Hà Tĩnh tập trung cao cho cuộc Tổng điều tra Kinh tế
- 03/05/2021 18:58
Thời điểm này, Hà Tĩnh đang tập trung cao nhất nhân lực và biện pháp nghiệp vụ để đảm bảo tiến độ, mục tiêu của cuộc cuộc Tổng điều tra Kinh tế và Điều tra cơ sở hành chính năm 2021 (gọi tắt là TĐT) tại địa phương, bắt đầu từ ngày 01/3/2021. Theo thông tin từ Ban chỉ đạo TĐT tỉnh Hà Tĩnh, cuộc TĐT lần này được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1: bắt đầu từ 1/3/2021, tổ chức Tổng điều tra thu thập thông tin cơ sở hành chính, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội đến 30/4/2021 và đối với doanh nghiệp đến 30/5/2021. Giai đoạn 2: bắt đầu từ 1/7/2021, tổ chức thu thập thông tin đối với khối các cơ sở cá thể, tôn giáo, tín ngưỡng đến 30/7/2021. Điểm mới của cuộc TĐT lần này là thực hiện bằng hình thức thu thập thông tin qua 100% phiếu Web-form (đối với giai đoạn 1) và phiếu CAPI (đối với giai đoạn 2), sau đó toàn bộ dữ liệu điều tra từ phiếu Web-form, phiếu CAPI sẽ được tích hợp vào cơ sở dữ liệu chung TĐT và được xử lý để tổng hợp kết quả điều tra.TP Hà Tĩnh là một trong những địa phương có số lượng cơ sở hành chính, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, hiệp hội, đơn vị sự nghiệp... cần điều tra thuộc tốp đầu toàn tỉnh. Vì thế, công tác hướng dẫn, tổ chức thu thập thông tin đang được các đơn vị liên quan tích cực triển khai để đạt kết quả tốt nhất.Phó trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo TĐT TP Hà Tĩnh Nguyễn Thanh Tùng cho biết: “Hiện tại, Ban chỉ đạo đã nắm được cơ bản danh sách nền và đã gửi văn bản hướng dẫn đến các cơ sở hành chính, tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội, đơn vị sự nghiệp; sẽ tiến hành tổ chức tập huấn trong tuần này cho bộ phận kế toán, văn thư của các đơn vị. Còn đối với khối doanh nghiệp, các điều tra viên sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp phụ trách, theo dõi, liên lạc để cung cấp thông tin cần thiết, giải đáp thắc mắc khi điền vào phiếu Web-form trên Trang điện tử của TĐT". Sau khi được tập huấn, các điều tra viên đã cơ bản nắm được các thông tin, kỹ năng nghiệp vụ cần có để thực hiện trong quá trình điều tra. Chị Thân Thị Cẩm Hà - điều tra viên tại TP Hà Tĩnh cho biết: “Chúng tôi đang liên hệ với doanh nghiệp cung cấp tài khoản đăng nhập, mật khẩu và hướng dẫn người dùng truy cập Trang thông tin điện tử TĐT và kê khai vào bản hỏi điện tử. Trong quá trình triển khai, có vấn đề gì chúng tôi sẽ trao đổi thêm với bên doanh nghiệp; kiểm tra lại logic, chất lượng thông tin do cơ sở cung cấp… Vì TP Hà Tĩnh có số doanh nghiệp nhiều nên các điều tra viên cũng phải nỗ lực và tập trung cao hơn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao”.Nguồn: baohatinh.vn
Lộc Hà: Đồng loạt ra quân Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
- 01/04/2021 14:52
Hôm nay, cùng với các địa phương trong cả nước, tại huyện Lộc Hà, 13/13 xã đã đồng loạt ra quân Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Tham dự và chỉ đạo trực tiếp có đồng chí Nguyễn Việt Hùng - Cục trưởng cục Thống kê tỉnh Hà Tĩnh; Đồng chí Phan Văn Nhàn - UVBTV HU, PCT UBND huyện - trưởng BCĐ Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Lộc Hà. Không khí ra quân tại một số xã Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở lần này toàn huyện Lộc Hà có quy mô trên 13 /13 xã với hơn 22.540 hộ, 14 địa bàn điều tra. Để phục vụ quá trình thực hiện, BCĐ Tổng điều tra dân số và nhà ở từ huyện đến cơ sở đã huy động nguồn nhân lực gần 150 người tham gia, trong đó có 87 người được biên chế thuộc tổ điều tra viên.Ông Phan Văn Nhàn - UVBTV HU, PCT UBND huyện - Trưởng BCĐ Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Lộc Hà phát biểu chỉ đạo tại Lễ ra quân tại xã Hồng Lộc Nhờ làm tốt các khâu chuẩn bị, sự phân công, phối hợp nhịp nhàng và kịp thời với các cấp, ngành, đến khoảng 9h, sáng ngày 1- 4, 100% địa bàn trên toàn huyện Lộc Hà đã tổ chức thành công lễ ra quân tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị để đảm bảo thực hiện cập nhật dự liệu bằng thiết bị điện tử chính xác, nhanh chóng, đồng thời phân công các thành viên sẵn sàng nhiệm vụ.Ông Nguyễn Viết Hùng - Cục trưởng cục thống kê, Phó BCĐ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tỉnh( người mặc áo sọc đen trắng) và ông Phan Văn Nhàn - PCT UBND huyện Lộc Hà cùng tham gia chỉ đạo trực tiếp ngay sau lễ ra quân điều tra tại xã Thạch Châu Sau khi diễn ra lễ ra quân, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các thành viên trong BCĐ huyện và xã, các tổ điều tra viên đã được lựa chọn và tập huấn nghiệp vụ tại cơ sở sẽ đến trực tiếp các hộ dân theo địa bàn được phân công để tiến hành thu thập thông tin bằng thiết bị di động. Các thông tin được thu thập bao gồm: thông tin về dân số (thông tin cá nhân, họ tên, giới tính, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân…), thông tin về nhà ở (tình trạng nhà ở, quy mô diện tích, kết cấu nhà, loại vật liệu xây dựng, năm đưa vào sử dụng…). Theo kế hoạch, công tác thu thập thông tin sẽ kết thúc chậm nhất vào ngày 25-4-2019.Trâm Anh
HÀ TĨNH SẴN SÀNG CHO CUỘC TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2021
- 15/03/2021 08:18
Tổng điều tra kinh tế năm 2021 được thực hiện theo Quyết định số 307/QĐ-TTg ngày 26/02/2020; công tác chuẩn bị gần một năm. Đây làm lần thứ 6 mà Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định Tổng điều tra kể từ năm 1995. Trước đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1096/QĐ-BNV ngày 23/12/2019 về tổ chức điều tra cơ sở hành chính năm 2021. Ở cấp Trung ương thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm trưởng ban; Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê làm Phó Trưởng ban; lãnh đạo các Bộ, ngành làm ủy viên theo Quyết định số 752/QĐ-TTg ngày 03/6/2020. Để thực hiện nhiệm vụ, nội dung và phuơng án TĐT của BCĐ TW; các Bộ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao và Nội vụ thành lập Ban chỉ đạo riêng.(Đ/c Nguyễn Hồng Lĩnh - UVBTV Tỉnh ủy - Phó Chủ tịch Thường trực UBND Tỉnh - Trưởng BCĐ Tổng điều tra Kinh tế tỉnh - Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị triển khai công tác Tổng điều tra kinh tế)Thực hiện các văn bản hướng dẫn của BCĐ TW; tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 2920/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 về thành lập Ban chỉ đạo TĐT kinh tế và Điều tra cơ sở hành chính năm 2021 do đồng chí Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh làm trưởng Ban; Cục trưởng Cục Thống kê làm Phó ban Thường Trực; Giám đốc Sở Nộ vụ làm phó Ban, các thành viên là lãnh đạo các sở ngành:Cục Thống kê; Sở KHĐT; Sở Y tế; Sở GD ĐT; Sở TTTT; Sở VHTTDL; Cục Thuế; Kho bạc Nhà nước tỉnh; Đài phát thanh Truyền hình tỉnh (thực hiện cả hai nhiệm vụ: Tổng điều tra kinh tế và Điều tra cơ sở hành chính năm 2021); thành lập Tổ thường trực giúp BCĐ tỉnh gồm 23 đồng chí thuộc các Sở, ngành, do đồng chí Phó Cục trưởng Cục Thống kê làm Tổ trưởng.Đã có 13/13 BCĐ cấp huyện, với 158 thành viên, do Lãnh đạo UBND cấp huyện làm trưởng Ban và 13/13 Tổ giúp,với 166 thành viên, do Lãnh Chi cục Thống kê cấp huyện làm Tổ trưởng.Có 216/216 Ban Chỉ đạo TĐT cấp xã, với 1.839 thành viên, do Lãnh đạo UBND cấp xã làm Trưởng Ban Chỉ đạo.Cuộc Tổng điều tra lần này được chia thành hai giai đoạn.Giai đoạn 1: Bắt đầu từ 01/3/2021, tổ chức Tổng điều tra thu thập thông tin cơ sở hành chính, tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội đến 30/4/2021 và đối với doanh nghiệp đến 30/5/2021. Giai đoạn 2: Bắt đầu từ 01/7/2021, tổ chức thu thập thông tin đối với khối các cơ sở cá thể, tôn giáo, tín ngưỡng đến 30/7/2021.Điểm mới trong tổ chức TĐT lần này là: Bộ Nội vụ có thành lập BCĐ TĐT để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thu thập thông tin cơ bản về số đơn vị hành chính, số lượng và trình độ của lực lượng lao động; kết quả thu, chi trong các cơ sở hành chính Nhà nước; phục vụ việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách quản lý, kế hoạch, quy hoạch phát triển ngành, vùng, phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực … đáp ứng yêu cầu quản lý của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương. Điểm mới thứ hai là ứng dụng triệt để công nghệ thông tin: 100% phiếu điều tra bằng phiếu điện tử (phiếu web-form, phiếu Capi) và các văn bản hướng dẫn cũng bằng điện tử; họp tập huấn trực tuyến. Từ đó, các đơn vị sử dụng phiếu web-form là các đơn vị, tổ chức có tư cách pháp nhân (có con dấu và tài khoản) là một đơn vị điều tra cũng là một điều tra viên phải được tập huấn; nên số lượng điều tra viên lĩnh vực này tăng, nhất là điều tra viên đối với doanh nghiệp. Đây cũng là điểm khó khăn thứ nhất; điểm khó khăn thứ hai là: trong điều kiện dịch Covof-19 đang diễn biến phức tạp, các doanh nghiệp khó khăn, ngừng, nghỉ hoạt động tương đối nhiều; khó tiếp cận để thực hiện tự ghi phiếu web-form của đơn vị trên máy tính; điểm khó khăn thứ ba, mà nhiều năm nay là thu thập thông tin doanh nghiệp 01/3/2021 khi có nhiều doanh nghiệp chưa hoàn thành báo cáo quyết toán năm theo quy định, nên chưa có thông tin ghi phiếu.Ngày 23/02/2021, BCĐ TĐT Tỉnh đã tổ chức họp trực tuyến đến 13 điểm cầu cấp huyện, có tham gia của Trưởng Ban chỉ đạo cấp xã để rà soát lại công tác chuẩn bị và nhiệm vụ tiếp theo trong thời gian tới.Đến nay, Ban chỉ đạo các cấp đã và đang tổ chức rà soát các đơn vị điều tra (bảng kê); ban hành kế hoạch TĐT, kế hoạch tuyên truyền; Phân công nhiệm vụ và địa bàn cho thành viên BCĐ tỉnh; dự thảo chỉ thị của UBND Tỉnh. Tại hội nghị, các đại biểu thành viên BCĐ Tỉnh, đại biểu cấp huyện đã báo cáo kết quả thực hiện tốt công tác chuẩn bị, trao đổi một số khó khăn trong công tác điều tra và hứa trước Trưởng Ban chỉ đạo tỉnh: với nhiều năm kinh nghiệm và trách nhiệm của mỗi ngành, phấn đấu tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ Tổng điều tra trước Lãnh đạo tỉnh và Trung ương.Kết luận luận hội nghị đánh giá công tác chuẩn bị, triển khai công tác Tổng điều tra, đồng chí Trưởng Ban chỉ đạo tỉnh yêu cầu thành viên BCĐ tỉnh, các sở ngành theo chức năng nhiệm vụ và Ban chỉ đạo các cấp chuẩn bị thật tốt cho công tác Tổng điều tra; các cơ quan truyền thông tổ chức tốt công tác tuyên truyền theo chuyên trang, chuyên mục về mục đích, ý nghĩa cuộc Tổng điều tra, kịp thời nêu gương tốt việc tốt trong quá trình thực hiện; giao Sở Nội vụ chịu trách nhiệm Điều tra các cơ sở hành chính năm 2021 theo hướng dẫn và kế hoạch của BCĐ Điều tra của Bộ Nội vụ và giao Cục Thống kê, cơ quan Thường trực BCĐ, phối hợp với các cơ quan, sở, ngành, UBND và BCĐ cấp huyện cấp xã và chịu trách nhiệm toàn diện cuộc TĐT kinh tế và Điều tra tra cơ sở hành chính năm 2021 trên địa bàn tỉnh; tổ chức phân tích kết quả Tổng điều tra để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn; tổ chức sơ kết, tổng kết theo hướng dẫn của BCĐ Trung ương. Với tinh thần chủ động, phòng ngừa dịch Covid 19, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, của cộng đồng doanh nghiêp và toàn thể Nhân dân, chúng ta tin rằng: Hà Tĩnh sẵn sàng cho cuộc Tổng điều tra kinh tế 2021 thành công./.
Hệ thống quản lý chất lượng của Cục Thống kê Hà Tĩnh phù hợp tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2015
- 21/02/2021 08:22
Quyết định Ban hành hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015Quyết định Công bố Hệ thống quản lý chất lượng tại Cục Thống kê Hà Tĩnh đã ban hành tại Quyết định số 161 QĐ/CTK-ISOChính sách chất lượngMục tiêu chất lượngTổng hợp - phân tích bối cảnh và Quản trị rủi roHướng dẫn kiểm soát thông tin dạng văn bản (tài liệu, hồ sơ)Phân tích bối cảnh và quản trị rủi roHướng dẫn đánh giá nội bộHướng dẫn kiểm soát không phù hợp và hành động khắc phục1. Quy trình quản lý công tác văn thư, lưu trữ2. Quy trình quản lý tài sản, tài chính công3. Quy trình tổ chức hội nghị, hội thảo4. Quy trình về tiếp nhận, bồi dưỡng, đào tạo, quy hoạch, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ công chức5. Quy trình thực hiện công tác thi đua khen thưởng hàng năm6. Quy trình tổ chức thực hiện công tác thống kê tài khoản quốc gia7. Quy trình tổ chức thực hiện công tác thống kê tổng hợp8. Quy trình tổ chức cuộc thanh tra9. Quy trình công tác phương pháp chế độ10. Quy trình thực hiện báo cáo lao động việc làm11. Quy trình thực hiện báo cáo dân số12. Quy trình thực hiện báo cáo xã hội môi trường13. Quy trình thực hiện báo cáo thống kê Công nghiệp14. Quy trình thực hiện báo cáo thống kê xây dựng15. Quy trình thực hiện báo cáo thống kê vốn đầu tư16. Quy trình thực hiện báo cáo thống kê giá17. Quy trình thực hiện báo cáo thống kê thương mại, dịch vụ18. Quy trình thực hiện báo cáo diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm19. Quy trình thực hiện báo cáo năng suất sản lượng cây lâu năm20. Quy trình thực hiện báo cáo thống kê chăn nuôi21. Quy trình thực hiện báo cáo thống kê lâm nghiệp22. Quy trình thực hiện báo cáo thủy sản23. Quy trình quản lý thiết bị hạ tầng công nghệ thông tin24. Quy trình thực hiện các cuộc Tổng điều tra thống kê25. Quy trình điều tra cơ sở SXKD cá thể hàng năm26. Quy trình điều tra doanh nghiệp hàng năm27. Quy trình điều tra diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm28. Quy trình thực hiện điều tra năng suất, sản lượng cây lâu năm29. Quy trình thực hiện điều tra lâm nghiệp30. Quy trình thực hiện điều tra thủy sản31. Quy trình thực hiện điều tra lao động việc làm32. Quy trình thực hiện điều tra thống kê biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình33. Quy trình thực hiện điều tra thống kê khảo sát mức sống hộ dân cư34. Quy trình thực hiện điều tra Công nghiệp35. Quy trình thực hiện điều tra xây dựng36. Quy trình thực hiện điều tra vốn đầu tư37. Quy trình lập thực hiện điều tra thống kê giá38. Quy trình thực hiện điều tra thống kê thương mại, dịch vụ39. Quy trình điều tra chăn nuôi
THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2020
- 07/01/2021 17:07
Tình hình kinh tế - xã hội Hà Tĩnh năm 2020 diễn ra trong bối cảnh dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu; thời tiết mưa lũ bất thường đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế – xã hội của địa phương. Trong bối cảnh đó, tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai kịp thời Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm tính chủ động, kịp thời, linh hoạt, lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm để tập trung chỉ đạo, phù hợp với diễn biến tình hình và các vấn đề mới phát sinh, phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu, kế hoạch đề ra. 1. Tăng trưởng kinh tếTốc độ tăng trưởng GDRP năm 2020 của Hà Tĩnh ước tính tăng 0,53% so với năm 2019, chưa đạt so với kế hoạch đề ra (10,5-11%) Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76% đóng góp 0,5 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,48%, đóng góp 0,21 điểm %; khu vực dịch vụ tăng 0,69%, đóng góp 0,23 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 4,57%, đóng góp -0,41 điểm % vào mức tăng trưởng chung.` - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Năm 2020 đạt mức tăng trưởng khá. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,59% đóng góp 0,38 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành lâm nghiệp tăng 2,81% đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Điểm sáng của khu vực này là ngành thủy sản đạt kết quả khá với mức tăng 5,46%, nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ đóng góp 0,09 điểm phần trăm. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh năm2020 nhìn chung ổn định trong điều kiện thời tiết và dịch bệnh phức tạp. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt; sản lượng thủy sản và sản lượng gỗ khai thác đều tăng so với cùng kỳ - Khu vực Công nghiệp và xây dựng: Ngành công nghiệp năm 2020 tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ các năm 2011-2020, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,5 %, đóng góp -0,64 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 5,08%, làm giảm 0,03 điểm phần trăm; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước là điểm sáng trong tăng trưởng của khu vực này với mức tăng 12,52%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,27% so với cùng kỳ đóng góp -0,03 điểm %. Ngành xây dựng năm 2020 giảm -2,24% đóng góp -0,19 điểm phần trăm. Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2020 chịu tác động mạnh của dịch bệnh Covid-19, gây thiếu nguồn cung nguyên liệu đầu vào; cùng với đó là những khó khăn trong hoạt động thương mại làm giảm nhu cầu tiêu thụ đầu ra dẫn tới sản lượng sản xuất sụt giảm. Bên cạnh đó do ảnh hưởng của thời tiết và dịch bệnh nên hoạt động xây dựng tiếp tục gặp khó khăn.- Khu vực dịch vụ: Năm 2020 tăng 0,69%, đây là năm thứ hai tăng trưởng khu vực này đạt thấp kể từ khi xảy ra sự cố môi trường biển. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn như: Bán buôn và bán lẻ tăng 3,22% so với năm 2019, đóng góp 0,19 điểm phần trăm vào mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có mức tăng khá 7,7%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 23,39%, đóng góp -0,55 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 7,36%, đóng góp -0,27 điểm phần trăm... Do là ngành chịu tác động lớn của tình hình dịch bệnh Covid-19 và chính sách pháp luật với việc thực hiện Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ, những tháng cuối năm lại chịu ảnh hưởng bởi thời tiết không thuận lợi, mưa bão xảy ra liên tiếp. - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: Hiện nay, thực hiện tính chỉ tiêu GRDP theo giá cơ bản thì thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP. Năm 2020, thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm theo giá so sánh giảm 4,57% so với năm 2019 làm giảm 0,41 điểm phần trăm trong tổng mức tăng trưởng chung. Nguyên nhân chính do số thu từ công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa giảm mạnh và hoàn thuế VAT tăng cao so với cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,81%, tăng 2,09 điểm phần trăm so với năm 2019; khu vực công nghiêp- xây dựng chiếm 41,95% giảm 1,03 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 33,75%, giảm 0,83 điểm phần trăm và khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,49% giảm 0,23 điểm phần trăm.Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 4,42%/năm, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1,53%/năm; khu vực công nghiệp-xây dựng đạt 8,8%/năm; khu vực dịch vụ đạt 3,46%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt -3,91%/năm. Như vậy, hoạt động sản xuất ổn định của Công ty Fomosa đóng vai trò rất lớn cho sự phát triển của ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước tạo tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế cho những năm tiếp theo và tạo tiền đề cho bước đột phá mới. 2. Tài chính, ngân hàng - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2020 đạt 10.126 tỷ đồng, bằng 80% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: thu nội địa chiếm 69,81%; tăng 13,20%; thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 20,66% giảm 63,02% và thu khác chiếm 9,53%; tăng 27,75% so với năm 2019. Trong điều kiện khó khăn chung do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, bên cạnh đó hậu quả do lũ lụt, cháy rừng và dịch bệnh trong sản xuất đã ảnh hưởng trực tiếp đến tổng thu NSNN trên địa bàn. Với các giải pháp điều hành linh hoạt, bố trí sắp xếp hợp lý các nhiệm vụ chi nên chi ngân sách cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh.Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2020 đạt 18.917,1 tỷ đồng tăng 11,36% so với cùng kỳ năm 2019. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 44,32% tổng chi, tăng 20,66% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 55,60%, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm 2019. - Hoạt động ngân hàng: Năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung vào các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của Ngành và UBND tỉnh có liên quan đến hoạt động ngân hàng năm 2020 và các văn bản chỉ đạo liên quan đến phòng chống, khắc phục hậu quả dịch Covid -19 và lũ lụt năm 2020.Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2020 đạt 69,7 nghìn tỷ đồng, tăng 23% so với cuối năm 2019, đạt 143,75% so với kế hoạch. Dư nợ cho vay ước đến cuối năm 2020 đạt 59,3 nghìn tỷ, tăng 14,25% so với cuối năm. Nợ xấu được kiểm soát và dưới mức cho phép (1,17%). 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 3.1. Nông nghiệpa. Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm năm 2020 sơ bộ đạt 155.714 ha, bằng 99,28% (giảm 1.130 ha) so với năm 2019. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm sơ bộ đạt 580.398 tấn, bằng 105,32% (tăng 29.363 tấn) so với năm 2019.Tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm 2020 sơ bộ tăng 0,31% (tăng 322 ha) so với năm 2019; Năng suất thu hoạch lúa cả năm 2020 sơ bộ tăng 3,12% (tăng 1,56 tạ/ha) so với năm 2019. Tổng sản lượng lúa năm 2020 sơ bộ tăng 5,41% (tăng 27.389 tấn) so với năm 2019. Trong đó: sản lượng lúa Đông Xuân chiếm tỷ trọng 60,92%, giảm 1,75% (giảm 5.793 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu chiếm tỷ trọng 38,92%, tăng 19,27% (tăng 33.588 tấn) và Vụ Hè Thu năng suất tăng do ít sâu bệnh, nông dân tuân thủ lịch thời vụ nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Sản lượng lúa Mùa chiếm tỷ trọng 0,16% tổng sản lượng lúa cả năm, giảm 32,97% (giảm 406 tấn) so với cùng kỳ năm 2019. Năng suất lúa vụ Đông Xuân và vụ Mùa giảm do một số diện tích thời kỳ lúa trổ gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi. Đặc biệt, vụ Đông Xuân do ảnh hưởng một một số loại sâu bệnh đạo ôn lá, bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh bạc lá đã làm cho năng suất giảm.b. Cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện, tổng diện tích cây lâu năm sơ bộ đạt 31.449 ha, bằng 101,28%, tăng 396 ha so với năm 2019. Trong đo: Diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 18.797 ha, chiếm 59,8% tổng diện tích cây lâu năm, bằng 105,37%, tăng 958 ha so với năm 2019; Diện tích cây cao su sơ bộ đạt 8.739 ha, giảm 601 ha so với năm 2019; Diện tích chè búp sơ bộ đạt 1.260 ha, tăng 57 ha so với năm 2019. Chè xanh sơ bộ đạt 1.811 ha, tăng 46 ha so với năm 2019. Năng suất chè búp sơ bộ đạt 82,28 tạ/ha, tăng 5,99 tạ/ha với sản lượng chè búp đạt 7.775 tấn, tăng 307 tấn, bằng 104,11%. Năng suất cây chè xanh sơ bộ đạt 106,47 tạ/ha, giảm 1,67 tạ/ha với sản lượng chè xanh đạt 18207 tấn, tăng 460 tấn. Mô hình trồng chè đã đạt những kết quả khả quan, hiệu quả cao hơn so với trồng các loại cây công nghiệp khác.c. Về chăn nuôi gia súc, gia cầm: Ngay từ đầu năm, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm đã được tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp kiểm soát dịch và đạt được những kết quả bước đầu về tăng đàn, tái đàn và tăng sản lượng. Ước tính đến thời điểm 01/01/2021, toàn tỉnh có tổng đàn trâu 66.816 con, tăng 1,56% so với cùng kỳ; tổng đàn bò 170.246 con, tăng 2,1%; tổng đàn lợn 385.674 con, tăng 8,39%; tổng đàn gia cầm 9,241 triệu con, tăng 4,99%. Sản lượng thịt trâu đạt 3650 tấn, tăng 1,39% so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt bò đạt 10.070 tấn, tăng gần 3,74%; sản lượng thịt lợn đạt 72.389 tấn, tăng 1,34%; sản lượng thịt gia cầm đạt 20.054 tấn, tăng 10,98%; sản lượng trứng gia cầm đạt 330,42 triệu quả, tăng 5,13%. Sản lượng sữa bò cả năm 2020 đạt 10.170 tấn, tăng 6,21% so với năm 2019.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến ngày 20/12/2020, dịch lở mồm long móng đã xảy ra tại 10 xã thuộc 7 huyện, thị xã (Can Lộc, Hương Sơn, huyện Kỳ Anh, thị xã Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Nghi Xuân, Hương Khê), làm cho 132 con gia súc mắc bệnh, hiện còn ổ dịch tại các xã Gia Phố, Hương Vĩnh (huyện Hương Khê) chưa qua 21 ngày. Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 34 hộ/20 xã của 10 huyện, thành phố, thị xã, buộc phải tiêu hủy là 234 con với trọng lượng 13,5 tấn. Các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác không xẩy ra trên đàn gia súc, gia cầm.Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 253.524 liều, đạt 81,2% kế hoạch; Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 243.868 liều, đạt 79,6% kế hoạch; Dịch tả lợn 300.263 liều, đạt 79,4% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 300.186 liều, đạt 80,9% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 120.847 liều, đạt 75,9% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,97 triệu liều, đạt 39,8% kế hoạch. 3.2. Lâm nghiệp - Trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng: Năm 2020, diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh ước đạt 8.903 ha, tăng 3,43% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán giảm 19,46% (giảm 795 ngàn cây) so với năm trước. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới; sản lượng gỗ khai thác sơ bộ tăng 6,71% (tăng 22.805 m3) so với năm trước- Thiệt hại rừng: Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng được tăng cường, từ đầu năm đến nay đã phát hiện và xử lý 189 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, tịch thu tang vật 164,287 m3 gỗ các loại, 164,4 kg động vật rừng, 3752,7kg lâm sản khác và 24 phương tiện. Năm 2020, toàn tỉnh xảy ra 51 điểm phát lửa, trong đó có 14 điểm gây cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 85,67ha, diện tích rừng thiệt hại không có khả năng phục hồi ước tính khoảng 59,7ha (so với năm 2019 giảm 49 điểm phát lửa, giảm 7 vụ cháy, diện tích rừng bị cháy giảm 377,23 ha, diện tích rừng thiệt hại không có khả năng phục hồi giảm 243,25 ha).3.3. Thủy sảnKết quả đánh bắt, nuôi trồng thủy sản năm 2020 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá với sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng sơ bộ tăng 2,7%, tăng 1.440 tấn so với năm 2019, trong đó:- Sản phẩm thủy sản khai thác: Sơ bộ đạt tăng 2,93%, tăng 1.125 tấn so với năm 2019, chiếm 72,07% tổng sản lượng thủy hải sản năm 2020. Sản lượng khai thác cá tăng 1.008 tấn; tôm giảm 93 tấn; thủy sản khác tăng 210 tấn.- Sản phẩm thủy sản nuôi trồng: Sơ bộ tăng 2,1%, tăng 315 tấn so với năm 2019, chiếm 27,93% tổng sản lượng thủy hải sản năm 2020. Trong đó, sản lượng cá giảm 128 tấn; tôm tăng 173 tấn; thuỷ sản khác tăng 270 tấn. Đợt lũ lụt vào trung tuần tháng 10 cũng đã gây thiệt hại đối với hoạt động nuôi trồng. 4. Sản xuất công nghiệp- Chỉ số sản xuất công nghiệp: Tính chung 12 tháng năm 2020, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính giảm 4,83% so với năm 2019. Ngành khai khoáng giảm 6,49%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,62%, làm giảm 6,06 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện tăng 8,43%, đóng góp 1,42 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 4,63%, làm giảm 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.- Về Một số sản phẩm chủ yếu: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2020 chỉ có 7 sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng cao nhất là Quặng Zircon và tinh quặng Zircon tăng 43,79%; thu gom rác thải tăng 15,27%; điện sản xuất tăng 8,18%; Nước uống tăng 5,22%; song song với việc một số sản phẩm công nghiệp tăng thì trong năm vừa qua đã có đến 14 sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số sản phẩm giảm mạnh như: bê tông trộn sẵn giảm 61,05%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 43,2%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) giảm 39,83%. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệpTính đến 20/12/2020 toàn tỉnh thành lập mới 943 doanh nghiệp (giảm 7,73% ) và 38 hợp tác xã (tăng 15,15%) so với cùng kỳ năm trước, với tổng số vốn đăng ký đạt 7.393 tỷ đồng, giảm 39,02% so với cùng kỳ năm trước; bình quân doanh nghiệp đăng ký vốn đạt 7,84 tỷ đồng/doanh nghiệp, giảm 6,16 tỷ đồng/doanh nghiệp so với năm 2019.Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua do tình hình dịch bệnh ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể đã có 401 doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng kinh doanh, tăng 18,28% so với cùng kỳ.6. Đầu tư và xây dựng 6.1. Đầu tư phát triển Dự ước tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2020 trên địa bàn toàn tỉnh đạt 26.075,4 tỷ đồng, bằng 100,5% so với năm 2019. Trong đó, vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.867,4 tỷ đồng, tăng 32,72% so với năm trước; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 14.664,7 tỷ đồng, bằng 99,03% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.543,3 tỷ đồng, bằng 68,01% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù nguồn vốn nhà nước trên địa bàn có tăng mạnh trên (32,72%) so với cùng kỳ, song do cơ cấu nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn, và nguồn vốn này tiếp tục giảm trong năm 2020 nên ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội. 6.2. Xây dựng Năm 2020, mặc dù nguồn vốn ngân sách tỉnh đầu tư trên địa bàn tăng 46% so với năm trước. Một số dự án lớn do doanh nghiệp ngoài nhà nước, nước ngoài đầu tư trên địa bàn triển khai xây dựng như Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh (gần 1.200 tỷ), dự án nhà máy sản xuất lâm sản An Việt Phát (380 tỷ); Dự án nhà máy gỗ Thanh Thành Đạt tăng nguồn vốn từ 1.485 tỷ lên 1.785 tỷ; Dự án nhà máy điện mặt trời Cẩm Xuyên (550 tỷ)... Tuy nhiên, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 diễn ra trong thời gian dài. Tháng 4, các hoạt động xây dựng tạm ngừng hoặc giãn thi công do giãn cách xã hội, tháng 10 mưa lớn ngập úng trên diện rộng. 7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụNăm 2020 kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và thiên tai đặc biệt các ngành dịch vụ vận tải và lưu trú, ăn uống; du lịch. Sau lệnh dỡ bỏ giãn cách xã hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh đã dần ổn định trở lại; nguồn cung hàng hóa chủ động, chất lượng được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người dân. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá uớc cả năm 2020 đạt 40.853,8 tỷ đồng tăng 3,7% so cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng 9% của năm 2019.- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Năm 2020 dự tính đạt 4.284,13 tỷ đồng, giảm 20,9% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Dịch vụ Lưu trú dự tính đạt 201,76 tỷ đồng, giảm 37,72%; Dịch vụ ăn uống dự tính 4.082,37 tỷ đồng, giảm 19,86%; dịch vụ Lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 11,56 tỷ đồng, giảm 55,33% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Ước cả năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác đạt 1.501,16 tỷ đồng, giảm 9,06% so với năm 2019, đây là năm giảm lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây. - Vận tải hành khách: Doanh thu vận tải hành khách năm 2020 ước đạt 1.698,84 tỷ đồng, giảm 13,69% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng vận chuyển hành khách ước đạt 21.174,2 nghìn HK, giảm 15,85%; luân chuyển ước đạt 3.799.661,5 nghìn HK.km, giảm 14,55% so với cùng kỳ năm trước.- Vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.872,19 tỷ đồng, giảm 8,22% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 32.710,6 nghìn tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 874.663,7 nghìn tấn.km, giảm 6,99% so vói cùng kỳ năm trước.- Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ: Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 598,04 tỷ đồng, tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. 8. Chỉ số giá tiêu dùngCPI năm 2020 tăng 3,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực thành thị tăng 4,18% và khu vực nông thôn tăng 3,01%. Một số nhóm hàng có chỉ số tăng như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,40%; Đồ uống và thuốc lá tăng 2,67%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,85%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,19%; Giáo dục tăng 5,12%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,39% so với cùng kỳ năm trước. 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Dân số, lao động và việc làmDân số trung bình năm 2020 ước tính 1.296.622 người, tăng 0,49% so với năm 2019. Trong đó: Dân số thành thị 287.766 người, chiếm 22,19%; dân số nông thôn 1.008.856 người, chiếm 77,81%; dân số nam 642.159 người, chiếm 49,53% và dân số nữ 654.463 người, chiếm 50,47%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2020 ước khoảng 715.476 người, chiếm 55,18% dân số toàn tỉnh, tăng 1,17% so với năm 2019; trong đó lực lượng lao động nam 349.750 người (chiếm 48,88% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị 158.262 người (chiếm 22,12% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên).Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2020 ước tính 694.050 người, chiếm 97,01% trong tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, trong đó: lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 50,63% trong tổng số (tương ứng 351.376 người), giảm 0,44 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 18,77% (tương ứng 130.246 người), tăng 0,62 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 30,61% (tương ứng 212.428 người), giảm 0,18 điểm phần trăm. Ước tính năm 2020, Hà Tĩnh đã giải quyết việc làm cho 19.893 lao động, giảm 19,73% so với năm 2019, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 12.240 người, tăng 3,2%; xuất khẩu lao động 4.803 người, giảm 49,89%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 2.850 người, giảm 14,67%.9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Đời sống dân cư Hà Tĩnh năm 2020 vẫn giữ vững ổn định so với cùng kỳ năm trước. Tính đến 15/12/2020 Hà Tĩnh đã thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ cho 177.349 đối tượng với kinh phí 238,43 tỷ đồng (đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo; đối tượng là hộ kinh doanh và lao động bị mất việc làm). Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói .Tỷ lệ giảm nghèo Hà Tĩnh đã đạt được kết quả đáng ghi nhận, đến nay tỷ lệ hộ nghèo là 3,51% (gồm 13.412 hộ, với 26.990 khẩu), giảm 1,02 điểm phần trăm so với năm 2019; tỷ lệ hộ cận nghèo là 4,31% (gồm 16.462 hộ, với 50.219 khẩu), giảm 0,75 điểm phần trăm.Toàn tỉnh trao tặng khoảng 475.242 suất quà trị giá khoảng 144,42 tỷ đồng, trong đó: tặng quà cho người có công khoảng 287.580 suất trị giá 61,055 tỷ đồng; quà cho hộ nghèo 75.097 suất, kinh phí 34,766 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 54.767 suất, kinh phí 16,051 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn 13.198 suất, kinh phí 6,299 tỷ đồng; quà đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác 44.600 suất, kinh phí 26,249 tỷ đồng. Cấp khoảng 28.570 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 49.048 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 144.358 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 59.798 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công.9.3. Giáo dục, đào tạo- Giáo dục phổ thông: Năm học 2020-2021, toàn tỉnh có 667 trường, giảm 35 trường so với năm học 2019-2020 (gồm 254 trường mầm non, giảm 11 trường; 221 trường tiểu học, giảm 20 trường; 147 trường THCS, giảm 4 trường; 45 trường THPT, không thay đổi) với 10.400 lớp (mẫu giáo 2.804 lớp, tiểu học 4.030 lớp, THCS 2.366 lớp, THPT 1.200 lớp) và 18.005 giáo viên (mầm non 5.254 người, tiểu học 5.375 người, THCS 4.599 người, THPT 2.777 người) và 322.636 học sinh (nhà trẻ, mẫu giáo 79.237 em, tiểu học 121.205 em, THCS 78.464 em và THPT 43.730 em).- Giáo dục đào tạo: Năm học 2020-2021, chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy là 1.430 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.380 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh có 23 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 4 trường cao đẳng, 1 phân hiệu của trường cao đẳng, 4 trường trung cấp, 10 trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện, 4 cơ sở dạy nghề khác. Tính đến ngày 10/12/2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 4.313 người, trong đó: trình độ cao đẳng 35 người, trình độ trung cấp 806 người; trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên 3.472 người.9.4. Hoạt động Y tế- Tình hình dịch bệnh:Hiện nay, trên địa bàn tỉnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, cộng dồn tổng số bệnh nhân nhiễm Covid -19 là 4 người, tất cả các ca trên đã điều trị khỏi. Tính đến ngày 15/12/2020 cộng dồn cách ly tập trung toàn tỉnh là 15.261 người; cộng dồn cách ly và theo dõi tại nhà là 19.739 người.Ngoài dịch bệnh Covid-19, năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 3 ổ dịch xuất huyết Dengue (gồm 25 ca) và 2 ổ dịch thủy đậu (gồm 17 ca); tất cả các ổ dịch đều không có bệnh nhân tử vong. Ngoài các ổ dịch trên còn có 64 trường hợp sốt xuất huyết, 266 trường hợp sốt rét, 175 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 258 trường hợp mắc lỵ a míp, 126 trường hợp mắc quai bị, 636 trường hợp mắc thủy đậu, 108 trường hợp mắc bệnh chân tay miệng và 45 trường hợp mắc bệnh viêm gan siêu vi trùng. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Năm 2020, Hà Tĩnh có 75 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 3 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 70 trường hợp chuyển thành AIDS (giảm 2 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái) và có 9 trường hợp chết vì AIDS (giảm 1 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Năm 2020, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm (huyện Cẩm Xuyên ;huyện Kỳ Anh ;huyện Đức Thọ) với 1.173 ca ngộ độc (24 ca ngộ độc tập thể, 1.149 ca đơn lẻ), không có người chết vì ngộ độc. So với năm 2019 giảm 1 vụ ngộ độc, giảm 507 ca ngộ độc (giảm 62 ca ngộ độc tập thể, giảm 445 ca ngộ độc đơn lẻ).9.5. Hoạt động văn hóa - thể thao- Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh phải đóng cửa, tạm ngừng hoạt động, nên hoạt động văn hóa năm 2020 rất trầm lắng. Hoạt động văn hóa ở Hà Tĩnh nổi bật với hoạt động như: “ Mừng Đảng- mừng Xuân Kỷ Hợi” năm 2020, kỷ niệm ngày Giải phóng Miền Nam (30/4), ngày Quốc tế lao động, kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh, ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2020) hay lễ kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh Liệt sỹ.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Năm 2020, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện 06 cuộc thanh tra, kiểm tra trên 100 cơ sở kinh doanh. Cấp 192 giấy phép, trong đó có 31 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 7 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 141 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 07 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao, 06 cái thuộc lĩnh vực còn lại.- Hoạt động thể thao: Hoạt động thể thao quần chúng ngày càng sôi nổi, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; đồng thời gắn với các phong trào thi đua yêu nước thường xuyên được duy trì và tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với đó, thể thao thành tích cao năm 2020, Hà Tĩnh tham gia 31 giải thành tích cao, kết quả đạt: 147 HC (67V-32B-48Đ ), trong đó môn điên kinh tham gia 5 giả đạt 44HC (24HCV, 8 HCB, 12HCĐ), Muay tham gia 2 giải đạt 3 huy chương (1HCB, 2HCĐ), Đua Thuyền tham gia 4 giải đạt 21 huy chương (13V, 4B, 4Đ).9.6. Tình hình an toàn giao thôngTính từ 15/12/2019 đến 14/12/2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xẩy ra 124 vụ tai nạn giao thông, 103 người chết, 64 người bị thương so với năm 2019 số vụ tai nạn giao thông đã giảm 2 vụ (giảm 1,58%), giảm 7 người chết (giảm 3,74%), giảm 15 người bị thương (giảm 18,98%), trong đó: tai nạn giao thông đường bộ 123 vụ, 102 người chết, 64 người bị thương; tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ ,1 người chết.9.7. Tình hình thiên taiNăm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 11 đợt thiên tai đã gây thiệt hại làm 7 người chết, 51 người bị thương; 8 nhà bị sập, 4.565 nhà bị hư hỏng; 1520,4 ha lúa, 4.598,4 ha hoa màu, 2.154 ha cây trồng hằng năm, 836,05 ha cây trồng hằng năm, 480,9 ha rừng, 2.304 ha cây ăn quả bị đổ gãy và hư hỏng; 826,6 nghìn con gia cầm, 339 con trâu, bò, 9.281 con lợn, 397 gia súc khác bị cuốn trôi và chết; 643 cột điện, 3 ăng ten bị gãy đổ; 970 nhà cơ quan và 141 trường học bị hư hại... Ngoài ra, còn có một cây cối bị đổ gãy và nhiều thiệt hại khác. Tổng thiệt hại ước tính là 5.456,07 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại đồng thời kêu gọi hỗ trợ 4079 tấn gạo và hàng ngàn suất quà có trị giá 246 tỷ đồng để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người dân.9.8. Môi trường- Tình hình cháy, nổ: Tính cả năm 2020, trên địa bàn xảy ra 67 vụ cháy, nổ (trong đó có 67 vụ cháy và 0 vụ nổ), làm chết 3 người, bị thương 4 người, thiệt hại ước tính 12.363,8 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 9 vụ cháy nổ (giảm 4 vụ cháy, 5 vụ nổ), tăng 1 người chết, tăng 4 người bị thương.- Công tác bảo vệ môi trường: Tính chung cả năm 2020, phát hiện 48 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 43 vụ với số tiền xử phạt là 329,4 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: giảm 55 vụ (giảm 53,39%), số vụ xử lý giảm 47 vụ, số tiền nộp phạt tăng 27,9 triệu. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép./. CỤC THỐNG KÊ HÀ TĨNH
HỘI NGHỊ TỔNG KẾT ĐỀ ÁN 715 - ĐỔI MỚI QUY TRÌNH BIÊN SOẠN SỐ LIỆU TỔNG SẢN PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
- 11/12/2020 16:03
Ngày 11/12/2020, Bộ Kế hoạch đầu tư tổ chức hội nghị trực tiếp và trực tuyến tổng kết Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩn trên địa bàn tỉnh thành phố trực thuộc trung ương theo Quyết định phê duyệt đề án số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng chính phủ (gọi tắt là Đề án 715). Tham dự đầu cầu Hà Tĩnh có đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh, UVBTV Tỉnh ủy, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; cùng đại diện các Ban HĐND tỉnh, đại diện các sở, ngành liên quan; lãnh đạo và cán bộ công chức Cục Thống kê. Sau hơn 20 năm thực hiện biên soạn Hệ thống tài khoản quốc gia năm 1993 (SNA 1993). Đến năm 2008, yêu cầu cập nhật đổi mới từ SNA 1993 sang SNA 2008 của cơ quan Thống kê Liên hiệp quốc. Tổng sản phẩm quốc gia (GDP) và tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố (GRDP), tuy đã tuân thủ tối đa các hướng dẫn của nhưng quy trình phân công và phân cấp biên soạn số liệu giữa trung ương và địa phương áp dụng từ năm 1993 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, dẫn tới tình trạng chênh lệch số liệu GRDP cộng từ các tỉnh, thành phố so với số liệu GDP của cả nước ngày càng có xu hướng xa hơn (ngày càng doãng ra). Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chênh lệch này bao gồm: (i) Khó khăn trong việc thu thập thông tin theo nguyên tắc thường trú của Tài khoản quốc gia, dẫn đến có sự tính trùng giữa các địa phương; (ii) Bệnh thành tích của các địa phương; (iii) Đội ngũ công chức, viên chức thống kê chuyên sâu về Tài khoản quốc gia của các Cục Thống kê tuy trình độ chuyên sâu đã được nâng lên, nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế và thiếu về số lượng. Vai trò, tầm quan trọng của chỉ tiêu GDP và GRDP trong việc lập kế hoạch, quản lý và điều hành của chính quyền địa phương cho thấy cấp thiết phải có 1 đề ánnghiên cứu đổi mới quy trình biên soạn số liệu GDP và GRDP theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế mới và phù hợp với thực tiễn nước ta nhằm nâng cao chất lượng số liệu GDP và GRDP, đáp ứng nhu cầu thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương phục vụ quản lý, chỉ đạo, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước và địa bàn tỉnh, thành phố; đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng dùng tin trong và ngoài nước khác. Do những bất cập của quy trình phân tán trong biên soạn chỉ tiêu GRDP. Kết quả biên soạn tổng sản phẩm trên địa bàn trước và sau khi có Đề án 715: Tốc độ tăng GDP của cả nước tính từ số liệu GRDP của các địa phương năm 2012 là 9,13%, gấp 1,74 lần so với tốc độ tăng 5,25% do Tổng cục Thống kê biên soạn (năm 2011 có chênh lệch tốc độ tăng trưởng lớn nhất gần 2 lần). Đáng chú ý là mặc dù năm 2012 kinh tế thế giới và kinh tế nước ta tiếp tục gặp khó khăn, nhưng không có địa phương nào biên soạn và công bố tăng trưởng GRDP thấp hơn tốc độ tăng 5,25% của cả nước, thậm chí vẫn có 21 địa phương tăng GRDP trên 10% (nhiều địa phương có tốc độ tăng trưởng ở hai con số trong khi cả nước chỉ tăng ở một con số). Quá trình rà soát, đánh giá lại số liệu GRDP giai đoạn 2010-2016 theo Đề án 715 đã cơ bản xử lý những bất cập, mâu thuẫn giữa số liệu GDP và GRDP; chênh lệch về quy mô và tốc độ tăng trưởng giữa cả nước và các tỉnh, thành phố đã được rút ngắn đáng kể. Khoảng cách chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng GDP và GRDP của các tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2016 giảm từ 1,7-1,8 lần xuống còn từ 1,01-1,05 lần; Khoảng cách chênh lệch tốc độ tăng GDP giữa Trung ương và địa phương năm 2018 và 2019 cũng chỉ còn khoảng 1,01 lần cho thấy tính khả thi và tính phù hợp với tình hình thực tế của Đề án 715. Những nội dung cần tiếp tục thực hiện Đề án 715 trong thời gian tiếp theo và xây dựng Chiến lược phát triển Thống kê đến 2030 vè tầm nhìn đến 2050 (1) Tiếp tục hoàn thiện phương pháp luận và kỹ thuật tính toán để khắc phục và nâng cao chất lượng thông tin đầu vào: Ngành Thống kê đã nổ lực khai thác các nguồn thông tin ban đầu hiện có theo nhiều kênh thông tin khác nhau; tăng cường rà soát các khâu nên thông tin ban đầu phục vụ biên soạn GRDP đã đầy đủ hơn và bảo đảm chất lượng hơn. Tăng cường khai thác hồ sơ hành chính; tiến hành các cuộc điều tra thống kê bằng công nghệ online, CAPI và webform; khắc phục hạn chế về số lượng và chất lượng; từng bước hoàn thiện về mặt lý luận thông tin về hoạt động của Khu vực kinh tế chưa được quan sát; giảm thiếu trình trạng trùng, sót thông tin. (2) Về công cụ tính toán GRDP: Trong quy trình biên soạn các chỉ tiêu của Hệ thống Tài khoản quốc gia nói chung và biên soạn GRDP nói riêng thường phải sử dụng hàng loạt các công cụ tính toán. Trước hết là hệ số chi phí trung gian, hệ thống giá và chỉ số giá. Các hệ thống này cung cấp số liệu trung gian phục vụ biên soạn GRDP nên có ảnh hưởng lớn tới chất lượng số liệu đầu ra. Thực hiện Đề án 715/QĐ-TTg vừa qua, hệ số chi phí trung gian, hệ thống giá và chỉ số giá đã được Tổng cục Thống kê cập nhật, bổ sung hoàn thiện, nay cần tiếp tục hoàn thiện hơn. (3) Kỳ biên soạn, thời điểm công bố GRDP cần phù hợp với nhu cầu sử dụng ở địa phương: Trong những năm 2017-2020 vừa qua, Tổng cục Thống kê và các địa phương đã nghiêm túc thực hiện biên soạn GRDP theo 2 kỳ (6 tháng và năm) và công bố số liệu đúng thời gian quy định của Đề án 715/QĐ-TTg. Trong một số kỳ còn nỗ lực đẩy nhanh tốc độ biên soạn để công bố số liệu ước tính sớm hơn quy định 1-2 ngày. Do vậy, về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương cho rằng chưa thực sự phù hợp, cụ thể có: 30/63 Cục Thống kê, chiếm 47,6% đề nghị bổ sung biên soạn GRDP theo quý. Về thời gian: Phần lớn các Cục Thống kê cho rằng ngày 30/5 công bố số liệu ước tính GRDP 6 tháng đầu năm là phù hợp; có 20/63 Cục Thống kê, chiếm 31,7% đề nghị công bố sớm hơn. Đặc biệt, có tới 45/63 Cục Thống kê, chiếm 2/3 số Cục Thống kê cho rằng ngày 30/11 công bố số liệu ước tính GRDP là không kịp thời, trong đó 29 Cục Thống kê, chiếm 46,0% đề nghị công bố vào ngày 20/11. (4) Các bộ, ngành và địa phương tiếp tục thể hiện sự đồng tình và ủng hộ cao nhất trong việc tiếp tục thực hiện Đề án 715 của Thủ tướng Chính phủ trong việc cung cấp thông tin đầu vào, đồng thời cũng là người sử dụng thông tin thống kê một cách thống nhất. (5) Đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương có sự thống nhất về thời gian trong việc sử dụng số liệu phục vụ cho các hội nghị, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành ở các cấp./. Trần Thanh Bình Phó Cục trưởng Cục Thống kê
BÁO CÁO TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM QUÝ III NĂM 2020
- 06/10/2020 08:51
BÁO CÁO TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19ĐẾN TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM QUÝ III NĂM 2020 1. Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát và lan rộng khắp toàn cầu đã ảnh hưởng nặng nề đến phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới khiến nền kinh tế toàn cầu gần như “chạm đáy” vào quý II. Đến thời điểm giữa tháng 9, khi các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa do dịch Covid-19, dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2020 giảm 4,5%, điều chỉnh tăng 1,5 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra vào tháng 6 năm 2020. Số liệu về tình hình lao động việc làm cho thấy, tình trạng thất nghiệp quý III đã có dấu hiệu giảm nhiệt so với quý II tại một số quốc gia trên thế giới, như Canada, Mỹ, Trung Quốc với tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 8 năm 2020 tương ứng là 10,2%; 8,4%; 5,9%, tuy nhiên vẫn còn cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước1. Trong nước, tình hình dịch bệnh bùng phát trở lại với diễn biến phức tạp đã làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại.Tình hình đứt gãy thương mại quốc tế gây ra những hệ lụy tới hoạt động sản xuất và xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III năm 2020 ước tính tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất của quý III các năm trong giai đoạn 2011-2020. Tuy nhiên, so với quý trước, nền kinh tế đang cho thấy sự phục hồi trở lại.Trong quý III, những ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi tác động của dịch Covid-19 đều có dấu hiệu tăng trưởng trở lại. So với quý trước,tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtăng 14,4%,doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 28,2%,doanh thu du lịch lữ hành tăng 161,3%. Tình hình lao động, việc làm và thu nhập của người lao động quý III năm 2020 cũng được cải thiện so với quý trước, tuy nhiên các chỉ số về lao động, việc làm và thu nhập của người lao động quý III và 9 tháng vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước. 2. Tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động việc làm Cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 Tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Trong đó, 68,9% người bị giảm thu nhập(với mức giảm thu nhập nhẹ), gần 40,0% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0% buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh. Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 68,9% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 66,4% lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 27,0%. Lực lượng lao động tăng trở lại sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II năm 2020 nhưng vẫn chưa thể khôi phục về trạng thái của cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý III năm 2020 là 54,6 triệu người, tăng 1,4 triệu người so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn 1,1 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II năm 2020, thị trường lao động đang có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên vẫn chưa thể khôi phục về trạng thái của cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,4 triệu người, giảm 1,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước và giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn. Trong giai đoạn 2016-2019, trung bình mỗi năm lực lượng lao động 9 tháng đầu năm tăng 1,0%. Nếu lực lượng lao động 9 tháng năm 2020 duy trì tốc độ tăng như giai đoạn 2016-2019 và không có dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm 1,8 triệu lao động. Nói cách khác, dịch Covid-19 có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,8 triệu người. Lực lượng lao động quý III năm 2020 phục hồi nhanh hơn ở khu vực nông thôn và lao động nữ. Cụ thể, so với quý trước, lực lượng lao động tại khu vực nông thôn tăng 3,0%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với mức tăng của khu vực thành thị; lực lượng lao động nữ tăng 4,1%, cao hơn 2,6 điểm phần trăm so với mức tăng của lực lượng lao động nam. Tính chung 9 tháng năm 2020, lao động tại khu vực nông thôn và lao động nữ vẫn là những nhóm chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất bởi tác động của dịch Covid-19 với mức giảm của lực lượng lao động thuộc hai nhóm này so với cùng kỳ năm trước lần lượt là 3,2% và 2,3%. Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý III năm 2020 là 53,3 triệu người, tăng 1,5 triệu người so với quý trước và giảm gần 1,3 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Lao động có việc làm ở khu vực thành thị tăng 471,0 nghìn người so với quý trước và giảm 77,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; ở khu vực nông thôn, số người có việc làm tăng hơn 1,0 triệu người so với quý trước và giảm 1,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm 9 tháng năm 2020 là 53,1 triệu người, giảm 1,3 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động có việc làm giảm mạnh ở khu vực nông thôn, giảm gần 1,2 triệu người;lao động nam giảm 608,6nghìn người và lao động nữ giảm 734,1 nghìn người. Tính đến tháng 9 năm 2020, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến người lao động đang làm việc trong hầu hết các ngành, trong đó một số ngành có tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng lớn như: ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí (88,6%), dịch vụ lưu trú và ăn uống (81,7%), vận tải kho bãi (79,7%), hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (72,7%), công nghiệp chế biến chế tạo (70,1%), bán buôn bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô và xe máy (68,5%), giáo dục đào tạo (68,5%), hoạt động kinh doanh bất động sản (67,8%).
Cuộc điều tra đột xuất đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- 14/09/2020 15:44
Cục Thống kê tỉnh Hà Tĩnh triển khai cuộc điều tra đột xuất đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 và Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Từ ngày 10/9/2020 đến ngày 20/9/2020 Cục Thống kê Hà Tĩnh thực hiện khảo sát thu thập thông tin đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ của Chính phủ theo Quyết định số 1369/QĐ-BKHĐT ngày 07/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Theo Phương án khảo sát, đối tượng, đơn vị khảo sát là các doanh nghiệp được thành lập và chịu sự điều tiết của Luật Doanh nghiệp và đang hoạt động tại thời điểm 10/9/2020 trên phạm vi cả nước. Cộng đồng doanh nghiệp hưởng ứng và tham gia cuộc khảo sát bằng cách cung cấp thông tin nhanh, kịp thời theo bảng hỏi được đăng tải trên địa chỉ http://thongkedoanhnghiep.gso.gov.vn.Cách thức đăng nhập: Dòng “Tài khoản” nhập 42 + Mã số thuế của DN, dòng “Mật khẩu” nhập Mã số thuế của doanh nghiệp. Ví dụ doanh nghiệp có mã thuế là 3000158682 thì tài khoản đăng nhập là: 423000158682 mật khẩu 3000158682 Mọi vấn đề phát sinh trong quá trình kê khai thông tin Ông/Bà vui lòng liên hệ số điện thoại: 3 691 336 để được hỗ trợ. Tài liệu đính kèmQD Bo truong dieu tra Covid_1369QD_BKHDTQD ban hanh phuong an_1383QD_TCTKPhiếu Covid-19