TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI tình Hà Tĩnh Tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
Tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018
Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2018 trong điều kiện có những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2017, xu hướng phát triển tích cực 6 tháng đầu năm 2018, đặc biệt là sự đi vào hoạt động sản xuất ổn định của Dự án Fomosa Hà Tĩnh đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ cho ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước. Tuy nhiên, cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, chất đốt...tăng lên đã tạo nên sức ép lạm phát cũng đang tăng so với cùng kỳ; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; diễn biến thời tiết, thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn khó khăn; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban ngành, các địa phương quyết liệt thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, nhất là Nghị quyết số 68/2017/NQ-HĐND ngày 13/12/2017 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện để có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời hơn với tình hình thực tiễn. Nhờ đó, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Kết quả đạt được cụ thể của các ngành, các lĩnh vực như sau:
1. Tài chính, ngân hàng
1.1. Thu - chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 12.309 tỷ đồng, bằng 129,53% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,05% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa ước đạt 4.204 tỷ đồng, bằng 114,62% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,06% dự toán năm; thu hải quan ước đạt 4.342 tỷ đồng, bằng 218,52% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,04% dự toán (Trung ương mới giao thu bổ sung thêm 2.800 tỷ đồng). Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước vẫn còn gặp khó khăn. Đặc biệt, Tổng cục Hải quan vừa có Văn bản số 5132/TCHQ-TXNK giao bổ sung thu ngân sách nhà nước cho Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh với mức giao thu tăng thêm 2.800 tỷ đồng. Như vậy, chỉ tiêu được giao năm 2018 gần gấp đôi so với chỉ tiêu đầu năm (đầu năm Bộ Tài chính giao chỉ tiêu 3.100 tỷ đồng; HĐND tỉnh giao chỉ tiêu 3.400 tỷ đồng), trong khi chỉ còn hơn 3 tháng nữa là kết thúc năm tài chính ngân sách năm 2018 nên đây thực sự là một thách thức lớn đối với công tác thu ngân sách. Thời gian tới cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2018 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn.
Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2018 ước tính là 13.967 tỷ đồng, bằng 111,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chi cân đối ngân sách là 9.128 tỷ đồng, bằng 111,95% so với cùng kỳ năm trước và bằng 67,98% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 4.791 tỷ đồng, bằng 110,27% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số khoản chi như sau: Chi đầu tư phát triển 3.469 tỷ đồng, bằng 119,93% so với cùng kỳ năm trước và bằng 100,88% so với dự toán năm; chi thường xuyên 5.659 tỷ đồng, bằng 107,56% so với cùng kỳ năm trước và bằng 60,06% so với dự toán năm. Nhìn chung, việc điều hành và thực hiện dự toán chi NSĐP trong thời gian qua vẫn đảm bảo và đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên cũng như đột xuất của địa phương.
1.2. Hoạt động ngân hàng
9 tháng năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.
- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý tính đến thời điểm 10/9/2018 đạt 46.948 tỷ đồng, tăng 12,65% so với đầu năm. Ước tính đến 30/9/2018, nguồn vốn huy động đạt 47.345 tỷ đồng, tăng 13,6% so với đầu năm. Huy động vốn tăng trưởng tốt (8 tháng đầu năm tăng 11,34% so với đầu năm, ước 9 tháng tăng 13,6%), đặc biệt là nguồn vốn huy động từ dân cư (tăng hơn 14%); nguồn vốn trung, dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (chiếm 46,97%) và tăng 24,39% so với đầu năm. Nguồn vốn trung, dài hạn tăng đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động nguồn vốn và đầu tư cho vay dài hạn nhằm tạo điều kiện cho khách hàng mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm nới lỏng hoạt động cho vay, do đó doanh số cho vay 8 tháng đầu năm 2018 đạt hơn 49.000 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017.
Dư nợ cho vay đến ngày 10/9/2018 đạt 41.308 tỷ đồng, tăng 9,08% so với đầu năm. Ước tính đến 30/9/2018 tổng dư nợ đạt 41.682 tỷ đồng, tăng 10,06% so với đầu năm (tăng cao hơn 9 tháng đầu năm 2017: 8,52%).
- Dư nợ theo các chương trình: Trong 9 tháng năm 2018, số khách hàng được cho vay hỗ trợ lãi suất theo các quyết định của Chính phủ, của tỉnh là 59 khách hàng, với doanh số cho vay được hỗ trợ là 24,55 tỷ đồng, tiền lãi phải hỗ trợ cho các khách hàng đang hưởng chính sách là 7,13 tỷ đồng (lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.747 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là 40,42 ngàn lượt, số lãi được hỗ trợ là hơn 35,47 tỷ đồng). Triển khai Nghị định 67, tính đến ngày 31/8/2018 đã có 11 chủ tàu ký hợp đồng tín dụng với các ngân hàng thương mại với tổng hạn mức cho vay là 162,62 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm hiện tại 153,79 tỷ đồng. Nợ xấu chiếm 76,45% tổng dư nợ, trong đó có 9/11 chủ tàu phát sinh nợ xấu. Kết quả triển khai Nghị quyết 02/NQ-CP, các ngân hàng đã cho vay đối với 1.027 khách hàng với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng. Dư nợ đến thời điểm 31/8/2018 là hơn 358 tỷ đồng. Kết quả cho vay các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH: Tính đến ngày 31/8/2018, dư nợ NHCSXH đạt hơn 4.312 tỷ đồng, chiếm 10,51% tổng dư nợ toàn địa bàn, tăng 5,41% so với đầu năm 2018. Dư nợ các chương trình tín dụng chính sách: Cho vay hộ nghèo 708 tỷ đồng; cho vay hộ cận nghèo 1.000 tỷ đồng; cho vay hộ mới thoát nghèo 762 tỷ đồng; cho vay học sinh sinh viên 251 tỷ đồng; cho vay giải quyết việc làm 105 tỷ đồng; cho vay XKLĐ 6,6 tỷ đồng; cho vay NS&VSMTNT 536 tỷ đồng; cho vay SXKD tại vùng khó khăn 804 tỷ đồng; cho vay thương nhân vùng khó khăn 2,79 tỷ đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ167 là 62,14 tỷ đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QÐ33 là 467 tỷ; cho vay xây chòi tránh lũ, lụt 0,765 tỷ đồng và một số chương trình khác.
- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng, hoạt động quản lý ngoại hối và vàng; công tác cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nghiêm túc tại các ngân hàng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và các hoạt động khác diễn ra an toàn và hiệu quả.
2. Đầu tư và xây dựng
2.1 Đầu tư phát triển
Ước tính vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện 9 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành đạt 21.830,05 tỷ đồng, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

9 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước và giảm ở cả 3 nguồn vốn: Nhà nước giảm 5,25%; ngoài Nhà nước giảm 6,99% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 8,89%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư 9 tháng đầu năm 2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 48,07%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 33,45%); còn xét theo khoản mục đầu tư, thì nguồn vốn tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 85,54%).
Tính riêng quý III/2018, vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 7.308,19 tỷ đồng, tăng 2,81% so với quý trước và giảm 12,41% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2018 tăng so với quý trước chủ yếu tăng ở nguồn vốn Nhà nước (tăng 11,01%). Do thời tiết thuận lợi, các công trình cuối năm được đẩy nhanh tiến độ thi công, đảm bảo tiến độ giải ngân, đặc biệt là ở một số huyện, xã về đích nông thôn mới cuối năm 2018 (Vũ Quang, Nghi Xuân).
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng năm 2018 tăng khá, ước đạt 2.651,59 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Trung ương quản lý ước đạt 148,37 tỷ đồng, giảm 6,92%; vốn địa phương quản lý ước đạt 2.503,22 tỷ đồng, tăng 19,79%.

Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 9 tháng năm 2018 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước và tăng ở cả 3 cấp, trong đó tăng mạnh là vốn Nhà nước cấp huyện (tăng 83,99%). Nếu tách từng quý cho thấy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I/2018 đạt 607,81 tỷ đồng (giảm 6,99% so với cùng kỳ năm trước); sang quý II và quý III đạt mức tăng khá, lần lượt đạt 887,75 tỷ đồng (tăng 29,02%) và 1.007,66 tỷ đồng (tăng 34,69%).
Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, 9 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung vốn đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép Formosa, phần lớn là xây dựng khu phụ trợ, phục vụ hoạt động sản xuất chính thức và Cảng nước sâu Sơn Dương Formosa nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng giảm.
2.2. Xây dựng
9 tháng đầu năm 2018, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài triển khai chậm, riêng dự án Khu liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Formosa cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 nên vốn đầu tư khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh và chủ yếu đầu tư vào máy móc thiết bị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với các công trình, nên giá trị 9 tháng đầu năm 2018 giảm so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xây dựng toàn tỉnh 9 tháng năm 2018 giảm 10,59% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giảm mạnh ở xây dựng khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, lần lượt giảm 83,68% và 81,63%. Riêng xây dựng khu vực ngoài Nhà nước, 9 tháng năm 2018 tăng 7,88% so với cùng kỳ năm trước, do xây dựng khu vực dân cư tăng 34,51%.
Riêng quý III/2018, một số dự án lớn trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì đầu tư xây dựng như: Dự án khu phức hợp Vincom Hà Tĩnh; một số hạng mục, công trình phụ trợ thuộc dự án Formosa Hà Tĩnh; Đê La Giang; Kè Nậm La; Đường giao thông nông thôn xã Trung Lễ, Sơn Trường, Hương Long; hệ thống kênh tưới tiêu phía Nam thị trấn Nghèn…nên giá trị xây dựng quý III có tăng nhẹ so với quý trước. Giá trị xây dựng quý III tăng 2,74% so với quý trước và giảm 4,47% so với cùng kỳ năm trước.
3. Sản xuất công nghiệp
- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2018 ước tính tăng 3,73% so với tháng trước và tăng 59,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 68,59%; sản xuất và phân phối điện tăng 20,1%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,32% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng cả ở 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó chủ yếu tăng mạnh ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Tính riêng quý III/2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 54,53% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của quý I, quý II (quý I tăng 162,1%; quý II tăng 168,46%).

Trong 4 ngành công nghiệp cấp I, hầu hết đều có chỉ số sản xuất tăng ở cả 3 quý, nhưng mức tăng của quý III thấp hơn mức tăng quý I và quý II. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất quý I giảm 11,32%; quý II giảm 2,66%, sang quý III tăng 1,24%, nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu tăng ở khai thác cát, sỏi, đá (tăng 1,97%). Như vậy, sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh vẫn đạt tăng trưởng cao ở cả 3 quý, nhưng sang quý III mức tăng có phần chững lại. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 110,44% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của 8 tháng đầu năm (chung 8 tháng tăng 120,59%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 148,79%, đóng góp 99,69 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 35,5%, đóng góp 10,68 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 15,86%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3,35%, làm giảm 0,07 điểm phần trăm. 9 tháng đầu năm 2018, hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa, nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 9 tháng chỉ tăng 4,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,11%.

- Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 tăng 2,36% so với tháng trước và tăng 87,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,44 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 3,42 lần; sản xuất than cốc tăng 65,46%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 56,44%; chế biến thực phẩm giảm 64,72%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 tăng 44,53% so với tháng trước và tăng 100,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 38,15 lần; than cốc tăng 10,23 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 3,64 lần; ngành dệt tăng 2,56 lần; sản xuất đồ uống tăng 40,76%.
- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2018 giảm 0,27% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng tăng 17,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 2,92%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 27,64%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,66%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
- Tình hình đăng ký kinh doanh: Lũy kế đến ngày 20/9/2018, có 686 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc thành lập mới, trong đó doanh nghiệp là 536 đơn vị, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước, tổng số vốn đăng ký đạt 4.517,7 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ năm trước (tăng 496,9 tỷ đồng). Số vốn đăng ký bình quân đạt 8,4 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 0,9 tỷ đồng/doanh nghiệp so cùng kỳ năm trước) thể hiện các doanh nghiệp ngày càng tăng quy mô vốn. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng khá cao, bên cạnh tăng về số lượng, các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Trong đó loại hình công ty cổ phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất, tiếp đến là loại hình công ty TNHH và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 20/9/2018 là 180 doanh nghiệp, tăng 31,3% và có 86 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, giảm 1,1% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong 9 tháng đầu năm 2018 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng vẫn có xu hướng tăng, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng.
- Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý III/2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 68,8% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 28,8% khẳng định SXKD tốt lên, 40% khẳng định giữ ổn định); 31,2% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý IV so với quý III năm 2018, có 75,5% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định so với quý III (trong đó 33,3% số doanh nghiệp dự báo tốt lên, 42,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 24,5% số doanh nghiệp khó khăn hơn.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 64,4% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 68,8% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 33,3% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 42,2% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2018, có 33,3% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý II/2018; 28,8% giảm đi; có 25% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 31,8% giảm đi; 73,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 20% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy) và 24,4% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm (ngành có tỷ lệ lớn doanh nghiệp giảm tồn kho nguyên vật liệu là dệt, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất); 6,6% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 6,6% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý IV so quý III có 27,9% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 15,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 24,4% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 24,4% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.
Đánh giá về biến động lao động quý III/2018 so với quý II/2018, có 88,8% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 2,2% khẳng định tăng lên, 86,6% khẳng định giữ ổn định) và 11,1% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý IV so với quý III vẫn duy trì tỷ lệ như quý III so với quý II, điều đó khẳng định các doanh nghiệp hoạt động khá ổn định và không có nhu cầu tăng thêm lao động hoặc giảm lao động do gặp khó khăn trong sản xuất.
5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
5.1. Sản xuất nông nghiệp
- Sản xuất cây hàng năm: Trong tháng 9/2018, hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung thu hoạch lúa vụ Hè Thu và chăm sóc cây trồng vụ Mùa. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 154.926 ha, bằng 97,3% (giảm 4.303 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, cây lương thực có hạt ước đạt 112.051 ha, chiếm 72,33% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm, bằng 100,25% (tăng 284 ha) so với cùng kỳ năm 2017.
Diện tích gieo cấy lúa cả năm ước đạt 102.799 ha, bằng 98,78% (giảm 1.273 ha) so với năm trước, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 59.143 ha, bằng 100,47% (tăng 277 ha); diện tích gieo cấy lúa Hè Thu sơ bộ đạt 43.145 ha, bằng 96,93% (giảm 1.365 ha) và diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa ước đạt 511 ha, bằng 73,42% (giảm 185 ha). Nguyên nhân chính là do diện tích lúa Hè Thu giảm bởi ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây mưa lớn, ngập lụt trên địa bàn làm cho một số diện tích lúa gieo trồng đang thời kỳ phát triển bị ngập úng, thiệt hại. các địa phương có diện tích lúa Hè Thu giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 728 ha, Đức Thọ giảm 575 ha, Hương Khê giảm 155 ha, Nghi Xuân giảm 94,32 ha...
Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 51,94 tạ/ha, so với năm trước bằng 122,1% (tăng 9,41 tạ/ha), trong đó: Năng suất lúa vụ Xuân đạt 56,42 tạ/ha, bằng 137,31% (tăng 15,33 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 46,2 tạ/ha, bằng 102,93% (tăng 1,32 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 17,85 tạ/ha, bằng 116,51% (tăng 2,53 tạ/ha) so với cùng kỳ năm 2017. Như vậy, năng suất lúa của cả ba vụ sản xuất trong năm 2018 đều tăng hơn so với năm 2018. Bên cạnh các yếu tố về sự chủ động trong sản xuất, sự thuận lợi về điều kiện thời tiết thì còn có nguyên nhân làm tăng năng suất lúa đó chính là việc mở rộng sản xuất các giống lúa lai có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hạn chế gieo cấy các giống lúa nhiễm và nhạy cảm với bệnh đạo ôn cổ bông.
Sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 533.947 tấn, bằng 120,6% (tăng 91.218 tấn) so với năm trước. Diện tích lúa giảm 1.273 ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 6.714 tấn, năng suất lúa tăng 9,41 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 97.932 tấn. Trong đó: Sản lượng lúa vụ Xuân đạt 333.700 tấn, bằng 137,96% (tăng 91.817 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu sơ bộ đạt 199.336 tấn, bằng 99,78% (giảm 445 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa ước tính đạt 912 tấn, bằng 85,55% (giảm 154 tấn) so với cùng kỳ năm trước.
Diện tích ngô cả năm ước đạt 9.252 ha, bằng 120,23% (tăng 1.557 ha) so với năm 2017, trong đó: Diện tích ngô vụ Đông Xuân đạt 7.876 ha, bằng 137,77% (tăng 2.159 ha) và diện tích ngô vụ Thu Mùa ước đạt 1.376 ha, bằng 69,55% (giảm 602 ha). Với năng suất ngô cả năm ước tính đạt 38,46 tạ/ha, bằng 104,08% (tăng 1,51 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước tính đạt 35.583 tấn, bằng 125,14% (tăng 7.148 tấn). Diện tích ngô tăng 1.557 ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 5.988 tấn, năng suất ngô tăng 1,51 tạ/ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 1.160 tấn.
Kết quả sản xuất một số loại cây hàng năm khác đạt được như sau: Cây khoai lang diện tích ước đạt 3.691 ha, bằng 88,73% (giảm 469 ha), năng suất ước đạt 70,47 tạ/ha, bằng 107,37% (tăng 4,84 tạ/ha), sản lượng ước đạt 26.013 tấn, bằng 95,28% (giảm 1.290 tấn); cây sắn diện tích ước đạt 2.965 ha, bằng 100,98% (tăng 29 ha), năng suất ước đạt 142,78 tạ/ha, bằng 103,54% (tăng 4,89 tạ/ha), sản lượng ước đạt 42.334 tấn, bằng 104,55% (tăng 1.843 tấn); cây lạc diện tích ước đạt 13.563 ha, bằng 89,72% (giảm 1.554 ha), năng suất ước đạt 26,71 tạ/ha, bằng 114,06% (tăng 3,29 tạ/ha), sản lượng ước đạt 36.227 tấn, bằng 102,33% (tăng 825 tấn); cây rau các loại diện tích ước đạt 11.988 ha, bằng 111,71% (tăng 1.257 ha), năng suất ước đạt 68,02 tạ/ha, bằng 102,96% (tăng 1,96 tạ/ha), sản lượng ước đạt 81.537 tấn, bằng 115,02% (tăng 10.649 tấn); cây đậu các loại diện tích ước đạt 3.503 ha, bằng 52,2% (giảm 3.208 ha), năng suất ước đạt 5,98 tạ/ha, bằng 101,18% (tăng 0,07 tạ/ha), sản lượng ước đạt 2.095 tấn, bằng 52,82% (giảm 1.871 tấn).
Nhìn chung, kết quả sản xuất trồng trọt tính từ đầu năm đến nay đã đạt được những kết quả khá. Sản xuất vụ Xuân 2018 được mùa khá toàn diện. Bước vào sản xuất vụ Hè Thu do ảnh hưởng của bão số 3 đã làm giảm diện tích gieo trỉa một số loại cây trồng. Tuy nhiên, với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật, chuyển đổi mùa vụ, thay đổi bộ giống vào trong sản xuất trồng trọt nên năng suất các loại cây trồng tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc năng suất tăng đã làm cho sản lượng các loại cây trồng tăng. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 ước đạt 569.530 tấn, bằng 120,88% (tăng 98.366 tấn) so với năm 2017.
- Sản xuất cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng được quan tâm thực hiện. Diện tích cây lâu năm chủ yếu tăng ở diện tích cây ăn quả, chè búp...Với lợi thế về đất đai, địa hình và các cơ chế chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện, nhiều hộ nông dân ở các địa phương như: Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc...đã mạnh dạn đầu tư phát triển trồng cây ăn quả và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước tính là 29.087 ha, bằng 103,6% (tăng 1.010 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tổng diện tích cây ăn quả ước tính là 16.074 ha, bằng 108,84% (tăng 1.305 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là cam, quýt và các loại cây ăn quả có múi với 10.414 ha, chiếm 64,79% tổng diện tích cây ăn quả, tăng 1.033 ha so với cùng kỳ. Diện tích cam tăng 628 ha, bưởi tăng 397 ha, chanh tăng 14 ha...Diện tích cam Hương Khê tăng 305 ha, Hương Sơn tăng 180 ha, Can Lộc tăng 94 ha, Vũ Quang tăng 89 ha...Còn diện tích bưởi tăng chủ yếu ở huyện Hương Khê với diện tích tăng 269 ha. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 62.307 tấn, bằng 103,98% (tăng 2.384 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cùng với phát triển mở rộng diện tích trồng cây ăn quả là việc đưa vào các loại giống có năng suất cao cho nên sản lượng cây ăn quả đã tăng hơn so với cùng kỳ. Sản lượng một số loại cây ăn quả tăng so với cùng kỳ năm trước như: Bưởi tăng 867 tấn, chuối tăng 396 tấn, cam tăng 284 tấn, mít tăng 284 tấn, nhãn tăng 201 tấn, thanh long tăng 125 tấn, chanh tăng 149 tấn...Diện tích cây cao su ước đạt 9.479 ha, bằng 95,33% (giảm 464 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cao su ước đạt 1.976 tấn, bằng 105,84% (tăng 109 tấn) so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè búp ước đạt 1.113 ha, bằng 116,54% (tăng 158 ha), với sản lượng chè búp ước đạt 6.933 tấn, bằng 115,53% (tăng 932 tấn) và diện tích chè xanh ước đạt 1.702 ha, bằng 96,7% (giảm 58 ha), với sản lượng chè xanh ước đạt 14.888 tấn, bằng 99,31% (giảm 104 tấn) so với cùng kỳ năm trước.
- Tình hình sâu bệnh đối với cây trồng: Với sự vào cuộc tích cực của các cơ quan chuyên môn và sự chủ động của bà con nông dân trong công tác phòng, trừ sâu bệnh nên đã hạn chế mức thiệt hại thấp nhất do sâu bệnh gây ra đối với cây trồng. Vì vậy, tình hình sâu bệnh năm nay tuy có xẩy ra nhưng gây thiệt hại không đáng kể đối với sản xuất. sản xuất lúa vụ Xuân thì bệnh đạo ôn lá xuất hiện rải rác trên các giống lúa Xi23, NX30, P6, VTNA6 tại Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 15-20% với diện tích nhiễm bệnh là 2.054,8 ha, trong đó có 80,9 ha nhiễm nặng. Bệnh đạo ôn cổ bông gây hại trên giống TH3-3, KD18, VTNA2, Xi23, BT09 với diện tích nhiễm 32,7 ha. Bệnh khô vằn với tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh là 2.560 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Còn đối với lúa vụ Hè Thu sâu cuốn lá xuất hiện gây hại tại các địa phương Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Thạch Hà...với diện tích nhiễm 80,5 ha; bệnh khô vằn phát sinh gây hại rải rác trên toàn tỉnh với diện tích nhiễm bệnh là 546 ha. Trên các loại cây trồng khác như lạc, ngô cũng đã xuất hiện một số dịch bệnh như: Bệnh lỡ cổ rễ, bệnh đốm lá nhỏ, sâu đục thân, đục bắp...
- Chăn nuôi: Dự ước số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 76.556 con, bằng 92,39% (giảm 6.310 con) với sản lượng xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.231 tấn, bằng 96,85% (giảm 105 tấn). Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 194.487 con, bằng 90,95% (giảm 19.349 con) với sản lượng xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 8.761 tấn, bằng 97,57% (giảm 218 tấn). Tổng đàn lợn ước tính hiện có 423.049 con, bằng 103,25% (tăng 13.316 con) với sản lượng lợn hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 58.560 tấn, bằng 102,19% (tăng 1.255 tấn). Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.197 ngàn con, bằng 101,06% (tăng 86 ngàn con) với sản lượng gia cầm 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 10.991 tấn, bằng 107,39% (tăng 756 tấn).
Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong thời gian qua vẫn còn gặp khó khăn, thiếu sự ổn định. Mặc dù hoạt động chăn nuôi lợn trong thời gian qua có những chuyển biến tích cực hơn, giá thịt hơi tăng lên sau kỳ sụt giảm giá mạnh nên nhiều hộ chăn nuôi lợn đã tái đàn trở lại. Tuy nhiên, do việc dự báo về lượng cầu hàng hóa và đặc biệt là giá lợn hơi xuất chuồng rất hạn chế nên khi người chăn nuôi lợn tái đàn sẽ tiềm ẩn rất nhiều rũi ro. Bên cạnh đó, thiên tai lũ lụt, dịch bệnh cũng luôn có thể xẩy ra vào mùa mưa bão và sẽ gây thiệt hại lớn đối với người chăn nuôi. Các dự án chăn nuôi bò lớn trên địa bàn tỉnh cũng đều gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ, do giá cả thấp và nhiều yếu tố khác như ảnh hưởng môi trường...Trong đó có Dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà, đây là một dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi Hà Tĩnh tính đến thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, năm 2018 dự án này hoạt động cầm chừng không đạt được kết quả như mong đợi, việc xuất nhập bò không diễn ra thường xuyên với số lượng bò ngày càng giảm. Hiện dự án chỉ còn 1.140 con bò đang nuôi ở trại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, giảm 7.813 con so với cùng kỳ năm 2017.
- Tình hình dịch bệnh: Mặc dù đã tăng cường công tác quản lý kiểm soát, kiểm tra vệ sinh thú y, phòng chống dịch cho vật nuôi. Tuy nhiên, trong 9 tháng đầu năm 2018 cũng đã xẩy ra dịch lỡ mồm long móng làm cho 215 con gia súc mắc bệnh (28 con trâu, 107 con bò và 80 con lợn), trong đó có 80 con lợn buộc phải tiêu hủy. Dịch xẩy ra ở các địa phương: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà và Lộc Hà.
Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I/2018: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 133.758 liều, đạt 71,6% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 119.360 liều, đạt 64,6% kế hoạch; dịch tả lợn 133.565 liều, đạt 55,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 118.836 liều, đạt 49,2% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 103.496 liều, đạt 66,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 577.421 liều, đạt 20,1% kế hoạch. Hiện nay các địa phương đang tiến hành tiêm phòng đợt II/2018 với kết quả tính đến ngày 19/8/2018 đạt được như sau: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 6.150 liều, đạt 4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 5.200 liều, đạt 3,5% kế hoạch; dịch tả lợn 1.253 liều, đạt 1% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 1.263 liều, đạt 1% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 23.480 liều, đạt 1,5% kế hoạch.
5.2. Lâm nghiệp
- Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong 9 tháng đầu năm 2018, cùng với việc hưởng ứng Tết trồng cây nhân dịp Xuân Mậu Tuất nên toàn tỉnh dự ước trồng được 3.415 ha rừng tập trung, bằng 87,25%, giảm 499 ha và 2.795 ngàn cây phân tán, bằng 99,82%, giảm 5 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng trồng chủ yếu ở các địa phương: Huyện Kỳ Anh 1.819 ha, Hương Sơn 579 ha, Thạch Hà 385 ha, Hương Khê 221 ha, Cẩm Xuyên 180 ha,...Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng vẫn được duy trì thực hiện. Diện tích rừng được chăm sóc là 23.626 ha, bằng 97,31% (giảm 652 ha); diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 14.401 ha, bằng 94,8% (giảm 790 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 174.423 ha, bằng 95,75% (giảm 7.741 ha). Nguyên nhân diện tích rừng được giao khoán bảo vệ giảm do nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện giảm.
- Khai thác gỗ và lâm sản: 9 tháng đầu năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 251 ngàn m3 gỗ, bằng 90,25% (giảm 27 ngàn m3) so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 466 ngàn Ste củi, bằng 85,97%, giảm 76 ngàn Ste so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Hương Sơn 55 ngàn m3, Cẩm Xuyên 36,4 ngàn m3, huyện Kỳ Anh 71,3 ngàn m3, Hương Khê 15,2 ngàn m3...Bên cạnh đó, một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt thấp như: Nghi Xuân, Đức Thọ, Lộc Hà ...
- Thiệt hại rừng: Trong 9 tháng đầu năm 2018 đã xẩy ra 10 vụ cháy rừng, bằng 142,86% (tăng 3 vụ), diện tích bị cháy 53,79 ha thuộc rừng trồng, bằng 6,3 lần (tăng 43,3 ha), giá trị thiệt hại ước tính 1.836 triệu đồng, bằng 417,27% (tăng 1.396 triệu đồng) so với cùng kỳ năm 2017. Số vụ cháy rừng xẩy ra ở huyện Hương Sơn 3 vụ, Đức Thọ 2 vụ, Nghi Xuân 2 vụ, Vũ Quang 2 vụ, Cẩm Xuyên 1 vụ. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng đã tập trung cao độ, song do thời tiết nắng nóng cùng với sự thiếu cẩn trọng của người dân nên số vụ cháy rừng vẫn xẩy ra và tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.
5.3. Thủy sản
9 tháng đầu năm 2018, diện tích xuống giống thả nuôi ước đạt 7.391 ha, bằng 105,89%, tăng 411 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ước đạt 2.073 ha, bằng 104,86%, tăng 96 ha; diện tích nuôi tôm sú ước đạt 628 ha, bằng 131,93%, tăng 152 ha. Diện tích nuôi trồng thủy sản thu hoạch 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 7.211 ha, bằng 97,56% tổng diện tích thả nuôi trong kỳ. Nguyên nhân tăng diện tích thả nuôi do năm nay điều kiện thời tiết không có rét đậm, rét hại nên các hộ nuôi trồng nước ngọt tập trung xuống giống thả nuôi trong quý I/2018, còn diện tích nước lợ và nước mặn được thả giống đại trà vào đầu quý II/2018 và thu hoạch trong quáy III/2018.
Số lồng/bè nuôi trồng thuỷ sản ước tính hiện có 362 cái, bằng 93,3%, giảm 26 cái so với cùng kỳ năm 2017. Nguyên nhân giảm là do năm trước ảnh hưởng của thời tiết mưa bão nên một số lồng/bè bị cuốn trôi, hư hỏng và nuôi không hiệu quả nên nhiều hộ không đầu tư nuôi tiếp. Số lượng tàu, thuyền khai thác thủy sản biển có động cơ ước tính hiện có 4.091 chiếc, bằng 103,78% tăng 149 chiếc so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Tàu 90 CV trở lên là 399 chiếc, tăng 36 chiếc. Các huyện có số lượng tàu trên 90 CV tăng: Thạch Hà tăng 18 chiếc, Lộc Hà tăng 11 chiếc, Cẩm Xuyên tăng 6 chiếc, Thị xã Kỳ Anh tăng 4 chiếc…Những năm gần đây, năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn đang có bước phát triển. Thực hiện Nghị định 67 của Chính phủ và các chính sách hỗ trợ của địa phương, ngư dân Hà Tĩnh đã đầu tư, cải hoán hàng trăm tàu đánh bắt xa bờ có công suất lớn. Tuy nhiên, do hệ thống hạ tầng cảng cá trên địa bàn còn yếu kém cộng với những bất cập trong quy hoạch phát triển hệ thống cảng cá và khu neo đậu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động khai thác thủy hải sản của ngư dân.
Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 35.213 tấn, bằng 104,98%, tăng 1.669 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước đạt 24.333 tấn, bằng 103,31%, tăng 780 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 10.880 tấn, bằng 108,9%, tăng 889 tấn so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng nuôi trồng tăng khá như: Lộc Hà tăng 214 tấn, chủ yếu sản phẩm nghêu ngao nuôi nước mặn; Thạch Hà tăng 158 tấn; Kỳ Anh tăng 139 tấn; Cẩm Xuyên tăng 98 tấn; Thị xã Kỳ Anh tăng 80 tấn…Nuôi trồng tôm năm nay được đánh giá khá thành công về năng suất, sản lượng. Tuy nhiên, giá tôm năm nay giảm mạnh so với những năm trước đã làm cho người nuôi thua lỗ. Mức giá tôm ở tất cả các loại kích cỡ đều giảm hơn 30% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, giá nguyên liệu để nuôi tôm tăng nên thua lỗ là điều không tránh khỏi. Giá tôm rẻ khiến nhiều hộ nuôi thu hoạch xong chưa tái đầu tư ao đầm để tiếp tục thả nuôi.
9 tháng đầu năm 2018, đã xuất hiện dịch bệnh tôm bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính tại các địa phương (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh) với diện tích bị nhiểm bệnh là 25,67 ha. Cùng với đó, trong tháng 4/2018 cũng đã xẩy ra hiện tượng cá, mực nuôi của các hộ kinh doanh hải sản chết hàng loạt ở Thị xã Kỳ Anh. Nguyên nhân được xác định là do ngạt khí bởi các nhà thầu đang thi công cầu cảng số 3,4 tại cảng Vũng Áng tạo nên một vòng cung khép kín khiến cho nước biển không được lưu thông làm cá thiếu ôxi dẫn đến chết ngạt. Dịch bệnh được phát hiện sớm, cùng với công tác phòng chống kịp thời nên các loại dịch bệnh đã được khống chế và giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất cho các hộ nuôi.
6. Thương mại và dịch vụ
6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 9/2018 đạt 3.159,32 tỷ đồng, tăng 2,35% so với tháng trước và tăng 20,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 171,86 tỷ đồng, giảm 25,85% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.987,47 tỷ đồng, tăng 24,92%. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa có xu hướng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tập thể, tăng 71,29%; tiếp đến là kinh tế tư nhân tăng 41,67%.
Tính riêng quý III/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.259,24 tỷ đồng, tăng 10,04% so với quý trước và tăng 18,01% so với cùng kỳ năm trước.

Qua bảng trên cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng đều qua các quý, trong đó quý III tăng mạnh nhất, cao hơn quý I là 4,35 điểm % và cao hơn quý II là 9,76 điểm %. Trong quý III, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 2,99 lần; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 43,23%; lương thực, thực phẩm tăng 18,59%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,65%.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 26.323,39 tỷ đồng, tăng 13,32% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.539,87 tỷ đồng, giảm 25,82%; ngoài Nhà nước ước đạt 24.772,05 tỷ đồng, tăng 17,11% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,47 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 10.109,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,4%, tăng 14,75% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 3.461,27 tỷ đồng, chiếm 13,15%, tăng 2,23% so với cùng kỳ; và nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 2.641,15 tỷ đồng, chiếm 10,03%, tăng 4,08%.
Qua biểu đồ ta nhận thấy, do sự cố môi trường biển, 9 tháng đầu năm 2016 tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm; nhưng sang năm 2017, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong việc khắc phục sự cố, tổng mức bán lẻ đã có xu hướng tăng nhẹ và tăng khá vào năm 2018. Tổng mức bán lẻ 9 tháng năm 2018 tăng cao hơn mức tăng năm 2017 là 12,68 điểm % và năm 2016 là 14,37 điểm %. Điều đó chứng tỏ nhu cầu hàng tiêu dùng của người dân ngày càng lớn; đồng thời, phản ánh tiềm năng ngành bán lẻ ở Hà Tĩnh đang có nhiều tín hiệu khả quan, là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 9/2018 ước đạt 511,57 tỷ đồng, tăng 2,36% so tháng trước và tăng 18,26% so cùng kỳ năm trước. Tính riêng quý III/2018 ước đạt 1.531,05 đồng, tăng 13,21% so với cùng kỳ năm trước; tăng cao hơn quý I là 8,72 điểm % và quý II là 0,46 điểm %. Chung 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.664,72 tỷ đồng, tăng 10,96% so với cùng kỳ năm trước.

Theo trên cho thấy, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống 9 tháng năm 2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 2 nhóm ngành dịch vụ: lưu trú tăng 12,87% và ăn uống tăng 10,84%. Do du lịch biển đã thu hút được nhiều khách trong và ngoài tỉnh tham quan nghỉ mát, kéo theo lượng khách đến thuê phòng nghỉ tăng; đồng thời, trong 9 tháng Hà Tĩnh đã tổ chức nhiều sự kiện nổi bật như: Giải Bóng chuyền nữ VTV Cup 2018, kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đồng Lộc nên thu hút được nhiều khách tham gia, từ đó làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng.
- Hoạt động du lịch lữ hành: Doanh thu du lich lữ hành tháng 9/2018 ước đạt 1,75 tỷ đồng, giảm 0,45% so với tháng trước và tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Quý III ước đạt 5,42 tỷ đồng, tăng 13,02% so với quý trước và tăng 10,71% so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng quý I là 17,04 điểm % và quý II là 12,54 điểm %.

Tính chung 9 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 13,78 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Điều này chứng tỏ, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng tăng, đặc biệt là khách ngoài tỉnh đến tham quan du lịch tại các điểm văn hóa tâm linh và du lịch biển tăng mạnh; cùng với việc kết nối các tour du lịch lữ hành trong và ngoài tỉnh, mở rộng thị trưởng khách du lịch quốc tế đến từ Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc … đã góp phần làm tăng doanh thu hoạt động du lịch lữ hành.
- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 9/2018 ước đạt 110,09 tỷ đồng, tăng 2,75% so với tháng trước và tăng 4,13% so cùng kỳ năm 2017. Quý III ước đạt 322,87 tỷ đồng, tăng 6,74% so với quý trước và tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Chung 9 tháng ước đạt 919,82 tỷ đồng, tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 16,69%; dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 10,23%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 8,09%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác 9 tháng đầu năm 2018 vẫn tăng, nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ.
6.2. Giao thông vận tải
Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 9/2018 ước đạt 2,62 triệu tấn (tăng 0,57%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 68,99 triệu tấn.km (tăng 2,05%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 226,16 tỷ đồng, tăng 2,1%. Do các công trình xây dựng gấp rút hoàn thành trước mùa mưa bão, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.
Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 9/2018 ước đạt 1,95 triệu lượt hành khách (tăng 0,28%), với khối lượng luân chuyển là 354,87 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,89%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 155,24 tỷ đồng, tăng 1,12%. Với sự đầu tư của các nhà xe vào việc tăng số lượng xe, chất lượng xe, cũng như chất lượng dịch vụ phục vụ đã thu hút được nhiều người tham gia, nên làm cho kết quả vận tải hành khách tăng.
Tách riêng từng quý, ta thấy có sự khác nhau giữa vận tải hàng hóa và vận tải hành khách.

Theo bảng trên, chứng tỏ hoạt động vận tải hành khách vẫn ổn định và tăng dần qua các quý; còn vận tải hàng hóa chỉ đạt mức tăng khá ở quý I, sang quý II và quý III có xu hướng giảm dần, chủ yếu do nhóm ngành vận tải hàng hóa đường bộ giảm (quý III: vận chuyển giảm 4,54%; luân chuyển giảm 6,43% so với cùng kỳ năm trước).
Tính chung 9 năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 17,45 triệu HK (tăng 8,96%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 3.075,67 triệu HK.km (tăng 11,79%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.333,8 tỷ đồng, tăng 12,65%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 23,82 triệu tấn (tăng 1,11%), với khối lượng luân chuyển là 593,79 triệu tấn.km (tăng 0,02%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.008,06 tỷ đồng, tăng 4,14%. Nhìn chung, hoạt động vận tải trên địa bàn trong 9 tháng qua vẫn ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân.
7. Chỉ số giá tiêu dùng
Thị trường tháng 9 năm 2018 CPI tiếp tục tăng giá. Mặc dù giá lương thực, điện, nước sinh hoạt giảm; nhưng do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng cao hơn so tháng trước, tác động đến chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển các loại mặt hàng khác, khiến hàng hoá có xu hướng tăng hơn so những tháng trước.
CPI tháng 9 năm 2018, tăng 0,28% so tháng trước, tăng 3,58% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,64% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,31%; nông thôn tăng 0,26%.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: Có 7 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,93% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 5,38%, tăng 4,24% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,54%, tăng 0,04% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,57% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,92%, tăng 0,75% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 0,74% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 8,37%, tăng 6,45% so với tháng 12 năm trước; Bưu chính viễn thông tăng 0,04% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước giảm 0,77%, giảm 0,88% so với tháng 12 năm trước; Giáo dục tăng 0,1% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,45%, tăng 0,45% so với tháng 12 năm trước; Đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,01% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 4,74%, tăng 4,06% so với tháng 12 năm trước.
Có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm đó là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,48% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,57%, tăng 1,45% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,11% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,39%, giảm 1,74% so với tháng 12 năm trước.
Có 2 nhóm gồm: Đồ uống và thuốc là; Thuốc và dịch vụ y tế ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.
Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 8/2018 có sự biến động so tháng trước chủ yếu là: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm cả rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhiên liệu xăng dầu điều chỉnh tăng mạnh so với tháng trước; (3) Giá các mặt hàng thép xây dựng giảm và (4) Giá điện, nước sinh hoạt giảm do giảm khối lượng tiêu dùng
Chỉ số giá vàng giảm 1,15% so tháng trước, giảm 3,27% so cùng kỳ năm trước, giảm 2,17% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng tiếp tục giảm so tháng trước, mức giá hiện tại thời điểm ngày 21/9/2018 ở mức 3.470 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Đây là lần đầu tiên trong vòng 1 năm qua giá vàng xuống dưới mốc 3.500 ngàn đồng/chỉ. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.508 ngàn đồng/chỉ.
Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,46% so tháng trước, tăng 2,54% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,4% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/8/2018 mức giá bán ra 2.325 ngàn đồng/100USD.
Chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2018 tăng 3,91% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,77%; nông thôn tăng 4,01%. Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2018, chỉ số giá bình quân tăng khá so với cùng kỳ năm trước và có khả năng vượt ngưỡng kế hoạch năm. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm diễn biến phức tạp, có biến động lớn. Cùng với giá một số mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, điện nước đều tăng. Bên cạnh đó, xu hướng hiện tại từ nay đến cuối năm ít mặt hàng có khả năng giảm giá mạnh, gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình giá cả tiêu dùng hiện nay.

Dự kiến CPI tháng 10/2018 tiếp tục tăng. Nguyên nhân do giá thịt chưa có dấu hiệu giảm, trong khi một số mặt hàng như gạo, thực phẩm, rau củ quả, đồ dùng gia đình, hàng may mặc khả năng tiếp tục tăng giá.
8. Các vấn đề xã hội
8.1. Tình hình đời sống dân cư
Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2018 có cải thiện hơn so với cùng kỳ, không xẩy ra thiếu đói. Hiện nay bà con nông dân đã thu hoạch lúa vụ Hè Thu năm 2018 nên lượng lương thực trong dân dồi dào. Cùng với sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói không xảy ra.
8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội
- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ngày 02/5/2018 về phân bổ kế hoạch vốn từ ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018 với tổng số vốn phân bổ là 58,7 tỷ đồng. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.
- Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai kịp thờ. Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 58.891 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, 85.066 thẻ bảo hiểm cho hộ cận nghèo, 108.069 thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và 57.547 thẻ bảo hiểm cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 319.587 suất quà với tổng kinh phí 72,606 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong dịp Tết UBND tỉnh đã cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ cho 5.740 hộ với 10.672 nhân khẩu để đảm bảo cho người dân không thiếu đói trong dịp Tết. Trao 86 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 385 triệu đồng; xây mới 161 nhà tình nghĩa, trị giá 7.295 triệu đồng và sữa chữa 53 nhà với tổng giá trị là 917 triệu đồng.
Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; trang trọng tổ chức an táng 12 hài cốt các liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Nầm vào sáng ngày 8/5/2018; kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, Hà Tĩnh có 83 liệt sĩ được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến nay, toàn tỉnh đã tìm kiếm, quy tập được 914 hài cốt liệt sỹ.
8.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm
Năm 2018, Hà Tĩnh tiếp tục ưu tiên thực hiện đào tạo nghề cho các đối tượng lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo; Đề án “Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường trên địa bàn Hà Tĩnh”. 9 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã đào tạo được 4.228 người (cao đẳng nghề 137 người, trung cấp nghề 850 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới ba tháng 3.241 người). Giải quyết việc làm cho 16.129 người. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 7.027 người; xuất khẩu lao động 5.915 người; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.187 người.
8.4. Hoạt động giáo dục đào tạo
- Giáo dục phổ thông: Phát huy kết quả đã đạt được trong năm học 2017-2018, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh bước vào năm học mới 2018 - 2019 với tinh thần nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ vững vị trí là một trong những tỉnh thuộc tốp dẫn đầu của cả nước về chất lượng giáo dục mũi nhọn. Với số lượng trường đạt chuẩn quốc gia là 535 trường, đạt tỷ lệ 73,33%, trong đó: Mầm non 169 trường, đạt tỷ lệ 61,8% (mức 1 là 140 trường, mức 2 là 29 trường); Tiểu học 214 trường, đạt tỷ lệ 82,9% (mức 1 là 91 trường, mức 2 là 123 trường); THCS 120 trường, đạt tỷ lệ 79,5%; THPT 32 trường, đạt tỷ lệ 71,1%.
Năm học 2018 - 2019 toàn tỉnh có: 727 trường (gồm 273 trường mầm non, 258 trường tiểu học, 151 trường THCS và 45 trường THPT) với 10.385 lớp (mẫu giáo 2.896 lớp, tiểu học 3.875 lớp, THCS 2.406 lớp, THPT 1.208 lớp), 18.231 giáo viên (mầm non 5.302 người, tiểu học 5.153 người, THCS 4.860 người, THPT 2.916 người) và 318.279 học sinh (nhà trẻ 10.379 em, mẫu giáo 75.070 em, tiểu học 112.084 em, THCS 76.170 em và THPT 44.576 em). Với cơ sở vật chất trường lớp ngày càng được đầu tư xây dựng hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt yêu cầu học tập của các cấp học.
Đầu năm học 2018-2019, thành lập và cấp phép hoạt động mới 04 trường tư thục gồm: 02 trường mầm non, 01 trường tiểu học và 01 trường THPT; đồng thời, sát nhập 04 trường tiểu học thành 02 trường, 04 trường mầm non thành 02 trường. Ngoài ra, có 01 Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và GDTX tỉnh; 11 Trung tâm GDNN&GDTX cấp huyện; 34 Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học, 35 Trung tâm Tư vấn du học; 262 Trung tâm học tập cộng đồng ở 262 xã, phường, thị trấn.
Kết quả tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2018-2019, toàn tỉnh có 15.502 học sinh trúng tuyển với 445 lớp, đạt tỷ lệ 84,2% so với số học sinh tốt nghiệp THCS, trong đó: có 15.152 học sinh, với 435 lớp không chuyên; 350 học sinh, với 10 lớp trúng tuyển vào trường THPT Chuyên. Tuyển sinh hệ bổ túc THPT co 1.419 học sinh với 33 lớp.
- Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2018 - 2019 là 3.590 chỉ tiêu (so với năm học 2017 - 2018 tăng 96,71%), trong đó: Trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.250 chỉ tiêu, giảm 11,35% (hệ đại học 1.200 chỉ tiêu, cao đẳng 50 chỉ tiêu); các trường cao đẳng chỉ tuyên sinh hệ cao đẳng, với chỉ tiêu tuyển sinh là 2.340 chỉ tiêu, tăng 4,64 lần (hệ cao đẳng 1.150 chỉ tiêu, trung cấp 690 chỉ tiêu, sơ cấp 500 chỉ tiêu). Ngoài nhiệm vụ đào tạo hệ chính quy các trường còn liên kết đào tạo hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm, dạy nghề và bồi dưỡng nghiệp vụ như: trường Đại học Hà Tĩnh đào tạo hệ liên thông chính quy, văn bằng 2 là 185 chỉ tiêu; hệ vừa làm vừa học, liên thông vừa làm vừa học 530 chỉ tiêu.
8.5. Hoạt động Y tế
9 tháng đầu năm 2018, ngành Y tế Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh như: Cải tiến công tác đón tiếp người bệnh, giảm quá tải bệnh viện; chú trọng công tác đào tạo chuyên môn; phát triển chuyên môn kỹ thuật; phát triển chữa bệnh bằng y học cổ truyền; đầu tư trang thiết bị; nâng cao y đức... Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.
- Tình hình dịch bệnh: 9 tháng đầu năm 2018, công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Các cơ sở khám chữa bệnh cũng đã chuẩn bị các phương án ứng phó với các bệnh dịch. Bệnh viện đã sẵn sàng cấp cứu và điều trị bệnh nhân; kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện; phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thông tin, báo cáo ca bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định. Mặt khác, bệnh viện luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới về chuyên môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết; chỉ đạo các bệnh viện huyện chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết; tổ chức tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các cơ sở thực hiện...
Toàn tỉnh, 9 tháng đầu năm 2018 đã xảy ra 11 trường hợp mắc sốt xuất huyết, tay chân miệng 09 trường hợp, sốt rét 143 trường hợp, thủy đậu 119 trường hợp và sốt phát ban/sởi 01 trường hợp. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng-chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn; tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi hành vi, nhằm giảm sự mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. 9 tháng đầu năm 2018, Hà Tĩnh có 49 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 09 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 44 trường hợp chuyển thành AIDS và có 03 trường hợp nào chết vì AIDS.
- Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, Sở Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong tiêu dùng thực phẩm; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm, đặc biệt khuyến khích xử phạt nặng các trường hợp vi phạm, đủ sức răn đe để không còn tái phạm. Ngoài ra, trong dịp tết Trung Thu năm 2018, Hà Tĩnh cũng đã thành lập 276 đoàn thanh kiểm tra ATTP, trong đó tuyến tỉnh 1 đoàn, tuyến huyện 13 đoàn và tuyến xã 262 đoàn, nhằm hạn chế hàng nhái, hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
9 tháng năm 2018, xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể ở huyện Lộc Hà và huyện Cẩm Xuyên (tăng 03 vụ so với cùng kỳ năm ngoái) làm 24 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. Ngoài ra, có 1.080 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 34,66% so với cùng kỳ năm ngoái) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.
8.6. Hoạt động văn hóa - thể thao
- Hoạt động văn hóa: Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo thay đổi nội dung tuyên truyền ở các cụm panô, áp phích tấm lớn trên địa bàn, hướng dẫn cơ sở tổ chức sinh hoạt CLB văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao cũng như treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, như: Chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng Xuân Mậu Tuất; chương trình nghệ thuật khai hội chùa hương; tổ chức Hội báo xuân; Đại lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh; triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018” tại khu di tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân; tổ chức Lễ đón bằng chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "lễ hội đền Chiêu Trưng"; tổ chức khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực IV - Bắc miền Trung lần thứ 23 năm 2018; tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2018 lần thứ 4 liên tỉnh Hà Tĩnh - Nghệ An.
Với sự kiện "Hoàng Hoa sứ trình đồ" là tư liệu quý hiếm về hành trình đi sứ thế kỷ XVIII được lưu giữ cẩn thận chính trong dòng họ Nguyễn Huy của vị sứ thần Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) ở làng Trường Lưu nay thuộc xã Trường Lộc, huyện can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh được Hội nghị MOWCAP lần thứ 8 tại Hàn Quốc nhất trí ghi danh hồ sơ vào danh sách các di sản tư liệu của Chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã thêm một lần nữa vinh danh những giá trị văn hóa của Việt Nam, của Hà Tĩnh lên tầm quốc tế.
Cũng trong thời gian này, vào dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc, tại Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh đã tổ chức đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, cán bộ, người dân tử nạn tại Ngã ba Đồng Lộc vào tối 14/7/2018; và tổ chức chương trình nghệ thuật “Đồng Lộc-bài ca bất tử” vào tối 21/7/2018. Đây là hoạt động ý nghĩa, thể hiện sự tri ân sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Hà Tĩnh đối với những cống hiến to lớn, sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sỹ đối với sự nghiệp cách mạng, bảo vệ Tổ quốc.
- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. 9 tháng đầu năm 2018, đã nhắc nhở 34 cơ sở, đình chỉ 15 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.
- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh; Đại hội TDTT lần thứ VIII; giải bóng rổ thiếu niên nhi đồng lần thứ V; Giải đua thuyền toàn tỉnh năm 2018; các giải thể thao bóng đá mi ni, bóng chuyền hơi nữ do các Khối thi đua thuộc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổ chức nhân dịp chào mừng 73 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9
Bên cạnh đó, từ ngày 04/8/2018 đến ngày 11/8/2018, tại Hà Tĩnh diễn ra Giải bóng chuyền nữ quốc tế VTV Cup 2018, với sự tham gia của 8 đội gồm: CLB Altay (Kazakhstan), Đại học Hokkaido (Nhật Bản), Đội tuyển Việt Nam, CLB Vân Nam (Trung Quốc, đội tuyển trẻ Việt Nam, CLB Tứ Xuyên (Trung Quốc), CHDCND Triều Tiên, Đại học Đài Bắc - Trung Hoa. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Giải bóng chuyền quốc tế VTV Cup 2018, góp phần làm nên một giải đấu quy mô, hấp dẫn và để lại ấn tượng về một Hà Tĩnh yên bình, thân thiện, mến khách
Thể thao thành tích cao: 9 tháng đầu năm 2018, đoàn Hà Tĩnh dành được 34 huy chương các loại, bao gồm: 19 HCV, 10 HCB và 5 HCĐ.
8.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội
Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự ATGT; tập trung đảm bảo ATGT mùa mưa bão; tăng cường công tác tuần tra, thanh tra, kiểm soát xử lý vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang an toàn giao thông, quản lý Nhà nước về vận tải; tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông đường sắt; tiếp tục tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ATGT.
Tính từ ngày 16/8/2018 đến ngày 15/9/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 13 người, bị thương 7 người, thiệt hại tài sản 50 triệu đồng. So với tháng trước tăng 03 vụ, tăng 03 người chết, tăng 03 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ, tăng 02 người chết và giảm 04 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.
Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/9/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 99 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 98 người, bị thương 48 người, ước tính thiệt hại tài sản 700 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 01 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, tăng 05 người chết và giảm 09 người bị thương.
8.8. Môi trường
- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ cháy (giảm 1 vụ cháy so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 75 triệu đồng, trong đó: 3 vụ cháy nhà, 1 vụ cháy chứa rơm, 1 vụ cháy rừng và 4 vụ cháy khác. Tính chung 9 tháng, trên địa bàn xảy ra 68 vụ cháy, nổ (trong đó có 66 vụ cháy và 02 vụ nổ), làm 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,11 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 22 vụ cháy, nổ (tăng 23 vụ cháy, giảm 01 vụ nổ) và tăng 6 người bị thương.
- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. 9 tháng năm 2018, đã phát hiện và xử lý 34 cơ sở vi phạm môi trường với số tiền 593 triệu đồng, trong đó có 01 vụ do Công ty CP Xây dựng Tiến Đạt nuôi tôm ở xã Thịnh Lộc-huyện Lộc Hà xả thải ra môi trường không thông qua hệ thống xử lý, bị xử phạt 435 triệu đồng.
9. Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2018
Mặc dù kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2018 đạt và vượt kế hoạch đặt ra thì chúng ta không được chủ quan mà cần phải chú trọng thực hiện quyết liệt các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như có bước đột phá, đó là:
9.1. Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra cho cả năm 2018, với kết quả đã đạt được 9 tháng đầu năm phải tiếp tục xem xét đánh giá một cách cụ thể, khách quan đối với từng nội dung, từng ngành, từng lĩnh vực để từ đó có những giải pháp thực hiện có hiệu quả và sát đúng với tình hình thực tế của địa phương, nhất là đối với những nội dung, lĩnh vực còn nhiều hạn chế.
9.2. Tiếp tục tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Đẩy nhanh tiến độ sớm hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, xây dựng quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển.
9.3. Tiếp tục tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Quan tâm, tạo điều kiện và đồng hành cùng chủ đầu tư để sớm đưa các dự án lớn trên địa bàn và triển khai thực hiện và hoạt động sản xuất (Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II; hoạt động của lò cao số 2 dự án Fomosa…). Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.
9.4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Nhận định tốt tình hình để tập trung chỉ đạo có hiệu quả hoạt động sản xuất cây trồng vụ Đông Xuân và hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới, tránh thiệt hại cho người người nông dân do những yếu tố chủ quan.
9.5. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu 2018 vẫn diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà đã đạt được kết quả khá tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2018./.
Tin khác