thế giới của UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, là dịp để tri ân công lao của các bậc tiền nhân, tự hào về giá trị văn hóa – lịch sử mà người xưa để lại; đồng thời, giúp các thế hệ hôm nay nhận thức rõ hơn về trách nhiệm đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa. Ngoài ra, Hội đồng hương Nghệ An tại Hà Nội đã phối hợp với tỉnh Hà Tĩnh tổ chức chương trình “Ân tình ví, giặm” nhân 2 năm ngày dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc gia. Đoàn Hà Tĩnh tham gia 30 người, thể hiện 3 tiết mục dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh về ví phường cấy, giặm xay lúa, hát giặm lời cổ tái hiện lại không gian sinh hoạt, lao động xưa.
- Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập Đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch, các quán karaoke, quán Internet nhằm đảm bảo an ninh trật tự, văn hóa, văn minh. Kết quả kiểm tra đã phát hiện 38 cơ sở vi phạm, thu giữ 02 máy trò chơi điện tử (đánh xèng), 1.500 đồng xu sắt, 50 cuốn sách xuất bản trái phép, 200 đĩa không tem nhãn, nhắc nhở cảnh cáo 17 trường hợp, đình chỉ 10 cơ sở dịch vụ thể thao (bơi lặn) chưa có giấy phép kinh doanh, xử phạt vi phạm hành chính 14 trường hợp với số tiền 23 triệu đồng.
- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và được nhiều người cùng hưởng ứng. Nhiều giải thi đấu thể thao phong trào như bóng đá, bóng chuyền, cờ tướng, đua thuyền...đã được tổ chức thành công, như: Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã tổ chức Hội khỏe Phù Đổng toàn tỉnh lần thứ XI, thu hút hơn 2.300 vận động viên đến từ 13 huyện, thị xã, thành phố và các trường THPT trong toàn tỉnh tham gia, tranh tài ở 10 bộ môn thể thao cơ bản với hơn 136 nội dung thi đấu dành cho các vận động viên từ bậc tiểu học đến THPT; thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức giải chạy việt dã hưởng ứng 15 năm Ngày gia đình Việt Nam, với 350 VĐV thuộc các phường, xã, cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố tham gia; chào mừng ngày Doanh nhân Việt Nam, Hội doanh nhân trẻ Hà Tĩnh tổ chức giải bóng đá mi ni “Hành trình từ thiện”, không chỉ là dịp để các doanh nghiệp trẻ Hà Tĩnh rèn luyện thể thao, nâng cao sức khỏe, giao lưu, gặp mặt, tạo không khí đoàn kết, học tập giữa các hội viên mà còn là dịp để các đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân tham gia cùng chung tay với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh tổ chức các hoạt động về nguồn, từ thiện vì an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
Bên cạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao cũng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Kết quả, năm 2016 Hà Tĩnh đạt được 28 HCV, 32 HCB và 33 HCĐ ở các giải.
6. Tai nạn giao thông
Năm 2016 tiếp tục thực hiện chủ đề“ Siết chặt quản lý hoạt động kinh doanh vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện” với mục tiêu “Tính mạng con người là trên hết”; các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan chức năng, chính quyền các địa phương trong toàn tỉnh đã chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp công tác góp phần đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến người tham gia giao thông với nhiều hình thức như: phát tờ rơi, lắp pa nô, tuyên truyền cung cấp số điện thoại đường dây nóng trên các phương tiện thông tin đại chúng; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền nhằm giúp người dân hiểu và chấp hành tốt các quy định về an toàn giao thông”.
Bên cạnh đó, để đảm bảo an ninh trật tự cho dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, Công an Hà Tĩnh đã tổ chức phát lệnh ra quân trấn áp tội phạm; kiềm chế và làm giảm các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, cháy nổ, đảm bảo ANTT, bảo vệ tuyệt đối an toàn Tết Nguyên đán; tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tăng cường chỉ đạo công tác đảm bảo ANTT, phòng chống tội phạm, trật tự ATGT...Đánh mạnh vào các đối tượng cực đoan, chống đối, có hành động chống phá, gây rối an ninh, trật tự trên địa bàn; các ổ nhóm tội phạm có tổ chức, hoạt động lưu động; đối tượng buôn bán, vận chuyển ma túy qua buôn giới; tội phạm kinh tế, tham nhũng trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm; tội phạm và vi phạm về môi trường; các nhà hàng, khách sạn…
Theo số liệu tổng hợp nhanh từ Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, từ ngày tính từ ngày 16/12/2015 đến ngày 15/12/2016 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 180 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 03 vụ tai nạn đường sắt làm chết 157 người, bị thương 95 người, ước tính thiệt hại tài sản là 1.528 triệu đồng. So cùng kỳ năm trước tăng 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 10 người chết và giảm 37 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành an toàn giao thông của người tham gia giao thông còn hạn chế, không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường.
7. Tình hình thiên tai
Năm 2016, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 04 đợt thiên tai (đợt 1 là lốc xoáy và mưa to vào ngày 03/5/2016 ở các huyện Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang; đợt 2 ảnh hưởng của bão số 4 từ ngày 10-14/9/2016; đợt 3 ảnh hưởng của bão số 6 từ ngày 12-16/10/2016 và đợt 4 là mưa lũ do ảnh hưởng của không khí lạnh từ ngày 29/10/2016-02/11/2016). Bốn đợt thiên tai đã làm 09 người chết, 10 người bị thương; 92 nhà ở bị sụp đổ, 1.183 ngôi nhà ở bị sạt lở, tốc mái và 31.409 nhà bị ngập nước; 64 phòng học và 02 nhà văn hóa xóm bị ngập và hư hại, 30 phòng khám và trạm y tế bị ngập, 05 trụ sở cơ quan bị ngập; 01 xe ô tô bị hư hỏng, 169 cột điện bị đổ, 07 trạm biến áp bị ngập và hư hại, 2.300 m dây điện bị đứt, 6.700 m đường dây thông tin bị đứt; 2.130 m chiều dài các đoạn đê bị sạt lở, 58,23 m chiều dài kênh mương bị sạt lở, cuốn trôi; 02 tàu bị chìm, 41 cầu cống bị hư hỏng, 73,4 km chiều dài xe cơ giới bị sạt lở, 103,5 km đường xe cơ giới bị ngập, 110.315 m3 đất, đá bê tông bị sạt lở cuốn trôi; 6.969,8 ha lúa và 3.177 ha hoa màu bị ngập và hư hỏng, 886,42 ha cây ăn quả, 115 ha cây công nghiệp, 52,5 ha cây phòng hộ, 164,7 ha cây lâm nghiệp và 1.046 ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; số trâu, bò bị chết là 1.039 con, số lợn bị chết là 1.033 con, số gia cầm bị chết là 172,7 nghìn con, số lương thực bị ngập là 662,66 tấn. Tổng giá trị thiệt hại ước tính là 1.348,3 tỷ đồng.
Ngay sau khi lốc xoáy xảy ra, Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai tỉnh đã chỉ đạo các địa phương kiểm tra thực tế, thăm hỏi và hỗ trợ các gia đình có người chết, tổ chức mai táng cho người bị nạn, nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai. Đồng thời, chỉ đạo các địa phương, đơn vị tổ chức khắc phục giao thông trên tuyến đường Quốc lộ 8A. Sở Giao thông Vận tải phối hợp với các địa phương huy động lực lượng, phương tiện tổ chức thu dọn khối lượng đất đá bị sạt lở để thông xe. Các huyện cũng đã tập trung huy động lực lượng tại chỗ khắc phục hậu quả, vệ sinh nhà cửa, trường học, trạm y tế bị ngập, đảm bảo cho học sinh đi học và hoạt động của người dân trở lại bình thường. Trong đợt mưa lũ này, tỉnh cũng đã trích từ ngân sách hỗ trợ giống cây trồng và giống vật nuôi cho các địa phương bị thiệt hại trong đợt mưa lũ, với số tiền là 9 tỷ đồng, hạn chế mức thiệt hại thấp nhất cho người dân. Đồng thời, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh cũng hỗ trợ cho người dân vũng lũ gồm hiện vật và tiền mặt khoảng 113 tỷ đồng (hỗ trợ thông qua cấp tỉnh 81 tỷ đồng, qua cấp huyện 32 tỷ đồng).
8. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường
- Công tác bảo vệ môi trường: Thời gian qua, ven biển Hà Tĩnh xẩy ra hiện tượng hải sản chết (vào tháng 4/2016) nên đã gây ô nhiễm về môi trường biển. Các Bộ, ngành cùng tỉnh và doanh nghiệp đã xây dựng Trạm quan trắc tự động kết nối với doanh nghiệp Fomosa trong xử lý chất thải. Đưa ra nhiều giải pháp trong tuyên truyền, hỗ trợ, xây dựng đề án thị trường nhằm giảm thiểu những tác hại đến sự cố. Để góp phần làm sạch môi trường biển do hiện tượng hải sản chết, Tỉnh đoàn Hà Tĩnh đã huy động 2.200 lượt cán bộ, đoàn viên thanh niên tham gia tình nguyện tại chỗ và tình nguyện chi viện tại các xã ven biển để thu gom, xử lý hải sản chết và rác thải trên bờ biển. Hiện nay hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn đã tiến hành bình thường, diện tích nuôi mặn, lợ đã thả nuôi 2.638 ha (đạt 95% kế hoạch). Số tàu khai thác ven bờ hoạt động đạt tỷ lệ từ 70-80%, tàu khai thác xa bờ đạt tỷ lệ 85-90%; sản lượng hải sản khai thác được thu mua và tiêu thụ ổn định. Kết quả đó đã khẳng định sự vào cuộc mạnh mẽ và sự quyết tâm của chính quyền và nhân dân Hà Tĩnh trước sự cố môi trường.
Đồng thời, hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (5/6), Tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam, tiếp tục chuỗi hoạt động Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2016. Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Hà Tĩnh đã phát động đợt ra quân đồng loạt vệ sinh môi trường trong các cấp bộ Đoàn và đoàn viên thanh niên toàn tỉnh nhằm mục đích nhấn mạnh tầm quan trọng của đại dương đối với cuộc sống, sức khỏe con người, sự cấp bách cần hành động để bảo vệ đại dương.
Cùng với Tuần lễ quốc gia NS&VSMT năm 2016, thông điệp “Nguồn nước sạch, kinh tế mạnh”, chương trình Ngày Trái đất 2016, Trung tâm NS&VSMT nông thôn xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai chiến dịch cao điểm về tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng, quản lý, vận hành, bảo dưỡng các công trình cấp nước và VSMT, đảm bảo cấp nước an toàn; tăng cường công tác kiểm tra chất lượng công trình và kiểm soát chất lượng nước. Trung tâm đã phối hợp với các cấp chính quyền địa phương nhằm tuyên truyền sâu rộng đến người dân trong việc bảo vệ môi trường, gìn giữ nguồn nước.
Ngoài ra, Sở tài nguyên môi trường cũng kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Năm 2016, đã kiểm tra phát hiện 82 cơ sở vi phạm và xử lý 74 cơ sở gây ô nhiễm môi trường, chưa xử lý chất thải đúng quy định, với số tiền xử phạt là 415 triệu đồng.
- Tình hình cháy, nổ: Năm 2016, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 98 vụ cháy làm chết 03 người, bị thương 02 người, ước tính thiệt hại về tài sản là 67,32 tỷ đồng. So với kỳ năm trước tăng 48 vụ. Trong đó: Cháy nhà dân 19 vụ; cháy ki ốt, cửa hàng kinh doanh 11 vụ; cháy ô tô và xe máy 11 vụ; cháy đường dây điện 14 vụ; cháy kho chứa rơm 09 vụ; 02 vụ cháy bãi phế liệu; 02 vụ cháy xưởng chế biến gỗ; 01 vụ cháy chợ; 01 vụ cháy trạm biến áp của bệnh viện đa khoa tỉnh, 01 vụ cháy điều hòa tại Trung tâm thương mại BMC; cháy rừng 16 vụ và 11 vụ cháy khác (cháy tủ điện, ga ra ô tô, chuồng nuôi gia súc ...). Nguyên nhân chủ yếu là do chập điện và bất cẩn trong việc sử dụng lửa của người dân. Trong số các vụ cháy, bị nặng nhất là vụ cháy chợ ở huyện Hương Khê, không làm thiệt hại về người, nhưng hàng hóa của 128 hộ kinh doanh trong đình chính bị thiêu rụi, thiệt hại về tài sản khoảng 60,5 tỷ đồng.
9. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2017
a. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017
Kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2017 như sau:
- Tổng sản phẩm (GRDP) tăng 10,6% so với năm 2016.
- Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn.
- Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 285 triệu USD.
- Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt 7.700 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 6.000 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.700 tỷ đồng.
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 35.000 tỷ đồng.
- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 1.000 doanh nghiệp.
- Tỷ lệ người tham gia BHYT đạt 84%.
- Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) giảm từ 1,5-2%.
- Giải quyết việc làm mới cho 22.000 người.
b. Giải pháp thực hiện
Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 cần phải thực hiện đồng bộ 9 nhóm giải pháp như trong Nghị quyết đã nêu. Tuy nhiên chúng ta cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là:
- Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu nêu trên, phải xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình hành động triển khai nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 một cách cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương.
- Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Đề xuất triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên vùng ven biển các tỉnh Bắc Trung bộ; tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050, gắn với việc xây dựng Đề án phát triển kinh tế biển và ven biển của tỉnh. Xây dựng ban hành hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2017-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển.
- Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành kinh tế một cách thực chất, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung chỉ đạo quyết liệt tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thúc đẩy phát triển nhanh ngành công nghiệp - xây dựng, nhất là việc đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp tạo nền tảng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Chỉ đạo Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Fomosa Hà Tĩnh khẩn trương khắc phục đầy đủ các vi phạm để sớm đưa dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương đi vào hoạt động. Phát triển thương mại nội địa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ; đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tăng cường thu hút đầu tư nhằm huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phải tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nhất là những lĩnh vực thời gian qua còn bộc lộ hạn chế, yếu kém. Kiểm soát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường khi thẩm định cũng như cả quá trình hoạt động của dự án.
- Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ.
Mặc dù thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 trong điều kiện vẫn còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội có thể tin tưởng trong năm tới tình hình kinh tế - xã hội tỉnh nhà vẫn ổn định và có bước phát triển./.
Tập tin : Số liệu ước năm 2016 (Ha Tinh).pdf
Tin khác