0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn

BÁO CÁO Ước tính tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh năm 2018

19/07/2024 16:35

BÁO CÁO

Ước tính tình hình kinh tế - xã hội năm 2018

1. Tăng trưởng kinh tế

2. Tài chính, ngân hàng

2.1. Thu - chi ngân sách:

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh tính đến 31/11/2017 đạt 10.180,9 tỷ đồng, bằng 100,24% so với cùng kỳ năm trước và bằng 137,49% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa đạt 4.530,5 tỷ đồng, bằng 103,14% so với cùng kỳ năm trước và bằng 77,38% dự toán năm; thu hải quan đạt 2.626,8 tỷ đồng, bằng 147,078% so với cùng kỳ năm trước và bằng 169,47% dự toán năm. Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước vẫn còn gặp khó khăn. Thời gian tới cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2017 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn. 

Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn toàn tỉnh tính đến ngày 31/11/2017 là 15.682,6 tỷ đồng, bằng 99,84% so với cùng kỳ năm trước và bằng 91,64% so với dự toán năm, trong đó: Chi ngân sách Nhà nước là 10.144,2 tỷ đồng, bằng 104,73% so với cùng kỳ năm trước và bằng 86,88% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 5.467,3 tỷ đồng, bằng 92,74% so với cùng kỳ năm trước và bằng 131,82% so với dự toán năm. Cụ thể một số khoản chi như sau: Chi đầu tư phát triển 3.634,1 tỷ đồng, bằng 102,14% so với cùng kỳ năm trước và bằng 130,18% so với dự toán năm; chi thường xuyên 6.510 tỷ đồng, bằng 106,31% so với cùng kỳ năm trước và bằng 73,28% so với dự toán năm. Trong điều kiện thu ngân sách rất khó khăn, nhưng với các giải pháp điều hành linh hoạt, hợp lý nên chi ngân sách địa phương cơ bản thực hiện đúng tiến độ theo dự toán. Một số nhiệm vụ, mục tiêu của tỉnh được quan tâm giải ngân kịp thời ngay từ đầu năm, chủ động cân đối xử lý nguồn kịp thời cho các cấp, các ngành, đơn vị thực hiện. Đảm bảo đủ nguồn vốn cho chi đầu tư phát triển, chi các hoạt động hành chính, sự nghiệp cấp tỉnh, các chính sách phát triển, an sinh xã hội, an ninh- quốc phòng và cố gắng, kịp thời đáp ứng nguồn thực hiện các nhiệm vụ đột xuất cấp bách, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

2.2. Hoạt động ngân hàng:

Năm 2017, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.

- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý ước tính đến thời điểm 15/11/2017 đạt 41.415 tỷ đồng, tăng 20,3% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2017, nguồn vốn huy động đạt 42.150 tỷ đồng, tăng 23,26% so với đầu năm, vượt kế hoạch 35,06% kế hoạch đề ra đầu năm (kế hoạch tăng 17%). Huy động vốn tăng trưởng mạnh (tăng 19,16% so với đầu năm, tăng 22,45% so với cùng kỳ năm trước); trong đó nguồn vốn tiết kiệm dân cư tăng 19,82%, điều đó chứng tỏ việc gửi tiền vào ngân hàng vẫn là một kênh đầu tư hấp dẫn người dân. Nguồn vốn huy động tăng, trong đó nguồn trung dài hạn tăng hơn 50%, đã tạo điều kiện cho ngân hàng chủ động nguồn vốn để đẩy mạnh hoạt động cho vay trên địa bàn.

- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay, nhờ đó dư nợ của các tổ chức tín dụng tăng trưởng tương đối tốt và tăng đều qua các tháng. Doanh số cho vay 10 tháng đầu năm 2017 đạt 47.726 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2016. Dư nợ cho vay đến 31/10/2017 đạt 36.414 tỷ đồng, tăng 10,04% so với đầu năm, tăng 22,44% so với cùng kỳ năm 2016.

Dư nợ cho vay đến ngày 15/11/2017 đạt 37.185 tỷ đồng, tăng 12,36% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2017 tổng dư nợ đạt 38.725 tỷ đồng, tăng 17% so với đầu năm, đạt 100% so với kế hoạch đề ra.

- Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn: Trong 10 tháng đầu năm 2017, số khách hàng được cho vay hỗ trợ lãi suất theo các quyết định của Chính phủ, của tỉnh tăng 194 khách hàng, với doanh số cho vay được hỗ trợ là 102,49 tỷ đồng, lãi được hỗ trợ cho các khách hàng đang hưởng chính sách là 28,05 tỷ đồng (lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.604 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là 43.099, số lãi được hỗ trợ 339,9 tỷ đồng). Từ đầu năm đến 31/10/2017, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ cho 5.363 khách hàng với dư nợ được cơ cấu, điều chỉnh kỳ hạn là hơn 326 tỷ đồng. Tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp do sự cố môi trường biển. Tính từ thời điểm xảy ra sự cố đến nay đã thực hiện cơ cấu lại nợ cho 446 khách hàng với tổng dư nợ được cơ cấu là 82,66 tỷ đồng, miễn giảm lãi vay cho 319 khách hàng với số lãi được miễn giảm là 1,1 tỷ đồng. Cho vay mới đối với 1.824 khách hàng với doanh số cho vay lũy kế 132,06 tỷ đồng. Cho vay đóng tàu, mua ngư cụ đối với 25 khách hàng, doanh số cho vay là 11,76 tỷ đồng, cho vay chuyển đối nghề tại Ngân hàng chính sách xã hội đối với 89 khách hàng, doanh số cho vay được hỗ trợ là 4,24 tỷ đồng.

Thực hiện cơ cấu lại nợ theo Quyết định số 12/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 09 khách hàng với tổng dư nợ là 30,2 tỷ đồng; cho vay khôi phục sản xuất kinh doanh, chuyển đổi nghề cho 1.180 khách hàng với doanh số cho vay 132,44 tỷ đồng. Triển khai Nghị định 67, tính đến ngày 31/10/2017 đã có 11 chủ tàu ký hợp đồng tín dụng với các ngân hàng thương mại với tổng hạn mức cho vay là 162,93 tỷ đồng, đã giải ngân được 157,98 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm hiện tại 152,62 tỷ đồng. Đã bàn giao và hạ thủy được 10 con tàu vỏ thép, còn 01 tàu đang tiếp tục hoàn thiện để đưa vào sử dụng. Triển khai Nghị quyết 02, có 07 ngân hàng tham gia, đã cho vay 1.027 khách hàng với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng, tính đến 31/10/2017 dư nợ là 402 tỷ đồng. Còn triển khai chương trình kết nối Ngân hàng-Doanh nghiệp, 10 tháng đầu năm, ngành Ngân hàng đã chủ trì và phối hợp tổ chức 08 cuộc kết nối, với doanh số lũy kế hơn 33 tỷ đồng, cam kết cho vay hơn 28 nghìn khách hàng, trong đó có 2.000 là doanh nghiệp.

Về dư nợ các chương trình chính sách trên địa bàn, tính đến ngày 31/10/2017 dư nợ NHCSXH đạt 4.077 tỷ đồng, chiếm 11,20% tổng dư nợ toàn địa bàn, dư nợ cụ thể các chương trình như sau: Cho vay hộ nghèo 693 tỷ đồng; Cho vay hộ cận nghèo 1.050 tỷ đồng; Cho vay hộ mới thoát nghèo 550 tỷ đồng; Cho vay HSSV 352 tỷ đồng; Cho vay GQVL 91,3 tỷ đồng; Cho vay XKLĐ 5,6 tỷ đồng; Cho vay NS&VSMTNT 510 tỷ đồng; Cho vay doanh nghiệp 0,13 tỷ đồng; Cho vay SXKD tại VKK 691 tỷ đồng; Cho vay thương nhân VKK 3,5 tỷ đồng; Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ167: 67,9 tỷ đồng; Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ33: 4,37 tỷ; Cho vay xây chòi tránh lũ, lụt 0,84 tỷ đồng; và một số chương trình khác.

- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn. Đặc biệt đã đáp ứng nhu cầu tiền mặt cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Công tác phát hiện xử lý, phối hợp với các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tiền giả được quan tâm. Tính đến 31/10/2017 trên địa bàn có 132 máy đang hoạt động (trong đó: thành phố 58 máy và các huyện, thị xã 74 máy) với số lượng thẻ phát hành hơn 540 nghìn thẻ, tăng 3,13% so với đầu năm, tại địa bàn giao dịch qua máy ATM chủ yếu là rút tiền mặt (chiếm 94,18% tổng giao dịch qua máy ATM); toàn tỉnh có 374 máy POS, tăng 29 máy so với đầu năm, có 232 điểm chấp nhận thẻ đã kết nối liên thông với các TCTD trên địa bàn.        

3. Đầu tư và xây dựng

3.1. Đầu tư phát triển:

Ước tính vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2018 theo giá hiện hành đạt 32.145,67 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước.

Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2018

Năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng so với năm 2017, nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu tăng ở khu vực vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng chủ yếu ở Dự án Formosa, hiện nay dự án tập trung nguồn vốn hoàn thiện lò cao số 2, các hạng phục phụ trợ còn lại và đầu tư mua sắm thiết bị máy móc lắp đặt lò cao nên nguồn vốn tăng so với năm trước. Riêng nguồn vốn Nhà nước giảm 11,37% và ngoài Nhà nước giảm 7,01%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư năm 2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 50,92%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 34,26%); còn xét theo khoản mục đầu tư, thì nguồn vốn tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 87,54%).

Tính riêng quý IV/2018, vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 8.309,01 tỷ đồng, giảm 10,8 % so với quý trước và tăng 23,69% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội quý IV/2018 giảm so với quý trước chủ yếu giảm ở nguồn vốn Nhà nước (giảm 19,31%) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (giảm 17,27%). Vốn nhà nước giảm mạnh do các công trình xây dựng đã vào giai đoạn hoàn thành và hoàn tất thủ tục thanh toán giải ngân vốn cuối năm, nên giá trị thực hiện đầu tư công trình giảm dần trong các tháng cuối năm; còn vốn nước ngoài giảm chủ yếu do vốn đầu tư dự án Formosa giảm 17,05% (giảm 840,4 tỷ đồng).

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2018 tăng khá, ước đạt 3.436,43 tỷ đồng, tăng 19,69% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Trung ương quản lý ước đạt 205,74 tỷ đồng, tăng 23,48%; vốn địa phương quản lý ước đạt 3.230,69 tỷ đồng, tăng 19,46%.

Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý năm 2018 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở nguồn vốn cấp tỉnh (tăng 23,15%) và cấp huyện (tăng 41,58%). Nếu tách từng quý cho thấy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I/2018 đạt 607,81 tỷ đồng (giảm 6,99% so với cùng kỳ năm trước); sang quý II, quý III và quý IV đạt mức tăng khá, lần lượt đạt 887,75 tỷ đồng (tăng 29,02%), 991,8 tỷ đồng (tăng 32,57%) và 743,33 tỷ đồng (tăng 20,9%).

3.2. Xây dựng

Năm 2018, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với các công trình; tuy nhiên, do Dự án Formosa hiện tập trung nguồn vốn hoàn thiện lò cao số 2, các hạng phục phụ trợ còn lại và xây dựng nhà ở cho công nhân nên giá trị năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước, nhưng chỉ tăng nhẹ. Giá trị xây dựng toàn tỉnh năm 2018 tăng 0,84% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng mạnh ở xây dựng khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, lần lượt tăng 2,37 lần và 78,2%. Riêng xây dựng khu vực ngoài Nhà nước năm 2018 giảm 2,63% so với cùng kỳ năm trước, do xây dựng khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 5,23% và khu vực xã, phường, thị trấn giảm 5,65%.

Riêng quý IV/2018, một số dự án lớn trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì đầu tư xây dựng như: Dự án khu phức hợp Vincom Hà Tĩnh; một số hạng mục, công trình phụ trợ thuộc dự án Formosa Hà Tĩnh; Hồ chứa nước Ngàn Trươi-Hà Tĩnh; đường trung tâm huyện Kỳ Anh; kênh mương hồ Rào Trổ; nâng cấp đê dọc bờ biển Lộc Hà; khu cảng tổng hợp quốc tế Hoành Sơn…nên giá trị xây dựng quý III có tăng nhẹ so với quý trước. Giá trị xây dựng quý IV tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước.

3. Sản xuất công nghiệp

- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2018 ước tính tăng 9,24% so với tháng trước và tăng 65,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,59%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 102,15%; sản xuất và phân phối điện giảm 18,83%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 19,06% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo.

Tính riêng quý IV/2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 50,87% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của quý I, quý II (quý I tăng 162,45%; quý II tăng 171,03%).

Trong 4 ngành công nghiệp cấp I, hầu hết đều có chỉ số sản xuất tăng ở cả 4 quý. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất quý I giảm 11,32%; quý II giảm 2,74%; sang quý III tăng 12,68%; đạt mức tăng khá ở quý IV (tăng 34,85%) và, chủ yếu tăng ở khai thác cát, sỏi, đá (tăng 37,94%). Như vậy, sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh vẫn đạt tăng trưởng cao ở cả 4 quý, nhưng sang quý III và quý IV mức tăng có phần chững lại.       

Tính chung cả năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 88,98% so với cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn 2,88 điểm % so với 11 tháng đầu năm (chung 11 tháng tăng 91,86%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 113,55%, đóng góp 81 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 29,3%, đóng góp 7,66 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 21,43%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 8,59%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm.

Như vậy, năm 2018 hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa, nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh năm 2018 giảm 1,76% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,9%; sản xuất và phân phối điện giảm 10,7%.

- Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 tăng 21,36% so với tháng trước và tăng 68,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính cả năm 2018, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 148,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 1,87 lần; sản xuất than cốc tăng 78,27%; dệt tăng 44,16%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 56,91%; chế biến thực phẩm giảm 51,46%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 tăng 37,85% so với tháng trước và tăng 110,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc tăng 7,39 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 5,03 lần; sản xuất giấy tăng 2,39 lần; ngành dệt tăng 1,48 lần.

- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 12/2018 giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 8,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 28,82%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 16,71%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

- Tình hình đăng ký kinh doanh: Lũy kế đến ngày 15/12/2018, toàn tỉnh Hà Tĩnh có 722 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó loại hình công ty cổ phần thành lập mới 125 đơn vị, chiếm 17,3% trong tổng số; loại hình công ty TNHH thành lập mới 594 đơn vị, chiếm 82,3% và loại hình doanh nghiệp tư nhân 3 đơn vị, chiếm 0,4%.

Tổng số vốn đăng ký đạt 6.238 tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân đạt 8,6 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 1,15 tỷ đồng/doanh nghiệp so cùng kỳ năm trước) thể hiện các doanh nghiệp ngày càng tăng quy mô vốn. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng khá cao, bên cạnh tăng về số lượng, các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, năm 2018 đã giải quyết việc là, cho 9.415 lao động mới. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất (7.786 lao động), tiếp đến là loại hình công ty cổ phần (1.622 lao động) và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 15/12/2018 là 214 doanh nghiệp, tăng 21,5% và có 105 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, tăng 21,5% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong năm 2018 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng vẫn có xu hướng tăng, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng.

- Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV/2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 68,9% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 20% khẳng định SXKD tốt lên; 48,9% khẳng định giữ ổn định); 31,1% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý I/2018 so với quý IV/2018, có 68,9% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 31,1% số doanh nghiệp dự báo tốt lên; 37,8% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 31,1% số doanh nghiệp khó khăn hơn.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 53,3% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”; 75,6% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”; 40% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 48,9% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.       

Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2018, có 26,7% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý III/2018; 33,3% giảm đi; có 16,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 34,9% giảm đi; 78,6% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 17,8% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy) và 26,7% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 4,4% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 6,7% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý I/2019 so quý IV/2018 có 27,9% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 15,4% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 28,9% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 31,1% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.

Đánh giá về biến động lao động quý IV/2018 so với quý III/2018, có 91,1% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 8,9% khẳng định tăng lên; 82,2% khẳng định giữ ổn định) và 8,9% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý I/2019 so với quý IV/2018 có 88,9% doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định; 11,1% doanh nghiệp dự kiện giảm lao động, điều đó cho thấy các doanh nghiệp gặp khó khăn trong quý tới và không có nhu cầu tuyển thêm lao động để phục vụ sản xuất kinh doanh.

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

5.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh sơ bộ đạt 159.235 ha, bằng 99,42% (giảm 928 ha), cây lương thực có hạt đạt 111.767 ha, chiếm 70,19% tổng diện tích gieo trồng và bằng 98,89% so với năm 2016. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 470.430 tấn, bằng 83,12% (giảm 95.508 tấn), trong đó sản lượng lúa đạt 442.980 tấn, bằng 83,52% (giảm 87.419 tấn); sản lượng ngô đạt 27.450 tấn, bằng 77,24% (giảm 8.089 tấn) so với năm 2016.

Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 104.072 ha, bằng 100,67% (tăng 688 ha) so với năm trước; lúa Đông Xuân đạt 58.866 ha, bằng 101,15% (tăng 670 ha); lúa Hè Thu đạt 44.510 ha, bằng 101,17% (tăng 513 ha); lúa Mùa đạt 1.191 ha, bằng 58,44% (giảm 495 ha). Nguyên nhân tăng chủ yếu nhờ sự chỉ đạo của UBND các huyện, cùng với các ngành đã vào cuộc quyết không để diện tích đất bỏ hoang và cung cấp nguồn nước tưới tiêu đầy đủ, kịp thời cho người dân sản xuất. Riêng diện tích gieo cấy lúa mùa giảm do hiệu quả kinh tế đạt thấp nên nhiều huyện không gieo cấy; đồng thời, ở một số vùng diện tích lúa Mùa đã xuống giống do bị mưa bão làm trôi mất, hoặc bị ngâm nước lúa không phát triển được.

Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 42,56 tạ/ha, so với năm trước bằng 82,97% (giảm 8,74 tạ/ha), trong đó: Năng suất lúa vụ Đông Xuân đạt 41,09 tạ/ha, bằng 72,76% (giảm 15,39 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 44,88 tạ/ha, bằng 98,75% (giảm 0,57 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 19,21 tạ/ha, bằng 128,97% (tăng 4,31 tạ/ha) so với cùng kỳ năm 2016. Do ở vụ lúa Đông Xuân bị dịch bệnh gây hại ngay từ đầu vụ, nhất là bệnh đạo ôn cổ bông phát triển gây hại nặng trên diện rộng làm cho hơn 20.782 ha lúa bị thiệt hại nặng, trong đó thiệt hại từ 30-70% là 7.633ha, thiệt hại trên 70% là 13.149 ha, từ đó làm cho sản lượng lúa giảm 86.794 tấn; còn ở vụ lúa Hè Thu do ảnh hưởng tâm lý từ vụ Xuân nên nhiều hộ dân ít chăm sóc, ít quan tâm, thiếu đồng bộ trong việc phun thuốc bảo vệ thực vật, cùng với sự ảnh hưởng của hai cơn bão số 2 và số 4 làm cho nhiều ha lúa bị ngập úng. Tất cả yếu tố này đã làm cho năng suất lúa cả năm giảm so với năm 2016.

Diện tích ngô cả năm ước đạt 7.695 ha, bằng 79,86% (giảm 1.940 ha) so với năm 2016, trong đó: Diện tích ngô vụ Đông đạt 2.309 ha, bằng 58,09% (giảm 1.665ha); diện tích ngô vụ Xuân đạt 3.409 ha, bằng 86,76% (giảm 520 ha) và diện tích ngô vụ Thu Mùa ước đạt 1.977 ha, bằng 114,17% (tăng 245 ha). Với năng suất ngô cả năm ước tính đạt 35,66 tạ/ha, bằng 96,68% (giảm 1,22 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước tính đạt 27.440 tấn, bằng 77,21% (giảm 8.099 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng của đợt lũ cuối tháng 10 năm 2016 đã làm cho nhiều ha ngô bị ngập úng; ngoài ra, hiện nay người dân ở các vùng có nuôi bò sữa và nuôi hươu, nhiều hộ đã chuyển sang trồng ngô sinh khối lấy thân lá bán phục vụ chăn nuôi nên làm cho kết quả sản xuất cây ngô giảm cả về diện tích và sản lượng so với cùng kỳ năm trước.

Kết quả sản xuất một số loại cây hàng năm khác thiếu ổn định cả về diện tích và năng suất so với năm trước, cụ thể: Cây khoai lang diện tích sơ bộ đạt 4.160 ha, bằng 87,66% (giảm 586 ha), năng suất sơ bộ đạt 64,62 tạ/ha, bằng 101,71% (tăng 1,1 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 27.299 tấn, bằng 89,15% (giảm 3.321 tấn); cây lạc diện tích sơ bộ đạt 15.117 ha, bằng 97,63% (giảm 367 ha), năng suất sơ bộ đạt 23,42 tạ/ha, bằng 94,45% (giảm 1,38 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 35.400 tấn, bằng 92,21% (giảm 2.989 tấn); cây rau các loại diện tích sơ bộ đạt 10.733 ha, bằng 100,59% (tăng 63ha), năng suất sơ bộ đạt 65,93 tạ/ha, bằng 101,27% (tăng 0,82 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 70.759 tấn, bằng 101,85% (tăng 1.288 tấn); cây đậu các loại diện tích sơ bộ đạt 6.711 ha, bằng 82,34% (giảm 1.439 ha), năng suất sơ bộ đạt 6,11 tạ/ha, bằng 68,1% (giảm 2,86 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 4.100 tấn, bằng 56,08% (giảm 3.211 tấn).

Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 28.647 ha, bằng 103,88% (tăng 1.070 ha) so với năm 2016, trong đó diện tích cây ăn quả sơ bộ là 15.633 ha, bằng 111,94% (tăng 1.667 ha), chiếm 54,57% tổng diện tích cây lâu năm. Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, được sự hỗ trợ của nhà nước, trên địa bàn thành lập nhiều mô hình, vườn mẫu trồng cây ăn quả tập trung. Các loại cây ăn quả có múi hiệu quả kinh tế cao như: cam có diện tích tăng 1217 ha; bưởi tăng 308 ha; chanh tăng 44 ha. Song cũng có một số diện tích cây ăn quả giảm: dứa giảm 17 ha; quýt giảm 23 ha. Mặt khác, do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như phòng trừ sâu bệnh, các biện pháp chăm sóc, bảo vệ .... nên một số địa phương có diện tích cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước như:  Vũ Quang tăng 890 ha; Hương Sơn tăng 314 ha; Hương Khê tăng 298 ha.

Hoạt động trồng trọt hiện nay đang tập trung chăm sóc và thu hoạch cây vụ Đông năm 2017. Diện tích gieo trồng cây vụ Đông toàn tỉnh ước đạt 12.817 ha, bằng 113,72% (tăng 1546 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích cây ngô ước đạt 3.345ha, bằng 84,65% kế hoạch và bằng 144,87% (tăng 1036 ha) so với cùng kỳ năm trước; khoai lang ước đạt 1.728 ha, bằng 61,09% kế hoạch và bằng 94,68% (giảm 97 ha) so với cùng kỳ năm trước; rau các loại ước đạt 4.216 ha, bằng 97,35% kế hoạch và bằng 112,07% (tăng 454 ha) so với cùng kỳ năm trước.

b. Tình hình sâu bệnh đối với cây trồng: Năm 2017, các đối tượng sâu bệnh gây hại trên cây trồng diễn biến phức tạp như: bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng; sâu cuốn lá nhỏ; bệnh khô vằn; bệnh chảy gôm; sâu nhớt,… Cụ thể:

Trên cây lúa bệnh đạo ôn lá diện tích nhiễm 2.024 ha, nhiễm nặng 124,4 ha; bệnh đạo ôn cổ bông nhiễm 20.782,8 ha, nhiễm nặng 13.149,5 ha; bọ trĩ nhiễm 385ha; bệnh khô vằn nhiễm 1.266 ha, nhiễm nặng 45 ha; rầy nâu, rầy lưng trắng nhiễm 25 ha. Trên cây lạc, nấm gây bệnh chết ẻo nhiễm 32 ha, bệnh gỉ sắt nhiễm 60 ha. Sâu cuốn lá nhỏ, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 868,3 ha (chủ yếu ở huyện Can Lộc, Đức Thọ, Hương Sơn và thị xã Hồng Lĩnh). Bệnh khô vằn với diện tích nhiễm 4.174 ha (tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên, Can Lộc), nhiễm nặng 129ha. Bệnh chảy gôm, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 180 ha (chủ yếu ở Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang). Bệnh câu cấu, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 120 ha (chủ yếu ở Hương Khê, Hương Sơn). Sâu nhớt, gây hại với diện tích nhiễm 101 ha (chủ yếu Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn).

Tình hình sâu bệnh hại trên cây lâu năm, trên cây ăn quả có múi, xuất hiện bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, diện tích nhiễm 180 ha; cấu cấu gây hại 120ha; sâu nhớt 100ha; nhện đỏ gây hại 24 ha; sâu vẽ bùa 19 ha.

c. Chăn nuôi: Dự ước số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 76.849 con, bằng 89,26% (giảm 9.243 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 4.449,3 tấn, bằng 97,72% (giảm 104 tấn), do hiện nay mô hình chăn nuôi trâu chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân, nuôi kết hợp với các loại vật nuôi khác; mặt khác loại thực phẩm này cũng chưa có xu hướng tiêu dùng mạnh, chỉ có những người già cả nuôi một vài con nên xu hướng chăn nuôi trâu trong dân giảm.

Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 202.935 con, bằng 88,41% (giảm 26.614 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 11.971,7 tấn, bằng 98,16% (giảm 224,3 tấn). Chăn nuôi bò ở Hà Tĩnh mạnh nhất chủ yếu là của Công ty Cổ phần chăn nuôi Bình Hà, nhưng năm 2017 dự án này chỉ hoạt động cầm chừng việc xuất nhập bò, không diễn ra thường xuyên như năm 2016 do đang đầu tư sữa chữa chuồng trại và xử lý ô nhiễm môi trường; mặt khác, xu hướng chăn nuôi bò trong dân đang giảm dần, diện tích chăn thả cũng hẹp dần đã làm cho chăn nuôi bò giảm so với cùng kỳ năm trước. Số lượng bò công ty Bình Hà nhập nuôi các đợt 43.396 con, hết ngày 06/12/2017 xuất bán 39.544 con, hiện đang nuôi trong trại 2.359 con.

Tổng đàn lợn ước tính hiện có 426.951 con, bằng 88,39% (giảm 56.064 con) với sản lượng lợn hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 78.844,7 tấn, bằng 95,62% (giảm 3.611,3 tấn). Tình hình chăn nuôi lợn gặp khó khăn do giá lợn hơi giảm trong thời gian vừa qua. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là hộ gia đình và gia trại, vì nguồn vốn không nhiều lại bị thua lỗ nặng nên người dân không tiếp tục tái đàn. Các mô hình chăn nuôi lớn như trang trại, hợp tác xã/doanh nghiệp một số vẫn cầm chừng được nhưng một số phải giảm quy mô chăn nuôi. Một số vùng chăn nuôi nhỏ lẻ, nguồn đất đai ít, người dân bỏ hẳn chăn nuôi lợn chuyển sang làm thuê buôn bán. Vì vậy chăn nuôi lợn giảm mạnh so với năm trước.

Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.462 ngàn con, bằng 102,82% (tăng 232 ngàn con) với sản lượng gia cầm năm 2017 ước đạt 17.189,9 tấn, bằng 102,9% (tăng 484,9 tấn). Đàn gà hiện có 6.754 ngàn con, bằng 102,41% (tăng 159 ngàn con), sản lượng xuất chuồng đạt 13.429,3 tấn, bằng 104,18% (tăng 539,2 tấn). Chăn nuôi gà tiếp tục phát triển theo hướng mô hình trang trại, gia trại; chăn nuôi gà với quy mô nhỏ cũng đang phát triển mạnh và rộng rãi ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Hiện có 15 cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô 10.000 con/lứa liên kết theo chuỗi với các Công ty như Công ty JaFa, Công ty cổ phần thực phẩm Hà Nội, phát triển khá ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.

Trong năm 2017, trên địa bàn toàn tỉnh đã xuất hiện một số dịch bệnh đối với đàn vật nuôi cụ thể như sau: Dịch LMLM gia súc xảy ra tại 29 xã, phường, thị trấn thuộc 09 huyện, thị xã, thành phố (T.X Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Cẩm Xuyên, TP.Hà Tĩnh, T.X Kỳ Anh, Kỳ Anh, Hương Sơn) làm cho 508 con gia súc mắc bệnh (gồm 43 trâu, 377 bò, 88 lợn); trong đó 88 lợn, 01 bò chết và đã tiêu hủy. Còn dịch Cúm gia cầm xảy ra ở xã Kỳ Bắc-huyện Kỳ Anh và phường Đại Nài-thành phố Hà Tĩnh, với tổng số gia cầm ốm, chết, tiêu huỷ là 2.568 con (547 gà, 2.000 vịt, 21 ngan). Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn xẩy ra dịch lở mồm long móng tại 02 xã ở huyện Đức Thọ (xã Bùi Xá và Đức Yên), 03 xã ở huyện Cẩm Xuyên (xã Cẩm Mỹ, Cẩm Duệ và thị trấn Cẩm Xuyên) và 04 xã ở huyện Thạch Hà (xã Thạch Đình, Thạch Long, Thạch Khê và thị trấn Thạch Hà). Tổng số gia súc mắc bệnh là 83 con (05 trâu, 78 bò lợn) của 59 hộ thuộc 14 thôn.

Tiến độ tiêm phòng: Năm 2017 đã tiêm phòng 2 đợt. Đợt 1, vắc xin lở mồm long móng ở trâu bò tiêm được 133.101 con đạt 54% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 123.908 con đạt 50,5% kế hoạch; ở đàn lợn: Vắc xin dịch tả tiêm được 170.700 con đạt 44,5% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 164.668 con đạt 42.6% kế hoạch; ở đàn chó: Vắc xin dại chó tiêm được 92.795 con đạt 46.5% kê hoạch; ở đàn gia cầm: Vắc xin cúm gia cầm H5N1 tiêm được 679.816 con đạt 11% kế hoạch.

Đợt 2, vắc xin lở mồm long móng ở trâu bò tiêm được 127.464 con đạt 52% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 114.404 con đạt 46,5% kế hoạch; Đàn lợn: vắc xin dịch tả tiêm được173.561 con đạt 45% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 152.136 con đạt 40% kế hoạch; Đàn gia cầm: vắc xin cúm gia cầm H5N1 tiêm được 591.692 con đạt 10% kế hoạch.

5.2. Lâm nghiệp

Năm 2017, diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 7.437 ha, bằng 116,17% (tăng 1.035 ha), trong đó chủ yếu là rừng sản xuất với diện tích ước đạt 7.159 ha (chiếm 96,26%) tổng diện tích rừng trồng. Diện tích rừng trồng tập trung chủ yếu ở: huyện Hương Sơn ước đạt 1.505 ha, huyện Kỳ Anh ước đạt 3.208 ha, huyện Thạch Hà ước đạt 533 ha, huyện Hương Khê ước đạt 710 ha, huyện Cẩm Xuyên ước đạt 502 ha... Diện tích rừng được chăm sóc là 24.048 ha, bằng 100,54% (tăng 130 ha); diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh là 15.192 ha, bằng 93,77% (giảm 1.009 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 202.909 ha, bằng 91,04% (giảm 19.968 ha). Do thực hiện chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp bằng việc giao đất vùng đồi núi gần dân và hỗ trợ vốn của chương trình bảo vệ; cùng với vốn đầu tư tái sản xuất trong dân từ kết quả trồng và khai thác rừng nên diện tích rừng trồng tiếp tục phát triển.

Số lượng cây trồng phân tán năm 2017 ước đạt 5.091 ngàn cây, bằng 86,54% (giảm 792 ngàn cây) so với năm 2016. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Sản lượng gỗ khai thác năm 2017 ước đạt 419.548 m3, bằng 155,36% (tăng 1149.505 m3) so với năm 2016, chủ yếu là các loại gỗ được khai thác từ rừng trồng phục vụ làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất dăm gỗ xuất khẩu; khai thác củi ước đạt 897.200 Ste, bằng 123,07%, (tăng 168.166 Ste). Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Huyện Hương Sơn 69.000 m3, huyện Kỳ Anh 182.500 m3, huyện Cẩm Xuyên 32.637 m3, huyện Hương Khê 43.620 m3, thị xã Kỳ Anh 40.800m3...

Công tác phòng chống cháy rừng tiếp tục được tăng cường chặt chẽ từ cơ sở, đơn vị và vùng dân sống ở gần rừng. Năm 2017, đã xẩy ra 07 vụ cháy rừng (giảm 10 vụ), diện tích bị cháy ước thiệt hại 7,8 ha thuộc rừng trồng (giảm 104,7 ha), giá trị thiệt hại ước 440 triệu đồng (giảm 1.380 triệu đồng) so với năm 2016. Số vụ cháy rừng xẩy ra ở các huyện: huyện Hương Sơn 06 vụ và Thạch Hà 01 vụ. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng đã tập trung cao độ, song do thời tiết nắng nóng với nền nhiệt cao cùng với sự thiếu cẩn trọng của người dân nên cháy rừng vẫn xẩy ra.

5.3. Thuỷ sản

Hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản từng bước phục hồi và tăng trưởng trở lại sau sự cố môi trường biển. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2017 đạt 7.394 ha, bằng 108,85% (tăng 601 ha) so với năm 2016, trong đó: nuôi thâm canh, bán thâm canh chiếm 27,4%; nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến chiếm 72,5%. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ngày càng được mở rộng và tăng số vụ nuôi. Nhiều doanh nghiệp, hộ nông dân đã mạnh dạn bỏ vốn lớn để xây dựng và cải tạo ao hồ, thu được kết quả khá, qua đó kích thích được phong trào nuôi trồng thuỷ sản của người dân.

Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy hải sản năm 2017 ước đạt 44.986 tấn, bằng 116,37% (tăng 6.327 tấn) so với năm 2016, trong đó: Sản lượng nuôi trồng là 12.986 tấn, bằng 103,95% (tăng 493 tấn) và sản lượng khai thác là 32.000 tấn, bằng 122,3% (tăng 5.843 tấn). Một năm sau sự cố môi trưởng biển, với sự nổ lực của các cấp, các ngành trong việc khắc phục sự cố thì hoạt động sản xuất thủy sản đã có dấu hiệu hồi sinh và dần đi vào ổn định sản xuất; mặt khác, thời tiết cũng thuận lợi đã tạo điều kiện cho bà con ngư dân hoạt động sản xuất về thủy sản trở lại bình thường, nên làm cho sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tăng so với năm trước.

Về dịch bệnh: Trong năm 2017, do thời tiết thay đổi thất thường, gió mùa xen kẽ các đợt nắng nóng làm cho nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm rất lớn, gây biến động các yếu tố môi trường, giảm sức đề kháng của tôm,nên đã xuất hiện bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính ở tôm, cụ thể: bệnh đốm trắng xảy ra ở 149,33 ha và hoại tử 21,57 ha (thuộc huyện Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà, Nghi Xuân, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh). Dịch bệnh được phát hiện sớm, nên công tác phòng chống được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn khẩn trương triển khai các biện pháp xử lý ổ dịch. Cán bộ kỹ thuật trực tiếp xuống các vùng nuôi hướng dẫn người dân đóng kín cống, không tháo xả nước ra ngoài khi chưa qua xử lý, dùng vôi bột rải xung quanh bờ ao; thu nhặt tôm bệnh và tôm chết tiêu hủy theo đúng quy định, nhằm giảm thiệt hại cho người dân.

6. Sản xuất công nghiệp

Dự ước năm 2017, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp dự ước bằng 181,76% (tăng 81,76%) so với cùng kỳ năm trước.

Từ trên cho thấy, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2017 vẫn duy trì ổn định sản xuất và giữ được mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng toàn ngành là công nghiệp chế biến chế tạo và sản xuất phân phối điện. Chỉ có ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất giảm 23,74% so với cùng kỳ năm trước do hiện nay trữ lượng quặng kim loại ở các mỏ đã dần cạn kiệt, giảm ở cả khai thác quặng kim loại (giảm 27,28%) và khai thác đá, cát, sỏi (giảm 23,71%). Nhiều ngành công nghiệp cấp 2 có mức tăng khá như: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 15,26%; than cốc tăng 3715%; thép tăng 6,76 lần; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 32,9%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,56%. Bên cạnh một số ngành hoạt động hiệu quả vẫn còn một số ngành có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng sản xuất giảm so với cùng kỳ như: Chế biến gỗ (giảm 7,59%); bê tông trộn sẵn (giảm 76,23%); gạch xây dựng bằng đất sét nung (giảm 15,15%); Sản xuất bia (giảm 5,23%).

Theo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV/2017 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau:

Tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2017 so với quý III/2017, có 60% DN đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 31,11% khẳng định SXKD tốt lên, 28,89% khẳng định giữ ổn định); 40% DN đánh giá là khó khăn hơn. Các ngành dự báo SXKD quý IV tốt hơn quý III gồm: Sản xuất trang phục 100%; sản xuất sản phẩm từ cao su 100%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế 100%;…Liên quan tới tình hình sản xuất: có 33,33% doanh nghiệp tăng sản xuất; 31,11% giảm đi; có 27,91% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 37,21% giảm đi; 80% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 33,33% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm và 28,89% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 6,67% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm chính và giá bán bình quân một sản phẩm giảm. Nhận định xu hướng SXKD dự kiến quý I/2018 so quý IV/2017 có 21,43% số DN có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 13,33% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 24,44% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 24,44% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.

Ngoài ra, trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, có 2 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là "nhu cầu thị trường trong nước thấp" và "tính cạnh tranh của hàng trong nước cao", cụ thể có 60% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và 71,11% khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến SXKD của doanh nghiệp. Với sự đánh giá từ các doanh nghiệp như trên, chúng ta có thể kỳ vọng hoạt động sản xuất công nghiệp thời gian sẽ có bước phát triển tích cực.

7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ

7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 12/2018 đạt 3.302,2 tỷ đồng, tăng 1,98% so với tháng trước và tăng 22,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 179,2 tỷ đồng, giảm 24,72% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 3.122,97 tỷ đồng, tăng 26,68%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,02 tỷ đồng. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa có xu hướng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tư nhân, tăng 51,21%; tiếp đến là kinh tế tập thể tăng 28,27%.

Tính riêng quý IV/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.748,23 tỷ đồng, tăng 5,2% so với quý trước và tăng 22,66% so với cùng kỳ năm trước.

Qua bảng trên cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng đều qua các quý, trong đó quý IV tăng mạnh nhất, cao hơn quý I là 9 điểm %, cao hơn quý II là 14,41 điểm % và cao hơn quý III là 4,55 điểm %. Trong quý IV, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 2,69 lần; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 55,26%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 34,6%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 30,7%.

Tính chung cả năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 36.079,07 tỷ đồng, tăng 15,72% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 2.081,13 tỷ đồng, giảm 24,81%; ngoài Nhà nước ước đạt 33.986,4 tỷ đồng, tăng 19,63% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,54 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 13.687,72 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 37,94%, tăng 16,07% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 4.667,1 tỷ đồng, chiếm 12,94%, tăng 5,01% so với cùng kỳ; và nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 3.637,48 tỷ đồng, chiếm 10,08%, tăng 8,86%. Như vậy, hoạt động bán lẻ chủ yếu là phục vụ các mặt hàng đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của người dân (chiếm 60,96%). 

Qua biểu đồ ta nhận thấy, do sự cố môi trường biển, năm 2016 tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm; nhưng sang năm 2017, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong việc khắc phục sự cố, tổng mức bán lẻ đã có xu hướng tăng nhẹ và tăng khá vào năm 2018. Tổng mức bán lẻ năm 2018 tăng cao hơn mức tăng năm 2017 là 11,65 điểm % và năm 2016 là 19,69 điểm %. Điều đó chứng tỏ nhu cầu hàng tiêu dùng của người dân ngày càng lớn; đồng thời, phản ánh tiềm năng ngành bán lẻ ở Hà Tĩnh đang có nhiều tín hiệu khả quan, là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước..

- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú và ăn uống tháng 12/2018 ước đạt 564,2 tỷ đồng, tăng 4,02% so tháng trước và tăng 19,76% so cùng kỳ năm trước. Tính riêng quý IV/2018 ước đạt 1.623,57 đồng, tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; tăng cao hơn quý I là 16,09 điểm %, quý II là 7,83 điểm % và quý III là 7,67 điểm %. Chung cả năm 2018 ước đạt 5.284,17 tỷ đồng, tăng 13,66% so với cùng kỳ năm trước.

Theo trên cho thấy, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống năm 2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 2 nhóm ngành dịch vụ: lưu trú tăng 11,29% và ăn uống tăng 13,81%. Do du lịch biển đã thu hút được nhiều khách trong và ngoài tỉnh tham quan nghỉ mát, kéo theo lượng khách đến thuê phòng nghỉ tăng; đồng thời, trong năm Hà Tĩnh đã tổ chức nhiều sự kiện nổi bật như: Giải Bóng chuyền nữ VTV Cup 2018, kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đồng Lộc, kỷ niệm 240 năm ngày sinh, tưởng niệm 160 năm ngày mất Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ nên thu hút được nhiều khách tham gia, từ đó làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng.

- Hoạt động du lịch lữ hành: Doanh thu du lich lữ hành tháng 12/2018 ước đạt 1,92 tỷ đồng, tăng 7,87% so với tháng trước và tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. Quý III ước đạt 5,44 tỷ đồng, tăng 0,67% so với quý trước và tăng 4,54% so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng quý I là 23,21 điểm %, quý II là 18,71 điểm % và quý III là 5,84 điểm % .

Tính chung cả năm 2018, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 19,2 tỷ đồng, tăng 14,45% so với cùng kỳ năm trước. Điều này chứng tỏ, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng tăng, đặc biệt là khách ngoài tỉnh đến tham quan du lịch tại các điểm văn hóa tâm linh và du lịch biển tăng mạnh; cùng với việc kết nối các tour du lịch lữ hành trong và ngoài tỉnh, mở rộng thị trưởng khách du lịch quốc tế đến từ Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc … đã góp phần làm tăng doanh thu hoạt động du lịch lữ hành.

Những kết quả đạt được trong năm 2018 cho thấy tiềm năng, lợi thế, các chính sách phát triển du lịch của tỉnh đã tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và hoạt động du lịch nói riêng, hướng đến thực hiện thành công mục tiêu đưa Hà Tĩnh trở thành tỉnh có ngành công nghiệp lớn, dịch vụ phát triển nhanh.

- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 12/2018 ước đạt 119,11 tỷ đồng, tăng 3,99% so với tháng trước và tăng 5,71% so cùng kỳ năm 2017. Quý IV ước đạt 345,47 tỷ đồng, tăng 6,92% so với quý trước và tăng 4,05% so với cùng kỳ năm trước. Chung cả năm 2018 ước đạt 1.265,88 tỷ đồng, tăng 5,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 13,05%; dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 9,85%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác năm 2018 vẫn tăng, nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ.

7.2. Hoạt động vận tải

Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12/2018 ước đạt 3,45 triệu tấn (tăng 1,85%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 84,48 triệu tấn.km (tăng 0,52%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 262,39 tỷ đồng, tăng 2,02%. Do các đầu mối bán buôn đẩy mạnh việc thu mua, tích trữ hàng hóa (như: hàng lương thực, thực phẩm, hàng may mặc ...) chuẩn bị cung ứng ra thị trường dịp cuối năm; hoạt động sữa chữa nhà ở trong dân tăng, các nhà thầu xây dựng cũng cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công một số hạng mục công trình xây dựng trước thời điểm quyết toán năm, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.

Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 12/2018 ước đạt 1,82 triệu lượt hành khách (tăng 0,45%), với khối lượng luân chuyển là 324,75 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,48%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 144,36 tỷ đồng, tăng 0,65%. Là tháng trùng với dịp nghỉ Tết dương lịch (nghỉ 4 ngày), dự kiến lượt khách đi du lịch, về thăm người thân tăng; những ngày đầu tháng, thời tiết rét đậm nên người dân tham gia các phương tiện vận tải công cộng cũng tăng, làm cho kết quả vận tải hành khách tăng.

Tách riêng từng quý, ta thấy có sự khác nhau giữa vận tải hàng hóa và vận tải hành khách.

Theo bảng trên, chứng tỏ hoạt động vận tải hành khách vẫn ổn định và đều tăng ở 4 quý, riêng quý IV có mức tăng thấp nhất trong 4 quý. Đối với vận tải hàng hóa, mức tăng từng quý không đồng đều, đạt mức tăng khá ở quý I và quý IV; còn quý II và quý III, vận chuyển hàng hóa vẫn tăng nhưng chỉ tăng nhẹ, luân chuyển hàng hóa có xu hướng giảm và chủ yếu do nhóm ngành vận tải hàng hóa đường bộ giảm (quý II giảm 1,08%; quý III giảm 2,54%).

Tính chung cả năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 22,8 triệu HK (tăng 6,81%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 4.031,09 triệu HK.km (tăng 9,32%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.759,29 tỷ đồng, tăng 10,5%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 34,57 triệu tấn (tăng 8,77%), với khối lượng luân chuyển là 853,84 triệu tấn.km (tăng 5,21%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.782,74 tỷ đồng, tăng 6,25%.

Với sự hoạt động ổn định trở lại của Khu kinh tế Vũng Áng, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua các cảng biển tăng hơn các năm trước. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy hoạt động dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải phát triển. Năm 2018, doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 785,1 tỷ đồng, tăng 25,19% so với năm 2017.

Nhìn chung, hoạt động vận tải trên địa bàn năm 2018 vẫn ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. Cùng với hệ thống cảng biển được đầu tư và phát triển như Cảng Vũng Áng, cảng Sơn Dương, cảng Xuân Hải, với lượng hàng hóa thông qua cảng ngày càng tăng, từ đó làm cho hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi của tỉnh ngày càng phát triển và đóng vai trò lớn trong nền kinh tế tỉnh nhà.

8. Các vấn đề xã hội

8.1. Dân số, lao động việc làm và đời sống dân cư

- Dân số: Ước tính quy mô dân số năm 2018 là 1.277.530 người, tăng 0,42% so với năm 2017 (tăng 5.349 người). Trong đó: Dân số nam là 628.768 người, tăng 0,5%, chiếm tỷ lệ 49,22% và dân số nữ là 648.762 người, tăng 0,34%, chiếm tỷ lệ 50,78%; dân số khu vực thành thị 239.643 người, tăng 3,11%, chiếm tỷ lệ 18,76% và khu vực nông thôn 1.037.887 người, giảm 0,18%, chiếm tỷ lệ 81,24%. Dân số khu vực thành thị tăng 3,11%, do trong năm 2018 xã Đồng Lộc-huyện Can Lộc nâng lên thành thị trấn Đồng Lộc.

- Lao động, việc làm: Trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn nhưng với sự chỉ đạo quyết tâm của Chính phủ và các cấp chính quyền trong việc chống suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống người lao động mà trong đó công tác giải quyết việc làm là nhiệm vụ cấp thiết. Ước tính năm 2018, Hà Tĩnh giải quyết việc làm cho 23.970 lao động, tăng 1,67% so với năm 2017, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 11.830 người, tăng 3,13%; xuất khẩu lao động 8.890 người, tăng 3,66%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.250 người, giảm 7,93%.

Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước năm 2018 là 724.850 người, chiếm 56,74% trong tổng dân số toàn tỉnh, tăng 0,89% so với năm 2017; số lao động đang làm việc là 711.450 người (chiếm 98,15% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 13.400 người (chiếm 1,85% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Riêng tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động năm 2018 là 2,25%, giảm 1,29 điểm % so với năm 2017. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy: Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có 320.460 người, chiếm 45,04%; công nghiệp xây dựng 157.693 người, chiểm 22,17%; dịch vụ 233.297 người chiếm 32,79%.

- Đời sống dân cư: Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2018 nhìn chung ổn định. Đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương, nhờ sự thay đổi mức lương tối thiểu từ 1.300 nghìn đồng lên 1.390 nghìn đồng; mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng thêm 6,92%; mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng dao động từ 1.515 nghìn đồng/tháng đến 3.859 nghìn đồng/tháng nên đời sống được cải thiện hơn. Bên cạnh đó, tình hình sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân gặp nhiều thuận lợi nên đạt kết quả tốt. Công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm kịp thời của các cấp, các ngành. Ngoài ra, người dân cũng tranh thủ những lúc nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn được đảm bảo và có phần cải thiện hơn. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra.

8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội

- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ngày 02/5/2018 về phân bổ kế hoạch vốn từ ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018 với tổng số vốn phân bổ là 58,7 tỷ đồng.

Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2018 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỷ lệ hộ nghèo là 6,92% (gồm 26.140 hộ) giảm 1,65 điểm phần trăm so với năm 2017; tỷ lệ hộ cận nghèo là 6,57% (gồm 24.833 hộ) giảm 1,21 điểm phần trăm so với năm 2017. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.         

- Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai kịp thờ. Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 78.022 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, 106.893 thẻ bảo hiểm cho hộ cận nghèo, 122.998 thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và 51.627 thẻ bảo hiểm cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 319.587 suất quà với tổng kinh phí 72,606 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong dịp Tết UBND tỉnh đã cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ cho 5.740 hộ với 10.672 nhân khẩu để đảm bảo cho người dân không thiếu đói trong dịp Tết. Trao 87 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 388 triệu đồng; xây mới 200 nhà tình nghĩa, trị giá 8.654 triệu đồng và sữa chữa 58 nhà với tổng giá trị là 967 triệu đồng.

Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; trang trọng tổ chức an táng 12 hài cốt các liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Nầm vào sáng ngày 8/5/2018; kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, Hà Tĩnh có 83 liệt sĩ được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến nay, toàn tỉnh đã tìm kiếm, quy tập được 914 hài cốt liệt sỹ.

8.3. Giáo dục và Đào tạo

a. Giáo dục phổ thông

Năm học 2017-2018, chất lượng giáo dục Hà Tĩnh vẫn được giữ vững; chất lượng mũi nhọn đạt nhiều thành tích nổi bật: giành 1 HCV, 2 HCB và 2HCĐ Olympic toán quốc tế; xếp thứ 4 toàn quốc về số lượng sinh giỏi quốc gia (gồm 85 giải: 03 giải nhất, 28 giải nhì, 31 giải ba và 23 giải khuyến khích), có 2.359 em đạt học sinh giỏi tỉnh (gồm: 216 giải nhất, 552 giải nhì, 796 giải ba và 795 giải khuyến khích), các cuộc thi khoa học kỹ thuật và thi về kỹ năng mềm của học sinh đều đạt giải cao. Kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS tiếp tục được củng cố vững chắc: Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi có 13/13 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn (có 262/262 đơn vị cấp xã đạt); giáo dục tiểu học có 13/13 đơn vị cấp huyện đạt mức 3 (có 260/262 đơn vị cấp xã đạt mức 3; 02 đơn vị cấp xã đạt mức 2); giáo dục THCS có 09/13 đơn vị cấp huyện đạt mức 2, có 04 đơn vị cấp huyện đạt mức 3 (52/262 đơn vị cấp xã đạt mức 2; 210/262 đơn vị cấp xã đạt mức 3). Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2018 được tổ chức tốt và đạt tỷ lệ 99,04%; hệ bổ túc đạt 97,67%.

Trên cơ sở những kết quả đạt được, năm học 2018-2019 ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tích cực chuẩn bị các điều kiện để triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên toàn ngành, cụ thể: toàn tỉnh có 725 trường, giảm 02 trường so với cuối năm học 2017 - 2018 (gồm 273 trường mầm non; 254 trường tiểu học, giảm 05 trường; 152 trường THCS, tăng 01 trường; 46 trường THPT, tăng 02 trường) với 10.260 lớp (mẫu giáo 2.843 lớp, tiểu học 3.852 lớp, THCS 2.380 lớp, THPT 1.185 lớp) và 17.632 giáo viên (mầm non 4.757 người, tiểu học 5.201 người, THCS 4.916 người, THPT 2.758 người) và 318.221 học sinh (nhà trẻ 11.658 em, mẫu giáo 74.813 em, tiểu học 111.855 em, THCS 75.450 em và THPT 44.445 em).

b. Giáo dục đào tạo:

Năm học 2018-2019 ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh vẫn tiếp tục đổi mới công tác quản lý; chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; phát triển mạng lưới trường, lớp và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2018 - 2019 là 2.240 chỉ tiêu (so với năm học 2016 - 2017 tăng 22,74%), trong đó: Trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.250 chỉ tiêu, giảm 11,35% (hệ đại học 1.200 chỉ tiêu, cao đẳng 50 chỉ tiêu); các trường cao đẳng chỉ tuyên sinh hệ cao đẳng, với chỉ tiêu tuyển sinh là 990 chỉ tiêu, tăng 1,39 lần (hệ cao đẳng 460 chỉ tiêu, trung cấp 530 chỉ tiêu). Ngoài nhiệm vụ đào tạo hệ chính quy các trường còn liên kết đào tạo hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm, dạy nghề và bồi dưỡng nghiệp vụ như: trường Đại học Hà Tĩnh đào tạo hệ liên thông chính quy, văn bằng 2 là 201 chỉ tiêu; hệ vừa làm vừa học, liên thông vừa làm vừa học 530 chỉ tiêu; trường Cao đẳng Y tế đào tạo liên thông trung cấp lên cao đẳng 153 chỉ tiêu.

Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Trong năm 2018 đã tổ chức dạy nghề cho 5.243 người, trong đó: Trình độ cao đẳng nghề 393 người, trung cấp nghề 1.044 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 3.806 người.

8.4. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Năm 2018, ngành Y tế Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh như: Cải tiến công tác đón tiếp người bệnh, giảm quá tải bệnh viện; chú trọng công tác đào tạo chuyên môn; phát triển chuyên môn kỹ thuật; phát triển chữa bệnh bằng y học cổ truyền; đầu tư trang thiết bị; nâng cao y đức... Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.

- Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Các cơ sở khám chữa bệnh cũng đã chuẩn bị các phương án ứng phó với các bệnh dịch. Bệnh viện đã sẵn sàng cấp cứu và điều trị bệnh nhân; kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện; phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thông tin, báo cáo ca bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định. Mặt khác, bệnh viện luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới về chuyên môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết; chỉ đạo các bệnh viện huyện chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết; tổ chức tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các cơ sở thực hiện...

Toàn tỉnh, năm 2018 đã xảy ra 16 trường hợp mắc sốt xuất huyết, tay chân miệng 76 trường hợp, sốt rét 175 trường hợp, thủy đậu 119 trường hợp và sốt phát ban/sởi 01 trường hợp. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.

- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng-chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn; tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi hành vi, nhằm giảm sự mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Năm 2018, Hà Tĩnh có 52 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 38 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 48 trường hợp chuyển thành AIDS và có 03 trường hợp nào chết vì AIDS.      

- Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, Sở Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong tiêu dùng thực phẩm; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm, đặc biệt khuyến khích xử phạt nặng các trường hợp vi phạm, đủ sức răn đe để không còn tái phạm. Năm 2018, xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể ở huyện Lộc Hà, Cẩm Xuyên và thành phố Hà Tĩnh (tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm ngoái) làm 50 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. Ngoài ra, còn có 1.491 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 28,35% so với cùng kỳ năm ngoái) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.

8.5. Hoạt động văn hoá, thể thao

- Hoạt động văn hóa:  Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo thay đổi nội dung tuyên truyền ở các cụm panô, áp phích tấm lớn trên địa bàn, hướng dẫn cơ sở tổ chức sinh hoạt CLB văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao cũng như treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, như: Chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng Xuân Mậu Tuất; chương trình nghệ thuật khai hội chùa hương; tổ chức Hội báo xuân; Đại lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh; triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018” tại khu di tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân; tổ chức Lễ đón bằng chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "lễ hội đền Chiêu Trưng"; tổ chức khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực IV - Bắc miền Trung lần thứ 23 năm 2018; tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2018 lần thứ 4 liên tỉnh Hà Tĩnh - Nghệ An; tổ chức Liên hoan Ca Trù toàn quốc năm 2018.

Trong năm, tại Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh đã tổ chức đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, cán bộ, người dân tử nạn tại Ngã ba Đồng Lộc vào tối 14/7/2018; và tổ chức chương trình nghệ thuật “Đồng Lộc-bài ca bất tử” vào tối 21/7/2018 nhằm kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc. Đồng thời, công bố sự kiện “Hoàng hoa sứ trình đồ” là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thuộc xã Trường Lộc, huyện Can Lộc; qua sự kiện này nhằm tuyên truyền, giáo giục về truyền thống văn hóa, truyền thống hiếu học của quê hương Hà Tĩnh; giới thiệu, quảng bá để mọi người hiểu rõ giá trị của di sản.

Đặc biệt trong thời gian này, Hà Tĩnh đã tổ chức kỷ niệm 240 năm ngày sinh, tưởng niệm 160 năm ngày mất Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ; đón nhận bằng công nhận huyện Nghi Xuân đạt chuẩn nông thôn mới tại Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh tỉnh Hà Tĩnh cùng với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Nguyễn Công Trứ - Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Chương trình đã tái hiện toàn diện những giai đoạn quan trọng và đóng góp của Nguyễn Công Trứ đối với đất nước; điểm lại những nét nổi bật trong xây dựng đời sống kinh tế xã hội, nhất là nông thôn mới Hà Tĩnh hiện nay. Đây cũng chính là dịp để Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh khẳng định quyết tâm đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, vươn lên giành những thắng lợi mới.

- Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. 9 tháng đầu năm 2018, đã nhắc nhở 34 cơ sở, đình chỉ 15 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.

- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh; Đại hội TDTT lần thứ VIII; giải bóng rổ thiếu niên nhi đồng lần thứ V; Giải đua thuyền toàn tỉnh năm 2018; các giải thể thao bóng đá mi ni, bóng chuyền hơi nữ, bóng chuyền thuộc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổ chức vào dịp chào mừng 73 năm Cách mạng tháng 8, Quốc khánh 02/9, ngày Doanh nhân Việt Nam, ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam; tham dự lễ hội đua thuyền truyền thống tỉnh Bôlykhămxay …

Trong năm, từ ngày 04/8/2018 đến ngày 11/8/2018, tại Hà Tĩnh diễn ra Giải bóng chuyền nữ quốc tế VTV Cup 2018. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Giải bóng chuyền quốc tế VTV Cup 2018, góp phần làm nên một giải đấu quy mô, hấp dẫn và để lại ấn tượng về một Hà Tĩnh yên bình, thân thiện, mến khách

Trong năm, hoạt động thể thao thành tích cao cũng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Kết quả, năm 2018 đoàn Hà Tĩnh tham gia dành được 55 huy chương các loại, bao gồm: 26 HCV, 17 HCB và 12 HCĐ.

8.6. Tai nạn giao thông

Tình hình trật tự ATGT còn diễn biến phức tạp, khó lường, số vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại về người và tài sản còn ở mức cao. Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự ATGT; tập trung đảm bảo ATGT mùa mưa bão; tăng cường công tác tuần tra, thanh tra, kiểm soát xử lý vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang an toàn giao thông, quản lý Nhà nước về vận tải; tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông đường sắt; tiếp tục tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ATGT.

Tính từ ngày 16/11/2018 đến ngày 15/12/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 06 người, bị thương 06 người, thiệt hại tài sản 30 triệu đồng. So với tháng trước giảm 14 vụ, giảm 09 người chết, giảm 06 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ, giảm 08 người chết và tăng 01 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.

Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/12/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 137 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 124 người, bị thương 73 người, ước tính thiệt hại tài sản 855 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 02 vụ tai nạn đường sắt, giảm 12 người chết và tăng 04 người bị thương.

8.7. Tình hình thiên tai

Năm 2018, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chỉ xảy ra 01 đợt thiên tai từ ngày 15-17/7/2018. Do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão số 3 (Sơn Tinh), đã xảy ra mưa lớn kéo dài làm chết 01 người (ở huyện Hương Sơn); 6.935 ha diện tích lúa Hè Thu, 587 ha ngô và 2.629 ha rau đậu các loại bị ngập. Ngoài ra, đoạn đường Km53+750 – Km53+800 thuộc QL 8A bị ngập sâu 0,5 m gây ách tắc giao thông nghiêm trọng.       

Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã ban hành Công điện số 13/CĐ-UBND ngày 15/7/2018; Ban chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh đã có Công điện số 04/CĐ-PCTT ngày 17/7/2018 chỉ đạo các đơn vị địa phương chủ động ứng phó với cơn bão số 3. Tỉnh cũng đã chỉ đạo các đoàn kiểm tra công tác PCTT và TKCN tại các địa phương khẩn trương xuống cơ sở để đôn đốc chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện các biện pháp ứng phó với cơn bão và tình hình mưa lũ.

8.8. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ cháy (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 22 triệu đồng, trong đó: 02 vụ cháy nhà chứa rơm; 03 vụ cháy đường dây điện; 01 vụ cháy xưởng chăn ga, gối đệm và 03 vụ cháy khác. Tính cả năm 2018, trên địa bàn xảy ra 84 vụ cháy, nổ (trong đó có 81 vụ cháy và 03 vụ nổ), làm 10 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,32 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước chỉ tăng 16 vụ cháy, tăng 08 người bị thương và giảm 01 người chết.

- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, đã phát hiện và xử lý 04 cơ sở vi phạm môi trường với số tiền 57,5 triệu đồng. Tính cả năm 2018, phát hiện 55 cơ sở vi phạm, xử lý 52 cơ sở với số tiền 715,5 triệu đồng.      

9. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2018      

a. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017

Kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2018 như sau:

- Tổng sản phẩm (GRDP) tăng từ 18,5%-19% so với năm 2017.

- Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn.

- Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 470 triệu USD.

- Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt trên 9.400 tỷ đồng, trong đó thu nội địa trên 6.000 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 3.400 tỷ đồng.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 36.000 tỷ đồng.

- Tỷ lệ người tham gia BHYT đạt 86%.

- Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) giảm từ 1,1-1,3%.

- Giải quyết việc làm mới cho 22.500 người.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60-62%.

- Có thêm ít nhất 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới, thêm ít nhất 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

b. Giải pháp thực hiện

Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 cần phải thực hiện đồng bộ 12 nhóm giải pháp như trong Nghị quyết đã nêu. Tuy nhiên chúng ta cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là:

- Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu nêu trên, phải xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình hành động triển khai nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 một cách cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương.

- Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Hoàn thành rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển. 

- Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành kinh tế một cách thực chất, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung chỉ đạo quyết liệt tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thúc đẩy phát triển nhanh ngành công nghiệp - xây dựng, nhất là tạo điều kiện thuận lợi triển khai dự án Nhiệt điện Vũng Áng 2, sớm đưa vào vận hành lò cao số 2 Nhà máy Formos. Phát triển thương mại nội địa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ; đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa.

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tăng cường thu hút đầu tư nhằm huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phải tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nhất là những lĩnh vực thời gian qua còn bộc lộ hạn chế, yếu kém. Kiểm soát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường khi thẩm định cũng như cả quá trình hoạt động của dự án.

- Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ.

- Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, cần phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho những năm tiếp theo.