TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 tháng đầu năm 2018 tình Hà Tĩnh
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
6 tháng đầu năm 2018
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc: Sản xuất nông nghiệp được mùa toàn diện; sản xuất công nghiệp là điểm sáng và có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế; thu ngân sách vượt ngưỡng kế hoạch 6 tháng...Đây chính là kết quả của sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà trong thời gian qua.
1. Tăng trưởng kinh tế
1.1. Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành ước đạt 30.467,9 tỷ đồng, tăng 32,83% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 4.735,6 tỷ đồng, tăng 2,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 13.420,8 tỷ đồng, tăng 91,21%; khu vực dịch vụ ước đạt 9.988,6 tỷ đồng, tăng 8,02% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 2.322,9 tỷ đồng, tăng 12,41%.
Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,54%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 44,05%; khu vực dịch vụ chiếm 32,78%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,63% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 20,08%; 30,6%; 40,31% và 9,01%).
1.2. Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2018 theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 21.163,3 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước tăng 32,94% so với cùng kỳ năm 2017. Trong mức biến động chung thì khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 3.266,9 tỷ đồng, tăng 5,54% so với cùng kỳ, đóng góp 1,08 điểm phần trăm (Trong đó: Nông nghiệp tăng 5,92% so với cùng kỳ, đóng góp 1 điểm phần trăm; lâm nghiệp giảm 3,29% so với cùng kỳ, đóng góp -0,03 điểm phần trăm và thủy sản tăng 8,45% so với cùng kỳ, đóng góp 0,11 điểm phần trăm); khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 9.246,8 tỷ đồng, tăng 95,61% so với cùng kỳ, đóng góp 28,39 điểm phần trăm (Trong đó: Công nghiệp tăng 149,66% so với cùng kỳ, đóng góp 28,74 điểm phần trăm và xây dựng giảm 3,3% so với cùng kỳ, đóng góp -0,35 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ ước đạt 7.036 tỷ đồng, tăng 5,61% so với cùng kỳ, đóng góp 2,35 điểm phần trăm và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 1.613,6 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ, đóng góp 1,12 điểm phần trăm. Như vậy, nguyên nhân chính làm cho GRDP 6 tháng đầu năm 2018 có tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu là do ngành công nghiệp tăng mạnh.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm phẩm trong tỉnh
6 tháng các năm 2016, 2017 và 2018

1.3. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế
- Đối với khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2018 đạt kết quả khá. Khu vực này tăng 5,54% và đóng góp 1,08 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung.
Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá là nguyên nhân chính làm cho tăng trưởng khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng so với cùng kỳ. Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp tăng 5,92%, làm tăng 1 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung GRDP. Nguyên nhân chính làm cho kết quả sản xuất nông nghiệp đạt khá đó là: Đối với hoạt động trồng trọt vụ Xuân được mùa khá toàn diện. Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa vụ Xuân ước tính đạt 55,75 tạ/ha, tăng 35,67% (tăng 14,66 tạ/ha) và sản lượng lúa ước đạt 329.694 tấn, tăng 36,3% (tăng 87.811 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, với việc năng suất lúa tăng (do vụ Xuân năm 2017 lúa bị bệnh đạo ôn cổ bông nên năng suất lúa giảm) là nguyên nhân chính tác động làm cho ngành nông nghiệp tăng so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, hoạt động chăn nuôi lợn trên địa bàn sau một thời gian giá lợn hơi giảm mạnh thì nay đã tăng mạnh trở lại nên người chăn nuôi đã phát triển đàn lợn trở lại.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp giảm, với mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2018 giảm 3,29%, đóng góp -0,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn giảm do sản lượng gỗ khai thác giảm mạnh. Nguyên nhân là cuối năm 2017 bị ảnh hưởng bởi bão số 10 đã làm cho nhiều diện tích rừng trồng bị gãy đỗ phải khai thác nên sang đầu năm 2018 diện tích khai thác giảm.
Đối với hoạt động sản xuất thủy sản thì 6 tháng đầu năm 2018 tăng 8,45%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Như vậy, sau hai năm xẩy ra sự cố môi trường biển thì hoạt động khai thác thủy hải sản đã sôi động trở lại. Từ đầu năm đến nay, những chuyến ra khơi của bà con ngư dân Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Nghi Xuân trúng đậm các mẻ cá lớn đưa lại nguồn thu nhập cao đã tạo động lực để bà con ngư dân tiếp tục ra khơi khai thác hải sản.
- Khu vực công nghiệp và xây dựng trong những năm qua luôn có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung. 6 tháng đầu năm 2018, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao 95,61%, đóng góp đến 28,39 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Đây chính là nguyên nhân chính tạo dự tăng trưởng kinh tế cao của địa phương trong 6 tháng đầu năm 2018.
Đối với ngành công nghiệp, 6 tháng đầu năm 2018 tăng 149,66%, đóng góp 28,74 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung, đây chính là nhân tố tác động chính vào tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2018. Bên cạnh một số sản phẩm vẫn giữ ổn định sản lượng sản xuất và có tăng nhẹ so với cùng kỳ như: Sản phẩm bia đóng lon ước đạt 29,5 triệu lít (tăng 2,38%), điện thương phẩm ước đạt 425,9 triệu Kwh (tăng 5,55%) ...thì một số sản phẩm đã có bước phát triển mạnh đó là dự án Fomosa 6 tháng đầu năm 2018 sản xuất ước đạt 1,1 triệu tấn than cốc (tăng 122,85%) và 1,7 triệu tấn thép (tăng 8,1 lần). Nhìn chung, dự án Fomosa trong thời gian qua đã đi vào sản xuất ổn định, đây là dự án lớn và có sự ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Với việc dự án Fomosa đưa vào vận hành thử nghiệm lò cao số 2 vào trung tuần tháng 5/2018 sẽ tiếp tục tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh trong thời gian tới.
Bên cạnh sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp thì kết quả hoạt động của ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2018 tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Tăng trưởng của ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2018 ước tính giảm 3,3% so với cùng kỳ, đóng góp -0,35 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Như vậy, mặc dù kết quả sản xuất ngành xây dựng có giảm nhưng tác động không đáng kể đến tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm 2018.
- Đối với khu vực dịch vụ nhìn chung ổn định so với cùng kỳ. Kết quả sản xuất của các ngành thương mại và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2018 dự ước đạt tốc độ tăng trưởng 5,61% so với cùng kỳ, đóng góp 2,35 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Nguyên nhân do nền kinh tế đang có xu hướng chững lại nên lượng tiền chi tiêu cho mua sắm hàng hóa trong dân tăng không lớn.
- Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP mà 6 tháng đầu năm 2018 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 12,5% so với cùng kỳ đã làm tăng 1,12 điểm phần trăm trong tổng mức tăng chung. Nguyên nhân do thu thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng như thuế giá trị gia tăng hàng sản xuất, kinh doanh trong nước và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước đều tăng so với cùng kỳ.
Tóm lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2018 trên địa bàn Hà Tĩnh đạt mức tăng cao nhất từ trước đến nay (tăng 32,94%). Khi mà dự án Fomosa đi vào sản xuất tạo ra sản phẩm mới thì sẽ có sự biến động tăng đột biến của chỉ tiêu GRDP. Nếu loại trừ yếu tố tăng sản phẩm thép của dự án Fomosa thì tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2018 của Hà Tĩnh chỉ đạt 12,65% (đóng góp của thép trong tăng trưởng chung là 20,29 điểm phần trăm). Như vậy, đóng góp từ sản phẩm thép của dự án Fomosa vào tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2018 là rất lớn. Thời gian tới, khi dự án Fomosa vận hành sản xuất lò cao số 2 sẽ tiếp tục tạo ra sự tăng trưởng mạnh đối với chỉ tiêu GRDP của Hà Tĩnh.
2. Tài chính, ngân hàng
2.1. Thu - chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh tính đến 20/6/2018 đạt 13.149,3 tỷ đồng, bằng 107,55% so với cùng kỳ năm trước và bằng 59,29% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa đạt 1.907,3 tỷ đồng, bằng 87,22% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31,79% dự toán năm; thu hải quan đạt 2.602,5 tỷ đồng, bằng 235,79% so với cùng kỳ năm trước và bằng 76,54% dự toán năm; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 6.693,9 tỷ đồng, bằng 109,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 76,28% dự toán năm. Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước đang gặp nhiều khó khăn, thu nội địa đang đạt thấp so với dự toán năm. Thời gian tới cần phải chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2018 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn.
Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tính đến ngày 20/6/2018 là 8.482,7 tỷ đồng, bằng 104,74% so với cùng kỳ năm trước và bằng 56,68% so với dự toán năm, trong đó: Chi cân đối ngân sách Nhà nước là 5.401,8 tỷ đồng, bằng 103,17% so với cùng kỳ năm trước và bằng 41,47% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 3.056,8 tỷ đồng, bằng 109,36% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số khoản trong chi cân đối ngân sách Nhà nước như sau: Chi đầu tư phát triển 2.112,6 tỷ đồng, bằng 101,08% so với cùng kỳ năm trước và bằng 61,43% so với dự toán năm; chi thường xuyên 3.289,2 tỷ đồng, bằng 104,55% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34,91% so với dự toán năm. Nhìn chung, việc điều hành và thực hiện dự toán chi NSĐP trong thời gian qua vẫn đảm bảo và đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên cũng như đột xuất của địa phương.
2.2. Hoạt động ngân hàng
6 tháng đầu năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.
- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý tính đến thời điểm 31/5/2018 đạt 44.742 tỷ đồng, tăng 7,35% so với đầu năm. Ước tính đến 30/6/2018, nguồn vốn huy động đạt 45.425 tỷ đồng, tăng 8,98% so với đầu năm. Nguồn vốn tiền gửi trung và dài hạn có xu hướng tăng giúp cho ngân hàng chủ động hơn trong công tác cho vay.
- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm nới lỏng hoạt động cho vay, do đó doanh số cho vay 5 tháng đầu năm 2018 đạt 29.830 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017.
Dư nợ cho vay đến ngày 31/5/2018 đạt 39.824 tỷ đồng, tăng 5,16% so với đầu năm. Ước tính đến 30/6/2018 tổng dư nợ đạt 40.750 tỷ đồng, tăng 7,6% so với đầu năm. Trong đó, doanh số cho vay các nhóm ưu tiên đến 31/5/2017 là 16.438 tỷ đồng, chiếm 51,09% tổng dư nợ, tăng 2,24% so với đầu năm.
- Chất lượng tín dụng: Đến 31/5/2018, nợ đủ tiêu chuẩn là 38.365 tỷ đồng, chiếm 96,41% tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 763 tỷ đồng, chiếm 1,92% tổng dư nợ và nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) là 663 tỷ đồng, chiếm 1,67% tổng dư nợ. Nợ xấu đang có xu hướng tăng so với đầu năm (đầu năm nợ xấu chiếm 1,36%).
- Kết quả dư nợ theo các chương trình: Trong 6 tháng đầu năm 2018, các tổ chức tín dụng đã cho vay 44 khách hàng thuộc đối tượng cho vay theo các quyết định hỗ trợ lãi suất của Chính phủ và UBND tỉnh với doanh số cho vay là 15,91 tỷ đồng. Tiền lãi phải hỗ trợ cho các khách hàng theo các quyết định hỗ trợ lãi suất từ đầu năm đến nay là 4,4 tỷ đồng. Lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.693 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là hơn 43 nghìn khách hàng, số lãi được hỗ trợ (chưa bao gồm lãi hỗ trợ lãi suất theo Nghị định 67) là hơn 348 tỷ đồng.
Đến 31/5/2018, các ngân hàng đã cho vay đối với 11 chủ tàu theo Nghị định 67 với dư nợ đạt 162,62 tỷ đồng, đã thu nợ được 8,73 tỷ, dư nợ đến thời điểm hiện tại là 153,11 tỷ đồng. Các ngân hàng cũng đã cho vay đối với 1.027 khách hàng theo Nghị quyết 02 với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm 31/5/2018 là hơn 370 tỷ đồng.
- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng, hoạt động quản lý ngoại hối và vàng; công tác cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nghiêm túc tại các ngân hàng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và các hoạt động khác diễn ra an toàn và hiệu quả.
3. Đầu tư và xây dựng
3.1. Đầu tư phát triển
Ước tính vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành đạt 14.812,07 tỷ đồng, giảm 3,08% so với cùng kỳ năm trước và bằng 48,62% GRDP.
Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 6 tháng đầu năm

6 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nguồn vốn Nhà nước giảm 29,29% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 7,2%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 47,03%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 39,06%); còn xét theo khoản mục đầu tư, thì nguồn vốn tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 86,29%).
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng năm 2018 tăng khá, ước đạt 1.585,21 tỷ đồng, tăng 10,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Trung ương quản lý ước đạt 89,3 tỷ đồng, giảm 0,89%; vốn địa phương quản lý ước đạt 1.495,91 tỷ đồng, tăng 11,51%.
Vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đầu năm

Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, 6 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung vốn đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép Formosa, phần lớn là xây dựng khu phụ trợ, phục vụ hoạt động sản xuất chính thức và Cảng nước sâu Sơn Dương Formosa nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng giảm. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 251,1 triệu USD, giảm 21,68% so với cùng kỳ năm 2017.
Trong khi nguồn vốn đầu tư của khu vực Nhà nước và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài sụt giảm so với cùng kỳ thì nguồn vốn ngoài nhà nước lại có mức tăng khá 18,99% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 39,06% tổng vốn đầu tư 6 tháng đầu năm. Đây là nguồn vốn đầu tư phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực dân cư.
3.2. Xây dựng
6 tháng đầu năm 2018, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài tiến độ triển khai chậm, riêng dự án Khu liên hợp Gang thép và Cảng Sơn Dương Formosa cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 nên vốn đầu tư giảm mạnh và chủ yếu đầu tư vào máy móc thiết bị. Tuy nhiên, xây dựng khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng mạnh nên dẫn đến giá trị xây dựng toàn tỉnh tăng so với cùng kỳ năm trước, nhưng chỉ tăng nhẹ với mức tăng 3,08% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở xây dựng khu vực dân cư (tăng 32,35%) và khu vực ngoài nhà nước (tăng 5,14%). Riêng xây dựng khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, lần lượt giảm 63,08% và 66,89%.
4. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 6/2018 ước tính tăng 181,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,29%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,04 lần; sản xuất và phân phối điện tăng 11,89%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,87%. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng cả ở 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó chủ yếu tăng mạnh ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Tính chung 6 tháng, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 170,86% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn mức tăng của 5 tháng đầu năm (chung 5 tháng tăng 168,27%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 259,09%, đóng góp 158,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 36,2%, đóng góp 12,68 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 18,6%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3,39%, làm giảm 0,09 điểm phần trăm.
Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp
6 tháng đầu năm 2016, 2017, 2018

6 tháng đầu năm 2018, hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa (tập trung chủ yếu là sản phẩm thép), nếu loại trừ ảnh hưởng của các sản phẩm than cốc, thép, điện sản xuất từ Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh thì chỉ số sản xuất ước tính 6 tháng tăng 14,43% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,19%; sản xuất và phân phối điện tăng 24,35%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2018 giảm 0,48% so với tháng trước và tăng 3,99 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,03 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 7,85 lần; In, sao chép các bản ghi các loại tăng 85,12%; sản xuất than cốc tăng 65,83%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 60,64%; chế biến thực phẩm giảm 70,14%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2018 tăng 39,92% so với tháng trước và tăng 89,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 12,35 lần; than cốc tăng 3,18 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 275,26%; ngành dệt tăng 268,69%; sản xuất từ sản phẩm cao su và plastic tăng 158,48%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2018 giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng tăng 16,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,81%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 26,03%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,96%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 6 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
5.1. Tình hình đăng ký kinh doanh
6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh thành lập mới 495 doanh nghiệp, tăng 2,9% (tăng 14 doanh nghiệp); số vốn đăng ký đạt 3.553 tỷ đồng, tăng 28,2% (tăng 781 tỷ đồng) so với cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân đạt 7,2 tỷ đồng/doanh nghiệp.
Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 22/6/2018 là 147 doanh nghiệp, tăng 15,75% (tăng 20 doanh nghiệp) so cùng kỳ năm trước và có 72 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, tăng 9,1% (tăng 6 doanh nghiệp) so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong 6 tháng đầu năm 2018 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng.
5.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý II năm 2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 80% DN đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 37,78% khẳng định SXKD tốt lên, 42,22% khẳng định giữ ổn định); 20% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý III so với quý II năm 2018, có 75,55% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh quý III tốt hơn và giữ ổn định so với quý II (trong đó 31,11% số doanh nghiệp dự báo tốt lên, 44,44% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 24,44% số doanh nghiệp khó khăn hơn.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 62,22% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 53,33% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 42,22% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 53,33% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II/2018, có 46,67% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý I/2018; 17,78% giảm đi; có 34,21% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 20,93% giảm đi; 83,33% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 22,22% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy) và 31,11% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm (ngành có tỷ lệ lớn DN giảm tồn kho nguyên vật liệu là sản xuất đồ uống, dệt, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy); 2,22% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 4,44% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý III so quý II có 29,91% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 21,43% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 20% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 20% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.
Đánh giá về biến động lao động quý II/2018 so với quý I/2018, có 93,33% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 6,67% khẳng định tăng lên, 86,67% khẳng định giữ ổn định) và 6,67% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý III so với quý II vẫn duy trì tỷ lệ như quý II so với quý I, điều đó khẳng định các doanh nghiệp hoạt động khá ổn định và không có nhu cầu tăng thêm lao động hoặc giảm lao động do gặp khó khăn trong sản xuất.
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Với việc vụ Xuân 2018 được mùa khá toàn diện; giá lợn đang có xu hướng tăng trở lại; hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản hải sản thuận lợi là những yếu tố cơ bản giúp cho khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản 6 tháng đầu năm 2018 đạt được mức tăng trưởng khá, với mức tăng 5,54% so với cùng kỳ năm 2017 và đóng góp 1,08 điểm phần trăm trong mức tăng trưởng chung.
6.1. Sản xuất nông nghiệp
- Trồng trọt:
Sản xuất vụ Đông Xuân năm nay trong điều kiện thời tiết thuận lợi nên kết quả đạt được là khá toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng, cụ thể như sau:
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2017-2018 sơ bộ đạt 102.065 ha, bằng 101,62% (tăng 1.627 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng diện tích lúa, ngô và rau các loại, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa sơ bộ đạt 59.143 ha, bằng 100,47% (tăng 277 ha); diện tích ngô sơ bộ đạt 7.876 ha, bằng 137,77% (tăng 2.159 ha); diện tích khoai lang sơ bộ đạt 3.099 ha, bằng 90,9% (giảm 310 ha); diện tích lạc sơ bộ đạt 13.081 ha, bằng 89,92% (giảm 1.466 ha) và diện tích rau các loại sơ bộ đạt 9.619 ha, bằng 115,56% (tăng 1.295 ha). Như vậy, diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 67.019 ha, bằng 103,77% (tăng 2.436 ha) so với cùng kỳ. Các địa phương có diện tích lúa vụ Xuân tăng như: Hương Khê tăng 163 ha, Hương Sơn tăng 70,7 ha, Nghi Xuân tăng 69,7 ha...
Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa vụ Xuân đạt 55,75 tạ/ha, bằng 135,67% (tăng 14,66 tạ/ha) và sản lượng lúa đạt 329.694 tấn, bằng 136,3% (tăng 87.811 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, diện tích gieo trồng lúa tăng 277 ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 1.516 tấn và năng suất lúa tăng 14,66 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 86.295 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ năng suất lúa tăng cao so với cùng kỳ là do vụ Xuân năm 2017 lúa bị bệnh đạo ôn cổ bông nên năng suất đạt thấp. Vụ Xuân năm nay năng suất lúa của tất cả các địa phương trong tỉnh đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó các địa phương có năng suất lúa tăng mạnh như: Nghi Xuân tăng 31,7 tạ/ha, Hương Sơn tăng 24,18 tạ/ha, Thành phố Hà Tĩnh tăng 20,94 tạ/ha, Thạch Hà tăng 19,37 tạ/ha, Lộc Hà tăng 17,78 tạ/ha,...
Theo kết quả sơ bộ, năng suất và sản lượng các loại cây trồng khác so với cùng kỳ năm 2017 cụ thể như sau: Năng suất ngô đạt 39,78 tạ/ha, bằng 99,98% (giảm 0,01 tạ/ha). Sản lượng ngô đạt 31.328 tấn, bằng 137,74% (tăng 8.584 tấn). Năng suất khoai lang đạt 71,84 tạ/ha, bằng 105,67% (tăng 3,85 tạ/ha). Sản lượng khoai lang đạt 22.263 tấn, bằng 96,05% (giảm 915 tấn). Năng suất lạc đạt 25,71 tạ/ha, bằng 108,35% (tăng 1,98 tạ/ha). Sản lượng lạc đạt 33.626 tấn, bằng 97,43% (giảm 887 tấn). Năng suất rau các loại đạt 66,36 tạ/ha, bằng 101,85% (tăng 1,21 tạ/ha). Sản lượng rau các loại đạt 63.830 tấn, bằng 117,7% (tăng 9.600 tấn). Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2017-2018 đối với các loại cây trồng khác năng suất đều tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng ngô và lạc giảm so với cùng kỳ.
Tình hình sâu bệnh năm nay tuy có xẩy ra nhưng gây thiệt hại không đáng kể. Trên cây lúa thì bệnh đạo ôn lá xuất hiện rải rác trên các giống lúa Xi23, NX30, P6, VTNA6 tại Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 15-20% với diện tích nhiễm bệnh là 2.054,8 ha, trong đó có 80,9 ha nhiễm nặng. Bệnh đạo ôn cổ bông gây hại trên giống TH3-3, KD18, VTNA2, Xi23, BT09 với diện tích nhiễm 32,7 ha. Bệnh khô vằn với tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh là 2.560 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Trên cây lạc thì bệnh lỡ cổ rễ gây hại với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích bị nhiễm bệnh là 16 ha, phân bố tại các địa phương như: Thạch Hà, Lộc Hà, Kỳ Anh,...Trên cây ngô bệnh đốm lá nhỏ với tỷ lệ nhiểm bệnh 3-5%, nơi cao 10-15%, diện tích bị nhiểm bệnh là 20 ha. Sâu đục thân, đục bắp mật độ trung bình 1-2con/m2, nơi cao 2-4 con/m2. Đối với cây ăn quả có múi bệnh nứt thân xì mủ gây hại tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 7%, diện tích nhiễm bệnh là 28ha, tập trung ở Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê… Nhóm nhện gây hại lá xuất hiện với tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm bệnh là 32 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang...
Lấy phương châm “ăn chắc”, né tránh thiên tai, kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh trong sản xuất vụ Hè Thu 2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã định hướng sản xuất trên diện tích hơn 59.200 ha, trong đó có 44.369 ha lúa vụ Hè Thu, 790 ha lúa vụ Mùa, còn lại là các loại cây trồng cạn. Vụ Hè Thu 2018, cơ cấu sử dụng nhóm giống lúa chủ lực có thời gian sinh trưởng dưới 115 ngày, gồm: PC6, TH3-3, XM12, VTNA2, TH3-5, KD ĐB, KD18, HT1, Nếp 98, Nếp 87. Ngoài ra, tiếp tục sản xuất khu vực hóa một số giống (SV181, Kim cương 111, VTNA6), sản xuất thử giống BQ, Lam sơm 8…Tính đến ngày 15/6/2018 toàn tỉnh đã gieo cấy ước đạt 37.757 ha lúa, bằng 85,1% kế hoạch (kế hoạch là 44.369 ha), trong đó diện tích lúa gieo thẳng là 36.220 ha, lúa cấy là 1.537 ha. Như vậy, theo khung lịch thời vụ thì đến ngày 15/6 các địa phương trong tỉnh phải hoàn thành gieo cấy lúa vụ Hè Thu nhưng kết quả thực hiện thì vẫn chưa đạt kế hoạch đặt ra. Kết quả gieo cấy lúa vụ Hè Thu 2018 ở một số địa phương cụ thể như sau: Thành phố Hà Tĩnh 650 ha, Thị xã Hồng Lĩnh 530 ha, Hương Sơn 2.050 ha, Đức Thọ 4.100 ha, Nghi Xuân 440 ha, Can Lộc 7.767 ha, Thạch Hà 6.000 ha, Cẩm Xuyên 8.600 ha; huyện Kỳ Anh 4.300 ha và Lộc Hà 1.100 ha...Bên cạnh sản xuất gieo cấy lúa vụ Hè Thu thì các địa phương cũng đang làm đất gieo trồng một số cây hoa màu khác như đậu, vừng...
Tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 28.791 ha, bằng 102,74% so với cùng kỳ năm trước (tăng 768 ha). Trong đó: Diện tích cây ăn quả ước tính là 15.853 ha, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,01% (tăng 1.175 ha) với sản lượng thu hoạch ước đạt 30.890 tấn, bằng 102,22% (tăng 672 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cùng với phát triển mở rộng diện tích trồng cây ăn quả là việc đưa vào các loại giống có năng suất cao cho nên sản lượng cây ăn quả đã tăng hơn so với cùng kỳ. Diện tích cây cao su ước đạt 9.479 ha, bằng 95,33% (giảm 464 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cao su ước đạt 1.872 tấn, bằng 99,48% (giảm 10 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè búp ước đạt 1.095 ha, bằng 108,31% (tăng 84 ha), với sản lượng chè búp ước đạt 5.146 tấn, bằng 102,92% (tăng 146 tấn) và diện tích chè xanh ước đạt 1.685 ha, bằng 95,52% (giảm 79 ha), với sản lượng chè xanh ước đạt 10.712 tấn, bằng 98,79% (giảm 131 tấn) so với cùng kỳ năm trước.
- Chăn nuôi: Số lượng đàn vật nuôi ước tính hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 75.861 con, bằng 91,73%, giảm 6.840 con. Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 196.206 con, bằng 91,24%, giảm 18.833 con. Tổng đàn lợn có 434.883 con, bằng 110,74%, tăng 42.181 con. Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.084 ngàn con, bằng 102,67%, tăng 210 ngàn con.
6 tháng đầu năm 2018, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 2.476 tấn, bằng 91,06%, giảm 243 tấn; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 6.003 tấn, bằng 95,12%, giảm 307 tấn; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 36.897 tấn, bằng 89,73%, giảm 4.223 tấn; sản lượng gia cầm ước đạt 8.533 tấn, bằng 109,22%, tăng 721 tấn.
Tình hình chăn nuôi gia súc trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2018 vẫn đang gặp nhiều khó khăn, sản lượng xuất chuồng giảm so với cùng kỳ năm trước. Dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty Cổ phần chăn nuôi Bình Hà là Dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi ở Hà Tĩnh tính đến thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, năm 2018 dự án này hoạt động cầm chừng không đạt được kết quả như mong đợi, việc xuất nhập bò không diễn ra thường xuyên với số lượng bò ngày càng giảm. Chăn nuôi bò của Công ty Mitraco hiện có 2 cơ sở nuôi tại huyện Kỳ Anh và huyện Cẩm Xuyên nhưng do thị trường tiêu thụ sản phẩm khó khăn, giá cả thấp nên công ty cũng đang tạm dừng liên kết với các hợp tác xã và hộ dân. Tình hình chăn nuôi lợn cũng đang gặp rất nhiều khó khăn do giá lợn hơi giảm mạnh trong thời gian vừa qua. Khu vực bị ảnh hưởng và gặp nhiều khó khăn nhất là hộ gia đình và gia trại vì đây là các khu vực có nguồn vốn không nhiều lại bị thua lỗ nặng nên khó để tiếp tục tái đàn. Tổng số trang trại chăn nuôi lợn hiện nay còn có 205 trang trại, bằng 95,79% (giảm 9 trang trại) và số lượng gia trại chăn nuôi lợn hiện nay chỉ còn có 1.130 gia trại, bằng 58,1% (giảm 815 gia trại) so với cùng kỳ năm trước. Các mô hình chăn nuôi lớn như trang trại, hợp tác xã/doanh nghiệp một số vẫn cầm chừng được nhưng một số phải giảm quy mô chăn nuôi xuống còn 50% quy mô trước đây. Hiện nay, giá lợn hơi đã tăng trở lại với mức giá trên 50 ngàn đồng/kg nên hoạt động chăn nuôi lợn trong thời gian tới sẽ tăng trở lại.
- Tình hình dịch bệnh:
Mặc dù đã tăng cường công tác quản lý kiểm soát, kiểm tra vệ sinh thú y, phòng chống dịch cho vật nuôi. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2018 cũng đã xẩy ra dịch lỡ mồm long móng làm cho 215 con gia súc mắc bệnh (28 con trâu, 107 con bò và 80 con lợn), trong đó có 80 con lợn buộc phải tiêu hủy. Dịch xẩy ra ở các địa phương: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà và Lộc Hà.
Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 133.758 liều, đạt 71,6% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 119.360 liều, đạt 64,6% kế hoạch; dịch tả lợn 133.565 liều, đạt 55,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 118.836 liều, đạt 49,2% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 103.496 liều, đạt 66,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 577.421 liều, đạt 20,1% kế hoạch.
6.2. Lâm nghiệp
- Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong 6 tháng đầu năm 2018, cùng với việc hưởng ứng Tết trồng cây nhân dịp Xuân Mậu Tuất nên toàn tỉnh dự ước trồng được 2.844 ha rừng tập trung, bằng 107,58%, tăng 200 ha và 2.717 ngàn cây phân tán, bằng 99,52%, giảm 13 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng trồng chủ yếu ở các địa phương: Huyện Kỳ Anh 1.323 ha, Cẩm Xuyên 580 ha, Hương Sơn 260 ha, Hương Khê 135 ha, Thạch Hà 107 ha...Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng vẫn được duy trì thực hiện. Diện tích rừng được chăm sóc là 18.500 ha, bằng 101,4% (tăng 256 ha); diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 16.383 ha, bằng 71,57% (giảm 6.507 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 175.979 ha, bằng 86,73% (giảm 26.930 ha). Nguyên nhân diện tích rừng được giao khoán bảo vệ giảm do nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện giảm.
- Khai thác gỗ và lâm sản: 6 tháng đầu năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 108.964 m3 gỗ, bằng 81,71% (giảm 24.397 m3) so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 282.717 Ste củi, bằng 88,6%, giảm 36.380 Ste so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Hương Sơn 36.500 m3, Cẩm Xuyên 26.146 m3, huyện Kỳ Anh 12.825 m3, Hương Khê 11.473 m3, Thạch Hà 5.375 m3, Thị xã Kỳ Anh 5.163 m3...Bên cạnh đó, một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt thấp như: Nghi Xuân 254 m3, Đức Thọ 493 m3, Lộc Hà 696 m3 ...
- Thiệt hại rừng: 6 tháng đầu năm 2018 đã thực hiện tốt công việc bảo vệ và phòng chống cháy rừng nên không có thiệt hại về rừng xẩy ra.
6.3. Thủy sản
6 tháng đầu năm 2018, diện tích xuống giống thả nuôi ước đạt 6.672 ha, bằng 109,27%, tăng 566 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi trồng nước ngọt ước đạt 4.049 ha, bằng 106,38%, tăng 243 ha; diện tích nuôi trồng nước lợ ước đạt 2.266 ha, bằng 117,84%, tăng 343 ha và diện tích nuôi trồng nước mặn ước đạt 357 ha, bằng 94,69%, giảm 20 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng diện tích thả nuôi do năm nay điều kiện thời tiết không có rét đậm rét, rét hại nên diện tích nuôi trồng nước ngọt và nước lợ tăng so với cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng nước ngọt chủ yếu thả nuôi trong quý I/2018, còn diện tích nước lợ và nước mặn được thả giống đại trà vào đầu quý II/2018.
Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 19.989 tấn, bằng 108,62%, tăng 1.586 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước đạt 14.976 tấn, bằng 107,66%, tăng 1.066 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 5.013 tấn, bằng 111,57%, tăng 520 tấn so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất thủy sản đã ổn định và có bước tăng trưởng sau hai năm xẩy ra sự cố môi trưởng biển. Đây tiếp tục là tín hiệu tích cực đối với hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
6 tháng đầu năm 2018, số lượng giống thủy sản sản xuất ước đạt 368 triệu con, tăng 27 triệu con so với cùng kỳ năm 2017. Hiện nay trên địa bàn có hai cơ sở sản xuất con giống thủy sản lớn đó là: HTX nuôi trồng thuỷ sản Tuấn Linh ở Thị xã Kỳ Anh ước đạt 23 triệu con giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng; Công ty TNHH Thông Thuận ở huyện Nghi Xuân ước đạt 320 triệu con giống tôm thẻ chân trắng. Sản xuất con giống thủy sản trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu người nuôi. Vì vậy, số lượng con giống chủ yếu vẫn được nhập về từ tỉnh khác như: Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Bến Tre...
6 tháng đầu năm 2018, đã xuất hiện dịch bệnh tôm bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính tại các địa phương (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh) với diện tích bị nhiểm bệnh là 24,57 ha. Cùng với đó, trong tháng 4/2018 cũng đã xẩy ra hiện tượng cá, mực nuôi của các hộ kinh doanh hải sản chết hàng loạt ở Thị xã Kỳ Anh. Nguyên nhân được xác định là do ngạt khí bởi các nhà thầu đang thi công cầu cảng số 3,4 tại cảng Vũng Áng tạo nên một vòng cung khép kín khiến cho nước biển không được lưu thông làm cá thiếu ôxi dẫn đến chết ngạt.
7. Thương mại, dịch vụ và giá cả
7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 6/2018 đạt 2.942,04 tỷ đồng, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 196,8 tỷ đồng, tăng 35,36% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.741,85 tỷ đồng, tăng 10,49%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,4 tỷ đồng. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế nhà nước, tăng 35,36%; tiếp đến là kinh tế tập thể tăng 32,35%. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 3,29 lần; văn phẩm văn hóa, giáo dục ước tăng 23,47%; lương thực, thực phẩm ước tăng 14,54%; đá quý, kim loại quý ước tăng 17,17%; sữa chữa xe có động cơ ước tăng 16,41%. Trong các nhóm hàng, chỉ có hàng hóa khác giảm 6,85% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 17.063,87 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.160,97 tỷ đồng, tăng 27,79%; ngoài Nhà nước ước đạt 15.889,43 tỷ đồng, tăng 9,77% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 13,47 tỷ đồng.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 6.327,85 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,82%, tăng 12,83% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 2.271,98 tỷ đồng, chiếm 13,31%, tăng 2,44% so với cùng kỳ. Đặc biệt là nhóm ô tô ước đạt 890,28 tỷ đồng, với mức tăng cao nhất 239,57% so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu mua sắm loại phương tiện này đang có xu hướng tăng cùng với đầu năm 2018 chính sách giảm thuế xe ô tô vào các nước Asean bắt đầu có hiệu lực nên thị trường có phần sôi động hơn.
- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2018 ước đạt 509,09 tỷ đồng, tăng 14,67% so tháng trước và tăng 12,42% so cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 6/2018

Như vậy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2018 tiếp tục tăng so với tháng trước và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: lưu trú tăng 19,28%, ăn uống tăng 14,41% và du lịch lữ hành tăng 1,85%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.155,81 tỷ đồng, tăng 10,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 136,4 tỷ đồng, tăng 8,58%; ăn uống ước đạt 2.011,31 tỷ đồng, tăng 10,13%; lữ hành và hỗ trợ du lịch ước đạt 8,1 tỷ đồng, tăng 21,24%. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 6 tháng năm 2018 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do du lịch biển đã thu hút được nhiều khách trong và ngoài tỉnh tham quan nghỉ mát, kéo theo lượng khách đến thuê phòng nghỉ cũng tăng. Ngoài ra, còn có nhiều đoàn khách ra vào khu nghỉ mát Quỳnh Viên-Thạch Hà, khu du lịch Vinpearl Cửa Sót Lộc Hà, Kỳ Xuân C-resort - huyện Kỳ Anh nên đã làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.
- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 6/2018 ước đạt 102,92 tỷ đồng, tăng 2,87% so với tháng trước và tăng 5,42% so cùng kỳ năm 2017. Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 6/2018 tăng so với tháng trước, nhưng chỉ với mức tăng nhẹ và tăng đều ở cả 3 khu vực kinh tế. Đây là tháng cao điểm của mùa du lịch Biển nên lượng khách đến tham quan nghỉ mát tăng dẫn đến các hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí tăng; cùng với doanh thu các nhóm dịch vụ y tế, dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ khác đều có xu hướng tăng. Tất cả các yếu tố này đã tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác tăng so với tháng trước.
Tính chung 6 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 595,91 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 22,32%; dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 7,47%; dịch vụ khác ước tăng 6,31%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác 6 tháng đầu năm 2018 cũng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ.
7.2. Hoạt động vận tải
Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 6/2018 ước đạt 2,52 triệu tấn (giảm 4,4%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 62,93 triệu tấn.km (giảm 3,66%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 216,93 tỷ đồng, giảm 1,3%. Tuy vận tải hàng hóa khu vực kinh tế cá thể tăng, nhưng vận tải hàng hóa khối doanh nghiệp và vận tải hàng hóa đường sông cũng có xu hướng giảm đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa giảm.
Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 6/2018 ước đạt 1,93 triệu lượt hành khách (tăng 0,79%), với khối lượng luân chuyển là 349,48 triệu lượt hành khách.km (tăng 1,73%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 151,77 tỷ đồng, tăng 2,61%. Do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải công cộng như xe buýt, taxi của người dân tăng. Mặt khác, là tháng bắt đầu kỳ nghỉ hè của học sinh, nên nhu cầu đi du lịch gia đình tăng, tác động đến việc khách du lịch tham gia phương tiện vận tải hoặc thuê xe du lịch tăng, những điều đó đã làm cho kết quả vận tải hành khách tăng so với tháng trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 16,05 triệu tấn (tăng 3,94%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 395,04 triệu tấn.km (tăng 4,26%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 1.341,55 tỷ đồng, tăng 6,72%. Còn số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11,64 triệu lượt hành khách (tăng 8,73%), với khối lượng luân chuyển là 2.024,52 triệu lượt hành khách.km (tăng 11,19%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 874,31 tỷ đồng, tăng 11,7%. 6 tháng đầu năm 2018, hoạt động vận tải tuy gặp một số khó khăn do yếu tố chi phí nhiên liệu tăng giá so với cùng kỳ năm trước nhưng kết quả đạt được vẫn tăng so với cùng kỳ. Cùng với hoạt động vận tải hành khách thì với việc dự án Formosa đưa vào vận hành cả 2 lò cao sẽ làm tăng khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Đây chính là yếu tố để hoạt động vận tải hàng hóa trong thời gian tới tiếp tục đạt được kết quả tích cực hơn.
7.3. Chỉ số giá tiêu dùng
6 tháng đầu năm 2018, với sự ảnh hưởng của giá dầu thô thế giới liên tục tăng, hiện đã vượt ngưỡng 100 USD/thùng dầu, đã đẩy giá xăng, dầu diezel trong nước tăng liên tục với biên độ mỗi lần điều chỉnh ngày càng cao; cùng với việc điều chỉnh giá điện và nước sạch đã gây nhiều sức ép đến chi phí sản xuất và chi phí vận tải, tác động đến giá cả các nhóm mặt hàng tiêu dùng. Giá ngoại tệ cũng có xu hướng tăng, dẫn đến sức ép về giá đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu trong nước.
CPI tháng 6 năm 2018, tăng 0,36% so tháng trước, tăng 5,49% so cùng tháng năm trước và tăng 2,13% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,3% và khu vực nông thôn tăng 0,4%.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,94%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,2%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%; giao thông tăng 0,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,71%.
Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm so với tháng trước: May mặc, dày dép và mũ nón giảm 0,71%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 1,32%; bưu chính viễn thông giảm 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,12%.
Các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.
Chỉ số giá vàng giảm 0,94% so tháng trước, tăng 3,24% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,13% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng giảm so tháng trước với mức giá hiện tại thời điểm ngày 22/6/2018 ở mức 3,64 triệu đồng/chỉ tại thành phố Hà Tĩnh. Bình quân giá vàng trong tháng là 3,625 triệu đồng/chỉ.
Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,38% so tháng trước, tăng 0,92% so cùng kỳ năm trước và tăng 0,57% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh mức giá bán ra 2,289 triệu đồng/100USD.
CPI tháng 6 năm 2018 biến động tăng so với tháng trước chủ yếu do: (1) Giá xăng dầu bình quân tăng so tháng trước; (2) Giá thực phẩm tiếp tục tăng, đặc biệt là giá mặt hàng từ thịt lợn, bình quân các mặt hàng thịt lợn đều tăng từ 10.000-15.000 đồng/kg; (3) Giá điện, nước sinh hoạt tăng do khối lượng tiêu thụ tăng. Đặc biệt là tổng tiền điện sinh hoạt tăng bình quân từ 50-80% tuỳ từng khu vực so với tháng trước.
Dự kiến CPI tháng 7/2018 tiếp tục tăng so với tháng 6/2018. Nguyên nhân, do giá thịt lợn tiếp tục tăng; cùng với việc điều chỉnh lương cơ bản của những đối tượng hưởng lương từ ngân sách dự kiến sẽ gây ra ảnh hưởng tâm lý, tác động đến giá cả hàng hoá tiêu dùng tiếp tục tăng; tất cả những yếu tố này sẽ làm cho chỉ số giá tăng.
8. Các vấn đề xã hội
8.1. Tình hình đời sống dân cư
Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2018 có cải thiện hơn so với cùng kỳ. Hiện nay bà con nông dân đã thu hoạch lúa vụ Xuân năm 2018 nên lượng lương thực trong dân dồi dào. Cùng với sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói không xảy ra.
8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội
- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ngày 02/5/2018 về phân bổ kế hoạch vốn từ ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018 với tổng số vốn phân bổ là 58,7 tỷ đồng. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.
- Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai kịp thờ. Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 51.838 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 76.781 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 106.278 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 53.803 thẻ BHYT cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 228.112 suất quà với tổng kinh phí 54,327 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong dịp Tết UBND tỉnh đã cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ cho 5.740 hộ với 10.672 nhân khẩu để đảm bảo cho người dân không thiếu đói trong dịp Tết. Trao 45 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 182 triệu đồng; xây mới 59 nhà tình nghĩa, trị giá 2.491 triệu đồng và sữa chữa 40 nhà với tổng giá trị là 800 triệu đồng.
Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; trang trọng tổ chức an táng 12 hài cốt các liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Nầm vào sáng ngày 8/5/2018.
8.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm
Năm 2018, Hà Tĩnh tiếp tục ưu tiên thực hiện đào tạo nghề cho các đối tượng lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo; Đề án “Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường trên địa bàn Hà Tĩnh”. 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã đào tạo được 2.389 (cao đẳng nghề 37 người, trung cấp nghề 440 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới ba tháng 1.912 người). Giải quyết việc làm cho 10.735 người, tăng 5,71% so với cùng kỳ. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 4.769 người, tăng 15,42%; xuất khẩu lao động 3.184 người, giảm 7,98%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 2.782 người, tăng 8,54%.
8.4. Hoạt động giáo dục đào tạo
- Giáo dục phổ thông: Năm học 2017-2018, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã có 85/96 học sinh đạt giải (3 giải nhất, 28 giải nhì, 31 giải ba và 23 giải khuyến khích). Đặc biệt, có 9 em đạt thành tích xuất sắc nhất được gọi vào tham gia chọn đội dự tuyển dự thi quốc tế. Hà Tĩnh đứng thứ 3 về số lượng học sinh giỏi cấp quốc gia, đây là thành tích xuất sắc nhất từ trước đến nay. Trong năm học 2017-2018, toàn tỉnh cũng đã có 2.319 em đạt học sinh giỏi tỉnh (216 giải nhất, 520 giải nhì, 794 giải ba và 789 giải khuyến khích). Với kết quả đã đạt được, ngành giáo dục Hà Tĩnh vẫn giữ vững vị trí là một trong những tỉnh thuộc tốp dẫn đầu của cả nước về chất lượng giáo dục mũi nhọn.
Số lượng học sinh đến cuối năm học vẫn ổn định. Tổng số cháu đi mầm non là 89.250 cháu, số học sinh tiểu học là 103.228 học sinh, số học sinh trung học cơ sở là 75.440 học sinh và số học sinh trung học phổ thông là 43.377 học sinh.
Công tác chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 đã được tiến hành đảm bảo các nội dung. Năm nay, cụm thi Hà Tĩnh được tổ chức ở 34 điểm thi do Sở Giáo dục Đào tạo chủ trì, với hơn 900 cán bộ, giáo viên của các đơn vị phối hợp (Học viện thanh thiếu niên; Đại học Kinh tế quốc dân; Đại học Hà Tĩnh) được tăng cường làm nhiệm vụ coi thi ở Hà Tĩnh. Đến thời điểm hiện tại, cụm thi Hà Tĩnh có tổng số 16.401 thí sinh đăng ký dự thi (bao gồm 911 thí sinh tự do), trong đó: Môn Toán có 16.279, Vật lý 5.227, Hóa học 5.272, Sinh học 5.088, Ngữ văn 15.981, Lịch sử 12.135, Địa lý 11.929, Giáo dục công dân 10.715 thí sinh đăng ký. Số thí sinh đăng ký thi tổ hợp khoa học tự nhiên là 3.878 em, đăng ký bài thi KHXH là 10.678 em. Để đảm bảo các điều kiện phục vụ kỳ thi, các nhà trường cũng đã rà soát lại cơ sở vật chất và tiến hành tu sửa kịp thời. Dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo kỳ thi, các ngành liên quan như công an, thanh niên tình nguyện, y tế…đã vào cuộc, chuẩn bị lực lượng thực hiện công tác hỗ trợ kỳ thi. Ban chỉ đạo kỳ thi cũng đã giao cho các nhà trường rà soát và xây dựng kế hoạch cụ thể tham mưu việc hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên tinh thần không để học sinh bỏ thi; xây dựng phương án ăn ở, đi lại cho cán bộ, giáo viên các trường đại học về làm nhiệm vụ coi thi tại Hà Tĩnh. Có thể khẳng định, đến thời điểm hiện nay, cụm thi THPT quốc gia tại Hà Tĩnh đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị.
- Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2018-2019 là 2.450 chỉ tiêu (so với năm học 2017-2018 giảm 3%). Cụ thể: Trường Đại học Hà Tĩnh 1.250 chỉ tiêu (đại học 1.200 chỉ tiêu, cao đẳng 50 chỉ tiêu); các trường cao đẳng là 1.200 chỉ tiêu (cao đẳng 1.000 chỉ tiêu và hệ trung học chuyên nghiệp 200 chỉ tiêu).
8.5. Hoạt động Y tế
- Tình hình dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Trong tháng 4 và 5, dịch bệnh thủy đậu đã lây lan mạnh. Để khống chế, Trung tâm Y học dự phòng tỉnh đã phối hợp các Trạm Y tế phun Cloramin B khử trùng tại các điểm có dịch; đồng thời, hướng dẫn vệ sinh môi trường, tổ chức tuyên truyền cho các bậc phụ huynh và người dân các biện pháp phòng chống dịch bệnh. 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn Hà Tĩnh có 119 trường hợp mắc dịch thủy đậu, 02 trường hợp sốt xuất huyết, 143 trường hợp sốt rét và không có trường hợp nào bị tử vong do các loại dịch bệnh trên.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, thời gian qua Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn. Đồng thời, ngành Y tế tiếp tục giám sát, tư vấn, hỗ trợ về nhân sự, cách bố trí, tiêu chuẩn phòng xét nghiệm, hỗ trợ trang thiết bị cho các phòng xét nghiệm sàng lọc HIV tại 13 huyện, thị, thành phố nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm sàng lọc HIV. Đã đầu tư các trang thiết bị hiện đại như tủ an toàn sinh học, dàn ELISA, tủ lạnh âm sâu âm 40 - 860C và các trang thiết bị khác để phục vụ tốt công tác xét nghiệm. 6 tháng đầu năm 2018, Hà Tĩnh có 29 trường hợp nhiễm HIV, so với cùng kỳ năm trước không thay đổi; có 33 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, tăng 27%; có 01 trường hợp chết vì AIDS.
- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Để hướng tới một thị trường có thực phẩm an toàn, các cơ quan chức năng Hà Tĩnh đã vào cuộc với nhiều biện pháp quyết liệt, nhằm ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ATVSTP. Ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục tập trung vào công tác quản lý, chỉ đạo; thông tin tuyên truyền giáo dục; thanh tra liên ngành về an toàn thực phẩm; giám sát phát hiện sớm ca ngộ độc tực phẩm trong cộng đồng; điều tra, xử lý khắc phục vụ ngộ độc thực phẩm; bảo đảm vật tư, hóa chất, phương tiện phòng chống vụ ngộ độc thực phẩm. 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 650 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 31% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.
8.6. Hoạt động văn hóa - thể thao
- Hoạt động văn hóa: Nhân dịp xuân Mậu Tuất, nhiều nội dung mừng Đảng, mừng Xuân đã diễn ra trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã. Đêm giao thừa Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm nay, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức 2 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh. Bên cạnh đó, các đơn vị như: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới. Các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh; phản ánh đầy đủ, toàn diện không khí vui xuân, đón tết của nhân dân; tổ chức Hội báo xuân, triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018” tại khu di tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân.
Cùng với đó, đã tổ chức Đại lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh.
Với sự kiện "Hoàng Hoa sứ trình đồ" là tư liệu quý hiếm về hành trình đi sứ thế kỷ XVIII được lưu giữ cẩn thận chính trong dòng họ Nguyễn Huy của vị sứ thần Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) ở làng Trường Lưu nay thuộc xã Trường Lộc, huyện can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh được Hội nghị MOWCAP lần thứ 8 tại Hàn Quốc nhất trí ghi danh hồ sơ vào danh sách các di sản tư liệu của Chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã thêm một lần nữa vinh danh những giá trị văn hóa của Việt Nam, của Hà Tĩnh lên tầm quốc tế. Giá trị đó cần được chúng ta lưu giữ, bảo vệ và trao truyền cho thế hệ mai sau.
Trung tuần tháng 6 năm 2018, UBND 2 huyện Thạch Hà và Lộc Hà đã long trọng tổ chức Lễ đón bằng chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "lễ hội đền Chiêu Trưng". Đây là lễ hội văn hóa truyền thống nhân ngày chính kỵ húy nhật của danh tướng Lê Khôi vào dịp đầu tháng 5 âm lịch hàng năm, gồm phần lễ và hội.
- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. 6 tháng đầu năm 2018, đã đình chỉ 12 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.
- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh; giải bóng chuyền nam thanh niên tại huyện Cẩm Xuyên; giải quần vợt cúp truyền hình Hà Tĩnh lần thứ III; hội thao Công nhân, viên chức, lao động các công ty điện lực khu vực phía Nam thuộc Tổng công ty Điện lực Miền Bắc; Đại hội TDTT lần thứ VIII; giải bóng rổ thiếu niên nhi đồng lần thứ V...
Thể thao thành tích cao: 6 tháng đầu năm 2018, đoàn Hà Tĩnh dành được 17 huy chương các loại, bao gồm: 12 HCV, 3 HCB và 2 HCĐ.
8.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội
Với mục tiêu giảm TNGT tối thiểu 5% so với năm 2017, Ban ATGT tỉnh tổ chức ký kết tuyên truyền với 18 cơ quan, đơn vị và trường học trong toàn tỉnh nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT, lồng ghép trong hoạt động chuyên môn của từng đơn vị, qua đó nâng cao vai trò gương mẫu của mỗi cán bộ, hội viên...trong việc thực hiện pháp luật trật tự ATGT. Ban An toàn giao thông tỉnh Hà Tĩnh cũng đã tổ chức hội nghị tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2018 cho hơn 200 cán bộ làm công tác tham mưu, trực tiếp bảo đảm ATGT trong toàn tỉnh.
Tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/6/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 67 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 67 người và bị thương 30 người, thiệt hại tài sản ước tính 545 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2017 tăng 5 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 5 người chết và giảm 7 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.
8.8. Môi trường
- Tình hình cháy, nổ: 6 tháng đầu năm 2018, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 39 vụ cháy, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước tính thiệt hại về tài sản là 6,76 tỷ đồng. Trong đó: Cháy nhà dân 10 vụ; 9 vụ cháy đường dây điện; 20 vụ cháy khác. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn trong sử dụng lửa. Ngoài ra, còn xảy ra 2 vụ nổ, làm bị thương 8 người.
- Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu bảo đảm môi trường luôn xanh, sạch đẹp, Sở tài nguyên môi trường đã kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. 6 tháng đầu năm 2018, đã kiểm tra phát hiện 15 vụ và xử lý 12 cơ sở vi phạm môi trường, với số tiền 94,5 triệu đồng.
9. Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2018
Mặc dù kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2018 đạt và vượt kế hoạch đặt ra thì chúng ta không được chủ quan mà cần phải chú trọng thực hiện quyết liệt các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như có bước đột phá, đó là:
9.1. Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra cho cả năm 2018, với kết quả đã đạt được 6 tháng đầu năm phải tiếp tục xem xét đánh giá một cách cụ thể, khách quan đối với từng nội dung, từng ngành, từng lĩnh vực để từ đó có những giải pháp thực hiện có hiệu quả và sát đúng với tình hình thực tế của địa phương, nhất là đối với những nội dung, lĩnh vực còn nhiều hạn chế.
9.2. Tiếp tục tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Đẩy nhanh tiến độ sớm hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, xây dựng quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển.
9.3. Tiếp tục tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Quan tâm, tạo điều kiện và đồng hành cùng chủ đầu tư để sớm đưa các dự án lớn trên địa bàn và triển khai thực hiện và hoạt động sản xuất (Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II; hoạt động của lò cao số 2 dự án Fomosa…). Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.
9.4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Nhận định tốt tình hình để tập trung chỉ đạo có hiệu quả hoạt động sản xuất vụ Hè Thu 2018 và hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới, tránh thiệt hại cho người người nông dân do những yếu tố chủ quan.
9.5. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu 2018 vẫn diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà đã đạt được kết quả khá tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2018./.
Tin khác