Sơ bộ diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm, cả năm 2018
- 19/11/2018 00:47
Năm 2018, hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh về cơ bản đạt khá. Vụ Đông Xuân 2018 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển. Vụ Xuân 2018 chịu ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh đầu vụ (từ tháng 12/2017 đến giữa tháng 02/2018) nhiệt độ xuống thấp làm chết cục bộ một số diện tích lúa gieo thẳng. Tháng 02 đến tháng 3/2018 có 2 đợt không khí lạnh, nhiệt độ trung bình 19,5-26,70C; thời kỳ phân hóa đòng, một số diện tích lúa vụ Xuân bị ảnh hưởng khô đầu bông khi trổ. Đầu vụ Hè Thu nắng nóng diện rộng làm cho một số diện tích lúa bị hạn cục bộ và diện tích gieo trỉa đậu xanh đạt thấp (65,8% KH). Từ ngày 15 - 19/7/2018 ảnh hưởng của bão số 3, gây mưa to, làm ngập úng và đổ ngã nhiều diện tích lúa, cây trồng cạn vụ Hè Thu (7.748,2 ha lúa, 1.918 ha hoa màu, rau màu; 2.966,7 ha cây trồng hàng năm bị ảnh hưởng). Vụ Mùa năm 2018 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7, thời tiết chủ yếu nắng nóng gay gắt, từ ngày 13/7/2018 đến ngày 19/7/2018 do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và cơn bão số 3 đã làm ảnh hưởng đến tình hình gieo trồng và năng suất sản lượng các loại cây hàng năm. Việc chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn phòng trừ các đối tượng dịch hại cây trồng, đặc biệt là bệnh đạo ôn cổ bông được triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời từ tỉnh đến cơ sở. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2018 toàn tỉnh sơ bộ đạt 154926 ha, bằng 97,30% giảm 4302 ha so với năm trước, diện tích giảm chủ yếu cây lúa vụ Hè Thu giảm 1365 ha, cây khoai lang giảm 469 ha, cây lạc vụ Xuân giảm 1453 ha, cây đậu các loại giảm 3208 ha. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 570884 tấn, so với cùng kỳ năm trước bằng 121,16% tăng 99363 tấn. Trong đó sản lượng lúa sơ bộ đạt 535253 tấn, so với cùng kỳ năm trước bằng 120,90% tăng 92521 tấn cơ bản khắc phục được sản lượng lúa năm 2017 mất do giống lúa Thiên Ưu. Sản lượng ngô sơ bộ đạt 35631 tấn, so với năm trước bằng 125,31% giảm 7197 tấn. 1. Cây lúa: Diện tích gieo trồng sơ bộ đạt 102798 ha, bằng 98,78% giảm 1273 ha so với thực hiện năm trước. Trong đó: Diện tích lúa Đông Xuân đạt 59143 ha, bằng 100,47% tăng 276,9 ha so với năm trước. Diện tích gieo cấy lúa Hè Thu đạt 43145 ha bằng 97% kế hoạch (KH 2018 = 44369 ha). So với cùng kỳ năm trước bằng 96,93% (giảm 1365 ha).... Diện tích gieo cấy lúa Mùa sơ bộ đạt 511 ha, bằng 73,4% giảm 185 ha so với vụ Mùa năm trước. Năng suất lúa cả năm sơ bộ đạt 52,07 tạ/ha, bằng 122,40% tăng 9,54 tạ/ha. Sản lượng lúa sơ bộ đạt 535253 tấn so năm trước bằng 120,90% tăng 92521 tấn. Diện tích lúa giảm 1273 ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 6659 tấn, năng suất lúa tăng 9,54 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 99180 tấn. 2. Cây ngô: Diện tích ngô sơ bộ đạt 9252 ha, bằng 120,23% tăng 1557 ha. Năng suất ngô cả năm sơ bộ đạt 38,51 tạ/ha bằng 104,22% tăng 1,56 tạ/ha; sản lượng ngô sơ bộ đạt 35631 tấn bằng 125,31%, tăng 7197 tấn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích ngô tăng 1557 ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 5996 tấn; năng suất ngô tăng 1,56 tạ/ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 1201 tấn. 3. Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng sơ bộ đạt 3692 ha, bằng 88,74% giảm 469 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang sơ bộ đạt 70,60 tạ/ha bằng 107,58%, tăng 4,97 tạ/ha so với thực hiện năm trước. Sản lượng khoai sơ bộ đạt 26063 tấn, so với cùng kỳ năm trước bằng 95,46% giảm 1240 tấn. Diện tích khoai sọ sơ bộ đạt 53 ha. Cây lấy củ có chất bột khác diện tích sơ bộ đạt 78 ha. 4. Cây sắn: Diện tích sắn sơ bộ đạt 2965 ha, so với cùng kỳ bằng 100,98%, tăng 29 ha. Năng suất sơ bộ đạt 142,67 tạ/ha, bằng 103,54% tăng 4,77 tạ/ha. Sản lượng sắn sơ bộ đạt 42299 tấn, bằng 104,47%, tăng 1809 tấn so với cùng kỳ. 5. Cây có hạt chứa dầu: Cây lạc diện tích cả năm sơ bộ đạt 13563 ha, bằng 89,72% giảm 1554 ha; trong đó lạc vụ Đông 30 ha tăng 12 ha, diện tích lạc vụ Xuân 13050 ha giảm 1453 ha, diện tích lạc vụ Mùa sơ bộ đạt 482 ha giảm 88 ha. Năng suất lạc cả năm sơ bộ đạt 26,74 tạ/ha bằng 114,18%, tăng 3,32 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lạc sơ bộ đạt 36265 tấn bằng 102,44%, tăng 864 tấn so với cùng kỳ. Cây vừng diện tích cả năm sơ bộ đạt 576 ha , bằng 77,66% giảm 166 ha; năng suất vừng sơ bộ đạt 4,77 tạ/ha bằng 105,10%, tăng 0,23 tạ/ha; sản lượng vừng sơ bộ đạt 275 tấn bằng 81,63%, giảm 62 tấn so với cùng kỳ năm trước. 6. Rau các loại: Diện tích rau các loại sơ bộ đạt 11988 ha, bằng 111,71% tăng 1257 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích rau các loại vụ Đông Xuân chính thức đạt 9620 ha bằng 115,56% tăng 1296 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất các loại rau cả năm (chủ yếu là rau muống, rau cải, dưa hấu, dưa chuột, bí xanh) sơ bộ đạt 68,18 tạ/ha, bằng 103,21% tăng 2,12 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng rau sơ bộ đạt 81730 tấn, bằng 115,30% tăng 10843 tấn so với cùng kỳ năm trước. 7. Đậu các loại: Diện tích gieo trồng đậu cả năm sơ bộ đạt 3503 ha, bằng 52,2% giảm 3208 ha, trong đó vụ Mùa diện tích đậu các loại ước đạt 2979 ha, bằng 47,84%, giảm 3247 ha so với thực hiện cùng kỳ. Huyện Hương Sơn giảm 1176 ha, Hương Khê giảm 721 ha, Vũ Quang giảm 287 ha. Năng suất đậu sơ bộ đạt 5,91 tạ/ha, bằng 100,07%; sản lượng đậu đạt 2072 tấn, bằng 52,24% giảm 1894 tấn so với cùng kỳ. 8. Hoa và cây cảnh: Do điều kiện thời tiết và kinh nghiệm trồng và chăm sóc còn hạn chế nên hiệu quả kinh tế từ trồng hoa và cây cảnh mang lại còn thấp. 9. Cây hàng năm khác: Diện tích cây hàng năm khác toàn tỉnh sơ bộ đạt 5138 ha, bằng 90,04% so với cùng kỳ năm trước, giảm 568 ha.
Công tác lập danh sách thôn xóm, vẽ sơ đồ nền, phân chia địa bàn Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tỉnh Hà Tĩnh
- 16/11/2018 19:16
Tổng điều tra dân số và nhà ở vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 thu thập các thông tin cơ bản về dân số và nhà ở nhằm các mục đích chính sau: Thứ nhất, biên soạn các chỉ tiêu dân số, nhân khẩu học và nhà ở phục vụ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; phân tích và dự báo tình hình phát triển dân số và nhà ở trên phạm vi cả nước và từng địa phương. Thứ hai, đáp ứng nhu cầu thông tin về dân số và nhà ở phục vụ đánh giá kết quả thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020; xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030; phục vụ công tác giám sát thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; giám sát các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết. Thứ ba, cung cấp thông tin phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia về dân số; xây dựng dàn mẫu chủ phục vụ các cuộc điều tra hộ dân cư thời kỳ 2019 - 2029. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 được tiến hành theo hình thức điều tra phiếu capi (phiếu điện tử) và phiếu papi (phiếu giấy). Đối với Hà Tĩnh, 100% địa bàn áp dụng hình thức điều tra theo phiếu capi. Điều tra viên sẽ được tập huấn, hướng dẫn và sử dụng điện thoại thông minh để tiến hành thu thập thông tin. Đây là một hình thức điều tra mới với nhiều ưu điểm vượt trội so với hình thức điều tra phiếu giấy như trước đây. Một số ưu điểm vượt trội như: quản lý được điều tra viên có đến hộ hay không thông qua chức năng định vị GPS; kiểm soát các bước nhảy trong hệ thống bảng hỏi; quản lý, cập nhật hệ thống thông tin nhanh chóng… Để chuẩn bị tốt cho công tác Tổng điều tra, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với Trung tâm tin học xây dựng hệ thống chương trình được sử dụng để quản lý, giám sát tiến độ và kết quả điều tra. Chương trình cho phép cập nhật danh sách lực lượng tham gia Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019 như: Ban chỉ đạo và Giám sát viên các cấp (Trung ương, Tỉnh, Huyện, Xã); Điều tra viên. Sau đó, phân quyền cho các Giám sát viên, Điều tra viên các cấp. Chương trình cung cấp chức năng duyệt số liệu điều tra để xác định đơn vị hành chính nào đã được kiểm tra. Ngoài ra, chương trình còn có các chức năng, tiện ích để thực hiện thống kê tiến độ, danh sách các hộ có trong bảng kê nhưng chưa được điều tra, cập nhật tiến độ điều tra phiếu giấy, báo cáo kết quả sơ bộ theo từng loại phiếu và phương pháp điều tra. Địa chỉ trang điều hành tác nghiệp: http://danso2019.gso.gov.vn/ Thực hiện Chỉ thị số 44/CT-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuẩn bị Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019. Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về việc chuẩn bị Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019; Thực hiện Quyết định số 01/QĐ-BCĐTW ngày 15 tháng 8 năm 2018 của Trưởng ban, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương về việc ban hành Phương án Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019. Tính đến ngày 12/10/2018, Ban chỉ đạo tổng điều tra tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện xong công tác lập danh sách thôn xóm, vẽ sơ đồ nền, phân chia địa bàn điều tra là một trong những bước quan trọng trong việc chuẩn bị cho Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Công tác nghiệm thu sơ đồ nền, phân chia địa bàn được Ban chỉ đạo tỉnh thực hiện nghiêm túc, đúng phương án. Về cơ bản, sơ đồ nền và phân chia địa bàn điều tra đạt yêu cầu nghiệm thu. Dữ liệu sơ đồ nền, danh sách thôn xóm, phân chia địa bàn điều tra đã được số hoá và cập nhật lên trang điều hành tác nghiệp Tổng điều tra. Toàn tỉnh có 262 xã, phường, thị trấn tương ứng với 262 sơ đồ nền xã phường. Toàn tỉnh có 2.109 thôn, xóm ,tổ dân phố được phân chia thành 2.680 địa bàn điều tra. Trong đó, có 477 địa bàn thuộc khu vực thành thị và 2.203 địa bàn khu vực nông thôn. Toàn tỉnh có 148 địa bàn đặc thù (trong đó 37 địa bàn ở khu vựa thành thị và 111 địa bàn ở khu vực nông thôn).
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2018 tỉnh Hà Tĩnh
- 01/11/2018 14:07
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2018 tỉnh Hà Tĩnh01/11/2018 Thị trường tháng 10 năm 2018 CPI tiếp tục tăng giá. Chịu ảnh hưởng từ giá lương thực, thực phẩm đều tăng, nhất là giá nhiên liệu xăng dầu được điều chỉnh tăng với biên độ cao. Một mặt hàng thiết yếu khác là giá gas nhiên liệu cũng được điều chỉnh tăng giá là những yếu tố khiến chỉ số giá tiêu dùng tháng này tăng khá cao. * CPI tháng 10 năm 2018, tăng 0,44% so với tháng trước, tăng 3,48% so với cùng tháng năm trước và tăng 3,09% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,45%; nông thôn tăng 0,42%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,65% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,03%, tăng 4,92% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,56% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,08%, tăng 0,59% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,56% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,10%, tăng 1,92% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 1,18% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 9,05%, tăng 7,71% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 3,50%, giảm 1,65% so với tháng 12 năm trước. Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm: Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,21% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,84%, tăng 0,54% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,09% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,69%, tăng 3,96% so với tháng 12 năm trước. Các nhóm Giáo dục; Bưu chính viễn thông; Thuốc và dịch vụ y tế; Đồ uống và thuốc lá ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước. Tác động đến CPI tháng 10/2018 biến động tăng, giảm so với tháng trước chủ yếu do: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhiên liệu xăng dầu điều chỉnh tăng mạnh so với tháng trước; (3) Giá mặt hàng vật liệu xây dựng, gas nhiên liệu tăng. * CPI 10 tháng đầu năm 2018 tăng 3,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,71%; nông thôn tăng 3,97%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,74%; Đồ uống và thuốc lá tăng 1,25%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,84%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,11%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,30%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,31%; Giao thông tăng 6,71%; Bưu chính viễn thông giảm 0,54%; Giáo dục tăng 16,11%; Văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,66%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. Sau 10 tháng, giá cả hàng hoá dịch vụ tiêu dùng vẫn chưa có dấu hiệu giảm, khi mà mức tăng trong tháng 10 vừa qua tiếp tục ở mức khá. Những nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm chưa giảm giá mà còn tiếp tục tăng. Trong khi những mặt hàng, dịch vụ mà Nhà nước quản lý và phân phối như giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tiếp tục tăng. * Dự kiến tháng 11/2018, Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong hai tháng cuối năm tiếp tục tăng. Khi mà giá lương thực, thực phẩm chưa có những dấu hiệu ảnh hưởng đến cung cầu tiêu dùng. Giá rau củ quả có thể giảm khi các loại rau vụ Đông sản xuất trong tỉnh có mặt trên thị trường. Trong khi đó, một số mặt hàng như lạc, đậu xanh, đường, gừng dự kiến tăng giá do các cơ sở sản xuất bánh kẹo, mứt các loại tăng lượng thu mua nhằm chuẩn bị nguyên liệu sản xuất phục vụ Tết Nguyên đán năm 2019. Giá các nhóm mặt hàng đồ dùng gia đình, bao gồm hàng điện tử, điện lạnh, đồ dùng nhà bếp; hàng may mặc dự kiến tiếp tục tăng giá do nhu cầu mua sắm những tháng cuối năm. Bên cạnh đó, do nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở dịp cuối năm nên giá sắp thép, vật liệu xây dựng tăng giá.
CỤC THỐNG KÊ HÀ TĨNH VÀ SỞ NÔNG NGHIỆP PTNT HÀ TĨNH PHỐI HỢP TRONG CÔNG TÁC THỐNG KÊ
- 30/10/2018 16:15
Thực hiện Quy chế phối hợp tại Văn bản số 105/QCPH-SNN-CTK ngày 09/3/2017 với sự tài trợ của Tổ chức Ngân hàng Thế giới (WORLD BANK GROUP) và Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn. Từ ngày 24 đến 27/10/2018, Cục Thống kê và Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn tổ chức hội nghị tập huấn cho gần 150 học viên chia thành hai lớp, mỗi lớp 1,5 ngày. Đối tượng học viên chủ yếu là cán bộ công chức, viên chức ngành Nông nghiệp từ các phòng chuyên môn thuộc Sở, các chi cục, các phòng nông nghiệp 13 huyện thành phố, thị xã và một số xã, phường, thị trấn. Đến dự chỉ đạo và trực tiếp giới thiệu nội dung có các đồng chí Lãnh đạo Sở nông nghiệp và Lãnh đạo Cục Thống kê tỉnh. Nội dung các lớp tập huấn gồm 6 chuyên đề chính: (1) Tổng quan về Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; hệ thống chỉ tiêu thống kê trong lĩnh vực nông nghiệp; Phổ biến thống tin thống kê; đánh giá bước đầu thực hiện các chỉ tiêu Tái cơ cấu ngành nông nghiệp; (2) Luật Thống kê 2015 và các văn bản thực hiện Luật Thống kê; xử phát vi phạm hành chính trong hoạt động thống kê; (3) Phương pháp tính và điều tra thống kê trong nông nghiệp trồng trọt cây hàng năm; (4) Phương pháp tính và điều tra thống kê trong lĩnh vực lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản; (5) Phương pháp tính giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), giá trị tăng thêm (VA) ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; các chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển; tái cơ cấu ngành nông nghiệp; (6) Định hướng phát triển và Tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp đến năm 2020; một số kỹ năng quản lý, tổng hợp, báo cáo. Trong quá trình chuẩn bị, Cục Thống kê đã cử một Tổ giảng viên gồm các đồng chí lãnh đạo Cục và Lãnh đạo các phòng: Nông nghiệp, Tổng, hợp, Thanh tra Cục trực tiếp chuẩn bị tài liệu và tham gia giảng bài. Đây là kết quả thực hiện Quy chế phối hợp lần đầu tiên, công tác chuẩn bị tài liệu cơ bản đầy đủ với gần năm trăm trang tài liệu (không tính các văn bản quy phạm pháp luật). Hội nghị tập huấn chỉ nêu những nội dung chính liên quan đến 6 nhóm chuyên đề trên. Kết thúc đợt tập huấn các đại biểu đã được tiếp cận và hiểu rõ hơn về các chỉ tiêu thống kê, các văn bản pháp luật về thống kê và phương pháp tính toán một số chỉ tiêu liên quan đến ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Ban tổ chức cũng đã thu được nhiều ý kiến thảo luận phản ánh thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở, cùng với đó một số đại biểu cũng đề nghị hàng năm mở các lớp tập huấn như thế này tại cấp huyện./. MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HỘI NGHỊ TẬP HUẤN
Hoạt động chào mừng ngày Thống kê Thế giới và Thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/2018
- 26/10/2018 10:47
CỤC THỐNG KÊ HÀ TĨNHVỚI PHONG TRÀO XÂY DỰNG VĂN HÓA CÔNG SỞ NĂM 2018Trần Thanh Bình Thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ công chức đầu năm 2018 về việc xây dựng cơ quan đạt chuẩn văn hóa công sở. Từ đầu năm, Ban chấp hành Công đoàn phối hợp với cơ quan đã xây dựng mục tiêu, kế hoạch, chương trình hành động. Kết quả thực hiện năm 2018 đã đạt được: Xây dựng mục tiêu, kế hoạch; chương trình hành động; đưa hoạt động dọn vệ sinh cơ quan vào đầu buổi sáng thứ hai hàng tuần; mỗi tháng có tổ chức lao động tổng thể cơ quan một lần vào buổi chiều thứ sáu của tuần cuối tháng; vệ sinh sạch sẽ từ trong nhà ra đến ngoài cổng. Phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chuyên môn một cách thường xuyên; kết quả thi đua được lãnh đạo Tổng cục Thống kê theo dõi, chấm điểm và đánh giá hoành thành xuất sắc nhiệm vụ. Báo cáo thống kê phục vụ đáp ứng yêu cầy của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Chỉnh trang, lát lại sân, vườn, vỉa hè; trồng thêm một số cây xanh, cây cảnh; phân công trách nhiệm của các Tổ Công đoàn trong việc chịu trách nhiệm vệ sinh, nhổ cỏ, chăm sóc cây cảnh theo từng khu vực trong vườn. Tổ chức phong trào thể thao bóng chuyền hơi được duy trì; tạo điều kiện cán bộ công chức vui vẻ, phấn khởi sau những giờ làm việc căng thẳng. Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ, kỷ niệm trong năm cùng với sinh hoạt chuyên đề. Mười tháng đầu năm đã tổ chức được 3/4 buổi sinh hoạt chuyên đề theo kế hoạch: (1) Sinh hoạt chuyên đề giới thiệu, tiếp cận và phát động nghiên cứu các chuyên đề, sáng kiến khoa học; (2) giới thiệu nội dung và phát động cuộc thi viết sáng kiến cải cách hành chính thu được 8 sáng kiến ở Văn phòng Cục trong tổng số 15 sáng kiến trong toàn ngành. Trong đó đề cử hai sáng kiến tham gia cuộc thi cấp tỉnh; (3) Sinh hoạt chuyên đề Văn hóa công sở do ông Trần Đăng Long - Chánh Văn phòng Tổng Cục Thống kê giới thiệu. Chào mừng kỷ niệm 8 năm ngày Thống kê Thế giới và 88 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10/2018, cơ quan Cục Thống kê tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề văn hóa công sở trong toàn ngành. Buổi nói chuyện đã lãm rõ vai trò trách nhiệm của mỗi cán bộ công chức, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu, vai trò của thủ trưởng. Quy tắc ứng xử của cán bộ công chức đối với trách nhiệm xây dựng cơ quan; trách nhiệm với công việc; văn hóa giờ giấc; văn hóa việc làm; văn hóa ứng xử với cấp trên, cấp dưới; văn hóa khách của cơ quan, với nhân dân và doanh nghiệp; văn hóa giữ gìn vệ sinh cơ quan v.v. Buổi sinh hoạt đã thu được nhiều kết quả và để lại trong sự nuối tiếc hết giờ của mỗi cán bộ công chức cơ quan. Cũng nhân dịp này, Cục Thống kê Hà Tĩnh đã tổ chức giao lưu thể thao, văn hóa với Cục Thống kê Nghệ An nhằm tăng cường tình đoàn kết, sự sẽ chia trong công việc cũng như trong cuộc sống giữa cán bộ công chức Cục Thống kê hai tỉnh./. Một số hình ảnh tại Hội nghị:
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2018 tỉnh Hà Tĩnh
- 01/10/2018 10:58
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2018 tỉnh Hà Tĩnh 01/10/2018 Thị trường tháng 9 năm 2018 CPI tiếp tục tăng giá. Mặc dù giá lương thực, điện, nước sinh hoạt giảm. Nhưng do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng cao hơn so tháng trước, tác động đến chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển các loại mặt hàng khác, khiến hàng hoá có xu hướng tăng hơn so những tháng trước. * CPI tháng 9 năm 2018, tăng 0,28% so tháng trước, tăng 3,58% so cùng tháng năm trước và tăng 2,64% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,31%; nông thôn tăng 0,26%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,93% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,38%, tăng 4,24% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,54%, tăng 0,04% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,57% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,92%, tăng 0,75% so với tháng 12 năm trước; Giáo dục tăng 0,10% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,45%, tăng 0,45% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 0,74% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 8,37%, tăng 6,45% so với tháng 12 năm trước; Bưu chính viễn thông tăng 0,04% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,77%, giảm 0,88% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,74%, tăng 4,06% so với tháng 12 năm trước. Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,48% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,57%, tăng 1,45% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,11% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 3,39%, giảm 1,74% so với tháng 12 năm trước Các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; Đồ uống và thuốc lá ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước. Tác động đến CPI tháng 9/2018 biến động tăng, giảm so tháng trước chủ yếu do: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhiên liệu xăng dầu điều chỉnh tăng mạnh so với tháng trước; (3) Giá mặt hàng thép xây dựng giảm; (4) Giá điện, nước sinh hoạt giảm do giảm khối lượng tiêu dùng. * CPI 9 tháng đầu năm 2018, tăng 3,91% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,77%; nông thôn tăng 4,01%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,50%; Đồ uống và thuốc lá tăng 1,23%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,82%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,35%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,34%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,42%; Giao thông tăng 6,46%; Bưu chính viễn thông giảm 0,49%; Giáo dục tăng 17,99%; Văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,33%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,21%. Tính chung, 9 tháng đầu năm 2018 tăng khá so với bình quân năm trước và có khả năng vượt ngưỡng kế hoạch năm. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm diễn biến phức tạp. Trong khi giá một số mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, điện nước đều tăng. Bên cạnh đó, xu hướng hiện tại từ nay đến cuối năm ít mặt hàng có khả năng giảm giá mạnh.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2018 tỉnh Hà Tĩnh
- 04/09/2018 10:56
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2018 tỉnh Hà Tĩnh4/9/2018 CPI tiếp tục tăng, giá mặt hàng thiết yếu lương thực, thực phẩm, rau củ quả, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt đều tăng. Việc giá cả hàng hoá tăng nhanh gây sức ép không nhỏ đến công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô và vi mô. Đồng thời, tác động đến bộ phận người dân có mức thu nhập ở mức trung bình khá trở xuống, ảnh hưởng đến mức sống dân cư. CPI tháng 8 năm 2018, tăng 0,33% so tháng trước, tăng 4,61% so cùng tháng năm trước và tăng 2,36% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,34%; nông thôn tăng 0,33%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,84%, tăng 3,28% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,94% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,84%, giảm 0,09% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,06% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,93%, tăng 1,94% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,20%, tăng 0,18% so với tháng 12 năm trước; Giáo dục tăng 0,35% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 15,77%, tăng 0,35% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,55% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 1,31%, tăng 0,38% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,77%, tăng 4,05% so với tháng 12 năm trước. Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm: Giao thông giảm 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 9,18%, tăng 5,68% so với tháng 12 năm trước; Các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông; Đồ uống và thuốc lá ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước. Tác động đến CPI tháng 8 biến động tăng, giảm so tháng trước chủ yếu do: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm cả rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhóm giáo dục tăng, tác động bởi các mặt hàng văn phòng phẩm, sách giáo khoa tăng; (3) Giá một số mặt hàng may mặc, chủ yếu nhóm quần áo sơ mi tăng giá; (4) Giá xăng dầu bình quân tháng tăng nhẹ. * CPI 8 tháng đầu năm 2018, tăng 3,95% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,85%; nông thôn tăng 4,03%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,14%; Đồ uống và thuốc lá tăng 1,20%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,85%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,58%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,40%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,57%; Giao thông tăng 6,22%; Bưu chính viễn thông giảm 0,45%; Giáo dục tăng 20,39%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,06%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,15%. Tính chung, 8 tháng đầu năm 2018 tăng khá mạnh so với bình quân năm trước, đã và đang gây nhiều sức ép đến kế hoạch kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Mức tăng đã gần chạm ngưỡng kế hoạch cả năm (3,95%/4%). Nguyên nhân chính là do giá lương thực, thực phẩm diễn biến phức tạp, có mức biến động lớn. Cùng với việc giá xăng dầu qua nhiều lần điều chỉnh, hiện đã tăng tới 16,64% so bình quân 8 tháng năm trước. Giá nước sinh hoạt và điện sinh hoạt sau lần điều chỉnh giá cơ bản từ cuối năm 2017 cũng gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình giá cả tiêu dùng hiện nay. * Dự kiến CPI tháng 9/2018, Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiếp tục tăng giá. Nguyên nhân giá văn phòng phẩm và hàng may mặc dự kiến tiếp tục tăng.
Tỉnh Hà Tĩnh thành lập Ban Chỉ đạo Tổng điều dân số và nhà ở năm 2019
- 31/08/2018 08:29
Thực hiện Chỉ thị số 44/CT-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuẩn bị Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019. Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về việc chuẩn bị Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019; Thực hiện Quyết định số 01/QĐ-BCĐTW ngày 15 tháng 8 năm 2018 của Trưởng ban, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương về việc ban hành Phương án Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019.Hà Tĩnh thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2019 theo Quyết định số 2599/QĐ-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tỉnh Hà Tĩnh gồm có 14 người , bao gồm các thành phần đơn vị, sở, ban, ngành tham gia đúng quy định trong Phương án Tổng điều tra, cụ thể: Ông Đặng Quốc Vinh -Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban; Ông Nguyễn Việt Hùng - Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh làm Phó trưởng ban thường trực; Ông Trần Thanh Bình - Phó cục trưởng Cục Thống kê làm Ủy viên thường trực; Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Phó Giám đốc các Sở, Ban, Ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh, Ngoại vụ, Xây dựng, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông tin - Truyền thông, Tài chính làm ủy viên.
Xây dựng và phát triển công tác thống kê
- 20/08/2018 13:41
Chi cục Thống kê huyện Vũ Quang: 18 năm xây dựng và phát triển (24/8/2000 - 24/8/2018) Huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh được thành lập theo Nghị định số 27/2000/NĐ-CP ngày 04/8/2000 của Chính phủ và đây cũng là móc đánh dấu 18 năm Cục Trưởng Cục Thống kê Hà Tĩnh đã ký Quyết định số 322/TTg ngày 24/8/2000 thành lập Phòng Thống kê huyện Vũ Quang tiền thân của Chi cục thống kê huyện Vũ Quang ngày nay, kể từ ngày ấy đến bây giờ đối với sự phát triển của một đơn vị Thống kê cấp huyện không phải là chặng đường dài nhưng khoảng thời gian đặc biệt ấy có ý nghĩa quan trọng vì nó đã ghi nhận những bước phát triển từ sự ra đời, trưởng thành và khẳng định vị thế của đơn vị trẻ như Chi cục Thống kê huyện Vũ Quang. Nhìn lại chặng đường 18 năm phát triển và trưởng thành, Chi cục Thống kê huyện Vũ Quang rất đỗi tự hào về thành tựu đạt được, nhu cầu thông tin của đời sống xã hội đòi hỏi ngày một cao hơn. Dưới đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, công tác thống kê có nhiều đổi mới sâu sắc, nội dung phương pháp thống kê được chuyển đổi theo hệ thống tài khoản Quốc gia (SNA). Tổ chức áp dụng các bảng phân ngành kinh tế, tăng cường điều tra theo phương pháp chọn mẫu và nâng cao công tác thống kê xã hội, môi trường. Trong những năm gần đây ngành thống kê đã tập trung hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê. Cùng với đó là hệ thống chỉ tiêu cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã theo Quyết định 13/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đáp ứng nhu cầu thông tin, đổi mới nội dung phương pháp, nhằm phản ánh đầy đủ bức tranh kinh tế - xã hội và phù hợp với thông lệ quốc tế. Cán bộ Chi cục qua các năm công tác Cùng với toàn ngành Thống kê Hà Tĩnh, đội ngũ cán bộ Chi cục Thống kê huyện Vũ Quang cũng không ngừng phát triển. Toàn Chi cục luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; qua đó tham mưu đắc lực cho cấp ủy Đảng, Chính quyền hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Triển khai thực hiện tốt nhiều cuộc điều tra, nhằm đáp ứng đầy đủ thông tin trong đó đã tổ chức được nhiều cuộc điều tra lớn như: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Tổ chức tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản vào các năm 2001, 2006, 2011, 2016. Tiến hành tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp vào các năm 2002, 2007 và 2012, 2017. Nhờ nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, tăng cường các hoạt động phân tích và dự báo thống kê, công tác phổ biến thông tin thống kê đã được đổi mới cả hình thức và nội dung. Nguồn thông tin cung cấp ngày càng phong phú, đa dạng, nâng cao chất lượng thông tin, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong xu hướng hội nhập và phát triển của huyện, tỉnh. Từ những con số của kết quả điều tra, thống kê cập nhật số liệu hàng tháng, hàng quý trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội để cung cấp cho cho các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn. Thông qua số liệu tổng hợp, phân tích bằng những con số “biết nói” để làm căn cứ đánh giá kết quả thực trạng của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa bàn giúp cơ quan chức năng đề ra các giải pháp, chính sách và quy hoạch tổng thể của huyện. Hiện nay, đội ngũ cán bộ trong Chi cục Thống kê có 4 cán bộ công chức trong đó 100% có trình độ đại học. Trước đòi hỏi đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới, đội ngũ cán bộ trong Chi cục không ngừng học tập, nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu về chất lượng, số liệu thống kê. Ghi nhận những đóng góp, nỗ lực vượt lên của đội ngũ Thống kê huyện Vũ Quang trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của ngành, của huyện trong những năm qua, Chi cục Thống kê huyện Vũ Quang đã vinh dự được Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhiều năm liền công nhận là Tập thể lao động xuất sắc và tăng nhiều Bằng khen của Bộ, của UBND tỉnh và giấy khen của Cục Thống kê Hà Tĩnh, UBND huyện Vũ Quang và các cấp, ngành liên quan khác. Trong những năm tiếp theo, Chi cục thống kê huyện Vũ Quang đã định hướng và đề ra các giải pháp trong phát triển và hội nhập. Trong đó thực hiện tốt công tác nắm bắt số liệu, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời phục vụ nhu cầu xây dựng chiến lược, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tiếp tục nâng cao trình độ thông qua đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, đảm bảo chất lượng đội ngũ thống kê từ huyện đến xã. Thực hiện tốt chức năng tham mưu và cung cấp thông tin số liệu cho hoạch định cơ chế, chính sách của huyện và nhất là sắp tới trong năm 2019, Chi cục quyết tâm hoàn thành tốt cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở 2019 theo phương pháp điều tra áp dụng công nghệ thông tin mới. Hoàn thiện hệ thống và đồng bộ các phương thức thu thập số liệu giữa các cuộc tổng điều tra, điều tra mẫu. Trong đó đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thống kê, cập nhật kiến thức mới để thu thập, cung cấp thông tin hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực xã hội. Với lòng tự hào và trân trọng những thành quả đạt được trong 18 năm hình thành và phát triển, đây là dịp ôn lại truyền thống và bản sắc riêng của đơn vị, cũng là dịp tự nhìn lại chính mình. Những điểm mạnh, điểm yếu được xác định là cơ sở xây dựng các mục tiêu chiến lược của Chi cục trong tương lai. Cơ hội, thách thức là rất nhiều, nhưng với tính nghiêm túc, chặt chẽ, hướng về cái mới, hi vọng rằng một hình ảnh Chi cục Thống kê Vũ Quang sẽ nhiều thay đổi hơn nữa, đáp ứng yêu cầu của ngành Thống kê, của huyện Vũ Quang và của xã hội.