Tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2024 tỉnh Hà Tĩnh
- 01/01/2025 10:06
Triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới diễn biến phức tạp, xung đột leo thang, đứt gãy chuỗi cung ứng. Trong nước, nền kinh tế duy trì xu hướng phục hồi ngày càng rõ nét, tuy nhiên còn thiếu vững chắc. Đứng trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ước năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phục hồi tích cực, các ngành, lĩnh vực đạt được những kết quả quan trọng. Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, các dự án công nghiệp lớn trên địa bàn được đảm bảo tiến độ, du lịch, dịch vụ đạt mức tăng khá, các hoạt động quảng bá du lịch, hoạt động vui chơi giải trí diễn ra sôi nổi, giải ngân đầu tư công, các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược theo định hướng quy hoạch tỉnh được đẩy mạnh triển khai. Bên cạnh những điểm nổi trội thì nền kinh tế công nghiệp tỉnh nhà vẫn chưa phục hồi rõ nét, tăng trưởng chưa đạt yêu cầu, các sản phẩm chủ lực chưa tạo được sự đột biến, trong đó động lực tăng trưởng chính từ Formosa sụt giảm, nhất là sản lượng thép sản phẩm mới pack pin chưa đóng góp như kỳ vọng. Bức tranh kinh tế - xã hội năm 2024 tỉnh Hà Tĩnh được nhìn nhận qua chỉ tiêu chủ yếu. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2024 ước tăng 7,48% so với năm trước, xếp thứ 31 toàn quốc và thứ 4/6 khu vực Bắc Trung Bộ. Trong mức tăng trưởng chung toàn tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tăng 3,80%, đóng góp 6,59%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước tăng 8,20%, đóng góp 48,18%; khu vực dịch vụ ước tăng 8,06% đóng góp 36,62% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 7,06%, đóng góp 8,60% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Ngành nông nghiệp ước tăng 3,48%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp ước tăng 6,39% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,07 điểm phần trăm; ngành thủy sản ước tăng 4,04%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản gặp nhiều thuận lợi, tốc độ tăng trưởng tăng cao. Sản xuất nông nghiệp được mùa, giá bán cao hơn các năm trước; chăn nuôi duy trì ổn định, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng nhẹ; sản xuất lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định. Khu vực công nghiệp, xây dựng: Sản xuất công nghiệp năm 2024 có nhiều khởi sắc khi mà Nhà máy Nhà Nhiệt điện Vũng Áng I đã hoạt động cả 2 tổ máy sau thời gian dài ngừng tổ 1 (do sự cố từ tháng 8 năm 2023) tạo lợi thế tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm 2024; bên cạnh đó, sản lượng các sản phẩm chủ lực như bia, sợi, pack pin tăng cao so với năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2024 chưa đạt được như kế hoạch đề ra do ngành sản xuất thép vẫn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng bởi cạnh tranh về giá, thị trường nội địa thu hẹp, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn, vì vậy sản lượng thép giảm mạnh so với năm 2023. Ngành công nghiệp ước tăng 6,54%, đóng góp 2,24 điểm phần trăm. Trong đó, ngành khai khoáng ước tăng 39,04%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,12%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 19,72%, đóng góp 1,49 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,07%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành xây dựng tăng 14,09%, đóng góp 1,36 điểm phần trăm vào mức tăng chung tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh. Ngành xây dựng duy trì mức tăng trưởng cao khi các công trình dự án đều được triển khai đẩy nhanh tiến độ, góp phần không nhỏ vào mức tăng chung của toàn ngành. Khu vực dịch vụ: Dịch vụ, du lịch tăng trưởng khá. Các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch diễn ra sôi nổi, hạ tầng du lịch có nhiều cải thiện, chất lượng dịch vụ ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 11,69% so với năm trước, đóng góp 0,73 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành vận tải kho bãi tăng 13,46%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,61%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,04%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm;... Quy mô kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành năm 2024 ước đạt 112.855 tỷ đồng, xếp thứ 34/63 tỉnh, thành phố trong cả nước và xếp thứ 3/6 khu vực Bắc trung Bộ. Cơ cấu kinh tế: Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 14,07%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 41,38% (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 31,75%; ngành xây dựng chiếm 9,63%); khu vực Dịch vụ chiếm 35,64%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,91%. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2024 có năng suất, sản lượng cao nhất từ trước đến nay. Các mô hình nông nghiệp theo hướng hữu cơ, liên kết sản xuất hàng hóa với doanh nghiệp và tập trung tích tụ ruộng đất tiếp tục được mở rộng quy mô; tăng thêm 1.383 ha diện tích dồn điền, đổi thửa tập trung. Chú trọng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, mô hình liên kết, sản xuất trong nhà lưới, cấp mã vùng trồng. Cây ăn quả (cam, bưởi) đạt sản lượng khá, tăng 4,6% so với năm 2023. Chăn nuôi phát triển tốt, tổng đàn duy trì ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 5,4%. Sản xuất thủy sản đạt khá, các giải pháp chống khai thác bất hợp pháp theo quy định (IUU) được thực hiện có hiệu quả. 2.1. Nông nghiệp a. Trồng trọt * Cây hàng nămTiến độ sản xuất trong tháng: Hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2024 cơ bản đã kết thúc. Tuy nhiên, do cùng thời điểm phải xuống giống gieo trỉa nhiều loại cây trồng nên một số loại cây chưa đạt kế hoạch đặt ra. Nay tranh thủ những ngày thời tiết nắng ráo bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng cây vụ Đông, mà chủ yếu là các loại rau ngắn ngày. Ước tính đến ngày 20/12/2024, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2024 là 12.588 ha đạt 99,88% kế hoạch. Diện tích ngô lấy hạt 4.927 ha đạt 101,6% kế hoạch; diện tích ngô sinh khối 1.331 ha đạt 92,2% kế hoạch; diện tích khoai lang 1.370 ha đạt 97,7% kế hoạch và diện tích rau các loại 4.940 ha đạt 100,7% kế hoạch.Kết quả sản xuất năm 2024: Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 157.226 ha bằng 99,16% (giảm 1.330 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước tính đạt 670.660 tấn, so với thực hiện năm trước bằng 103,8% (tăng 24.572 tấn). Cụ thể:Cây lúa: Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 104.356 ha, bằng 100,06% (tăng 64 ha) so với năm trước, tăng chủ yếu tăng ở vụ Hè Thu do năm trước hạn hán, người dân bỏ hoang nhiều. Năm nay thời tiết thuận lợi, thu hoạch vụ đông xuân sớm, các điều kiện sản xuất được đảm bảo, đặc biệt giá lúa tăng, thương lái thu mua tại chỗ nên khuyến khích người dân khai hoang sản xuất. Năng suất gieo trồng lúa cả năm ước tính đạt 57,31 tạ/ha, bằng 103,29% (tăng 1,83 tạ/ha) so với năm 2023. Sản lượng lúa năm 2024 ước tính đạt 598.018 tấn, bằng 103,35% (tăng 19.400 tấn) so với năm 2023.Cây ngô:Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 14.383 ha, bằng 100,07% (tăng 10 ha) so với năm trước, trong đó diện tích ngô Đông Xuân tăng do thời tiết thời tiết đầu vụ xấu gây khó khăn cho việc xuống cây khoai và lạc nên người dân chuyển sang trồng ngô, còn vụ Hè Thu diện tích lại giảm do sản xuất ngô vụ này đạt hiệu quả không cao, chủ yếu trồng lấy giống hoặc thân làm thức ăn chăn nuôi. Năng suất ngô cả năm ước tính đạt 50,51 tạ/ha, bằng 107,59% (tăng 3,57 tạ/ha) với sản lượng ước tính đạt 72.642 tấn, bằng 107,67% (tăng 5.173 tấn) so với năm 2023. Sản lượng ngô năm nay tăng khá do cả diện tích và năng suất đều tăng, nguyên nhân do thời tiết thuận lợi cây ngô phát triển, bắp to, hạt đều, ít bị sâu bệnh, bên cạnh đó cây ngô cần ít công chăm sóc hơn và giá bán khá ổn định.Cây lạc: Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 6.981 ha, bằng 88,20% (giảm 934 ha) so với năm trước. Nguyên nhân do một số địa phương trong tỉnh chưa chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn, ngoài ra do chi phí đầu vào cao cộng với việc chất lượng lạc những năm gần đây không tốt nên người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà một số chuyển sang cây trồng khác. Năng suất lạc cả năm ước tính đạt 27,82 tạ/ha, bằng 98,58% (giảm 0,4 tạ/ha) với sản lượng cả năm ước tính đạt 19.423 tấn, bằng 86,95% (giảm 2.916 tấn) so với năm trước.Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng cả năm ước tính đạt 14.098 ha, bằng 98,89% (giảm 159 ha) so với năm trước. Năng suất ước tính đạt 72,77 tạ/ha, bằng 103,33% (tăng 2,35 tạ/ha) với sản lượng ước tính đạt 102.590 tấn, bằng 102,18% (tăng 2.191 tấn) so với năm trước. Năm nay thời tiết cũng tương đối thuận lợi không có rét đậm, rét hại và hạn hán ít hơn nên cây rau phát triển tốt cho năng suất cao. * Cây lâu năm Tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao thông qua các mô hình sản xuất với quy mô lớn, liên kết theo chuỗi giá trị bền vững, tổ chức sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ nhằm tạo ra sản phẩm có thương hiệu, giá trị và sức cạnh tranh cao trong các siêu thị, trung tâm thương mại lớn. Tổng diện tích cây lâu năm sơ bộ đạt 31.394 ha, bằng 99,09% (giảm 289 ha) so với năm 2023. Trong đó, diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 19.547 ha, bằng 100,80% (tăng 155 ha) so với năm 2023, chiếm 62,26% tổng diện tích cây lâu năm. Nguyên nhân tăng là do hướng vào nhu cầu tiêu dùng, chính quyền các cấp đã từng bước quan tâm hơn đến chỉ đạo phát triển cây ăn quả. Một số nông hộ đã tích cực phát huy thế mạnh địa phương để phát triển đa dạng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế, nâng cao đời sống. Cây ăn quả: Sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 181.885 tấn, bằng 103,05% (tăng 5.386 tấn) so với năm 2023. Trong đó, cây cam, cây bưởi trở thành sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh với những thương hiệu nổi tiếng cả nước như bưởi Phúc Trạch, cam Khe Mây, cam Thượng Lộc… Diện tích cam sơ bộ đạt 7.315 ha, (giảm 38 ha) trong đó diện tích trồng mới trong năm là 151 ha; diện tích cam cho sản phẩm 6.477 ha (tăng 102 ha) với năng suất sơ bộ đạt 107,29 tạ/ha (tăng 0,93 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 69.490 tấn (tăng 1.687 tấn) so với năm 2023. Diện tích cây bưởi sơ bộ đạt 4.363 ha (giảm 49 ha), trong đó diện tích trồng mới trong năm là 85 ha; diện tích bưởi cho sản phẩm 3.630 ha (tăng 40 ha) với năng suất sơ bộ đạt 108,61 tạ/ha (tăng 7,31 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 39.427 tấn (tăng 3.059 tấn) so với năm 2023.Cây công nghiệp: Bên cạnh các cây ăn quả chủ lực thì các cây công nghiệp cũng được địa phương quan tâm thực hiện. Diện tích sơ bộ cao su năm 2024 đạt 8.030 ha, giảm 409 ha so với năm 2023. Năng suất cao su sơ bộ đạt 8,14 tạ/ha, bằng 101,76% (tăng 0,14 tạ/ha) với sản lượng đạt 4.767 tấn, bằng 109,84% (tăng 427 tấn). Diện tích chè búp sơ bộ đạt 1.225 ha, bằng 100%, chè hái lá sơ bộ đạt 1.752 ha, tăng 8 ha so với năm 2023. Năng suất chè búp sơ bộ đạt 121,81 tạ/ha (tăng 1,70 tạ/ha) với sản lượng chè búp sơ bộ đạt 14.301 tấn, bằng 101,16% ( tăng 164 tấn) so với năm 2023. Tình hình sâu bệnh và thiệt hại: Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, vụ Đông Xuân 2023 - 2024 và vụ Hè Thu các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại đối với cây trồng, cụ thể như sau: Ốc bươu vàng, bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, chuột, bệnh khô vằn, rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ gây hại trên cây lúa. Đối với cây lạc, bệnh lở cổ rẽ, chết ẻo cây con, sâu ăn lá. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu, bệnh khô vằn. Trên cây rau, bệnh sâu ăn lá (sâu xanh, sâu khoang), rệp muội gây hại. Trên cây ăn quả có múi, sâu vẽ bùa, sâu nhớt, sâu non bướm phượng, nhện nhỏ, rệp muội,...b. Chăn nuôiNăm 2024, hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh ở mức ổn định, dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xảy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tổng đàn lợn và gia cầm có mức tăng so với năm trước. Tuy nhiên, tổng đàn trâu và đàn bò có xu hướng ngày càng giảm do chăn nuôi không hiệu quả. Kết quả sản xuất chăn nuôi: Đàn trâu hiện có 65.470 con, bằng 97,85% (giảm 1.440 con); số con xuất chuồng năm 2024 ước tính đạt 15.730 con, bằng 97,76% (giảm 360 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm ước tính đạt 3.460 tấn, bằng 97,19% (giảm 100 tấn) so với năm 2023. Đàn bò hiện có 161.265 con, bằng 98,32% (giảm 2.755 con); số con xuất chuồng năm 2024 ước tính đạt 58.780 con, bằng 99,63% (giảm 200 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 9.664 tấn, bằng 99,83% (giảm 284 tấn) so với năm 2023. Đàn lợn hiện có 405.267 con, bằng 101,30% (tăng 5.187 con) so với năm 2023; số con xuất chuồng năm 2024 ước tính đạt 902.420 con, bằng 101,54% (tăng 13.700 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 73.173 tấn, bằng 104,49% (tăng 3.144 tấn) so với năm 2023. Đàn gia cầm hiện có 10.251 nghìn con, bằng 101,91% (tăng 192 ngàn con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 28.350 tấn, bằng 111,07% (tăng 2.825 tấn); sản lượng trứng năm 2024 ước tính đạt 345.210 nghìn quả, bằng 104,28% (tăng 14.175 nghìn quả) so với năm 2023. Tính riêng trong quý IV/2024: Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước 28.538 tấn, tăng 2,83% so cùng kỳ, trong đó: Sản lượng thịt trâu đạt 730 tấn, bằng 86,39% so cùng kỳ; sản lượng thịt bò đạt có 2.303 tấn, bằng 97,79% so cùng kỳ; sản lượng thịt lợn đạt 19.579 tấn, tăng 8,98% so cùng kỳ; sản lượng thịt gia cầm đạt 5.926 tấn, tăng 5,75% so cùng kỳ. Với công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, giá thịt hơi đang ở mức cao do sau đợt dịch tả lợn Châu Phi và lượng nhập khẩu giảm do chênh lệch với giá lợn từ Campuchia và Thái Lan bị thu hẹp; giá nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi trong năm giảm và ổn định đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động chăn nuôi. Bên cạnh đó, xu hướng chăn nuôi vật nuôi đang chuyển dần từ hộ nhỏ lẻ, hộ quy mô nhỏ sang hộ quy mô lớn, trang trại, tổ hợp tác, doanh nghiệp. Vì vậy, tổng đàn lợn và sản lượng thịt hơi xuất chuồng có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2023. Về các mô hình: Chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, tuần hoàn, liên kết theo chuỗi giá trị tiếp tục được nhân rộng: Đến nay có 20 mô hình lợn theo hướng hữu cơ liên kết với Tập đoàn Quế Lâm, 06 cơ sở được chứng nhận cơ sở an toàn dịch bệnh1 và 13 cơ sở được chứng nhận VietGAP còn hiệu lực2. Có 157 cơ sở chăn nuôi lợn liên kết với doanh nghiệp (138 cơ sở lợn thịt, 19 cơ sở lợn nái) chiếm 46% tổng đàn lợn; duy trì trại bò sữa Vinamilk với đàn thả nuôi 2.100 con, trại bò Mitraco quy mô 200 con. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, từ đầu năm đến ngày 23/12/2024, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra dịch Viêm da nổi cục tại 20 xã thuộc 06 huyện trên địa bàn làm cho 162 con bò mắc bệnh, trong đó có 21 con chết, tiêu hủy; hiện nay, dịch tại các xã huyện Đức Thọ chưa qua 21 ngày. Dịch Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã thuộc huyện Kỳ Anh làm cho 56 con trâu bò mắc bệnh, tiêu hủy 1.380 kg. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 23 xã thuộc 7 huyện trên địa bàn làm cho 431 con lợn mắc bệnh, hiện nay, dịch tại 06 xã thuộc các huyện Cẩm Xuyên, Đức Thọ chưa qua 21 ngày. Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp do có không khí lạnh và thời tiết ẩm, vật nuôi giảm sức đề kháng, lưu lượng vận chuyển, buôn bán động vật, sản phẩm động vật tăng cao. Do đó, cần tập trung cao cho công tác phòng, chống dịch, đồng loạt triển khai công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi, hạn chế lây lan dịch bệnh. 2.2. Lâm nghiệp Các chỉ tiêu sản xuất đều đạt kế hoạch đề ra, tăng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC). Hà Tĩnh là một trong 6 tỉnh cả nước được thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) đối với hơn 1,6 tấn CO2 kinh phí 6,48 triệu USD3 Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 12/2024 ước đạt 1.393 ha, bằng 91,71%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 126.813 m3, bằng 101,15%. Cả năm 2024, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 9.788 ha, bằng 99,57%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 625.952 m3, bằng 107,34%. Sản xuất lâm nghiệp tính riêng quý IV/2024: Diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 4.820 ha, bằng 95,86%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 272.270 m3, bằng 101,72% so cùng kỳ năm trước. Trong năm, mặc dù gặp nhiều khó khăn của tình hình kinh tế trong nước, quốc tế và những diễn biến khó lường của thời tiết, nhưng ngành lâm nghiệp tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng. Ngành lâm nghiệp đã từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia bảo vệ và phát triển rừng, thích ứng với biển đổi khí hậu. Sự quan tâm các cấp, các ngành liên quan cần quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp, nâng cao tỷ lệ đất có rừng, trồng các loại cây lâm nghiệp phù hợp với điều kiện của địa phương. Thiệt hại về rừng: Trong tháng 12/2024 không xảy ra vụ cháy rừng nhưng có 5 vụ phá rừng, diện tích thiệt hại 1,73 ha. Tính chung quý IV/2024 đã không xảy ra vụ cháy rừng nào nhưng có 11 vụ phá rừng, giảm 11 vụ so với quý trước và giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm trước, với diện tích rừng bị phá ước tính 3,43 ha. Cả năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ) với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14 ha) và 51 vụ phá rừng (giảm 65 vụ) với diện tích rừng bị phá là 13,94 ha (giảm 40,09 ha) so với cùng kỳ năm 2023. 2.3. Thủy sản Những năm gần đây kết quả sản xuất thủy sản phát triển khá ổn định. Trong năm với những thuận lợi từ yếu tố thời tiết, giá cả cũng như chất lượng các loại thủy hải sản. Các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt đạt kết quả khá, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 58.737 tấn, tăng 4,05% so với năm 2023. Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 12/2024 ước đạt 2.967 tấn, bằng 102,62%, tăng 76 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó sản lượng khai thác ước đạt 1.981 tấn, bằng 103,01%, tăng 58 tấn, sản lượng nuôi trồng ước đạt 986 tấn, bằng 101,86%, tăng 18 tấn. Năm 2024, tổng diện tích thả nuôi đạt 7.126 ha (bằng 99,89% so với năm trước), trong đó nuôi tôm đạt 2.338 ha, bước đầu đã hình thành 09 cơ sở nuôi trồng thuỷ sản được chứng nhận VietGAP đang còn hiệu lực với diện tích 21 ha và một số mô hình sản xuất kết hợp thủy sản - cây trồng hữu cơ (như ở Đức Thọ, Thành phố Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh…). Sản xuất và ươm dưỡng giống thủy sản ước đạt 709 triệu con, bằng 102,6% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 58.737 tấn, bằng 104,05%, tăng 2.285 tấn so với năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 41.378 tấn, bằng 104,46%, tăng 1.765 tấn; sản lượng nuôi trồng ước đạt 17.359 tấn, bằng 103,09%, tăng 520 tấn. Tính riêng quý IV/2024: Tổng sản lượng thủy hải sản ước đạt 11.099 tấn, bằng 106,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 7.946 tấn, bằng 109,06%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.153 tấn, bằng 100,29% so với cùng kỳ năm trước. Ngành thủy sản đã từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; thu hút nhiều thành phần kinh tế xã hội tham gia bảo vệ và phát triển bền vững nguồn thủy hải sản, thích ứng với biến đổi khí hậu; sản phẩm chủ lực như tôm thẻ chân trắng đang có xu hướng tăng dần do nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng. Sự quan tâm các cấp, các ngành liên quan quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích đất quy hoạch nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng suất, sản lượng các loại thủy sản phù hợp với điều kiện của địa phương. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến nay các loại dịch bệnh phát sinh trên các loại thủy sản có thể kể đến như: Bệnh Đốm trắng trên tôm xảy ra với diện tích 17,10 ha tại 8 xã thuộc 5 huyện Lộc Hà, Kỳ Anh, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh. Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm xảy ra với diện tích 4,29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà. Bệnh Vi bào tử trùng trên tôm xảy ra với diện tích 0,85 ha tại 2 xã thuộc 2 huyện Kỳ Anh và Thạch Hà. 3. Sản xuất công nghiệp Trong năm, ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực; Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I hoạt động 2 tổ máy; nhà máy sợi Nghệ Tĩnh đi vào sản xuất thương mại ổn định, sản lượng bình quân dự tính đạt hơn 200 tấn/1 tháng. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như Nhà máy thép Formosa gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu thép ra thị trường ngoài nước; sản xuất công nghiệp chưa đạt kỳ vọng chủ yếu do sản xuất thép, điện chưa phục hồi ổn định, ngoài nguyên nhân thị trường thép khó khăn còn bởi những yếu tố bất khả kháng do Formosa bảo dưỡng dây chuyền cán nóng, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I bảo dưỡng Tổ máy số 2. 3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP)Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh quý IV năm 2024 đạt 99,9% cao hơn quý II (đạt 86,46%); tuy nhiên thấp hơn chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp thực hiện quý I (đạt 104,61%) và quý III (đạt 107,07%) năm 2024. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 58,45%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,39%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 24,83%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,80%. Ước tính năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 1,03% so với năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 40,37% đóng góp 0,5 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,39% làm giảm 4,31 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 19,61% đóng góp 2,53 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,19% đóng góp 0,25 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai khoáng khác tăng 42,24% so với năm trước, do trong năm Hà Tĩnh đang thực hiện nhiều dự án xây dựng hạ tầng quan trọng như các tuyến đường cao tốc, các công trình công cộng, khu công nghiệp, khu đô thị, và các dự án bất động sản. Những dự án này yêu cầu nguồn đá xây dựng lớn, và việc mở rộng mỏ khai thác đá hay cấp phép thêm mỏ mới sẽ giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật liệu xây dựng. Ngoài các công trình công cộng, sự phát triển mạnh mẽ của các khu đô thị và nhà ở cũng thúc đẩy nhu cầu đá xây dựng, khiến ngành khai thác đá tăng mạnh. Sản xuất đồ uống tăng 27,48% so với năm 2023. Nền kinh tế dần hồi phục, nhu cầu ăn uống ngày càng tăng lên. Cùng với việc duy trì nhịp điệu sản xuất, công ty đã và đang tích cực đẩy mạnh tìm kiếm, mở rộng thị trường. Cuối năm 2024, nhà máy thực hiện các chiến dịch quảng cáo, khuyến mãi để thu hút người tiêu dùng, điều này đã thúc đẩy sản lượng sản xuất bia tăng cao so với năm trước. Dệt tăng 32,1% so với năm 2023. Với hiệp định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã tạo ra cơ hội lớn cho dệt may Việt Nam tiếp cận các thị trường mới như Canada, Australia, New Zealand và cũng giúp doanh nghiệp thích ứng với cách thức mua hàng của nhà nhập khẩu trong khối, tạo ra sự tăng trưởng rất rõ khi xuất khẩu sang các nước nội khối, đặc biệt là châu Mỹ. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 19,61% so với năm trước. Năm 2024, Nhà máy Nhà Nhiệt điện Vũng Áng I đã hoạt động cả 2 tổ máy sau thời gian dài ngừng tổ 1 do sự cố từ tháng 8 năm 2023 tạo lợi thế tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm 2024. Bên cạnh đó, những tháng cuối năm, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I tiếp tục đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình vận hành và nâng cao hiệu quả sản xuất, phấn đấu đưa nhà máy thành điểm sáng về quản lý, vận hành hiệu quả, an toàn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất kim loại giảm 7,49% so với năm 2023. Nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là các đối tác lớn của Việt Nam (Mỹ, EU, Trung Quốc), gặp khó khăn vào năm 2024, nhu cầu thép trên thế giới giảm sút, ảnh hưởng đến xuất khẩu thép của Formosa. Mặt khác, các nhà sản xuất thép khác, đặc biệt là từ Trung Quốc, duy trì giá thép thấp hơn, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 16,02% so với năm trước, do xuất khẩu hải sản đông lạnh gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, một số công ty tạm ngừng sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp chỉ sản xuất hàng nội địa và gia công hàng đông lạnh. Vì vậy chỉ số sản xuất ngành chế biến bảo quản thuỷ sản giảm mạnh so với năm trước (giảm 64,64%). Bên cạnh đó, ngành sản xuất thực phẩm khác cũng đang gặp nhiều khó khăn, sản lượng chè giảm do diện tích canh tác bị ảnh hưởng bởi các dự án lớn trên địa bàn và thị trường tiêu thụ, dẫn đến chỉ số giá nhóm ngành này giảm 2,28% so với cùng kỳ. 3.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm năm 2024 tăng so năm trước và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp năm 2024 tăng mạnh so với năm trước có thể kể đến như: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit sản lượng khai thác đạt 3.470 tấn tăng 47,33%; đá xây dựng khác tăng 33,37%; sản lượng bia đóng lon đạt hơn 82 triệu lít tăng 27,48%; sản lượng điện sản xuất đạt 10.099 triệu Kwh tăng 20,18%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 16,97%; điện thương phẩm tăng 16,33%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp năm 2024 giảm khá sâu so với năm trước. Trong đó, sản phẩm chủ lực tỉnh nhà là thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm, sản lượng ước đạt 4,4 triệu tấn giảm 8,73%, và một số sản phảm có sản lượng giảm sâu như mực đông lạnh giảm 80,48%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 14,11%; dịch vụ sản xuất dược phẩm giảm 13,02%,... 3.3. Chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ: Năm 2024 chỉ số tiêu thụ giảm 5,51% so với năm trước. Năm nay, mặc dù chỉ số tiêu thụ giảm, tuy nhiên, số nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm tỷ trọng cao, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh dần phục hồi sau nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong những năm qua. Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2024 tăng 37,87% so với tháng trước và tăng 19,97% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng mạnh do một số ngành như sản xuất đồ uống tăng 54,41%; sản xuất sợi tăng 55,2%; than cốc tăng 35,16%.... Tình hình sử dụng lao động: Cộng dồn đến cuối năm tháng 12 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,32% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động năm 2024 của ngành khai khoáng giảm 3,74% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đi vào sản xuất kình doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,06%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,41% so với năm 2023. 4. Tình hình thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp Năm 2024 tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá có chuyển biến tích cực hơn trước. Tuy nhiên bên cạnh những yếu tố thuận lợi, thì hiện nay nhiều doanh nghiệp đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Theo các doanh nghiệp, khó khăn nhất hiện nay vẫn là nhu cầu thị trường sụt giảm và chi phí sản xuất cao.4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 25/12/2024, toàn tỉnh thành lập mới 1.336 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc (ĐVTT), tăng 12,65% so với cùng kỳ năm 2023. Nâng tổng số doanh nghiệp lên gần 12.500 doanh nghiệp và ĐVTT trên toàn tỉnh. Tổng vốn đăng ký đạt 7.021 tỷ đồng, tăng 25,40% so với cùng kỳ năm 2023, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 5,26 tỷ đồng, tăng 11,32% so cùng kỳ năm trước. Trong năm có 409 doanh nghiệp và ĐVTT hoạt động trở lại, tăng 7,35% so với năm 2023. Bên cạnh các doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm ngừng và giải thể, cụ thể có 661 doanh nghiệp và ĐVTT đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 14,36% so với cùng kỳ năm trước; 242 doanh nghiệp và ĐVTT giải thể giảm 1,63% so với cùng kỳ năm 2023. Hiện nay để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, phát triển, tháo gỡ khó khăn về thị trường tiêu thụ. Khi có thêm những giải pháp thúc đẩy đầu ra thì doanh nghiệp mới cải thiện được khả năng trả nợ, tăng khả năng hấp thụ vốn. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Kết quả khảo sát doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho biết, trong quý IV/2024, hai khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 59,18% và 69,39%. Bên cạnh đó, “lãi suất vay vốn cao” là khó khăn mà doanh nghiệp đánh giá tăng nhiều nhất so với quý III/2024 (tăng 3,53 điểm phần trăm so với quý III/2024) với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn là 30,61%. Đối với nhóm ngành dệt, sản xuất kim loại, sản xuất thiết bị điện: Hai khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp trong quý IV/2024 là đơn hàng tiêu thụ trong và ngoài nước. Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất, kinh doanh quý IV/2024 thuận lợi hơn quý III/2024 với 91,84% doanh nghiệp đánh giá tốt hơn và giữ ổn định (38,78% tốt hơn và 53,06% giữ ổn định), 8,16% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn. Dự báo quý I/2025 giảm so quý IV/2024 với 83,68% doanh nghiệp đánh giá tốt hơn và giữ ổn định (42,86% tốt hơn và 40,82% giữ ổn định), 16,33% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn. Xu hướng về khối lượng sản xuất 6 tháng đầu năm 2025 có 87,75% doanh nghiệp đánh giá tiếp tục gia tăng về khối lượng (57,14% tăng lên và 30,61% giữ nguyên); 12,24% doanh nghiệp đánh giá giảm đi. Trong năm tiếp theo dự báo doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn phục hồi và gia tăng khối lượng sản xuất với 95,92% doanh nghiệp đánh giá tăng lên và giữ ổn định, 4,08% doanh nghiệp đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn hơn. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Năm 2024, ngành thương mại, dịch vụ được đánh giá là điểm sáng trong phục hồi nền kinh tế tỉnh nhà, có tác động lan tỏa tới nhiều lĩnh vực, góp phần cải thiện ba động lực tăng trưởng của nền kinh tế là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng. Nguồn cung hàng hóa tại thị trường luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như đời sống của người dân, thị trường bán lẻ càng về cuối năm càng sôi động. Cùng với đó, việc chuẩn bị chu đáo thông qua việc tổ chức nhiều lễ hội ngay từ đầu năm là động lực cho hoạt động ngành dịch vụ ăn uống, lưu trú và du lịch phát triển. Tổng mức bán lẻ hàng hoá trong tháng 12 ước đạt 5.911,07 tỷ đồng, giảm 6,96% so với tháng trước, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Tuy tháng 12 tổng mức bán lẻ giảm so với các tháng trước nhưng tính chung quý IV/2024 doanh thu ước đạt 18.248,46 tỷ đồng, tăng 5,23% so với quý trước và tăng 11,09% so với cùng kỳ. Xét theo từng quý trong năm thì tổng mức bán lẻ tăng trưởng khá ổn định và tăng trưởng doanh thu khá, luôn duy trì mức tăng trưởng ở hai con số. Mặc dù quý IV mức tăng trưởng không đạt mức cao như các quý, nhưng doanh thu luôn ở mức lớn nhất trong 4 quý, các loại hàng hoá có doanh thu quý IV tăng mạnh so với cùng kỳ chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, may mặc, vật phẩm vă hoá, giáo dục, xăng dầu và nhiên liệu các loại… Nguyên nhân ảnh hưởng về giá các loại hàng hóa nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, xăng dầu và nhiên liệu các loại... Bên cạnh việc giá cả tăng cao thì các yếu tố mùa vụ trong quý như thời điểm bắt đầu năm học, thời tiết chuyển mùa và cũng là quý gần Tết nên ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm các loại hàng hoá. Cả năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 69.760,56 tỷ đồng, tăng 16,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng bán lẻ, có 09 nhóm hàng tăng trưởng dương (chiếm trên 89% tổng mức). Trong đó, nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 33.312,03 tỷ đồng, chiếm 47,8% tổng mức và tăng đến 22,82% so với năm 2023, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã kéo theo tổng mức bán lẻ tăng. Bên cạnh đó còn có các nhóm hàng khác cũng tăng trưởng doanh thu mạnh so với năm trước, chỉ có 3 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu so với năm trước là nhóm ô tô con (giảm 35,87%), phương tiện đi lại (giảm 31,44%) và nhóm gỗ, vật liệu xây dựng (giảm 7,86%) do mặc dù đã có nhiều ưu đãi trong việc sản xuất và tiêu dùng ô tô, tuy nhiên đây là các mặt hàng giá trị lớn trong khi thu nhập người đang phải gồng gánh các chi phí thì việc mua sắm các mặt hàng có giá trị dường như hạn chế. Nhìn chung, trước sự biến động khó lường kinh tế thế giới tình hình thương mại tỉnh nhà vẫn có sự tăng trưởng khá. Bên cạnh những yếu tố chính sách, khuyến khích đầu tư của trung ương, sự chỉ đạo sát sao của Ủy ban Nhân dân tỉnh đảm bảo không để xảy ra tình trạng về biến động giá cả hay thiếu hàng dịp cao điểm; tránh găm hàng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng; thì doanh nghiệp, người dân đã chủ động đầu tư, mở rộng nhiều thị trường để tăng doanh thu. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ, những sản phẩm của tỉnh nhà đã được người tiêu dùng trong nước, nước ngoài biết đến thông qua những trang thương mại điện tử. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 12/2024 ước đạt 729,44 tỷ đồng, giảm 4,67% so với tháng trước nhưng tăng 12,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý IV doanh thu ước đạt 2.277,75 tỷ đồng, giảm 0,95% so với quý trước nhưng tăng đến 13,33% so với cùng kỳ. Mặc dù trong quý yếu tố thời tiết không thuận lợi, trời rét, có mưa, cũng hết mùa du lịch nên nhu cầu du lịch và lưu trú giảm hơn so với các tháng trước, nhưng việc nhu cầu ăn uống ngoài gia đình trong các ngày lễ đang có xu hương gia tăng, nên doanh thu chung nhóm ngành vẫn tăng khá so với cùng kỳ. Cả năm 2024, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 8.599,73 tỷ đồng, tăng 12,41% so với năm trước. Xét riêng các nhóm ngành trong năm, ta thấy được sự tăng trưởng vượt bậc của ngành du lịch, lữ hành (tăng 48,94%), mặc dù mức doanh thu còn chưa lớn (gần 66 tỷ đồng) những cũng tạo nên điểm sáng đáng kể và hướng đi đúng đắn cũng như tiềm lực cần khai thác của tỉnh nhà. Xét riêng trong các quý, doanh thu du lịch chủ yếu phát triển mạnh ở quý I và quý II, bước sang quý III, IV khi hết mùa du lịch doanh thu giảm hơn các quý trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng lần lượt ở mức 9,01% và 28,02%. Hoạt động dịch vụ ăn uống vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 4 quý trong năm, mức tăng lần lượt ở các quý so với cùng kỳ (Quý I tăng 21,88%, quý II tăng 7,67%, quý III tăng 9,35%, quý IV tăng 13,09%) mức tăng trưởng doanh thu chủ yếu do ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố mùa vụ khi trong quý phát sinh các ngày lễ khác nhau, thời tiết. Việc dịch vụ ăn uống ngoài gia đình phát triển mạnh cho thấy cách thay đổi suy nghĩ truyền thống của người dânm cũng cho thấy đời sống người dân đang ngày càng được nâng lên, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành. Bên cạnh việc tăng trưởng các nhóm ngành dịch vụ thì trong năm dịch vụ lưu trú phát triển khá trầm doanh thu ước đạt 272,06 tỷ đồng, tăng 1,29%. Mặc dù chỉ tính riêng quý IV, hoạt động lưu trú đã khá nhộn nhịp khi mức doanh thu lưu trú đạt 81,36 tỷ đồng tăng đến 21,79% so với cùng kỳ, nhưng do các quý trước các cơ sở tiến hành đầu tư nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng nên mức doanh thu đã giảm khá sâu nên tính chung cả năm doanh thu đạt tăng trưởng thấp. Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 12/2024 ước đạt 396,73 tỷ đồng, tăng 1,23% so với tháng trước và giảm 4,33% so với cùng kỳ năm trước, tính cả quý IV/2024 ước đạt 1.172,7 tỷ đồng, tăng 3,23% so với quý trước và tăng 0,37% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở các nhóm ngành dịch vụ hành chính, hỗ trợ, y tế, giáo dục, giải trí...do trong quý các công trình đang được đẩy nhay tiến độ trước kỳ nghỉ tết dài ngày, nhu cầu phục vụ chăm sóc, làm đẹp dịp cuối năm như cắt tóc, uốn sấy tăng lên, nhóm thuốc và dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22 của Bộ Y tế. Tính chung cả năm 2024, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.580,87 tỷ đồng, tăng 5,58% so với năm trước, do trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng bất động sản là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương. Xét riêng từng quý trong năm so với cùng kỳ năm trước, doanh thu dịch vụ khác tăng trưởng khá ở 3 quý I, II, III đến quý IV là quý cuối năm hơi chững lại và có phần trầm lắng hơn do việc giá cả các loại hàng hoá đang ở mức cao khiến áp lực hơn cho người dân trong việc chọn lọc hàng hoá chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán cận kề. Nhìn chung, cả năm doanh thu mặc dù chưa đạt mức kỳ vọng như các nhóm dịch vụ chính, nhưng vẫn ở mức tăng trưởng khá cho thấy đời sống và nhu cầu người dân vẫn đang dần được cải thiện. 5.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải kho bãi tỉnh nhà trong quý IV cũng như cả năm 2024 đạt mức tăng trưởng khá. Hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện với sự phát triển của các tuyến giao thông liên vùng và liên tỉnh. Các đơn vị kinh doanh ngày càng chú trọng hơn về chất lượng khi sự phát triển mạnh mẽ của loại hình vận tải bằng xe ô tô điện với giá cước cạnh tranh làm tăng sức cạnh tranh và nhu cầu sử dụng dịch vụ. Bên cạnh đó, sức hút từ sự phát triển của ngành du lịch lữ hành và nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao cũng là động lực giúp ngành vận tải tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 12/2024 doanh thu ước đạt 700,80 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu trong tháng có sự khởi sắc hơn các tháng khác trong quý IV do yếu tố mùa vụ là tháng giáp Tết, nhu cầu vận chuyển các loại hàng hóa tăng mạnh, đặc biệt là các mặt hàng như lương thực, thực phẩm và đồ dùng gia đình, cộng với thời tiết lạnh và mưa nhiều thúc đẩy nhu cầu sử dụng vận tải hành khách công cộng. Nhưng tính cả quý IV/2024 doanh thu vẫn giảm 4,96% so với quý trước do vận tải hàng hoá gặp những khó khăn về thời tiết trong tháng 10 và 11; mặc dù vậy, doanh thu trong quý IV vẫn đạt mức khá so với kỳ vọng khi tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 9,54%). Tính chung cả năm doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 8.465,23 tỷ đồng, tăng 17,39% so với năm trước. Trong đó, Vận tải hành khách ước đạt 1.459,62 tỷ đồng, tăng 33,52%; Vận tải hàng hoá ước đạt 5.297,36 tỷ đồng, tăng 13,82%; Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.645,28 tỷ đồng, tăng 25,57% so với năm trước. Mặc dù vận tải hành khách chiếm tỷ trọng doanh thu không lớn nhưng tăng trưởng khá đều trong các quý; trong khi vận tải hàng hoá mức doanh thu lớn tập trung tăng mạnh ở 2 quý II và III (tăng 22,68% và 17,22%), doanh thu quý IV mặc dù vẫn tăng khá ấn tượng nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của các quý trước (tăng 8,41%), nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết khiến việc bảo quản và lưu thông hàng hoá chưa đạt mức như kỳ vọng như các quý trước. Nhìn chung, nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu; Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như giá nhiên liệu biến động, phải cạnh tranh với các trung tâm logistics lớn khác ở khu vực Bắc Trung Bộ như Nghệ An và Quảng Bình. Mặc dù cảng Vũng Áng có tiềm năng lớn, nhưng lượng hàng hóa qua cảng vẫn chưa đạt công suất tối đa do thiếu các tuyến vận tải phụ trợ và liên kết quốc tế, ngành logistics tại Hà Tĩnh còn thiếu lao động chất lượng cao và chuyên môn sâu. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2024 đạt cao hơn so với năm trước. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 30/12/2024 đạt 17.847,89 tỷ đồng, tăng 0,12% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 9877,21 tỷ tăng 9,32% so với cùng kỳ năm trước. Một số khoản thu chính như: Các khoản thu về nhà, đất đạt 3.068,51 tỷ đồng tăng 26,28% do sự sôi động lại của thị trường bất động sản; thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 1.306,98 tỷ đồng, tăng 31,35%; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.524,69 tỷ đồng, tăng 28,06% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước năm 2024 hoạt động sản xuất kinh doanh gặp thuận lợi hơn năm trước; tuy nhiên ngược lại với các doanh nghiệp này thì doanh nghiệp đầu tư nước ngoài gặp không ít khó khăn, sản xuất sụt giảm, chính vì vậy thu từ các doanh nghiệp khu vực này chỉ đạt 1.047,80 tỷ đồng, giảm 55,04% so với cùng kỳ năm 2023. Bên cạnh thu nội địa thì thu xuất nhập khẩu đạt 7.667,91 tỷ đồng, giảm 10,62% so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa gặp khó khăn trong sản xuất, sản lượng thép sản xuất sụt giảm, vì vậy giảm nhập nguyên liệu đầu vào, xuất khẩu thép giảm mạnh so với năm trước. Tổng chi ngân sách địa phương tính đến ngày 30/12/2024 đạt 24.974,20 tỷ đồng, tăng 6,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 10.640,46 tỷ đồng, chiếm 42,61% giảm 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Chi thường xuyên đạt 14.304,55 tỷ đồng, chiếm 57,28% tổng chi, tăng 19,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 4.890,64 tỷ đồng, tăng 28,69% so với cùng kỳ năm trước; chi sự nghiệp y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình đạt 1.197,07 tỷ đồng, tăng 24,52%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 3.296,95 tỷ đồng, tăng 23,60%; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội đạt 1.923,24 tỷ đồng tăng 7,47% so với cùng kỳ năm 2023. Nhìn chung hoạt động chi ngân sách ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, cấp bách gắn với việc thực hiện các mục tiêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 6.2. Hoạt động ngân hàng Năm 2024 ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ, người dân và doanh nghiệp, tiếp cận vốn tín dụng tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Huy động vốn tăng khá, dư nợ tín dụng xu hướng tăng trưởng tích cực hơn. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Hà Tĩnh ước đến thời điểm 31/12/2024 đạt 110.578 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2023. Số dư huy động vốn bằng đồng Việt Nam đạt 107.928 tỷ đồng, bằng ngoại tệ đạt 2.650 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 10.842 tỷ đồng, chiếm 9,8% tổng nguồn vốn huy động, tăng 2,52% so với cuối năm 2023; nguồn dư huy động vốn ngắn hạn đạt 99.736 tỷ đồng, chiếm 90,20% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 10,88% so với cuối năm 2023. Mặc dù lãi suất huy động trong năm 2024 có xu hướng giảm dần nhưng với việc triển khai nhiều chương trình ưu đãi, tổng nguồn vốn huy động toàn địa bàn đạt mức tăng trưởng tốt. Dư nợ tín dụng ước đến 31/12/2024 đạt 109.500 tỷ đồng, tăng 14% so với cuối năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 84.062 tỷ đồng (chiếm 76,77% tổng dư nợ), tăng 21,54% so với cuối năm 2023; dư nợ trung dài hạn đạt 25.438 tỷ đồng (chiếm 23,23% tổng dư nợ), giảm 5,38% so với cuối năm 2023. Hoạt động tín dụng chủ yếu hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng; đơn giản hóa thủ tục cho vay, niêm yết công khai, minh bạch các thủ tục, quy trình vay vốn; đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả. 7. Đầu tư và xây dựng Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2024 tăng khá, ước tính cả năm 2024 đạt 57.106 tỷ đồng, tăng 10,84% so với năm trước nhờ đóng góp của các dự án lớn khu vực kinh tế nhà nước (cao tốc Bắc - Nam, đường dây 500 kV) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Nhiệt điện Vũng Áng II, Pin Lithium, VSIP). Chấp thuận chủ trương 21 dự án đầu tư tổng vốn hơn 17.500 tỷ đồng. Bước sang quý IV/2024, khắc phục mọi điều kiện bất lợi về thời tiết để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình nhằm đảm bảo các công trình hoàn thành đúng tiến độ đề ra. Tỉnh cũng đã tiến hành nắm chắc tình hình, đảm bảo tiến độ các dự án công nghiệp trọng điểm, đẩy nhanh tiến độ xác định giá đất, tiếp tục quản lý chặt hoạt động mỏ, đảm bảo tối đa vật liệu cho các dự án trọng điểm. Vì vậy tình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục khởi sắc. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý IV/2024 dự ước đạt 16.184 tỷ đồng, tăng 3,55% so với quý trước, giảm 1,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.885 tỷ đồng, tăng 0,03% so với quý trước và tăng 74,42% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.408 tỷ đồng, tăng 2,77% so với quý trước và giảm 7,54% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.891 tỷ đồng, tăng 12,58% so với quý trước và giảm 44,92% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2024 ước đạt 57.106 tỷ đồng, tăng 10,84% so với năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 23.678 tỷ đồng, chiếm 41,46% tổng vốn tăng 91,82% so với năm trước do các dự án trọng điểm Trung ương triển khai trên địa bàn như Cao tốc Bắc - Nam 9.540 tỷ đồng, tăng 77% so với năm trước; Dự án đường dây 500 kV đạt 4.719 tỷ đồng đầu tư trong năm (năm trước không có). Dự án VSIP vốn đầu tư thực hiện đạt 278 tỷ đồng (năm trước không có). Vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 16.097 tỷ đồng chiếm 28,19% tổng vốn, giảm 18,89% so với năm trước do hoạt động đầu tư từ khu vực doanh nghiệp còn khó khăn, trong đó: Khu vực doanh nghiệp đạt 3.034 tỷ đồng, đạt 67% kế hoạch, giảm 60,21% (giảm sâu do năm trước dự án pin VinES điều chỉnh vốn đầu tư lên gần 2.500 tỷ đồng, ngoài ra năm trước có thêm khá nhiều các dự án thực hiện đầu tư như Thủy điện Hương Sơn 150 tỷ đồng, Nhà máy may Prosport Nghi Xuân 250 tỷ đồng, Khách sạn Hanvet Xuân Thành 165 tỷ đồng; trong khi năm nay một số dự án đầu tư nổi bật như Đô thị D’Metropole 900 tỷ đồng, khu đô thị nam Cầu Phủ 500 tỷ đồng, Kho xăng dầu Giang Nam 215 tỷ đồng, còn một số dự án dự kiến trong kế hoạch nhưng vẫn đang tập trung hoàn thiện thủ tục, vốn đầu tư còn thấp như Vinhomes Vũng Áng, khu đô thị Thạch Trung, Xuân Thành...); khu vực dân cư tăng trưởng ổn định, đạt 13.063 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 6,91%. Vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 17.331 tỷ đồng, chiếm 30,35% tổng vốn giảm 10,36% so với năm trước do đầu tư của dự án Nhiệt điện Vũng Áng II giảm mạnh, đầu tư 12.869 tỷ đồng, giảm 26%; dự án Nhà máy Pin Lithium 4.384 tỷ đồng, gấp 2,3 lần so với năm trước, VSIP 278 tỷ đồng GPMB khởi công từ tháng 6/2024. Nhìn chung tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2024 tăng so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân chủ yếu: (1) Dự án đường cao tốc Bắc - Nam qua địa bàn Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tiến độ thi công. (2) dự án đường dây 500 kV mạch 3 đoạn qua Hà Tĩnh với tổng mức đầu tư 4.719 tỷ đồng đã hoàn thành. (3) Hiện nay một số dự án lớn có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng đang gấp rút thi công. (4) Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà (VSIP) cơ bản đã hoàn thành giải phóng mặt bằng sẵn sàng khởi công dự án dự ước đạt 278 tỷ đồng, cùng kỳ năm ngoái chưa triển khai dự án. (5) Ngoài ra, thị trường bất động sản trên địa bàn tỉnh ghi nhận những chuyển biến tốt sau những chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn của Chính phủ, tạo điều kiện phục hồi cho hoạt động đầu tư xây dựng. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất - nhập khẩu trong năm 2024 mặc dù không đạt mức kỳ vọng như năm 2023, nhưng ghi nhận những nỗ lực trong những tháng trong quý IV để đạt mục tiêu Nghị quyết hội đồng với giá trị xuất khẩu đạt 2,4 tỷ đô. Mặc dù mặt hàng thép vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm thị trường đầu ra, nhưng việc các hàng hoá khác đạt giá trị xuất khẩu tăng vượt bậc là những tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế tỉnh nhà khi đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, giảm dần sự phụ thuộc vào ngành thép. Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 12 ước đạt 145,6 triệu USD, tăng 26,53% so với tháng trước nhưng giảm 23,35% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng ước đạt 129,8% triệu USD (chiếm 89,15% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), tăng 26,04% so với tháng trước nhưng giảm 25,52% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài mặt hàng thép, phôi thép thì các mặt hàng xuất khẩu khác đều có trị giá xuất khẩu tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 2.400 triệu USD, giảm 2,20% so với năm trước (giảm 54 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do từ đầu năm tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát, tăng lãi suất dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, mặc dù quý IV đã có nhiều tín hiệu tích cực tuy nhiên vẫn chưa đjat mức kỳ vọng như năm trước, ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các cũng giảm đến 18,16% so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu các mặt hàng khác như chè, dệt và may mặc tăng trưởng khá tuy nhiên do tỷ trọng không lớn nên không tác động nhiều đến kết quả chung toàn tỉnh. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 12 năm 2024 ước đạt 250,5 triệu USD, tăng 31,19% so với tháng trước nhưng giảm đến 34,0% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân việc giá cả hàng hoá đang ở mức cao, cộng với việc thị trường Tết năm trước sức mua hàng ngoại thấp gây tồn đọng nên năm nay các doanh nghiệp đang cầm chừng và chọn lọc trong việc nhập khẩu các loại hàng hoá phục vụ dịp Tết. Tính chung cả năm 2024, trị giá nhập khẩu ước đạt 3.740 triệu USD tăng 3,89% so với năm 2023. Việc nhập khẩu hàng hoá tăng cũng mang tín hiệu tích cực cho thấy yêu cầu tiêu dùng người dân ngày càng cao, tăng sức cạnh tranh đối với hàng hoá trong tỉnh thúc đẩy doanh nghiệp đẩy mạnh nâng cao chất lượng và hình thức vươn tầm quốc tế thay vì chỉ chú trọng vào yếu tố giá thành. 9. Giá cả, lạm phát Diễn biến thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 12 tăng nhẹ so với tháng trước và không có biến động lớn ở các mặt hàng. Tính chung cả năm 2024 chỉ số bình quân giá tiêu dùng bình quân đang tăng ở mức khá cao 4,03% nhưng vẫn đang phù hợp xu thế và nằm trong tầm kiểm soát. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và biến động thất thường theo tình hình chung của thế giới. Tháng 12 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,37% so với tháng trước và tăng ở mức 6,01% so với cùng kỳ năm trước, hầu hết các nhóm hàng trong tháng đều không biến động quá lớn so với tháng trước, tuy nhiên mặt bằng chung giá cả đang ở mức cao (so với kỳ gốc 2019 đã tăng đến 16,63%). Tính chung quý IV mức CPI bình quân tăng 1,42% so với quý III và tăng 6,15% so với cùng quý năm trước, đây là mức tăng lớn nhất so với 4 quý trong năm. Biến động lớn nhất ở nhóm hàng Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 17,0% so với cùng kỳ, do chịu ảnh hưởng từ sự biến động trên thị trường năng lượng quốc tế, bên cạnh đó các nhóm hàng thiết yếu hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 7,61%, trong bối cảnh các loại hàng hóa đang gia tăng chỉ có duy nhất một nhóm hàng giảm so với cùng kỳ là giao thông giảm 3,55%, do giá xăng dầu đang ở mức thấp hơn các năm trước. Tính chung cả năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 5,17% và khu vực nông thôn tăng thấp hơn ở mức 3,53%. Nhìn chung, giá cả trên thị trường luôn có sự biến động tăng giảm của các mặt hàng, trong năm qua mức biến động giá mạnh trong tỉnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Nguyên nhân do chịu ảnh hưởng từ việc giá gạo trên thị trường thế giới tăng cao, khi một số quốc gia sản xuất gạo lớn thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu. Các dịch vụ điện và nước sinh hoạt đều được điều chỉnh giá cơ sở tăng đã tác động đến chỉ số giá nhóm này nói riêng và chi phí sản xuất, phân phối các mặt hàng, dịch vụ khác. Giá dịch vụ y tế tăng mạnh từ thời điểm cuối năm trước và dự kiến tiếp tục tăng trong thời gian tới. Mức lương cơ sở tăng ảnh hưởng trực tiếp đến một số dịch vụ sử dụng mức lương này làm cơ sở tính giá như như giá bảo hiểm y tế và có tác động đến cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nói chung. Bên cạnh đó thời tiết diễn biến khá thất thường, nhất là mưa lũ tại khu vực miền Bắc và miền Trung gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế, tác động đến sản xuất và lưu chuyển hàng hóa Dự kiến sang tháng tới chỉ số giá tiêu dùng chung sẽ tăng mạnh, xu hướng tăng dần vào những ngày cuối tháng, khi thời điểm dịp Tết Nguyên đán đến gần, mức tăng chủ yếu tập trung vào các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, hàng may mặc, nội thất gia đình, cước vận tải hành khách, vật phẩm trang trí nhà ở, điện và khí đốt. Cùng với đó, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Dân số, lao động việc làm * Dân số Dân số trung bình năm 2024 ước tính 1.329.825 người, tăng 0,46% so với năm 2023. Trong đó, dân số thành thị 300.380 người, chiếm 22,6%; dân số nông thôn 1.029.445 người, chiếm 77,4%; dân số nam 661.219 người, chiếm 49,7% và dân số nữ 668.606 người, chiếm 50,3%. * Lao động việc làm Năm 2024 nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hà Tĩnh có dấu hiệu khởi sắc hơn so với những năm trước với việc các khu công nghiệp đang được đầu tư và đẩy nhanh tiến độ thì sắp tới nhu cầu việc làm sẽ tiếp tục tăng. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động mặc dù đã có giảm dần nhưng vẫn còn ở mức khá cao. Về cơ cấu lao động có việc làm xu thế đang giảm dần cả về số lượng và tỷ trọng ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng dần khu vực công nghiêp, xây dựng và dịch vụ. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh ước tính quý IV/2024 là 516.815 người, tăng 0,65% so với quý trước và tăng 0,04% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong lực lượng dân số thì có 53,58% dân số 15 tuổi trở lên tham gia vào lực lượng lao động, tăng 0,37 điểm phần trăm so với quý trươc và giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2024 lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 527.641 người, tăng 0,10% so với năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 54,71%, giảm 0,03 điểm phần trăm so với năm trước, so sánh giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ cho thấy cũng có sự chênh lệch đáng kể khi tỷ lệ tham gia lao động của nam cao hơn 8,01 điểm phần trăm so với nữ và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị cao hơn 8,82 điểm phần trăm so với nông thôn. Lực lượng lao động có việc làm ước tính quý IV năm 2024 là 508.358 người, chiếm 98,36% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 2,37% so với quý trước và giảm 0,29% so với cùng kỳ năm 2023. Tính chung năm 2024, lao động có việc làm ước đạt 503.538 người, chiếm 95,43% tổng số lực lượng lao động và tăng 0,25% so với năm 2023, trong đó: lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 29,15% (tương ứng 146.758 người), giảm cả về số lượng và tỷ trọng so với năm trước (lần lượt giảm 0,42% và 0,19 điểm phần trăm); công nghiệp-xây dựng chiếm 28,65% (tương ứng 144.248 người), tăng cả số lượng và tỷ trọng (lần lượt tăng 1,24% và 0,28 điểm phần trăm); dịch vụ chiếm 42,21% (tương ứng 212.532 người), tăng về số lượng (tăng 0,06%) và giảm tỷ trọng (giảm 0,08 điểm phần trăm). Cho thấy lực lượng lao động khu vực nông nghiệp đang giảm dần và gia tăng lao động khối công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp: Trong quý IV/2024 tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 5,14%, giảm 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,29 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2024 tỷ lệ này ở mức 5,27%, giảm 0,24 điểm phần trăm so với năm trước. Mặc dù trong quý IV, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đã tăng cường tuyển dụng lao động song vẫn không tuyển đủ lao động, do chế độ, chính sách làm việc cho người lao động của doanh nghiệp ở Hà Tĩnh vẫn chưa đủ sức thu hút và giữ chân người lao động. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ước tính quý IV/2024 là 2,51%, giảm 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2024, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,49%, tăng 0,16 điểm phần trăm so với năm trước. Tình hình giải quyết việc làm: Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý IV năm 2024 là 5.180 người, giảm 27,07% so với quý trước và tăng 28,15% so cùng kỳ năm 2023; so với quý trước chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trong tỉnh (giảm 49,02%) và đi làm ngoài tỉnh (giảm 63,34%). Tính chung năm 2024, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 23.501 người, đạt 102,18% so với kế hoạch và tăng 1,63% so với năm 2023, chủ yếu tăng ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (tăng 9,46%) và đi làm ngoài tỉnh (tăng 14,16%). Tất cả điều đó chứng tỏ tình hình về lao động, việc làm quý IV/2024 ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước. Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý IV/2024 là 1.009 người, tăng 377 người so với quý trước; tính đến tháng 12 năm 2024 có 2.291 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, so với thời điểm tháng 9/2024 giảm 352 người. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Nhìn chung năm 2024, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn đang ổn định. Những ngày cuối năm, các doanh nghiệp Hà Tĩnh đang tất bật, khẩn trương sản xuất, kinh doanh, hoàn thành những đơn hàng cuối cùng, nỗ lực "cán đích" các mục tiêu của năm. Bên cạnh đó, tại các siêu thị, cửa hàng, chợ truyền thống ở Hà Tĩnh, hàng hóa tết với đa dạng mẫu mã, giá cả đã lên kệ để phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân nhưng sức mua vẫn còn chưa cao.Tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội: Năm 2024, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền hơn 1.197,88 tỷ đồng. Chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2,3,4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền là 544,21 tỷ đồng. Chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác với tổng số tiền gần 59,94 tỷ đồng. Bên cạnh đó, để chung tay giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho các hộ khó khăn, trong năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức trao tặng hơn 430 mô hình sinh kế giảm nghèo với giá trị hơn 2,6 tỷ đồng; trao nhiều suất học bổng cho các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học giỏi và trao tặng nhiều suất quà cho các đối tượng khó khăn với số tiền hơn 1,4 tỷ đồng. Ngoài ra, đã cấp phát miễn phí khoảng 403.285 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, 13.934 thẻ cấp cho hộ nghèo; 28.610 thẻ cấp cho hộ cận nghèo; 141.374 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 42.862 thẻ cho người có công và 176.505 thẻ cho các đối tượng khác. Hỗ trợ 189 triệu đồng mua 10,5 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt và các hộ nghèo, hộ cận nghèo. 3. Giáo dụcVới những kết quả và thành tích đạt được trong năm học 2023 - 2024 với nhiều con số ấn tượng khi xếp thứ 7 toàn quốc về điểm thi bình quân tốt nghiệp THPT; thứ 10 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải quốc gia, đạt Huy chương bạc Olympic Toán học quốc tế; thứ 4/12 tại Hội khỏe Phù Đổng khu vực III. Bước vào năm học mới 2024 - 2025 Hà Tĩnh có hơn 362 ngàn giáo viên và học sinh ở 668 trường học (255 trường mầm non, 221 trường tiểu học, 147 trường THCS và 45 trường THPT) với 10.695 lớp (mẫu giáo 2.916 lớp, tiểu học 4.182 lớp, THCS 2.407 lớp, THPT 1.190 lớp). Công tác giáo dục luôn là ưu tiên hàng đầu không chỉ đối với tỉnh nhà mà còn trong cả mỗi gia đình. Lãnh đạo tỉnh, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông 2018, hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng, thực hiện áp dụng tài liệu học mới ở lớp 5, lớp 9 và lớp 12. Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức ôn thi đối với học sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2025 - 2026, thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9, 10, 11, 12 năm học 2024 - 2025, tiếp cận ôn thi đánh giá năng lực cho học sinh; tổ chức thi giáo viên giỏi cấp tỉnh Tiểu học, cấp THPT đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Tiếp tục làm tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng “nghiên cứu bài học”; đổi mới kiểm tra đánh giá, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; ứng dụng giáo dục STEM trong dạy học. 4. Hoạt động y tếNăm 2024, ngành Y tế vượt 2/3 chỉ tiêu được Quốc hội giao về số bác sĩ và số giường bệnh; đạt chỉ tiêu về tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế; cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu lớn của ngành, lĩnh vực được Chính phủ giao. Các dịch bệnh truyền nhiễm cơ bản được kiểm soát, không xuất hiện các chùm ca bệnh, ổ dịch lớn trong cộng đồng. Các dịch vụ khám, chữa bệnh tiếp tục được nâng cao chất lượng, hiệu quả với tinh thần lấy người bệnh làm Trung tâm, nâng cao sự hài lòng của người bệnh. Nhiều kỹ thuật y học tiên tiến được ứng dụng thành công, đặc biệt là ghép tạng, ghép đa tạng. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Quý 4 năm 2024, đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV và có 1 ca chết vì AIDS, tăng 2 ca nhiễm mới nhưng giảm 2 ca chuyển sang AIDS so với quý trước. Tính chung năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh phát hiện 31 ca nhiễm mới HIV/AIDS, có 20 ca chuyển sang AIDS và 6 ca chết vì AIDS, giảm 11 ca nhiễm mới, giảm 16 ca chuyển sang AIDS và giảm 3 ca chết vì AIDS so với năm trước. Công tác an toàn thực phẩm: Chủ động đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là vào các dịp lễ, tết. Các cấp, các ngành thường xuyên phối hợp, tăng cường công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Trong quý đã không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào, giảm 2 vụ và giảm 11 người bị ngộ độc so với quý trước. Tính chung cả năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 13 người bị ngộ độc và có 872 người bị ngộ độc đơn lẻ, giảm 1 vụ ngộ độc tập thể và giảm 29 người bị ngộ độc so với năm trước. Tình hình dịch bệnh khác: Ngay từ đầu năm, Hà Tĩnh đã chủ động tham mưu Sở Y tế ban hành các kế hoạch, văn bản phòng chống dịch. Năm 2024 ghi nhận 450 ca mắc Sởi, 86 ca mắc sốt xuất huyết, không có ca tử vong. Khống chế thành công 04 ổ dịch Sởi xảy ra tại các huyện Lộc Hà, Nghi Xuân, Hương Khê và Đức Thọ, đặc biệt khống chế ổ dịch Sốt xuất huyết tại Thị xã Kỳ Anh. Duy trì công tác tiêm chủng thường xuyên tại 216/216 xã, phường, thị trấn và tại tất cả các bệnh viện, trung tâm y tế có phòng sinh. Triển khai Chiến dịch tiêm chủng phòng chống dịch Sởi tại 2 huyện Cẩm Xuyên và Nghi Xuân cho trẻ từ 1- 10 tuổi đạt tỷ lệ 97,5%; triển khai tiêm chủng vắc xin Uốn ván - Bạch hầu (Td) tại 13/13 huyện, thị xã, thành phố đạt 82,7%. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn xuất hiện các ca bệnh đơn lẻ như sốt rét,. Sốt xuất huyết, quai bị, lỵ, thủy đậu, tiêu chảy, hơn 15 nghìn ca cúm và một số bệnh khác. Các ca bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời, không có người chết do các bệnh trên. 5. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong năm, đã triển khai nhiều giải pháp thực hiện kế hoạch hoạt động, theo đó, sở đã tham mưu tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm lớn như: 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trần Phú; Festival “Về miền Ví, Giặm - Kết nối tinh hoa di sản”; kỷ niệm 10 năm Dân ca ví - giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”; kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, cùng với lễ kỷ niệm là chuỗi hoạt động, sự kiện sôi nổi bên lề như Triển lãm “Di sản của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác”, trưng bày chuyên đề “Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - Cuộc đời và sự nghiệp”. Bên cạnh đó có thêm xếp hạng 14 di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh và 6 di tích được xếp hạng quốc gia. Hoạt động thể thao: Năm 2024, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 53 giải thi đấu thành tích cao và giành được 261 huy chương các loại, trong đó có102 huy chương vàng, 67 huy chương bạc và 92 huy chương đồng. Ngoài ra hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức nhiều giải thể thao, trò chơi dân gian mừng Đảng, mừng Xuân, khai trương du lịch biển,... Bên cạnh đó, các giải đấu cấp tỉnh cũng được tổ chức thành công như giải bóng chuyền nam, nữ cấp tỉnh, hội thao các cụm thi đua, các ngành. Đội bóng Hồng Lĩnh Hà Tĩnh vẫn đang thi đấu tốt ở giải V.League và đnag tích cực đầu từ ở các giải trẻ như U19 đang có thành tích bất bại ở vòng loại U19 quốc gia. 6. Tình hình an toàn giao thông Trước tình hình tai nạn giao thông diễn biến phức tạp và đang có dấu hiệu gia tăng, Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Công an tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông trên các tuyến giao thông và các kế hoạch chuyên đề, kiểm soát về trật tự ATGT. Duy trì hoạt động các Tổ công tác đặc biệt 238 và 256, chủ động tuần tra, xử lý “tội phạm đường phố” khép kín địa bàn 24/24h; huy động lực lượng Cảnh sát khác, Công an xã tham gia tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự ATGT ngay từ địa bàn thôn, xóm, các tuyến giao thông trọng điểm. Trong quý IV năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 85 vụ tai nạn đường bộ, làm 53 người chết, 50 người bị thương, giảm 3 vụ, giảm 5 người chết và tăng 7 người bị thương so với quý trước. Có 01 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người chết, tăng 01 vụ và tăng 01 người chết so với quý trước. Tính chung năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 403 vụ tai nạn đường bộ, làm 224 người chết, 249 người bị thương (tăng 43 vụ, tăng 25 người chết, tăng 34 người bị thương so với năm trước); 4 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 2 người, 01 người bị thương (tăng 01 vụ, tăng 01 người bị thương và số người chết không thay đổi so với năm trước). Trong thời gian tới, Ban An toàn giao thông phối hợp với Công an tỉnh và các cấp ngành liên quan đang tích cực tham mưu phương án, kế hoạch phòng ngừa tai nạn giao thông và giữ gìn trật tự, an toàn giao thông phục vụ nhân dân đón Tết Dương lịch, Tết nguyên đán Ất Tỵ và Lễ hội Xuân năm 2025 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ Tình hình cháy, nổ: Trong năm 2024, Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung tình hình cháy tại khu vực nhà dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh đang diễn biến phức tạp. Trong tháng cuối năm, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn tập trung thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an về tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn Phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn; Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn về Phòng cháy chữa cháy. Trong quý IV/2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 21 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, giá trị thiệt hại tài sản ước tính 1.603,07 triệu đồng, giảm 8 vụ và không làm thiệt hại về người như quý trước. Tính chung năm 2024, đã xảy ra 86 vụ cháy, giá trị thiệt hại tài sản ước tính 2.199,9 triệu đồng, giảm 22 vụ, không làm thiệt hại về người như năm trước. Không xảy ra vụ nổ nào trong năm 2024, giảm 2 vụ, giảm 1 người chết, giảm 3 người bị thương so với năm trước). Vi phạm môi trường: Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững. Vì vậy, người dân ngày càng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, các vụ vi phảm đã được giảm thiểu một cách đáng kể. Trong tháng 12/2024, Hà Tĩnh phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 6 vụ, với tổng số tiền xử phạt 476,65 triệu đồng. Tính chung cả năm 2024, đã phát hiện 260 vụ vi phạm môi trường, giảm 174 vụ (giảm 40,09%), đã xử phạt 247 vụ, giảm 220 vụ (giảm 47,11%) với tổng số tiền xử phạt là 2.110,7 triệu đồng, tăng 350,74 triệu đồng (tăng 19,93%) so với năm trước. 8. Tình hình thiên taiTính chung cả năm 2024 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ thiên tai làm 01 người chết, 94 nhà bị hư hại, 17 ha hoa màu bị thiệt hại, 50 con gia cầm chết, cuốn trôi, 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi, gãy đổ 2 cột điện...với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.614,5 triệu đồng. Trước diễn biến phức tạp của khí hậu, thời tiết và hậu quả do thiên tai gây ra, chính quyền địa phương cùng các mạnh thường quân đã chung tay hỗ trợ 598,65 triệu đồng cho các trường hợp phát sinh trên địa bàn (hỗ trợ 212,3 triệu đồng đến các địa chỉ nhân đạo, hỗ trợ 2 triệu đồng cho 1 hộ ngư dân bị cháy thuyền, hỗ trợ 15 triệu đồng cho một gia đình bị cháy xưởng gỗ, hỗ trợ 20 triệu đồng cho 2 gia đình bị tai nạn lao động nặng, hỗ trợ 25 triệu đồng tiền an táng cho 1 nạn nhân bị sét đánh chết, hỗ trợ 250 triệu đồng cho 3 nạn nhân tử vong do lán trại bị đất đá vùi lấp do sạt lở và tổ chức nấu hàng trăm suất cơm, hàng ngàn suất cháo miễn phí cho các bệnh nhân tại các trung tâm y tế với số tiền 74,35 triệu đồng). III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚINăm 2025 là năm cuối nhiệm kỳ là năm bứt phá để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2021 - 2025. Mặc dù sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động, diễn biến phức tạp, khó lường, kinh tế trong nước nước dự báo còn chịu sức ép lạm phát, tỷ giá; giá nhiều yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất. Cần tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng, khai thác dư địa trong từng ngành, lĩnh vực, địa phương; phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025 và Công điện số 140/CĐ-TTg ngày 27/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số năm 2025. Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra, thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây: Một là, tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tập trung phát triển công nghiệp, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn, trọng điểm tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vũng cho giai đoạn tới. Tăng cường các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn, dự theo định hướng quy hoạch tỉnh, đặc biệt là các dự án lớn, các nhà đầu tư chiến lược đã ký cam kết. Hai là, duy trì ổn định sản xuất nông nghiệp, chủ động bám sát diễn biến thời tiết, phòng chống thiên tai, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn Châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò; tập trung triển khai đề án, chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn gắn với tập trung tích tụ ruộng đất. Ba là, khai thác hiệu quả khu vực dịch vụ, du lịch. Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển thương mại, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics. Chủ động dự báo tình hình thị trường, theo dõi sát cung - cầu hàng hóa trên địa bàn. Tăng cường công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đẩy mạnh quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh có điều kiện. Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đáp ứng xu hướng mới của thị trường; tăng cường xúc tiến du lịch, liên kết vùng, chuyển đổi số trong phát triển du lịch. Hướng dẫn nhà đầu tư tập trung hoàn thiện hồ sơ thủ tục, sớm triển khai các dự án du lịch, dịch vụ, ven biển. Bốn là, tăng cường quản lý, điều hành, sử dụng hiệu quả ngân sách, tín dụng ngân hàng để phục vụ phát triển kinh tế. Tăng cường công tác hậu kiểm, chống thất thu, thu hồi nợ thuế. Tiếp tục quán triệt nguyên tắc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo dự toán giao đầu năm, đúng chế độ quy định; ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.[1] 01 cơ sở chăn nuôi bò sữa quy mô 2.200 con và 05 cơ sở chăn nuôi lợn nái quy mô 5.500 con[2] Gồm 9 cơ sở chăn nuôi lợn 10.000 con; 3 cơ sở chăn nuôi gia cầm 60.000 con; 1 cơ sở chăn nuôi bò quy mô 40 con[3] Quyết định số 3326/QĐ-BNN-TC ngày 02/10/2024 của Bộ Nông nghiệp về phê duyệt bổ sung, điều chỉnh kế hoạch sử dụng kinh phí (KH tài chính tổng thể) từ nguồn thu thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA)
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 11 và 11 tháng năm 2024
- 04/12/2024 16:41
I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp Tình hình sản xuất nông nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, năng suất, sản lượng các loại cây trồng đều tăng cao so với cùng kỳ; các loại dịnh bệnh trên cây trồng có xuất hiện nhưng đều được phòng ngừa kịp thời không ảnh hưởng quá lớn đến năng suất và sản lượng các loại cây. Hoạt động chăn nuôi đang được người dân đầu tư trở lại khi giá cả các loại thịt hơi đang dần ổn định, đặc biệt là chăn nuôi lợn và gia cầm, tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động chăn nuôi trâu, bò lại đang có dấu hiệu chững lại do đầu tư không hiệu quả. 1.1.1. Trồng trọt * Sản xuất cây hàng năm Tiến độ sản xuất vụ Đông 2024: Hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2024 cơ bản đã kết thúc. Tuy nhiên, do cùng thời điểm phải xuống giống gieo trỉa nhiều loại cây trồng nên một số loại cây chưa đạt kế hoạch đặt ra. Nay tranh thủ những hôm thời tiết nắng ráo bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng cây vụ Đông mà chủ yếu là các loại rau ngắn ngày. Tính đến ngày 25/11/2024, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2024 ước tính 11.074 ha/12.603 ha (đạt 87,87% kế hoạch). Cụ thể, diện tích ngô lấy hạt 4.302 ha/4.851 ha (đạt 88,7% kế hoạch); diện tích ngô sinh khối 1.126 ha/1.443 ha (đạt 78% kế hoạch); diện tích khoai lang 1.313 ha/1.402 ha (đạt 93,7% kế hoạch) và diện tích rau các loại 4.333 ha/4.907 ha (đạt 88,3% kế hoạch từ đầu năm). Uớc tính cả năm 2024: Sản xuất nông nghiệp năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất thu hoạch đạt cao, đặc biệt trên cây lúa thắng lợi ở cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu. Bên cạnh đó, việc hướng dẫn người dân làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh và gieo cấy đúng lịch thời vụ nên cây lúa và các loại cây hàng năm khác phát triển tốt, kết quả sản xuất cơ bản đạt và vượt kế hoạch đã đề ra. Kết quả sản xuất năm 2024 tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 157.226 ha bằng 99,16% (giảm 1.330 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 670.660 tấn, so với thực hiện năm trước bằng 103,8% (tăng 24.572 tấn). Chỉ tính riêng cây lúa, diện tích gieo trồng ước tính đạt 104.356 ha, bằng 100,06% (tăng 64 ha) so với năm trước với năng suất gieo trồng ước tính đạt 57,31 tạ/ha, bằng 103,29% (tăng 1,83 tạ/ha) so với năm 2023. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu năm nay thắng lợi về năng suất và sản lượng, năng suất lúa chính thức đánh giá đạt cao và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Tổng sản lượng lúa ước tính đạt 598.018 tấn, bằng 103,35% (tăng 19.400 tấn) so với năm 2023. * Sản xuất cây lâu năm Tháng 11/2024 người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Cùng với đó, thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực của tỉnh như bưởi, cam,…vv đang vào mùa thu hoạch chính vụ. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có 31.312 ha, bằng 98,83%, (giảm 371 ha) so với năm 2023. Diện tích cây lâu năm giảm là do một số diện tích bị giải phóng làm đường giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 181.627 tấn, bằng 102,91%, (tăng 5.128 tấn) so với năm 2023. Thời gian tới Hà Tĩnh chủ trương tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao, như hình thành vùng sản xuất cam, bưởi an toàn đáp ứng được nhu cầu xuất bán vào các siêu thị, trung tâm thương mại… Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống và tiếp tục tái đầu tư phát triển sản xuất. Sản lượng cao su ước đạt 4.767 tấn, bằng 109,84% (tăng 468 tấn); sản lượng chè búp ước đạt 14.301 tấn, bằng 101,16% (tăng 164 tấn); sản lượng chè hái lá ước đạt 19.938 tấn, bằng 101,11% (tăng 219 tấn) so với năm trước. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã đưa ra khuyến cáo về một số loại sâu bệnh gây hại như sau: Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô 3-7 lá, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 28ha; bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô Hè muộn, Đông sớm, diện tích nhiễm 25ha, phân bố tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê… Trên cây rau: Bọ nhảy gây hại mật độ 8-10 con/m2, nơi cao 12-15 con/m2, diện tích nhiễm 45ha; sâu xanh bướm trắng gây hại mật độ 2-5 con/m2, diện tích nhiễm 45ha, phân bố tại Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thành phố Hà Tĩnh… 1.1.2. Chăn nuôi Kết quả sản xuất: Với kết quả chăn nuôi như hình trên cho thấy hoạt động chăn nuôi tháng 11 và 11 tháng năm 2024 cơ bản ổn định, tổng đàn trâu bò có xu hướng giảm do đầu tư không hiệu quả; chăn nuôi lợn và gia cầm mặc dù đang được đầu tư phát triển nhưng vẫn còn cầm chừng do những lo ngại về tình hình dịch bệnh và giá cả thức ăn chăn nuôi. Dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xẩy ra nhưng cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện các sản phẩm chăn nuôi cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân. Hiện nay đang là thời điểm người chăn nuôi tập trung tái đàn, tăng đàn gia súc, gia cầm để cung ứng ra thị trường vào dịp lễ vì vậy các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục duy trì ổn định tổng đàn vật nuôi và thực hiện các biện pháp phòng chống dịch trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm 2024 đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra một số loại dịch bệnh với quy mô nhỏ đã được khống chế, dập tắt như: Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) làm cho 156 con bò mắc bệnh, trong đó có 20 con chết, tiêu hủy, với khối lượng 3.411 kg. Dịch Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã thuộc huyện Kỳ Anh làm cho 56 con trâu bò mắc bệnh, trong đó làm 06 con bò chết, tiêu hủy khối lượng 1.380 kg. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 22 xã thuộc 07 huyện (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Tthị xã Kỳ Anh) làm cho 290 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy, khối lượng 18.596,6 kg. 1.2. Hoạt động lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2024 nhìn chung khá ổn định, sản lượng khai thác lâm nghiệp trong năm diễn ra thuận lợi và sản lượng tăng khá. Công tác trồng rừng và bảo vệ rừng là một trong những việc làm hết sức thiết thực để phát triển bền vững tại địa phương, vì vậy luôn được các cấp, ngành quan tâm thực hiện. Kết quả sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 11/2024 ước đạt 1.505 ha, bằng 93,25%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 82.303 m3, bằng 101,42%. Tính chung 11 tháng năm 2024, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 8.395 ha, bằng 101,01%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 499.139 m3, bằng 109,03%. Trồng rừng, bảo vệ rừng là hoạt động thiết thực để phát triển bền vững, phát triển rừng vừa tạo ra thu nhập từ rừng, vừa để bảo vệ môi trường. Tính chung 11 tháng năm 2024, diện tích rừng trồng mới, hoạt động khai thác gỗ tăng so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về rừng: Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng và phá rừng nào. Tính chung 11 tháng năm 2024, toàn tỉnh có 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14 ha) và 51 vụ phá rừng (giảm 65 vụ), với diện tích rừng bị phá là 13,94 ha (giảm 40,09 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Hoạt động thủy sản: Hoạt thuỷ sản tháng 11 và 11 tháng năm 2024 tăng trưởng khá cả trong hoạt động khai thác và nuôi trồng. Việc thời tiết thuận lợi cộng với giá cả các loại thuỷ, hải sản cũng như nhu cầu người dân đang tăng lên cũng là động lực để ngư dân tích cực đầu tư nuôi trồng các loại thủy sản và tích cực ra khơi bám biển. Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 11/2024 ước đạt 3.794 tấn, bằng 102,46%, tăng 91 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 2.775 tấn, bằng 102,82%, tăng 76 tấn; sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.019 tấn, bằng 101,49%, tăng 15 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 55.770 tấn, bằng 104,12%, tăng 2.209 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 39.397 tấn, bằng 104,53%, tăng 1.707 tấn; sản lượng nuôi trồng ước đạt 16.373 tấn, bằng 103,16%, tăng 502 tấn. Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh 11 tháng năm 2024 cơ bản ổn định và có mức tăng khá hơn so với cùng kỳ (tăng 2.209 tấn so với cùng kỳ năm). Tuy nhiên năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn trong thời gian qua không có nhiều thay đổi tích cực, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm (nhất là so với các địa phương lân cận) nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng xảy ra dịch bệnh Đốm trắng và Vi bào tử trùng trên tôm tại 02 hộ nuôi của xã Thạch Sơn, Thạch Hà với diện tích 0,65 ha. Tính từ đầu năm đến nay: Bệnh Đốm trắng trên tôm xảy ra với diện tích 17,10 ha tại 8 xã thuộc 5 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh). Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm xảy ra với diện tích 4,29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà). Bệnh Vi bào tử trùng trên tôm xảy ra với diện tích 0,85 ha tại 2 xã thuộc 2 huyện (Kỳ Anh, Thạch Hà). 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp tính chung 11 tháng năm 2024 giảm 0,79% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp giảm là do chịu ảnh hưởng lớn nhất từ ngành sản xuất kim loại sụt giảm dẫn đến tăng trưởng ngành chế biến chế tạo, cũng như toàn ngành công nghiệp chưa đạt như kỳ vọng. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 11/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 7,18% so với tháng trước và tăng 10,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 46,46% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 4,75% so với tháng trước và giảm 7,26% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 22,02% so với tháng trước và tăng 25,03% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 2,96% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,45%. Ngày 14/10/2024 là dấu mốc quan trọng khi Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 (thuộc Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh) chính thức đưa tổ máy số 2 vào vận hành thương mại trở lại sau 2 tháng ngừng sản xuất điện phục vụ công tác trung tu. Quý IV/2024 là thời điểm cộng đồng doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất – kinh doanh nên nhu cầu phụ tải tăng cao so với giai đoạn trước. Bởi vậy, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 tiếp tục triển khai đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp để đảm bảo dây chuyền sản xuất theo kế hoạch của Trung tâm điều độ Hệ thống điện quốc gia. Trong tháng 11 này, công ty sẽ nhập về khoảng 50.000 tấn than Lào phục vụ chạy thử để tiến tới đốt thử nghiệm 10 triệu tấn than Lào trong toàn Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam vào năm 2025. Dự kiến trong tháng nhà máy sản xuất 600 triệu kWh, tăng 42,87% so với tháng trước và so với cùng kỳ tăng 36,03%. Tính chung 11 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 0,79% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 38,49% đóng góp 0,47 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,84% làm giảm 3,75 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 17,98% đóng góp 2,22 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,71% đóng góp 0,27 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Thời gian tới ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như: Sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ cũng đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực; tổ máy số 2 nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 đã hoàn thành trung tu, đi vào hoạt động từ giữa tháng 10; nhà máy sợi Nghệ Tĩnh đi vào sản xuất thương mại ổn định, sản lượng bình quân dự tính đạt hơn 200 tấn/ 1 tháng. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như: sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc vào thị trường; nhà máy thép Formosa gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu thép ra thị trường ngoài nước. Do đó, thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất nặng nề; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để tạo sức bật cho tăng trưởng GRDP. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm sản phẩm cộng dồn 11 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 92,92%; Đá xây dựng khác tăng 33,34%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 24,1%; bia đóng lon tăng 31,04%; Sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói... tăng 30,34%; Điện sản xuất tăng 18,48%; bê tông trộn sẵn tăng 12,12%... Ngoài các sản phẩm có sản lượng tăng thì cũng có một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Mực đông lạnh giảm 79,85%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 20,34%; sản xuất dược phẩm giảm 7,95%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,38%; bê tông trộn sẵn giảm 12,12%. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2024 tăng 0,09% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 5,18%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 11 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,92% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 11 tháng năm 2024 của ngành khai khoáng giảm 3,81% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,18%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,53% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Xác định việc đẩy mạnh giải ngân gắn với nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đảm bảo chất lượng công trình là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt, là trách nhiệm của người đứng đầu các Sở, ngành, địa phương, đơn vị cần bám sát tình hình thực tế triển khai của từng dự án để tập trung chỉ đạo, điều hành kịp thời, đúng hướng, khả thi và hiệu quả; chủ động rà soát, đánh giá khả năng giải ngân của từng dự án năm 2024. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2024 ước đạt 929,29 tỷ đồng, giảm 0,63% so với tháng trước và tăng 23,54% so với cùng kỳ năm nước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 757,91 tỷ đồng, tăng 1,59% so với tháng trước và tăng 20,35% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 139,06 tỷ đồng, giảm 8,82% so với tháng trước và tăng 51,12% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 32,32 tỷ đồng, giảm 11,76% so với tháng trước và tăng 6,25% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 11, thời tiết có nhiều ngày mưa, các công trình phải ngừng trệ sản xuất tạm thời nên khối lượng thi công giảm hơn so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do nguồn vốn bổ sung kế hoạch vốn năm 2024 được bổ sung vào cuối tháng 8 năm 2024 nên nguồn vốn thực hiện và giải ngân dồn vào những tháng cuối năm. Trong tháng, một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương, tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 31,53 tỷ đồng; dự án phát triển tổng hợp các đô thị động lực -Tiểu dự án thị xã Kỳ Anh (WB) ước đạt 38,22 tỷ đồng; cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 28,44 tỷ đồng; đường từ Quốc Lộ 12C đi khu liên hợp Gang thép Formosa tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 42,4 tỷ đồng. Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 2024 đạt 5.732,92 tỷ đồng, đạt 84,09% kế hoạch năm, tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.127,76 tỷ đồng, đạt 81,96% kế hoạch vốn, tăng 6,6% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 1.244,71 tỷ đồng, đạt 89,34% kế hoạch vốn, tăng 49,63% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 360,45 tỷ đồng, đạt 92,87% kế hoạch vốn, tăng 2,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân kết quả vốn đầu tư thực hiện đến cuối tháng báo cáo năm 2024 tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước là do năm nay kế hoạch vốn tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm trước, bên cạnh đó tình hình thời tiết từ đầu năm đến nay thuận lợi cho việc thi công các công trình, nguồn vốn giải ngân được đảm bảo nên các chủ đẩu tư đẩy nhanh tiến độ thi công. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại, dịch vụ 11 tháng năm 2024 tăng trưởng khá ổn định, những tháng cuối năm, nhìn chung các hoạt động thương mại dịch vụ xu hướng tăng hơn so với các tháng trước. Mặc dù nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành có sự chững lại do yếu tố mùa vụ, thì tổng mức bản lẻ vẫn là nhóm ngành chính với doanh thu lớn và tăng trưởng khá ổn định. Bên cạnh đó, hoạt động dịch vụ khác như cho thuê máy móc, đồ dùng gia đình, chăm sóc sức khoẻ, làm đẹp… cũng đang vào mùa làm ăn nên nhìn chung nhóm ngành thương mại, dịch vụ vẫn đang là điểm sáng trong kinh tế tỉnh nhà. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 11/2024 doanh thu ước đạt 6.143,89 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 13,21% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng lương thực, thực phẩm là nhóm hàng thiết yếu chiếm 46,64% doanh thu bán lẻ cả tháng và tăng trưởng khá khi các chương trình khuyến mãi đang được diễn ra đã khuyến khích nhu cầu tiêu dùng. Đây là xu hướng chung, khi càng về cuối năm các doanh nghiệp thực hiện các chính sách giảm giá để đẩy hàng tồn kho, chuẩn bị cho sản xuất hàng Tết sắp đến. Ngoài ra các nhóm hàng có mức doanh thu tăng khả quan so với tháng trước có thể kể đến như đồ dùng, trang thiết bị gia đình, ô tô con, may mặc, vật liệu xây dựng… chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi thời tiết chuyển lạnh và nhu cầu mua sắm dịp cuối năm tăng, các chính sách về giảm lệ phí đối với ô tô cũng góp phần kích cầu đối với mặt hàng này sau thời gian dài gặp khó khăn. Bên cạnh đó cũng có các nhóm hàng có mức doanh thu giảm trong tháng như vật phẩm giáo dục do hoạt động giáo dục năm học mới đã bước vào ổn định và nhóm hàng xăng dầu, nhiên liệu do giá giảm sau các kỳ điều chỉnh gần đây. Tính chung 11 tháng năm 2024, doanh thu bán lẻ ước đạt 63.640,06 tỷ đồng, tăng 18,11% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung tình hình thương mại tỉnh nhà vẫn có sự tăng trưởng khá, nhóm hàng lương thực thực, thực phẩm vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu lớn và tăng trưởng ổn định mang tính quyết định trong nhóm hàng này. Những chính sách, khuyến khích đầu tư của cấp, ngành đảm bảo không để xảy ra tình trạng về biến động giá cả hay thiếu hàng dịp cao điểm, tránh găm hàng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ, những sản phẩm của tỉnh nhà đã được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến thông qua những trang thương mại điện tử. Thời gian tới càng về cuối năm thị trường bán lẻ càng sôi động. Mặc dù đang trong tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế, giá cả các loại hàng hoá đều có biến động tăng nhưng nhu cầu người dân vẫn ưu tiên tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cho nên doanh thu các mặt hàng lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, may mặc, đồ dùng gia đình… chiếm tỷ trọng doanh thu lớn trong tổng mức và tăng trưởng khá ổn định tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế tỉnh nhà. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 11/2024 ước đạt 761,13 tỷ đồng, giảm 2,81% so với tháng trước, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng tính chất thời vụ, hoạt động du lịch biển của tỉnh tăng mạnh chủ yếu ở thời điểm cuối tháng 4 đến tháng 8. Nhưng sang tháng 9 và những tháng cuối năm nhu cầu du lịch biển giảm, thời tiết bước qua giai đoạn mưa nhiều nên các hoạt động ăn uống ngoài gia đình cũng hạn chế hơn. Tính chung 11 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 7.866,27 tỷ đồng, tăng 12,37% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm gần 96% tổng doanh thu) tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy những thay đổi trong cách nghĩ truyền thống và việc đời sống người dân đang được nâng lên. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và đang dần có những tín hiệu tích cực, mặc dù mức doanh thu các tháng cuối năm giảm so với các tháng trước do yếu tố mùa vụ, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng ở mức khá, tính chung 11 tháng doanh thu đã tăng 50,68% so với cùng kỳ. Tuy nhiên vẫn cần thiết các chính sách quy hoạch các khu du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch tỉnh nhà và sự quan tâm chỉ đạo thực hiện từ các cấp, ngành địa phương cũng như sự đồng hành đầu tư của các doanh nghiệp, cá thể hoạt động du lịch trong và ngoài nước. Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 11/2024 ước đạt 396,05 tỷ đồng, tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước, các nhóm ngành dịch vụ khác trong tháng đều có mức doanh thu tăng. Nguyên nhân do ngành xây dựng tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình trong năm, đồng thời đây cũng là tháng trùng với mùa cưới hỏi nên các dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng cá nhân, gia đình…tăng khá. Ngoài ra nhu cầu các dịch vụ làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ đang ngày càng phát triển. Tính chung 11 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt ước đạt 4.188,27 tỷ triệu đồng, tăng 6,73% so với cùng kỳ năm trước trong trong 6 nhóm ngành chỉ có nhóm kinh doanh bất động sản vẫn còn đang gặp khó khăn còn lại các ngành khác đều có mức tăng trưởng dương. Nhìn chung những biến động với tình hình kinh tế thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế trong nước nói chung và kinh tế tỉnh nhà nói riêng, sự gia tăng căng thẳng địa chính trị đã gây ra gián đoạn nguồn cung năng lượng, sự giảm sút của cầu tiêu dùng tại thị trường Trung Quốc, biến đổi khí hậu đã gây ra rủi ro lớn đối với an ninh lương thực và nguồn nước.Tuy nhiên, với sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh đầu tư công; những chính sách sách kích cầu như tăng lương cơ sở, giảm thuế VAT, giảm lệ phí trước bạ đối với xe lắp ráp trong nước, chính sách thị thực đối với khách du lịch quốc tế. Đã tác động lớn đến du lịch của tỉnh nhà, từ đó kéo theo doanh thu ngành bán lẻ, bán buôn, lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác tăng trưởng mạnh. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tháng 11 có sự chững lại so với các tháng trước do ảnh hưởng tình hình thời tiết mưa nhiều ảnh hưởng đến hoạt động vận tải hàng hoá và lưu thông trên các tuyến cảng biển. Tuy nhiên, tính chung 11 tháng vẫn tăng trưởng khá và có nhiều biến chuyển tích cực, nhu cầu vận chuyển, luân chuyển ngày càng tăng cao, hạ tầng giao thông và các phương tiện vận tải đang được chú trọng đầu tư theo hướng hiện đại. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 11/2024 doanh thu ước đạt 708,13 tỷ đồng, giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 8,10% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời tiết mưa nhiều khiến nhu cầu sử dụng loại hình vận tải hành khách công cộng tăng nhưng lại gây khó khăn cho các hoạt động vận tải hàng hóa đường bộ cũng như đường biển. Khiến so với tháng trước mặc dù vận tải hành khách doanh thu tăng 3,08%, nhưng vận tải hàng hoá (chiếm gần 64% doanh thu) và dịch vụ hỗ trợ vận tải doanh thu lần lượt giảm 0,43% và 1,87%. Tính chung 11 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu ước đạt 7.787,73 tỷ đồng, tăng 18,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 36,35%; hàng hoá tăng 14,62%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 27,47% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải kho bãi ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua đang có nhiều biến chuyển tích cực. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp vận tải đã và đang đẩy mạnh áp dụng công nghệ số, như hệ thống quản lý kho thông minh và theo dõi lộ trình xe tải qua GPS. Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi, xu hướng sử dụng phương tiện vận tải thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng với nhiều doanh nghiệp chuyển sang sử dụng xe điện hoặc xe hybrid. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như: giá nhiên liệu biến động, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng cao từ khách hàng, để vượt qua khó khăn, các doanh nghiệp cần có chiến lược linh hoạt, đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng suất lao động, và duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu trong tháng ghi nhận những tín hiệu tích cực khi tăng 12,03% so với tháng trước. Khiến tình hình xuất - nhập khẩu có nét khả quan hơn, tổng trị giá xuất - nhập khẩu tháng 11/2024 ước đạt 440,4 triệu USD, tăng 8,03% so với tháng trước nhưng giảm 27,45% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2024 tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 5.629,4 triệu USD giảm 1,19% so với cùng kỳ (giảm 67,58 triệu USD). Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 11/2024 ước đạt 189,9 triệu USD, tăng 12,03% so với tháng trước nhưng giảm 6,80% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các mặt hàng đều có giá trị tăng so với tháng trước, đặc biệt tăng mạnh ở các mặt hàng thép, dăm gỗ, dệt và may mặc, tuy nhiên vẫn chưa đạt mức kỳ vọng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 2.195,66 triệu USD, giảm 3,45% (giảm 78,37 triệu USD) so với cùng kỳ. Nguyên nhân do tình hình kinh tế thế giới có nhiều bất ổn và biến động về chính trị, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, chỉ tính riêng xuất khẩu của Formosa 11 tháng năm 2024 (chiếm 86,93% giá trị xuất khẩu) đã giảm đến 10,89% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù vậy, xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép ở địa phương đang có nhiều triển vọng. Dự kiến từ nay đến cuối năm 2024, kinh tế, thương mại toàn cầu đang trên đà hồi phục, các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, trị giá xuất khẩu cả năm 2024 ước đạt 2,4 tỷ USD đạt kế hoạch đã đề ra. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 11/2024 ước đạt 250,5 triệu USD, tăng 5,19% so với tháng trước nhưng giảm đến 37,88% so với cùng kỳ. Mặc dù những tháng cuối năm Formosa bắt đầu đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vù sản xuất, tuy nhiên vẫ chưa đjat mức cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó tình hình thế giới đang có nhiều biến động, cộng với diễn biến thời tiết chưa phù hợp vì vậy các doanh nghiệp chưa tập trung nhập khẩu hàng hoá phục vụ dịp Tết. Tính chung 11 tháng năm 2024 trị giá nhập khẩu ước đạt 3.433,74 triệu USD tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù chỉ tính riêng giá trị nhập khẩu của Formosa ước đạt 2.681,14 triệu USD, chiếm 78,08% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, tăng đến 9,85% so với cùng kỳ năm trước nhưng mức tăng chung toàn tỉnh ở mức thấp cho thấy nhu cầu hàng ngoại đang có xu hướng giảm dần, đây cũng là tín hiệu tích cực đối với thị trường hàng hoá tiêu dùng trong nước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường giá cả tiêu dùng chung trong tháng 11 cơ bản ổn định và tăng nhẹ so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng tháng năm trước mức giá đã tăng vượt quá 6%, cho thấy mức giá cả các loại đang ở mức cao và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Chỉ số giá chung so với kỳ gốc năm 2019 đã tăng đến 16,19%. Thị trường vàng và ngoại tệ trong tháng có những biến động lên xuống thất thường do chịu ảnh hưởng từ thị trường thế giới. Tháng 11 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 6,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong các nhóm hàng thì biến động lớn nhất ở nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,44% so tháng trước và tăng 18,78% so cùng kỳ năm trước, do giá khí đốt gas hóa lỏng và dầu hỏa biến động tăng so tháng trước theo xu thế thị trường thế giới; còn các nhóm hàng khác cơ bản không biến động nhiều. Nhóm mặt hàng thiết yếu ăn và dịch vụ ăn uống có giảm nhẹ 0,12% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn đang ở mức tăng 7,88% do chịu ảnh hưởng của tình hình thị trường lương thực trên thế giới, nguồn cung các loại rau, củ, hoa quả các loại. Nhìn chung giá cả thị trường tiêu dùng trong tháng trên địa bàn chịu ảnh hưởng từ các nguyên nhân chủ yếu như (1) Giá nhiên liệu xăng, dầu qua các kỳ điều chỉnh trong tháng giảm dẫn tới giá bình quân giảm so với tháng trước (2) Yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh và về những tháng cuối năm đã tác động đến giá cả các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc tăng. Chỉ số giá vàng chung tháng 11/2024 tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 43,83% so với cùng kỳ; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,21% so với tháng trước và tăng 5,5% so với cùng kỳ. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 8.557 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.587.411 đồng/100 USD Tính chung 11 tháng năm 2024, CPI bình quân tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khu vực thành thị tăng 4,75%, nông thôn tăng 3,46%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Trong năm 2024, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức thấp, khoảng 3-4%. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ, dự báo CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Dự kiến CPI tháng 12/2024 trên địa bàn tiếp tục tăng, khi càng gần dịp Tết Nguyên đán, cơ cấu và giá cả các mặt hàng dịch vụ tiêu dùng càng biến động mạnh. Sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng vào các dịp cuối năm thường khiến giá các mặt hàng thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng tăng. Cùng với đó, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 11 là tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới. Sau gần 4 năm triển khai thực hiện Chiến lược về Bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 với sự chung tay của các cấp, các ngành, địa phương, Hà Tĩnh đã hoàn thành nhiều chỉ tiêu đặt ra trong kế hoạch. Nổi bật như: tỉ số giới sinh khi sinh đạt 105,6 bé trai/100 bé gái; tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản giảm; tỷ suất sinh của trẻ vị thành niên đã có chuyển biến tích cực giảm từ 22 ca sinh xuống 1,88 ca sinh/1.000 phụ nữ; tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số (bé trai và bé gái) hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học đạt 98%, trung học cơ sở đạt 96%. Việc tiếp cận và hưởng thụ nhiều hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm của phụ nữ và trẻ em gái ngày càng được tăng cường; các vấn đề về giới được lồng ghép trong triển khai, thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong tháng cũng trùng với ngày Nhà giáo Việt Nam nên thị trường hoa tươi, quà tặng tại Hà Tĩnh sôi động với nhiều mẫu mã, mức giá đa dạng, dễ lựa chọn. Ngoài ra trên toàn tỉnh cũng chú trọng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tệ nạn xã hội hưởng ứng ngày pháp luật Việt Nam năm 2024. Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn Hà Tĩnh 11 tháng năm 2024 vẫn ổn định, công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ và triển khai kịp thời. Việc mức lương cơ sở, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng lên từ tháng 7 đã giúp người thụ hưởng cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội. 2. Giáo dục Hoạt động giáo dục trong tháng có ngày lễ hiến chương nhà giáo 20-11, Hà Tĩnh vinh dự khi có 14 nhà giáo được trao tặng danh hiệu “Nhà giáo Ưu tú” trong số 1.031 cán bộ, nhà giáo trên cả nước, đây là danh hiệu cao quý được Chủ tịch nước phong tặng. Ngành giáo dục Hà Tĩnh hiện nay khi năm học mới 2024-2025 đã cơ bản đã ổn định, các hoạt động được toàn ngành chú trọng là đầu tư về chất lượng giáo viên và chất lượng giáo dục, bên cạnh đó tích cực chuyển đổi số nâng cao chất lượng, tạo đột phá trong giáo dục Hà Tĩnh. Năm học 2024-2025, toàn tỉnh có 668 trường mầm non và phổ thông, trong đó có 28 trường ngoài công lập, so với năm học trước, hệ thống mạng lưới trường học ổn định. Cơ sở vật chất, thiết bị cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học trong năm học mới. Số phòng học kiên cố chiếm tỷ lệ khá cao: mầm non 94,1%, tiểu học 96,8%; THCS 98,7%; THPT 100%. 100% trường học của tỉnh đảm bảo tỷ lệ 1 phòng học/1 lớp. Với nhiều giải pháp đồng bộ, đội ngũ giáo viên các cấp học trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm học 2024-2025 cơ bản đảm bảo số lượng, chất lượng để triển khai chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên. Đội ngũ giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng có chất lượng, nhất là giáo viên dạy lớp 5, lớp 9 và lớp 12. 3. Hoạt động y tế Tính từ thời điểm phát hiện ổ dịch sởi đầu tiên đến nay (tháng 10 và 11/2024), trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện 4 ổ dịch (riêng trong tháng 11/2024 phát hiện 3 ổ dịch tại huyện Lộc Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân), gồm 273 người nhiễm bệnh. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng 11/2024 trên địa bàn trên địa bàn phát hiện 1 ca nhiễm mới HIV, không có ca nào chuyển qua AIDS và chết vì AIDS (tăng 1 ca phát hiện mới, số ca chuyển qua AIDS không đổi, giảm 1 ca chết vì AIDS so với tháng trước). Tính chung 11 tháng năm 2024 đã có 27 người nhiễm mới HIV, 20 người chuyển thành AIDS, 6 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 15 người nhiểm mới HIV, giảm 15 người chuyển thành AIDS và số người chết vì AIDS giảm 1 người. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào trên địa bàn, nhưng có 68 ca ngộ độc đơn lẻ, các ca ngộ độc được điều trị kịp thời không có ca nào tử vong. Tính chung 11 tháng năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc tập thể khiến 13 người bị ngộ độc và 798 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 29 người ngộ độc tập thể và giảm 82 ca ngộ độc đơn lẻ. Nhằm tăng tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng, chủ động phòng ngừa dịch bệnh, giảm tỷ lệ tử vong do bệnh bạch hầu, uốn ván từ cuối tháng 11/2024, toàn tỉnh sẽ triển khai đợt tiêm vắc-xin phòng uốn ván - bạch hầu, theo chỉ đạo của Sở Y tế Hà Tĩnh số lượng tiêm phòng kế hoạch đặt ra là 27.182 trẻ. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hoá, thể thao luôn không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh, trong tháng 11/2024 trong tỉnh đã tổ chức giải leo núi chùa Hương Tích (Can Lộc - Hà Tĩnh) năm 2024 đã thu hút hơn 500 VĐV tham gia để thực hiện thông điệp: “Vượt qua chính mình - mãi mãi vươn xa”Ngoài ra Hà Tĩnh cũng đạt một số thanh tích tiêu biểu như: 01 cá nhân đạt giải nhì tại Cuộc thi trực tuyến toàn quốc tìm hiểu nội dung cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Tại Giải Điền kinh vô địch quốc gia năm 2024 vừa diễn ra ở Đồng Nai, đoàn Hà Tĩnh xuất sắc giành 11 huy chương, xếp thứ 4 toàn đoàn, đây là giải đấu là tiền đề giúp đội tuyển điền kinh Việt Nam chọn lọc lực lượng hướng đến SEA Games 33 diễn ra vào tháng 12-2025 tại Thái Lan. Cũng trong tháng ngay sau khi UBND tỉnh phát động "Tháng hành động vì bình đẳng giới và ngăn ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2024” với chủ đề “Đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái nhằm thực hiện bình đẳng giới và xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới”, các địa phương trong toàn tỉnh đã triển khai hưởng ứng với nhiều hoạt động thiết thực như tổ chức chương trình truyền thông về bình đẳng giới, biểu dương các gia đình sinh hai con một bề là gái tiêu biểu, tổ chức các diễn đàn “Lắng nghe trẻ em nói”… 4. Tình hình an toàn giao thông Công tác an toàn giao thông luôn được các cấp ngành quan tâm thực hiện, nhất là những tháng giáp Tết, tháng 11/2024 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 26 vụ tai nạn đường bộ, làm 15 người chết, 16 người bị thương (giảm 3 vụ và giảm 6 người chết nhưng tăng 3 người bị thương so với tháng trước) ngoài ra, cũng trong tháng đã xảy ra 01 vụ tai nạn đường sắt, làm 01 người chết (tăng 01 vụ, tăng 01 người chết, người bị thương không thay đổi so với tháng trước). Giá trị thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông trong tháng ước tính khoảng 85 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2024, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 373 vụ tai nạn đường bộ, làm 205 người chết và 230 người bị thương, so với cùng kỳ năm trước tăng 61 vụ, tăng 38 người bị thương và tăng 34 người chết. Tai nạn đường sắt xảy ra 4 vụ, làm 02 người chết và 01 người bị thương, không xảy ra tai nạn đường thuỷ. 5. Môi trường Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn: đã xảy 8 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 1462,3 triệu đồng (giảm 01 vụ so với tháng trước), không xảy ra vụ thiên tai nào. Tính chung 11 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/11/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 82 vụ cháy, không để xảy ra vụ nổ nào, không có thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 2.198,4 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 24 vụ cháy và 01 vụ nổ, giảm 01 người bị thương, giá trị thiệt hại giảm hơn 2,1 tỷ đồng. Vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 5 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 5 vụ, với tổng số tiền xử phạt 14,55 triệu đồng; giảm 12 vụ phát hiện, giảm 17 vụ đã xử lý và giảm 321,45 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước. So với cùng kỳ giảm 9 vụ phát hiện, giảm 5 vụ đã xử lý và giảm 9,7 triệu đồng bsố tiền xử phạt. Tính chung 11 tháng năm 2024, toàn tỉnh đã phát hiện 254 vụ vi phạm môi trường, giảm 174 vụ (giảm 40,65%); đã xử phạt 241 vụ, giảm 212 vụ (giảm 45,79%) với tổng số tiền xử phạt là 1.634,05 triệu đồng, giảm 152,59 triệu đồng (giảm 10,30%) so với cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2024
- 05/11/2024 09:20
I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Sản xuất trồng trọt trong tháng 10/2024 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2024, cũng vào thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam… đang thu hoạch chính vụ. Đây cũng là thời điểm người dân tích cực tăng đàn chăn nuôi, vỗ béo, phòng trừ dịch bệnh để chuẩn bị nguồn cung vào dịp Tết cuối năm. Năm nay giá lợn hơi tương đối cao nên người dân cũng mạnh dạn đầu tư tăng đàn, hy vọng mức giá này sẽ ổn định vào cuối năm để người chăn nuôi có một mùa tết nguyên đán thắng lợi và từ đó có điều kiện mở rộng chăn nuôi vào những lứa tiếp theo. 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1. Trồng trọt * Sản xuất cây hàng năm Hiện nay, Hà Tĩnh đang tích cực triển khai kế hoạch sản xuất vụ Đông năm 2024 với mục tiêu phủ kín diện tích đất màu, đất vườn. Tuy nhiên, vụ Đông năm nay được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức về thời tiết, đặc biệt là mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại cuối vụ. Kết quả sản xuất vụ Mùa: Sản xuất vụ Mùa 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng nóng nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy. Một số cây trồng như: Cây lúa: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 166 ha, bằng 52,20% (giảm 152 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do một số xã gieo trồng cây lúa vụ Mùa không có hiệu quả nên chuyển sang sản xuất vụ Hè Thu. Ngoài ra, do thời tiết nắng nóng đã ảnh hưởng đến quá trình gieo trồng và phát triển của cây lúa. Bên cạnh đó, tiền công thuê cày bừa cao, sản lượng thu hoạch đạt thấp nên người dân cũng không mặn mà sản xuất. Diện tích gieo trồng lúa Mùa huyện Nghi Xuân đạt 55 ha (giảm 25 ha), huyện Thạch Hà đạt 5 ha (giảm 46 ha), huyện Lộc Hà đạt 106 ha (giảm 81 ha). Cây lấy củ có chất bột: Diện tích cây lấy củ có chất bột ước tính đạt 236 ha, bằng 95,54% (giảm 11 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng rau các loại vụ Mùa ước tính đạt 212 ha, bằng 104,47% (tăng 11 ha) so với cùng kỳ năm trước. Kết quả sản xuất vụ Đông: Thời tiết vụ Đông năm nay khả năng chịu ảnh hưởng của mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại giai đoạn cuối vụ. Vì vậy, cần chủ động, linh hoạt trong bố trí thời vụ và cơ cấu cây trồng để né tránh thiên tai, hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn, hiệu quả sản xuất. Tổ chức sản xuất, huy động tối đa nguồn lực sản xuất, phấn đấu sản xuất phủ kín diện tích đất màu, đất vườn; chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa ở những vùng có điều kiện thoát nước tốt để mở rộng tối đa diện tích vụ Đông, tăng hệ số sử dụng đất. Trên cơ sở khung thời vụ và thời gian sinh trưởng các giống, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của từng địa phương, từng vùng, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, bố trí thời vụ gieo trồng phù hợp đảm bảo sản xuất an toàn, hiệu quả. Năm nay, diện tích cây dứa liên kết với Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao từ nay đến cuối vụ Đông trồng khoảng 330 ha, nâng tổng diện tích trồng dứa năm nay đạt 400 ha tại các địa phương như huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Vũ Quang. * Sản xuất cây lâu năm Cây lâu năm hiện nay người dân đang tập trung đầu tư thâm canh trên diện tích hiện có; trồng mới và trồng tái canh với quy mô phù hợp kết hợp ứng dụng khoa học kỹ thuật; chú trọng phòng trừ sâu bệnh giai đoạn sau thu hoạch; trồng thay thế, bổ sung các diện tích hư hỏng. Thực hiện các biện pháp bảo vệ các vườn cây trong mùa mưa lũ, chủ động các giải pháp tiêu úng kịp thời khi gặp mưa lũ, phòng trừ hiệu quả các loại sâu, bệnh để đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm. Năm nay thời tiết thuận lợi cùng với quá trình chăm sóc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật nên năng suất và chất lượng cam, bưởi được nâng lên. Sản lượng cam, bưởi dự báo cao hơn so với năm trước. Các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống và tiếp tục tái đầu tư phát triển sản xuất. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô 3-7 lá, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 18 ha; sâu đục thân, đục bắp gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-5%, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 30 ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê… Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 23 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 37 ha; sâu vẽ bùa 16 ha; ruồi đục quả, ngài chích hút 125 ha; bệnh chảy gôm, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê. 1.1.2. Sản xuất chăn nuôi Kết quả sản xuất chăn nuôi: So cùng kỳ năm trước, đàn trâu hiện có 66.863 con, bằng 99,28%; đàn bò hiện có 164.562 con, bằng 97,57%; đàn lợn hiện có 410.210 con, bằng 103,76%, đàn gia cầm hiện có 10.285 ngàn con, bằng 103,99%, trong đó đàn gà hiện có 8.524 ngàn con, bằng 102,58% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 10 là thời điểm người dân tích cực tăng đàn chăn nuôi, vỗ béo, phòng trừ dịch bệnh để chuẩn bị nguồn cung vào dịp Tết cuối năm. Năm nay giá lợn hơi tương đối cao nên người dân cũng mạnh dạn đầu tư tăng đàn, hy vọng mức giá này sẽ ổn định vào cuối năm để người chăn nuôi có một mùa tết thắng lợi và từ đó có điều kiện mở rộng chăn nuôi vào những lứa tiếp theo. Tuy nhiên, theo khuyến cáo của ngành chuyên môn, thời điểm này thời tiết diễn biến thất thường tạo cơ hội cho dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm phát triển. Vì thế, người chăn nuôi cần chú trọng tiêm vắc-xin phòng dịch đầy đủ, tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại thường xuyên. Phát hiện dịch bệnh phải thông báo ngay cho cơ quan chức năng kịp thời xử lý, không để dịch bệnh lan ra diện rộng. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm 2024 đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra một số loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc như: Dịch tả lợn Châu Phi, Viêm da nổi cục, lở mồm long móng trên trâu, bò. Nhìn chung, các loại dịch bệnh xảy ra với quy mô nhỏ, được khống chế, dập tắt ở diện hẹp, cụ thể như: - Dịch Viêm da nổi cục trên trâu bò: Xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) làm cho 156 con bò mắc bệnh, trong đó có 20 con chết, tiêu hủy với khối lượng 3.411 kg. - Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện, thị xã (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Kỳ Anh) làm cho 182 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy khối lượng 12.471,6 kg. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tháng 10 ước đạt 1.922 ha, bằng 101,42% (tăng 27 ha), sản lượng gỗ khai thác ước đạt 63.154 m3 bằng 103,27% (tăng 1.997 m3). Hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Đây là tháng có thời tiết mát mẻ, mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng, chăm sóc rừng và cũng là thời điểm các chủ rừng tranh thủ thu hoạch các diện tích đến tuổi khai thác để tránh thiệt hại do mưa bão gây ra nên sản lượng đạt khá cao so với các tháng trước. Tính chung 10 tháng năm 2024 diện tích rừng trồng mới ước đạt 6.890 ha, bằng 102,88% (tăng 193 ha), sản lượng gỗ khai thác ước đạt 416.836 m3 bằng 110,67% (tăng 40.195 m3) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng và lâm sản khai thác vẫn chủ yếu tập trung ở các địa phương: Huyện Hương sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh. Thiệt hại về rừng: Trong tháng 10 không xảy ra cháy rừng, nhưng xảy ra 6 vụ phá rừng, với diện tích diện tích rừng bị phá 1,7 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 25/10/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14 ha) và 51 vụ phá rừng (giảm 60 vụ), với diện tích rừng bị phá là 13,94 ha (giảm 26,53 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Tình hình sản xuất và khai thác thủy hải sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng lại giảm so với tháng trước. Sản lượng chỉ đạt hơn 50% so với tháng trước, do hiện nay bước vào mùa mưa bão, biển động nên tàu thuyền ít ra khơi đánh bắt cộng với nguồn thủy hải sản sinh sôi ít hơn những tháng trước. Bên cạnh đó hoạt động nuôi trồng do mới thu hoạch xong vụ Xuân Hè người dân tiếp tục thả nuôi vụ mới phục vụ tết nguyên đán nên sản lượng nuôi trồng đạt giảm. Tình hình cụ thể: - Sản xuất và khai thác thủy hải sản: Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng ước đạt 4.340 tấn, bằng 102,46% (tăng 104 tấn), trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.192 tấn, bằng 102,67% (tăng 83 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.148 tấn, bằng 101,86% (tăng 21 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2024, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 51.978 tấn, bằng 103,42% (tăng 1.720 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 36.624 tấn, bằng 103,35% (tăng 1.188 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 15.354 tấn, bằng 103,59% (tăng 532 tấn) so cùng kỳ năm trước. Trong tháng ước tính đã sản xuất được 27 triệu con giống tôm thẻ, giảm 3 triệu con so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2024, ước tính sản xuất được 537 triệu con tôm giống, tăng 13 triệu con so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 17 triệu con giống tôm sú và 520 triệu con giống tôm thẻ. Dự báo trong những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản dự kiến sẽ đạt thấp hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng xảy ra bệnh đốm trắng trên tôm tại 09 hộ nuôi thuộc 04 xã, 3 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, Thạch Hà) với diện tích 8.85 ha. Hiện nay, còn 0.25 ha diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng tại xã Thạch Long, huyện Thạch Hà chưa qua 15 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp tính chung 10 tháng năm 2024 giảm 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp giảm là do chịu ảnh hưởng lớn nhất từ ngành sản xuất kim loại sụt giảm dẫn đến tăng trưởng ngành chế biến chế tạo, cũng như toàn ngành công nghiệp chưa đạt như kỳ vọng. Cùng với đó là ngành sản xuất và phân phối điện cũng chững lại khi mà tổ máy số 2 của nhà máy nhiệt nhiệt điện 1 trong tháng 8 và tháng 9/2024 đang tạm ngừng để bảo dưỡng. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 10/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,13% so với tháng trước và giảm 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 3,38% so với tháng trước và tăng 29,35% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 4,96% so với tháng trước và giảm 3,98% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 49,75% so với tháng trước và tăng 8,62% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước giảm 10,5% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 5,11%. Ước tính 10 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 1,37% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 32,42% (đóng góp 0,39 điểm vào mức tăng chung toàn ngành); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,25% làm giảm 4,26 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,96% đóng góp 2,2 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,71% đóng góp 0,28 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Thời gian tới ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như: Sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực; tổ máy số 2 nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 đã hoàn thành trùng tu, đi vào hoạt động từ giữa tháng 10; nhà máy sợi Nghệ Tĩnh đi vào sản xuất thương mại ổn định, sản lượng bình quân dự tính đạt gần 400 tấn/1 tháng. Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như: Sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc vào thị trường; nhà máy thép Formosa gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu thép ra thị trường ngoài nước. Do đó, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất khó khăn; đòi hỏi sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm sản phẩm cộng dồn 10 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 100,63%; đá xây dựng khác tăng 31,07%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 20,82%; bia đóng lon tăng 19,86%; điện sản xuất tăng 16,3%; bê tông trộn sẵn tăng 14,03%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Mực đông lạnh giảm 80,11%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 25,06%; sản xuất dược phẩm giảm 8,87%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,55%; chè (trà) nguyên chất, chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 3,2% và sản xuất sợi giảm 1,34%. Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị nhằm đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu trong năm nay. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2024 tăng 0,02% so với tháng trước, giảm 5,41% so với cùng kỳ năm trước. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối tháng 10 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 2,32% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 4,03% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,17% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,15%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,68% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa có Văn bản số 6220-CĐ/UBND, ngày 17/10/2024 yêu cầu các đơn vị thực hiện quyết liệt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, tiếp tục đề cao trách nhiệm, tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 104/CĐ-TTg ngày 08/10/2024 về việc đôn đốc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2024. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2024 ước đạt 995,92 tỷ đồng, tăng 8,71% so với tháng trước và tăng 82,89% so với cùng kỳ năm nước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 777,55 tỷ đồng, tăng 7,25% so với tháng trước và tăng 79,06% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 169,57 tỷ đồng, tăng 12,63% so với tháng trước và tăng 105,39% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 48,80 tỷ đồng, tăng 20,3% so với tháng trước và tăng 75,96% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 10, với sự quyết tâm đảm bảo tiến độ thi công các công trình nên các đơn vị thi công vẫn đảm bảo tiến độ đề ra, vốn đầu tư thực hiện tăng hơn so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước do nguồn vốn bổ sung kế hoạch vốn năm 2024 được bổ sung vào cuối tháng 8/2024 nên nguồn vốn thực hiện và giải ngân dồn vào những tháng cuối năm. Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng năm 2024 ước đạt 4.864,40 tỷ đồng, đạt 71,35% kế hoạch năm, tăng 13,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.401,37 tỷ đồng, đạt 67,53% kế hoạch vốn, tăng 4,9% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 1.122,72 tỷ đồng, đạt 80,58% kế hoạch vốn, tăng 51,75% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 340,30 tỷ đồng, đạt 87,68% kế hoạch vốn, tăng 6,17% so với cùng kỳ. Nguyên nhân kết quả vốn đầu tư thực hiện đến cuối tháng báo cáo tăng 13,05% so với cùng kỳ năm trước, do năm nay kế hoạch vốn tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm trước, bên cạnh đó tình hình thời tiết từ đầu năm đến nay thuận lợi cho việc thi công các công trình, nguồn vốn giải ngân được đảm bảo nên các chủ đẩu tư đẩy nhanh tiến độ thi công. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 10 và 10 tháng năm 2024 tăng trưởng khá ổn định. Thị trường hàng hoá, dịch vụ càng về cuối năm càng sôi động, do từ đầu năm 2024 tỉnh đã triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình bình ổn thị trường, tổ chức kết nối doanh nghiệp phân phối của tỉnh với nguồn hàng tại các địa phương nhằm bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu. Dự báo trong thời gian tới, ngành thương mại - dịch vụ tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế tỉnh nhà. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 10/2024 doanh thu ước đạt 5.892,74 tỷ đồng, tăng 2,10% so với tháng trước, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng biến động tăng khá so với tháng trước, như xăng, dầu, may mặc, kim loại quý và hàng hoá khác khi nhu cầu và giá cả các loại hàng hoá tăng. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố mùa vụ như trùng dịp lễ 13/10, 20/10, thời tiết chuyển giao mùa. Bên cạnh đó cũng có các nhóm hàng có doanh thu giảm so với tháng trước như vật phẩm văn hoá, giáo dục, ô tô và phương tiện đi lại… do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập giảm dần sau đợt cao điểm trong những tháng trước, mặc dù thị trường ô tô tháng 9, tháng 10 đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên vẫn chưa đạt mức so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2024, doanh thu bán lẻ ước đạt 57.404,85 tỷ đồng, tăng 18,47% so với cùng kỳ năm trước. Do các chính sách kích cầu như giảm thuế VAT 2% các mặt hàng thiết yếu, tăng lương cơ bản, dự kiến giảm lãi suất cho vay nhằm đảm bảo mức tiêu dùng cho người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, với Nghị định 1010/2024/NĐ-CP về “việc giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ (LPTB) đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước” có hiệu lực thi hành từ 01/10/2024 đến 30/11/2024 đã có tác động tích cực trung bình 8 tháng năm 2024, nhóm hàng ô tô con đạt hơn 187 tỷ đồng/tháng, riêng 2 tháng (tháng 9 và 10) ước đạt hơn 340 tỷ. Dự báo về cuối năm thị trường bán lẻ càng sôi động, mặc dù đang trong tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế, giá cả các loại hàng hoá đều có biến động tăng nhưng nhu cầu người dân vẫn ưu tiên tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cho nên doanh thu các mặt hàng lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, may mặc, đồ dùng gia đình… chiếm tỷ trọng doanh thu lớn trong tổng mức và tăng trưởng khá ổn định tiếp tục. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 10/2024 ước ước đạt 798,33 tỷ đồng, tăng 4,64% so với tháng trước, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong tháng hoạt động lưu trú, lữ hành giảm mạnh so với tháng trước do thời tiết và tính chất mùa vụ nhưng hoạt động ăn uống vẫn duy trì ổn định, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình ngày càng tăng. Tính chung 10 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 7.120,31 tỷ đồng, tăng 12,43% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm 95,76% tổng doanh thu) tăng 12,67% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định chứng tỏ đời sống người dân đang dần cải thiện. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên thời gian tới khi mùa du lịch cao điểm đã qua thì 2 nhóm ngành này dự ước sắp tới sẽ tiếp tục giảm doanh thu. Tỉnh nhà cần có chính sách về du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch. Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 10 ước đạt 384,44 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 7,48% so với cùng kỳ năm trước, trong tháng ảnh hưởng thời tiết giao mùa, thay đổi thất thường tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế. Bên cạnh đó bước vào mùa cưới hỏi cũng như các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công nên như cầu các dịch vụ cho thuê đồ dùng gia đình, máy móc… tăng khá. Tính chung 10 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.792,61 tỷ đồng, tăng 7,50% so với cùng kỳ năm trước, trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng bất động sản là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương. Cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản giảm 11,06% do một phần tiền đang được “ngâm” trong lĩnh vực chứng khoán và vàng; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,86% do ngành cho thuê máy móc, thiết bị …tăng trưởng mạnh (tăng 16,07%); nhóm ngành giáo dục đào tạo tăng 8,55% do tăng chi phí học bằng lái xe; nhóm hàng y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 19,36% do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế từ ngày 19/11/2023; nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 41,52% và dịch vụ khác tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy đời sống người dân tỉnh nhà ngày càng được nâng cao. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tháng 10 và 10 tháng năm 2024 tăng trưởng khá. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao, các loại phương tiện tải trọng lớn đang được chú trọng đầu tư thay thế các loại phương tiện cũ, trọng tải thấp. Công tác quản lý, đăng kiểm phương tiện, tuần tra kiểm soát giao thông được quản lý chặt chẽ, tăng cao tính an toàn khi lưu thông. Bên cạnh đó, sự có mặt của xe taxi điện với các ứng dụng gọi xe công nghệ cũng góp phần tăng cường hoạt động vận tải hành khách. Doanh thu hoạt động kho bãi, logistics cũng tăng mạnh so năm trước do sự mở rộng của hệ thống cầu cảng tại khu kinh tế Vũng Áng. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 10 doanh thu ước đạt 681,80 tỷ đồng, tăng 3,93% so với tháng trước, tăng 10,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 6,27% so với tháng trước và tăng 20,45% so với cùng kỳ năm trước, do trong tháng tình hình thời tiết mưa nhiều cộng với việc trùng các gày lễ nên nhu cầu phương tiện đi lại tăng. Vận tải hàng hóa chiếm 63,07% tỷ trọng doanh thu, tăng 3,09% so với tháng trước và tăng 7,23% so với cùng kỳ do những tháng cuối năm, tiến độ xây dựng các công trình được đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thiện, nhất là khắc phục hư hỏng sau lũ; bên cạnh đó các đầu mối bán buôn đẩy mạnh thu gom, tích trữ hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm hàng hóa dịp cuối năm. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải cũng tăng 4,51% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ do tăng dịch vụ kho bãi đường biển bốc xếp hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua Cảng Sơn Dương và Cảng Vũng Áng. Tính chung 10 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu ước đạt 7.052,3 tỷ đồng, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 39,61%; hàng hoá tăng 14,88% và dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng 28,85%. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp vận tải đã và đang đẩy mạnh áp dụng công nghệ số, như hệ thống quản lý kho thông minh và theo dõi lộ trình xe tải qua GPS. Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi, xu hướng sử dụng phương tiện vận tải thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng với nhiều doanh nghiệp chuyển sang sử dụng xe điện hoặc xe hybrid. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như giá nhiên liệu biến động, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng cao từ khách hàng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất - nhập khẩu trong tháng 10 có dấu hiệu khởi sắc hơn sau thời gian dài gặp khó khăn. Trị giá xuất - nhập khẩu trong tháng ước đạt 499,4 triệu USD, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 14,52% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng năm 2024 hoạt động xuất - nhập khẩu đang gặp khó khăn khi trị giá xuất khẩu mặt hàng chủ lực thép vẫn đang giảm khá sâu. Tổng giá trị xuất nhập khẩu 10 tháng đạt 5.069,75 triệu USD giảm 1,94% so với cùng kỳ (giảm 100,24 triệu USD). Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 10/2024 ước đạt 210,8 triệu USD, giảm 0,24% so với tháng trước nhưng tăng đến 24,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng ước đạt 186,2 triệu USD (chiếm 88,33% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), giảm 0,62% so với tháng trước và tăng 21,76% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh mặt hàng thép, phôi thép có giảm nhẹ so với tháng trước thì các mặt hàng chủ lực khác tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước, nhất là các mặt hàng dăm gỗ, xơ sợi… Tính chung 10 tháng năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.926,05 triệu USD, giảm 10,43% (giảm 224,22 triệu USD) so với cùng kỳ. Nguyên nhân do tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát và tăng lãi suất, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, nên mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, chỉ tính riêng xuất khẩu của Formosa 10 tháng năm 2024 (chiếm 92,46% giá trị xuất khẩu) đã giảm đến 12,41% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các cũng giảm đến 30,58% so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu của mặt hàng chè, dăm gỗ, dệt và may mặc tăng, tuy nhiên do những mặt hàng này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nên không tác động nhiều đến kết quả xuất khẩu chung. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 10/2024 ước đạt 288,6 triệu USD, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 8,42% so với cùng kỳ năm trước, do như cầu hàng hoá nhập khẩu dịp cuối năm. Tính chung 10 tháng năm 2024 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.143,7 triệu USD tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá trị nhập khẩu của Formosa ước đạt 2.355,59 triệu USD, chiếm 74,93% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, tăng 8,80% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD, với kết quả đến tháng 10 mới chỉ đạt hơn 1,9 tỷ USD, đặt áp lực rất lớn vào 2 tháng cuối năm, vì vậy, dự ước những tháng tới hoạt động xuất khẩu sẽ khởi sắc hơn nhưng vẫn khó hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 10 có biến động mạnh ở nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; giá khí đốt gas hóa lỏng và dầu hỏa biến động tăng theo thị trường thế giới. Chỉ số giá bình quân tháng 10/2024 tăng 1,05% so với tháng trước nhưng so cùng kỳ đã tăng đến 6,01%. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và ngày càng tăng mạnh vào những ngày cuối tháng. Chỉ số CPI chung tháng 10 ngoài nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng biến động mạnh thì các nhóm hàng khác cơ bản không biến động nhiều. So với cùng kỳ năm trước với mức tăng 6,01%, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì chỉ có 2 nhóm hàng có biến động giảm là giao thông và bưu chính viễn thông do mặc dù việc giá xăng, dầu trong tháng điều chỉnh tăng sau các kỳ điều chỉnh gần đây nhưng giá so với cùng tháng năm trước đang ở mức thấp. Còn lại các nhóm hàng khác đều có mức tăng giá cao, đặc biệt các mặt hàng thiết yếu là ăn và dịch vụ ăn uống tăng đến 8,15%, trong đó: Lương thực tăng 10,85%, thực phẩm tăng 6,10% và ăn uống ngoài gia đình tăng đến 15,83%. Tính chung 10 tháng năm 2024, CPI bình quân tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 4,24%, nông thôn tăng 3,31%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Trong năm 2024, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức thấp, khoảng 3-4%. Dự báo CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Dự kiến CPI sang tháng 11 trong tỉnh dự kiến tiếp tục tăng, cụ thể giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống, may mặc, đồ dùng gia đình… sẽ tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa và việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn; giá dầu thô trên thị trường thế giới ở mức cao khiến giá xăng dầu có thể tiếp tục tăng; giá gạo cũng tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm giảm dần. Cùng với đó, việc giá điện cơ sở được điều chỉnh cũng có thể tác động đến giá điện sinh hoạt bình quân tăng theo II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Hiện nay đang là tháng cao điểm “Vì người nghèo” các hoạt động gắn với chào mừng kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2024) và Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X. Trên địa bàn đã tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà; khởi công, bàn giao nhà đại đoàn kết; hỗ trợ mô hình sinh kế, hỗ trợ phát triển sản xuất... Phối hợp hướng dẫn rà soát, lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo đảm bảo chính xác; phân loại hộ nghèo theo nhu cầu cần hỗ trợ (nhà ở, phát triển sản xuất,...); rà soát hộ có nhà tạm, nhà dột nát để xây dựng các phương án hỗ trợ phù hợp, góp phần thực hiện tốt Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong năm 2025”. Đồng thời, đây cũng là tháng trùng với các ngày lễ như ngày Doanh nhân Việt Nam, ngày Phụ nữ Việt Nam… nhằm mang đến cơ hội mua sắm với giá thành khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng dịp cuối năm, nhiều cửa hàng bán lẻ trên địa bàn đang áp dụng các chương trình ưu đãi, sức mua tăng, đẩy mạnh doanh thu trong những tháng cuối năm. Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn 10 tháng năm 2024 ổn định, công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ và triển khai kịp thời. Việc điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng giúp người thụ hưởng cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội. 2. Giáo dụcNăm học 2024-2025, toàn tỉnh có 668 trường mầm non và phổ thông, trong đó có 28 trường ngoài công lập, so với năm học trước, hệ thống mạng lưới trường học ổn định. Cơ sở vật chất, thiết bị cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học trong năm học mới. Số phòng học kiên cố chiếm tỷ lệ khá cao: Mầm non 94,1%, tiểu học 96,8%; THCS 98,7%; THPT 100%. Đạt 100% trường học của tỉnh đảm bảo tỷ lệ 1 phòng học/1 lớp. Với nhiều giải pháp đồng bộ, đội ngũ giáo viên các cấp học trên địa bàn tỉnh năm học 2024-2025 cơ bản đảm bảo số lượng, chất lượng để triển khai chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên. Đội ngũ giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng có chất lượng, nhất là giáo viên dạy lớp 5, lớp 9 và lớp 12. Một số khó khăn đầu năm học của tỉnh là việc mua sắm bổ sung thiết bị dạy học thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chưa được thực hiện kịp thời; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhiều nơi xuống cấp, thiếu phòng học bộ môn, phòng chức năng; còn tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ theo bộ môn; chưa có đủ giáo viên được đào tạo để dạy môn tích hợp cấp THCS; phải điều động giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật cấp THCS lên dạy THPT; phát hành tài liệu giáo dục địa phương còn gặp khó khăn do vướng mắc về luật đấu thầu… Đặc biệt, để góp phần khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, thừa thiếu cục bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 2091/QĐ-UBND ngày 28/8/2024 về việc phê duyệt chỉ tiêu, cơ cấu tuyển dụng viên chức giáo dục và điều chuyển, biệt phái giáo viên năm học 2024-2025. 3. Hoạt động y tế Trong tháng trên địa bàn tỉnh ghi nhận 34 trường hợp sốt phát ban dạng sởi (xảy ra tại huyện Hương Khê), theo kết quả xét nghiệm, đã có 14 trường hợp dương tính với bệnh sởi. Mặc dù ngành chức năng và các địa phương đã triển khai công tác tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh và tăng tỷ lệ bao phủ tiêm chủng cho người dân song dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Đến ngày 22/10/2024 toàn tỉnh đã có gần 100 ca mắc sởi với các ổ dịch ở huyện Đức Thọ, Hương Khê, Lộc Hà. Trước diễn biến phức tạp của bệnh sởi, ngành Y tế đang triển khai tiêm vắc-xin tại một số địa phương để gia tăng miễn dịch cộng đồng.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, trên địa bàn trên địa bàn phát hiện 1 ca chết vì AIDS và không có ca phát hiện mới và chuyển qua AIDS. Tính chung 10 tháng năm 2024 đã có 26 người nhiễm mới HIV, 20 người chuyển thành AIDS, 6 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 13 người nhiểm mới HIV, giảm 11 người chuyển thành AIDS nhưng số người chết vì AIDS chỉ tăng 1 người.Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào nhưng có 49 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 1 vụ ngộ độc tập thể và 40 ca ngô độc đơn lẻ so với tháng trước). Các ca ngộ độc được điều trị kịp thời không có ca nào tử vong. Tính chung 10 tháng năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc tập thể khiến 13 người bị ngộ độc và có 730 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 29 người ngộ độc tập thể và giảm 74 ca ngộ độc đơn lẻ. Bên cạnh diễn biến tình hình các dịch bệnh, ngành Y tế trong tháng cũng ghi nhận sự thành công của ca phẫu thuật u tuyến giáp tại Trung tâm Y tế huyện Đức Thọ cùng sự phối hợp với các bác sỹ nội trú Bệnh viện Trung ương Huế tạo cơ hội điều trị cho các bệnh nhân địa phương, giảm thiểu áp lực cho tuyến trên.4. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hoá, thể thao trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh, một số kết quả hoạt động động tiêu biểu có thể kể đến như: Về hoạt động văn hóa: Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh đã xuất sắc giành 4 huy chương tại Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc, trong đó có 1 huy chương vàng và 3 huy chương bạc. Sáng 11/10/2024, xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Xuyên tổ chức hội thi gói bánh chưng, góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, khơi dậy tinh thần đoàn kết chung tay xây dựng xã nông thôn mới nâng cao. Cũng trong tháng, tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và 110 năm Ngày sinh anh Lý Tự Trọng. Tối ngày 11/10/2024, tại bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê đã diễn ra buổi giao lưu văn hóa giữa đồng bào dân tộc Chứt của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình Hoạt động thể thao: Về Thể thao thành tích cao, tại Giải Đua thuyền Rowing Vô địch châu Á diễn ra từ ngày 10 -13/10 tại Uzbekistan, Hà Tĩnh có VĐV tham gia giải và giành được 02 huy chương (1 HCV, 1 HCB).Từ ngày 16 - 18/10, tại Khu Thể thao K9 huyện Hương Sơn phối hợp với Sở VH-TT&DL tổ chức Giải Bóng chuyền nữ năm 2024, thu hút gần 200 vận động viên đến từ 13 đội của các huyện, thị xã, thành phố tham gia tranh tài.5. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng đã xảy ra 29 vụ tai nạn đường bộ, làm 21 người chết, 13 người bị thương (tăng 7 vụ; tăng 4 người chết; tăng 4 người bị thương so với tháng trước), giá trị thiệt hại ước tính khoảng 85 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2024, đã xảy ra 347 vụ tai nạn đường bộ, làm 190 người chết, 214 người bị thương, thiệt hại 2,17 tỷ đồng, giảm 73 vụ, giảm 37 người bị thương, số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tai nạn đường sắt xảy ra 3 vụ, làm 1 người chết, 1 người bị thương (giảm 1 vụ và 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước), đến hiện nay không xảy ra tai nạn đường thuỷ. 6. Môi trường Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn: Trong tháng đã xảy 9 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 139,27 triệu đồng (giảm 1 vụ so với tháng trước), không xảy ra vụ thiên tai nào. Tính chung 10 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/10/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 74 vụ cháy, không để xảy ra vụ nổ nào, không có thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 736,1 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 29 vụ cháy và 1 vụ nổ, giảm 1 người chết và 1 người bị thương, giá trị thiệt hại giảm hơn 3,6 tỷ đồng.Vi phạm môi trường: Trong tháng, phát hiện 17 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 22 vụ, với tổng số tiền xử phạt 336 triệu đồng; giảm 4 vụ phát hiện, giảm 6 vụ đã xử lý và giảm 176,46 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước giảm 22 vụ phát hiện, tăng 3 vụ đã xử lý và tăng 281,4 triệu đồng số tiền xử phạt. Tính chung 10 tháng năm 2024, phát hiện 249 vụ vi phạm môi trường, giảm 165 vụ (giảm 39,86%) và đã xử phạt 236 vụ, giảm 217 vụ (giảm 47,9%). Tổng số tiền xử phạt là 1.619,5 triệu đồng, giảm 162,29 triệu đồng (giảm 11,14%) so với cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2024
- 10/10/2024 08:12
Năm 2024 là năm gần cuối nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm 2021-2025. Trong quý III cũng như 9 tháng vừa qua, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn thách thức. Tuy nhiên, nền kinh tế tỉnh Hà Tĩnh vẫn đạt mức tăng khá. Các dự án công nghiệp lớn trên địa bàn được đảm bảo tiến độ. Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, vụ Xuân, vụ Hè Thu được mùa toàn diện. Du lịch, dịch vụ đạt mức tăng khá, các hoạt động quảng bá du lịch, hoạt động vui chơi giải trí diễn ra sôi nổi. Giải ngân đầu tư công, các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược theo định hướng Quy hoạch tỉnh được đẩy mạnh triển khai. Bên cạnh những điểm nổi trội thì nền kinh tế công nghiệp tỉnh nhà vẫn chưa phục hồi rõ nét, tăng trưởng chưa đạt theo kế hoạch đề ra, tạo áp lực cho những tháng cuối năm 2024. Trong bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1.Trồng trọt a. Cây hàng năm: Trong 9 tháng năm 2024, tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất thu hoạch đạt cao, đặc biệt trên cây lúa thắng lợi ở cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu. Việc thay đổi thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún của người dân, tạo bước đệm cho việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, quy mô lớn. Đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện được 11.609 ha, đạt 77,4% kế hoạch Nghị quyết HĐND tỉnh đưa ra đến năm 2025. Một số huyện có diện tích tập trung, tích tụ lớn đó là huyện Can Lộc 3.866 ha, huyện Thạch Hà 2.718 ha, huyện Cẩm Xuyên 1.528 ha,… Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2024 ước đạt 156.209 ha, bằng 99,22%, giảm 1.226 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cây lúa: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước tính đạt 104.190 ha, bằng 100,21% (tăng 215 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích lúa tăng chủ yếu tăng ở vụ Hè Thu do năm trước hạn hán, người dân bỏ hoang nhiều, năm nay thời tiết thuận lợi, thu hoạch vụ đông xuân sớm, các điều kiện sản xuất được đảm bảo, đặc biệt giá lúa tăng, thương lái thu mua tại chỗ nên khuyến khích người dân khai hoang sản xuất. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu đều thắng lợi, năng suất bình quân chung đạt cao nhất từ trước đến nay ước đạt 57,21 tạ/ha, bằng 102,89% (tăng 1,61 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lúa 9 tháng năm 2024 ước tính đạt 595.993 tấn, bằng 103,09% (tăng 17.885 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 14.383 ha, bằng 100,07% (tăng 10 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô 9 tháng ước đạt 50,39 tạ/ha, bằng 107,34% (tăng 3,45 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng ngô 9 tháng ước tính đạt 72.474 tấn, bằng 107,42% (tăng 5.005 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước đạt 3.335 ha, bằng 98,06% (giảm 66 ha) so với năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu là do một số xã chuyển từ một số đất trồng khoai không hiệu quả sang trồng ngô, ngoài ra một số huyện diện tích đất do nhà nước thu hồi để thực hiện các dự án. Năng suất khoai lang 9 tháng ước đạt 74,48 tạ/ha, bằng 99,14% (giảm 0,65 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang 9 tháng ước đạt 24.840 tấn, bằng 97,21% (giảm 712 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Cây lạc: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước đạt 6.981 ha, bằng 88,2% (giảm 934 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Năng suất thu hoạch lạc 9 tháng ước đạt 27,81 tạ/ha, bằng 98,53% (giảm 0,41 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lạc 9 tháng ước đạt 19.413 tấn, bằng 86,9% (giảm 2.926 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại: Trong 9 tháng năm 2024, diện tích gieo trồng rau ước đạt 13.854 ha, bằng 98,57% (giảm 201 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau ước tính đạt 72,67 tạ/ha, bằng 102,77% (tăng 1,96 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng rau ước đạt 100.699 tấn, bằng 101,3% (tăng 1.294 tấn) so với cùng kỳ năm trước.. Cây đậu: Diện tích đậu các loại ước đạt 2.472 ha, bằng 100,96% (tăng 23 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất đậu các loại ước đạt 10,18 tạ/ha, bằng 98,10% (giảm 0,2 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng đậu các loại ước đạt 2.516 tấn, bằng 99,04% (giảm 24 tấn) so với cùng kỳ năm trước. b. Cây lâu năm Những năm gần đây, thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tập trung nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích nên các loại cây ăn quả có giá trị cao được đầu tư, chăm sóc để nâng cao chất lượng hướng tới sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung, quy mô lớn, liên kết trong bao tiêu sản phẩm; bên cạnh đó khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, tập trung đầu tư thâm canh trên diện tích hiện có đồng thời rà soát diện tích các cây trông già cỗi, sâu bệnh, thoái hóa để thay thế các loại cây có năng suất, chất lượng cao. Về diện tích: Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 9 tháng năm 2024 ước đạt 31.170 ha, bằng 98,72%, giảm 403 ha so với cùng kỳ năm 2023, diện tích giảm chủ yếu là diện tích cam, chanh, chuối. Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.438 ha, bằng 100,40%, tăng 78 ha so với cùng kỳ năm 2023. Cây ăn quả nhiệt đới, cận nhiệt đới ước đạt 5.699 ha, bằng 102,17%, tăng 121 ha. Tăng chủ yếu diện tích dứa tăng 118 ha (thời gian qua, huyện Cẩm Xuyên đã khởi động mô hình sản xuất vùng nguyên liệu dứa). Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.118 ha, bằng 99,66%, giảm 45 ha so với cùng kỳ năm 2023. Diện tích cam ước đạt 7.297 ha, bằng 99,82%, giảm 13 ha. Diện tích bưởi ước đạt 4.423 ha, bằng 100,05%, tăng 2 ha. Diện tích trồng bưởi tương đối ổn định người dân tập trung chăm sóc diện tích hiện có tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh, bón phân, tưới nước, giống, quy trình sản xuất, công nghệ bảo quản, chế biến, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Diện tích cây cao su ước đạt 8.030 ha, bằng 94,91%, giảm 431 ha so với cùng kỳ năm 2023. Giảm chủ yếu ở huyện Hương Khê giảm 422 ha. Nguyên nhân giảm là do một số diện tích của các hộ dân không mang lại giá trị kinh tế nên người dân chuyển đổi sang mục đích khác ở xã Hương Đô, Hương Trà, Điền Mỹ và diện tích của Công ty cao su Hà Tĩnh giảm do nhà nước thu hồi đất để xây dựng đường dây 500KW mạch 3. Bên cạnh đó, khí hậu khắc nghiệt nắng nóng, mưa bão triền miên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến diện tích cây cao su bị sụt giảm, cây phát triển kém. Diện tích chè búp ước đạt 1.225 ha, bằng 97,07%, giảm 37 ha; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.745 ha, bằng 99,04%, giảm 17 ha so với cùng kỳ năm 2023. Nguyên nhân giảm là do diện tích đất trồng bị thu hồi để phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đường giao thông nông thôn. Về sản lượng: Sản lượng cây ăn quả ước đạt 80.885 tấn, bằng 102,78%, tăng 2.186 tấn so với cùng kỳ năm 2023. Với mục tiêu xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân. Sản lượng các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới ước đạt 37.003 tấn, bằng 101,78%, tăng 648 tấn so với cùng kỳ năm 2023. Do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như phòng trừ sâu bệnh, các biện pháp chăm sóc, bảo vệ, mức độ đầu tư được tăng lên, công tác chọn giống từng bước được coi trọng nên kết quả đạt khá. Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 42.198 tấn, bằng 104,03%, tăng 1.634 tấn so với cùng kỳ năm 2023, trong đó, sản lượng bưởi ước đạt 23.126 tấn, bằng 107,09%, tăng 1.531 tấn (năm nay theo đánh giá của các hộ dân, thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả nhiều, quả đều và chất lượng bưởi tốt, giá cả cao hơn từ 15 đến 20% so với những năm trước nên người dân rất phấn khởi). Sản lượng cao su ước đạt 3.550 tấn, bằng 105,44%, tăng 183 tấn so với cùng kỳ năm 2023. Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ cũng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. Sản lượng chè búp ước đạt 8.129 tấn, bằng 102,33%, tăng 185 tấn; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 15.828 tấn, bằng 101,02%, tăng 160 tấn so với cùng kỳ năm 2023. c. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Trong 9 tháng năm 2024 các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại trên các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 3.385 ha, trong đó có 135 ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương; 328 ha bị chuột gây hại, bên cạnh có nạn ốc bươu vàng, bệnh đao ôn lá, rầy nâu có xuất hiện cục bộ nhưng diện tích gây hại không đáng kể...Vụ Hè Thu bệnh khô vằn gây hại trên 3.340 ha, có nạn chuột gây hại ở các vùng cao cưỡng, gần làng ở các địa phương, diện tích nhiễm 272ha. Đối với các loại cây hàng năm khác tuy sâu bệnh có phát sinh gây hại nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng Đối với các cây lâu năm sâu bệnh chủ yếu xuất hiện trên các cây ăn quả có múi trong các vườn hộ lâu năm, ở vụ Đông xuân xuất hiện sâu vẽ bùa, sâu nhớt, diện tích nhiễm 75ha, sâu non bướm phượng 25 ha, nhện nhỏ, rệp muội 50 ha. Ở Vụ He Thu xuất hiện sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 15 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 35 ha; ruồi đục quả diện tích nhiễm 63ha; bệnh chảy gôm diện tích nhiễm 10 ha. Dịch bệnh chủ yếu xuất hiện trên các cây loại cây cam, bưởi ở các huyện trồng tập trung như Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn… 1.1.2. Chăn nuôi Kết quả sản xuất chăn nuôi: Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng 9/2024 duy trì ổn định và tiếp tục có bước phát triển ở đàn lợn và gia cầm, tổng đàn lợn ước đạt 408.000 con, tăng 2,45%; đàn gia cầm ước đạt 10.314 ngàn con, tăng 1,18% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên tổng đàn trâu, bò lại có xu hướng giảm do chăn nuôi kém hiệu quả, đàn trâu ước đạt 66.802 con, giảm 0,30%; đàn bò ước đạt 164.100 con, giảm 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng xuất chuồng 9 tháng năm 2024: Thịt trâu ước đạt 2.730 tấn, giảm 1,66%; thịt bò ước đạt 7.886 tấn, giảm 0,30%; thịt lợn ước đạt 52.765 tấn, tăng 3,32%; thịt gia cầm ước đạt 21.923 tấn, tăng 9,86%, trong đó thịt gà ước đạt 18.356 tấn, tăng 11,93%. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong 9 tháng năm 2024, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, kéo theo đó là giá cả tăng cao. Trong tỉnh dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xẩy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, tuy nhiên tổng đàn chăn nuôi vẫn chưa có chuyển biến tích cực khi người dân vẫn còn e ngại việc tăng đàn và tái đàn. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra một số loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc, thủy sản như: Dịch tả lợn Châu Phi, viêm da nổi cục, lở mồm long móng trên trâu, bò, bệnh đốm trắng, cụ thể như sau: Dịch Viêm da nổi cục trên trâu bò xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) làm cho 156 con bò mắc bệnh, trong đó có 20 con chết, tiêu hủy, với khối lượng 3.411 kg. Đến nay, các ổ dịch đã qua 21 ngày; Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện, thị xã (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Kỳ Anh) làm cho 182 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy, khối lượng 12.472 kg. Hiện nay dịch tại xã Thạch Lạc thuộc huyện Thạch Hà chưa qua 21 ngày; Lở mồm long móng xảy ra tại 03 xã (Kỳ Bắc, Kỳ Giang, Kỳ Đồng) thuộc huyện Kỳ Anh làm cho 39 con trâu, bò bị mắc bệnh, trong đó làm 04 con chết với khối lượng 830 kg. Hiện nay dịch tại 03 xã trên chưa qua 21 ngày. 1.2. Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tháng 9 năm 2024 ước đạt 1.783 ha, tăng 1,42%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 75.176 m3, tăng 9,67%; sản lượng củi khai thác ước đạt 6.048 ste, giảm 4,09%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 107 ngàn cây, tăng 1,90% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới 9 tháng năm 2024 ước đạt 4.968 ha, tăng 3,46%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 353.682 m3, tăng 12,11%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 2.045 ngàn cây, tăng 15,86% so với cùng kỳ năm trước. Trồng rừng, bảo vệ rừng là một trong những việc làm hết sức thiết thực để phát triển bền vững. Phát triển rừng vừa tạo ra thu nhập từ rừng, vừa để bảo vệ môi trường vì vậy các cấp, các ngành và người dân đặc biệt quan tâm. 9 tháng năm 2024, diện tích rừng trồng mới, hoạt động khai thác gỗ và cây trồng phân tán tăng so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương như huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Hương sơn, Cẩm Xuyên, Thạch Hà. Thiệt hại về rừng: Trong tháng không xảy ra cháy rừng, nhưng xảy ra 11 vụ phá rừng. Tính từ đầu năm đến ngày 25/9/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ so với cùng kỳ), với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,11 ha) và 45 vụ phá rừng (giảm 61 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,25 ha (giảm 26,87 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản: Tháng 9, sản lượng khai thác và nuôi trồng đạt sản lượng tăng so với các tháng khác khi đây là mùa thu hoạch các loại hải sản biển đa dạng và đối với nuôi trồng vẫn đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè nên sản lượng đạt khá cao. Tổng sản lượng thủy sản tháng 9 ước đạt 7.710 tấn, bằng 101,29%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 4.142 tấn, bằng 101,03%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.568 tấn, bằng 101,59% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng ước đạt 47.638 tấn, bằng 103,51%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 33.432 tấn, bằng 103,42%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 14.206 tấn, bằng 103,73% so với cùng kỳ năm trước. Khai thác thủy sản trên địa bàn 9 tháng năm 2024 cơ bản vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng nhẹ với mức tăng là 1.616 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chiếm 70% tổng sản lượng thủy hải sản, tăng 1.105 tấn và sản lượng nuôi trồng 9 tháng ước tính tăng 511 tấn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù giá bán sản phẩm tương đối ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác vẫn ở mức cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế có giảm. Cùng với đó là điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Những tháng cuối năm, dự báo điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển và nuôi trồng sẽ gặp khó khăn hơn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra với diện tích 4.29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà); Bệnh Vi bào tử trùng xảy ra với diện tích 0,85 ha tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh, xã Thạch Long huyện Thạch Hà. Trong tháng 9 xảy ra bệnh Vi bào tử trùng (EHP) trên tôm tại 01 hộ nuôi xã Thạch Long huyện Thạch Hà với diện tích 0,2 ha; hiện chưa qua 15 ngày; Bệnh Đốm trắng xảy ra với diện tích 8,25 ha tại 5 xã thuộc 4 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và TP Hà Tĩnh); 2. Sản xuất công nghiệp Trong 9 tháng năm 2024 ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như: Bia đóng lon mở rộng thị trường tăng sản lượng sản xuất; vỏ bào, dăm gỗ cũng đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như: Sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc vào thị trường; nhà máy thép Formosa đại tu sửa trong 15 ngày trong tháng 4, sản lượng thép ảnh hưởng bởi thép nhập khẩu. Đặc biệt Tổ máy số 2 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 bảo dưỡng 65 ngày từ 15/8/2024. Do đó, thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất nặng nề; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 9/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 1,73% so với tháng trước và giảm 0,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 2,24% so với tháng trước và tăng 47,39% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 0,41% so với tháng trước và giảm 1,33% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 18,19% so với tháng trước và giảm 2,35% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 1,37% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 11,25%. Tính chung 9 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước giảm 0,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 31,75% đóng góp 0,39 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,91% làm giảm 3,27 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 20,60% đóng góp 2,71 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,94% đóng góp 0,32 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nguyên nhân dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp chung trong 9 tháng năm 2024 giảm là do: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chịu ảnh hưởng lớn nhất từ ngành sản xuất kim loại, ngoài yếu tố thị trường bất lợi thì sản lượng thép giảm do tạm dừng bảo dưỡng dây chuyền cán nóng của Formosa từ ngày 1/4 - 14/4 dẫn đến tăng trưởng ngành chế biến chế tạo cũng như toàn ngành công nghiệp chưa đạt như kỳ vọng. Cùng với đó là ngành sản xuất và phân phối điện cũng giảm mạnh khi mà tổ máy số 2 của nhà máy nhiệt nhiệt điện 1 trong tháng 8 và tháng 9 đang tạm ngừng để bảo dưỡng. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 9 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị để tăng công suất hoạt động, đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn Hà Tĩnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất - kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu sản xuất - kinh doanh năm nay. Một số sản phẩm công nghiệp 9 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 94,67%; Đá xây dựng khác tăng 30,45%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 22,35%; bia đóng lon tăng 19,98%; điện sản xuất tăng 19,94%; bê tông trộn sẵn tăng 17,06%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 9 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Mực đông lạnh giảm 76,05%; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 6,12%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 39,36%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,37%;... 2.3. Chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 9/2024 giảm 5,37% so với tháng trước, so với tháng 9/2023 tăng 19,99%. Tính chung 9 tháng năm 2024 chỉ số tiêu thụ giảm 2,5% so với năm trước. Nhiều mặt hàng trong tổng số các nhóm sản phẩm trên địa bàn có chỉ số tiêu thu tăng cao so với cùng kỳ năm 2023 như: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 65,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 63,55%; sản xuất trang phục tăng 55,09%;… 9 tháng năm 2024, mặc dù chỉ số tiêu thu giảm so với cùng kỳ, tuy nhiên, số nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm tỷ trọng cao, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh dần phục hồi sau nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong những năm qua. Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 9/2024 giảm 1,4% so với tháng trước và giảm 11,69% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho giảm do một số ngành như: Dệt giảm 47,52%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 45,19%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 52,62%.... Hoạt động sản xuất ngành chế biến, chế tạo đang phục hồi, thị trường trong và ngoài nước rộng mở. Bên cạnh sản xuất các sản phẩm mới, các doanh nghiệp cũng ưu tiên tiêu thị hàng tồn kho từ năm trước. 2.4. Tình hình sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2024 tăng 0,67% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 3,99%. Cộng dồn đến cuối năm tháng 9 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,26% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động 9 tháng năm 2024 của ngành khai khoáng giảm 3,29% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,04%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,55% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Tình hình hoạt động doanh nghiệp Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 9 tháng năm 2024 vẫn đang còn tồn tại nhiều khó khăn. UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương luôn đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh triển khai kịp thời, đồng bộ các cơ chế, chính sách của Trung ương; địa phương nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. 3.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 30/9/2024, toàn tỉnh thành lập mới 1.038 doanh nghiệp, tăng 11,25% với số vốn đăng ký hơn 5.341,2 tỷ đồng, tăng 41,18% so cùng kỳ năm trước. Song song với việc các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thì số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 538 doanh nghiệp, tăng 11,85% so cùng kỳ; doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể 173 doanh nghiệp, tăng 613% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, từ kết quả đăng ký thành lập mới, tự giải thể, tạm ngừng hoạt động của các doanh nghiệp cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian vừa qua vẫn đang còn gặp khó khăn nhất là thiếu nguồn vốn đã ảnh hưởng đến phát triển của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển chung của toàn nền kinh tế tỉnh nhà. 3.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Qua tổng hợp kết quả điều tra trên địa bàn tỉnh, nhìn chung đa số các doanh nghiệp đánh giá quý III/2024 và dự báo quý IV/2024 về tình hình sản xuất kinh doanh, biến động về khối lượng sản xuất, số lượng đơn đặt hàng có xu hướng tăng lên và giữ nguyên. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực và thuận lợi hơn trước. Tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2024 có 95,83% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó các doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên 39,58%; có 56,25% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ vẫn giữ nguyên như quý II/2024). Bên cạnh đó, số doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD của họ khó khăn chiếm 4,17% trong tổng số các doanh nghiệp toàn tỉnh. Kinh tế thị trường sôi động trở lại, thị trường trong và ngoài nước mở rộng tạo điều điện cho các doanh nghiệp phục hồi sản xuất sau thời gian dài khó khăn. Các doanh nghiệp dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2024 tăng hơn so quý III/2024 khi có tới 41,67% doanh nghiệp nhận định SXKD quý IV/2024 sẽ tốt hơn và 43,75% giữ ổn định so với quý III/2024. Tuy nhiên, số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước là 14,58% tổng số các doanh nghiệp trong toàn tỉnh, tăng hơn so với quý trước. Thời tiết không thuận lợi, thị trường bão hòa ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh một số ngành như sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác... 4. Hoạt động thương mại, dịch vụ 4.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Hoạt động thương mại và dịch vụ 9 tháng năm 2024 nhìn chung phát triển khá với gam màu sáng, tổng doanh thu bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng ước đạt hơn 61,3 nghìn tỷ đồng tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung hàng hóa tại thị trường trong nước, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân, thị trường bán lẻ càng về cuối năm càng sôi động, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành phát triển mạnh, các dịch vụ khác cũng tăng khả quan. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 9/2024 ước đạt 5.824,66 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước, tăng 15,57% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo quý thì quý III/2024 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 17.394,05 tỷ đồng, tăng 2,57% so với quý trước và tăng đến 16,88% so với cùng kỳ. Trong 3 quý thì mức tăng quý III so với cùng kỳ đạt mức khá cao nhưng không tăng mạnh bằng hai quý trước. Nguyên nhân do tình hình kinh tế, chính trị thế giới và những điều chỉnh về giá của các nhà sản xuất tác động đến giá nhiều nhóm hàng hóa như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, vàng và kim loại quý... Bên cạnh việc giá cả tăng cao thì các yếu tố mùa vụ trong quý cũng ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu các nhóm hàng như vật phẩm giáo dục, may mặc... khi cầu mua sắm bước vào năm học mới. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 51.565,46 tỷ đồng, tăng 18,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm Lương thực, thực phẩm chiếm 48,37% tổng mức, tăng 25,76% trong đó quý I tăng 25,83%; quý II tăng 27,29%; quý III tăng 24,24%, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã làm cho tổng mức bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó các nhóm hàng có doanh thu khá cũng biến động tăng cao như: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 30,99%, trong đó quý I tăng 57,44%; quý II tăng 29,59%; quý III tăng 10,31%; may mặc tăng 35,68%%, trong đó quý I tăng 52,73%; quý II tăng 34,91%; quý III tăng 22,02%. Nhóm xăng dầu các loại do giá cả trong năm ở mức khá ổn định nên mức doanh thu chỉ tăng ở mức 7,06%, trong đó quý I tăng 0,98%; quý II tăng 7,68%; quý III tăng đến 12,47%. Các nhóm hàng khác cũng có mức tăng doanh thu khá so với cùng kỳ, bên cạnh các nhóm hàng tăng doanh thu thì có 3 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu là nhóm phương tiện đi lại (giảm 29,99%), ô tô con (giảm 24,90%) và nhóm Gỗ, vật liệu xây dựng (giảm 10,71%) mặc dù đã có Nghị định 109/2024/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 01/9/2024 đến 30/11/2024 về “việc giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ (LPTB) đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước” tuy nhiên do đây là các mặt hàng xa xỉ có giá trị cao, khi thu nhập người đang phải gồng gánh các chi phí hàng hóa do giá ở mức cao thì việc mua sắm các mặt hàng có giá trị lớn dường như cũng hạn chế, bên cạnh đó do việc giá vật liệu đang ở mức thấp hơn so với các năm trước. Nhìn chung, tình hình thương mai chịu nhiều tác động bởi tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Bên cạnh chi phí đầu vào như: giá điện, chi phí nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng. Cộng thêm những thị trường xuất khẩu chủ yếu như Trung Quốc, Nhật Bản đang gặp khó khăn về cầu tiêu dùng. Tuy vậy, môi trường kinh doanh trong tỉnh nhìn chung ổn định, lãi suất tín dụng đang giảm dần tác động tích cực đến sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng mạnh. Đặc biệt khi sử dụng các chính sách kích cầu như tăng vốn đầu tư công, tăng lương cơ bản cho cán bộ công chức và người nghỉ hưu, giảm thuế VAT 2%, giảm 50% lệ phí trước bạ đối với sản xuất xe trong nước đã là “bệ trụ” để cho Tổng mức bán lẻ tỉnh nhà tăng so với năm trước. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 9/2024 ước đạt 776,88 tỷ đồng, tăng 2,62% so với tháng trước và tăng 12,52% so với cùng kỳ năm trước. Tuy trong 3 ngành chỉ có doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 3,35% (hai ngành lưu trú và du lịch tăng trưởng âm) nhưng với tỷ lệ chiếm 96,73% nên doanh thu lưu trú, ăn uống và du lịch vẫn tăng so với tháng trước. Cụ thể: Dịch vụ lưu trú ước đạt 21,79 tỷ đồng, giảm 10,41% so với tháng trước nhưng tăng 18,02% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 751,47 tỷ đồng, tăng 3,35% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 3,62 tỷ đồng, giảm 12,04% so với tháng trước những vẫn tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 năm 2024, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 6.335,93 tỷ đồng, tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đây ta thấy được sự tăng trưởng vượt bậc của ngành du lịch, lữ hành (tăng 53,56%) tạo nên điểm sáng trong ngành dịch vụ trong thời gian vừa qua. Nếu tính riêng từng ngành cụ thể thì Dịch vụ lưu trú 9 tháng năm 2024 ước đạt 217,83 tỷ đồng, giảm 3,96%, trong đó mức giảm chủ yếu ở quý I/2024 khi các cơ sở tiến hành đầu tư nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng, còn quý II và III vẫn tăng khá so với cùng kỳ. Riêng quý III doanh thu Lưu trú vẫn đạt 93,88 tỷ đồng, cao nhất trong 3 quý và tăng 6,13% so với cùng kỳ; Dịch vụ Ăn uống 9 tháng ước đạt 6.062,68 tỷ đồng, tăng 12,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý III/2024 đạt 2.206,24 tỷ đồng, tăng 10,43% so với quý trước và tăng 10,21% so với cùng kỳ; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 55,42 tỷ đồng, tăng 53,56% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu phát triển mạnh và vượt bậc ở quý I và quý II, bước sang quý III khi hết mùa du lịch mức doanh thu chỉ đạt 13,54 tỷ đồng, giảm đến 46,89% so với quý trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng ở mức 9,04%. Nhìn chung hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 3 quý, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ này. Bên cạnh đó mặc dù đã gần như kết thúc mùa du lịch nhưng hoạt động dịch vụ vẫn tăng trưởng khá. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, các địa điểm du lịch cũng được đầu tư và đa dạng hóa các loại hình du lịch trải nghiệm. Vì vậy đóng góp của ngành dịch vụ cũng đang là hướng tăng trưởng xanh của kinh tế tỉnh nhà. Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 9/2024 ước đạt 387,63 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, tính cả quý III/2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.157,3 tỷ đồng, tăng 3,49% so với quý trước và tăng 10,97% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở các nhóm ngành dịch vụ hành chính, hỗ trợ, y tế, giáo dục, giải trí...do trong quý các công trình đang cố gắng tận dụng những ngày thời tiết thuận lợi để hoàn thiện công trình trước mùa mưa bão, nhóm thuốc và dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế và nhu cầu dịch vụ giáo dục cho các kỳ thi. Tính chung 9 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.418,32 tỷ đồng, tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước, trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng bất động sản là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương, cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản giảm 10,02%; nhóm ngành hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,61%; nhóm ngành giáo dục đào tạo tăng 11,28%; nhóm hàng y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 20,67%; nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 43,85% và dịch vụ khác tăng 13,39% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tình hình thế giới vẫn đang gặp nhiều khó khăn tác động đến thị trường cũng như giá cả các loại hàng hoá tăng lên, song việc doanh thu dịch vụ khác tăng trưởng khá ở cả 3 quý trong 9 tháng năm 2024 vẫn cho thấy đời sống người dân đang ngày càng được cải thiện, nhu cầu ngày càng cao về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đời sống. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng 9 năm 2024 mặc dù có chững lại so với các tháng trước do yếu tố mùa vụ khi bắt đầu bước vào mùa mưa lũ, nhưng nhìn so với cùng kỳ và tính chung 9 tháng năm 2024 vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, sức hút từ sự phát triển của ngành du lịch lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải trên địa bàn. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 9/2024 doanh thu ước đạt 721,36 tỷ đồng, giảm 4,18% so với tháng trước, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tháng 9 doanh thu có giảm hơn so với các tháng trước do yếu tố mùa vụ, nhưng tính cả quý III/2024 doanh thu vẫn đạt 2.269,31 tỷ đồng, tăng 1,13% so quý trước và tăng 18,90% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 358,79 tỷ đồng, tăng 1,74% so với quý trước và tăng 23,17% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa ước đạt 1.476,07 tỷ đồng, tăng 1,93% so với quý trước và tăng 21,42% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 418,76 tỷ đồng, giảm 2,20% so với quý trước và tăng 16,85% so với cùng kỳ năm trước. Các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu vận tải trong tháng và quý III chủ yếu do tác động của yếu tố mùa vụ khi diễn biến thời tiết phức tạp khiến giảm nhu cầu đi lại, vận chuyển, bên cạnh đó do thời tiết trên biển Đông diễn biến xấu kéo dài, gây khó khăn cho các tàu bè cập cảng và di chuyển cũng khiến doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải giảm. Tuy nhiên so với cùng kỳ mức doanh thu này vẫn đạt khá so với kỳ vọng khi tăng mạnh so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2024 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 6.435,83 tỷ đồng, tăng 21,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 1.118,53 tỷ đồng, tăng 43,14%; hàng hoá ước đạt 4.010,89 tỷ đồng, tăng 17,27%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.260,42 tỷ đồng, tăng 31,15% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải kho bãi ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua đang có nhiều biến chuyển tích cực. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu; các doanh nghiệp vận tải đang đẩy mạnh áp dụng công nghệ số như hệ thống quản lý kho thông minh và theo dõi lộ trình xe tải qua GPS giúp nâng cao hiệu quả hoạt động; các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi; xu hướng sử dụng phương tiện vận tải thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng, với nhiều doanh nghiệp chuyển sang sử dụng xe điện hoặc xe hybrid. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như giá nhiên liệu biến động, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng cao từ khách hàng. 5. Tài chính, ngân hàng 5.1. Hoạt động tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2024 đạt cao hơn so với cùng kỳ (tăng 4,89%). Hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng, thị trường bất động sản có dấu hiệu phục hồi, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 20/9/2024 đạt 13.656,82 tỷ đồng (tăng 4,89% so cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 6.920,77 tỷ đồng (chiếm 50,68 % trong tổng thu) tăng 6,08% so với cùng kỳ. Cụ thể một số sắc thuế tăng mạnh so cùng kỳ như: Các khoản thu về nhà đất đạt 2.186,64 tỷ đồng (tăng 50,38%); thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.128,28 tỷ đồng (tăng 34,25%); ... Tuy nhiên, 9 tháng năm 2024 thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chỉ đạt 759,37 tỷ đổng, giảm 63,02% so với cùng kỳ. Bên cạnh thu nội địa, tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 6.262,64 tỷ đồng, giảm 1,87% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong SXKD những tháng đầu năm dẫn đến nguồn thu ngân sách của Hà Tĩnh bị ảnh hưởng. Chi ngân sách Nhà nước: Việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 20/9/2024 đạt 17.634,28 tỷ đồng tăng 4,49% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 7.634,39 tỷ đồng chiếm 43,29% tổng chi, giảm 5,53% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 9.982,47 tỷ đồng chiếm 56,61% tổng chi, tăng 14,93% so với cùng kỳ năm 2023. 5.2. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2024 tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ chế, chính sách của ngành đã được triển khai đến người dân, doanh nghiệp trên địa bàn nhằm giúp khách hàng biết đến và sớm tiếp cận được các chính sách, qua đó góp phần hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt (tăng 11,41% so với cuối năm 2023). Tăng trưởng tín dụng tăng 15,64% so với cùng kỳ năm 2023. Công tác huy động vốn trên địa bàn tiếp tục được đẩy mạnh, với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nhờ đó, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động ước đến 30/9/2024 đạt 112.000 tỷ đồng, tăng 11,41% so với cuối năm 2023 và tăng 19,50% so với cùng kỳ năm 2023. Dư nợ cho vay ước đến 30/9/2024 đạt 105.000 tỷ đồng, tăng 9,32% so với cuối năm 2023 và tăng 15,64% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn ước đạt 78.368 tỷ đồng (chiếm 74,64% tổng dư nợ), tăng 13,3% so với cuối năm 2023; dư nợ trung dài hạn ước đạt 26.632 tỷ đồng (chiếm 25,36% tổng dư nợ), giảm 0,94% so với đầu năm. 6. Vốn đầu tư Trong 9 tháng năm 2024, toàn tỉnh tập trung triển khai kế hoạch đầu tư công, tỉnh đã thành lập các tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các chương trình, dự án. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 40.802 tỷ đồng, tăng 14,36% so với cùng kỳ năm trước, đây là nguồn lực lớn nhất nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho 9 tháng và cả năm 2024. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý III/2024 dự ước đạt 15.509 tỷ đồng, tăng 7,3% so với quý trước, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước 6.487 tỷ đồng, tăng 31,74% so với quý trước và tăng 80,55% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.893 tỷ đồng, tăng 14,03% so với quý trước và giảm 11,67% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 4.128 tỷ đồng, giảm 21,20% so với quý trước và tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng năm 2024 ước đạt 40.801,63 tỷ đồng, tăng 14,36% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 14.396,9 tỷ đồng, chiếm 35,28% tổng vốn tăng 84,04%; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 12.293,02 tỷ đồng, chiếm 30,13% tổng vốn, giảm 15,78%; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 14.111,71 tỷ đồng, chiếm 34,59% tổng vốn giảm 0,87% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng năm 2024 tăng so với cùng kỳ năm trước là do:: (1) Dự án đường cao tốc Bắc - Nam qua địa bàn Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tiến độ thi công vốn đầu tư thực hiện tăng cao dự ước vốn đầu tư 9 tháng 6.186 tỷ đồng gấp 2,46 lần so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giải phóng mặt bằng. (2) Trên địa bàn tỉnh tiến hành khởi công xây dựng các dự án mới, đặc biệt dự án đường dây 500kV mạch 3 đoạn qua Hà Tĩnh với tổng mức đầu tư 2.109 tỷ đồng hiện nay dự án đã hoàn thành. (3) Hiện nay một số dự án lớn có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng đang gấp rút thi công. Đáng kể như, Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng 2 đẩy nhanh lắp đặt tổ máy và nhiều hạng mục khác, qua đó, giải ngân khoảng 10.939 tỷ đồng tương đương với cùng kỳ năm trước và đang phấn đấu hoàn thành vào năm 2025 để đi vào vận hành; Nhà máy Liên doanh sản xuất Pin Lithium VinES-Gotion đẩy nhanh tiến độ thi công, vốn đầu tư ước đạt 1.143 tỷ đồng, dự kiến cuối năm nay hoàn thành. Bên cạnh đó, các dự án đang đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh cũng thi công theo tiến độ đề ra ban đầu. (4) Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà (VSIP) cơ bản đã hoàn thành giải phóng mặt bằng sẵn sàng khởi công dự án dự ước đạt 230 tỷ đồng, cùng kỳ năm ngoái chưa triển khai dự án. (5) Ngoài ra, thị trường bất động sản trên địa bàn tỉnh ghi nhận những chuyển biến tốt sau những chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn của Chính phủ, tạo điều kiện phục hồi cho hoạt động đầu tư xây dưng. 7. Hoạt động xuất nhập khẩu Tình hình xuất - nhập khẩu tháng 9 ghi nhận những tín hiệu khá tích cực từ thị trường xuất khẩu so với các tháng trước. Trị giá xuất - nhập khẩu trong tháng 9/2024 ước đạt 521,0 triệu USD tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 6,68% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng năm 2024 hoạt động xuất - nhập khẩu đang gặp khó khăn khi trị giá xuất khẩu mặt hàng chủ lực thép vẫn đang giảm khá sâu. Tổng trị giá xuất, nhập khẩu 9 tháng ước đạt 4.593,82 triệu USD giảm 5,36% so với cùng kỳ (giảm 260,10 triệu USD). Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 9 ước đạt 210,5 triệu USD, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 20,40% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng 9/2024 ước đạt 183,6 triệu USD (chiếm 87,22% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), tăng 53,09% so với tháng trước và tăng 15,11% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh mặt hàng thép, phôi thép thì các mặt hàng chủ lực khác cũng tăng so với cùng kỳ năm trước, ngoại trừ mặt hàng xơ, sợi dệt các loại còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường. Tính chung 9 tháng năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.714,45 triệu USD, giảm 18,38% so với cùng kỳ năm trước (giảm 385,93 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do từ đầu năm đến nay, tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát và tăng lãi suất, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, nên mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu; ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các cũng giảm đến 34,87% so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu của mặt hàng chè, dệt và may mặc tăng, tuy nhiên do tỷ trọng của những mặt hàng này chỉ chiếm 1,53% trong tổng trị giá xuất khẩu của hàng hóa trong tỉnh nên không tác động nhiều đến kết quả xuất khẩu của 9 tháng đầu năm 2024. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 9/2024 ước đạt 310,5 triệu USD, tăng 1,29% so với tháng trước nhưng giảm 0,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2024, trị giá nhập khẩu ước đạt 2.879,37 triệu USD triệu USD đạt 77,82% so với kế hoạch cả năm, tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: trị giá nhập khẩu của Formosa Hà Tĩnh ước đạt 2.123,09 triệu USD (chiếm 73,73% tổng trị giá nhập khẩu toàn tỉnh) tăng 4,97%. Dự ước trong quý IV tới những tháng cuối năm việc sản xuất phục vụ những đơn hàng cuối năm tăng khiến nhu cầu nguyên liệu đầu vào tăng theo, nhu cầu tiêu dùng hàng ngoại ngày càng cao khiến trị giá nhập khẩu sẽ tăng mạnh. 8. Giá cả, lạm phát Diễn biến thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 9/2024 không có biến động lớn, chỉ số giá chung tăng nhẹ so với tháng trước. CPI bình quân quý III/2024 tăng 4,53% so với quý III/2024, bình quân chín tháng năm 2024, CPI tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước mức tăng khá cao nhưng vẫn đang phù hợp xu thế và nằm trong tầm kiểm soát. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và ngày càng tăng mạnh vào những ngày cuối tháng. Tháng 9 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,17% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước, hầu hết các nhóm hàng trong tháng đều không biến động quá lớn so với tháng trước, mặc dù trong tháng giá các loại hoa, quả, lương thực, thực phẩm tăng do thời tiết mưa lớn kéo dài ảnh hưởng đến khâu sinh trưởng, chăm sóc, thu hoạch các loại rau, quả…tuy nhiên mức tăng không quá lớn công với việc các mặt hàng khác đang có giá cả bình ổn và hạ nhiệt hơn. Thị trường vàng và ngoại tệ đang có biến động lớn khi chỉ số giá vàng tháng 9 tăng 2,7% so với tháng trước và tăng đến 38,02% so với cùng kỳ do các biến động từ thị trường thế giới. CPI bình quân quý III năm 2024 tăng đến 4,53% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong 3 quý (quý I và quý II năm 2024 lần lượt tăng ở mức 2,31% và 3,15%) trong đó chủ yếu tăng ở các nhóm hàng thiết yếu như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,19%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,04%; may mặc, giày dép và mũ nón tăng 5,26%..., chỉ có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là giao thông giảm 1,90% và bưu chính viễn thông giảm 1,55%. CPI bình quân 9 tháng năm 2024 tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo địa bàn thì khu vực thành thị tăng 3,69%, nông thôn tăng 3,17%. Xét theo các nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,52%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,73%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,59%; giao thông tăng 0,54%; bưu chính viễn thông giảm 1,69%; giáo dục tăng 2,55%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,57%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống thuốc lá, điện nước sinh hoạt. Mức tăng mạnh chủ yếu tập trung ở quý III khi chính sách cải cách tiền lương bắt đầu được áp dụng từ tháng 7/2024, các loại phí dịch vụ y tế, giáo dục, giao thông..cũng tăng theo các lộ trình, chính sách trong khi đó giá gạo và các loại lương thực cũng đang ở mức cao nhất từ trước tới nay và chứ có dấu hiệu giảm. Trong năm 2024, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 3-4%. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2024 sẽ còn tiếp tục tăng. Giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn. Thời tiết chuyển dần sang mùa lạnh cũng khiến nhu cầu các nhóm mặt hàng như may mặc, thực phẩm, đồ dùng gia đình, điện, nước sinh hoạt có sự thay đổi. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Nhìn chung, nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hà Tĩnh đang tăng khá, có dấu hiệu khởi sắc hơn so với những năm trước, tình hình lao động việc làm quý III/2024 trên địa bàn có tăng nhẹ so với quý trước. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của tỉnh vẫn còn khá cao. Để hỗ trợ giải quyết việc làm các cấp, ngành tiếp tục tập trung tăng cường tổ chức phiên, sàn giao dịch việc làm trực tiếp, trực tuyến kết nối cung-cầu lao động; gửi thông tin nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp đến các địa phương để thông tin rộng rãi tới người dân. Đồng thời, tiếp tục khảo sát, thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu của người lao động cần việc làm để tiến hành hoạt động kết nối với doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng lao động. Lực lượng lao động: Theo kết quả điều tra lao động việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh ước quý III năm 2024 là 513.385 người, tăng 0,58% so với quý trước và tăng 1,07% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, lực lượng lao động là nam giới chiếm tỷ trọng 50,1%, cao hơn 0,19 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 49,9%); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị chỉ chiếm 25,67%, chủ yếu vẫn đang tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 74,33%. Quý III năm 2024, có đến 53,72% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, tăng 0,28 điểm phần trăm so với quý II/2024 và tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng có sự chênh lệch giữa nam và nữ (lần lượt là 54,64% và 52,83%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 61,75%, cao hơn nông thôn là 10,34 điểm phần trăm. Tính chung 9 tháng năm 2024, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 509.498 người, tăng 0,55% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, lực lượng lao động nam là 256.323 người, chiếm 50,31% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 130.298 người, chiếm 25,57%. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Quý III/2024 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 13.931 người, chiếm 2,71% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, tăng 0,19 điểm phần trăm so quý trước và 0,79 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 89,4% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 12.455 người) và ở nam giới chiếm 51,72% (tương đương 7.205 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý III/2024 ước tính là 5,37%, tăng 0,09 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,23 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2024, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 11.834 người, chiếm 2,32% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,89 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 91,21% (tương đương 10.794 người) và nam giới chiếm 63,64% (tương đương 7.532 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2024 ước tính là 5,32%, giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình giải quyết việc làm: Theo số liệu báo cáo sở ngành số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý III năm 2024 là 7.103 người, tăng 16,65% so với quý trước và 12,41% so cùng kỳ năm 2023; so với tháng trước đều tăng ở cả ba nhóm lĩnh vực, trong đó tập trung chủ yếu ở lĩnh vực giải việc làm trong tỉnh (tăng 38,4%) và đi làm ngoài tỉnh (tăng 26,4%). Tính chung 9 tháng năm 2024, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 18.321 người, đạt 79,66% so với kế hoạch và giảm 3,99% so cùng kỳ năm 2023, chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (giảm 2,12%) và xuất khẩu lao động (giảm 11,64%). Chứng tỏ những nỗ lực của các cơ quan, chức năng cũng như sự đồng hành của các doanh nghiệp trong việc tháo gỡ khó khăn trong tìm kiếm vệc làm nhằm ổn định đời sống người dân. Tình hình Trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý III/2024 là 632 người, giảm 1.073 người so với quý trước; tính từ đầu năm đến tháng 9 năm 2024 có 2.643 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, so với thời điểm tháng 6/2024 đã có 474 người dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hộiĐời sống dân cư: Nhìn chung 9 tháng năm 2024, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn đang ổn định. Quý III/2024 là thời gian trùng vào dịp Tết Trung thu, khác với cảnh tập nập, đông khách của những năm trước, trong ngày chính lễ tết Trung thu với việc chia sẻ nỗi đau cũng các tỉnh phía Bắc nên các hoạt động tổ chức đều hoãn lại vì vậy các quầy bánh và đồ chơi tại Hà Tĩnh khá thưa vắng người mua. Bên cạnh đó, sau những ngày ảnh hưởng của mưa lũ, giá rau xanh tại các chợ dân sinh ở Hà Tĩnh tăng so với các năm. Tuy nhiên, với chính sách tiền lương mới áp dụng từ đầu quý và những việc làm cụ thể, thiết thực của các cấp chính quyền trong chính sách giải quyết việc làm cũng đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, các đối tượng chính sách và người có công ở trên địa bàn.Công tác an sinh xã hội: Về hỗ trợ cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc Nghị định 20/2021/NĐ-CP và các đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn trong quý III/2024 toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền hơn 483,49 tỷ đồng, tăng 22,06% so với quý trước và tăng 15,40% so với cùng kỳ. Trong đó, toàn tỉnh đã tổ chức trao tặng hơn 430 mô hình sinh kế giảm nghèo với giá trị 2,66 tỷ đồng; trao tặng 138.147 suất quà, trị giá gần 36,18 tỷ đồng nhân ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7; hỗ trợ chi phí học đại học cho 29 bạn là con của người có công, hỗ trợ tiền học phí và tiền ăn các khóa học nghề ngắn hạn cho 705 con em hộ nghèo và các trao hơn 740 suất quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Do trùng dịp tết Trung thu khắp mọi nơi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã dành tặng hàng nghìn suất quà đến các trẻ nhỏ với giá trị 2,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, cũng trong quý III/2024 trên địa bàn đã tiến hành hỗ trợ đột xuất 99,6 triệu đồng đến các địa chỉ nhân đạo, hỗ trợ 2 triệu đồng cho 1 hộ ngư dân bị cháy thuyền, hỗ trợ 10 triệu đồng cho 1 gia đình bị cháy xưởng gỗ và tổ chức nấu 210 suất cơm, 1470 suất cháo miễn phí cho các bệnh nhân tại các trung tâm y tế với số tiền 35,7 triệu đồng.Tính chung 9 tháng năm 2024 tổng số tiền toàn tỉnh đã chi trả lên đến hơn 1.382,21 tỷ đồng, tăng 17,26% so với cùng kỳ. Ngoài ra, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 402.898 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 13.783 thẻ bảo hiểm hộ nghèo; 28.347 thẻ hộ cận nghèo; 143.395 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 43.206 thẻ cho người có công và 174.167 thẻ cho các đối tượng khác.3. Giáo dụcTình hình giáo dục trong tháng 9 tập trung cho Khai giảng và bước vào năm học mới 2024-2025, sáng ngày 5/9 cùng với hàng triệu giáo viên, học sinh cả nước, sáng hơn 374.000 cán bộ, giáo viên, học sinh Hà Tĩnh bước vào năm học mới. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã về các địa phương chia sẻ niềm vui với giáo viên, học sinh trong ngày khai trường. Ngoài ra, sở GD&ĐT Hà Tĩnh đã có Văn bản số 5028/SGDĐT-GDPT về việc cho ý kiến dạy học 5 ngày trong tuần, nghỉ ngày thứ 7 cho học sinh bậc THCS của thành phố Hà Tĩnh, nhằm giảm áp lực cho giáo viên và học sinh. Nhìn chung quý III và 9 tháng năm 2024 ngành giáo dục Hà Tĩnh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2023-2024 với nhiều kết quả vượt bậc, thể hiện vị thế của giáo dục tỉnh nhà ở trong khu vực và toàn quốc. Cũng trong quý III/2024 HĐND tỉnh đã ra Nghị quyết số 126/2024/NQ-HĐND về mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập cho năm học 2023-2024 và những năm tiếp theo, mức thu cơ bản giữ mức cũ, không tăng và phân thu theo các vùng cụ thể nên có một số địa bàn mức thu học phí giảm so với các năm học trước. Bên cạnh đó, Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Tĩnh cũng đang tiến hành các lớp tập huấn cho cán bộ, giáo viên chuẩn bị cho các kỳ thi theo chương trình GDPT 2018 khi năm học mới 2024-2025 đã dần đi vào ổn định.4. Hoạt động y tế Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng 9/2024 không phát hiện ca nhiêm mới HIV/AIDS nào nhưng tính cả quý III năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện 2 ca nhiễm mới HIV, 2 ca chuyển sang AIDS và 1 ca chết do AIDS (Giảm 10 ca nhiễm mới, giảm 8 ca chuyển sang AIDS và số chết do AIDS không thay đổi so với quý trước). Tính chung 9 tháng năm 2024, trên địa bàn đã phát hiện 26 ca nhiễm mới HIV/AIDS, 20 ca chuyển sang AIDS và 5 ca chết vì AIDS (giảm 12 ca nhiễm mới, giảm 10 ca chuyển sang AIDS và số ca chết vì AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Công tác an toàn thực phẩm: Tháng 9/2024 trên địa bàn đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 5 người bị ngộ độc, số ca ngộ độc đơn lẻ là 89 ca, khiến chung trong quý III/2024 đã xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 11 người bị ngộ độc (tăng 1 vụ, tăng 9 người bị ngộ độc so với quý trước), 263 người mắc ngô độc ca đơn lẻ . Tính chung 9 tháng năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 13 người bị ngộ độc và 681 người bị ngộ độc đơn lẻ (số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi nhưng giảm 12 người bị ngộ độc; Giảm 33 ca ngộ độc đơn lẻ và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước).Tình hình dịch bệnh khác: Trong 9 tháng năm 2024 ghi nhận rải rác 69 ca sốt xuất huyết, 80 ca mắc sởi trên địa bàn. Đặc biệt, khống chế thành công ổ dịch Sốt xuất huyết tại 01 thôn ở TX Kỳ Anh với 35 ca mắc, 01 ổ dịch sởi tại huyện Đức Thọ với 66 ca. Các bệnh truyền nhiễm như ho gà, thuỷ đậu, tay chân miệng, quai bị... diễn ra rải rác không thành dịch. Theo trung tâm CDC Hà Tĩnh, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%; 99% phụ nữ mang thai được khám thai >3 lần trong thời kỳ; 99,7% phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế. Các chỉ số về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được đảm bảo. Triển khai chiến dịch bổ sung Vitamin A liều cao cho trẻ từ 6-59 tháng tuổi đạt 99,5%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 7,8%; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi là 13,7%, công tác quản lý bệnh không lây nhiễm được triển khai hiệu quả.5. Hoạt động văn hoá, thể thaoHoạt động văn hóa: Trong tháng 9/2024, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 1946/QĐ-UBND về việc phân bổ kinh phí chính sách hỗ trợ xây dựng các công trình văn hoá, thể thao cơ sở năm 2024, trong đó trích ngân sách số tiền 3,46 tỷ đồng, từ nguồn kinh phí các đề án, chính sách lĩnh vực văn hoá, thể thao và du lịch cấp cho các địa phương để hỗ trợ kinh phí xây dựng các công trình văn hoá, thể thao cơ sở nhằm góp phần hoàn thiện đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở và khai thác, phát huy hiệu quả các hoạt động của các công trình nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí của các tầng lớp nhân dân. Cũng trong tháng này UBND xã Mai Phụ đã long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh cho nhà thờ Nguyễn Xuân Trùm và Nguyễn Xuân Kiều, thuộc thôn Đồng Sơn; UBND xã Thạch Hải tổ chức lễ đón nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh đền Tam Tòa Tứ Vợi; tổ chức lễ giỗ lần thứ 93 đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú tại khu mộ và Khu lưu niệm cố Tổng Bí thư...Nhìn chung đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Hà Tĩnh 9 tháng năm 2024 luôn được chú trọng, Hà Tĩnh đã, đang và sẽ tiếp tục chỉ đạo các địa phương triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước.Hoạt động thể dục thể thao: Phong trào thể dục thể thao luôn được người dân Hà Tĩnh quan tâm, chú trọng. Về thể thao quần chúng Sở VHTT&DL thường xuyên có những chỉ đạo, hướng dẫn các huyện, thị xã, thành phố tổ chức tốt các giải thể thao, các trò chơi dân gian. Sở cũng đa Tổ chức và phối hợp tổ chức thành công 09 giải thể thao cấp tỉnh và Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh lần thứ XIV như: Giải Việt dã - Marathon toàn tỉnh và Ngày chạy Olimpic vì sức khỏe toàn dân; giải Bóng đá Thiếu niên - Nhi đồng toàn tỉnh; giải Quần vợt Cúp Truyền hình Hà Tĩnh lần thứ VIII; giải Bóng chuyền nam Thanh niên toàn tỉnh lần thứ XXII; giải bóng đá thiếu niên - Nhi đồng; giải Vô địch Karate toàn tỉnh; giải Pickleball tỉnh Hà Tĩnh lần I, năm 2024; giải Vô địch Karate toàn tỉnh; giải Bóng đá nam Vô địch toàn tỉnh. Ngoài ra các giải tự tổ chức của các cấp, ngành địa phương cũng được tổ chức thường xuyên, liên tục.Về thể thao thành tích cao: Tháng 9/2024 đoàn Hà Tĩnh đã tham gia các giải đấu và gặt hái một số thành tích đáng kể như: VĐV Hoàng Thị Mỹ Tâm (Hà Tĩnh) đã xuất sắc giành 2 HCV tại Giải Vô địch Karate châu Á năm 2024, góp sức cùng đội tuyển Việt Nam lần đầu giành vị trí thứ 2 toàn đoàn; tại Giải vô địch Điền kinh quốc gia 2024 - Đội tuyển Điền kinh Hà Tĩnh vừa giành 8 huy chương (5HCV, 3 HCB) các nội dung tiếp sức, qua đó xuất sắc giành vị trí thứ 2 toàn đoàn; tại giải Đua thuyền buồm vô địch quốc gia và vô địch trẻ quốc gia năm 2024 Hà Tĩnh có 3 VĐV tham gia và giành được 8 huy chương (2 HCV, 3 HCB, 3 HCĐ),... Tính chung 9 tháng năm 2024, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 40 giải thi đấu thành tích cao và giành được 208 huy chương các loại (85 HCV – 45 HCB – 78 HVĐ).Công tác quản lý nhà nước: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theokế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Từ đầu năm đến nay đã thực hiện 05 cuộc kiểm tra tại 98 cơ sở kinh doanh các hoạt động dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch; xử phạt vi phạm hành chính 02 tổ chức, 02 cá nhân. Tiếp nhận 02 đơn thư khiếu nại; đã phối hợp các cơ quan liên quan tiếp nhận và xử lý đúng quy định.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội tại đia phươngTình hình an toàn giao thông: Tháng 9/2024 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 22 vụ tai nạn đường bộ, làm 17 người chết, 9 người bị thương, tính cả quý III năm 2024, đã xảy ra 88 vụ tai nạn đường bộ, làm 56 người chết, 45 người bị thương (giảm 24 vụ, giảm 4 người chết, giảm 17 người bị thương so với quý trước). Trong tháng 9 và cả quý III không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với quý trước). Tính chung 9 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 318 vụ tai nạn đường bộ, làm 169 người chết, 201 người bị thương (tăng 66 vụ, tăng 23 người chết, tăng 46 người bị thương so với cùng kỳ năm trước); 3 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 1 người, 1 người bị thương (tăng 1 vụ, tăng 1 người bị thương và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước).Tình hình cháy, nổ: Chỉ tính riêng tháng 9/2024 trên địa bàn đã xảy ra đến 10 vụ cháy, mặc dù không có thiệt hại về người nhưng thiệt hại về tài sản ở mức 84,28 triệu đồng, khiến chung cả quý III xảy ra 29 vụ cháy, không có thiệt hại về người nhưng giá trị thiệt hại ước tính 186,63 triệu đồng (tăng 10 vụ, không làm thiệt hài về người như với quý trước). Tính chung 9 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 65 vụ cháy, giá trị thiệt hại ước tính 596,83 triệu đồng (giảm 12 vụ, không làm thiệt hại về người như cùng kỳ năm trước). Trong cả quý III và 9 tháng năm 2024 trên địa bàn không xảy ra vụ nổ nào (giảm 1 vụ, giảm 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước).Vi phạm môi trường: Trong tháng 9/2024, Hà Tĩnh phát hiện 13 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 16 vụ, với tổng số tiền xử phạt 509,46 triệu đồng; tăng 3 vụ phát hiện (tăng 30,0 %), tăng 9 vụ đã xử lý (tăng 128,57%), tăng 426,89 triệu đồng (tăng 517,0%) số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 5 vụ phát hiện (giảm 27,78 %), tăng 2 vụ đã xử lý (tăng 14,29%), tăng 482,20 triệu đồng (tăng 18,69 lần) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 9 tháng năm 2024, phát hiện 232 vụ vi phạm môi trường, giảm 143 vụ (giảm 38,13%); đã xử phạt 214 vụ, giảm 220 vụ (giảm 50,69%); tổng số tiền xử phạt là 1.283,50 triệu đồng, giảm 119,11 triệu đồng (giảm 8,49%) so với cùng kỳ năm trước.7. Tình hình thiên taiTrong tháng (từ ngày 25/8-24/9/2024) xảy ra 2 vụ thiên tai làm 94 nhà bị hư hại, 17 ha hoa màu bị thiệt hại, 50 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi; gẫy đổ 2 cột điện....tổng ước tính 1.614,5 triệu đồng. Cụ thể: vụ thứ nhất ảnh hưởng của bão số 4 từ ngày 18/9-20/9 đã gây ra giông, lốc xoáy tại huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Can Lộc... làm 59 nhà ở (54 nhà bị tốc mái, 5 nhà bị nước vào) bị tốc mái, gãy đổ 2 cột điện... tổng ước tính thiệt hại 1.083 triệu đồng; vụ thứ 2 do mưa lớn từ tối ngày 22-23/9 gây ngập lụt làm 35 nhà bị ngập, 17 ha hoa màu bị thiệt hại, 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi, chết; 50 con gia cầm bị chết, cuốn trôi gây thiệt hại ước tính 531,5 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay (từ ngày 19/12/2023-24/9/2024), xảy ra 3 vụ thiên tai làm 1 người chết, 94 nhà bị hư hại (54 nhà tốc mái và 5 nhà nước ngập), gãy đổ 2 cột điện,17 ha hoa màu bị thiệt hại, 50 con gia cầm chết, cuốn trôi, 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi... với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.614,5 triệu đồng (Bao gồm: 1 vụ sét đánh tại thôn 6, xã Cẩm Lĩnh, huyện Cẩm Xuyên làm 01 người chết; 1 vụ do bão số 4 và 1 vụ do mưa lớn).Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 8 và 8 tháng năm 2024
- 30/08/2024 17:29
Tháng 8 và 8 tháng năm 2024, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh biến động chính trị, cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn leo thang, kinh tế toàn cầu có tín hiệu phục hồi nhưng thiếu vững chắc. Nền kinh tế Hà Tĩnh nhìn chung ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất khó khăn; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để tạo sức bật cho tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh. Vì vậy, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội năm 2024, triển khai Quy hoạch tỉnh, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án trọng điểm, sản xuất và thu hoạch vụ Hè Thu, đẩy mạnh hoạt động thương mại, du lịch, tiếp tục thu hút đầu tư, triển khai tốt các nhiệm vụ văn hóa xã hội, chăm sóc an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, duy trì các hoạt động đối ngoại. I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Hiện nay, toàn tỉnh đang tập trung thu hoạch lúa vụ Hè Thu, phấn đấu hoàn thành trước ngày 05/9. Đánh giá bước đầu lúa vụ Hè Thu năm nay tiếp tục được mùa, năng suất, giá bán ở mức cao. Bên cạnh đó, cây ăn quả (bưởi Phúc Trạch) bước vào giai đoạn thu hoạch. Chăn nuôi duy trì ổn định, kiểm soát kịp thời dịch bệnh nguy hiểm trên gia súc, gia cầm. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường. Nuôi trồng, khai thác thủy sản duy trì ổn định. 1.1 Sản xuất nông nghiệp * Trồng trọt Tháng 8 sản xuất trồng trọt chủ yếu thu hoạch lúa Hè Thu và chăm sóc cây hàng năm khác. Hiện nay bà con nông dân một số địa phương trên địa bàn đã bắt đầu bước vào thu hoạch sớm vụ lúa Hè Thu 2024 với phương châm “xanh nhà hơn già đồng” để né tránh những bất lợi của thời tiết. Một số huyện đã thu hoạch lúa như huyện Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên... Tiến độ thu hoạch lúa vụ Hè thu đến nay đạt trên 90% diện tích, phấn đấu hoàn thành thu hoạch cơ bản xong trong tháng 8/2024. Đánh giá bước đầu lúa vụ Hè Thu năm nay tiếp tục được mùa; năng suất, giá bán ở mức cao, người dân phấn khởi. - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2024: Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu toàn tỉnh ước tính đạt 58.817 ha, bằng 100,47% (tăng 274 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 241.794 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 103,23% (tăng 7.559 tấn). Một số cây trồng hàng năm chủ yếu như sau: Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh ước tính đạt 44.873 ha, bằng 100,69% (tăng 306 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lúa Hè Thu tăng do năm trước hạn hán, người dân bỏ hoang nhiều, năm nay thời tiết thuận lợi, thu hoạch vụ đông xuân sớm, các điều kiện sản xuất được đảm bảo, đặc biệt giá lúa tăng, thương lái thu mua tại chỗ nên khuyến khích người dân khai hoang sản xuất. Một số huyện có diện tích tăng như Hồng Lĩnh tăng 80 ha, Đức Thọ tăng 80ha, Hương Khê tăng 115 ha, Kỳ Anh tăng 90 ha... bên cạnh đó huyện Lộc Hà lại giảm 42 ha, Thạch Hà giảm 98 ha do thực hiện các dự án lớn của tỉnh như dự án VSPIP. Năng suất ước đạt 51,58 tạ/ha, bằng 102,59% (tăng 1,3 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 231.456 tấn, bằng 103,29% (tăng 7.369 tấn). Do thời tiết thuận lợi, có các đợt mưa xen kẻ nên đảm bảo nguồn nước và cung cấp nguồn dinh dưỡng quý cho giai đoạn lúa trổ bông, làm đòng, mặt khác tình hình sâu bệnh gây hại được kiểm soát tốt nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa được đảm bảo các điều kiện nên năng suất tăng so với năm trước. Cây lạc: Diện tích trồng lạc ước tính đạt 370 ha, bằng 113,10% (tăng 43 ha) so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó huyện Kỳ Anh tăng 64 ha, huyện Cẩm Xuyên giảm 18 ha. Năng suất lạc ước tính đạt 21,43 tạ/ha, bằng 95,20% (giảm 1,08 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lạc ước tính đạt 793 tấn, bằng 107,67% (tăng 57 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại: Diện tích rau các loại ước tính đạt 2.991 ha, bằng 100,96% (tăng 28 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau ước tính đạt 76,09 tạ/ha, bằng 101,68% (tăng 1,25 tạ/ha), với sản lượng rau ước tính đạt 22.761 tấn, bằng 102,65% (tăng 588 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Mùa: Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa ước đạt 182,65 ha, bằng 67,48% so với cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh hiện còn có huyện Nghi Xuân, Thạch Hà và huyện Lộc Hà đang triển khai gieo cấy lúa vụ Mùa trên những chân rộng pha cát. Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, đầu vụ thường xẩy ra khô hạn và cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Cây lâu năm: Hiện nay, bên cạnh các loại cây ăn quả như mít, ổi, nhãn, chanh… đang thu hoạch chính vụ thì cây bưởi là một loại cây ăn quả chủ lực của địa phương đang chuẩn bị bước vào thu hoạch chính vụ. Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch các loại cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được quan tâm chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Cây lúa: Chuột gây hại ở các vùng cao cưỡng, gần làng ở các địa phương tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 272ha. Bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm tỉ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm 3.340 ha, diện tích phòng trừ 4.500 ha. Cây trồng cạn: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 2ha, sâu đục thân, đục bắp gây hại tỷ lệ trung bình 1- 3%, diện tích nhiễm 10ha, rệp ngô gây hại tỷ lệ trung bình 10-15%, diện tích nhiễm 7 ha, bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 10 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, hương Khê,… Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 15 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 35 ha; sâu vẽ bùa diện tích nhiễm 2 ha; ruồi đục quả diện tích nhiễm 63 ha; rệp sáp diện tích nhiễm 7 ha; bướm chích hút diện tích nhiễm 10 ha; bệnh chảy gồm diện tích nhiễm 10 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… * Chăn nuôi - Kết quả sản xuất chăn nuôi: Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng vẫn ổn định ở đàn lợn và gia cầm, khi tổng đàn lợn ước đạt 401.670 con, bằng 101,66%; đàn gia cầm ước đạt 10.072 ngàn con, bằng 101,63% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên tổng đàn trâu, bò lại có xu hướng giảm do chăn nuôi kém hiệu quả, đàn trâu ước đạt 66.730 con, bằng 99,15%; đàn bò ước đạt 164.350 con, bằng 97,99% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, ở tỉnh ta dịch cơ bản trong tầm kiểm soát nên chưa có ảnh hưởng lớn. Mặc dù giá lợn hơi những tháng gần đây tăng cao do nguồn cung trong nước không đảm bảo nhưng người dân vẫn còn rất e ngại trong việc tăng đàn, tái đàn vì vậy hoạt động chăn nuôi trong tháng chưa có chuyển biến tích cực. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 29/8/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch Viêm da nổi cục trên đàn trâu bò và Dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể: Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Thạch Hà) làm cho 156 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 20 con mắc bệnh chết, tiêu hủy. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 16 xã thuộc 05 huyện (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, Nghi Xuân); tổng số lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 164 con. 1.2 Lâm nghiệp - Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước đạt 403 ha, bằng 102,81%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 36.154 m3, bằng 103,36% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới đạt thấp so với bình quân các tháng do thời tiết nắng nóng kéo dài không thuận lợi cho việc trồng rừng. Tuy nhiên trong tháng nắng nóng vẫn dịu hơn, có những ngày mưa nên hoạt động trồng rừng vẫn tăng (213 ha) so với tháng trước. Thời điểm này giá bán ổn định nên người dân tranh thủ khai thác rừng trồng để chuẩn bị trồng rừng trong các tháng tới khi nhiệt độ giảm dần. Tính chung 8 tháng, diện tích rừng trồng mới ước đạt 3.775 ha, bằng 124,01%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 278.506 m3, bằng 112,78% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi trong tháng ước đạt 19.906 ste, bằng 98,67% (giảm 1,33 ste), tính chung 8 tháng ước đạt 175.829 ste, bằng 96,84% (giảm 5.732 ste). Sản lượng củi giảm so với cùng kỳ do người dân sử dụng bếp gas, bếp điện nên việc khai thác củi, sử dụng củi làm chất đốt có phần hạn chế. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 47 nghìn cây, bằng 97,92% so với cùng kỳ, tính chung 8 tháng năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 2.036 nghìn cây, bằng 122,65% so với cùng kỳ. - Thiệt hại về rừng: Trong tháng không xảy ra cháy rừng nhưng xảy ra 03 điểm phát lửa (01 điểm tại xã Kỳ Ninh thị xã Kỳ Anh, 01 điểm tại xã Trường Sơn huyện Đức Thọ, 01 điểm tại xã Sơn Lễ huyện Hương Sơn); số vụ phá rừng trong tháng là 4 vụ (giảm 8 vụ) với diện tích rừng bị phá là 1,68 ha. Tính từ đầu năm đến ngày 25/8/2024 số vụ cháy rừng là 4 vụ (giảm 2 vụ), diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14ha); số vụ phá rừng là 34 vụ (giảm 56 vụ) với tổng diện tích rừng bị phá là 9,72 ha (giảm 22,18 ha). Hiện nay do tình hình thời tiết vẫn còn nắng nóng, vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất lớn nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản - Sản xuất thủy sản: Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng tăng 1.313 tấn so với tháng trước và tăng 271 tấn so với cùng kỳ năm trước. Giai đoạn này là mùa phát triển sinh sôi nhiều loại thủy hải sản nên mỗi chuyến ra khơi người dân đánh bắt được nhiều thủy hải sản có giá trị như cá, mực, tôm... nhu cầu tiêu dùng mùa du lịch tăng cao, giá cả tương đối ổn định nên khuyến khích ngư dân vươn khơi bám biển. Các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm vụ tôm Xuân Hè nên làm cho sản lượng nuôi trồng tăng (tháng 8 sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.589 tấn, chiếm 24,3% tổng sản lượng nuôi trồng 8 tháng năm 2024). Vụ Xuân Hè năm nay điều kiện thời tiết thuận lợi, dịch bệnh ít xuất hiện và được kiểm soát tốt nên một số vùng người dân đầu tư mới các mô hình nuôi tôm chất lượng cao như nuôi tôm trong bể xi măng có mái che với công nghệ đảm bảo an toàn vệ sinh tuyệt đối nên sản lượng ban đầu cho thu hoạch khá cao, mỗi héc ta cho thu hoạch từ 25 - 30 tấn tôm. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng không xảy ra dịch bệnh trên thủy sản, tính từ đầu năm đến nay, các dịch bệnh xảy ra như sau: Bệnh Đốm trắng xảy ra với diện tích 8,25 ha tại 5 xã thuộc 4 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh). Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra với diện tích 4.29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà). Bệnh Vi bào tử trùng xảy ra với diện tích 0,65 ha tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh.2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 8/2024 có nhiều điểm thuận lợi như: Formosa Hà Tĩnh đang có xu hướng tăng sản lượng; bia đóng lon mở rộng thị trường tăng sản lượng sản xuất; sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ cũng đang được đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn còn gặp những khó khăn, thách thức như: Sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc nhiều vào biến động thị trường nên sản xuất chưa ổn định; tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 hoạt động trở lại từ tháng 8 năm trước nên quý 4 năm nay sẽ không còn lợi thế về tăng trưởng… Do đó, thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất khó khăn; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 8/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 25,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 1,34% so với tháng trước và tăng 58,7% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 9,57% so với tháng trước và tăng 35,08% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do sản lượng thép thành phẩm sản xuất tháng 8/2024 tăng gần 160 ngàn tấn (tăng 56,97% so với cùng kỳ năm trước). Thị trường mở rộng từ đầu quý III/2024, sản lượng thép xuất khẩu tăng mạnh trong các tháng gần đây dẫn đến sản lượng sản xuất tăng mạnh so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 12,79% so với tháng trước và giảm 23,4% so với cùng kỳ, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 thực hiện công tác trùng tu tổ máy số 2 từ 15/8, thời gian dự kiến công tác trùng tu của nhà máy là 65 ngày. Dự ước sản lượng điện sản xuất trong tháng 8/2024 đạt 175 triệu Kwh, giảm 46,11% so với cùng kỳ năm trước. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số sản xuất ngành sản xuất, truyền tải và phân phối điện giảm mạnh; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 0,04% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 8,59%. Ước tính 8 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 0,12% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 30,43% đóng góp 0,38 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,37% làm giảm 3,51 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 22,34% đóng góp 2,93 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,33% đóng góp 0,32 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính đến hết tháng 8/2024 tăng 0,12% so với năm trước. Thị trường trong nước cũng như quốc tế đang thay đổi từng ngày, đây là cơ hội cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp công nghiệp Hà Tĩnh. Đồng thời các dự án vừa đi vào hoạt động cũng như sắp sửa đi vào sản xuất trong thời gian tới đây sẽ góp phần làm đa dạng sản phẩm, gia tăng giá trị sản xuất để ngành công nghiệp tiếp tục đóng vai trò là trọng yếu tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 8 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 80%; bê tông trộn sẵn tăng 23,54%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 22,25%; bia đóng lon tăng 24,49%; điện sản xuất tăng 21,8%; điện thương phẩm tăng 12,96%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Mực đông lạnh giảm 76,87%; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 8,48%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 42,02%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,76%; ... Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị... để tăng công suất hoạt động, đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn Hà Tĩnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất - kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu sản xuất - kinh doanh năm nay. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2024 giảm 5,38% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 9,69%. Cộng dồn đến cuối năm tháng 8 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,63% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng giảm 2,01% so với năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,67% do đang phục hồi sau thời gian dài khó khăn, quy mô sản xuất được mở rộng để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,86%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,38% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Ngày 02/8/2024 UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 1878/QĐ-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2021-2025 và phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công năm 2024, theo đó giao bổ sung kế hoạch vốn năm 2024 với tổng số vốn 2.091 tỷ đồng. Do đó, kế hoạch vốn đầu tư ngân sách thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2024 là 6.817 tỷ đồng, tăng 10,04% so với năm 2023. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2024 ước đạt 593,20 tỷ đồng, tăng 26,17% so với tháng trước, giảm 2,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 404,73 tỷ đồng, tăng 39,43% so với tháng trước và giảm 7,86% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 142,15 tỷ đồng, tăng 4,02% so với tháng trước và tăng 51,47% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46,31 tỷ đồng, tăng 7,17% so với tháng trước và giảm 1,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, một số công trình thi công với tiến độ nhanh như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt 24,50 tỷ đồng; tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Thạch Hà ước đạt 35,28 tỷ đồng; đường từ Quốc Lộ 12C đi khu liên hợp Gang thép Formosa tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 11,50 tỷ đồng; dự án Đường vành đai phía Nam Khu kinh tế Vũng Áng đạt khoảng 7,80 tỷ đồng; … Nguyên nhân kết quả dự ước thực hiện tháng 8 năm 2024 đạt được ở mức khá cao và cao hơn so với các tháng trước do thời tiết tiếp tục thuận lợi để các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công. Bên cạnh đó, tỉnh đã bổ sung thêm nguồn vốn để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình cũ, khởi công các công trình mới góp phần vào kết quả thực hiện được cao hơn. Đặc biệt là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh tập trung thi công các công trình nhằm đạt được kế hoạch năm. Tính chung 8 tháng năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước đạt 2.924,42 tỷ đồng, giảm 7,51% so với cùng kỳ năm trước, đạt 42,89% kế hoạch năm. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.868,95 tỷ đồng, giảm 20,64% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 803,44 tỷ đồng, tăng 43,69% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 252,04 tỷ đồng, tăng 1,73% so với cùng kỳ. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 8 tháng năm 2024 vẫn còn một số khó khăn trong việc chưa khởi công hay tiến độ giải ngân còn chậm, vướng mắc do thủ tục đầu tư dự án kéo dài, khó khăn trong quá trình triển khai GPMB dự án, tình trạng khan hiếm nguồn cung một số loại vật liệu xây dựng như đất đắp, cát san nền; đối với những dự án lớn (đặc biệt là các dự án ODA), do thời gian thực hiện kéo dài qua nhiều năm nên quá trình triển khai dự án có sự biến động lớn về giá nguyên, nhiên, vật liệu, đơn giá bồi thường GPMB; các dự án khởi công mới những tháng đầu năm chưa có khối lượng thanh toán; các dự án chuyển tiếp hiện đang tập trung thi công hoàn trả khối lượng tạm ứng kế hoạch vốn năm trước; một số địa phương, đơn vị chưa thực sự vào cuộc chỉ đạo quyết liệt trong triển khai thực hiện dự án trên địa bàn. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 8 hoạt động thương mại, dịch vụ có dấu hiệu giảm nhiệt hơn so với các tháng trước, nguyên nhân do trùng tháng Bảy âm lịch theo quan niệm của người dân hạn chế các hoạt động tham quan, nghỉ mát, du lịch cũng như mua sắm các đồ dùng có giá trị, mặc dù vậy, so với cùng kỳ mức doanh thu vẫn đang tăng ở mức khá. Tính chung 8 tháng năm 2024 hoạt động thương mại, dịch vụ đang phát triển khả quan, thị trường hàng hoá phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 8/2024 ước đạt 5.783,30 tỷ đồng, giảm 2,0% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng 18,21%. Bên cạnh các nhóm hàng giá trị cao và không thiết yếu giảm mạnh so với tháng trước như nhóm ô tô con (giảm 27,06%), phương tiện đi lại (11,01%), đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (giảm 5,83%)…, thì các nhóm mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, may mặc và giáo dục tăng khá so với tháng trước và cả so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng trùng tháng Bảy âm lịch các hoạt động mua sắm hạn chế hơn, nhưng cũng là tháng có ngày Rằm tháng 7 - “Vu Lan báo hiếu” hướng về tổ tiên, cội nguồn các mặt hàng hoa quả, thực phẩm… nắm bắt nhu cầu tăng giá khá cao. Bên cạnh đó, tháng 8 cũng là tháng chuẩn bị bước vào năm học mới nên tăng nhu cầu may mặc, mua sắm đồ dùng học tập, cùng với việc áp dụng bộ sách giáo khoa mới cho các lớp 5, 9, 12 theo chương trình mới được sử dụng bắt đầu cho năm học 2024-2025 cũng là nguyên nhân khiến doanh thu nhóm hàng này tăng. Thị trường bán lẻ tỉnh Hà Tĩnh, càng về cuối năm càng sôi động. Do các chính sách kích cầu như giảm thuế VAT 2% các mặt hàng thiết yếu, tăng lương cơ bản, dự kiến giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Tính chung 8 tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 45.856,02 tỷ đồng, tăng 19,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 22.120,21 tỷ đồng, chiếm 48,24% tổng mức, tăng 25,90%; Đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tổng mức bán lẻ toàn tỉnh. Các nhóm hàng khác đều có tăng trưởng cao, ngoại trừ nhóm ô tô con và phương tiện đi lại đang giảm khá sâu (giảm lần lượt 28,58% và 27,14%). Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 8/2024 ước đạt 781,89 tỷ đồng, tăng 0,28% so với tháng trước, tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước. Ttrong 03 nhóm dịch vụ chính thì có 02 nhóm ngành có doanh thu giảm mạnh là lưu trú và du lịch, chỉ có dịch vụ ăn uống có doanh thu tăng, nhưng chiếm trên 94% tổng doanh thu của cả 3 nhóm ngành, vì vậy tính chung 3 nhóm ngành doanh thu vẫn tăng nhẹ, cụ thể diễn biến các nhóm ngành trong tháng như sau: Dịch vụ lưu trú ước đạt 38,37 tỷ đồng, giảm 17,03% so với tháng trước, tăng 39,01% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 739,50 tỷ đồng, tăng 1,63% so với tháng trước, tăng 8,78% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 4,02 tỷ đồng, giảm 30,61% so với tháng trước, tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành trong tháng giảm do tác động của yếu tố mùa vụ và thời tiết không thuận lợi, tuy nhiên cũng là tháng có thời gian đặc thù để những người con xa quê đã tập trung về tổ tiên, cội nguồn để gặp mặt gia đình, người thân và bạn bè vì vậy hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn tăng. Tính chung 8 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ ước đạt 5.583,87 tỷ đồng, tăng 12,80% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 208,57 tỷ đồng, tăng 0,11%; Doanh thu ăn uống ước đạt 5.323,60 tỷ đồng, tăng 13,06%; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 51,7 tỷ đồng, tăng 56,32% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách du lịch theo tour ước đạt 15.607 lượt, tăng 52,35% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách du lịch theo tour ước đạt 44.485,5 ngày khách, tăng 56,61% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch 8 tháng năm 2024 tăng khá. Hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định chứng tỏ đời sống người dân đang dần cải thiện. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên thời gian tới khi mùa du lịch cao điểm đã gần qua thì 2 nhóm ngành này dự ước sắp tới sẽ tiếp tục giảm doanh thu, vì vậy yêu cầu cần thiết các chính sách quy hoạch các khu du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch tỉnh nhà cần được các cơ quan, ban ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện cũng như sự đồng hành đầu tư của các doanh nghiệp hoạt động du lịch trong và ngoài nước. Dịch vụ khác: Tháng 8 năm 2024, trong 06 nhóm ngành của dịch vụ khác, thì có 04 nhóm ngành tăng trưởng âm so với tháng trước, trong đó có ngành dịch vụ khác (ngành S), ngành dịch vụ hành chính và hỗ trợ, chiếm trên 56% tổng dịch vụ khác, điều đó làm doanh thu dịch vụ khác ước đạt 387,12 tỷ đồng, giảm 1,58% so với tháng trước và tăng 10,51% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.041,50 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 640,54 tỷ đồng, giảm 9,41% do một phần tiền đang được “ngâm” trong lĩnh vực chứng khoán và vàng; nhóm ngành hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 750,91 tỷ đồng, tăng 4,45% do ngành cho thuê máy móc, thiết bị… có tăng trưởng mạnh (8,4%) nhờ vào yếu tố tăng cường đầu tư công của chính phủ; nhóm ngành giáo dục đào tạo tăng 10,59% do tăng chi phí học bằng lái xe; nhóm hàng y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 20,37% do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế từ ngày 17/11/2023; nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 46,9% và dịch vụ khác tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy đời sống người dân tỉnh nhà ngày càng được nâng cao. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng nhìn chung ổn định, không có biến động lớn, doanh thu so tháng trước có giảm nhưng mức giảm không đáng kể, so vớ cùng kỳ vẫn đang tăng ở mức khá. Tính chung 8 tháng năm 2024, hoạt động vận tải và hỗ trợ vận tải đang trên đà phát triển với sự cải thiện liên tục về cơ sở hạ tầng và dịch vụ giao thông đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 8/2024 doanh thu ước đạt 781,20 tỷ đồng, giảm 1,75% so với tháng trước, tăng 21,91% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 121,39 tỷ đồng, tăng 0,99% so với tháng trước và tăng 27,24% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 516,73 tỷ đồng, giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 25,84% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 137,86 tỷ đồng, giảm 9,65% so với tháng trước và tăng 15,06% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, về vận tải hành khách nhu cầu đi lại về quê dịp Rằm tháng Bảy, cũng như là thời điểm nhập học của tân sinh viên; Thứ hai vận tải hàng hoá giảm nhẹ do nhu cầu vận tải hoàng hoá phục vụ các công trình xây dựng giảm, các công trình không khỏi công trong tháng bảy âm lịch; Thứ ba, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đang gặp khó khăn vì vậy dịch vụ hỗ trợ, vận tải giảm khá sâu, dịch vụ chuyển phát cũng giảm do người dân hạn chế tiêu dùng hàng không thiết yếu. Tính chung 8 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu dự ước đạt 5.742,83 tỷ đồng, tăng 23,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 1.001,34 tỷ đồng, tăng 47,52%; vận tải hàng hoá ước đạt 3.568,71 tỷ đồng, tăng 18,28%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.132,11 tỷ đồng, tăng 35,08% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 8 năm 2024 có sự phát triển và tăng trưởng ổn định. Các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, chất lượng cao đối với loại phương tiện hành khách, mở thêm các tuyến vận chuyển; đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa, đúng tiêu chuẩn. Nhiều dự án nâng cấp và mở rộng các tuyến đường đang được thực hiện để cải thiện điều kiện giao thông. Những năm qua, các dịch vụ xe buýt và taxi có mặt ở các khu vực đô thị, nhưng ở các vùng nông thôn, dịch vụ này còn tồn tại một số hạn chế. Trong khi đó, hoạt động kho bãi ngày càng phát triển mạnh khi hạ tầng cảng Vũng Áng đang được đầu tư mở rộng và nâng cấp để tăng khả năng tiếp nhận tàu lớn hơn và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu kinh tế của khu vực. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất - nhập khẩu trong tháng 8 cũng như 8 tháng năm 2024 đang gặp nhiều khó khăn và vẫn chưa có dấu hiệu khả quan. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 8/2024 ước đạt 455,5 triệu USD, giảm 6,0% so với tháng trước và giảm 6,37% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4.013,01 triệu USD giảm 5,92% so với cùng kỳ (giảm 252,55 triệu USD). Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 8/2024 ước đạt 174,7 triệu USD, giảm 11,63% so với tháng trước và giảm 5,85% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu ở việc mặt hàng Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 152,3 triệu USD, chiếm 87,18% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh, giảm 15,15% so với tháng trước và giảm 6,68% so với cùng kỳ. Mặc dù các mặt hàng Dăm gỗ, Xơ sợi, May mặc… trong những tháng gần đây có sự khởi sắc và giá trị xuất khẩu tăng khá, nhưng do giá trị xuất khẩu quá nhỏ so với mặt hàng thép nên nhìn chũng kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm sâu so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.469,89 triệu USD, giảm 19,48% (giảm 355,65 triệu USD) so với cùng kỳ. Nguyên nhân do tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát và tăng lãi suất, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, nên mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, 8 tháng năm 2024 chỉ tính riêng xuất khẩu của Formosa đã giảm đến 21,9% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8 ước đạt 280,8 triệu USD, giảm 2,12% so với tháng trước và giảm 6,71% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng Formosa hạn chế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, các mặt hàng tiêu dùng cũng giảm nhập khẩu. Tính chung 8 tháng năm 2024 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.543,12 triệu USD vẫn tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá trị nhập khẩu của Formosa ước đạt 1.851,43 triệu USD, chiếm 72,80% kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh, tăng nhẹ 0,68% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Với kết quả đến 8 tháng mới chỉ đạt hơn 1,4 tỷ USD còn cách mục tiêu rất xa, và dấu hiệu thị trường vẫn chưa có động thái khởi sắc rõ rệt, vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: Hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong những tháng cuối năm đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Diễn biến thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 8/2024 không có biến động lớn, chỉ số giá chung tăng nhẹ so với tháng trước. Mặc dù trong tháng giá các loại hoa, quả, thực phẩm có tăng cao trong những ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, nhưng chỉ diễn ra ít ngày không ảnh hưởng lớn đến mức giá bình quân chung cả tháng. Tính chung 8 tháng năm 2024 đã tăng khá cao nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát ở mức 3,21%. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Tháng 8 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 4,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì có 2 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước là giao thông và văn hóa, giải trí và du lịch do yếu tố mùa vụ trùng tháng Bảy âm lịch các hoạt động giải trí nhu cầu giảm cộng với việc giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn cả nước giảm sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua; 2 nhóm hàng hoá ổn định về giá là y tế và bưu chính, viễn thông còn các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó, các mặt hàng thiết yếu ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,91% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 8,29%, cụ thể mặt hàng lương thực tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 14,14% so với cùng tháng năm trước khi giá gạo trong tháng tiếp tục tăng nhẹ do thời điểm đầu tháng chưa đến dịp thu hoạch vụ lúa Hè Thu; nhóm thực phẩm tăng 0,59% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 6,23%. Tính chung 8 tháng năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khu vực thành thị tăng 3,33%, nông thôn tăng 3,15%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,34%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,58%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,95%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,55%; giao thông tăng 1,36%; bưu chính viễn thông giảm 1,71%; giáo dục tăng 2,71%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,62%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Những tháng đầu năm, do một số mặt hàng thiết yếu giảm giá khiến chỉ số giá chung đạt thấp. Tuy nhiên những tháng cuối năm, do giá học phí có thể được điều chỉnh trong tháng 9, dự kiến CPI tháng 9/2024 tiếp tục tăng, giá các loại lương thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trong địp nghỉ lễ Quốc khánh 02/9. Bên cạnh đó, giá các loại gạo nếp, đậu hạt các loại tăng do nhu cầu nguyên liệu sản xuất nhân bánh phục vụ Tết Trung thu. Nhu cầu tiêu thụ đồ dùng gia đình những tháng cuối năm xu hướng tăng và hàng may mặc, văn phòng phẩm, sách vở tăng mạnh là tháng bước vào năm học mới 2024-2025. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 8/2024 trùng với lễ Vu Lan báo hiếu, các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng được bày bán đa dạng, sức mua tăng, giá cả ổn định. Cũng trong tháng này, bà con nông dân một số địa phương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã bắt đầu bước vào thu hoạch sớm vụ lúa hè thu năm 2024 với niềm vui thắng lợi. Ngoài ra, dịp kỷ niệm 77 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2024), Hà Tĩnh đã trao tặng 74.597 phần quà tri ân người có công và thân nhân người có công, với tổng giá trị khoảng 24 tỷ đồng. Nhìn chung 8 tháng năm 2024 tình hình đời sống các tầng lớp dân cư ổn định. Các văn bản được triển khai đồng bộ có hiệu quả, ban hành kế hoạch triển khai Chương trình hành động số 36-CTr/TU ngày 03/4/2024 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; xây dựng kế hoạch triển khai Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Giải quyết việc làm cho hơn 16.000 người, đạt 70% kế hoạch. Trợ cấp cho 65.773 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng kinh phí hơn 48 tỷ đồng. Giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHTN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2024-2025. Việc điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng giúp người thụ hưởng cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội.2. Giáo dục Nhiệm vụ trọng tâm Ngành giáo dục đào tạo Hà Tĩnh trong tháng là tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2023-2024 và triển khai nhiệm vụ năm học mới 2024-2025 các cấp học Tiểu học, THCS và THPT. Ghi nhận những kết quả đã đạt được trong năm học 2023-2024 với nhiều con số ấn tượng khi xếp thứ 7 toàn quốc về điểm thi bình quân tốt nghiệp THPT; thứ 10 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải quốc gia, đạt Huy chương bạc Olympic Toán học quốc tế; thứ 4/12 tại Hội khỏe Phù Đổng khu vực III tại tỉnh Quảng Nam. Quỹ hỗ trợ học sinh khó khăn vào đại học đang hỗ trợ cho 319 em với kinh phí gần 50 tỷ đồng. Hoàn thiện Đề án chuyển Trường Đại học Hà Tĩnh thành trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở góp ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với những kết quả đã đạt được ghi dấu ấn những bước tiến mới của giáo dục phổ thông Hà Tĩnh. Bên cạnh đó ngành giáo dục tiếp tục tham mưu Lãnh đạo tỉnh, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông 2018, hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng việc biên soạn và thẩm định Tài liệu giáo dục địa phương lớp 5, lớp 9 và lớp 12. Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức ôn thi đối với học sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2025-2026, thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9, 10, 11, 12 năm học 2024-2025, tiếp cận ôn thi đánh giá năng lực cho học sinh; tổ chức thi giáo viên giỏi cấp tỉnh Tiểu học, cấp THPT đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Tiếp tục làm tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng “nghiên cứu bài học”; đổi mới kiểm tra đánh giá, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; ứng dụng giáo dục STEM trong dạy học… 3. Hoạt động y tế Trong tháng 8, tính từ ngày 21/7 đến nay, trên địa bàn thị xã Kỳ Anh xuất hiện 35 trường hợp mắc sốt xuất huyết Dengue (SXHD), đây được xác định là ổ dịch sốt xuất huyết Dengue đầu tiên trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay. Ngoài ra, do tình hình thời tiết nắng nóng khó chịu là nguyên nhân khiến các bệnh như ngộ độc, tiêu chảy xảy ra khá nhiều. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 1 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS, 1 người chết vì bệnh AIDS. Tính chung 8 tháng năm 2024, có 26 người nhiễm mới HIV, 20 người chuyển thành AIDS, 5 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 10 người nhiểm mới HIV (giảm 27,78%); giảm 8 người chuyển thành AIDS (giảm 28,57%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 5 người). Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào, nhưng có 77 ca ngộ độc đơn lẻ, các ca ngộ độc được điều trị kịp thời không có ca nào tử vong, do trong tháng trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi khiến vi khuẩn phát triển, xâm nhập vào thực phẩm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Hiện nay các lực lượng đang tập trung tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Trung thu sắp tới. Tính chung 8 tháng năm 2024 đã xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 8 người bị ngộ độc, và có 592 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước số vụ không thay đổi, giảm 5 người ngộ độc tập thể và giảm 49 ca ngộ độc đơn lẻ. Tình hình dịch bệnh khác: Ngoài ổ dịch sốt xuất huyết với 35 người nhiễm, các ca bệnh khác vẫn xuất hiện trên địa bàn, cụ thể: 01 ca sốt rét, 01 ca mắc bệnh quai bị, 02 ca mắc lỵ trực trùng, 07 ca mắc lỵ a míp, 5 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.246 ca mắc bệnh cúm, 05 ca tay chân miệng, 151 ca tiêu chảy và 06 ca viêm gan vi rút khác. Tính chung 8 tháng năm 2024, toàn tỉnh xảy ra 44 ca sốt xuất huyết (giảm 1 ca so với cùng kỳ năm trước), 9 ca sốt rét (tăng 5 ca), 56 ca mắc bệnh quai bị (giảm 48 ca), 19 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 153 ca), 62 ca mắc lỵ a míp (giảm 108 ca), 246 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 67 ca), 6 ca rubella (tăng 6 ca), 10.737 ca mắc bệnh cúm (tăng 1.032 ca), 16 ca chân tay miệng (giảm 112 ca), 1.132 ca tiêu chảy (giảm 586 ca), 34 ca viêm gan vi rút khác (giảm 24 ca) và không có người chết do các bệnh trên không thay đổi so với năm trước.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng các hoạt dộng văn hoá diễn ra khá sôi nôi, ngày 10/8/2024, tết Lấp Lỗ của đồng bào dân tộc Chứt (Hương Khê, Hà Tĩnh) được tổ chức trong không khí vui tươi, mang nét đặc trưng riêng và tạo ấn tượng với đại biểu tham dự, du khách; ngày 15/8, UBND xã Thạch Kênh (Thạch Hà) long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp cấp tỉnh nhà thờ Nguyễn Kiểu; ngày 16/8, huyện Lộc Hà cùng Nhân dân trang trọng tổ chức lễ đón nhận 3 bằng di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh là nhà thờ họ Trần Văn, nhà thờ họ Đặng Phương và nhà thờ Nguyễn Đức Khuê. Hoạt động thể thao: Từ ngày 1 - 4/8, tại Nhà thi đấu TDTT Hà Tĩnh và sân bóng Công an tỉnh, diễn ra giải Bóng chuyền nam Công an Hà Tĩnh năm 2024 gồm 17 đội tham gia với gần 300 VĐV. Cũng trong tháng 8 này, hội thao BIDV khu vực Bắc Trung Bộ được tổ chức tại tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 8 - 11/8/2024 với sự tham gia của 600 vận động viên đến từ 15 chi nhánh BIDV thuộc 6 tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ. 4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/7/2024 - 14/8/2024 xảy ra 28 vụ tai nạn đường bộ, làm 15 người chết, 15 người bị thương (giảm 10 vụ; giảm 9 người chết; giảm 6 người bị thương so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 165 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/8/2024) đã xảy ra 296 vụ tai nạn đường bộ, làm 149 người chết, 195 người bị thương, thiệt hại 2.055 triệu đồng; tăng 77 vụ, tăng 21 người chết và tăng 63 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông; Tai nạn đường sắt xảy ra 3 vụ, làm 1 người chết, 1 người bị thương (giảm 1 vụ và 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước), đến hiện nay không xảy ra tai nạn đường thuỷ. 5. Môi trường Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn: Tính từ ngày 15/7/2024-14/8/2024 đã xảy 5 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 38,85 triệu đồng (giảm 9 vụ so với tháng trước); trong tháng xảy không xảy ra vụ thiên tai nào. Tính chung 8 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/8/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 55 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 512,55 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 27 vụ cháy, giảm 1 người chết và giảm 1 người bị thương, giá trị thiệt hại giảm 1.261,5 triệu đồng. Về tình hình vụ nổ, tháng 8 và 8 tháng 2024 không xảy ra.Vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 7 vụ, với tổng số tiền xử phạt 82,57 triệu đồng; giảm 11 vụ phát hiện (giảm 52,38%), giảm 14 vụ đã xử lý (giảm 66,67%), tăng 36,51 triệu đồng (tăng 79,27%) số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 15 vụ phát hiện (giảm 60,0 %), giảm 7 vụ đã xử lý (giảm 50,0%), tăng 68,17 triệu đồng (tăng 473,40%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2024, phát hiện 219 vụ vi phạm môi trường, giảm 138 vụ (giảm 38,66%); đã xử phạt 198 vụ, giảm 222 vụ (giảm 52,86%); tổng số tiền xử phạt là 774,04 triệu đồng, giảm 601,31 triệu đồng (giảm 43,72%) so với cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 7 và 7 tháng năm 2024
- 27/07/2024 22:07
Trong 7 tháng vừa qua, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng từ xung đột chính trị, thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế khó xuất khẩu đã ảnh hưởng trực tiếp đến lượng thép sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Bên cạnh đó việc sản xuất điện của các nhà máy nhiệt điện đang còn phụ thuộc vào sự điều hành của Tập đoàn điện lực EVN..vv điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế tỉnh nhà nói chung. Mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, doanh nghiệp thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. KT-XH của tỉnh trong 7 tháng qua tiếp tục giành được những kết quả khá tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi; hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải diễn ra sôi động, tăng cao so với cùng kỳ năm trước; lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục đạt kết quả ấn tượng, toàn diện; an sinh xã hội được chăm lo; quốc phòng, an ninh được giữ vững. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 7 năm 2024, nhân dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu 2024. Thời điểm này xuất hiện các cơn mưa dông, không chỉ giải nhiệt, cung cấp nguồn nước tưới mà còn cung cấp nguồn dưỡng chất tốt để lúa làm đòng nên bà con nông dân rất phấn khởi, tranh thủ bón phân chăm sóc lúa, hy vọng một vụ mùa bội thu. Hoạt động chăn nuôi trâu, bò trong tháng có giảm nhẹ nhẹ so với cùng kỳ. Hoạt động thủy sản cũng đảm bảo sự ổn định khi sản lượng nuôi trồng và khai thác vẫn tăng đều so với cùng kỳ. Về hoạt động lâm nghiệp, diện tích rừng bị cháy và số vụ phá rừng đều giảm so với cùng kỳ năm trước. 1.1 Sản xuất nông nghiệp * Trồng trọt: - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2024: Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2024 toàn tỉnh ước đạt 44.572 ha bằng 100,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 100% kế hoạch. Mặc dù diện tích đất phục vụ các dự án lớn của tỉnh đã được thu hồi từ những nhưng diện tích lúa Hè Thu cơ bản vẫn ổn định so với cùng kỳ năm trước. Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2024 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 15/7/2024, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 2.347 ha, đạt 96,4% kế hoạch; khoai lang 551 ha, đạt 96,2% kế hoạch; lạc 231 ha, đạt 72,4% kế hoạch; rau các loại 3.030 ha, đạt 100% kế hoạch, vừng 845 ha, đạt 104,5% kế hoạch; đậu các loại 2.167 ha, đạt 93,4% kế hoạch. Nhìn chung, năm nay kết quả gieo trồng các loại cây trồng đạt kế hoạch cao hơn so với cùng kỳ năm trước và đảm bảo kế hoạch đề ra. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đẻ nhánh phát triển thân lá mạnh. Để có một vụ Hè Thu thắng lợi toàn diện, ngoài yếu tố thiên nhiên thì bà con nông dân cần phải tuân thủ quy trình kỹ thuật chăm sóc lúa và thường xuyên thăm đồng để phát hiện và kịp thời phòng trừ các loại dịch bệnh gây hại. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Cây lúa: Chuột: Gây hại ở các vùng cao cưỡng, gần làng ở các địa phương tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 88ha. Sâu cuốn lá nhỏ: mật độ trung bình 7-10 con/m2, nơi cao 25-30con/m2, diện tích nhiễm 20ha, tập trung ở hầu hết các địa phương. Rầy nâu, rầy lưng trắng: Xuất hiện và gây hại ở huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, mật độ trung bình 700-1.000con/m2, tuổi 4, tuổi 5, tuổi trưởng thành, diện tích nhiễm 2ha. Bệnh khô vằn: Gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm tỉ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm 21ha. Ngộ độc hữu cơ, ngộ độc phèn xuất hiện tại huyện Can Lộc, diện tích nhiễm 32ha. Cây trồng cạn: Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 15ha, bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 12ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, hương Khê… Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 12ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 36ha; sâu nhớt diện tích nhiễm 10ha; sâu vẽ bùa diện tích nhiễm 10ha; ruồi đục quả, diện tích nhiễm 10ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… * Chăn nuôi: - Kết quả sản xuất chăn nuôi: Tổng đàn trâu hiện có 66.500 con, bằng 98,10%; đàn bò hiện có 164.200 con, bằng 97,88%; đàn lợn hiện có 398.800 con, bằng 101,32%; đàn gia cầm hiện có 10.164 ngàn con, bằng 102,87%, trong đó đàn gà hiện có 8.530 ngàn con, bằng 103,02% so với cùng kỳ năm trước. Từ kết quả trên cho thấy hoạt động chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua chưa có tín hiệu tích cực khi số lượng đàn vật nuôi như trâu, bò đều có chiều hướng giảm so với cùng kỳ. Ở tỉnh ta mặc dù các loại dịch bệnh dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được khống chế và dập tắt. Tuy nhiên, nguy cơ tiềm ẩn về các loại dịch bệnh còn cao nên người dân chưa mạnh dạn tái đàn, nhất là đàn lợn. Đàn trâu, bò vẫn đang có xu hướng giảm dần do chăn nuôi không hiệu quả, đàn gia cầm đang có xu hướng tăng trong các tháng gần đây để tạo nguồn cung ra thị trường trong những tháng sắp tới khi chuẩn bị bước vào năm học mới. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm đến nay, cả nước đã xuất hiện trên 660 ổ dịch bệnh dịch tả lợn Châu Phi tại 44 tỉnh, thành phố, buộc tiêu hủy trên 42.400 con gây thiệt hại cho người chăn nuôi. Dịch bệnh đang có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lây lan diện rộng là rất cao, có thể ảnh hưởng đến nguồn cung thực phẩm, chỉ số giá tiêu dùng và môi trường. Vì vậy Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch tả lợn châu Phi. Hiện nay trên địa bàn tỉnh xảy ra bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tại 02 xã (Cẩm Thành, Cẩm Thạch) của huyện Cẩm Xuyên làm 05 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu huỷ. Từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi phát sinh với mức độ cục bộ, nhỏ lẻ, được khoanh vùng, khống chế ở diện hẹp. Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Thạch Hà) làm cho 156 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 20 con mắc bệnh chết, tiêu hủy. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 11 xã thuộc 03 huyện (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Thạch Hà); tổng số lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 92 con. 1.2 Lâm nghiệp: - Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tháng 7/2024 ước đạt 190 ha, bằng 104,97%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 33,17 nghìn m3, bằng 105,06% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới đạt thấp (chiếm 5,6% so với tổng diện tích rừng trồng từ đầu năm đến nay) do thời tiết nắng nóng kéo dài không thuận lợi cho việc trồng rừng. Tuy nhiên thời điểm này thuận lợi cho việc khai thác rừng trồng nên nhiều hộ dân tranh thủ thu hoạch gỗ để chuẩn bị trồng rừng trong các tháng tới khi nhiệt độ giảm dần. Tính chung 7 tháng, diện tích rừng trồng mới ước đạt 3.372 ha, bằng 127,15%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 242,35 nghìn m3, bằng 114,34% so với cùng kỳ năm trước. Các tháng đầu năm thời tiết thuận lợi cho việc trồng và khai thác gỗ, mặt khác diện tích rừng đến thời kỳ thu hoạch nhiều nên người dân tập trung lực lượng để khai thác. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 7 ước đạt 8 nghìn cây, bằng 114,29%; tính chung 7 tháng năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 1.989 nghìn cây, bằng 123,39% so với cùng kỳ. Số cây phân tán tăng mạnh so với cùng kỳ do thực hiện Đề án “Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025” trên địa bàn tỉnh và kế hoạch trồng 100.000 cây xanh đô thị thành phố trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025. Vì vậy các địa phương, nhất là trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh đã thực hiện phong trào phủ kín cây xanh nhằm tạo cảnh quan, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học. - Thiệt hại về rừng:Hoạt động sản xuất lâm nghiệp 7 tháng năm 2024 đạt mức tăng trưởng khá khi diện tích rừng trồng và sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh. Tuy nhiên hiện nay do tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài không những ảnh hưởng đến hoạt động trồng rừng mà còn tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất lớn nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. Trong tháng xảy ra 2 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy 0,97 ha; cộng dồn từ đầu năm đến ngày 15/7/2024, số vụ cháy rừng là 4 vụ (giảm 2 vụ), diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14ha); số vụ phá rừng trong tháng là 7 vụ (giảm 12 vụ) với diện tích rừng bị phá là 1,46 ha, cộng dồn từ đầu năm đến ngày 15/7/2024, số vụ phá rừng là 30 vụ (giảm 48 vụ) với tổng diện tích rừng bị phá là 8,04 ha (giảm 20,3 ha). 1.3 Thủy sản: - Sản xuất thủy sản: Sản lượng thủy sản trong tháng 7 năm 2024 ước đạt 5.232 tấn, bằng 104,29%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.911 tấn, bằng 104,94%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.321 tấn, bằng 102,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2024, sản lượng thủy sản ước đạt 33.055 tấn, bằng 103,18%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 25.006 tấn, bằng 102,8%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 8.049 tấn, bằng 104,37% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản tháng 7 đạt khá khi có mức tăng 4,29% so với cùng kỳ và chiếm 15,8% tổng sản lượng khai thác 7 tháng năm 2024. Những tháng này điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, thủy hải sản sinh sôi phát triển đa dạng, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, giá cả tương đối ổn định nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Tuy nhiên hiện nay chi phí nhiên liệu, nhân công cao, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi nên hoạt động khai thác thủy hải sản vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính chung toàn tỉnh từ đầu năm đến ngày 15/7/2024, tổng diện tích dịch bệnh là 11,99 ha (trong tháng 7 là 2,29 ha); trong đó: Dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 4 xã (Hộ Độ, Kỳ Ninh, Kỳ Thọ, Mai Phụ) thuộc 3 huyện (Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà) với tổng diện tích 7.05 ha. Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã (Nam Phúc Thăng, Hộ Độ, Tượng Sơn, Thạch Long) thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà) với diện tích 4,29 ha (trong tháng 7 là 2,29 ha). Bệnh Vi bào tử trùng (EHP) xảy ra tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh với diện tích 0.65 ha. Đến nay có diện tích 3,84 ha (trong tháng 7 là 1,84 ha) bị bệnh hoại tử gan tụy tại xã Nam Phúc Thăng, huyện Cẩm Xuyên; xã Hộ Độ huyện Lộc Hà; xã Tượng Sơn, Thạch Long huyện Thạch Hà chưa qua 15 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính chung 7 tháng năm 2024 giảm 2,11% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu chịu ảnh hưởng trực tiếp từ ngành sản xuất chế biến, chế tạo giảm mạnh so với cùng kỳ. Thị trường trong nước cũng như quốc tế một số ngành lớn như sản xuất kim loại, chế biến sản phẩm, dệt,... đang gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP): - Ước tính tháng 7/2024: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,18% so với tháng trước và tăng 18,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 6,72% so với tháng trước và tăng 37,19% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 14,87% so với tháng trước và tăng 25,07% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 37,05% so với tháng trước và giảm 12,88% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 1,17% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 12,01%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2024 tăng là do nhập khẩu thép của Ấn Độ từ Việt Nam đã được nối lại sau khi Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ trao chứng nhận cho Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy sản lượng thép thành phẩm sản xuất tháng 7/2024 tăng hơn 70.000 tấn, tăng 36,38% so với tháng 6/2023. Ngoài ra, Sau đợt khủng hoảng của năm 2023, dệt may Hà Tĩnh đã vượt qua khó khăn và lấy lại được đà tăng trưởng, ngành sản xuất trang phục tăng 49,16% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh một số ngành tác động làm tăng chỉ số sản xuất thì ngành sản xuất điện giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Nhiệt điện than Hà Tĩnh tháng 7/2024 giảm mạnh so với tháng trước do phụ thuộc vào thị trường thủy điện, trong tháng EVN ưu tiên thủy điện tăng dẫn đến nhiệt điện than giảm. Sản lượng điện sản xuất của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 dự ước trong tháng 7/2024 giảm 260 triệu Kwh, giảm 58,14% so với tháng tháng trước. - Tính chung 7 tháng năm 2024: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 2,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,11% đóng góp 0,36 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,03% làm giảm 6,59 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 28,96% đóng góp 3,79 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 15,56% đóng góp 0,33 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, chịu tác động từ sụt giảm sản lượng thép do yếu tố thị trường cũng như tạm dừng bảo dưỡng dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy, Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 7 tháng đầu năm 2024 đã không đạt được như kỳ vọng. 2.2. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 7 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. - Một số sản phẩm công nghiệp 7 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 70,97%; bê tông trộn sẵn tăng 36,65%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 31,06%; bia đóng lon tăng 26,03%; điện sản xuất tăng 28,32%; điện thương phẩm tăng 15,55%; ... - Một số sản phẩm công nghiệp 7 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Mực đông lạnh giảm 80,72%, nguyên nhân do khách hàng Nhật bản ngừng đơn hàng, hiện tại doanh nghiệp chưa tìm kiếm được khách hàng mới, thị trường trong nước cũng hạn hẹp; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 12,24%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 43,35%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 13,82%; ... Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị... để tăng công suất hoạt động, đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn Hà Tĩnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất - kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu sản xuất - kinh doanh năm nay. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2024 tăng 0,7% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,1%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 7 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 5,86% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 7 tháng năm 2024 của ngành khai khoáng 1,02% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động 7 tháng năm 2024 đối với ngành này tăng 7,54%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,12%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,52% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 7 tháng năm 2024 đạt thấp (ước giảm 10,83% so với cùng kỳ năm trước, bằng 48,71% so với kế hoạch năm). Xác định việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT-XH, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương vào cuộc triển khai quyết liệt, linh hoạt tháo gỡ vướng mắc nhằm đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt kết quả cao nhất trong việc triển khai, giải ngân vốn đầu tư công năm 2024. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2024 ước đạt 441,01 tỷ đồng, tăng 8,86% so với tháng trước, giảm 16,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 261,14 tỷ đồng, tăng 9,69% so với tháng trước và giảm 32,93% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 135,15 tỷ đồng, tăng 8,02% so với tháng trước và tăng 46,39% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 44,71 tỷ đồng, tăng 6,66% so với tháng trước và giảm 3,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt 25.300 triệu đồng; tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Thạch Hà đạt ước đạt 42.541 triệu đồng; Đường từ Quốc Lộ 12C đi khu liên hợp Gang thép Formosa tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 15.000 triệu đồng; Dự án Đường vành đai phía Nam Khu kinh tế Vũng Áng ước đạt 7.400 triệu đồng… Tính chung 7 tháng năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.302,09 tỷ đồng, giảm 10,83% so với cùng kỳ năm trước, đạt 48,71% kế hoạch năm. Mặc dù nguồn vốn đã được bàn giao tới từng công trình hơn 50% kế hoạch vốn, tuy nhiên do nguồn ngân sách năm 2024 giảm mạnh so với năm trước (giảm 23,72%). Do đó, vốn đầu tư thực hiện 7 tháng năm 2024 giảm mạnh so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.435,08 tỷ đồng, chiếm 62,34% tổng vốn, giảm 25,09% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 659,79 tỷ đồng, chiếm 28,66% tổng vốn, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 207,22 tỷ đồng, chiếm 9% tổng vốn, tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện 7 tháng năm 2024 giảm mạnh so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2024 giảm 23,72% so với kế hoạch vốn được giao năm trước. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công 7 tháng đầu năm còn chậm so với kế hoạch giao, vốn ngân sách cấp tỉnh quản lý giải ngân chỉ đạt 31,54% kế hoạch vốn đã phân bổ, trong đó nguồn vốn ODA giải ngân chỉ đạt 7,76% kế hoạch vốn giao. Các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp. Mặc dù trải qua nửa chặng đường năm 2024 tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ mới đạt 30,6% kế hoạch năm. Do đó, cần nỗ lực huy động tối đa và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, thu hút và đẩy nhanh các dự án trọng điểm, Tiếp tục thực hiện hiệu quả kế hoạch đầu tư công; thực hiện tốt các cơ chế, chính sách tạo nguồn đầu tư phát triển hạ tầng; xúc tiến triển khai các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án lớn của các nhà đầu tư chiến lược (Vingroup, Sungroup, Ecopark, VSIP, Hoàng Thịnh Đạt, Silk Path, T&T, Quế Lâm...); đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án giao thông trọng điểm (đường cao tốc Bắc - Nam; cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 8C; đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài về phía đông...). 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong tháng 7 và 7 tháng năm 2024 hoạt động bán lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn và tăng trưởng khá ổn định. Các hoạt động kích cầu du lịch diễn ra sôi động đã thu hút được lượng khách lớn về trên địa bàn giúp cho ngành dịch vụ ăn uống, lữ hành, lưu trú có thêm điều kiện để phục hồi, phát triển. Các sự kiện chào mừng ngày lễ và hoạt động chào mừng lễ khai trương du lịch biển tại Thiên Cầm, Xuân Thành, Thạch hải, … đã lan tỏa mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của du khách bốn phương, đã thu hút hàng ngàn lượt khách, hầu hết các phòng nghỉ của các khách sạn và nhà nghỉ đã được khách du lịch đặt chỗ hết từ trước đó. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 7/2024 ước đạt 5.700,25 tỷ đồng, tăng 1,73% so với tháng trước, tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chỉ có nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình là giảm nhẹ so với tháng trước, còn lại các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với tháng trước, tăng mạnh ở 2 nhóm hàng là vật phẩm văn hoá, giáo dục và ô tô con. Nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, sang tháng 7 hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đã ổn định do nắng nóng đã diễn ra từ những tháng trước nên nhu cầu mua sắm đồ điện lạnh như điều hoà, tủ lạnh, quạt hơi nước giảm hơn, bên cạnh đó, đây thời điểm mà người dân chuẩn bị bộ sách giáo khoa cho năm học mới nên nhu cầu về vật phẩm giáo dục tăng cao, các chính sách kích cầu sản phẩm ô tô được các hang đưa ra nhằm đẩy mạnh doanh thu trước tháng 7 âm lịch năm nay. Tính chung 7 tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa dự tính đạt 39.871,67 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 19.278,35 tỷ đồng, chiếm 48,35% tổng mức, tăng 26,08%, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã làm cho tổng mức bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước; hàng may mặc ước tăng 40,33%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, chiếm 12,52% tổng mức, tăng 39,16%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 46,25%; bên cạnh đó, gỗ và vật liệu xây dựng chiếm 4,5% tổng mức, giảm 9,4%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 42,26%; phương tiện đi lại giảm 58,50%... Có thể thấy vì là những nhóm hàng thiết yếu nên tốc độ tiêu dùng nội địa vẫn rất ổn định và tăng trưởng khá đều, nhóm vật liệu xây dựng giảm so với cùng kỳ do giá cả vật liệu đã hạ nhiệt so với năm trước, nhóm ô tô và phương tiện đi lại vẫn đang gặp khó khăn từ năm trước đến nay do những khó khăn chung của nền kinh tế. Nhìn chung thị trường bán lẻ 7 tháng năm 2024 không có biến động lớn, mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, dịch bệnh, mùa vụ … nhưng cơ bản cung cầu các mặt hàng được bảo đảm; giá có sự gia tăng, giảm đan xen đối với từng nhóm hàng. Đặc biệt có sự kích cầu khi tăng lương cơ bản từ ngày 01/7/2024 từ đó việc mua sắm các mặt hàng thiết yếu được đẩy mạnh; bên cạnh đó, ngành du lịch phát triển đã đóng góp tích cực vào tổng mức bản lẻ. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2024 ước đạt 785,99 tỷ đồng, tăng 4,07% so với tháng trước, tăng 12,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 46,73 tỷ đồng, tăng 10,57% so với tháng trước, tăng 10,27% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 731,44 tỷ đồng, tăng 3,72% so với tháng trước, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 7,8 tỷ đồng, tăng 0,22% so với tháng trước, tăng 37,54% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành trong tháng vẫn đang trên đà tăng cao do tác động của yếu tố mùa vụ và thời tiết thuận lợi cho hoạt động tham quan, nghỉ mát và du lịch. Trong tháng đang là thời điểm kỳ nghỉ hè của học sinh, sinh viên nên nhu cầu tham quan, nghỉ mát và du lịch tăng, bên cạnh đó trùng ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7 nên số lượt người đến dâng hương tại các địa chỉ đỏ, các nghĩa trang Liệt sĩ tăng lên. Tính chung 7 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ ước đạt 4.808,27 tỷ đồng, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 170,69 tỷ đồng, giảm 5,56%; ăn uống ước đạt 4.587.881,1 triệu đồng, tăng 13,87%; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 49,70 tỷ đồng, tăng 69,28% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách du lịch theo tour ước đạt 14.160 lượt, tăng 67,04%; ngày khách du lịch theo tour ước đạt 39.660,5 ngày khách, tăng 67,63% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch 7 tháng năm 2024 tăng khá, việc thu nhập người dân đang dần cải thiện khiến nhu cầu ăn uống và du lịch đang được đà tăng trưởng mạnh mẽ, tuy nhiên việc các điểm du lịch chưa có các quy hoạch khu vui chơi giải trí và nghĩ dưỡng khiến lượng khách du lịch đến Hà Tĩnh và ở lại qua đêm vẫn còn rất khiêm tốn, vì vậy sự yêu cầu cần thiết các chính sách quy hoạch các khu du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch tỉnh nhà đang là vấn đề cấp thiết và được các cơ quan, ban ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ tháng 7/2024 ước tính đạt 384,62 tỷ đồng, tăng 2,02% so với tháng trước và tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2024, doanh thu ước đạt 2.645,65 tỷ đồng, tăng 7,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 567,83 tỷ đồng, giảm 8,83%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 637,95 tỷ đồng, tăng 0,80%; giáo dục đào tạo ước đạt 118,39 tỷ đồng, tăng 12,29%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 243,44 tỷ đồng, tăng 18,36%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 260,99 tỷ đồng, tăng 50,97%; dịch vụ khác ước đạt 817,06 tỷ đồng, tăng 11,84% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ khác trong tháng bắt đầu có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm, cùng với thời tiết thuận lợi các hoạt động sản xuất ngành chế biến công nghiệp, xây dựng tăng trưởng trở lại, thúc đẩy các dịch vụ hành chính, hỗ trợ cho thuê máy móc thiết bị tăng mạnh. Đặc biệt là dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp Bắc Thạch Hà được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Quyết định số 1003/QĐ-TTg ngày 29/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ. VSIP Hà Tĩnh được kiến tạo để trở thành khu công nghiệp xanh, hiện đại và phát triển bền vững với tiêu chuẩn hạ tầng tối ưu. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình kinh doanh vận tải, kho bãi trên địa bàn từ đầu năm đến nay có sự tăng trưởng mạnh mẽ so với các năm gần đây. Những công trình trọng điểm như cao tốc Bắc Nam, đường dây điện 500KV mạch 3 và yếu tố thời tiết thuận lợi làm cho các công trình xây dựng tiếp tục thi công, nhu cầu xây dựng, san lấp mặt bằng đạt tiến độ cao. Bên cạnh đó với sự phục hồi từ hoạt động sản xuất công nghiệp tại khu kinh tế Vũng Áng, tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa dự kiến tăng lên nên các tàu cập cảng chở hàng hóa sẽ nhiều hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hỗ trợ vận tải ổn định và có doanh thu cao. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 7/2024 doanh thu ước đạt 781,85 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước, tăng 24,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 120,58 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 29,29% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 515,32 tỷ đồng, tăng 2,52% so với tháng trước và tăng 28,18% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 140,80 tỷ đồng, giảm 3,21% so với tháng trước và tăng 21,81% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải trong tháng tăng trưởng khá đều ở cả vận tải hành khách và hàng hoá, nguyên nhân chủ yếu do trong tháng điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài khiến người dân tăng nhu cầu sử dụng phương tiện công cộng để đi lại, cũng là thời điểm trùng ngày 27/7, kết thúc các kỳ thi THCS, THPT nên lượng khách thuê xe hành hương về địa chỉ đỏ, các học sinh về tựu trường..vv. nên lượng vận tải hành khách tăng khá. Về vận tải hàng hoá, việc thời tiết phù hợp công với việc đẩy nhanh tiến độ hoàn thành cao tốc Bắc Nam, và xây dựng khu công nghiệp VSIP Bắc Thạch Hà mới được khởi công khiến nhu cầu vận tải liệu xây dựng, đất đá, sắt thép… vẫn ổn định và tăng trưởng khá. Tuy nhiên hoạt động hỗ trợ vận tải có giảm nhẹ so với tháng trước do tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá tiếp tục giảm, việc mưa năng thất thường khiến hàng hoá hạn chế thời gian lưu bãi, việc giao nhận hàng hoá bằng phương tiện khác giảm hơn. Tính chung 7 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu dự ước đạt 4.948,37 tỷ đồng, tăng 23,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 880,32 tỷ đồng, tăng 50,9%; vận tải hàng hoá ước đạt 3.050,13 tỷ đồng, tăng 17,02%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 982,47 đồng, tăng 36,78% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 7 tháng năm 2024 có sự phát triển khá mạnh và tăng trưởng ổn định. Các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, chất lượng cao đối với loại phương tiện hành khách, mở thêm các tuyến vận chuyển; đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa, đúng tiêu chuẩn. Sự phát triển mạnh của ngành du lịch lữ hành, khách du lịch tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị từ hoạt động vận tải, tạo đà cho nhóm ngành này phát triển 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 7 kim ngạch xuất nhập khẩu có dấu hiệu khởi sắc hơn khi tăng mạnh so với tháng trước tuy nhiên vẫn chưa đạt mức so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 7 ước đạt 458,9 triệu USD, tăng 20,84% so với tháng trước (tăng 79,13 triệu USD) nhưng vẫn giảm 18,29% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3.531,82 triệu USD giảm 6,54% so với cùng kỳ (Giảm đến 247,23 triệu USD). Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 7/2024 ước đạt 178,2 triệu USD, tăng 38,68% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm đến 21,41% (giảm 127,9 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu ở việc mặt hàng xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 154,5 triệu USD, mặc dù đãng tăng đến 41,08% so với tháng trước (tăng tương ứng 44,99 triệu USD) nhưng so với cùng kỳ đang giảm sâu 26,87%, do diễn biến giá khó lường cũng nhu cầu tiêu thụ thế giới phục hồi chậm hơn so với kỳ vọng. Mặc dù các mặt hàng dăm gỗ, xơ sợi, may mặc…trong tháng 7 có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhưng do giá trị xuất khẩu quá nhỏ so với mặt hàng thép nên nhìn kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm sau so với cùng kỳ, tuy nhiên đây cũng là tín hiệu tích cực đối với các mặt hàng này sau khoảng thời gian gặp khó khăn. Tính chung 7 tháng năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.275,69 triệu USD, giảm 22,22% (tương ứng giảm 364,35 triệu USD) so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 1.135,69 triệu USD (chiếm 89,03% tổng kim ngạch) giảm 25,33% so với cùng kỳ, các nhóm hàng xuất khẩu khác cũng giảm khá sâu, chỉ có duy nhất nhóm ngành Chè có tăng trưởng trong xuất khẩu nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đạt 3,17 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu: Trong tháng 7 ước đạt 280,7 triệu USD, tăng 11,71% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm 16,18%. Chỉ tính riêng nhập khẩu từ Formosa ước đạt 201,5 triệu USD, tăng 11,66% so với tháng trước và tăng 25,91% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.256,13 triệu USD, tăng 5,48% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Với kết quả đến 7 tháng mới chỉ đạt gần 1,3 tỷ USD còn cách mục tiêu rất xa vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: Hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 7 diễn biến thị trường không có biến động lớn, giá cả tăng nhẹ so với tháng trước, nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có biến động lớn nhất tăng 4,34% so với tháng trước do lượng tiêu dùng điện, nước tăng trong mùa nắng nóng, nhưng bên cạnh đó, trong nhóm này giá vật liệu xây dựng trong tháng vẫn đang giảm so tháng trước. Nhóm hàng khác cũng tăng đến 3,89% do trong tháng cùng với việc áp dụng hệ số lương cơ bản mới trong việc tính lương khiến giá bảo hiểm y tế tăng theo, thị trường vàng, trang sức giá vẫn đang ở mức cao và xu hướng tiếp tục tăng. Tháng 7 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó, nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,62% so với tháng trước và tăng đến 8,30% so với cùng tháng năm trước, cụ thể mặt hàng Lương thực tăng 0,86% so với tháng trước và tăng 16,56% so với cùng tháng năm trước do ảnh hưởng giá ở mức cao và đang tăng trở lại; Nhóm thực phẩm 1,73% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 6,49%, giá thịt lợn thời gian qua liên tục tăng cao do nguồn cung trên thị trường đang ở mức thấp, bên cạnh đó thời tiết nắng nóng ảnh hưởng đến khâu sinh trưởng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản rau củ tươi khiến trong tháng rau các loại tăng 5,37% và hoa quả tươi các loại tăng thêm 1,91% so tháng trước. Các nhóm hàng khác trong tháng cũng tăng do những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ thời tiết nắng nóng tiếp tục kéo dài, dẫn đến tăng nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng; Thứ hai, giá gạo và thịt gia súc, rau, quả các loại trên thị trường trong nước tăng do nguồn cung hạn chế. Tính chung 7 tháng năm 2024, chỉ số giá CPI bình quân tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,89%, nông thôn tăng 3,06%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,06%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,34%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,52%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 2,67%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,86%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,52%; giao thông tăng 1,92%; bưu chính viễn thông giảm 1,73%; giáo dục tăng 2,65%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,7%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,64% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay các mặt hàng, dịch vụ có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện, nước sinh hoạt, dịch vụ cho thuê nhà ở. Những yếu tố mùa vụ, tình hình khó khăn ở một số nhóm ngành nghề và thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu. Dự kiến CPI tháng 8/2024 sẽ tiếp tục tăng khi giá thịt lợn vẫn xu hướng tăng và chưa có dấu hiệu dùng lại. Giá đồ dùng học tập, văn phòng phẩm, hàng may mặc tăng trong thời điểm cận kề năm học mới. Trong khi thói quen hạn chế mua sắm tài sản lớn trong tháng 7 âm lịch có thể khiến nhu cầu và giá cả nhóm đồ dùng gia đình, phương tiện giao thông giảm. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư nhìn chung ổn định, sản xuất nông nghiệp gặp thời tiết thuận lợi nên các cây lương thực, rau, màu ngắn ngày phát triển tốt, dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Tỉnh nhà tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Từ ngày 01/7/2024, điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,8 triệu đồng/tháng lên 2,34 triệu đồng/tháng; mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng cũng tăng thêm 15%. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức và người thụ hưởng đều rất vui mừng, phấn khởi, cho rằng, mức tăng lần này thực sự có ý nghĩa lớn, góp phần quan trọng giúp họ cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội.2. Giáo dục Giáo dục trong tháng chủ yếu tập trung vào kỳ thi THPT năm 2024. Dẫu không có cơn mưa điểm 10 như năm trước, nhưng Hà Tĩnh tiếp tục củng cố vị trí vững chắc về chất lượng mũi nhọn trên bảng xếp hạng tốp đầu cả nước với 348 bài thi đạt điểm 10 ở tất cả các môn. Trong Kỳ thi Olympic Toán Quốc tế lần thứ 65, đội tuyển Việt Nam có 6/6 học sinh đoạt huy chương và bằng khen gồm: 02 huy chương bạc, 3 huy chương đồng và 1 bằng khen. Trong đó, Hà Tĩnh đã đóng góp 1 trong 2 học sinh đạt huy chương bạc. Hà Tĩnh đã khép lại Chương trình giáo dục phổ thông bằng một mùa thi thắng lợi, thành tích đáng tự hào của mùa thi 2024 đã khẳng định hướng đi đúng của ngành giáo dục trong việc thực hiện đổi mới phương pháp, giáo dục toàn diện cho học sinh; trong quá trình chỉ đạo dạy học, ôn tập kiến thức cho học sinh, đặc biệt là học sinh cuối cấp. Sự chỉ đạo sát sao của ngành, nỗ lực của các thầy cô giáo, quyết tâm của học sinh đã là yếu tố để tạo nên những bước đột phá về chất lượng. Bên cạnh đó, ngành Giáo dục tiếp tục triển khai thực hiện có chất lượng Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 ở lớp 1,2,3,4 lớp 6,7,8 và lớp 10,11 chuẩn bị điều kiện thực hiện Chương trình ở lớp 5,9 và lớp 12 năm học 2024-2025; thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Giáo dục Đào tạo, Hội đồng Nhân dân, UBND tỉnh về chủ trương, chính sách để phát triển sự nghiệp giáo dục cũng như các văn bản chỉ đạo, triển khai Chương trình GDPT 2018. Tổ chức nghiên cứu, đề xuất lựa chọn, tập huấn, bồi dưỡng, cung ứng sách giáo khoa lớp 5, 9, 12; biên soạn, góp ý, hoàn thiện Tài liệu giáo dục địa phương lớp 5, 9, 12 để chuẩn bị tổ chức dạy học năm học 2024-2025. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học theo Chương trình GDPT 2018. 3. Hoạt động y tế Với sự nỗ lực của toàn ngành y tế, đã kiểm soát hiệu quả các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, không để lây lan, bùng phát thành dịch. Hiện nay, dù mới vào đầu mùa dịch đau mắt đỏ nhưng tại Bệnh viện Mắt Hà Tĩnh mỗi ngày đã tiếp nhận 10 - 15 bệnh nhân đau mắt đỏ đến khám và điều trị. Đáng chú ý, một số gia đình có nhiều thành viên gồm người lớn và trẻ nhỏ cùng mắc bệnh, không ít trường hợp người lớn, trẻ nhỏ gặp biến chứng do tự ý điều trị, không khỏi mới đến bệnh viện. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 01 người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS hay chết vì AIDS, so với tháng trước giảm 6 người nhiểm mới HIV, giảm 5 người chuyển thành AIDS và giảm 1 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ giảm 1 người nhiễm, giảm 1 người chuyển AIDS và giảm 1 người chết vì AIDS. Tính chung 7 tháng năm 2024, đã phát hiện 25 người nhiễm mới HIV, 18 người chuyển thành AIDS, 4 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 9 người nhiểm mới HIV (giảm 26,47%); giảm 8 người chuyển thành AIDS (giảm 30,77%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 4 người).Công tác an toàn thực phẩm: Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được người dân và các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện nhất là trong mùa du lịch, đặc biệt trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi khiến vi khuẩn phát triển, xâm nhập vào thực phẩm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Trong tháng đã xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể khiến 6 người bị ngộ độc và 97 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 7 tháng đã xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 8 người bị ngộ độc, và có 515 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước số vụ không thay đổi, giảm 1 người ngộ độc tập thể và giảm 39 ca ngộ độc đơn lẻ.Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng 7, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, cụ thể: 02 ca sốt xuất huyết, 02 ca mắc bệnh quai bị, 02 ca mắc lỵ trực trùng, 07 ca mắc lỵ a míp, 7 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.175 ca mắc bệnh cúm, 02 ca tay chân miệng, 178 ca tiêu chảy và 05 ca viêm gan vi rút khác. Tính chung 7 tháng năm 2024, trên địa bàn các ca bệnh đơn lẻ không tạo thành dịch, cụ thể: 9 ca sốt xuất huyết (Giảm 22 ca so với cùng kỳ năm trước), 8 ca sốt rét (tăng 4 ca), 55 ca mắc bệnh quai bị (giảm 247 ca), 17 ca mắc lỵ trực trùng (giảm đến 152 ca), 55 ca mắc lỵ a míp (giảm 109 ca), 241 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 77 ca), 6 ca rubella (tăng 6 ca), 9491 ca mắc bệnh cúm (tăng 969 ca), …3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng với không khí rộn ràng cùng những giá trị văn hóa độc đáo, lễ hội đánh cá Vực Rào (Xuân Viên, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) thu hút đông đảo người dân, du khách tham gia. Tỉnh Hà Tĩnh vừa diễn ra cuộc thi “Đại sứ văn hóa đọc" năm 2024 với 129.093 bài dự thi của 129.093 học sinh gửi về, trong đó có 129.004 bài viết và 89 video, đây là sân chơi ý nghĩa dành cho học sinh các cấp học từ tiểu học đến THPT trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục lập hồ sơ xếp hạng các di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt: 20 di tích cấp tỉnh, 6 di tích quốc gia (Nguyễn Hoành Từ, Lê Đắc Toàn, Nguyễn Phi Sài, Nguyễn Văn Mạo, Hà Tông Mục, Nguyễn Huy Tựu) và 01 quốc gia đặc biệt (Lê Hữu Trác). Sản xuất, phát sóng định kỳ Chương trình truyền hình Văn hóa - Thể thao - Du lịch số tháng 7, Tổ chức 03 buổi chiếu phim nhân Kỷ niệm 77 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, tổ chức Festival “Về miền Ví, Giặm - Kết nối tinh hoa di sản”Hoạt động thể thao: Về thể thao thành tích cao: Giải vô địch các CLB Karate quốc gia lần thứ XXIV diễn ra từ 12 đến 18/7/2024 Hà Tĩnh xuất sắc giành 11 huy chương (6HCV-1HCB-4HCĐ) xếp thứ 4/67 đoàn tham gia giải đấu; giải Bắn súng Thanh Thiếu niên đạt 1HCV-5HCĐ; Giải Muay vô địch trẻ quốc gia 2024 tổ chức từ ngày 1 - 11/7/2024, đoàn VĐV Hà Tĩnh đã thi đấu xuất sắc và giành được 8 huy chương (1 HCV, 7 HCĐ). Về thể thao quần chúng, tổ chức giải Vô địch cờ vua Hà Tĩnh mở rộng lần thứ 4 năm 2024 do CLB Thành Sen (thuộc Liên đoàn Cờ vua Việt Nam) tổ chức. Ngoài ra tích cục vận động người dân tập luyện TDTT thường xuyên, hàng ngày. Hiện nay, đồng chí Tổng bí thư mất, nên các hoạt động thể dục thể thao giảm trong các ngày Quốc tang để tưởng nhớ đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.Công tác kiểm tra văn hoá, thể thao Sở VHTT&DL tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành kiểm tra tại 20 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao tại 4 huyện: Đức Thọ, Hương Sơn, Can Lộc, Hương Khê. Qua kiểm tra đã hướng dẫn, nhắc nhở các cơ sở chấp hành các quy định của pháp luật, thực hiện tốt công tác cứu hộ, cứu nạn để đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động.4. Tình hình an toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Tính từ ngày 15/6/2024-14/7/2024 xảy ra 38 vụ tai nạn đường bộ, làm 24 người chết, 21 người bị thương (giảm 4 vụ; giảm 1 người chết; giảm 2 người bị thương so với tháng trước); Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 385 triệu đồng. Tính chung từ ngày 15/12/2022-14/7/2023 đã xảy ra 268 vụ tai nạn đường bộ, làm 134 người chết, 180 người bị thương, thiệt hại 1.890 triệu đồng; tăng 79 vụ, tăng 22 người chết và tăng 71 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định; Tai nạn đường sắt xảy ra 3 vụ, làm 1 người chết, 1 người bị thương, không xảy ra tai nạn đường thuỷ.5. Môi trườngTình hình cháy, nổ: Trong tháng (từ ngày 15/6/2024 - 14/7/2024) đã xảy 14 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 63,5 triệu đồng (tăng 7 vụ và giá trị thiệt hại tăng 59,6 triệu đồng so với tháng trước). So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản giảm 65 triệu đồng. Tính chung 7 tháng năm 2024 (từ ngày, từ ngày 15/12/2023-14/7/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 50 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 473,7 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 17 vụ cháy thiệt hại về người không thay đổi (không xảy ra). Về tình hình vụ nổ, tháng 7 và 7 tháng đầu năm hai năm gần đây đều không xảy ra.Vi phạm môi trường: Trong tháng Bảy, trên địa bàn phát hiện 21 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 21 vụ, với tổng số tiền xử phạt 46,06 triệu đồng; tăng 3 vụ phát hiện (tăng 16,67%), tăng 9 vụ đã xử lý (tăng 75,00%), tăng 24,51 triệu đồng (tăng 113,74%) số tiền xử phạt so với tháng trước; và tăng 3 vụ phát hiện (tăng 16,67 %), tăng 6 vụ đã xử lý (tăng 40,0%), giảm 105,18 triệu đồng (giảm 69,55%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2024, phát hiện 209 vụ vi phạm môi trường, giảm 123 vụ (giảm 37,05%); đã xử phạt 191 vụ, giảm 215 vụ (giảm 52,96%); tổng số tiền xử phạt là 691,47 triệu đồng, giảm 669,48 triệu đồng (giảm 49,19%) so với cùng kỳ năm trước.. Tình hình thiên tai:Trong tháng (tính từ 19/6-18/7/2024) và 7 tháng năm 2024 đã xảy ra 1 vụ thiên tai do sét đánh, tại huyện Cẩm Xuyên, làm 1 người tử vong. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2024
- 27/07/2024 21:45
Năm 2024 là năm bứt phá để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025. Từ đầu năm đến nay, tăng trưởng kinh tế tiếp tục phục hồi, các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra sôi động hơn. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm đạt kết quả ấn tượng. Tuy vậy, nền kinh tế tỉnh nhà vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều khó khăn hơn; xung đột quân sự tiếp tục leo thang tại một số quốc gia, khu vực; nhiều nền kinh tế lớn phục hồi còn chậm. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với việc tìm kiếm thị trường mới. Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Trong đó, đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai nhiều giải pháp phục hồi phát triển kinh tế, triển khai quy hoạch tỉnh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tổ chức các hoạt động mùa du lịch, nghỉ lễ; đẩy mạnh giải ngân đầu tư công; chăm lo đời sống Nhân dân, an sinh xã hội; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 53.379 tỷ đồng tăng 5.969 tỷ đồng; theo giá so sánh ước đạt 27.811 tỷ đồng tăng 1.963 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, xếp thứ 2/6 tỉnh Bắc trung bộ và xếp thứ 20/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh quí II năm 2024 ước tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,78%, đóng góp 7,22 % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 7,98%, đóng góp 45,81 %; khu vực Dịch vụ tăng 7,6% đóng góp 46,97 %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 4,53%, đóng góp 6,65 % vào mức tăng trưởng chung. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 2024 theo giá so sánh ước tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,64%, đóng góp 4,8% vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 10,7%, đóng góp 56,38%; khu vực Dịch vụ tăng 6,75% đóng góp 38,83 %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 5,06%, đóng góp 6,59% vào mức tăng trưởng chung. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi cả về năng suất và sản lượng ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Hoạt động chăn nuôi phục hồi, sản xuất lâm nghiệp, thủy sản vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 6 tháng đầu năm 2024, ngành nông nghiệp tăng 2,29%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 5,19% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm. Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng toàn ngành ước đạt 9,33%, đóng góp 2,93 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Riêng ngành xây dựng tăng 15,7%, đóng góp 1,35 điểm phần trăm. Nguyên nhân hiện nay trên địa bàn tỉnh nhiều công trình, dự án lớn đang được đây nhanh tiến độ thi công. Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2024 tăng 6,75% so với cùng kỳ, đóng góp 3,45 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2024 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 14,12%, giảm 0,75% so với cùng kỳ năm 2023; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,54%, tăng 1,32 % (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 32,26%, tăng 1,27 %; ngành xây dựng chiếm 8,28%, tăng 0,06%; khu vực Dịch vụ chiếm 35,81%; giảm 0,33 %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,53%, giảm 0,24 % so với cùng kỳ năm trước 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, kết quả thu hoạch vụ Đông - Xuân thắng lợi cả về năng suất và sản lượng đặc biệt là cây lúa. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hoạt động lâm nghiệp trong tháng 6 năm 2024 tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài nên hoạt động trồng rừng đạt thấp so với mức bình quân chung các tháng, tuy nhiên tính chung 6 tháng đầu năm vẫn tăng khả quan. Hoạt động thủy sản tăng trưởng khá ổn định, hoạt động đánh bắt và nuổi trồng đều chú trọng nâng cao cả về giá trị sản lượng xũng như chất lượng thủy hải sản. 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt * Cây hàng năm Kết quả sản xuất Vụ Đông Xuân 2023-2024: Toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm sơ bộ đạt 97.389 ha, bằng 98,48% (giảm 1.503 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 423.439 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 102,94% (tăng 12.097 tấn). Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay đã đạt kế hoạch đề ra. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: Diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh sơ bộ đạt 59.317 ha, bằng 99,85% (giảm 90 ha) so với cùng kỳ năm trước; Năng suất gieo trồng lúa sơ bộ đạt 61,18 tạ/ha, bằng 102,67% (tăng 1,59 tạ/ha) năng suất lúa sơ bộ đánh giá đạt cao và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh, vì vậy, sản lượng lúa sơ bộ đạt 362.923 tấn, bằng 102,51% (tăng 8.902 tấn) so với cùng kỳ năm trước; Diện tích ngô vụ Đông Xuân 2023-2024 đạt 11.980 ha, bằng 100,39% so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng đạt 50,52 tạ/ha, bằng 105,17% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ngô sơ bộ đạt 60.517 tấn, bằng 105,57% so với cùng kỳ năm trước; Diện tích khoai lang đạt 2.776 ha, bằng 98,12% so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng đạt 76,39 tạ/ha, bằng 98,2% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng khoai lang sơ bộ đạt 21.204 tấn, bằng 96,37% so với cùng kỳ năm trước; Diện tích lạc sơ bộ đạt 6.611 ha, bằng 87,13% so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng lạc đạt 27,61 tạ/ha, bằng 97% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng lạc sơ bộ đạt 18.256 tấn, bằng 84,51% so với cùng kỳ năm trước; Diện tích rau các loại đạt 10.862 ha, bằng 97,92% (so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng đạt 71,36 tạ/ha, bằng 102,52% với sản lượng rau sơ bộ đạt 77.508 tấn, bằng 100,40% so với cùng kỳ năm trước... Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay năm này dù có một số loại cây trồng giảm sản lượng do giảm diện tích gieo trồng như lạc, khoai lang, rau các loại...thì cây lúa và cây ngô có sự thắng lợi cả về năng suất và sản lượng. Đạt được kết quả đó là nhờ sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch sản xuất sát đúng với tình hình thực tiễn, cùng với đó bà con tuân thủ theo lịch thời vụ; quá trình sinh trưởng, phát triển trong điều kiện thời tiết thuận lợi, sâu bệnh, dịch hại được phòng trừ kịp thời. Bên cạnh đó, vụ Đông Xuân năm nay nhiều giống lúa mới năng suất, chất lượng được đưa vào sản xuất, cùng với hiệu quả của các cánh đồng mẫu lớn cũng đã góp phần vào nâng cao năng suất, chất lượng lúa. Sản xuất vụ Hè Thu năm 2024: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2024 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2024. Căn cứ Quyết định số 3206/QĐ-UBND ngày 05/12/2023 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về Kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2024 và đề xuất của các huyện, thành phố, thị xã. Chỉ tiêu định hướng sản xuất vụ Hè Thu năm 2024 như sau: Tổng diện tích gieo trồng cây ngắn ngày 55.136 ha; sản lượng lương thực 234.499 tấn, trong đó: Lúa Hè Thu: diện tích 44.570 ha, năng suất 49,7 tạ/ha, sản lượng 22,13 vạn tấn; Đậu diện tích 2.321 ha, năng suất 10,2 tạ/ha, sản lượng 2.356 tấn; Ngô lấy hạt: diện tích 2.434 ha, năng suất 42,2 tạ/ha, sản lượng 10.266 tấn; Ngô sinh khối: diện tích 756 ha, năng suất 276,2 tấn/ha, sản lượng 20.883 tấn; Lạc: diện tích 319 ha, năng suất 22,95 tạ/ha, sản lượng 732 tấn; Khoai lang: diện tích 573 ha, năng suất 59,91 tạ/ha, sản lượng 3.432 tấn; Rau: diện tích 3.030 ha, năng suất 75,5tạ/ha, sản lượng 22.880 tấn; Vừng: diện tích 1.058 ha, năng suất 8,27 tạ/ha, sản lượng 668 tấn. Tính đến ngày 14/6/2024, ước tính toàn tỉnh gieo cấy được 44.572 ha lúa vụ Hè Thu bằng 100,01% so với cùng kỳ năm trước, đạt 100% kế hoạch. Đối với cây trồng cạn tính đến ngày 20/6/2024: ngô lấy hạt 1.787 ha, đạt 73,42% kế hoạch; ngô sinh khối 195 ha, đạt 25,79% kế hoạch; đậu các loại 1.579 ha, đạt 68,03% kế hoạch; rau các loại 2.509 ha, đạt 82,81% kế hoạch; khoai lang 414 ha, đạt 72,25% kế hoạch; vừng 698 ha, đạt 86,39% kế hoạch; lạc 115 ha, đạt 36,05% kế hoạch. * Cây lâu năm Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 31.342 ha, bằng 99,41% giảm 185 ha so với cùng kỳ năm 2023, trong đó: diện tích cây ăn quả ước đạt 19.206 ha, bằng 99,25%, giảm 145 ha; diện tích cây cao su ước đạt 8.439 ha, bằng 100%; diện tích chè búp ước đạt 1.225 ha, giảm 33 ha; chè hái lá ước đạt 1.744 ha, giảm 18 ha. Thời gian qua thực hiện chủ trương chuyển đổi lại cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả kinh tế, xác định cây ăn quả có múi (cam, bưởi) là cây trồng chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao cho những vùng miền núi phía tây tỉnh Hà Tĩnh nên người dân đầu tư phát triển ồ ạt nhưng hiện nay cho chi phí đầu tư quá lớn, giá cả phân bón, ngày công tăng mạnh, thiên tai, sâu bệnh. Trong khi đó sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ, bị tư thương ép giá, nhiều hộ dân đã dần chuyển hướng sang trồng các loại cây khác như keo, mác ca…nên diện tích cây ăn quả giảm. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.842 tấn, bằng 101,01% tăng 347 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chuối tăng 398 tấn, mít tăng 164 tấn, dứa tăng 35 tấn, ổi tăng 29 tấn các loại cây này dễ trồng và cho thu hoạch nhanh, sản phẩm dễ tiêu thụ. Bên cạnh đó một số cây giảm như: cam giảm 126 tấn, chanh giảm 62 tấn nguyên nhân giảm do thoái hóa sớm nên sản lượng thấp thua so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cao su ước đạt 1.514 tấn, bằng 117,27%, tăng 223 tấn so với cùng kỳ năm 2023 nguyên nhân do đến thời kỳ cao su cho thu hoạch mủ, năm nay chất lượng khá tốt, đáp ứng được yêu cầu. Sản lượng chè búp ước đạt 5.909 tấn, tăng 225 tấn; chè hái lá ước đạt 11.508 tấn, tăng 141 tấn, nhờ chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm nên cây chè đều sinh trưởng, phát triển tốt. Tình hình sâu bệnh, thiên tai: Hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2024 mới được gieo trồng, chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Đối với cây ăn quả thì xuất hiện nạn sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 10 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 57 ha; châu chấu diện tích nhiễm 15 ha; Sâu nhớt diện tích nhiễm 15 ha; Sâu vẽ bùa diện tích nhiễm 15 ha phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… b. Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2024 ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn lợn và đàn gia cầm tăng nhẹ, sản lượng xuất chuồng các loại gia súc và gia cầm đều tăng. Tuy nhiên, do chăn nuôi trâu bò không hiệu quả nên tổng đàn trâu, bò đang có xu thế giảm so với cùng kỳ năm trước. Tổng đàn trâu hiện có 66.850 con, bằng 99,78%; đàn bò hiện có 164.050 con, bằng 97,88%; đàn lợn hiện có 399.980 con, bằng 101,2%; đàn gia cầm hiện có 9.880 ngàn con, bằng 101,29%, trong đó đàn gà hiện có 8.434 ngàn con, bằng 101,55% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2024: thịt trâu ước đạt 1.936 tấn, bằng 100,05%, thịt bò ước đạt 5.245 tấn, bằng 99,71%, thịt lợn ước đạt 34.200 tấn, bằng 101,73%, thịt gia cầm ước đạt 14.456 tấn, bằng 102,55% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, nhất là nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. Lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào, giá cả ổn định, không xảy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, hiện nay dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, mặc dù giá lợn hơi tiếp tục tăng cao nhưng người dân vẫn còn e ngại không đầu tư tăng đàn vì sợ vẫn còn nhiều rủi ro. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch Dịch tả lợn Châu Phi tại 02 xã, thị trấn (Cẩm Duệ, thị trấn Cẩm Xuyên), huyện Cẩm Xuyên làm 12 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu huỷ với trọng lượng 872 kg. Tính chung từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi, Dịch Lở mồm long móng gia súc phát sinh với mức độ cục bộ, nhỏ lẻ, được khoanh vùng, khống chế ở diện hẹp. Viêm da nổi cục xảy ra tại 30 hộ chăn nuôi của 06 xã, phường thuộc huyện Thạch Hà, Thị xã Hồng Lĩnh và Thành phố Hà Tĩnh, làm cho 35 con bò mắc bệnh, trong đó có 04 con bị chết, tiêu hủy, khối lượng 324 kg; Lở mồm long móng: xảy ra tại 09 hộ chăn nuôi của 02 xã, phường thuộc huyện Kỳ Anh và Thị xã Kỳ Anh, làm cho 22 con trâu bò mắc bệnh; Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại huyện Cẩm Xuyên và Đức Thọ, làm cho 77 con lợn mắc bệnh, tiêu hủy với khối lượng 2.661 kg. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt I năm 2024 tính đến ngày 15/6/2024: Trên đàn Trâu,bò vắc xin Lở mồm long móng tiêm được 92.969 con, đạt 85,4% KH, vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 84.768 con, đạt 77,8% KH, vắc xin Viêm da nổi cục tiêm được 64.614 con, đạt 69,6% KH; trên đàn lợn: vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 165.509 con, đạt 76,3% KH và vắc xin Dịch tả lợn tiêm được 168.425 đạt 77,6% KH; trên đàn gia cầm vắc xin Cúm gia cầm tiêm được 1.033.102 con, đạt 44,9% KH. 2.2. Lâm nghiệp Hoạt động trồng rừng 6 tháng đầu năm có sự tăng trưởng khá so với cùng kỳ. Diện tích rừng trồng mới tháng 6/2024 ước đạt 202 ha, bằng 101,51% so với cùng kỳ năm trước do tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài nên hoạt động trồng rừng đạt thấp so với mức bình quân chung các tháng, tuy nhiên tính chung 6 tháng đầu năm diện tích rừng trồng mới ước đạt 3.182 ha, bằng 128,77% so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng đóng góp từng quý thì quý II mặc dù thời tiết nắng nóng hơn nhưng diện tích rừng trồng mới lại cao hơn quý I, cụ thể diện tích trồng mới quý II đạt 1.900 ha, tăng mạnh so với quý I (tăng 48,21% tương ứng tăng 618 ha) và quý II năm trước (tăng 37,48% tương ứng tăng 518 ha). Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 6 ước đạt 84 nghìn cây, bằng 95,45%, tính chung 6 tháng đầu năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 1.623 nghìn cây, bằng 101,12% so với cùng kỳ, trồng chủ yếu tập trung ở quý I (1.424 nghìn cây) do yếu tố mùa vụ trùng dịp Tết trồng cây, còn ở quý II chỉ đạt 199 nghìn cây, giảm 86,03% so với quý I và giảm 2,93% so với cùng quý năm trước. Về hoạt động khai thác rừng 6 tháng đầu năm thì sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh, cụ thể tháng 6/2024 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 55.611 m3 bằng 115,28% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 6 tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 209.184 m3, bằng 115,96% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung sản lượng khai thác gỗ chủ yếu tập trung ở quý II do hiện nay diện tích rừng trồng đến tuổi khai thác nhiều, cùng với nhu cầu thu mua nguyên liệu của các đơn vị xuất khẩu dăm gỗ lớn nên người dân tranh thủ khai thác, chỉ tính riêng quý II sản lượng khai thác ước đạt 144.067 m3 tăng 121,24% so với quý trước và tăng 20,70% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù sản lượng khai thác gỗ đã tăng mạnh tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu của các đơn vị xuất khẩu dăm gỗ, hiện nay các đơn vị còn phải thu mua nguyên liệu ở các tỉnh lân cận. Bên cạnh việc khai thác gỗ tăng mạnh thì sản lượng củi khai thác đang có xu hướng giảm dần do nhu cầu về tiêu dùng củi giảm cộng với việc cấm khai thác gỗ nhặt ở các rừng chưa khai thác. Sản lượng củi tháng 6 năm 2024 ước đạt 35.395 ste, bằng 95,26% (giảm 1.760 ste), tính chung 6 tháng ước đạt 135.587 ste, bằng 95,96% (giảm 5.701 ste). Xét trong từng quý thì sản lượng khai thác củi quý II dù tăng 48,02% so với quý trước nhưng so với cùng kỳ vẫn giảm 4,11%. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, nhưng tháng 6 nắng nóng khá gay gắt, vì vậy đã xảy ra 02 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 0,77 ha và 6 vụ phá rừng với diện tích bị phá là 3,40 ha dẫn đến tính chung 6 tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 02 vụ cháy rừng (tăng 01 vụ) với diện tích rừng bị cháy là 0,77 ha (giảm 0,02 ha) và 23 vụ phá rừng (giảm 36 vụ) với diện tích rừng bị phá là 6,577 ha (giảm 10,95 ha) so với cùng kỳ năm trước. 2.3. Thủy sản Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản đang được các cấp, các ngành quan tâm, nhất là đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích ngư dân khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế kinh tế biển, phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực; gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản tháng 6 ước đạt 5.175 tấn, bằng 103,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.684 tấn, bằng 102,28%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.491 tấn, bằng 106,81% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 27.823 tấn, bằng 102,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 21.095 tấn, bằng 102,42%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 6.728 tấn, bằng 104,76% so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng từng quý thì với thủy sản nuôi trồng sản lượng quý I và II khá đồng đều, trong khi sản lượng khai thác lớn và tập trung chủ yếu vào quý II. Cụ thể, sản lượng nuôi trồng quý II ước đạt 3.416 tấn, tăng 3,14% so với quý I và tăng 6,65% so với cùng kỳ, trong khi sản lượng khai thác quý II ước đạt 11.167 tấn, tăng 12,48% so với quý trước và tăng 2,95% so với cùng kỳ. Do trong quý thời tiết tương đối thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, dịch bệnh ít xảy ra, mặt khác chi phí về nhiên liệu có phần hạ nhiệt và hoạt động du lịch sôi động trở lại khi bước vào mùa hè, nhu cầu tiêu dùng tăng cao cộng với giá cả ổn định, một số mặt hàng hải sản có phần tăng hơn so nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, thời tiết bất lợi, nắng nóng xen lẫn mưa dông, làm biến động nhiệt độ và các yếu tố môi trường nước, giảm sức đề kháng của tôm; nguy cơ tiếp tục phát sinh, lây lan một số loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên tôm là rất cao. Tổng diện tích dịch bệnh trong 6 tháng đầu năm 2024 là 9,7 ha, trong đó: Dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 4 xã (Hộ Độ, Kỳ Ninh, Kỳ Thọ, Mai Phụ) thuộc 3 huyện, thị xã (Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà) với tổng diện tích 7,05 ha; Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại xã Nam Phúc Thăng thuộc huyện Cẩm Xuyên với diện tích 2 ha; Bệnh Vi bào tử trùng (EHP) xảy ra tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh với diện tích 0,65 ha, giảm 73% so với cùng kỳ năm trước. 3. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều dấu hiệu tích cực, khi có 3/4 nhóm ngành công nghiệp cấp 1 đều ghi nhận mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm 2023. Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Nửa đầu tháng 4 năm 2024, xưởng cán nóng đại tu sửa, dây chuyển sản xuất thép dừng sản xuất. Bên canh đó, trong thời gian vừa qua, sự gia tăng mạnh mẽ các sản phẩm thép nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Ấn Độ đã ảnh hưởng đến việc ổn định sản xuất doanh nghiệp sản xuất thép trong nước. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh do đó sản lượng thép sản xuất giảm mạnh so cùng kỳ. Vì vậy, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính 6 tháng đầu năm 2024 giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước. 3.1 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP). Ước tính tháng 6/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành ước giảm 0,31% so với tháng trước và giảm 1,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 3,56% so với tháng trước và tăng 22,98% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 3,72% so với tháng trước và giảm 7,6% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 14,9% so với tháng trước và tăng 28,4% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 1,29% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 15,51%. Quý II/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính giảm 5,52% so với quý trước và giảm 10,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng tăng 79,27% so với quý trước và tăng 34,34% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 11,72% so với quý trước và giảm 19,02% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,1% so với quý trước và tăng 35,03% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nướ; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,84% so với quý I/2024 và tăng 14,12% so với cùng kỳ năm 2023. Ước tính 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 25,34% đóng góp 0,32 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,18% làm giảm 8,45 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 35,63% đóng góp 4,6 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,21% đóng góp 0,33 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Một số sản phẩm đóng góp vào tăng trưởng của ngành như điện sản xuất, bia, pack pin (điện sản xuất ước đạt 5,87 tỷ kWh, tăng 37,42%; bia ước đạt 39,46 triệu lít, tăng 26,79%; pack pin ước đạt 2.460 pack); trong khi một số sản phẩm như thép, sợi có xu hướng giảm do khó khăn về thị trường đầu ra (thép ước đạt 2,23 triệu tấn, giảm 16,76%; sợi ước đạt 3.239 tấn, giảm 0,67%). Ngoài yếu tố thị trường, sản lượng thép giảm do sự cố tại dây chuyền cán nóng của Formosa từ ngày 1/4-15/4 dẫn đến tăng trưởng ngành công nghiệp cũng như toàn nền kinh tế chưa đạt kỳ vọng. 3.2 Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớn Ước tính 6 tháng đầu năm 2024, trong 19 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai thác quặng kim loại tăng 72,63%; sản xuất đồ uống tăng 42,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 38,6%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 35,63%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,82%; ... Một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 7,95%; sản xuất kim loại giảm 14,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 5,79%; .... 3.3 Chỉ số tiêu thụ, tồn kho, tình hình sử dụng lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 6/2024 giảm 3,17% so với tháng trước, so với tháng 6/2023 giảm 7,64%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 chỉ số tiêu thụ giảm 12,32% so với năm trước. Trong đó, sản phẩm than cốc, dầu mỏ tinh chế với chỉ số tiêu thụ giảm 12,39% so với cùng kỳ năm trước. Tiêu thụ sản phẩm này giảm mạnh do doanh nghiệp giữ lại dùng để sản xuất chế biến tiếp trong doanh nghiệp. Sản phẩm kim loại giảm 15,55% so với cùng kỳ năm trước. Thép nhập khẩu từ các nước khác làm giảm thị trường tiêu thụ đã ảnh hưởng trực tiếp tới chỉ số tiêu thụ của ngành sản xuất kim loại. Còn lại, nhiều mặt hàng trong tổng số các nhóm sản phẩm trên địa bàn có chỉ số tiêu thu tăng cao so với cùng kỳ năm 2023 như: Sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 35,54%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 91,27%; sản xuất trang phục tăng 69,39%; …6 tháng đầu năm 2024, mặc dù chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ, tuy nhiên, số nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm tỷ trọng cao, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh dần phục hồi sau nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong những năm qua. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2024 tăng 32,69% so với tháng trước và tăng 20,05% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao do một số ngành như: Sản xuất trang phục tăng 289,97%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 36,01%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,25%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2024 tăng 0,41% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 3,61%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 6 năm 2024, chỉ số 36 sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 7,55% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 6 tháng đầu năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 0,79% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động 6 tháng đầu năm 2024 đối với ngành này tăng 9,65%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,08%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,11% so với cùng kỳ năm 2023. 4. Tình hình thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp 4.1 Thu hút đầu tư Tính từ đầu năm đến nay Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 16 dự án đầu tư trong nước với tổng mức gần 1.745 tỷ đồng (cùng kỳ chấp thuận 10 dự án 1.254 tỷ đồng). Lũy kế toàn tỉnh hiện có gần 1.500 dự án quy mô 517.000 tỷ đồng (tăng 8% về số lượng, 20% về số vốn so với đầu nhiệm kỳ). Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các biên bản ghi nhớ tại Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh. Tiếp tục kết nối, làm việc với các nhà đầu tư trong nước (Central Group, FPT, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam...) và nước ngoài (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan) nghiên cứu đầu tư các dự án phát triển hạ tầng khu/cụm công nghiệp, năng lượng, điện tử, giáo dục, du lịch. 4.2. Tình hình đăng ký kinh doanh Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 22/11/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đến năm 2025 và những năm tiếp theo. Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Tuy nhiên do sự tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp... Vì vậy số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn không đạt như kỳ vọng. Cụ thể, tính đến ngày 15/6/2024 toàn tỉnh có 528 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký hơn 3.000 tỷ đồng, giảm 5,37% số lượng và tăng 47,5% số vốn; 233 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 3,56%; 107 doanh nghiệp giải thể, tăng 5,94%; 414 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 8,38%; tỷ lệ kê khai phát sinh thuế từ đầu năm đến nay chiếm 39% (cùng kỳ 41%). 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Qua tổng hợp kết quả điều tra trên địa bàn tỉnh, nhìn chung đa số các doanh nghiệp đánh giá quý III/2024 và dự báo 6 tháng cuối năm 2024 về tình hình sản xuất kinh doanh, biến động về khối lượng sản xuất, số lượng đơn đặt hàng có xu hướng tăng lên và giữ nguyên. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực và thuận lợi hơn trước. Cụ thể: *Nhận định quý III so với quý II Các doanh nghiệp dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2024 tăng hơn so quý II/2024 khi có tới 35,42% doanh nghiệp nhận định SXKD quý II/2024 sẽ tốt hơn và 50% giữ ổn định so với quý II/2024. Số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước giảm xuống còn 14,58% tổng số các doanh nghiệp trong toàn tỉnh. Quý III/2024 có 39,58% số doanh nghiệp cho rằng khối lượng sản xuất tăng so với quý hiện tại; 47,92% số doanh nghiệp nhận định giữ ổn định sản xuất. Trong khi đó chỉ có 12,5% trong tổng số doanh nghiệp giảm khối lượng sản xuất. Các doanh nghiệp dự báo quý III/2024 tăng số lượng đơn đặt hàng mới (37,5% nhận định tăng lên và 47,92% giữ nguyên như quý II/2024); có 14,58% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng mới giảm hơn so với quý II/2024. Tỷ trọng số doanh nghiệp nhận định lượng tồn kho thành phẩm tăng lên đã tăng lên 18,75%. Trong khi có 81,25% doanh nghiệp dự báo vẫn giữ nguyên như cũ và giảm đi so với quý II/2024. Dự báo lao động quý III/2024 so với quý hiện tại có 72,92% doanh nghiệp khẳng định giữ ổn định số lao động, bên cạnh đó có 12,5% số doanh nghiệp dự kiến tăng số lao động và 14,58% doanh nghiệp dự kiến giảm số lao động. *Dự báo 6 tháng cuối năm 2024 Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo 6 tháng tiếp theo có xu hướng tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (52,08% doanh nghiệp); tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên là 39,59% và chỉ có 8,33% doanh nghiệp cho rằng 6 tháng tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo 6 tháng tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (50%). Trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 10,42%. Tương tự số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và giữ nguyên trong 6 tháng tiếp theo chiếm tỷ lệ cao (75%). Với tình hình thực tế hiện nay, các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động 6 tháng tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong 6 tháng tiếp theo chiếm đến 66,67%, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 22,92% và có 10,41% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động. 5. Thương mại, dịch vụ Hoạt động thương mại, dịch vụ 6 tháng đầu năm 2024 diễn ra sôi động và tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 20,56%, doanh thu dịch vụ lưu trú giảm 15,92%; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 14,09%; doanh thu du lịch lữ hành tăng 77,21%; dịch vụ khác tăng 6,35%. Bên cạnh đó hoạt động vận tải cũng có doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, do giá vé và nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông công cộng đường bộ và taxi để đi lại của người dân tăng lên. Nguyên nhân chủ yếu là nhờ chính sách kích cầu của Chính phủ, thông qua đầu tư công như xây dựng cầu, đường, điện ... từ đó tạo động lực cho các nhóm, ngành phát triển, cùng với sự phát triển mạnh của ngành du lịch lữ hành, khách du lịch tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị và tạo đà cho các hoạt động kinh doanh ăn uống ngoài gia đình, vận tải… 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Nguồn cung hàng hóa tại thị trường trong nước, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…) luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Thị trường các mặt hàng thiết yếu trong quý II và cả 6 tháng đầu năm không có biến động lớn, mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, dịch bệnh, mùa vụ … nhưng cơ bản cung cầu các mặt hàng được bảo đảm, thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp khiến nguồn cung lương thực, thực phẩm đồi dào. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 6 ước đạt 5.753,97 tỷ đồng, tăng 0,82% so với tháng trước, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 34.321,82 tỷ đồng, tăng 20,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức đạt mức tăng trưởng khá như: Lương thực, thực phẩm ước đạt 16.527,98 tỷ đồng, chiếm 48,16% tổng mức, tăng 26,85%; hàng may mặc ước đạt 2.184,52 tỷ đồng, chiếm 6,36% tổng mức, tăng 43,78%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 4.345,53 tỷ đồng, chiếm 12,66% tổng mức, tăng 43,46%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.495,20 tỷ đồng, chiếm 4,36% tổng mức, giảm 7,86%; phương tiện đi lại ước đạt 513,03 tỷ đồng, chiếm 1,49% tổng mức, giảm 31,42%... Xét riêng từng quý cho thấy doanh thu bán lẻ ở mức ổn định và tăng tưởng khá đều ở các quý, mức tăng trưởng doanh thu so với cùng kỳ ở quý I và quý II lần lượt ở các mức cao là 21,98% và 19,17%. Do tính mùa vụ quý I trùng các dịp lễ, Tết nên doanh thu quý II ước đạt 17.108 tỷ đồng giảm nhẹ 0,61% so với quý I. Ngoại trừ nhóm hàng gỗ, vật liệu xây dựng và ô tô, phương tiện đi lại các loại có mức doanh thu giảm so cùng kỳ do sự giảm về giá các loại vật liệu xây dựng và nhu cầu các mặt hàng giá trị lớn do tình hình kinh tế khó khăn còn lại các mặt hàng khác đều có doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ ở cả 2 quý. Nhìn chung nguồn cung hàng hóa tại thị trường trong nước, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…) luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Thị trường các mặt hàng thiết yếu trong quý II và 6 tháng đầu năm không có biến động lớn. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, dịch bệnh, mùa vụ … nhưng cơ bản cung cầu các mặt hàng được bảo đảm; thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nên nguồn lương thực, thực phẩm khá dồi dào. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Tháng 6 là thời điểm bắt đầu mùa nghỉ hè, nhu cầu đi tham quan nghỉ mát mùa hè, du lịch, vui chơi giải trí tăng. Cùng với đó, trong tháng có ngày lễ là ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6. Những điều này, phần nào tác động tăng doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, ước doanh thu tháng 6 đạt 742,58 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước, tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng doanh thu ước đạt 4.009,61 tỷ đồng, tăng 13,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 116,33 tỷ đồng, giảm 15,92%; Ăn uống ước đạt 3.851,32 tỷ đồng, tăng 14,09%; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 41,96 tỷ đồng, tăng 77,21% so với cùng kỳ năm trước. Có thể thấy mùa du lịch tập trung chủ yếu ở tháng 5,6, vì vậy mức doanh thu du lịch tăng mạnh trong quý II. Doanh thu du lịch trong quý II ước đạt 25,56 tỷ đồng, chiếm 60,92% doanh thu du lịch 6 tháng đầu năm 2024, tăng 55,86% so với quý trước và tăng 70,94% so với cùng kỳ năm trước.Tuy nhiên, việc doanh thu du lịch còn khá nhỏ so với tiềm năng du lịch là bài toán cần phương án giải đáp sớm trong thời gian tới của tỉnh nhà. Hoạt động du lịch tăng mạnh cũng là động lực kéo hoạt động lưu trú, ăn uống ngoài gia đình trong quý tăng trưởng khá, doanh thu lưu trú ăn uống tính riêng quý II đạt 2.074,06 tỷ đồng, tăng 9,53% so với quý trước và tăng 7,31% so với cùng kỳ, trong đó nhu cầu ăn uống ngoài gia đình đang rất cao và xu hướng tăng lên cũng là nhóm ngành trọng yếu quyết định đến tăng trưởng của nhóm ngành này, chỉ tính trong quý II doanh thu ăn uống đạt 1.992,71 tỷ đồng, tăng 7,21% so với quý I và tăng 7,67% so với cùng quý năm trước, trong khi hoạt động lưu trú có sự sụt giảm so với cùng kỳ ở cả 2 quý do việc tạm ngừng để sửa chữa các cơ sở lưu trú do tình trạng xuống cấp. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh. Các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Nguyên nhân, là thời điểm mùa du lịch hà Tĩnh đặc biệt là du lịch biển với những bãi biển đẹp như Thiên Cầm, Thạch Hải, Xuân Hải, Xuân Thành…, lượng khách đến các bãi biển, khu nghỉ dưỡng bắt đầu tăng mạnh so với các tháng đầu năm. Cùng với đó là sự thuận lợi về đường giao thông, phương tiện đi lại; chất lượng của các cơ sở lưu trú ngày càng được chú trọng. Năm nay với những chương trình tour du lịch phong phú, đa dạng như du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch biển…hoạt động lữ hành đạt được những kết quả tốt và đã có những tour du lịch nước ngoài, tour phục vụ khách quốc tế là sự tiến bộ so với năm trước. Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 6/2024 ước đạt 378,6 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước và tăng 8,98% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 doanh thu ước đạt 2.262,63 tỷ đồng, tăng 6,35% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung các hoạt động dịch vụ khác đạt doanh thu khá ổn định và tăng trưởng đều ở quý I và II, cụ thể mức tăng ở các quý so với cùng kỳ lần lượt là 6,43% và 6,28%. Nguyên nhân do trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm đang được thi công như: cao tốc Bắc Nam, Nhà máy Pin Lithium, Nhà máy nhiệt điện 2…, hoạt động xây dựng đang đẩy nhanh tiến độ thi công, san lấp mặt bằng nhiều đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng máy móc thi công tăng lên; kéo theo đó là hoạt động vệ sinh công trình, cảnh quan đô thị cũng phát triển. Bên cạnh đó các hoạt động dịch vụ như chăm sóc da, làm đẹp, cắt tóc, gội đầu; dịch vụ dọn vệ sinh nhà cửa đã khôi phục và trở lại trạng thái hoạt động khá ổn định, chưa kể việc chi phí tăng khiến giá các mặt hàng khác tăng kéo theo doanh thu nhóm này tăng. 5.2. Hoạt động vận tải Kết quả vận tải, kho bãi tháng 6/2024 doanh thu ước đạt 767,69 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước, tăng 24,43% so với cùng kỳ năm trước, do trong tháng là tháng bắt đầu nghỉ hè, là thời điểm nhu cầu tham quan đi lại của đối tượng khách du lịch ngày càng cao, vận tải hàng hóa trong tháng cũng tăng mạnh do các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, công trình xây dựng cùng với đó nhu cầu vận chuyển vật tư nông nghiệp phân bón, giống để chuẩn bị cho vụ mùa tăng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 4.162,97 tỷ đồng, tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 759,88 tỷ đồng, tăng 55,04%; vận tải hàng hoá ước đạt 2.520,37 tỷ đồng, tăng 14,33%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 852,41 tỷ đồng, tăng 41,44% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trong 6 tháng của hoạt động vận tải chủ yếu tập trung ở quý II, chỉ tính riêng quý II, doanh thu vận tải ước đạt 2.240,43 tỷ đồng, tăng 16,53% so với quý trước và tăng 24,55% so với cùng quý năm trước. Mức tăng chủ yếu ở vận tải hàng hóa khi doanh thu ước đạt 1.433,65 tỷ đồng, tăng đến 31,92% so với quý trước và tăng 22,68% so với cùng quý năm trước, trong khi quý I chỉ tăng 4,91% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, doanh thu vận tải hành khách trong quý giảm 13,33% so với quý trước, do yếu tố mùa vụ khi người về quê và đi làm sau các kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, tết Dương lịch, nhưng so với cùng kỳ vận tải hành khách vẫn đạt mức tăng 41,61% do yếu tố giá vé và nhu cầu vé chất lượng cao tăng. Nhìn chung hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm 2024 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ năm trước, doanh thu vận tải hành khách mặc dù đang thấp hơn vận tải hàng hóa nhưng tốc độ tăng lại rất lớn trên 55% chứng tỏ sự đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng phương tiện đến thái độ phục vụ. Việc mở rộng thêm nhiều tuyến sang các nước như Thái Lan, Lào làm cho khối lượng vận chuyển hành khách tăng lên đáng kể. Với sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt kinh tế Hà Tĩnh đang trên đà tăng trưởng, do đó phát triển hạ tầng giao thông là một trong các chỉ tiêu được đặt ra hàng đầu để tạo điều kiện cho kinh tế phát triển trên mọi mặt, việc hoàn thiện, mở rộng các tuyến Quốc lộ trong tỉnh, các tuyến giao thông đường bộ nội tỉnh, thôn xóm cũng ngày càng hoàn thiện, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Đó cũng chính là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của hoạt động giao thông vận tải, tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện vận tải lưu thông. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2024 có nhiều thuận lợi hơn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ, thị trường bất động sản ổn định, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) tính đến ngày 15/6/2024 đạt 7.048,80 tỷ đồng (tăng 7,03% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 4.389,01 tỷ đồng (chiếm 62,27 % trong tổng thu) tăng 6,46% so với cùng kỳ. Một số thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 558,54 tỷ đồng, giảm 69,03% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm do nguồn thuế thu từ doanh nghiệp Formosa giảm mạnh bởi gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm kim loại; thu từ cân đối hoạt động xuất nhâp khẩu đạt 2.233,60 tỷ đồng, giảm 7,25% so với cùng kỳ. Chủ yếu do hoạt động xuất nhập khẩu của Formosa giảm mạnh so với cùng kỳ. Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp 6 tháng đầu năm 2024 thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 558,54 tỷ đồng tăng 49,61% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 741,39 tỷ đồng, tăng 58,48% so với cùng kỳ năm 2023; các khoản thu về thuế nhà, đất đạt 1.346,68 tỷ đồng, tăng 117,51% so với cùng kỳ năm trước; ... Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/6/2024 đạt 11.497,44 tỷ đồng tăng 13,9% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 5.482,8 tỷ đồng chiếm 47,69% tổng chi, tăng 17% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 6.012,56 tỷ đồng chiếm 52,29% tổng chi, tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 2.104,59 tỷ đồng tăng 21,33%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 1.365,66 tỷ đồng tăng 23,05% so với cùng kỳ năm 2023. 6.2. Hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2024, ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực sự nỗ lực trong việc đáp ứng nhu cầu vốn trên địa bàn và góp phần phục hồi kinh tế xã hội, trong bối cảnh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế thấp. Công tác huy động vốn được các tổ chức tín dụng trên địa bàn đẩy mạnh ngay từ đầu năm. Với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động ước đến đến 30/6/2024 đạt 104.590 tỷ đồng, tăng 4,04% so với cuối năm 2023. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 10.901 tỷ đồng, chiếm 10,42% tổng nguồn vốn huy động, tăng 3,09% so với cuối năm 2023; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 96.688 tỷ đồng, chiếm 89,58%, tăng 4,16% so với cuối năm 2023. Dư nợ cho vay ước đến 30/6/2024 đạt 99.750 tỷ đồng, tăng 3,85% so với cuối năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 73.108 tỷ đồng (chiếm 73,29 % tổng dư nợ), tăng 5,7% so với cuối năm 2023; dư nợ trung dài hạn đạt 26.641 tỷ đồng (chiếm 26,71% tổng dư nợ), giảm 0,9% so với cuối năm 2023. Công tác huy động vốn, tín dụng được tập trung chỉ đạo. Các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay, các chương trình lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, tiếp cận tín dụng. 7. Vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2024, UBND tỉnh và các Sở, ban ngành đã có nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, xử lý kịp thời các vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đồng thời tăng cường vai trò của Chủ đầu tư trong việc đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, nghiệm thu khối lượng hoàn thành và giải ngân vốn kịp thời. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý II/2024 ước đạt 14.213,01 tỷ đồng, tăng 31,14% so với quý trước và tăng 15,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 25.051,41 tỷ đồng, tăng 15,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.586,76 tỷ đồng, tăng 79,12% nhờ các dự án trọng điểm Trung ương triển khai trên địa bàn như cao tốc Bắc – Nam, đường dây 500kV; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 7.766,56 tỷ đồng, giảm 16,19% do hoạt động đầu tư từ khu vực doanh nghiệp còn khó khăn; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 9.896,1 tỷ đồng, tăng 19,65% nhờ một số dự án lớn như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy Pin Lithium. Một số dự án quy mô lớn được chấp thuận trong năm 2024 như: Dự án đường dây 500KV Vũng Áng - rẽ Hà Tĩnh - Đà Nẵng (mạch 3,4) (Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia) với quy mô diện tích hơn 61ha, tổng vốn đăng ký hơn 673 tỷ đồng; Khu dân cư tại xã Phú Phong (huyện Hương Khê) với quy mô diện tích 9,83 ha, tổng vốn đăng ký hơn 154 tỷ đồng; Nhà máy Sản xuất ván ép xuất khẩu (huyện Nghi Xuân) của Công ty TNHH SX&TM Wintech với quy mô diện tích 4,32ha, tổng vốn đăng ký hơn 125 tỷ đồng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, nhiều dự án lớn từ các năm trước đang tiếp tục được tỉnh đôn đốc triển khai thực hiện như: Dự án nhà máy sản xuất Lithium (6.500 tỷ đồng); nhà máy luyện gang thép do Công ty cổ phần gang thép Vũng Áng đầu tư bước đầu chuẩn bị mặt bằng, tổng mức dự án là 2.200 tỷ đồng, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2025; dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2; dự án xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam qua Hà Tĩnh; dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà đã triển khai giai đoạn 1 với tổng mức đầu tư 1.555 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện tại, dự án đã bước đầu hoàn thành công tác kiểm đếm, đền bù cho hộ dân cư, dự kiến khởi công vào cuối tháng 6 năm 2024.…Đây là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Sau một năm 2023 với những tín hiệu tích cực từ hoạt động xuất khẩu thì 6 tháng năm 2024 lượng hàng xuất khẩu của Hà Tĩnh giảm xuống khá sâu so với cùng kỳ năm trước, do diễn biến giá khó lường cũng nhu cầu tiêu thụ thế giới phục hồi chậm hơn so với kỳ vọng. Riêng tháng 6/2024 tổng kim ngạch đạt 469,06 triệu USD, giảm 4,93% so với tháng trước và giảm 24,76% so với cùng kỳ, tính chung 6 tháng đầu năm 2024 tổng kim ngạch ước đạt 3.140,91 triệu USD, giảm 0,22% so với cùng kỳ năm 2023. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 6 ước đạt 170,50 triệu USD, giảm 7,53% so với tháng trước và giảm đến 44,75% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do mặt hàng chủ đạo thép, phôi thép xuất khẩu đạt 150,50 triệu USD, giảm 7,66% so với tháng trước và giảm đến 47,49% so với cùng kỳ, bên cạnh đó các mặt hàng dệt, may mặc và xơ, sợi các loại vẫn đang gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Mặc dù nhóm hàng chè và dăm gỗ có kim ngạch xuất khẩu tăng so với tháng trước (tăng lần lượt 13,64% và 1,87%), tuy nhiên vẫn chưa đạt mức so với cùng kỳ và doanh thu xuất khẩu các mặt hàng không lớn nên hầu như không tác động tới tốc độ tăng xuất khẩu. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.139,49 triệu USD, giảm 15,42% so với cùng kỳ. Bên cạnh mặt hàng thép, và phôi thép đạt 1.017,18 triệu USD (chiếm 89,27% kim ngạch xuất khẩu 6 tháng), giảm đến 18,59% so với cùng kỳ, thì mặt hàng xơ, sợi dệt các loại tiếp tục gặp khó khăn khi giảm đến 36,71%. Việc 2 nhóm hàng lớn có kim ngạch giảm sâu nên mặc dù các mặt hàng khác như Chè, Dăm gỗ, Dệt và may mặc có sự tăng trưởng tốt trong 6 tháng nhưng vì giá trị xuất khẩu không qua lớn nên không kéo lại được sự tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu. Chỉ tính riêng xuất khẩu của công ty Formosa trong 6 tháng đầu năm 2024 kim ngạch ước đạt 1.056,95 triệu USD (chiếm đến 92,76% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh), giảm 17,40% so với cùng kỳ cho thấy sự đóng góp cũng như sự quyết định công ty này đối với hoạt động xuất, nhập khẩu của tỉnh nhà. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 6/2024 ước đạt 298,56 triệu USD, giảm 3,38% so với tháng trước và giảm 5,16% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất (Nhập khẩu từ FHS ước đạt 202,45 triệu USD, giảm 6,95% so với tháng trước và giảm 17,15% so với cùng kỳ năm trước) do việc thị trường đầu ra đang gặp khó khăn cùng với việc thời tiết chuyển nắng nóng, sản lượng sản xuất giảm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.001,42 triệu USD tăng 11,14% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 1.436,0 triệu USD (chiếm 71,75%) giảm 2,74% so với cùng kỳ năm trước, nhưng việc nhập khẩu các mặt hàng khác tăng, nhất là các hàng hóa phục vụ dịp Tết trong quý I khiến kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng vẫn có mức tăng khá. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD, kết quả 6 tháng đầu năm 2024 mới chỉ đạt gần 47,48%. Xét riêng từng quý thì hoạt động Xuất - Nhập khẩu chủ yếu ở trong quý I, sang quý II hoạt động có vẻ trầm lắng và giảm khá sâu, vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 9. Giá cả, lạm phát Sáu tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều yếu tố bất lợi, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và tiêu dùng hàng hoá. Mặc dù mức tăng chung chỉ số giá tiêu dùng hàng hoá ở mức 2,73% nhưng chỉ số giá lại tăng mạnh chủ yếu ở các nhóm mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ uống, thước và dịch vụ y tế…Giá vàng và ngoại tệ biến động mạnh, tác động đến chính sách tiền tệ và sự ổn định của dòng vốn lưu thông trong sản xuất kinh doanh. Tháng 6 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tác động đến giá cả trong tháng do yếu tố mùa vụ chịu ảnh hưởng bởi thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh, cũng là thời điểm nhóm học sinh, sinh viên bắt đầu nghỉ hè, ảnh hưởng đến các nhóm văn phòng phẩm, dịch vụ du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí liên quan. Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh tiếp tục giảm so tháng trước và thời điểm đầu năm, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. Bên cạnh đó, giá gạo và thịt gia súc các loại trên thị trường trong nước vẫn đang ở mức cao và vẫn đang có xu hướng tăng. Giá vàng bình quân trong tháng 6 có sự hạ nhiệt hơn so với tháng trước nhưng vẫn đang ở mức giá 7.487 nghìn đồng/chỉ 9999, giảm 1,07% so với tháng trước, tăng 33,45% so với cùng tháng năm trước. Giá đô la Mỹ bình quân 2.547.491 đồng/100 USD, giảm 0,68% so với tháng trước và tăng 8,47% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 2,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,39%, nông thôn tăng 2,88%. Phân theo nhóm ngành hàng, ngoài 2 nhóm ngành hàng có chỉ số giá giảm là Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,3% và Bưu chính viễn thông giảm 1,76% thì các nhóm hàng khác đều có mức tăng cao, cụ thể: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,70%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,09%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,77%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,47%; giao thông tăng 1,79%; giáo dục tăng 2,56%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,83%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,47% so với cùng kỳ năm trước. Nếu xét riêng từng quý thì giá các mặt hàng trong quý II tăng cao hơn trong quý I. Chỉ số giá bình quân quý II tăng 0,67% so với quý trước và tăng đến 3,15% so với cùng quý năm trước. Đáng lưu ý các nhóm hàng tăng mạnh trong quý II ảnh hưởng trược tiếp tới mức giá bình quân 6 tháng như Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,83% (trong đó: lương thực tăng 15,87%; thực phẩm tăng 5,15%; ăn uống ngoài gia đình tăng 8,34%); Đồ uống và thuốc lá tăng 5,94%; Thuóc và dịch vụ y tế tăng 7,49%... Nguyên nhân do giá gạo đang ở mức cao và tăng do ảnh hưởng bởi giá gạo trên thị trường thế giới tăng trở lại, giá các loại thịt gia súc, gia cầm ở mức cao do nguồn cung trên thị trường khan hiếm, trong khi đó, nhập khẩu thịt lợn trong những tháng vừa qua đã giảm do tình hình dịch bệnh trên đàn lợn, các loại rau quả cũng ở mức giá cao do năm nay sản lượng thấp, nguồn cung hạn chế. Quý II cũng là mùa nắng nóng khiến nhu cầu tiêu thụ cũng như giá các mặt hàng nước giải khát tăng mạnh, giá dịch vụ y tế được điều chỉnh tăng theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế từ ngày 17/11/2023 nên mức giá tăng cao so với cùng kỳ. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay các mặt hàng, dịch vụ có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện nước. Yếu tố mùa vụ, dịch bệnh trên đàn gia súc, thời tiết cũng như các chính sách điều hành của Nhà nước về giá cả dịch vụ, nhiên liệu là những yếu cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ trong thời gian qua. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 7/2024 dự kiến tiếp tục tăng. Giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tiếp tục tăng do tính chất thời vụ mùa du lịch biển. Giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài. Một số mặt hàng khác dự kiến có thể tiếp tục tăng giá gồm hàng điện lạnh, xăng dầu các loại. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm 1.1. Tình hình chung Những tháng đầu năm 2024, nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hà Tĩnh cao, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lớn với mức lương, thưởng, chế độ phúc lợi hấp dẫn, song các doanh nghiệp vẫn gặp khó trong tuyển dụng lao động. Thời gian tới cần tập trung tăng cường tổ chức các phiên, sàn giao dịch việc làm trực tiếp, trực tuyến kết nối cung-cầu lao động; gửi thông tin nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp đến các địa phương để thông tin rộng rãi tới người dân. Đồng thời, tiếp tục khảo sát, thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu của người lao động có nhu cầu việc làm để kết nối với doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng lao động; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong tuyển dụng lao động phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của đơn vị. Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh, từ đầu năm 2024 đến nay, nhu cầu tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực may mặc trên địa bàn tỉnh khá lớn. Chỉ riêng trong tháng 6/2024, có 7 doanh nghiệp lĩnh vực may mặc đăng ký nhu cầu tuyển dụng hơn 3.600 lao động phổ thông trong tỉnh. Tuy nhiên, dù đã đưa ra mức lương và các chế độ đãi ngộ hấp dẫn, song nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó trong tuyển dụng lao động, số lượng lao động đến nộp hồ sơ, đăng ký tuyển dụng vẫn còn ít dẫn đến tình hình lao động việc làm tại Hà Tĩnh quý II/2024 có chiều hướng giảm so với quý trước. Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý II năm 2024 là 6.089 người, tăng 18,72% so với quý trước và 16,31% so cùng kỳ năm 2023; tăng chủ yếu do xuất khẩu lao động (tăng 150,8% so với quý trước và 226,51% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 6 tháng năm 2024, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 11.218 người, giảm 12,11% so cùng kỳ năm 2023, chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (giảm 34,49%) và đi làm việc ngoại tỉnh (giảm 11,84%). Tất cả điều đó chứng tỏ tình hình về lao động, việc làm quý II/2024 ở Hà Tĩnh có xu hướng giảm so với quý trước. 1.2. Lực lượng lao động Theo kết quả điều tra lao động việc làm, ước tính quý II năm 2024 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh là 503.482 người, giảm 0,24% so với quý trước và tăng 1,91% so với cùng kỳ năm 2023. Trong tổng số, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên là nam giới chiếm tỷ trọng 50,69%, cao hơn 1,38 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 49,31%); khu vực thành thị chỉ chiếm 25,96%, chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 74,04%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số từ 15 tuổi trở lên trong quý II năm 2024 là 52,74%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý I/2024 và tăng 0,85 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng có sự chênh lệch giữa nam và nữ (lần lượt là 54,27% và 51,26%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 61,37%, cao hơn nông thôn là 11,11 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng năm 2024, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 504.807 người, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2023; trong đó lực lượng lao động nam là 255.654 người, chiếm 50,72% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 130.960 người, chiếm 25,98%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng năm 2024 là 52,8%, giảm 0,35 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023. So sánh giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ cho thấy cũng có sự chênh lệch đáng kể: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn 3,07 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị cao hơn 11,17 điểm phần trăm so với nông thôn. 1.3. Lao động có việc làm Theo kết điều tra lao động việc làm, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2024 là 494.035 người, chiếm 98,12% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; giảm 0,39% so với quý trước và tăng 2,89% so với cùng kỳ năm 2023. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 129.585 người, chiếm 26,23% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 246.540 người, chiếm 49,9%. So sánh với cùng kỳ năm trước ta thấy, số lao động có việc làm ở thành thị, nông thôn, nam và nữ đều có xu hướng giảm, nhưng với mức giảm khác nhau: số lao động có việc làm ở nông thôn giảm 0,31%, còn ở thành thị giảm 0,62%; ở nam giới giảm 0,33%, thấp hơn nữ giới 0,12 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng năm 2024, lao động có việc làm đạt 495.005 người, chiếm 98,2% tổng số lực lượng lao động và tăng 1,74% so với cùng kỳ năm 2023. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 129.991 người, chiếm 26,26%; ở nam giới là 246.954 người, chiếm 49,89%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động chuyển dần theo chiều hướng tích cực: Quý II/2024, lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng là 29,25% (tương ứng 144.497 người), giảm 0,21 điểm phần trăm so với quý trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,48% (tương ứng 145.646 người), tăng 0,3 điểm phần trăm; dịch vụ chiếm 41,27% (tương ứng 203.892 người), giảm 0,09 điểm phần trăm. Lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản 6 tháng năm 2024 chiếm tỷ trọng 29,36% (tương ứng 145.314 người), giảm cả về số lượng và tỷ trọng so với cùng kỳ năm trước (lần lượt giảm 0,5% và 0,65 điểm phần trăm); công nghiệp-xây dựng chiếm 29,33% (tương ứng 145.180 người), tăng cả số lượng và tỷ trọng (lần lượt tăng 2,71% và 0,28 điểm phần trăm); dịch vụ chiếm 41,31% (tương ứng 204.511 người), cũng tăng cả số lượng (tăng 2,68%) và tỷ trọng (tăng 0,37 điểm phần trăm). 1.4. Tỷ lệ thiếu việc làm Ước tính quý II/2024 tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh là 2,47%, tăng 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,44%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. 1.5. Tình hình thất nghiệp Theo kết quả điều tra lao động việc làm, quý II/2024 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 9.447 người, chiếm 1,88% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, tăng 0,15 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,93 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 87,95% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 8.309 người) và chủ yếu là nam giới (8.683 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý II/2024 ước tính là 5,28%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng năm 2024, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 9.082 người, chiếm 1,8% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 2,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 89,33% (tương đương 8.113 người) và ở nam giới (8.700 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 6 tháng năm 2024 ước tính là 5,29%, giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý II/2024 là 1.705 người; tính đến tháng 6 năm 2024 là 3.117 người. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư quý II và 6 tháng năm 2024 nhìn chung ổn định, có phần khởi sắc hơn. Một trong những yếu tố được quan tâm nhất hiện nay là cải cách tiền lương của Chính phủ kể từ ngày 1/7/2024, hứa hẹn sự cải thiện về thu nhập và đời sống đối với các cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Chính sách tiền lương chưa được ban hành nhưng giá cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống đã tăng phần nào đã làm ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống của người dân. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. 2.1. Công tác đảm bảo an sinh xã hội Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo, cụ thể: - Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Sáu tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh chi trả trợ cấp hàng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền là 601,44 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán đã trao tặng 102.402 suất quà trị giá 30,549 tỷ đồng; Hỗ trợ chi phí học đại học cho 29 bạn là con của người có công với số tiền là 199,05 triệu đồng.- Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Sáu tháng đầu năm 2024, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền là 246,66 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán đã trao tặng khoảng 80.791 suất quà, trị giá 31,796 tỷ đồng; tài trợ 224,9 triệu đồng để thực hiện tháng hành động vì trẻ em và tổ chức ngày quốc tế Thiếu nhi.- Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Sáu tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác với tổng số tiền là 50,62 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán trao tặng khoảng 79.740 suất quà, trị giá 43,654 tỷ đồng và 6 tháng đầu năm tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 3,957 tỷ đồng tiền điện cho 11.572 hộ nghèo (57 nghìn đồng/hộ/tháng); hỗ trợ 23 mô hình sinh kế giảm nghèo (bò sinh kế), trị giá 270 triệu đồng. - Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương: nêu rõ số lượng thẻ tương ứng với từng nhóm đối tượng thụ hưởng: Sáu tháng đầu năm 2024, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 404.277 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 13.808 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 28.409 thẻ cho hộ cận nghèo; 144.064 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 43.517 thẻ cho người có công và 174.479 thẻ cho các đối tượng khác.- Tình hình hỗ trợ gạo tại địa phương: Sáu tháng đầu năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 189 triệu đồng mua 10,52 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt thuộc huyện Hương Khê và các hộ nghèo, hộ cận nghèo huyện Cẩm Xuyên.- Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương: Sáu tháng đầu năm 2024, chính quyền địa phương cùng các mạnh thường quân đã chung tay hỗ trợ 267,4 triệu đồng cho một số cá nhân, cụ thể: 1 công ty tư nhân và các mạnh thường quân đã hỗ trợ 250 triệu đồng cho 3 nạn nhân tử vong do lán trại bị đất đá vùi lấp do sạt lở tại Thị xã Kỳ Anh; hỗ trợ 5 triệu cho 1 gia đình cháy xưởng gỗ và tổ chức nấu 620 suất cháo miễn phí cho các bệnh nhân tại trung tâm y tế với số tiền là 12,4 triệu đồng tại huyện Can Lộc.3. Giáo dục đào tạo.Ngày 28/5/2024, Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số 1503/QĐ-BGDĐT về việc công nhận tỉnh Hà Tĩnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Cũng trong thời gian này, vào ngày 6-7/6, gần 19.000 thí sinh tại 36 điểm thi, đã hoàn thành Kỳ thi vào lớp 10 THPT và THPT chuyên ở Hà Tĩnh. Ngoài ra, Hà Tĩnh cũng đã chuẩn bị tốt cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024, kỳ thi này có 17.083 thí sinh đăng kí dự thi; trong đó, có 16.511 thí sinh đang học lớp 12 và 572 thí sinh tự do; kỳ thi sẽ diễn ra từ ngày 27-28/6.4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm. Trong tháng xuất hiện nhiều đợt nắng nóng gay gắt trên diện rộng đầu tiên trong năm đã ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân, đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ. Đây cũng là điều kiện để các loại vi khuẩn, nấm mốc, nên cơ quan chức năng khuyến cáo người dân dân nên có kế hoạch sinh hoạt, làm việc hợp lý; áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe để đề phòng sốc nhiệt. Chủ động lựa chọn, sử dụng, bảo quản thực phẩm đúng cách, tránh nguy cơ gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và trách nhiệm của người nhiễm HIVAIDS với gia đình, xã hội; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.Quý II/2024, toàn tỉnh phát hiện 12 người nhiễm mới HIV, 10 người chuyển thành AIDS và có 1 người chết vì AIDS; so với quý trước: số ca nhiểm mới không thay đổi, tăng 2 người chuyển thành AIDS, giảm 2 người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: giảm 4 người nhiễm mới HIV, giảm 3 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.Tính chung quý 6 tháng năm 2024, có 24 người nhiễm mới HIV, 18 người chuyển thành AIDS và 4 người chết vì AIDS; giảm 8 người nhiễm mới HIV, giảm 7 người chuyển thành AIDS và tăng 1 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch bệnh khác: Quý II/2024, trên địa bàn không xẩy ra dịch nhưng có phát sinh một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca sốt xuất huyết, 4 ca sốt rét, 5 ca quai bị, 8 ca lỵ trực trùng, 16 ca mắc lỵ a míp, 129 ca thủy đậu, 3.907 ca mắc bệnh cúm, 9 ca tay chân miệng, 415 ca tiêu chảy, 8 ca viêm gan vi rút khác; không có người chết do các bệnh trên.Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn mắc một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 7 ca sốt xuất huyết (giảm 19 ca so với cùng kỳ năm trước), 8 ca sốt rét (tăng 5 ca), 53 ca quai bị (giảm 48 ca), 15 ca lỵ trực trùng (giảm 151 ca), 48 ca lỵ a míp (giảm 109 ca), 234 ca thủy đậu (tăng 84 ca), 9 ca tay chân miệng (giảm 115 ca), 8.316 ca bệnh cúm (tăng 1.064 ca), 803 ca tiêu chảy (giảm 536 ca), 23 ca viêm gan vi rút khác (giảm 24 ca); không có người chết do các bệnh trên.Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), địa phương đã triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm ATVSTP cho người tiêu dùng. Quý II/2024, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 248 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; so với quý trước trước: tăng 78 ca ngộc độc đơn lẻ, số vụ ngộ độc và số người chết không thay đổi; so với cùng kỳ năm trước: tăng 7 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 2,9%), số người chết các ca đơn lẻ không thay đổi; giảm 1 vụ ngộc độc tập thể, người chết vì các vụ ngộ độc tập thể không thay đổi.Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 2 người bị ngộ độc và 418 người bị ngộ độc đơn lẻ (số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi nhưng giảm 5 người bị ngộ độc; Giảm 22 ca ngộ độc đơn lẻ và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước);5. Hoạt động văn hóa - thể thao Hoạt động văn hóa: Tiếp tục chỉ đạo các địa phương trên toàn tỉnh triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước.Về thể dục thể thao: 6 tháng năm 2024, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 23 giải thi đấu thành tích cao và giành được 97 huy chương các loại (46 HCV - 21 HCB - 30 HVĐ)6. Tai nạn giao thôngNhằm đảm bảo an toàn giao thông, ngăn ngừa các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông, Công an các huyện, thành phố, thị xã và các đơn vị liên quan tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vi phạm về trật tự ATGT. Đồng thời xem xét trách nhiệm liên đới của chủ phương tiện, doanh nghiệp vận tải khi để xảy ra sai phạm.Quý II/2024 (từ 15/4/2024 - 14/6/2024), trên địa bàn tỉnh xảy ra 112 vụ tai nạn đường bộ, làm 57 người chết, 65 người bị thương (giảm 6 vụ, tăng 4 người chết, giảm 29 người bị thương so với quý trước; Công an tỉnh điều chỉnh tăng 1 vụ, tăng 4 người chết và giảm 3 người bị thương ở quý trước). Trong quý II không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giảm 3 vụ, giảm 1 người chết, giảm 1 người bị thương so với quý trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoản 765 triệu đồng.Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 230 vụ tai nạn đường bộ, làm 110 người chết, 159 người bị thương (tăng 66 vụ, tăng 16 người chết, tăng 60 người bị thương so với cùng kỳ năm trước); 3 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 1 người, 1 người bị thương (tăng 3 vụ, tăng 1 người chết, tăng 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoản 1.505 triệu đồng.7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổTình hình cháy: Trong quý II/2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 19 vụ cháy, không làm thiệt hại về người. Giá trị thiệt hại ước tính 196,2 triệu đồng (tăng 2 vụ, không làm thiệt hài về người như với quý trước). Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 36 vụ cháy, giá trị thiệt hại ước tính 410,2 triệu đồng (giảm 14 vụ, không làm thiệt hại về người như cùng kỳ năm trước). 6 tháng năm 2024 trên địa bàn không xảy ra vụ nổ nào.Tình hình nổ: Quý II và 6 tháng năm 2024 không xẩy ra tình hình nổ (so cùng kỳ không thay đổi).Công tác bảo vệ môi trường: Trong thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo các địa phương đấy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân trong việc phát triển kinh tế phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, nên người dân ngày càng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, do đó tình hình vi phạm môi trường chiều hướng giảm so với cùng kỳ năm trước.Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 18 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 12 vụ, với tổng số tiền xử phạt 21,55 triệu đồng; tăng 11 vụ phát hiện (tăng 157,14%), tăng 3 vụ đã xử lý (tăng 33,33%), giảm 340,40 triệu đồng (giảm 94,05%) số tiền xử phạt so với tháng trước; và giảm 10 vụ phát hiện (giảm 35,71 %), giảm 9 vụ đã xử lý (giảm 42,86%), giảm 26,50 triệu đồng (giảm 55,15%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng năm 2024, phát hiện 188 vụ vi phạm môi trường, giảm 126 vụ (giảm 40,13%); đã xử phạt 170 vụ, giảm 221 vụ (giảm 56,52%); tổng số tiền xử phạt là 645,41 triệu đồng, giảm 564,30 triệu đồng (giảm 46,65%) so với cùng kỳ năm trước. Vụ vi phạm môi trường điển hình đã xử lý trong 6 tháng đầu năm 2024: ngày 25/04/2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra ra quyết định xử phạt Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng TTP có địa chỉ tại xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về hành vi khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp với số tiền 350 triệu đồng.8. Thiệt hại thiên taiTrong quý II/2024 không xảy ra thiên tai, không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay không xảy ra thiên tai và không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024
- 27/07/2024 21:31
Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2024 trong bối cảnh tình hình kinh tế toàn cầu và trong nước tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức, nhiều mặt hàng đang phải đối mặt với việc tìm kiếm thị trường mới, một số sản phẩm sản lượng thấp do nhà máy sửa chữa, thay mới dây chuyền. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh trong thời gian qua. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế tỉnh nhà nói chung. Mặc dù nền kinh tế của tỉnh nhà gặp khó khăn, song với sự tập trung cao của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, Doanh nghiệp. Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả khá tích cực; nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm đạt kết quả ấn tượng, hoạt động bán lẻ hàng hóa ghi nhận sự khởi sắc, doanh số bán hàng của những đơn vị tăng trưởng tốt, dịch vụ Hà Tĩnh đang đi những bước vững chắc; các đơn vị sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại đã làm tăng nhu cầu vận chuyển trên địa bàn tỉnh; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 5 năm 2024, toàn tỉnh tập trung thu hoạch lúa vụ Đông Xuân năm 2023- 2024 để tránh mưa, dông lốc xẩy ra gây ngập úng hư hại đồng thời chỉ đạo bà con nông dân chuẩn bị làm đất để gieo trồng lúa vụ Hè Thu đúng thời vụ, với phương châm “thu hoạch đến đâu sản xuất đến đó” tính đến thời điểm 24/5/2024 diện tích thu hoạch đạt hơn 99,5% tổng diện tích. Hoạt động chăn nuôi trong tháng vẫn duy trì ở mức ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động lâm nghiệp và thủy sản cũng đảm bảo sự ổn định khi sản lượng nuôi trồng và khai thác vẫn tăng đều so với cùng kỳ. 1.1 Sản xuất nông nghiệp *Trồng trọt Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2023-2024: Toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm ước tính đạt 97.389 ha, bằng 98,48% (giảm 1.503 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 422.107 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 102,62% (tăng 10.765 tấn). Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay đạt kết quả thắng lợi, nhất là đối với cây lúa, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra. Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực như sau: Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước tính đạt 59.317 ha, bằng 99,85% (giảm 90 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng lúa vụ Đông Xuân 2023-2024 ước tính đạt 61,17 tạ/ha, bằng 102,65% (tăng 1,58 tạ/ha), với sản lượng lúa ước tính đạt 362.859 tấn, bằng 102,5% (tăng 8.837 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích gieo trồng lúa giảm do thu hồi để thực hiện các dự án của tỉnh nhưng năng suất và sản lượng lúa được đánh giá đạt cao và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Về cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân năm 2023-2024 chủ yếu thực hiện gieo cấy nhóm giống chủ lực, nhóm giống có tiềm năng năng suất, chất lượng và triển vọng cao, thời gian sinh trưởng từ 120-135 ngày. Một số giống lúa chất lượng gạo ngon như giống BT09, BQ, Thiên ưu 8, ADI, Bắc Hương 9 đã được một số huyện đưa vào cơ cấu giống chủ lực cho người dân gieo cấy. Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 11.980 ha, bằng 100,38% (tăng 46 ha) so với cùng kỳ năm trước với năng suất gieo trồng đạt 49,46 tạ/ha, bằng 102,97% (tăng 1,43 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ngô ước tính đạt 59.249 tấn, bằng 103,36% (tăng 1.927 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do năm nay giữa vụ thời tiết tốt cây ngô phát triển, bắp to, hạt đều, ít bị sâu bệnh, giá bán ra ổn định nên người dân có đầu tư nhiều hơn. Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 2.776 ha, bằng 98,12% (giảm 53 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng ước tính đạt 77,0 tạ/ha, bằng 99% (giảm 0,77 tạ/ha), với sản lượng ước tính đạt 21.374 tấn, bằng 97,14% (giảm 628 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu là do một số xã chuyển từ trồng khoai không hiệu quả sang trồng ngô, ngoài ra do đầu vụ thời tiết mưa nhiều đã gây khó khăn cho việc xuống giống nên giảm năng suất cũng như sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Cây lạc: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 6.611 ha, bằng 87,13% (giảm 977 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã đã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng các loại cây cho kinh tế cao hơn. Năng suất gieo trồng lạc ước tính đạt 27,23 tạ/ha, bằng 95,63% (giảm 1,24 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước với sản lượng lạc ước tính đạt 17.999 tấn, bằng 83,32% (giảm 3.603 tấn). Rau các loại: Diện tích ước tính đạt 10.861 ha, bằng 97,92% (giảm 231 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng ước tính đạt 71,36 tạ/ha, bằng 102,53% (tăng 1,76 tạ/ha), với sản lượng ước tính đạt 77.506 tấn, bằng 100,39% (tăng 305 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do đầu vụ Đông thời tiết có nhiều ngày nắng nên người dân khó xuống giống gieo trồng, đến giữa mùa vụ mưa rét kéo dài đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của cây rau. Tình hình sâu bệnh:Trên cây lúa xuất hiện bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 3.385 ha, trong đó có 135 ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương. Còn lại các bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, đạo ôn cổ bông, đạo ôn lá.. xuất hiện cục bộ ở một số địa phương và đã được phòng ngừa nên diện tích ảnh hưởng không quá lớn đến sản lượng chung toàn tỉnh; Trên cây ngô có nạn Sâu keo mùa thu, bệnh khô vằn, bên cạnh đó hiện tượng cháy lá ngô, xuất hiện trên trà ngô Đông muộn - Xuân sớm; cây lạc xuất hiện bệnh lở cổ rễ, chết ẻo cây con; cây rau có Sâu ăn lá, rệp muội, bệnh sương mai, giả sương mai...tuy nhiên diện tích gây hại các loại bệnh không lớn; Trên cây ăn quả có múi chịu nạn sâu vẽ bùa, sâu nhớt, diện tích nhiễm 75 ha, sâu non bướm phượng 25 ha, nhện nhỏ, Rệp muội gây hại với diện tích nhiễm 55 ha phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… *Chăn nuôi Hiện nay trong điều kiện biến đổi khí hậu, thời tiết thay đổi thất thường, dịch bệnh trên gia súc gia cầm vẫn còn xuất hiện rải rác nên hoạt động chăn nuôi vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các tháng gần đây giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng trở lại trong khi giá thức ăn chăn nuôi đã hạ nhiệt nên người chăn nuôi vẫn có lãi. Mặc dù vậy, người chăn nuôi vẫn đang rất thận trọng khi tăng đàn, tái đàn vì nguy cơ rủi ro về dịch bệnh rất khó lường, giá cả trên thị trường vẫn còn bấp bênh, khó dự đoán. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm do chăn nuôi không hiệu quả, đàn lợn cũng phát triển cầm chừng vì nguy có dịch bệnh luôn rình rập nên người dân có xu thế phát triển chăn nuôi gia cầm nhất là đàn gà.. Kết quả sản xuất chăn nuôi trong tháng 5 so với cùng kỳ cụ thể như sau: Đàn trâu hiện có 66.750 con, bằng 99,64% (giảm 240 con); đàn bò hiện có 164.010 con, bằng 98,15% (giảm 3.090 con); đàn lợn hiện có 399.180 con, bằng 101,7% (tăng 6.680 con); đàn gia cầm hiện có 9.870 nghìn con, bằng 103,03% (tăng 290 nghìn con), trong đó đàn gà hiện có 8.334 nghìn con, bằng 104,44% (tăng 354 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay đang xảy ra dịch Viêm da nổi cục trên đàn trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể: Viêm da nổi cục xảy ra tại xã Cẩm Quan huyện Cẩm Xuyên làm 09 con gia súc bị mắc bệnh. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 05 xã thuộc 02 huyện (Đức Thọ, Cẩm Xuyên) làm 43 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu huỷ, trọng lượng 3.598 kg. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt I năm 2024 tính đến 15/5/2024: Trên đàn Trâu bò: vắc xin Lở mồm long móng tiêm được 92.969 con (đạt 85,4% KH), vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 84.768 con (đạt 77,8% KH), vắc xin Viêm da nổi cục tiêm được 64.614 con (đạt 69,6% KH); Trên đàn lợn: vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 165.509 con (đạt 76,3% KH) và vắc xin Dịch tả lợn tiêm được 168.425 con (đạt 77,6% KH); Trên đàn gia cầm vắc xin Cúm gia cầm tiêm được 1.033.102 con (đạt 44,9% KH) 1.2 Lâm nghiệp Đầu tháng 5 năm 2024 tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài nên hoạt động trồng rừng đạt thấp so với mức bình quân chung các tháng nhưng nhìn chung 5 tháng đầu năm hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua đạt mức tăng trưởng khá khi diện tích rừng trồng mới và sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh. Kết quả sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở các địa phương như: huyện Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Cẩm Xuyên. Kết quả sản xuất: Diện tích rừng trồng mới tháng 5/2024 ước đạt 470 ha, bằng 104,68%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 45.692 m3, bằng 113,58% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.780 ha, bằng 122,36%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 153.573 m3, bằng 116,21% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung sản lượng gỗ tăng mạnh tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu của các đơn vị xuất khẩu dăm gỗ, hiện nay các đơn vị còn phải thu mua nguyên liệu ở các tỉnh lân cận. Sản lượng củi tháng 5 năm 2024 ước đạt 28.086 ste, bằng 96,65% (giảm 974 ste), tính chung 5 tháng ước đạt 100.192 ste, bằng 96,22% (giảm 3.941 ste) nhu cầu về tiêu dùng củi giảm mạnh do người dân sử dụng bếp gas, bếp điện nên việc khai thác củi có phần hạn chế. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 5 ước đạt 75 nghìn cây, bằng 94,94%, tính chung 5 tháng đầu năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 1.539 nghìn cây, bằng 101,45% so với cùng kỳ. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 5 không có vụ cháy rừng nhưng xẩy ra 6 vụ phá rừng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra cháy rừng nhưng đã xảy ra 17 vụ phá rừng (giảm 26 vụ), với diện tích rừng bị phá là 3,18 ha (giảm 8,95 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024 đã có những tín hiệu tích cực khi tổng sản lượng tăng so với cùng kỳ do điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng và đánh bắt, dịch bệnh ít xẩy ra, mặt khác chi phí về nhiên liệu có phần hạ nhiệt và hoạt động du lịch sôi động trở lại khi bước vào mùa hè, nhu cầu tiêu dùng tăng cao cộng với giá cả ổn định, một số mặt hàng hải sản có phần tăng hơn so nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Kết quả hoạt động thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản tháng 5 ước đạt 5.077 tấn, bằng 102,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.816 tấn, bằng 102,22%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.262 tấn, bằng 104,36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 22.648 tấn, bằng 102,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 17.411 tấn, bằng 102,45%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 5.238 tấn, bằng 104,21% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 5 điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, nguồn thủy hải sản dồi dào cộng với việc hiện nay, các hoạt động dịch vụ du lịch, ăn uống trên địa bàn đang ngày càng phát triển, nhất là ở các khu du lịch biển nên nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao, với giá cả tương đối ổn định nên người dân tích cực ra khơi bám biển. Hiện nay đã bước vào chính vụ nuôi tôm, các địa phương đã và đang triển khai công tác chuẩn bị, cải tạo ao và thả giống cho vụ nuôi năm 2024. Dự báo từ tháng 5 đến cuối năm 2024 thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi, để chủ động ổn định sản xuất, tận dụng các cơ hội thị trường đảm bảo kế hoạch tăng trưởng năm 2024 trong bối cảnh diễn biến thời tiết khí hậu cực đoan đồng thời phát sinh bệnh mới (TPD) và một số bệnh nguy hiểm trên tôm diễn biến phức tạp các địa phương đang tập trung triển khai thực hiện tốt Đề án Nuôi trồng thủy sản, khung lịch thời vụ năm 2024, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm về nuôi trồng thuỷ sản theo đúng quy định của pháp luật. Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy trình nuôi đảm bảo kỹ thuật, chủ động phòng ngừa dịch bệnh. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm đến ngày 15/5/2024 một số hộ nuôi ốc hương bị chết hàng loạt gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng, nguyên nhân được xác định không phải do dịch mà do tổng hòa của nhiều yếu tố như: nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn, môi trường ao nuôi chưa được xử lý đúng quy định, mật độ thả giống cao hơn nhiều so với khuyến cáo... Cùng với đó, tình hình thời tiết khá thất thường khiến sức đề kháng của ốc hương bị giảm sút. Dịch bệnh đốm trắng xẩy ra tại một hộ nuôi tôm giống ở huyện Lộc Hà diện tích nhiễm 0,9 ha, trên 30 vạn tôm giống nuôi 155 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều dấu hiệu tích cực, khi có 3/4 nhóm ngành công nghiệp cấp 1 đều ghi nhận mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm 2023. Tuy nhiên, nửa đầu tháng 4 năm 2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh khi mà xưởng cán nóng đại tu sửa, dây chuyển sản xuất thép dừng sản xuất, do đó sản lượng thép sản xuất giảm mạnh so cùng kỳ. Vì vậy, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính 5 tháng đầu năm 2024 giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) - Ước tính tháng 5/2024: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 46,95% so với tháng trước và tăng 4,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 19,38% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 63,46% so với tháng trước và giảm 1,26% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 110,06% so với tháng trước và tăng 36,24% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước tăng 9,87% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 10,78%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2024 tăng mạnh so với tháng trước chủ yếu do chịu tác động từ ngành sản xuất kim loại (tăng 91,07% so với tháng trước). Đại tu sửa xưởng cán nóng đã hoàn tất trong tháng, dây chuyền cán thép đã hoạt động trở lại, do đó sản lượng thép tháng 5/2024 dự ước tăng hơn 230.000 tấn thép thành phẩm. Bên cạnh đó, Công ty điện lực dầu khí Hà Tĩnh chạy tối đa công suất với 2 tổ máy, dự ước sản lượng điện trong tháng 5 đạt 713 triệu Kwh, tăng 78,76% so với cùng kỳ. Dự ước tháng 5, sản lượng quặng do Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh khai thác tăng 40,69% so với tháng 5/2023. Đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,77% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 5 tháng đầu năm 2024: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,69% đóng góp 0,28 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,03% làm giảm 7,41 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 37,29% đóng góp 4,73 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,56% đóng góp 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, do chịu tác động từ sụt giảm sản lượng thép do yếu tố thị trường cũng như đại tu sữa chữa dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy, Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 5 tháng đầu năm 2024 đã không đạt được như kỳ vọng. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 5 tháng đầu năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. - Một số sản phẩm công nghiệp 5 tháng đầu năm 2024 tăng so với năm trước bao gồm: Vỏ bào, dăm gỗ tăng 80,74%; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 89,71%; bia đóng lon tăng 38,87%; điện sản xuất tăng 39,24%; nước không uống được tăng 17,91%; ... - Một số sản phẩm công nghiệp 5 tháng đầu năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Mực đông lạnh giảm 90,15%, nguyên nhân do khách hàng Nhật bản ngừng đơn hàng, hiện tại doanh nghiệp chưa tìm kiếm được khách hàng mới, thị trường trong nước cũng hạn hẹp; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 10,91%, nguyên nhân do 2 tháng đầu năm chè chưa vào vụ thu hoạch, chưa có nguyên liệu sản xuất; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 45,68%. Một số doanh nghiệp đang tạm ngừng để đầu tư lại máy móc, đồng thời nhu cầu tiêu thụ sản phẩm này đang bị thu hẹp, thay tế bằng sản phẩm khác, nên chủ yếu là bán khối lượng tồn kho, sản lượng sản xuất gạch 5 tháng đầu năm giảm mạnh; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 14,77% 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2024 giảm 1,58% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 4,89%. Cộng dồn đến cuối tháng 5 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 9,83% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động 5 tháng đầu năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 4,38% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp khai khoáng mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,04% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,02%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 7,15% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2024 đạt thấp (ước giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, bằng 30,6% so với kế hoạch năm). Xác định việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT-XH, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương vào cuộc triển khai quyết liệt, linh hoạt tháo gỡ vướng mắc nhằm đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Phấn đấu đạt kết quả cao nhất trong việc triển khai, giả ngân vốn đầu tư công năm 2024. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2024 ước đạt 368,33 tỷ đồng, tăng 5,47% so với tháng trước, giảm 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 216,4 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và giảm 30,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 115,14 tỷ đồng, tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 74,27% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 36,78 tỷ đồng, tăng 6,82% so với tháng trước và giảm 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.446,3 tỷ đồng, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 928,95 tỷ đồng, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 397,51 tỷ đồng, tăng 33,14% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 119,84 tỷ đồng, tăng 7,85% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2024 giảm 23,72% so với năm trước. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công 5 tháng đầu năm còn chậm so với kế hoạch giao, vốn ngân sách cấp tỉnh quản lý giải ngân đạt 31,54% kế hoạch vốn đã phân bổ, trong đó nguồn vốn ODA giải ngân đạt 7,76% kế hoạch vốn giao. Các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp. Mặc dù trải qua gần nửa chặng đường năm 2024 tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ mới đạt 30,6% kế hoạch năm. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024, hoạt động bán lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn và tăng trưởng khá ổn định. Các hoạt động kích cầu du lịch diễn ra khá sôi động đã thu hút được lượng khách lớn đổ về trên địa bàn giúp cho ngành dịch vụ ăn uống, lữ hành, lưu trú có thêm điều kiện để phục hồi, phát triển. Các sự kiện chào mừng ngày lễ và hoạt động chào mừng lễ khai trương du lịch biển tại Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh … đã lan tỏa mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của du khách bốn phương, đã thu hút hàng ngàn lượt khách, hầu hết các phòng nghỉ của các khách sạn và nhà nghỉ đã được khách du lịch đặt chỗ hết từ trước đó. Dịch vụ khác trong tháng bắt đầu có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 5/2024 ước đạt 5.757,94 tỷ đồng, tăng 1,97% so với tháng trước, tăng 19,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chỉ có 2 nhóm hàng là may mặc và xăng dầu là giảm so với tháng trước, còn lại các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, sau chuyển mùa tháng 4, hàng may mặc đã ổn định và nhu cầu tiêu dùng đã chững lại trong những tháng tiếp theo; tháng 5 đang trong thời gian cao điểm mùa du lịch biển thực phẩm hải sản, đồ uống, hàng lưu niệm các loại tăng mạnh, đồng thời cũng là thời điểm cuối năm học và mùa thi cử của các sĩ tử vì vậy tác động đến các nhóm mặt hàng giáo dục, nhiều cửa hàng đã bắt đầu bán bộ sách giáo khoa phục vụ cho năm học mới, đặc biệt có chương trình giáo dục phổ thông mới, sách giáo khoa lớp 5,9,12 được thay đổi hoàn toàn; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại giảm so với tháng trước; Thứ ba, trong tháng tại các trung tâm thương mại, siêu thị trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá để kích cầu người tiêu dùng, đây là yếu tố quan trọng để ngành bán lẻ sôi động và tăng trưởng mạnh mẽ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa dự tính đạt 28.618,48 tỷ đồng, tăng 21,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 13.802,21 tỷ đồng, tăng 27,49%; hàng may mặc ước đạt 1.852,51 tỷ đồng, tăng 49,53%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 3.693,8 tỷ đồng, tăng 49,79%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 17,11%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.204,18 tỷ đồng, giảm 8,16%; phương tiện đi lại giảm 31,68%.... Có thể thấy vì là những nhóm hàng thiết yếu nên tốc độ tiêu dùng nội địa vẫn rất ổn định và tăng trưởng khá đều, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sẽ tiếp tục có xu hướng tăng cao, đặc biệt là các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng. Nhóm vật liệu xây dựng giảm so với cùng kỳ do giá cả vật liệu đã hạ nhiệt so với năm trước, chỉ có nhóm phương tiện đi lại vẫn đang gặp khó khăn từ năm trước đến nay do những khó khăn chung của nền kinh tế. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 693,74 tỷ đồng, tăng 4,33% so với tháng trước, tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 25,06 tỷ đồng, tăng 10,40% so với tháng trước, tăng 9,48% so với cùng kỳ năm trước. Lượng ngày bình quân mà khách du lịch ở qua đêm tại tỉnh nhà trong năm 2024 là 2,01 ngày, trong khi năm 2023 là 1,9 ngày. Cho thấy đầu tư dịch vụ, vui chơi, chăm sóc khách hàng cũng như phục vụ mua sắm tại nơi khách du lịch lưu trú đã được quan tâm; Dịch vụ ăn uống ước đạt 660,07 tỷ đồng, tăng 4,40% so với tháng trước, tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 8,6 tỷ đồng, giảm 13,66% so với tháng trước, tăng 71,10% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 5 vẫn là tháng du lịch tuy nhiên thời tiết khá thất thường vì vậy doanh thu du lịch có phần giảm hơn tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn tăng cao. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ ước đạt 3.268,65 tỷ đồng, tăng 14,72% so với cùng kỳ, trong đó: Lưu trú ước đạt 416,19 tỷ đồng, giảm 21,41%; lượt khách phục vụ 528 nghìn lượt, giảm 19,85% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 586.918 ngày, tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 3.150,94 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 34,99 tỷ đồng, tăng 92,12% so với cùng kỳ năm trước. Đối với ngành lưu trú do các cơ sở tạm nghỉ để tu sửa chuẩn bị cho mùa du lịch nên doanh thu giảm hơn so với năm trước, nhưng tính chung cả nhóm ngành ăn uống và du lịch tăng khá cao. Để đạt được những kết quả đó, ngay từ đầu năm, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở VH-TT&DL đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, đồng hành cùng các khu, điểm du lịch và các địa phương tăng cường chuẩn bị cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, đội ngũ nhân lực. Đồng thời, phối hợp đẩy mạnh công tác xúc tiến nhằm thu hút du khách về với Hà Tĩnh thông qua việc quảng bá du lịch địa phương tại nhiều sự kiện du lịch khu vực và cả nước… Trong đó nổi bật là hội nghị xúc tiến du lịch Hà Tĩnh với sự tham gia của 22 tỉnh, thành phố phía Bắc dịp đầu tháng 4/2024 và lễ khai trương du lịch biển Hà Tĩnh năm 2024. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ tháng 5/2024 ước tính đạt 374,60 tỷ đồng, tăng 2,45% so với tháng trước và tăng 9,10% so với cùng kỳ năm trước, nhìn chung, các nhóm ngành đều có xu hướng tăng hơn so với các tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024 ước đạt 1.882,69 tỷ đồng, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản giảm 7,81%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 3,81%; giáo dục đào tạo tăng 16,38%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 13,64%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 54,62%; dịch vụ khác tăng 10,91%. Hoạt động dịch vụ khác trong tháng bắt đầu có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm, cùng với thời tiết thuận lợi cho các hoạt động dịch vụ khác phát triển, các thành phần kinh tế cũng tập trung ổn định, mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu hút nhu cầu sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng, thời tiết thuận lợi cho việc thi công san lấp mặt bằng, các công trình xây dựng nên nhu cầu sử dụng máy móc tăng lên. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động vận tải, kho bãi Hà Tĩnh tháng 5 và 5 tháng đầu năm tiếp tục tăng trưởng ổn định về nhóm ngành vận tải hành khách và vận tải hàng hóa nhờ việc đầu tư vào số lượng cũng như chất lượng phương tiện của các cơ sở kinh doanh, cùng với công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về kinh doanh vận tải của các cơ quan chức năng. Việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn an toàn, đăng kiểm phương tiện, đảm bảo đạt yêu cầu khi lưu thông. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 5/2024 doanh thu ước đạt 741,33 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước, tăng 21,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 115,01 tỷ đồng, giảm 3,75% so với tháng trước và tăng 36,46% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 492,96 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 25,66% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 128,37 tỷ đồng, giảm 0,84% so với tháng trước và tăng 11,21% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải hành khách tháng 5 giảm nhẹ so với tháng trước nhưng so cùng kỳ vẫn tăng mạnh do tháng trước trùng nhều ngày nghỉ lễ, bên cạnh đó, do mặt bằng giá vé tăng cao hơn các năm trước, giá vé máy bay nội địa trong thời gian qua tăng cao dẫn đến một bộ phận người dân chuyển sang phương tiện vận tải ô tô và đường sắt nhằm di chuyển trong nước. Vận tải hàng hoá vẫn tăng trưởng khá do các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển mạnh, các dự án lớn như cao tốc Bắc Nam, đường Hàm Nghi kéo dài, đường điện 500KV mạch 3 và các công trình xây dựng đang đẩy mạnh thi công. Mặt khác, là thời điểm thu hoạch vụ Đông xuân kéo theo nhu cầu vận chuyển sản phẩm trong kỳ thu hoạch cũng như nhu cầu vận chuyển vật tư nông nghiệp phân bón, giống để chuẩn bị cho vụ mùa tiếp theo. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu dự ước đạt 3.385,92 tỷ đồng, tăng 22,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 641,58 tỷ đồng, tăng 58,63%; hàng hoá ước đạt 2.047,80 tỷ đồng, tăng 13,14%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 671,31 đồng, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 5 tháng đầu năm 2024 có sự phát triển khá mạnh và tăng trưởng ổn định. Vận tải hành khách các đơn vị kinh doanh với sự cạnh tranh, nâng cao chất lượng phục vụ cũng như đầu tư chất lượng dịch vụ, chất lượng phương tiện đến thái độ phục vụ. Cùng với các tuyến vận tải đường bộ nội địa ổn định như các tuyến Hà Tĩnh - Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh - Đà Nẵng, Hà Tĩnh - Hà Nội, Hà Tĩnh - Hải Phòng, Hà Tĩnh - Tây Nguyên, các đơn vị vận tải còn khai thác thêm nhiều tuyến sang các nước như Thái Lan, Lào để phục vụ nhu cầu đi lại liên kết phục vụ kịp thời lực lượng lao động tăng cao, làm cho khối lượng vận chuyển hành khách các tuyến này tăng hơn so các năm trước. Ngoài sự phát triển của hạ tầng giao thông, sự tăng trưởng của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. Đối với hoạt động vận tải hàng hóa, nhu cầu phục vụ vận chuyển khối lượng hàng hóa vật liệu xây dựng cho các công trình xây dựng, công trình nhà ở trong dân tăng cao. Cùng với điều kiện hiện nay việc vận chuyển vật tư nông nghiệp phục vụ cho sản xuất đến từng thửa ruộng, việc vận chuyển hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu... 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 5 kim ngạch xuất khẩu có dấu hiệu tăng so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn đang giảm mạnh. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 5 ước đạt 538,0 triệu USD, giảm 1,66% so với tháng trước và giảm 12,91% so với cùng kỳ, giảm mạnh ở khẩu Xuất khẩu do sự khó khăn của thị trường thế giới. Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vẫn đạt 2.727,77 triệu USD tăng nhẹ 1,62% so với cùng kỳ chủ yếu do kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng phục vụ dịp Tết cũng như việc nhập nguyên liệu đầu vào từ Formosa do giá quặng thép biến động giảm. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 5/2024 ước đạt 177,50 triệu USD, tăng 18,02% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm đến 41,88% (giảm 127,9 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu ở việc mặt hàng Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 149,70 triệu USD, tăng 13,68% so với tháng trước và giảm đến 48,50% so với cùng kỳ do tháng trước có thời gian 2 tuần tạm ngừng bảo dưỡng dây chuyền, vì vậy tháng này có tăng so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ lượng hàng xuất khẩu giảm xuống khá sâu do diễn biến giá khó lường cũng nhu cầu tiêu thụ thế giới phục hồi chậm hơn so với kỳ vọng. Bên cạnh mặt hàng thép thì các mặt hàng khác cũng giảm khá sâu so với cùng kỳ, mặt hàng dăm gỗ vẫn chưa tìm ra giải pháp tiêu thụ khi so với cùng kỳ năm trước có nhỉnh hơn nhưng so với tháng trước lại giảm. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 952,11 triệu USD, giảm 15,50% (tương ứng giảm 174,61 triệu USD) so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 843,40 triệu USD (chiếm 88,58% tổng kim ngạch) giảm 19,19% (giảm 200,27 triệu USD) so với cùng kỳ, các nhóm hàng xuất khẩu khác cũng giảm khá sâu, chỉ có duy nhất nhóm ngành Chè có tăng trưởng trong xuất khẩu nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đạt 1,51 triệu USD. - Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 5 ước đạt 360,50 triệu USD, giảm 9,12% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 15,42%. Nguyên nhân chủ yếu do việc Formosa hạn chế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào sản xuất vì việc thị trường đầu ra đang gặp khó khăn, cũng do thời tiết chuyển nắng nóng vì vậy sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.775,66 triệu USD, tăng 14,01% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Với kết quả đến 5 tháng còn cách mục tiêu rất xa vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng Năm diễn biến thị trường không có biến động lớn, giá cả tăng nhẹ so với tháng trước, nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có biến động lớn nhất tăng 1,11% so với tháng trước do lượng tiêu dùng điện, nước tăng trong mùa nắng nóng, nhưng so với năm trước thì mùa nóng năm nay không thực sự gay gắt vì vậy chỉ số giá cả tháng này so với cùng tháng năm trước giảm khá sâu. Thị trường vàng, trang sức và ngoại tệ sau sự biến động tăng mạnh từ tháng trước thì tháng này giá vẫn ở mức cao và đang tiếp tục tăng. Tháng 4 năm 2024, chỉ số CPI chung chỉ số CPI chung tăng 0,43% so với tháng trước và tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì ngoài nhóm Bưu chính viễn thông ổn định về giá so với tháng trước thì các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Trong đó: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,82% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 6,98%, cụ thể mặt hàng Lương thực tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 15,79% so với cùng tháng năm trước, giá gạo thế giới đang ở mức cao và đang tăng trở lại; Nhóm thực phẩm tăng 0,97% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,42% khi thịt gia súc, gia cầm các loại đều tăng, thịt lợn cũng tăng trở lại sau thời gian dài giảm giá; rau củ tươi và chế biến tăng giá khiến chỉ số giá nhóm này tăng 4,23% so tháng trước. Các nhòm hàng khác trong tháng cũng tăng do những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ nắng nóng, tác động nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán điện, nước tăng, nhu cầu thực phẩm, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh. Việc mưa nắng thất thường ảnh hưởng tới việc phơi sấy lúa vụ Đông Xuân vừa thu hoạch vì vậy nguồn cung ra thị trường đang hạn chế, đang mùa du lịch biển cũng như mùa hải sản ngon nên giá các loại thuỷ, hải sản tăng; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại, giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn cả nước giảm sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua; Thứ ba, nhu cầu cũng như giá gạo, vật liệu xây dựng trong nước và thế giới tăng trở lại. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,19%, nông thôn tăng 2,8%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,37%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,83%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,98%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,34%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,69%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,46%; giao thông tăng 1,88%; bưu chính viễn thông giảm 1,78%; giáo dục tăng 2,42%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,44%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, tình hình khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu. Dự kiến CPI tháng 6/2024 sẽ tiếp tục tăng các nhóm hàng hóa, dịch vụ, du lịch, ăn uống, thuỷ hải sản, giá phòng lưu trú, dịch vụ lữ hành. Giá điện và nước sinh hoạt tăng cao khi lượng tiêu thụ khả năng đạt ở mức cao khi tình hình thời tiết nắng nóng trên 40oC trên địa bàn tỉnh và giá điện cơ bản sau điều chỉnh tăng có tác động hoàn toàn đến chu kỳ tính giá điện tiếp theo. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư nhìn chung ổn định, sản xuất nông nghiệp tiếp tục được mùa, người dân đang tập trung thu hoạch lúa Vụ Đông xuân và chuẩn bị sản xuất Vụ Hè thu; thời tiết thuận lợi nên các cây rau, màu ngắn ngày phát triển tốt, giúp người dân có thêm thu nhập. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ hoạt động ổn định. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. 2. Hoạt động y tế - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 3 người nhiễm mới HIV, 3 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So tháng trước: tăng 1 người nhiểm mới HIV (tăng 50%), tăng 1 người chuyển thành AIDS (tăng 50%) và số người chết vì AIDS không thay đổi (hai kỳ không phát sinh). So cùng kỳ năm trước: giảm 4 người nhiểm mới HIV (giảm 43%); giảm 5 người chuyển thành AIDS (giảm 63%) và số người chết vì AIDS không thay đổi (không phát sinh). Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, đã phát hiện 17 người nhiễm mới HIV, 13 người chuyển thành AIDS, 3 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước: giảm 11 người nhiểm mới HIV (giảm 39,29%); giảm 11 người chuyển thành AIDS (giảm 45,83%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 3 người). - Công tác an toàn thực phẩm: Nhằm đảm bảo công tác an toàn thực phẩm trong mùa du lịch, đặc biệt trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi để vi khuẩn sinh sôi. Các đơn vị cơ quan chức năng liên ngành tăng cường công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm có thể xẩy ra. Công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Đồng thời khuyến cáo người dân cần nắm được những kiến thức cơ bản, trong bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh ăn uống. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào. Có 94 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So tháng trước: Giảm 1 vụ ngộ độc tập thể và giảm 2 người chết; tăng 33 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 54,10%), số người chết không thay đổi (hai kỳ không phát sinh). So cùng kỳ năm trước: Số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (cùng kỳ năm trước xảy ra 1 vụ), giảm 5 người ngộc độc (giảm 71,43%). Có 325 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, so cùng kỳ năm trước giảm 13 ca (giảm 3,85%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (cùng kỳ năm trước không phát sinh số người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ).- Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, gồm: 01 ca sốt xuất huyết (không thay đổi so cùng kỳ), 02 ca quai bị (giảm 15 ca so với cùng kỳ), 02 ca lỵ trực trùng (giảm 31 ca so với cùng kỳ), 6 ca lỵ amip (giảm 18 ca so với cùng kỳ), 58 ca thủy đậu (tăng 27 ca so với cùng kỳ), 1.353 ca mắc bệnh cúm (tăng 45 ca so với cùng kỳ), 154 ca tiêu chảy đơn lẻ (giảm 140 ca so với cùng kỳ). Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết do các bệnh trên.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Nhân kỷ niệm 134 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2024), chính quyền địa phương và đông đảo người dân dâng hoa, thắp hương tưởng niệm tại khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh.Về thể dục thể thao: Trong tháng, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều giải thi đấu thể thao tạo nên không khí vui tươi, đoàn kết, nổi bật là giải Bóng chuyền nam thanh niên Hà Tĩnh diễn ra trong 2,5 ngày (từ chiều 10/5 đến 12/5/2024) đã thực sự trở thành ngày hội, là khoảng thời gian họ được “ăn, ngủ” cùng bóng chuyền. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra văn hóa trên địa bàn, nhất là các dịch vụ vui chơi giải trí karaoke, dịch vụ kinh doanh văn hóa tranh ảnh, băng đĩa nhạc,… nhằm đảm bảo việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân lành mạnh, loại trừ các văn hóa phẩm đi lệch với các thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước. 4. Tình hình trật tự và toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tháng (tính từ ngày 15/4/2024-14/5/2024) xảy ra 42 vụ tai nạn đường bộ, làm 24 người chết, 20 người bị thương (tăng 14 vụ; tăng 14 người chết và giảm 2 người bị thương so với tháng trước); tai nạn đường sắt và tai nạn đường thủy không xẩy ra (tháng trước không xẩy ra). So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 5 vụ (tăng 13,51%), tăng 8 người chết (tăng 33,33%) và giảm 5 người bị thương (giảm 20,0%); số vụ tai nạn đường sắt và tai nạn đường thủy không thay đổi (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 250 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm (từ 15/12/2023-14/5/2024), xảy ra 187 vụ tai nạn đường bộ, làm 83 người chết, 139 người bị thương; 3 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương, 1 người chết; tai nạn đường thủy không xẩy ra. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 50 vụ (tăng 36,50%), tăng 4 người chết (tăng 5,06%) và tăng 57 người bị thương (tăng 1,7 lần); tai nạn đường sắt tăng 3 vụ, tăng 1 người chết và tăng 1 người bị thương (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 1.140 triệu đồng. 5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ- Tình hình cháy: Trong tháng (từ ngày 15/4/2024-14/5/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 10 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 157,3 triệu đồng; so với tháng trước: tăng 8 vụ cháy (tăng 5 lần), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ cháy (giảm 9,09%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). Tính chung 5 tháng đầu năm (từ ngày, từ ngày 15/12/2023-14/5/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 29 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 406,3 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 12 vụ cháy (giảm 29,27%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra).- Tình hình nổ: Trong tháng và 5 tháng đều không xẩy ra vụ nổ nào (cùng kỳ năm trước không xẩy ra).- Vi phạm môi trường: Thường xuyên triển khai thực hiện các nhiệm vụ nhằm nâng cao công tác kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường nói riêng như: Quản lý và giám sát chặt chẽ hoạt động xã thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của hoạt của các hộ gia đình, ngăn chặn thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.… đồng thời tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức như băng rôn, đài, báo…. Trong tháng, phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 9 vụ, với tổng số tiền xử phạt 361,95 triệu đồng; giảm 1 vụ phát hiện (giảm 12,50%), tăng 3 vụ đã xử lý (tăng 50,00%), tăng 326,45 triệu đồng (tăng 919,58%) tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 21 vụ phát hiện (giảm 75,00 %), giảm 7 vụ đã xử lý (giảm 43,75%), tăng 99,06 triệu đồng (tăng 37,68%) tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Vụ vi phạm môi trường đã xử lý điển hình trong tháng là ngày 25/04/2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra ra quyết định xử phạt Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng TTP có địa chỉ tại xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về hành vi khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp với số tiền 350 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, phát hiện 170 vụ vi phạm môi trường, giảm 116 vụ (giảm 40,56%) và đã xử phạt 158 vụ, giảm 212 vụ (giảm 57,30%) với tổng số tiền xử phạt 623,86 triệu đồng; giảm 537,80 triệu đồng số tiền xử phạt (giảm 46,30%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng và tính chung 5 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn đã xảy ra 1 vụ thiên tai do ảnh hưởng của mưa lớn vào lúc 14h30 ngày 6/5 tại TX Kỳ Anh, làm 3 người chết, 4 người bị thương; sau khi xảy ra thiên tai, Công ty nơi nạn nhân làm việc, lãnh đạo tỉnh, UBND thị xã Kỳ Anh, cùng chính quyền địa phương và một số mạnh thường quân đã hộ trợ cho các nạn nhân tử vong số tiền khoảng 250 triệu đồng.So với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 3 người chết và tăng 4 người bị thương (tháng trước và cùng kỳ năm trước không xẩy ra thiên tai). Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024
- 27/07/2024 21:20
Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 4 cũng như 4 tháng đầu năm 2024, trong bối cảnh tình hình kinh tế toàn cầu và trong nước tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức; nhiều mặt hàng đang phải đối mặt với việc tìm kiếm thị trường mới; một số sản phẩm sản lượng thấp do nhà máy sửa chữa, thay mới dây chuyền. Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ cả các sản phẩm thép nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Ấn Độ đã ảnh hưởng đến việc ổn định sản xuất của doanh nghiệp sản xuất thép trong nước. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh trong thời gian qua. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế tỉnh nhà nói chung. Mặc dù nền kinh tế của tỉnh nhà gặp khó khăn, song với sự tập trung cao của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, doanh nghiệp. Nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm của Hà Tĩnh đạt kết quả ấn tượng. Hoạt động bán lẻ hàng hóa ghi nhận sự khởi sắc; doanh số bán hàng của những đơn vị tăng trưởng tốt; dịch vụ Hà Tĩnh đang đi những bước vững chắc; các đơn vị sản xuất kinh doanh, bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại đã làm tăng nhu cầu vận chuyển trên địa bàn tỉnh; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm; đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 4 năm 2024, sản xuất trồng trọt chủ yếu tập trung vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân. Hiện nay lúa đang trong thời kỳ trổ bông và dự kiến lúa sẽ trổ tập trung vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2024. Tổng đàn vật nuôi vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, xu hướng phát triển chăn nuôi chủ yếu tập trung ở đàn lợn và đàn gia cầm. Hoạt động lâm nghiệp trong tháng vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng sản xuất, sản lượng gỗ khai thác tiếp tục tăng hơn so với cùng kỳ năm trước do diện tích rừng đến tuổi khai thác trên địa bàn vẫn còn khá lớn. Khai thác thủy sản duy trì mức tăng ổn định, hiện nay vào mùa du lịch nên nhu cầu tăng, giá cả ổn định khuyến khích người dân ra khơi bám biển; sản lượng đánh bắt cao hơn mức bình quân chung các tháng trước. 1.1 Sản xuất nông nghiệp *Trồng trọt Thời gian này là giai đoạn phát triển quan trọng của lúa, quyết định cơ bản đến năng suất cuối vụ trong khi diễn biến thời tiết bất lợi, dịch bệnh đạo ôn cổ bông tiếp tục có nguy cơ gây hại vì vậy các địa phương cần chỉ đạo bộ phận chuyên môn theo sát, kiểm tra đồng ruộng, đặc biệt là đối với các trà lúa trổ sớm. Cùng với cây lúa thì các loại cây trồng vụ Xuân khác cũng đang được chăm sóc và sinh trưởng, phát triển tốt. Cây lạc đang trong giai đoạn đâm tỉa, phát triển củ; cây ăn quả như cam, bưởi…đang giai đoạn phát triển quả non. Kết quả gieo trồng các loại cây vụ Xuân 2024: *Cây lúa: Tổng diện tích gieo, cấy toàn tỉnh 59.022 ha/59.107 ha đạt 99,9% KH, trong đó: Diện tích gieo thẳng 53.874 ha, diện tích cấy 5.148 ha. *Cây trồng cạn: Đến ngày 15/4/2024, diện tích gieo trồng các cây trồng cạn vụ Xuân đạt 21.410 ha/21.835 ha đạt 98,05% KH, cụ thể như sau: Cây lạc 6.702 ha/7.599 ha đạt 88,2% KH; ngô lấy hạt 7.024 ha/6.479 ha đạt 108,4% KH; khoai lang 1.528 ha/1.557 ha đạt 98,2% KH; đậu các loại: 269 ha/355 ha đạt 76% KH; rau các loại 5.887 ha/5.845 ha đạt 100,7% KH. *Tình hình sâu bệnh: Trên cây lúa xuất hiện ở hầu hết các địa phương có bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-30% diện tích nhiễm 1.420 ha, chuột gây hại trên diện tích 325 ha, còn lại các bệnh đạo ôn, bạc lá, sâu cuốn lá nhỏ... xuất hiện rải rác ở một số địa phương nhưng diện tích gây hại không lớn; trên cây ngô có sâu keo mùa thu, rệp ngô, khô vằn gây hại trên các trà ngô diện tích gây hại từ khoảng 10-15 ha; cây lạc xuất hiện bệnh lở cổ rễ, chết ẻo cây con; cây rau có bệnh sương mai, giả sương mai...tuy nhiên diện tích gây hại các loại bệnh không lớn; trên cây ăn quả có múi chịu nạn sâu vẽ bùa, sâu nhớt, diện tích nhiễm 75 ha, sâu non bướm phượng 25 ha, nhện nhỏ, Rệp muội gây hại với diện tích nhiễm 55 ha phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… *Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024 chưa có tín hiệu thực sự tích cực, mặc dù vẫn có có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước nhưng tăng chủ yếu tập trung ở đàn lợn và đàn gia cầm. Giá lợn hơi có tăng hơn so với tháng trước nhưng chi phí về thức ăn chăn nuôi vẫn đang ở mức cao nên người dân vẫn đang gặp khó khăn, nhất là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Riêng đàn trâu, bò có xu hướng ngày càng giảm vì chăn nuôi không hiệu quả, người dân không mở rộng đầu tư chăn nuôi. Kết quả sản xuất chăn nuôi trong tháng 4 so với cùng kỳ cụ thể như sau: Đàn trâu hiện có 65.947 con, bằng 97,28%; đàn bò hiện có 163.890 con, bằng 97,24%; đàn lợn hiện có 394.050 con, bằng 102,78%; đàn gia cầm hiện có 9.380 nghìn con, bằng 104,69%, trong đó đàn gà hiện có 7.850 nghìn con, bằng 103,56% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay đang xảy ra dịch Viêm da nổi cục trên đàn trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể: Bệnh Viêm da nổi cục xẩy ra tại 2 huyện (Lộc Hà, Cẩm Xuyên) làm 51 con gia súc mắc bệnh trong đó làm chết, buộc tiêu huỷ 9 con, trọng lượng 1.697kg. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại xã An Dũng huyện Đức Thọ làm 11 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu huỷ với trọng lượng 1.091kg. Thời gian tới, để phát triển chăn nuôi bên cạnh các chính sách nhằm phát triển đàn thì công tác phòng, chống dịch bệnh phải tiếp tục được quan tâm thực hiện để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi phát triển. 1.2 Lâm nghiệp Những tháng đầu năm, với điều kiện thời tiết mát mẻ, nhiệt độ thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng sản xuất. Sản lượng gỗ khai thác tiếp tục tăng hơn so với cùng kỳ năm trước do diện tích rừng đến tuổi khai thác trên địa bàn vẫn còn khá lớn. Bên cạnh đó, do nhu cầu ngày càng giảm nên sản lượng củi khai thác tiếp tục giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất lâm chủ yếu tập trung ở các địa phương như Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh.... Kết quả sản xuất: Diện tích rừng trồng mới tháng 4/2024 ước đạt 778 ha, bằng 105,99%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 32.764 m3, bằng 106,05%; sản lượng củi khai thác ước đạt 17.438 ste, bằng 95,97%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 40 nghìn cây, bằng 105,26% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.060 ha, bằng 113%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 97.881 m3, bằng 106,49%; sản lượng củi khai thác ước đạt 72.106 ste, bằng 96,05%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.464 nghìn cây, bằng 101,81% so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 11 vụ phá rừng (giảm 24 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,64 ha (giảm 6,90 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Kết quả hoạt động thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản tháng 4/2024 ước đạt 4.201 tấn, bằng 102,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.557 tấn, bằng 102,16%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 644 tấn, bằng 102,55% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 17.441 tấn, bằng 102,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 13.485 tấn, bằng 101,91%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.956 tấn, bằng 102,83% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 4 điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, nguồn thủy hải sản dồi dào cộng với việc hiện nay, các hoạt động dịch vụ du lịch, ăn uống trên địa bàn đang ngày càng phát triển, nhất là ở các khu du lịch biển nên nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao, với giá cả tương đối ổn định nên người dân tích cực ra khơi bám biển. Tuy nhiên, do chi phí về nhiên liệu vẫn mức cao nên ngư dân vẫn còn gặp khó khăn trong việc đánh bắt xa bờ. Thời gian tới, với điều kiện thời tiết thuận lợi cho hoạt động đánh bắt và nhu cầu tiêu dùng hải sản tăng trong mùa du lịch biển thì hy vọng hoạt động khai thác hải sản sẽ đạt được kết quả khá hơn. Về hoạt động nuôi trồng, trong tháng các hộ nuôi trồng đã tập trung xuống giống thả nuôi vụ tôm Xuân Hè năm 2024. Theo khung lịch thời vụ năm 2024 của Sở NN&PTNT, vụ nuôi tôm Xuân Hè sẽ xuống giống trong tháng 3 và tháng 4 dương lịch. Toàn tỉnh dự kiến sẽ sản xuất trên diện tích hơn 2.250 ha với hơn 900 triệu con giống. Nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh.. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng một số hộ nuôi ốc hương bị chết hàng loạt gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng, nguyên nhân được xác định không phải do dịch mà do tổng hòa của nhiều yếu tố như: nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn, môi trường ao nuôi chưa được xử lý đúng quy định, mật độ thả giống cao hơn nhiều so với khuyến cáo... Cùng với đó, tình hình thời tiết khá thất thường khiến sức đề kháng của ốc hương bị giảm sút. Dịch bệnh đốm trắng xẩy ra tại một hộ nuôi tôm giống diện tích nhiễm 0,9ha, 30 vạn con tôm nuôi 155 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 4/2024, một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất công nghiệp tạm ngừng hoạt động do sữa chữa, bão dưỡng, thay mới máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất. Vì vậy chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) dự ước giảm 21,22% so với tháng trước và giảm 20,79% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) - Ước tháng 4/2024: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) dự ước giảm 21,22% so với tháng trước và giảm 20,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 1,39% so với tháng trước và tăng 13,07% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 27,08% so với tháng trước và giảm 32,33% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 2,24% so với tháng trước và tăng 44,77% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước tăng 9,54% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 16,46%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2024 giảm so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ chủ yếu do chịu tác động từ ngành sản xuất kim loại (giảm 33,69% so với tháng trước và giảm 41,04% so với cùng kỳ). Từ đầu tháng 4, máy móc của xưởng cán nóng phải đại tu sửa chữa nên dừng toàn bộ dây chuyền cán thép. Đến ngày 15, dây chuyền bắt đầu hoạt động lại, sản lượng thép thành phẩm dự tính sản xuất tháng 4/2024 giảm 46,11% so với cùng kỳ. - Tính chung 4 tháng đầu năm 2024: Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 2,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 12,23%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 9,03%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 38,62%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 18,19%. Mặc dù các doanh nghiệp công nghiệp tiếp tục duy trì ổn định chuỗi sản xuất. Trong đó: (1) Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I tiếp tục là động lực tăng trưởng của tỉnh, với việc vận hành ổn định song song 2 tổ máy theo thị trường mua bán điện của EVN (cùng kỳ năm trước Tổ máy số 1 gặp sự cố), sản lượng điện ước đạt 3.798 triệu Kwh tăng 40,45% so với cùng kỳ; (2) Sản xuất bia tăng trưởng khá, 2 nhà máy sản xuất bia đóng lon trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn duy trì ổn định sản xuất (sản lượng ước đạt 23,77 triệu lít tăng 38,31%); (3) Nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào vận hành thương mại từ tháng 8 năm 2023 (sản lượng Ắc quy bằng ion lithi 4 tháng đầu năm 2024 ước đạt 88.000 Kwh); (4) Kể từ tháng 12/2023, Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh mở rộng mặt bằng khai thác, mỏ mới được cấp phép nên sản lượng quặng khai thác tăng cao so cùng kỳ. Với sản lượng sản xuất ổn định và nâng công suất không chỉ tăng doanh thu cho doanh nghiệp mà còn góp phần phát triển chỉ số sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh. Tuy nhiên, do chịu tác động từ sự suy giảm sản lượng thép do yếu tố thị trường cũng như đại tu sữa chữa dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy, Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 4 tháng đầu năm 2024 đã không đạt như kỳ vọng. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 12 nhóm sản phẩm cộng dồn 4 tháng đầu năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. - Số sản phẩm công nghiệp tăng bao gồm: Quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 147,21%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 71,4%; bia đóng lon tăng 38,31%; điện sản xuất tăng 40,45%; nước không uống được tăng 19,54%; ... - Một số sản phẩm công nghiệp 4 tháng đầu năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Mực đông lạnh giảm 87,29%, nguyên ngân do khách hàng Nhật Bản ngừng đơn hàng, hiện tại doanh nghiệp chưa tìm kiếm được khách hàng mới, do đó lượng sản xuất đang giảm mạnh so với cùng kỳ; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 45,51%, nguyên nhân do một số doanh nghiệp đang tạm ngừng để đầu tư lại máy móc, đồng thời nhu cầu tiêu thụ những tháng đầu năm thấp nên chủ yếu là bán khối lượng tồn kho, sản lượng sản xuất gạch 4 tháng đầu năm giảm mạnh; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 16,15%, do từ đầu tháng 4, máy móc của xưởng cán nóng phải đại tu sửa chữa nên dừng toàn bộ dây chuyền cán thép; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 14,03%, nguyên nhân do 2 tháng đầu năm chè chưa vào vụ thu hoạch, chưa có nguyên liệu sản xuất. 2.3 Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2024 giảm 0,72% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,34%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 4 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 14,38% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 4 tháng đầu năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 9,7% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp khai khoáng mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động 4 tháng đầu năm 2024 đối với ngành này tăng 18,26%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,17%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,09% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Xác định việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT-XH, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương vào cuộc triển khai quyết liệt, linh hoạt tháo gỡ vướng nhằm đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2024 đạt 334,10 tỷ đồng, tăng 6,82% so với tháng trước, giảm 6,26% so với cùng kỳ năm nước. Nguyên nhân giảm là do kế hoạch thực hiện nguồn ngân sách cấp tỉnh năm 2024 chiếm (66,10% tổng vốn) giảm mạnh (giảm 44,54%), đây là nguyên nhân chính làm cho nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý tháng 4/2024 giảm so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 220,84 tỷ đồng, tăng 5,81% so với tháng trước và giảm 16,56% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 80,12 tỷ đồng, tăng 9,25% so với tháng trước và tăng 24,86% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 33,14 tỷ đồng, tăng 7,87% so với tháng trước và tăng 20,11% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.062,85 tỷ đồng, giảm 11,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 721,6 tỷ đồng, giảm 18,89% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 259,86 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 81,76 tỷ đồng, tăng 12,99% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2024 giảm 27,65% so với năm trước. Các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp. Mặc dù trải qua 1/3 chặng đường năm 2024 tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ mới đạt 23,71% kế hoạch năm. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong 4 tháng đầu năm 2024 hoạt động bán lẻ hàng hóa ghi nhận sự khởi sắc, doanh số bán hàng tăng trưởng tốt. Tháng Tư bắt đầu bước vào mùa sôi động của ngành du lịch, nhu cầu ăn uống, mua sắm tăng cao, sau phần khởi động chạy đà những tháng đầu năm, dịch vụ Hà Tĩnh đang từng bước đi những bước vững chắc trong tháng cũng trùng các dịp Nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch), ngày Giải phóng Miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 các địa phương trong tỉnh gấp rút chuẩn bị khai trương du lịch biển. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 4/2024 ước đạt 5.644,89 tỷ đồng, tăng 2,37% so với tháng trước và tăng 21,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó hầu hết các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời tiết chuyển sang mùa nắng tác động đến các nhóm hàng hóa thực phẩm, đồ uống, điện lạnh, vật liệu xây dựng, hàng may mặc; Thứ hai, do căng thẳng chính trị đã và đang là một nhân tố gây bất ổn cho kinh tế, chính trị thế giới trong những năm gần đây, tác động tiêu cực đối với nền kinh tế toàn cầu. Sự leo thang của cuộc xung đột Israel-Hamas đang khiến người dân và doanh nghiệp ở mọi nơi trên thế giới trở nên thận trọng hơn trong chi tiêu và đầu tư; Thứ ba, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 22.858,72 tỷ đồng, tăng 21,87% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu lớn và tăng mạnh như nhóm lương thực, thực phẩm tăng 26,88%; hàng may mặc tăng 54,08%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 55,86%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 13,10%; xăng dầu các loại tăng 1,72%; nhiên liệu khác tăng 17,23%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 61,82% thì một số nhóm hàng dù 4 tháng đầu năm vẫn tăng trưởng nhưng chưa đạt mức năm trước, cụ thể: nhóm ô tô con giảm 33,97%; phương tiện đi lại giảm 30,03%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 6,36%. Có thể thấy tốc độ tiêu dùng nội địa đã dần dần tăng trưởng trở lại, dự báo, dịp 30/4 và 1/5, khi cả nước có kỳ nghỉ lễ kéo dài 5 ngày, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sẽ tiếp tục có xu hướng tăng cao, đặc biệt là các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng. Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Tháng Tư là tháng bước vào mùa hè cũng là cao điểm du lịch, đặc biệt trùng vào các dịp Nghỉ lễ (10/3, 30/4, 1/5...) nhu cầu sử dụng các dịch vụ ăn uống, lưu trú sẽ tăng mạnh, đặc biệt khi ngày nghỉ lễ kéo dài 5 ngày liên tục. Để chuẩn bị đón khách đến tham quan, nghỉ dưỡng trong mùa du lịch, hiện nay, các cơ sở kinh doanh nhà hàng ăn uống, các Doanh nghiệp kinh doanh khách sạn đã và đang khẩn trương hoàn thiện khâu sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 4 ước đạt 724,97 tỷ đồng, tăng 11,86% so với tháng trước, tăng 20,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 21,32 tỷ đồng, tăng 55,91% so với tháng trước, giảm 6,72% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 691,81 tỷ đồng, tăng 10,76% so với tháng trước, tăng 20,81% so với cùng kỳ năm trước; Hoạt động kinh doanh lữ hành ước đạt 11,83 tỷ đồng tăng 20,59% so với tháng trước và tăng 165,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình thời tiết khá thuận lợi, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương liên quan tập trung cao cho hoạt động khai trương du lịch biển: Tại Thiên Cầm dự kiến từ 21/4 đến hết tháng 5/2024 sẽ diễn ra Tuần lễ văn hoá khai trương Du Lịch biển Hà Tĩnh; Chương trình khai trương du lịch Biển Xuân Thành dự kiến diễn ra tối 20/4; Chương trình chào mừng biển Thạch Hải (26-28/4) và giới thiệu sản phẩm OCOP đặc sản địa phương Thạch Hà diễn ra suốt chuỗi ngày khai trương tại Khu du lịch biển Thạch Hải; du lịch biển Thị xã Kỳ Anh diễn ra hoạt động văn hoá, thể thao ngày 11-27/4 … Việc chuẩn bị đầy đủ cơ vật chất hạ tầng với nhiều cơ sở lưu trú mới đạt chuẩn, gia tăng nhiều sản phẩm chất lượng, không ngừng nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân lực… đã giúp du lịch tỉnh Hà Tĩnh từng bước đáp ứng nhu cầu của du khách trong bối cảnh mới. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.634,95 tỷ đồng, tăng 19,69% so với cùng kỳ, trong đó: Lưu trú đạt ước 56,30 tỷ đồng, giảm 28,9%; lượt khách phục vụ 357.015 lượt, giảm 28,3%; ngày khách phục vụ 317.452 ngày, giảm 22,3% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 2.550,43 tỷ đồng, tăng 21,59% so với cùng kỳ năm trước; Hoạt động kinh doanh lữ hành ước đạt 28,23 tỷ đồng tăng 114,20% so với cùng kỳ. Có thể nói, hoạt động dịch vụ 4 tháng đầu năm 2024 có nhiều khởi sắc. Bên cạnh, những mặt đạt được khi tỉnh nhà thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch du lịch tại các vùng có tiềm năng, địa phương kêu gọi thu hút các nhà đầu tư triển khai các dự án du lịch vui chơi giải trí, dịch vụ thể thao kết hợp nghỉ dưỡng để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nâng cao cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch; triển khai các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, sản phẩm du lịch tiêu biểu gắn với các di tích lịch sử văn hóa. Ứng dụng công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số trong phát triển du lịch, số hóa các điểm đến di tích lịch sử văn hóa gắn với du lịch. Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, sản phẩm du lịch ở Hà Tĩnh còn thiếu tính độc đáo, chưa có nhiều khu vui chơi, giải trí cao cấp. Một số bãi biển đẹp chưa được quy hoạch tổng thể, tính liên kết giữa các vùng, công tác quảng bá chưa căn cơ, thường xuyên…. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ tháng 4/2024 ước tính đạt 379,45 tỷ đồng, tăng 2,73% so với tháng trước và tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024 ước đạt 1.521,56 tỷ đồng, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung các nhóm dịch vụ khác như hành chính hỗ trợ, dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế, dịch vụ vui chơi giải trí và dịch vụ làm đẹp tăng trưởng khá ổn định bên cạnh đó có thể thấy thị trường bất động sản bắt đầu khôi phục trở lại, sau thời gian dài im ắng, tuy chưa rõ nét nhưng cũng là dấu hiệu đáng mừng. Những tín hiệu tích cực một phần nhờ tạo điều kiện của chính quyền địa phương trong việc kịp thời phê duyệt đưa vào đấu giá các vùng quy hoạch đất phù hợp, đẩy nhanh các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng 4 năm 2024, yếu tố thời tiết chuyển mùa rõ rệt, nhìn chung thuận lợi cho việc lưu thông của các phương tiện vận tải. Các đơn vị sản xuất kinh doanh, bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại dẫn đến làm tăng nhu cầu vận chuyển trên địa bàn tỉnh. Trong đó, các kỳ nghỉ lễ dài ngày cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng lượt khách đi lại, du lịch tham quan nghỉ mát, về quê. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải hàng hóa nhu cầu vận chuyển hàng điện tử, điện lạnh, hàng hóa thiết bị máy móc được nhập khẩu từ các nước nhằm phục vụ các dự án, công trình xây dựng nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 4/2024 doanh thu ước đạt 699,95 tỷ đồng, tăng 3,91% so tháng trước và tăng 22,07% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 121,46 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 53,39% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 438,57 tỷ đồng, tăng 8,57% so với tháng trước và tăng 14,88% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 134,94 tỷ đồng, giảm 7,88% so với tháng trước và tăng 40,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải dự tính đạt 2.622,50 tỷ đồng, tăng 21,13% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 528,53 tỷ đồng, tăng 65,08% với số lượng vận chuyển đạt 4.918 nghìn HK, tăng 21,94% và luân chuyển đạt 916.777 nghìn HK.km, tăng 19,35%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 1.525,29 tỷ đồng, tăng 7,59% với khối lượng vận chuyển ước đạt 16.366,9 nghìn tấn, tăng 5,43% và luân chuyển ước đạt 506.523,7 nghìn tấn.km, tăng 5,49%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 548,42 tỷ đồng, tăng 49,36% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024 có sự phát triển mạnh chủ yếu do những nguyên nhân sau: Vận tải hành khách tăng do yếu tố thời vụ, thời tiết chuyển sang mùa nắng, nhu cầu đi lại bằng các phương tiện vận tải hành khách công cộng xe buýt, taxi tăng. Bên cạnh đó, thời điểm trong tháng rơi vào dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 Âm lịch và dịp lễ 30/4 - 01/5 lượng người du lịch, về thăm quê ở mức cao hơn so với thông thường. Về vận tải hàng hóa các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng tăng, cộng với nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng, dụng cụ gia đình, nước giải khát, đồ uống có cồn, hàng may mặc, sản phẩm chế biến phục vụ chăn nuôi tăng....đã làm khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng. Trong khi đó dịch vụ hỗ trợ vận tải có giảm hơn các tháng trước do lượng hàng hoá thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng giảm hơn những tháng Tết nhưng tính chung 4 tháng vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tiếp tục đà chững lại từ tháng trước, tình hình xuất khẩu và nhập khẩu tháng Tư diễn ra khá ảm đạm. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng Tư ước đạt 476,3 triệu USD, giảm 14,93% so với tháng trước và giảm 25,15% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2.129,01 triệu USD tăng nhẹ 2,54% so với cùng kỳ chủ yếu do kim ngạch nhập khẩu ở các tháng trước do nhập khẩu hàng hoá phục vụ dịp Tết. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 4/2024 ước đạt 175,8 triệu USD, giảm 4,14% so với tháng trước và so với cùng kỳ giảm đến 25,39%. Nguyên nhân chủ yếu ở việc giảm mặt hàng Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 153,5 triệu USD, giảm 7,32% so với tháng trước và giảm đến 30,14% so với cùng kỳ nguyên nhân khách quan do giảm sức mua giảm chung của thị trường thế giới, bên cạnh đó giá thép đang ở mức khá thấp và được dự báo sẽ tiếp tục giảm. Bên cạnh mặt hàng thép thì ở các mặt hàng khác mặc dù thị trường dăm gỗ, xơ sợi và hàng dệt, may mặc đã có dấu hiệu tích cực khi thời tiết chuyển mùa lượng hàng xuất khẩu tăng so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn đang ở mức giảm khá sâu, cụ thể: Dăm gỗ giảm 9,26% (giảm 0,51 triệu USD); hàng dệt và may mặc giảm 67,74% (giảm gần 1,5 triệu USD); xơ, sợi giảm 58,68% (giảm 0,71 triệu USD). Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 810,01 triệu USD, giảm 9,93% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 725,52 triệu USD (chiếm 89,57% tổng kim ngạch) giảm 12,84% so với cùng kỳ, các nhóm hàng xuất khẩu khác cũng giảm khá sâu. Bên cạnh các nhóm hàng giảm mạnh chỉ có duy nhất nhóm ngành Chè có tăng trưởng trong xuất khẩu, giá trị xuất khẩu 4 tháng ước đạt 1,16 triệu USD tăng 27,47% so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 4 ước đạt 300,5 triệu USD, giảm 20,19% so với tháng trước và giảm 25,01% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do việc Formosa hạn chế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào sản xuất một phần do bảo trì, bảo dưỡng dây chuyền sản xuất, bên cạnh đó là tâm lý chờ giá nguyên liệu thấp nhập vào lượng lớn. Tính chung 4 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.319 triệu USD, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng 4, thị trường giá cả hàng hoá tiêu dùng khá ổn định, giá cả có tăng nhẹ so với tháng trước, nhóm giao thông có biến động lớn nhất tăng 1,05% so với tháng trước do giá xăng dầu tăng sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua. Đáng chú ý trong tháng là thị trường giá vàng, trang sức và ngoại tệ biến động tăng mạnh theo xu hướng của thị trường thế giới. Tháng 4 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,24% so với tháng trước và tăng 2,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì ngoài nhóm Bưu chính viễn thông ổn định về giá so với tháng trước thì các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng nhẹ so với tháng trước. Đáng lưu ý trong tháng tình hình thị trường giá vàng và ngoại tệ trong tháng bình quân tăng mạnh: Chỉ số giá vàng tăng 9,16% so với tháng trước, tăng 33,89% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,03% so với tháng trước và tăng 8,22% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 7.460 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.548.496 đồng/100 USD. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng Tư: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ là thời điểm đầu mùa hè khắc nghiệt khi thời tiết nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy. Trong tháng cũng là thời điểm khai trương mùa du lịch biển tỉnh Hà Tĩnh; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại khiến giá xăng dầu bình quân tăng so tháng trước; Thứ ba, giá vật liệu xây dựng tăng trở lại, giá và khối lượng tiêu dùng nước sinh hoạt tăng bên cạnh đó giá gạo trên thị trường thế giới giảm tác động đến giá gạo trong nước giảm nhẹ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,95%, nông thôn tăng 2,65%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,97%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,56%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,77%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,39%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,58%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,45%; giao thông tăng 1,51%; bưu chính viễn thông giảm 1,91%; giáo dục tăng 2,21%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,46%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,67% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với các nhóm nhiên liệu. Dự kiến CPI tháng 5/2024 sẽ tăng hơn và tăng chủ yếu ở các nhóm hàng hóa, dịch vụ, du lịch, ăn uống, thuỷ hải sản, giá phòng lưu trú, dịch vụ lữ hành. Giá điện và nước sinh hoạt tiếp tục tăng cao khi lượng tiêu thụ khả năng đạt ở mức cao trong điều kiện tình hình thời tiết nắng nóng tiệm cận mức 400C trên địa bàn tỉnh. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư nhìn chung ổn định, có phần khởi sắc hơn. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo, kịp thời. 2. Giáo dục Tình hình giáo dục trong tháng 4 trên địa bàn tập trung vào việc chuẩn bị cho các kỳ thi cuối năm học 2023-2024. Trong hai ngày 16/4 và 17/4, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh tổ chức Kỳ thi thử tốt nghiệp THPT năm 2024. Đây là kỳ thi thử duy nhất được tổ chức với hình thức trực tiếp trong năm học, mỗi trường THPT là một điểm thi. Đăng ký tham gia kỳ thi này có gần 17.000 học sinh lớp 12 (bao gồm học sinh các trường THPT công lập, tư thục và trung tâm GDNN-GDTX). Đây cũng là dịp các cơ sở giáo dục khảo sát kết quả của học sinh khối 12, từ đó có kế hoạch dạy học, ôn tập cho học sinh trong thời gian tới, đồng thời tập dượt cho việc tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024. Bên cạnh đó, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định số 407/QĐ-SGDĐT ngày 23/4/2024 về việc giao chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2024 – 2025. Theo đó, năm học 2024 - 2025, Hà Tĩnh sẽ tuyển sinh 15.075 chỉ tiêu vào lớp 10 THPT cho 36 trường THPT công lập trên địa bàn toàn tỉnh, riêng trường THPT Chuyên Hà Tĩnh sẽ tuyển 455 chỉ tiêu, tăng 35 chỉ tiêu so với năm học trước vì có sự điều chỉnh thêm một lớp chuyên tiếng Trung Quốc. 3. Hoạt động y tế - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, Hà Tĩnh đang tập trung tăng cường các hoạt động truyền thông và dự phòng chống lây nhiễm HIV, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân, nhất là đối tượng thanh niên. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 2 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So tháng trước: giảm 3 người nhiễm mới HIV (giảm 60%), tăng 1 người chuyển thành AIDS (tăng 2 lần) và giảm 1 người chết vì AIDS (tháng 3 chết 1 người). So cùng kỳ năm trước: giảm 3 người nhiểm mới HIV (giảm 60%); giảm 2 người chuyển thành AIDS (giảm 50%) và giảm 1 người chết vì AIDS (cùng kỳ chết 1 người). Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, đã phát hiện 14 người nhiễm mới HIV, 10 người chuyển thành AIDS, 3 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước: giảm 7 người nhiểm mới HIV (giảm 33,33%); giảm 6 người chuyển thành AIDS (giảm 37,50%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 3 người). - Công tác an toàn thực phẩm: Nhằm đảm bảo công tác an toàn thực phẩm trong mùa du lịch, các dịp nghĩ lễ, đặc biệt trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi để vi khuẩn sinh sôi. Các đơn vị cơ quan chức năng liên ngành tăng cường công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm có thể xẩy ra. Công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Đồng thời khuyến cáo người dân cần nắm được những kiến thức cơ bản, trong bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh ăn uống. Trong tháng, xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể làm 2 người bị ngộ độc, không có trường hợp nào tử vong (tháng trước và cùng kỳ năm trước đều không có người chết vì các vụ ngộ độc thực phẩm). Ngoài ra còn có 61 ca ngộ độc đơn lẻ; so với tháng trước giảm 13 ca (giảm 17,57%) và giảm 12 ca so với cùng kỳ năm trước (giảm 15,28%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (tháng trước và cùng kỳ năm trước đều không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ). Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, xẩy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm làm 2 người bị ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước xẩy ra 1 vụ) và giảm 5 người bị ngộ độc (giảm 71,42%). Có 231 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, so với cùng kỳ năm trước giảm 41 ca (giảm 15,07%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (cùng kỳ năm trước không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ).- Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, gồm: 3 ca sốt rét (giảm 2 ca so với cùng kỳ), 1 ca quai bị (giảm 21 ca so với cùng kỳ), 4 ca lỵ trực trùng (giảm 23 ca so với cùng kỳ), 5 ca lỵ amip (giảm 24 ca so với cùng kỳ), 59 ca thủy đậu (tăng 42 ca so với cùng kỳ), 1.445 ca mắc bệnh cúm (tăng 300 ca so với cùng kỳ), 153 ca tiêu chảy đơn lẻ (giảm 159 ca so với cùng kỳ), 8 ca viêm gan vi rút khác (tăng 1 ca so với cùng kỳ). Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết do các bệnh trên.4. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Sáng 17/4/2024, tỉnh Hà Tĩnh đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng (1.5.1904 - 1.5.2024). Cũng trong tháng này, đại diện lãnh đạo Sở VH-TT&DL, cấp ủy, chính quyền địa phương và đông đảo bà con cùng dự lễ nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh đền Bàu Ông tại xã Quang Thọ, huyện Vũ Quang và đền Ngư Ông tại Xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà. Bên cạnh đó, các địa phương trong tỉnh đang gấp rút chuẩn bị khai trương du lịch biển.Về thể dục thể thao: Trong tháng, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều giải thi đấu thể thao tạo nên không khí vui tươi, đoàn kết. Vòng 1 Giải Bóng chuyền VĐQG năm 2024 (từ 30/3-6/4) tại Hà Tĩnh đã thực sự trở thành ngày hội, dịp để người hâm mộ “cháy” hết mình với những trận cầu cảm xúc, mãn nhãn.Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra văn hóa trên địa bàn, nhất là các dịch vụ vui chơi giải trí karaoke, dịch vụ kinh doanh văn hóa tranh ảnh, băng đĩa nhạc,… nhằm đảm bảo việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân lành mạnh, loại trừ các văn hóa phẩm đi lệch với các thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước. 5. Tình hình trật tự và toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tháng (tính từ ngày 15/3/2024-14/4/2024) xảy ra 28 vụ tai nạn đường bộ, làm 10 người chết, 22 người bị thương (tăng 4 vụ; giảm 2 người chết và tăng 7 người bị thương so với tháng trước); tai nạn đường sắt không xảy ra (so tháng trước giảm 1 vụ và giảm 1 người chết). So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ không thay đổi (cùng kỳ xảy ra 28 vụ), giảm 7 người chết (giảm 41,76%) và tăng 4 người bị thương (tăng 29,41%); số vụ tai nạn đường sắt không thay đổi (cùng kỳ không xảy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 150 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024 (từ 15/12/2023-14/4/2024), xảy ra 145 vụ tai nạn đường bộ, làm 59 người chết, 119 người bị thương; 3 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương, 1 người chết; tai nạn đường thủy không xẩy ra. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 45 vụ (tăng 45,0%), giảm 4 người chết (giảm 6,35%) và giảm 62 người bị thương (giảm 2,1 lần); tai nạn đường sắt tăng 3 vụ và tăng 1 người bị thương (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 890 triệu đồng. 6. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ- Tình hình cháy: Trong tháng (từ ngày 15/3/2024-14/4/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 2 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 35 triệu đồng; so với tháng trước: giảm 6 vụ cháy (giảm75,0%), thiệt hại về người không thay đổi (không xảy ra). So với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ cháy (giảm 77,78%), thiệt hại về người không thay đổi (không xảy ra). Tính chung 4 tháng đầu năm (từ ngày, từ ngày 15/12/2023-14/4/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 19 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 249 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 11 vụ cháy (giảm 36,67%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). - Tình hình nổ: Trong tháng và 4 tháng đều không xảy ra vụ nổ nào (cùng kỳ năm trước không xảy ra). - Vi phạm môi trường: Địa phương thường xuyên triển khai thực hiện các nhiệm vụ nhằm nâng cao công tác kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường nói riêng như: Quản lý và giám sát chặt chẽ hoạt động xã thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của các hộ gia đình, ngăn chặn thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.… đồng thời tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức như băng rôn, đài, báo…. Trong tháng, phát hiện 8 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 6 vụ, với tổng số tiền xử phạt 35,5 triệu đồng; giảm 5 vụ phát hiện (giảm 38,46 %), giảm 15 vụ đã xử lý (giảm 71,43%), giảm 13,15 triệu đồng (giảm 27,03%) tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 35 vụ phát hiện (giảm 81,40 %), giảm 29 vụ đã xử lý (giảm 82,86%), giảm 103,77 triệu đồng (giảm 74,51%) tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, phát hiện 163 vụ vi phạm môi trường, giảm 95 vụ (giảm 36,82%) và đã xử phạt 149 vụ, giảm 205 vụ (giảm 57,91%) với tổng số tiền xử phạt 261,91 triệu đồng; giảm 636,86 triệu đồng số tiền xử phạt (giảm 70,86%) so với cùng kỳ năm trước. 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước không thay đổi (không xẩy ra).Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.