0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 tỉnh Hà Tĩnh
  •   30/04/2026 21:12

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 4/2026 hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tại Hà Tĩnh tiếp tục duy trì ổn định. Lĩnh vực trồng trọt được triển khai đúng tiến độ, đảm bảo kế hoạch đề ra, đặc biệt là lúa Vụ Xuân đang chuẩn bị bước vào giai đoạn thu hoạch. Chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, chú trọng an toàn sinh học; các địa phương tăng cường kiểm soát dịch bệnh và thực hiện tái đàn hợp lý. Tuy nhiên, những thách thức đáng kể từ biến động chính trị và xung đột quân sự khiến giá nhiên liệu và phân bón tăng cao tạo áp lực lớn đến chi phí sản xuất và vận chuyển, ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi tiêu thụ và lợi nhuận của nông sản. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Trong tháng 4/2026, hoạt động trồng trọt tập trung theo dõi quá trình sinh trưởng cây trồng vụ Xuân, đặc biệt là cây lúa trong giai đoạn trổ bông, ngậm sữa, một số trà lúa gieo cấy sớm đã được thu hoạch. Nhìn chung, bước đầu năng suất các giống lúa được người nông dân đánh giá khá khả quan. Tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2026: Tính đến ngày 20/4/2026, tổng diện tích gieo, cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 58.580 ha, bằng 98,83%, giảm 696 ha so với cùng kỳ năm trước (diện tích lúa gieo thẳng là 56.119 ha, diện tích cấy 2.461 ha). Nguyên nhân giảm chủ yếu do có 300 ha diện tích chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp ở phường Vũng Áng xây dựng khu công nghiệp Vinhomes, bên cạnh đó có 434 ha chuyển sang trồng cây hằng năm khác. Ngoài ra diện tích gieo trồng một số cây trồng cạn khác đạt khá[1]. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa bệnh đạo ôn xuất hiện rải rác, cục bộ 10-15% trên giống Khang dân 18, P6, BT09, TBR225, Hạt Ngọc 9,… diện tích nhiễm 2,1 ha; bệnh Khô vằn tiếp tục phát sinh gây hại, diện tích nhiễm 2.500 ha, phân bố hầu hết địa phương trong tỉnh; Rầy xuất hiện cục bộ dạng ổ ở xã Đức Thọ, Việt Xuyên, Thạch Lạc mật độ 300 - 500 con/m2; Chuột gây hại trên vùng cao cưỡng, gần khu dân cư, diện tích nhiễm 379 ha. Trên các cây trồng cạn cũng xuất hiện bệnh thối nõn dứa gây hại nặng (22,5 ha), tỉ lệ phổ biến trên 70% tại vùng trồng dứa tập trung xã Cẩm Xuyên; Châu chấu non đã xuất hiện thành các ổ, mật độ 150-200 con/m2. b. Chăn nuôi Kết quả sản xuất: Đàn trâu hiện có 46.850 con, bằng 72,08%; đàn bò hiện có 128.260 con, bằng 79,57% so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao nên người dân hạn chế tái đàn. Đàn lợn hiện có 352.215 con, bằng 100,99%; đàn gia cầm hiện có 9.962 ngàn con, bằng 102,47%, trong đó đàn gà có 8.572 ngàn con, bằng 106,48% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, đàn lợn và gia cầm trên địa bàn duy trì ổn định và tăng nhẹ cho thấy xu hướng chuyển dịch sang các đối tượng nuôi có thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay. Trong thời gian tới, xu hướng tái đàn dự kiến tiếp tục diễn ra nhưng ở mức thận trọng, tập trung vào các đối tượng vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao như lợn và gia cầm, đồng thời phát triển các mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, liên kết theo chuỗi nhằm nâng cao hiệu quả và giảm rủi ro. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng (tính từ ngày 23/3/2026 đến 20/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch tả lợn châu Phi và viêm da nổi cục trên trâu bò, cụ thể: Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 15 xã, phường làm cho 297 con lợn mắc bệnh chết, khối lượng tiêu hủy 26.092 kg; dịch viêm da nổi cục xảy ra tại 3 xã Kỳ Xuân, Kỳ Văn, Hương Xuân làm cho 12 con bò mắc bệnh, trong đó chết và tiêu hủy 5 con, khối lượng 660 kg. Lở mồm long móng xảy ra tại xã Kỳ Thượng từ ngày 01/4/2026 làm cho 4 con bò mắc bệnh. Tính chung từ đầu năm đến nay, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 30 xã, phường làm 1.438 con lợn mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng 122.716 kg; dịch viêm da nổi cục và lở mồm long móng chỉ mới xuất hiện trong tháng 4/2026. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra cơ bản ổn định. Các địa phương tiếp tục triển khai kế hoạch trồng rừng vụ Xuân, tập trung chăm sóc diện tích rừng trồng mới và khoanh nuôi, bảo vệ rừng hiện có. Tuy nhiên, do thời tiết bước vào giai đoạn nắng nóng, nguy cơ cháy rừng có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các khu vực rừng trồng (như rừng thông, rừng keo,…) và những nơi có thực bì khô. Trước tình hình đó, các cấp, ngành đã chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát và tuyên truyền nâng cao ý thức người dân. Kết quả sản xuất: UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch trồng cây trên địa bàn toàn tỉnh là hơn 2,2 triệu cây, số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 208 nghìn cây, bằng 533,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.183 nghìn cây bằng 79,72% so với cùng kỳ năm trước. Về diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 4 ước đạt 1.034 ha, bằng 128,18% so với cùng kỳ năm trước (tăng 227 ha). Tính chung 4 tháng đầu năm ước đạt 3.052 ha, bằng 145,03% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tăng mạnh trong khi số cây lâm nghiệp trồng phân tán giảm là do tác động nghiêm trọng của các cơn bão năm trước khiến nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, hư hại nặng, kéo theo nhu cầu khôi phục rừng trên diện rộng. Về khai thác gỗ và lâm sản, sản lượng khai thác trong tháng 4/2026 ước đạt 59.659 m3, bằng 171,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm ước đạt 240.548 m3 bằng 163,91% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều diện tích rừng đến tuổi khai thác, năng suất rừng trồng được cải thiện và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5, số 6 và số 10 khiến nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân phải khai thác sớm. Thời gian chăm sóc ngắn, chi phí thấp nhưng lợi nhuận khá nên người dân tiếp tục đầu tư vào trồng rừng. Thiệt hại về rừng: Trong tháng đã xảy ra 2 vụ phá rừng với diện tích 0,2 ha, bằng 50% (giảm 0,22 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời không gây hậu quả nghiêm trọng. 1.3. Tình hình thủy sản Kết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng 4 ước đạt 4.491 tấn, tăng 0,58% (tăng 26 tấn) so với cùng kỳ năm trước, tính chung 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng đạt 19.059 tấn tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước. Về khai thác thủy sản, sản lượng trong tháng 4 ước đạt 3.767 tấn, bằng 100,11% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong tháng thời tiết nhìn chung thuận lợi, tạo điều kiện cho tàu thuyền ra khơi, tuy nhiên, do giá dầu tăng cao nên nhiều tàu cá, đặc biệt là tàu công suất lớn khai thác xa bờ, phải giảm tần suất ra khơi hoặc hoạt động cầm chừng ảnh hưởng đến sản lượng khai thác trong tháng. Tính chung 4 tháng đầu năm sản lượng khai thác ước đạt 14.788 tấn bằng 102,83%, tăng 407 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 13.450 tấn, tăng 3,11% (tăng 406 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Về nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng trong tháng 4 ước đạt 724 tấn, bằng 103,13%, tăng 22 tấn so với cùng kỳ năm trước, tính chung 4 tháng đầu năm sản lượng ước đạt 4.271 tấn, bằng 103,36% tăng 139 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực tăng trưởng chính nhờ mở rộng diện tích nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, tăng cường quản lý môi trường và chủ động phòng, chống dịch bệnh, qua đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, giá tôm thẻ duy trì ở mức ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế nên khuyến khích người dân duy trì và mở rộng diện tích nuôi. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng dịch đốm trắng xảy ra tại 6 hộ nuôi bán thâm canh tại phường Kỳ Ninh với diện tích bị nhiễm 1,35 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay đã có 2,85 ha bị nhiễm dịch đốm trắng. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh bước vào quý II/2026 tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh nhà. Sản xuất công nghiệp duy trì đà phục hồi tích cực, các dự án công nghiệp quy mô lớn như nhà máy sản xuất ô tô, nhà máy sản xuất pack pin, cell pin, thép… vận hành ổn định, từng bước nâng cao công suất và hiệu quả sản xuất. Những dự án này không chỉ tạo động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn lan tỏa tác động tích cực đến các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, logistics, đồng thời thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Trong tháng 4/2026 chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 0,26% so với tháng trước và tăng 22,43% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 23,16% so với cùng kỳ năm 2025[2]. Các tháng đầu năm ghi nhận những dấu hiệu tích cực làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng cao: Thứ nhất, chỉ số sản xuất ngành sản xuất đồ uống tăng 24,13% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu thụ đồ uống đầu năm 2026 ghi nhận những tín hiệu khả quan hơn. Nhu cầu tiêu dùng trong nước có xu hướng phục hồi, góp phần cải thiện đầu ra cho sản phẩm. Các doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường. Thứ hai, chỉ số sản xuất ngành sản xuất kim loại (thép) 4 tháng đầu năm 2026 tăng 6,66% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực chính dẫn dắt sự hồi phục mạnh mẽ này xuất phát từ việc khu vực Formosa đã chủ động khai thác và ký kết thành công các đơn hàng xuất khẩu quy mô lớn, tạo đà bứt phá cho năng lực sản xuất và tiêu thụ thép ngay từ những tháng đầu năm. Sản lượng thép không gỉ 4 tháng đầu năm đạt 1.311 nghìn tấn, tăng 6,75% so với cùng kỳ năm trước. Thứ ba, ngành sản xuất thiết bị điện tại Hà Tĩnh tiếp tục đà tăng trường từ năm 2025. Chỉ số sản xuất ngành này 4 tháng đầu năm tăng 52,81% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có được nhờ nhu cầu sản xuất gia tăng, trong đó sản lượng từ nhà máy sản xuất ô tô điện của VinFast ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất pack pin và các thiết bị điện liên quan mở rộng sản xuất. Thứ tư, từ tháng 4, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II chính thức hoạt động thương mại với 2 tổ máy. Bên cạnh đó, các nhà máy sản xuất điện trên địa bàn duy trì vận hành ổn định, bảo đảm sản lượng phát điện theo kế hoạch. Đây là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành trong năm 2026. Tính đến hết tháng 4, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,71% so với cùng kỳ năm trước. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong 4 tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Kết quả tổng hợp từ 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực cho thấy có 15 nhóm ghi nhận sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước, chiếm 75% tổng số nhóm sản phẩm được theo dõi. Chỉ tiêu này phản ánh tín hiệu cải thiện của khu vực sản xuất, cho thấy năng lực duy trì hoạt động và ổn định sản lượng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn biến động. Trong đó, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng toàn ngành, giữ tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Nhiều mặt hàng chủ lực thuộc lĩnh vực này duy trì mức sản lượng tăng khá so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi rõ nét của hoạt động sản xuất và tiêu thụ. Đây là tín hiệu tích cực, góp phần nâng cao khả năng hoàn thành các chỉ tiêu phát triển công nghiệp năm 2026, đồng thời tăng cường tính bền vững và khả năng chống chịu của khu vực sản xuất trước biến động thị trường thế giới. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2026 tăng 9,28% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 55,37%, cộng dồn 4 tháng đầu năm 2026 tăng 45,37% so với cùng kỳ năm 2025. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì ở mức cao. Trong 4 tháng đầu năm, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 15,63% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 56,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số ngành ghi nhận mức tăng trưởng cao, đóng vai trò động lực chính cho toàn ngành. Cụ thể, ngành sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 51,48%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu đang phục hồi mạnh mẽ. Bên cạnh đó, ngành sản xuất thiết bị điện tăng 74,51%, cho thấy sự mở rộng sản xuất và gia tăng đơn hàng, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu về thiết bị điện và công nghệ ngày càng tăng. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,66%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,56% so với cùng kỳ năm 2025. 3. Đầu tư và xây dựng Trên địa bàn tỉnh, một số dự án đầu tư trọng điểm đang từng bước hoàn thành và chuẩn bị đi vào hoạt động, đồng thời nhiều dự án mới được khởi công triển khai, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong bối cảnh chung chịu tác động từ thị trường quốc tế, đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng trong việc ổn định kinh tế trên địa bàn, tạo hiệu ứng lan tỏa, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 theo định hướng đã đề ra. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4 đạt 395,39 tỷ đồng, tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước. Từ đầu tháng 4, điều kiện thời tiết trên địa bàn tỉnh nhìn chung thuận lợi hơn, tạo điều kiện tích cực cho hoạt động thi công xây dựng và vận chuyển vật liệu. Nhờ đó, nguồn cung vật liệu xây dựng khá ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các dự án. Số ngày và thời gian thi công tại hầu hết các công trình được gia tăng, góp phần đẩy nhanh tiến độ và khối lượng thực hiện trên công trường. Các chủ đầu tư đã chủ động xây dựng kế hoạch tiến độ chi tiết theo từng dự án, xác định rõ các mốc “đường găng” và cam kết tiến độ thực hiện, giải ngân, phấn đấu cùng tỉnh hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026. Trong tháng 4, một số công trình có khối lượng thực hiện lớn gồm: Dự án đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt khoảng 20,5 tỷ đồng; dự án Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Hương Khê ước đạt 29 tỷ đồng; tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Thạch Hà ước đạt 22,50 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng ước đạt 1.440,73 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước[3]. Nhìn chung, trong thời gian qua, hoạt động triển khai vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả tích cực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhận thức rõ vai trò của đầu tư công, các cấp chính quyền đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị dự án, bảo đảm đủ điều kiện triển khai ngay từ đầu năm. Đồng thời, tập trung tháo gỡ vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, chủ động bố trí quỹ đất tái định cư, bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng; điều hành linh hoạt kế hoạch vốn, ưu tiên các công trình trọng điểm và dự án chuyển tiếp. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại trong tháng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, doanh thu bán buôn và bán lẻ có xu hướng tăng so với tháng trước, chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng nội địa được cải thiện khi thời tiết thuận lợi hơn và người dân bắt đầu chuẩn bị cho kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5. Bên cạnh đó, các hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi và chợ truyền thống tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cung ứng hàng hóa, hàng thương mại điện tử tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 5.155,87 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng có hai kỳ nghỉ lễ kéo dài, cùng với hoạt động du lịch trên địa bàn, đặc biệt là du lịch biển, tăng mạnh khi thời tiết chuyển sang nắng nóng, đã góp phần làm gia tăng nhu cầu đối với thực phẩm và đồ uống. Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 20.306,82 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng hóa đều tăng trưởng doanh thu. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 4 tháng đầu năm tăng trưởng khá, nhu cầu mua sắm của người dân tăng mạnh, tập trung vào các nhóm hàng thiết yếu, sức mua tăng phản ánh thu nhập của người dân được cải thiện qua đó tạo động lực cho tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng cao. Một số nhóm hàng như vật liệu xây dựng, ô tô con và đồ dùng gia đình tăng khá, phản ánh hoạt động xây dựng dân dụng, đầu tư và tiêu dùng sinh hoạt được đẩy mạnh trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Mặc dù nhu cầu tăng cao, giá cả các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định, chỉ tăng nhẹ cục bộ do áp lực chi phí và sức cầu, song vẫn trong tầm kiểm soát. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành doanh thu tháng 4 dự tính đạt 555,99 tỷ đồng, tăng 8,03% so với tháng trước và tăng 21,58% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động lưu trú và du lịch trong tháng tăng trưởng rõ rệt do bước vào đầu mùa du lịch hè. Đây là thời điểm các bãi biển như Thiên Cầm, Xuân Thành, Thạch Hải bắt đầu khai trương mùa du lịch, thu hút lượng lớn du khách đổ về tham quan và nghỉ dưỡng. Đặc biệt, sắp tới có hai đợt nghỉ lễ lớn và kéo dài trong tháng (Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5) đã tạo ra 'cú hích' mạnh mẽ, thúc đẩy nhu cầu lưu trú tăng đột biến từ nhóm khách gia đình và đoàn du lịch ngoại tỉnh. Tính chung 4 tháng đầu năm doanh thu nhóm ngành này ước đạt 2.037,76 tỷ đồng, tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước. Do có sự chỉ đạo, quan tâm kịp thời của cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bàn tỉnh tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, bổ sung dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ; tổ chức các sự kiện đón tiếp và phục vụ khách; đăng ký và bán đúng giá niêm yết; bảo đảm công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, không để xảy ra tệ nạn trong cơ sở kinh doanh dịch vụ mà các lễ hội, khu vui chơi được diễn ra vui vẻ, an toàn. Dịch vụ khác doanh thu tháng 4 ước đạt 833,05 tỷ đồng, tăng 2,04% so với tháng trước và tăng 9,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng trưởng mạnh mẽ nhờ sức hút từ các chương trình nghệ thuật và lễ hội khai trương du lịch biển tại địa phương. Tính chung 4 tháng đầu năm dự ước thực hiện đạt 3.278,38 tỷ đồng, tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động của nhóm ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh đầu năm 2026 đã duy trì được đà tăng trưởng ổn định với nhiều chuyển biến tích cực. Dưới sự điều hành linh hoạt của các cấp chính quyền cùng sự chủ động thích ứng của các đơn vị kinh doanh trong việc nâng cao chất lượng phục vụ, nhóm ngành dịch vụ đã khẳng định được vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung. Đây chính là tiền đề vững chắc để các ngành lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ tiếp tục đạt được những kết quả khả quan hơn nữa trong các tháng cao điểm mùa hè sắp tới. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng 4/2026 trùng với các kỳ nghỉ lễ như Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch), Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5 góp phần làm tăng lượng hành khách đi lại, du lịch, tham quan, nghỉ mát và về quê trong tháng 4. Các phương tiện vận tải hành khách đảm bảo chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải hàng hóa trong tháng cũng ghi nhận khối lượng vận chuyển tăng nhờ thời tiết thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 4 ước đạt 828,50 tỷ đồng, tăng 5,72% so với tháng trước và tăng 22,71% so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu đi lại của người dân tăng, đặc biệt dịp nghỉ lễ dài ngày, bên cạnh đó giá xăng dầu tăng nên các cơ sở vận tải điều chỉnh tăng cước vận chuyển. Vận tải hàng hóa tăng trưởng mạnh mẽ, cao hơn tháng trước do hoạt động xây dựng đẩy mạnh và nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu tăng. Ngoài ra, tháng 4 thời tiết nắng nóng kéo dài nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, đặc biệt là nước giải khát, thực phẩm và các mặt hàng mùa hè, tăng đột biến, thúc đẩy vận chuyển tăng. Cùng lúc, giá xăng dầu tăng trong tháng đang tạo áp lực lớn, buộc doanh nghiệp điều chỉnh tăng cước vận tải để duy trì hoạt động. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải ước đạt 3.131,54 tỷ đồng, tăng 15,48% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, những tháng đầu năm, tình hình vận tải diễn ra sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao. Vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác. Dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt, số lượng phương tiện vận chuyển ổn định, giá cước vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tiếp nối những tín hiệu tích cực từ đầu năm đến nay, tình hình xuất - nhập khẩu tiếp tục đà tăng cao. Tính chung, tổng trị giá xuất khẩu và nhập khẩu tháng 4 ước đạt 425 triệu USD tăng 13,18% so với tháng trước và tăng 10,61% so với cùng kỳ năm trước. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu toàn tỉnh trong tháng 4 ước đạt 132,5 triệu USD, tăng 25,97% so với tháng trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đều tăng mạnh so với tháng trước, tuy nhiên vẫn chưa đạt mức kỳ vọng như cùng kỳ năm trước. Tính riêng trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép (chiếm tỷ trọng trên 85,7% trong tổng giá trị xuất khẩu) tăng mạnh 20,39% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 5,54% so với cùng tháng năm trước. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu trong tháng 4 ước đạt ước đạt 292,5 triệu USD, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 19,76% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất đầu năm của các doanh nghiệp trên địa bàn tăng cao; một số dự án công nghiệp, xây dựng quy mô lớn bước vào giai đoạn triển khai, phát sinh nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị; đồng thời thủ tục thông quan được cải cách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng 4/2026 nhìn chung tình hình giá cả có biến động tăng nhẹ so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước và trên địa bàn có xu hướng ổn định hơn, thậm chí giảm mạnh ở một số kỳ điều hành, tuy nhiên, do độ trễ của chi phí vận tải và nguyên liệu đầu vào, giá xăng dầu vẫn tạo áp lực nhất định lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chi phí sản xuất, kinh doanh. Chỉ số CPI tháng 4 tăng 0,76% so với tháng trước, nhưng so với cùng tháng năm trước tăng 5,30%. So với tháng trước trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 08 nhóm hàng hóa tăng giá, có 02 nhóm hàng hóa giảm giá và có 01 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm[4]. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng chủ yếu do các nguyên nhân chính: Thứ nhất, nhóm lương thực đặc biệt là giá gạo tẻ thường tăng do nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá. Đồng thời tháng này không vào vụ thu hoạch chính, nguồn cung tự nhiên giảm, giá có xu hướng tăng. Nhóm thịt gia súc, gia cẩm tăng so với tháng trước do chi phí sản xuất và vận chuyển tăng. Giá các loại rau tươi, khô và chế biến tăng cao do tháng 4 thời tiết nắng nóng hơn, đồng thời hết mùa thu hoạch của một số loại rau, củ nên nguồn cung hạn chế đã tác động làm chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng quả tươi và chế biến tăng. Thứ hai, thời tiết nắng nóng nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống đặc biệt là nước giải khát có ga, bia tăng nên giá tăng. Bên cạnh đó, là tháng trùng các dịp nghỉ lễ dài ngày nên nhu cầu đi du lịch, nghỉ dưỡng tăng kéo theo nhu cầu mua sắm đồ áo, giày dép, mũ nón các loại tăng. Thứ ba, giá điện, nước sinh hoạt tăng do nhu cầu sử dụng vào mùa nắng nóng nhiều nên giá tăng. Giá các loại chất đốt dầu hỏa và gas tăng mạnh do tăng theo xu hướng tăng của thế giới. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng do nhu cầu xây dựng (đặc biệt là đầu tư công) tăng đột biến trong khi nguồn cung cát, đá khan hiếm. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí sản xuất, vận chuyển tăng. Giá nhiên liệu xăng, dầu trong nước trong tháng biến động mạnh do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thế giới, trong tháng 4 giá nhiên liệu điều chỉnh liên tục 6 đợt vào các ngày 02/4; 03/4; 08/4; 09/4; 16/4; 21/4 làm giá xăng giảm 2,90% và giá dầu diesel tăng 18,92% so với tháng trước. Bình quân 4 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 3,52% so với cùng kỳ năm 2025, cả 11 nhóm hàng hóa chính đều có sự tăng giá so với cùng kỳ. Giá vàng, đô tăng, giảm theo thị trường giá vàng, đô của thế giới, giá vàng tăng 72,75% và giá đô la Mỹ giảm 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, vật liệu xây dựng, giá vàng, Đô la Mỹ. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo chỉ số CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng 4/2026 đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh duy trì đà ổn định nhờ sự tăng trưởng khả quan từ các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp đối mặt với thách thức lớn khi đợt nắng nóng gay gắt diễn ra đúng vào thời kỳ lúa Xuân trổ bông, phơi màu là giai đoạn quyết định đến năng suất cuối vụ. Trên địa bàn tỉnh chính thức triển khai ứng dụng công dân số i-HaTinh, qua ứng dụng này người dân được tiếp cận nhiều tiện ích như tra cứu thông tin, phản ánh hiện trường, thực hiện một số thủ tục hành chính trực tuyến, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ của chính quyền. Ngoài ra, cũng trong tháng địa phương đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cho mùa du lịch biển, hứa hẹn tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. 2. Hoạt động y tế Trong tháng 4/2026 ngành y tế tiếp tục tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt trong giai đoạn chuyển mùa, chủ động giám sát dịch tễ và khuyến cáo người dân phòng tránh các bệnh truyền nhiễm như tay chân miệng và các bệnh do thời tiết nắng nóng gây ra như sốc nhiệt. Bên cạnh đó, tỉnh đã triển khai “tháng hành động vì an toàn thực phẩm” từ ngày 15/4 đến ngày 15/5/2026, đẩy mạnh tuyên truyền, kiểm tra và nâng cao ý thức bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong cộng đồng. Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận 31 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, 43 ca mắc tay chân miệng, 1030 ca mắc cúm, 71 ca tiêu chảy, 56 ca mắc thủy đậu, 83 ca mắc quai bị. Về an toàn thực phẩm, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, có 181 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 49 ca so với tháng trước). Trong tháng trên địa bàn tỉnh không phát hiện thêm ca nhiễm mới HIV nào, không có ca chết vì AIDS. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về lĩnh vực văn hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động nổi bật và sôi động. Tiêu biểu là việc tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, với quy mô lớn, được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, góp phần giáo dục truyền thống và khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong nhân dân. Bên cạnh đó, ngành văn hóa - thể thao và du lịch đã triển khai nhiều hoạt động nhằm quảng bá hình ảnh quê hương, như phát động cuộc thi “Ảnh đẹp và video clip ấn tượng về du lịch Hà Tĩnh” năm 2026, tạo sân chơi sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa, con người Hà Tĩnh. Ngoài ra, tỉnh cũng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật gắn với khai trương mùa du lịch biển, tạo không khí sôi động tại các địa phương ven biển và thu hút đông đảo người dân, du khách tham gia. Về thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động nổi bật. Tiêu biểu là việc tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Hà Tĩnh lần thứ X, được triển khai đồng bộ từ cơ sở đến cấp tỉnh, tạo phong trào rèn luyện thể chất rộng khắp trong nhân dân. Tính đến nay phần lớn các xã, phường đã hoàn thành đại hội cấp cơ sở; cấp tỉnh đã tổ chức thi đấu 14/15 môn với hơn 2.500 vận động viên tham gia, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Điểm nổi bật của kỳ Đại hội lần này là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức và điều hành, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý. Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Hà Tĩnh tham gia giải Vô địch các đội mạnh toàn quốc môn Kickboxing giành 01 Huy chương Bạc, 03 Huy chương Đồng; tham gia Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 (vòng bảng), sau 04 lượt trận hiện xếp thứ 5/7. Câu lạc bộ Bóng đá Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tham gia giải Vô địch quốc gia mùa giải 2025-2026, sau vòng 18 hiện xếp thứ 9/14. 4. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng 4 (tính từ ngày 15/3/2026 - 14/4/2026) trên địa bàn xảy ra 38 vụ tai nạn đường bộ, làm 23 người chết, 28 người bị thương (tăng 9 vụ; tăng 6 người chết; tăng 2 người bị thương so với tháng trước); trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 127 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm toàn tỉnh đã xảy ra 135 vụ tại nạn giao thông đường bộ làm 80 người chết và 108 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 1,7 tỷ đồng (tăng 6 vụ tai nạn, tăng 52 người bị thương nhưng giảm 12 người chết so với cùng kỳ năm trước). Không xảy ra vụ tại nạn giao thông đường sắt nào, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Bảo vệ môi trường Trong tháng 4 toàn tỉnh phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường, tăng 7 vụ so với tháng trước; tăng 7 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng là 8 vụ, tăng 4 vụ so với tháng trước và tăng 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong tháng là 13,55 triệu đồng, giảm 31,5 triệu đồng so với tháng trước và giảm 612 triệu đồng so với tháng cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng tăng do thời tiết nắng nóng kéo dài làm gia tăng lượng rác thải sản xuất nhưng việc thu gom, xử lý ở một số nơi chưa kịp thời. Ngoài ra thời gian này các hoạt động kinh tế và dịch vụ phát triển mạnh, đặc biệt tháng này tỉnh đang đẩy mạnh công tác rà soát, kiểm tra chuẩn bị cho khai trương mùa du lịch biển do đó làm tăng nguy cơ phát sinh các vụ vi phạm môi trường. Trước tình hình đó các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra giám sát quyết liệt hơn. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 186 vụ vi phạm môi trường (tăng 42 vụ), đã xử lý 97 vụ (giảm 34 vụ) với số tiền xử phạt hơn 622 triệu đồng (giảm 53,76%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn Trong tháng 4 (tính từ ngày 15/3/2026 - 14/4/2026) trên địa bàn đã xảy ra 9 vụ cháy (tăng 8 vụ so với tháng trước), không gây thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 62,5 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh đã xảy ra 23 vụ cháy và 2 vụ nổ, làm 1 người chết và 2 người bị thương, giá trị thiệt hại tài sản ước tính hơn 3,1 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 5 vụ cháy, 1 vụ nổ, 1 người chết và 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tăng hơn 634 triệu đồng. Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm không xảy ra vụ thiên tai nào trên địa bàn tỉnh. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./. [1] Cây ngô ước đạt 7.089/6.403 ha bằng 110,72% KH; cây lạc ước đạt 4.694/5.628 ha, bằng 80,06% KH; khoai lang ước đạt 1.384/1.415 ha, bằng 97,84% KH; rau các loại: 6.316/5.807 ha bằng 108,77% KH[2] Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,44% làm giảm 0,27 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 24,19% đóng góp 18,13 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,71% đóng góp 5,21 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,5% đóng góp 0,08 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh[3] Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.126,65 tỷ đồng, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 314,08 tỷ đồng, tăng 245,96% so với cùng kỳ năm trước.[4] So với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,12%); Đồ uống và thuốc lá (+0,88%); May mặc, mũ nón, giày dép (+0,31%); Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+1,94%); Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,37%); Thuốc và dịch vụ y tế (+0,14%); Giao thông (-0,37%); Thông tin và truyền thông (+0,07%); Văn hoá, giải trí và du lịch (+0,05%); Hàng hóa và dịch vụ khác (-0,03%); Nhóm Giáo dục ổn định.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Ba và Quý I năm 2026 tỉnh Hà Tĩnh
  •   30/04/2026 21:50

Năm 2026 là năm tiền đề thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ 5 năm 2026-2030, đòi hỏi cả hệ thống chính trị nỗ lực, quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng. Bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, giá vàng, ngoại tệ, xăng, dầu, nguyên vật liệu biến động liên tục, tác động trực tiếp đến trong nước và Hà Tĩnh. Dù vậy, kinh tế - xã hội địa phương cơ bản ổn định, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn được bảo đảm; Nhân dân đón Tết Nguyên đán vui tươi, an toàn. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã kịp thời ban hành chương trình, kế hoạch, triển khai đồng bộ nhiệm vụ ngay từ đầu năm, trước, trong và sau Tết; tập trung sản xuất vụ Xuân, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và tiến độ các dự án trọng điểm; tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; đồng thời thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ văn hóa, an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và tăng cường hoạt động đối ngoại. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành quý I năm 2026 ước đạt 29.694 tỷ đồng; theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 26.980 tỷ đồng tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông lâm nghiệp thủy sản tăng 2,81%, đóng góp 0,29 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 20,67%, đóng góp 8,65 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 7,14% đóng góp 2,67 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,8%, đóng góp 0,81 điểm % vào mức tăng trưởng chung. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Năng suất, sản lượng các loại cây trồng ước đạt kế hoạch, tăng so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, ngành nông nghiệp tăng 1,88%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 12,21% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,09 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,53%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung toàn ngành kinh tế tỉnh Hà Tĩnh. Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng toàn ngành công nghiệp ước đạt 22,59%, đóng góp 7,73 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Ngành xây dựng tăng 12,06%, đóng góp 0,92 điểm phần trăm. Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GRDP quý I năm 2026. Điểm nhấn quan trọng trong bức tranh ngành Công nghiệp Hà Tĩnh trong quý I này chính là sự xuất hiện đồng loạt của các dự án công nghiệp động lực mới. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong những năm tới. Ngay từ đầu quý I năm nay, cùng với nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I, nhiệt điện của Formosa, tổ máy số 1 của nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã đi vào sản xuất, cùng với đó là lượng sản xuất ô tô điện, thiết bị điện (Pack pin, Cell pin) đều tăng cao đã tạo bước nhảy vọt tăng trưởng cho ngành công nghiệp. Khu vực dịch vụ quý I tăng 7,14% đóng góp 2,67 điểm % vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Lĩnh vực dịch vụ thương mại của tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, trở thành một trong ba trụ cột quan trọng thúc đẩy GRDP toàn tỉnh. Một số thuận lợi nổi bật như tốc độ một số ngành tăng trưởng ổn định; sức mua trong dân cải thiện; hoạt động thương mại sôi động; du lịch phục hồi; vận tải hàng hóa và hành khách tăng; các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm phát triển ổn định. Khu vực dịch vụ đóng vai trò hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt trong tiêu dùng nội địa. Về cơ cấu kinh tế quý I năm khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 9,48%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 42,59% (trong đó, ngành công nghiệp chiếm 33,81%; ngành xây dựng chiếm 8,78%); khu vực dịch vụ chiếm 37,87%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,06%. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong quý I năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tại tỉnh Hà Tĩnh cơ bản ổn định, các địa phương tập trung triển khai vụ Xuân, phát triển chăn nuôi và mở rộng nuôi trồng thủy sản. Ngành lâm nghiệp tiếp tục chú trọng trồng và bảo vệ rừng, góp phần nâng cao độ che phủ. Tuy nhiên, sản xuất vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gia tăng giá nhiên liệu, chi phí vận tải và ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ. Từ đó đòi hỏi ngành nông nghiệp cần có giải pháp thích ứng linh hoạt trong thời gian tới. 2.1. Sản xuất nông nghiệp 2.1.1. Trồng trọt a. Cây hàng năm Kết quả sản xuất vụ Đông 2025-2026 đạt kế hoạch đề ra, với các chỉ tiêu cụ thể như: Tổng diện tích gieo cấy toàn tỉnh đạt 13.851 ha cây trồng các loại, bằng 101,52% (tăng 207 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu sản xuất vụ Đông là cây ngô, khoai và rau màu[1]. Năm nay thời tiết thuận lợi, cây ngô sinh trưởng và phát triển tốt, bắp to, hạt đều, ít sâu bệnh nên tăng cả về năng suất và sản lượng. Cây lấy củ có chất bột gieo trồng đạt 1.060 ha, bằng 88,51% (giảm 138 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cây rau, đậu các loại diện tích gieo trồng đạt 5.146 ha bằng 104,06% (tăng 201 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích tăng chủ yếu ở nhóm rau lấy quả, trong khi các nhóm rau lấy lá và rau lấy củ vẫn tiếp tục được duy trì. Nguyên nhân diện tích rau tăng là do thời gian gần đây mô hình sản xuất vườn mẫu, vườn liền kề đang mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, được người dân quan tâm đầu tư, mở rộng sản xuất. Nhờ diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng rau tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Xuân 2026: Tính đến ngày 20/3/2026, diện tích gieo, cấy lúa toàn tỉnh là 58.493 ha/59.152 ha đạt 98,89% kế hoạch. Hiện nay các trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên, do thời tiết âm u, độ ẩm cao nên dễ xuất hiện các loại sâu bệnh bà con nông dân cần tích cực kiểm tra đồng ruộng, theo dõi và xử lý kịp thời. Diện tích gieo trồng các cây trồng cạn khác 18.721/19.253 ha, đạt 97,24% kế hoạch[2]. Trong canh tác vụ Mùa địa phương đã tích cực phối hợp với các doanh nghiệp triển khai xây dựng mô hình sản xuất lúa áp dụng mạ khay, máy cấy kết hợp với điều tiết nước ngập khô xen kẽ với diện tích 150 ha; Viện Khoa học kỹ thuật Bắc Trung bộ phối hợp Công ty TNHH Green Carbon Japan Việt Nam triển khai mô hình sản xuất lúa áp dụng biện pháp tưới ngập khô xen kẽ với tổng diện tích 4.391 ha. Diện tích tập trung, tích tụ ruộng đất đến nay đạt 14.111,52/15.000 ha (đạt 94,07% so với kế hoạch Nghị quyết số 06-NQ/TU). Các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, tuần hoàn tiếp tục được duy trì; đến nay có 535 ha/35 cơ sở sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP còn hiệu lực và 12 ha/3 cơ sở đã được chứng nhận hữu cơ còn hiệu lực. b. Cây lâu năm Cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Do điều kiện thời tiết khá thuận lợi, sản lượng thu hoạch các loại cây lâu năm trong quý đạt sản lượng khá khả quan[3]. Hiện nay, mô hình trồng dứa liên kết với Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao đã tạo bước đột phá trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại Hà Tĩnh, tập trung vào giống dứa Queen ngọt thơm, bao tiêu sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật, giúp khai phá tiềm năng vùng đất đồi, tạo sinh kế mới cho người dân địa phương. Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh nhưng đến nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Cây ăn quả đang trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định. c. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa: Bệnh đạo ôn lá xuất hiện tại một số xã, diện tích nhiễm 65 ha, diện tích phòng trừ 72 ha. Chuột gây hại trên vùng cao cưỡng, gần khu dân cư với diện tích 323 ha. Bệnh khô vằn phát sinh trên những chân ruộng cấy dày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 568 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Trên cây trồng cạn: Nhóm sâu ăn lá (sâu xanh, sâu khoang) và bệnh do nấm gây hại trên diện tích 26 ha. Bệnh lở cổ rễ, héo rũ, gốc mốc hại 13 ha. Sâu keo mùa thu nhiễm 10 ha. Bệnh thối nõn dứa gây hại nặng 22,5 ha, tỷ lệ phổ biến trên 70%. Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc Xuân với diện tích 15 ha. Bệnh loét xuất hiện trên các vườn cây không thông thoáng, chưa tỉa tán sau thu hoạch tại một số xã trên địa bàn. 2.1.2. Chăn nuôi Trong tháng Ba và cả quý I hoạt động chăn nuôi trên địa bàn duy trì ổn định[4]; công tác phòng, chống các dịch bệnh được tập trung chỉ đạo quyết liệt. Đặc biệt trong giai đoạn trước và trong dịp Tết Nguyên đán, người chăn nuôi đã chủ động tăng đàn, tập trung sản xuất nhằm cung ứng đầy đủ các sản phẩm chăn nuôi phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân, giá cả có xu hướng tăng nhẹ theo quy luật thị trường nhưng không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa hay biến động giá đột biến, góp phần đảm bảo cân đối cung - cầu và ổn định thị trường. Tổng đàn lợn và sản lượng xuất chuồng quý I tăng hơn so với cùng kỳ do trùng vào dịp Tết nguyên đán nên sản lượng xuất bán tăng cao; đàn gia cầm cũng có xu hướng tăng, hiện nay chu kỳ nuôi gà được rút ngắn hơn (khoảng 125 ngày/lứa) so với trước đây 5-6 tháng/lứa, trọng lượng xuất chuồng cao hơn, một số mô hình nuôi gia công mới bắt đầu được thả với quy mô mỗi hộ lên đến hàng chục nghìn con. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ 15/02 đến 23/3/2026, dịch tả lợn châu Phi và Viêm da nổi cục trên trâu bò xảy ra tại 14 xã, phường, làm 558 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy 52.487 kg. Riêng bệnh Viêm da nổi cục phát hiện từ 18/3 tại xã Kỳ Xuân, làm 3 con bò của 3 hộ mắc bệnh (tiêu hủy 1 con nặng 50 kg). Tổng quý I/2026: Dịch tả lợn châu Phi tại 25 xã, phường, làm 1.218 con lợn chết, tiêu hủy 103.271 kg. Tình trạng hiện tại: Dịch tả lợn châu Phi tại 14 xã, phường và dịch Viêm da nổi cục tại xã Kỳ Xuân chưa qua 21 ngày. Dịch Cúm gia cầm H5N1 (phát hiện từ 8/2 tại xã Cẩm Xuyên) làm 902 con gia cầm chết, 27 hộ tự tiêu hủy không báo cáo - đã qua 21 ngày. 2.2. Lâm nghiệp Trong quý I/2026 thực hiện lời kêu gọi “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, các địa phương trong toàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng phong trào “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”. Tổ chức phong trào Tết trồng cây, toàn tỉnh trồng được 2,3 triệu cây xanh đạt 104% kế hoạch. Diện tích rừng trồng mới trong quý ước đạt 2.017 ha, bằng 155,52% so với cùng kỳ năm trước (tăng 720 ha). Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 975 nghìn cây, bằng 67,46% so với cùng kỳ năm trước (giảm 470 nghìn cây). Diện tích rừng trồng mới tăng mạnh trong khi số cây lâm nghiệp trồng phân tán giảm là do tác động nghiêm trọng của các cơn bão số 5 và số 10 xảy ra vào cuối năm 2025. Cùng với diện tích rừng trồng tăng thì sản lượng gỗ khai thác tháng 3 và quý I cũng tăng so với cùng kỳ. Tổng số gỗ khai thác trong quý đạt 180.889 m3, bằng 161,61%, tăng 68.958 m3 so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về rừng: Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 20/3/2026, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 7 vụ phá rừng (tăng 5 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,03 ha (tăng 0,34 ha) so với cùng kỳ năm trước. 2.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 5.172 tấn, bằng 99,44% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.636 tấn, bằng 97,19%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.536 tấn, bằng 105,21%. Quý I năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 14.569 tấn, bằng 103,68% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 11.021 tấn, bằng 103,76%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.548 tấn, bằng 103,44%. Địa phương đã tích cực tăng cường chỉ đạo các giải pháp chống khai thác IUU về khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định, nhằm đảm bảo môi trường khai thái công bằng tránh sự tận diệt trong các hoạt động khai thác thủy hải sản. Nhìn chung thời tiết trong tháng Ba và cả quý I khá thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng của bão lớn, tạo điều kiện cho tàu thuyền vươn khơi khai thác. Tuy nhiên, xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông đã làm giá nhiên liệu tăng cao khiến nhiều tàu thuyền, đặc biệt là tàu công suất lớn, phải giảm số chuyến ra khơi do hiệu quả kinh tế không đảm bảo. Dịch bệnh và thiệt hại: Trong tháng dịch đốm trắng xảy ra tại Phường Hải Ninh với diện tích 0,7 ha, đây cũng là dịch bệnh đầu tiên trên thủy sản phát sinh trong quý I/2026. 3. Sản xuất công nghiệp Quý I năm 2026, ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các dự án công nghiệp quy mô lớn như nhà máy sản xuất ô tô, nhà máy sản xuất Pack pin, Cell pin… đã tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền các cấp và cộng đồng doanh nghiệp cùng với hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Hà Tĩnh đang từng bước khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao. 3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 3/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 18,77% so với tháng trước và tăng 15,39% so với cùng kỳ. Trong thời gian tới, thị trường pin lithium-ion tại Việt Nam, đặc biệt là sản phẩm của VinES, dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Cùng với sản lượng Pack tăng mạnh, Cell là nguyên liệu đầu vào cũng đạt sản lượng lớn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất Pin. Bên cạnh đó, ngành sản xuất kim loại đang có dấu hiệu tăng trở lại chủ yếu do Công ty Formosa ký kết được các đơn hàng có quy mô lớn vào thời điểm cuối năm, qua đó thúc đẩy nhu cầu sản xuất và tiêu thụ thép. Mặt khác, ngành sản xuất ô tô đang trên đà phát triển mạnh mẽ, quý I năm 2026 ước sản xuất hơn 16 nghìn xe. Đặc biệt, từ tháng 01/2026, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 2 đã hòa lưới điện trở lại sau khi khắc phục ảnh hưởng của thiên tai, góp phần ổn định nguồn cung năng lượng cho sản xuất, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong quý I năm 2026. Dự ước quý I năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 13,97% so với năm 2025. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 16,98% làm giảm 0,25 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,31% đóng góp 10,12 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 20,05% đóng góp 4,02 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,38% đóng góp 0,08 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. 3.2. Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớn Ước tính đến hết quý I/2026, trong 21 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng và có 5 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất thiết bị điện tăng 109,73%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,46%; sản xuất đồ uống tăng 23,64%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,61%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 20,51%. Một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 5,48%; khai khoáng khác giảm 16,52%; sản xuất trang phục giảm 35,42%. 3.3. Các chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng 3/2026 tại Hà Tĩnh ước giảm 0,54% so với tháng trước, cho thấy sự chững lại mang tính ngắn hạn của hoạt động tiêu thụ. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số này tăng mạnh 30,93%, phản ánh sự phục hồi rõ nét của thị trường. Tính chung quý I năm 2026 chỉ số tiêu thụ toàn ngành tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy xu hướng tăng trưởng ổn định. Đáng chú ý, nhiều nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ, góp phần thúc đẩy tiêu thụ chung và sự phục hồi diễn ra ở nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau[5]. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2026 tăng 4,04% so với tháng trước và tăng 13,7% so cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp chủ động tích trữ sản phẩm và nguyên vật liệu nhằm chuẩn bị cho kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong các tháng tiếp theo. Việc sản xuất được duy trì ổn định, tạo nguồn cung sẵn sàng cho tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, hạn chế rủi ro đứt gãy nguồn cung. Trong đó, chỉ số tồn kho mặt hàng sợi tăng cao, ở mức 150%. Doanh nghiệp Sợi Nghệ Tĩnh tiếp tục duy trì công suất sản xuất ở mức cao, các dây chuyền vận hành ổn định, qua đó hình thành lượng tồn kho cần thiết để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường trong giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, ngành sản xuất pin lithium ghi nhận mức tồn kho tăng mạnh do các nhà máy đẩy mạnh sản xuất với quy mô lớn. Nguyên nhân là nhu cầu pin phục vụ ngành công nghiệp ô tô điện đang gia tăng nhanh, buộc doanh nghiệp phải chuẩn bị nguồn cung từ sớm. Tuy nhiên, tốc độ tiêu thụ thực tế chưa theo kịp sản lượng sản xuất trong giai đoạn đầu năm, dẫn đến tồn kho tăng cao. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2026 tăng 8,48% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 1,62%. Tính chung quý I năm 2026 tăng 44,79% so với cùng kỳ năm 2025. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì ở mức cao. Trong quý I, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 15,93% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước, một số ngành ghi nhận mức tăng trưởng cao, đóng vai trò động lực chính cho toàn ngành[6]. 4. Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp Trong quý I năm 2026, việc thu hút đầu tư và thành lập mới doanh nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng cả về số lượng và quy mô. Tổ chức làm việc, ký kết bên bản ghi nhớ với các tập đoàn, các nhà đầu tư chiến lược về nghiên cứu triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn. 4.1. Thu hút đầu tư Trong kỳ, toàn tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 12 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 94.318 tỷ đồng và 02 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký hơn 411 triệu USD. Một số dự án có quy mô lớn như: Dự án Nhà máy sản xuất xe máy điện VinFast Hà Tĩnh, Dự án Nhà máy sản xuất thép VinMetal Hà Tĩnh, Dự án Nhà máy thép không gỉ, … đã góp phần tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng trong thời gian tới. 4.2. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính đến ngày 26/3/2026, toàn tỉnh có 592 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký 8.305 tỷ đồng, tăng 92,83% về số lượng doanh nghiệp và tăng gấp 12 lần về số vốn đăng ký; có 238 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 95%; có 382 doanh nghiệp giải thể, đăng ký tạm ngừng giảm 37,79% so với cùng kỳ năm 2025. Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho biết, trong quý I/2026, hai yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 43,14% và 60,78%. Bên cạnh đó, “lãi suất vay vốn cao” là khó khăn mà doanh nghiệp đánh giá với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn là 41,18%. Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý II/2026 dự tính có nhiều chuyển biến tích cực so với quý trước. Cụ thể, có 66,67% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt hơn so với quý I/2026, cho thấy xu hướng phục hồi và cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, có 21,57% doanh nghiệp đánh giá tình hình giữ nguyên, trong khi chỉ 11,76% doanh nghiệp cho rằng hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn hơn, phản ánh mức độ rủi ro chung của toàn ngành ở mức thấp. Về xu hướng khối lượng sản xuất, kết quả khảo sát cho thấy 64,71% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất trong quý II/2026 tăng lên so với quý I/2026, đồng thời 29,41% doanh nghiệp đánh giá sản xuất giữ ổn định. Điều này cho thấy đa số doanh nghiệp có kế hoạch duy trì hoặc mở rộng sản xuất, phù hợp với tín hiệu cải thiện của thị trường tiêu thụ. Cùng với xu hướng tích cực về sản xuất, đơn đặt hàng được dự báo có triển vọng khả quan khi 91,31% doanh nghiệp cho rằng số lượng đơn đặt hàng tăng lên hoặc giữ ổn định. Đây là yếu tố quan trọng tạo nền tảng cho việc duy trì nhịp độ sản xuất trong ngắn hạn. Đồng thời, 92,16% doanh nghiệp đánh giá quy mô lao động tăng lên hoặc giữ nguyên, cho thấy doanh nghiệp có xu hướng ổn định lực lượng lao động và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sản xuất trong thời gian tới. Nhìn chung, các chỉ tiêu khảo sát phản ánh xu hướng sản xuất, kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 tiếp tục theo chiều hướng tích cực, với mức độ cải thiện rõ nét so với quý trước, tạo tiền đề thuận lợi cho tăng trưởng trong các quý tiếp theo. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ trong quý I năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, căng thẳng và xung đột tại khu vực Trung Đông đã làm gia tăng rủi ro đối với chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu, kéo theo sự biến động của giá dầu thô, giá vàng và tỷ giá ngoại tệ. Những yếu tố này đã làm gia tăng chi phí nhập khẩu, nhất là đối với các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu, từ đó tạo áp lực lên chi phí sản xuất và giá bán hàng hóa trong nước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2026, ước đạt 5.065,2 tỷ đồng, giảm 0,95% so với tháng trước và tăng 17,16% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường bán lẻ trong tỉnh tăng khá đều và ổn định ở cả 3 tháng đầu năm, tính chung cả quý I, doanh thu ước đạt 15.199 tỷ đồng tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng đều có doanh thu tăng trưởng khá, trong đó một số mặt hàng chiếm doanh thu lớn và tăng cao so với cùng kỳ[7]. Hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh ổn định; nguồn cung được bảo đảm, không xảy ra gián đoạn; chưa phát hiện tình trạng ngừng bán không đúng quy định, đầu cơ, găm hàng hoặc vi phạm về điều hành giá. Trong quý do trùng thời điểm lễ Tết nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của người dân tăng mạnh, mức tăng trưởng tập trung chủ yếu vào dịp trước, trong Tết. Thị trường giá cả hàng hóa mặt bằng giá cả nhiều nhóm hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát, chống gian lận thương mại, hàng giả, kiểm soát chặt chẽ bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân và doanh nghiệp. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 3/2026 ước đạt 508,42 tỷ đồng, tăng 4,48% so với tháng trước, tăng 15,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình thời tiết thuận lợi, các cơ sở kinh doanh nhà hàng ăn uống hoạt động ổn định hơn. Mặt khác, do là tháng trùng vào dịp Quốc tế Phụ nữ 8/3 nên nhu cầu ăn uống ngoài gia đình tăng. Bên cạnh đó, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2026 với các hoạt động khai hội chùa Hương Tích, các khu, điểm du lịch văn hóa tâm linh đón hàng ngàn lượt khách du xuân, tham quan. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.475,52 tỷ đồng, tăng 12,45% so với cùng kỳ năm trước[8]. Mức tăng trưởng của các ngành lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trong quý I năm 2026 so với cùng kỳ năm trước chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng và du lịch của người dân tiếp tục phục hồi và gia tăng rõ rệt. Các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 3 tháng trong quý, quyết định trực tiếp đến doanh thu khu vực dịch vụ này. Dự tính trong quý tới khi Hà Tĩnh bước vào cao điểm mùa nóng các hoạt động du lịch, lưu trú và ăn uống cũng vào mùa, đây là cơ hội để tỉnh nhà phát huy tiềm năng lợi thế với nhiều bãi biển đẹp và hải sản chất lượng. Ngoài ra, các khu du lịch sinh thái với cảnh đẹp thu hút khách quan cũng là hình thức du lịch mới phát triển khá nhiều trên địa bàn thúc đẩy tăng trưởng nhóm ngành này trong quý tới, góp phần là động lực vào tăng trưởng chung toàn tỉnh. Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 3 năm 2026 ước đạt 809,67 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả quý I, doanh thu ước đạt 2.438,56 tỷ đồng, tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Với việc thị trường bất động sản trên địa bàn đang có dấu hiệu ấm dần lên từ đầu năm khiến doanh thu nhóm hàng này ước đạt 759,61 tỷ đồng, tăng đến 18,21%, ngoài ra các nhóm ngành hàng khác cũng tăng trưởng khá do nhu cầu làm đẹp, chăm sóc cá nhân chuẩn bị đón Tết của mọi người dân tăng nên các cơ sở kinh doanh dịch vụ này hoạt động hết công suất, một số cơ sở phải thuê thêm thợ thời vụ. Dịch vụ làm biển quảng cáo tăng hơn do nhu cầu làm market chào mừng năm mới, mừng thọ, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền, chào mừng các ngày lễ trọng đại của quê hương, đất nước. Bên cạnh đó hoạt động cho thuê đồ dùng gia đình phục vụ cưới hỏi, ăn uống diễn ra khá nhộn nhịp. 5.2. Hoạt động vận tải Trong quý I/2026 do ảnh hưởng của xung đột địa chính trị, đặc biệt là tại Trung Đông, đã đẩy giá dầu thô toàn cầu vọt đỉnh khiến giá xăng dầu trong nước chịu áp lực tăng cao ảnh hưởng nặng nề đến chi phí vận tải của người dân đẩy giá cước vận tải tăng. Việc điều chỉnh giá xăng dầu luôn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và sâu rộng đến ngành vận tải. Trong bối cảnh chi phí nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí, bất kỳ biến động nào về giá xăng dầu cũng đều kéo theo những thay đổi đáng kể trong hoạt động của các doanh nghiệp vận tải cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng. Kết quả vận tải, kho bãi trong tháng 3 năm 2026, doanh thu ước đạt 779,28 tỷ đồng, tăng 18,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng do thời điểm sau dịp Tết Nguyên đán, nhu cầu đi lại của người dân giảm đáng kể so với tháng trước. Nhưng bên cạnh đó, doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa lại tăng do các đơn vị vận chuyển hàng hoá hoạt động lại bình thường sau kỳ nghỉ tết dài ngày, cùng với đó ra tết nhu cầu xây dựng cũng tăng cao nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong tháng tăng. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu vận tải ước đạt 2.298,63 tỷ đồng, tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước[9]. Nhìn chung, dịch vụ vận tải đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, nhất là các thời điểm trước, trong và sau Tết. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa và nhu cầu đi lại đều tăng, đồng thời lượng khách du lịch tăng so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị từ hoạt động vận tải, tạo đà cho nhóm ngành này phát triển ổn định. Bến số 3 của Cảng quốc tế Lào - Việt đi vào khai thác góp phần nâng cao năng lực xếp dỡ hàng hóa, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa ngày càng cao. Xu hướng tiêu dùng của người dân trong tỉnh hiện nay là chuyển từ mua sắm truyền thống trực tiếp qua mua sắm online ngày càng nhiều, với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện từ hiện nay các doanh nghiệp hoạt động ngành bưu chính, chuyển phát cạnh tranh khốc liệt để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ và kéo theo đó doanh thu ngành này đang có chiều hướng tăng. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh quý I năm 2026 có nhiều thuận lợi hơn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ, thị trường bất động sản ổn định, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 31/3/2026 đạt 6.384,09 tỷ đồng (tăng 25% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 4.002,53 tỷ đồng (chiếm 62,70% trong tổng thu) tăng 26,43% so với cùng kỳ. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.127,33 tỷ đồng (chiếm 33,32% trong tổng thu) tăng 22,02% so cùng kỳ năm trước. Một số thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chỉ đạt 186,14 tỷ đồng, giảm 85,54%. Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp, quý I năm 2026 thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 800,89 tỷ đồng tăng 57,28%; các khoản thu về thuế nhà, đất đạt 1692,21 tỷ đồng, tăng 350,94% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 31/3/2026 đạt 6.492,78 tỷ đồng giảm 15,44% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 2.726,48 tỷ đồng chiếm 41,99% tổng chi, giảm 26,23% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 3.766,30 tỷ đồng chiếm 58,01% tổng chi, giảm 5,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 1.365,23 tỷ đồng giảm 1,13%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 732,02 tỷ đồng giảm 24,29% so với cùng kỳ năm 2025. 6.2. Hoạt động ngân hàng Ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực sự nỗ lực trong việc đảm bảo cung ứng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế. Nguồn vốn tín dụng tiếp tục được tăng cường cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các động lực tăng trưởng theo đúng chủ trương của Chính phủ, đồng thời siết chặt dòng vốn đối với các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Mặt bằng lãi suất ngân hàng tại Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng có xu hướng tăng nhẹ so với cuối năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu vốn của nền kinh tế phục hồi, các ngân hàng điều chỉnh lãi suất để thu hút tiền gửi và đáp ứng tín dụng đầu năm. Tổng nguồn vốn huy động ước tính quý I năm 2026 đạt 129.400 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2025. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.820 tỷ đồng, chiếm 9,91% tổng nguồn vốn huy động, tăng 1,08%; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 116.580 tỷ đồng, chiếm 90,09%, tăng 2,66% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay ước tính quý I năm 2026 đạt 132.440 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 103.077 tỷ đồng (chiếm 77,83 % tổng dư nợ), tăng 5,25%; dư nợ trung dài hạn đạt 29.363 tỷ đồng (chiếm 22,17% tổng dư nợ), tăng 1,95% so với cuối năm 2025. Công tác huy động vốn, tín dụng được tập trung chỉ đạo. Các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay, các chương trình lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, tiếp cận tín dụng. 7. Đầu tư và xây dựng Trong những tháng đầu năm 2026, đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang được tập trung cao độ để hoàn thành kế hoạch năm 2025 và triển khai kế hoạch năm 2026. Kế hoạch năm 2026 đến nay đã phân bổ chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án là 5.698,935 tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và 100% kế hoạch HĐND tỉnh giao ; giải ngân đến ngày 20/3/2026 đạt 791,343 tỷ đồng, bằng 13,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý I/2026 dự ước đạt 13.748,96 tỷ đồng, giảm 27,11% so với quý trước, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 1.483,66 tỷ đồng, giảm 73,45% so với quý trước và giảm 47,13% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trong giai đoạn này, việc triển khai khởi công các công trình mới còn gặp nhiều khó khăn do quy trình, thủ tục đầu tư kéo dài, cần nhiều thời gian hoàn thiện. Một số dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị giải phóng mặt bằng nên chưa thể tổ chức thi công. Trên địa bàn tỉnh giai đoạn này cũng không có các dự án lớn do Nhà nước triển khai (cùng kỳ năm trước có dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam thực hiện khối lượng vốn lớn). Vốn ngoài nhà nước ước đạt 8.550,89 tỷ đồng, giảm 21,82% so với quý trước nhưng tăng 29,81% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so cùng kỳ chủ yếu do nhóm các công trình thuộc tập đoàn VinFast như Khu công nghiệp Vinhomes, nhà máy xe máy điện. Cùng với đó là nguồn vốn đầu tư của hộ dân cư tăng trong bối cảnh nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở gia đình đang ở mức cao và giá vật liệu tăng so cùng kỳ. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.714,41 tỷ đồng, tăng 58,87% so với quý trước và tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực này nguồn vốn đầu tư tăng mạnh do các dự án lớn như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II phát sinh chi phí sửa chữa, khắc phục thiệt hại do ảnh hưởng của các cơn bão dịp cuối năm vừa qua. Nhìn chung, trong quý I/2026, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ghi nhận mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, phản ánh xu hướng phục hồi và mở rộng hoạt động đầu tư. Kết quả này có được nhờ hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện, đặc biệt là hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ giữa các khu công nghiệp, khu kinh tế với cảng biển, tuyến cao tốc Bắc - Nam, các tuyến quốc lộ và hành lang vận tải kết nối sang Lào - Thái Lan. Bên cạnh đó, các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư của Nhà nước cùng với việc tỉnh quan tâm, tập trung chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư trên địa bàn. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất nhập khẩu trong quý I/2026 có nhiều tín hiệu khởi sắc so với quý trước và so với cùng kỳ. Tổng trị giá xuất nhập khẩu ước đạt hơn 1.149,5 triệu USD tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ghi nhận những tín hiệu đáng mừng đến từ việc xuất khẩu. Trị giá xuất khẩu tháng 3 năm 2026, ước đạt 154,2 triệu USD, tăng 30,13% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, trị giá xuất khẩu ước đạt 419,9 triệu USD, đạt gần 20% so với kế hoạch cả năm và tăng 24,81% so với cùng kỳ năm 2025. So với các tỉnh trong khu vực Bắc Trung Bộ trị giá xuất khẩu của Hà Tĩnh tiếp tục giữ vững vị trí thứ 3 xếp sau tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Nguyên nhân tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu do sự phục hồi của các mặt hàng công nghiệp chủ lực, đặc biệt là thép và phôi thép. Sau giai đoạn khó khăn của năm 2025, việc chủ động đa dạng hóa thị trường đã giúp nhóm hàng này duy trì vai trò "trụ cột", chiếm tỷ trọng hơn 85% tổng trị giá xuất khẩu toàn tỉnh. Bên cạnh đó, các mặt hàng khác như chè, thủy sản, sợi cũng giữ vững đà tăng trưởng ổn định nhờ tận dụng tốt các đơn hàng mới ngay từ đầu năm, góp phần quan trọng vào sự khởi sắc chung của hoạt động ngoại thương[10]. Dự báo trong các quý tới "bức tranh" xuất khẩu năm nay kỳ vọng sẽ có đóng góp của các sản phẩm công nghiệp xanh và công nghệ cao. Theo kế hoạch, các nhà máy sản xuất tại Hà Tĩnh của Tập đoàn Vingroup và đối tác dự kiến tham gia xuất khẩu với các sản phẩm chủ lực như: Cell pin (dự kiến kim ngạch xuất khẩu khoảng 30 triệu USD); ô tô điện (theo kế hoạch khoảng 20 triệu USD). Đây không chỉ là sự bổ sung về giá trị mà còn mang ý nghĩa chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng vào nhóm sản phẩm công nghiệp với chuỗi giá trị cao hơn. Trong bối cảnh thế giới đang đẩy mạnh chuyển đổi xanh, việc tham gia vào chuỗi sản xuất pin và xe điện giúp Hà Tĩnh đón đầu xu hướng, gia tăng sức cạnh tranh dài hạn. Trị giá nhập khẩu tháng 3 năm 2026 ước đạt 250,8 triệu USD, tăng 8,81% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, trị giá nhập khẩu ước đạt 729,6 triệu USD, tăng hơn 15 triệu USD so với thực hiện quý IV năm 2025 và tăng 0,55% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và một số thiết bị phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh tăng trong những tháng đầu năm 2026 nhằm phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đồng thời, hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp dần phục hồi và mở rộng sau giai đoạn cuối năm 2025, kéo theo nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào tăng so với quý IV năm 2025. Năm 2026, Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2025. Vì vậy cần các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì ổn định sản xuất, lưu thông hàng hóa; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy thương mại điện tử; hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu; tiếp tục thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án công nghiệp mới, đặc biệt là các dự án sản xuất hàng hóa xuất khẩu để tạo thêm nguồn hàng cũng như giá trị cho sản phẩm xuất khẩu. 9. Giá cả, lạm phát Trong tháng 3 và quý I/2026 thị trường giá tiêu dùng diễn biến phức tạp do ảnh hưởng tổng hợp của xung đột Mỹ - Iran, làm gián đoạn nguồn cung năng lượng và đẩy giá nhiên liệu xăng dầu chất đốt tăng cao. Giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 chịu áp lực tăng từ việc giá xăng dầu đồng loạt tăng mạnh từ ngày 5/3/2026, làm tăng chi phí vận tải và nguyên vật liệu đầu vào. Sự biến động này ảnh hưởng đến sản xuất, doanh thu doanh nghiệp và thói quen tiêu dùng, mặc dù Chính phủ áp dụng các chính sách kiểm soát. Tháng 3 năm 2026, trên địa bàn tỉnh ghi nhận sự tăng mạnh của giá xăng dầu và giá vật liệu xây dựng ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng trong tháng. Chỉ số CPI chung tăng 1,03% so với tháng trước, so với tháng 12/2025 tăng 3,32% và so với cùng tháng năm trước tăng 4,64%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 3 nhóm hàng hóa tăng giá, có 6 nhóm hàng hóa giảm giá và có 02 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 3/2026 như sau: Thứ nhất, Nhóm lương thực đặc biệt là giá gạo tẻ thường tăng do nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá. Thứ hai, do nhu cầu tiêu dùng giảm sau Tết Nguyên đán nên giá các mặt hàng đồ uống, quần áo, giày dép, khăn, tất, giày thể thao giảm hơn. Thứ ba, nhu cầu sử dụng điện nhiều hơn nên giá cả tăng. Thứ tư, giá gas, nhiên liệu biến động mạnh do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thế giới, đặc biệt là các cuộc xung đột tại khu vực Trung Đông gây gián đoạn nguồn cung, trong tháng 3 giá nhiên liệu điều chỉnh liên tục 9 đợt làm giá xăng, dầu tháng 3/2026 tăng mạnh. Tính chung quý I năm 2026, CPI bình quân tăng 2,93% so với cùng kỳ năm 2025. Chịu tác động bởi quy luật tiêu dùng tăng trong dịp Lễ, Tết và ảnh hưởng của giá cả thị trường thế giới cũng như trong nước. Cụ thể, CPI tháng 01/2026 tăng cao nhất với mức tăng 1,3%; sang tháng 2 tăng 0,94% do là tháng trùng với trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên nhu cầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ, đi lại của người dân tăng cao; tháng 3/2026 tăng 1,03% do chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố địa chính trị và nguồn cung. Tác động lớn nhất là chỉ số giá nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 4,26%. Trong đó: Nhóm lương thực tăng 6,39%; nhóm thực phẩm tăng 4,06% và nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,53%. Tiếp đến là chỉ số giá nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,69%. Nguyên nhân do giá điện, nước tăng do có sự điều chỉnh giá của nhà nước cùng với nhu cầu tiêu dùng tăng; nguồn cung hạn chế cùng với nhu cầu tiêu dùng đặc biệt giá nhiên liệu xăng dầu tăng đẩy giá vật liệu xây dựng tăng tác động làm tăng giá vật liệu kéo theo việc các nhóm hàng khác cũng đều tăng. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, vật liệu xây dựng, giá vàng, Đô la Mỹ tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự kiến CPI tháng 4/2026 có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Giá cả thị trường dự ước tăng so với tháng 3/2026, nhất là các mặt hàng thực phẩm thủy sản biển, khách sạn, nhà nghỉ, điện lạnh, điện tiêu dùng và nước sinh hoạt do là tháng chuyển vào mùa nắng nóng cũng là mùa du lịch biển nên nhu cầu hải sản và các loại dịch vụ du lịch tăng. Cùng với đó khi thời tiết chuyển mùa nắng nóng nhu cầu mua sắm đồ dùng điện lạnh, quạt điện và điện nước tiêu thụ đều tăng. Qua đó, cần có những giải pháp trong việc điều tiết nguồn cung và các biện pháp kiểm soát giá, nhất là các dịch vụ liên quan đến hoạt động du lịch sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ổn định thị trường. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Tình hình lao động việc làm tại Hà Tĩnh trong quý I/2026 tiếp tục có chiều hướng tốt. Ngay từ những tháng đầu năm, hoạt động sản xuất - kinh doanh khá nhộn nhịp kéo theo nhu cầu tuyển dụng lao động tăng mạnh ở nhiều lĩnh vực như công nghiệp, dệt may, cơ khí, dịch vụ. Theo khảo sát của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh, có 101 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh có nhu cầu tuyển dụng với số lượng hơn 8.300 lao động với các ngành nghề chủ yếu như: Nhân viên kỹ thuật điện, cơ khí; văn phòng, kế toán; lái xe, lái máy; công nhân, lao động phổ thông. Bên cạnh đó, trung tâm cũng đã phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức các phiên, sàn giao dịch lưu động, tổ chức hội nghị tư vấn, giới thiệu việc làm thu hút hàng ngàn lượt lao động tham gia. Tình hình giải quyết việc làm: Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý I năm 2026 là 4.679 người, tăng 10,41% so với quý trước và giảm 18,23% so cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 1.947 người, chiếm 41,61% trong tổng số, tăng 89,77% so với quý trước; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.355 người, chiếm 28,96%, tăng 260,37%; xuất khẩu lao động 1.377 người, chiếm 29,43%, giảm 51,45%. Tất cả điều đó đã góp phần làm cho tình hình về lao động, việc làm quý I/2026 ở Hà Tĩnh được ổn định và khởi sắc. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước quý I năm 2026 là 541.523 người, tăng 0,15% so với quý trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nguồn nhân lực của tỉnh đang được duy trì ổn định và có dấu hiệu phục hồi, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, nam giới chiếm tỷ trọng 52,17%, cao hơn 4,34 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 47,83%); khu vực thành thị chỉ chiếm 24,65% trong khi lao động chủ yếu vẫn đang tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 75,35%. Lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên ở Hà Tĩnh ước tính quý I năm 2026 là 528.985 người, chiếm 97,68% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 1,01% so với quý trước và giảm 0,06% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, khu vực thành thị là 128.807 người, chiếm 24,35%; lao động có việc làm ở nam giới là 274.058 người, chiếm 51,81%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế quý I/2026, ta thấy lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng là 28,26% (tương ứng 149.503 người), giảm 0,07 điểm phần trăm so với quý trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,37% (tương ứng 155.375 người), tăng 0,36 điểm phần trăm; dịch vụ chiếm 42,37% (tương ứng 224.107 người), giảm 0,30 điểm phần trăm. Sự chuyển dịch này cho thấy tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp tiếp tục giảm, trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng có xu hướng tăng lên, phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Mặc dù khu vực dịch vụ có giảm nhẹ về tỷ trọng, song vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu lao động, khẳng định vai trò quan trọng của khu vực này trong giải quyết việc làm và phát triển kinh tế của tỉnh. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Quý I/2026 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 12.538 người, chiếm 2,32% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 1,01 điểm phần trăm so quý trước và tăng 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 62,69% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 7.860 người), còn nam giới chiếm 67,23% (tương đương 8.429 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý I/2026 ước tính là 4,11%, tăng 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý I/2026 là 2,32%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,18 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý I/2026 là 687 người, tăng 131 người so với quý trước. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Trong quý I năm 2026, đời sống người dân Hà Tĩnh tiếp tục được cải thiện cả về vật chất và tinh thần, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển ổn định và bền vững trong thời gian tới. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 trên địa bàn Hà Tĩnh đã diễn ra dân chủ, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm. Tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu đạt rất cao (khoảng 99,98%, nhiều khu vực đạt 100%). Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tiếp tục tăng, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn nhất định như việc làm chưa thật sự bền vững ở một bộ phận lao động, thu nhập chưa đồng đều giữa các nhóm dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được triển khai kịp thời, tình hình chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất trong quý I/2026 cụ thể như sau: Hỗ trợ cho các đối tượng người có công và thân nhân người có công với tổng số tiền là 384,045 tỷ đồng, so với quý trước giảm 10,305 tỷ đồng, nhưng so với cùng kỳ năm trước tăng 123,94 tỷ đồng; hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền là 183,43 tỷ đồng; Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP số tiền là 82,40 tỷ đồng. Ngoài ra, trong quý I năm 2026, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 387.624 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Thực hiện Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 30/01/2026 về việc phân bổ gạo dự trữ quốc gia hỗ trợ người dân trên địa bàn tổng số gạo được phân bổ là 1.171 tấn, trong đó: Hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ 604 tấn; hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 243,56 tấn; hỗ trợ nhân dân trong thời kỳ giáp hạt đầu năm 2026 là 323,52 tấn. Về hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương trong quý Hà Tĩnh chi nguồn hỗ trợ từ Ban vận động cứu trợ Trung ương cho các đối tượng có nhà ở bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ xảy ra trong năm 2025 với tổng số tiền 58,582 tỷ đồng. 3. Giáo dục đào tạo Trong quý I năm 2026, ngành giáo dục tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực trong các hoạt động giáo dục. Tại kỳ thi Olympic Toán học châu Á - Thái Bình Dương năm 2026, Hà Tĩnh vinh dự có 1 thí sinh lọt top 10 thí sinh đạt điểm cao nhất của đoàn học sinh Việt Nam. Ngoài ra tại Hội thi “An toàn giao thông cấp tiểu học, THCS, THPT” năm học 2025-2026 do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia tổ chức, Hà Tĩnh đã đạt 3 giải nhất và 2 giải nhì. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm nay dự kiến diễn ra vào ngày 25/5/2026, sớm hơn khoảng một tuần so với năm trước, khiến quỹ thời gian dành cho ôn tập càng trở nên gấp rút. Cùng đó, áp lực càng gia tăng khi số lượng học sinh lớp 9 tăng mạnh nhưng dự báo chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường THPT công lập không tăng tương ứng. Điều đó đồng nghĩa với mức độ cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, nhất là tại các trường ở khu vực trung tâm. 4. Hoạt động Văn hóa - Thể thao: - Về văn hóa: Trong quý các hoạt động văn hóa trên địa bàn diễn ra sôi nổi, đạt nhiều kết quả nổi bật. Các hoạt động văn hóa được triển khai đồng bộ, gắn với tuyên truyền mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ; tuyên truyền thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng gắn với tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tuyên truyền kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập (1906 - 2026); tổ chức 11 buổi chiếu phim lưu động tại các phường, xã phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026. Bên cạnh đó ngành Văn hóa phối hợp UBND xã Can Lộc tổ chức lễ khai hội chùa Hương, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2026. Hướng dẫn các địa phương bảo đảm thực hiện nếp sống văn minh, an toàn, tiết kiệm trong các hoạt động lễ hội sau Tết Nguyên đán và lễ hội xuân 2026. - Về thể dục thể thao: Đối với thể thao quần chúng, đã hướng dẫn chỉ đạo các xã, phường xây dựng kế hoạch, thành lập Ban Tổ chức và tổ chức các hoạt động, giải thể thao phong trào cơ sở mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ 2026: giải Bóng chuyền nam Thanh niên, Vật, Cờ thẻ tại lễ khai hội Chùa Hương năm 2026; giải Đua thuyền tại lễ hội Hải Thượng Lãn Ông năm 2026 tại xã Hương Sơn và các giải thể thao Đua thuyền, Kéo co, Việt dã, Cờ tướng ở các xã, phường khác. Đối với thể thao thành tích cao: Trong quý đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 02 giải đấu quốc tế là Giải Bán Marathon quốc tế Việt Nam tại Hà Nội giành 2 HCB; giải Vô địch các CLB Muay quốc gia tại Gia Lai, giành 1 HCV, HCB và 1 HCĐ. Đối với thể thao chuyên nghiệp: Câu lạc bộ bóng đá Hồng Lĩnh Hà Tĩnh thi đấu giải Vô địch quốc gia 2025-2026, đến nay sau vòng 16 xếp thứ 8/14 đội tuyển. 5. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Trong tháng thời tiết diễn biến khá thất thường điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của các loại vi khuẩn, nấm mốc ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân, đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ. Công tác bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm được tập trung thực hiện hiệu quả, trong quý này không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra. Tuy nhiên có 132 người bị ngộ độc đơn lẻ. Cũng trong quý I này toàn tỉnh ghi nhận 12 ca mắc sốt xuất huyết Dengue; 03 ca mắc sởi; 06 ca mắc tay chân miệng và 01 ca viêm màng não mô cầu. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong những năm qua, nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phòng, chống HIV/AIDS có sự thay đổi tích cực, các ca nhiễm HIV/AIDS tiếp tục có xu hướng giảm. Trong tháng xuất hiện 01 ca nhiễm mới giảm 02 ca so với cùng kỳ, tính chung quý I/2026 đã phát hiện 3 ca nhiễm mới HIV/AIDS giảm 01 ca so với quý trước và giảm 2 ca so với cùng kỳ năm trước, không có người chết do AIDS. 6. Tai nạn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông cho Nhân dân vui đón Tết ngay từ những ngày đầu năm 2026, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã chủ động triển khai lực lượng, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông. Trong đêm giao thừa có 100% cán bộ, chiến sĩ được bố trí trực xuyên đêm tại các tuyến đường, khu vực bắn pháo hoa; chủ động phân luồng, điều tiết giao thông, không để xảy ra ùn tắc. Đồng thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm như vi phạm nồng độ cồn, chạy quá tốc độ, lạng lách, đánh võng, với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Trong tháng Ba (tính từ 15/02/2026 - 14/03/2026) trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 29 vụ tai nạn đường bộ, làm 17 người chết, 27 người bị thương, so với tháng trước tăng 2 vụ tai nạn, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương; giá trị thiệt hại tài sản ước tính 738 triệu đồng. Tính chung quý I năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 97 vụ tai nạn đường bộ, làm 55 người chết, 82 người bị thương (số vụ tai nạn giữ nguyên so với quý trước, tăng 3 người chết, tăng 15 người bị thương so với quý trước); trong quý này không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào, so với quý trước giữ nguyên. 7. Bảo vệ môi trường Trong tháng 3/2026, toàn tỉnh phát hiện 05 vụ vi phạm môi trường, giảm 05 vụ so với tháng trước nhưng tăng 1 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng là 04 vụ, giảm 45 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong tháng là 45,05 triệu đồng, giảm 165,53 triệu đồng so với tháng trước và giảm 176,30 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng giảm mạnh là do tháng 3 là thời điểm sau Tết Nguyên đán, hoạt động của các loại đối tượng trên lĩnh vực tài nguyên, môi trường có xu hướng giảm; đồng thời, các lực lượng chức năng duy trì công tác tuyên truyền, vận động và kiểm tra nên số vụ việc vi phạm giảm mạnh. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 174 vụ vi phạm môi trường, xử lý 89 vụ với số tiền xử phạt là 608,78 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 37 vụ phát hiện (tăng 27,01%) nhưng giảm 37 vụ xử lý (giảm 29,37%) số tiền xử phạt giảm 112,59 triệu (giảm 15,49%). Thời gian qua, ý thức, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đã từng bước được nâng lên. Tuy vậy, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại các hạn chế như số cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ chưa có hồ sơ, thủ tục, công trình, biện pháp bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều, nhất là các cơ sở quy mô nhỏ thuộc đối tượng phải đăng ký môi trường ở cấp xã; nhiều cơ sở chưa chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động, qua kiểm tra đã bị xử phạt vi phạm hành chính, việc thực hiện chế độ báo cáo công tác bảo vệ môi trường định kỳ hằng năm chưa được quan tâm, ô nhiễm môi trường trong một số lĩnh vực như chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn nhiều tiềm ẩn, chậm khắc phục. Vì vậy, ngày 20/3/2026 UBND tỉnh tiếp tục ban hành Văn bản số 2164 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh giao các sở ngành liên quan thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục các tồn tại, hạn chế. 8. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn Tình hình cháy: Trong tháng 3/2026 trên địa bàn đã xảy ra 1 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại tài sản ước tính 25 triệu đồng. Tính chung cả quý I năm 2026, đã xảy ra 14 vụ cháy, không gây ảnh hưởng về người, giá trị thiệt hại tài sản ước tính hơn 3 tỷ đồng (giảm 8 vụ so với quý trước nhưng tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm trước). Tình hình vụ nổ: Trong tháng xảy ra 01 vụ nổ tại thôn Sơn Trung 2, xã Kỳ Thượng, nguyên nhân do bình gas mini phát nổ trong quá trình sử dụng tại gia đình làm 01 người bị thương. Tính chung quý I/2026 đã xảy ra 2 vụ nổ làm 01 người chết và 02 bị thương trong khi cả năm 2025 không xảy vụ nổ nào. Tình hình thiên tai: Trong tháng cũng như cả quý I năm 2026 không xảy ra vụ thiên tai nào. III. DỰ BÁO, ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Thứ nhất, rà soát cập nhật kịch bản tăng trưởng quý II, 6 tháng và cả năm 2026; thực hiện các giải pháp phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 từ trên 10%; trong đó đánh giá các yếu tố khách quan bất lợi về giá xăng dầu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Chủ động chuẩn bị tốt các nội dung báo cáo, đề án, nghị quyết trình kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh giữa năm 2026. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình khung thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Thứ hai, tiếp tục đồng hành, hỗ trợ nhà đầu tư; kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Tập trung hoàn thành thủ tục đầu tư các dự án hạ tầng KCN Bắc Hồng Lĩnh, KCN Hạ Vàng. Tăng cường thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp, tăng tỷ lệ lấp đầy cụm công nghiệp; các dự án quy mô lớn, hiện đại. Thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình sản xuất công nghiệp, nhất là đối với các sản phẩm công nghiệp chủ lực; tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp mới như sản xuất ô tô điện, xe máy điện, Pack pin, Cell pin và các sản phẩm công nghệ cao. Tiếp tục tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tập trung chỉ đạo sản xuất, phòng trừ sâu bệnh hại trên cây trồng vụ Xuân 2026; xây dựng và triển khai Đề án sản xuất vụ Hè thu 2026 và Đề án sản xuất vụ Đông 2026. Chủ động phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là dịch tả lợn châu Phi; tổ chức tiêm phòng vắc xin đợt 1 năm 2026. Tiếp tục theo dõi chỉ đạo sản xuất dứa liên kết với Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Công ty Cổ phần Nafoods Group. Tập trung cao cho công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh, đặc biệt trong mùa nắng nóng sắp tới. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án du lịch, dịch vụ khu vực dải ven biển. Đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư phát triển các trung tâm logistics, cảng cạn và hệ thống kho bãi phục vụ kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực Vũng Áng và Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo. Thứ ba, triển khai quyết liệt nhiệm vụ thu ngân sách, phấn đấu thu đạt và vượt dự toán; chống thất thu do trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế. Triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Thực hiện nhanh công tác bàn giao mặt bằng; không để tình trạng dự án chờ mặt bằng; ưu tiên bố trí nguồn lực giải phóng mặt bằng, chủ động tạo quỹ đất sẵn sàng phục vụ thu hút đầu tư. Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn, tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên đầu tư. Thứ tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư nhà ở xã hội, sắp xếp lại, xử lý nhà, đất gắn với xử lý các trụ sở dôi dư. Triển khai Đề án phát triển vật liệu xây dựng giai đoạn 2025-2030; nâng cao chất lượng công tác thông báo giá vật liệu xây dựng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, rà soát việc sử dụng đất của các dự án, đặc biệt là các dự án có nguy cơ chậm tiến độ để đôn đốc, hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện theo đúng quy định. Thứ năm, xây dựng, phát triển đồng bộ hạ tầng và các nền tảng số của tỉnh; khẩn trương hoàn thiện, chuẩn hóa, làm sạch các cơ sở dữ liệu ngành, sẵn sàng tích hợp vào kho dữ liệu dùng chung của tỉnh sau khi hình thành. Tiếp tục hoàn thiện Ứng dụng công dân số (i-HaTinh), từng bước tích hợp thêm các dịch vụ, tiện ích số trên một nền tảng thống nhất. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong quản lý, sản xuất và đời sống. Thực hiện đồng bộ giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy hiệu quả bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và các địa phương (DDCI), nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Thứ sáu, chú trọng định hướng trong hoạt động thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2026; thông tin đầy đủ, kịp thời về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030; tạo niềm tin và đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Ba và quý I năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./. [1] Vụ Đông xuân 2025-2026: Cây ngô diện tích thu hoạch đạt 4.920 ha, giảm 272 ha; Năng suất ngô đạt 46,37 tạ/ha, tăng 2,19 tạ/ha; Sản lượng ngô đạt 22.812 tấn, giảm 121 tấn so với cùng kỳ năm trước. DT khoai lang chính thức đạt 1.052ha, giảm 133 ha; Năng suất khoai đạt 67,57 tạ/ha, tăng 1,03 tạ/ha; sản lượng khoai lang đạt 7.105 tấn, giảm 774 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây rau, đậu các loại diện tích gieo trồng đạt 5.146 ha, tăng 201 ha; Năng suất đạt 66,23 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha; sản lượng rau  đạt 34.031 tấn, tăng 2.131 tấn so với cùng kỳ năm trước.[2] Lạc 5.479/5.628 ha bằng 97,35% KH; ngô 6.179/6.403 ha bằng 96,51% KH; khoai lang 1.380/1.415 ha bằng 97,53% KH; rau các loại 5.683/5.807 ha bằng 97,87% KH[3] Sản lượng chuối ước đạt 6.281 tấn, bằng 100,02%; Đu đủ ước đạt 12 tấn, bằng 99,82% (giảm 1 tấn); Dứa ước đạt 139 tấn (tăng 25 tấn) bằng 121,93%; Ổi ước đạt 450 tấn, bằng 104,17% (tăng 18 tấn); Cam ước đạt 8.140 tấn, bằng 101,06% (tăng 85 tấn); Chanh ước đạt 884 tấn, bằng 104,12% (tăng 35 tấn); Cao su ước đạt 751 tấn, bằng 104,12% (tăng 29 tấn); Chè búp ước đạt 3.324 tấn, bằng 101,81% (tăng 59 tấn); Chè hái lá ước đạt 6.553 tấn, bằng 101,08% (tăng 70 tấn) so với cùng kỳ năm trước.[4] Kết quả chăn nuôi quý I: Đàn trâu hiện có 47.600 con, bằng 73,12%, sản lượng xuất chuồng quý I ước đạt 962 tấn, bằng 98,67%; đàn bò hiện có 129.100 con, bằng 80,19%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 2.720 tấn, bằng 99,63% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) hiện có 354.960 con, bằng 101,56%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 19.000 tấn, bằng 99,51%; đàn gia cầm hiện có 9.950 ngàn con, bằng 101,32%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 8.685 tấn, bằng 103,83% so với cùng kỳ năm trước[5] CS tiêu thụ ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 50,68%; Ngành sản xuất đồ uống tăng 30,25%; Sản xuất sợi tăng 10,04%; Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,72%.[6] CS sử dụng LĐ ngành sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 52,44; gành sản xuất thiết bị điện tăng 88,93%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,01%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,34% so với cùng kỳ năm 2025[7] Lương thực, thực phẩm ước đạt 3.687,39 tỷ đồng, tăng 4,47%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 3.784,34 tỷ đồng, tăng 12,62%; xăng,dầu các loại ước đạt 3.809,73 tỷ đồng, tăng 15,83%...[8] DV lưu trú ước đạt 76,62 tỷ đồng, tăng 10,04% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 1.383,23 tỷ đồng, tăng 12,61% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 15,66 tỷ đồng, tăng 10,79% so với cùng kỳ năm trước[9] Vận tải hành khách dự tính đạt 465,68 tỷ đồng, tăng 9,78%; Vận tải hàng hóa dự tính đạt 1.316,71 tỷ đồng, tăng 9,17%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 488,02 tỷ đồng, tăng 26,99% so với cùng kỳ năm trước.[10] Quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu xơ, sợi dệt đạt khoảng 5,7 triệu USD; hàng dệt may gần 8,6 triệu USD; dăm gỗ đạt khoảng 24,22 triệu USD; chè đạt gần 0,9 triệu USD…

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
  •   30/04/2026 21:29

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của Hà Tĩnh cơ bản ổn định, tăng trưởng khá. Trồng trọt đảm bảo khung thời vụ; chăn nuôi lợn, gia cầm tăng; lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, trước nguy cơ thời tiết bất lợi và dịch bệnh, cần sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền các cấp trong công tác chỉ đạo, kiểm tra, phòng chống dịch và hỗ trợ sản xuất, nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu kế hoạch năm. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Hiện nay tranh thủ thời tiết nắng ráo sau kỳ nghỉ Tết, bà con nông dân đang chạy đua với thời gian, quyết tâm hoàn thành tiến độ sản xuất theo đúng kế hoạch. Đối với cây lúa vụ Xuân 2026, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và sự chủ động của các địa phương, đến nay, các diện tích cơ bản hoàn thành xuống giống, cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt. Trong đó, 4.150 ha lúa tiến hành áp dụng phương pháp tưới ngập - khô xen kẽ cũng đang được chính quyền địa phương cùng người dân chủ động triển khai. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn mà sâu bệnh như bọ trĩ, đạo ôn, ruồi đục nõn có nguy cơ phát sinh mạnh. Nông dân cần thường xuyên thăm đồng, phát hiện sớm để phòng trừ kịp thời. Tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2026: Tính đến ngày 23/02/2026, tổng diện tích gieo, cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 58.493 ha/59.152 ha, đạt 98,89% kế hoạch (diện tích lúa gieo thẳng là 56.032 ha, diện tích cấy 2.461 ha). Hiện nay các trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng phát triển tốt, ngoài ra diện tích gieo trồng một số cây trồng cạn khác như: Cây ngô ước đạt 5.562/6.403 ha bằng 87,87% KH; cây lạc ước đạt 3.419/5.628 ha, bằng 60,75% KH; khoai lang ước đạt 1.040/1.415 ha, bằng 73,54% KH; rau các loại: 4.602/5.807 ha bằng 79,25% KH. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa bệnh đạo ôn xuất hiện và gây hại tại một số xã trên địa bàn tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, cục bộ 10 -15%; nạn ốc bươu vàng gây hại trên những diện tích sâu trũng, ruộng ngập nước, diện tích nhiễm 55 ha; chuột gây hại hầu hết các địa phương, nhất là trên những vùng cao cưỡng, gần khu dân cư, diện tích nhiễm 150 ha; bọ trĩ, tuyến trùng rễ gây hại trên những chân ruộng khô diện tích nhiễm 35 ha, ngoài ra, trên một số diện tích xanh tốt sâu cuốn lá nhỏ đã xuất hiện và gây hại với mật độ 7-10 con/m2. Trên các cây trồng khác cũng xuất hiện nạn sâu ăn lá, bệnh do nấm (sương mai, đốm vòng) phát sinh gây hại chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, diện tích nhiễm 45 ha; sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên các trà ngô giai đoạn 3-7 lá, diện tích nhiễm 25 ha, bệnh đốm lá, khô vằn gây hại trà ngô giai đoạn phát triển bắp, diện tích nhiễm 10 ha. Trên cây có múi nạn sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc non, diện tích nhiễm 10 ha; bệnh loét gây hại trên các vườn cây không thông thoáng, chưa tỉa tán sau thu hoạch. Trên cây dứa bệnh thối nõn phát sinh gây hại trên các vùng trồng tập trung diện tích nhiễm 25,5 ha, trong đó 8,5 ha nhiễm nặng ở xã Cẩm Xuyên. b. Chăn nuôi Kết quả sản xuất: Đàn trâu hiện có 45.085 con, bằng 69,38%; đàn bò hiện có 125.840 con, bằng 78,17% so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm vì hiện nay chi phí chăn nuôi tăng trong khi giá bán thấp nên người dân không tăng tổng đàn. Đàn lợn hiện có 391.050 con, bằng 100,22%; đàn gia cầm hiện có 9.820 ngàn con, bằng 102,51%, trong đó đàn gà có 8.060 ngàn con, bằng 102,54% so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn và gia cầm trên địa bàn duy trì ổn định và tăng so với cùng kỳ nhờ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Mặc dù dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, song giá lợn hơi ở mức cao đã tạo động lực cho người chăn nuôi tái đàn. Bên cạnh đó, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, tăng cường công tác phòng, chống và xử lý dịch bệnh được đẩy mạnh đã góp phần kiểm soát rủi ro, giúp người dân yên tâm tiếp tục khôi phục và phát triển đàn sau Tết. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 16 xã làm 413 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy. lũy kế đến nay, dịch xảy ra tại 20 xã, phường làm cho 692 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy. Dịch cúm gia cầm được phát hiện từ ngày 08/02/2026 đến nay đã có 900 con gia cầm của 29 hộ chăn nuôi mắc bệnh chết, tiêu hủy. Việc thời tiết diễn biến thất thường, mưa rét kéo dài, độ ẩm không khí cao tiềm ẩn nguy cơ bùng phát của nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Để đảm bảo hoạt động chăn nuôi ổn định, ngành chuyên môn đã chỉ đạo các địa phương thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn bà con tuân thủ các quy trình nuôi an toàn. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng 02, là tháng trùng Tết Nguyên đán, thực hiện lời kêu gọi “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, các địa phương trong toàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng phong trào “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện môi trường sinh thái theo hướng xanh - sạch - đẹp; tạo cảnh quan môi sinh trên địa bàn, cùng với phong trào trồng cây xanh, hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ tiếp tục được triển khai. Tranh thủ điều kiện thời tiết mát mẻ, người dân tiến hành khai thác rừng trồng đã đến kỳ thu hoạch và trồng rừng theo kế hoạch. Kết quả sản xuất: UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch trồng cây trên địa bàn toàn tỉnh là hơn 2,2 triệu cây, số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 188 nghìn cây, bằng 29,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm ước đạt 208 nghìn cây, giảm 77,12% so với cùng kỳ năm trước. Về diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng Hai ước đạt 695 ha, tăng 99,04% so với cùng kỳ năm trước (tăng 13 ha), tính chung 2 tháng đầu năm ước đạt 1.192 ha, tăng 43,08% so với cùng kỳ năm trước. Do trong năm diện tích rừng khai thác lớn, bao gồm cả khai thác cây gãy đổ do bão, sau khi thu hoạch người dân chủ động trồng lại trên diện tích đã khai thác nhằm bảo đảm chu kỳ sản xuất lâm nghiệp. Về khai thác gỗ và lâm sản, sản lượng khai thác trong tháng ước đạt 68.898 m³, tăng 49.383 m³ (tăng 253,05%). Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 129.206 m³, tăng 214,22% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá sản phẩm đang ở mức khả quan, nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ và xuất khẩu tăng cùng với việc đẩy nhanh tiến độ khai thác sau thời gian bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Thiệt hại về rừng: Trong tháng xảy ra 2 vụ phá rừng với diện tích 0,75 ha, bằng 192,31% (tăng 0,36 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời không gây hậu quả nghiêm trọng. 1.3. Tình hình thủy sản Kết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng Hai ước đạt 4.153 tấn, tăng 2,75% (tăng 111 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó cả khai thác tăng 3,35% và nuôi trồng tăng 1,03%. Tính chung 2 tháng đầu năm sản lượng đạt 9.460 tấn tăng 4,15% so với cùng kỳ năm trước. Về khai thác thủy sản, sản lượng ước đạt 3.103 tấn, bằng 103,35% so với cùng kỳ năm trước, chỉ tính riêng khai thác biển ước đạt 2.876 tấn, tăng 103,47% so với cùng kỳ năm trước. Do trong tháng thời tiết tương đối thuận lợi, số ngày biển động ít, tạo điều kiện cho tàu thuyền tăng số ngày vươn khơi, đặc biệt là nhóm tàu công suất lớn. Bên cạnh đó, ngư dân tích cực vươn khơi bám biển nhằm nâng cao thu nhập phục vụ nhu cầu chi tiêu dịp Tết và đầu năm. Sau thời gian nghỉ Tết, nhiều tàu thuyền khẩn trương ra khơi sớm, tận dụng thời tiết thuận lợi và tâm lý phấn khởi đầu năm cùng với giá hải sản ổn định ở mức khá đã tạo động lực để bà con đẩy mạnh hoạt động khai thác, trong 2 tháng đầu năm 2026 tính riêng sản lượng thủy sản khai thác biển ước ước đạt 6.853 tấn, bằng 105,16% so với cùng kỳ năm trước. Về nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng ước đạt 1.051 tấn, bằng 101,03% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 2 tháng đầu năm 2026 sản lượng ước đạt 2.012 tấn, bằng 102,01% so với cùng kỳ năm trước. Người dân đã dần thay đổi phương thức sản xuất để thích ứng với biến đổi khí hậu, bên cạnh áp dụng mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao thì việc đa dạng hóa các đối tượng nuôi trồng cũng được nhiều địa phương tuyên truyền, hướng dẫn bà con nông dân triển khai thực hiện. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026, ngành công nghiệp tỉnh nhà tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt, từ tháng 01/2026, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã hòa lưới điện trở lại sau khi khắc phục ảnh hưởng của thiên tai, góp phần ổn định nguồn cung năng lượng cho sản xuất. Bên cạnh đó, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền các cấp và cộng đồng doanh nghiệp cùng với hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Hà Tĩnh đang từng bước khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng Hai chỉ số sản xuất ngành công nghiệp giảm 3,41% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành khai khoáng giảm 26,71% so với tháng trước và tăng 2,24% so với cùng kỳ. Ngành chế biến chế tạo giảm 6,43% so với tháng trước và tăng 9,88% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,19% so với tháng trước do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất cải thiện và tăng 16,99% so với cùng kỳ. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước giảm 3,81% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,12%. Tháng 02 trùng với ngày lễ tết kéo dài, vì vậy hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp giảm mạnh so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 15,52% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 8,71%, nhu cầu sử dụng khoáng sản làm vật liệu đầu vào cho các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh từ nửa cuối năm 2025 giảm dần qua các tháng, nhất là sau khi một số dự án lớn đã hoàn thành. Cùng với đó, một số mỏ đã hết trữ lượng hoặc hết hạn giấy phép khai thác, đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục gia hạn, cấp phép lại cũng làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, góp phần làm chỉ số sản xuất ngành giảm trong các tháng cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,44%, công ty Formosa ký kết được các đơn hàng có quy mô lớn vào thời điểm cuối năm, qua đó thúc đẩy nhu cầu sản xuất và tiêu thụ thép. Ngoài ra, việc hạ tầng cảng biển và logistics trong khu kinh tế đáp ứng tốt quá trình nhập nguyên liệu và xuất hàng; nguồn điện cung ứng ổn định bảo đảm chu trình luyện kim liên tục; cùng với nhu cầu thép trong nước phục hồi ở một số phân khúc xây dựng và cơ khí chế tạo đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi để ngành sản xuất kim loại trên địa bàn duy trì mức tăng trưởng khá trong những tháng đầu năm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 23,74%, cuối tháng 01/2026, ngành này ghi nhận sự đóng góp trở lại của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II sau thời gian tạm ngừng sản xuất khắc phục thiên tai từ tháng 10/2025, bên cạnh đó các nhà máy sản xuất điện trên địa bàn duy trì vận hành ổn định, bảo đảm sản lượng phát điện theo kế hoạch. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,09%. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 12 nhóm sản phẩm trong 2 tháng đầu năm 2026 tăng so cùng kỳ năm trước, chiếm 60% tổng số nhóm sản phẩm được theo dõi. Chỉ tiêu này phản ánh tín hiệu cải thiện của khu vực sản xuất, cho thấy năng lực duy trì hoạt động và ổn định sản lượng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn biến động. Đồng thời, sự gia tăng ở phần lớn nhóm sản phẩm chủ lực cho thấy cơ cấu công nghiệp của tỉnh đang vận hành theo hướng cân đối hơn, góp phần củng cố nền tảng tăng trưởng và nâng cao tính ổn định của ngành trong giai đoạn đầu năm. Một số sản phẩm công nghiệp 2 tháng đầu năm tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước như: Ắc quy bằng ion lithi tăng 234%; thức ăn gia súc tăng 84,15%; bia đóng lon tăng 38,56%; điện sản xuất tăng 24,21%; sợi tăng 11,07%;... Bên cạnh đó cũng có các sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Đá xây dựng khác giảm 28,27%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 14,02%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 12,5%;.... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2026 tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 45,46% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 2 tháng đầu năm 2026 tăng 44,06% so với cùng kỳ năm 2025. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Trong 2 tháng đầu năm, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 16,44% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 54,65% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,86%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,81% so với cùng kỳ năm 2025. 3. Đầu tư và xây dựng Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2026 là 7.028,49 tỷ đồng, giảm 35,35% so với năm 2025. Trong đó: Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách cấp tỉnh được giao 5.678,13 tỷ đồng, giảm 45,29% so với năm trước; kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 1.350,36 tỷ đồng, tăng 173,79%, nguồn vốn cân đối ngân sách cấp xã chủ yếu là vốn thu từ quỹ sử dụng đất. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Hai ước đạt 285,34 tỷ đồng[1], giảm 29,43% so với tháng trước và tăng 4,14% so với cùng kỳ năm trước. Dịp Tết Nguyên đán năm nay rơi vào nửa cuối tháng 02, thời gian nghỉ kéo dài dẫn tới thời gian thi công tại các công trình đạt thấp. Việc triển khai khởi công các công trình mới vẫn đang gặp nhiều khó khăn do quy trình thủ tục đầu tư cần nhiều thời gian. Một số công trình mới chuẩn bị thực hiện giải phóng mặt bằng nên dự kiến thời gian tới vẫn có nhiều công trình chậm thực hiện đầu tư. Giá trị thực hiện vốn đầu tư chủ yếu là các công trình chuyển tiếp của năm 2025 chuyển sang. Một số công trình có khối lượng thực hiện lớn trong tháng tiêu biểu như: Dự án đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt 16 tỷ đồng; tiểu dự án đô thị Kỳ Anh (vốn vay WB) ước đạt 31,1 tỷ đồng; dự án đường từ Quốc lộ 12C đi Khu liên hợp gang thép Formosa Hà Tĩnh ước đạt 7,7 tỷ đồng; dự án Bệnh viện đa khoa huyện Cẩm Xuyên ước đạt 15 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 689,69 tỷ đồng, đạt 9,81% kế hoạch vốn, tăng 33,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 559,5 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 130,19 tỷ đồng, tăng 271,51% so với cùng kỳ năm trước. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng Hai là tháng trong và sau Tết Nguyên đán, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động với tháng trước, với nhiều loại mặt hàng chủng loại phong phú, mẫu mã đa dạng, đặc biệt tập trung vào nhóm hàng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, đồ uống, may mặc. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng Hai ước đạt 5.433,23 tỷ đồng, tăng 8,24% so với tháng trước và tăng 23,42% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường hàng hóa trong tháng diễn ra sôi động với tháng trước, với nhiều loại mặt hàng chủng loại phong phú, mẫu mã đa dạng, đặc biệt tập trung vào nhóm hàng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, đồ uống, may mặc. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.453,05 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng hóa thì tất cả các nhóm hàng đều tăng trưởng dương[2]. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 2 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng khá, nhu cầu mua sắm của người dân tăng mạnh, tập trung vào các nhóm hàng thiết yếu, sức mua tăng phản ánh thu nhập của người dân được cải thiện qua đó tạo động lực cho tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng cao. Mặc dù nhu cầu tăng cao, giá cả các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định, chỉ tăng nhẹ cục bộ do áp lực chi phí và sức cầu, song vẫn trong tầm kiểm soát; không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng hay tăng giá đột biến. Công tác quản lý thị trường, kiểm tra niêm yết giá và kiểm soát chất lượng hàng hóa được tăng cường, góp phần ổn định tâm lý tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi người dân và tạo nền tảng tích cực cho tăng trưởng kinh tế địa phương. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành doanh thu tháng Hai dự tính đạt 493,91 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước[3]. Hoạt động lưu trú và du lịch trong tháng tăng khá do nhu cầu tham quan, du lịch, vãn cảnh đầu xuân năm mới. Ngoài ra, nhu cầu liên hoan, gặp mặt và tổ chức tiệc đầu xuân của người dân tăng khiến doanh thu hoạt động ăn uống ước tăng khá so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm doanh thu nhóm ngành này ước đạt 974,38 tỷ đồng, tăng 11,58% so với cùng kỳ năm trước. Do có sự chỉ đạo, quan tâm kịp thời của cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bàn tỉnh tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, bổ sung dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ; tổ chức các sự kiện đón tiếp và phục vụ khách; đăng ký và bán đúng giá niêm yết; bảo đảm công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, không để xảy ra tệ nạn trong cơ sở kinh doanh dịch vụ mà các lễ hội, khu vui chơi được diễn ra vui vẻ, an toàn. Dịch vụ khác doanh thu tháng Hai ước đạt 805,22 tỷ đồng, giảm 4,17% so với tháng trước nhưng tăng đến 14,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, nhóm ngành dịch vụ khác, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng do nhu cầu làm đẹp, chăm sóc sức khỏe và chuẩn bị cho dịp Tết tăng mạnh. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 dự ước thực hiện đạt 1.645,48 tỷ đồng, tăng 13,78% so với cùng kỳ năm trước[4]. Nhìn chung, kết quả hoạt động dịch vụ khác tăng trưởng khá ổn định so với cùng kỳ, dịch vụ hoạt động bất động sản đã có nhiều tín hiệu khởi sắc sau thời gian có phần trầm lắng. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động kinh doanh vận tải tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao, đặc biệt vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng Hai ước đạt 764,29 tỷ đồng, tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 12,78% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách tăng do yếu tố thời vụ khi trùng với dịp Tết Nguyên đán nhu cầu đi lại của người dân gia tăng đột biến, đặc biệt là các luồng di chuyển ngoại thành về quê. Bên cạnh đó, hoạt động du xuân, thăm thân và tham gia lễ hội đầu năm cũng làm gia tăng đáng kể lượng khách nội tỉnh và liên tỉnh, nhất là trên các tuyến xe đường dài. Trong khi ở vận tải hàng hóa tiếp tục đạt thấp và giảm nhẹ so tháng trước, do trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán làm số ngày sản xuất và kinh doanh thực tế trong tháng bị rút ngắn. Nhiều doanh nghiệp đang tạm ngừng hoạt động nên nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa thành phẩm giảm. Cùng với đó, các hoạt động xuất nhập khẩu cũng chững lại trong thời gian nghỉ lễ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải ước đạt 1.523,78 tỷ đồng, tăng 10,35% so với cùng kỳ năm trước[5]. Nhìn chung, những tháng đầu năm 2026, tình hình vận tải diễn ra sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao. Vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác. Dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt, số lượng phương tiện vận chuyển ổn định, giá cước vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất khẩu trong tháng có dấu hiệu tích cực hơn khi giảm nhẹ so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước tăng ở mức khả quan. Tính chung, tổng trị giá xuất khẩu và nhập khẩu tháng Hai ước đạt 416 triệu USD giảm 1,91% so với tháng trước nhưng tăng đến 28,49% so với cùng kỳ. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu toàn tỉnh tháng Hai ước đạt 155,20 triệu USD, tăng 2,81% so với tháng trước và tăng 26,01% so với cùng cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 trị giá xuất khẩu toàn tỉnh ước đạt 306,16 triệu USD, tăng 26,01% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường xuất khẩu đang ghi nhận những tín hiệu tích cực từ các mặt hàng xuất khẩu như dăm gỗ, hàng dệt và may mặc, sợi dệt các loại và đặc biệt là mặt hàng thép, phôi thép. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu toàn tỉnh trong tháng Hai ước đạt 260,80 triệu USD, giảm 4,51% so với tháng trước nhưng tăng 30,01% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do việc nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ sản xuất của Formosa đã có sự phục hồi. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 trị giá nhập khẩu toàn tỉnh ước đạt 523,93 triệu USD, tăng 30,01% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu trong thời gian tới sẽ có sự phục hồi và duy trì ổn định. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán 2026 diễn ra sôi động, nguồn cung dồi dào, tập trung vào các mặt hàng thiết yếu đi kèm nhiều chương trình khuyến mãi được triển khai sớm, góp phần bảo đảm ổn định giá cả thị trường. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh tháng Hai tăng 0,95% so tháng trước, bình quân 2 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng Hai ghi nhận sự sôi động của thị trường hàng hóa phục vụ cho Tết Nguyên đán, giá cả các một số mặt hàng tăng cao, các hoạt động mua sắm tốt. Chỉ số CPI trong tháng tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 3,03% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các mặt hàng đều tăng giá so với tháng trước do nhu cầu tăng vào dịp Tết nguyên đán, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính chỉ 01 nhóm hàng hóa ổn định về giá còn đến 10 nhóm hàng hóa tăng giá[6]. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng chủ yếu do các nguyên nhân chính như: Thứ nhất, do tăng mạnh nhu cầu trong dịp Tết đặc biệt là giá các mặt hàng thiết yếu lương thực, thực phẩm, đồ uống, quần áo, điện, nước,… tuy nhiên bên cạnh đó giá các loại rau tươi, khô và chế biến đã giảm mạnh do thời tiết thuận lợi và vào mùa thu hoạch của một số loại rau, củ nên nguồn cung dồi dào. Thứ hai, do chi phí vận hành sản xuất và vận chuyển các loại hàng hoá tăng nên kéo theo việc tăng giá các loại sản phẩm. Thứ ba, thị trường giá vàng trong tháng bình quân tăng theo xu hướng của thị trường thế giới kéo theo giá các mặt hàng trang sức từ vàng cũng tăng. Bình quân 2 tháng đầu năm 2026 chỉ số giá CPI tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,55%, nông thôn tăng 2,35%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, giá vàng, đô la. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo CPI tháng tới sẽ giảm hơn do thời điểm sau Tết Nguyên đán, tuy nhiên diễn biến nhiều mặt hàng sẽ rất khó lường do chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 02 năm 2026, do trùng với dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên đời sống người dân trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi động và rộn ràng hơn. Các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị thực hiện chi trả lương, thưởng Tết kịp thời, tạo điều kiện để người lao động chuẩn bị đón xuân đầy đủ hơn. Bên cạnh đó, công tác đảm bảo an sinh xã hội được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói trong dịp tết; mọi người, mọi nhà đón Tết cổ truyền trong không khí vui vẻ, đầm ấm. Công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách, thăm hỏi, tặng quà các đối tượng, đảm bảo an sinh xã hội trong dịp Tết. Tổng số đối tượng là người có công với cách mạng và thân nhân người có công được tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ là 78.587 đối tượng, tổng kinh phí hơn 23,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đồng bào dân tộc Chứt sinh sống tại xã Phúc Trạch tiếp tục nhận được sự quan tâm kịp thời của Nhà nước và các tổ chức xã hội. Nhân dịp Tết Nguyên đán và thời kỳ giáp hạt, địa phương đã trao tổng cộng 264 suất quà với tổng trị giá 153,8 triệu đồng. Đồng thời, gần 10 tấn gạo từ nguồn hỗ trợ của tỉnh và các tổ chức xã hội cũng được cấp phát đầy đủ, đúng đối tượng góp phần giúp bà con dân tộc Chứt ổn định đời sống, yên tâm đón tết đầm ấm và vượt qua giai đoạn giáp hạt khó khăn. 2. Hoạt động y tế Tình hình y tế trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cơ bản ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân. Công tác phòng, chống dịch bệnh mùa Đông - Xuân được tăng cường; ngành y tế chú trọng giám sát các bệnh truyền nhiễm thường gặp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong các dịp lễ hội. Trong tháng Hai trên địa bàn ghi nhận 6 ca mắc sốt xuất huyết Dengue, 36 ca tiêu chảy ngoài ra còn phát sinh một số ca bệnh đơn lẻ khác như quai bị, thuỷ đậu, tay chân miệng và 543 ca mắc cúm do là thời điểm mưa ẩm kéo dài dễ phát sinh các loại dịch bệnh, tuy nhiên nhờ sự chủ động phòng ngừa các ca bệnh đều được phát hiện và cứu chữa kịp thời không có người chết vì dịch bệnh. Về an toàn thực phẩm giai đoạn trước, trong và sau Tết không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, tuy nhiên trong tháng vẫn có 55 người bị ngộ độc đơn lẻ (tăng 5 người so với tháng trước, tính chung 2 tháng đầu năm 2026 đã có 105 ca ngộ độc đơn lẻ chỉ tăng 4 ca so với cùng kỳ năm trước. Về công tác phòng chống HIV/AIDS vẫn luôn được các cấp ngành tuyên truyền, số các ca mắc HIV/AIDS đang giảm thiểu rõ rệt, tuy nhiên trong tháng Hai trên địa bàn vẫn ghi nhận 01 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca bệnh nào chết vì AIDS. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hoá: Trong tháng Hai các hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi, đồng bộ và đúng định hướng. Các hoạt động chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2026 - 2031), chương trình văn nghệ lưu động phục vụ Nhân dân với chủ đề ca ngợi quê hương, đất nước, mừng Đảng, mừng Xuân, chào mừng Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; chương trình nghệ thuật biểu diễn tại Lễ hội chùa Hương Tích, mở đầu năm Du lịch 2026. Cùng với đó, nhiều chương trình văn nghệ, tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026 được tổ chức rộng rãi khắp các địa phương, tổ chức tốt tuần phim phục vụ nhân dân, tổ chức trưng bày sách, báo Xuân nhân dịp năm mới 2026. Ngoài ra, tổ chức thành công bắn pháo hoa đêm giao thừa tại các địa phương trên địa bàn tỉnh; tổ chức các giải thể thao như bóng đá, bóng chuyền, kéo co, các trò chơi dân gian phù hợp với phong tục, tập quán của quê hương nhân dịp đầu Xuân năm mới. Về thể dục thể thao: Trong tháng Hai phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, gắn với các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Các hoạt động thể thao này không chỉ giúp tăng cường rèn luyện sức khỏe mà còn góp phần gắn kết tình cảm cộng đồng, tạo không khí hân hoan những ngày đầu năm mới. 4. Tình hình an toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông cho Nhân dân vui đón Tết, lực lượng Cảnh sát giao thông thường trực 100% quân số trong các ngày cao điểm để phân luồng, điều tiết và tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông, đảm bảo giao thông thông suốt tại các đô thị, nơi tập trung mật độ giao thông cao, không để xảy ra ùn tắc kéo dài. Qua công tác tuần tra, kiểm soát, lực lượng Cảnh sát giao thông đã phát hiện, lập biên bản xử lý 432 trường hợp vi phạm giao thông, phạt tiền hơn 966 triệu đồng, tước giấy phép lái xe 6 trường hợp, trừ điểm 168 trường hợp, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông trên địa bàn. Tính riêng trong 9 ngày nghỉ Tết trên địa bàn tỉnh xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông, làm chết 5 người, bị thương 5 người. Tính từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026 xảy ra 27 vụ tai nạn đường bộ, làm 15 người chết, 24 người bị thương (giảm 14 vụ; giảm 08 người chết; giảm 07 người bị thương so với tháng trước); trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước), giá trị thiệt hại ước tính khoảng 489 triệu đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2025 đã xảy ra 68 vụ tại nạn giao thông đường bộ làm 38 người chết và 55 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 837 triệu đồng (tăng 6 vụ tai nạn nhưng giảm 07 người chết và giảm 23 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Không xảy ra vụ tại nạn giao thông đường sắt nào, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Bảo vệ môi trường Trong tháng Hai trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 58 vụ vi phạm môi trường, xử lý 49 vụ với tổng số tiền xử phạt 210,58 triệu đồng. So với tháng trước giảm 53 vụ phát hiện (giảm 47,75%), tăng 10 vụ đã xử lý (tăng 36,11%), giảm 142,57 triệu đồng. Nguyên nhân do tháng 2 trùng với thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh và hoạt động xây dựng tạm ngừng hoặc giảm quy mô hoạt động dẫn đến số hành vi vi phạm phát sinh ít hơn. Bên cạnh đó trong tháng này công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan chức năng được triển khai với tần suất ít hơn so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 169 số vụ vi phạm môi trường (tăng 27,07%), xử lý 85 vụ (giảm 28,57%) với số tiền xử phạt hơn 563 triệu đồng (tăng 12,97% so với cùng kỳ năm trước) 6. Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn Từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026 đã xảy ra 07 vụ cháy, tăng 01 vụ so với tháng trước, không làm thiệt hại về người; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 1,2 tỷ đồng. Ngoài ra, trong tháng đã xảy ra 01 vụ nổ tại xã Cẩm Trung, nguyên nhân nghi do nổ bình gas, làm 1 người chết và 1 người bị thương. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026 đã xảy ra 13 vụ cháy và 1 vụ nổ, làm 1 người chết và 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tài sản ước tính hơn 3 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 5 vụ cháy, tăng 1 vụ nổ, tăng 1 người chết và tăng 1 người bị thương, giá trị thiệt hại tăng hơn 2,8 tỷ đồng. Về thiên tai: Trong tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn không xảy ra thiên tai. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.[1] Vốn NSNN cấp tỉnh ước đạt 232.738 triệu đồng, giảm 28,77% so với tháng trước và giảm 8,53% so với cùng kỳ năm trước; cấp xã ước đạt 52.605 triệu đồng, giảm 32,9% so với tháng trước và tăng 169,18% so với cùng kỳ năm trước[2] Nhóm hàng lương thực, thực phẩm (tăng 5,15%); hàng may mặc (tăng 24,40%); đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (tăng 25,29%); vật phẩm văn hóa giáo dục (tăng 33,31%); gỗ và vật liệu xây dựng (tăng 8,12%); ô tô con (tăng 74,67%); nhiên liệu khác (tăng 32,52%)[3] Doanh thu ăn uống ước đạt 463,28 tỷ đồng, tăng 2,47% so với tháng trước và tăng 19,3% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú dự tính đạt 25,81 tỷ đồng, tăng 17,31% và du lịch lữ hành đạt 4,82 tỷ đồng, tăng 10,17% so với cùng kỳ[4] Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 29,51%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 6,05%; giáo dục đào tạo tăng 14,02%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 3,92%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 9,4%; dịch vụ khác tăng 12,33%.[5] Vận tải hành khách ước đạt 313,19 tỷ đồng, tăng 7,56%; vận tải hàng hóa ước đạt 868,81 tỷ đồng, tăng 7,24%; vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 324,26 tỷ đồng, tăng 22,83%; vận tải bưu chính, chuyển phát ước đạt 17,51 tỷ đồng, tăng 12,27% so với cùng kỳ năm trước.[6] Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,55%); đồ uống và thuốc lá (+1,79%); may mặc, mũ nón, giày dép (+0,48%); nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+0,27%); thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,72%); giao thông (+1,46%); thuốc và dịch vụ y tế (+0,01%); thông tin và truyền thông (+0,11%); văn hoá, giải trí và du lịch (+0,7%); hàng hóa và dịch vụ khác (+2,14%); chỉ số giá vàng (+11,72%); chỉ số giá đô la Mỹ (-1,01%).

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 01 năm 2026
  •   05/02/2026 08:20

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Điểm mới của vụ xuân năm nay khi tỉnh chú trọng mở rộng diện tích áp dụng công nghệ tưới ngập - khô xen kẽ (AWD là kỹ thuật canh tác lúa thông minh, tiết kiệm nước bằng cách không giữ nước ngập liên tục mà để mặt ruộng khô tự nhiên trong vài ngày rồi mới tưới lại) trong canh tác thích ứng biến đổi khí hậu lên trên 4.000 ha. Thí điểm sản xuất giảm phát thải, bằng việc áp dụng cơ giới hóa sạ cụm, sạ hàng hoặc máy cấy, kết hợp tưới ngập - khô xen kẽ, bón phân hữu cơ vi sinh, xử lý gốc rạ bằng chế phẩm sinh học, sử dụng máy cuốn rơm. Sản xuất vụ Xuân năm 2026: Tính đến ngày 20/01/2026, tiến độ gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 47.393/59.089 ha, đạt 80,21% kế hoạch, trong đó diện tích gieo thẳng là 46.882 ha, diện tích cấy 511 ha. Hiện nay, diện tích lúa được liên kết sản xuất theo hướng hữu cơ, bao tiêu sản phẩm, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Các giống lúa dài ngày đang dần được thay thế bằng các bộ giống ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng ổn định và có khả năng chịu rét, kháng sâu bệnh tốt như: ST25, VNR20, Hạt Vàng 36, ADI168, Bắc Thịnh, Nếp 98, Nếp 87... Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa xuất hiện nạn chuột, ốc bươu vàng,...các cây trồng cạn bị sâu ăn lá, bọ nhảy, bệnh giả sương mai, lở cổ rễ, sâu keo mùa thu...nhưng nhìn chung, tình hình dịch bệnh gây hại trên diện tích nhỏ, được người dân chủ động phòng trừ và kiểm soát không ảnh hưởng lớn đến các cây trồng nông nghiệp. b. Chăn nuôi Thời điểm này, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đang bước vào giai đoạn cao điểm, bà con đang tập trung chăm sóc, phòng chống dịch bệnh nhằm đảm bảo nguồn cung thực phẩm cho thị trường cận kề tết Nguyên đán. Trong bối cảnh giá thức ăn chăn nuôi từng bước ổn định, nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng mạnh vào dịp Tết, nhiều hộ dân kỳ vọng sản phẩm tạo ra sẽ tiêu thụ thuận lợi, mang lại thu nhập khá. Kết quả chăn nuôi: Đàn trâu hiện có 45.919 con, bằng 69,76%; đàn bò hiện có 127.013 con, bằng 78,43% so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn hiện có 352.013 con, bằng 101,41% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm hiện có 10.688 nghìn con, bằng 102,02% so với cùng kỳ năm trước; trong đó đàn gà hiện có 8.746 ngàn con, bằng 102,17% so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm vì trong năm chi phí chăn nuôi tăng trong khi giá bán chưa được như mong đợi; trong khi đó đàn lợn và gia cầm tăng nhẹ do nhu cầu phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Hiện nay, ngành chuyên môn tỉnh đang tăng cường công tác kiểm soát hoạt động giết mổ, vận chuyển và tiêu thụ động vật nhằm bảo đảm an toàn dịch bệnh trên đàn vật nuôi và an toàn thực phẩm trước, trong và sau Tết Nguyên đán. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, yêu cầu các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi, kinh doanh, giết mổ nâng cao ý thức, trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy trình vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng tình hình dịch bệnh vẫn diễn ra khá phức tạp, tính từ ngày 20/12/2025 đến ngày 18/01/2026 dịch tả lợn Châu Phi đã làm 314 con lợn chết, tiêu hủy với trọng lượng 21.338 kg tại 53 hộ thuộc 13 xã, phường, đến nay 19 xã, phường tình hình dịch chưa qua 21 ngày. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Công tác trồng rừng, khai thác và bảo vệ rừng tiếp tục được sự quan tâm của các cấp, các ngành nhằm phát triển rừng trồng gắn với khai thác hiệu quả rừng nguyên liệu để ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân. Trồng rừng: Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước đạt 497 ha, bằng 102,73% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả tăng chủ yếu do trong năm qua diện tích rừng đến kỳ khai thác lớn, sau khi thu hoạch người dân chủ động trồng lại trên diện tích đã khai thác nhằm bảo đảm chu kỳ sản xuất lâm nghiệp. Khai thác gỗ và lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 01/2026 ước đạt 60.309 m³, bằng 279,14% (tăng 38.704 m³) so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng tăng mạnh so với cùng kỳ do nhiều diện tích rừng trồng bước vào chu kỳ khai thác. Công tác bảo vệ rừng: Trong tháng 01/2026 đã xảy ra 2 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 0,23 ha bằng 77,94% (giảm 3,27 ha) so với cùng kỳ năm trước, các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời. 1.3. Hoạt động thủy sản Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 5.307 tấn, tăng 5,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cả hoạt động khai thác và nuôi trồng đều có mức sản lượng tăng. Về khai thác thuỷ sản: Sản lượng thủy sản ước đạt 4.346 tấn, bằng 105,77% so với cùng kỳ năm trước. Riêng khai thác biển ước đạt 3.977 tấn, tăng 6,42%, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng khai thác. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng thời tiết tương đối thuận lợi, số ngày biển động ít, tạo điều kiện cho tàu thuyền tăng số ngày vươn khơi, đặc biệt là nhóm tàu công suất lớn. Sản lượng cá, tôm và thủy sản khác khai thác biển đều tăng so với cùng kỳ. Ngược lại, khai thác nội địa đạt 369 tấn, bằng 99,19%, giảm nhẹ do nguồn lợi thủy sản tự nhiên có xu hướng suy giảm và thời điểm đầu năm không phải mùa cao điểm khai thác. Về nuôi trồng thuỷ sản. Trong lĩnh vực nuôi trồng, sản lượng thủy sản đạt 961 tấn, tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích nuôi tôm sú ổn định, trong khi diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tăng 3,13%, góp phần nâng sản lượng chung. Sản lượng nuôi cá đạt 623 tấn, tăng 2,13%; nuôi tôm đạt 120 tấn, tăng 3,45%; nuôi thủy sản khác đạt 218 tấn, tăng 5,83%. Bên cạnh áp dụng mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao thì việc đa dạng hóa các đối tượng nuôi trồng cũng được nhiều địa phương tuyên truyền, hướng dẫn bà con nông dân triển khai thực hiện. Người dân đã dần thay đổi phương thức sản xuất để thích ứng với biến đổi khí hậu. Về tình hình dịch bệnh. Trong tháng không có dịch bệnh xảy ra trong nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Bước sang năm mới 2026, ngành công nghiệp tỉnh tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các dự án công nghiệp quy mô lớn như nhà máy sản xuất ô tô, nhà máy sản xuất Pack Pin, Cell Pin… không chỉ tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn ảnh hưởng tích cực đến các lĩnh vực dịch vụ, logistics và các ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 01/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 11,26% so với tháng trước và tăng 15,74% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 2,21% so với tháng trước và giảm 33,68% so với cùng kỳ. Ngành chế biến chế tạo giảm 14,33% so với tháng trước nhưng tăng mạnh 16,33% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,6% so với tháng trước do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất cải thiện và tăng 20,61% so với cùng kỳ. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước tăng 5,13% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,15%. Ngành sản xuất kim loại giảm mạnh so với tháng trước (giảm 18,56%) là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chỉ số sản xuất tháng 01/2026 giảm mạnh so với tháng trước. So với cùng kỳ, nhờ công suất sản xuất được mở rộng, nhu cầu xuất khẩu phục hồi và sự khởi sắc rõ rệt của các ngành kim loại, điện tử, dệt may và thực phẩm và sự hồi phục của sản xuất dăm gỗ đã góp phần quan trọng vào mức tăng chung của chỉ số sản xuất tháng 01/2026.  2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Tháng 01/2026, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục ghi nhận xu hướng phục hồi rõ rệt và duy trì mức tăng trưởng tích cực. Kết quả theo dõi 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu cho thấy có 15 nhóm tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ắc quy bằng ion lithi tăng 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 48,41%; bia đóng lon tăng 24,37%; Sợi tăng 22,47%;... Diễn biến này phản ánh nỗ lực duy trì sản xuất, mở rộng quy mô và thích ứng linh hoạt của các doanh nghiệp trước những biến động của thị trường. Đồng thời, cơ cấu sản xuất công nghiệp của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng ổn định và bền vững hơn. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp 01 tháng năm 2026 giảm so với năm trước: Đá xây dựng khác giảm 36,65%; dịch vụ sản xuất dược phẩm giảm 12,06%, thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 1,76%; than cốc giảm 0,47%... 2.3 Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 01/2026 tăng 12,63% so với tháng trước và tăng 46,65% so với cùng kỳ năm trước. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Tính riêng, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 17,57% so với năm trước do một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động, là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Chỉ số lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 56,63% so với cùng kỳ năm trước do hiện nay một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đã đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,05%, trong khi ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2025. 3. Đầu tư và xây dựng Bước sang năm 2026, tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục thể hiện tinh thần chủ động, quyết liệt và hiệu quả trong công tác triển khai thực hiện vốn đầu tư công, với tiến độ giải ngân bước đầu đạt kết quả khả quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư công năm. Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2026 là 7.028,49 tỷ đồng, giảm 35,35% so với năm 2025. Trong đó: Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách cấp tỉnh được giao 5.678,13 tỷ đồng, giảm 45,29% so với năm trước; kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 1.350,36 tỷ đồng, tăng 173,79%, nguồn vốn cân đối ngân sách cấp xã chủ yếu là vốn thu từ quỹ sử dụng đất. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2026 đạt 397,09 tỷ đồng, bằng 29,06% so với tháng trước và bằng 133,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 317,6 tỷ đồng, bằng 23,72% so với tháng trước và bằng 139,31% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 79,49 tỷ đồng, bằng 293,02% so với tháng trước và bằng 512,81% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 01/2026 là tháng đầu năm, thời điểm cuối tháng tiến dần dịp Tết Nguyên đán, nguồn vốn chưa được giao nhiều theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỹ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2025, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2026 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng nên giá trị vốn đầu tư dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước. Bên cạnh đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách cấp xã trong tháng có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, do mức độ tự chủ của cấp xã được nâng cao sau khi sau khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, nên việc một số nhiệm vụ chi đầu tư được phân cấp, giao trực tiếp cho cấp xã quản lý và triển khai. Nhìn chung, hoạt động đầu tư công tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng góp phần ổn định kinh tế địa phương, đồng thời thúc đẩy thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội năm 2026 theo định hướng đã đề ra. Cùng với đó, việc tập trung nguồn lực cho các dự án hạ tầng trọng điểm, dự án chuyển tiếp và các công trình phục vụ phát triển sản xuất, đời sống dân sinh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, mà còn tạo sức lan tỏa, dẫn dắt và kích hoạt các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh, củng cố nền tảng phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong những tháng cận Tết Nguyên đán năm 2026, thị trường tiêu dùng trên địa bàn tỉnh nhìn chung diễn biến sôi động và ổn định, nhu cầu mua sắm của Nhân dân tăng dần, tập trung vào các nhóm hàng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, đồ uống, hàng may mặc, quà biếu và các mặt hàng phục vụ Tết Nguyên đán. Thị trường hàng hóa nhìn chung ổn định, nguồn cung được đảm bảo, các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh tích cực mở rộng hoạt động bán lẻ, quảng bá sản phẩm và triển khai nhiều chương trình kích cầu. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 01/2026 ước đạt 5.129,63 tỷ đồng, tăng 5,16% so với tháng trước và tăng 10,51% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng chủ yếu biến động tăng so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ chứng tỏ sức mua vẫn tăng mạnh mẽ và niềm tin vào nền kinh tế vẫn duy trì. Các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng doanh thu cao vẫn đạt mức tăng trưởng khá như nhóm lương thực, thực phẩm tăng 4,61% so với cùng kỳ, nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 15,33% so với cùng kỳ; nhóm hàng may mặc tăng 23,22% so với cùng kỳ, đá quý, kim loại quý cũng tăng 26,56% so với cùng kỳ. Việc thị trường hàng hóa ngày càng đa dạng, hệ thống phân phối được mở rộng và hiện đại hóa, từ chợ truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại đến các kênh thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn và nâng cao tính cạnh tranh của thị trường. Một số nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng ghi nhận mức tăng khá, góp phần giữ ổn định thị trường tiêu dùng trong bối cảnh giá cả thế giới có nhiều biến động. Đặc biệt, chuyển đổi số thông qua thương mại điện tử, livestream bán hàng, thanh toán không tiền mặt và khai thác dữ liệu tiêu dùng là yếu tố then chốt giúp tăng cường kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, mở rộng thị trường và cải thiện hiệu quả kinh doanh. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2026 ước đạt 509,79 tỷ đồng, tăng 5,33% so với tháng trước và tăng 11,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng doanh thu hoạt động lưu trú, lữ hành dự ước tăng nhẹ so với tháng trước do lượng khách giữ ở mức ổn định. Hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống ghi nhận sự tăng trưởng rõ rệt so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 482,24 tỷ đồng, tăng 5,71% so với tháng trước, tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú ước đạt 23,42 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước, tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành chỉ đạt 4,12 tỷ đồng, giảm 8,53% so với tháng trước và tăng 6,35% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ khác doanh thu tháng 01/2026 ước đạt 867,38 tỷ đồng, tăng 2,28% so với tháng trước và tăng 16,49% so với cùng kỳ năm trước. Tháng này là thời điểm gần với Tết Nguyên đán nên nhu cầu dọn vệ sinh nhà cửa cũng tăng cao. Bên cạnh đó, thời điểm cuối năm cũng khiến thời vụ và nhu cầu sử dụng lao động các dịch vụ hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp tăng lên, góp phần thúc đẩy doanh thu toàn ngành. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng đầu năm 2026, tình hình vận tải ở Hà Tĩnh sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát nhờ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong dịp gần Tết Nguyên đán tăng cao, đặc biệt vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 01/2026 doanh thu ước đạt 748,38 tỷ đồng, tăng 8,07% so tháng trước và tăng 12,24% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 147,25 tỷ đồng, tăng 4,50% so tháng trước và tăng 0,64% so cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 429,75 tỷ đồng, tăng 11,23% so tháng trước và tăng 13,33% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 171,08 tỷ đồng, tăng 3,70% so tháng trước và tăng 21,35% so cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính chuyển phát ước đạt 0,29 tỷ đồng, tăng 4,88% so với tháng trước và tăng 7,91% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất nhập khẩu trong tháng có khởi sắc so với tháng trước do nhu cầu hàng ngoại cho dịp Tết Nguyên đán. Tổng trị giá xuất, nhập khẩu tính chung tháng 01/2026 ước đạt 399,1 triệu USD tăng 11,54% so với tháng trước và tăng 4,41% so với cùng kỳ. Trị giá xuất khẩu tháng 01/2026 ước đạt 128,6 triệu USD, tăng 12,28% so với tháng trước và so với cùng kỳ tăng 12,04%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi của thị trường quốc tế và các doanh nghiệp đẩy mạnh giao hàng vào những tháng cuối năm. Trị giá nhập khẩu tháng 01/2026 ước đạt 270,5 triệu USD, tăng 11,20% so với tháng trước và tăng 1,13% so với cùng kỳ. Trong đó, trị giá nhập khẩu của Formosa ước đạt 210,8 triệu USD, chiếm 77,93% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, tăng 21,48% so với tháng trước nhưng giảm 9,98% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2026, Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2025. Đây là con số thách thức nhưng có cơ sở khi nhiều ngành hàng chủ lực đã khởi động năm mới với những tín hiệu khả quan. Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngay từ đầu năm, tỉnh nhà đã tăng cường chỉ đạo các sở, ngành, địa phương bám sát động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tham mưu kịp thời các giải pháp gỡ khó cho hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động. Cùng đó, đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp, theo dõi sát tình hình sản xuất công nghiệp; chủ động dự báo thị trường. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận sự sôi động của thị trường hàng hóa phục vụ cho tết nguyên đán. Giá cả các một số mặt hàng tăng cao, người tiêu dùng duy trì hoạt động mua sắm tốt. Chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh trong tháng tăng 1,3% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,15%. CPI tháng 01/2026 tăng 1,3% so với tháng trước, cụ thể trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 08 nhóm hàng hóa tăng giá, có 01 nhóm hàng hóa giảm và có 02 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm. Biến động so với tháng trước mạnh nhất ở các nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt (tăng 6,46%) và nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép (tăng 3,18%) do nhu cầu mua sắm tăng cao vào thời điểm giao mùa và giáp Tết Nguyên đán, các mặt hàng cụ thể có biến động lớn trong 2 nhóm ngành này có thể kể đến như vải các loại tăng 6,94%, giày dép tăng 6,68%, nhà ở thuê tăng 13,02% và sự điều chỉnh giá gas tăng 5,62%. Nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống là nhóm thiết yếu, đóng góp nhiều mặt hàng cũng biến động tăng nhẹ 0,5%. Trong đó, lương thực tăng 0,7% và thực phẩm tăng 0,47%. Nguyên nhân do giáp Tết cổ truyền nên nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá. Bên cạnh đó, do dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tới nguồn cung và việc nhu cầu tăng cao đẩy giá thịt lợn hơi tăng đến 6,71%, các loại thịt hơi khác cũng biến động tăng nhưng bù lại giá các loại rau giảm mạnh (giảm 16,19%) do thời tiết thuận lợi hơn, nhiều loại rau củ quả vào mùa thu hoạch nên nguồn cung dồi dào đã tác động làm giảm giá. Bên cạnh các nhóm hàng đều có biến động tăng do yếu tố mùa vụ thì duy nhất nhóm hàng giao thông vẫn giảm giá so với tháng trước (giảm 1,61%). Do giá nhiên liệu điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới, như xăng giảm 5,53%, dầu diezel giảm 3,41%. Thị trường vàng vẫn đang diễn biến khá phức tạp, giá cả đang ở mức cao và vẫn tiếp tục tăng lên, giá vàng bình quân tháng trong tháng ở mức 15.140 nghìn đồng/chỉ 9999. Trong khi đó, giá đô la Mỹ lại giảm xuống, giá USD bình quân trên thị trường dao động ở mức 26.603 VNĐ/USD. Dự kiến CPI tháng 02/2026 sẽ tiếp tục tăng mạnh, do là tháng trùng Tết Nguyên Đán nên nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều tăng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 01 năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh nhìn chung khá ổn định. Thời điểm này người dân đang tập trung chăm sóc cây trồng vụ Đông Xuân, hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động do nhu cầu tiêu dùng và chuẩn bị Tết Nguyên đán, góp phần tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận người lao động. Công tác kiểm tra, kiểm soát về chất lượng mẫu mã, giá cả các mặt hàng đã được các cơ quan liên quan vào cuộc đồng bộ, hiệu quả. Công tác an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục được quan tâm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được cải thiện. Trong tháng, tỉnh cũng đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động cụ thể nhằm bảo đảm cho mọi đối tượng có điều kiện đón tết đầm ấm, vui tươi và an toàn. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong toàn tỉnh tổ chức quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 418/NQ-CP về việc tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và đối tượng yếu thế khác. Theo kết quả rà soát, toàn tỉnh có 131.648 người có công với cách mạng và đối tượng bảo trợ xã hội được tặng quà đợt này (theo Nghị quyết số 418/NQ-CP). Trong đó, có 48.636 người có công và 83.012 đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội. Mức quà tặng bằng tiền mặt 400.000 đồng/người; trường hợp một người được xác nhận là 2 đối tượng trở lên đủ điều kiện được hưởng cả 2 mức quà thì chỉ nhận 1 suất quà. Ban Vận động quỹ “Vì người nghèo” tỉnh vừa ban hành quyết định về việc phân bổ quà dịp Tết Bính Ngọ 2026 cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. Theo đó, trích Quỹ “Vì người nghèo” số tiền hơn 3,5 tỷ đồng để trao 7.089 suất quà tết cho các đối tượng nêu trên, mỗi suất trị giá 500 nghìn đồng. Ngoài ra trong tháng này quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn Vingroup) phối hợp Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hà Tĩnh trao 6.950 suất quà tết với tổng số tiền là 4,17 tỷ đồng cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hộ bị ảnh hưởng nặng của thiên tai trong năm 2025. Mỗi suất quà trị giá 600 nghìn đồng, gồm 500 nghìn đồng tiền mặt và phần quà hiện vật trị giá 100 nghìn đồng. 2. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận 4 ca mắc sốt xuất huyết, 01 ca mắc tay chân miệng, còn các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp được theo dõi sát không ghi nhận ổ dịch lớn. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, có 50 người bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc thực phẩm. Cũng trong tháng này, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 01 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca chuyển sang AIDS và chết vì AIDS. Từ ngày 01/01/2026, nhiều chính sách y tế mới có hiệu lực, như mở rộng quyền lợi bảo hiểm y tế cho người dân, cải thiện chế độ đãi ngộ cho nhân viên y tế. Trong đó, mức đóng bảo hiểm y tế của học sinh, sinh viên điều chỉnh theo Nghị định số 188 của Chính phủ. Học sinh và sinh viên thuộc nhóm tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, mức đóng hàng tháng của nhóm này là 4,5% mức tham chiếu (tương đương lương cơ sở). Tuy nhiên, gánh nặng tài chính được giảm nhẹ đáng kể khi Ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng. 3. Giáo dục Kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia THPT năm học 2025 - 2026, Hà Tĩnh giành được 85 giải/103 thí sinh dự thi. Cụ thể có 6 giải nhất, 22 giải nhì, 36 giải ba và 21 giải khuyến khích. Ngoài ra trong tháng diễn ra kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 năm học 2025-2026 với sự tham gia của 1.888 học sinh đến từ các địa phương trong toàn tỉnh. Kỳ thi cho kết quả với 117 giải nhất, 310 giải nhì, 429 giải ba và 433 giải khuyến khích. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao Trong tháng 01/2026, các hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, đúng định hướng, bám sát nhiệm vụ chính trị và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân được thực hiện hiệu quả, tạo không khí phấn khởi, lành mạnh trong cộng đồng dân cư. Đặc biệt, chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” năm 2026 được tổ chức tại các địa bàn biên giới đã góp phần chăm lo Tết cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; qua đó tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân và lan tỏa các giá trị nhân văn sâu sắc. Về thể dục thể thao: Trong tháng 01/2026, Giải Bán Marathon Quốc tế Việt Nam 2026 được tổ chức với sự tham gia của nhiều vận động viên trong và ngoài nước. Tham dự giải, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã giành được 2 huy chương bạc ở các nội dung 21 km nam và 21 km nữ. Ngoài ra phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì thường xuyên, gắn với việc tổ chức các giải thể thao phong trào trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao cấp cơ sở xã, phường lần thứ X năm 2026. Bên cạnh đó một số địa phương, đơn vị tổ chức các giải thể thao chào mừng năm mới nhằm tạo không khí vui tươi, nâng cao sức khỏe nhân dân. Công tác quản lý hoạt động thể dục thể thao được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm an toàn, hiệu quả. 5. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng trên địa bàn đã xảy ra 41 vụ tai nạn đường bộ, làm 23 người chết, 31 người bị thương (tăng 8 vụ; tăng 7 người chết; tăng 12 người bị thương so với tháng trước); trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (như tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 348 triệu đồng. Trước thực trạng các vụ tai nạn có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng, các lực lượng chức năng cần tăng cường tuần tra, kiểm soát trong dịp Tết Nguyên đán, tập trung xử lý nghiêm các vi phạm về nồng độ cồn, tốc độ để đảm bảo an toàn cho nhân dân vui xuân, đón Tết cổ truyền. 6. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, tính từ ngày 15/12/2025 - 14/01/2026 đã xảy ra 06 vụ cháy, tăng 01 vụ so với tháng trước, không làm thiệt hại về người; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.820,65 triệu đồng. Trong tháng không xảy ra vụ nổ nào. Vi phạm môi trường: Trong tháng 01/2026, toàn tỉnh phát hiện 111 vụ vi phạm môi trường, tăng 91 vụ (tăng 455,00%) so với tháng trước; tăng 27 vụ (tăng 32,14%) so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng là 36 vụ, tăng 16 vụ (tăng 80%) so với tháng trước và giảm 15 vụ (giảm 29,41%) so với cùng kỳ năm trước. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong tháng là 353,15 triệu đồng, tăng 320,75 triệu đồng (tăng 989,97%) so với tháng trước và giảm 48,25 triệu đồng (giảm 12,02%) so với tháng cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng tăng mạnh là do thời điểm cận kề Tết Nguyên đán, nhu cầu sản xuất, kinh doanh, giết mổ, vận chuyển và tiêu thụ hàng hóa diễn ra sôi động, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Trước tình hình đó các lực lượng chức năng đã chủ động tăng cường kiểm tra, kiểm soát và tổ chức các đợt kiểm tra cao điểm. Bên cạnh đó một bộ phận tổ chức, cá nhân chưa chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường dẫn đến số vụ vi phạm trong tháng tăng mạnh. 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai, so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước không thay đổi. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2025 - Tỉnh Hà Tĩnh
  •   07/01/2026 10:00

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá, về đích, năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, tổ chức đại hội đảng các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Bối cảnh tình hình thế giới, trong nước tiếp tục chuyển biến nhanh, khó lường, thời cơ và thách thức đan xen, trong tỉnh thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 vẫn đạt được những kết quả tích cực, kinh tế duy trì đà tăng trưởng khá; bộ máy chính quyền hai cấp vận hành ổn định, hiệu lực và hiệu quả được nâng cao. Các dự án công nghiệp trọng điểm được đảm bảo tiến độ, trong khi lĩnh vực du lịch - dịch vụ khởi sắc với nhiều hoạt động quảng bá và giải trí sôi nổi. Công tác giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược cũng được đẩy mạnh; sự phục hồi mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sức tiêu dùng nội địa. Các lĩnh vực quan trọng khác như du lịch, logistics và bất động sản cũng cho thấy dấu hiệu phục hồi rõ nét. Thành quả này phản ánh hiệu quả bước đầu từ chiến lược tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng mà tỉnh đã triển khai. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 ước tăng 8,78% so với năm trước, xếp thứ 10 toàn quốc và thứ 01/5 khu vực Bắc Trung Bộ. Trong mức tăng trưởng chung toàn tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước giảm 1,29%, đóng góp 13,38%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước tăng 12,73%, đóng góp 40,41%; khu vực dịch vụ ước tăng 8,02% đóng góp 37,37% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 6,49%, đóng góp 8,84% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Ngành nông nghiệp ước giảm 3,32%, làm giảm 0,33 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp ước tăng 10,23% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,11 điểm phần trăm; ngành thủy sản ước tăng 3,08%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong năm 2025, ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản phải đối mặt với những thách thức nghiệm trọng từ thời tiết bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất các loại cây trồng chủ lực. Về chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp khiến người chăn nuôi e ngại, dẫn đến việc thu hẹp đàn và giảm nguồn cung thịt lợn, cùng với đó, tâm lý lo ngại dịch bệnh từ phía người tiêu dùng cũng làm giảm sức tiêu thụ. Khu vực công nghiệp, xây dựng: Trong năm 2025, ngành công nghiệp tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng. Nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng tiến độ, cơ bản hoàn thành các mục tiêu và kế hoạch đề ra trong năm. Cùng với đó, Nhà máy sản xuất Cell Pin, Pack Pin nhanh chóng vận hành ổn định, sản lượng sản xuất đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Hai dự án công nghiệp quy mô lớn này không chỉ tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà còn lan tỏa tích cực đến các lĩnh vực dịch vụ, logistics và các ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất công nghiệp trong năm cũng chịu tác động từ một số yếu tố khách quan. Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã hòa lưới điện thương mại tổ máy số 1 từ tháng 7/2025 và triển khai chạy thử tổ máy số 2. Tuy nhiên, từ tháng 10/2025, nhà máy phải tạm ngừng sản xuất để khắc phục sự cố, ảnh hưởng nhất định đến kết quả sản xuất công nghiệp của tỉnh trong những tháng cuối năm. Ngành công nghiệp ước tăng 15,22%, đóng góp 5,13 điểm phần trăm. Trong đó, ngành khai khoáng ước tăng 1,64%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,79%, đóng góp 3,84 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 14,89%, đóng góp 1,25 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,82%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành xây dựng tăng 4,60%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm vào mức tăng chung tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh. Ngành xây dựng duy trì mức tăng trưởng khá khi các công trình dự án đều được triển khai đẩy nhanh tiến độ và một số dự án quy mô lớn được khởi công trong năm, góp phần không nhỏ vào mức tăng chung của toàn ngành. Khu vực dịch vụ: Dịch vụ, du lịch tăng trưởng khá. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch diễn ra sôi nổi, hạ tầng du lịch có nhiều cải thiện, chất lượng dịch vụ ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 8,85% so với năm trước, đóng góp 0,58 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành vận tải kho bãi tăng 11,94%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,15%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,21%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm;... Quy mô kinh tế và cơ cấu kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành ước đạt 120.811 tỷ đồng. Về cơ cấu kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 13,38%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,41% (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 30,74%; ngành xây dựng chiếm 9,67%); khu vực Dịch vụ chiếm 37,37%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,84%... 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Năm 2025, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chịu tác động lớn từ diễn biến thời tiết khắc nghiệt và tình hình dịch bệnh phức tạp, trong trồng trọt, các vụ Đông Xuân và Hè Thu gặp nhiều bất lợi làm giảm năng suất nhiều loại cây trồng chủ lực; ở lĩnh vực chăn nuôi, dịch tả lợn châu Phi vẫn tiềm ẩn rủi ro và phát sinh tại một số địa phương, cùng với chi phí thức ăn và phòng, chống dịch duy trì ở mức cao đã gây khó khăn cho việc tái đàn và ổn định sản xuất. Trong khi đó, lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản vẫn giữ được xu hướng phát triển khả quan, sản lượng đạt và vượt kế hoạch năm. 2.1. Nông nghiệp a. Trồng trọt * Sản xuất cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2025 toàn tỉnh ước đạt 156.399 ha, bằng 99,47% (giảm 828 ha). Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 564.200 tấn, bằng 84,11% (giảm 106.579 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Kết quả sản xuất một số cây trồng chủ lực trong năm như sau: Cây lúa: Diện tích gieo trồng cả năm đạt 104.789 ha, bằng 100,42% (tăng 433 ha); Năng suất gieo trồng lúa cả năm ước tính đạt 46,61 tạ/ha, bằng 81,31% (giảm 10,71 tạ/ha) với sản lượng năm 2025 ước tính đạt 488.393 tấn, bằng 81,65% (giảm 109.744 tấn) so với năm 2024. Năng suất trong năm giảm chủ yếu do vụ Hè Thu trong quá trình sản xuất gặp nhiều thời tiết bất lợi. Cụ thể từ đầu vụ nắng nóng xen kẽ những trận mưa dông gây ngập úng, nhiều diện tích đã gieo phải gieo cấy lại; trong giai đoạn sinh trưởng, tình trạng nắng mưa đan xen tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển mạnh, năm nay được đánh giá là dịch bệnh phát sinh với biên độ rộng. Đặc biệt là ảnh hưởng bão số 5 (Kajiki) gây mưa lớn, gió mạnh, làm nhiều diện tích lúa bị ngập úng, đổ gãy; rồi bão số 6 (Nongfa) gây mưa to trên diện rộng. Nhiều diện tích lúa bị ngâm lâu ngày dẫn đến thối rễ, mất trắng; một số diện tích lúa đang trổ gặp mưa gió nên không kết hạt. Hai cơn bão liên tiếp xảy ra trong thời điểm lúa bước vào giai đoạn quyết định năng suất đã khiến sản lượng lúa Hè Thu toàn tỉnh giảm đáng kể so với kỳ vọng, gây tổn thất lớn cho người sản xuất. Cây ngô: Diện tích gieo trồng đạt 14.667 ha, bằng 101,97% (tăng 284 ha) so với năm trước[1]. Năng suất gieo trồng cả năm ước tính đạt 51,69 tạ/ha, bằng 102,34% (tăng 1,18 tạ/ha) so với năm trước với sản lượng ngô cả năm ước đạt 75.807 tấn, bằng 104,36% (tăng 3.165 tấn) so với năm 2024. Năm nay năng suất ngô tăng chủ yếu ở vụ Đông Xuân, do diện tích gieo trồng tăng cộng với thời tiết vụ Đông thuận lợi, cây ngô sinh trưởng và phát triển tốt, bắp to, hạt đều, ít bị sâu bệnh. Bên cạnh đó, giá bán ngô ổn định đã khuyến khích người dân đầu tư chăm sóc, thâm canh hơn so với năm trước, góp phần nâng cao năng suất. Cây lạc: Diện tích gieo trồng đạt 6.268 ha, bằng 89,78% (giảm 714 ha) so với năm trước[2]. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, do chi phí đầu vào tăng cao nên người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà chuyển sang cây trồng khác. Năng suất ước đạt 27,73 tạ/ha, bằng 99,68% (giảm 0,09 tạ/ha) với sản lượng cả năm ước đạt 17.381 tấn, bằng 89,49% (giảm 2.041 tấn) so với năm trước.Cây rau các loại: Diện tích rau ước đạt 13.948 ha, bằng 98,93% (giảm 151 ha) so với năm trước[3]. Năng suất cả năm ước đạt 73,62 tạ/ha, bằng 101,05% (tăng 0,76 tạ/ha) với sản lượng rau cả năm ước đạt 102.629 tấn, bằng 99,92% (giảm 85 tấn) so với năm trước. * Sản xuất cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm sơ bộ đạt 30.599 ha, bằng 97,50%, giảm 783 ha so với năm 2024. Diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 18.945 ha, bằng 96,84%, giảm 618 ha so với năm 2024. Trong năm, Hà Tĩnh đã chịu thiệt hại do mưa bão, đặc biệt là 3 cơn bão liên tiếp là bão số 5, số 6 và số 10 làm một số cây trồng bị ảnh hưởng, tuy nhiên nhờ chủ động, tập trung cao độ huy động cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến xã tham gia quyết liệt công tác phòng, chống bão và triển khai đồng bộ các biện pháp đã đề ra nên hạn chế thiệt hại về cây lâu năm. Trong đó, diện tích dứa sơ bộ đạt 457 ha, tăng 109 ha, mô hình trồng dứa liên kết với Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao đã tạo bước đột phá trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại Hà Tĩnh, tập trung vào giống dứa Queen, bao tiêu sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật, giúp khai phá tiềm năng vùng đất đồi, tạo sinh kế mới cho người dân địa phương. Sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 184.594 tấn, bằng 101,05%, tăng 1.914 tấn so với năm 2024. Đặc biệt, năng suất cam sơ bộ đạt 112,66 tạ/ha, tăng 4,63 tạ/ha với sản lượng sơ bộ đạt 69.060 tấn, giảm 771 tấn. Năng suất bưởi sơ bộ đạt 110,31 tạ/ha, tăng 0,84 tạ/ha với sản lượng sơ bộ đạt 39.492 tấn, giảm 303 tấn so cùng kỳ năm trước. * Tiến độ sản xuất vụ Đông năm 2026 ước tính đến ngày 22/12/2025, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông đạt 10.666 ha/12.400 ha, bằng 86,01% kế hoạch[4]. Sản xuất vụ Đông năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh được triển khai trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp. Nắng nóng kéo dài vào đầu tháng 9 và mưa lớn rải rác trong tháng 10 đã ảnh hưởng đến công tác làm đất và gieo trồng, đặc biệt đối với cây ngô và các loại rau màu gieo sớm. Trước tình hình đó, các địa phương đã chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện thực tế. * Tình hình sâu bệnh và thiệt hại: Các đối tượng sâu bệnh như bọ nhảy, sâu ăn lá, bệnh sương mai, giả sương mai tiếp tục phát sinh gây hại trên các vườn rau nông hộ và các vùng rau tập trung, diện tích bị nhiễm 48 ha. Trên cây ăn quả, thời điểm này tại một số vườn bắt đầu có lộc, các đối tượng như sâu nhớt, ruồi đục quả đã xuất hiện; trên các vườn cam đang cho thu hoạch có ruồi đục quả tiếp tục gây hại; bệnh chảy gôm, loét gây hại trên vườn cây không thông thoáng, chưa cắt tỉa; diện tích nhiễm 38 ha. b. Tình hình chăn nuôi Bên cạnh tình hình dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, được sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và việc triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch, tái đàn và chăn nuôi an toàn sinh học, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát và duy trì ổn định, cho thấy ngành chăn nuôi từng bước phục hồi và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của địa phương, sản lượng thịt hơi xuất chuồng trâu, bò bắt đầu tăng trở lại. Kết quả sản xuất chăn nuôi: Đàn trâu ước 47.894 con, bằng 73,43% (giảm 17.326 con), số con xuất chuồng ước đạt 17.881 con, bằng 114,11% (tăng 2.211 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 3.754 tấn, bằng 108,86% (tăng 305,51 tấn) so với cùng kỳ năm 2024; Đàn bò ước 130.173 con, bằng 80,77% (giảm 30.989 con), số con xuất chuồng ước đạt 60.884 con, bằng 103,67 % (tăng 2.153 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 10.059 tấn, bằng 104,17% (tăng 247 tấn) so với cùng kỳ năm 2024; Đàn lợn ước 342.216 con, bằng 97,10% (giảm 10.212 con) so với cùng kỳ năm 2024, số con xuất chuồng ước đạt 827.402 con, bằng 88,81% (giảm 104.234 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 71.304 tấn, giảm 7,11 % (giảm 2.124 tấn) so với cùng kỳ năm 2024; Đàn gia cầm duy trì ổn định ở mức 10,089 triệu con nhờ tình hình dịch bệnh được kiểm soát. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo từ Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi, diễn biến dịch bệnh trên đàn gia súc trong tháng 12/2025 dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 41 xã, phường làm cho 4.201 con lợn mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy với khối lượng 275.061 kg; Dịch Viêm da nổi cục trâu, bò xảy ra tại 02 xã (Thạch Lạc, Tứ Mỹ) làm 03 con bò mắc bệnh chết, buộc tiêu hủy với khối lượng 117 kg. Lũy kế đến ngày 22/12/2025 dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 65 xã làm cho 51.587 con lợn, mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng hơn 3.557 tấn; dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 23 xã làm cho 32 con bò mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng hơn 4 tấn; dịch Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã làm 02 con bò mắc bệnh, con chết, buộc tiêu hủy với khối lượng hơn 500 kg. 2.2. Tình hình lâm nghiệp Năm 2025, tình hình hoạt động ngành lâm nghiệp trên địa bàn cơ bản ổn định, công tác bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm, thực hiện có hiệu quả, không để xảy ra điểm nóng về phá rừng, cháy rừng, an ninh rừng được giữ vững. Trồng rừng: Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 10.574 ha, bằng 107,99%, tăng 782 ha so với năm 2024. Công tác chỉ đạo, hỗ trợ về vốn, phân bón, cung cấp giống cây trồng đạt tiêu chuẩn, chất lượng theo quy định và sự cố gắng của các cơ quan chuyên môn trong việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về chính sách và lợi ích của trồng rừng đến mọi tầng lớp nhân dân. Khai thác gỗ: Sản lượng gỗ khai thác đạt 775.178 m3, bằng 120,52%, tăng 131.993 m3 so với năm 2024. Sản lượng gỗ khai thác năm nay tăng mạnh do nhiều diện tích rừng đến tuổi khai thác nhiều, năng suất rừng trồng được cải thiện và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5, số 6 khiến nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân phải khai thác sớm. Cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 2 triệu cây, bằng 70,57%, giảm 834 nghìn cây so với năm 2024. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng trên các tuyến đường, hội quán, nhà văn hóa... Hiện nay, quỹ đất dành cho trồng cây phân tán hạn chế, đồng thời nhiều diện tích đã được trồng từ các năm trước, nên số lượng cây trồng phân tán trong năm giảm so với năm trước. Bảo vệ rừng: Trong tháng 12 năm 2025 đã xảy ra 01 vụ phá rừng (giảm 4 vụ so năm trước) với diện tích 0,05 ha. Tính chung cả năm 2025 đã xảy ra 41 vụ phá rừng (giảm 15 vụ), với diện tích 10,72 ha (giảm 4,95 ha) so với cùng kỳ. 2.3. Tình hình thủy sản Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với việc mở rộng nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, tăng cường quản lý môi trường và phòng, chống dịch bệnh, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Hoạt động khai thác thủy sản duy trì ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi; công tác quản lý tàu thuyền và thực hiện các quy định về chống khai thác IUU được triển khai nghiêm túc, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Về thủy sản khai thác: Sản lượng trong tháng 12/2025 ước đạt 3.023 tấn, bằng 101,96% (tăng 58 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, sản lượng khai thác ước đạt 43.497 tấn, bằng 105,12% (tăng 2.119 tấn). Trong đó, sản lượng khai thác biển vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động khai thác thủy sản, tính riêng trong tháng sản lượng ước đạt 2.067 tấn, bằng 103,51% (tăng 70 tấn) so với cùng kỳ năm trước, tính chung từ đầu năm đến nay sản lượng khai thác biển ước đạt 43.497 tấn, bằng 105,12% (tăng 2.119 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Về thủy sản nuôi trồng: Đến nay, tổng diện tích nuôi tôm toàn tỉnh đạt khoảng 2.250 ha, trong đó diện tích nuôi tôm thâm canh, nuôi công nghệ cao đạt 668 ha, chiếm trên 29% tổng diện tích nuôi tôm. Nhiều cơ sở đã ứng dụng hiệu quả các mô hình nuôi tiên tiến như nuôi tôm hai - ba giai đoạn, nuôi tôm trong bể tròn khung sắt lót bạt, nuôi tôm trong nhà lưới, nuôi tôm theo hướng VietGAP…, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, ước đạt 20 - 30 tấn/ha/vụ. Trong tháng 12/2025, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 956 tấn, bằng 98,76% so với cùng kỳ năm trước (giảm 12 tấn). Tính chung cả năm 2025 sản lượng nuôi trồng ước đạt 17.765 tấn, bằng 102,45% so với cùng kỳ (tăng 424 tấn), góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và ổn định nguồn cung cho thị trường. Tính riêng quý IV/2025: Tổng sản lượng thủy hải sản ước đạt 11.382 tấn, tăng 2,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 8.396 tấn, tăng 5,66%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.986 tấn, giảm 4,75% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động thủy sản trong quý IV giảm khá sâu so với các quý khác trong năm, do yếu tố thời tiết và mùa vụ nuôi trồng, tuy nhiên hoạt động khai thác vẫn đảm bảo nguồn cung thị trường vào thời điểm cận năm mới, do vậy tình hình trong quý vẫn tăng khả quan so với cùng kỳ năm trước. Về tình hình dịch bệnh: Trong tháng 12 không phát sinh dịch bệnh, tính chung cả năm 2025 chỉ xuất hiện diện tích bệnh đốm trắng với diện tích bị nhiễm là 6,95 ha. 3. Sản xuất công nghiệp Trong năm 2025, ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng; Nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đúng tiến độ, cơ bản hoàn thành các mục tiêu và kế hoạch đề ra trong năm. Cùng với đó, Nhà máy sản xuất Cell Pin, Pack Pin nhanh chóng vận hành ổn định, sản lượng sản xuất đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất công nghiệp trong năm cũng chịu tác động từ một số yếu tố khách quan. Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã hòa lưới điện thương mại tổ máy số 1 từ tháng 7/2025 và triển khai chạy thử tổ máy số 2. Tuy nhiên, từ tháng 10/2025, nhà máy phải tạm ngừng sản xuất để khắc phục sự cố. Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm thị trường xuất khẩu cũng như cạnh tranh thị trường trong nước. Bên cạnh đó, lò cao số 1 tạm ngừng hoạt động trong tháng 8,9 để bảo dưỡng là nguyên nhân chính dẫn đến ngành này giảm mạnh trong năm 2025. 3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh quý IV năm 2025 đạt 117,12% cao hơn quý I (đạt 94,89%), quý II (đạt 115,5%), quý III (đạt 100,41%) năm 2025. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 29,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,96%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 16,17%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,27%. Ước tính năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh tăng 7,12% so với năm 2024, cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,4% làm giảm 0,05 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,34% đóng góp 4,81 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,09% đóng góp 2,25 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,02% đóng góp 0,11 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,4% so với năm trước, phản ánh nỗ lực đáng kể của doanh nghiệp trong việc duy trì hoạt động. Sau giai đoạn đối mặt khó khăn do đơn hàng thủy sản giảm, các cơ sở chế biến tại Hà Tĩnh - trong đó có Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Nam Hà Tĩnh – đang dần ổn định trở lại. Doanh nghiệp chủ động đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh cải tiến quy trình chế biến và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao từ đối tác giúp ngành chế biến thực phẩm của tỉnh củng cố đà phục hồi trong thời gian tới... Sản xuất đồ uống tăng 1,95% so với năm trước, mặc dù gặp khó khăn và một doanh nghiệp lớn không đạt kế hoạch, nhưng tổng thể ngành vẫn tăng nhẹ nhờ sự nỗ lực của các doanh nghiệp khác hoặc các sản phẩm khác trong ngành. Cụ thể, sản lượng của Công ty Bia Sao Vàng chưa đạt kế hoạch đề ra trong năm 2025, do một phần thị trường tiêu thụ chính sụt giảm. Đồng thời, doanh nghiệp phải phân bổ nguồn lực cho việc sản xuất các sản phẩm khác nhằm đa dạng hóa danh mục, điều này cũng ảnh hưởng đến sản lượng bia. Những yếu tố này đã hạn chế tốc độ tăng trưởng chung của ngành đồ uống, khiến chỉ số sản xuất nhóm ngành chỉ tăng nhẹ trong năm 2025. Dệt tăng 13,07% so với năm 2024. Trong các tháng đầu và giữa năm 2025, nhu cầu đơn hàng dệt may, đặc biệt là sản phẩm sợi, từng bước phục hồi khi thị trường quốc tế có dấu hiệu cải thiện, giúp các doanh nghiệp duy trì sản xuất ổn định và đóng góp vào mức tăng trưởng chung của cả năm. Bên cạnh đó, một số cơ sở sản xuất trong ngành đã chủ động đầu tư đổi mới thiết bị, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 55,84% so với năm trước. Các doanh nghiệp trong ngành giấy trên địa bàn tỉnh đã mở rộng quy mô sản xuất, vận hành ổn định và nâng cao công suất trong năm 2025. Bên cạnh đó, việc chủ động tìm kiếm và ký kết thêm các hợp đồng tiêu thụ dài hạn, đặc biệt với đối tác ngoài tỉnh và thị trường xuất khẩu; công tác cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, cùng với việc kiểm soát tốt chi phí đầu vào cũng tạo điều kiện thuận lợi giúp sản lượng sản xuất tăng mạnh trong năm 2025. Bên cạnh đó, một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất kim loại giảm 6,01% so với năm trước khi trong năm 2025 công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng của nhu cầu thị trường suy giảm và phải tạm dừng lò cao một thời gian để bảo dưỡng đã khiến cho sản lượng sản xuất thép vị sụt giảm. Ngành khai khoáng khác giảm 1,42% so với năm trước, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu sử dụng khoáng sản làm vật liệu đầu vào cho các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh trong nửa cuối năm 2025 giảm so với cùng kỳ, nhất là sau khi một số dự án lớn đã hoàn thành. Đồng thời, việc một số mỏ đã hết trữ lượng hoặc hết hạn giấy phép khai thác, đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục gia hạn, cấp phép lại cũng làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, góp phần làm chỉ số sản xuất ngành giảm trong các tháng cuối năm. 3.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp năm 2025 tăng mạnh so với năm trước có thể kể đến như: Ắc quy bằng ion lithi tăng gần 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 33,06%; điện sản xuất tăng 13,67%; Sợi tăng 13,07%; mực đông lạnh tăng gần 4 lần;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp năm 2025 giảm khá sâu so với năm trước. Trong đó, sản phẩm chủ lực tỉnh nhà là thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 6,32%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 33,18%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 33,13%... 3.3. Chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ: Năm 2025 chỉ số tiêu thụ giảm 4,09% so với năm trước. Năm nay, mặc dù chỉ số tiêu thụ giảm, tuy nhiên tỷ trọng các nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm ưu thế, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang có dấu hiệu tích cực trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2025 giảm 3,72% so với tháng trước và tăng 6,39% so cùng kỳ năm trước. Việc sản xuất được duy trì ổn định, tạo nguồn cung sẵn sàng cho tiêu thụ trong và ngoài tỉnh, hạn chế rủi ro đứt gãy nguồn cung. Trong đó, chỉ số tồn kho mặt hàng sợi tăng cao, ở mức 210,6%; ngành chế biến thực phẩm tăng 39,32%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 157,82%... Tình hình sử dụng lao động: Cộng dồn đến cuối năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 17,89% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 7,54% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,97% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,94%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,18% so với năm 2024. 4. Tình hình thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp Năm 2025 tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá gặp nhiều khó khăn, thách thức hơn trước. Theo các doanh nghiệp, khó khăn nhất hiện nay vẫn là nhu cầu thị trường sụt giảm và chi phí sản xuất cao. 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 25/12/2025, toàn tỉnh thành lập mới 1.900 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc, tăng 42,22% so với cùng kỳ năm 2024. Tổng vốn đăng ký đạt gần 12.476 tỷ đồng, tăng 77,69% so với cùng kỳ năm 2024, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 6,57 tỷ đồng, tăng 24,90% so cùng kỳ năm trước. Trong năm có 458 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại, tăng 11,98% so với năm 2024. Bên cạnh các doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm ngừng và giải thể, cụ thể có 725 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 9,68% so với cùng kỳ năm trước; 445 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc giải thể tăng 83,88% so với cùng kỳ năm 2024. Hiện nay để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, phát triển, tháo gỡ khó khăn về thị trường tiêu thụ. Khi có thêm những giải pháp thúc đẩy đầu ra thì doanh nghiệp mới cải thiện được khả năng trả nợ, tăng khả năng hấp thụ vốn. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho biết, trong quý IV/2025, hai yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 43,14% và 68,63%. Bên cạnh đó, “Khó khăn về tài chính” là khó khăn mà doanh nghiệp đánh giá với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn là 37,25%. Đối với nhóm ngành chủ lực của Hà Tĩnh như dệt, sản xuất kim loại, sản xuất sản phẩm từ giấy đang gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường hàng xuất khẩu. Dự báo quý I/2026 sẽ có nhiều chuyển biến tích cực so quý IV/2025 với 94,12% doanh nghiệp đánh giá tốt hơn và giữ ổn định (62,75% tốt hơn và 31,37% giữ ổn định), 5,88% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn. Xu hướng về khối lượng sản xuất năm 2026 có 68,63% doanh nghiệp đánh giá tiếp tục gia tăng về khối lượng. Bên cạnh đó, 72% doanh nghiệp dự báo sẽ có đơn đặt hàng mới, cho thấy tín hiệu cải thiện rõ rệt về đầu ra sản phẩm, góp phần tạo động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhìn chung, các kết quả khảo sát cho thấy xu hướng sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2026 được đánh giá theo chiều hướng tích cực, với niềm tin của doanh nghiệp vào sự gia tăng sản lượng, mở rộng thị trường tiêu thụ và cải thiện đơn hàng. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Nhìn chung năm 2025, ngành thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm, giá cả cơ bản ổn định đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Nhóm ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ghi nhận kết quả khả quan nhiều sự kiện, lễ hội được tổ chức và hạ tầng du lịch ngày càng được đầu tư hoàn thiện, thu hút lượng lớn du khách. Nhóm dịch vụ khác tiếp tục tăng trưởng, thể hiện vai trò góp phần nâng cao giá trị của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh nhà. Tổng mức bán lẻ hàng hoá trong tháng 12 ước đạt 7.064,62 tỷ đồng, giảm 4,53% so với tháng trước, tăng 19,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý IV/2025 doanh thu ước đạt 20.362,72 tỷ đồng, tăng 4,06% so với quý trước và tăng 11,59% so với cùng kỳ. Xét theo từng quý trong năm thì tổng mức bán lẻ tăng trưởng khá ổn định và tăng trưởng doanh thu khá, luôn duy trì mức tăng trưởng ở hai con số. Bên cạnh việc giá cả tăng cao thì các yếu tố mùa vụ trong quý như thời điểm bắt đầu năm học, thời tiết chuyển mùa và cũng là quý gần Tết nên ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm các loại hàng hoá. Cả năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 78.238,44 tỷ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng bán lẻ, có 10 nhóm hàng tăng trưởng dương (chiếm trên 89% tổng mức). Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 38.346,49 tỷ đồng, chiếm 49,01% tổng mức và tăng 15,11% so với năm 2024, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã kéo theo tổng mức bán lẻ tăng. Bên cạnh đó còn có các nhóm hàng khác cũng tăng trưởng doanh thu mạnh so với năm trước, chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu so với năm trước là nhóm ô tô con (giảm 29,96%), và nhóm xăng, dầu các loại (giảm 13,22%) do mặc dù đã có nhiều ưu đãi trong việc sản xuất và tiêu dùng ô tô, tuy nhiên đây là các mặt hàng giá trị lớn trong khi thu nhập người đang phải gồng gánh các chi phí thì việc mua sắm các mặt hàng có giá trị dường như hạn chế. Nhìn chung, trước sự biến động khó lường kinh tế thế giới tình hình thương mại tỉnh nhà vẫn có sự tăng trưởng khá. Bên cạnh những yếu tố chính sách, khuyến khích đầu tư của trung ương, sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh đảm bảo không để xảy ra tình trạng về biến động giá cả hay thiếu hàng dịp cao điểm; tránh găm hàng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng; thì doanh nghiệp, người dân đã chủ động đầu tư, mở rộng nhiều thị trường để tăng doanh thu. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ, những sản phẩm của tỉnh nhà đã được người tiêu dùng trong nước, nước ngoài biết đến thông qua những trang thương mại điện tử. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 12/2025 ước đạt 854,9 tỷ đồng, giảm 2,32% so với tháng trước nhưng tăng 17,74% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý IV doanh thu ước đạt 2.592,48 tỷ đồng, giảm 2,62% so với quý trước nhưng tăng đến 14,33% so với cùng kỳ. Mặc dù trong quý yếu tố thời tiết không thuận lợi, trời rét, có mưa, cũng hết mùa du lịch nên nhu cầu du lịch và lưu trú giảm hơn so với các tháng trước, nhưng việc nhu cầu ăn uống ngoài gia đình trong các ngày lễ đang có xu hướng gia tăng, nên doanh thu chung nhóm ngành vẫn tăng khá so với cùng kỳ. Cả năm 2025, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 9.862,84 tỷ đồng, tăng 14,40% so với năm trước. Xét riêng các nhóm ngành trong năm, ta thấy được sự tăng trưởng vượt bậc của ngành dịch vụ lưu trú (tăng 34,91%), mặc dù mức doanh thu không quá lớn (gần 397 tỷ đồng) những cũng tạo nên điểm sáng đáng kể và hướng đi đúng đắn cũng như tiềm lực cần khai thác của tỉnh nhà. Xét riêng trong các quý, doanh thu dịch vụ lưu trú chủ yếu phát triển mạnh ở quý II và quý III, bước sang quý IV khi hết mùa du lịch doanh thu giảm hơn các quý trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng ở mức 9,22%. Hoạt động dịch vụ ăn uống vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 4 quý trong năm[5], mức tăng trưởng doanh thu chủ yếu do ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố mùa vụ khi trong quý phát sinh các ngày lễ khác nhau, thời tiết. Việc dịch vụ ăn uống ngoài gia đình phát triển mạnh cho thấy cách thay đổi suy nghĩ truyền thống của người dân cũng cho thấy đời sống người dân đang ngày càng được nâng lên, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành. Tính chung cả năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.260,04 tỷ đồng, tăng 15,81% so với năm trước, do trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng nghệ thuật, vui chơi và giải trí là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương. Nhìn chung, cả năm doanh thu dịch vụ khác đạt mức tăng trưởng khá cho thấy đời sống và nhu cầu người dân đang dần được cải thiện. 5.2. Hoạt động vận tải Trong năm 2025, hoạt động vận tải và kho bãi trên địa bàn tỉnh đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác, dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt. Vận tải hàng hóa được thực hiện kịp thời, đảm bảo uy tín với giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 12/2025 doanh thu ước đạt 792,13 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước, tăng 13,03% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu trong tháng có sự khởi sắc hơn các tháng khác trong quý IV do yếu tố mùa vụ là tháng trùng với dịp lễ Noel và là tháng cuối năm, nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Nhưng tính cả quý IV/2025 doanh thu vẫn giảm 9,17% so với quý trước do vận tải hàng hoá gặp những khó khăn về thời tiết trong tháng 10 và 11; mặc dù vậy, doanh thu trong quý IV vẫn đạt mức khá so với kỳ vọng khi tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 12,46%). Tính chung cả năm doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 9.660,66 tỷ đồng, tăng 14,12% so với năm trước. Trong đó, Vận tải hành khách ước đạt 1.647,43 tỷ đồng, tăng 12,87%; Vận tải hàng hoá ước đạt 5.964,91 tỷ đồng, tăng 12,60%; Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.963,2 tỷ đồng, tăng 19,32% so với năm trước; Hoạt động bưu chính chuyển phát ước đạt 83,12 tỷ đồng, tăng 35,15% so với năm trước. Mặc dù vận tải hành khách chiếm tỷ trọng doanh thu không lớn nhưng tăng trưởng khá đều trong các quý; trong khi vận tải hàng hoá mức doanh thu lớn tập trung tăng mạnh ở 2 quý I và III (tăng 24,53% và 12,80%), doanh thu quý IV mặc dù vẫn tăng khá ấn tượng nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của các quý trước (6,50%), nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết khiến việc bảo quản và lưu thông hàng hoá chưa đạt mức như kỳ vọng như các quý trước. Nhìn chung, nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế cùng với các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lãi suất và thủ tục vay vốn được cải thiện, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua sắm phương tiện kinh doanh; Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi. Tuy nhiên, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như phải cạnh tranh với các trung tâm logistics lớn khác ở khu vực Bắc Trung Bộ như Nghệ An và Quảng Trị. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải ứng phó với giá nhiên liệu biến động, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ từ khách hàng, và thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong quản lý chuỗi cung ứng và vận hành các hệ thống logistics thông minh. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2025 đạt cao hơn so với năm trước. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tính đến hết ngày 30/12/2025 đạt 21.250 tỷ đồng, vượt 19,38% so với dự toán và tăng 17,37% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, thu nội địa đạt 14.449 tỷ đồng, tăng 40,71% so với cùng kỳ năm trước. Các khoản thu về nhà, đất đạt 6.257 tỷ đồng, tăng gần gấp 2 lần so với năm trước nhờ do sự sôi động lại của thị trường mua bán, chuyển nhượng bất động sản, khởi sắc ở một số địa phương như Phường Thành Sen, xã Toàn Lưu;… thu từ doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 1.922 tỷ đồng, tăng 76,77%; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.709 tỷ đồng, tăng 8,82% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các doanh nghiệp ngoài nhà nước năm 2025 hoạt động sản xuất kinh doanh gặp thuận lợi hơn năm trước; tuy nhiên ngược lại với các doanh nghiệp này thì doanh nghiệp nhà nước gặp không ít khó khăn, sản xuất sụt giảm, chính vì vậy thu từ các doanh nghiệp khu vực này chỉ đạt 1.290 tỷ đồng, giảm 1,75% so với cùng kỳ năm 2024. Thu xuất nhập khẩu đạt 6.656 tỷ đồng, bằng 86,37% năm trước nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa gặp khó khăn trong sản xuất, sản lượng thép sản xuất sụt giảm, vì vậy giảm nhập nguyên liệu đầu vào (than, quặng), xuất khẩu thép giảm mạnh so với năm trước. Đây đều là những mặt hàng có số nộp ngân sách lớn. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến hết ngày 30/12/2025 đạt 30.985 tỷ đồng, tăng 19,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 11.224 tỷ đồng, chiếm 36,22%, tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Chi thường xuyên đạt 19.746 tỷ đồng, chiếm 63,73% tổng chi, tăng 26,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 5.864 tỷ đồng, tăng 14,67% so với cùng kỳ năm trước; Chi sự nghiệp y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình đạt 1.433 tỷ đồng, tăng 11,45%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 6.078 tỷ đồng, tăng 67,61% so với cùng kỳ năm 2024. Nhìn chung hoạt động chi ngân sách ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, cấp bách gắn với việc thực hiện các mục tiêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 6.2. Hoạt động ngân hàng Năm 2025 ngành Ngân hàng tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ, người dân và doanh nghiệp, tiếp cận vốn tín dụng tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Huy động vốn tăng khá, dư nợ tín dụng xu hướng tăng trưởng tích cực hơn. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Hà Tĩnh ước đến thời điểm 31/12/2025 đạt 125.995 tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2024. Số dư huy động vốn bằng đồng Việt Nam đạt 122.659,6 tỷ đồng, bằng ngoại tệ đạt 3.335,5 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 13.383,9 tỷ đồng, chiếm 10,62% tổng nguồn vốn huy động, tăng 23,42% so với cuối năm 2024; nguồn dư huy động vốn ngắn hạn đạt 112.611,1 tỷ đồng, chiếm 89,38% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 15,18% so với cuối năm 2024. Lãi suất huy động trong năm 2025 có xu hướng tăng dần, cùng với việc triển khai nhiều chương trình ưu đãi, tổng nguồn vốn huy động toàn địa bàn đạt mức tăng trưởng tốtt. Dư nợ tín dụng ước đến 31/12/2025 đạt 126.350 tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 97.683,3 tỷ đồng (chiếm 77,31% tổng dư nợ), tăng 15,69% so với cuối năm 2024; dư nợ trung dài hạn đạt 28.666,6 tỷ đồng (chiếm 22,69% tổng dư nợ), tăng 17,07% so với cuối năm 2024. Hoạt động tín dụng chủ yếu hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng; đơn giản hóa thủ tục cho vay, niêm yết công khai, minh bạch các thủ tục, quy trình vay vốn; đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả. 7. Đầu tư và xây dựng Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 tăng khá, ước tính cả năm 2025 đạt 61.019 tỷ đồng, tăng 3,50% so với năm trước nhờ đóng góp của các dự án lớn khu vực kinh tế ngoài nhà nước (Nhà máy sản xuất ô tô điện VinFast, nhà máy sản xuất xe máy điện Vinfast với tổng vốn đầu tư dự kiến 11.406 tỷ đồng…) Bước sang quý IV/2025, khắc phục mọi điều kiện bất lợi về thời tiết để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình nhằm đảm bảo các công trình hoàn thành đúng tiến độ đề ra. Tỉnh cũng đã tiến hành nắm chắc tình hình, đảm bảo tiến độ các dự án công nghiệp trọng điểm, đẩy nhanh tiến độ xác định giá đất, tiếp tục quản lý chặt hoạt động mỏ, đảm bảo tối đa vật liệu cho các dự án trọng điểm. Vì vậy tình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục khởi sắc. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý IV/2025 dự ước đạt 17.532 tỷ đồng, tăng 8,46% so với quý trước, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 5.807,28 tỷ đồng, tăng 28,59% so với quý trước và giảm 26,52% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 10.022,36 tỷ đồng, tăng 8,49% so với quý trước và tăng 84,53% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 1.702,66 tỷ đồng, giảm 29,37% so với quý trước và giảm 57,16% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2025 ước đạt 61.019 tỷ đồng, tăng 3,50% so với năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 16.863 tỷ đồng, chiếm 27,64% tổng vốn, giảm 28,83% so với năm trước do các dự án trọng điểm Trung ương triển khai trên địa bàn như Cao tốc Bắc - Nam; Dự án đường dây 500 kV sau giai đoạn thi công cao điểm năm trước đã giảm mạnh khối lượng đầu tư trong năm nay. Vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 34.391 tỷ đồng chiếm 56,36% tổng vốn, tăng 92,73% so với năm trước do hoạt động đầu tư từ khu vực doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, trong đó: Khu vực doanh nghiệp đạt 19.361 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với năm trước; khu vực dân cư tăng trưởng ổn định, đạt 15.030 tỷ đồng, tăng 7,02%. Vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 9.765 tỷ đồng, chiếm 16% tổng vốn giảm 43,92% so với năm trước do một số dự án quy mô lớn đã bước sang giai đoạn hoàn thiện, làm giảm khối lượng thực hiện trong năm, đặc biệt là dự án như Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II. Nhìn chung tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân chủ yếu: (1) dự án sản xuất ô tô điện Vinfast hoàn thành xây dựng trong năm giá trị xây dựng ước đạt 6.505 tỷ đồng; (2) Quý IV/2025 trên địa bàn tỉnh khởi công xây dựng nhà máy sản xuất xe máy điện Vinfast với tổng vốn đầu tư dự kiến 11.406 tỷ đồng; (3) chính quyền cấp tỉnh và xã quyết liệt trong việc giải ngân nguồn vốn đầu tư công. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất - nhập khẩu trong năm 2025 mặc dù không đạt mục tiêu Nghị quyết hội đồng đề ra với giá trị xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD. Mặt hàng thép vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm thị trường đầu ra, nhưng việc các hàng hoá khác đạt giá trị xuất khẩu tăng vượt bậc là những tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế tỉnh nhà khi đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, giảm dần sự phụ thuộc vào ngành thép. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 12 ước đạt 118,4 triệu USD, tăng 13,3% so với tháng trước nhưng giảm 2,84% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng ước đạt 85 triệu USD (chiếm 71,79% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), tăng 33,44% so với tháng trước nhưng giảm 17,32% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài mặt hàng thép, phôi thép thì mặt hàng dăm gỗ và chè cũng có trị giá xuất khẩu giảm cùng kỳ năm trước (mặt hàng dăm gỗ giảm 11,43% và mặt hàng chè giảm 3,64% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung cả năm 2025, trị giá xuất khẩu ước đạt 2.000 triệu USD, giảm 16,67% so với năm trước (giảm 400 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do từ nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, mặc dù quý IV đã có nhiều tín hiệu tích cực tuy nhiên vẫn chưa đạt mức kỳ vọng như năm trước, ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng chè, dăm gỗ cũng giảm lần lượt 3,64% và 11,43 so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu các mặt hàng khác như xơ, sợi dệt các loại; dệt và may mặc tăng trưởng khá tuy nhiên do tỷ trọng không lớn nên không tác động nhiều đến kết quả chung toàn tỉnh. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 12 năm 2025 ước đạt 180,5 triệu USD, tăng 9,16% so với tháng trước nhưng giảm đến 21,87% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân việc giá cả hàng hoá đang ở mức cao, cộng với việc thị trường Tết năm trước sức mua hàng ngoại thấp gây tồn đọng nên năm nay các doanh nghiệp đang cầm chừng và chọn lọc trong việc nhập khẩu các loại hàng hoá phục vụ dịp Tết. Tính chung cả năm 2025, trị giá nhập khẩu ước đạt 2.900 triệu USD giảm 22,46% so với năm 2024. Việc nhập khẩu hàng hoá giảm nguyên nhân chủ yếu do việc Formosa gặp khó khăn trong xuất khẩu và sản xuất khiến việc nhập nguyên liệu giảm, bên cạnh đó nhu cầu dùng hàng ngoại của người dân đang giảm dần và có sự lựa chọn khắt khe hơn. 9. Giá cả, lạm phát Năm 2025 thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ diễn ra sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng, chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Tháng 12 giá lương thực, thực phẩm tăng, giá vàng tăng theo xu hướng tăng của giá vàng thế giới...là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh tháng 12/2025 tăng 0,55% so tháng trước. So với tháng 12/2024, CPI tháng 12 tăng 1,16%. Bình quân năm 2025, CPI tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, CPI tháng 12/2025 tăng 0,55% (khu vực thành thị tăng 0,28%, và khu vực nông thôn tăng 0,65%). Trong tháng, nhóm lương thực đặc biệt là giá gạo tăng do cuối năm nhu cầu tiêu thụ gạo nội địa và xuất khẩu tăng, tạo áp lực lên giá, thực phẩm thịt tiếp tục gia tăng về giá khi tình hình dịch bệnh cũng như nhu cầu vào dịp lễ, tuy nhiên giá rau củ các loại đã có dấu hiệu hạ nhiệt khi nguồn cung dồi dào hơn. Các mặt hàng khác trong tháng giá cả cũng tăng do nhu cầu tiêu dùng tháng cuối năm và lễ Noel, bên cạnh đó thì giá như giá điện, nước sinh hoạt và xăng dầu giảm khá rõ do nhu cầu tiêu dùng và điều tiết giá. Cả quý IV mức CPI bình quân tăng 0,52% so với quý III và tăng 0,79% so với quý IV năm trước, nhìn chung biến động trong quý cuối năm 2024 khá bình ổn trong khi cùng thời điểm này năm trước mức giá biến động khá lớn. Tính chung cả năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 tăng 3,04% so với cùng kỳ năm 2024, (khu vực thành thị tăng 3,54%; khu vực nông thôn tăng 2,83%). Tác động lớn nhất là chỉ số giá nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 2,67%, trong đó, nhóm thực phẩm tăng 2,25% và nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,88%. Tiếp theo là chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,28% do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo nghị quyết số: 217/NQ- HĐND tỉnh Hà Tĩnh. Chỉ số giá nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,94%, chủ yếu tăng ở các mặt hàng như: điện sinh hoạt tăng 7,37%; nước sinh hoạt tăng 4,65%; nhà ở thuê và chủ nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 13,74% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với việc EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân vào tháng 5/2025. Ở chiều ngược lại, yếu tố tác động kìm hãm chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2025 có chỉ số giá nhóm giao thông giảm 3,48%, do mặt hàng nhiên liệu giảm 8,26% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong năm của Chính phủ. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt, giá thuê nhà ở, giáo dục, y tế. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo CPI năm tới có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Giá vàng và đô la vẫn ở đỉnh giá và đang tăng theo thị trường thế giới, bình quân năm 2025 đã ghi nhận giá vàng tăng đến 44,8% và giá đô la Mỹ tăng 6,96% so với cùng kỳ năm trước. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Dân số, lao động việc làm 1.1. Dân số Dân số trung bình năm 2025 ước tính 1.335.144 người, tăng 0,40% so với năm 2024. Trong đó, dân số thành thị 274.770 người, chiếm 20,58%; dân số nông thôn 1.060.374 người, chiếm 79,42%; dân số nam 664.726 người, chiếm 49,79% và dân số nữ 670.418 người, chiếm 50,21%. 1.2. Lao động việc làm Những tháng cuối năm, các doanh nghiệp Hà Tĩnh tăng tốc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô sản xuất nên có nhu cầu tuyển dụng lao động ở nhiều lĩnh vực do vậy tình hình lao động việc làm quý IV/2025 tiếp tục có chiều hướng tốt. Kết quả giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2025 vượt kế hoạch đề ra, cùng với mức tăng chủ yếu đến từ giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh, phản ánh năng lực tạo việc làm của nền kinh tế địa phương được nâng lên, góp phần ổn định đời sống người lao động và bảo đảm an sinh xã hội. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh ước tính quý IV/2025 là 540.709 người, tăng 0,74% so với quý trước và tăng 2,87% so với cùng kỳ năm 2024. Có đến 55,91% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, tăng 0,41 điểm phần trăm so với quý III/2025 và tăng 1,36 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung năm 2025, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 535.443 người, tăng 1,6% so với năm 2024, trong đó, lực lượng lao động nam là 272.028 người, chiếm 50,8%; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 129.845 người, chiếm 24,25%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2025 là 55,37%, tăng 2,74 điểm phần trăm so với năm 2024, tỷ lệ này có sự chênh lệch đáng kể khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn 4,98 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị cao hơn 6,96 điểm phần trăm so với nông thôn. Lực lượng lao động có việc làm ước tính quý IV năm 2025 là 522.684 người, chiếm 96,67% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,04% so với quý trước và tăng 0,91% so với cùng kỳ năm 2024. Khi phân theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động ở Hà Tĩnh tiếp tục chuyển theo chiều hướng tích cực: Quý IV/2025, lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng là 28,33%, giảm 0,26 điểm phần trăm so với quý trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,01%; dịch vụ chiếm 42,66% tăng lần lượt 0,15 và 0,11 điểm phần trăm Tính chung năm 2025, lao động có việc làm ước đạt 518.826 người, chiếm 96,90% tổng số lực lượng lao động và tăng 2,38% so với năm 2024. Trong đó,lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 28,48% giảm cả về số lượng và tỷ trọng so với năm trước (lần lượt giảm 0,45% và 0,81 điểm phần trăm); công nghiệp - xây dựng chiếm 28,82%, tăng cả số lượng và tỷ trọng (lần lượt tăng 2,94% và 0,15 điểm phần trăm); dịch vụ chiếm 41,89% (tương ứng 217.356 người), tăng về số lượng (tăng 2,02%) và giảm tỷ trọng (giảm 0,15 điểm phần trăm). Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý IV/2025 là 2,34%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,17 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,44%, giảm 0,05 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp: Trong quý IV/2025 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) 18.025 người, chiếm 3,33% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,04 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,91 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, số người thất nghiệp ước tính là 16.617 người, chiếm 3,10% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,74 điểm phần trăm so với năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 68,91% (tương đương 11.450 người) và nam giới chiếm 55,0% (tương đương 9.140 người). Tình hình giải quyết việc làm: theo số liệu Sở Nội vụ, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý IV năm 2025 là 4.238 người, giảm 20,25% so với quý trước và giảm 18,19% so cùng kỳ năm 2024, so với quý trước chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trong tỉnh (giảm 36,47%) và đi xuất khẩu lao động (giảm 9,71%). Tính chung năm 2025, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 23.800 người, đạt 101,28% so với kế hoạch và tăng 1,27% so với năm 2024, chủ yếu tăng ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (tăng 18,1%). Kết quả số liệu lao động việc làm năm 2025 cơ bản đã phản ánh sát với tình hình thực tế của địa phương. Quy mô lực lượng lao động tiếp tục mở rộng, đi kèm với sự cải thiện rõ rệt về tỷ lệ tham gia thị trường của người dân. Đặc biệt, việc sụt giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động đã phản ánh trực tiếp sự phục hồi mạnh mẽ của các doanh nghiệp cùng tính hiệu quả từ các chính sách an sinh. Cơ cấu nhân lực có sự chuyển dịch tích cực theo hướng hiện đại: giảm dần tỷ trọng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản để tập trung nguồn lực cho khối công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Sự thay đổi này không chỉ nâng cao chất lượng việc làm mà còn tạo nền tảng vững chắc cho hệ thống an sinh xã hội tại địa phương. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Năm 2025, về tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền là 1.504,18 tỷ đồng; đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền 647,55 tỷ đồng; hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác số tiền 65,17 tỷ đồng. (tính riêng trong quý IV/2025 số tiền cho các đối tượng trên lần lượt là 394,35 tỷ đồng; 158,8 tỷ đồng; 17,18 tỷ đồng). Ngoài ra cũng trong năm đã cấp phát miễn phí khoảng 388.313 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí, trong đó, 11.474 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 25.443 thẻ cho hộ cận nghèo; 134.509 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 41.438 thẻ cho người có công và 175.449 thẻ cho các đối tượng khác. Hỗ trợ gạo trong năm 153,3 tấn, trong đó 130 tấn gạo hỗ trợ khắc phục thiên tai. Về hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương trong quý IV năm 2025 nguồn kinh phí tiếp nhận hỗ trợ đến thời điểm 10/12/2025 với tổng số tiền hơn 284,58 tỷ đồng[6], tính chung cả năm 2025 con số này đạt gần 285,16 tỷ đồng. Tình hình phân bổ đến thời điểm 10/12/2025 đã hoàn thành 240,22 tỷ đồng[7] nguồn kinh phí còn lại chưa giải ngân là 44,94 tỷ đồng. Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội theo Nghị quyết số 72/2022/NQ-HĐND về giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội giai đoạn 2022-2025. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chung tay của cộng đồng và ý chí vươn lên của người dân, các chương trình hỗ trợ từ giáo dục, y tế, nhà ở đến tín dụng ưu đãi đã phát huy hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao đời sống, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, hướng tới mục tiêu “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. 3. Giáo dục Trong tháng 12/2025, ngành giáo dục  Hà Tĩnh đã tổ chức kỳ thi học sinh giỏi tỉnh đảm bảo an toàn, nghiêm túc đúng quy chế. Đối với kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 12 có 1.036 em tham gia dự thi, có 716 em đạt giải[8] và đặc cách công nhận 157 học sinh giỏi tỉnh[9]. Đối với kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 có 1.433 học sinh dự thi và 988 em đạt giải[10], đặc cách công nhận 47 học sinh lớp 9 môn Tiếng Anh[11]. Tổ chức thi chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025- 2026, toàn tỉnh có 217 thí sinh đăng ký dự thi; gồm 11 môn thi. Tổng số học sinh được chọn vào đội tuyển tham dự Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia là 103 học sinh. Phát huy truyền thống và những thắng lợi của các kỳ thi trước, cùng quyết tâm và nỗ lực của các thầy cô giáo, các em học sinh, tin tưởng đội tuyển học sinh giỏi sẽ giành được kết quả cao trong Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm nay. Chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tăng cường công tác tuyển sinh đào tạo. Tổng tuyển sinh GDNN ước đạt 18.000 người, tăng 1,07% so với năm 2024 (16.831 người), đạt 83,7% kế hoạch. Tốt nghiệp ước đạt 14.000 người, tăng 1% so với năm 2024 (13.877 người). 4. Hoạt động y tế Năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành Y tế Hà Tĩnh trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, đặt ra nhiều cơ hội và thách thức trong công tác tổ chức bộ máy, quản lý điều hành và bảo đảm hoạt động chuyên môn liên tục. Ngành Y tế đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đạt nhiều kết quả quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đề ra nhiều mục tiêu, đối với lĩnh vực y tế, nghị quyết đặt ra chỉ tiêu từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần. Đến năm 2027 có ít nhất 4 bác sỹ/trạm y tế và đến năm 2030 có ít nhất 14,6 bác sỹ và 45 giường bệnh trên 1 vạn dân. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong quý IV năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện 4 ca nhiễm mới HIV và có 02 trường hợp chết do AIDS. So với quý trước số ca nhiễm mới tăng 02 ca và tăng 02 người chết do AIDS. Tính chung cả năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 16 ca nhiễm mới HIV/AIDS và ghi nhận 7 ca chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước giảm 15 ca nhiễm mới nhưng tăng 01 ca chết vì AIDS. Công tác an toàn thực phẩm: Chủ động đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là vào các dịp lễ, tết. Các cấp, các ngành thường xuyên phối hợp, tăng cường công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Trong quý IV/2025 không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra, nhưng vẫn có 34 người bị ngộ độc đơn lẻ. Tính chung cả năm, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 23 người bị ngộ độc và có 639 người bị ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể giảm 01 vụ, nhưng tăng 10 người bị ngộ độc; giảm 233 người ngộ độc đơn lẻ và số người chết vì ngộ độc thực phẩm không xảy ra. Tình hình dịch bệnh khác: Trong năm đã ghi nhận 71 ca mắc sốt xuất huyết, trong đó có 02 ổ dịch tại phường Sông Trí và xã Đồng Tiến với tổng số 08 ca mắc. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn xuất hiện các ca bệnh đơn lẻ như quai bị, thủy đậu, lỵ, hơn 1 nghìn ca tiêu chảy và hơn 16,2 nghìn ca cúm... Các ca bệnh và ổ dịch đều được phát hiện, ngăn chặn và điều trị kịp thời, không có người chết do các bệnh trên. 5. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong năm 2025 hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi, đạt nhiều kết quả nổi bật. Các hoạt động văn hóa được triển khai đồng bộ, gắn với tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước. Nhiều lễ hội lớn được tổ chức quy mô, an toàn, thu hút du khách như Lễ hội Chùa Hương Tích, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông, các lễ hội khai trương du lịch biển Xuân Thành, Thiên Cầm, Kỳ Anh... Đặc biệt, thời điểm cuối năm, Hà Tĩnh long trọng tổ chức Lễ Kỷ niệm 260 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du. Đây là sự kiện chính trị - văn hóa quan trọng, nhằm tôn vinh, tri ân những đóng góp to lớn của Đại thi hào Nguyễn Du đối với nền văn học, văn hóa Việt Nam và nhân loại; đồng thời quảng bá hình ảnh, văn hóa và con người Hà Tĩnh trong giai đoạn phát triển mới. Bên cạnh đó công tác bảo tồn di tích và phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tiếp tục được duy trì, góp phần phát triển du lịch và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Hoạt động thể thao: Đối với thể thao quần chúng, đã hướng dẫn chỉ đạo các xã, phường xây dựng kế hoạch, thành lập Ban Tổ chức và tổ chức Lễ Khai mạc Đại hội Thể dục thể thao cấp xã lần thứ X; tổ chức giải Bóng đá Nam Đại hội Thể dục thể thao cấp tỉnh lần thứ X; Đối với thể thao thành tích cao: Trong quý IV/2025 đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 15 giải thi đấu, giành được 58 huy chương các loại (21 HCV - 16 HCB - 21 HVĐ). Tính chung cả năm 2025 đoàn thể thao tỉnh nhà đã tham gia 57 giải thi đấu, giành được 272 huy chương các loại (102 HCV - 75 HCB - 95 HVĐ); Đối với thể thao chuyên nghiệp: Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tiếp tục tham gia thi đấu giải Vô địch quốc gia mùa giải 2025-2026; tính đến hết vòng đấu thứ 11, đội đang xếp thứ 6/14 câu lạc bộ tham dự. 6. Tình hình an toàn giao thông Trong quý IV năm 2025, trên địa bàn đã xảy ra 97 vụ tai nạn đường bộ, làm 52 người chết, 67 người bị thương (tăng 20 vụ so với quý trước, giảm 8 người chết, tăng 10 người bị thương so với quý trước; Trong quý này không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào, so với quý trước giữ nguyên. Tính chung cả năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 352 vụ tai nạn đường bộ, làm 233 người chết, 215 người bị thương (giảm 51 vụ, tăng 6 người chết, giảm 31 người bị thương so với năm trước); xảy ra 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương (giảm 2 vụ, tăng 2 người chết so với năm trước). Trong thời gian tới, Ban An toàn giao thông phối hợp với Công an tỉnh và các cấp ngành liên quan đang tích cực tham mưu phương án, kế hoạch phòng ngừa tai nạn giao thông và giữ gìn trật tự, an toàn giao thông phục vụ nhân dân đón Tết Dương lịch, Tết nguyên đán. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ Tình hình cháy, nổ: Trong năm 2025, Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung tình hình cháy tại khu vực nhà dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh đang diễn biến phức tạp, nhất là những tháng cuối năm công tác chữa cháy và cứu hộ cứu nạn đang được tập trung cao độ. Trong quý IV năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 22 vụ cháy, làm 01 người bị thương (giảm 01 vụ, tăng 01 người bị thương so với quý trước), không có vụ nổ nào xảy ra. Giá trị thiệt hại do cháy ước tính gần 3 tỷ đồng. Tính chung cả năm 2025, đã xảy ra 83 vụ cháy, làm 03 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính hơn 8,2 tỷ đồng (giảm 03 vụ, tăng 03 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Vi phạm môi trường: Trong tháng 12, toàn tỉnh phát hiện 20 vụ vi phạm môi trường, giảm 15 vụ so với tháng trước nhưng tăng 14 vụ so với cùng kỳ năm trước; Đã xử lý 20 vụ, giảm 52 vụ so với tháng trước nhưng tăng 14 vụ so với cùng kỳ; Với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 32,4 triệu đồng, giảm 431,84 triệu đồng so với tháng trước và giảm 444,25 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Tính cả quý IV đã phát hiện 91 vụ, xử lý trong quý được 109 vụ với số tiền xử phạt gần 1,3 tỷ đồng (tăng 63 vụ phát hiện, 76 vụ xửa lý và hơn 461 triệu đồng so với cùng quý năm trước) Tính chung cả năm 2025, đã phát hiện 346 vụ, xử lý 321 vụ với số tiền xử phạt hơn 4,6 tỷ đồng. Tăng 86 vụ phát hiện (tăng 33,08%), tăng 74 vụ xử lý (tăng 29,96%) với số tiền tăng hơn 2,5 tỷ đồng so với năm trước. Năm nay tỉnh đặc biệt quan tâm đến công tác môi trường, chỉ đạo nhiều giải pháp nhằm quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động xả thải và tuân thủ pháp luật môi trường khiến tổng số tiền xử phạt tăng cao do việc tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện một số cơ sở vi phạm có tính chất nghiêm trọng, áp dụng mức xử phạt cao để nâng cao tính răn đe và đảm bảo tính tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. 8. Tình hình thiên tai Năm 2025 được ghi nhận là năm có nhiếu biến cố về thiên tai, hỏa hoạn và dịch bệnh, chỉ tính riêng tại địa bàn đã hứng chịu nhiều diễn biến thiên tai phức tạp. Đặc biệt trực tiếp hứng chịu 03 cơn bão lớn là bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi), gây mưa lớn diện rộng, khiến 3 người chết và 62 người bị thương, với thiệt hại về tài sản ước tính lên tới 9.294 tỷ đồng. Ngoài ra, đã xảy ra 09 vụ mưa lớn, sét đánh và mưa đá, làm 01 người chết do mưa lũ, 06 người chết do sét đánh và 02 người mất tích trên biển, tổng giá trị thiệt hại gần 45 tỷ đồng Trước diễn biến phức tạp của khí hậu, thời tiết và hậu quả do thiên tai gây ra, chính quyền địa phương được sự quan tâm của các cấp trung ương và các mạnh thường quân trên khắp các miền tổ quốc đã kịp thời chung tay hỗ trợ người dân. Tính riêng quý IV năm 2025 đã hỗ trợ với tổng số tiền hơn 234,09 tỷ đồng, đây là toàn bộ số tiền hổ trợ người dân chịu ảnh hưởng thiệt hại do bão số 5 và số 10 gây ra. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Một là, tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030; Tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, đổi mới, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm. Tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ, giải pháp, nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng năm 2026. Phát triển hài hoà, cân đối thu nhập giữa các khu vực kinh tế; tạo việc làm ổn định cho người lao động, góp phần nâng cao đời sống và bảo đảm an sinh xã hội. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050. Triển khai xây dựng Đề án thành lập Khu Thương mại tự do Vũng Áng sau khi có chủ trương thực hiện. Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển kinh tế vùng, thúc đẩy hình thành cụm liên kết ngành kinh tế biển Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Trị và hành lang kinh tế Hà Tĩnh - Lào - Đông Bắc Thái Lan. Hai là, đẩy mạnh sản xuất công nghiệp; duy trì ổn định sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; nâng cao sức cạnh tranh của du lịch, thương mại, dịch vụ. Tập trung xây dựng và triển khai hiệu quả các Nghị quyết, Đề án, Chương trình về phát triển công nghiệp của tỉnh, trong đó trọng tâm là phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến - chế tạo đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Xây dựng và triển khai Đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026-2030; Tiếp tục thực hiện Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Ba là, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, tăng cường quản lý hiệu quả thu, chi ngân sách, tín dụng. Triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và các chương trình mục tiêu quốc gia theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên đầu tư các công trình, dự án lớn, có tác động lan tỏa. Bốn là, tiếp tục thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, kinh tế tập thể. Đánh giá thực chất môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh; triển khai đồng bộ giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy hiệu quả Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và các địa phương (DDCI), góp phần nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Xây dựng và triển khai Đề án phát triển doanh nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2030; thực hiện hiệu quả Chương trình hành động số 46-CTr/TU ngày 03/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch số 366/KH-UBND ngày 03/7/2025 của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Năm là, tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ; quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên khoáng sản. Tập trung giải phóng mặt bằng để triển khai dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đoạn qua Hà Tĩnh; phối hợp triển khai Dự án mở rộng tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông; tiếp tục phối hợp các bộ ngành Trung ương xúc tiến đầu tư các dự án giao thông trọng điểm. Triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2026 - 2030; Đề án phát triển vật liệu xây dựng Hà Tĩnh giai đoạn 2025 - 2030, định hướng đến năm 2050; Phê duyệt các mỏ khoáng sản theo cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ; lập phương án quản lý về địa chất, khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo Chương trình hành động số 42-CTr/TU của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Bảy là, phát huy giá trị văn hóa, con người Hà Tĩnh, phát triển toàn diện, hài hòa các lĩnh vực văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống, bảo đảm an sinh xã hội; làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, tạo đồng thuận xã hội.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.Phòng Thống kê Tổng hợp - Thống kê tỉnh Hà Tĩnh[1] Diện tích ngô vụ Đông Xuân đạt 12.303 ha (tăng 323 ha); vụ Hè Thu đạt 2.364 ha (giảm 39 ha)[2] Diện tích Lạc vụ Đông Xuân đạt 5.867 ha (giảm 744 ha); vụ Hè Thu đạt 401 ha (tăng 31 ha)[3] Rau vụ ĐX đạt 10.818 ha (giảm 45 ha); vụ Hè Thu đạt 2.952 ha (giảm 39 ha); vụ Mùa ước đạt 178 ha (giảm 67 ha).[4] Vụ Đông: Ngô lấy hạt 4.667 ha/5.007 ha, đạt 93,2% kế hoạch; Ngô sinh khối 982 ha/1.078 ha, đạt 91,1% KH; Khoai lang 823 ha/1.254 ha, đạt 65,6% KH; Rau các loại 4.179 ha/5.060 ha, đạt 82,6% KH.[5] Mức tăng lần lượt ở các quý năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024 (Quý I tăng 8,02%, quý II tăng 16,07%, quý III tăng 15,10%, quý IV tăng 14,45%)[6] Nguồn TW hỗ trợ 40,5 tỷ đồng; nguồn từ các địa phương khác 74,15 tỷ đồng; các đơn vị doanh nghiệp cá nhân 47,475 tỷ đồng; tập đoàn Vingroup hỗ trợ về nhà ở trị giá 94 tỷ đồng; tổ chức nước ngoài 1,014 tỷ đồng.[7] Phát 600 suất cháo trị giá 15 triệu đồng đến bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đang điều trị tại các trung tâm y tế. Hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng do hạn hán, xâm nhập mặn 150 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho người dân bị ảnh hưởng bão số 5 số tiền 340 triệu đồng; hỗ trợ chi trả cho chủ chăn nuôi có gia súc phải tiêu hủy do dịch bệnh 68 triệu đồng; hỗ trợ người dân khắc phục thiệt hại do bão số 5, số 10 với tổng số tiền 139,63 tỷ đồng; hỗ trợ trực tiếp cho 4.637 hộ dân bị thiệt hại về nhà ở với tổng số tiền 94 tỷ đồng của Vingroup và 1,01 tỷ đồng nước ngoài hỗ trợ; Chuyển hỗ trợ các địa phương khác 5 tỷ đồng (tiền MTTQ).[8] Hsg tỉnh lớp 12: Giải Nhất 61; Giải Nhì 190; Giải Ba 287; Giải Khuyến khích 178.[9] Hsg tỉnh lớp 12 đặc cách: môn Tiếng Anh 156 học sinh (14 nhất; 56 nhì; 86 ba), môn Tiếng Pháp có: 01 giải Nhất.[10] Hsg tỉnh lớp 9: Giải Nhất: 64, Giải Nhì 217, Giải Ba 335, Giải KK 372[11] Hsg tỉnh lớp 9 đặc cách: Môn Tiếng Anh giải Nhất 14; giải Nhì 15; giải Ba 18.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 Tỉnh Hà Tĩnh
  •   01/12/2025 10:51

Trong bối cảnh nền kinh tế cả nước đang từng bước phục hồi sau nhiều biến động, ngành nông nghiệp và xuất khẩu vẫn tiếp tục đối mặt với những khó khăn. Tuy nhiên, tại Hà Tĩnh, đà tăng trưởng vẫn được duy trì vững chắc. Điều này chủ yếu đến từ sự phục hồi mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sức tiêu dùng nội địa. Các lĩnh vực quan trọng khác như du lịch, logistics và bất động sản cũng cho thấy dấu hiệu phục hồi rõ nét. Thành quả này phản ánh hiệu quả bước đầu từ chiến lược tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng mà tỉnh đã triển khai. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất trồng trọt và chăn nuôi tháng 11 cũng như 11 tháng năm 2025 vẫn chưa có nhiều khởi sắc, chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh làm giảm quy mô đàn và ảnh hưởng đến sản lượng. Tuy nhiên bên cạnh đó, lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế và tạo sinh kế cho người dân, sản lượng thủy sản vẫn giữ được đà ổn định cả ở giá trị và chất lượng. 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1. Trồng trọt * Cây hàng năm Kết quả sản xuất năm 2025: Hà Tĩnh phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng từ thời tiết bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất các loại cây trồng chủ lực. Cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu đều chịu tác động kép của dịch bệnh và thiên tai. Trong vụ Đông Xuân, mưa lớn làm gãy đổ 1.870 ha lúa và thiệt hại 90 ha ngô. Sang vụ Hè Thu, tình hình càng phức tạp với nắng nóng gây hạn hán đầu vụ, tiếp đó là mưa ẩm làm bùng phát sâu bệnh và kết thúc bằng mưa bão khiến lúa đổ ngã trên diện rộng. Các cây trồng khác như ngô, lạc, rau màu cũng không tránh khỏi tổn thất. Trước hoàn cảnh đó, ngành Nông nghiệp và chính quyền địa phương đã kịp thời triển khai các biện pháp ứng phó như tiêu úng, dựng lúa, sấy khẩn cấp, góp phần giảm thiểu đáng kể thiệt hại và ổn định sản xuất. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 156.399 ha, bằng 99,47% so với cùng kỳ năm trước (giảm 828 ha). Trong đó, cây lúa diện tích cả năm ước đạt 104.789 ha, tăng nhẹ 0,42% so với năm trước. Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ vụ Hè Thu khi diện tích đạt 45.476 ha, tăng 602 ha so với cùng kỳ. Tuy nhiên, năng suất lúa cả năm chỉ đạt 46,61 tạ/ha, giảm tới 18,69% so với năm 2024. Nguyên nhân chính đến từ các yếu tố bất lợi liên tiếp, thời tiết cực đoan ngay từ đầu vụ, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng và đặc biệt là hai cơn bão lớn số 5 và số 6 đổ bộ vào thời kỳ lúa trổ bông - giai đoạn then chốt quyết định năng suất. Hậu quả là nhiều diện tích lúa bị ngập úng, đổ ngã, thối hỏng, dẫn đến sản lượng vụ Hè Thu sụt giảm mạnh, gây thiệt hại nặng nề cho người sản xuất, dẫn đến tổng sản lượng lúa cả năm chỉ đạt 488.393 tấn, bằng 81,65% (giảm 109.744 tấn) so với năm 2024[1]. Đối với cây trồng hàng năm khác, chỉ có cây ngô[2] vẫn có tín hiệu tăng trưởng khá do thời tiết vụ Đông Xuân thuận lợi, cây sinh trưởng tốt, cùng với giá bán ổn định đã khuyến khích nông dân đầu tư thâm canh. Còn lại các cây trồng khác[3] cũng gặp nhiều khó khăn và sản lượng giảm so với năm trước. Tiến độ sản xuất vụ Đông: Sản xuất vụ Đông trên địa bàn tỉnh diễn ra trong bối cảnh thời tiết có nhiều biến động. Ngay từ đầu vụ, công tác chỉ đạo và triển khai kế hoạch đã được các địa phương và người dân thực hiện chủ động. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết không thuận lợi (nắng nóng muộn đầu tháng 9, mưa lớn rải rác tháng 10) đã gây trở ngại cho khâu làm đất và xuống giống, buộc một số diện tích phải điều chỉnh lịch thời vụ hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Bước vào giữa và cuối vụ, thời tiết ổn định hơn đã tạo điều kiện mở rộng diện tích. Trước diễn biến phức tạp của sâu bệnh do mưa ẩm kéo dài, ngành Nông nghiệp đã tăng cường công tác hướng dẫn kỹ thuật phòng trừ. Công tác chăm sóc, tưới tiêu được nông dân thực hiện tích cực. Các mô hình sản xuất tiên tiến (rau an toàn, nhà màng) tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc ổn định sản xuất, đảm bảo nguồn cung thực phẩm và nâng cao thu nhập cho người dân * Cây lâu năm Trong tháng 11/2025, nhiều địa phương vừa tiến hành trồng mới cây ăn quả, vừa thu hoạch chính vụ các loại cây chủ lực như cam, bưởi. Tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 30.340 ha, giảm 3,32% so với năm 2024. Nguyên nhân chính do đất nông nghiệp bị thu hồi cho các dự án hạ tầng, diện tích cam và bưởi đều giảm khoảng 6,5%. Mặc dù diện tích giảm, nhưng nhờ chủ trương thay thế vườn tạp bằng cây ăn quả có giá trị cao, tổng sản lượng vẫn đạt 184.129 tấn, tăng nhẹ 0,79%. Đáng chú ý, sản lượng bưởi tăng 7,6% và chanh tăng 1,14% bù đắp cho việc sản lượng cam giảm 1,67%. Định hướng tới là phát triển các vùng sản xuất tập trung, an toàn, gắn với chế biến và thị trường để nâng cao giá trị. Bên cạnh đó, cây công nghiệp như cao su và chè tiếp tục khẳng định hiệu quả kinh tế, với sản lượng đều tăng so với cùng kỳ, góp phần ổn định thu nhập cho người dân. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Đối với cây hàng năm: Tình trạng mưa kéo dài đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây rau, dẫn đến hiện tượng vàng lá, thối rễ do ngập úng tại nhiều xã với tổng diện tích nhiễm gần 25ha. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu và sâu cắn lá xuất hiện phổ biến tại các địa phương, diện tích nhiễm 15ha. Đối với cây lâu năm: Các vườn cây ăn quả tại xã Sơn Tây, Hương Đô,... đang chịu ảnh hưởng bởi bệnh loét, ruồi đục quả và thối quả, với diện tích nhiễm 45ha. Tình trạng thoát nước kém cũng khiến lá vàng và rụng quả tiếp diễn. Trước tình hình trên, Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi tỉnh đã chủ động triển khai các biện pháp chỉ đạo và hướng dẫn nông dân phòng trừ dịch hại kịp thời. 1.1.2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng 11/2025 tiếp tục gặp nhiều thách thức. Dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp khiến người chăn nuôi e ngại, dẫn đến việc thu hẹp đàn và giảm nguồn cung thịt lợn, cùng với đó, tâm lý lo ngại dịch bệnh từ phía người tiêu dùng cũng làm giảm sức tiêu thụ. Đàn lợn ước tính giảm 9.856 con so với cùng kỳ, chủ yếu do các hộ nhỏ lẻ không tái đàn. Đàn gia cầm vẫn duy trì ổn định ở mức gần 10,4 triệu con, tuy nhiên đàn trâu, bò lại giảm mạnh (trâu giảm 27,18%, bò giảm 17,82%) do hiệu quả kinh tế thấp và đầu ra khó khăn. Nguyên nhân chung đến từ dịch bệnh, thời tiết bất lợi và thị trường tiêu thụ bị thu hẹp. Để ổn định sản xuất, tỉnh cần tăng cường giám sát dịch bệnh, hỗ trợ tái đàn an toàn và tìm giải pháp ổn định thị trường. Trong bối cảnh hiện nay, các cơ sở chăn nuôi đang nỗ lực duy trì đàn và tăng cường phòng dịch để đáp ứng nhu cầu thị trường dịp lễ sắp tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng, dịch tả lợn châu Phi đã phát sinh tại 45 xã, phường, dẫn đến việc tiêu hủy bắt buộc 20.858 con lợn, tương đương tổng khối lượng 1.439 nghìn kg. Bệnh Viêm da nổi cục xuất hiện tại 03 xã (Kỳ Anh, Cẩm Duệ, Cẩm Lạc), với 03 con bò mắc bệnh đã được tiêu hủy (568 kg). Bệnh Lở mồm long móng được ghi nhận tại xã Kỳ Văn, làm 17 con bò mắc bệnh. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 21/11/2025, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận một số dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sau: Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 64 xã, với 46.886 con lợn buộc phải tiêu hủy; Viêm da nổi cục xảy ra tại 22 xã làm 94 con bò mắc bệnh (đã tiêu hủy 30 con). Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã làm 45 con bò mắc bệnh (đã tiêu hủy 02 con). Tính đến thời điểm báo cáo, dịch bệnh vẫn đang được kiểm soát với số xã còn dịch chưa qua 21 ngày là: 51 xã đối với Dịch tả lợn châu Phi, 03 xã đối với Viêm da nổi cục và 01 xã đối với Lở mồm long móng. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Tháng 11/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 1.657,88 ha, bằng 147,03% (tăng 530,28 ha), cây trồng phân tán ước đạt 162 nghìn cây, chỉ bằng 75,7% (giảm 52 nghìn cây); sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 99.005 m³, bằng 110,94% (tăng 9.765 m³) so với cùng kỳ. Việc sản lượng rừng khai thác lớn khiến người dân gia tăng trồng mới trên diện tích đã thu hoạch xong. Tính chung 11 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt hơn 8.950 ha, bằng 108,64%, tăng hơn 711 ha so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán ước đạt 1.748 nghìn cây, bằng 71,27% (giảm 705 nghìn cây) so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 705.067 m³, bằng 121,7% (tăng 125.711 m³). Hoạt động lâm nghiệp trong tháng 11 và 11 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, các địa phương tập trung trồng rừng, chăm sóc rừng và khai thác theo kế hoạch. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường, đặc biệt trong bối cảnh thời tiết chuyển sang mùa hanh khô. Thiệt hại về rừng: Trong tháng xảy ra 4 vụ phá rừng với diện tích 1,78 ha. Tính từ đầu năm đến 21/11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 40 vụ phá rừng (giảm 11 vụ), diện tích rừng bị phá là 10,68 ha (giảm 3,27 ha) so với cùng kỳ. Các vụ vi phạm đã được lực lượng kiểm lâm phát hiện, xử lý kịp thời. 1.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản trong tháng và 11 tháng vẫn tăng trưởng khá và duy trì khá ổn định mặc dù sản lượng nuôi trồng có giảm nhẹ so với tháng trước nhưng bù lại hoạt động khai thác lại tăng mạnh và đạt sản lượng cao. Sản lượng khai thác tháng 11 ước đạt 3.047 tấn, bằng 110,52% (tăng 290 tấn) so với cùng kỳ năm trước[4]. Tính chung 11 tháng năm 2025, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 41.430 tấn, bằng 105,2% (tăng 2.049 tấn). Bước sang tháng 11, cường độ mưa bão giảm, biển ít động hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền vươn khơi. Nhờ thời tiết ít ảnh hưởng xấu, số ngày bám biển của ngư dân tăng, góp phần làm sản lượng khai thác biển tăng 290 tấn so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng tháng 11 ước đạt 1.016 tấn, giảm nhẹ 0,29% (tương đương 3 tấn) so với cùng kỳ. Tuy nhiên, xét về tổng thể 11 tháng, sản lượng nuôi trồng vẫn duy trì mức tăng trưởng với 16.949 tấn, tăng vượt 3,52% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng 11, dịch bệnh đốm trắng trên tôm thẻ chân trắng đã xuất hiện trên diện tích 0,6 ha. Tính lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng diện tích nhiễm bệnh là 6,95 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh trong tháng 11 năm 2025 tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhà máy sản xuất Pack Pin VinES đã nhanh chóng đi vào vận hành ổn định, bên cạnh đó, nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất. Mặc dù chịu một số ảnh hưởng từ sự cố tại nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II, ngành công nghiệp toàn tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng cao. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 11/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,33% so với tháng trước và tăng 24,65% so với cùng kỳ năm trước[5] nhờ hoạt động sản xuất bước vào giai đoạn cao điểm cuối năm, nhu cầu thị trường cải thiện và các doanh nghiệp đẩy mạnh hoàn tất đơn hàng. Ngành khai khoáng tăng nhẹ so với tháng trước do một số mỏ hoạt động trở lại sau ảnh hưởng của thiên tai, nhưng do một số mỏ cạn kiệt trữ lượng, khiến sản lượng khai thác suy giảm đáng kể so với cùng kỳ. Ngành chế biến chế tạo công suất sản xuất được mở rộng, nhu cầu xuất khẩu phục hồi và sự khởi sắc rõ rệt của các ngành kim loại, điện tử, dệt may và thực phẩm; đáng chú ý là các đơn hàng thép phục vụ nhu cầu cuối năm cùng sự hồi phục của sản xuất dăm gỗ sau khó khăn từ năm 2024 đã góp phần quan trọng vào mức tăng chung. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng do nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất cải thiện, tuy nhiên do mức nền năm trước cao và cơ cấu nguồn điện chuyển dịch mạnh sang thủy điện, khiến sản lượng từ nhiệt điện than giảm. Tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 6,64% so với cùng kỳ năm 2024. Ngành công nghiệp khai khoáng đóng góp 0,03 điểm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 4,09 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện đóng góp 2,39 điểm và ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải đóng góp 0,13 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. 2.2. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong 11 tháng năm 2025, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục cho thấy xu hướng phục hồi rõ rệt và duy trì mức tăng trưởng tích cực. Trong số 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu được theo dõi, có 15 nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ắc quy bằng ion lithi đạt gấp 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 32,04%; gạch xây dựng bằng đất nung tăng 48,41%; điện sản xuất tăng 14,71%...Diễn biến này phản ánh nỗ lực duy trì sản xuất, mở rộng quy mô và thích ứng linh hoạt của các doanh nghiệp trước những biến động của thị trường. Đồng thời, cơ cấu sản xuất công nghiệp của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng ổn định và bền vững hơn. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng năm 2025 giảm so với năm trước: Như thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 6,93%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 32,32%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 34,15%... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2025 tăng 2,26% so với tháng trước và tăng 36,17% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tình hình sử dụng lao động tại Hà Tĩnh có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phục hồi và chuyển dịch trong cơ cấu lao động của tỉnh. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Cộng dồn đến cuối tháng 11 năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 14,92% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 6,9% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,79%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,55% so với cùng kỳ năm 2024. 3. Đầu tư và xây dựng Bước vào những tháng cuối năm, áp lực hoàn thành kế hoạch ngày càng lớn khi thời gian còn lại không nhiều, trong khi mùa mưa bão tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ các công trình, dự án. Trước tình hình này, UBND tỉnh đã có chỉ đạo khẩn trương: các sở, ngành và chủ đầu tư phải tập trung tháo gỡ khó khăn về giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh thi công, và chủ động nguồn vật liệu xây dựng để bảo đảm chất lượng, ổn định giá. Các đơn vị cần rà soát, ưu tiên vốn cho các dự án có khả năng hoàn thành trong năm, phấn đấu giải ngân đạt 100% kế hoạch được giao trước hết năm 2025. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2025 đạt 1.439,089 tỷ đồng, tăng 13,65% so với tháng trước, tăng 32,15% so với cùng kỳ năm trước[6]. Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng, thời tiết nhìn chung thuận lợi hơn, các chủ đầu tư tranh thủ mọi nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình để đảm bảo về đích đúng thời hạn, mặt khác kế hoạch vốn vừa được bổ sung hơn 600 tỷ đồng nên nguồn vốn thực hiện tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai, giải ngân các dự án; bám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo giải ngân toàn bộ số vốn được giao. Các sở, ngành tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm theo chỉ đạo của Chính phủ. Một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; Phát triển tổng hợp các đô thị động lực - Tiểu dự án đô thị Kỳ Anh (vay vốn WB); Dự án Đường từ Quốc lộ 12C đi khu liên hợp gang thép Formosa, tỉnh Hà Tĩnh; Đường vành đai phía Đông thành phố Hà Tĩnh. Tính chung 11 tháng năm 2025, tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 8.079,32 tỷ đồng, tăng 33,12% so với cùng kỳ năm trước[7]. Hiện nay các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai, giải ngân các dự án; bám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo giải ngân toàn bộ số vốn được giao; Các sở, ngành, đơn vị liên quan tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2025 theo chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh, phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công nguồn ngân sách Nhà nước năm 2025 đạt 100% kế hoạch vốn được cấp có thẩm quyền giao. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng tăng dần vào thời điểm cuối năm, cùng với sự chủ động của các cơ quan quản lý trong việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu và chuẩn bị cho mùa mua sắm cao điểm. Thị trường hàng hóa nhìn chung ổn định, nguồn cung được đảm bảo, các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh tích cực mở rộng quảng bá sản phẩm và triển khai các chương trình kích cầu. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 6.781,62 tỷ đồng, tăng 3,7% so với tháng trước, tăng 6,74% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng chủ yếu biến động tăng so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ chứng tỏ sức mua vẫn tăng mạnh mẽ và niềm tin vào nền kinh tế vẫn duy trì. Đặc biệt các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng doanh thu cao vẫn đạt mức tăng trưởng khá như nhóm lương thực, thực phẩm chiếm 46,84% doanh thu, tăng 13,88% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, vật phẩm, văn hóa, giáo dục; đá quý, kim loại quý cũng tăng trưởng mạnh trong tháng điều này cho thấy người dân đang đầu tư nhiều hơn vào chất lượng cuộc sống. Tính chung 11 tháng năm 2025 doanh thu bán lẻ ước đạt 71.196,84 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước. Việc thị trường hàng hóa ngày càng đa dạng, hệ thống phân phối được mở rộng và hiện đại hóa, từ chợ truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại đến các kênh thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn và nâng cao tính cạnh tranh của thị trường. Một số nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng ghi nhận mức tăng khá, góp phần giữ ổn định thị trường tiêu dùng trong bối cảnh giá cả thế giới có nhiều biến động. Đặc biệt, chuyển đổi số thông qua thương mại điện tử, livestream bán hàng, thanh toán không tiền mặt và khai thác dữ liệu tiêu dùng là yếu tố then chốt giúp tăng cường kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, mở rộng thị trường và cải thiện hiệu quả kinh doanh. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 11/2025 ước đạt 885,73 tỷ đồng, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 15,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng doanh thu hoạt động lưu trú, lữ hành gặp nhiều khó khăn do yếu tố mùa vụ, khi địa phương bước sâu vào thời kỳ mưa lũ, thời tiết diễn biến phức tạp với mưa lớn kéo dài, khiến nhu cầu đi lại, tham quan và du lịch của du khách bị hạn chế đáng kể. Điều kiện thời tiết bất lợi cũng làm giảm lượng khách nội địa đi nghỉ dưỡng cuối tuần – nhóm khách thường duy trì ổn định vào các tháng trước Mặc dù vậy, hoạt động ăn uống chiếm tỷ trọng doanh thu cao và vẫn duy trì ổn định. Trái ngược với lĩnh vực lưu trú và lữ hành, dịch vụ ăn uống ghi nhận doanh thu tăng nhẹ so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 865,45 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước, tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú ước đạt 16,51 tỷ đồng, giảm 18,12% so với tháng trước, tăng 6,07% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành chỉ đạt trên 3,77 tỷ đồng, giảm 2,31% so với tháng trước và tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 9.011,31 tỷ đồng, tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm 94,92% tổng doanh thu) tăng 13,27% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động ăn uống vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định, dịch vụ giao đồ ăn vẫn tiếp tục phát huy vai trò là kênh hỗ trợ hiệu quả cho các cơ sở kinh doanh trong những ngày thời tiết không thuận lợi Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2025 ước đạt 464,92 tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 18,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, bước vào mùa cưới hỏi cũng như các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công trước mùa mưa và cận cuối năm nên nhu cầu các dịch vụ cho thuê đồ dùng gia đình, máy móc sử dụng thiết bị phục vụ thi công, xây dựng, sản xuất tiếp tục tăng. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu ước đạt 4.794,75 tỷ đồng, tăng 15,67% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành dịch vụ tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, mặc dù tốc độ tăng không bằng tháng 10 do tâm lý thận trọng trước cuối năm cùng một số yếu tố mang tính mùa vụ. Ngành bất động sản, y tế, giáo dục và các dịch vụ cá nhân vẫn đóng vai trò là những động lực chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trên địa bàn tiếp tục đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Chất lượng phương tiện được nâng cao, số lượng ổn định, cùng với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và mở rộng mạng lưới tuyến đường, đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu đi lại, vận chuyển và tiêu dùng duy trì ổn định và có xu hướng tăng. Đặc biệt, sự phục hồi của sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu và thương mại điện tử là động lực chính thúc đẩy ngành vận tải và dịch vụ kho bãi. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 11/2025 doanh thu ước đạt 785,1 tỷ đồng, tăng 0,59% so tháng trước và tăng 14,64% so cùng kỳ năm trước[8]. Trong tháng thời tiết khá thuận lợi, nhu cầu đi lại người dân bằng phương tiện công cộng tăng, bên cạnh đó là tháng cuối năm thời điểm hoàn thiện các công trình xây dựng. Vận tải hàng hoá vẫn là nhóm ngành có doanh thu lớn và tăng tăng trưởng khá ổn định. Tính chung 11 tháng năm 2025, doanh thu vận tải dự tính đạt 8.870,59 tỷ đồng, tăng 14,25% so với cùng kỳ năm trước[9], với số lượng vận chuyển hành khách đạt hơn 15,5 triệu người và khối lượng vận chuyển ước đạt gần 57,6 triệu tấn, tăng 19,27%. Nhìn chung điều kiện kinh tế của người dân đang cải thiện rõ rệt, nhu cầu tham quan đi lại, sử dụng các dịch vụ vui chơi giải trí ngày càng cao. Các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, công trình xây dựng trong dân cư tăng thúc đẩy hoạt động vận tải hàng hoá, xu hướng tiêu dùng của người dân chuyển từ mua sắm truyền thống qua mua sắm online thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động ngành bưu chính, chuyển phát đa dạng hoá có tính cạnh tranh cao để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mười một tháng năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt hơn 4,3 tỷ USD, giảm 23,29% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính là do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) gặp khó khăn trong xuất khẩu thép và phôi thép do các chính sách bảo hộ thương mại quốc tế, dẫn đến giảm sản lượng và nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu. Trị giá xuất khẩu tháng 11/2025 ước đạt 151,80 triệu USD, tăng 32,46% so với tháng trước và so với cùng kỳ tăng 31,92%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi của thị trường quốc tế và các doanh nghiệp đẩy mạnh giao hàng vào những tháng cuối năm. Tính chung 11 tháng năm 2025, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.760,54 triệu USD, giảm 19,82% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ tính riêng ngành xuất khẩu thép, phôi thép đạt gần 1,2 tỷ USD (chiếm 67,47% tổng trị giá) giảm 35,19% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm xuất khẩu nằm ở sự tụt dốc của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh với trị giá xuất khẩu lũy kế giảm 35,55%. Bên cạnh những khó khăn từ ngành thép, vẫn có một số điểm sáng cần ghi nhận. Các mặt hàng như hàng dệt may và xơ, sợi dệt tiếp tục tăng trưởng mạnh (dệt may tăng 78,20% và xơ sợi dệt tăng 83,58% so với cùng kỳ). Trị giá nhập khẩu tháng 11/2025 ước đạt 260,9 triệu USD, tăng 24,01% so với tháng trước và tăng 36,64% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2025 trị giá nhập khẩu ước đạt 2.557,71 triệu USD, giảm 25,51%. Trong đó, trị giá nhập khẩu của Formosa ước đạt 1.793,82 triệu USD, chiếm 70,13% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, giảm 33,09% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, hoạt động xuất khẩu của Hà Tĩnh vẫn đối diện nhiều thách thức, với mục tiêu xuất khẩu đạt 2,2 tỷ USD, đến nay con số thực hiện mới chỉ đạt gần 80% kế hoạch đề ra. Những khó khăn chủ yếu đến từ biến động thị trường, đặc biệt là sự sụt giảm từ các đơn hàng ngành thép – mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Tuy nhiên, so với tình hình chung Hà Tĩnh vẫn cho thấy nền tảng tăng trưởng bền vững nhờ sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và vai trò đồng hành tích cực của chính quyền địa phương. Việc tỉnh chủ động tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường và tận dụng tốt FTA sẽ là “chìa khóa” để bứt phá trong giai đoạn cuối năm. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường tiêu dùng hàng hoá càng về cuối năm càng diễn ra sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng, chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận sự sôi động của thị trường hàng hóa, nổi bật nhất là Hội chợ Công thương với gần 200 gian hàng đã thu hút hàng chục ngàn lượt khách. Giá cả các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định, một số mặt hàng tăng nhẹ nhưng không tạo cú sốc lớn. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 11 năm 2025 tăng 0,44% so tháng trước, tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,61% so với tháng 12 năm trước. CPI trong tháng tăng so với tháng trước, chủ yếu do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng đến 1,12%, trong đó thực phẩm tăng mạnh 1,60%, thịt gia súc tiếp tục tăng theo đà tháng trước, giá thịt lợn dao động từ 125.000 đồng/kg đến 143.000 đồng/kg. Ngoài ra, do yếu tố thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến sinh trưởng các loại cây trồng khiến nguồn cung hạn chế nên giá các loại rau, củ, quả đang ở mức cao và vẫn trên đà tăng lên càng về cuối năm, vì vậy đạt ra yêu cầu đa dạng hoá nguồn cung, đảm bảo bình ổn giá thực phẩm nhất là thời điểm gần giáp Tết. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, trong tháng 11/2025 vẫn có các nhóm hàng giảm giá so với cả tháng trước và cùng kỳ, điển hình là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,50% so tháng trước và giảm đến 3,22% so với cùng kỳ, ảnh hưởng do giá điện sinh hoạt giảm 1,41% so với tháng trước do thời tiết lạnh nhu cầu sử dụng điện giảm; giá gas trong tháng giảm 2,20% so với tháng trước và giảm 10,10% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do giá gas thế giới theo hợp đồng (CP) giảm, cùng với nguồn cung LPG toàn cầu dồi dào nhờ sự gia tăng sản xuất từ các nhà máy lọc dầu và tách khí tự nhiên. Bình quân 11 tháng năm 2025 chỉ số CPI tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 3,93%, nông thôn tăng 2,91%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng vẫn đang được theo dõi và kiểm soát chặt chẽ. Dự báo sắp tới sẽ có các biện pháp từ các cơ quan chức năng nhằm điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường thời điểm giáp Tết. Thị trường vàng và Đô la Mỹ giá cả vẫn đang ở mức cao biến động mạnh theo xu hướng của giá vàng thế giới. Dự báo CPI tháng 12/2025 tiếp tục tăng do càng gần Tết Nguyên đán, cơ cấu và giá cả các mặt hàng dịch vụ tiêu dùng càng biến động mạnh, cùng với sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng vào các dịp cuối năm thường khiến giá các mặt hàng thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng tăng. Ngoài ra, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng tăng. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng, tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực để khắc phục hậu quả thiên tai và phát triển kinh tế. Các hoạt động nổi bật bao gồm việc phát động phong trào “Toàn dân ra quân làm thủy lợi”, hỗ trợ vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để phục hồi sản xuất, mở rộng chăn nuôi, trồng trọt, cùng với đó là trao tặng các mô hình sinh kế như gà giống, trâu bò giống cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Công tác cứu trợ cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các tổ chức trong cả nước. Cụ thể, Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã trao 525 triệu đồng, Bộ Công an hỗ trợ 5 tỷ đồng từ Quỹ Nghĩa tình đồng đội, và tỉnh Thanh Hóa hỗ trợ 4 tỷ đồng. Các nguồn lực này được sử dụng để khắc phục hậu quả bão lũ, sửa chữa nhà ở, trường học và các công trình dân sinh bị hư hại. Bên cạnh những nỗ lực khôi phục, người dân Hà Tĩnh còn tích cực tham gia Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong không khí vui tươi, phấn khởi. Đồng thời, tỉnh cũng tổ chức Hội chợ Công Thương Bắc Trung Bộ từ ngày 19 đến 24/11, thu hút hơn 146 doanh nghiệp, hợp tác xã và làng nghề tham gia, tạo cơ hội kết nối giao thương, quảng bá thương hiệu và mở rộng thị trường. 2. Giáo dục - đào tạo Công tác Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt. Điểm nhấn trong tháng là lễ khởi công hai trường Phổ thông nội trú liên cấp tại Hà Tĩnh với tổng vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng. Chủ trương xây dựng trường học vùng biên không chỉ góp phần phát triển hạ tầng mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với học sinh vùng khó. Bên cạnh đó, nhiều công trình an sinh khác cũng được khánh thành, như hai trường học tại Hương Khê do BIDV tài trợ với tổng trị giá 10,5 tỷ đồng. 3. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh trong tháng ghi nhận 4 ca mắc sốt xuất huyết, 40 ca mắc tay chân miệng các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do dịch bệnh. các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp... vẫn được theo dõi sát và không ghi nhận ổ dịch lớn. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nào, có 33 người bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc thực phẩm. Tính chung 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 23 người bị ngộ độc tập thể và có 624 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước có giảm 1 vụ ngộ độc tập thể (nhưng tăng 10 người bị ngộ độc), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 174 ca, các ca ngộ độc đều được phát hiện và điều trị kịp thời không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên. Trong tháng ghi nhận thêm 01 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca chết vì AIDS, so với tháng trước số người nhiễm mới không thay đổi nhưng giảm 6 ca tử vong do AIDS. Tính chung 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 14 ca nhiễm HIV mới và 6 ca tử vong do AIDS, giảm 13 ca nhiễm mới và số ca tử vong do AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa mang dấu ấn cộng đồng mạnh mẽ. Đặc biệt, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức tại nhiều khu dân cư với các tiết mục văn nghệ, trò chơi dân gian, hoạt động thể thao và trao quà cho hộ nghèo, góp phần thắt chặt tinh thần gắn bó cộng đồng. Ngoài ra, tỉnh còn có triển lãm ảnh nghệ thuật “Sắc màu cuộc sống” và nhiều chương trình giao lưu, biểu diễn, phóng sự văn hóa trên truyền hình địa phương, tạo nên không khí phấn khởi, đậm đà bản sắc trong đời sống tinh thần của nhân dân Hà Tĩnh. Về thể dục thể thao: Thể thao thành tích cao ghi dấu ấn với 17 huy chương quốc gia. Trong tháng 11, các vận động viên Hà Tĩnh liên tiếp tỏa sáng. Tại giải Vô địch Pencak Silat, đoàn giành 12 huy chương (4 HCV, 1 HCB, 7 HCĐ). Tiếp đó, tại giải Đua thuyền Sailing, các VĐV mang về 5 huy chương (1 HCV, 1 HCB, 3 HCĐ). Thành tích này là minh chứng cho sự phát triển vượt bậc của thể thao đỉnh cao tỉnh nhà. Phong trào thể thao quần chúng sôi nổi, thiết thực. Cùng thời gian, nhiều hoạt động ý nghĩa đã thu hút đông đảo người dân tham gia. Nổi bật là Giải Pickleball do Thanh tra tỉnh tổ chức, quy tụ 60 vận động viên là cán bộ, công chức toàn ngành. 5. Tình hình trật tự và an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn đã xảy ra 34 vụ tai nạn đường bộ, làm 19 người chết, 26 người bị thương, tăng 4 vụ, 02 người chết và 4 người bị thương so với tháng trước. Cũng trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào, giữ nguyên so với tháng trước. Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 99 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2025 trên địa bàn đã xảy ra 319 vụ tai nạn đường bộ, làm 217 người chết và 196 người bị thương; 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước gần 3,6 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn đường bộ giảm 54 vụ, tăng 07 người chết nhưng giảm 29 người bị thương; tai nạn đường sắt giảm 2 vụ và giảm 2 người chết, số người bị thương không thay đổi, giá trị thiệt hại tăng hơn 1,3 tỷ đồng. 6. Bảo vệ môi trường, thiên tai và phòng chống cháy, nổ Tình hình cháy, nổ: Trong tháng đã xảy ra 05 vụ cháy, giảm 04 vụ so với tháng trước, không làm thiệt hại về người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 73 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2025, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 75 vụ cháy, làm 3 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 1,7 tỷ đồng. Cũng trong tháng 11 và 11 tháng năm 2025 không xảy ra vụ nổ nào, không thay đổi so với năm trước. Vi phạm môi trường: Trong tháng toàn tỉnh phát hiện 35 vụ vi phạm môi trường, giảm 01 vụ (giảm 2,78%) so với tháng trước; tăng 30 vụ so với cùng kỳ năm trước; Số vụ vi phạm đã xử lý là 72 vụ, tăng 55 vụ so với tháng trước và tăng 67 vụ so với cùng kỳ với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là hơn 464 triệu đồng, giảm gần 328 triệu đồng so với tháng trước nhưng tăng gần 450 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ môi trường của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực trong năm nay. Việc ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mới cùng với phạm vi kiểm tra được mở rộng đã giúp phát hiện 326 vụ vi phạm (tăng 72 vụ). Bên cạnh đó, do một số vi phạm có tính chất nghiêm trọng, tỉnh đã áp dụng các mức phạt cao hơn (tổng số tiền xử phạt đạt 4,5 tỷ đồng, tăng hơn 2,8 tỷ đồng) nhằm bảo đảm tính răn đe và sự tuân thủ pháp luật. Tình hình thiên tai: Tình hình thiên tai trên địa bàn diễn biến hết sức phức tạp. Trong tháng vừa qua, một đợt mưa lớn đã gây ngập lụt tại nhiều xã, phường, với mực nước tại các hộ dân phổ biến từ 0,5 đến 2,0 mét. Hậu quả là một người tử vong do bị lũ cuốn khi di chuyển đàn gia súc; 01 ngôi nhà bị thiệt hại hoàn toàn và hơn 7,1 nghìn nhà khác bị ngập, trong đó 1.645 nhà chìm trong nước với độ sâu từ 1-3m. Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng: 28 điểm trường, 16 cơ sở y tế, 06 công trình văn hóa và 3 di tích lịch sử bị ngập hoặc hư hỏng; hơn 2.415m kênh mương và 300m bờ sông suối bị sạt lở. Về giao thông, Quốc lộ có 9 điểm sạt lở, trong khi đường địa phương có khoảng 30.500 m³ đất và 5.400 m³ vật liệu (đá, bê tông, nhựa) bị sạt trôi, nhiều tuyến đường bị chia cắt trong nhiều ngày. Sản xuất nông nghiệp và thủy sản thiệt hại nặng với 106 ha hoa màu, 30 ha cây trồng bị dập nát, gãy đổ; 130 tấn lương thực bị hư hỏng và 198,4 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 266,5 triệu đồng. Tính đến thời điểm hiện tại, địa bàn đã trực tiếp hứng chịu 03 cơn bão lớn là bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi), gây mưa lớn diện rộng, khiến 3 người chết và 62 người bị thương, với thiệt hại về tài sản ước tính lên tới 9.294 tỷ đồng. Ngoài ra, đã xảy ra 09 vụ mưa lớn, sét đánh và mưa đá, làm 01 người chết do mưa lũ, 06 người chết do sét đánh và 02 người mất tích trên biển, tổng giá trị thiệt hại gần 45 tỷ đồng.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.[1] Năm 2025, sản lượng lúa Đông Xuân đạt 363.115 tấn, tăng 0,06% (tăng 214 tấn); lúa Hè Thu đạt 125.195 tấn, bằng 53,31% (giảm 109.666 tấn); lúa Mùa ước tính đạt 83 tấn, bằng 22,16% (giảm 292 tấn)[2] Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước đạt 14.667 ha, tăng 1,97% (284 ha); năng suất ước đạt 51,69 tạ/ha, tăng 2,34% (1,18 tạ/ha); sản lượng ước đạt 75.807 tấn, tăng 4,36% (3.165 tấn).[3] Cây lạc: Diện tích 6.268ha, giảm 714 ha; Năng suất 27,73 tạ/ha, giảm 0,09 tạ/ha; Sản lượng 17.381 tấn, giảm 2.041 tấn. Rau các loại: Diện tích 13.948 ha, giảm 151ha; NS 73,62 tạ/ha (tăng 0,76 tạ/ha); SL 102.629 tấn, giảm 85 tấn. Cây đậu các loại: Diện tích 2.456 ha, giảm 17 ha; NS 9,4 tạ/ha, giảm 1,93 tạ/ha; SL 2.309 tấn, giảm 492 tấn so với cùng kỳ năm trước.[4] Trong đó, sản lượng khai thác biển ước đạt 2.620 tấn (tăng 11,3%), đưa sản lượng lũy kế đầu năm lên 37.139 tấn (tăng 5,76%); Khai thác nội địa ước đạt 427 tấn (tăng 5,96%) lũy kế 11 tháng đạt 4.291 tấn (tăng nhẹ 0,61%).[5] Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,38% so với tháng trước và giảm 24,18% so với cùng kỳ; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,61% so với tháng trước và tăng 39,68% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện tăng 9,73% so với tháng trước và giảm 26,31% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 12,84% so với cùng kỳ.[6] Tháng 11/2025: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.406,89 tỷ đồng, tăng 16,66% so với tháng trước và tăng 32,46% so với cùng kỳ; cấp xã 32,2 tỷ đồng, giảm 46,59% so với tháng trước, tăng 20,15% so với cùng kỳ.[7] 11 tháng 2025: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 7.602,84 tỷ đồng, tăng 33,05%; Cấp xã ước đạt 476,47 tỷ đồng, tăng 34,25% so với cùng kỳ năm trước[8] Tháng 11/2025: Doanh thu vận tải hành khách đạt 124,1 tỷ đồng, tăng 0,86% so tháng trước và tăng 6,41% so cùng kỳ; Vận tải hàng hóa đạt 473 tỷ đồng, tăng 0,07% so tháng trước và tăng 8,88% so cùng kỳ[9] 11 tháng 2025: Doanh thu vận tải hành khách đạt 1.523,27 tỷ đồng, tăng 13,73%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 5.485,98 tỷ đồng, tăng 13,19%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.783,41 tỷ đồng, tăng 17,24% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tỉnh Hà Tĩnh
  •   03/11/2025 15:36

Trong 10 tháng năm 2025, bộ máy chính quyền địa phương vận hành ổn định, hiệu lực và hiệu quả quản trị được nâng cao. Các dự án công nghiệp trọng điểm được duy trì đúng tiến độ, lĩnh vực du lịch - dịch vụ có nhiều khởi sắc nhờ các hoạt động quảng bá sôi nổi. Công tác giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược tiếp tục được đẩy mạnh. Bên cạnh những kết quả đạt được, địa bàn tỉnh phải đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là ảnh hưởng nặng nề từ 3 cơn bão đến sản xuất và đời sống nhân dân. Trong bối cảnh còn nhiều thách thức từ biến động giá cả và thời tiết bất thường, toàn bộ hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các chỉ tiêu đề ra, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2025 và tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp trong tháng 10/2025 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2025, cũng vào thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam đang bắt đầu thu hoạch chính vụ. Hoạt động chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch tả lợn Châu Phi tái bùng phát làm giảm quy mô đàn và ảnh hưởng đến sản lượng. Hoạt động lâm nghiệp tập trung chăm sóc, khôi phục rừng và thu mua diện tích bị đổ gãy do bão; thủy sản tiếp tục giữ đà tăng trưởng cả ở khai thác và nuôi trồng. 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1. Trồng trọt * Cây hàng năm Hiện nay, người dân đang tích cực triển khai kế hoạch sản xuất vụ Đông với mục tiêu phủ kín diện tích đất màu, đất vườn. Tuy nhiên, vụ Đông năm nay được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức về thời tiết, đặc biệt là mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại cuối vụ. Kết quả sản xuất vụ Mùa: Diễn ra trong điều kiện thời tiết nắng nóng nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy. Diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2025 đạt 877 ha, bằng 87,24% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giảm ở diện tích cây lúa. Hoạt động vụ Mùa hàng năm chủ yếu với mục đích sản xuất để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân nên kết quả thường đạt thấp. Cây lúa diện tích gieo trồng ước đạt 35,72 ha, bằng 21,58% (giảm 129,8 ha) so với cùng kỳ năm trước, hiện nay trên toàn tỉnh diện tích lúa Mùa chỉ còn gieo trồng ở xã Đan Hải. Cây lấy củ có chất bột diện tích ước tính đạt 246 ha, bằng 96,13% (giảm 10 ha) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại diện tích gieo trồng vụ Mùa ước tính đạt 240 ha, bằng 98,25% (giảm 4 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Đông 2025: Thời tiết vụ Đông năm nay dự báo chịu ảnh hưởng của mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại giai đoạn cuối vụ. Vì vậy, nhân dân cần chủ động, linh hoạt trong bố trí thời vụ và cơ cấu cây trồng để né tránh thiên tai, hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn, hiệu quả trong sản xuất. Về kế hoạch sản xuất năm nay, có mở rộng diện tích trồng hoa gần 30.000 m2 tại một số địa phương như: Xã Toàn Lưu 25.000 m2, xã Thạch Khê 2.500 m2, xã Thạch Hà 500 m2, xã Thạch Xuân 1.000 m2. Về tổ chức sản xuất, tỉnh nhà tập trung quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức sản xuất vụ Đông, đảm bảo phủ kín và mở rộng tối đa diện tích có thể sản xuất, với các đối tượng cây trồng phù hợp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa ở những vùng có điều kiện thoát nước tốt để mở rộng tối đa diện tích, tăng hệ số sử dụng đất. Trên cơ sở khung thời vụ và thời gian sinh trưởng các giống, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của từng địa phương, từng vùng và diễn biến thời tiết, bố trí thời vụ gieo trồng phù hợp, sản xuất an toàn, hiệu quả. * Cây lâu năm Trong năm, người dân tiếp tục tập trung đầu tư thâm canh trên diện tích cây lâu năm hiện có, đồng thời triển khai trồng mới và tái canh với quy mô hợp lý, gắn với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Công tác vệ sinh vườn, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là giai đoạn sau thu hoạch. Ngành chuyên môn tăng cường hướng dẫn nông dân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật từ khâu đào hố, bón phân, trồng đến chăm sóc sau trồng; đồng thời phổ biến các biện pháp kỹ thuật tiên tiến như tạo tán, tỉa cành, phòng trừ dịch hại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây. Bên cạnh đó, các địa phương chủ động triển khai phương án bảo vệ vườn cây trong mùa mưa lũ, tiêu úng kịp thời nhằm hạn chế thiệt hại, đảm bảo sản xuất ổn định. Từ đó các loại cây ăn quả chủ lực như cam, bưởi trong năm được cải thiện rõ rệt, sản lượng dự kiến tăng so với năm trước. Ngoài ra, các cây công nghiệp lâu năm như chè, cao su tiếp tục được chăm sóc, khai thác ổn định, mang lại nguồn thu nhập thường xuyên, góp phần nâng cao đời sống và thúc đẩy phát triển kinh tế cho người dân. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Trên cây rau: Sâu xanh, sâu khoang gây hại trên rau họ hoa thập tự trong vườn hộ và các vùng rau diện tích nhiễm 18 ha tập trung ở các địa phương như: Xã Đông Kinh, phường Thành Sen, xã Cẩm Xuyên, xã Việt Xuyên, phường Trần Phú; bệnh do nấm gây hại trên cây như cà chua, cây dưa chuột. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên trà ngô 3-7 lá, mật độ trung bình 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 17 ha ở các xã như: Đức Thọ, Đức Thịnh, Hà Linh, Hương Khê, Sơn Giang, Sơn Tiến. Trên các loại cây lâu năm: Bệnh nứt thân xì mủ, bệnh loét, ruồi đục quả phát sinh gây hại trên các vườn cây ăn quả diện tích nhiễm 52 ha như ở: Xã Sơn Tây, Sơn Giang, Sơn Tiến, Vũ Quang, Hương Khê, Hương Trạch, Mai Hoa, Toàn Lưu. 1.1.2. Chăn nuôi Kết quả sản xuất chăn nuôi: Đàn trâu hiện có 57.602 con, bằng 86,15%; đàn bò hiện có 150.936 con, bằng 91,72%; đàn lợn hiện có 332.380 con, bằng 94,34% (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ); đàn gia cầm hiện có 10.380.000 con, bằng 100,92%, trong đó đàn gà hiện có 8.602.000 con, bằng 100,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng do ảnh hưởng của dịch bệnh trên gia súc diễn biến phức tạp, hoạt động tái đàn và mở rộng quy mô chăn nuôi của người dân gặp nhiều khó khăn. Nhiều hộ phải tạm dừng việc nhập con giống mới để tập trung khoanh vùng, xử lý ổ dịch và giảm thiểu thiệt hại. Giá lợn hơi dù vẫn ở mức tương đối cao, song tâm lý e ngại dịch bệnh khiến người chăn nuôi thận trọng, chưa đầu tư tăng đàn. Trong bối cảnh đó, ngành chuyên môn khuyến cáo người dân tăng cường công tác phòng chống dịch, thực hiện nghiêm các biện pháp vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, tiêm phòng vắc-xin đầy đủ, theo dõi sát tình hình sức khỏe vật nuôi và báo ngay cho cơ quan thú y khi phát hiện dấu hiệu bất thường. Đồng thời, khuyến khích các địa phương rà soát, hỗ trợ tiêu hủy, xử lý môi trường đúng quy định, không để dịch lây lan sang các khu vực lân cận, nhằm ổn định lại sản xuất và bảo vệ nguồn cung thực phẩm trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc trên địa bàn tỉnh diễn biến tương đối phức tạp, xuất hiện tại nhiều địa phương. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết thay đổi thất thường, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh tồn tại và phát tán; công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại một số cơ sở chăn nuôi còn hạn chế; một số hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, chưa thực hiện nghiêm quy trình an toàn sinh học. Ngành chuyên môn đã chỉ đạo các địa phương tăng cường giám sát dịch bệnh, tổ chức tiêm phòng, tiêu độc khử trùng định kỳ, hướng dẫn người dân áp dụng biện pháp phòng bệnh chủ động, không giấu dịch, không vứt xác động vật ra môi trường, đồng thời thực hiện nghiêm quy trình xử lý ổ dịch theo quy định, nhằm hạn chế lây lan và giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi. Tình hình dịch bệnh trong tháng 10/2025 như sau: Dịch tả lợn Châu Phi: Xảy ra tại 49 xã làm cho 11.345 con lợn mắc bệnh, chết buộc tiêu hủy với khối lượng 857.748 kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2025 xảy ra tại 63 xã làm cho 31.124 con lợn mắc bệnh chết buộc tiêu hủy. Lở mồm long móng: Xảy ra tại 02 xã (Kỳ Lạc, Kỳ Văn) làm 28 con bò mắc bệnh, buộc tiêu hủy với khối lượng 110 kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2025 xảy ra tại 04 xã làm 44 con bò mắc bệnh, trong đó làm 02 con bò chết buộc tiêu huỷ. Viêm da nổi cục: Xảy ra tại 03 xã (Sơn Tiến, Cẩm Xuyên, Cẩm Hưng) làm 3 con bò mắc bệnh, chết, buộc tiêu hủy với khối lượng 320kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2025 xảy ra tại 20 xã làm 91 con bò mắc bệnh, trong đó có 27 con bị chết. Công tác tiêm phòng: Hiện nay các địa phương đang triển khai công tác tiêm phòng đợt 2 năm 2025 theo Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh. Kết quả tiêm phòng đợt 2 (tính đến ngày 22/10/2025): Đàn trâu bò tiêm phòng các vắc xin đạt trên 63% kế hoạch (vắc xin Lở mồm long móng đạt 68% kế hoạch). Đàn lợn tiêm phòng các vắc xin đạt trên 48% kế hoạch (vắc xin Dịch tả đạt 48% kế hoạch). Đàn gia cầm tiêm phòng vắc xin Cúm gia cầm tiêm đạt 25% kế hoạch. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Kết quả sản xuất lâm nghiệp: Tháng 10/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.248 ha, bằng 104,61%, tăng 99 ha so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 12,92 nghìn cây, bằng 6,66% giảm 181,08 nghìn cây; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 136.792 m3, bằng 178,97% (tăng 60.358 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh do diện tích đến kỳ khai thác nhiều hơn, năng suất rừng trồng được cải thiện và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5 và số 10 đã làm nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân khai thác sớm, việc khai thác tăng cũng kéo theo việc trồng lại cây được đẩy lên sớm hơn. Về cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và quỹ đất trồng cây phân tán trên các tuyến đường, hội quán, nhà văn hóa đã được trồng từ những năm trước đây nên lượng cây trồng phân tán có xu hướng giảm. Tính chung 10 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 7.292 ha, bằng 102,55%, tăng 181 ha so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán ước đạt 1.586 nghìn cây, bằng 70,85% giảm gần 653 nghìn cây so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 606.062 m3 bằng 123,66%, tăng 115.946 m3 so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về rừng: Nhìn chung, hoạt động lâm nghiệp 10 tháng năm 2025 vẫn đảm bảo duy trì khá ổn định, trong tháng không phát sinh thiệt hại về rừng. 1.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản trong tháng 10/2025 tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm so với tháng trước, sản lượng chỉ đạt khoảng hơn 50% so với tháng trước. Nguyên nhân do thời tiết chuyển sang mùa mưa bão, biển thường xuyên động mạnh khiến tàu thuyền hạn chế ra khơi khai thác, đồng thời nguồn lợi hải sản tự nhiên giảm hơn so với tháng trước. Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 10/2025 ước đạt 4.436 tấn, bằng 102,21% (tăng 96 tấn). Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 3.282 tấn, bằng 102,82% (tăng 90 tấn) so với năm trước, chỉ tính riêng khai thác biển ước đạt 2.821 tấn, bằng 103,18% (tăng 87 tấn); Sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.154 tấn, bằng 100,52% (tăng 6 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sau các cơn bão cuối năm 2025, hoạt động khai thác hải sản trên các ngư trường đã trở lại bình thường. Ngư dân tích cực ra khơi, sản lượng khai thác tăng so với thời điểm trước bão. Đối với nuôi trồng thủy sản, người dân đã thu hoạch xong vụ Xuân Hè và hiện nay đang tiến hành thả nuôi vụ mới phục vụ Tết Nguyên Đán sắp tới. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 54.316 tấn, bằng 104,50% (tăng 2.338 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 38.383 tấn, bằng 104,80% (tăng 1.759 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 15.933 tấn, bằng 103,77% (tăng 579 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động thuỷ sản vẫn đang mang lại nhiều tín hiệu tích cực trong nhóm ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản, giá trị thuỷ hải sản đang ngày được nâng cao cả về chất lượng cũng như giá trị kinh tế, cho thấy hướng đi đúng đắn trong phát triển ngành thuỷ sản trên địa bàn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng 10/2025 dịch đốm trắng trên tôm thẻ chân trắng với diện tích 1,1 ha của 01 hộ ở phường Trần Phú. Lũy kế từ đầu năm đến nay, diện tích bệnh đốm trắng bị nhiễm là 6,35 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh trong tháng 10 năm 2025 tiếp tục phát huy hiệu quả các lợi thế tăng trưởng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt, sau khi hoàn thành việc nâng công suất, nhà máy sản xuất Pack Pin VinES đã nhanh chóng đi vào vận hành ổn định với sản lượng tăng mạnh, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, nhà máy ô tô VinFast tại Hà Tĩnh tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, lắp ráp theo đúng tiến độ, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, kế hoạch đã đề ra trong năm. Bên cạnh những thuận lợi, do ảnh hưởng của bão nên nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đã tạm ngừng sản xuất để khắc phục sự cố làm ảnh hưởng không nhỏ tới ngành công nghiệp Hà Tĩnh những tháng cuối năm. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 10/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành giảm 0,84% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước ước tăng 9,76%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 4,91% so với tháng trước và giảm 24,97% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 11,26% so với tháng trước và tăng 16,98% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 43,06% so với tháng trước và giảm 19,07% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước giảm 12,8% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,16%. So với tháng trước, nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số toàn ngành giảm là do nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II ngừng sản xuất khắc phục sự cố sau bão. Bên cạnh đó, do thời tiết mưa nhiều, thủy điện tăng mạnh, vì vậy sản lượng nhiệt điện than từ nhà máy nhiệt điện I cũng giảm mạnh so với tháng 9/2025. Mặt khác, các nhóm ngành như dăm gỗ, thép không gỉ đang chật vật trong việc tiêu thụ sản phẩm, các đơn hàng cũ giảm sút rõ rệt, trong khi thị trường mới chưa mở rộng kịp thời. Ngành sản xuất kim loại tiếp tục giảm, đặc biệt là thép không gỉ. Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,19% đóng góp 0,1 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,35% đóng góp 1,11 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,73% đóng góp 3,07 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,61% đóng góp 0,1 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn ghi nhận những dấu hiệu tích cực làm tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh như: (1) Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng khác tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, nhờ tiếp nối đà tăng trưởng mạnh từ cuối năm 2024, cùng với mức tăng cao trong các tháng đầu năm 2025. (2) Nhà máy sản xuất Pack pin đã hoàn thành việc nâng công suất dây chuyển sản xuất số 1, đi vào sản xuất trong tháng 8/2025. Đồng thời, nhà máy ô tô điện VinFast bắt đầu sản xuất - kinh doanh, kéo theo nhu cầu lớn về pin và thiết bị điện, từ tháng 9, bên cạnh sản phẩm VF6, VF7, nhà máy bắt đầu sản xuất Pack Pin VF3 và các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu thị trường ô tô điện. Dự kiến đến hết tháng 10/2025, sản lượng Pack pin đạt hơn 34.000 sản phẩm, gấp hơn 7,5 lần cùng kỳ năm trước; Cell pin đạt trên 15,5 triệu đơn vị. Chỉ số sản xuất toàn ngành duy trì ở mức cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng công nghiệp địa phương; (3) Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đưa vào vận hành một số tổ máy mới (tổ máy số 1) và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I duy trì hoạt động ổn định trong nhiều tháng đầu năm. Nhờ đó, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tính chung 10 tháng đầu năm tăng 18,73% so với cùng kỳ năm trước, trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của công nghiệp tỉnh nhà. 2.2. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong 10 tháng năm 2025, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục cho thấy xu hướng phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong số 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu được theo dõi, có 12 nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ắc quy bằng ion lithi đạt gấp 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 31,4%; đá xây dựng khác tăng 10,03%; sợi tăng 15,87%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2025 giảm so với năm trước: Như quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 29,9%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 10,88%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,84%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 32,8%. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2025 tăng 2,32% so với tháng trước và tăng 35,0% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tình hình sử dụng lao động tại Hà Tĩnh có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phục hồi và chuyển dịch trong cơ cấu lao động của tỉnh. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Cộng dồn đến cuối tháng 10 năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 13,05% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 6,08% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,86% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,58%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,61% so với cùng kỳ năm 2024. 3. Đầu tư và xây dựng Trong thời gian qua, công tác giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền tỉnh Hà Tĩnh. UBND tỉnh đã xác định đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công với quyết tâm chính trị cao hơn nữa; coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2025. Cùng với đó, năm nay UBND tỉnh Hà Tĩnh đã bổ sung hơn 2.000 tỷ đồng vào kế hoạch vốn (theo Quyết định 917/QĐ-UBND ngày 29/4/2025), triển khai sớm hơn gần hai tháng so với năm trước, tạo dư địa giải ngân. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2025 đạt 1.078,38 tỷ đồng, tăng 3,11% so với tháng trước, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.017,49 tỷ đồng, tăng 3,73% so với tháng trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 60,89 tỷ đồng, giảm 6,28% so với tháng trước và tăng 66,26% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng với khối lượng thực hiện được duy trì ở mức cao so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai, giải ngân các dự án; bám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đảm bảo giải ngân toàn bộ số vốn được giao. Các sở, ngành tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm theo chỉ đạo của Chính phủ. Một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; phát triển tổng hợp các đô thị động lực - Tiểu dự án đô thị Kỳ Anh; dự án Đường từ Quốc lộ 12C đi khu liên hợp gang thép Formosa, tỉnh Hà Tĩnh; đường vành đai phía Đông thành phố Hà Tĩnh. Tính chung 10 tháng năm 2025, tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.452,33 tỷ đồng, tăng 29,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.007,46 tỷ đồng, tăng 29,13% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 444,88 tỷ đồng, tăng 35,58% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư công cho thấy sự cải thiện tích cực về tốc độ giải ngân, đặc biệt tác động hiệu quả của Quyết định 917/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Là một trong những địa phương có tỷ lệ giải ngân cao trong cả nước, Hà Tĩnh đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác điều hành, huy động hệ thống chính trị vào cuộc, cũng như xử lý linh hoạt các vướng mắc phát sinh. Tỉnh cũng yêu cầu các ban quản lý, chủ đầu tư cam kết tiến độ giải ngân theo từng tháng, quý và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh. Chủ động điều chỉnh phương án quản lý đầu tư công trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm không bị gián đoạn trong quản lý dự án. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Lĩnh vực thương mại và dịch vụ nội địa tại tỉnh Hà Tĩnh ghi nhận những tín hiệu ổn định và có đà tăng trưởng tốt. Hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra sôi động và tăng trưởng khá (tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2025 ước đạt hơn 77 nghìn tỷ, tăng 12,62% so với cùng kỳ) từ thương mại bán lẻ đến du lịch, logistics và bất động sản phản ánh hiệu quả từ chiến lược tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2025 ước đạt 6.648,81 tỷ đồng, tăng 1,95% so với tháng trước, tăng 11,11% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng chủ yếu biến động tăng so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ chứng tỏ sức mua vẫn tăng mạnh mẽ và niềm tin vào nền kinh tế vẫn duy trì. Đặc biệt các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng doanh thu cao vẫn đạt mức tăng trưởng khá như nhóm lương thực, thực phẩm chiếm 47,73% doanh thu tăng 15,48% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, vật phẩm, văn hóa, giáo dục; đá quý, kim loại quý cũng tăng trưởng mạnh trong tháng điều này cho thấy người dân đang đầu tư nhiều hơn vào chất lượng cuộc sống. Tính chung 10 tháng năm 2025 doanh thu bán lẻ ước đạt 64.524,52 tỷ đồng, tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước. Việc thị trường hàng hóa ngày càng đa dạng, hệ thống phân phối được mở rộng và hiện đại hóa, từ chợ truyền thống, siêu thị, trung tâm thương mại đến các kênh thương mại điện tử, giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn và nâng cao tính cạnh tranh của thị trường. Một số nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng ghi nhận mức tăng khá, góp phần giữ ổn định thị trường tiêu dùng trong bối cảnh giá cả thế giới có nhiều biến động. Tuy vậy, thị trường bán lẻ vẫn chịu tác động từ yếu tố giá năng lượng, vàng và thời tiết mùa vụ, ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển, lưu thông hàng hóa và hành vi tiêu dùng. Dự báo càng về cuối năm thị trường bán lẻ càng sôi động, vì vậy trong thời gian tới, các ngành chức năng cần tăng cường công tác dự báo, bình ổn giá, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và chuyển đổi số trong lĩnh vực bán lẻ, qua đó duy trì đà tăng trưởng, mở rộng thị trường tiêu thụ và phát triển thương mại theo hướng bền vững, hiện đại. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 10/2025 ước đạt 880,81 tỷ đồng, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 12,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng doanh thu hoạt động lưu trú, lữ hành gặp nhiều khó khăn do bước vào mùa mưa, thời tiết thường xuyên có mưa lớn kéo dài, ảnh hưởng của các cơn bão khiến nhiều khu vực ven biển như Thiên Cầm, Xuân Hải sau bão vẫn chưa khôi phục hoàn toàn hạ tầng, khiến công suất khai thác phòng lưu trú giảm đáng kể. Mặc dù vậy, hoạt động ăn uống chiếm tỷ trọng doanh thu cao và vẫn duy trì ổn định, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình ngày càng tăng. Như doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 855,61 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước, tăng 12,61% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú ước đạt 21,68 tỷ đồng, giảm 29,88% so với tháng trước, tăng 8,88% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành chỉ đạt trên 3,5 tỷ đồng, giảm 9,19% so với tháng trước và tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 8.140,15 tỷ đồng, tăng 14,22% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm 95,50% tổng doanh thu) tăng 13,17% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động ăn uống vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định chứng tỏ đời sống người dân đang dần cải thiện. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên khi mùa du lịch cao điểm đã qua thì 2 nhóm ngành này dự ước sắp tới sẽ tiếp tục giảm doanh thu vì vậy cần có các hướng đi mới về du lịch trải nghiệm giải trí. Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2025 ước đạt 460,03 tỷ đồng, tăng 2,91% so với tháng trước và tăng 19,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, bước vào mùa cưới hỏi cũng như các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công trước mùa mưa và cận cuối năm nên nhu cầu các dịch vụ cho thuê đồ dùng gia đình, máy móc sử dụng thiết bị phục vụ thi công, xây dựng, sản xuất tiếp tục tăng cao. Bên cạnh đó, hoạt động khắc phục hậu quả sau bão, đặc biệt là các dịch vụ vệ sinh công nghiệp, thuê thiết bị, bảo trì hệ thống khiến nhóm ngành hành chính và dịch vụ hỗ trợ cũng tăng đáng kể. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu ước đạt 4.338,05 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Điểm sáng của khu vực dịch vụ khác nằm ở các nhóm ngành có xu hướng phục hồi và tăng trưởng dịch vụ cá nhân như làm đẹp, spa, chăm sóc sức khỏe, cùng với bất động sản, giáo dục, y tế và dịch vụ hành chính hỗ trợ. Những ngành này không chỉ duy trì được mức tăng trưởng ổn định mà còn phản ánh sự chuyển dịch nhu cầu tiêu dùng theo hướng thiết thực và đa dạng hơn. Đây là tín hiệu tích cực, tạo nền tảng để các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ tiếp tục ổn định trong các tháng cuối năm. 4.2. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi 10 tháng năm 2025 ước đạt 8.177,35 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu đi lại, vận chuyển và tiêu dùng vẫn khá ổn định và trên đà gia tăng. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu diễn biến tích cực đã thúc đẩy nhu cầu vận tải hàng hóa và dịch vụ kho bãi. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử cũng góp phần làm tăng doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 10/2025 doanh thu ước đạt 872,36 tỷ đồng, tăng 0,66% so tháng trước và tăng 23,02% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 144,71 tỷ đồng, tăng 0,75% so tháng trước và tăng 27,77% so cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 538,64 tỷ đồng, tăng 0,44% so tháng trước và tăng 19% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 180,52 tỷ đồng, tăng 1,24% so tháng trước và tăng 31,13% so cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính chuyển phát ước đạt 8,50 tỷ đồng, tăng 0,97% so với tháng trước và tăng 52,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2025, doanh thu vận tải dự tính đạt 8.177,35 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 1.420,83 tỷ đồng, tăng 16,20% với số lượng vận chuyển đạt 14.260,17 nghìn hành khách, tăng 16,45% và luân chuyển đạt 2.582,58 triệu hành khách.km, tăng 13,61%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 5.078,98 tỷ đồng, tăng 15,11% với khối lượng vận chuyển ước đạt 53.446,86 nghìn tấn, tăng 22,30% và luân chuyển ước đạt 1.721,72 triệu tấn.km, tăng 22,99%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.605,49 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mười tháng năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 3.671,62 triệu USD, giảm 26,24% so với cùng kỳ năm trước (trị giá nhập khẩu giảm 26,07% và trị giá xuất khẩu giảm 26,53%. Nguyên nhân chính là do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) gặp khó khăn trong xuất khẩu thép và phôi thép do các chính sách bảo hộ thương mại quốc tế, dẫn đến giảm sản lượng và nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu. Trị giá xuất khẩu tháng 10/2025 ước đạt 150,55 triệu USD, tăng 9,99% so với tháng trước và so với cùng kỳ giảm 11,19%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi nhẹ của xuất khẩu, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, quy mô còn thu hẹp đáng kể. Điều này phản ánh bối cảnh thị trường xuất khẩu còn nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu dùng toàn cầu chưa phục hồi hoàn toàn, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn đối mặt với áp lực về đơn hàng, chi phí sản xuất và cạnh tranh quốc tế. Tính chung 10 tháng năm 2025, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.384,69 triệu USD, giảm 26,53% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 1.110,17 triệu USD (chiếm 80,17% tổng trị giá) giảm 33,5% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm xuất khẩu nằm ở sự tụt dốc của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh với trị giá xuất khẩu lũy kế giảm 33,8%. Bên cạnh những khó khăn từ ngành thép, vẫn có một số điểm sáng cần ghi nhận. Các mặt hàng như hàng dệt may và xơ, sợi dệt tiếp tục tăng trưởng mạnh (dệt may tăng 69,33% và xơ sợi dệt tăng 101,57% so với cùng kỳ). Trị giá nhập khẩu tháng 10/2025 ước đạt 214,74 triệu USD, tăng 2,68% so với tháng trước và giảm 7,41% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2025 trị giá nhập khẩu ước đạt 2.286,93 triệu USD, giảm 26,07%. Trong đó, trị giá nhập khẩu của Formosa ước đạt 1.638,42 triệu USD, chiếm 71,64% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, giảm 27,99% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD. Dù mới đạt 55,39% mục tiêu nhưng vẫn còn dư địa để tăng tốc trong những tháng còn lại. Với việc tận dụng ưu đãi từ 13 trong số 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký kết. Kim ngạch xuất khẩu từ các FTA này chiếm hơn 50% trị giá toàn tỉnh, hàng hóa của Hà Tĩnh đã có mặt tại hơn 20 quốc gia, trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, ASEAN,... Các hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP,… tiếp tục tạo điều kiện để doanh nghiệp địa phương mở rộng thị trường, giảm thuế và tăng tính cạnh tranh. Đồng hành cùng doanh nghiệp, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch 341/KH-UBND thực hiện Chỉ thị 13/CT-TTg về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Đồng thời cũng đang xây dựng chính sách phát triển logistics và xuất khẩu giai đoạn 2026-2030, nhằm hoàn thiện hạ tầng thương mại, giảm chi phí vận tải, hỗ trợ xúc tiến thị trường. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng giá lương thực, thực phẩm tiếp tục có xu hướng tăng do sự khan hiếm về nguồn cung, giá vàng tiếp tục biến động mạnh theo xu hướng của giá vàng thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh Hà Tĩnh trong tháng tăng nhẹ (0,15%) so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ tăng 0,74%. Bình quân mười tháng năm 2025 đang ở mức tăng 3,44% so với cùng kỳ. CPI tháng 10/2025 tăng 0,15% so với tháng trước, chủ yếu do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,7%, trong đó thực phẩm tăng mạnh 0,84%. Nguyên nhân chính là thịt gia súc tăng 1,37% so với tháng trước, thịt gia súc đảo chiều tăng so với tháng trước do dịch tả lợn Châu Phi đã giảm hơn nên người dân có xu hướng tiêu dùng mặt hàng thịt lợn nhiều hơn trước. Ngoài ra, thời tiết bắt đầu chuyển mùa nên nhu cầu mua sắm hàng may mặc và giảy dép phục vụ cho mùa lạnh tăng lên. Ở chiều ngược lại, trong tháng 10/2025 có một số giảm giá như giá điện sinh hoạt giảm 0,18% , do thời tiết mát mẻ và bắt đầu chuyển lạnh, nhu cầu sử dụng điện điều hòa giảm nên giá điện giảm. Giá gas, xăng dầu giảm do quy định điều chỉnh giá của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. Bình quân 10 tháng năm 2025 chỉ số CPI đã tăng ở mức 3,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 4,39%, khu vực nông thôn tăng 3,03%. Chủ yếu do giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống, điện sinh hoạt, dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI. Dự báo CPI tháng 11/2025 tiếp tục tăng do giá các loại lương thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn. Giá gạo cũng tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm giảm dần. Sang tháng có thể xuất hiện tình trạng không khí lạnh, rét đậm khiến các loại hàng may mặc, đồ dùng gia đình tăng cao. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng 10/2025, nhân dân Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng nặng nề của bão số 10, làm hàng chục nghìn ngôi nhà hư hỏng, nhiều diện tích hoa màu và thủy sản bị thiệt hại. Trước tình hình đó, Chính quyền các cấp đã thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình công tác tháng 10/2025 của UBND tỉnh, huy động lực lượng khẩn trương khắc phục hậu quả, hỗ trợ người dân ổn định nơi ở, khôi phục sản xuất và bảo đảm an sinh xã hội. Chính phủ đã ban hành Quyết định 2171/QĐ-TTg ngày 2/10/2025 hỗ trợ 500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương để khắc phục hậu quả thiên tai. Tỉnh đã phân bổ hơn 81,5 tỷ đồng từ Quỹ Cứu trợ tới các xã, phường bị thiệt hại nặng (mức hỗ trợ 250 triệu đến một tỷ đồng/xã tùy mức độ). Các tổ chức, doanh nghiệp và ngân hàng cũng đồng hành hỗ trợ, cụ thể Đoàn công tác tỉnh Hưng Yên 4 tỷ đồng; ngân hàng BIDV Hà Tĩnh 2,4 tỷ đồng. Cùng với đó, tỉnh cũng triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ sửa chữa nhà ở, khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định trường lớp, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng thiên tai. Các phong trào “Cả tỉnh chung tay vì đồng bào vùng lũ” và “Thi đua yêu nước” được hưởng ứng mạnh mẽ. Nhờ sự quan tâm của các cấp, sự đồng lòng của nhân dân và đông đảo các lực lượng công an, quân sự, thanh niên, phụ nữ tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, đời sống người dân đang từng bước được cải thiện, góp phần giữ vững ổn định xã hội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025. 2. Giáo dục - đào tạo Trong tháng 10/2025, ngành giáo dục tập trung khắc phục hậu quả sau bão số 10, khoảng hơn 400 trường học bị ảnh hưởng với tổng thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Các lực lượng chức năng, giáo viên, đoàn viên thanh niên và phụ huynh đã tích cực tham gia dọn dẹp, sửa chữa để sớm ổn định việc dạy và học. Bên cạnh đó, các trường tiếp tục đẩy mạnh giáo dục truyền thống, đặc biệt qua các hoạt động kỷ niệm 111 năm ngày sinh anh hùng Lý Tự Trọng (20/10/1914 - 20/10/2025), nhằm giáo dục lý tưởng và tinh thần yêu nước cho học sinh. Ngành giáo dục duy trì chuyển đổi số, đổi mới phương pháp giảng dạy và triển khai các chính sách hỗ trợ học sinh sau thiên tai, hướng tới bảo đảm an toàn, ổn định và nâng cao chất lượng giáo dục toàn tỉnh. 3. Hoạt động y tế Công tác y tế có nhiều chuyển biến tích cực, tập trung vào nâng cao chất lượng phục vụ và ứng dụng công nghệ. Đặc biệt trong tháng ngành y tế đã chủ động triển khai công tác vệ sinh môi trường, giám sát dịch tễ, cấp phát Cloramine B, Aquatabs xử lý nguồn nước, đảm bảo vệ sinh và sức khỏe nhân dân. Nhờ thực hiện tốt công tác xử lý môi trường và phòng chống dịch bệnh do đó trên địa bàn tỉnh không xuất hiện dịch bệnh sau bão lũ, một số ca bệnh truyền nhiễm được bao vây xử lý kịp thời. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng ghi nhận 16 ca mắc sốt xuất huyết, tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 66 ca mắc sốt xuất huyết. Ngoài ra các bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp được theo dõi sát, không ghi nhận ổ dịch lớn các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do dịch bệnh. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng 10/2025, xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 19 người bị ngộ độc; ngoài ra cũng phát sinh 40 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 23 người bị ngộ độc và xuất hiện 481 ca ngộ độc đơn lẻ, so với cùng kỳ năm trước có giảm 1 vụ ngộ độc tập thể (nhưng tăng 10 người bị ngộ độc tập thể), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 139 ca. Các ca ngộ độc đều được phát hiện và điều trị kịp thời không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên. Trong tháng 10/2025, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 1 trường hợp nhiễm HIV mới, không có ca chuyển sang AIDS nhưng có 6 trường hợp tử vong do AIDS. So với tháng trước, tăng 1 ca nhiễm HIV mới và tăng 6 ca tử vong do AIDS. Tính chung 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 13 ca nhiễm HIV mới và 6 ca tử vong do AIDS, giảm 13 ca nhiễm mới nhưng tăng 5 ca tử vong do AIDS so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Trong tháng 10/2025, hoạt động văn hóa - du lịch của tỉnh chủ yếu tập trung tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10), Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10) và 111 năm Ngày sinh Anh hùng liệt sĩ Lý Tự Trọng,... Nhiều chương trình sinh hoạt chính trị, văn nghệ, tuyên truyền được tổ chức nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc cho cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu niên. Về thể dục thể thao: Trong tháng diễn ra giải Pickleball Đại hội TDTT toàn tỉnh Hà Tĩnh lần thứ X năm 2025, thu hút 200 VĐV đến từ 39 đơn vị tham gia tranh tài ở 3 nội dung đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ. Đây cũng là hoạt động chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XX, đồng thời là dịp gặp gỡ, giao lưu giữa các đơn vị trong toàn tỉnh. Cũng trong tháng này diễn ra giải Đua thuyền Rowing vô địch châu Á năm 2025 diễn ra từ ngày 16/10 - 19/10 tại Thành phố Hải Phòng, tham gia giải các vận động viên Hà Tĩnh đã xuất sắc giành 3 HCV, 1 HCĐ, góp phần quan trọng vào thành tích chung của đội tuyển Việt Nam. 5. Tình hình trật tự và toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn đã xảy ra 29 vụ tai nạn đường bộ, làm 16 người chết, 22 người bị thương (tăng 4 vụ; tăng 1 người chết; tăng 6 người bị thương so với tháng trước); cũng trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính 55 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2025 trên địa bàn đã xảy ra 284 vụ tai nạn đường bộ, làm 197 người chết và 170 người bị thương; 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản dự ước 3.497 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn đường bộ giảm 63 vụ, tăng 04 người chết nhưng giảm 41 người bị thương; tai nạn đường sắt giảm 1 vụ và 1 người chết, số người bị thương không thay đổi, giá trị thiệt hại tăng 1.327 triệu đồng. 6. Bảo vệ môi trường, thiên tai và phòng chống cháy, nổTình hình cháy, nổ: Trong tháng đã xảy ra 9 vụ cháy (giữ nguyên so với tháng trước), làm 01 người bị thương; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 60 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2025 đã xảy ra 70 vụ cháy, làm 3 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.617,72 triệu đồng. Trong tháng 10/2025 và 10 tháng năm 2025 không xảy ra vụ nổ nào, không thay đổi so với năm trước.Vi phạm môi trường: Trong tháng 10/2025, trên địa bàn phát hiện 36 vụ vi phạm môi trường, giảm 24 vụ (giảm 40,0%) so với tháng trước; tăng 19 vụ (tăng 111,76%) so với cùng kỳ năm trước; Số vụ vi phạm đã xử lý là 17 vụ, giảm 27 vụ (giảm 61,36%) so với tháng trước và giảm 5 vụ (giảm 22,73%) so với cùng kỳ với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 792 triệu đồng, tăng 646,78 triệu đồng (tăng 445,35%) so với tháng trước và tăng 456 triệu đồng (tăng 135,72%) so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện 291 vụ, tăng 42 vụ (tăng 16,87%); đã xử lý 227 vụ, giảm 9 vụ (giảm 3,81%) với tổng số tiền xử phạt gần 4 tỷ đồng, tăng gần 2,4 tỷ đồng (tăng 146,79%) so với cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm môi trường trong tháng giảm so với tháng trước do trước đó ngành Công an đã triển khai đợt cao điểm kiểm tra, giám sát, xử phạt và tuyên truyền, nhờ đó các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã chủ động khắc phục sai phạm và hạn chế hành vi xả thải trái phép. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường lại tăng do năm nay tỉnh tăng cường công tác quản lý môi trường, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mới và mở rộng phạm vi kiểm tra, giám sát, nên việc phát hiện và xử lý vi phạm được thực hiện chặt chẽ, kịp thời hơn. Tình hình bất thường về thiên tai: Trong tháng 10/2025 trên địa bàn không xảy ra vụ thiên tai nào, nhưng tính chung 10 tháng trên địa bàn đã xảy ra 03 cơn bão lớn là bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi) gây mưa lớn trên diện rộng khiến 3 người chết và bị thương 62 người, tài sản thiệt hại lớn, ước tính 9.294 tỷ đồng. Ngoài ra, trên địa bàn cũng xảy ra 08 vụ mưa lớn, sét đánh, mưa đá khiến 06 người chết do sét đánh, 02 người mất tích trên biển, giá trị tài sản thiệt hại gần 45 tỷ đồng.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 8 và 8 tháng năm 2025
  •   04/09/2025 14:43

Tháng 8/2025 diễn ra trong không khí sôi nổi, thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025). Nhiều công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh được khởi công, khởi động, tạo khí thế mới trong phát triển hạ tầng và động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội. Song song với đó, tỉnh Hà Tĩnh cũng phải đối mặt với cơn bão số 5 (Kajiki) ảnh hưởng trực tiếp, gây mưa lớn, gió mạnh và đe dọa an toàn dân cư. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, cùng sự chủ động của các lực lượng chức năng và người dân, phương châm “4 tại chỗ” đã được kích hoạt hiệu quả. Tỉnh đã nhanh chóng triển khai các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả sau bão, giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và tài sản, đảm bảo ổn định đời sống và sản xuất. Bước sang những tháng cuối năm, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn như giá cả biến động, sức cầu thị trường còn yếu, ảnh hưởng thời tiết bất thường, nhưng với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, tỉnh đang nỗ lực thực hiện các chỉ tiêu đã đề ra, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 và tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh chịu thiệt hại nặng do thời tiết bất lợi, đặc biệt là cơn bão số 5 (Kajiki) đổ bộ trực tiếp. Mưa lớn kéo dài kèm gió mạnh gây ngập úng diện rộng, làm giảm năng suất, chất lượng lúa Hè thu và hoa màu. Cây lâu năm, cây ăn quả bị gãy đổ hàng loạt, ảnh hưởng lớn đến sản lượng và thu nhập người dân. Chăn nuôi gặp khó khăn do dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục bùng phát, buộc nhiều hộ phải tiêu hủy đàn, hạn chế tái đàn, ảnh hưởng đến nguồn cung. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều diện tích rừng trồng và cây xanh bị gió quật gãy, ảnh hưởng đến công tác trồng, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái. Thủy sản cũng chịu tác động lớn do sóng to, gió mạnh làm tàu thuyền hư hỏng, vùng nuôi ven biển bị nước lũ cuốn trôi, thiệt hại về sản lượng và làm chậm tiến độ khai thác, nuôi trồng. 1.1.1. Trồng trọt Tháng 8 sản xuất trồng trọt chủ yếu thu hoạch lúa Hè Thu và chăm sóc cây hàng năm khác. Trước dự báo bão số 5 có khả năng gây mưa lớn, ngập úng, nông dân Hà Tĩnh đã khẩn trương xuống đồng, huy động tối đa nhân lực và máy gặt để thu hoạch sớm lúa vụ Hè Thu 2025 với phương châm “xanh nhà hơn già đồng” để né tránh những bất lợi của thời tiết. Bên cạnh đó, các địa phương chủ động khơi thông hệ thống kênh mương, tiêu thoát nước, chuẩn bị phương án chống ngập úng sau thu hoạch. Những diện tích lúa chưa kịp thu hoạch cũng được gia cố bờ vùng, bờ thửa, chống đổ ngã. - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2025: Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu toàn tỉnh ước tính đạt 59.237 ha, tăng 0,71% (tăng 274 ha) so với cùng kỳ năm trước. Một số cây trồng hàng năm chủ yếu như sau: Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh ước tính đạt 45.448 ha, tăng 1,28% (tăng 574 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích tăng do một số địa phương đã ban hành chính sách hỗ trợ, khuyến khích nông dân tích cực gieo trồng vụ Hè Thu, góp phần mở rộng diện tích và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Tính đến ngày 21/8/2025, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn ước tính đạt được như sau: Ngô lấy hạt 2.359 ha, giảm 1,84% (giảm 44 ha) so với cùng kỳ năm trước; khoai lang 505 ha, giảm 9,72% (giảm 54 ha) so với cùng kỳ năm trước; lạc 401 ha, tăng 8,3% (tăng 31 ha) so với cùng kỳ năm trước; rau các loại 2.965 ha, giảm 0,87% (giảm 26 ha) so với cùng kỳ năm trước; vừng 754 ha, giảm 12,35% (giảm 106 ha) so với cùng kỳ năm trước; đậu các loại 2.151 ha, tăng 0,1% (tăng 2 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, năm nay kết quả gieo trồng các loại cây trồng cơ bản đạt kế hoạch đề ra. Một số cây trồng do đầu vụ thời tiết nắng nóng gây khó khăn cho việc xuống giống cây trồng.  Cây lâu năm: Hiện nay, bên cạnh các loại cây ăn quả như mít, ổi, nhãn, chanh,… đang thu hoạch chính vụ thì cây bưởi là một loại cây ăn quả chủ lực của địa phương đang chuẩn bị bước vào thu hoạch chính vụ. Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch các loại cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được quan tâm chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Cây lúa: Sâu cuốn lá nhỏ lứa 3 hiện gây hại trên 599 ha; đã phòng trừ 8.807 ha, khống chế được 8.500 ha. Sâu chủ yếu ở tuổi 3, 4 và có hiện tượng xen gối lứa. Rầy nâu lứa 3 xuất hiện tại nhiều xã như Gia Hanh, Xuân Lộc, Cẩm Hưng, Thiên Cầm, Bắc Hồng Lĩnh, Nam Hồng Lĩnh, Đức Thọ... với diện tích nhiễm 348 ha, đã phòng trừ 320 ha. Bệnh khô vằn xuất hiện trên hơn 6.000 ha lúa gieo cấy dày, bón thừa đạm tại hầu hết địa phương; đã phòng trừ khoảng 9.000 ha. Hiện bệnh cơ bản được khống chế, không có nguy cơ phát sinh thêm. Cây trồng cạn: Trên cây ngô, sâu keo mùa thu và sâu cắn lá gây hại chủ yếu ở trà ngô 3-7 lá tại các xã Thượng Đức, Đức Minh, Hương Sơn, Sơn Giang, Vũ Quang, Hương Khê… với diện tích nhiễm 13 ha; bệnh đốm lá và khô vằn gây hại trên 18 ha. Cây ăn quả có múi: Nhện, bệnh nứt thân xì mủ và ruồi đục quả gây hại trên 80 ha cây ăn quả, chủ yếu tại các vườn lâu năm, chăm sóc kém ở Vũ Quang, Hương Sơn, Phúc Trạch, Hương Đô. 1.1.2. Chăn nuôi Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi vẫn diễn biến phức tạp trên toàn tỉnh, đặc biệt ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Ngành chuyên môn khuyến cáo các hộ này chưa nên tái đàn, gây khó khăn cho các trang trại lợn giống, buộc họ phải chuyển sang nuôi lợn thịt, làm phát sinh thêm chi phí. Đồng thời, việc tiêu thụ lợn thịt cũng gặp khó khăn, khiến thời gian nuôi kéo dài, quay vòng chậm, hiệu quả kinh tế giảm. Tổng đàn lợn ước đạt 339.360 con (không tính lợn con chưa tách mẹ), giảm 2,63% (giảm 9.160) con so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm duy trì ổn định với tổng đàn ước đạt 10,1 triệu con, tăng 0,38% (tăng 38.000 con), trong đó đàn gà đạt 8,5 triệu con, tăng 1,86% (tăng 156.000 con). Ngược lại, tổng đàn trâu bò có xu hướng giảm do hiệu quả chăn nuôi thấp: đàn trâu ước đạt 60.352 con, giảm 9,56% (giảm 6.378 con), đàn bò ước đạt 153.465 con, giảm 6,62% (giảm 10.885 con). Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến ngày 21/8/2025, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc tại Hà Tĩnh diễn biến phức tạp, với nhiều ổ dịch truyền nhiễm xuất hiện, gây thiệt hại đáng kể. Dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 61 xã, phường, khiến 15.519 con lợn mắc bệnh, buộc tiêu hủy. Hiện còn 51 xã chưa qua 21 ngày. Viêm da nổi cục ghi nhận tại 15 xã, làm 76 con bò mắc bệnh, 17 con chết, phải tiêu hủy; hiện 6 xã chưa qua 21 ngày. Lở mồm long móng xuất hiện tại xã Kỳ Xuân, làm 6 con bò mắc bệnh, 1 con chết, buộc tiêu hủy. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Diện tích rừng trồng mới tháng 8/2025 ước đạt 432 ha, tăng 7,26% so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết nắng nóng kéo dài nên trong tháng không trồng cây lâm nghiệp phân tán. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 40,19 nghìn m3, tăng 0,07% do giá gỗ nguyên liệu có xu hướng tăng, người dân đẩy mạnh khai thác gỗ đến tuổi thu hoạch. Tính chung tám tháng, diện tích rừng trồng mới ước đạt 4.059 ha, tăng 7,53%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 329.073 m3, tăng 14,06% so với cùng kỳ năm trước. Các tháng đầu năm thời tiết thuận lợi cho việc trồng và khai thác gỗ, mặt khác diện tích rừng đến thời kỳ thu hoạch nhiều nên người dân tập trung lực lượng để khai thác. Thiệt hại về rừng: Trong tháng, xảy ra 7 vụ phá rừng, tăng 3 vụ so với cùng kỳ năm trước, với diện tích bị phá là 0,99 ha. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 33 vụ phá rừng, giảm 1 vụ so với cùng kỳ, tổng diện tích rừng bị phá là 7,55 ha. 1.3. Thủy sản Sản lượng thủy sản: Tháng 8/2025 ước đạt 6.921 tấn, tăng 5,26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá ước đạt 3.787 tấn, tăng 6,64%; tôm ước đạt 1.748 tấn, giảm 2,33%; thủy sản khác ước đạt 1.386 tấn, tăng 1,99%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.757 tấn, tăng 6,49% so với cùng kỳ năm trước. sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 4.164 tấn, tăng 5,74% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 41.920 tấn, tăng 5,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá đạt 25.677 tấn (tăng 6,64%), tôm đạt 4.258 tấn (tăng 0,86%), thủy sản khác đạt 11.985 tấn (tăng 4,77%). Nguyên nhân sản lượng tăng chủ yếu do công tác phòng, chống dịch bệnh thủy sản được kiểm soát tốt, không phát sinh ổ dịch lớn, tạo điều kiện thuận lợi để người dân yên tâm thả nuôi. Đồng thời, mô hình nuôi tôm công nghiệp tiếp tục phát triển, tạo tiền đề để người dân chuyển đổi từ nuôi truyền thống sang nuôi thâm canh theo hướng tập trung, quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao hiệu quả kinh tế. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính chung từ đầu năm đến ngày 28/8/2025, tổng diện tích tôm thẻ dịch bị bệnh đốm trắng là 3,65 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh trong tháng 8 năm 2025 tiếp tục ghi nhận nhiều điểm sáng tích cực, với sự khởi sắc rõ nét ở các lĩnh vực then chốt. Nhiều dự án công nghiệp trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, mở ra kỳ vọng đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế địa phương trong thời gian tới. Trong đó, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II hòa lưới điện vào cuối tháng 7/2025, đánh dấu bước tiến quan trọng trong phát triển ngành công nghiệp tỉnh nhà. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 8/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,53% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước ước giảm 1,46%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 11,56% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 1,59% so với tháng trước và giảm 14,74% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 78,66% so với tháng trước và tăng 96,88% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 0,79% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 0,49%. So với tháng trước, nguyên nhân chính giúp chỉ số toàn ngành tăng mạnh là nguồn điện sản xuất mới từ Vũng Áng II, bên cạnh đó, ngành sản xuất thiết bị điện tiếp tục là điểm sáng khi hưởng lợi từ nhà máy ô tô mới đi vào vận hành, kéo theo nhu cầu về linh kiện, thiết bị hỗ trợ tăng lên. Ngược lại, so với cùng kỳ, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đang gặp nhiều khó khăn. Ngành gỗ chịu tác động từ thị trường dăm xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản chậm hồi phục và giá nguyên liệu tăng. Ngành đồ uống tăng trưởng thấp do thời tiết mưa nhiều, nhu cầu tiêu thụ giảm. Ngành chế biến chế tạo chịu ảnh hưởng nặng nhất khi Nhà máy Luyện thép Formosa phải ngừng lò cao số 1 để bảo dưỡng từ giữa tháng 8, khiến sản lượng thép giảm mạnh, trong khi đây là sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu công nghiệp toàn tỉnh. Vì vậy, so với cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 1,46%. Ước tính 8 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 2,92% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,88% đóng góp 0,25 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,21% làm giảm 0,23 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,87% đóng góp 2,81 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,19% đóng góp 0,09 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, 8 tháng năm 2025 ghi nhận những dấu hiệu tích cực làm tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh như: (1) Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng khác tăng 18,21% so với cùng kỳ năm trước. Các dự án lớn triển khai đồng loạt trên địa bàn, cũng như các mỏ khai khoáng được cấp phép và mở rộng là nguyên nhân trực tiếp tác động tích cực đến chỉ số sản xuất khai khoáng tăng mạnh trong các tháng đầu năm; (2) Nhà máy sản xuất Pack pin đã hoàn thành việc nâng công suất dây chuyển sản xuất số 1, đi vào sản xuất trong tháng 8/2025. Đồng thời dây chuyển số 2 đang được khẩn trưởng lắp đặt trong quý III/2025. Dự kiến hoàn thành và đi vào sản xuất trong quý IV/2025. Sản lượng dự kiến 8 tháng năm 2025 hơn 19 nghìn pack, gấp hơn 6 lần so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng Cell Pin tính đến hết tháng 8 dự kiến đạt gần 12 triệu cell. Chỉ số sản xuất ngành này đang ở mức cao, góp phần tăng trưởng đáng kể vào ngành công nghiệp Hà Tĩnh trong thời gian tới; (3) Năm nay, ngoài việc cả hai tổ máy của Vũng Áng I vận hành ổn định, thì Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã chính thức đi vào vận hành thương mại từ cuối tháng 7/2025, tạo thêm nguồn điện lớn. Nhờ đó, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tính chung 8 tháng đầu năm tăng 15,87% so với cùng kỳ năm trước, trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của công nghiệp Hà Tĩnh. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong 8 tháng năm 2025, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục cho thấy xu hướng phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong số 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu được theo dõi, có 13 nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ắc quy bằng ion lithi tăng 6 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 31,94%; đá xây dựng khác tăng 24,14%; sợi tăng 21,13%; điện tăng 16,18%. Một số sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2025 giảm so với năm trước: Quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 10,55%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 12,19%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 11,85%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 32,54%. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2025 giảm 0,18% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 9,33%. Năm 2025, tình hình sử dụng lao động tại Hà Tĩnh có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phục hồi và chuyển dịch trong cơ cấu lao động của tỉnh. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Cộng dồn đến cuối tháng 8 năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 5,75% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 4,7% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,76% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,04%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,52% so với cùng kỳ năm 2024. 3. Đầu tư và xây dựng Trong thời gian qua, công tác giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp chính quyền tỉnh Hà Tĩnh. UBND tỉnh đã xác định đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công với quyết tâm chính trị cao hơn nữa; coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2025. Cùng với đó, năm nay UBND tỉnh Hà Tĩnh đã bổ sung hơn 2.000 tỷ đồng vào kế hoạch vốn 2025 theo Quyết định 917/QĐ-UBND ngày 29/4/2025, triển khai sớm hơn gần hai tháng so với năm trước, tạo dư địa giải ngân mạnh mẽ. Dự ước vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2025 đạt 894,98 tỷ đồng, tăng 4,04% so với tháng trước, tăng 24,11% so với cùng kỳ năm nước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 824,16 tỷ đồng, tăng 3,70% so với tháng trước và tăng 21,93% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 70,83 tỷ đồng, tăng 8,26% so với tháng trước và tăng 56,66 % so với cùng kỳ năm trước. Ước tính vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2025 tăng thấp so với tháng 7 nguyên nhân chủ yếu bởi: Các dự án về hạ tầng thủy lợi và hạ tầng các đô thị lớn được đẩy nhanh tiến độ từ tháng trước trong bối cảnh mùa mưa bão sắp tới nhằm chống ngập lụt như Dự án tăng cường khả năng thoát lũ hồ Kẻ Gỗ, hệ thống tiêu úng các xã trọng điểm sản xuất nông nghiệp khu vực Đức Thọ-Can Lộc-Hồng Lĩnh, các tiểu dự án cải thiện hạ tầng đô thị (Thành phố Hà Tĩnh, Thạch Hà, Hương Khê, Kỳ Anh) bao gồm hệ thống cống thoát nước, mở rộng đường bộ, hồ điều hòa, hồ đập thoát nước. Một số tuyến đường chủ chốt khác của tỉnh cũng được đẩy nhanh thi công gồm dự án Quốc lộ 8C, đường nối cảng Sơn Dương - Quốc lộ 1, đường Hàm Nghi kéo dài. Tính chung 8 tháng năm 2025, tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.281,31 tỷ đồng, tăng 40,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.958,30 tỷ đồng, tăng 41,30% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 323,01 tỷ đồng, tăng 28,72% so với cùng kỳ năm trước. Từ đầu tháng 4 năm nay, nhịp độ của các công trình, dự án trên địa bàn Hà Tĩnh đã trở nên nhộn nhịp hơn. Trong thời gian này, thời tiết thuận lợi đã giúp các đơn vị thi công hoàn thành tốt khối lượng theo đúng tiến độ đề ra. Bên cạnh đó, các chủ đầu tư đã xây dựng kế hoạch chi tiết theo đường găng và cam kết rõ ràng về tiến độ thực hiện cũng như giải ngân các dự án, phấn đấu cùng tỉnh đạt tỷ lệ giải ngân 100% trong năm 2025. Một số công trình lớn đang được triển khai gồm: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1A đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; dự án phát triển tổng hợp các đô thị động lực - Tiểu dự án đô thị Kỳ Anh (vay vốn WB); tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Thạch Hà; dự án kéo dài đường Xuân Diệu từ đường bao Khu đô thị Bắc đến đường Ngô Quyền. Tình hình thực hiện vốn đầu tư công 8 tháng năm 2025 cho thấy sự cải thiện tích cực về tốc độ giải ngân, đặc biệt nhờ tác động của Quyết định 917/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Việc thực hiện vốn đầu tư vẫn duy trì tốc độ tăng đều qua các tháng, đảm bảo tiến độ thi công các công trình trọng điểm, nhất là các dự án giao thông liên kết vùng, đô thị động lực và các dự án phòng chống thiên tai chuẩn bị mùa mưa. Các dự án trọng điểm lớn như đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, các quốc lộ và các công trình thủy lợi, nhà máy nước sạch, các dự án an sinh xã hội được chú trọng kiểm soát giải ngân nhằm tạo động lực phát triển kinh tế vùng. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2025 tăng 1,39% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp cận kề Lễ Quốc khánh 2/9, hoạt động sản xuất – kinh doanh tiếp tục phục hồi, cùng với hiệu quả từ các chính sách kích cầu tiêu dùng, bình ổn thị trường và cải thiện niềm tin của người tiêu dùng. Tính chung tám tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 15,19%; doanh thu du lịch lữ hành tăng 33,56%. Các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi cũng xuất hiện ngày càng nhiều cũng như sự chuyển đổi mạnh mẽ sang thương mại điện tử đã góp phần mở rộng mạng lưới phân phối, nâng cao hiệu quả cung ứng hàng hóa tới người tiêu dùng. Do đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng 8/2025 ước đạt 8.029,58 tỷ đồng, tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 15,41%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 60,47%; may mặc tăng 17,57%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 22,9%; du lịch lữ hành tăng 54,22%. Tính chung tám tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 61.368,34 tỷ đồng, tăng 12,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 51.492,53 đồng, chiếm 83,91% tổng mức và tăng 12,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 10 nhóm hàng tăng trưởng dương, cụ thể: Lương thực, thực phẩm tăng 16,36%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 29,83%; may mặc tăng 9,75%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 18,15%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 8,82%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 23,58%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 16,97%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 21.74%; hàng hóa khác tăng 11,43%; phương tiện đi lại trừ ô tô con tăng 10,32%. Ở chiều ngược lại, 02 nhóm hàng tăng trưởng âm, cụ thể: Ô tô con giảm 13,3%; xăng, dầu các loại (giảm 16,32%). Qua số liệu cho thấy, sức mua tiêu dùng vẫn tăng mạnh mẽ và niềm tin vào nền kinh tế vẫn duy trì. Đặc biệt với nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình điều này cho thấy người dân đang đầu tư nhiều hơn vào nâng cấp chất lượng cuộc sống.Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.369,28 tỷ đồng, chiếm 10,38% tổng mức và tăng 15,19% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy lĩnh vực này tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế dịch vụ của tỉnh. Đáng chú ý, lượng khách phục vụ đạt 1.567.582 lượt (tăng 21,74%), số ngày khách đạt 1.577.373 (tăng 27,32%). Số ngày khách trung bình trong tám tháng năm 2025 là 2,09 ngày (tăng 0,97%) so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, sức hấp dẫn điểm đến Hà Tĩnh được nâng lên nhờ vào các hoạt động xúc tiến du lịch, đầu tư hạ tầng, phát triển sản phẩm địa phương (ẩm thực, du lịch sinh thái, biển, văn hóa,...) ngày càng thu hút khu khách nội địa và tiềm năng đón khách quốc tế.Doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 68,57 tỷ đồng, chiếm 0,11% tổng mức và tăng 33,56% so với cùng kỳ năm trước. Cho thấy tín hiệu phục hồi tích cực của ngành du lịch nhờ vào các chính sách kích cầu, hoạt động quảng bá du lịch được đẩy mạnh, cùng với nhu cầu đi lại, tham quan, nghỉ dưỡng của người dân dần tăng trở lại. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.437,95 tỷ đồng, chiếm 5,6% tổng mức và tăng 14,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nổi bật là nhóm kinh doanh bất động sản tăng mạnh 45,05%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 5,13%; giáo dục đào tạo tăng 9,62%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 20,82%; dịch vụ khác tăng 11,66%. Ngược lại, nhóm nghệ thuật, vui chơi và giải trí ghi nhận mức giảm 14,6%. Như vậy, ngành cho thuê máy móc thiết bị … (nằm trong dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ) ước đạt 574,92 tỷ đồng, chiếm 16,72% dịch vụ khác, tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng này phản ánh rõ nét nhu cầu sử dụng thiết bị phục vụ thi công, xây dựng, sản xuất tiếp tục tăng cao, nhất là trong bối cảnh địa phương vẫn đẩy mạnh đầu tư công và phát triển hạ tầng, dù đang trong quá trình tinh gọn bộ máy hành chính và vận hành theo mô hình hai cấp. Điều này cho thấy công tác điều hành vẫn đảm bảo tính hiệu quả, không làm chậm tiến độ các chương trình đầu tư trọng điểm. 4.2. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi tám tháng năm 2025 ước đạt 6.439,92 tỷ đồng, tăng 12,69% so với cùng kỳ năm trước, nhờ nhu cầu đi lại, vận chuyển và tiêu dùng gia tăng. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu diễn biến tích cực đã thúc đẩy nhu cầu vận tải hàng hóa và dịch vụ kho bãi. Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử cũng góp phần làm tăng doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 8/2025 doanh thu ước đạt 866,96 tỷ đồng, tăng 0,63% so tháng trước và tăng 15,16% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 144,27 tỷ đồng, tăng 1,19% so tháng trước và tăng 20,68% so cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 535,32 tỷ đồng, tăng 0,1% so tháng trước và tăng 9,11% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 179,44 tỷ đồng, tăng 1,77% so tháng trước và tăng 30,54% so cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính chuyển phát ước đạt 7,92 tỷ đồng, tăng 1,04% so với tháng trước và tăng 51,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2025, doanh thu vận tải dự tính đạt 6.439,92 tỷ đồng, tăng 12,69% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 1.134,15 tỷ đồng, tăng 13,47% với số lượng vận chuyển đạt 11.369,03 nghìn hành khách, tăng 17,08 % và luân chuyển đạt 2.058,92 triệu hành khách.km, tăng 13,45%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 4.003,18 tỷ đồng, tăng 13,0% với khối lượng vận chuyển ước đạt 42.324,49 nghìn tấn, tăng 22,78% và luân chuyển ước đạt 1.365,0 triệu tấn.km, tăng 23,88%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.247,86 tỷ đồng, tăng 10,26% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tám tháng năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 2.993,95 triệu USD, giảm 26,49% so với cùng kỳ năm trước (trị giá nhập khẩu giảm 26,28% và trị giá xuất khẩu giảm 26,85%. Nguyên nhân chính là do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) gặp khó khăn trong xuất khẩu thép và phôi thép do các chính sách bảo hộ thương mại quốc tế, dẫn đến giảm sản lượng và nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu. Trị giá xuất khẩu: Tháng 8/2025 ước đạt 158,5 triệu USD, tăng 13,04% so với tháng trước và so với cùng kỳ giảm 24,08%. Diễn biến này cho thấy sự phục hồi nhẹ của xuất khẩu, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, quy mô còn thu hẹp đáng kể. Điều này phản ánh bối cảnh thị trường xuất khẩu còn nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu dùng toàn cầu chưa phục hồi hoàn toàn, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn đối mặt với áp lực về đơn hàng, chi phí sản xuất và cạnh tranh quốc tế. Tính chung tám tháng năm 2025, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.100,18 triệu USD, giảm 26,85% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 864,77 triệu USD (chiếm 78,6% tổng kim ngạch) giảm 35,16% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm kim ngạch xuất khẩu nằm ở sự tụt dốc của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh với kim ngạch xuất khẩu lũy kế tám tháng giảm 34,98%. Bên cạnh những khó khăn từ ngành thép, vẫn có một số điểm sáng cần ghi nhận. Các mặt hàng như hàng dệt may và xơ, sợi dệt tiếp tục tăng trưởng mạnh. Trong tám tháng, hàng dệt và may tăng 80,2% so với cùng kỳ và xơ sợi dệt tăng 87,13%. Trị giá nhập khẩu: Tháng 8/2025 ước đạt 210,5 triệu USD, tăng 25,54% so với tháng trước và giảm 31,33% so với cùng kỳ. Tính chung tám tháng, trị giá nhập khẩu ước đạt 1.893,77 triệu USD, giảm 26,28%.Trong đó giá trị nhập khẩu của Formosa ước đạt 1.377,8 triệu USD, chiếm 72,75% kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh, giảm 26,81% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 tỷ USD. Dù mới đạt 44% mục tiêu xuất khẩu song Hà Tĩnh vẫn còn dư địa để tăng tốc trong những tháng còn lại. Hà Tĩnh đã tận dụng ưu đãi từ 13 trong số 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký kết. Kim ngạch xuất khẩu từ các FTA này chiếm hơn 50% tổng kim ngạch toàn tỉnh. Hàng hóa của Hà Tĩnh đã có mặt tại hơn 20 quốc gia, trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, ASEAN, ... Các hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP… tiếp tục tạo điều kiện để doanh nghiệp địa phương mở rộng thị trường, giảm thuế và tăng tính cạnh tranh. Đồng hành cùng doanh nghiệp, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch 341/KH-UBND thực hiện Chỉ thị 13/CT-TTg về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Đồng thời, đơn vị cũng đang xây dựng chính sách phát triển logistics và xuất khẩu giai đoạn 2026–2030, nhằm hoàn thiện hạ tầng thương mại, giảm chi phí vận tải, hỗ trợ xúc tiến thị trường. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Nhóm hàng thực phẩm giảm mạnh là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 giảm 0,37% so với tháng trước. So với tháng 12/2024, CPI tháng Tám giảm 0,27% và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,33%. Bình quân tám tháng năm 2025, CPI tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. CPI tháng 8/2025 giảm 0,37% so với tháng trước, chủ yếu do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,79%, trong đó thực phẩm giảm mạnh 1,25%. Nguyên nhân chính là chỉ số giá thịt lợn giảm 4,56% do Hà Tĩnh bị ảnh hưởng trực tiếp của dịch tả lợn châu Phi. Khi dịch bùng phát, nhiều hộ chăn nuôi bán tháo đàn khiến nguồn cung tăng thời gian ngắn, trong khi tâm lý e ngại của người tiêu dùng khiến giá thịt lợn giảm. Kéo theo đó, giá nội tạng động vật giảm 4,91%, thịt gia súc đông lạnh giảm 0,53%, thịt chế biến giảm 0,8%. Ngoài ra, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,81% do giá thuê nhà ở dân cư giảm trong mùa hè, đặc biệt tại các khu vực đông sinh viên và lao động thời vụ. Nhóm giao thông cũng giảm 0,12% do tác động của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước theo biến động giá thế giới. Ở chiều ngược lại, trong tháng 8 có 05 nhóm hàng ghi nhận mức tăng giá, chủ yếu do tác động của yếu tố mùa vụ, kỳ nghỉ lễ Quốc khánh kéo dài và nhu cầu tiêu dùng tăng cao khi bước vào năm học mới. Dẫn đầu là nhóm may mặc, giày dép và mũ nón, tăng 0,25%, do nhu cầu mua sắm trang phục, đồ dùng cá nhân tăng lên trong thời điểm giao mùa và chuẩn bị cho năm học. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%, phản ánh xu hướng chi tiêu tăng trong các hoạt động lễ hội, sinh hoạt cá nhân và dịch vụ gia tăng. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,15%, do dịch vụ sửa chữa thiết bị trong gia đình tăng 0,24%. Nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,03%, chủ yếu do chi phí mua sắm sách vở, đồ dùng học tập phục vụ năm học mới. Cuối cùng, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02% nhờ nhu cầu vui chơi, nghỉ dưỡng trong kỳ nghỉ lễ sắp tới. Bình quân tám tháng năm 2025 tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 5,45%, khu vực nông thôn tăng 3,43%. Chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI. CPI tháng 9/2025 dự kiến chịu ảnh hưởng từ các yếu tố mùa vụ, đặc biệt trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9. Giá lương thực, thực phẩm, đồ uống và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, chỉ số giá rau tươi tăng sau cơn bão số 5 cũng là yếu tố chính tác động đến CPI tháng này. II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Hà Tĩnh đã tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh các chương trình văn hóa, văn nghệ, thể thao và tuyên truyền, trang hoàng đường phố để khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt, tỉnh đã trao 444 suất quà cho người có công với cách mạng, mỗi suất quà tặng (bằng tiền mặt) trị giá 20 triệu đồng, với tổng kinh phí 8,88 tỷ đồng do Quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn Vingroup) tài trợ. Đây là dịp để tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước và nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, ngành và người dân Hà Tĩnh trong việc tri ân những người đã cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, đời sống người dân Hà Tĩnh vẫn chịu nhiều tác động khi dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục lan rộng, khiến hàng nghìn con lợn phải tiêu hủy, ảnh hưởng nặng nề đến sinh kế của bà con nông dân. Chưa kịp khắc phục khó khăn này thì bão số 5 (Kajiki) lại đổ bộ gây mưa lớn, gió mạnh làm thiệt hại về người, tài sản và gián đoạn đời sống người dân. Trong gian khó chồng chất, chính quyền và người dân tỉnh nhà vẫn phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động phòng chống dịch bệnh và thiên tai, nổ lực khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống. 2. Giáo dục - đào tạo Giáo dục tỉnh Hà Tĩnh đang tập trung cao cho công tác chuẩn bị năm học mới 2025-2026. Ngành đã rà soát 100% cơ sở giáo dục, thống kê chính xác quy mô lớp học và đội ngũ giáo viên; nhiều địa phương ghi nhận số lượng học sinh đầu cấp tăng mạnh, dẫn đến thiếu gần 90 giáo viên ở các môn Toán, Tiếng Anh và Tin học. Ngành giáo dục đã đề xuất tuyển bổ sung, đồng thời bố trí, luân chuyển hợp lý để không xảy ra tình trạng quá tải lớp học. Bên cạnh đó Ngành cũng đã triển khai lịch tựu trường theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, trong đó học sinh các lớp 1, 9 và 12 tựu trường vào ngày 22/8, các khối lớp còn lại vào ngày 29/8, thống nhất khai giảng năm học mới 2025-2026 vào ngày 5/9. Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, đội ngũ và chương trình giảng dạy được hoàn tất, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh bước vào năm học mới. 3. Hoạt động y tế Công tác y tế tại Hà Tĩnh có nhiều chuyển biến tích cực, tập trung vào nâng cao chất lượng phục vụ và ứng dụng công nghệ. Ngành y tế đẩy mạnh triển khai bệnh án điện tử, kê đơn và thanh toán không dùng tiền mặt, tạo thuận lợi cho người dân khi khám chữa bệnh; yêu cầu các cơ sở y tế cải thiện thái độ phục vụ, phòng ngừa sự cố y khoa; Trong tháng ngành y tế Hà tĩnh vinh dự có Trạm Y tế xã Sơn Kim 1 được Bộ Y tế vinh danh “Cơ sở y tế xanh - sạch - đẹp” cấp quốc gia. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng 8/2025 ghi nhận 22 ca mắc sốt xuất huyết, trong đó xuất hiện thêm ổ dịch thứ 2 tại thôn Toàn Thắng, xã Đồng Tiến với 4 ca mắc mới. Ngoài sốt xuất huyết, các bệnh truyền nhiễm mùa hè như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp... có phát sinh nhưng được theo giỏi sát sao nên không ghi nhận ổ dịch lớn. Tính chung 8 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 49 ca mắc sốt xuất huyết, 55 ca quai bị, 115 ca thủy đậu, hơn 9000 ca mắc cúm,... các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do dịch bệnh. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào nhưng có 54 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 8 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể khiến 4 người bị ngộ độc và 481 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 4 người bị ngộ độc tập thể và giảm 111 ca ngộ độc đơn lẻ so với cùng kỳ, các ca ngộ độc đều được phát hiện và điều trị kịp thời không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên. Các ca nhiễm HIV tiếp tục có xu hướng giảm. Trong tháng, phát hiện 1 ca nhiễm HIV mới, không ghi nhận ca chuyển sang AIDS hay tử vong do AIDS, không thay đổi so với tháng trước và giảm 02 ca chuyển sang AIDS so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 12 ca nhiễm HIV mới, không có ca nào chuyển sang AIDS và 05 ca tử vong do AIDS, giảm lần lượt 14 ca nhiễm mới và 20 ca chuyển AIDS, ca tử vong do AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm 2024. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Trong tháng 8/2025, hoạt động văn hóa - du lịch của tỉnh tiếp tục được quan tâm triển khai, gắn với bảo tồn di sản và khai thác tiềm năng địa phương. Tỉnh đã tổ chức khảo sát các điểm du lịch nông thôn tại huyện Hương Khê và Vũ Quang. Mục tiêu nhằm đánh giá hiện trạng, tìm giải pháp hoàn thiện sản phẩm, kết nối với các doanh nghiệp lữ hành để hình thành tour tuyến thu hút du khách. Cũng trong thời gian này, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) làm việc với tỉnh về định hướng hổ trợ phát triển du lịch sau đại dịch Covid-19, tập trung vào phục hồi, quảng bá và nâng cao chất lượng dịch vụ. Theo đánh giá của đoàn khảo sát, Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch, đặc biệt tại địa bàn xã Sơn Kim 2 với hệ sinh thái rừng núi, cảnh quan thiên nhiên phong phú, suối nước nóng và đồi chè. Các hoạt động này góp phần tạo điểm nhấn văn hóa, mở ra hướng phát triển du lịch bền vững cho Hà Tĩnh trong thời gian tới. Về thể dục thể thao: Trong tháng, hòa chung không khí thi đua sôi nổi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân lập thành tích chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ các cấp; kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động tiêu biểu như Giải bóng chuyền nam thanh niên xã Kỳ Anh, giải chạy bộ trải nghiệm “Về với núi thiêng Nam Giới”, giải Pickleball mở rộng… Các hoạt động này không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe và đời sống tinh thần mà còn tăng cường tình đoàn kết cộng đồng. Ở lĩnh vực thể thao thành tích cao, đoàn Hà Tĩnh tham dự Giải Vô địch Điền kinh Quốc gia 2025 diễn ra tại Đà Nẵng, tham gia giải với 15 VĐV, kết thúc giải đội giành được 9 huy chương (4 HCV, 4 HCB và 1 HCĐ), xếp thứ 5 toàn đoàn. Thành tích này tiếp tục khẳng định vị thế và sự phát triển ổn định của thể thao Hà Tĩnh trên đấu trường quốc gia. 5. Tình hình trật tự và toàn giao thông Trong tháng 8/2025 (từ ngày 15/7 - 14/8/2025) đã xảy ra 25 vụ tai nạn đường bộ, làm 27 người chết, 30 người bị thương (giảm 2 vụ; tăng 9 người chết; tăng 19 người bị thương so với tháng trước). Cũng trong tháng không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 309 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2025 trên địa bàn đã xảy ra 230 vụ tai nạn đường bộ, làm 166 người chết, 132 người bị thương; 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương. Tổng giá trị thiệt hại ước 3.358 triệu đồngSo với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn đường bộ giảm 66 vụ, tăng 13 người chết nhưng giảm 59người bị thương; tai nạn đường sắt giảm lần lượt 1 vụ, 1 người chết và số người bị thương không thay đổi, giá trị thiệt hại tăng 1.303 triệu đồng.6. Bảo vệ môi trường, thiên tai và phòng chống cháy, nổ Tình hình cháy, nổ: Trong tháng (từ ngày 15/7/2025 - 14/8/2025) đã xảy ra 9 vụ cháy (tăng 3 vụ so với tháng trước), không gây thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 860,2 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 53 vụ cháy, làm 2 người bị thương với tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1.535,42 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy giảm 2 vụ nhưng số người bị thương tăng 2 người và giá trị thiệt hại tăng 1.022,9 triệu đồng. Tình hình bất thường về thiên tai: Cuối tháng 8/2025, Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng nặng nề do ảnh hưởng các cơn bão, bão số 5 (Kajiki) xảy ra ngày 25/8/2025 đây là một trong hai cơn bão rất mạnh đổ bộ vào Hà Tĩnh trong vòng 10 năm trở lại đây. Thời gian duy trì gió mạnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong cơn bão số 5 cũng gần tương đương với con bão số 10 năm 2017, khoảng 8 - 10 giờ liên tục. Tình hình thiệt hại như sau: - Về người: Có 02 người chết do tai nạn trước bão (ở xã Kim Hoa) và 43 người bị thương chủ yếu xảy ra do khắc phục hậu quả sau bão. - Về nhà ở: Có 38.938 nhà bị thiệt hại; trong đó 478 nhà thiệt hại trên 70%; 1.833 nhà thiệt hại từ 50%-70%; 5.115 nhà thiệt hại từ 30-50% và 31.503 nhà thiệt hại dưới 30%. - Về hạ tầng kinh tế, xã hội: Có 286 điểm trường, với 458 phòng học; 52 cơ sở khám, chữa bệnh; 220 công trình văn hóa, 48 di tích lịch sử văn hóa bị hư hỏng do bão; 151.434 cây xanh, cây bóng mát bị đổ, gãy; 2.414 cột điện các loại bị đổ gãy, 171km đường dây điện bị đứt; 7 trạm biến thế, 36 trụ sở cơ quan, 34 chợ, 18 nhà kho, phân xưởng bị thiệt hại; 85 cột ăng ten, 58 cột treo cáp bị đổ, gãy; trạm phát sóng Thiên Tượng và cơ sở 2 của Báo Hà Tĩnh bị hư hỏng; 187m mái đê cấp IV trở xuống bị bong xô; 480m kè, 3.420m kênh mương hư hỏng. Hơn 5.000m đường bị ngập; hơn 6km đường, 13 cầu và 3 cống giao thông bị hư hỏng, sạt lở; 65 cụm đèn tín hiệu bị hư hỏng. - Về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Có khoảng 25.300ha lúa và 2.000ha rau màu bị ngập, đổ ngã, ảnh hưởng đến năng suất; 4.400 ha cây ăn quả tập trung, và 23.000ha cây lâm nghiệp bị đổ, gãy; hơn 250 con gia súc và khoảng 85.000 con gia cầm bị thiệt hại; lương thực bị ẩm ướt, hư hỏng hơn 15 tấn; khoảng 280ha nuôi cá truyền thống, 230 ha nuôi tôm, 99 tàu cá bị chìm đắm, vở, hư hỏng và nhiều lồng bè, tàu, thuyền, ngư cụ của ngư dân bị ảnh hưởng. Tổng thiệt hại ước tính khoảng hơn 2.900 tỷ đồng (hai ngàn chín trăm tỷ đồng). Sau bão, chính quyền và các lực lượng chức năng đã khẩn trương cứu trợ, hỗ trợ gia đình bị ảnh hưởng, khôi phục hạ tầng và triển khai phòng chống dịch bệnh, giúp nhân dân sớm ổn định đời sống. Đến ngày 30/8 tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục đón nhận cơn bão số 6 gây mưa lớn ảnh hưởng trên diện rộng, tình hình thiệt hại đang được cập nhật. Vi phạm môi trường: Trong tháng 8/2025, toàn tỉnh phát hiện 17 vụ vi phạm môi trường, giảm 01 vụ (giảm 5,56%) so với tháng trước, tăng 7 vụ (tăng 70,00%) so với cùng kỳ năm trước; Số vụ vi phạm đã xử lý là 20 vụ, tăng 9 vụ (tăng 81,82%) so với tháng trước và tăng 13 vụ ( tăng 185,71%) so với cùng kỳ với số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 1.337,01 triệu đồng, tăng 966,46 triệu đồng (tăng 260,82%) so với tháng trước và tăng 1.254,44 triệu đồng (tăng 1.519,24%) so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện 195 vụ, giảm 24 vụ (giảm 10,96%); đã xử lý 166 vụ, giảm 32 vụ (giảm 16,16%) với tổng số tiền xử phạt đạt 3.059,51 triệu đồng, tăng 2.285,47 triệu đồng (tăng 295,26%) so với cùng kỳ năm trước. Việc tăng tần suất, mở rộng phạm vi kiểm tra bước đầu cho thấy có sự chuyển biến trong ý thức chấp hành của các tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên trong tháng có nhiều trường hợp vi phạm có tính chất nghiêm trọng, quy mô lớn; các ngành chức năng kiên quyết áp dụng mức xử phạt hành chính cao theo quy định, thay vì chỉ nhắc nhở hoặc xử lý ở mức nhẹ như trước, tình hình vi phạm môi trường trên địa bàn cơ bản được kiểm soát, không phát sinh đột biến.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh quý III và 9 tháng năm 2025
  •   03/11/2025 15:07

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm bản lề để hoàn thành các nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIX và chuẩn bị tiền đề cho nhiệm kỳ Đại hội khóa XX, đồng thời đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. Trong chín tháng vừa qua, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả tích cực. Kinh tế duy trì đà tăng trưởng khá; bộ máy chính quyền hai cấp vận hành ổn định, hiệu lực và hiệu quả được nâng cao. Các dự án công nghiệp trọng điểm được đảm bảo tiến độ, trong khi lĩnh vực du lịch - dịch vụ khởi sắc với nhiều hoạt động quảng bá và giải trí sôi nổi. Công tác giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược cũng được đẩy mạnh. Bên cạnh những thuận lợi, địa bàn tỉnh cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là ảnh hưởng nặng nề từ 03 cơn bão Bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi) đến sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân. Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm. Đồng thời, tỉnh cũng chú trọng cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển, với quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2025 và tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành 9 tháng năm 2025 ước đạt 87.711 tỷ đồng; theo giá so sánh ước đạt 47.934 tỷ đồng tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh quý III năm 2025 ước tăng 6,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm 9,98%, làm giảm 1,30 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 10,40%, đóng góp 4,89 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 8,30% đóng góp 2,63 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,77%, đóng góp 0,57 điểm % vào mức tăng trưởng chung. Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 2025 theo giá so sánh ước tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm 1,97%, làm giảm 0,26 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 11,30%, đóng góp 4,84 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 8,01% đóng góp 2,77 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,54%, đóng góp 0,70 điểm % vào mức tăng trưởng chung. Khu vực Nông lâm thủy sản trong quý III/2025 phải đối mặt với nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và thu nhập của người dân. Vào cuối quý II và quý III/2025, nhiều đợt mưa lớn, bão, lũ cục bộ làm ngập úng một số diện tích hoa màu và gây xói lở đất sản xuất. Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ Hè Thu năm 2025 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, trong chăn nuôi, dịch tả lợn Châu Phi bùng phát, diễn biến phức tạp gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Ngoài ra, bão lũ gây hậu quả nặng nề, làm chết, mất tích nhiều gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh, gây sụt giảm sản lượng và giá trị ngành chăn nuôi. Những khó khăn trên đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp. Dẫn đến tăng trưởng ngành nông nghiệp quý III và 9 tháng năm 2025 giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 9 tháng năm 2025, ngành nông nghiệp giảm 3,92%, làm giảm 0,41 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 8,83% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,07 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung toàn ngành kinh tế tỉnh Hà Tĩnh. Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. 9 tháng năm 2025, tăng trưởng toàn ngành công nghiệp ước đạt 11,88%, đóng góp 3,93 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Riêng ngành xây dựng tăng 9,32%, đóng góp 0,91 điểm phần trăm. Nguyên nhân hiện nay trên địa bàn tỉnh nhiều công trình, dự án lớn đang được đẩy nhanh tiến độ thi công. Ngoài triển khai các dự án, công trình chuyển tiếp thì năm nay trên địa bàn Hà Tĩnh đã có những dự án được khởi công mới và mở rộng quy mô sản xuất. Với sự đóng góp chủ yếu từ Khu kinh tế Vũng Áng, đặc biệt là các ngành sản xuất thiết bị điện (pack pin, cell pin), sản xuất điện, ô tô điện,… Đây là nguồn lực lớn nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả năm 2025 và là nền tảng cho các năm tiếp theo. Về cơ cấu kinh tế 9 tháng năm 2025 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 13,92%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,45%, (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 29,99%; ngành xây dựng chiếm 9,46%); khu vực Dịch vụ chiếm 37,39%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,24%. Như vậy, cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ là chủ đạo. Công nghiệp giữ vai trò động lực tăng trưởng chính, cho thấy kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào khu vực sản xuất công nghiệp là chủ yếu. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong 9 tháng năm 2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản có nhiều biến động. Vụ Xuân đạt kết quả toàn diện, tạo tiền đề tích cực cho sản xuất, song vụ Hè Thu diễn ra trong điều kiện thời tiết bất lợi, đặc biệt là hai cơn bão liên tiếp gây thiệt hại đáng kể. Chăn nuôi chịu tác động lớn do ảnh hưởng dịch tả lợn Châu Phi tái bùng phát làm giảm quy mô đàn và ảnh hưởng đến sản lượng. Ngược lại, sản xuất cây ăn quả duy trì ổn định; lâm nghiệp tập trung chăm sóc, khôi phục rừng và thu mua diện tích bị đổ gãy; thủy sản tiếp tục giữ đà tăng trưởng cả ở khai thác và nuôi trồng. 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng 9 tháng năm 2025 ước đạt 156.209 ha, giảm 1.226 ha (giảm 0,78%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cây lúa: diện tích gieo trồng cây lúa 9 tháng ước tính đạt 104.752 ha, tăng 561 ha (tăng 0,53%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vụ Đông Xuân diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh đạt 59.276 ha, giảm 41 ha (giảm 0,07%) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu gieo trồng đạt 45.476 ha, tăng 602 ha (tăng 1,34%). Diện tích lúa Hè Thu năm nay tăng chủ yếu do vụ trước đạt kết quả thắng lợi nhờ thời tiết thuận lợi và năng suất cao, tạo động lực để nông dân tiếp tục mở rộng sản xuất. Bên cạnh đó, một số địa phương đã chủ động được nguồn nước tưới, chính quyền ban hành chính sách hỗ trợ kịp thời, khuyến khích bà con gieo trồng. Ngoài ra, công tác rà soát, đo đạc lại diện tích tại một số xã cũng góp phần làm số liệu diện tích ghi nhận tăng so với trước. Năng suất lúa 9 tháng ước đạt 47,71 tạ/ha, giảm 9,66 tạ/ha (giảm 16,83%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó năng suất vụ Đông Xuân đạt 61,25 tạ/ha, tăng 0,07 tạ/ha (tăng 0,12%); vụ Hè Thu ước tính đạt 30,06 tạ/ha, giảm 22,28 tạ/ha (giảm 42,57%) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lúa 9 tháng năm 2025 ước tính đạt 499.809 tấn, giảm 97.953 tấn (giảm 16,39%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng lúa Đông Xuân chính thức đạt 363.115 tấn, tăng 214 tấn (tăng 0,06%) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng lúa vụ Hè Thu ước đạt 136.694 tấn, giảm 98.167 tấn (giảm 41,8%) so với cùng kỳ năm trước. Cây ngô: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước đạt 14.667 ha, tăng 284 ha (tăng 1,97%) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 51,5 tạ/ha, tăng 0,99 tạ/ha (tăng 1,96%). Sản lượng ước đạt 75.528 tấn, tăng 2.886 tấn (tăng 3,97%) so với cùng kỳ năm trước. Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước đạt 3.144 ha, giảm 191 ha (giảm 5,74%) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 75,62 tạ/ha, tăng 1,08 tạ/ha (tăng 1,46%). Sản lượng ước đạt 23.774 tấn, giảm 1.085 tấn (giảm 4,36%) so với cùng kỳ năm trước. Cây lạc: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước đạt 6.268 ha, giảm 714 ha (giảm 10,22%) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 27,40 tạ/ha, giảm 0,41 tạ/ha (giảm 1,49%). Sản lượng lạc ước đạt 17.178 tấn, giảm 2.245 tấn (giảm 11,56%) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại: Diện tích gieo trồng rau 9 tháng ước đạt 13.768 ha, giảm 86 ha (giảm 0,62%) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 74,49 tạ/ha, tăng 1,33 tạ/ha (tăng 1,81%). Sản lượng ước đạt 102.554 tấn, bằng 101,18%, tăng 1.202 tấn (tăng 1,18%) so với cùng kỳ năm trước. Cây đậu: Diện tích đậu các loại ước 2.456 ha, giảm 17 ha (giảm 0,69%) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 9,15 tạ/ha, giảm 1,03 tạ/ha (giảm 10,12%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng ước đạt 2.246 tấn, giảm 270 tấn (giảm 0,96%) so với cùng kỳ năm trước. Cây lâu năm: Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 9 tháng năm 2025 ước đạt ước đạt 31.050ha, giảm 120ha (giảm 0,38%) so với cùng kỳ năm 2024. Với thời tiết và thổ nhưỡng của tỉnh thì cây ăn quả vẫn là cây chủ lực cho giá trị kinh tế cao, với diện tích chiếm gần 63% tổng diện tích cây lâu năm. Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.504 ha, tăng 85 ha (tăng 0,44%) so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III năm 2025, sản lượng của một số loại cây ăn quả trên địa bàn ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước do đến thời kỳ thu hoạch bưởi. Sản lượng các loại có múi ước đạt 30.256 tấn, tăng 2.013 tấn (tăng 7,13%) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung Chín tháng năm 2025, sản lượng cây ăn quả ước đạt 82.269 tấn, tăng 3.265 tấn (tăng 4,13%) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, tỉnh tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao thông qua các mô hình sản xuất với quy mô lớn, liên kết theo chuỗi giá trị bền vững, tổ chức sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ nhằm tạo ra sản phẩm có thương hiệu, giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trong 9 tháng năm 2025 các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại trên các loại cây trồng. Đối với lúa vụ Đông Xuân bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy dày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 3.200 ha, trong đó có 150 ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương; 600 ha bị chuột gây hại, bên cạnh bệnh bạc lá, rầy nâu rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện rải rác tại các địa phương...Vụ Hè Thu bệnh khô vằn gây hại trên 6.000 ha, rầy nâu lứa 3 nhiễm 348 ha, sâu cuốn lá nhỏ lứa 3 nhiễm 8.500 ha... Đối với các cây lâu năm sâu bệnh chủ yếu xuất hiện trên các cây ăn quả có múi trong các vườn hộ lâu năm: Nhện, Bệnh nứt thân xì mủ, ruồi đục quả phát sinh gây hại trên các vườn cây ăn quả chăm sóc kém ở Vũ Quang, Hương Sơn, Phúc Trạch, Hương Đô, diện tích nhiễm 80 ha; bệnh loét xuất hiện rải rác trên những diện tích vừa qua bị ảnh hưởng của bão ở Hương Khê, Phúc Trạch, Vũ Quang,… b. Chăn nuôi Tổng đàn trâu hiện có 59.102 con, giảm 7.700 con (giảm 11,53%) so với cùng kỳ năm trước; đàn bò hiện có 152.536 con, giảm 11.564 con (giảm 7,05%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá trị kinh tế từ chăn nuôi trâu, bò không còn cao như trước, đầu ra tiêu thụ gặp khó khăn nên nhiều hộ giảm quy mô hoặc chuyển sang các loại vật nuôi khác có hiệu quả hơn. Tổng đàn lợn ước đạt 337.380 con (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ), giảm 12.940 con (giảm 3,69%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính do dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến tâm lý người chăn nuôi. Đặc biệt, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ hầu như không tái đàn, dẫn đến tổng đàn lợn giảm và nguồn cung thịt lợn trên thị trường bị ảnh hưởng.  Đàn gia cầm ước đạt 10.142.000 con, giảm 44.000 con (giảm 0,43%) so với cùng kỳ; trong đó đàn gà đạt 8.482 nghìn con, giảm 81 nghìn con (giảm 0,95%). Sản lượng xuất chuồng 9 tháng năm 2025: Thịt trâu ước đạt 3.001 tấn, tăng 9,93%; thịt bò ước đạt 7.632 tấn, tăng 2,79%; thịt lợn ước đạt 52.243 tấn, giảm 3,09%; thịt gia cầm ước đạt 23.512 tấn, tăng 6,14% (trong đó thịt gà ước đạt 18.356 tấn, tăng 11,93%). Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng 9/2025, trên địa bàn tỉnh ghi nhận nhiều dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 50 xã, làm 7.685 con lợn mắc bệnh, chết và buộc tiêu hủy với tổng khối lượng 519,2 tấn. Dịch viêm da nổi cục xuất hiện ở 7 xã, có 19 con bò mắc bệnh, trong đó 10 con chết, phải tiêu hủy. Tính từ đầu năm đến 24/9/2025, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện tại 62 xã với 20.486 con bị tiêu hủy; viêm da nổi cục xảy ra ở 18 xã với 88 con bò mắc bệnh, 24 con chết; lở mồm long móng tại 2 xã với 16 con bò mắc bệnh, trong đó 1 con chết. Đến nay, dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn tại 42 xã, viêm da nổi cục tại 4 xã và lở mồm long móng tại 1 xã, đều chưa qua 21 ngày. 2.2. Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp: Trong 9 tháng năm 2025, hoạt động sản xuất lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, thể hiện ở việc diện tích rừng trồng mới tiếp tục được mở rộng và sản lượng gỗ khai thác tăng cao. Kết quả này có được chính sách khuyến khích trồng rừng sản xuất được triển khai đồng bộ, cùng với nhu cầu ổn định từ các ngành chế biến gỗ và xuất khẩu. Tính riêng quý III/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 2.190 ha, tăng 23,05% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 230,88 nghìn m3, tăng 12,90%. Diện tích rừng trồng mới tháng 9 năm 2025 ước đạt 1.415 ha, tăng 19,21%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 144 nghìn m3, tăng 15,04%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 14 ngàn cây, giảm 86,92% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới 9 tháng năm 2025 ước đạt 5.474 ha, tăng 10,32%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 473,07 nghìn m3, tăng 14,36%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.573 ngàn cây, giảm 26,58% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng so với cùng kỳ do diện tích đến kỳ khai thác và đặc biệt do ảnh hưởng của hai cơn bão số 5 và số 6 đã làm nhiều diện tích rừng bị gãy đổ, buộc người dân khai thác sớm. Trồng rừng, bảo vệ rừng là một trong những việc làm hết sức thiết thực để phát triển bền vững. Phát triển rừng vừa tạo ra thu nhập từ rừng, vừa để bảo vệ môi trường vì vậy các cấp, các ngành và người dân đặc biệt quan tâm. Tính chung 9 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới, hoạt động khai thác gỗ và cây trồng phân tán tăng so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương như huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Thạch Hà. Thiệt hại về rừng: Trong tháng xảy ra 3 vụ phá rừng với diện tích bị phá 1,35 ha. Luỹ kế từ đầu năm đến ngày 23/9/2025, số vụ phá rừng là 36 vụ (giảm 9 vụ), diện tích rừng bị phá là 8,9 ha (giảm 3,35 ha) so với cùng kỳ năm trước. 2.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản: Thủy sản Hà Tĩnh 9 tháng vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định khi sản lượng khai thác và nuôi trồng đều tăng so với cùng kỳ, phản ánh khả năng thích ứng trước biến động thời tiết và góp phần củng cố vai trò của ngành trong cơ cấu nông – lâm – thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản quý III ước đạt 20.466 tấn, tăng 3,29%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 12.663 tấn, tăng 2,64%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 7.803 tấn, tăng 4,35% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng ước đạt 49.880 tấn, tăng 4,71%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 35.101 tấn, tăng 4,99%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 14.779 tấn, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong 9 tháng đầu năm 2025, diện tích nuôi trồng thủy sản bị dịch bệnh ước tính 4,4 ha. Riêng trong tháng 9, phát sinh dịch bệnh EHP trên tôm nuôi (chủ yếu là tôm thẻ chân trắng) với diện tích 0,75 ha tại xã Thạch Hà. Đây là bệnh ký sinh trùng đường ruột, không gây chết hàng loạt nhưng làm tôm chậm lớn, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng thu hoạch. 3. Sản xuất công nghiệp Công nghiệp Hà Tĩnh trong quý III và 9 tháng năm 2025 tiếp tục ghi nhận nhiều điểm sáng tích cực, với sự khởi sắc rõ nét ở các lĩnh vực then chốt. Nhiều dự án công nghiệp trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ. Trong đó, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II hòa lưới điện cuối tháng 7/2025, đánh dấu bước tiến quan trọng trong đảm bảo năng lượng. Nhà máy VinES tiếp tục mở rộng quy mô khi nâng công suất dây chuyền số 1 đi vào sản xuất trong tháng 8/2025 và lắp đặt dây chuyền số 2, dự kiến sẽ chính thức đi vào sản xuất trong thời gian tới. Song song, Nhà máy sản xuất ô tô VinFast hoàn thành giai đoạn thử nghiệm sản phẩm, đi vào sản xuất kinh doanh. Những tín hiệu tích cực này cho thấy bức tranh công nghiệp Hà Tĩnh đang chuyển mình mạnh mẽ, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và thu hút đầu tư trong những quý tiếp theo. 3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 9/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 1,16% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước ước tăng 12,96%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 0,41% so với tháng trước và giảm 7,97% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 2,53% so với tháng trước và giảm 0,31% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự ước giảm 3,46% so với tháng trước và tăng 125,31% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải ước tính tăng 2,15% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 9,89%. Quý III năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 1,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III năm 2025, một số ngành lớn gặp khó khăn trong sản xuất, đặc biệt ngành sản xuất kim loại của Doanh nghiệp Formosa tiến hành ngừng bảo dưỡng lò số 1 từ 15/8/2025 đến ngày 15/9/2025; ngành sản xuất cell pin trong tháng 7/2025 gặp vướng mắc trong khâu logistics, việc thông quan chậm khoảng 2 tuần dẫn đến thiếu hụt nguyên vật liệu đầu vào, buộc nhà máy phải ngừng sản xuất 4 ngày và sau đó duy trì hoạt động với công suất giảm. Hệ quả là sản lượng trong tháng 7 và 8 sụt giảm rõ rệt so với mức trung bình các quý đầu năm. Những điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến chỉ số sản xuất công nghiệp trong quý này. Tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,20% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,09% đóng góp 0,25 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,09% đóng góp 1,05 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 22,91% đóng góp 2,81 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,36% đóng góp 0,09 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, 9 tháng năm 2025 ghi nhận những dấu hiệu nổi bật làm tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh như: (1) Ngành sản xuất thiết bị điện tại Hà Tĩnh ghi nhận tăng trưởng vượt bậc. Nhà máy sản xuất Pack pin đã hoàn tất nâng công suất dây chuyền số 1 và đi vào vận hành từ tháng 8/2025. Đồng thời, nhà máy ô tô điện VinFast bắt đầu sản xuất - kinh doanh, kéo theo nhu cầu lớn về pin và thiết bị điện. Dự kiến đến hết tháng 9/2025, sản lượng Pack pin đạt hơn 27.000 sản phẩm, gấp hơn 9 lần cùng kỳ năm trước; Cell pin đạt trên 14 triệu đơn vị. Chỉ số sản xuất toàn ngành duy trì ở mức cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng công nghiệp địa phương; (2) Năm nay, ngoài việc cả hai tổ máy của Vũng Áng I vận hành ổn định, thì Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã chính thức đi vào vận hành thương mại từ cuối tháng 7/2025, tạo thêm nguồn điện lớn. Nhờ đó, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tính chung 9 tháng đầu năm tăng 22,91% so với cùng kỳ năm trước, trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của công nghiệp Hà Tĩnh. 3.2.Một số sản phẩm chủ yếu Trong 9 tháng năm 2025, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục cho thấy xu hướng phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong số 20 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu được theo dõi, có 13 nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy sự chuyển biến tích cực trong hoạt động sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - lĩnh vực đóng vai trò chủ lực, tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhiều sản phẩm thuộc nhóm này đạt sản lượng cao hơn cùng kỳ, phản ánh rõ nỗ lực phục hồi và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời khẳng định vị trí trung tâm của ngành trong cơ cấu công nghiệp địa phương. Một số sản phẩm công nghiệp 9 tháng năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Ắc quy bằng ion lithi tăng gần 5 lần so với cùng kỳ; thức ăn gia súc tăng 36,35%; điện tăng 23,65%; đá xây dựng khác tăng 17,8%; Sợi tăng 17,92%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 9 tháng năm 2025 giảm so với năm trước: Quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 32,15%; Quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 28,57%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 12,14%; Vỏ bào, dăm gỗ giảm 10,74%;... 3.3. Chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước tháng 9/2025 tăng 9,3% so với tháng trước và giảm 19,09% so với cùng kỳ tháng 9/2024. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, chỉ số tiêu thụ giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành chủ lực sụt giảm đáng kể, đặc biệt sức tiêu thụ thép trên thị trường suy yếu. Chỉ số tiêu thụ ngành sản xuất kim loại giảm 15,87%. Các doanh nghiệp chế biến gỗ tại Hà Tĩnh đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các tỉnh khác và cả thị trường quốc tế. Hiện tại, phần lớn dăm gỗ xuất khẩu từ Hà Tĩnh chủ yếu ở dạng thô, thiếu chế biến sâu, dẫn đến giá trị gia tăng thấp. Chỉ số tiêu thụ mặt hàng này 9 tháng đầu năm giảm 19,33%. Điều này tác động lớn đến chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Hà Tĩnh. Tuy nhiên, nhiều mặt hàng trong tổng số các nhóm sản phẩm trên địa bàn có chỉ số tiêu thu tăng cao so với cùng kỳ năm 2024 như: Sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 24,29%; sợi tăng 17,47%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 57,55%;… Mặc dù chỉ số tiêu thụ giảm nhẹ trong 9 tháng năm 2025, tuy nhiên, tỷ trọng các nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm ưu thế, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang có dấu hiệu tích cực trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 9/2025 tăng 1,73% so với tháng trước và 2,54% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số tồn kho mặt hàng sợi tăng cao, ở mức 71,35%. Nhu cầu tiêu dùng trong nước và đơn hàng xuất khẩu sợi giảm so với cùng kỳ, dẫn đến lượng tiêu thụ sợi ở mức thấp, làm chỉ số tồn kho tăng cao. Bước vào giai đoạn cuối năm, nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất để chuẩn bị cho mùa cao điểm tiêu dùng cuối năm, khiến lượng sản phẩm hoàn thiện trong kho tăng lên tạm thời trước khi được phân phối ra thị trường. Chỉ số tồn kho ngành sản xuất đồ uống tăng 84,04%; ngành chế biến thực phẩm tăng 8,7%... Đây là những nguyên nhân chủ yếu chỉ số tồn kho tháng 9/2025 tăng so với cùng kỳ năm trước. 3.4. Tình hình sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2025 giảm 4,74% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 33,25%. Năm 2025, tình hình sử dụng lao động tại Hà Tĩnh có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phục hồi và chuyển dịch trong cơ cấu lao động của tỉnh. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối tháng 9 năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 10,83% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 5,36% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng được phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,08% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II đi vào sản xuất đóng góp vào chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,36%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,57% so với cùng kỳ năm 2024. 4. Tình hình hoạt động doanh nghiệp Tình hình doanh nghiệp trong 9 tháng năm 2025 có nhiều điểm tích cực, thể hiện qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới và tổng vốn đăng ký tăng mạnh. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động cũng tăng, cho thấy vẫn còn nhiều thách thức trong môi trường kinh doanh. Tỉnh cần tiếp tục có những chính sách hỗ trợ kịp thời, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa để thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững. 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính chung 9 tháng năm 2025, doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng trưởng mạnh, toàn tỉnh thành lập mới 1.303 doanh nghiệp, tăng 24,57% so cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy môi trường đầu tư, kinh doanh tại địa phương có dấu hiệu cải thiện tích cực, thu hút ngày càng nhiều cá nhân, tổ chức tham gia thị trường; tổng vốn đăng ký đạt gần 7.465 tỷ đồng, tăng 39,42%, đây là tín hiệu lạc quan, cho thấy không chỉ số lượng doanh nghiệp tăng, mà quy mô và mức độ đầu tư cũng được mở rộng; Có 322 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,53% so cùng kỳ. Tuy không sụt giảm nhiều nhưng đây có thể là dấu hiệu cho thấy trong bối cảnh thị trường kinh doanh có những khó khăn chưa được giải quyết triệt để; Số lượng doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng vẫn tiếp tục tăng: Trong đó, có 247 doanh nghiệp giải thể, tăng 41,14%, 607 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,83% so với cùng kỳ năm trước. Những con số này cảnh báo về những khó khăn trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý III/2025: Hoạt động sản xuất vẫn còn nhiều áp lực về thị trường, lao động và nguyên liệu đầu vào, kết quả khảo sát cho thấy: Nhu cầu thị trường trong nước thấp, 52,94% doanh nghiệp đánh giá là rào cản lớn; tính cạnh tranh của hàng trong nước cao, chiếm 70,59% doanh nghiệp nhận định, cho thấy áp lực cạnh tranh trong nội địa rất lớn, đặc biệt đối với sản phẩm có giá trị gia tăng thấp hoặc chưa tạo được thương hiệu; khó khăn tài chính cũng là vấn đề đáng lo ngại với 35,29% doanh nghiệp lựa chọn. Trong đó: 100% doanh nghiệp ngành dệt, sản xuất kim loại, thiết bị đồ điện, đồ uống phản ánh gặp khó khăn do đơn hàng tiêu thụ trong và ngoài nước sụt giảm, điều này phản ánh sự phụ thuộc lớn vào thị trường đầu ra, trong khi nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu đang yếu; 100% doanh nghiệp ngành may mặc gặp khó khăn không tuyển được lao động theo yêu cầu, chịu ảnh hưởng từ cạnh tranh thị trường cao; 100% doanh nghiệp ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu đang sản xuất với công nghệ lạc hậu, gây khó khăn trong nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh; … Dự báo và kỳ vọng qúy IV/2025: Tình hình sản xuất, kinh doanh được kỳ vọng cải thiện khi mà có 47,06% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh sẽ tốt lên so với quý III, 47,06% cho rằng sẽ giữ nguyên, chỉ 5,88% lo ngại tình hình sẽ xấu đi. Đây là tín hiệu lạc quan, phản ánh doanh nghiệp vẫn kỳ vọng sự phục hồi trong giai đoạn cuối năm. 5. Thương mại, dịch vụ Trong 9 tháng đầu năm 2025, hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng so với cùng kỳ, thị trường cơ bản ổn định, sức mua có dấu hiệu cải thiện. Các loại hình dịch vụ như lưu trú, ăn uống, vận tải, du lịch ghi nhận mức tăng khá; môi trường kinh doanh có chuyển biến tích cực, số doanh nghiệp thành lập mới tăng, công tác phát triển hạ tầng và xúc tiến thương mại được quan tâm. 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng, chủ yếu nhờ nguồn cung hàng hóa đảm bảo, giá cả ổn định và nhu cầu tiêu dùng mở rộng. Kết quả này phản ánh sức mua được cải thiện, hoạt động thương mại - dịch vụ diễn ra sôi động hơn, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và đời sống dân cư. Trong quý III/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 23.669,1 tỷ đồng, tăng 2,24% so với quý trước và tăng 13,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 1,48% và tăng 13,16%; lưu trú, ăn uống tăng 8,78% và tăng 17,06%; du lịch lữ hành giảm 38,97% và tăng 17,06%; dịch vụ khác tăng 2,26% và tăng 17,68% so với quý trước và so cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động thương mại - dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, trong đó bán lẻ hàng hóa và dịch vụ lưu trú, ăn uống là những lĩnh vực đóng góp chính. Tuy nhiên, du lịch lữ hành còn biến động do mùa vụ, đòi hỏi tỉnh đa dạng hóa sản phẩm, phát triển các loại hình như du lịch văn hóa, cộng đồng, sinh thái gắn với đặc trưng địa phương để ổn định hơn. Tính chung Chín tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 69.088,16 tỷ đồng, tăng 12,84% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động:  Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 57.930,05 tỷ đồng, chiếm 83,85% tổng doanh thu và tăng 12,46% so với cùng kỳ năm 2024. Hầu hết các nhóm hàng đều tăng, trong đó thiết bị gia đình, đá quý - kim loại quý, dịch vụ sửa chữa phương tiện và vật phẩm văn hóa - giáo dục tăng mạnh, phản ánh nhu cầu cải thiện đời sống, đầu tư và học tập của người dân. Nhóm lương thực, thực phẩm tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mức tăng gần 16%. Kết quả này cho thấy sức mua thị trường duy trì ổn định, nhờ nguồn cung dồi dào, giá cả cơ bản ổn định và hoạt động thương mại - dịch vụ được thúc đẩy. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 7.201 tỷ đồng, chiếm 10,42% tổng doanh thu và tăng 14,51% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng, du lịch, giao lưu văn hóa - thương mại tăng cao trong bối cảnh đời sống dân cư được cải thiện, thu nhập ổn định hơn. Bên cạnh đó, các dịp lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao trong và ngoài tỉnh diễn ra sôi động đã kích thích nhu cầu ăn uống, nghỉ dưỡng. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ lưu trú, ẩm thực được nâng lên, nhiều cơ sở chú trọng quảng bá, ứng dụng đặt dịch vụ trực tuyến và đa dạng hóa sản phẩm, góp phần thu hút khách hàng, nhất là giới trẻ và khách du lịch. Doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 74,18 tỷ đồng, chiếm 0,11% và tăng 34,97% so với cùng kỳ năm trước. Lượng khách du lịch đi theo tour ước đạt 20.013 lượt khách (tăng 33,56%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là nhờ chính sách nới rộng thị thực đã tạo điều kiện thuận lợi cho du khách quốc tế, lượng khách đến địa phương tăng rõ rệt. Đồng thời, các doanh nghiệp lữ hành đẩy mạnh khai thác tour tuyến mới, liên kết với nhiều điểm đến trong và ngoài tỉnh; hạ tầng du lịch được cải thiện; các chương trình quảng bá, sự kiện văn hóa, thể thao được tổ chức thường xuyên, qua đó góp phần thúc đẩy doanh thu lữ hành tăng trưởng mạnh. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.882,92 tỷ đồng (chiếm 5,62%) và tăng 15,25% so với cùng kỳ, tiếp tục cho thấy sự ổn định và tăng trưởng qua quý I (tăng 9,89%), quý II (tăng 18,04%) và quý III (tăng 17,68%). Đà tăng này chủ yếu đến từ ba nhóm dịch vụ: Nhóm bất động sản đạt mức tăng 46,35% do việc sáp nhập các vùng ngoại thành vào nội thị, điều chỉnh địa giới hành chính, và các thông tin quy hoạch mới đã kích thích đầu tư đất nền tại các vùng ven, khiến người dân và nhà đầu tư “gom” đất tại các khu vực được dự báo sẽ lên giá. Ngoài ra, hạ tầng giao thông, kết nối đô thị, quy hoạch khu dân cư mới cũng được đẩy mạnh, nâng cao tính hấp dẫn của bất động sản địa phương. Nhóm cho thuê máy móc, thiết bị (ngành 77) tăng 10,85%, được thúc đẩy bởi nhu cầu cao từ các công trình xây dựng, hạ tầng và khu công nghiệp. Khi nhiều dự án phát triển đô thị, công trình hạ tầng, đường, cầu, khu công nghiệp, được triển khai mạnh, các doanh nghiệp xây dựng phải thuê máy móc hiện đại để đẩy tiến độ. Nhóm dịch vụ khác (ngành 96) tăng 13,85%, nhờ tiêu dùng dịch vụ cá nhân, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ hỗ trợ tăng lên khi mức sống người dân cải thiện. 5.2. Hoạt động vận tải Trong tháng 9/2025, doanh thu ngành vận tải và kho bãi ước đạt 868,43 tỷ đồng, tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 32,38% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng này phản ánh xu hướng tích cực của thị trường trong bối cảnh nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại tiếp tục gia tăng. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 145 tỷ đồng, tăng 1,66% so với tháng trước và tăng 31,83% so với cùng kỳ, nguyên nhân chính do trùng với kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, rằm tháng Bảy âm lịch và thời điểm nhập học của tân sinh viên nên nhu cầu đi lại tăng cao; cùng với thời tiết nắng nóng khiến người dân ưu tiên sử dụng phương tiện công cộng, góp phần làm vận tải hành khách tăng so với tháng trước. Vận tải hàng hóa ước đạt 536,26 tỷ đồng, tăng 0,01% so với tháng trước và tăng 28,56% so với cùng kỳ, do nhiều công trình hoàn thiện, dự án mới triển khai và tiến độ xây dựng dân dụng được đẩy nhanh trước mùa mưa bão, làm tăng nhu cầu vận chuyển vật liệu. Tăng trưởng tập trung chủ yếu trong quý III, với doanh thu vận tải ước đạt 2.595,31 tỷ đồng, tăng 18,05% so với quý I và tăng 3,28% so với quý II và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy vận tải bước vào giai đoạn cao điểm, nhu cầu hàng hóa và hành khách tăng mạnh trong quý III, qua đó khẳng định xu hướng phục hồi ổn định và đóng góp tích cực của ngành vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Vận tải hàng hóa quý III đạt 1.607,21 tỷ đồng (chiếm 61,93% doanh thu vận tải quý III), tăng 1,74% so với quý trước và tăng 12,79% so với cùng kỳ. Vận tải hành khách đạt 430,2 tỷ đồng, tăng 3,31% so với quý trước và tăng 23,01% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ nhu cầu đi lại, du lịch tăng cao trong kỳ nghỉ lễ. Tính chung 9 tháng năm 2025, doanh thu ngành vận tải và kho bãi ước đạt 7.306,77 tỷ đồng, tăng 14,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hàng hóa tiếp tục đóng vai trò chủ đạo với 4.540,3 tỷ đồng, chiếm 62,14% doanh thu (tăng 14,66%), vận tải hành khách ước đạt 1.277,5 tỷ đồng (tăng 15,14%), kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.425,41 tỷ đồng (tăng 13,55%) và bưu chính chuyển phát ước đạt 63,56 tỷ đồng (tăng 38,19%). Dự báo 3 tháng cuối năm, nhu cầu vận tải tiếp tục tăng nhờ tiến độ các dự án hạ tầng, khu công nghiệp, du lịch và tiêu dùng cuối năm. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 đạt cao hơn so với cùng kỳ (tăng 13,22%). Hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng, thị trường bất động sản sôi nổi, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2025 đạt 16.346,63 tỷ đồng (tăng 13,22% so cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 10.684,54 tỷ đồng (chiếm 65,36 % trong tổng thu) tăng 42,25% so với cùng kỳ. Cụ thể một số sắc thuế tăng mạnh so cùng kỳ như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 1.696,20 tỷ đồng (tăng 115,17%); các khoản thu về nhà đất đạt 4.370,51 tỷ đồng (tăng 85,26%); thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.326,20 tỷ đồng (tăng 12,80%). Tuy nhiên, 9 tháng năm 2025 tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu chỉ đạt 4.944,65 tỷ đồng, giảm 22,53% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong SXKD dẫn đến nguồn thu ngân sách của Hà Tĩnh bị ảnh hưởng. Chi ngân sách Nhà nước: Việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước 9 tháng năm 2025 đạt 23.015,2 tỷ đồng tăng 26,50% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 9.041,54 tỷ đồng chiếm 39,29% tổng chi, tăng 14,07% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 13.960,75 tỷ đồng chiếm 60,66% tổng chi, tăng 36,21% so với cùng kỳ năm 2024. 6.2. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ chế, chính sách của ngành đã được triển khai đến người dân, doanh nghiệp trên địa bàn nhằm giúp khách hàng biết đến và sớm tiếp cận được các chính sách, qua đó góp phần hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nguồn vốn huy động trên địa bàn 9 tháng năm 2025 có sự tăng trưởng tốt (tăng 9,59% so với cùng kỳ); tăng trưởng tín dụng tăng 14,63% so với cùng kỳ năm 2024. Công tác huy động vốn trên địa bàn tiếp tục được đẩy mạnh, với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nhờ đó, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động 9 tháng năm 2025 đạt 112.736,57 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, số dư huy động vốn ngắn hạn đạt 109.753,23 tỷ đồng, tăng 8,24%; số dư huy động vốn trung và dài hạn đạt 12.983,34 tỷ đồng, tăng 22,48% so với cùng kỳ năm 2024. Dư nợ cho vay 9 tháng năm 2025 đạt 120.359,22 tỷ đồng, tăng 14,63% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 93.825,67 tỷ đồng (chiếm 77,95% tổng dư nợ), tăng 19,88%; dư nợ trung dài hạn ước đạt 26.533,60 tỷ đồng (chiếm 22,05% tổng dư nợ), giảm 0,74% so với cùng kỳ năm trước. 7. Đầu tư và xây dựng 9 tháng năm 2025, Hà Tĩnh tập trung giải ngân vốn đầu tư công, thu hút FDI, cải thiện môi trường đầu tư. Tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục, tháo gỡ vướng mắc giải phóng mặt bằng, thúc đẩy các dự án trọng điểm về hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Nhiều dự án lớn như VSIP, Vinhomes Vũng Áng, Gia Lách (mở rộng), Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy pin Lithium, ô tô điện được đẩy nhanh tiến độ, kỳ vọng tạo động lực tăng trưởng, việc làm, thu ngân sách và an sinh xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý III/2025 ước tính đạt 16.593,22 tỷ đồng, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước 4.278,70 tỷ đồng, giảm 45,72% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm do nguồn vốn thực hiện tại các dự án đường bộ cao tốc, đường dây 500KV giảm mạnh.  Vốn ngoài nhà nước ước đạt 9.885,08 tỷ đồng, tăng 94,22% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất ô tô điện Vinfast tại thị xã Kỳ Anh đẩy nhanh tiến độ thi công nhằm đưa vào sản xuất giai đoạn 1 từ đầu tháng 7/2025, và tiếp tục triển khai giai đoạn 2 trong quý. Bên cạnh đó một số dự án khác cũng có khối lượng vốn thực hiện cao như Nhà máy sản xuất Pin VinES nâng cấp dây chuyền số 1 và lắp mới dây chuyền số 2, Nhà máy bê tông Viết Hải, Dự án D’Metropole, Tổng kho xăng dầu Giang Nam. Nguồn vốn đầu tư của hộ dân cư tăng mạnh (tăng 12,57% so quý trước, tăng 2,98% so cùng kỳ năm trước) trong bối cảnh nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở gia đình. Các chương trình ưu đãi lãi suất tín dụng thấp cho nhóm đối tượng vay xây, sửa nhà ở được các ngân hàng triển khai  Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 2.429,45 tỷ đồng, giảm 24,29% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực này nguồn vốn đầu tư giảm mạnh do các dự án lớn như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đến giai đoạn hoàn thành nên tổng vốn đầu tư đạt thấp, dự án Pin Lithium đã hoàn thành đi vào sản xuất. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng năm 2025 ước đạt 43.915 tỷ đồng, tăng 5,45% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 10.818,43 tỷ đồng, chiếm 24,63% tổng vốn, giảm 31,50%; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 25.015,24 tỷ đồng chiếm 56,96% tổng vốn, tăng 101,53%; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 8.081,33 tỷ đồng, chiếm 18,40% tổng vốn, giảm 39,87% so với cùng kỳ. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh nhìn chung có sự chuyển dịch về cơ cấu khi nguồn vốn khối Nhà nước và khối FDI giảm mạnh. Do các dự án lớn năm ngoái như Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II, dự án đường dây 500 KV, cao tốc Bắc-Nam giảm mạnh khối lượng thi công trong năm nay khi bước vào giai đoạn hoàn thiện. Trong khi đó, nhờ dự án Nhà máy sản xuất ô tô điện Vinfast, các khu công nghiệp và nguồn vốn hộ dân cư khiến nguồn vốn khối ngoài Nhà nước tăng mạnh. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng 9/2025 của Hà Tĩnh ghi nhận những tín hiệu tích cực và có dấu hiệu khởi sắc hơn khi tăng khá so với tháng trước. Tuy vậy 9 tháng năm 2025 vẫn chưa đạt mức kỳ vọng so với cùng kỳ. Tổng trị giá xuất nhập khẩu trong 9 tháng chỉ đạt 3.330,15 triệu USD, giảm 27,14% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 9 trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 371,2 triệu USD, tăng 14,57% so với tháng trước, giảm 25,39% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá xuất khẩu ước đạt 180,7 triệu USD, tăng 16,15% so với tháng trước và giảm 14,48% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng 9 so với cùng kỳ đều tăng mạnh như chè tăng 39,53%; dăm gỗ tăng 104,68%; hàng dệt và may mặc tăng 31%; xơ, sợi dệt các loại tăng 96,08%; riêng thép, phôi thép giảm 33,71% (đặc biệt là xuất khẩu thép từ FHS tăng 14,95% - FHS đã tái cấu trúc khách hàng, chuyển sang chủng loại và thị trường chịu ít biện pháp phòng vệ hơn). Khi sản phẩm thép, phôi thép gặp khó (do rào cản thương mại, bảo hộ từ các quốc gia nhập khẩu), tỉnh và doanh nghiệp đã có bước đi mới, tập trung phát triển các sản phẩm khác có lợi thế hơn như dăm gỗ, chè, dệt, may, xơ, sợi. Trị giá nhập khẩu trong tháng 9 ước đạt 190,5 triệu USD, tăng 13,11% so với tháng trước, giảm 33,45% so với cùng kỳ năm trước (giá trị nhập khẩu từ Formosa ước đạt 120,6 triệu USD, tăng 47,61% so với tháng trước và giảm 47,66% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 3.330,15 triệu USD, giảm 27,14% so với cùng kỳ, trong đó, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.287,96 triệu USD, giảm 24,91%. Mặc dù mặt hàng chè tăng 1,74%; hàng dăm gỗ tăng 2,38%; hàng dệt và may mặc tăng 66,51%; hàng xơ, sợi dệt các loại tăng 84,21% nhưng ở chiều ngược lại mặt hàng thép, phôi thép giảm 34,69%. Chỉ tính riêng xuất khẩu của công ty Formosa trong 9 tháng năm 2025 ước đạt 1.048,78 triệu USD (chiếm đến 81,43% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), giảm tới 33,83% so với cùng kỳ cho thấy sự đóng góp cũng như sự quyết định đối với hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh nhà. Trị giá nhập khẩu ước đạt 2.042,19 triệu USD, giảm 28,47% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính là do FHS gặp khó khăn tìm thị trường xuất khẩu do chính sách bảo hộ, biện pháp phòng vệ thương mại tại các thị trường truyền thống; kết quả là sản lượng xuất khẩu thép phôi giảm, doanh nghiệp cắt giảm nhập nguyên liệu. Thị trường thép 9 tháng qua đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến các hàng rào thuế quan, các biện pháp phòng vệ thương mại, xung đột chính trị, hàng loạt các chính sách mới và diễn biến không ổn định của thị trường thép, xung đột chính trị thị trường toàn cầu, sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu thụ thép. Tuy nhiên, xu hướng sẽ tích cực hơn vào khoảng cuối quý III, đặc biệt là với những nỗ lực tháo gỡ khó khăn trong lĩnh vực bất động sản, sự thúc đẩy đầu tư công, khi đó giá thép có thể có nhịp phục hồi rõ rệt hơn. Kỳ vọng sự gia tăng nguồn cung nhà ở và đầu tư công vào những tháng cuối năm sẽ là yếu tố chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng sản lượng thép trong tỉnh.  9. Giá cả, lạm phát Diễn biến thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 9/2025 không có biến động lớn, chỉ số giá chung tăng nhẹ so với tháng trước. CPI bình quân quý III/2025 tăng 4,53% so với quý trước và tăng 1,68% so với cùng kỳ. Tính chung bình quân 9 tháng năm 2025 CPI tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước, mức biến động giá cả chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và ngày càng tăng mạnh vào những ngày cuối tháng. Tháng 9 năm 2025, chỉ số CPI chung tăng tăng 0,29% so với tháng trước và tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng trong tháng đều không biến động quá lớn so với tháng trước, trong rổ hàng hóa, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhà ở và nhóm may mặc, mũ nón, giày dép dẫn đầu với mức tăng lần lượt là 0,53% và 0,41% do giá các loại lương thực, thực phẩm tăng dịp Rằm tháng Bảy và nghỉ lễ Quốc Khánh 2/9 cũng như nhu cầu mua sắm bước vào năm học mới. So với cùng kỳ năm trước mức tăng chủ yếu ở các nhóm hàng đồ uống, nhà ở vật liệu xây dựng và thuốc y tế do việc điều chỉnh tăng mức giá cả các mặt hàng điện, nước, thuốc và vật tư y tế, vật liệu xây dựng. Thị trường vàng và ngoại tệ đang có biến động lớn theo thị trường thế giới khi chỉ số giá vàng trong tháng tăng 7,29% so với tháng trước và tăng đến 46,32% so với cùng kỳ thiết lập mức đỉnh giá kỷ lục mới. CPI bình quân quý III năm 2025 mặc dù có giảm nhẹ 0,04% so với quý trước nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn tăng 1,68%. Tính chung 9 tháng năm 2025, CPI bình quân tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo địa bàn thì khu vực thành thị tăng 4,94%, nông thôn tăng 3,32%. Xét theo các nhóm ngành hàng, hầu hết các nhóm hàng đều có chỉ số tăng so với cùng kỳ, các nhóm hàng thiết yếu và có mức tăng mạnh có thể kể đến như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,09%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,51%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 11,77%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,34%;… Chỉ có nhóm hàng giao thông là có chỉ số bình quân giảm 4,32% do việc điều chỉnh giá xăng dầu trong nước giảm theo sát diễn biến thị trường thế giới. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống thuốc lá, điện nước sinh hoạt. Mức tăng chủ yếu trong quý I và quý II, bước sang quý III mức tăng giá cả đã ổn định hơn khi thời điểm này năm trước là kỳ giá cả biến động mạnh. Trong năm 2025, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4%. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo lạm phát (Chỉ số CPI) cả năm 2025 Hà Tĩnh sẽ ở mức khoảng 3,8%, thấp hơn mục tiêu 4% của Chính phủ. Mặc dù có áp lực từ giá dịch vụ y tế và một số hàng hóa thiết yếu, nhưng giá nhập khẩu giảm và cung tiền tín dụng tăng trưởng mạnh đã giúp kiềm chế lạm phát. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 10/2025 các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống sẽ tăng khi về cuối năm thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn, nhu cầu các nhóm mặt hàng như may mặc, thực phẩm, đồ dùng gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh đó giá cả nhóm các mặt hàng như điện, nước sinh hoạt sẽ giảm hơn khi thời tiết đã không còn quá gay gắt. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Tình hình lao động việc làm tại Hà Tĩnh trong quý III/2025 có chiều hướng giảm so với quý trước. Mặc dù, nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hà Tĩnh vẫn đang rất lớn nhưng việc tuyển dụng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may ở Hà Tĩnh: do mức tiền lương, chế độ phúc lợi mà các doanh nghiệp đưa ra chưa hấp dẫn người lao động, trong khi số lượng doanh nghiệp ngày càng nhiều đã tạo ra sự cạnh tranh rất lớn trên thị trường lao động; Mặt khác, việc thực hiện tổ chức sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được đẩy nhanh, nhiều cán bộ, công chức, viên chức từ tỉnh đến cơ sở ở Hà Tĩnh đã chủ động xin nghỉ theo Nghị định 178/2024/NĐ-CP và Nghị định 67/2024/NĐ-CP. 1.1. Giải quyết việc làm Theo số liệu Sở Nội vụ quý III/2025, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 5.314 người, giảm 37,67% so với quý trước và 25,19% so cùng kỳ năm 2024; so với tháng trước đều giảm ở cả ba nhóm lĩnh vực, chủ yếu ở lĩnh vực giải việc làm trong tỉnh (giảm 52,37%) và đi làm ngoài tỉnh (giảm 66,57%). Tính chung 9 tháng năm 2025, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 19.562 người, đạt 83,24% so với kế hoạch và tăng 6,77% so cùng kỳ năm 2024, chủ yếu tăng ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (tăng 26,86%) và xuất khẩu lao động (tăng 7,27%). 1.2. Lực lượng lao động Theo kết quả điều tra lao động việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước quý III năm 2025 là 536.742 người, giảm 0,53% so với quý trước và tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lực lượng lao động là nam giới chiếm tỷ trọng 50,18%, cao hơn 0,36 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 49,82%); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị chỉ chiếm 24,1%, chủ yếu vẫn đang tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 75,9%. Tính chung 9 tháng năm 2025, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 533.688 người, tăng 1,18% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, lực lượng lao động nam là 271.414 người, chiếm 50,86%; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 129.539 người, chiếm 24,27%. Quý III năm 2025, có đến 55,5% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, giảm 0,39 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,41 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025 tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 55,27%, tăng 0,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024, trong đó, tỷ lệ tham gia của nam cao hơn 5,15 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia của khu vực thành thị cao hơn 7,01 điểm phần trăm so với nông thôn. 1.3. Lao động có việc làm Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý III năm 2025 là 518.671 người, chiếm 96,63% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; giảm 0,47% so với quý trước và tăng 2,15% so với cùng kỳ năm 2024. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 123.375 người, chiếm 23,79% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 264.277 người, chiếm 50,95%. Lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng là 28,59% (tương ứng 148.275 người), giảm 0,03 điểm phần trăm so với quý trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 28,86% (tương ứng 149.679 người), tăng 0,35 điểm phần trăm; dịch vụ chiếm 42,55% (tương ứng 220.717 người), giảm 0,32 điểm phần trăm. Tính chung 9 tháng năm 2025, lao động có việc làm đạt 517.540 người, chiếm 96,97% tổng số lực lượng lao động và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2024. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 124.649 người, chiếm 24,08%; ở nam giới là 265.696 người, chiếm 51,34%. Lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 28,7% (tương ứng 148.544 người), giảm 0,53 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 28,63% (tương ứng 148.160 người), tăng 0,13 điểm phần trăm; dịch vụ chiếm 42,67% (tương ứng 220.836 người), tăng 0,4 điểm phần trăm. 1.4. Tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý III/2025 là 2,48%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,47%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp: Trong quý III dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 18.071 người, chiếm 3,37% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,06 điểm phần trăm so quý trước và 1,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 66,86% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 12.083 người), còn nữ giới chiếm 72,08% (tương đương 13.026 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý III ước tính là 4,29%, giảm 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 16.148 người, chiếm 3,03% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,68 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 69,71% (tương đương 11.257 người) và nữ giới chiếm 64,59% (tương đương 10.430 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2025 ước tính là 4,32%, giảm 0,18 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình Trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý III/2025 là 1.404 người, giảm 1,13% so với quý trước; tính đến tháng 9 năm 2025 có 2.728 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, so với thời điểm tháng 6/2025 tăng 597 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Nhìn chung 9 tháng năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cơ bản ổn định, kinh tế tăng trưởng khá, việc làm và thu nhập từng bước cải thiện. Tuy nhiên, bão số 5, số 6 xảy ra cuối tháng 8 gây mưa lớn, ngập úng hàng nghìn héc-ta lúa, hoa màu, làm hư hỏng nhà cửa, hạ tầng, ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt của người dân. Bên cạnh đó dịch tả lợn châu Phi, dịch lở mồm long móng diễn biến phức tạp gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Trước tình hình này, tỉnh đã ra Quyết định 2165/QĐ-UBND ngày 28/8/2025 về việc trích ngân sách dự phòng hơn 8,2 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương chi trả cho chủ chăn nuôi có gia súc phải tiêu hủy do dịch bệnh, triển khai Nghị định 116/2025/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật, mở rộng tín dụng chính sách cho hộ nghèo, ban hành Quyết định 45/2025/QĐ-UBND hỗ trợ người đã có nhà ở nhưng cách xa nơi làm việc tối thiểu 30 km trở lên và khoảng cách vị trí nơi có nhà ở xã hội được bán, cho thuê mua đến địa điểm làm việc tối đa 15km. Các chính sách này góp phần khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, giúp giảm bớt khó khăn, ổn định sinh kế, hỗ trợ tái sản xuất sau thiên tai, dịch bệnh nhằm nâng cao chất lượng đời sống nhân dân tỉnh nhà. Quý III và 9 tháng năm 2025 việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo, cụ thể: Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Quý III/2025, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền là 382,6 tỷ đồng, so với quý trước giảm 84,52 tỷ đồng (giảm 18,09%) và so với cùng kỳ năm trước tăng 53,78 tỷ đồng (tăng 16,36%). Tính chung 9 tháng năm 2025, chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền là 1.105,484 tỷ đồng. Trong đó, trợ cấp phụ cấp hàng tháng chi trả 1.018,994 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất với số tiền 90,84 tỷ đồng. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý III/2025, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng với tổng số tiền là 154 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng số tiền chi trả là 488,72 tỷ đồng. Trong đó, trợ cấp phụ cấp hàng tháng chi trả với tổng số tiền 455,122 tỷ đồng và nguồn hỗ trợ đột xuất 33,60 tỷ đồng. Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý III năm 2025, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác với tổng số tiền là 2,76 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng số tiền chi trả là 47,99 tỷ đồng.Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế: 9 tháng năm 2025, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 389.162 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 11.364 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 25.304 thẻ cho hộ cận nghèo; 138.831 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 41.091 thẻ cho người có công và 172.572 thẻ cho các đối tượng khác. Tình hình hỗ trợ gạo: 9 tháng năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 349,7 triệu đồng mua 23,3 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt thuộc huyện Hương Khê; các hộ nghèo, hộ cận nghèo tại huyện Cẩm Xuyên và huyện Đức Thọ. Việc hỗ trợ gạo tại địa phương được thực hiện trong quý I/2025.Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác: Quý III năm 2025 tỉnh hỗ trợ với tổng số tiền là 407,87 triệu đồng. Tính chung 9 tháng năm 2025 hỗ trợ 572,87 triệu đồng, trong đó chủ yếu hỗ trợ cho các đối tượng bị ảnh hưởng thiên tai do hạn hán, xâm nhập mặn và chủ chăn nuôi có gia súc phải tiêu hủy do dịch bệnh. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 Hà Tĩnh thực hiện chi trả theo Nghị quyết số 263/NQ-CP của Chính phủ về việc tặng quà nhân dân theo đó tỉnh đã chi trả 160,23 tỷ đồng.3. Giáo dụcNăm học 2024 - 2025, Hà Tĩnh tiếp tục đạt kết quả đáng kể trong giáo dục mầm non và phổ thông: Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đến trường đạt 100%), trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non đạt 100%; kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2024 - 2025 Hà Tĩnh đạt giải 84/98 học sinh dự thi, tỷ lệ 85,71%, tăng 08 giải so với năm trước; Hà Tĩnh đứng vị trí thứ 3 toàn quốc về tỷ lệ đạt giải; 01 học sinh đạt Huy chương Vàng Olympic Toán học Quốc tế. Kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 Hà Tĩnh có điểm trung bình các môn thi đạt 6,54 đứng thứ 02 toàn quốc với số lượng thí sinh được công nhận tốt nghiệp THPT là 16.799 thí sinh, chiếm tỷ lệ 99,82%. Trong tháng, ngành giáo dục Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ khai giảng tại 668 trường với gần 390.000 cán bộ, giáo viên và học sinh tham gia. Mặc dù bão số 5 làm hư hại 286 điểm trường, 458 phòng học, các địa phương đã khắc phục kịp thời để lễ khai giảng diễn ra an toàn, đồng bộ. Năm học 2025-2026, ngoài mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, tỉnh còn triển khai chính sách miễn học phí cho toàn bộ học sinh công lập và hỗ trợ học sinh ngoài công lập theo Nghị định 238/2025/NĐ-CP, góp phần giảm gánh nặng cho phụ huynh và đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục. Công tác giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên: Đến nay, tổng số tuyển sinh các trình độ: 11.070 người (trong đó cao đẳng: 1.002 người; trung cấp: 2.917 người; sơ cấp: 240 người; dưới 03 tháng: 6.911 người); tổng số người tốt nghiệp: 8.623 người (trong đó cao đẳng 536 người, trung cấp 1.600 người; sơ cấp 994 người; dưới 03 tháng 5.493 người). Thực hiện cấp bù miễn giảm học phí cho các trường cao đẳng, trung cấp. 4. Hoạt động y tếCông tác phòng chống HIV/AIDS: Trong quý III/2025, trên địa bàn phát hiện 2 ca nhiễm mới HIV, không có ca nào chuyển sang và chết do AIDS. So với quý trước số ca nhiễm mới giảm 3 ca và giảm 5 người chết do AIDS. Tính chung 9 tháng năm 2025 đã phát hiện 12 ca nhiễm mới HIV/AIDS, không có ca nào chuyển sang AIDS và có 5 ca chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 14 ca nhiễm mới, giảm 14 ca chuyển sang AIDS và số ca chết vì AIDS giữ nguyên không thay đổi.Công tác an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được các cấp ngành quan tâm, cơ bản trong tháng 9 và quý III không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra, cả quý III chỉ ghi nhận 51 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 9 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 4 người bị ngộ độc và có 528 ca ngộ độc đơn lẻ, không có ca nào tử vong vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể giảm 2 vụ và 9 người bị ngộ độc tập thể; giảm 153 người ngộ độc đơn lẻ và số người chết vì ngộ độc thực phẩm không xảy ra.Tình hình dịch bệnh khác: Trong quý III ghi nhận 42 ca mắc sốt xuất huyết. Ngoài sốt xuất huyết, các bệnh truyền nhiễm mùa hè như tiêu chảy, cúm, viêm đường hô hấp... có phát sinh nhưng được theo dõi sát sao nên không ghi nhận ổ dịch lớn. Tính chung 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 50 ca mắc sốt xuất huyết, 59 ca quai bị, 133 ca thủy đậu, hơn 10.200 ca mắc cúm,... các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do dịch bệnh. Nhìn chung, 9 tháng năm 2025, ngành y tế đã chủ động tham mưu các phương án tiếp tục ứng phó hiệu quả với các dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi và tái nổi có thể xảy ra. Việc giám sát phòng, chống dịch bệnh được triển khai tích cực, đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Hoạt động phòng, chống bệnh không lây nhiễm tiếp tục duy trì hiệu quả. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số toàn diện trong toàn ngành; xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, đồng bộ và an toàn. Đặc biệt, toàn ngành cần tập trung cao cho việc triển khai và hoàn thành bệnh án điện tử trước ngày 30/9/2025 theo đúng chỉ đạo của Bộ Y tế và UBND tỉnh. Cùng với đó, việc triển khai khám chữa bệnh bằng thẻ CCCD, kê đơn thuốc điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, cùng đầu tư nâng cấp bệnh viện và chuyển giao kỹ thuật tuyến trên, đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân. 5. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Nhìn chung đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Hà Tĩnh luôn được quan tâm, chú trọng. Trong 9 tháng năm 2025, hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi nổi, đạt nhiều kết quả nổi bật. Các hoạt động văn hóa được triển khai đồng bộ, gắn với tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước. Nhiều lễ hội lớn được tổ chức quy mô, an toàn, thu hút du khách như Lễ hội Chùa Hương Tích, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông, các lễ hội khai trương du lịch biển Xuân Thành, Thiên Cầm, Kỳ Anh... Công tác bảo tồn, phát huy di sản được chú trọng với hơn 680 di tích được quan tâm tu bổ, 100% di tích được quản lý, bảo vệ và khai thác theo đúng quy định. Nhiều di tích trọng điểm đã được tu bổ, tôn tạo gắn với phát triển du lịch văn hóa – lịch sử nông thôn, góp phần gìn giữ giá trị văn hóa và thu hút khách tham quan. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được duy trì, tỷ lệ gia đình và thôn văn hóa đạt trên 95%, các sản phẩm du lịch biển, tâm linh, nông thôn tiếp tục phát triển. Hoạt động thể dục thể thao: Về thể thao thành thích cao 9 tháng năm 2025 đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia thi đấu 42 giải quốc gia, quốc tế giành 214 huy chương (81 HCV - 59 HCB - 74 HCĐ); giải vô địch quốc gia Karate khu vực miền Trung, Tây Nguyên xếp thứ nhì toàn đoàn; giải vô địch trẻ Karate quốc gia lần thứ XXXI năm 2025 xếp thứ ba toàn đoàn; giải Đua thuyền Rowing vô địch các tay chèo xuất sắc xếp thứ 3 toàn đoàn; giải bóng đá U11, U13, U15, U19 vào Vòng chung kết; đội Bóng chuyền nam Hà Tĩnh tham gia giải bóng chuyền Hạng A quốc gia 2025, sau vòng bảng lọt vào Vòng Chung kết chuẩn bị thi đấu vào tháng 10/2025 tại Hà Tĩnh; giải vô địch Kickboxing miền Trung Tây Nguyên đứng thứ 3 toàn đoàn ở nội dung nữ. Về giải đấu thể thao chuyên nghiệp: Trên địa bàn đã tổ chức thành công các trận thi đấu bóng đá quốc gia trên sân vận động Hà Tĩnh. Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tham gia thi đấu giải Vô địch Quốc gia mùa giải 2024/25, kết quả xếp thứ 5/14; hiện nay đang tham gia thi đấu giải Vô địch Quốc gia mùa giải 2025/26, sau 3 vòng tạm xếp 6/14 và thi đấu ở giải Cúp Quốc gia 2025/2026. Phong trào thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục duy trì và phát triển sôi nổi, thu hút đông đảo cán bộ, công chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân tham gia. 6. Tình hình trật tự an toàn xã hộiTình hình an toàn giao thông: Quý III năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 77 vụ tai nạn đường bộ, làm 60 người chết, 57 người bị thương (giảm 13 vụ so với quý trước, tăng 5 người chết, tăng 1 người bị thương so với quý trước. Cũng trong quý này không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào, so với quý trước giảm 1 vụ, giảm 1 người bị thương. Tính chung 9 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 255 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 181 người chết, 148 người bị thương (giảm 63 vụ, tăng 9 người chết, giảm 50 người bị thương so với cùng kỳ năm trước) và 02 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương (giảm 1 vụ và giảm 1 người chết so với cùng kỳ năm trước). Tình hình cháy, nổ: Trong quý III/2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 23 vụ cháy, không gây thương tích về người. Giá trị thiệt hại ước tính 977,6 triệu đồng (giảm 3 vụ, giảm 2 người bị thương so với quý trước). Tính chung 9 tháng năm 2025, trên địa bàn đã xảy ra 61 vụ cháy, làm 2 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 1.559,72 triệu đồng (giảm 4 vụ, tăng 2 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Cả trong quý III và 9 tháng năm 2025 trên địa bàn không xảy ra vụ nổ nào. Vi phạm môi trường: Trong tháng 9, toàn tỉnh phát hiện 60 vụ vi phạm môi trường, tăng 43 vụ so với tháng trước và tăng 47 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 44 vụ, tăng 24 vụ so với tháng trước và tăng 28 vụ so với cùng kỳ năm trước với tổng số tiền xử phạt là 145,23 triệu đồng, giảm 1.191,78 triệu đồng (giảm 89,14%) so với tháng trước và giảm 364,23 triệu đồng (giảm 71,49%) so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh đã phát hiện 255 vụ, xử lý 210 vụ với tổng số tiền xử phạt đạt 3.204,74 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 23 vụ phát hiện, giảm 4 vụ đã xử lý nhưng tổng số tiền xử phạt tăng 1.921,24 triệu đồng (tăng 149,69%). 7. Tình hình thiên taiTrong 9 tháng năm 2025, trên địa bàn đã xảy ra 03 cơn bão, bao gồm: Bão số 5 (bão Kajiki), bão số 6 (bão Nongfa) và bão số 10 (Bualoi) gây mưa lớn trên diện rộng đã gây thiệt hại về người và tài sản. Ước tính thiệt hại có 03 người chết và bị thương 62 người; 10 ngôi nhà bị sập, 129.963 ngôi nhà bị thiệt hại; Về nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: 40.140 ha lúa Hè thu bị ngập, hư hỏng; 3.584 ha rau màu bị ngập, hư hỏng; 4.429 ha cây ăn quả và 23.000ha cây lâm nghiệp bị gãy, đổ; 1.283 ha diện tích nuôi trồng thủy sản và nhiều lồng bè bị thiệt hại; 99 tàu cá bị chìm đắm, hư hỏng; gia súc bị chết, cuốn trôi 250 con; gia cầm bị chết, cuốn trôi 86.200 con; Về cơ sở hạ tầng: 709 điểm trường; 127 cơ sở y tế, khám, chữa bệnh; 220 công trình văn hóa, 48 di tích lịch sử văn hóa bị hư hỏng; 151.534 cây xanh, cây bóng mát ở khu vực đô thị, nông thôn và trên các tuyến giao thông bị đổ, gãy; 4.483 cột điện các loại bị đổ gãy, 171km đường dây điện bị đứt, 7 trạm biến thế; 36 trụ sở cơ quan, 34 chợ, 18 nhà kho, phân xưởng bị thiệt hại; 85 cột ăng ten, 58 cột treo cáp bị đổ, gãy; trạm phát sóng Thiên Tượng và cơ sở 2 của Báo Hà Tĩnh cũng bị hư hỏng; 187m mái đê cấp IV trở xuống bị bong xô; 480m kè, 3.420m kênh mương hư hỏng, 13 cầu và 3 cống giao thông bị hư hỏng, sạt lở; 65 cụm đèn tín hiệu bị hư hỏng, nhiều tuyến đường giao thông địa phương bị ngập sâu, sạt lở, khoảng 700 m3 đất đá bị sạt lở cuốn trôi; hơn 1.800 m3 đất đá sạt lở bờ sông…Tổng giá trị thiệt hại ước tính do bão là 9.294 tỷ đồng. Trong đó, ước tính bão số 5 thiệt hại 2.900 tỷ đồng và bão số 10 thiệt hại 6.000 tỷ đồng. Ngoài ra, trong 9 tháng năm 2025 cũng xảy ra 01 vụ mưa lớn, sét đánh (xảy ra ngày 24-25/5) gây cháy hoàn toàn 01 ngôi nhà, thiệt hại 2.250 ha lúa vụ xuân bị ngập; 397 ha hoa màu bị ngập nước, gia súc bị chết, cuốn trôi 35 con; gia cầm bị chết, cuốn trôi 14.321 con, tổng giá trị thiệt hại ước tính 40,33 tỷ đồng. Và 07 vụ mưa lốc, giông, sét, mưa đá khiến 06 người chết do sét đánh, 02 người mất tích trên biển; 154 nhà bị thiệt hại, 01 trường học bị tốc mái, hoa màu bị thiệt hại 7 ha; gia súc bị chết, cuốn trôi 2 con, tổng giá trị thiệt hại ước tính 4,73 tỷ đồng. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh Quý II và 6 tháng đầu năm 2025
  •   08/07/2025 15:29

Sáu tháng đầu năm 2025, kinh tế Hà Tĩnh diễn ra trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, căng thẳng địa chính trị, đồng USD tăng mạnh gây áp lực tỷ giá, cùng với sự bất ổn trong chính sách thương mại quốc tế làm suy giảm tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng toàn cầu. Ở trong nước, cả hệ thống chính trị tập trung cao cho nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy mặc dù nhận được sự đồng thuận trong nhân dân, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Thủ tướng Chính phủ đã quán triệt rõ quan điểm “không để cải tổ bộ máy làm gián đoạn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Trước bối cảnh đó, bám sát lãnh đạo, chỉ đạo điều hành tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, Chương trình công tác trọng tâm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện; chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tăng trưởng kinh tế, tập trung sắp xếp tinh gọn bộ máy; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tập trung sản xuất và đẩy nhanh thu hoạch vụ Xuân; tổ chức các hoạt động mùa du lịch, nghỉ lễ; đẩy mạnh giải ngân đầu tư công; chăm lo đời sống Nhân dân, an sinh xã hội; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại.I. LĨNH VỰC KINH TẾ1.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 55.549 tỷ đồng; theo giá so sánh ước đạt 30.001 tỷ đồng tăng 8,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,79%, đóng góp 0,37 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 10,39%, đóng góp 4,19 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 7,93% đóng góp 2,87 điểm %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 7,14%, đóng góp 0,73 điểm % vào mức tăng trưởng chung.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh quí II năm 2025 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,57%, đóng góp 0,43 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 16,36%, đóng góp 6,03 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 8,17% đóng góp 2,95 điểm %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 5,29%, đóng góp 0,54 điểm % vào mức tăng trưởng chung. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay diễn ra trong thời tiết không mấy thuận lợi. Tuy nhiên, với quan điểm linh hoạt trong sản xuất bà con nông dân bám đồng quyết tâm khắc phục hậu quả sau mưa lũ, vì vậy năng suất, sản lượng các loại cây trồng ước đạt kế hoạch, tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, ngành nông nghiệp tăng 2,18%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 7,03% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,06 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,89%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung toàn ngành kinh tế tỉnh Hà Tĩnh. Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng toàn ngành công nghiệp ước đạt 8,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Riêng ngành xây dựng tăng 16,62%, đóng góp 1,54 điểm phần trăm. Nguyên nhân hiện nay trên địa bàn tỉnh nhiều công trình, dự án lớn đang được đẩy nhanh tiến độ thi công. Ngoài triển khai các dự án, công trình chuyển tiếp thì năm nay trên địa bàn tỉnh đã có những dự án được khởi công mới và mở rộng quy mô sản xuất, đây là nguồn lực lớn nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả năm 2025 và là nền tảng cho các năm tiếp theo. Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2025 tăng 7,93% so với cùng kỳ, đóng góp 2,87 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2025 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 14,54%, giảm 0,25% so với cùng kỳ năm 2024; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,04%, giảm 0,78 % (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 27,61%, giảm 1,52 %; ngành xây dựng chiếm 9,43%, tăng 0,74%); khu vực Dịch vụ chiếm 38,48%; tăng 1,13 %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,94%, giảm 0,10 % so với cùng kỳ năm trước. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong 6 tháng đầu năm 2025, hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản diễn ra trong bối cảnh thời tiết diễn biến bất thường. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo sát sao và kịp thời từ UBND các cấp cùng các sở, ngành chuyên môn, vụ Đông - Xuân vẫn được triển khai hiệu quả và đạt kết quả khả quan. Dù một số địa phương trong tỉnh đang xuất hiện các ổ dịch trong chăn nuôi, tình hình vẫn được kiểm soát tốt, góp phần giúp sản lượng thịt lợn và gia cầm xuất chuồng tăng đáng kể. Lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục phát triển tích cực, với diện tích rừng trồng mở rộng và khối lượng gỗ khai thác tăng mạnh. Ngành thủy sản giữ vững đà tăng trưởng ổn định; cả khai thác và nuôi trồng đều ghi nhận những chuyển biến rõ nét về năng suất và chất lượng sản phẩm. 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt * Cây hàng năm Kết quả sản xuất Vụ Đông Xuân 2024-2025: Toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 96.435 ha, giảm 0,98% (giảm 955 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 429.372 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước tăng 1,08% (tăng 4.581 tấn). Nhìn chung, vụ Đông Xuân năm nay đạt kết quả tích cực, cơ bản hoàn thành kế hoạch đề ra. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: Diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 59.276 ha, giảm 0,07% (giảm 41 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng lúa ước đạt 61,40 tạ/ha, tăng 0,35% (tăng 0,22 tạ/ha). Sản lượng lúa ước đạt 363.935 tấn, tăng 0,28% (tăng 1.034 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng ngô ước đạt 12.303 ha, tăng 323 ha so với cùng kỳ năm trước (tăng 2,7%). Năng suất ước đạt 53,19 tạ/ha, tăng 1,53 tạ/ha (tăng 2,95%). Nhờ đó, sản lượng ngô ước đạt 65.437 tấn, tăng 3.547 tấn so với cùng kỳ (tăng 5,73%). Diện tích gieo trồng lạc ước đạt 5.867 ha, giảm 11,26% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 27,31 tạ/ha (giảm 3,04%), sản lượng ước đạt 16.021 tấn, giảm 13,95% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng rau các loại đạt 10.817 ha, giảm 0,42% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 73,36 tạ/ha (tăng 2,71%), sản lượng ước đạt 79.681 tấn, tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Hè Thu năm 2025: Theo kế hoạch, tổng diện tích gieo trồng cây ngắn ngày toàn tỉnh vụ Hè Thu ước đạt 55.851 ha, với sản lượng lương thực phấn đấu đạt 238.820 tấn. Trong đó, cây lúa tiếp tục là cây trồng chủ lực với diện tích 45.170 ha, năng suất dự kiến đạt 52,31 tạ/ha, sản lượng phấn đấu trên 236.300 tấn. Cây ngô được gieo trồng trên diện tích 2.520 ha, năng suất dự kiến đạt 45,67 tạ/ha, sản lượng khoảng 11.508 tấn. Cây đậu được trồng trên 2.884 ha, năng suất ước đạt 10,04 tạ/ha, sản lượng 2.894 tấn. Rau các loại được gieo trồng trên 2.962 ha, năng suất ước đạt 78,21 tạ/ha, sản lượng khoảng 23.166 tấn. Tính đến ngày 20/6/2025, toàn tỉnh đã gieo cấy được 44.986 ha lúa vụ Hè Thu, đạt 100% kế hoạch và giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. * Cây lâu năm Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 2025 ước đạt 31.238 ha, giảm 0,33% giảm 104 ha so với cùng kỳ năm 2024. Với thời tiết và thổ nhưỡng của tỉnh thì cây ăn quả vẫn là cây chủ lực cho giá trị kinh tế cao, với diện tích chiếm trên 62% tổng diện tích cây lâu năm. Trong quý II năm 2025, sản lượng của một số loại cây ăn quả trên địa bàn ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước, cho thấy tín hiệu tích cực từ sản xuất nông nghiệp. Mặc dù thời tiết trong quý II năm nay không thực sự thuận lợi với những đợt mưa nắng xen kẽ và khó dự báo, song vẫn tạo điều kiện nhất định cho cây trồng sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất cao. Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, sản lượng cây ăn quả ước đạt 35.855 tấn, tăng 2,91% tăng 1.013 tấn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, tỉnh tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao thông qua các mô hình sản xuất với quy mô lớn, liên kết theo chuỗi giá trị bền vững, tổ chức sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ nhằm tạo ra sản phẩm có thương hiệu, giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường. b. Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi trâu, bò có xu hướng giảm do chăn nuôi trâu, bò lấy thịt có hiệu quả kinh tế không cao, chu kỳ sản xuất dài nên người dân chuyển sang các vật nuôi khác. Hiện nay dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp khiến tình hình chăn nuôi không ổn định, đặc biệt với khu vực hộ gia đình. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, dịch bệnh được kiểm soát. Để ngành chăn nuôi phát triển ổn định, bền vững, các cơ quan quản lý cần sớm đưa ra định hướng và giải pháp tháo gỡ khó khăn trước mắt và lâu dài. Cần hướng dẫn người dân, doanh nghiệp áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh hiệu quả; đồng thời nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ về giống, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm và tín dụng ưu đãi. Bên cạnh đó, người chăn nuôi cần theo dõi sát thị trường, chủ động phòng chống dịch bệnh và kịp thời báo cáo khi có dấu hiệu bất thường, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển chăn nuôi bền vững. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng (từ ngày 01/6 - 20/6/2025) Dịch tả lợn châu Phi tại 32 xã thuộc 8 huyện, gồm: Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh và TP Hà Tĩnh, làm 800 con lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy với tổng khối lượng 48.414,3 kg. Bên cạnh đó, dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò được ghi nhận tại xã Hương Thủy, huyện Hương Khê, khiến 5 con bò mắc bệnh. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 47 xã thuộc 8 huyện (Cẩm Xuyên, Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh) làm cho 3.283 con lợn, mắc bệnh chết, tiêu hủy. Hiện nay, tại 32 xã của 07 huyện, thành phố (Cẩm Xuyên, Hương Khê, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh) có Dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày. Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 06 xã thuộc 04 huyện (Nghi Xuân, Đức Thọ, Thạch Hà, Hương Khê) làm cho 15 con bò mắc bệnh (04 con đã chết, tiêu hủy) Hiện nay, tại xã Hương Thủy huyện Hương Khê có dịch Viêm da nổi cục trâu, bò chưa qua 21 ngày. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt đợt I năm 2025 tính đến ngày 20/6/2025: Trên đàn Trâu, bò vắc xin Lở mồm long móng tiêm được 91.995 con, đạt 94% KH, vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 59.871 con, đạt 61,2% KH, vắc xin Viêm da nổi cục tiêm được 36.881 con, đạt 45,3% KH; trên đàn lợn: vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 158.549 con, đạt 73,2% KH và vắc xin Dịch tả lợn tiêm được 180.292 đạt 83,1% KH; trên đàn gia cầm vắc xin Cúm gia cầm tiêm được 1945.372 con, đạt 39,4% KH. 2.2. Lâm nghiệp Trong quý II/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.987 ha, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 130.264 m3, tăng 22,6%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 3.284 ha, tăng 3,21%; sản lượng gỗ khai thác đạt 242.195 m3, tăng 15,78% do hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ có nhiều khởi sắc từ đầu năm, giá gỗ nguyên liệu tăng nên người dân đẩy mạnh khai thác gỗ đến tuổi thu hoạch. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, ngành quan tâm triển khai. Trong tháng 6/2025, toàn tỉnh xảy ra 6 vụ phá rừng, với tổng diện tích bị tác động là 1,87 ha. Tính từ đầu năm đến ngày 20/6/2025, toàn tỉnh ghi nhận 19 vụ phá rừng, giảm 4 vụ và giảm 2,84 ha diện tích rừng bị phá so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, không có vụ cháy rừng nào xảy ra trong thời gian này. 2.3. Thủy sản Trong quý II và 6 tháng đầu năm 2025, mặc dù thời tiết diễn biến thời tiết khá thất thường tuy nhiên hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì ổn định và tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khá. Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 29.414 tấn, tăng 5,72% so với cùng kỳ năm trước. Nhờ sự chủ động trong công tác phòng, chống thiên tai, cùng với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp, ngư dân và các cơ sở nuôi trồng đã thích ứng tốt, đảm bảo tiến độ sản xuất. Dịch bệnh trên thủy sản ít xảy ra, góp phần ổn định nguồn cung và chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, chi phí nhiên liệu có xu hướng giảm đã giúp giảm áp lực chi phí cho ngư dân, hỗ trợ hoạt động đánh bắt diễn ra thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, sự phục hồi mạnh mẽ của ngành du lịch trong mùa hè kéo theo nhu cầu tiêu thụ thủy hải sản tăng cao. Giá cả nhiều mặt hàng giữ ở mức ổn định, thậm chí một số loại tăng nhẹ, tạo động lực thúc đẩy bà con ngư dân tích cực vươn khơi bám biển, nâng cao hiệu quả khai thác và cải thiện thu nhập. Những tín hiệu tích cực này cho thấy ngành thủy sản đang nỗ lực vượt qua khó khăn, tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng trong điều kiện còn nhiều biến động. Tình hình dịch bệnh: Trong 6 tháng đầu năm 2025, dịch đốm trắng và hoại tử gan tụy đã xảy ra trên đàn tôm thẻ với tổng diện tích 3,35 ha. Trong đó, dịch đốm trắng xuất hiện trên diện tích 2,45 ha; còn dịch hoại tử gan tụy xảy ra trên diện tích 0,9 ha. 3. Sản xuất công nghiệp Bức tranh công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục có nhiều điểm sáng. Các ngành mũi nhọn như khai khoáng, sản xuất năng lượng và công nghiệp chế biến, nổi bật là sản xuất sợi, pin và cell pin ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng. Dù vẫn còn một số khó khăn, như áp lực từ xuất khẩu thép hay yêu cầu về tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường, Hà Tĩnh đã thể hiện rõ định hướng công nghiệp hóa bền vững và năng lực thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao. 3.1 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 6/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 9,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 3,27% so với tháng trước và giảm 2,08% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 1,37% so với tháng trước và tăng 10,19% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 0,56% so với tháng trước và tăng 6,59% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước tăng 0,33% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,5%. Quý II/2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 15,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng tăng 1,14%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,49%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,89%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,80% so với cùng kỳ năm 2024. Ngành sản xuất Pack Pin và Cell Pin đang là lợi thế tăng trưởng. Trong thời gian tới, thị trường pin lithium-ion tại Việt Nam, đặc biệt là sản phẩm của VinES, dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Cùng với sản lượng Pack tăng mạnh, Cell là nguyên liệu đầu vào cũng đạt sản lượng lớn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất Pin. Mặt khác, ngành dệt may và sợi tại Hà Tĩnh đang trên đà phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2025. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,23% đóng góp 0,27 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,92% đóng góp 3,76 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,38% đóng góp 0,47 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,57% đóng góp 0,12 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2025 ghi nhận những dấu hiệu tích cực làm tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh như: (1) Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng khác tăng 22,67% so với cùng kỳ năm trước. Các dự án lớn triển khai đồng loạt trên địa bàn, cũng như các mỏ khai khoáng được cấp phép và mở rộng là nguyên nhân trực tiếp tác động tích cực đến chỉ số sản xuất khai khoáng tăng mạnh trong các tháng đầu năm; (2) Với việc gia tăng đầu tư vào công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất và tận dụng tốt các cơ hội từ thị trường xuất khẩu. Thị trường quốc tế đang có xu hướng tăng nhập khẩu nguyên liệu dệt may để phục vụ ngành công nghiệp thời trang, đây là điều kiện thuận lợi để ngành sợi đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Sản lượng sợi dự ước đạt 5.018 tấn, tăng 29,87% so với cùng kỳ năm 2024; (3) Chỉ số sản xuất ngành sản xuất trang phục tăng 21,95% so với cùng kỳ năm trước, ngành may mặc đầu năm nay tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nhiều doanh nghiệp dệt may đã chủ động đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, tự động hóa để nâng cao năng suất, giảm chi phí lao động, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu giao hàng nhanh chóng hơn; (4) Hà Tĩnh hiện đang trở thành trung tâm quan trọng trong ngành sản xuất Pin tại Việt Nam từ đầu tư của Tập đoàn Vingroup. Tại Khu Kinh tế Vũng Áng, Vingroup đã triển khai hai nhà máy sản xuất Pin lớn. Để đáp ứng nhu cầu thị trường ô tô điện ngày càng phát triển, nhà máy sản xuất Pack Pin và Cell Pin đang vận hành với công suất cao từ đầu năm 2025. Sản lượng dự kiến 6 tháng đầu năm hơn 14 nghìn pack, tăng 7 lần so với cùng kỳ năm trước; sản lượng Cell Pin dự kiến đạt hơn 9,4 triệu cell. Do đó chỉ số sản xuất ngành này đang ở mức cao, góp phần tăng trưởng đáng kể vào ngành công nghiệp Hà Tĩnh trong thời gian tới. Tuy nhiên, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp Hà Tĩnh vẫn chưa đạt như kỳ vọng, phần lớn do sự sụt giảm trong ngành thép. Trong 6 tháng đầu năm 2025, sản lượng thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm ước đạt 1.914 nghìn tấn, giảm 5,75% so với cùng kỳ năm trước. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số sản xuất chung toàn ngành công nghiệp. Các rào cản thương mại từ các quốc gia khác, đặc biệt là những chính sách chống bán phá giá từ EU và Mỹ, gây ảnh hưởng đến xuất khẩu thép Việt Nam. Điều này làm giảm khả năng tiêu thụ thép sản xuất trong nước ở các thị trường quốc tế. Đồng thời, ngành thép Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước sản xuất thép lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á. 3.2 Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớn Ước tính 6 tháng đầu năm 2025, trong 21 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 14 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng và có 7 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất thiết bị điện tăng 17 lần; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 70,64%; khai khoáng khác tăng 22,67%; sản xuất trang phục tăng 21,95%; dệt tăng 29,87%;.... Bên cạnh đó, cũng có một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Khai thác quặng kim loại giảm 31,63%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 22,05%; sản xuất kim loại giảm 5,11%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 9,09%.... 3.3 Chỉ số tiêu thụ, tồn kho, tình hình sử dụng lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 6/2025 tăng 9,48% so với tháng trước, nhưng lại giảm nhẹ 1,04% so với cùng kỳ tháng 6/2024. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số tiêu thụ giảm 1,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành chủ lực sụt giảm đáng kể, đặc biệt sức tiêu thụ thép trên thị trường suy yếu. Chỉ số tiêu thụ ngành sản xuất kim loại giảm 8,83%, than cốc giảm 16,74%. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chế biến gỗ tại Hà Tĩnh đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các tỉnh khác và cả thị trường quốc tế. Việc mở rộng thị trường tiêu thụ và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm dăm gỗ của Hà Tĩnh là một thách thức lớn. Hiện tại, phần lớn dăm gỗ xuất khẩu từ Hà Tĩnh chủ yếu ở dạng thô, thiếu chế biến sâu, dẫn đến giá trị gia tăng thấp. Chỉ số tiêu thụ mặt hàng này 6 tháng đầu năm giảm 22,94%. Điều này tác động lớn đến chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Hà Tĩnh. Tuy nhiên, nhiều mặt hàng trong tổng số các nhóm sản phẩm trên địa bàn có chỉ số tiêu thu tăng cao so với cùng kỳ năm 2024 như: Sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 10,39%; sợi tăng 23,99%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 59,83%;… Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2025 tăng 39,81% so với tháng trước và tăng 25,01% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng mạnh do than cốc tăng 29,33%; sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 14,2%. Thị trường tiêu thụ thép cả nội địa và xuất khẩu giảm sút, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn sản xuất nhiều hơn nhu cầu thực tế để duy trì hoạt động. Điều này dẫn đến hàng hóa không bán được, phải lưu kho chờ cơ hội tiêu thụ. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2025 tăng 0,72% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 5,43%. Đầu năm 2025, tình hình sử dụng lao động tại Hà Tĩnh có những biến động đáng chú ý, phản ánh sự phục hồi và chuyển dịch trong cơ cấu lao động của tỉnh. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành như dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử duy trì ở mức cao. Cộng dồn đến cuối tháng 6 năm 2025, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,48% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 3,58% so với năm trước. Một số mỏ khai thác hết trữ lượng cho phép khai thác cũng như máy móc công nghệ hiện đại thay thế sức lao động là nguyên nhân dẫn đến chỉ số sử dụng lao động ngành này ngày càng giảm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,49% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,95%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 1,36% so với cùng kỳ năm 2024. 4. Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp Trong 6 tháng đầu năm 2025, tình hình thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực, chấp thuận chủ trương 20 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài. Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2024 (công bố năm 2025) tăng 8 bậc so với năm 2023 4.1 Thu hút đầu tư Tính từ đầu năm đến nay Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương 18 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 16.500 tỷ đồng (cùng kỳ chấp thuận 17 dự án với tổng vốn đăng ký 14.700 tỷ đồng); 02 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký gần 13 triệu USD. Lũy kế toàn tỉnh hiện có hơn 1.550 dự án quy mô 550.000 tỷ đồng. Hà Tĩnh tiếp tục đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án đã ký kết tại Hội nghị công bố quy hoạch tỉnh; tập trung chỉ đạo, hỗ trợ các nhà đầu tư để sớm hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư các dự án tại Khu kinh tế Vũng Áng. 4.2. Tình hình đăng ký kinh doanh Xây dựng Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Tính đến ngày 25/6/2025, toàn tỉnh có 820 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký 3.145 tỷ đồng, tăng 30,37% về số lượng doanh nghiệp, tuy nhiên giảm 12,97% số vốn đăng ký; có 242 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 2,81%; 130 doanh nghiệp giải thể, tăng 10,17%; 483 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 10,27% so với cùng kỳ năm 2024. Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Tuy nhiên do sự tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp... Vì vậy số lượng doanh nghiệp giải thể và đăng ký tạm ngừng hoạt động tăng cao so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho biết, trong quý II/2025, hai khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 54% và 82%. Bên cạnh đó, “Khó khăn về tài chính” là khó khăn mà doanh nghiệp đánh giá với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn là 42%. Đối với nhóm ngành chủ lực của Hà Tĩnh như dệt, sản xuất kim loại, sản xuất thiết bị điện, sản xuất đồ uống: Hai khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp trong Quý II/2025 là về đơn hàng tiêu thụ trong và ngoài nước. Sản phẩm công nghiệp Hà Tĩnh chủ yếu đang phụ thuộc thị trường nội địa, do đó nhu cầu thị trường trong nước và tính cạnh tranh của hàng trong nước đang là 2 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất, kinh doanh tổng quan quý III/2025 tốt hơn so quý trước với 50% doanh nghiệp đánh giá tốt lên; 33,33% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn và 16,67% doanh nghiệp cho rằng giữ nguyên so với quý trước. Dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất quý III/2025 có 60% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh tốt hơn so quý II/2025 và 34% đánh giá giữ ổn định. Cùng với đó, 98% doanh nghiệp cho rằng xu hướng đơn đặt hàng tăng lên và 98% doanh nghiệp đánh giá chi phí và lao động tăng lên hoặc giữ nguyên. Dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo 6 tháng cuối năm 2025 trên địa bàn Hà Tĩnh đánh giá lạc quan và triển vọng hơn. Cụ thể, có 64% doanh nghiệp cho rằng khối lượng sản xuất tăng lên và 30% cho rằng sẽ ổn định so với nửa đầu năm 2025. Có 100% doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống, trang phục, giấy nhận định sản lượng sẽ tăng trong thời gian tới. Cùng với đó, 97,7% doanh nghiệp dự báo đơn đặt hàng mới tăng hoặc giữ nguyên; 91,66% doanh nghiệp kỳ vọng thị trường xuất khẩu mở rộng hơn, đơn đặt hàng sẽ tăng lên hoặc giữ nguyên so với 6 tháng đầu năm 2025. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất gia tăng, 28,57% doanh nghiệp dự kiến tăng số lượng lao động trong ngành chế biến chế tạo tăng lên nửa cuối năm 2025. 5. Thương mại, dịch vụ Hoạt động thương mại dịch vụ diễn ra sôi động trong 6 tháng đầu năm 2025. Số lượng khách du lịch đến Hà Tĩnh tăng mạnh phản ánh hiệu quả của việc đầu tư công sau khi một số tuyến đường và đặc biệt tuyến cao tốc Bắc - Nam đoạn qua Hà Tĩnh chính thức đưa vào khai thác đã rút ngắn thời gian di chuyển, qua đó thu hút thêm lượng lớn du khách và tạo điều kiện phát triển thị trường tiêu dùng. 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn tỉnh những tháng vừa qua vẫn duy trì ở mức ổn định, nhiều chương trình xúc tiến thương mại được tổ chức đã tác động tích cực đến hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh; nguồn hàng luôn được cung ứng dồi dào, chất lượng tốt, giá cả hợp lý đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Trong quý II/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 23.176,51 tỷ đồng, tăng 4,08% so với quý trước và tăng 14,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 2,01% và tăng 14,12%; khách sạn, nhà hàng tăng 19,41% và tăng 17,98%; du lịch lữ hành tăng 85,29% và tăng 39,49%; dịch vụ khác tăng 9,13% và tăng 18,37%. Kết quả này cho thấy quý II đóng góp tới 51 % tổng doanh thu bán lẻ và tiêu dùng của hai quý đầu năm, với lĩnh vực lưu trú, ăn uống là điểm sáng nổi bật. Nguyên nhân chủ yếu là do kỳ nghỉ lễ dài ngày trùng vào mùa hè, thời tiết thuận lợi và hàng loạt chương trình du lịch biển khởi động từ tháng 4, khiến nhu cầu du lịch và chi tiêu tăng vọt, thúc đẩy mạnh mẽ doanh thu của các ngành kinh doanh liên quan trong giai đoạn này. Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 45.444,61 tỷ đồng, tăng 12,38% so với cùng kỳ năm trước (Năm 2024 mức tăng 18,47%). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm ước đạt 38.323,51 tỷ đồng, chiếm 84,33% tổng doanh thu và tăng 12,15% so với cùng kỳ năm 2024. Trong kỳ, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu tăng; các doanh nghiệp, cửa hàng tổ chức khuyến mãi với nhiều hình thức nhằm kích cầu tiêu dùng; nhu cầu tiêu dùng các thiết bị làm lạnh, làm mát tăng do thời tiết nắng nóng, giá vàng tăng cao đã góp phần làm tăng doanh thu bán lẻ hàng hóa. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 4.530,32 tỷ đồng, chiếm 9,97% tổng doanh thu và tăng 13,19%, trong 6 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn đón khá nhiều lượt khách đến tham quan. Công tác xúc tiến, quảng bá giới thiệu thế mạnh, tiềm năng, thu hút đầu tư phát triển du lịch địa phương ngày càng được đẩy mạnh, khách du lịch trong và ngoài nước đến với Hà Tĩnh ngày một đông. Lễ khai trương du lịch biển tại các địa phương, từ 15/4 đến ngày 01/5/2025 với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tổ chứa các sự kiện, lễ hội, các trò chơi dân gian, trưng bày, giới thiệu các sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc thù, văn hóa ẩm thực, không gian sinh hoạt cộng đồng,… thu hút du khách. Nhu cầu du lịch của người dân tăng cao vào các ngày nghỉ Lễ đã góp phần làm tăng doanh thu hoạt động khách sạn, nhà hàng. Doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 54,1 tỷ đồng, chiếm 0,12% và tăng 30,58%. Có thể nói, Hà Tĩnh là vùng đất rất giàu về tài nguyên văn hóa như chùa Hương Tích, khu tưởng niệm Nguyễn Du, Hải Thượng Lãn Ông… , đây là điều kiện thuận lợi để hình thành các tour du lịch trong ngày như một “hành trình trải nghiệm văn hóa”; các loại hình tour du lịch tâm linh cũng là lợi thế của Hà Tĩnh dành cho khách đi viếng thăm, dâng hương tri ân tại các địa chỉ đỏ như Ngã ba Đồng Lộc, Đền thờ cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hóa – lịch sử với trải nghiệm tâm linh, Hà Tĩnh đã xây dựng các tour trong ngày hấp dẫn, giàu chiều sâu, góp phần phát huy di sản, thu hút du khách và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững. Doanh thu dịch vụ khác trong 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 2.536,68 tỷ đồng (chiếm 5,58 %) và tăng 14,16 % so với cùng kỳ, tiếp tục cho thấy sự ổn định và tăng trưởng qua quý I (tăng 9,89 %) và quý II (tăng 18,37 %). Đà tăng này chủ yếu đến từ ba nhóm dịch vụ: Nhóm bất động sản đạt mức tăng đột biến 41,73 %, được thúc đẩy bởi thông tin sáp nhập các tỉnh, thành cùng tâm lý tích trữ tài sản trước biến động thuế quan, kích hoạt làn sóng đầu tư mạnh vào lĩnh vực này. Nhóm cho thuê máy móc, thiết bị (ngành 77) tăng 17,74 %, nhờ nhu cầu cao từ các dự án trọng điểm như Nhà máy ô tô điện VinFast, Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II, cùng hoạt động giải phóng mặt bằng tại các khu công nghiệp lớn. Trước thực trạng này, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các chính sách kinh tế một cách đầy đủ, rõ ràng trên các phương tiện truyền thông. Mục tiêu là giúp người dân, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và tiểu thương, hiểu rõ và nắm bắt cụ thể các quy định, tránh những hiểu lầm không đáng có dẫn đến việc kinh doanh bị ảnh hưởng tiêu cực. 5.2. Hoạt động vận tải Trong tháng 6/2025, doanh thu ngành vận tải và kho bãi ước đạt 865,1 tỷ đồng, tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng này phản ánh xu hướng tích cực của thị trường trong bối cảnh nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại tiếp tục gia tăng. Trong đó, vận tải hành khách tăng khá mạnh, nhờ tháng 6 là thời điểm bắt đầu kỳ nghỉ hè là cao điểm du lịch nội địa. Nhu cầu đi lại, tham quan, du lịch của người dân, đặc biệt là các nhóm học sinh, sinh viên và gia đình tăng cao, góp phần thúc đẩy doanh thu lĩnh vực này. Vận tải hàng hóa cũng ghi nhận mức tăng trưởng tốt, nhờ nhiều yếu tố hỗ trợ. Hoạt động xây dựng tiếp tục phát triển, nhiều dự án mới được khởi công và triển khai thi công, kéo theo nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng. Ngoài ra, hoạt động logistics, giao nhận hàng hóa thương mại điện tử cũng tiếp tục sôi động, góp phần vào tăng trưởng chung của ngành. Tăng trưởng tập trung chủ yếu trong quý II, với doanh thu vận tải ước đạt 2.519,28 tỷ đồng, tăng 14,35% so với quý I và tăng 12,27% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy không chỉ tăng trưởng bởi yếu tố thời vụ, mà còn phản ánh sự cải thiện của nền kinh tế, kéo theo nhu cầu vận tải tăng cao. Vận tải hàng hóa quý II đạt 1.581,66 tỷ đồng (chiếm 62,78% doanh thu vận tải quý II), tăng mạnh 24,53% so với quý trước và tăng 9,22% so với cùng kỳ. Mức tăng này đến từ việc quý II trùng với chu kỳ nhập nguyên vật liệu, tiêu dùng giữa năm và hoạt động xuất khẩu, cho thấy doanh nghiệp đang đẩy mạnh sản xuất, giao nhận để chuẩn bị cho nửa cuối năm. Vận tải hành khách đạt 418,97 tỷ đồng, tăng 5,85% so với quý trước và tăng mạnh 18,80% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ nhu cầu đi lại, du lịch tăng cao trong kỳ nghỉ hè. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu ngành vận tải và kho bãi ước đạt 4.717,79 tỷ đồng, tăng 13,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hàng hóa tiếp tục đóng vai trò chủ đạo với 2.935 tỷ đồng (tăng 15,79%), vận tải hành khách đạt 849,85 tỷ đồng (tăng 11,86%), và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 894,39 tỷ đồng (tăng 6,26%). 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2025 có nhiều thuận lợi hơn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ, thị trường bất động sản ổn định, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 30/6/2025 đạt 11.102,63 tỷ đồng (tăng 11,26% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 7.325,11 tỷ đồng (chiếm 65,98% trong tổng thu) tăng 49,76% so với cùng kỳ. Một số thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 531,37 tỷ đồng, giảm 18,55%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 3.556,22 tỷ đồng, giảm 23,40% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm do nguồn thuế thu từ doanh nghiệp Formosa giảm mạnh bởi gặp khó khăn trong hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm kim loại. Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp, 6 tháng đầu năm 2025 thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 1.488,57 tỷ đồng tăng 157,96% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 946,23 tỷ đồng, tăng 15,53% so với cùng kỳ năm 2023; các khoản thu về thuế nhà, đất đạt 2.770,60 tỷ đồng, tăng 82,59% so với cùng kỳ năm trước; ... Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 30/6/2025 đạt 18.370,18 tỷ đồng tăng 49,65% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 8.617,33 tỷ đồng chiếm 46,91% tổng chi, tăng 48,60% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 9.739,98 tỷ đồng chiếm 53,02% tổng chi, tăng 50,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 2.870,78 tỷ đồng tăng 33,53%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 2.812,38 tỷ đồng tăng 91,97% so với cùng kỳ năm 2024. 6.2. Hoạt động ngân hàng Ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực sự nỗ lực trong việc đảm bảo cung ứng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế. Mặt bằng lãi suất huy động được duy trì ổn định, một số tổ chức tín dụng đã tiến hành giảm lãi suất nhằm giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần phục hồi kinh tế xã hội, trong bối cảnh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế thấp. Công tác huy động vốn được các tổ chức tín dụng trên địa bàn đẩy mạnh ngay từ đầu năm. Với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động dự ước đến 30/6/2025 đạt 125.995 tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2024. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 14.134 tỷ đồng, chiếm 11,22% tổng nguồn vốn huy động, tăng 29,78%; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 111.861 tỷ đồng, chiếm 88,78%, tăng 14,46% so với cuối năm 2024. Dư nợ cho vay dự ước đến 30/6/2025 đạt 126.350 tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2024. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 97.934 tỷ đồng (chiếm 77,51 % tổng dư nợ), tăng 15,99%; dư nợ trung dài hạn đạt 28.416 tỷ đồng (chiếm 22,49% tổng dư nợ), tăng 16,05% so với cuối năm 2024. Công tác huy động vốn, tín dụng được tập trung chỉ đạo. Các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay, các chương trình lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, tiếp cận tín dụng. 7. Vốn đầu tư Hà Tĩnh là một trong các tỉnh thuộc nhóm có tỷ lệ giải ngân đầu tư công cao của cả nước. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 27.208 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2024. Hiện nay, tỉnh nhà tiếp tục tăng cường công tác quản lý quy hoạch, xây dựng, giao thông, tài nguyên môi trường. Tập trung triển khai các dự án trọng điểm, triển khai các kế hoạch làm đường giao thông, rãnh thoát nước, nâng cấp phục hồi mặt đường bê tông xi măng theo cơ chế hỗ trợ của tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2025, UBND tỉnh và các Sở, ban ngành đã có nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, xử lý kịp thời các vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đồng thời tăng cường vai trò của Chủ đầu tư trong việc đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, nghiệm thu khối lượng hoàn thành và giải ngân vốn kịp thời. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý II/2025 ước đạt 14.747,55 tỷ đồng tăng 18,35% so với quý trước và tăng 2,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 3.982,12 tỷ đồng, tăng 41,91% so với quý trước và giảm 19,14% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trong giai đoạn này, dự án cao tốc Bắc Nam qua địa bàn tỉnh đang ở giai đoạn hoàn thành, tuyến đường đã thông xe và cho phép phương tiện lưu thông dẫn tới nguồn vốn thực hiện giảm hơn so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 8.193,35 tỷ đồng, tăng 24,38% so với quý trước và tăng 90,91% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất ô tô điện Vinfast tại thị xã Kỳ Anh đẩy nhanh tiến độ thi công nhằm đưa vào sản xuất giai đoạn 1 từ đầu tháng 7/2025 tới, với tổng mức vốn thực hiện trong quý ước đạt 3.700 tỷ đồng (tăng 23,33% so với quý I). Bên cạnh đó một số dự án khác cũng có khối lượng vốn thực hiện cao như Nhà máy sản xuất Pin VinES lắp mới dây chuyền số 2, Nhà máy bê tông Viết Hải, Dự án D’Metropole, Tổng kho xăng dầu Giang Nam. Nguồn vốn đầu tư của hộ dân cư tăng mạnh (tăng 33,55% so quý trước, tăng 8,16% so cùng kỳ năm trước) trong bối cảnh thời tiết thuận lợi hơn và các chương trình ưu đãi lãi suất tín dụng thấp cho nhóm đối tượng vay xây, sửa nhà ở được các ngân hàng triển khai. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 2.572,09 tỷ đồng, giảm 16,14% so với quý trước và giảm 50,90% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực này nguồn vốn đầu tư giảm mạnh do các dự án lớn như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đến giai đoạn hoàn thành nên tổng vốn đầu tư đạt thấp, dự án Pin Lithium đã hoàn thành đi vào sản xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 27.208,19 tỷ đồng, tăng 7,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 6.788,13 tỷ đồng, giảm 14,18% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 14.780,76 tỷ đồng, tăng 101,84% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 5.639,30 tỷ đồng, giảm 43,52% so với cùng kỳ năm trước. Nửa đầu năm 2025, đã có nhiều dự án trọng điểm được khởi công và đẩy nhanh tiến độ thi công, trong đó một số dự án quy mô lớn khởi động từ năm 2024 đã bước đầu phát huy hiệu quả, điển hình là Dự án Nhà máy ô tô điện VinFast tại Khu kinh tế Vũng Áng với tổng mức đầu tư hơn 12.000 tỷ đồng, góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngành xây dựng, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến các ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ; Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II tiếp tục được triển khai đảm bảo tiến độ. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng 6/2025 của Hà Tĩnh ghi nhận những tín hiệu tích cực và có dấu hiệu khởi sắc hơn khi tăng khá so với tháng trước. Tuy vậy 6 tháng đầu năm vẫn chưa đạt mức kỳ vọng so với cùng kỳ. Tổng trị giá xuất nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2025 chỉ đạt 2.356,39 triệu USD, giảm 23,32% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 6 trị giá xuất nhập khẩu đã có nét khởi sắc, ước đạt 441,1 triệu USD, tăng 8,1% so với tháng trước, tăng 16,15% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá xuất khẩu ước đạt 160,5 triệu USD, tăng 9,09% so với tháng trước và tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng 6 so với cùng kỳ đều tăng mạnh như chè tăng 56,25%; dăm gỗ tăng 127,27%; hàng dệt và may mặc tăng 107,47%; xơ, sợi dệt các loại tăng 158,62%; thép, phôi thép tăng 20,08%. Đặc biệt là xuất khẩu thép từ FHS tăng 14,95%. Nguyên nhân chính là Tổng thống Mỹ Donald Trump chính thức ký sắc lệnh hành pháp nâng mức thuế nhập khẩu thép và nhôm lên 50% (trừ xuất xứ từ nước Anh), tức là tăng gấp đôi so với mức 25% trước đó. Mức thuế mới chính thức có hiệu lực từ ngày 4/6/2025. Vì vậy, các doanh nghiệp tăng cường sản xuất để đáp ứng nguồn hàng và xuất khẩu sớm trước khi mức thuế mới có hiệu lực. Trị giá nhập khẩu trong tháng 6 ước đạt 280,6 triệu USD, tăng 7,55% so với tháng trước, tăng 11,67% so với cùng kỳ năm trước (giá trị nhập khẩu từ Formosa ước đạt 205,7 triệu USD, tăng 21,27% và tăng 13,99%)… Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 2.356,39 triệu USD, giảm 23,32% so với cùng kỳ, trong đó, trị giá xuất khẩu ước đạt 805 triệu USD, giảm 26,65%. Mặc dù mặt hàng chè tăng 10,53%; hàng dệt và may mặc tăng 29,85%; hàng xơ, sợi dệt các loại tăng 12,85% nhưng ở chiều ngược lại mặt hàng dăm gỗ giảm 5,25%; mặt hàng thép, phôi thép giảm 32,11%. Chỉ tính riêng xuất khẩu của công ty Formosa trong 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 691,8 triệu USD (chiếm đến 85,94% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), giảm tới 32,08% so với cùng kỳ cho thấy sự đóng góp cũng như sự quyết định đối với hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh nhà. Trị giá nhập khẩu ước đạt 1.551,39 triệu USD, giảm 21,47% so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 1.166,780 triệu USD (chiếm 75,21%) giảm 17,28% so với cùng kỳ năm trước. Có thể thấy rõ kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh chịu tác động trực tiếp từ hoạt động xuất, nhập khẩu từ doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Mặc dù đã có các chính sách đa dạng hoá các mặt hàng và có sự tăng trưởng khá ở các nhóm hàng xơ, sợi, hàng dệt may và may mặc,… Tuy nhiên thị trường còn nhiều khó khăn khiến trị giá xuất nhập khẩu chưa có biến động nhiều. Dự báo hoạt động xuất nhập khẩu thời gian tới sẽ tiếp tục khó khăn khi thị trường tiêu thụ thép vẫn còn thiếu ổn định. Hà Tĩnh sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các nghị quyết của tỉnh về hoạt động xuất nhập khẩu, đồng hành cùng doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, khai thác hiệu quả các ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia. 9. Giá cả, lạm phát Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng phù hợp với biến động xăng dầu thế giới, giá nguyên vật liệu xây dựng tăng theo đà sôi động của hoạt động xây dựng, cùng với giá điện và nước tăng do nhu cầu sử dụng cao và việc điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân theo Quyết định số 599/QĐ-EVN ngày 07/5/2025 là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2025 tăng 0,1% so với tháng trước. So với tháng 12/2024 CPI tháng Sáu tăng 0,03% và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,91%. CPI bình quân quý II/2025 tăng 4,15% so với quý II/2024. Bình quân sáu tháng đầu năm 2025, CPI tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 6/2025, chỉ số CPI chung tăng 0,1% so với tháng trước (khu vực thành thị tăng 0,02%; khu vực nông thôn tăng 0,14%) và tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 0,1% của CPI tháng 6/2025 so với tháng trước, có 05 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 04 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 02 nhóm hàng giá ổn định. Trong 05 nhóm hàng tăng giá, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 1,26%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,97% do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo xu hướng giá nhiên liệu thế giới, nhu cầu tiêu thụ điện, nước sinh hoạt tăng cao, bên cạnh sự điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân, đồng thời hoạt động xây dựng sôi động trở lại cũng khiến giá vật liệu xây dựng như sắt thép, xi măng, cát đá tăng lên. Còn các nhóm hàng khác tăng không đáng kể do một số điều chỉnh nhỏ về giá dịch vụ y tế, thuốc chữa bệnh và chi phí giáo dục phụ trợ trong giai đoạn ôn thi cuối cấp. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng hóa và dịch vụ ghi nhận mức giảm giá đáng kể, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,46%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,39%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,32%. Nguyên nhân chủ yếu của xu hướng giảm này đến từ các yếu tố mùa vụ, thị trường và tâm lý tiêu dùng. Nhìn chung, các yếu tố cung – cầu, mùa vụ, thời tiết và tâm lý người tiêu dùng đã ảnh hưởng rõ nét đến mức giá của các nhóm hàng hóa, tạo nên sự phân hóa trong xu hướng giá cả tiêu dùng hiện nay. Bên cạnh các nhóm hàng tăng và giảm giá, có 2 nhóm ghi nhận mức giá ổn định trong kỳ là nhóm đồ uống và thuốc lá và nhóm bưu chính viễn thông. Góp phần tích cực trong việc kiềm chế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung, giúp ổn định mặt bằng giá cả thị trường trong bối cảnh một số nhóm hàng thiết yếu khác biến động mạnh. Chỉ số giá vàng tháng 6/2025 giảm 1,32% so với tháng trước và tăng 37,79% so với cùng kỳ; chỉ số giá đô la mỹ tăng 0,16% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý II/2025 tăng 4,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,92%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,43%; hàng hóa và dịch khác tăng 6,04%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,54%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,09%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,29%; Giáo dục tăng 0,73%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,31%; bưu chính, viễn thông tăng 0,15%. Riêng giao thông giảm 5,69%. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 năm 2025 sẽ tăng ở các nhóm hàng hóa, dịch vụ du lịch, ăn uống, thuỷ hải sản và giá phòng lưu trú, dịch vụ lữ hành. Giá điện và nước sinh hoạt tăng cao khi lượng tiêu thụ khả năng đạt ở mức cao khi tình hình thời tiết nắng nóng trên 35oC trên địa bàn tỉnh. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm Tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn Hà Tĩnh có những chuyển biến tích cực. Số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tác động của cách mạng về trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới về nhận thức và kỹ năng nghề nghiệp đối với người lao động. 1.1. Giải quyết việc làm Theo số liệu Sở Nội vụ, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý II năm 2025 là 14.248 người, tăng 149% so với quý trước và tăng 134% so quý cùng kỳ năm 2024. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025 số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 19.970 người, tăng 78,02% so với cùng kỳ năm trước. Điểm khác biệt đáng chú ý, trước đây số liệu về lao động được giải quyết việc làm chủ yếu là ở khu vực xuất khẩu lao động và đi làm việc ngoại tỉnh nhưng 6 tháng đầu năm 2025 đã có sự đảo chiều rõ rệt khi tỷ lệ lao động được giải quyết việc làm trong tỉnh đã chiếm đến 44,57%, chủ yếu ảnh hưởng trong quý II khi nhà máy Vinfast tăng cường tuyển dụng lao động để chuẩn bị đi vào hoạt động, bên cạnh đó, chỉ tính riêng trong tháng 5 và tháng 6, có 8 doanh nghiệp lĩnh vực may mặc đăng ký nhu cầu tuyển dụng hơn 3.250 lao động phổ thông. Đây là tín hiệu rất đáng mừng khi lực lượng lao động đã thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm việc làm tại chính quê hương. 1.2. Lực lượng lao động Theo kết quả điều tra lao động việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước tính quý II năm 2025 là 524.871 người, tăng 0,03% so với quý trước và tăng 2,83% so với cùng kỳ năm 2024. Trong tổng số, lực lượng lao động là nam giới chiếm tỷ trọng 52,07%, cao hơn 4,14 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 47,93%); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị chỉ chiếm 24,52%, chủ yếu vẫn đang tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 75,48%. Có đến 54,23% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, tăng 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng có sự chênh lệch giữa nam và nữ (lần lượt là 58,20% và 50,48%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 60,62%, và nông thôn chỉ là 52,43%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 524.795 người, tăng 3,40% so với cùng kỳ năm 2024; trong đó lực lượng lao động nam là 273.629 người, chiếm 52,14% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 128.673 người, chiếm 24,52%. Với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động bình quân 6 tháng là 54,22%, tăng 1,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024. So sánh giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ cho thấy cũng có sự chênh lệch đáng kể: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn 7,88 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị cao hơn 8,21 điểm phần trăm so với nông thôn. 1.3. Lao động có việc làm Từ kết điều tra lao động việc làm, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2025 là 513.687 người, chiếm 97,86% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,12 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,38 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 126.368 người, chiếm 24,60% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 267.251 người, chiếm 52,06% trong tổng số. So sánh với cùng kỳ năm trước ta thấy, số lao động có việc làm vẫn còn tăng nhưng rất chậm, nguyên nhân chính là do bão hòa xu hướng dịch lao động, số lượng việc làm của các cơ sở mới mở cũng không còn có tỷ lệ tăng cao như các năm trước, bên cạnh đó phần lớn những lao động muốn dịch chuyển về quê thì cũng đã về, các yếu tố bất ổn về chính trị, quân sự và chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng đã ảnh hưởng khá nhiều đến cơ hội cho lao động tiếp cận việc làm Tính chung 6 tháng năm 2025, lao động có việc làm đạt 513.271 người, chiếm 97,80% tổng số lực lượng lao động, giảm 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2024. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 126.321 người, chiếm 24,61%; ở nam giới là 267.207 người, chiếm 52,06%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động chuyển dần theo chiều hướng tích cực lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 28,59%, tăng về số lượng nhưng giảm về tỷ trọng so với cùng kỳ năm trước (tăng 1.889 người nhưng giảm 0,57 điểm phần trăm); công nghiệp - xây dựng chiếm 30,16% tăng cả số lượng và tỷ trọng (lần lượt tăng 6.373 người và tăng 0,28 điểm phần trăm); dịch vụ chiếm 41,25% cũng tăng cả số lượng và tỷ trọng (tăng 8.267 người và tăng 0,29 điểm phần trăm). 1.4. Tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý II/2025 là 2,38%, tăng 0,06 điểm phần trăm so với quý trước và 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,32%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Lao động không có việc làm (thất nghiệp) ước tính quý II/2025 là 11.184 người, chiếm 2,13% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,13 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,39 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 79,28% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 8.867 người) trong đó nam giới chiếm đến 53,88% (6.026 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý II/2025 ước tính là 4,73%, tăng 0,47 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,55 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng năm 2025, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 11.525 người, chiếm 2,20% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 79,59% (tương đương 9.173 người) và ở nam giới là 55,72% (6.422 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 6 tháng năm 2025 ước tính là 4,75%, giảm 0,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý II/2025 là 1.420 người; tính đến tháng 6 năm 2025 là 2.131 người. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 5 tiếp tục ổn định và có nhiều dấu hiệu khởi sắc, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và an sinh xã hội. Công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ và triển khai kịp thời. Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát, Hà Tĩnh đã tích cực vào cuộc triển khai quyết liệt. Toàn tỉnh đã hoàn thành 2.964 căn nhà kiên cố (trong đó có 2.281 căn nhà cho các hộ người có công, thân nhân liệt sỹ, hộ nghèo, cận nghèo thuộc chương trình do Thủ tướng Chính phủ phát động; 683 căn nhà cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn do địa phương chủ động vận động nguồn lực ngoài chương trình) về đích trước 5 tháng so với mục tiêu Trung ương giao. Với tổng kinh phí thực hiện là 124,47 tỷ đồng (mức hỗ trợ 70 triệu đồng/nhà xây mới và 30 triệu đồng/nhà sửa chữa), gồm: Ngân sách nhà nước 37,77 tỷ đồng; Quỹ Vì người nghèo hơn 36,63 tỷ đồng; xã hội hóa 3,88 tỷ đồng; hỗ trợ từ UBND TP Hà Nội 46,19 tỷ đồng. Bên cạnh đó từ ngày 16/6/2025, tỉnh Hà Tĩnh bắt đầu triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp gồm cấp tỉnh và cấp xã, thay thế cho mô hình ba cấp trước đây. Theo đó, tỉnh Hà Tĩnh sẽ giảm từ 209 đơn vị hành chính (ĐVHC) xuống còn 69 ĐVHC gồm 9 phường, 60 xã, giảm 140 xã ( đạt tỷ lệ 67%). Trong đó, 2 xã giữ nguyên, 67 xã, phường thuộc diện sắp xếp. Mô hình này góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý điều hành, cải thiện chất lượng phục vụ tại cơ sở. Qua đó người dân được tiếp cận các dịch vụ công nhanh hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong sản xuất, kinh doanh và tiếp cận các chính sách an sinh xã hội. 2.1. Công tác đảm bảo an sinh xã hội Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo, cụ thể:Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Quý II/2025, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền là 467,12 tỷ đồng, tăng 79,6% so với quý trước (tăng 207,015 tỷ đồng). Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền là 727,23 tỷ đồng. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý II/2025, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng với tổng số tiền là 152,979 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tổng số tiền chi trả là 334,720 tỷ đồng. Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý II năm 2025, toàn tỉnh đã chi trả và hỗ trợ với tổng số tiền là 2,688 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, tổng số tiền đã chi trả là 45,225 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán trao tặng khoảng 72.893 suất quà, trị giá 39,6 tỷ đồng và 6 tháng đầu năm tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 1,856 tỷ đồng tiền điện cho hộ nghèo (mức hỗ trợ quý I/2025 là 61.300 nghìn đồng/hộ/tháng; quý II/2025 là 64.280 nghìn đồng/hộ/tháng).Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương: nêu rõ số lượng thẻ tương ứng với từng nhóm đối tượng thụ hưởng: Trong 6 tháng đầu năm 2025, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 390.683 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 11.429 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 25.665 thẻ cho hộ cận nghèo; 138.918 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 42.006 thẻ cho người có công và 172.665 thẻ cho các đối tượng khác.Tình hình hỗ trợ gạo tại địa phương: Trong 6 tháng đầu năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 349,7 triệu đồng mua 23,3 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt thuộc huyện Hương Khê; các hộ nghèo, hộ cận nghèo tại huyện Cẩm Xuyên và huyện Đức Thọ. Các hoạt động hỗ trợ gạo tại địa phương được thực hiện trong quý I/2025 sang quý II/2025 không có hỗ trợ.Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương: Trong 6 tháng đầu năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã phát hơn 600 suất cháo, trị giá 15 triệu đồng đến tay bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đang điều trị tại các trung tâm y tế. Ngoài ra hỗ trợ cho các đối tượng bị ảnh hưởng thiên tai do hạn hán, xâm nhập mặn với tổng số tiền 150 triệu đồng.3. Giáo dục đào tạo. Năm 2025 là năm đầu tiên Kỳ thi tốt nghiệp THPT và Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 được tổ chức theo chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 với nhiều điểm mới, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tập trung cao độ không chỉ từ phía các em mà còn từ sự đồng hành, hỗ trợ chặt chẽ của nhà trường, thầy cô và ngành giáo dục tỉnh nhà.Đối với Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 16.430 thí sinh đăng ký dự thi, gồm 15.516 thí sinh đăng ký vào các trường THPT công lập không chuyên và 914 thí sinh đăng ký vào Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh. Đến ngày 15/6, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh công bố điểm thi vào lớp 10 năm học 2025-2026, điểm chuẩn đầu vào các trường, dao động từ 15 đến 22,75 điểm. Theo kế hoạch của Sở GD&ĐT, năm học 2025 - 2026, Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh tuyển sinh 13 lớp với 455 chỉ tiêu. Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường THPT công lập là 13.418 thí sinh.Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, toàn tỉnh có 17.026 thí sinh đăng ký dự thi theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Ngoài ra, có 331 thí sinh tự do đăng ký dự thi theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2006. Toàn tỉnh bố trí 36 điểm thi được đặt ở các trường THPT, THCS với 750 phòng thi, trong đó có 1 điểm thi cho thí sinh đăng ký dự thi theo Chương trình giáo dục phổ thông 2006 gồm 14 phòng tại Trường THCS Lê Văn Thiêm (TP Hà Tĩnh). Sau những áp lực, căng thẳng, lo âu rồi vỡ òa vui sướng, đến ngày 27/6/2025 các thí sinh Hà Tĩnh đã bước qua kỳ thi quan trọng nhất của tuổi học trò. Với sự nỗ lực "bứt tốc" của mỗi học sinh, cùng với sự đồng hành, hỗ trợ bài bản, chiến lược từ nhà trường và ngành giáo dục hy vọng sẽ mang lại những kết quả tích cực.4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm. Nhìn chung, trong quý II và 6 tháng đầu năm 2025, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát tốt. Ngành y tế đã chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch một cách đồng bộ, hiệu quả; không để xảy ra ổ dịch lớn, góp phần ổn định đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó triển khai có hiệu quả các hoạt động thuộc chương trình mục tiêu y tế - dân số trên địa bàn tỉnh. Các chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe cho người dân đạt và vượt kế hoạch đề ra. Công tác tiêm chủng mở rộng được triển khai đầy đủ, đúng lịch tại 100% xã, phường, thị trấn; tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên, các ca nhiễm HIV tiếp tục có xu hướng giảm.Công tác an toàn thực phẩm: Tình trạng buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn diễn ra khá khó kiểm soát trong cả nước nói chung và trên địa bàn Hà Tĩnh nói riêng. Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), các cơ quan chức năng đã tăng cường kiểm tra, giám sát và tuyên truyền các biện pháp bảo đảm ATVSTP cho người tiêu dùng, bên cạnh đó việc cơ quan Thuế đang dần triển khai việc kê khai đối với các hộ kinh doanh cá thể, đảm bảo xuất hóa đơn cho các loại hàng hóa đến tay người tiêu dùng hi vọng thời gian tới sẽ minh bạch trong khâu xuất xứ hàng hóa, góp phần chống hàng giả, hàng nhái và hàng kém chất lượng. Trong quý II/2025 không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào xảy ra nhưng có 197 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 4 người bị ngộ độc và 358 người bị ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi nhưng tăng 2 người bị ngộ độc; giảm 60 người ngộ độc đơn lẻ và số người chết không thay đổi. Tình hình dịch bệnh khác: Quý II là thời điểm mùa hè, thời tiết nắng nóng sẽ là điều kiện thuận lợi để các loại vi khuẩn, virus gia tăng, cộng với việc thời tiết diễn biến thất thường nên dịch sốt xuất huyết và một số bệnh truyền nhiễm khác được nhận định sẽ xảy ra sớm hơn các năm trước. Từ đầu năm đến nay, cả nước ghi nhận gần 23.000 ca sốt xuất huyết, trong đó có 5 người tử vong Tại Hà Tĩnh, nhờ chủ động thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch nên trong 6 tháng đầu năm 2025 toàn tỉnh chỉ ghi nhận 8 trường hợp sốt xuất huyết vãng lai và 8.445 ca mắc cúm, không có trường hợp tử vong. Ngoài ra, các bệnh truyền nhiễm như thủy đậu, tay chân miệng, quai bị, tiêu chảy... diễn ra rải rác, không thành dịch. Dù các ca bệnh xuất hiện rải rác, chưa hình thành ổ dịch song nếu chính quyền các cấp và người dân không được chủ quan, lơ là và phải vào cuộc quyết liệt, triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh có thể xảy ra.5. Hoạt động văn hóa - thể thaoHoạt động văn hóa: Trong 6 tháng đầu năm 2025, diễn ra sôi nổi, phong phú, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và quảng bá hình ảnh quê hương. Nhiều sự kiện văn hóa tiêu biểu được tổ chức như Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ IV, lễ hội Văn Miếu tôn vinh truyền thống hiếu học, và các hoạt động ngoại khóa giáo dục giá trị văn hóa dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm báo chí cách mạng Việt Nam, Hà Tĩnh đã tổ chức tọa đàm báo chí và trao giải cuộc thi viết Gương người tốt, việc tốt, góp phần thúc đẩy báo chí địa phương phát triển bền vững trong kỷ nguyên số. Bên cạnh đó các lễ hội lớn như Lễ hội chùa Hương Tích, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông thu hút đông đảo du khách, thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh. Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tiếp tục được chú trọng, với việc xét duyệt thêm 10 di tích cấp tỉnh. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được duy trì hiệu quả, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bền vững.Hoạt động thể dục, thể thao: Về thể thao thành thích cao trong 6 tháng đầu năm 2025 đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia thi đấu 11 giải quốc gia và quốc tế giành 61 huy chương các loại, trong đó có 27 huy chương vàng, 12 huy chương bạc và 22 huy chương đồng; đội Bóng đá U19 Hà Tĩnh tham dự và vào tứ kết tại giải Vô địch U19 Quốc gia 2025, đội Bóng chuyền nam Hà Tĩnh tham gia đạt giải Nhì tại Vòng loại giải hạng A quốc gia, được vào thi đấu vòng Chung kết. Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tham gia thi đấu giải Vô địch Quốc gia mùa giải 2024/2025, hiện nay sau 26 vòng đấu giành được 36 điểm, xếp thứ 5/14.Ngoài ra, phong trào thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục duy trì và phát triển sôi nổi, thu hút đông đảo cán bộ, công chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân tham gia. Các giải đấu thể thao và hoạt động thể thao quần chúng thường xuyên được tổ chức, trong 6 tháng đầu năm 2025 tỉnh đã tổ chức và phối hợp tổ chức thành công 7 giải thể thao cấp tỉnh. Thông qua các giải đấu này, phong trào thể dục thể thao quần chúng của Hà Tĩnh không ngừng được củng cố và lan tỏa sâu rộng, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.6. Tai nạn giao thông Nhằm đảm bảo an toàn giao thông, ngăn ngừa các vụ tai nạn giao thông chính quyền tăng cường kiểm soát, xử lý vi phạm và đẩy mạnh tuyên truyền luật giao thông. Đồng thời, việc cải tạo, nâng cấp các nút giao thông và hệ thống biển báo giúp giảm tai nạn, tạo môi trường giao thông an toàn hơn. Trong quý II năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 89 vụ tai nạn đường bộ, làm 54 người chết, 56 người bị thương. So với quý trước số vụ tai nạn không thay đổi nhưng giảm 12 người chết và tăng 20 người bị thương. Cũng trong quý xảy ra 01 vụ tai nạn đường sắt, so với quý trước giữ nguyên số vụ không có người chết nhưng tăng 1 người bị thương. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 178 vụ tai nạn đường bộ, làm 120 người chết, 92 người bị thương (giảm 52 vụ nhưng tăng 7 người chết và giảm 64 người bị thương so với cùng kỳ năm trước); 02 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương (giảm 1 vụ nhưng tăng 1 người chết so với cùng kỳ năm trước). 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổTình hình cháy, nổ: Quý II/2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 26 vụ cháy, làm 2 người bị thương. Giá trị thiệt hại ước tính 360,87 triệu đồng (tăng 14 vụ, tăng 2 người bị thương so với quý trước). Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 38 vụ cháy, làm 2 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 582,12 triệu đồng (tăng 2 vụ và 2 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Về vụ nổ từ đầu năm đến nay trên địa bàn không xảy ra vụ nổ nào.Công tác bảo vệ môi trường: Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo các địa phương đấy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân trong việc phát triển kinh tế phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, cộng với việc tăng cường công an về cấp xã nên việc nắm bắt tình hình trên địa bàn sát sao hơn do vậy công tác rà soát, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật cũng như giám sát chặt chẽ hơn công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở kinh doanh, thực hiện các thủ tục hồ sơ pháp lý và xây dựng công trình xử lý chất thải đạt chuẩn. Vì vậy các cơ sở kinh doanh cũng dần có ý thức hơn trong công tác đảm bảo vệ sinh môi trường trong sản xuất kinh doanh.Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, đã phát hiện 160 vụ, giảm 28 vụ (giảm 14,89%); đã xử phạt 135 vụ, giảm 35 vụ (giảm 20,59%); với tổng số tiền xử phạt 1.351,95 triệu đồng, tăng 109,47% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định số 1199/QĐ-UBND ngày 29/5/2025 về việc phê duyệt kế hoạch kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước năm 2025, theo đó sẽ có 26 đơn vị trên địa bàn tỉnh sẽ được kiểm tra trong thời gian từ quý II đến quý IV năm 2025 các vụ vi phạm được phát hiện khả năng sẽ tăng trong các quý tới. 8. Thiệt hại thiên taiTrong tháng quý II và 6 tháng đầu năm 2025 dù chưa vào giai đoạn cao điểm mùa mưa lũ nhưng đã xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, lốc, sét, mưa cường suất lớn, gây thiệt hại nặng nề đến người dân. Giữa mùa hè những trận mưa lớn kéo dài trút xuống địa bàn tỉnh Hà Tĩnh khiến nhiều xã bị ngập lụt cục bộ, lũ quét bất ngờ, gây thiệt hại nặng nề về tài sản, hoa màu. Trước tình hình đó, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ tỉnh Hà Tĩnh đã kịp thời hỗ trợ người dân di dời tài sản và khắc phục hậu quả thiên tai. Trong 6 tháng đầu năm 2025, trên địa bàn Hà Tĩnh đã có 5 người chết do sét đánh. Các tai nạn tập trung ở quý II (tháng 5 và 6) cho thấy sự nguy hiểm của giông sét trong mùa hè, nhất là với người dân lao động ngoài trời. Trận mưa lớn sét đánh vào ngày 24/5 gây cháy hoàn toàn 01 ngôi nhà Nhân ái; những trận mưa lớn bất thường khiến 2.250 ha lúa vụ xuân bị ngập, lúa đã thu hoạch bị ngập ướt 2.076 tấn; diện tích hoa màu bị thiệt hại 397 ha bị ngập nước. Gia súc bị chết, cuốn trôi 37 con; Gia cầm bị chết, cuốn trôi 14.321 con; ngoài ra các thiệt hại khác như 3 tàu cá nhỏ bị chìm, 11 tấn phân bón bị ướt… Tổng giá trị thiệt hại ước tính 40.355 triệu đồng.Công tác chỉ đạo ứng phó: Ngay sau khi thiên tai xảy ra các đồng chí Lãnh đạo tỉnh cùng các sở, ngành trực tiếp xuống kiểm tra, chỉ đạo công tác ứng phó, khắc phục tại các địa phương. Ngay ngày diễn ra mưa lớn Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành công điện số 3243 và Chủ tịch UBND tỉnh ban hành công điện số 09 (ngày 25/5/2025) chỉ đạo tập trung triển khai các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ trên địa bàn. Văn phòng thường trực Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh, các địa phương bố trí trực ban 24/24h để nắm tình hình thiên tai, thông tin đến các địa phương, đơn vị; tham mưu xử lý kịp thời các tình huống có thể xảy ra. Các địa phương đã triển khai các biện pháp kịp thời để đảm bảo an toàn cho người dân, hạn chế thiệt hại về tài sản khi mưa lũ xảy ra và đang huy động lực lượng khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ.III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚIPhấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025 và Công điện số 140/CĐ-TTg ngày 27/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số năm 2025. Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra, thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây:Một là, tập trung cao cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 8%; vận hành chính quyền 2 cấp hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ lớn, trọng tâm. Theo dõi sát diễn biến tình hình, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 8%. Triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán thu - chi ngân sách, đầu tư công 5 năm 2026-2030 và năm 2026. Tổ chức triển khai hiệu quả 04 Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị về: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hội nhập quốc tế; xây dựng và thực thi pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân. Bám sát các hướng dẫn của Trung ương, chú trọng công tác hoàn thiện các quy định, chính sách, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tháo gỡ, giải quyết ngay các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Sử dụng có hiệu quả tài chính, tài sản công, nhất là trụ sở làm việc; sắp xếp, bố trí và giải quyết tốt chế độ, chính sách cho người lao động trong quá trình sắp xếp bộ máy;Hai là, phục hồi sản xuất công nghiệp; duy trì ổn định sản xuất nông nghiệp; tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch. Thúc đẩy sản xuất công nghiệp, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tăng cường năng lực sản xuất, mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu. Tập trung chỉ đạo tổng thể các dự án trọng điểm tại Khu kinh tế Vũng Áng; kịp thời giải quyết các kiến nghị, đề xuất của Formosa tại buổi làm việc giữa Thường trực Tỉnh ủy với công ty ngày 27/5/2025; hỗ trợ các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án công nghiệp trọng điểm (Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, LNG Vũng Áng III, Nhà máy sản xuất ô tô điện, các dự án đầu tư hạ tầng và các dự án sản xuất kinh doanh trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp); xúc tiến triển khai các dự án mới. Bảo đảm cung ứng điện và nước cho sản xuất, sinh hoạt trong cao điểm mùa nắng nóng. Tiếp tục đẩy mạnh tập trung, tích tụ ruộng đất; nhân rộng các mô hình, chuỗi sản xuất theo hướng hữu cơ, tăng cường công tác dự báo ứng phó với các tình huống thiên tai; kiểm soát dịch bệnh chăn nuôi. Tăng cường các giải pháp phát triển xuất khẩu, tận dụng cơ hội từ các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) mà Việt Nam đã ký kết. Ba là,phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Phấn đấu thu đạt và vượt dự toán; tăng cường hậu kiểm, chống thất thu do trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế; hướng dẫn, hỗ trợ hộ kinh doanh trong triển khai chính sách thuế mới. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và không để xảy ra thất thoát, lãng phí trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh. Tích cực hỗ trợ nhà đầu tư triển khai các nội dung đã ký kết tại Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh. Phát huy vai trò các Tổ công tác nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, giải quyết hiệu quả các vụ việc tồn đọng kéo dài. Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ. Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ chính trị, xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao tỷ lệ dân số trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân; xây dựng kế hoạch để mỗi người dân có danh tính số, phương tiện số, kỹ năng số và tài khoản số hình thành công dân số; đẩy mạnh phong trào "học tập số" kết hợp triển khai chủ trương “bình dân học vụ số” trên địa bàn toàn tỉnh. Tổ chức Cuộc thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Hà Tĩnh lần thứ 7 năm 2025. Tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chỉ số chuyển đổi số (DTI) của tỉnh.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.