0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2024 tỉnh Hà Tĩnh

01/01/2025 10:06

Triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới diễn biến phức tạp, xung đột leo thang, đứt gãy chuỗi cung ứng. Trong nước, nền kinh tế duy trì xu hướng phục hồi ngày càng rõ nét, tuy nhiên còn thiếu vững chắc. Đứng trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm.

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ước năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phục hồi tích cực, các ngành, lĩnh vực đạt được những kết quả quan trọng. Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, các dự án công nghiệp lớn trên địa bàn được đảm bảo tiến độ, du lịch, dịch vụ đạt mức tăng khá, các hoạt động quảng bá du lịch, hoạt động vui chơi giải trí diễn ra sôi nổi, giải ngân đầu tư công, các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược theo định hướng quy hoạch tỉnh được đẩy mạnh triển khai. Bên cạnh những điểm nổi trội thì nền kinh tế công nghiệp tỉnh nhà vẫn chưa phục hồi rõ nét, tăng trưởng chưa đạt yêu cầu, các sản phẩm chủ lực chưa tạo được sự đột biến, trong đó động lực tăng trưởng chính từ Formosa sụt giảm, nhất là sản lượng thép sản phẩm mới pack pin chưa đóng góp như kỳ vọng. Bức tranh kinh tế - xã hội năm 2024 tỉnh Hà Tĩnh được nhìn nhận qua chỉ tiêu chủ yếu.

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2024 ước tăng 7,48% so với năm trước, xếp thứ 31 toàn quốc và thứ 4/6 khu vực Bắc Trung Bộ.

Trong mức tăng trưởng chung toàn tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tăng 3,80%, đóng góp 6,59%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước tăng 8,20%, đóng góp 48,18%; khu vực dịch vụ ước tăng 8,06% đóng góp 36,62% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 7,06%, đóng góp 8,60% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Ngành nông nghiệp ước tăng 3,48%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp ước tăng 6,39% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,07 điểm phần trăm; ngành thủy sản ước tăng 4,04%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản gặp nhiều thuận lợi, tốc độ tăng trưởng tăng cao. Sản xuất nông nghiệp được mùa, giá bán cao hơn các năm trước; chăn nuôi duy trì ổn định, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng nhẹ; sản xuất lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định.

Khu vực công nghiệp, xây dựng: Sản xuất công nghiệp năm 2024 có nhiều khởi sắc khi mà Nhà máy Nhà Nhiệt điện Vũng Áng I đã hoạt động cả 2 tổ máy sau thời gian dài ngừng tổ 1 (do sự cố từ tháng 8 năm 2023) tạo lợi thế tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm 2024; bên cạnh đó, sản lượng các sản phẩm chủ lực như bia, sợi, pack pin tăng cao so với năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2024 chưa đạt được như kế hoạch đề ra do ngành sản xuất thép vẫn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng bởi cạnh tranh về giá, thị trường nội địa thu hẹp, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn, vì vậy sản lượng thép giảm mạnh so với năm 2023.

Ngành công nghiệp ước tăng 6,54%, đóng góp 2,24 điểm phần trăm. Trong đó, ngành khai khoáng ước tăng 39,04%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,12%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 19,72%, đóng góp 1,49 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,07%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành xây dựng tăng 14,09%, đóng góp 1,36 điểm phần trăm vào mức tăng chung tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh. Ngành xây dựng duy trì mức tăng trưởng cao khi các công trình dự án đều được triển khai đẩy nhanh tiến độ, góp phần không nhỏ vào mức tăng chung của toàn ngành.

Khu vực dịch vụ: Dịch vụ, du lịch tăng trưởng khá. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch diễn ra sôi nổi, hạ tầng du lịch có nhiều cải thiện, chất lượng dịch vụ ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 11,69% so với năm trước, đóng góp 0,73 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành vận tải kho bãi tăng 13,46%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,61%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,04%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm;...

Quy mô kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành năm 2024 ước đạt 112.855 tỷ đồng, xếp thứ 34/63 tỉnh, thành phố trong cả nước và xếp thứ 3/6 khu vực Bắc trung Bộ.

Cơ cấu kinh tế: Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 14,07%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 41,38% (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 31,75%; ngành xây dựng chiếm 9,63%); khu vực Dịch vụ chiếm 35,64%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,91%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2024 có năng suất, sản lượng cao nhất từ trước đến nay. Các mô hình nông nghiệp theo hướng hữu cơ, liên kết sản xuất hàng hóa với doanh nghiệp và tập trung tích tụ ruộng đất tiếp tục được mở rộng quy mô; tăng thêm 1.383 ha diện tích dồn điền, đổi thửa tập trung. Chú trọng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, mô hình liên kết, sản xuất trong nhà lưới, cấp mã vùng trồng. Cây ăn quả (cam, bưởi) đạt sản lượng khá, tăng 4,6% so với năm 2023. Chăn nuôi phát triển tốt, tổng đàn duy trì ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 5,4%. Sản xuất thủy sản đạt khá, các giải pháp chống khai thác bất hợp pháp theo quy định (IUU) được thực hiện có hiệu quả.

2.1. Nông nghiệp

a. Trồng trọt

* Cây hàng năm

Tiến độ sản xuất trong tháng: Hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2024 cơ bản đã kết thúc. Tuy nhiên, do cùng thời điểm phải xuống giống gieo trỉa nhiều loại cây trồng nên một số loại cây chưa đạt kế hoạch đặt ra. Nay tranh thủ những ngày thời tiết nắng ráo bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng cây vụ Đông, mà chủ yếu là các loại rau ngắn ngày.

Ước tính đến ngày 20/12/2024, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2024 là 12.588 ha đạt 99,88% kế hoạch. Diện tích ngô lấy hạt 4.927 ha đạt 101,6% kế hoạch; diện tích ngô sinh khối 1.331 ha đạt 92,2% kế hoạch; diện tích khoai lang 1.370 ha đạt 97,7% kế hoạch và diện tích rau các loại 4.940 ha đạt 100,7% kế hoạch.

Kết quả sản xuất năm 2024: Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 157.226 ha bằng 99,16% (giảm 1.330 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước tính đạt 670.660 tấn, so với thực hiện năm trước bằng 103,8% (tăng 24.572 tấn). Cụ thể:

Cây lúa: Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 104.356 ha, bằng 100,06% (tăng 64 ha) so với năm trước, tăng chủ yếu tăng ở vụ Hè Thu do năm trước hạn hán, người dân bỏ hoang nhiều. Năm nay thời tiết thuận lợi, thu hoạch vụ đông xuân sớm, các điều kiện sản xuất được đảm bảo, đặc biệt giá lúa tăng, thương lái thu mua tại chỗ nên khuyến khích người dân khai hoang sản xuất. Năng suất gieo trồng lúa cả năm ước tính đạt 57,31 tạ/ha, bằng 103,29% (tăng 1,83 tạ/ha) so với năm 2023. Sản lượng lúa năm 2024 ước tính đạt 598.018 tấn, bằng 103,35% (tăng 19.400 tấn) so với năm 2023.

Cây ngô:Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 14.383 ha, bằng 100,07% (tăng 10 ha) so với năm trước, trong đó diện tích ngô Đông Xuân tăng do thời tiết thời tiết đầu vụ xấu gây khó khăn cho việc xuống cây khoai và lạc nên người dân chuyển sang trồng ngô, còn vụ Hè Thu diện tích lại giảm do sản xuất ngô vụ này đạt hiệu quả không cao, chủ yếu trồng lấy giống hoặc thân làm thức ăn chăn nuôi. Năng suất ngô cả năm ước tính đạt 50,51 tạ/ha, bằng 107,59% (tăng 3,57 tạ/ha) với sản lượng ước tính đạt 72.642 tấn, bằng 107,67% (tăng 5.173 tấn) so với năm 2023. Sản lượng ngô năm nay tăng khá do cả diện tích và năng suất đều tăng, nguyên nhân do thời tiết thuận lợi cây ngô phát triển, bắp to, hạt đều, ít bị sâu bệnh, bên cạnh đó cây ngô cần ít công chăm sóc hơn và giá bán khá ổn định.

Cây lạc: Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 6.981 ha, bằng 88,20% (giảm 934 ha) so với năm trước. Nguyên nhân do một số địa phương trong tỉnh chưa chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn, ngoài ra do chi phí đầu vào cao cộng với việc chất lượng lạc những năm gần đây không tốt nên người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà một số chuyển sang cây trồng khác. Năng suất lạc cả năm ước tính đạt 27,82 tạ/ha, bằng 98,58% (giảm 0,4 tạ/ha) với sản lượng cả năm ước tính đạt 19.423 tấn, bằng 86,95% (giảm 2.916 tấn) so với năm trước.

Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 14.098 ha, bằng 98,89% (giảm 159 ha) so với năm trước. Năng suất ước tính đạt 72,77 tạ/ha, bằng 103,33% (tăng 2,35 tạ/ha) với sản lượng ước tính đạt 102.590 tấn, bằng 102,18% (tăng 2.191 tấn) so với năm trước. Năm nay thời tiết cũng tương đối thuận lợi không có rét đậm, rét hại và hạn hán ít hơn nên cây rau phát triển tốt cho năng suất cao.

* Cây lâu năm

Tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao thông qua các mô hình sản xuất với quy mô lớn, liên kết theo chuỗi giá trị bền vững, tổ chức sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ nhằm tạo ra sản phẩm có thương hiệu, giá trị và sức cạnh tranh cao trong các siêu thị, trung tâm thương mại lớn.

Tổng diện tích cây lâu năm sơ bộ đạt 31.394 ha, bằng 99,09% (giảm 289 ha) so với năm 2023. Trong đó, diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 19.547 ha, bằng 100,80% (tăng 155 ha) so với năm 2023, chiếm 62,26% tổng diện tích cây lâu năm. Nguyên nhân tăng là do hướng vào nhu cầu tiêu dùng, chính quyền các cấp đã từng bước quan tâm hơn đến chỉ đạo phát triển cây ăn quả. Một số nông hộ đã tích cực phát huy thế mạnh địa phương để phát triển đa dạng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế, nâng cao đời sống.

Cây ăn quả: Sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 181.885 tấn, bằng 103,05% (tăng 5.386 tấn) so với năm 2023. Trong đó, cây cam, cây bưởi trở thành sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh với những thương hiệu nổi tiếng cả nước như bưởi Phúc Trạch, cam Khe Mây, cam Thượng Lộc… Diện tích cam sơ bộ đạt 7.315 ha, (giảm 38 ha) trong đó diện tích trồng mới trong năm là 151 ha; diện tích cam cho sản phẩm 6.477 ha (tăng 102 ha) với năng suất sơ bộ đạt 107,29 tạ/ha (tăng 0,93 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 69.490 tấn (tăng 1.687 tấn) so với năm 2023. Diện tích cây bưởi sơ bộ đạt 4.363 ha (giảm 49 ha), trong đó diện tích trồng mới trong năm là 85 ha; diện tích bưởi cho sản phẩm 3.630 ha (tăng 40 ha) với năng suất sơ bộ đạt 108,61 tạ/ha (tăng 7,31 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 39.427 tấn (tăng 3.059 tấn) so với năm 2023.

Cây công nghiệp:

Bên cạnh các cây ăn quả chủ lực thì các cây công nghiệp cũng được địa phương quan tâm thực hiện. Diện tích sơ bộ cao su năm 2024 đạt 8.030 ha, giảm 409 ha so với năm 2023. Năng suất cao su sơ bộ đạt 8,14 tạ/ha, bằng 101,76% (tăng 0,14 tạ/ha) với sản lượng đạt 4.767 tấn, bằng 109,84% (tăng 427 tấn). Diện tích chè búp sơ bộ đạt 1.225 ha, bằng 100%, chè hái lá sơ bộ đạt 1.752 ha, tăng 8 ha so với năm 2023. Năng suất chè búp sơ bộ đạt 121,81 tạ/ha (tăng 1,70 tạ/ha) với sản lượng chè búp sơ bộ đạt 14.301 tấn, bằng 101,16% ( tăng 164 tấn) so với năm 2023.

Tình hình sâu bệnh và thiệt hại:

Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, vụ Đông Xuân 2023 - 2024 và vụ Hè Thu các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại đối với cây trồng, cụ thể như sau: Ốc bươu vàng, bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, chuột, bệnh khô vằn, rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ gây hại trên cây lúa. Đối với cây lạc, bệnh lở cổ rẽ, chết ẻo cây con, sâu ăn lá. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu, bệnh khô vằn. Trên cây rau, bệnh sâu ăn lá (sâu xanh, sâu khoang), rệp muội gây hại. Trên cây ăn quả có múi, sâu vẽ bùa, sâu nhớt, sâu non bướm phượng, nhện nhỏ, rệp muội,...

b. Chăn nuôi

Năm 2024, hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh ở mức ổn định, dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xảy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tổng đàn lợn và gia cầm có mức tăng so với năm trước. Tuy nhiên, tổng đàn trâu và đàn bò có xu hướng ngày càng giảm do chăn nuôi không hiệu quả.

Kết quả sản xuất chăn nuôi: Đàn trâu hiện có 65.470 con, bằng 97,85% (giảm 1.440 con); số con xuất chuồng năm 2024 ước tính đạt 15.730 con, bằng 97,76% (giảm 360 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm ước tính đạt 3.460 tấn, bằng 97,19% (giảm 100 tấn) so với năm 2023. Đàn bò hiện có 161.265 con, bằng 98,32% (giảm 2.755 con); số con xuất chuồng năm 2024 ước tính đạt 58.780 con, bằng 99,63% (giảm 200 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 9.664 tấn, bằng 99,83% (giảm 284 tấn) so với năm 2023. Đàn lợn hiện có 405.267 con, bằng 101,30% (tăng 5.187 con) so với năm 2023; số con xuất chuồng năm 2024 ước tính đạt 902.420 con, bằng 101,54% (tăng 13.700 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 73.173 tấn, bằng 104,49% (tăng 3.144 tấn) so với năm 2023. Đàn gia cầm hiện có 10.251 nghìn con, bằng 101,91% (tăng 192 ngàn con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 28.350 tấn, bằng 111,07% (tăng 2.825 tấn); sản lượng trứng năm 2024 ước tính đạt 345.210 nghìn quả, bằng 104,28% (tăng 14.175 nghìn quả) so với năm 2023.

Tính riêng trong quý IV/2024: Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước 28.538 tấn, tăng 2,83% so cùng kỳ, trong đó: Sản lượng thịt trâu đạt 730 tấn, bằng 86,39% so cùng kỳ; sản lượng thịt bò đạt có 2.303 tấn, bằng 97,79% so cùng kỳ; sản lượng thịt lợn đạt 19.579 tấn, tăng 8,98% so cùng kỳ; sản lượng thịt gia cầm đạt 5.926 tấn, tăng 5,75% so cùng kỳ.

Với công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, giá thịt hơi đang ở mức cao do sau đợt dịch tả lợn Châu Phi và lượng nhập khẩu giảm do chênh lệch với giá lợn từ Campuchia và Thái Lan bị thu hẹp; giá nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi trong năm giảm và ổn định đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động chăn nuôi. Bên cạnh đó, xu hướng chăn nuôi vật nuôi đang chuyển dần từ hộ nhỏ lẻ, hộ quy mô nhỏ sang hộ quy mô lớn, trang trại, tổ hợp tác, doanh nghiệp. Vì vậy, tổng đàn lợn và sản lượng thịt hơi xuất chuồng có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2023.

Về các mô hình: Chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, tuần hoàn, liên kết theo chuỗi giá trị tiếp tục được nhân rộng: Đến nay có 20 mô hình lợn theo hướng hữu cơ liên kết với Tập đoàn Quế Lâm, 06 cơ sở được chứng nhận cơ sở an toàn dịch bệnh1 và 13 cơ sở được chứng nhận VietGAP còn hiệu lực2. Có 157 cơ sở chăn nuôi lợn liên kết với doanh nghiệp (138 cơ sở lợn thịt, 19 cơ sở lợn nái) chiếm 46% tổng đàn lợn; duy trì trại bò sữa Vinamilk với đàn thả nuôi 2.100 con, trại bò Mitraco quy mô 200 con.

Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, từ đầu năm đến ngày 23/12/2024, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra dịch Viêm da nổi cục tại 20 xã thuộc 06 huyện trên địa bàn làm cho 162 con bò mắc bệnh, trong đó có 21 con chết, tiêu hủy; hiện nay, dịch tại các xã huyện Đức Thọ chưa qua 21 ngày. Dịch Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã thuộc huyện Kỳ Anh làm cho 56 con trâu bò mắc bệnh, tiêu hủy 1.380 kg. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 23 xã thuộc 7 huyện trên địa bàn làm cho 431 con lợn mắc bệnh, hiện nay, dịch tại 06 xã thuộc các huyện Cẩm Xuyên, Đức Thọ chưa qua 21 ngày. Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp do có không khí lạnh và thời tiết ẩm, vật nuôi giảm sức đề kháng, lưu lượng vận chuyển, buôn bán động vật, sản phẩm động vật tăng cao. Do đó, cần tập trung cao cho công tác phòng, chống dịch, đồng loạt triển khai công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi, hạn chế lây lan dịch bệnh.

2.2. Lâm nghiệp

Các chỉ tiêu sản xuất đều đạt kế hoạch đề ra, tăng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC). Hà Tĩnh là một trong 6 tỉnh cả nước được thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) đối với hơn 1,6 tấn CO2 kinh phí 6,48 triệu USD3

Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 12/2024 ước đạt 1.393 ha, bằng 91,71%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 126.813 m3, bằng 101,15%. Cả năm 2024, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 9.788 ha, bằng 99,57%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 625.952 m3, bằng 107,34%.

Sản xuất lâm nghiệp tính riêng quý IV/2024: Diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 4.820 ha, bằng 95,86%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 272.270 m3, bằng 101,72% so cùng kỳ năm trước.

Trong năm, mặc dù gặp nhiều khó khăn của tình hình kinh tế trong nước, quốc tế và những diễn biến khó lường của thời tiết, nhưng ngành lâm nghiệp tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng. Ngành lâm nghiệp đã từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia bảo vệ và phát triển rừng, thích ứng với biển đổi khí hậu. Sự quan tâm các cấp, các ngành liên quan cần quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp, nâng cao tỷ lệ đất có rừng, trồng các loại cây lâm nghiệp phù hợp với điều kiện của địa phương.

Thiệt hại về rừng: Trong tháng 12/2024 không xảy ra vụ cháy rừng nhưng có 5 vụ phá rừng, diện tích thiệt hại 1,73 ha. Tính chung quý IV/2024 đã không xảy ra vụ cháy rừng nào nhưng có 11 vụ phá rừng, giảm 11 vụ so với quý trước và giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm trước, với diện tích rừng bị phá ước tính 3,43 ha. Cả năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ) với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14 ha) và 51 vụ phá rừng (giảm 65 vụ) với diện tích rừng bị phá là 13,94 ha (giảm 40,09 ha) so với cùng kỳ năm 2023.

2.3. Thủy sản

Những năm gần đây kết quả sản xuất thủy sản phát triển khá ổn định. Trong năm với những thuận lợi từ yếu tố thời tiết, giá cả cũng như chất lượng các loại thủy hải sản. Các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt đạt kết quả khá, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 58.737 tấn, tăng 4,05% so với năm 2023.

Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 12/2024 ước đạt 2.967 tấn, bằng 102,62%, tăng 76 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó sản lượng khai thác ước đạt 1.981 tấn, bằng 103,01%, tăng 58 tấn, sản lượng nuôi trồng ước đạt 986 tấn, bằng 101,86%, tăng 18 tấn.

Năm 2024, tổng diện tích thả nuôi đạt 7.126 ha (bằng 99,89% so với năm trước), trong đó nuôi tôm đạt 2.338 ha, bước đầu đã hình thành 09 cơ sở nuôi trồng thuỷ sản được chứng nhận VietGAP đang còn hiệu lực với diện tích 21 ha và một số mô hình sản xuất kết hợp thủy sản - cây trồng hữu cơ (như ở Đức Thọ, Thành phố Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh…). Sản xuất và ươm dưỡng giống thủy sản ước đạt 709 triệu con, bằng 102,6% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 58.737 tấn, bằng 104,05%, tăng 2.285 tấn so với năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 41.378 tấn, bằng 104,46%, tăng 1.765 tấn; sản lượng nuôi trồng ước đạt 17.359 tấn, bằng 103,09%, tăng 520 tấn.

Tính riêng quý IV/2024: Tổng sản lượng thủy hải sản ước đạt 11.099 tấn, bằng 106,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 7.946 tấn, bằng 109,06%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.153 tấn, bằng 100,29% so với cùng kỳ năm trước.

Ngành thủy sản đã từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; thu hút nhiều thành phần kinh tế xã hội tham gia bảo vệ và phát triển bền vững nguồn thủy hải sản, thích ứng với biến đổi khí hậu; sản phẩm chủ lực như tôm thẻ chân trắng đang có xu hướng tăng dần do nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng. Sự quan tâm các cấp, các ngành liên quan quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích đất quy hoạch nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng suất, sản lượng các loại thủy sản phù hợp với điều kiện của địa phương.

Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến nay các loại dịch bệnh phát sinh trên các loại thủy sản có thể kể đến như: Bệnh Đốm trắng trên tôm xảy ra với diện tích 17,10 ha tại 8 xã thuộc 5 huyện Lộc Hà, Kỳ Anh, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh. Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm xảy ra với diện tích 4,29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà. Bệnh Vi bào tử trùng trên tôm xảy ra với diện tích 0,85 ha tại 2 xã thuộc 2 huyện Kỳ Anh và Thạch Hà.

3. Sản xuất công nghiệp

Trong năm, ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực; Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I hoạt động 2 tổ máy; nhà máy sợi Nghệ Tĩnh đi vào sản xuất thương mại ổn định, sản lượng bình quân dự tính đạt hơn 200 tấn/1 tháng. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như Nhà máy thép Formosa gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu thép ra thị trường ngoài nước; sản xuất công nghiệp chưa đạt kỳ vọng chủ yếu do sản xuất thép, điện chưa phục hồi ổn định, ngoài nguyên nhân thị trường thép khó khăn còn bởi những yếu tố bất khả kháng do Formosa bảo dưỡng dây chuyền cán nóng, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I bảo dưỡng Tổ máy số 2.

3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP)


Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh quý IV năm 2024 đạt 99,9% cao hơn quý II (đạt 86,46%); tuy nhiên thấp hơn chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp thực hiện quý I (đạt 104,61%) và quý III (đạt 107,07%) năm 2024. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 58,45%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,39%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 24,83%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,80%.

Ước tính năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 1,03% so với năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 40,37% đóng góp 0,5 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,39% làm giảm 4,31 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 19,61% đóng góp 2,53 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,19% đóng góp 0,25 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh.

Một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai khoáng khác tăng 42,24% so với năm trước, do trong năm Hà Tĩnh đang thực hiện nhiều dự án xây dựng hạ tầng quan trọng như các tuyến đường cao tốc, các công trình công cộng, khu công nghiệp, khu đô thị, và các dự án bất động sản. Những dự án này yêu cầu nguồn đá xây dựng lớn, và việc mở rộng mỏ khai thác đá hay cấp phép thêm mỏ mới sẽ giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật liệu xây dựng. Ngoài các công trình công cộng, sự phát triển mạnh mẽ của các khu đô thị và nhà ở cũng thúc đẩy nhu cầu đá xây dựng, khiến ngành khai thác đá tăng mạnh.

Sản xuất đồ uống tăng 27,48% so với năm 2023. Nền kinh tế dần hồi phục, nhu cầu ăn uống ngày càng tăng lên. Cùng với việc duy trì nhịp điệu sản xuất, công ty đã và đang tích cực đẩy mạnh tìm kiếm, mở rộng thị trường. Cuối năm 2024, nhà máy thực hiện các chiến dịch quảng cáo, khuyến mãi để thu hút người tiêu dùng, điều này đã thúc đẩy sản lượng sản xuất bia tăng cao so với năm trước.

Dệt tăng 32,1% so với năm 2023. Với hiệp định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã tạo ra cơ hội lớn cho dệt may Việt Nam tiếp cận các thị trường mới như Canada, Australia, New Zealand và cũng giúp doanh nghiệp thích ứng với cách thức mua hàng của nhà nhập khẩu trong khối, tạo ra sự tăng trưởng rất rõ khi xuất khẩu sang các nước nội khối, đặc biệt là châu Mỹ.

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 19,61% so với năm trước. Năm 2024, Nhà máy Nhà Nhiệt điện Vũng Áng I đã hoạt động cả 2 tổ máy sau thời gian dài ngừng tổ 1 do sự cố từ tháng 8 năm 2023 tạo lợi thế tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm 2024. Bên cạnh đó, những tháng cuối năm, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I tiếp tục đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình vận hành và nâng cao hiệu quả sản xuất, phấn đấu đưa nhà máy thành điểm sáng về quản lý, vận hành hiệu quả, an toàn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất kim loại giảm 7,49% so với năm 2023. Nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là các đối tác lớn của Việt Nam (Mỹ, EU, Trung Quốc), gặp khó khăn vào năm 2024, nhu cầu thép trên thế giới giảm sút, ảnh hưởng đến xuất khẩu thép của Formosa. Mặt khác, các nhà sản xuất thép khác, đặc biệt là từ Trung Quốc, duy trì giá thép thấp hơn, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường.

Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 16,02% so với năm trước, do xuất khẩu hải sản đông lạnh gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, một số công ty tạm ngừng sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp chỉ sản xuất hàng nội địa và gia công hàng đông lạnh. Vì vậy chỉ số sản xuất ngành chế biến bảo quản thuỷ sản giảm mạnh so với năm trước (giảm 64,64%). Bên cạnh đó, ngành sản xuất thực phẩm khác cũng đang gặp nhiều khó khăn, sản lượng chè giảm do diện tích canh tác bị ảnh hưởng bởi các dự án lớn trên địa bàn và thị trường tiêu thụ, dẫn đến chỉ số giá nhóm ngành này giảm 2,28% so với cùng kỳ.

3.2. Một số sản phẩm chủ yếu

Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm năm 2024 tăng so năm trước và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu.

Một số sản phẩm công nghiệp năm 2024 tăng mạnh so với năm trước có thể kể đến như: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit sản lượng khai thác đạt 3.470 tấn tăng 47,33%; đá xây dựng khác tăng 33,37%; sản lượng bia đóng lon đạt hơn 82 triệu lít tăng 27,48%; sản lượng điện sản xuất đạt 10.099 triệu Kwh tăng 20,18%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 16,97%; điện thương phẩm tăng 16,33%;...

Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp năm 2024 giảm khá sâu so với năm trước. Trong đó, sản phẩm chủ lực tỉnh nhà là thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm, sản lượng ước đạt 4,4 triệu tấn giảm 8,73%, và một số sản phảm có sản lượng giảm sâu như mực đông lạnh giảm 80,48%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 14,11%; dịch vụ sản xuất dược phẩm giảm 13,02%,...

3.3. Chỉ số ngành công nghiệp

Chỉ số tiêu thụ: Năm 2024 chỉ số tiêu thụ giảm 5,51% so với năm trước. Năm nay, mặc dù chỉ số tiêu thụ giảm, tuy nhiên, số nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm tỷ trọng cao, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh dần phục hồi sau nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong những năm qua.

Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2024 tăng 37,87% so với tháng trước và tăng 19,97% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng mạnh do một số ngành như sản xuất đồ uống tăng 54,41%; sản xuất sợi tăng 55,2%; than cốc tăng 35,16%....

Tình hình sử dụng lao động: Cộng dồn đến cuối năm tháng 12 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,32% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động năm 2024 của ngành khai khoáng giảm 3,74% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kình doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,06%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,41% so với năm 2023.

4. Tình hình thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp

Năm 2024 tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá có chuyển biến tích cực hơn trước. Tuy nhiên bên cạnh những yếu tố thuận lợi, thì hiện nay nhiều doanh nghiệp đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Theo các doanh nghiệp, khó khăn nhất hiện nay vẫn là nhu cầu thị trường sụt giảm và chi phí sản xuất cao.

4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh

Tính từ đầu năm đến ngày 25/12/2024, toàn tỉnh thành lập mới 1.336 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc (ĐVTT), tăng 12,65% so với cùng kỳ năm 2023. Nâng tổng số doanh nghiệp lên gần 12.500 doanh nghiệp và ĐVTT trên toàn tỉnh. Tổng vốn đăng ký đạt 7.021 tỷ đồng, tăng 25,40% so với cùng kỳ năm 2023, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 5,26 tỷ đồng, tăng 11,32% so cùng kỳ năm trước. Trong năm có 409 doanh nghiệp và ĐVTT hoạt động trở lại, tăng 7,35% so với năm 2023.

Bên cạnh các doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm ngừng và giải thể, cụ thể có 661 doanh nghiệp và ĐVTT đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 14,36% so với cùng kỳ năm trước; 242 doanh nghiệp và ĐVTT giải thể giảm 1,63% so với cùng kỳ năm 2023.

Hiện nay để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, phát triển, tháo gỡ khó khăn về thị trường tiêu thụ. Khi có thêm những giải pháp thúc đẩy đầu ra thì doanh nghiệp mới cải thiện được khả năng trả nợ, tăng khả năng hấp thụ vốn.

4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo

Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho biết, trong quý IV/2024, hai khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 59,18% và 69,39%. Bên cạnh đó, “lãi suất vay vốn cao” là khó khăn mà doanh nghiệp đánh giá tăng nhiều nhất so với quý III/2024 (tăng 3,53 điểm phần trăm so với quý III/2024) với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn là 30,61%. Đối với nhóm ngành dệt, sản xuất kim loại, sản xuất thiết bị điện: Hai khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp trong quý IV/2024 là đơn hàng tiêu thụ trong và ngoài nước.

Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất, kinh doanh quý IV/2024 thuận lợi hơn quý III/2024 với 91,84% doanh nghiệp đánh giá tốt hơn và giữ ổn định (38,78% tốt hơn và 53,06% giữ ổn định), 8,16% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn. Dự báo quý I/2025 giảm so quý IV/2024 với 83,68% doanh nghiệp đánh giá tốt hơn và giữ ổn định (42,86% tốt hơn và 40,82% giữ ổn định), 16,33% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn.

Xu hướng về khối lượng sản xuất 6 tháng đầu năm 2025 có 87,75% doanh nghiệp đánh giá tiếp tục gia tăng về khối lượng (57,14% tăng lên và 30,61% giữ nguyên); 12,24% doanh nghiệp đánh giá giảm đi. Trong năm tiếp theo dự báo doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn phục hồi và gia tăng khối lượng sản xuất với 95,92% doanh nghiệp đánh giá tăng lên và giữ ổn định, 4,08% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn.

5. Thương mại, dịch vụ

5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Năm 2024, ngành thương mại, dịch vụ được đánh giá là điểm sáng trong phục hồi nền kinh tế tỉnh nhà, có tác động lan tỏa tới nhiều lĩnh vực, góp phần cải thiện ba động lực tăng trưởng của nền kinh tế là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng. Nguồn cung hàng hóa tại thị trường luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như đời sống của người dân, thị trường bán lẻ càng về cuối năm càng sôi động. Cùng với đó, việc chuẩn bị chu đáo thông qua việc tổ chức nhiều lễ hội ngay từ đầu năm là động lực cho hoạt động ngành dịch vụ ăn uống, lưu trú và du lịch phát triển.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá trong tháng 12 ước đạt 5.911,07 tỷ đồng, giảm 6,96% so với tháng trước, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Tuy tháng 12 tổng mức bán lẻ giảm so với các tháng trước nhưng tính chung quý IV/2024 doanh thu ước đạt 18.248,46 tỷ đồng, tăng 5,23% so với quý trước và tăng 11,09% so với cùng kỳ. Xét theo từng quý trong năm thì tổng mức bán lẻ tăng trưởng khá ổn định và tăng trưởng doanh thu khá, luôn duy trì mức tăng trưởng ở hai con số. Mặc dù quý IV mức tăng trưởng không đạt mức cao như các quý, nhưng doanh thu luôn ở mức lớn nhất trong 4 quý, các loại hàng hoá có doanh thu quý IV tăng mạnh so với cùng kỳ chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, may mặc, vật phẩm vă hoá, giáo dục, xăng dầu và nhiên liệu các loại… Nguyên nhân ảnh hưởng về giá các loại hàng hóa nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, xăng dầu và nhiên liệu các loại... Bên cạnh việc giá cả tăng cao thì các yếu tố mùa vụ trong quý như thời điểm bắt đầu năm học, thời tiết chuyển mùa và cũng là quý gần Tết nên ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm các loại hàng hoá.

Cả năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 69.760,56 tỷ đồng, tăng 16,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng bán lẻ, có 09 nhóm hàng tăng trưởng dương (chiếm trên 89% tổng mức). Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 33.312,03 tỷ đồng, chiếm 47,8% tổng mức và tăng đến 22,82% so với năm 2023, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã kéo theo tổng mức bán lẻ tăng. Bên cạnh đó còn có các nhóm hàng khác cũng tăng trưởng doanh thu mạnh so với năm trước, chỉ có 3 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu so với năm trước là nhóm ô tô con (giảm 35,87%), phương tiện đi lại (giảm 31,44%) và nhóm gỗ, vật liệu xây dựng (giảm 7,86%) do mặc dù đã có nhiều ưu đãi trong việc sản xuất và tiêu dùng ô tô, tuy nhiên đây là các mặt hàng giá trị lớn trong khi thu nhập người đang phải gồng gánh các chi phí thì việc mua sắm các mặt hàng có giá trị dường như hạn chế.

Nhìn chung, trước sự biến động khó lường kinh tế thế giới tình hình thương mại tỉnh nhà vẫn có sự tăng trưởng khá. Bên cạnh những yếu tố chính sách, khuyến khích đầu tư của trung ương, sự chỉ đạo sát sao của Ủy ban Nhân dân tỉnh đảm bảo không để xảy ra tình trạng về biến động giá cả hay thiếu hàng dịp cao điểm; tránh găm hàng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng; thì doanh nghiệp, người dân đã chủ động đầu tư, mở rộng nhiều thị trường để tăng doanh thu. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ, những sản phẩm của tỉnh nhà đã được người tiêu dùng trong nước, nước ngoài biết đến thông qua những trang thương mại điện tử.

Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 12/2024 ước đạt 729,44 tỷ đồng, giảm 4,67% so với tháng trước nhưng tăng 12,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý IV doanh thu ước đạt 2.277,75 tỷ đồng, giảm 0,95% so với quý trước nhưng tăng đến 13,33% so với cùng kỳ. Mặc dù trong quý yếu tố thời tiết không thuận lợi, trời rét, có mưa, cũng hết mùa du lịch nên nhu cầu du lịch và lưu trú giảm hơn so với các tháng trước, nhưng việc nhu cầu ăn uống ngoài gia đình trong các ngày lễ đang có xu hương gia tăng, nên doanh thu chung nhóm ngành vẫn tăng khá so với cùng kỳ.

Cả năm 2024, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 8.599,73 tỷ đồng, tăng 12,41% so với năm trước. Xét riêng các nhóm ngành trong năm, ta thấy được sự tăng trưởng vượt bậc của ngành du lịch, lữ hành (tăng 48,94%), mặc dù mức doanh thu còn chưa lớn (gần 66 tỷ đồng) những cũng tạo nên điểm sáng đáng kể và hướng đi đúng đắn cũng như tiềm lực cần khai thác của tỉnh nhà. Xét riêng trong các quý, doanh thu du lịch chủ yếu phát triển mạnh ở quý I và quý II, bước sang quý III, IV khi hết mùa du lịch doanh thu giảm hơn các quý trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng lần lượt ở mức 9,01% và 28,02%.

Hoạt động dịch vụ ăn uống vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 4 quý trong năm, mức tăng lần lượt ở các quý so với cùng kỳ (Quý I tăng 21,88%, quý II tăng 7,67%, quý III tăng 9,35%, quý IV tăng 13,09%) mức tăng trưởng doanh thu chủ yếu do ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố mùa vụ khi trong quý phát sinh các ngày lễ khác nhau, thời tiết. Việc dịch vụ ăn uống ngoài gia đình phát triển mạnh cho thấy cách thay đổi suy nghĩ truyền thống của người dânm cũng cho thấy đời sống người dân đang ngày càng được nâng lên, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành.

Bên cạnh việc tăng trưởng các nhóm ngành dịch vụ thì trong năm dịch vụ lưu trú phát triển khá trầm doanh thu ước đạt 272,06 tỷ đồng, tăng 1,29%. Mặc dù chỉ tính riêng quý IV, hoạt động lưu trú đã khá nhộn nhịp khi mức doanh thu lưu trú đạt 81,36 tỷ đồng tăng đến 21,79% so với cùng kỳ, nhưng do các quý trước các cơ sở tiến hành đầu tư nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng nên mức doanh thu đã giảm khá sâu nên tính chung cả năm doanh thu đạt tăng trưởng thấp.

Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 12/2024 ước đạt 396,73 tỷ đồng, tăng 1,23% so với tháng trước và giảm 4,33% so với cùng kỳ năm trước, tính cả quý IV/2024 ước đạt 1.172,7 tỷ đồng, tăng 3,23% so với quý trước và tăng 0,37% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở các nhóm ngành dịch vụ hành chính, hỗ trợ, y tế, giáo dục, giải trí...do trong quý các công trình đang được đẩy nhay tiến độ trước kỳ nghỉ tết dài ngày, nhu cầu phục vụ chăm sóc, làm đẹp dịp cuối năm như cắt tóc, uốn sấy tăng lên, nhóm thuốc và dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22 của Bộ Y tế.

Tính chung cả năm 2024, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.580,87 tỷ đồng, tăng 5,58% so với năm trước, do trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng bất động sản là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương. Xét riêng từng quý trong năm so với cùng kỳ năm trước, doanh thu dịch vụ khác tăng trưởng khá ở 3 quý I, II, III đến quý IV là quý cuối năm hơi chững lại và có phần trầm lắng hơn do việc giá cả các loại hàng hoá đang ở mức cao khiến áp lực hơn cho người dân trong việc chọn lọc hàng hoá chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán cận kề. Nhìn chung, cả năm doanh thu mặc dù chưa đạt mức kỳ vọng như các nhóm dịch vụ chính, nhưng vẫn ở mức tăng trưởng khá cho thấy đời sống và nhu cầu người dân vẫn đang dần được cải thiện.

5.2. Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải kho bãi tỉnh nhà trong quý IV cũng như cả năm 2024 đạt mức tăng trưởng khá. Hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện với sự phát triển của các tuyến giao thông liên vùng và liên tỉnh. Các đơn vị kinh doanh ngày càng chú trọng hơn về chất lượng khi sự phát triển mạnh mẽ của loại hình vận tải bằng xe ô tô điện với giá cước cạnh tranh làm tăng sức cạnh tranh và nhu cầu sử dụng dịch vụ. Bên cạnh đó, sức hút từ sự phát triển của ngành du lịch lữ hành và nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao cũng là động lực giúp ngành vận tải tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ.

Kết quả vận tải, kho bãi tháng 12/2024 doanh thu ước đạt 700,80 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu trong tháng có sự khởi sắc hơn các tháng khác trong quý IV do yếu tố mùa vụ là tháng giáp Tết, nhu cầu vận chuyển các loại hàng hóa tăng mạnh, đặc biệt là các mặt hàng như lương thực, thực phẩm và đồ dùng gia đình, cộng với thời tiết lạnh và mưa nhiều thúc đẩy nhu cầu sử dụng vận tải hành khách công cộng. Nhưng tính cả quý IV/2024 doanh thu vẫn giảm 4,96% so với quý trước do vận tải hàng hoá gặp những khó khăn về thời tiết trong tháng 10 và 11; mặc dù vậy, doanh thu trong quý IV vẫn đạt mức khá so với kỳ vọng khi tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 9,54%).

Tính chung cả năm doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 8.465,23 tỷ đồng, tăng 17,39% so với năm trước. Trong đó, Vận tải hành khách ước đạt 1.459,62 tỷ đồng, tăng 33,52%; Vận tải hàng hoá ước đạt 5.297,36 tỷ đồng, tăng 13,82%; Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.645,28 tỷ đồng, tăng 25,57% so với năm trước. Mặc dù vận tải hành khách chiếm tỷ trọng doanh thu không lớn nhưng tăng trưởng khá đều trong các quý; trong khi vận tải hàng hoá mức doanh thu lớn tập trung tăng mạnh ở 2 quý II và III (tăng 22,68% và 17,22%), doanh thu quý IV mặc dù vẫn tăng khá ấn tượng nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của các quý trước (tăng 8,41%), nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết khiến việc bảo quản và lưu thông hàng hoá chưa đạt mức như kỳ vọng như các quý trước.

Nhìn chung, nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu; Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như giá nhiên liệu biến động, phải cạnh tranh với các trung tâm logistics lớn khác ở khu vực Bắc Trung Bộ như Nghệ An và Quảng Bình. Mặc dù cảng Vũng Áng có tiềm năng lớn, nhưng lượng hàng hóa qua cảng vẫn chưa đạt công suất tối đa do thiếu các tuyến vận tải phụ trợ và liên kết quốc tế, ngành logistics tại Hà Tĩnh còn thiếu lao động chất lượng cao và chuyên môn sâu.

6. Tài chính, ngân hàng

6.1. Hoạt động tài chính

Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2024 đạt cao hơn so với năm trước. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 30/12/2024 đạt 17.847,89 tỷ đồng, tăng 0,12% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 9877,21 tỷ tăng 9,32% so với cùng kỳ năm trước.

Một số khoản thu chính như: Các khoản thu về nhà, đất đạt 3.068,51 tỷ đồng tăng 26,28% do sự sôi động lại của thị trường bất động sản; thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 1.306,98 tỷ đồng, tăng 31,35%; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.524,69 tỷ đồng, tăng 28,06% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước năm 2024 hoạt động sản xuất kinh doanh gặp thuận lợi hơn năm trước; tuy nhiên ngược lại với các doanh nghiệp này thì doanh nghiệp đầu tư nước ngoài gặp không ít khó khăn, sản xuất sụt giảm, chính vì vậy thu từ các doanh nghiệp khu vực này chỉ đạt 1.047,80 tỷ đồng, giảm 55,04% so với cùng kỳ năm 2023. Bên cạnh thu nội địa thì thu xuất nhập khẩu đạt 7.667,91 tỷ đồng, giảm 10,62% so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa gặp khó khăn trong sản xuất, sản lượng thép sản xuất sụt giảm, vì vậy giảm nhập nguyên liệu đầu vào, xuất khẩu thép giảm mạnh so với năm trước.

Tổng chi ngân sách địa phương tính đến ngày 30/12/2024 đạt 24.974,20 tỷ đồng, tăng 6,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 10.640,46 tỷ đồng, chiếm 42,61% giảm 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Chi thường xuyên đạt 14.304,55 tỷ đồng, chiếm 57,28% tổng chi, tăng 19,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 4.890,64 tỷ đồng, tăng 28,69% so với cùng kỳ năm trước; chi sự nghiệp y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình đạt 1.197,07 tỷ đồng, tăng 24,52%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 3.296,95 tỷ đồng, tăng 23,60%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội đạt 1.923,24 tỷ đồng tăng 7,47% so với cùng kỳ năm 2023. Nhìn chung hoạt động chi ngân sách ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, cấp bách gắn với việc thực hiện các mục tiêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

6.2. Hoạt động ngân hàng

Năm 2024 ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ, người dân và doanh nghiệp, tiếp cận vốn tín dụng tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Huy động vốn tăng khá, dư nợ tín dụng xu hướng tăng trưởng tích cực hơn.

Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Hà Tĩnh ước đến thời điểm 31/12/2024 đạt 110.578 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2023. Số dư huy động vốn bằng đồng Việt Nam đạt 107.928 tỷ đồng, bằng ngoại tệ đạt 2.650 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 10.842 tỷ đồng, chiếm 9,8% tổng nguồn vốn huy động, tăng 2,52% so với cuối năm 2023; nguồn dư huy động vốn ngắn hạn đạt 99.736 tỷ đồng, chiếm 90,20% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 10,88% so với cuối năm 2023. Mặc dù lãi suất huy động trong năm 2024 có xu hướng giảm dần nhưng với việc triển khai nhiều chương trình ưu đãi, tổng nguồn vốn huy động toàn địa bàn đạt mức tăng trưởng tốt.

Dư nợ tín dụng ước đến 31/12/2024 đạt 109.500 tỷ đồng, tăng 14% so với cuối năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 84.062 tỷ đồng (chiếm 76,77% tổng dư nợ), tăng 21,54% so với cuối năm 2023; dư nợ trung dài hạn đạt 25.438 tỷ đồng (chiếm 23,23% tổng dư nợ), giảm 5,38% so với cuối năm 2023. Hoạt động tín dụng chủ yếu hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng; đơn giản hóa thủ tục cho vay, niêm yết công khai, minh bạch các thủ tục, quy trình vay vốn; đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả.

7. Đầu tư và xây dựng

Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2024 tăng khá, ước tính cả năm 2024 đạt 57.106 tỷ đồng, tăng 10,84% so với năm trước nhờ đóng góp của các dự án lớn khu vực kinh tế nhà nước (cao tốc Bắc - Nam, đường dây 500 kV) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Nhiệt điện Vũng Áng II, Pin Lithium, VSIP). Chấp thuận chủ trương 21 dự án đầu tư tổng vốn hơn 17.500 tỷ đồng.

Bước sang quý IV/2024, khắc phục mọi điều kiện bất lợi về thời tiết để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình nhằm đảm bảo các công trình hoàn thành đúng tiến độ đề ra. Tỉnh cũng đã tiến hành nắm chắc tình hình, đảm bảo tiến độ các dự án công nghiệp trọng điểm, đẩy nhanh tiến độ xác định giá đất, tiếp tục quản lý chặt hoạt động mỏ, đảm bảo tối đa vật liệu cho các dự án trọng điểm. Vì vậy tình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục khởi sắc. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý IV/2024 dự ước đạt 16.184 tỷ đồng, tăng 3,55% so với quý trước, giảm 1,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.885 tỷ đồng, tăng 0,03% so với quý trước và tăng 74,42% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.408 tỷ đồng, tăng 2,77% so với quý trước và giảm 7,54% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.891 tỷ đồng, tăng 12,58% so với quý trước và giảm 44,92% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2024 ước đạt 57.106 tỷ đồng, tăng 10,84% so với năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 23.678 tỷ đồng, chiếm 41,46% tổng vốn tăng 91,82% so với năm trước do các dự án trọng điểm Trung ương triển khai trên địa bàn như Cao tốc Bắc - Nam 9.540 tỷ đồng, tăng 77% so với năm trước; Dự án đường dây 500 kV đạt 4.719 tỷ đồng đầu tư trong năm (năm trước không có). Dự án VSIP vốn đầu tư thực hiện đạt 278 tỷ đồng (năm trước không có).

Vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 16.097 tỷ đồng chiếm 28,19% tổng vốn, giảm 18,89% so với năm trước do hoạt động đầu tư từ khu vực doanh nghiệp còn khó khăn, trong đó: Khu vực doanh nghiệp đạt 3.034 tỷ đồng, đạt 67% kế hoạch, giảm 60,21% (giảm sâu do năm trước dự án pin VinES điều chỉnh vốn đầu tư lên gần 2.500 tỷ đồng, ngoài ra năm trước có thêm khá nhiều các dự án thực hiện đầu tư như Thủy điện Hương Sơn 150 tỷ đồng, Nhà máy may Prosport Nghi Xuân 250 tỷ đồng, Khách sạn Hanvet Xuân Thành 165 tỷ đồng; trong khi năm nay một số dự án đầu tư nổi bật như Đô thị D’Metropole 900 tỷ đồng, khu đô thị nam Cầu Phủ 500 tỷ đồng, Kho xăng dầu Giang Nam 215 tỷ đồng, còn một số dự án dự kiến trong kế hoạch nhưng vẫn đang tập trung hoàn thiện thủ tục, vốn đầu tư còn thấp như Vinhomes Vũng Áng, khu đô thị Thạch Trung, Xuân Thành...); khu vực dân cư tăng trưởng ổn định, đạt 13.063 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 6,91%.

Vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 17.331 tỷ đồng, chiếm 30,35% tổng vốn giảm 10,36% so với năm trước do đầu tư của dự án Nhiệt điện Vũng Áng II giảm mạnh, đầu tư 12.869 tỷ đồng, giảm 26%; dự án Nhà máy Pin Lithium 4.384 tỷ đồng, gấp 2,3 lần so với năm trước, VSIP 278 tỷ đồng GPMB khởi công từ tháng 6/2024.

Nhìn chung tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2024 tăng so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân chủ yếu: (1) Dự án đường cao tốc Bắc - Nam qua địa bàn Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tiến độ thi công. (2) dự án đường dây 500 kV mạch 3 đoạn qua Hà Tĩnh với tổng mức đầu tư 4.719 tỷ đồng đã hoàn thành. (3) Hiện nay một số dự án lớn có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng đang gấp rút thi công. (4) Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà (VSIP) cơ bản đã hoàn thành giải phóng mặt bằng sẵn sàng khởi công dự án dự ước đạt 278 tỷ đồng, cùng kỳ năm ngoái chưa triển khai dự án. (5) Ngoài ra, thị trường bất động sản trên địa bàn tỉnh ghi nhận những chuyển biến tốt sau những chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn của Chính phủ, tạo điều kiện phục hồi cho hoạt động đầu tư xây dựng.

8. Xuất nhập khẩu hàng hóa

Hoạt động xuất - nhập khẩu trong năm 2024 mặc dù không đạt mức kỳ vọng như năm 2023, nhưng ghi nhận những nỗ lực trong những tháng trong quý IV để đạt mục tiêu Nghị quyết hội đồng với giá trị xuất khẩu đạt 2,4 tỷ đô. Mặc dù mặt hàng thép vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm thị trường đầu ra, nhưng việc các hàng hoá khác đạt giá trị xuất khẩu tăng vượt bậc là những tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế tỉnh nhà khi đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, giảm dần sự phụ thuộc vào ngành thép.

Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 12 ước đạt 145,6 triệu USD, tăng 26,53% so với tháng trước nhưng giảm 23,35% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng ước đạt 129,8% triệu USD (chiếm 89,15% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), tăng 26,04% so với tháng trước nhưng giảm 25,52% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài mặt hàng thép, phôi thép thì các mặt hàng xuất khẩu khác đều có trị giá xuất khẩu tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung cả năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 2.400 triệu USD, giảm 2,20% so với năm trước (giảm 54 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do từ đầu năm tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát, tăng lãi suất dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, mặc dù quý IV đã có nhiều tín hiệu tích cực tuy nhiên vẫn chưa đjat mức kỳ vọng như năm trước, ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các cũng giảm đến 18,16% so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu các mặt hàng khác như chè, dệt và may mặc tăng trưởng khá tuy nhiên do tỷ trọng không lớn nên không tác động nhiều đến kết quả chung toàn tỉnh.

Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 12 năm 2024 ước đạt 250,5 triệu USD, tăng 31,19% so với tháng trước nhưng giảm đến 34,0% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân việc giá cả hàng hoá đang ở mức cao, cộng với việc thị trường Tết năm trước sức mua hàng ngoại thấp gây tồn đọng nên năm nay các doanh nghiệp đang cầm chừng và chọn lọc trong việc nhập khẩu các loại hàng hoá phục vụ dịp Tết. Tính chung cả năm 2024, trị giá nhập khẩu ước đạt 3.740 triệu USD tăng 3,89% so với năm 2023. Việc nhập khẩu hàng hoá tăng cũng mang tín hiệu tích cực cho thấy yêu cầu tiêu dùng người dân ngày càng cao, tăng sức cạnh tranh đối với hàng hoá trong tỉnh thúc đẩy doanh nghiệp đẩy mạnh nâng cao chất lượng và hình thức vươn tầm quốc tế thay vì chỉ chú trọng vào yếu tố giá thành.

9. Giá cả, lạm phát

Diễn biến thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 12 tăng nhẹ so với tháng trước và không có biến động lớn ở các mặt hàng. Tính chung cả năm 2024 chỉ số bình quân giá tiêu dùng bình quân đang tăng ở mức khá cao 4,03% nhưng vẫn đang phù hợp xu thế và nằm trong tầm kiểm soát. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và biến động thất thường theo tình hình chung của thế giới.

Tháng 12 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,37% so với tháng trước và tăng ở mức 6,01% so với cùng kỳ năm trước, hầu hết các nhóm hàng trong tháng đều không biến động quá lớn so với tháng trước, tuy nhiên mặt bằng chung giá cả đang ở mức cao (so với kỳ gốc 2019 đã tăng đến 16,63%). Tính chung quý IV mức CPI bình quân tăng 1,42% so với quý III và tăng 6,15% so với cùng quý năm trước, đây là mức tăng lớn nhất so với 4 quý trong năm. Biến động lớn nhất ở nhóm hàng Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 17,0% so với cùng kỳ, do chịu ảnh hưởng từ sự biến động trên thị trường năng lượng quốc tế, bên cạnh đó các nhóm hàng thiết yếu hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 7,61%, trong bối cảnh các loại hàng hóa đang gia tăng chỉ có duy nhất một nhóm hàng giảm so với cùng kỳ là giao thông giảm 3,55%, do giá xăng dầu đang ở mức thấp hơn các năm trước.

Tính chung cả năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 5,17% và khu vực nông thôn tăng thấp hơn ở mức 3,53%. Nhìn chung, giá cả trên thị trường luôn có sự biến động tăng giảm của các mặt hàng, trong năm qua mức biến động giá mạnh trong tỉnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Nguyên nhân do chịu ảnh hưởng từ việc giá gạo trên thị trường thế giới tăng cao, khi một số quốc gia sản xuất gạo lớn thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu. Các dịch vụ điện và nước sinh hoạt đều được điều chỉnh giá cơ sở tăng đã tác động đến chỉ số giá nhóm này nói riêng và chi phí sản xuất, phân phối các mặt hàng, dịch vụ khác. Giá dịch vụ y tế tăng mạnh từ thời điểm cuối năm trước và dự kiến tiếp tục tăng trong thời gian tới. Mức lương cơ sở tăng ảnh hưởng trực tiếp đến một số dịch vụ sử dụng mức lương này làm cơ sở tính giá như như giá bảo hiểm y tế và có tác động đến cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nói chung. Bên cạnh đó thời tiết diễn biến khá thất thường, nhất là mưa lũ tại khu vực miền Bắc và miền Trung gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế, tác động đến sản xuất và lưu chuyển hàng hóa

Dự kiến sang tháng tới chỉ số giá tiêu dùng chung sẽ tăng mạnh, xu hướng tăng dần vào những ngày cuối tháng, khi thời điểm dịp Tết Nguyên đán đến gần, mức tăng chủ yếu tập trung vào các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, hàng may mặc, nội thất gia đình, cước vận tải hành khách, vật phẩm trang trí nhà ở, điện và khí đốt. Cùng với đó, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động việc làm

* Dân số

Dân số trung bình năm 2024 ước tính 1.329.825 người, tăng 0,46% so với năm 2023. Trong đó, dân số thành thị 300.380 người, chiếm 22,6%; dân số nông thôn 1.029.445 người, chiếm 77,4%; dân số nam 661.219 người, chiếm 49,7% và dân số nữ 668.606 người, chiếm 50,3%.

* Lao động việc làm

Năm 2024 nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hà Tĩnh có dấu hiệu khởi sắc hơn so với những năm trước với việc các khu công nghiệp đang được đầu tư và đẩy nhanh tiến độ thì sắp tới nhu cầu việc làm sẽ tiếp tục tăng. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động mặc dù đã có giảm dần nhưng vẫn còn ở mức khá cao. Về cơ cấu lao động có việc làm xu thế đang giảm dần cả về số lượng và tỷ trọng ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng dần khu vực công nghiêp, xây dựng và dịch vụ.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh ước tính quý IV/2024 là 516.815 người, tăng 0,65% so với quý trước và tăng 0,04% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong lực lượng dân số thì có 53,58% dân số 15 tuổi trở lên tham gia vào lực lượng lao động, tăng 0,37 điểm phần trăm so với quý trươc và giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung cả năm 2024 lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 527.641 người, tăng 0,10% so với năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 54,71%, giảm 0,03 điểm phần trăm so với năm trước, so sánh giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ cho thấy cũng có sự chênh lệch đáng kể khi tỷ lệ tham gia lao động của nam cao hơn 8,01 điểm phần trăm so với nữ và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị cao hơn 8,82 điểm phần trăm so với nông thôn.

Lực lượng lao động có việc làm ước tính quý IV năm 2024 là 508.358 người, chiếm 98,36% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 2,37% so với quý trước và giảm 0,29% so với cùng kỳ năm 2023. Tính chung năm 2024, lao động có việc làm ước đạt 503.538 người, chiếm 95,43% tổng số lực lượng lao động và tăng 0,25% so với năm 2023, trong đó: lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 29,15% (tương ứng 146.758 người), giảm cả về số lượng và tỷ trọng so với năm trước (lần lượt giảm 0,42% và 0,19 điểm phần trăm); công nghiệp-xây dựng chiếm 28,65% (tương ứng 144.248 người), tăng cả số lượng và tỷ trọng (lần lượt tăng 1,24% và 0,28 điểm phần trăm); dịch vụ chiếm 42,21% (tương ứng 212.532 người), tăng về số lượng (tăng 0,06%) và giảm tỷ trọng (giảm 0,08 điểm phần trăm). Cho thấy lực lượng lao động khu vực nông nghiệp đang giảm dần và gia tăng lao động khối công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.

Tỷ lệ thất nghiệp: Trong quý IV/2024 tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 5,14%, giảm 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2024 tỷ lệ này ở mức 5,27%, giảm 0,24 điểm phần trăm so với năm trước. Mặc dù trong quý IV, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đã tăng cường tuyển dụng lao động song vẫn không tuyển đủ lao động, do chế độ, chính sách làm việc cho người lao động của doanh nghiệp ở Hà Tĩnh vẫn chưa đủ sức thu hút và giữ chân người lao động.

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ước tính quý IV/2024 là 2,51%, giảm 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2024, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,49%, tăng 0,16 điểm phần trăm so với năm trước.

Tình hình giải quyết việc làm: Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý IV năm 2024 là 5.180 người, giảm 27,07% so với quý trước và tăng 28,15% so cùng kỳ năm 2023; so với quý trước chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trong tỉnh (giảm 49,02%) và đi làm ngoài tỉnh (giảm 63,34%). Tính chung năm 2024, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 23.501 người, đạt 102,18% so với kế hoạch và tăng 1,63% so với năm 2023, chủ yếu tăng ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (tăng 9,46%) và đi làm ngoài tỉnh (tăng 14,16%). Tất cả điều đó chứng tỏ tình hình về lao động, việc làm quý IV/2024 ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý IV/2024 là 1.009 người, tăng 377 người so với quý trước; tính đến tháng 12 năm 2024 có 2.291 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, so với thời điểm tháng 9/2024 giảm 352 người.

2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội

Nhìn chung năm 2024, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn đang ổn định. Những ngày cuối năm, các doanh nghiệp Hà Tĩnh đang tất bật, khẩn trương sản xuất, kinh doanh, hoàn thành những đơn hàng cuối cùng, nỗ lực "cán đích" các mục tiêu của năm. Bên cạnh đó, tại các siêu thị, cửa hàng, chợ truyền thống ở Hà Tĩnh, hàng hóa tết với đa dạng mẫu mã, giá cả đã lên kệ để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân nhưng sức mua vẫn còn chưa cao.

Tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội:

Năm 2024, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền hơn 1.197,88 tỷ đồng. Chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2,3,4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền là 544,21 tỷ đồng. Chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác với tổng số tiền gần 59,94 tỷ đồng. Bên cạnh đó, để chung tay giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho các hộ khó khăn, trong năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức trao tặng hơn 430 mô hình sinh kế giảm nghèo với giá trị hơn 2,6 tỷ đồng; trao nhiều suất học bổng cho các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học giỏi và trao tặng nhiều suất quà cho các đối tượng khó khăn với số tiền hơn 1,4 tỷ đồng.

Ngoài ra, đã cấp phát miễn phí khoảng 403.285 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, 13.934 thẻ cấp cho hộ nghèo; 28.610 thẻ cấp cho hộ cận nghèo; 141.374 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 42.862 thẻ cho người có công và 176.505 thẻ cho các đối tượng khác. Hỗ trợ 189 triệu đồng mua 10,5 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt và các hộ nghèo, hộ cận nghèo.

3. Giáo dục

Với những kết quả và thành tích đạt được trong năm học 2023 - 2024 với nhiều con số ấn tượng khi xếp thứ 7 toàn quốc về điểm thi bình quân tốt nghiệp THPT; thứ 10 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải quốc gia, đạt Huy chương bạc Olympic Toán học quốc tế; thứ 4/12 tại Hội khỏe Phù Đổng khu vực III.

 Bước vào năm học mới 2024 - 2025 Hà Tĩnh có hơn 362 ngàn giáo viên và học sinh ở 668 trường học (255 trường mầm non, 221 trường tiểu học, 147 trường THCS và 45 trường THPT) với 10.695 lớp (mẫu giáo 2.916 lớp, tiểu học 4.182 lớp, THCS 2.407 lớp, THPT 1.190 lớp).

Công tác giáo dục luôn là ưu tiên hàng đầu không chỉ đối với tỉnh nhà mà còn trong cả mỗi gia đình. Lãnh đạo tỉnh, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông 2018, hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng, thực hiện áp dụng tài liệu học mới ở lớp 5, lớp 9 và lớp 12. Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức ôn thi đối với học sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2025 - 2026, thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9, 10, 11, 12 năm học 2024 - 2025, tiếp cận ôn thi đánh giá năng lực cho học sinh; tổ chức thi giáo viên giỏi cấp tỉnh Tiểu học, cấp THPT đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Tiếp tục làm tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng “nghiên cứu bài học”; đổi mới kiểm tra đánh giá, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; ứng dụng giáo dục STEM trong dạy học.

4. Hoạt động y tế

Năm 2024, ngành Y tế vượt 2/3 chỉ tiêu được Quốc hội giao về số bác sĩ và số giường bệnh; đạt chỉ tiêu về tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế; cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu lớn của ngành, lĩnh vực được Chính phủ giao. Các dịch bệnh truyền nhiễm cơ bản được kiểm soát, không xuất hiện các chùm ca bệnh, ổ dịch lớn trong cộng đồng. Các dịch vụ khám, chữa bệnh tiếp tục được nâng cao chất lượng, hiệu quả với tinh thần lấy người bệnh làm Trung tâm, nâng cao sự hài lòng của người bệnh. Nhiều kỹ thuật y học tiên tiến được ứng dụng thành công, đặc biệt là ghép tạng, ghép đa tạng.

Công tác phòng chống HIV/AIDS:

Quý 4 năm 2024, đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV và có 1 ca chết vì AIDS, tăng 2 ca nhiễm mới nhưng giảm 2 ca chuyển sang AIDS so với quý trước. Tính chung năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh phát hiện 31 ca nhiễm mới HIV/AIDS, có 20 ca chuyển sang AIDS và 6 ca chết vì AIDS, giảm 11 ca nhiễm mới, giảm 16 ca chuyển sang AIDS và giảm 3 ca chết vì AIDS so với năm trước.

Công tác an toàn thực phẩm:

Chủ động đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là vào các dịp lễ, tết. Các cấp, các ngành thường xuyên phối hợp, tăng cường công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Trong quý đã không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào, giảm 2 vụ và giảm 11 người bị ngộ độc so với quý trước. Tính chung cả năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 13 người bị ngộ độc và có 872 người bị ngộ độc đơn lẻ, giảm 1 vụ ngộ độc tập thể và giảm 29 người bị ngộ độc so với năm trước.

Tình hình dịch bệnh khác:

Ngay từ đầu năm, Hà Tĩnh đã chủ động tham mưu Sở Y tế ban hành các kế hoạch, văn bản phòng chống dịch. Năm 2024 ghi nhận 450 ca mắc Sởi, 86 ca mắc sốt xuất huyết, không có ca tử vong. Khống chế thành công 04 ổ dịch Sởi xảy ra tại các huyện Lộc Hà, Nghi Xuân, Hương Khê và Đức Thọ, đặc biệt khống chế ổ dịch Sốt xuất huyết tại Thị xã Kỳ Anh. Duy trì công tác tiêm chủng thường xuyên tại 216/216 xã, phường, thị trấn và tại tất cả các bệnh viện, trung tâm y tế có phòng sinh. Triển khai Chiến dịch tiêm chủng phòng chống dịch Sởi tại 2 huyện Cẩm Xuyên và Nghi Xuân cho trẻ từ 1- 10 tuổi đạt tỷ lệ 97,5%; triển khai tiêm chủng vắc xin Uốn ván - Bạch hầu (Td) tại 13/13 huyện, thị xã, thành phố đạt 82,7%. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn xuất hiện các ca bệnh đơn lẻ như sốt rét,. Sốt xuất huyết, quai bị, lỵ, thủy đậu, tiêu chảy, hơn 15 nghìn ca cúm và một số bệnh khác. Các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do các bệnh trên.

5. Hoạt động văn hoá, thể thao

Hoạt động văn hóa: Trong năm, đã triển khai nhiều giải pháp thực hiện kế hoạch hoạt động, theo đó, sở đã tham mưu tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm lớn như: 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trần Phú; Festival “Về miền Ví, Giặm - Kết nối tinh hoa di sản”; kỷ niệm 10 năm Dân ca ví - giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”; kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, cùng với lễ kỷ niệm là chuỗi hoạt động, sự kiện sôi nổi bên lề như Triển lãm “Di sản của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác”, trưng bày chuyên đề “Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - Cuộc đời và sự nghiệp”. Bên cạnh đó có thêm xếp hạng 14 di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh và 6 di tích được xếp hạng quốc gia.

Hoạt động thể thao: Năm 2024, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 53 giải thi đấu thành tích cao và giành được 261 huy chương các loại, trong đó có102 huy chương vàng, 67 huy chương bạc và 92 huy chương đồng. Ngoài ra hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức nhiều giải thể thao, trò chơi dân gian mừng Đảng, mừng Xuân, khai trương du lịch biển,... Bên cạnh đó, các giải đấu cấp tỉnh cũng được tổ chức thành công như giải bóng chuyền nam, nữ cấp tỉnh, hội thao các cụm thi đua, các ngành. Đội bóng Hồng Lĩnh Hà Tĩnh vẫn đang thi đấu tốt ở giải V.League và đnag tích cực đầu từ ở các giải trẻ như U19 đang có thành tích bất bại ở vòng loại U19 quốc gia.

6. Tình hình an toàn giao thông

Trước tình hình tai nạn giao thông diễn biến phức tạp và đang có dấu hiệu gia tăng, Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Công an tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông trên các tuyến giao thông và các kế hoạch chuyên đề, kiểm soát về trật tự ATGT. Duy trì hoạt động các Tổ công tác đặc biệt 238 và 256, chủ động tuần tra, xử lý “tội phạm đường phố” khép kín địa bàn 24/24h; huy động lực lượng Cảnh sát khác, Công an xã tham gia tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự ATGT ngay từ địa bàn thôn, xóm, các tuyến giao thông trọng điểm.

Trong quý IV năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 85 vụ tai nạn đường bộ, làm 53 người chết, 50 người bị thương, giảm 3 vụ, giảm 5 người chết và tăng 7 người bị thương so với quý trước. Có 01 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người chết, tăng 01 vụ và tăng 01 người chết so với quý trước. Tính chung năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 403 vụ tai nạn đường bộ, làm 224 người chết, 249 người bị thương (tăng 43 vụ, tăng 25 người chết, tăng 34 người bị thương so với năm trước); 4 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 2 người, 01 người bị thương (tăng 01 vụ, tăng 01 người bị thương và số người chết không thay đổi so với năm trước).

Trong thời gian tới, Ban An toàn giao thông phối hợp với Công an tỉnh và các cấp ngành liên quan đang tích cực tham mưu phương án, kế hoạch phòng ngừa tai nạn giao thông và giữ gìn trật tự, an toàn giao thông phục vụ nhân dân đón Tết Dương lịch, Tết nguyên đán Ất Tỵ và Lễ hội Xuân năm 2025 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Tình hình cháy, nổ:

Trong năm 2024, Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung tình hình cháy tại khu vực nhà dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh đang diễn biến phức tạp. Trong tháng cuối năm, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn tập trung thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an về tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn; Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn về Phòng cháy chữa cháy.

Trong quý IV/2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 21 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, giá trị thiệt hại tài sản ước tính 1.603,07 triệu đồng, giảm 8 vụ và không làm thiệt hại về người như quý trước. Tính chung năm 2024, đã xảy ra 86 vụ cháy, giá trị thiệt hại tài sản ước tính 2.199,9 triệu đồng, giảm 22 vụ, không làm thiệt hại về người như năm trước. Không xảy ra vụ nổ nào trong năm 2024, giảm 2 vụ, giảm 1 người chết, giảm 3 người bị thương so với năm trước).

Vi phạm môi trường:

Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững. Vì vậy, người dân ngày càng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, các vụ vi phảm đã được giảm thiểu một cách đáng kể.

Trong tháng 12/2024, Hà Tĩnh phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 6 vụ, với tổng số tiền xử phạt 476,65 triệu đồng. Tính chung cả năm 2024, đã phát hiện 260 vụ vi phạm môi trường, giảm 174 vụ (giảm 40,09%), đã xử phạt 247 vụ, giảm 220 vụ (giảm 47,11%) với tổng số tiền xử phạt là 2.110,7 triệu đồng, tăng 350,74 triệu đồng (tăng 19,93%) so với năm trước.

8. Tình hình thiên tai

Tính chung cả năm 2024 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ thiên tai làm 01 người chết, 94 nhà bị hư hại, 17 ha hoa màu bị thiệt hại, 50 con gia cầm chết, cuốn trôi, 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi, gãy đổ 2 cột điện...với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.614,5 triệu đồng.

Trước diễn biến phức tạp của khí hậu, thời tiết và hậu quả do thiên tai gây ra, chính quyền địa phương cùng các mạnh thường quân đã chung tay hỗ trợ 598,65 triệu đồng cho các trường hợp phát sinh trên địa bàn (hỗ trợ 212,3 triệu đồng đến các địa chỉ nhân đạo, hỗ trợ 2 triệu đồng cho 1 hộ ngư dân bị cháy thuyền, hỗ trợ 15 triệu đồng cho một gia đình bị cháy xưởng gỗ, hỗ trợ 20 triệu đồng cho 2 gia đình bị tai nạn lao động nặng, hỗ trợ 25 triệu đồng tiền an táng cho 1 nạn nhân bị sét đánh chết, hỗ trợ 250 triệu đồng cho 3 nạn nhân tử vong do lán trại bị đất đá vùi lấp do sạt lở và tổ chức nấu hàng trăm suất cơm, hàng ngàn suất cháo miễn phí cho các bệnh nhân tại các trung tâm y tế với số tiền 74,35 triệu đồng).

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

Năm 2025 là năm cuối nhiệm kỳ là năm bứt phá để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2021 - 2025. Mặc dù sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động, diễn biến phức tạp, khó lường, kinh tế trong nước nước dự báo còn chịu sức ép lạm phát, tỷ giá; giá nhiều yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất. Cần tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng, khai thác dư địa trong từng ngành, lĩnh vực, địa phương; phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025 và Công điện số 140/CĐ-TTg ngày 27/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số năm 2025. Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra, thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tập trung phát triển công nghiệp, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn, trọng điểm tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vũng cho giai đoạn tới. Tăng cường các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn, dự theo định hướng quy hoạch tỉnh, đặc biệt là các dự án lớn, các nhà đầu tư chiến lược đã ký cam kết.

Hai là, duy trì ổn định sản xuất nông nghiệp, chủ động bám sát diễn biến thời tiết, phòng chống thiên tai, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn Châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò; tập trung triển khai đề án, chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn gắn với tập trung tích tụ ruộng đất.

Ba là, khai thác hiệu quả khu vực dịch vụ, du lịch. Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển thương mại, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics. Chủ động dự báo tình hình thị trường, theo dõi sát cung - cầu hàng hóa trên địa bàn. Tăng cường công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đẩy mạnh quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh có điều kiện. Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đáp ứng xu hướng mới của thị trường; tăng cường xúc tiến du lịch, liên kết vùng, chuyển đổi số trong phát triển du lịch. Hướng dẫn nhà đầu tư tập trung hoàn thiện hồ sơ thủ tục, sớm triển khai các dự án du lịch, dịch vụ, ven biển.

Bốn là, tăng cường quản lý, điều hành, sử dụng hiệu quả ngân sách, tín dụng ngân hàng để phục vụ phát triển kinh tế. Tăng cường công tác hậu kiểm, chống thất thu, thu hồi nợ thuế. Tiếp tục quán triệt nguyên tắc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo dự toán giao đầu năm, đúng chế độ quy định; ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.


[1] 01 cơ sở chăn nuôi bò sữa quy mô 2.200 con và 05 cơ sở chăn nuôi lợn nái quy mô 5.500 con

[2] Gồm 9 cơ sở chăn nuôi lợn 10.000 con; 3 cơ sở chăn nuôi gia cầm 60.000 con; 1 cơ sở chăn nuôi bò quy mô 40 con

[3] Quyết định số 3326/QĐ-BNN-TC ngày 02/10/2024 của Bộ Nông nghiệp về phê duyệt bổ sung, điều chỉnh kế hoạch sử dụng kinh phí (KH tài chính tổng thể) từ nguồn thu thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA)