Tình hình kinh tế -xã hội 6 tháng đầu năm 2020
- 23/07/2024 09:10
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, quán triệt phương châm hành động năm 2020 của Chính phủ là “Kỷ cương, liêm chính, hành động, trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả”, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Chương trình số 20/CTr-UBND ngày 20/01/2020 kèm theo khung nhiệm vụ triển khai kế hoạch năm 2020, trong đó xác định 9 nội dung trọng tâm cần tập trung chỉ đạo và 67 nhiệm vụ cụ thể, tạo khung định hướng để các ngành, địa phương tổ chức thực hiện. Triển khai nhiệm vụ trong trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức và cũng là tình hình chung của cả nước. Tình hình dịch bệnh Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã tác động tiêu cực tới kinh tế toàn cầu và Việt Nam, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người dân; diễn biến thời tiết, dịch bệnh bất lợi đối với các loại cây trồng và vật nuôi, nhất là ngành chăn nuôi chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch tả lợn Châu Phi; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn hạn chế; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Trước những khó khăn đó, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ giữ mức ổn định so với cùng kỳ năm trước. Nhiệm vụ từ nay đến cuối năm để hoàn thành các chỉ tiêu Kế hoạch năm 2020 và giai đoạn 5 năm 2016-2020 là rất nặng nề; đòi hỏi cả hệ thống chính trị, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp phải tiếp tục quyết tâm nỗ lực lớn, tập trung phục hồi sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong điều kiện phòng, chống dịch bệnh Covid 19 để có thể đạt kết quả cao nhất mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2020 và cả giai đoạn 2016-2020. 1. Tăng trưởng kinh tế 1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành: Quy mô GRDP 6 tháng đầu năm 2020 theo giá hiện hành ước đạt 37.358 tỷ đồng, tăng 2,85% so với cùng kỳ năm 2019. Như vậy, sau 5 năm thì quy mô GRDP 6 tháng đầu năm 2020 đã tăng thêm 38,58% so với năm 2015 (tương đương 10.401 tỷ đồng). Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2020: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,06%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,08%; khu vực thương mại, dịch vụ chiếm 33,59% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,27%. Cơ cấu kinh tế nhìn chung ổn định và không có sự dịch chuyển nhiều giữa các khu vực so với cùng kỳ năm 2019 - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh 2010: GRDP 6 tháng đầu năm 2020 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 22.182 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2019. Đây là năm có tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm thấp nhất kể từ sau sự cố môi trường biển năm 2016. Trong mức biến động chung thì khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính tăng 1,5% so với cùng kỳ, đóng góp 0,2 điểm phần trăm (nông nghiệp tăng 0,8% so với cùng kỳ, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 2,7% so với cùng kỳ, đóng góp 0,02 điểm phần trăm và thủy sản tăng 7,2% so với cùng kỳ, đóng góp 0,1 điểm phần trăm); Khu vực công nghiệp và xây dựng ước tính tăng 2,6% so với cùng kỳ, đóng góp 1,1 điểm phần trăm (công nghiệp tăng 2% so với cùng kỳ, đóng góp 0,7 điểm phần trăm và xây dựng tăng 4,9% so với cùng kỳ, đóng góp 0,4 điểm phần trăm); Khu vực thương mại, dịch vụ ước giảm 3,6% so với cùng kỳ, đóng góp -1,2 điểm phần trăm và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 0,3% so với cùng kỳ, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Như vậy, nguyên nhân chính làm cho GRDP 6 tháng đầu năm 2020 có tốc độ tăng trưởng thấp chủ yếu là do ngành công nghiệp tăng thấp và khu vực thương mại, dịch vụ giảm mạnh. 1.2. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế - Đối với khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2020 đạt mức tăng không cao. Khu vực này tăng 1,5% và đóng góp 0,2 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực này nhưng mức tăng không cao, chưa có sự đột phá để tạo sự tác động tích cực vào tăng trưởng khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp chỉ tăng 0,8%, làm tăng 0,1 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung GRDP. Nguyên nhân chính làm cho kết quả sản xuất nông nghiệp chưa có sự biến động lớn đó là: đối với hoạt động trồng trọt vụ Đông Xuân do cả diện tích và năng suất lúa đều giảm nên đã làm cho sản lượng lúa sơ bộ giảm 1.046 tấn. Cùng với cây lúa, năng suất các loại cây trồng khác như khoai lang, lạc, rau cũng giảm so với cùng kỳ mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là do yếu tố thời tiết. Cùng với đó, hoạt động chăn nuôi lợn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn Châu Phi dẫn đến các hộ chăn nuôi nhỏ, lẽ gần như bỏ chuồng. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp cũng đạt mức tăng không cao, 6 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 2,7%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Tăng so với cùng kỳ do một số diện tích rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác tăng nhẹ. Đối với hoạt động sản xuất thủy sản thì 6 tháng đầu năm 2020 vẫn duy trì được mức tăng khá, tăng 7,2% và đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Mặc dù duy trì được mức tăng khá nhưng ngành thủy sản chiếm tỷ trọng chưa lớn nên đóng góp không nhiều vào tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng như tăng trưởng chung. - Khu vực công nghiệp và xây dựng trong những năm qua luôn có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2020, khu vực công nghiệp và xây dựng gặp nhiều khó khăn nên chỉ đạt mức tăng trưởng 2,6%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Đối với ngành công nghiệp, 6 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 2%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung, đây là mức tăng thấp nhất của ngành công nghiệp trong nhiều năm trở lại đây. Nguyên nhân do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp lớn nhưng phải giảm sản lượng, gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng bảo dưỡng thiết bị. 6 tháng đầu năm 2020, trong mức đóng góp chung 0,7 điểm phần trăm của toàn ngành công nghiệp thì: ngành khai khoáng đóng góp -0,04 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp -1,91 điểm phần trăm (là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện đóng góp 2,57 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải đóng góp 0,04 điểm phần trăm. Trong những năm qua cũng như hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp ở Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng rất lớn từ công ty Formosa (chủ yếu là sản phẩm thép, điện). Có thể nhận thấy rằng, kết quả sản xuất của Công ty Formosa chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng như toàn ngành công nghiệp. Những tháng đầu năm, sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phôi thép, thép thành phẩm của Công ty Formosa giảm mạnh do hiện nay giá thép thành phẩm liên tục giảm, giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao. Cùng với đó là ảnh hưởng của dịch Covid-19 và ngừng hoạt động để bảo dưỡng sửa chữa máy móc dây chuyền cán nóng 20 ngày trong tháng 1 và 10 ngày trong tháng 2. 6 tháng đầu năm 2020, dự ước sản lượng phôi thép đạt 2,67 triệu tấn (giảm 12,7%) và sản lượng thép là 1,96 triệu tấn (giảm 18,3%) so với cùng kỳ năm 2019. Cùng với sự sụt giảm của Công ty Fomosa thì các ngành công nghiệp chế biến chế tạo khác cũng đều sụt giảm do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Bên cạnh sự sụt giảm của ngành công nghiệp thì kết quả hoạt động của ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2020 có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ. Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2020 ước tính tăng trưởng 4,9% so với cùng kỳ, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Như vậy, mặc dù kết quả sản xuất ngành xây dựng có tăng nhưng tác động không nhiều đến tăng trưởng chung. - Đối với khu vực thương mại và dịch vụ nhìn chung gặp nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng của các ngành thương mại và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2020 dự ước giảm 3,6% so với cùng kỳ, đóng góp -1,2 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Nguyên nhân do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và thực hiện Chỉ thị 100 về cấm sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông nên phải thực hiện giản cách xã hội, sản xuất kinh doanh đình trệ; thực hiện đóng cửa, tạm ngừng mọi hoạt động vui chơi, giải trí, dịch vụ tập trung đông người, hoạt động du lịch...nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ giảm mạnh so với cùng kỳ. - Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP mà 6 tháng đầu năm 2020 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm chỉ tăng 0,3% so với cùng kỳ nên chỉ làm tăng 0,03 điểm phần trăm trong tổng mức tăng chung. Nguyên nhân do khó khăn chung của nền kinh tế bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên thu thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng như thuế giá trị gia tăng hàng sản xuất, kinh doanh trong nước và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước sau khi tính khấu trừ chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ. Tóm lại, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh ước tính chỉ đạt 0,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trước những khó khăn từ tình hình dịch bệnh Covid-19, dịch tả lợn Châu Phi, diễn biến phức tạp của điều kiện thời tiết...thì để giữ được ổn định nền kinh tế trên địa bàn cũng đã là một sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị cũng như các tầng lớp Nhân dân trong thời gian qua. Tuy nhiên, hiện nay ảnh hưởng của Công ty Fomosa vào tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh vẫn đang là rất lớn. Vì vậy, thời gian tới, chúng ta cần phải quan tâm phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất khác. Quy mô GRDP của Hà Tĩnh không lớn nên với bất kỳ tác động của một yếu tố nào cũng có thể làm thay đổi nhiều đến chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP. Với kết quả đạt được 6 tháng đầu năm, việc thực hiện đạt chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng GRDP năm 2020 đạt ra từ 10,5% - 11% là rất khó khăn và khó khả thi khi 6 tháng cuối năm thường bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ. 2. Tài chính, ngân hàng - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2020 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 nên nhiều hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn bị đình trệ, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn đã ảnh đến nguồn thu ngân sách. Trong tình hình hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2020 sẽ còn nhiều khó khăn thách thức. Tổng thu NSNN trên địa bàn ước tính đến ngày 15/6/2020 bằng 56,85% so với cùng kỳ năm 2019. Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi NSNN trên địa bàn ước tính đến ngày 15/6/2020 bằng 107,52% so với cùng kỳ năm 2019. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 43,2% tổng chi, tăng 7,8% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 56,7% tổng chi, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2019. - Hoạt động ngân hàng: Trong 6 tháng đầu năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của Ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Đặc biệt, đã tập trung quán triệt, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, của Ngành và của tỉnh về các giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội, kịp thời ứng phó và khắc phục khó khăn liên quan đến dịch bệnh Covid-19. Kết quả 6 tháng đầu năm 2020, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Một số ngân hàng trên địa bàn đã triển khai các chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng, khuyến mãi đầu xuân hấp dẫn đã thu hút khách hàng gửi tiền tiết kiệm, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,2-0,8% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,25-4,75%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 4,75-7%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 6,6-7,5%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên từ 5-6%/năm. Lãi suất cho vay thông thường từ 5-9% đối với khoản vay ngắn hạn, từ 9-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch Covid-19. Theo rà soát, đánh giá của các TCTD thì trên địa bàn tỉnh thì tính đến ngày 3/6/2020, tổng dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh là 11.028 tỷ đồng, chiếm 20,11% tổng dư nợ. Trong đó: dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đối với 393 khách hàng là 1.071 tỷ đồng; dư nợ được miễn giảm lãi vay đối với 67 khách hàng là 374,39 tỷ đồng với số tiền lãi đã được miễn giảm là 591 triệu đồng; hạ lãi suất dư nợ hiện hữu đối với 4.853 khách hàng, dư nợ 9.048 tỷ đồng, với mức lãi được giảm từ 0,05%/năm - 3,2%/năm). Các TCTD đã cho vay mới nhằm hỗ trợ khách hàng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh với doanh số cho vay lũy kế từ ngày 23/01/2020 đến 03/6/2020 đối với 5.766 khách hàng là 8.680 tỷ đồng (Lãi suất cho vay mới thấp hơn so với lãi suất cho vay trước khi có dịch từ 0,05%/năm - 3,3%/năm). Bên cạnh kết quả đạt được thì việc thực hiện xử lý nợ xấu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP gặp nhiều khó khăn. Tính đến 31/5/2020, các Ngân hàng đã cho vay đối với 11 chủ tàu với doanh số cho vay đạt 162,62 tỷ đồng; dư nợ 149,4 tỷ đồng. Nợ xấu 115,02 tỷ đồng, chiếm 77% tổng dư nợ, trong đó có 9/11 chủ tàu phát sinh nợ xấu. Nguyên nhân chủ yếu là do: (i) Chưa có các giải pháp thực sự có hiệu quả để giúp các TCTD xử lý nợ xấu của các tàu cá; (ii) Chưa có quy định về chuyển đổi nghề đối với một số chủ tàu có nguyện vọng; (iii) Một số chủ tàu không thiện chí trả nợ, khai báo doanh thu không thành thật, cố tình chây ì. 3. Giá cả, lạm phát CPI tháng 6 năm 2020 tăng 0,85% so với tháng trước, tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị tăng 0,75% và khu vực nông thôn tăng 0,92% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 8 nhóm có chỉ số giá tăng và 3 nhóm có chỉ số giá ổn định so với tháng trước gồm: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục và nhóm bưu chính viễn thông. Một số yếu tố chính tác động đến CPI tháng 6/2020: (1) Giá nhiên liệu xăng dầu được điều chỉnh tăng giá theo tình hình thị trường xăng dầu thế giới; (2) Yếu tố thời tiết nắng nóng kéo dài ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng điện tử điện lạnh, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, đồ uống, điện và nước sinh hoạt; (3) Giá thịt lợn hơi tăng mạnh ở thời điểm đầu và giữa tháng, tác động kéo theo các mặt hàng thịt lợn và chế biến từ thịt lợn tăng; (4) Các bất ổn chính trị trên thế giới và sự suy giảm về kinh tế khiến giá vàng thế giới tăng, kéo theo giá vàng trong nước tăng cao. CPI 6 tháng đầu năm 2020 tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị tăng 4,72% và khu vực nông thôn tăng 3,93%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với mức tăng 8,95% (trong đó thực phẩm tăng 11,94%); đồ uống và thuốc lá tăng 3%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 4,69%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,71; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,81%; giao thông giảm 9,06%; bưu chính viễn thông giảm 1,48%; giáo dục tăng 0,59%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,92%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,43 so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng ở mức cao nhất (Chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước: năm 2016 tăng 2,56%; năm 2017 tăng 4,05%; năm 2018 tăng 3,63%, năm 2019 tăng 1,41%). Nguyên nhân, do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh Covid-19 và dịch tả lợn Châu Phi, cùng với việc điều chỉnh các chính sách về giá đối với một số mặt hàng nên đã tác động đến chỉ số giá chung. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 7/2020 dự kiến tiếp tục tăng nhẹ so với tháng 6. Giá xăng dầu có thể tiếp tục được điều chỉnh tăng. Tình hình nắng nóng kéo dài khiến nhu cầu sử điện, nước sinh hoạt, đồ uống, rau củ quả, hàng điện lạnh tiếp tục cao trong thời gian tới. Hoạt động ăn uống ngoài gia đình và các dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành có thể tăng khi nhu cầu du lịch của người dân tăng lên trong dịp hè. 4. Đầu tư và xây dựng Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện giai đoạn 2015-2020 liên tục giảm mạnh qua các năm. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư, nhưng nay nguồn vốn khu vực này giảm mạnh. Kết quả thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội ước tính 6 tháng đầu năm 2020 giảm so với cùng kỳ năm 2019 và chưa đạt yêu cầu, do một số nhóm nguyên nhân như sau: (i) các dự án đầu tư công có tổng vốn kế hoạch lớn gặp vướng mắc trong giải phóng mặt bằng; vốn NSTW bổ sung trong kế hoạch đầu tư công trung hạn đến tháng 6/2020 mới được giao vốn; việc thay đổi về cơ chế trong quản lý, vận hành các dự án cấp nước sinh hoạt và VSNT thuộc CTMQTG xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những khó khăn, lúng túng trong quá trình thực hiện ở cấp cơ sở; (ii) ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên huy động vốn đầu tư từ tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước gặp nhiều khó khăn; (iii) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt thấp do các tháng đầu năm Công ty Formosa chủ yếu tập trung vào công tác bảo trì, bảo dưỡng, chưa triển khai các hoạt động đầu tư mới. Vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2020 giảm 6,4% nhưng tăng trưởng GRDP của ngành xây dựng vẫn tăng 4,9%. Nguyên nhân do tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong tổng vốn đầu tư phát triển 6 tháng đầu năm 2020 cao hơn so với cùng kỳ (6 tháng năm 2019 chiếm 88% và 6 tháng năm 2020 chiếm 91,7%) và trong vốn đầu tư xây dựng cơ bản thì vốn xây lắp tăng 7,1% trong khi vốn thiết bị giảm 48,6%. Vì vậy kết quả hoạt động xây dựng vẫn đạt mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước. Thời gian qua, các công trình trọng điểm chào mừng Đại hội Đảng các cấp được đẩy nhanh tiến độ như: Dự án cầu Thọ Tường bắc qua sông La; dự án cầu Cửa Hội nối thị xã Cửa Lò với Nghi Xuân; nâng cấp, sữa chữa kênh chính Linh Cảm trong hệ thống thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; chỉnh trang đô thị thành phố Hà Tĩnh; đường giao thông nối Chợ Cồn - Liên Giang; cải tạo, sữa chữa đường Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ... Để phát triển kinh tế, Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư toàn xã hội, đặc biệt đầu tư công theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 622/TTg-KTTH ngày 26/5/2020 và của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Văn bản số 2274-CV/TU ngày 01/6/2020, trong đó tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai, thủ tục đầu tư, tránh máy móc, cầu toàn, trì trệ, đùn đẩy; đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm đã được Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy đồng ý chủ trương; tổ chức khởi công, triển khai ngay các dự án lớn tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Xem xét thu hồi các dự án chậm tiến độ, không có khả năng thực hiện để tạo quỹ đất, kêu gọi các nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án; rà soát, thu hồi vốn đối với các dự án đầu tư công giải ngân không đạt yêu cầu, bố trí cho dự án khác. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Sáu tháng đầu năm 2020 dịch Covid-19 đã và đang tác động tiêu cực nhiều mặt đến hoạt động SXKD của hầu hết các doanh nghiệp. Kết quả khảo sát tại thời điểm tháng 4/2020 đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh cho thấy, có tới 93,5% doanh nghiệp được hỏi cho rằng đang phải chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Theo quy mô, các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động từ dịch Covid-19 càng cao. Điều này có thể lý giải, các doanh nghiệp có quy lớn thường là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đa ngành nghề, có chuỗi giá trị liên kết trong nước và quốc tế chặt chẽ, rộng hơn nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ sẽ chịu tác động nhiều hơn khi dịch bệnh bùng phát trên phạm vi toàn cầu. Doanh nghiệp FDI là đối tượng đang chịu nhiều tác động của dịch Covid-19 nhất với 94,2%; tỷ lệ này đối với nhóm doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài Nhà nước lần lượt là 92,3% và 91,3%. Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chịu tác động mạnh nhất từ dịch Covid-19. Do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, tình hình đăng ký doanh nghiệp trong quý II/2020 bị ảnh hưởng nặng nề. Đặc biệt từ 01/4 đến 22/4, cả nước thực hiện giãn cách xã hội nên số lượng doanh nghiệp thành lập mới có sự sụt giảm mạnh. Trong quý, số doanh nghiệp thành lập mới là 164 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 989 tỷ đồng, giảm 20,1% về số doanh nghiệp và giảm 79,9% về số vốn so với cùng kỳ năm 2019. Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý là 962 người, giảm 58,2% so với cùng kỳ năm 2019. Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh có 339 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 21,5% so với cùng kỳ năm 2019. Giai đoạn 2015-2020 thì đây là năm đầu tiên 6 tháng đầu năm có số doanh nghiệp thành lập mới sụt giảm so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2020 là 2.517 tỷ đồng, giảm 66,6% so với cùng kỳ năm 2019. Có 214 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 8,1% so với cùng kỳ 2019, trong đó có 180 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 14,6% so với cùng kỳ 2019. Trước những khó khăn bởi dịch bệnh Covid-19, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành văn bản số 2009/UBND-KT1 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Để tập trung phòng chống, giảm thiểu tác động của dịch Covid-19, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh, an toàn đời sống và sức khỏe của người dân trên địa bàn tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện tốt các nội dung như: Kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi về tiếp cận vốn, tín dụng, tài chính, thuế, thương mại, thanh toán điện tử; rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí cho doanh nghiệp; đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xuất, nhập khẩu; khẩn trương phục hồi và phát triển ngành du lịch; đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh; tập trung xử lý vướng mắc về lao động và đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông. Đây sẽ là những nhiệm vụ, giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanhvà bảo đảm an sinh xã hội trong thời gian tới. 5.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả điều tra các doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh về xu hướng sản xuất kinh doanh, biến động về số lượng đơn đặt hàng, về tồn kho thành phẩm, nguyên vật liệu, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD thì tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2020 có chiều hướng tích cực và khả quan hơn so với những tháng đầu năm, cụ thể: Về tổng quan tình hình SXKD của doanh nghiệp có tới 84,4% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó chỉ có 64,4% khẳng định SXKD tốt lên và 20% khẳng định giữ ổn định) và chỉ có 15,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Các ngành có 100% doanh nghiệp dự báo SXKD quý III tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2020 gồm: sản xuất đồ uống; sản xuất trang phục; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị); sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị. Dự báo xu hướng quý III/2020 so với quý trước có tới 60% doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; có 24,4% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới giữ nguyên và có 15,6% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng mới giảm đi (ngành có tỷ lệ lớn doanh nghiệp giảm đơn đặt hàng mới là sản xuất thuốc, hóa dược, dược liệu và sản xuất kim loại,...); 37,8% doanh nghiệp nhận định có khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 42,2% doanh nghiệp có khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm; có 86,7% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 95,6% doanh nghiệp có giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giữ nguyên so với tháng trước. Điều này thể hiện chi phí nguyên vật liệu đầu vào và giá bán thành phẩm của các doanh nghiệp trong thời gian tới tương đối ổn định. Dự báo về biến động lao động quý III/2020 so với quý trước, có 88,9% doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động giữ ổn định, có 8,9% số doanh nghiệp dự kiến tăng lao động và chỉ có 2,2% số doanh nghiệp dự kiến giảm lao động. Như vậy, sau dịch bệnh Covid-19 quy mô lao động của các doanh nghiệp đã trở lại ổn định. Về sử dụng công suất máy móc, thiết bị: bình quân quý II/2020 các doanh nghiệp sử dụng 73,1% công suất của MMTB (tăng 9,7% so quý trước), trong đó có 24,4% doanh nghiệp sử dụng 90-100% công suất; 44,4% doanh nghiệp sử dụng từ 70% đến dưới 90% công suất; 20% doanh nghiệp sử dụng từ 50% đến dưới 70% công suất và 11,2% doanh nghiệp sử dụng dưới 50% công suất thiết kế. Qua đó có thể thấy tỷ lệ các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, sử dụng tối đa công suất máy móc thiết bị đang tăng hơn so với quý trước. Những ngành có hệ số sử dụng công suất MMTB bình quân cao như: sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị 100%; sản xuất giấy và sản phầm từ giấy 97%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic và dệt là 95%,... Trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì có 5 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, “khó khăn về tài chính”, “thiếu nguyên, nhiên vật liệu”, “thiết bị công nghệ lạc hậu”, cụ thể: có 71,1% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”; 68,9% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”; 40% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “khó khăn về tài chính”; 35,6% doanh nghiệp khẳng định “thiếu nguyên, nhiên vật liệu” và 31,1% doanh nghiệp cho rằng “thiết bị công nghệ lạc hậu” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển SXKD của doanh nghiệp. 6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6.1. Sản xuất nông nghiệp - Trồng trọt: diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực vụ Đông Xuân năm nay như lúa, ngô, lạc, khoai lang đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có diện tích rau tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm chủ yếu do một số địa phương có quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở, đất làm đường cao tốc, đường vượt lũ nên thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2019-2020 ước giảm 1.622 ha, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa giảm 133 ha; diện tích ngô giảm 516 ha; diện tích khoai lang giảm 328 ha; diện tích lạc giảm 1.082 ha và diện tích rau các loại tăng 363 ha. Tổng diện tích cây lương thực có hạt ước đạt 68.039 ha, bằng 99,06% (giảm 649 ha) so với cùng kỳ. Năng suất lúa vụ Xuân sơ bộ giảm 0,05 tạ/ha và sản lượng lúa giảm 1.046 tấn so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có năng suất lúa sơ bộ giảm so với cùng kỳ năm trước như: Thị xã Kỳ Anh giảm 3,94 tạ/ha; huyện Cẩm Xuyên giảm 3,06 tạ/ha; huyện Thạch Hà giảm 1,69 tạ/ha; huyện Kỳ Anh giảm 1,33 tạ/ha;…Bên cạnh đó, một số huyện vẫn có năng suất lúa tăng như: huyện Can Lộc tăng 3,77 tạ/ha; thị xã Hồng Lĩnh tăng 3,16 tạ/ha; thành phố Hà Tĩnh tăng 6,92 tạ/ha…Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên đã làm cho sản lượng lúa sơ bộ giảm. Diện tích gieo trồng lúa giảm 133 ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 742 tấn và do sâu bệnh và thời tiết bất lợi làm cho năng suất lúa ước tính giảm 0,05 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 304 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sơ bộ năng suất và sản lượng các loại cây trồng khác so với cùng kỳ năm 2019 cụ thể như sau: Năng suất ngô đạt 47,6 tạ/ha, bằng 112,15% (tăng 5,15 tạ/ha), với sản lượng ngô tăng 2.300 tấn. Năng suất khoai lang đạt 72,93 tạ/ha, bằng 101,56% (tăng 1,12 tạ/ha), với sản lượng khoai lang giảm 2.027 tấn). Năng suất lạc đạt 24,8 tạ/ha, bằng 94,66% (giảm 1,4 tạ/ha), với sản lượng lạc giảm 4.336 tấn. Năng suất rau các loại đạt 64,71 tạ/ha, bằng 100,64% (tăng 0,41 tạ/ha), với sản lượng rau các loại tăng 2.764 tấn). Như vậy, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2019-2020 đối với các loại cây trổng khác nhìn chung thiếu ổn định. Sản xuất vụ Hè Thu 2020: ngày 23/4/2020, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Đề án sản xuất vụ Hè Thu 2020 đến tận các địa phương. UBND tỉnh ban hành Công điện số 09/CĐ-UBND ngày 13/5/2020 về việc đẩy nhanh thu hoạch lúa vụ Xuân 2020 và triển khai sản xuất vụ Hè Thu 2020; Công điện số 10/CĐ-UBND ngày 27/5/2020 về việc đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ Hè Thu 2020; Công điện số 11/CĐ-UBND ngày 08/6/2020 về việc tăng cường công tác điều tiết nước phục vụ sản xuất vụ Hè Thu 2020. Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu 2020: tính đến ngày 16/6/2020, ước tính diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh 44.428 ha, đạt 99,8% kế hoạch (diện tích lúa gieo thẳng 42.903 ha và diện tích lúa cấy là 1.525 ha); diện tích ngô 1.618 ha, đạt 81,2% kế hoạch; diện tích đậu các loại 2.493 ha, đạt 51,2% kế hoạch; diện tích rau các loại 1.252 ha, đạt 48,7% kế hoạch; diện tích vừng 213 ha, đạt 52,6% kế hoạch; diện tích lạc 85 ha, đạt 15,6% kế hoạch; diện tích khoai lang 46 ha, đạt 6,7% kế hoạch. Các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2020 đang tiếp tục được gieo trỉa. Cùng với kết quả sản xuất cây hàng năm thì kết quả sản xuất cây lâu năm tiếp tục có bước phát triển. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 30.763 ha, bằng 103,6% (tăng 1.058 ha) so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó diện tích cây ăn quả là 18.477 ha, bằng 110,2% (tăng 1.707 ha) so với cùng kỳ năm 2019 và chiếm 60% tổng diện tích cây lâu năm hiện có. Các loại cây ăn quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 12.428 ha, bằng 114,7% (tăng 1.596 ha) và chiếm 67,3% tổng diện tích cây ăn quả. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.241 tấn, bằng 105,7% (tăng 1.860 tấn) so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.859 tấn, bằng 108,7% (tăng 1.112 tấn). Những năm qua, các địa phương đã phát huy lợi thế về đất đai, khí hậu để phát triển kinh tế vườn đồi, trồng cây ăn quả nên đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung mang tính sản xuất hàng hóa. Cùng với đó, các ngành chức năng đã quan tâm hỗ trợ cho người dân về giống và kỹ thuật để tăng năng suất và chất lượng cây trồng. Tình hình sâu bệnh: Trên lúa Hè Thu ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên những diện tích trũng, ngập nước, mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích nhiễm 99 ha, nhiễm nặng 1 ha ở thành phố Hà Tĩnh; bọ trĩ gây hại trên chân ruộng khô hạn ở các huyện Đức Thọ, Lộc Hà, Thạch Hà, Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 17 ha; sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện trên trà lúa đang đẻ nhánh, mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-4 con/m2, sâu chủ yếu tuổi 4, 5; rầy nâu, rầy lưng trắng, mật độ trung bình 30-50 con/m2, nơi cao 100-200 con/m2, chủ yếu ở các huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ,…Đối với cây ngô thì bệnh khô vằn, đốm lá gây hại với tỷ lệ 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm là 12 ha ở huyện Đức Thọ, Hương Sơn. Bệnh khảm lá đối với cây sắn với tỷ lệ trung bình 10-15%, nơi cao 30-50%, diện tích bị bệnh 205 ha, trong đó 20 ha nhiễm nặng tập trung ở huyện Kỳ Anh. Trên cây ăn quả có múi ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang thì nhện đỏ gây hại với tỷ lệ trung bình 1-2%, nơi cao 3-5%, diện tích nhiễm bệnh 5,5 ha; rệp muội gây hại với tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 10-20%, diện tích 30 ha; bệnh vàng lá thối rễ phát sinh gây hại trên diện tích 1,5 ha. Trong giai đoạn các loại cây trồng bước vào thời kỳ sinh trưởng và phát triển thì các ngành chuyên môn cùng bà con nông dân cần phải đề cao công tác phòng, chống các loại dịch bệnh để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. - Chăn nuôi: Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2020 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Dịch tả lợn châu Phi đã có tác động rất lớn đến tổng đàn lợn của Hà Tĩnh. Chưa bao giờ chăn nuôi lợn lại phải chịu thiệt hại nặng nề như thời gian qua. Đặc biệt là chăn nuôi nông hộ, có đến hàng nghìn gia đình bị dịch “xóa” chuồng và dừng nuôi vô thời hạn. So với chăn nuôi nông hộ thì các trang trại lớn đã có những dấu hiệu tốt hơn. Sau thời gian thu hẹp sản xuất, bắt buộc giảm đàn để thực hiện các giải pháp phòng dịch thì các trang trại chăn nuôi lớn đã vượt qua ngưỡng khó khăn, bảo vệ an toàn đàn lợn nái để đảm bảo điều kiện tái đàn tại chỗ. Dù việc tái đàn vẫn cần phải căn ke, cẩn trọng nhưng sản xuất được phục hồi đó là điều tất yếu. Tín hiệu tích cực đối với hoạt động chăn nuôi trong thời gian qua đó là các hộ chăn nuôi đã đưa giống bò Belgan Blue Breed hay còn gọi là bò "3B" có nguồn gốc từ Bỉ, là giống bò thịt chuyên dụng, cơ bắp phát triển siêu trội hơn so với bò thường khoảng 40% vào nuôi và bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực. Phát triển chăn nuôi bò "3B" nhằm chuyển đổi cơ cấu vật nuôi là hướng đi thích hợp khi mà chăn nuôi lợn thiếu sự ổn định do dịch bệnh và giá cả. Cùng với sự duy trì phát triển ổn định của đàn gia cầm, những hướng đi mới trong chăn nuôi bò và việc phục hồi dần đàn lợn là cơ sở tạo bước phát triển đối với ngành chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: 6 tháng đầu năm 2020, dịch tả lợn Châu Phi đã làm cho 92 con lợn ốm chết và buộc tiêu hủy, với trọng lượng trên 5,7 tấn. Dịch bệnh xẩy ra tại 24 hộ nuôi, ở 12 xã thuộc 6 huyện: xã Cẩm Dương, Cẩm Thịnh, Yên Hòa, Cẩm Vịnh, Cẩm Duệ, Nam Phúc Thăng (huyện Cẩm Xuyên); xã Tùng Ảnh, Bùi La Nhân (huyện Đức Thọ); xã Phú Phong (huyện Hương Khê); Kỳ Phương (Thị xã Kỳ Anh); Nam Hồng (Thị xã Hồng Lĩnh) và Thạch Bình (Thành phố Hà Tĩnh). Đến nay, chỉ còn xã Yên Hòa (huyện Cẩm Xuyên) đang còn có lợn bị dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 30 ngày. Dịch lở mồm long móng cũng đã xẩy ra trên đàn gia súc tại 6 xã, phường thuộc 4 huyện, thị xã (Can Lộc, Hương Sơn, huyện Kỳ Anh và thị xã Hồng Lĩnh), làm cho 65 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 3 con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy. Tính đến thời điểm nay thì trên địa bàn tỉnh dịch lở mồm long móng đã qua 21 ngày. Các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác không xẩy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Từ 23/3/2020 đến 28/5/2020, có 11 con trâu, bò trên địa bàn xã Yên Hồ (huyện Đức Thọ) chết đột tử, chưa rõ nguyên nhân. Kết quả tiêm phòng đợt I năm 2020 cho đàn gia súc, gia cầm đạt được như sau: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 128.062 con, đạt 80% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 123.302 con, đạt 78% kế hoạch; dịch tả lợn 167.854 con, đạt 84% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 167.598 con, đạt 83,3% kế hoạch; tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1.103.821 con, đạt 38% kế hoạch và tiêm phòng cho chó đạt 107.438 con, đạt 68,2% kế hoạch. 6.2. Lâm nghiệp Hoạt động khai thác lâm sản chủ yêu là từ gỗ rừng trồng. Diện tích rừng sản xuất đến độ khai thác đã được thu hoạch để trồng mới lại rừng nên sản lượng gỗ khai thác tăng. Song song với việc khai thác thì các chủ rừng cũng đã tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2020 nên diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm 2020 ước tính tăng so với cùng kỳ năm trước. 6 tháng đầu năm 2020, cùng với trồng rừng sản xuất, Ban quản lý Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh cũng đã triển khai thực hiện Dự án trồng 51,1 ha rừng thay thế tại tại tiểu khu 9A (thuộc địa bàn thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân) do thiệt hại sau vụ hỏa hoạn tháng 6/2019. Còn đối với trồng cây phân tán thì do quỹ đất trồng cây của các địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng thu hẹp nên số lượng cây trồng phân tán đang có xu thế ngày càng giảm. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do thời tiết quá nắng nóng nên đầu tháng 6/2020 đã xẩy ra 2 vụ cháy rừng tại xã Đức Đồng (huyện Đức Thọ) và xã Hồng Lộc (huyện Lộc Hà), diện tích rừng bị thiệt hại không có khả năng phục hồi ước tính khoảng 1,5 ha. Thời gian tới, bước vào mùa năng nóng gay gắt nên nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn. Vì vậy, các cấp, các ngành và người dân cần nâng cao trách nhiệm và ý thức bảo vệ rừng để giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra. 6.3. Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản trong tháng 6 cũng như 6 tháng đầu năm 2020 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá so với cùng kỳ năm 2019. Những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa là yếu tố tích cực trong kết quả sản xuất thủy sản 6 tháng đầu năm 2020. Sản lượng hải sản khai thác biển chiếm đến 75,9% tổng sản lượng thủy hải sản 6 tháng đầu năm 2020. Sau thời gian thực hiện giản cách xã hội do dịch bệnh Covid-19, dịch vụ ăn uống hoạt động trở lại nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản tăng hơn so với những tháng trước là điều kiện thuận lợi để ngư dân tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao hơn. Với việc giá bán sản phẩm ổn định, trong khi giá nhiên liệu giảm nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác hải sản. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng vẫn tiếp tục được quan tâm thực hiện. Trong đó nuôi tôm vẫn được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. 6 tháng đầu năm 2020, diện tích nuôi tôm ước đạt 2.347 ha, bằng 95,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 85,3% kế hoạch năm, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chiếm đến 80% tổng diện tích nuôi tôm, diện tích tôm chủ yếu mới được xuống giống thả nuôi vụ Xuân Hè năm 2020. Tình hình dịch bệnh: Từ ngày 20/4/2020 đến nay đã xẩy ra bệnh đốm trắng trên tôm với diện tích nhiễm bệnh là 16,94 ha (Thị xã Kỳ Anh 8,31 ha; huyện Kỳ Anh 6,9 ha và huyện Cẩm Xuyên 1,73 ha). Các cơ quan chức năng đang phối hợp với các hộ nuôi trồng thủy sản tiến hành xử lý để tránh bùng phát và lây lan dịch bệnh. 7. Sản xuất công nghiệp Ước tính chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2020 bằng 93,86% (giảm 6,14%) so với tháng trước, trong đó: chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp khai khoáng tăng 6,56%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,87%; công nghiệp phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,84%; công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,04% so với tháng trước. Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong những tháng đầu năm 2020 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, biến động giá thép, phôi, thị trường xuất khẩu và việc phải tạm ngừng sản xuất để sửa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Mặc dù chỉ số sản xuất chung ngành công nghiệp (IIP) ước giảm 7,26% so với cùng kỳ năm trước nhưng tốc độ tăng GRDP ngành công nghiệp vẫn đạt 2% và đóng góp 0,7 điểm % trong mức tăng trưởng chung. Nguyên nhân do trong 4 ngành công nghiệp cấp I thì vẫn có 2 ngành đạt mức tăng khá (công nghiệp sản xuất phân phối điện và công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải), trong khi 2 ngành này lại có hệ số chi phí trung gian thấp (chiếm khoảng 20% và 40%) nên đóng góp làm tăng GRDP. Cùng với đó, chỉ số IIP được công bố chung cho ngành công nghiệp cấp I trong khi GRDP được tính từ các ngành công nghiệp cấp II nên có những quyền số và đóng góp riêng của các ngành cấp II. 8. Thương mại, dịch vụ Cũng như cả nước, Hà Tĩnh sau thời gian giãn cách xã hội vì dịch Covid-19, đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm phục hồi nền kinh tế như: miễn giảm thuế, giảm tiền điện, nước, ưu đãi lãi suất tín dụng đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh...cùng với việc các cơ sở, sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ trở lại hoạt động (kể cả vũ trường và karaoke) nên kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 6/2020 đạt mức tăng khá so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 6/2020 đạt mức tăng khá so với tháng trước (tăng 11,34%) và so với cùng kỳ năm trước (tăng 9,83%). Hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: ô tô các loại tăng 22,01%; hàng may mặc tăng 14,44%; xăng, dầu các loại tăng 12,67%; lương thực, thực phẩm tăng 11,34%. Tách riêng từng quý cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa quý I/2020 vẫn giữ được mức tăng khá (tăng 7,15%) so với cùng kỳ năm 2019; sang quý II/2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (mà chịu tác động mạnh nhất là tháng 4/2020) nên tổng mức bán lẻ hàng hóa quý II/2020 giảm 7,26% so với cùng kỳ năm 2019, so với quý I/2020 giảm 18,04%. Tuy chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 vào tháng 4, nhưng sang tháng 5 và 6, sau khi kiểm soát được dịch bệnh và bỏ lệnh giãn cách xã hội, thì tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt mức tăng khá. Do đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (tăng 0,14%) và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: ô tô các loại tăng 66,18%; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 39,92%; lương thực, thực phẩm tăng 16,25%. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2020 ước tính đạt mức tăng khá so với tháng trước (tăng 17,68%) và giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 28,28%). Quý I/2020, doanh thu lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành giảm 10,49%, sang quý II/2020 giảm mạnh hơn với mức giảm 46,91% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm 29,09% và giảm ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 6/2020 ước tính tăng mạnh so với tháng trước (tăng 22,78%) và giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 13,44%). Trong đó, quý I/2020 giảm 5,5%, sang quý II/2020 chịu tác động nặng nề của dịch covid-19 nên doanh thu dịch vụ khác giảm mạnh 34,65% so với cùng kỳ năm trước. Chung 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước giảm 19,98% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động vận tải: Ước tính vận tải hành khách tháng 6/2020 so với tháng trước tăng 12,82% về số lượng lượt khách vận chuyển và tăng 14,76% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 13,93%. Quý II, giảm 82,8% về số lượng khách vận chuyển và giảm 65,97% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 60,04% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa so với tháng trước cũng tăng, nhưng có mức tăng thấp hơn mức tăng vận tải hành khách (vận chuyển tăng 7,91%; luân chuyển tăng 9,56%); doanh thu tăng 8,5%. Quý II, giảm 59,32% về số lượng hàng hóa vận chuyển và giảm 37,22% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 43,24% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 14,47% so với tháng trước và giảm 11,26% so với cùng kỳ năm trước. Sau thời gian giãn cách xã hội do ảnh hưởng dịch Covid-19 các cửa khẩu đã mở cửa trở lại, hoạt động giao thương, xuất nhập khẩu hàng hoá với nước ngoài tăng khiến nhu cầu vận tải hành khách lẫn hàng hoá và hoạt động bến bãi, kho cảng, hậu cần tăng mạnh, đặc biệt là lượng phương tiện, hàng hóa ở các cảng Vũng Áng, Sơn Dương trong khu Kinh tế Vũng Áng tăng dần trở lại. Cùng với đó, hoạt động sản xuất kinh doanh đang trên đà phục hồi khiến nhu cầu vận chuyển nguyên liệu sản xuất, hàng hoá tiêu dùng tăng, tất cả yếu tố đó đã làm cho hoạt động vận tải tháng 6/2020 tăng mạnh so với tháng trước. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh nên kết quả hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm 2020 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Tình hình lao động và giải quyêt việc làm Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn. Tình hình việc làm và thu nhập cũng bị ảnh hưởng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm có chiều hướng tăng. Trong khoảng thời gian chịu sự tác động nặng nề của dịch Covid-19, trên địa bàn tỉnh đã có trên 26.000 lao động làm việc tại các doanh nghiệp, hợp tác xã phải nghỉ việc không hưởng lương và 45.600 lao động làm việc tự do không có giao kết hợp đồng ở lĩnh vực phi nông nghiệp bị mất việc làm. Ước tính 6 tháng đầu năm 2020, đã giải quyết việc làm cho 9.997 lao động, giảm 15,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh là 5.500 người, tăng 3,03%; xuất khẩu lao động là 3.077 người, giảm 19,62% và lao động đi làm việc ngoại tỉnh là 1.420 người, giảm 46,96%. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2020 ước tính là 710,42 nghìn người, chiếm 54,71% tổng dân số toàn tỉnh; số lao động đang làm việc là 689,14 nghìn người (chiếm 97% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 21,28 nghìn người (chiếm 3% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,9% (tăng 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2019). Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có 349,74 nghìn người, chiếm 50,75%; công nghiệp, xây dựng 165,05 nghìn người, chiểm 23,95% và dịch vụ 174,35 nghìn người, chiếm 25,3%. 9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Do ảnh hưởng của dịch bệnh đã làm cho đời sống dân cư 6 tháng đầu năm 2020 có phần giảm sút so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hiện bà con nông dân đã thu hoạch lúa Đông Xuân, ngư dân phấn khởi vươn khơi khi hải sản được mùa, được giá; ngoài ra, tính đến 15/6/2020 Hà Tĩnh đã thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ cho 171.557 đối tượng với kinh phí 196,68 tỷ đồng (đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo) và giải quyết chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 2.785 lao động với số tiền 38,74 tỷ đồng. Vì vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2020 trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. 6 tháng đầu năm 2020, đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 329.805 suất quà với tổng kinh phí 100,96 tỷ đồng, bao gồm 34,31 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ cho các đối tượng chính sách; 34,35 tỷ đồng hỗ trợ cho hộ nghèo và 32,33 tỷ đồng cho cứu trợ xã hội khác. Đồng thời, trao tặng 3 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách với tổng trị giá 16 triệu đồng; xây mới 138 nhà tình nghĩa trị giá 7,71 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã cấp 24.366 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 42.228 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 106.999 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 44.901 thẻ BHYT cho người có công. 9.3. Tình hình thiên tai 6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 3 đợt lốc xoáy kèm theo mưa lớn và sét đánh (đợt 1 vào ngày 11/5/2020; đợt 2 vào ngày 17/5/2020; đợt 3 vào ngày 13/6/2020). Lốc xoáy làm 8 người bị thương; 380 nhà ở (trong đó có 13 nhà bị thiệt hại trên 50%), 1 trường học và 1 nhà văn hóa bị tốc mái; 1 con bò bị chết; 53,2 ha lúa, 610,5 ha mạ lúa lai, 38,8 ha hoa màu, 3 ha cây lâu năm và 2 ha diện tích rừng bị đổ, gãy, hư hỏng. Ngoài ra một số cột điện, cây cối bị đổ gãy. Ước tính tổng thiệt hại 10,31 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 9.4. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Năm học 2019-2020, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã có 89/100 học sinh đạt giải (gồm 4 giải nhất, 19 giải nhì, 31 giải ba và 35 giải khuyến khích). Đặc biệt, có 8 em đạt thành tích xuất sắc nhất được gọi vào tham gia chọn đội dự tuyển dự thi quốc tế (môn Toán có 4 em, Vật lý có 2 em, Sinh học có 2 em). Hà Tĩnh xếp thứ nhất toàn quốc về tỷ lệ học sinh tham gia thi đạt giải và xếp thứ 2 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải (sau Hà Nội). Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên Hà Tĩnh đã quyết định cho toàn bộ học sinh nghỉ học bắt đầu từ 04/02/2020 đến 04/5/2020. Thực hiện Quyết định số 736/QĐ-BGDĐT ngày 13/3/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định lùi thời gian kết thúc năm học 2019-2020, cụ thể: học sinh kết thúc học kỳ I trước ngày 18/01/2020, dự kiến hoàn thành chương trình giáo dục học kỳ II trước ngày 11/7/2020 và kết thúc năm học trước ngày 15/7/2020. Việc xét công nhận hoàn thành chương trình tiểu học và xét công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở hoàn thành trước ngày 31/7/2020. Thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT vào các ngày 16 và 17/7/2020; hoàn thành tuyển sinh vào lớp 10 trước ngày 15/8/2020; đối với giáo dục thường xuyên, trước ngày 31/8/2020. Kỳ thi tốt nghiệp THPT sẽ diễn ra trong 2 ngày 9-10/8/2020, kết quả của kỳ thi được dựa trên việc phân tích kết quả thi và kết quả học tập bậc THPT của thí sinh. - Giáo dục đào tạo: Năm học 2019-2020, Hà Tĩnh có 1 trường đại học với 2.123 sinh viên, gồm 2.067 sinh viên hệ đại học và 56 sinh viên hệ cao đẳng. Bên cạnh đó, giáo dục nghề nghiệp cũng được chú trọng, chất lượng ngày càng nâng cao hơn. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm đến công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. 6 tháng đầu năm 2020, đã tổ chức dạy nghề cho 1.743 người, giảm 7,83% (giảm 148 người) so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: trình độ trung cấp nghề 106 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 1.637 người. 9.5. Hoạt động Y tế 6 tháng đầu năm 2020, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. - Tình hình dịch bệnh: Hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 ở nước ta cơ bản được kiểm soát, hơn 2 tháng Hà Tĩnh cũng như cả nước không ghi nhận ca mắc mới trong cộng đồng. Để chủ động phòng chống dịch bệnh Covid-19 song song với nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh đã hướng dẫn cho 13 Trung tâm Y tế/Trung tâm y tế dự phòng cấp huyện tăng cường công tác giám sát và phòng, chống dịch bệnh Covid-19 theo quy định của Bộ Y tế. Tính đến ngày 15/6/2020, ở Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, mà chỉ còn 367 trường hợp được cách ly tập trung tại khu ký túc xá Mitraco - thị xã Kỳ Anh. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Ngoài dịch bệnh Covid-19, 6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh có 4 trường hợp sốt xuất huyết, 208 trường hợp sốt rét, 163 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 158 trường hợp mắc lỵ a míp, 48 trường hợp mắc quai bị, 208 trường hợp mắc thủy đậu, 12 trường hợp mắc bệnh sởi và 10 trường hợp mắc bệnh do virut adeno. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Hiện nay, Hà Tĩnh đã khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư ở mức 0,14% (dưới 0,15% theo Nghị quyết) và đạt mục tiêu 3 giảm: "Giảm số người nhiễm mới HIV, giảm số người chuyển sang giai đoạn AIDS và giảm số người tử vong do AIDS”. Qua tổ chức điều tra, giám sát thì nhận thức, thái độ, hành vi của người dân về phòng, chống HIV/AIDS được nâng lên rõ rệt, trên 85% người dân trong độ tuổi từ 15 -49 hiểu biết các kiến thức cơ bản về HIV/AIDS; có 87% bệnh nhân được điều trị ARV. Đặc biệt, đến nay Hà Tĩnh đã hoàn thành mục tiêu 100% người nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm và được chi trả các dịch vụ chăm sóc, điều trị theo quy định của pháp luật. 6 tháng đầu năm 2020, Hà Tĩnh có 36 trường hợp nhiễm HIV, giảm 18,18%; có 29 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, giảm 34,09%; có 2 trường hợp chết vì AIDS, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. 6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 537 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 34,51% so với cùng kỳ năm 2019 và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 9.6. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt động du lịch, hướng dẫn du lịch trên địa bàn tỉnh phải đóng cửa, tạm ngừng hoạt động gần 2 tháng, nên hoạt động văn hóa 6 tháng đầu năm 2020 không sôi động và rất trầm lắng. Ngoài các hoạt động văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý”, Hà Tĩnh chủ yếu tập trung thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh, đặc biệt là tuyên truyền, xây dựng tin bài, phóng sự Đại hội Đảng; tổ chức treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... vào các ngày lễ lớn của đất nước. Hà Tĩnh đã công nhận di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh cho nhà thờ Trần Quỳ ở huyện Can Lộc, đền Đông Hải Đại Vương và nhà thờ Phan Thái ở huyện Nghi Xuân; tổ chức lễ tổng kết, trao thưởng vòng sơ khảo cuộc thi “Đại sứ văn hóa đọc” (gồm 1 giải đặc biệt, 26 giải nhất, 52 giải khuyến khích) và chọn 20 bài thi xuất sắc gửi tham dự vòng chung kết toàn quốc. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: 6 tháng đầu năm 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức 4 cuộc thanh, kiểm tra tại 75 cơ sở kinh doanh hoạt động văn hóa và du lịch. Qua kiểm tra đã lập biên bản nhắc nhở 30 cơ sở không đảm bảo các điều kiện kinh doanh theo quy định; xử phạt vi phạm hành chính 2 tổ chức, 4 cá nhân với số tiền 36 triệu đồng; tịch thu chờ tiêu hủy 5.000 tờ rơi, từ gấp quảng cáo các loại phát hành trái quy định. Ngoài ra, đã cấp 55 giấy phép, trong đó: có 15 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 1 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 38 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 1 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao. - Hoạt động thể thao: Đầu năm, trong không khí “ Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý năm 2020” tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao. Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch Covid-19, tỉnh đã chỉ đạo hạn chế tổ chức các hoạt động thể thao có quy mô lớn, chỉ tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực cho chính bản thân. Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên số lượng giải đấu thể thao thành tích cao giảm. Kết quả 6 tháng đầu năm 2020, giành được 14 huy chương các loại (gồm 10 HCV, 3 HCB và 1 HCĐ) ở các giải đấu trong nước. 9.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Tính từ ngày 15/5/2020 đến ngày 14/6/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người, bị thương 5 người. So với tháng trước tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, tăng 1 người chết và giảm 1 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ và tăng 3 người chết. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. Như vây, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/6/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 67 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 61 người và bị thương 25 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 3 người chết và giảm 11 người bị thương. 9.8. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 6/2020 xảy ra 11 vụ cháy (tăng 5 vụ so với cùng kỳ năm 2019), làm 1 người chết và 3 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 41 triệu đồng. Tính chung 6 tháng, xẩy ra 24 vụ cháy (trong đó có 2 vụ cháy rừng), làm 3 người chết và 3 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 4,28 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm 2019 giảm 18 vụ cháy và 5 vụ nổ, tăng 1 người chết và giảm 5 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 6/2020, đã phát hiện 5 vụ và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường (giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 12 triệu đồng. Tính chung 6 tháng, đã phát hiện 21 vụ và xử lý 20 vụ vi phạm môi trường (giảm 26 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền 108 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. 6. Đề xuất, giải pháp (1) Với kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế 6 tháng đầu năm như trên, để thực hiện đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2020 như Nghị quyết kỳ họp thứ 12 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra là khó khả thi, nhất là chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế GRDP. Vì vậy, cần phải xem xét lại mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế năm 2020 cho sát đúng hơn với tình hình thực tiễn. (2) Trên cơ sở rà soát lại các mục tiêu và chỉ tiêu như đã nêu trên, các cấp, các ngành và các địa phương điều chỉnh kế hoạch, triển khai thực hiện một cách cụ thể, sát đúng với tình hình thực tế của từng ngành, từng địa phương. (3) Các cấp, các ngành và các địa phương phải tập trung chủ động ứng phó và xử lý kịp thời trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19. Trong đó tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các nội dung trong văn bản số 2009/UBND-KT1 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19. Chú trong, quan tâm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phát triển sản xuất kinh doanh. (4) Thực hiện các giải pháp đồng bộ, quyết liệt triển khai thực hiện các dự án trọng điểm; hoàn thiện cơ chế, chính sách, thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư, đẩy nhanh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. (5) Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất vụ Hè Thu năm 2020; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu.Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. (6) Tổ chức thành công và đưa nghị quyết đại hội Đảng các cấp đi vào cuộc sống. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ. Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2020 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chậm so với cùng kỳ. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong 6 tháng cuối năm./.
Ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 đến hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải quý I tại Hà Tĩnh
- 23/07/2024 09:34
Quý I năm 2020, nền kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh nhiều khó khăn, hạn chế. Tình hình dịch bệnh covid-19 bùng phát ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống người dân. Các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng, bên cạnh đó, thời tiết không thuận lợi và các dịch bệnh có hại với hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra ở một số địa phương. Bài viết phân tích tình hình hoạt động ngành thương mại và dịch vụ tỉnh Hà Tĩnh trong Quý I vừa qua. Kết quả chủ yếu hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải Quý I/2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh như sau: (1) Doanh thu bán lẻ và bán buôn hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa Quý I đạt 10.703.490,8 triệu đồng, tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu vào nhóm hàng lương thực, thực phẩm và may mặc. Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 4.420.009,5 triệu đồng, tăng 14,91%; hàng may mặc đạt 633.511,6 triệu đồng, tăng 11,15%. Ngược lại, một số nhóm hàng như vật phẩm văn hóa giáo dục lại giảm 43,43%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 474.415,5 triệu đồng giảm 12,07%; phương tiện đi lại giảm 14,75%... Quý I năm 2020, dự tính đạt 10.727.970,7 triệu đồng, tăng 54,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lương thực, thực phẩm dự tính đạt 1.633.478,0 triệu đồng, tăng 119,63%; ước đạt 5.969,0 triệu đồng, tăng 1.164,62%; ước đạt 141.003,7 triệu đồng, tăng 143,18%; Vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 4.199,5 triệu đồng, tăng 152,63%; Gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 2.415.242,5 triệu đồng, tăng 71,75%; Phân bón và thuốc trừ sâu ước đạt 392.532,5 triệu đồng, giảm 3,19%; Phương tiện đi lại ước đạt 32.419,5 triệu đồng, giảm 48,05%%; Xăng dầu các loại ước đạt 1.778.330,1 triệu đồng, tăng 238,93%; Nhiên liệu khác ước đạt 1.168.006,8 triệu đồng, tăng 19.536,64%; Hàng hóa khác ước đạt 3.156.789,1 triệu đồng, tăng 123,99% so với cùng kỳ năm trước. (2) Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành Quý I/2020, hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 1.062.198,6 triệu đồng, giảm 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú dự tính đạt 67.806,6 triệu đồng, giảm 12,13%; lượt khách phục vụ 360.691 lượt khách, giảm 18,536%; Ngày khách 313.107 ngày khách, giảm 12,06% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống dự tính đạt 989.990,5 triệu đồng, giảm 16,91% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 4.401,5 triệu đồng, giảm 28,88%. Lượt khách theo tour 3.819 lượt khách, ngày khách du lịch theo tour 9.147 ngày giảm 24,05% so với cùng kỳ năm trước.Hình 1: Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành quý I/2020 so với cùng kỳ năm trước (3) Doanh thu hoạt động dịch vụ khác Doanh thu dịch vụ trong Quý I đạt 401.387 triệu đồng, giảm 1,56% so với Quý I/2019, trong đó, nhóm ngành hàng giáo dục và đào tạo giảm mạnh nhất (giảm 21,34%); tiếp đến là nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 7,86%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 2,23%; hành chính và doanh thu dịch vụ hỗ trợ giảm 1,82%; dịch vụ khác giảm 1,387%. Ngược lại, nhóm ngành hàng y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng mạnh nhất (tăng 7,41%), tiếp đến là dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 4,59%.Hình 2: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác so với cùng kỳ năm trước Phân tích ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 đến sự thay đổi kết quả kinh doanh bán lẻ hàng hóa Quý I:Đầu tiên, Nghị định 100/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt của Chính phủ có hiệu lực từ kể từ ngày 01/01/2020 khiến các ngành kinh doanh thương mại và dịch vụ, lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành gặp rất nhiều khó khăn, việc cấm sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, vi phạm hành chính về nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông có hiệu lực, dịch vụ ăn uống nhà hàng vắng vẻ lượt khách, doanh thu hoạt động này giảm mạnh. Tiếp đến ảnh hưởng dịch Covid -19 bùng phát mạnh và diễn biễn phức tạp làm cho ngành thương mại và dịch vụ lại tiếp tục khó khăn hơn. Thực hiện Chỉ thị 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội, ứng phó với dịch CoVid-19, ngày 15/3/2020, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có Văn bản số 1463 /UBND-VX1 của UBND tỉnh Hà Tĩnh: Tiếp tục quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc, yêu cầu đóng cửa, tạm ngừng mọi hoạt động vui chơi, giải trí, dịch vụ tại các cơ sở kinh doanh masage, karaoke, quan bar, vũ trường và các nhà hàng, khác sạn có kinh doanh các loại hình dịch vụ trên tập trung đông người; các hoạt động du lịch, hướng dẫn du lịch; dừng tất cả các lễ hội, kể cả lễ hội tại các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn… tập trung thực hiện các biện pháp phòng chống Covid-19.Hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, ở trong nước, dịch bệnh tái bùng phát trở lại từ ngày 06/3 với số lượng bệnh nhân lớn. Tâm lý phòng dịch của người dân hạn chế đi lại, đến nơi đông người khiến hoạt động giao dịch, mua bán, trao đổi thương mại gặp nhiều khó khăn. Ngành vận tải hành khách, hàng hóa tạm ngừng hoạt động dài ngày một số nhà xe phục vụ hành khách từ ngày 16/3/2020, đến ngày 01/4/2020 tiếp theo tạm dừng dịch vụ vận tải xe bus. Tình hình giao thương hàng hoá trong nước và xuất nhập khẩu ra nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn. Dịch vụ hỗ trợ vận tải đường biển ảnh hưởng tình hình sản xuất các doanh nghiệp dừng hoạt động do dịch bệnh khiến các công ty vận tải phải điều chỉnh hoạt động.Ngoài ra, chịu tác động rõ rệt của dịch bệnh Covid 19 là tình hình giao thương với các đối tác nước ngoài, nhất là thị trường Trung Quốc, Đài Loan gặp khó khăn. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tỉnh giảm ảnh hưởng đến các hoạt động cung ứng hàng hoá cho các đại lý bán buôn và bán lẻ. Quý I là quý trùng thời điểm lễ tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của người dân tăng mạnh, mức tăng trưởng tập trung chủ yếu vào dịp trước, trong và sau tết. Thu nhập người dân tăng, mức tiêu dùng nhìn chung tăng hơn so với những năm trước. Tuy nhiên, mặt bằng chung giá cả cao hơn so với cùng kỳ (bình quân 2 tháng đầu năm tăng tới 5,91%) cũng tác động đến một bộ phận người dân có thu nhập thấp. Hàng hóa được cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát, chống gian lận thương mại, hàng giả, kiểm soát chặt chẽ. Các mặt hàng như: Gạo nếp, bánh kẹo, bia rượu, thực phẩm tươi, thực phẩm chế biến…, sẽ là những mặt hàng có doanh số bán ra lớn nhất. Cùng với việc chuẩn bị nguồn hàng hóa, các huyện, thành phố, thị xã luôn quan tâm việc tổ chức tốt hệ thống phân phối để đưa hàng Tết đến tay người tiêu dùng, đặc biệt là hàng hóa bình ổn giá thông qua việc hỗ trợ chi phí vận chuyển hàng hóa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tổ chức các điểm bán hàng Tết, các Trung tâm Thương mại, Hội chợ, phiên chợ Tết, kết hợp chương trình bình ổn thị trường với các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn. Bên cạnh đó, các ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân và doanh nghiệp. Tóm lại, Quý I năm 2020 là quý rơi vào dịp Tết Nguyên đán Canh Tý. Thị trường cung cầu hàng hóa trước, trong và sau Tết Nguyên đán trên địa bàn tỉnh không biến động mạnh về giá cả, nhất là các mặt hàng thiết yếu, ngay từ đầu năm tỉnh đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp bình ổn giá cả thị trường. Công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý trong việc sản xuất, kinh doanh hàng hóa cũng như thực phẩm làm giả, kém chất lượng, Ban Chỉ đạo Liên ngành của tỉnh đã tổ chức thực hiện đến cấp xã phường nhằm đảm bảo ổn định thị trường giá cả hàng hoá, không có tăng giá đột biến, cũng như tình trạng găm hàng hóa, chống gian lận trong thương mại. So với các năm trước 2018-2019, sau tết rất nhiều khó khăn ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 đã làm cho nền kinh tế cả nước nói chung, của tỉnh nói riêng nhằm ứng phó với những diễn biến mới của dịch Covid-19 các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị địa phương từ tỉnh đến cơ sở phải xây dựng các kịch bản ứng phó với dịch Covid-19, quán triệt đến tận phường, xã, thôn, xóm, tổ dân phố về trách nhiệm của mọi người dân trong phòng, chống dịch; nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để mọi người dân tự giác thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch theo đúng quy định./. Uông Thị Hoàn -Trưởng phòng – Cục Thống kê Hà Tĩnh
Tình hình kinh tế -xã hội tháng 5 và 5 tháng năm 2020
- 22/07/2024 17:32
Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 5 năm 2020 trong điều kiện vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Dịch bệnh Covid-19 đã tác động tiêu cực tới hoạt động của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân, nhất là hoạt động xuất nhập khẩu…nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất. Cùng với đó, thời tiết diễn biến phức tạp, bất thường vào thời điểm cuối vụ Đông Xuân đã ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng cây trồng. Hiện nay, đang tiếp tục thực hiện kế hoạch phòng, chống dịch bệnh theo mức độ nguy cơ thấp, nhưng tuyệt đối không chủ quan, lơ là; đồng thời thực hiện tốt mục tiêu vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, tập trung đẩy mạnh sản suất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa đồng thời tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 5 năm 2020 đã có dấu hiệu phục hồi hơn so với tháng trước, kết quả chủ yếu như sau: 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 5/2020 chủ yếu tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông Xuân 2019-2020 và chuẩn bị các điều kiện để gieo cấy lúa vụ Hè Thu 2020. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực vụ Đông Xuân năm nay như lúa, ngô, lạc, khoai lang đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có diện tích rau tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm chủ yếu do một số địa phương có quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở, đất làm đường cao tốc, đường vượt lũ nên thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu giống được chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng sử dụng giống ngắn ngày, năng suất, chất lượng để né tránh thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Vụ Xuân năm nay chủ yếu sử dụng các giống lúa chất lượng cao như: nếp 97, BQ, BT7 và giống thái xuyên 111,…Một số huyện đã triển khai thành công hàng trăm hecta cánh đồng lớn, cánh đồng 1 giống, đồng thời cơ cấu các loại giống mới chất lượng cao như: ADI 168, Hương thơm Kinh Bắc, VTNA6, Đài Thơm 8,…với năng suất bình quân ước đạt trên 60 tạ/ha. Bên cạnh đó, một số huyện cơ cấu giống lúa chưa tập trung, còn giàn trải nhiều loại giống, những giống lúa truyền thống như Khang dân 18, Khang dân đột biến, VTNA2, TH3-3, RVT, HT1, DT68,… Vụ Đông Xuân 2019-2020 diễn ra trong điều kiện thời tiết đầu vụ tương đối thuận lợi cho các loại cây trồng sinh trưởng, phát triển, đặc biệt là cây lúa. Tuy nhiên, vào những thời điểm trổ bông và thu hoạch thì liên tục bị ảnh hưởng bởi điều kiện bất thường của thời tiết gây mưa, rét, giông lốc làm cho lúa trổ không phơi mau được và lúa chắc xanh bị gãy đỗ. Cùng với đó, theo số liệu thống kê bước đầu vụ Xuân 2020 toàn tỉnh có 737,1 ha lúa bị nhiễm rầy lá và 31,4 ha bị nhiễm đạo ôn cổ bông đã gây ảnh hưởng giảm năng suất và sản lượng. Một số huyện có năng suất lúa theo đánh giá ban đầu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Thị xã Kỳ Anh giảm 3,94 tạ/ha; huyện Cẩm Xuyên giảm 3,06 tạ/ha; huyện Thạch Hà giảm 1,65 tạ/ha; huyện Kỳ Anh giảm 1,33 tạ/ha;…Bên cạnh đó, một số huyện vẫn có năng suất lúa tăng như: huyện Can Lộc tăng 3,33 tạ/ha; Thị xã Hồng Lĩnh tăng 3,16 tạ/ha;…Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên đã làm cho sản lượng lúa ước tính giảm 3.107 tấn. Cùng với cây lúa, năng suất các laoij cây trồng khác như khoai lang, lạc, rau cũng giảm so với cùng kỳ mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là do yếu tố thời tiết. Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực khác vụ Đông Xuân như đã phản ánh ở phần trên. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Vụ Đông Xuân năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng và đã ảnh hưởng đến năng suất. Đối với cây lúa đã có 31,4 ha nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông (nhiễm nặng 5,5 ha) trên giống P6, TBR225, KDĐB, BTE1, BT09, tỷ lệ trung bình 1-2%, nơi cao 3-5, cục bộ 15-20%, phân bố trên địa bàn toàn tỉnh; có 737,1 ha nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng (nhiễm nặng là 74,1 ha), tập trung ở huyện Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh; bệnh khô vằn phát sinh gây hại hầu hết các địa phương trong tỉnh với tỷ lệ trung bình 3-10%, nơi cao 25-30%, diện tích nhiểm bệnh là 46 ha; bệnh bạc lá gây hại trên giống Bắc thơm 7, BTe1, Ht1 ở Lộc Hà, Can Lộc, Thành phố Hà Tĩnh với tỷ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh là 21 ha và có 45 ha bị chuột phá hại xẩy ra trên địa bàn toàn tỉnh. Trên cây ngô bệnh khô vằn, đốm lá gây hại với tỷ lệ 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm bệnh 17 ha ở huyện Đức Thọ và huyện Hương Sơn. Bệnh khảm lá trên cây sắn với tỷ lệ trung bình 10-15%, nơi cao 30-50%, diện tích nhiễm bệnh là 205 ha (20 ha nhiễm nặng) tập trung ở huyện Kỳ Anh. Bọ xít xanh, sâu đục quả, rệp muội, bệnh vàng lá thối rễ...cũng đã xuất hiện gây hại trên cây ăn quả có múi ở huyện Hương Khê và huyện Vũ Quang. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 5/2020 vẫn tiếp tục gặp khó khăn, số lượng đàn gia súc giảm hơn so với cùng kỳ năm trước, nhưng đã có sự phụ hồi tăng nhẹ so với tháng trước (đàn bò tăng 0,85%, đàn lợn tăng 1,25% và đàn gia cầm tăng 21,4%). Hiện nay, việc tái đàn lợn đang đượctập trung chỉ đạo theo hướng an toàn, bền vững, chủ yếu tái đàn tại các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn, cơ sở chăn nuôi lợn nái chủ động được nguồn con giống và cơ sở không bị bệnh dịch tả lợn châu Phi, đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi. Còn việc tái đàn lợn trong các hộ chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn, do đàn lợn nái trong các nông hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã bị thiệt hại bởi dịch tả lợn Châu Phi nên nguồn lợn giống giảm mạnh, chi phí con giống cao. Trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì chăn nuôi gia cầm vẫn duy trì mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước và đang đưa đến những hiệu quả kinh tế tích cực cho người dân. Khi dịch bệnh ít xẩy ra và giá cả đầu ra tương đối ổn định thì phát triển chăn nuôi gia cầm đang là giải pháp thích hợp trong giai đoạn hiện nay đối với ngành chăn nuôi ở Hà Tĩnh mà các địa phương cần quan tâm. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng 5/2020, dịch tả lợn Châu Phi tái nhiễm tại xã Cẩm Vĩnh và xã Nam Phúc Thăng ở huyện Cẩm Xuyên, hiện có 02 con lợn nái bị nhiễm bệnh. Tình hình dịch bệnh đối với đàn vật nuôi đang được các ngành chuyên môn, các địa phương và các hộ chăn nuôi theo dõi chặt chẽ và tiến hành các biện pháp phòng, chống dịch bệnh nhằm không để dịch bệnh bùng phát trở lại. 1.2. Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn trong tháng qua nhìn chung ổn định không có nhiều biến động so với tháng trước. Tháng 5/2020, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp bên cạnh việc khai thác, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng thì người dân vẫn tiến hành trồng cây lâm nghiệp. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 5 năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 5 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại là 0,82 ha (huyện Hương Sơn xẩy ra 2 vụ với diện tích 0,32 ha và huyện Cẩm Xuyên 3 vụ với diện tích 0,5 ha). Từ đầu năm đến nay chưa xẩy ra cháy rừng, nhưng hiện nay đang là mùa nắng nóng, khô hạn rất dễ xẩy ra cháy rừng nên người dân khi vào rừng cần phải nêu cao ý thức để tránh gây thiệt hại về rừng. 1.3. Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 5/2020 nhìn chung vẫn duy trì ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa là yếu tố tích cực trong kết quả sản xuất thủy sản 5 tháng đầu năm 2020. Tính chung 5 tháng đầu năm 2020, sản lượng hải sản khai thác biển ước đạt 13.482 tấn, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 67,6% tổng sản lượng thủy hải sản. Sau thời gian thực hiện giản cách xã hội do dịch bệnh Covid-19, dịch vụ ăn uống hoạt động trở lại nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản tăng hơn so với những tháng trước là điều kiện thuận lợi để ngư dân tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao hơn. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng vẫn tiếp tục được quan tâm thực hiện. Trong đó nuôi tôm vẫn được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Tính chung 5 tháng đầu năm 2020, diện tích nuôi tôm ước đạt 2.344 ha, bằng 95% so với cùng kỳ năm trước và bằng 85,2% kế hoạch năm, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chiếm đến 80% tổng diện tích nuôi tôm, diện tích tôm chủ yếu mới được xuống giống thả nuôi vụ Xuân Hè năm 2020. Tình hình dịch bệnh: Từ ngày 20/4/2020 đến nay đã xẩy ra bệnh đốm trắng trên tôm với diện tích nhiễm bệnh là 16,94 ha (Thị xã Kỳ Anh 8,31 ha; huyện Kỳ Anh 6,9 ha và huyện Cẩm Xuyên 1,73 ha). Các cơ quan chức năng đang phối hợp với các hộ nuôi trồng thủy sản tiến hành xử lý để tránh bùng phát và lây lan dịch bệnh. 2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư 2.1. Sản xuất công nghiệp Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 5/2020 ước tính tăng so với tháng trước và tăng đều ở cả 4 ngành công nghiệp cấp I. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất tháng 5 ước tính tăng mạnh so với tháng trước như: sản xuất trang phục tăng 159,79%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 112,92%; hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 90,57%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 48,65%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 38,48%; chế biến thực phẩm tăng 36,71%. Tháng 5 hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh thuận lợi hơn do đã kết thúc thời gian giản cách toàn xã hội, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên toàn quốc cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, tính chung 5 tháng đầu năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp phải giảm sản xuất do không tiêu thụ được sản phẩm, đặc biệt là Dự án Formosa những tháng qua vì giá nguyên liệu vẫn tăng cao, giá thép thành phẩm thấp và nhiều ngày phải ngừng sửa chữa lớn dây chuyền cán nóng, đã làm cho chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp 5 tháng tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 7,97%). Trong mức biến động chung, ngành khai khoáng giảm 4,1%, làm giảm 0,03 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 15,97%, làm giảm 12,88 điểm phần trăm (là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất); sản xuất và phân phối điện tăng 29,11%, đóng góp 4,68 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 10,85%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2020 tăng 3,66% so với tháng trước, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng giảm 6,79% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 5/2020, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp thuộc khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn ổn định; riêng khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước, sau khi bỏ giãn cách xã hội, các doanh nghiệp bắt đầu hoạt động trở lại đã tạo việc làm cho nhiều lao động, nên lao động ở khu vực này đạt mức tăng khá so với tháng trước (tăng 14,22%). 2.1. Vốn đầu tư Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2020 ước tính tăng so với tháng trước (tăng 25,1%). Tính chung 5 tháng, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý vẫn tăng khá so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 19,58% và tăng ở cả ba cấp ngân sách tỉnh, huyện, xã. Do các công trình xây dựng đã trở lại thi công ổn định sau thời gian giản cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg; đồng thời, UBND tỉnh cũng có quyết định hỗ trợ kinh phí xử lý nợ xây dựng cơ bản và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn, nên các dự án chuyển tiếp từ năm 2019 được đẩy mạnh thi công, các công trình năm 2020 đẩy nhanh thủ tục hồ sơ, triển khai thi công theo đúng kế hoạch; làm cho công tác giải ngân vốn tháng 5/2020 tăng khá cao so tháng trước. 3. Thương mại, dịch vụ Hiện nay, cũng như cả nước Hà Tĩnh đã qua những ngày khó khăn nhất của dịch Covid-19 và bước sang giai đoạn mới phòng, chống dịch bệnh đồng thời với khôi phục, phát triển nền kinh tế. Thực hiện Chỉ thị 19/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và công văn số 2927/UBND-VX1 của UBND tỉnh, các cơ sở, sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ được trở lại hoạt động bình thường (trừ vũ trường và karaoke); các phương tiện giao thông công cộng cũng được dỡ bỏ giản cách và giới hạn về số lượng hành khách dẫn tới nhu cầu tiêu dùng nhiên liệu tăng; các cơ sở giáo dục hoạt động trở lại nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, vật tư văn phòng cũng tăng mạnh; đây chính là những nguyên nhân làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 5 năm 2020 tăng mạnh so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 5/2020 tăng mạnh so với tháng trước (tăng 43,35%) và giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 3,91%). Hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 413,06%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 182,54%; hàng may mặc tăng 179,84%; sữa chữa ô tô, mô tô xe máy và xe động cơ khác tăng 114,87%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 108,09%. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (chịu tác động mạnh nhất là vào tháng 4/2020), nên tính chung 5 tháng đầu năm 2020 tổng mức bán lẻ hàng hóa vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số nhóm ngành hàng giảm mạnh như: vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 50,77%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) giảm 30,78%; hàng hóa khác giảm 29,4%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 28,51%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) giảm 25,55%... - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 5/2020 ước tính tăng mạnh so với tháng trước (tăng 188,07%) và giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 63,97%). Tính chung 5 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm 43,58% và giảm ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 5/2020 ước tính tăng mạnh so với tháng trước (tăng 59,31%) và giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 43,29%). Tính chung 5 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước giảm 24,38% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động vận tải: Sang tháng 5/2020 cũng như các cơ sở, sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ, ngành vận tải cũng đã hoạt động trở lại bình thường, đặc biệt là vận tải hành khách. Do thời tiết nắng nóng ngay từ đầu hè, cùng với tháng trùng dịp lễ 30/4 và 01/5 nên lượng khách tham gia phương tiện công cộng tăng mạnh; ngoài ra, do hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi làm cho nhu cầu vận chuyển nguyên liệu sản xuất, hàng hoá tiêu dùng, hàng hoá xuất nhập khẩu cũng tăng đã làm cho hoạt động vận tải tháng 5/2020 tăng mạnh so với tháng trước. Tuy nhiên, ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên 5 tháng đầu năm 2020, hoạt động vận tải vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tháng 5/2020, ước tính vận tải hành khách so với tháng trước tăng 212,95% về số lượng lượt khách vận chuyển và tăng 243,63% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 221,63%. Tính chung 5 tháng, vận tải hành khách so với cùng kỳ năm trước giảm 47,88% về số lượng lượt khách vận chuyển và giảm 41,29% về luân chuyển; doanh thu giảm 37,3%. Vận tải hàng hóa so với tháng trước cũng tăng mạnh, nhưng có mức tăng thấp hơn mức tăng vận tải hành khách (vận chuyển tăng 49,77%; luân chuyển tăng 47,17%); doanh thu tăng 49,19%. Tính chung 5 tháng, vận tải hàng hóa so với cùng kỳ năm trước giảm 32,69% về khối lượng vận chuyển và giảm 23,83% về khối lượng luân chuyển; doanh thu giảm 24,89%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 10,31% so với tháng trước và giảm 15,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 22,5% so với cùng kỳ năm trước. 4. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá CPI tháng 5 năm 2020 tăng 0,27% so tháng trước, giảm 1,03% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,73% so cùng tháng năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,65% và khu vực nông thôn tăng 0,01%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính so với tháng trước thì có: 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống; đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giày dép; thiết bị và đồ dùng gia đình; giáo dục; văn hóa, giải trí và du lịch); 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm (Nhà ở và vật liệu xây dựng; giao thông; đồ dùng và dịch vụ khác); còn lại 2 nhóm hàng hóa và dịch vụ không thay đổi so với tháng trước. CPI tháng 5 năm 2020 tăng so với tháng trước, do các nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Việc bãi bỏ cách ly toàn xã hội trên địa bàn tỉnh từ ngày 23/4/2020 khiến nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh được hoạt động trở lại. Các loại hàng hoá, dịch vụ được cung cấp đầy đủ cho người dân, thúc đẩy cung - cầu tiêu dùng hàng hoá, giao thương trên thị trường; (2) Do thời tiết nắng nóng kéo dài nên nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng điện tử điện lạnh, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, đồ uống, điện và nước tăng; (3) Đầu vụ thu hoạch lúa Đông Xuân nên giá thóc và giá gạo vẫn đang tăng; đồng thời, giá lợn hơi vẫn còn tăng mạnh khiến giá các loại mặt hàng thịt lợn và chế biến từ thịt tăng . Chỉ số giá vàng tháng 5/2020 tăng 2,58% so với tháng trước, tăng 13,7% so với tháng 12 năm trước và tăng 29,17% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng ngày 21/5/2020 tại địa bàn thành phố Hà Tĩnh ở mức 4.820 ngàn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2020 giảm 0,81% so với tháng trước, tăng 0,83% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,28% so cùng tháng năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/5/2020 mức giá bán ra 2.333 ngàn đồng/100 USD. CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2020 tăng 4,35% so với bình quân cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, điều đó thể hiện nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ đang có sự biến động lớn. Trong đó, một số nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá biến động lớn tác động đến chỉ số chung là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,28% (trong đó hàng thực phẩm tăng 11,25%, ăn uống ngoài gia đình tăng 4,37%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,41%; may mặc, mũ nón và dày dép tăng 5,01% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số CPI tháng 6/2020 dự kiến tiếp tục tăng. Sau khi bỏ lệnh cách ly xã hội, cùng với thời tiết nắng nóng nên nhu cầu đi biển của người dân sẽ tăng, dẫn đến giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tăng; đồng thời, giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh do thời tiết nắng nóng kéo dài. Một số mặt hàng khác dự kiến có thể tăng giá gồm hàng điện lạnh, văn phòng phẩm và xăng dầu. 5. Một số vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Hà Tĩnh đã đi qua những ngày khó khăn nhất của dịch Covid-19. Dù vẫn còn nhiều khó khăn ở phía trước, nhưng nhờ công tác an sinh xã hội được đảm bảo tốt trong và sau “bão dịch”; các cấp, ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo; đồng thời, hiện bà con nông dân đang thu hoạch lúa Đông Xuân, ngư dân phấn khởi vươn khơi khi hải sản được mùa, được giá; ngoài ra, Hà Tĩnh đã và đang thực hiện trao trả tiền hỗ trợ cho người dân theo Nghị quyết 42 của Chính phủ. Vì vậy, tính đến ngày 15/5/2020 trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. 5.2. Tình hình thiên tai Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 2 đợt lốc xoáy kèm theo mưa lớn và sét đánh (đợt 1 vào ngày 11/5/2020; đợt 2 vào ngày 17/5/2020). Lốc xoáy làm 8 người bị thương; 335 nhà ở bị tốc mái (trong đó có 13 nhà bị thiệt hại trên 50%); 1 trường học và 1 nhà văn hóa bị tốc mái; 1 con bò bị chết; 53,2 ha lúa, 610,5 ha mạ lúa lai, 38,8 ha hoa màu, 3 ha cây lâu năm và 2 ha diện tích rừng bị đổ, gãy, hư hỏng. Ngoài ra một số cột điện, cây keo tràm, cao su, cây ăn quả, cây bóng mát bị đổ gãy; số lượng tàu thuyền bị chìm, hư hỏng đang được thống kê. Ước tính tổng thiệt hại 9,5 tỷ đồng. Sau khi xảy ra lốc xoáy và mưa lớn, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 5.3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Cũng như cả nước, hiện nay Hà Tĩnh đang bước sang giai đoạn mới phòng, chống dịch bệnh đồng thời với khôi phục, phát triển nền kinh tế. Thời gian này, Hà Tĩnh đã ban hành công văn số 2927 /UBND-VX1 ngày 8/5/2020 về việc hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới với các nội dung như đưa các hoạt động lao động, sản xuất, làm việc, học tập và đời sống xã hội trở về tình trạng bình thường trong điều kiện mới; tập trung ưu tiên mọi nguồn lực, biện pháp, giải pháp phục hồi kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, đồng thời đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19; kiểm soát chặt chẽ các ca bệnh đã âm tính ở trên địa bàn và người bị bệnh đã điều trị khỏi từ ngoài tỉnh về (đề phòng trường hợp dương tính trở lại) gây nguy cơ lây lan dịch bệnh; thắt chặt người đi từ nước ngoài về nhằm ngăn chặn nguồn bệnh xâm nhập và tuyệt đối không để người nhập cảnh vào Hà Tĩnh lây lan dịch bệnh ra cộng đồng; tiếp tục thực hiện các biện pháp bắt buộc đeo khẩu trang tại nơi công cộng, trên phương tiện giao thông công cộng, ngoài phạm vi công sở, trường học; riêng đối với các cơ sở dịch vụ như nhà hàng, quán ăn thì yêu cầu sát khuẩn tay. Tính đến ngày 17/5/2020, ở Hà Tĩnh cả 4 trường hợp dương tính với dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 đã khỏi bệnh và được ra viện. Ngoài ra, Hà Tĩnh hiện đang cách ly tập trung 704 trường hợp và theo dõi sức khỏe tại nhà, nơi lưu trú 191 trường hợp. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 18 trường hợp sốt rét, 2 trường hợp quai bị, 14 trường hợp mắc thủy đậu, 17 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 26 trường hợp mắc lỵ a míp. Tính chung 5 tháng, toàn tỉnh có 176 trường hợp sốt rét, 42 trường hợp quai bị, 195 trường hợp mắc thủy đậu, 140 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 138 trường hợp mắc lỵ a míp, 12 trường hợp sởi và 10 trường hợp mắc bệnh do virut adeno. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng bằng nhiều hình thức như qua phương tiện thông tin đại chúng: truyền thanh, truyền hình,báo...Trong tháng, Hà Tĩnh có 5 người nhiễm HIV (tăng 2 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019), 7 người chuyển thành AIDS (tăng 3 trường hợp) và có 2 người chết vì AIDS (tăng 2 trường hợp). Tính chung 5 tháng, có 26 người nhiễm HIV, 23 người chuyển thành AIDS và có 2 người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân. Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 81 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 46% so với cùng kỳ năm 2019. Không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. Tính chung 5 tháng, có 452 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 34,01% so với cùng kỳ. 5.4. Hoạt động văn hoá, thể thao Thực hiện văn bản số 2927/UBND-VX1 của UBND tỉnh, các cơ sở hoạt động dịch vụ được trở lại hoạt động bình thường (trừ vũ trường và karaoke); các hoạt động văn hóa tập trung đông người được phép hoạt động nhưng người tham gia phải tuân thủ quy định phòng chống dịch, các cá nhân, đơn vị đứng ra tổ chức phải đảm bảo bố trí đầy đủ các điều kiện phòng, chống dịch bệnh theo quy định; tuy vậy hoạt động văn hóa, thể thao trong tháng vẫn còn rất trầm lắng, chưa sôi động trở lại. Trong tháng chủ yếu tập trung chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu...chào mừng 45 năm ngày giải phóng miền nam thống nhất đất nước và 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với hoạt động thể thao, sau thời gian tạm dừng vì dịch Covid-19, sáng 17/5, tại thành phố Hà Tĩnh, với hơn 100 người dân, vận động viên và những người yêu thích bộ môn chạy bộ cùng tham gia chạy, nhằm lan tỏa lối sống lành mạnh, tích cực tới cộng đồng. Về công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa vẫn được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc. Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cấp 6 giấy phép, trong đó: 5 giấy phép thuộc lĩnh vực VHCS; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch. 5.5. Tai nạn giao thông Tính từ ngày 15/4/2020 đến ngày 14/5/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người và 6 người bị thương. So với tháng trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết và tăng 6 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước không thay đổi số vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 2 người chết và giảm 2 người bị thương. Như vậy, tính từ 15/12/2019 đến 14/5/2020, Hà Tĩnh xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 51 người và bị thương 20 người. So cùng kỳ năm 2019 tăng 1 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 1 người chết và giảm 11 người bị thương. 5.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 5/2020 xảy ra 2 vụ cháy (ở thành phố Hà Tĩnh và huyện Hương Khê), gồm 1 vụ cháy nhà dân và 1 vụ cháy cơ sở sản xuất kinh doanh, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 500 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 4 vụ cháy và 1 vụ nổ. Tính chung 5 tháng, xẩy ra 13 vụ cháy, làm 2 người chết, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 4,24 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm 2019 giảm 22 vụ cháy và 5 vụ nổ, số người chết không thay đổi và giảm 8 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 5/2020, đã phát hiện và xử lý 9 vụ vi phạm môi trường (giảm 6 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 44 triệu đồng. Tính chung 5 tháng, đã phát hiện và xử lý 16 vụ vi phạm môi trường (giảm 25 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền 96 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình kinh tế -xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2020
- 22/07/2024 16:37
Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 4 năm 2020 trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, thách thức từ dịch bệnh Covid-19. Dịch bệnh đã ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội trên địa bàn, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, các hoạt động xã hội trầm lắng, cuộc sống sinh hoạt của người dân bị đảo lộn...Đặt lên trên tất cả, trong thời gian qua cả hệ thống chính trị Hà Tĩnh đã cùng với cả nước thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về tổ chức phòng, chống dịch bệnh Covid-19 với tinh thần "chống dịch như chống giặc". Cùng với phòng, chống dịch bệnh là thực hiện tích cực, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nhằm giữ vững ổn định chính trị, duy trì kinh tế và đảm bảo đời sống dân sinh. Mặc dù cả hệ thống chính trị đã vào cuộc tích cực nhưng do tính chất phức tạp của dịch bệnh Covid-19 nên tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn bị ảnh hưởng khá lớn, kết quả chủ yếu như sau: 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân. Vụ Xuân 2020 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho các loại cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là cây lúa. Tính đến ngày 21/4/2020, đã có khoảng 12.010 ha lúa trổ bông tập trung tại các huyện Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Lộc Hà, thị xã Hồng Lĩnh,...Dự kiến từ nay đến 15/5 khoảng có khoảng 30.000 ha lúa trổ trên địa bàn toàn tỉnh và số diện tích còn lại sẽ trỗ sau 15/5. Thời gian này khi lúa đang vào kỳ trổ bông đại trà, nhưng thời tiết diễn biến bất thường với những đợt giông lốc rất dễ làm lúa gãy đỗ, cùng với việc phát sinh sâu bệnh sẽ là những nguy cơ lớn đe dọa đến năng suất. Cùng với cây lúa thì các loại cây trồng vụ Xuân khác cũng đang được chăm sóc và đang sinh trưởng, phát triển tốt. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Hiện nay trên cây lúa đã phát hiện bệnh đạo ôn cổ bông gây hại, diện tích nhiểm bệnh khoảng 4,7 ha ở thị xã Hồng Lĩnh 2,7 ha, huyện Nghi Xuân 1,1 ha, huyện Lộc Hà 0,6 ha và huyện Thạch Hà 0,3 ha, trong đó có 1,25 ha nhiễm nặng. Một số loại sâu bệnh cũng đã phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng mức độ không đáng kể. Hiện nay cây lúa đang thời kỳ trổ bông, các loại dịch bệnh luôn tiềm ẩn nên trong thời gian này các ngành chức năng cần phải tập trung chỉ đạo bà con nông dân tích cực thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện và phòng trừ sâu bệnh phát sinh gây hại, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 4/2020 vẫn khó khăn, chưa có gì khởi sắc. Nhìn chung số lượng đàn đại gia súc ổn định, đàn gia cầm tăng nhẹ, không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm trước. Riêng đối với hoạt động chăn nuôi lợn thì mặc dù dịch bệnh đã cơ bản được khống chế, giá thịt hơi tăng cao, nhưng do đàn lợn nái trong các nông hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã bị thiệt hại bởi dịch tả lợn Châu Phi nên nguồn lợn giống giảm mạnh, chi phí con giống cao nên việc tái đàn lợn trong các hộ chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn. So với chăn nuôi nông hộ thì các trang trại lớn đang có những dấu hiệu tích cực. Sau thời gian thu hẹp sản xuất, bắt buộc giảm đàn để thực hiện các giải pháp phòng dịch thì các trang trại chăn nuôi lớn đã vượt qua ngưỡng khó khăn, bảo vệ an toàn đàn lợn nái đảm bảo điều kiện tái đàn tại chỗ. Cùng với đó, giá lợn hơi đang ở mức cao cũng là động lực để các chủ trang trại quyết định tái đàn. Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, sự thiếu ổn định của thị trường tiêu thụ thì việc tái đàn cũng cần phải căn ke, cẩn trọng để tránh thiệt hại đến mức thấp nhất đối với người chăn nuôi, tạo cơ sở tiếp tục phát triển ngành chăn nuôi trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 20/4/2020, toàn tỉnh còn 3 xã ở huyện Cẩm Xuyên (xã Yên Hòa, xã Cẩm Vĩnh và xã Cẩm Duệ) có lợn ốm chết, buộc phải tiêu hủy do bệnh DTLCP chưa qua 30 ngày. Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2020, bệnh DTLCP đã xẩy ra trên địa bàn 11 xã thuộc 6 huyện: xã Cẩm Dương, xã Cẩm Thịnh, xã Yên Hòa, xã Cẩm Vĩnh và xã Cẩm Duệ (huyện Cẩm Xuyên); xã Tùng Ảnh, xã Bùi La Nhân (huyện Đức Thọ); xã Phú Phong (huyện Hương Khê); phường Kỳ Phương (thị xã Kỳ Anh); phường Nam Hồng (thị xã Hồng Lĩnh) và xã Thạch Bình (thành phố Hà Tĩnh), làm cho 80 con lợn ốm chết và buộc tiêu hủy với trọng lượng trên 4,2 tấn. Như vậy, đã có 8/11 xã có dịch đã qua 30 ngày kể từ ngày tiêu hủy lợn mắc bệnh, chết và không phát sinh ca bệnh mới. Dịch lở mồm long móng đã xẩy ra tại các xã Phú Lộc, xã Khánh Vĩnh Yên (huyện Can Lộc), Sơn Kim 2 (huyện Hương Sơn), Lâm Hợp (huyện Kỳ Anh), phường Nam Hồng (thị xã Hồng Lĩnh) làm cho 64 con gia súc mắc bệnh (6 trâu, 53 bò, 4 lợn), đến thời điểm hiện nay các ổ dịch lở mồm long móng trên địa bàn các xã đã qua 21 ngày kể từ con gia súc mắc bệnh, tiêu hủy cuối cùng. Các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi. Mặc dù hiện nay không phát sinh dịch bệnh nhưng nguy cơ xẩy ra dịch bệnh đối với đàn vật nuôi và gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất cao và luôn tiềm ẩn xẩy ra. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi. Hiện nay, các địa phương đã triển khai tiêm phòng đợt I năm 2020 cho đàn gia súc, gia cầm với kết quả đạt được như sau: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 6.769 con, đạt 5% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 6.439 con, đạt 4% kế hoạch; dịch tả lợn 34.199 con, đạt 30% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 32.099 con, đạt 28% kế hoạch; tiêm phòng dịch cúm gia cầm 722.741 con, đạt 24,8% kế hoạch. Một số địa phương đã tiêm phòng vắc xin đạt kết quả cao so với kế hoạch như: thành phố Hà Tĩnh đạt 90%, huyện Can Lộc đạt 70,3%...Bên cạnh đó thì một số địa phương đạt kết quả còn thấp như: huyện Vũ Quang đạt 1%, huyện Kỳ Anh đạt 3%, huyện Hương Khê đạt 4,8%... 1.2. Lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp trong tháng 4/2020 chủ yếu là tập trung vào công tác trồng và chăm sóc rừng. Do trong tháng điều kiện thời tiết mát mẽ, nhiệt độ thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng. Cùng với đó, một số diện tích rừng sản xuất đã đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng gỗ khai thác tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp đạt được chủ yếu tập trung ở các địa phương như: huyện Hương Sơn, huyện Vũ Quang, huyện Hương Khê, huyện Thạch Hà, huyện Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 20/4/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. Tuy nhiên, hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 4/2020 vẫn tiếp tục được duy trì ổn định và có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Trong khi sản lượng nuôi trồng giảm do sản phẩm chưa đến kỳ thu hoạch thì những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa. Cùng với đó, thay vì chọn cách ở lại nhà để tránh dịch bệnh Covid-19 thì ngư dân ra khơi đánh bắt dài ngày để kiếm thêm thu nhập và xem đây như là một biện pháp “cách ly xã hội” an toàn và giá nhiên liệu giảm sâu cũng là điều kiện thuận lợi để ngư dân vươn khơi bám biển nên đã làm cho sản lượng khai thác tăng hơn so với cùng kỳ. Trong tháng 4/2020, các hộ nuôi trồng đã tập trung xuống giống thả nuôi vụ tôm Xuân Hè năm 2020. Nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Vì vậy, năm 2020 đã xây dựng kế hoạch với tổng diện tích tôm thả nuôi toàn tỉnh là 2.750 ha, trong đó: tôm sú 400 ha và tôm thẻ chân trắng 2.350 ha. Diện tích nuôi tôm trong tháng 4/2020 ước đạt 786 ha, bằng 68,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tôm thẻ chân trắng là 606 ha, chiếm 77,1% tổng diện tích nuôi tôm và tôm sú là 180 ha, chiếm 22,9% tổng diện tích tôm. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, diện tích tôm thả nuôi ước đạt 1.058,8 ha, bằng 38,5% kế hoạch năm và bằng 72,5% so với cùng kỳ năm trước. Dịch bệnh đốm trắng đã phát sinh gây hại trên tôm. Tính đến ngày 21/4/2020, đang còn 9,8 ha diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng thuộc huyện Kỳ Anh và Thị xã Kỳ Anh chưa qua 15 ngày. Do thời tiết bất thường, vùng nuôi ô nhiễm là nguyên nhân chính gây nên bệnh đốm trắng trên tôm. Khi ao nuôi xuất hiện dịch bệnh này thì người nuôi cần có phương án xử lý thích hợp để tiêu diệt mầm bệnh, tránh lây lan vì bệnh này thường có tốc độ lây lan rất nhanh và mức độ gây hại rất lớn. 2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư 2.1. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nên chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 4/2020 ước tính giảm mạnh so với tháng trước và giảm ở tất cả 4 ngành công nghiệp cấp I. Trong đó tác động lớn là từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà cụ thể là do ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất thép của Công ty Formosa. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 4 tháng ước tính giảm mạnh so với tháng trước như: khai thác đá, cát, sỏi giảm 17,9%; dệt giảm 22,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 22,4%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 20,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 18,2%; sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) giảm 18,1%... Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 3,08%), trong nhiều năm trở lại đây thì đây là năm mà lũy kế 4 tháng đầu năm có chỉ số phát triển công nghiệp giảm so với cùng kỳ. Trong mức biến động chung, ngành khai khoáng giảm 4,28%, làm giảm 0,03 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 11,5%, làm giảm 9,33 điểm phần trăm (là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất); sản xuất và phân phối điện tăng 35%, đóng góp 5,57 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 33,06%, đóng góp 0,72 điểm phần trăm. Trong thời gian tới hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn còn gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cả thị trường trong nước cũng như quốc tế đều giảm, đơn hàng thiếu tính ổn định, hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn; lượng sản phẩm tồn kho tăng nên các doanh nghiệp phải điều chỉnh cắt giảm sản lượng sản xuất; bản thân doanh nghiệp cũng như đối tác gặp khó khăn về tài chính...sẽ là những khó khăn đối với hoạt động sản xuất công nghiệp. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2020 giảm 0,5% so với tháng trước, giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020 giảm 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 4 năm 2020, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp thuộc khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ổn định, chỉ có khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 2,3% so với tháng trước. Như vậy, mặc dù bị ảnh hưởng và gặp khó khăn bởi dịch Covid-19 nhưng các doanh nghiệp hoạt động công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn cố gắng để duy trì số lượng lao động ổn định, đây là tín hiệu tích cực và cũng là cơ sở để tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất khi qua dịch bệnh. 2.1. Vốn đầu tư Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2020 ước giảm so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tăng khá so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 17,98%, tăng ở cả ba cấp ngân sách tỉnh, huyện, xã. Thời gian tới, mặc dù vẫn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nhưng với việc điều chỉnh cơ chế giản cách xã hội, cùng với việc nguồn vốn đã được phân bổ kịp thời và các dự án đã hoàn tất các thủ tục đầu tư thì sẽ có nhiều công trình mới khởi công nên vốn đầu tư thực hiện dự kiến cũng sẽ tăng hơn. 3. Thương mại, dịch vụ Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, với việc thực hiện nghiêm Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và công văn số 2431/UBND-VX1 của UBND tỉnh, các hoạt động vui chơi, giải trí, dịch vụ tạm dừng kinh doanh; các cơ sở giáo dục tạm nghỉ nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, vật tư văn phòng giảm mạnh; hoạt động vận tải hành khách giảm mạnh dẫn tới nhu cầu tiêu dùng nhiên liệu giảm; thực hiện việc giãn cách xã hội, tâm lý người tiêu dùng hạn chế mua sắm nơi đông người do sợ dịch bệnh lây lan làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng giảm mạnh là những nguyên nhân chính làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 4 năm 2020 giảm mạnh so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: ước tính tháng 4/2020 giảm mạnh so với tháng trước (giảm 28,5%) cũng như cùng kỳ năm trước (giảm 31,2%). Trong đó một số nhóm ngành hàng giảm mạnh so với tháng trước như: hàng may mặc giảm 84,5%; phương tiện đi lại giảm 59,9%; vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 58,2%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy giảm 52,7%, hàng hóa khác giảm 48,2%...Do kết quả sản xuất kinh doanh tháng 4 giảm mạnh nên tính chung 4 tháng đầu năm 2020 tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số nhóm ngành hàng giảm mạnh như: vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 50,8%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 30,9%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) giảm 24,9%; hàng may mặc giảm 18,8%; hàng hóa khác giảm 18,4%... - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 4/2020 ước tính giảm mạnh so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước (tương ứng mức giảm 76,2% và 87,2%). Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính cũng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm 38,3% và giảm ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 4/2020 ước tính cũng giảm mạnh so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước (tương ứng giảm 55,4% và 64%). Tính chung 4 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước giảm 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian qua các ngành dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn từ dịch bệnh Covid-19 do phải giãn cách xã hội và một số dịch vụ buộc phải dừng hoạt động. Thời gian tới, các ngành này vẫn còn tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi tình hình dịch bệnh. - Hoạt động vận tải: hoạt động vận tải, kho bãi tháng 4/2020 cũng gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19. Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của tỉnh, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hoạt động vận tải hành khách phải tạm ngừng hoạt động từ kể ngày 01-22/4/2020, đã làm cho vận tải hành khách giảm mạnh. Cùng với đó, các công trình xây dựng lớn và nhiều cơ sở kinh doanh thương mại cũng tạm dừng hoạt động nên nhu cầu vận chuyển hàng hoá giảm. Dịch bệnh covid-19 cũng khiến cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa bị ảnh hưởng, dẫn đến doanh thu các dịch vụ cầu cảng, kho bãi, logistics đạt thấp. Tháng 4/2020, ước tính vận tải hành khách so với tháng trước giảm 82% về số lượng lượt khách vận chuyển và giảm 85,9% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 85,3%. Tính chung 4 tháng, vận tải hành khách so với cùng kỳ năm trước giảm 39% về số lượng lượt khách vận chuyển và giảm 37,8% về luân chuyển; doanh thu giảm 34,5%. Vận tải hàng hóa so với tháng trước cũng giảm mạnh, nhưng có mức giảm thấp hơn mức giảm vận tải hành khách (vận chuyển giảm 55,9%; luân chuyển giảm 50,7%); doanh thu giảm 85,3%. Tính chung 4 tháng, vận tải hàng hóa so với cùng kỳ năm trước giảm 28% về khối lượng vận chuyển và giảm 25,1% về khối lượng luân chuyển; doanh thu giảm 23,9%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 12,6% so với tháng trước và giảm 25,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 27,5% so với cùng kỳ năm trước. 4. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá CPI tháng 4 năm 2020 giảm 1,42% so tháng trước, giảm 1,3% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,71% so cùng tháng năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị giảm 1,38% và khu vực nông thôn giảm 1,45%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính so với tháng trước thì có: 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng (hàng ăn và dịch vụ ăn uống; thiết bị và đồ dùng gia đình; may mặc, mũ nón, giày dép); 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm (đồ uống và thuốc lá; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông); còn lại 5 nhóm hàng hóa và dịch vụ không thay đổi so với tháng trước. CPI tháng 4 năm 2020 giảm so với tháng trước là do các nguyên nhân chủ yếu: (1) Do giá xăng, dầu, gas trên thị trường thế giới giảm mạnh nên trong nước cũng đã thực hiện hai kỳ điều chỉnh giảm giá bán xăng dầu (ngày 29/3 và 13/4/2020); (2) Các cơ sở kinh doanh ăn uống ngừng hoạt động đã làm giảm nhu cầu sử dụng nguyên liệu chế biến thực phẩm, đồ uống bia rượu, nước ngọt các loại nên giá các mặt hàng này có xu hướng giảm; (3) Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của tỉnh nên nhiều nhóm ngành kinh doanh, dịch vụ tạm thời ngừng cung ứng đã làm cho chỉ số giá những nhóm này không biến động. Chỉ số giá vàng tháng 4/2020 tăng 1,48% so với tháng trước, tăng 10,85% so với tháng 12 năm trước và tăng 24,76% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng ngày 23/4/2020 tại địa bàn thành phố Hà Tĩnh ở mức 4.650 ngàn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2020 tăng 0,49% so với tháng trước, tăng 1,65% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,54% so cùng tháng năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 23/4/2020 mức giá bán ra 2.357 ngàn đồng/100USD. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2020 tăng 4,76% so với bình quân cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, điều đó thể hiện nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ đang có sự biến động lớn. Trong đó, một số nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá biến động lớn tác động đến chỉ số chung là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 7,56% (trong đó hàng thực phẩm tăng 10,62%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,8%); đồ uống và thuốc lá tăng 3,2%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 5,27%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 8,32%; giao thông giảm 3,54% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính làm cho CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2020 tăng mạnh với cùng kỳ năm trước đó là: (1) Ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi làm cho nguồn cung thịt lợn giảm mạnh nên giá thịt lợn tăng cao; (2) Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, đã tác động đến hoạt động thông thương với Trung Quốc, làm cho việc nhập khẩu hàng hóa giảm; (3) Giá gas, giá điện sinh hoạt và giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng đều tăng so với cùng kỳ năm trước; (3) Giá dịch vụ y tế dành cho đối tượng không sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được điều chỉnh theo nghị quyết 176/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh. Theo đó, giá các dịch vụ được điều chỉnh tăng hoặc giảm tuỳ loại về mức ngang với giá dành cho đối tượng có sử dụng bảo hiểm y tế. Chỉ số CPI tháng 5/2020 dự kiến tiếp tục tăng. Mặc dù đang bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nhưng việc cho phép hoạt động trở lại các ngành hàng dịch vụ sẽ tác động đến cung cầu và giá cả hàng hóa dịch vụ, nhất là đối với dịch vụ ăn uống; lưu trú và dịch vụ lữ hành; điện và nước sinh hoạt... 5. Một số vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, các hoạt động sản xuất kinh doanh ngừng trệ và giảm sút, dẫn đến nhiều người lao động bị mất việc làm, giảm thu nhập và gặp khó khăn về kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay các loại cây trồng vụ Xuân đã cho sản phẩm, cùng với việc thực hiện chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH theo phương án gộp một lần tiền chế độ của tháng 4 và tháng 5/2020 nên tính đến ngày 15/4/2020 trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. Thực hiện Nghị quyết 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19, Hà Tĩnh dự kiến có 275.000 người thuộc 7 nhóm đối tượng được xem xét, giải quyết các chính sách hỗ trợ với tổng kinh phí dự kiến là 468 tỷ đồng. Đây sẽ là giải pháp tích cực để hỗ trợ người dân vượt qua những khó khăn bởi ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhằm ổn định hơn cuộc sống sinh hoạt và sản xuất. 5.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Trước tình hình dịch bệnh COVID-19 đang bùng phát, có nhiều diễn biến mới và phức tạp. Để giảm thiểu tối đa lây lan, sẵn sàng chủ động ngăn chặn, ứng phó với dịch bệnh trên diện rộng, bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của Nhân dân theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nằm trong nhóm có nguy cơ cao về diễn biến tình hình dịch Covid-19, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có quyết định 2431/UBND-VX1 tiếp tục kéo dài thời gian thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đến hết ngày 22/4/2020. Theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp chiều ngày 22/4/2020, Hà Tĩnh đã chuyển sang nhóm “nguy cơ thấp” về lây lan dịch bệnh. Theo đó, Ban chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 tỉnh Hà Tĩnh đã yêu cầu cấp ủy, chính quyền địa phương, các cấp, ngành chỉ đạo thực hiện nghiêm túc kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp chiều ngày 22/4/2020 đối với nhóm “nguy cơ thấp”, cơ bản dừng cách ly xã hội từ 0h ngày 23/4/2020 cho đến khi có thông báo tiếp theo; chủ động xây dựng các giải pháp “sống chung với dịch” và có kiểm soát, chủ động thích ứng với diễn biến của dịch; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hỗ trợ nguồn lực, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, dồn sức cao độ cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tính đến ngày 20/4/2020, Hà Tĩnh có 4 trường hợp dương tính với dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19. Đã có 3 trường hợp đã khỏi bệnh và được ra viện, sau khi ra viện tiếp tục cách ly tại nhà theo dõi thêm 14 ngày và chỉ còn 1 bệnh nhân đang được cách ly, theo dõi điều trị tại bệnh viện. Ngoài ra, Hà Tĩnh hiện đang cách ly 69 trường hợp tại bệnh viện, cách ly tập trung 281 trường hợp và theo dõi sức khỏe tại nhà, nơi lưu trú 3.803 trường hợp. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 87 trường hợp sốt rét, 21 trường hợp quai bị, 97 trường hợp mắc thủy đậu, 71 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 66 trường hợp mắc lỵ a míp, 6 trường hợp sởi và 10 trường hợp mắc bệnh do virut adeno. Tính chung 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh có 158 trường hợp sốt rét, 40 trường hợp quai bị, 181 trường hợp mắc thủy đậu, 123 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 112 trường hợp mắc lỵ a míp, 12 trường hợp sởi và 10 trường hợp mắc bệnh do virut adeno Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng bằng nhiều hình thức như qua phương tiện thông tin đại chúng: truyền thanh, truyền hình,báo...Trong tháng, Hà Tĩnh có 6 người nhiễm HIV (giảm 2 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019), 4 người chuyển thành AIDS (giảm 6 trường hợp) và không có người chết vì AIDS (giảm 1 trường hợp). Tính chung 4 tháng, có 21 người nhiễm HIV, 16 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân. Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 85 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 32,53% so với cùng kỳ năm 2019. Không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. Tính chung 4 tháng, có 371 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 30,65% so với cùng kỳ. 5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Do tình hình dịch bệnh Covid-19 đang tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với việc thực hiện nghiêm Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 2431/UBND-VX1 của UBND tỉnh, nhiều hoạt động văn hóa, lễ hội, các hoạt động du lịch, cũng như các hoạt động tụ tập đông người đều tạm dừng không tổ chức để bảo vệ tốt sức khỏe, tính mạng của nhân dân theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Các hoạt động thể thao có quy mô lớn cũng tạm dừng tổ chức, mà chỉ tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực cho chính bản thân, gia đình và cộng đồng. Về công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa vẫn được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc. Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cấp 20 giấy phép, trong đó: 01giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 13 giấy phép thuộc lĩnh vực VHCS; 06 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch. 5.4. Tai nạn giao thông Tính từ ngày 15/3/2020 đến ngày 14/4/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người. So với tháng trước giảm 2 vụ, số người chết không thay đổi và giảm 2 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ, giảm 2 người chết, giảm 1 người bị thương. Như vậy, tính từ 15/12/2019 đến 15/4/2020, Hà Tĩnh xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 42 người và bị thương 14 người. So cùng kỳ năm 2019 tăng 1 vụ, giảm 1 người chết và giảm 9 người bị thương. 5.5. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 4/2020 xảy ra 3 vụ cháy (ở thành phố Hà Tĩnh, huyện Hương Sơn và Cẩm Xuyên), làm 2 người chết, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 140 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ cháy và 2 vụ nổ, tăng 1 người chết và giảm 1 người bị thương. Tính chung 4 tháng, xẩy ra 11 vụ cháy, làm 2 người chết, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 3,74 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2019 giảm 11 vụ cháy và 4 vụ nổ, số người chết không thay đổi và giảm 8 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 4/2020, đã phát hiện và xử lý 2 vụ vi phạm môi trường (không thay đổi về số vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 9 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm đã phát hiện và xử lý 7 vụ vi phạm môi trường (giảm 19 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền 52 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2020
- 22/07/2024 15:38
Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh những tháng đầu năm 2020 trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức: tình hình dịch bệnh do Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực tới kinh tế toàn cầu và Việt Nam, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người dân; diễn biến thời tiết, dịch bệnh đối với các loại cây trồng và vật nuôi luôn tiềm ẩn rủi ro; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn hạn chế; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Nhưng với sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả của các cấp, các ngành, các địa phương, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân nên mặc dù không có bước phát triển đột phá nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội quý I/2020 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn ổn định với những kết quả chủ yếu như sau: 1. Tài chính, ngân hàng - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2020 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 nên nhiều hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn bị đình trệ, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn đã ảnh đến nguồn thu ngân sách. Trong tình hình hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2020 sẽ còn nhiều khó khăn thách thức. Trong thu cân đối ngân sách thì thu nội địa chiếm 41,9%. Bên cạnh kết quả thu nội địa đạt khá (đạt 33%) thì thu hải quan còn đạt thấp so với dự toán năm 2020. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách Trung ương chiếm 45,6% tổng thu ngân sách Nhà nước. Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 34,5% tổng chi, tăng 6,8% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 32,8% tổng chi, tăng 13,7% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới chiếm 32,1% tổng chi, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2019. - Hoạt động ngân hàng: Trong qúy I năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của Ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng năm 2020. Nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Một số ngân hàng trên địa bàn đã triển khai các chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng, khuyến mãi đầu xuân hấp dẫn đã thu hút khách hàng gửi tiền tiết kiệm, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân. Dư nợ trung và dài hạn đạt 21.488 tỷ đồng, chiếm 41,4% tổng dư nợ. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,2-0,8% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,1-7%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 6,6-7,5%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên từ 5-6%/năm. Lãi suất cho vay thông thường từ 5-9% đối với khoản vay ngắn hạn, từ 9-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch Covid-19. Theo rà soát, đánh giá của các TCTD thì trên địa bàn tỉnh hiện có 44 khách hàng bị ảnh hưởng (27 doanh nghiệp, 1 HTX và 16 hộ tư nhân, cá thể). Tính đến thời điểm 29/02/2020, tổng dư nợ của 44 khách hàng này là 609.779 triệu đồng. Trong đó, dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là 7.626 triệu đồng, dư nợ được giảm lãi vay là 34.009 triệu đồng với số tiền lãi đã được giảm là 14 triệu đồng. Doanh số cho vay mới từ 23/01/2020 đến 29/02/2020 là 1.655 triệu đồng. Bên cạnh kết quả đạt được thì việc thực hiện xử lý nợ xấu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do: (1) Chưa có các giải pháp thực sự có hiệu quả để giúp các TCTD xử lý nợ xấu của các tàu cá; (2) Chưa có quy định về chuyển đổi nghề đối với một số chủ tàu có nguyện vọng; (3) Một số chủ tàu không thiện chí trả nợ, khai báo doanh thu không thành thật, cố tình chây ì. 2. Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2020 giảm 0,68% so tháng trước, tăng 4,54% so cùng tháng năm trước và tăng 0,12% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước thì khu vực thành thị giảm 0,64% và khu vực nông thôn giảm 0,72%. Chỉ số chung CPI tháng 3/2020 nhìn chung biến động không lớn so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 2 nhóm là: thuốc và dịch vụ y tế và nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá không thay đổi so với tháng trước. Có 5 nhóm hàng hoá có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,96%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,14%; giao thông giảm 5,12%; giáo dục giảm 0,02; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,73%. Còn lại 4 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,16%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,14%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,09%. Như vậy, sự biến động lớn của nhóm giao thông và nhóm văn hóa, giải trí, du lịch đã tác động đến chỉ số giá chung. Nguyên nhân là do: tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhu cầu đi lại của người dân giảm mạnh. Cùng với đó, đã thực hiện việc đóng cửa, tạm ngừng mọi hoạt động vui chơi, giải trí, dịch vụ tại các cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh, những yếu tố đó tác động đến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ làm thay đổi giá cả. Tính trong vòng 5 năm trở lại đây, với mức tăng 5,45% so với cùng kỳ năm trước thì chỉ số CPI bình quân quý I năm 2020 tăng ở mức cao nhất, điều đó thể hiện nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ đang có sự biến động lớn. Trong đó, một số nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá biến động lớn tác động đến chỉ số chung là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 7,21% (trong đó hàng thực phẩm tăng 10,23%, ăn uống ngoài gia đình tăng 4%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 5,5%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 9,25% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính làm cho CPI quý I/2020 tăng mạnh với cùng kỳ năm trước đó là: (1) Ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi làm cho nguồn cung thịt lợn giảm mạnh nên giá thịt lợn tăng cao; (2) Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, đã tác động đến hoạt động thông thương với Trung Quốc, làm cho việc nhập khẩu hàng hóa giảm; (3) Giá gas, giá điện sinh hoạt và giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng đều tăng so với cùng kỳ năm trước; (3) Giá dịch vụ y tế dành cho đối tượng không sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được điều chỉnh theo nghị quyết 176/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh. Theo đó, giá các dịch vụ được điều chỉnh tăng hoặc giảm tuỳ loại về mức ngang với giá dành cho đối tượng có sử dụng bảo hiểm y tế. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 4/2020 dự kiến giảm nhẹ so với tháng trước. Giá lương thực, thực phẩm dự kiến ổn định khi rau màu vụ Xuân cho sản phẩm thu hoạch; giá xăng dầu đang có xu thế giảm; các dịch vụ giải trí, du lịch, ăn uống dự kiến giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. 3. Đầu tư và xây dựng 3.1. Đầu tư phát triển Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I hàng năm giai đoạn 2015-2020 liên tục giảm mạnh qua các năm, quý I năm 2020 ước tính đạt thấp nhất trong giai đoạn này, chỉ bằng 23,4% so với quý I năm 2015. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (quý I năm 2015 chiếm 86,1% tổng vốn đầu tư, nhưng nay chỉ chiếm 9,4% tổng vốn đầu tư) nhưng nay nguồn vốn khu vực này giảm mạnh vì các dự án lớn đã hoàn thành; vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước dù đã được đẩy mạnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhưng tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước vẫn đạt mức thấp. Năm 2020 là năm cuối thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 nên việc thực hiện và giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cần phải được quan tâm thực hiện một cách quyết liệt và đồng bộ. Trong quý I năm 2020 chủ yếu thi công các dự án chuyển tiếp từ năm 2019, các dự án lớn khởi công mới đang hoàn thiện hồ sơ và chờ giao vốn để triển khai thực hiện trong thời gian tới. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên một số dự án xây dựng, bảo dưỡng nhà máy sử dụng nhà thầu nước ngoài đang tạm ngừng thi công do máy móc, thiết bị và nhân công chủ yếu nhập ngoại nên cũng đã ảnh hưởng đến kết quả thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn trong những tháng đầu năm. Với những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 thì việc triển khai thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn sẽ gặp khó khăn và ảnh hưởng đến kết quả thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trong thời gian tới. 3.2. Xây dựng Trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý I năm 2020 thì vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm 91,7%. Nhưng do nguồn vốn đầu tư phát triển quý I năm 2020 giảm nên giá trị sản xuất của ngành xây dựng giảm 21,2% so với quý trước và giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động xây dựng trong qúy I năm 2020 chủ yếu là các công trình nhà để ở (chiếm 40,8%) và các công trình kỹ thuật dân dụng (chiếm 40,8%). Hiện nay trên địa bàn các công trình dự án trọng điểm vẫn đang được triển khai thực hiện đảm bảo tiến độ như: Dự án công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; cầu Cửa Hội vượt sông Lam nối hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh; dự án nhà máy gỗ MDF Thanh Thành Đạt; dự án nhà máy gỗ An Việt Phát; dự án khu bến Phonix (bến số 5 và số 6) cảng Vũng Áng...Cùng với những khó khăn chung của nền kinh tế bởi ảnh hưởng dịch bệnh bệnh Covid-19, thì việc các doanh nghiệp xây dựng của Hà Tĩnh chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế về nguồn vốn, khó khăn trong việc tiếp cận, nhận thầu các công trình lớn, đang là rào cản đối với hoạt động xây dựng. 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến 17/3/2020, toàn tỉnh thành lập mới 152 doanh nghiệp, bằng 83% so cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký đạt 1.258,5 tỷ đồng, bằng 49% so cùng kỳ năm trước, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 8,3 tỷ đồng, bằng 59% so cùng kỳ năm trước. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. 3 tháng đầu năm 2020 đã giải quyết được 1.116 việc làm cho lao động mới, bằng 85% so cùng kỳ. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 654 lao động, chiếm 58% trong tổng số, quy mô bình quân 5,5 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 453 lao động, chiếm 40% trong tổng số, quy mô 14,6 lao động/doanh nghiệp. Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động tính từ đầu năm đến 17/3/2020 là 17 doanh nghiệp, bằng 42% và số tạm ngừng là 127 doanh nghiệp, tăng 11% so cùng kỳ năm trước. Những năm qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới luôn tăng so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng tăng khá cao. Tuy nhiên, những tháng đầu năm 2020 có sự khác biệt, các chỉ tiêu đều giảm mạnh, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 17% so cùng kỳ; số vốn đăng ký chỉ bằng 49%, vốn bình quân/doanh nghiệp thấp, điều đó chứng tỏ quy mô doanh nghiệp đang có xu hướng giảm. Số doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất phải làm thủ tục tạm ngừng hoạt động tăng 11%. Ngoài các yếu tố khó khăn nội tại của doanh nghiệp như khó khăn về tài chính, thiếu lao động, thiếu mặt bằng sản xuất,..thì những tháng đầu năm ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19 đã tác động rất lớn hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải, du lịch, lưu trú và xuất khẩu hàng hóa. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Trước những khó khăn mà doanh nghiệp đang gặp phải trong những tháng đầu năm, qua tổng hợp kết quả điều tra trên địa bàn tỉnh. Các doanh nghiệp dự báo về xu sản xuất kinh doanh, biến động về số lượng đơn đặt hàng, xu hướng về tồn kho thành phẩm, nguyên vật liệu, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I năm 2020 như sau: Về tổng quan tình hình SXKD của doanh nghiệp có 31,1% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó chỉ có 6,67% khẳng định SXKD tốt lên và 24,44% khẳng định giữ ổn định) và có tới 68,89% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước, đây là tỷ lệ cao nhất trong vòng 5 năm qua. Dự báo quý II/2020 khả quan hơn so quý I khi có 57,78% doanh nghiệp nhận định SXKD sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý I (trong đó 26,67% dự báo tốt lên và 31,11% dự báo giữ ổn định). Các ngành dự báo SXKD quý II tốt hơn và giữ ổn định so quý I/2020: sản xuất đồ uống; sản xuất sản phẩm từ cao su; sản xuất giấy và các sản phầm từ giấy; in ấn; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế. Bên cạnh đó vẫn còn 42,22% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. Dự báo xu hướng quý II/2020 so với quý trước có 29,6% doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 27,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt giảm (ngành dệt, sản xuất phương tiện vận tải khác, sản xuất gạch, sản xuất chế biến thực phẩm,...); 28,9% doanh nghiệp có khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 33,3% doanh nghiệp có khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm; có 6,7% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Đánh giá về biến động lao động quý I/2020 so với quý IV/2019, có 73,3% doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động giữ ổn định và 26,7% khẳng định lao động giảm (không có doanh nghiệp nào tăng lao động). Dự báo lao động quý II/2020 so với quý trước, có 86,7% doanh nghiệp khẳng định giữ ổn định số lao động và có 13,3% doanh nghiệp dự kiến giảm số lao động, điều đó có thể khẳng định các doanh nghiệp vẫn đang gặp khó khăn và không có nhu cầu tuyển thêm lao động. Về sử dụng công suất máy móc, thiết bị: bình quân quý I/2020 các doanh nghiệp sử dụng 63,4% công suất của MMTB (giảm 5,6% so quý trước), trong đó có 15,6% doanh nghiệp sử dụng 90-100% công suất; 40% oanh nghiệp sử dụng từ 70% đến dưới 90% công suất; 17,8% doanh nghiệp sử dụng từ 50% đến dưới 70% công suất và 26,7% doanh nghiệp sử dụng dưới 50% công suất thiết kế. Qua đó có thể thấy tỷ lệ các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, sử dụng tối đa công suất máy móc thiết bị là rất thấp. Những ngành có hệ số sử dụng công suất MMTB bình quân cao như: sản xuất đồ uống 100%; dệt 100%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị 100%; sản xuất giấy và sản phầm từ giấy 85%; sản xuất kim loại 70%. Trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì có 4 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là "Nhu cầu thị trường trong nước thấp", "Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao", “Khó khăn về tài chính”, “Thiếu nguyên, nhiên vật liệu” cụ thể: có 71,1% doanh nghiệp khẳng định “Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 90% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “Nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 46,7% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” và 33,3% doanh nghiệp khẳng định “Thiếu nguyên, nhiên vật liệu” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển SXKD của doanh nghiệp. 5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 5.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong quý I/2020, tập trung chủ yếu vào chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2019 và gieo trồng, chăm sóc cây vụ Xuân năm 2020. + Kết quả sản xuất vụ Đông 2019: Do điều kiện thời tiết đầu vụ mưa nhiều nên khó khăn trong việc triển khai gieo trỉa các loại cây trồng. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông năm 2019 tuy đạt kế hoạch đặt ra nhưng lại giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 1.212 ha). Mặc dù năng suất có tăng nhưng do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng ngô và sản lượng khoai lang vụ Đông 2019 ước tính giảm so với cùng kỳ năm trước (ngô giảm 2.562 tấn, khoai lang giảm 1.815 tấn). Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2019 như đã phản ánh ở trên. + Kết quả sản xuất vụ Xuân 2020: Với các giải pháp về cung cấp giống và phân bón có chất lượng với giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống đúng lịch thời vụ; theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...nhưng do thời tiết mưa nhiều, đất ướt, lạc gieo bị chết và một số vùng lúa mới cấy bị ngập úng chết, người dân tập trung thời gian để trồng dắm lại lúa nên chậm mất thời vụ sản xuất cây trồng cạn. Vì vậy, tổng diện tích gieo trồng cây vụ Xuân 2020 ước giảm so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực vụ Xuân như lúa, lạc, rau năm nay đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng, đặc biệt là thăm đồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại cây trồng vụ Xuân. + Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Thời tiết với nền nhiệt thấp, trời âm u, có mưa, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng dịch bệnh phát sinh gây hại đối với cây trồng. Hiện nay trên cây lúa một số đối tượng sâu bệnh cũng đã phát sinh gây hại như: Bệnh đạo ôn xuất hiện ở hầu hết các địa phương trong tỉnhvới tỷ lệ bệnh trung bình 5-7%, nơi cao 10-15%, cục bộ 30-40% và xuất hiện cháy chòm ở thị xã Hồng Lĩnh và huyện Cẩm Xuyên, diện tích nhiểm đạo ôn là 604,45 ha, (Cẩm Xuyên 496,6 ha, Hồng Lĩnh 45 ha, Đức Thọ 20 ha, Kỳ Anh 20 ha, Can Lộc 11 ha; Thạch Hà 4 ha, Nghi Xuân 2 ha, Vũ Quang 2 ha, Hương Sơn 1 ha, Hương Khê 1 ha, Lộc Hà 1,5 ha), trong đó có 21,35 ha nhiễm nặng, tập trung trên giống lúa NA6, BH9, Xi23, TBR225, P6,…Hiện nay, cây lúa đang thời kỳ đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát sinh gây hại và có nguy cơ lây lan trên diện rộng. Bên cạnh bệnh đạo ôn thì các đối tượng như: Chuột, bọ trĩ, rầy nâu, rầy lưng trắng cũng đã xuất hiện gây hại đối với cây lúa (bọ trĩ gây hại 121 ha và chuột phá hoại 351 ha). Bệnh héo rũ gốc mốc đen, mốc trắng trên cây lạc và sâu keo mùa thu, bệnh khô vằn, đóm lá trên cây ngô cũng đã phát sinh sây hại nhưng mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Để hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra, cùng với việc diệt trừ các loại sâu bệnh đã phát sinh gây hại thì bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng, theo dõi, phòng trừ các đối tượng gây hại đối với cây trồng vụ Xuân, nhất là bệnh đạo ôn. - Chăn nuôi: Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2020 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi (chỉ có kết quả chăn nuôi gia cầm cơ bản ổn định). Có thể nhận thấy rằng, dịch tả lợn châu Phi đã có tác động rất lớn đến tổng đàn lợn của Hà Tĩnh. Chưa bao giờ chăn nuôi lợn lại phải chịu thiệt hại nặng nề như thời gian qua khi có đến trên 32 ngàn con lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy. Đặc biệt là chăn nuôi nông hộ, có đến hàng nghìn gia đình bị dịch “xóa” chuồng và dừng nuôi vô thời hạn. Dè dặt, lo lắng đang là tâm lý chung của tất cả hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trước quyết định tái đàn sản xuất. Bởi môi trường tổn thương, mầm dịch tiềm ẩn sẽ là “mồi” để dịch tả lợn châu Phi quay trở lại trên đàn vật nuôi, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tổng đàn lợn của địa phương. So với chăn nuôi nông hộ thì các trang trại lớn đã có những dấu hiệu tốt hơn. Sau thời gian thu hẹp sản xuất, bắt buộc giảm đàn để thực hiện các giải pháp phòng dịch thì các trang trại chăn nuôi lớn đã vượt qua ngưỡng khó khăn, bảo vệ an toàn đàn lợn nái để đảm bảo điều kiện tái đàn tại chỗ. Dù việc tái đàn vẫn cần phải căn ke, cẩn trọng nhưng sản xuất phải được phục hồi đó là điều tất yếu. Tín hiệu tích cực đối với hoạt động chăn nuôi trong thời gian qua đó là các hộ chăn nuôi đã đưa giống bò Belgan Blue Breed hay còn gọi là bò "3B" có nguồn gốc từ Bỉ, là giống bò thịt chuyên dụng, cơ bắp phát triển siêu trội hơn so với bò thường khoảng 40% vào nuôi và bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực. Phát triển chăn nuôi bò "3B" nhằm chuyển đổi cơ cấu vật nuôi là hướng đi thích hợp khi mà chăn nuôi lợn thiếu sự ổn định do dịch bệnh và giá cả. Cùng với sự duy trì phát triển ổn định của đàn gia cầm, những hướng đi mới trong chăn nuôi bò và việc phục hồi được đàn lợn là cơ sở tạo bước phát triển đối với ngành chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến ngày 20/3/2020, bệnh DTLCP đã xẩy ra trên địa bàn 9 xã thuộc 6 huyện: xã Cẩm Dương, xã Cẩm Thịnh, xã Yên Hòa (huyện Cẩm Xuyên); xã Tùng Ảnh, xã Bùi La Nhân (huyện Đức Thọ); xã Phú Phong (huyện Hương Khê); phường Kỳ Phương (thị xã Kỳ Anh); phường Nam Hồng (thị xã Hồng Lĩnh) và xã Thạch Bình (thành phố Hà Tĩnh), làm cho 65 con lợn ốm chết và buộc tiêu hủy với trọng lượng trên 2,9 tấn. Hiện nay, đã có 7/9 xã có dịch đã qua 30 ngày kể từ ngày tiêu hủy lợn mắc bệnh, chết và không phát sinh ca bệnh mới. Còn xã Yên Hòa và xã Thạch Bình bệnh DTLCP chưa qua 30 ngày. Lũy kế từ khi xuất hiện dịch bệnh đến nay đã có 173/175 xã có dịch qua 30 ngày kể từ ngày tiêu hủy lợn mắc bệnh, chết do DTLCP không phát sinh ca bệnh mới; còn 2 xã có bệnh DTLCP chưa qua 30 ngày. Dịch lở mồm long móng đã xẩy ra tại các xã Phú Lộc (Can Lộc), Sơn Kim 2 (Hương Sơn), Lâm Hợp (huyện Kỳ Anh), làm cho 54 con gia súc mắc bệnh (1 trâu, 53 bò), đến thời điểm hiện nay trên địa bàn không còn gia súc mắc bệnh. Các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi. Một số địa phương đã xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1, H5N6, trong đó có tỉnh Nghệ An giáp ranh với Hà Tĩnh. Vì vậy, tỉnh đã có công điện chỉ đạo, ngành chuyên môn có khuyến cáo các địa phương phải vào cuộc quyết liệt triển khai các giải pháp phòng chống dịch. 5.2. Lâm nghiệp Hoạt động khai thác lâm sản chủ yêu là từ gỗ rừng trồng. Diện tích rừng sản xuất đến độ khai thác đã được thu hoạch để trồng mới lại rừng. Do các chủ rừng đang tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2020 nên diện tích rừng trồng tập trung quý I năm 2020 ước tính tăng so với cùng kỳ năm trước. Cùng với trồng rừng sản xuất, Ban quản lý Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh cũng đã triển khai thực hiện Dự án trồng 51,1 ha rừng thay thế tại tại tiểu khu 9A (thuộc địa bàn thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân) do thiệt hại sau vụ hỏa hoạn tháng 6/2019. Còn đối với trồng cây phân tán thì do quỹ đất trồng cây của các địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng thu hẹp nên số lượng cây trồng phân tán đang có xu thế ngày càng giảm. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 20/3/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 5.3. Thuỷ sản Trong tháng 3 cũng như 3 tháng đầu năm 2020, hoạt động sản xuất thủy sản vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá so với cùng kỳ năm 2019. Nguyên nhân do thời tiết trên ngư trường thuận lợi cho tàu thuyền ra khơi đánh bắt. Sản lượng khai thác những chuyến biển đầu năm đạt khá với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế, nhất là được mùa cá cơm, nguồn cá cơm dồi dào không chỉ giúp ngư dân có thêm nguồn thu nhập mà còn cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất nước mắm, cá khô. Với việc giá bán sản phẩm ổn định, trong khi giá nhiên liệu giảm nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác hải sản. Cùng với đó, các hộ nuôi trồng cũng thu hoạch sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết. Hiện nay, tranh thủ thời tiết nắng ráo, các hộ nuôi tôm đang tích cực xử lý, cải tạo ao nuôi sẵn sàng thả giống nuôi tôm vụ Xuân Hè 2020 đảm bảo đúng lịch thời vụ. Vụ tôm Xuân Hè năm 2020, toàn tỉnh dự kiến sẽ thả hơn 520 triệu con tôm giống, trên tổng diện tích 2.750 ha, trong đó: thành phố Hà Tĩnh 355 ha, thị xã Kỳ Anh 500 ha, huyện Kỳ Anh 480 ha, Cẩm Xuyên 300 ha, Thạch Hà 450 ha, Lộc Hà 130 ha và Nghi Xuân 535 ha. Nuôi tôm theo hướng thâm canh - an toàn sinh học nhằm giúp tôm tăng sức đề kháng, hạn chế dịch bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo VSATTP là hướng đi đang được Hà Tĩnh mở rộng trong vụ nuôi năm nay và hy vọng vụ tôm Xuân Hè sẽ thắng lợi. Trong tháng 3/2020, đã xẩy ra hiện tượng ngao nuôi chết trên địa bàn huyện Lộc Hà và huyện Thạch Hà. Tuy nhiên, theo các nhà chuyên môn thì ngao chết không phải do dịch bệnh, mà chủ yếu là do thời gian nuôi dài, môi trường nuôi không đảm bảo, thời tiết có sương muối và đặc biệt là mật độ nuôi ngao quá cao so với khuyến cáo. 6. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2020 dự ước vẫn dữ được mức tăng so với tháng trước (tăng 16,57%), nhưng tính chung quý I năm 2020 thì chỉ số sản xuất công nghiệp giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mặc dù với mức giảm nhẹ nhưng tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì đây là năm đầu tiên quý I có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với cùng kỳ. Nguyên nhân do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng phải giảm sản lượng, gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng bảo dưỡng thiết bị đặc biệt là ngành sản xuất kim loại Công ty Formosa Hà Tĩnh. Quý I năm 2020, trong mức giảm chung 0,75% của toàn ngành công nghiệp thì: ngành khai khoáng đóng góp 0,06 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,29 điểm phần trăm (là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện đóng góp 5,24 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải đóng góp 1,24 điểm phần trăm. Trong những năm qua cũng như hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp ở Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng rất lớn từ dự án Formosa (chủ yếu là sản phẩm thép, điện), từ lúc dự án đi vào hoạt động đã đóng góp nhiều cho tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cũng như kinh tế chung của tỉnh. Nếu loại trừ yếu tố ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm tăng tăng 11,17% so cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng tăng 8,63%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng chung; công nghiệp chế biến chế tạo giảm 13,52%, làm giảm 8,26 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 45,9%, đóng góp 14,22 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 94,21%, đóng góp 4,99 điểm phần trăm. Có thể nhận thấy rằng, kết quả sản xuất của Công ty Formosa chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng như toàn ngành công nghiệp nhưng những tháng đầu năm sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phôi thép, thép thành phẩm có xu hướng giảm mạnh do hiện nay giá thép thành phẩm liên tục giảm, giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao, cùng với ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên công ty Formosa dự kiến giảm lượng sản xuất. Mặc dù trên địa bàn Hà Tĩnh chưa phát hiện trường hợp nào mắc dịch Covid-19, nhưng những ảnh hưởng từ dịch cũng đã tác động đến các hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động sản xuất công nghiệp của địa phương. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2020 tăng 34,58% so với tháng trước và tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2020, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 26,83%; sản xuất đồ uống giảm 12,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 6,09%; sản xuất kim loại giảm 5,81%...Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: sản xuất trang phục tăng 108,55%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 16,5%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 5,28%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,06%...Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2020 tăng 32,24% so với tháng trước và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, chỉ số tồn kho tăng cao hơn so với chỉ số tiêu thụ, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn trong thời gian qua đang gặp nhiều khó khăn. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2020 giảm 0,3% so với tháng trước và giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2020 giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 2,9% và 15,7%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 6%. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn đang gặp khó khăn nên phải điều chỉnh giảm lao động, chủ yêu là các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. 6. Thương mại, dịch vụ 6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, UBND tỉnh đã có công văn yêu cầu đóng cửa, tạm ngừng mọi hoạt động vui chơi, giải trí, dịch vụ tại các cơ sở kinh doanh trên địa bàn, các loại hình dịch vụ tập trung đông người, hoạt động du lịch; các cơ sở giáo dục tiếp tục tạm nghỉ, nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, vật tư văn phòng giảm mạnh; hoạt động vận tải hành khách giảm mạnh dẫn tới nhu cầu tiêu dùng nhiên liệu giảm; cùng với đó, giá xăng dầu được điều chỉnh giảm đã tác động làm cho tổng mức bán lẻ tháng 3/2020 ước tính giảm 2,14% so với tháng trước. Trong tháng 3/2020, một số nhóm ngành hàng có doanh thu giảm mạnh so với tháng trước như: Vật phẩm, văn hóa giáo dục giảm 11,8%; phương tiện đi lại giảm 15,59%; đá quý, kim loại và sản phẩm giảm 16,13%. Mặc dù tháng 3/2020 có sự sụt giảm so với tháng trước nhưng do nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao trong dịp Tết nên tính chung 3 tháng đầu năm 2020 thì tổng mức bán lẻ hàng hoá vẫn duy trì được mức tăng so với cùng kỳ năm trước (tăng 10,45%). 6.2. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 3/2020 ước tính giảm mạnh so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước (tương ứng mức giảm 13,11% và 29,22%). Tính chung 3 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính cũng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 16,68%), giảm đều ở cả 3 ngành dịch vụ. Nguyên nhân do ảnh hưởng Nghị định số 100/2019/NĐ-CP và Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia; cùng với dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, làm cho người dân ngại tụ tập đến những nơi đông người, dẫn đến lượt khách đến tham quan du lịch, ăn uống giảm mạnh. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 3/2020 ước tính giảm so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ năm trước (lần lượt giảm 9,25% và 6,95%). Tính chung 3 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước (giảm 1,56%). Do ảnh hưởng dịch bệnh Covid -19 làm cho khu vui chơi giải trí phải tạm ngừng hoạt động dẫn đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác giảm. 6.3. Hoạt động vận tải Nhìn chung, hoạt động vận tải tháng 3/2020 cũng như 3 tháng đầu năm 2020 đang gặp rất nhiều khó khăn. Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nhu cầu di chuyển các tuyến liên tỉnh cũng như nhu cầu sử dụng các phương tiện giao thông công cộng đều giảm mạnh. Tính đến thời điểm ngày 17/3/2020, chỉ còn khoảng hơn 35 nhà xe hoạt động tuyến Hà Nội - Hà Tĩnh. Còn vận tải hàng hóa, sau Tết các công trình xây dựng đã hoạt động trở lại nhưng đang còn chậm do tình hình nhân công gặp khó khăn, nhất là lực lượng lao động ngoại tỉnh, dẫn đến nhu cầu vận tải vật liệu phục vụ xây dựng công trình, dự án giảm; việc người dân hạn chế tụ tập nơi đông người như chợ, siêu thị, trung tâm thương mại nên việc trao đổi hàng hóa tiêu thụ chậm, khiến nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng cũng giảm theo. Cùng với đó, do hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thông qua cảng giảm mạnh, đặc biệt là thị trường Trung Quốc gặp khó khăn nên ảnh hưởng đến các hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải. 7. Các vấn đề xã hội 7.1. Dân số, lao động và việc làm Quý I/2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh gặp khó khăn hơn cùng kỳ những năm trước. Tình hình việc làm và thu nhập cũng bị ảnh hưởng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm có chiều hướng tăng. Trước tình hình đó lãnh đạo chính quyền các cấp, các ngành đã tập trung quyết liệt, chỉ đạo, tuyên truyền, hỗ trợ vật chất, động viên người dân tiếp tục sản xuất kinh doanh, không gây hoang mang trong dư luận và cộng đồng dân cư. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên quý I/2019 ước tính 726.289 người, chiếm 56,29% dân số toàn tỉnh; số lao động đang làm việc là 687.711 người (chiếm 94,69% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 38.578 người (chiếm 5,61% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,8%, tăng 1,5 điểm % so với cùng kỳ năm trước. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có 350.416 người, chiếm 50,95%; công nghiệp xây dựng 166.760 người, chiểm 24,25% và dịch vụ 170.535 người chiếm 24,8%. Ước tính quý I/2020, Hà Tĩnh đã giải quyết việc làm cho 4.152 người, giảm 35,44% (giảm 2.279 người) so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 2.178 người, giảm 36,41% (giảm 1.247 người); xuất khẩu lao động 1.399 người, giảm 19,87% (giảm 347 người); lao động đi làm việc ngoại tỉnh 575 người, giảm 54,37% (giảm 685 người). 7.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Do ảnh hưởng của dịch bệnh covid-19, các hoạt động sản xuất kinh doanh ngừng trệ và giảm sút, dẫn đến nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm. Cùng với đó, do dịch tả lợn Châu Phi chưa được đập tắt triệt để, dịch lở mồm long móng phát sinh làm cho tình hình chăn nuôi vẫn tiếp tục gặp khó khăn...là những nguyên nhân làm cho đời sống dân cư quý I/2020 có phần giảm sút so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; chỉ đạo ưu tiên hỗ trợ vay vốn sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, nên tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh không xảy ra. Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Quý I/2020, đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 209.454 suất quà với tổng kinh phí 60,59 tỷ đồng, bao gồm 21,97 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ cho các đối tượng chính sách; 11,81 tỷ đồng hỗ trợ cho hộ nghèo và 26,81 tỷ đồng cho cứu trợ xã hội khác. Đồng thời, trao tặng 2 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách với tổng trị giá 13 triệu đồng; xây mới 50 nhà tình nghĩa trị giá 3,12 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã cấp 23.476 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 42.517 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 95.617 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 40.747 thẻ BHYT cho người có công. 7.3. Hoạt động giáo dục đào tạo năm học 2019-2020 - Giáo dục phổ thông: + Giáo dục mầm non: Tổng số giáo viên 5.090 người; học sinh nhà trẻ 4.002 em và mẫu giáo 71.894 em. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ có nhiều chuyển biến tốt: Tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo là 90,6% (trẻ 5 tuổi chiếm 99,98%); số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi giảm nhiều so với đầu năm. Toàn tỉnh có 173/266 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. + Giáo dục tiểu học: Tổng số giáo viên giảng dạy 5.245 người, giảm 3,87% (giảm 211 người); tổng số học sinh có 118.608 em, tăng 6,03% (tăng 6.746 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (6-10 tuổi) ở cấp tiểu học là 118.069 em, chiếm tỷ lệ 99,55%. Toàn tỉnh có 197/241 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 116 trường (tỉ lệ 58,9%) đạt chuẩn mức độ 2. Có 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3. + Trung học cơ sở: Tổng số giáo viên giảng dạy 4.699 người, giảm 4,08% (giảm 200 người); tổng số học sinh có 75.788 em, tăng 0,49% (tăng 368 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (11-14 tuổi) ở cấp trung học cơ sở là 74.981 em, chiếm tỷ lệ 98,94%. Toàn tỉnh có 126/150 trường THCS đạt chuẩn quốc gia; có 10/13 huyện, thị xã, thành phố đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt mức độ 3; 3 huyện, thị xã đạt mức độ 2 (huyện Vũ Quang, Hương Khê và Thị xã Hồng Lĩnh); toàn tỉnh đạt mức độ 2 phổ cập giáo dục trung học cơ sở. + Trung học phổ thông: Tổng số giáo viên giảng dạy 2.768 người, giảm 0,79% (giảm 22 người); tổng số học sinh có 43.815 44.267 em, giảm 1,02% (giảm 452 em) so cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (15-17 tuổi) ở cấp THPT là 43.213 em, chiếm tỷ lệ 98,63%. Toàn tỉnh có 32/46 trường THPT đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. - Giáo dục đào tạo Năm học 2019-2020, hệ giáo dục đào tạo ở Hà Tĩnh có 01 trường Đại học với số lượng giáo viên có 199 người, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: trình độ trên đại học 185 người; đại học và cao đẳng 14 người); số lượng học sinh là 2.123 em, giảm 32,86% (hệ đại học 2.067 em, hệ cao đẳng 56 em); số tuyển mới có 327 em (hệ đại học 289 em và hệ cao đẳng 38 em). Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo, công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp luôn được quan tâm chú trọng. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Quý I/2020 đã tổ chức dạy nghề cho 1.149 người, tăng 54,44% (tăng 405 người) so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: trình độ trung cấp nghề 50 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 1.099 người. Cũng như cả nước, do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên Hà Tĩnh cũng đã quyết định cho toàn bộ học sinh nghỉ học bắt đầu từ 04/02/2020. Như vậy, kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến nay toàn bộ học sinh Hà Tĩnh đã nghỉ học gần 2 tháng. Để đảm bảo tình hình học tập cho học sinh và thực hiện tốt Công văn số 793/BGDĐT-GDTrH ngày 12/3/2020 của Bộ GD&ĐT về việc tăng cường dạy học qua Internet, trên truyền hình trong thời gian nghỉ học để phòng, chống dịch Covid-19, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh đã chỉ đạo quán triệt công văn đến các trường, các cơ sở giáo dục và cung cấp thêm một số địa chỉ dạy học trực tuyến phù hợp để học sinh có thể tự học. 7.4. Hoạt động Y tế Quý I/2020, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm trước, trong và sau Tết. Bảo đảm tốt công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. - Tình hình dịch bệnh: công tác phòng chống dịch tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Đặc biệt, công tác phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19. Để sẵn sàng chủ động ngăn chặn, ứng phó với dịch bệnh trên diện rộng, bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của nhân dân theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Hà Tĩnh đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo phòng chống dịch phù hợp với tình hình diễn biến của dịch như: yêu cầu đóng cửa tạm thời tất cả các điểm vui chơi, giải trí, nhà hàng, khách sạn, các tụ điểm ăn uống công cộng trên địa bàn toàn tỉnh; chuẩn bị tốt nhất lực lượng, cơ sở vật chất, sẵn sàng ứng phó trong trường hợp dịch bùng phát trên diện rộng; tập trung rà soát, phát hiện nhanh các nguồn lây, nguy cơ lây bệnh, đặc biệt quản lý chặt chẽ các trường hợp nhập cảnh về địa bàn tỉnh; thực hiện nghiêm việc cách ly tập trung đối với các trường hợp đến, đi qua vùng có dịch; đồng thời sàng lọc, áp dụng các biện pháp cách ly, giám sát y tế phù hợp đối với từng loại trường hợp, bảo đảm chặt chẽ; tạm dừng việc đón, tiếp các tổ chức, cá nhân khách quốc tế, nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài đến thăm, làm việc với tỉnh… Tính đến hết ngày 19/3/2020, Hà Tĩnh chưa có trường hợp nào dương tính với dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19; hiện đang cách ly 10 trường hợp tại bệnh viện, cách ly tập trung 88 trường hợp và theo dõi sức khỏe tại nhà, nơi lưu trú 1.658 trường hợp. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Trong quý I/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh có 71 trường hợp sốt rét, 52 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 46 trường hợp mắc lỵ a míp, 19 trường hợp mắc bệnh quai bị, 84 trường hợp mắc bệnh thủy đậu, 6 trường hợp mắc bệnh sởi. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng bằng nhiều hình thức như qua phương tiện thông tin đại chúng: truyền thanh, báo... Quý I năm 2020, Hà Tĩnh có 15 trường hợp nhiễm HIV (giảm 12 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 12 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 13 trường hợp) và không có trường hợp chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Quý I/2020, Hà Tĩnh chỉ có 286 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 30,07% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. 7.5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ ở Hà Tĩnh được tổ chức với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh. Các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, UBND tỉnh đã có Công văn số 1463 /UBND-VX1 ngày 15/3/2020, đề nghị đóng cửa, tạm ngừng mọi hoạt động vui chơi, giải trí; các hoạt động du lịch, hướng dẫn du lịch trên địa bàn tỉnh cho đến khi có thông báo mới. Vì vậy cho nên thời gian gần đây, mọi hoạt động văn hóa trên địa bàn Hà Tĩnh đang tạm dừng không tổ chức để bảo vệ tốt sức khỏe, tính mạng của nhân dân theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong quý I/2020, các di tích đều thực hiện tốt Công điện của Bộ VH,TTDL và chỉ đạo của UBND tỉnh về thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới vi rút Corona gây ra. Sở Văn hóa, thể thao & Du lịch Hà Tĩnh thực hiện cấp 26 giấy phép, trong đó: 4 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 17 giấy phép thuộc lĩnh vực quảng cáo; 5 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch. Sở Văn hóa, thể thao & Du lịch Hà Tĩnh phối hợp với Đội kiểm tra liên ngành văn hóa, xã hội tỉnh thực hiện đợt kiểm tra diện rộng đối với các dịch vụ thuộc Sở quản lý. Qua kiểm tra tại 75 cơ sở: có 3 cơ sở kinh doanh trò chơi điện tử, 3 cơ sở kinh doanh karaoke chưa đầy đủ thủ tục hành chính; 14 phòng của 6 cơ sở kinh doanh karaoke không đảm bảo diện tích theo quy định nhưng vẫn được thẩm định cấp phép; buộc tháo dỡ 21 biển hiệu vượt quá diện tích theo quy định; xử phạt vi phạm hành chính 2 tổ chức, 4 cá nhân với số tiền 36 triệu đồng; tịch thu chờ tiêu hủy 5.000 tờ rơi, tờ gấp quảng cáo các loại phát hành trái quy định. - Hoạt động thể thao: Đầu năm, trong không khí “ Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý năm 2020” tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao như: kéo co, bóng chuyền, bóng đá, thi đấu cờ tướng, cờ thẻ, đua thuyền và các trò chơi dân gian. Tuy nhiên, do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, tỉnh đã chỉ đạo hạn chế tổ chức các hoạt động thể thao có quy mô lớn, nhưng tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực cho chính bản thân. 7.6. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội - Về an toàn giao thông: Tính từ ngày 15/02/2020 đến ngày 14/3/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người, bị thương 2 người. So với tháng trước giảm 5 vụ, giảm 8 người chết và giảm 4 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, giảm 3 người chết và giảm 2 người bị thường. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. Tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/3/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 34 người và bị thương 14 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 3 vụ, giảm 2 người chết và giảm 7 người bị thương. - Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán, tính từ ngày 23-29/01/2020 (tức là ngày 29 tết đến ngày mồng 5 Tết) xảy ra 5 vụ phạm pháp hình sự, đều là cố ý gây thương tích làm bị thương 7 người (giảm 5 vụ, giảm 2 người bị thương) so với cùng kỳ năm 2019; phát hiện và bắt giữ 1 vụ, 1 đối tượng tang trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện 299 vụ, 279 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép (tăng 28 vụ, tăng 18 đối tượng) so với cùng kỳ năm 2019, thu giữ 18kg pháo cáo loại; riêng trong đêm Giao thừa, công an các địa phương đã phát hiện, bắt giữ 210 vụ và 223 đối tượng tàng trữ, đốt pháo trái phép (giảm 29 vụ và 29 đối tượng). 7.7. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 3/2020 xảy ra 4 vụ cháy, trong đó: có 3 vụ cháy nhà dân và 1 vụ cháy ô tô. Quý I/2020, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 8 vụ cháy, giảm 9 vụ cháy và 2 vụ nổ so với cùng kỳ năm 2019 (riêng dịp Tết xảy ra 1 vụ cháy, giảm 4 vụ), với tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính là 3,6 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 3/2020, đã phát hiện và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường (giảm 4 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 43 triệu đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm đã phát hiện và xử lý 5 vụ vi phạm môi trường (giảm 18 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền 43 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép; chỉ có 1 vụ là vi phạm môi trường về việc tàu đánh bắt làm đổ dầu trên bến đò ở xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân. 8. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới a. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 Kỳ họp thứ 12 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2020 như sau: - Tổng sản phẩm (GRDP) tăng từ 10,5%-11% so với năm 2019; - Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn; - Giá trị sản xuất/đơn vị diện tích đạt trên 90 triệu đồng/ha; - Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 1,2 tỷ USD; - Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt trên 14.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa trên 7.200 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 6.800 tỷ đồng; - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 36.000 tỷ đồng; - Tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt trên 90%; - Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 8,5%; - Số giường bệnh/1 vạn dân đạt 26 giường; - Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) còn dưới 3%; - Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%; - Có thêm ít nhất 20 xã và 3 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 3 xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu. b. Giải pháp thực hiện Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là: (1) Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu nêu trên, các cấp, các ngành và các địa phương phải bám sát Chương trình số 20/CTr-UBND ngày 20/01/2020 của UBND tỉnh về triển khai nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2020 để triển khai thực hiện một cách cụ thể, sát đúng với tình hình thực tế của địa phương. (2) Các cấp, các ngành và các địa phương phải tập trung chủ động ứng phó và xử lý kịp thời trước diễn biến phức của dịch bệnh Covid-19. Cùng với việc đảm bảo an toàn tính mạng cho người dân thì cần phải quan tâm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phát triển sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống dân cư. (3) Tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Thực hiện các giải pháp đồng bộ, quyết liệt triển khai thực hiện các dự án trọng điểm; hoàn thiện cơ chế, chính sách, thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư, đẩy nhanh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. (4) Chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững và mỗi xã một sản phẩm, tạo tiền đề để tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2025. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu.Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. (5) Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; hoàn thành sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hình thức thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo đồng thuận xã hội, thực hiện hoàn thiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và nhiệm kỳ 2016-2020. Tổ chức thành công và đưa nghị quyết đại hội Đảng các cấp đi vào cuộc sống. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ. Thực hiện mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 trên địa bàn trong thời gian tới trong điều kiện sẽ có nhiều khó khăn thách thức. Vì vậy, cần phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong năm 2020./.
Tình hình kinh tế xã hội tháng 02 năm 2020
- 22/07/2024 15:05
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: + Sản xuất vụ Đông 2019: Do điều kiện thời tiết đầu vụ mưa nhiều nên khó khăn trong việc triển khai gieo trỉa các loại cây trồng. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông năm 2019 tuy đạt kế hoạch đặt ra nhưng lại giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 1.212 ha). Mặc dù năng suất có tăng nhưng do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng ngô và sản lượng khoai lang vụ Đông 2019 ước tính giảm so với cùng kỳ năm trước (ngô giảm 2.562 tấn, khoai lang giảm 1.815 tấn). Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2019 như đã phản ánh ở trên. + Sản xuất vụ Xuân 2020: Với các giải pháp về cung cấp giống và phân bón có chất lượng với giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống đúng lịch thời vụ; theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi là những yếu tố tích cực để sản xuất vụ Xuân 2020. Kế hoạch sản xuất vụ Xuân năm nay toàn tỉnh phấn đấu gieo cấy 58.956 ha lúa, đến thời điểm này thì cơ bản đã gieo cấy hoàn thành kế hoạch. Trong đó: Diện tích lúa cấy là 13.335 ha (chiếm 22,6% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 45.609 ha (chiếm 77,4% tổng diện tích gieo cấy). Thời điểm này, các trà lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng và phát triển tốt. Người dân đang tiến hành chăm sóc tỉa dặm để đảm bảo mật độ, đặc biệt là trên các chân ruộng gieo dày phải tập trung tỉa thưa để hạn chế sự tích luỹ sâu bệnh. Tiến hành bón thúc sớm, cân đối tạo điều kiện cho cây lúa phát triển. Cùng với việc gieo cấy lúa thì nhìn chung tiến độ gieo trỉa một số loại cây trồng cạn chậm so với kế hoạch. Nguyên nhân là trùng vào thời vụ gieo cấy lúa vụ Xuân, đặc biệt một số vùng phải tiếp tục bổ cứu thời gian gieo cấy do lúa bị hư hỏng sau đợt mưa đầu tháng hai nên bà con các địa phương chưa tập trung cho cây trồng cạn. + Dự báo tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Hiện nay, điều kiện thời tiết đang có lợi cho các loại sâu bệnh phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng. Vì vậy, bà con nông dân cần phải chăm sóc lúa theo đúng quy trình, bón phân cân đối để tăng sức đề kháng cho cây. Đặc biệt, tránh bón thừa đạm nhằm hạn chế thấp nhất gây hại và lây lan của bệnh đạo ôn, đồng thời có biện pháp xử lý kịp thời khi bệnh xuất hiện. Hiện nay trên cây lúa một số đối tượng sâu bệnh cũng đã phát sinh gây hại như: Chuột phá hoại ở tất cả các địa phương trên toàn tỉnh. Tỷ lệ gây hại từ 3% -15%, chúng cắn phá ở cả những ruộng lúa vừa gieo cũng như đã lên nhánh, nhất là những vùng gò đồi, ven làng hoặc ở các huyện miền núi. Bệnh đạo ôn xuất hiện ở Nghi Xuân, Đức Thọ, Lộc Hà với tỷ lệ gây hại trung bình 3-7%, nơi cao 10-15% và có những vùng nhiễm cục bộ 20-30% (xã Xuân Lĩnh) trên nhóm giống X (Xi23, NX 30), TBR225, P6. Ngoài ra, lúa Xuân còn phải đối mặt với bệnh tuyến trùng rễ (Cẩm Xuyên, Thạch Hà) với diện tích nhiễm 88 ha; ốc bươu vàng khoảng gần 50 ha…Sâu keo mùa thu là đối tượng dịch hại mới, gây hại trên ngô và các cây trồng khác, là đối tượng có sức gây hại lớn, mức độ nhân số lượng nhanh và gối lứa liên tục. Vì vậy, cần làm tốt công tác điều tra phát hiện, dự báo tình hình để chủ động triển khai phòng trừ kịp thời, hiệu quả. Trên cây ăn quả thì sâu vẽ bùa, sâu nhớt, sâu xanh bướm phượng gây hại quanh năm nhưng chủ yêu tập trung gây hại mạnh vào các đợt cây ra lộc. Để phòng trừ hiệu quả cần tiến hành vệ sinh vườn sau khi thu hoạch, chăm sóc, bón phân, tưới nước hợp lý để cho các đợt lộc ra tập trung, nếu mật độ sâu cao, tiến hành phun khi đợt lộc mới xuất hiện. Để hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra, cùng với việc diệt trừ các loại sâu bệnh đã phát sinh gây hại thì bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng, theo dõi, phát hiện kịp thời để có các giải pháp phòng trờ đối với các loại sâu bệnh gây hại. - Chăn nuôi: Có thể nhận thấy rằng, dịch tả lợn châu Phi đã có tác động rất lớn đến tổng đàn lợn của Hà Tĩnh. Chưa bao giờ chăn nuôi lợn lại phải chịu thiệt hại nặng nề như thời gian qua khi có đến trên 32 ngàn con lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy. Đặc biệt là chăn nuôi nông hộ, có đến hàng nghìn gia đình bị dịch “xóa” chuồng và dừng nuôi vô thời hạn. Dè dặt, lo lắng đang là tâm lý chung của tất cả hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trước quyết định tái đàn sản xuất. Bởi môi trường tổn thương, mầm dịch tiềm ẩn sẽ là “mồi” để dịch tả lợn châu Phi quay trở lại trên đàn vật nuôi. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tổng đàn lợn của các địa phương trên toàn tỉnh. Tín hiệu tích cực đó là so với chăn nuôi nông hộ thì các trang trại lớn đã có những dấu hiệu tốt hơn. Sau thời gian thu hẹp sản xuất, bắt buộc giảm đàn để thực hiện các giải pháp phòng dịch thì các trang trại chăn nuôi lớn đã vượt qua ngưỡng khó khăn, bảo vệ an toàn đàn lợn nái để đảm bảo điều kiện tái đàn tại chỗ. Dù việc tái đàn vẫn cần phải căn ke, cẩn trọng nhưng sản xuất phải được phục hồi đó là điều tất yếu. Với sự duy trì phát triển ổn định của đàn gia cầm, những hướng đi mới trong chăn nuôi bò về giống, về phương thức nuôi nhốt và việc phục hồi được đàn lợn là cơ sở tạo bước phát triển đối với ngành chăn nuôi trên địa bàn trong năm 2020. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không phát hiện ổ dịch tả lợn châu Phi mới, chỉ có dịch xuất hiện trở lại tại một vài hộ nuôi ở thị xã Kỳ Anh, huyện Đức Thọ và thị xã Hồng Lĩnh. Trong tháng 02/2020, dịch lở mồm long móng đã xẩy ra tại xã Kỳ Lâm, huyện Kỳ Anh làm cho 36 con bò mắc bệnh, các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi. Hiện nay, một số địa phương đã xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1, H5N6, trong đó có tỉnh Nghệ An giáp ranh với Hà Tĩnh. Vì vậy, tỉnh đã có công điện chỉ đạo, ngành chuyên môn có khuyến cáo các địa phương phải vào cuộc quyết liệt triển khai các giải pháp phòng chống dịch. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 02 trùng vào dịp Tết trồng cây Xuân Canh Tý nên số lượng cây trồng phân tán tăng hơn so với tháng trước. Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây của các địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng thu hẹp nên số lượng cây trồng phân tán giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động trồng rừng sản xuất vụ Xuân năm 2020 cũng đang được các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện. Cùng với trồng rừng sản xuất, Ban quản lý Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh cũng đã triển khai thực hiện Dự án trồng 51,1 ha rừng thay thế tại tại tiểu khu 9A (thuộc địa bàn thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân) do thiệt hại sau vụ hỏa hoạn tháng 6/2019. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 20/02/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 02 cũng như 2 tháng đầu năm 2020 có bước phát triển khá so với cùng kỳ năm 2019. Nguyên nhân do thu hoạch sản lượng nuôi trồng phục vụ nhu cầu dịp Tết Nguyên đán Canh Tý. Cùng với đó, thời tiết tương đối thuận lợi cho các tàu thuyền ra khơi đánh bắt và sản lượng khai thác những chuyến biển đầu năm đạt khá nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác. Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng. Theo khung lịch thời vụ, tôm sẽ được xuống giống thả nuôi vào cuối tháng 2/2020. Tuy nhiên, thời tiết hanh khô xen kẽ các đợt không khí lạnh với nhiệt độ môi trường nước xuống thấp là cơ hội phát sinh dịch bệnh trên tôm nuôi. Vì vậy, người nuôi tôm cần phải đảm bảo quy trình kỹ thuật, chăm sóc phù hợp để tôm sinh trưởng, phát triển tốt, tránh dịch bệnh và thiệt hại. 2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 02/2020 dự ước tăng cao so với tháng trước, nhưng tính chung 2 tháng đầu năm thì chỉ số sản xuất công nghiệp giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng trong tháng giảm sản lượng, gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng bảo dưỡng thiết bị đặc biệt là ngành sản xuất kim loại Công ty Formosa Hà Tĩnh. Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, ngành khai khoáng tăng 19,45%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 11,8%, làm giảm 9,81 điểm phần trăm (là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện tăng 24,85%, đóng góp 3,91 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 4,7 lần, đóng góp 2,41 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. Nếu loại trừ yếu tố ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm tăng 15,17% so cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng tăng 19,45%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm vào mức tăng chung; công nghiệp chế biến chế tạo giảm 7,08%, làm giảm 4,48 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 31,04%, đóng góp 10,09 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,7 lần, đóng góp 9,1 điểm phần trăm. Có thể nhận thấy rằng, kết quả sản xuất của Công ty Formosa chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng như toàn ngành công nghiệp nhưng những tháng đầu năm sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phôi thép, thép thành phẩm có xu hướng giảm mạnh do hiện nay giá thép thành phẩm liên tục giảm, giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao, cùng với ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên công ty Formosa dự kiến tiếp tục giảm lượng sản xuất. Mặc dù trên địa bàn Hà Tĩnh chưa phát hiện trường hợp nào mắc dịch Covid-19, nhưng những ảnh hưởng từ dịch cũng đã tác động đến các hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động sản xuất công nghiệp của địa phương. - Vốn đầu tư: Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước dù đã được đẩy mạnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhưng tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước vẫn đạt mức thấp. Giải ngân vốn đầu tư công là vấn đề luôn "nóng" trong những năm gần đây, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công thường rất chậm. Năm 2020 là năm cuối thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 nên việc thực hiện và giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cần phải được quan tâm thực hiện một cách quyết liệt và đồng bộ. Kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước năm 2020 là 5.039 tỷ đồng, tăng 40,7% so với năm 2019. Hai tháng đầu năm 2020 chủ yếu thi công các dự án chuyển tiếp từ năm 2019, còn các công trình thuộc kế hoạch năm 2020 vẫn chưa có quyết định phân bổ đầu tư. Nguồn vốn thực hiện vẫn chủ yếu từ nguồn cân đối ngân sách tỉnh và vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, các công trình nhỏ, lẻ cấp xã. Các dự án lớn khởi công mới đang hoàn thiện hồ sơ và chờ giao vốn để triển khai thực hiện trong thời gian tới. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 02/2020 ước giảm mạnh so với tháng trước (giảm 14,4%). Nguyên nhân do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, vì ngại đến nơi đông người nên lượng khách hàng mua sắm tại các chợ, trung tâm thương mại, siêu thị giảm mạnh. Mặt khác, sau Tết sức mua của người dân cũng giảm, nhất là ở các nhóm hàng lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng gia đình...Trong tháng 02/2020, một số nhóm ngành hàng có doanh thu giảm mạnh so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm giảm 20,2%; hàng may mặc giảm 27,5%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 17,7%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có đông cơ khác giảm 19,2%. Mặc dù tháng 2 có sự sụt giảm so với tháng trước nhưng do nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao trong dịp Tết nên tính chung 2 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hoá vẫn duy trì được mức tăng so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 02/2020 ước tính giảm mạnh so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước (tương ứng mức giảm 18,7% và 19,7%). Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính cũng giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 9,91%), giảm chủ yếu ở ngành dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống. Nguyên nhân do ảnh hưởng Nghị định số 100/2019/NĐ-CP và Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia; cùng với dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, làm cho người dân ngại tụ tập đến những nơi đông người, dẫn đến lượt khách đến tham quan du lịch, ăn uống giảm mạnh. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 02/2020 ước tính giảm nhẹ so với tháng trước (giảm 3,63%) và không biến động nhiều so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng một số ngành dịch vụ như dịch vụ hỗ trợ hành chính; dịch vụ vui chơi giải trí và dịch vụ làm đẹp giảm. 4.2. Hoạt động vận tải Kết quả hoạt động vận tải tháng 02/2020 cũng như 2 tháng đầu năm 2020 đang gặp nhiều khó khăn, tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm. Nguyên nhân là do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 khiến người dân hạn chế đi lại, học sinh sinh viên chưa trở lại trường, nhu cầu sử dụng các phương tiện giao thông công cộng giảm; các công trình xây dựng sau Tết tuy đã hoạt động trở lại nhưng đang còn chậm do tình hình nhân công gặp khó khăn, nhất là lực lượng lao động ngoại tỉnh, nên dẫn đến nhu cầu vận tải vật liệu phục vụ xây dựng công trình, dự án giảm; việc người dân hạn chế tụ tập nơi đông người như chợ, siêu thị, trung tâm thương mại nên việc trao đổi hàng hóa tiêu thụ chậm, khiến nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng cũng giảm theo; tình hình sản xuất kinh doanh, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thông qua cảng giảm mạnh. Đặc biệt là thị trường Trung Quốc gặp khó khăn nên ảnh hưởng đến các hoạt động dịch vụ hỗ trự vận tải. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 02/2020 là thời điểm sau Tết Nguyên đán, xu hướng chung các mặt hàng hóa, dịch vụ đều giảm so với tháng trước. Bên cạnh đó, tuy các hoạt động sản xuất, kinh doanh đã trở lại bình thường, song ảnh hưởng tình hình dịch bệnh Covid-19, dẫn đến mọi mặt của đời sống người dân gặp khó khăn như sản xuất, lưu thông hàng hóa. CPI tháng 02 năm 2020, giảm 0,88% so tháng trước, tăng 5,04% so cùng tháng năm trước và tăng 0,81% so với tháng 12 năm 2019. So với tháng trước khu vực thành thị giảm 1,59% và khu vực nông thôn giảm 0,39%. Nguyên nhân chính tác động làm giảm CPI tháng 02/2020: (1) Do giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng giảm; (2) Do tính chất mùa vụ nhu cầu hàng hóa đối với các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, đồ uống, hàng may mặc các loại giảm mạnh; (3) Ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, các mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc gặp nhiều khó khăn nên lượng cung hàng hóa tăng làm cho giá bán nội địa giảm; (4) Ảnh hưởng Nghị định số 100/2019/NĐ-CP và Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia cũng như dịch bệnh Covid-19 nên lượng khách sử dụng các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình giảm mạnh. Tháng 02/2020, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá ổn định so với tháng trước (nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục); có 2 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng nhẹ (nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,29%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,03%); còn lại 7 nhóm hàng hóa đều có chỉ số giá giảm so với tháng trước, trong đó có 2 nhóm hàng hóa giảm mạnh nhất là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,6% và nhóm giao thông giảm 2,15%. CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2020, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 6,26% và khu vực nông thôn tăng 5,66%. Nguyên nhân chính là do biến động mạnh của giá thực phẩm do ảnh hưởng dịch tả lợn châu Phi nên giá bình quân 2 tháng đầu năm 2020 của nhóm thực phẩm tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng tháng 02/2020 tăng 1,83% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 19,87% và tăng 7,18% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng trong tháng 2 tiếp tục tăng mạnh do tâm lý người dân có thói quen tích trữ vàng trong dịp Tết, nhất là ngày vía Thần Tài theo quan niệm dân gian và ảnh hưởng của giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng trong tháng là 4.481.499 đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2020 tăng 0,41% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,2% và tăng 0,4% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/02/2020 mức giá bán ra 2.325 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 3/2020 dự kiến giảm nhẹ. Do tình hình dịch bệnh đối với đàn vật nuôi được kiểm soát cùng với tính chất thời vụ thì giá một số mặt hàng có xu thế giảm xuống, nhất là đối với các mặt hàng lương thực và thực phẩm. 5. Một số vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư - Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được quan tâm triển khai kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói, nhất là trong dịp Tết. Tính đến ngày 15/02/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói không xảy ra. - Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Các huyện, thành phố, thị xã đã chi trả trợ cấp tháng 01, tháng 02/2020 cho trên 43.318 người có công, với kinh phí 162 tỷ đồng; chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 69.000 đối tượng bảo trợ xã hội, với kinh phí 26 tỷ đồng. Tính đến ngày 29/01/2020 (tức ngày 05 Tết), đã tổ chức thăm hỏi, tặng 209.454 suất quà với tổng kinh phí là 60,577 tỷ đồng, trong đó: Quà cho người có công 103.594 suất, kinh phí 21,973 tỷ đồng (quà Trung ương 53.370 suất, kinh phí 10,895 tỷ đồng); quà cho người nghèo 27.301 suất với kinh phí là 11,807 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 39.881 suất với kinh phí là 11,667 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 9.504 suất với kinh phí là 4,24 tỷ đồng; quà đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác 29.174 suất với kinh phí là 10,89 tỷ đồng. - Về tiền lương: Đến ngày 29/01/2020 ( tức mồng 5 Tết) chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội được doanh nghiệp, người lao động quan tâm thực hiện. Mức tiền lương bình quân 1 tháng của người lao động làm việc trong doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước là 7,7 triệu đồng; doanh nghiệp FDI là 9,9 triệu đồng; doanh nghiệp khác là 5,1 triệu đồng. Mức thưởng Tết Canh Tý bình quân khối doanh nghiệp Nhà nước là 5,7 triệu đồng/người, cao nhất 40,5 triệu đồng (Ngân hàng NN&PTNT); doanh nghiệp tư nhân 6,1 triệu đồng, cao nhất 30 triệu đồng (Công ty Hoành Sơn), doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài 4,1 triệu đồng, cao nhất 13,8 triệu đồng (Công ty TNHH CHC Việt Nam). 5.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tiếp tục tăng cường công tác phòng chống dịch, đặc biệt là phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19. Hiện nay, Sở Y tế đã giao Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh bố trí 3 đội cơ động phòng, chống dịch Covid-19 trực sẵn sàng phòng chống dịch 24/24h, trong đó: 1 đội được bố trí tại Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo (huyện Hương Sơn) và một đội tại khu vực cảng Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh) nơi có số lượng đông người nhập cảnh từ nước ngoài vào Việt Nam, nhất là người Trung Quốc. Ngoài ra, để phòng dịch UBND tỉnh cũng đã ban hành quyết định 805/UBND-VX1 chỉ đạo cho học sinh, sinh viên tiếp tục nghỉ học đến hết tháng 2/2020. Tính đến ngày 19/02/2020, Hà Tĩnh có 20 trường hợp được cách ly, theo dõi, lấy mẫu, trong đó: 18 trường hợp có kết quả xét nghiệm âm tính với Covid-19, đã được ra viện; 01 trường hợp chuyển về theo dõi và cách ly tại nhà; 01 trường hợp đang theo dõi và cách ly tại Bệnh viện đa khoa tỉnh. Toàn tỉnh có 396 người Trung Quốc, 851 người Đài Loan, riêng Thị xã Kỳ Anh có 382 người Trung Quốc và 827 người Đài Loan (Formosa có 217 người Trung Quốc và 672 người Đài Loan) tất cả đều có tình trạng sức khỏe ổn định và đang được cách ly theo dõi đúng quy định. Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 10 trường hợp sốt rét, 8 trường hợp quai bị, 55 trường hợp mắc thủy đậu, 16 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 19 trường hợp mắc lỵ a míp. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, cần tiếp tục đẩy mạnh về công tác truyền thông thay đổi hành vi; giám sát, tiếp cận bệnh nhân để vận động họ tham gia điều trị ARV và chương trình điều trị Methadone. Trong tháng, Hà Tĩnh có 7 người nhiễm HIV (giảm 9 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019), 3 người chuyển thành AIDS (giảm 12 trường hợp) và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Mỗi dịp Tết đến, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm lại tăng mạnh. Đây cũng là thời điểm mà hàng hóa, thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được tung ra thị trường. Do đó, ngoài việc tăng cường kiểm tra, các cơ quan chức năng đã tích cực tổ chức tuyên truyền giúp người dân nhận biết được hiện tượng mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 93 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 31 trường hợp) so với cùng kỳ năm 2019. Không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Chào Xuân Canh Tý năm 2020, các hoạt động văn hóa, văn nghệ ở Hà Tĩnh được tổ chức với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, cụ thể: Triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã; tổ chức 3 điểm bắn pháo hoa vào đêm giao thừa tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh; tổ chức chương trình nghệ thuật “Đảng cho ta mùa Xuân” chào Xuân Canh Tý 2020; tổ chức Lễ khai hội Chùa Hương Tích năm 2020; tổ chức chương trình văn nghệ tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2020 tại các địa phương, đặc biệt là diễn phục vụ các chiến sỹ, đồng bào vùng sâu, vùng xa. Các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh; phản ánh đầy đủ, toàn diện không khí vui Xuân, đón Tết của nhân dân trên địa bàn tỉnh; tổ chức Hội báo Xuân… Ngoài ra, quần chúng nhân dân cũng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ trong không khí đón Tết vui Xuân. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong dịp Tết. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ trước, trong và sau Tết Canh Tý, đặc biệt là chỉnh trang công tác tổ chức lễ hội tại một số điểm văn hóa tâm linh như: Đền Củi (Nghi Xuân), Chùa Hương Tích (Can Lộc), Đền Nguyễn Thị Bích Châu (TX Kỳ Anh), Đền Cả (TX Hồng Lĩnh)... - Hoạt động thể thao: Trong không khí “ Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý năm 2020” Tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao nhân dịp đón Xuân như: Kéo co, bóng chuyền, bóng đá, thi đấu cờ tướng, cờ thẻ, đua thuyền và các trò chơi dân gian. 5.4. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội - Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán, tính từ ngày 23-29/01/2020 (tức là ngày 29 tết đến ngày mồng 5 Tết) xảy ra 5 vụ phạm pháp hình sự, đều là cố ý gây thương tích làm bị thương 7 người (giảm 5 vụ, giảm 2 người bị thương) so với cùng kỳ năm 2019; phát hiện và bắt giữ 1 vụ, 1 đối tượng tang trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện 299 vụ, 279 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép (tăng 28 vụ, tăng 18 đối tượng) so với cùng kỳ năm 2019, thu giữ 18kg pháo cáo loại; riêng trong đêm Giao thừa, công an các địa phương đã phát hiện, bắt giữ 210 vụ và 223 đối tượng tàng trữ, đốt pháo trái phép (giảm 29 vụ và 29 đối tượng). - Về an toàn giao thông: Tính từ ngày 15/01/2020 đến ngày 14/02/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 16 người và bị thương 6 người (riêng dịp Tết xảy ra 3 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 2 người và bị thương 2 người). So với tháng trước tăng 2 vụ, tăng 6 người chết; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ, giảm 1 người chết, giảm 7 người bị thương. Như vậy, tính từ 15/12/2019 đến 15/02/2020, Hà Tĩnh xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 26 người và bị thương 12 người. So cùng kỳ năm 2019 tăng 5 vụ, tăng 5 người chết và giảm 5 người bị thương. - Về vi phạm môi trường: Với mục tiêu cùng chung tay bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra về công tác bảo vệ môi trường. Nhờ vậy, trong tháng không có vụ vi phạm môi trường nào xảy ra. Tính chung 2 tháng đầu năm 2020, phát hiện 1 vụ vi phạm môi trường, giảm 14 vụ so với cùng kỳ năm 2019. 5.5. Môi trường - Tình hình cháy nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 2 vụ cháy, giảm 10 vụ cháy và 1 vụ nổ so với cùng kỳ năm 2019 (riêng dịp Tết xảy ra 1 vụ cháy, giảm 4 vụ), với tổng giá trị thiệt hại ước tính 300 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn do sử dụng lửa. Tính chung 2 tháng đầu năm đã xảy ra 4 vụ cháy (giảm 9 vụ cháy và 1 vụ nổ), với tổng giá trị thiệt hại ước tính 3,45 tỷ đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 2 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình Kinh tế - xã hội ước năm 2019
- 24/07/2024 10:15
Thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2019 có những thuận lợi từ kết quả đạt được của năm 2018, tình hình chung ổn định, môi trường phát triển tiếp tục chuyển biến tích cực. Tuy vậy, Hà Tĩnh cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: Tăng trưởng công nghiệp có xu hướng chậm lại, sản xuất và xuất khẩu thép gặp khó khăn; động lực tăng trưởng không còn nhiều; các dự án lớn chậm tiến độ; thiên tai mưa lũ và dịch bệnh đối với chăn nuôi gây thiệt hại lớn; công tác bảo vệ, xử lý môi trường còn nhiều khó khăn; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Trong bối cảnh đó, tỉnh đã chủ động triển khai thực hiện kịp thời Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm để tập trung thực hiện; chỉ đạo điều hành linh hoạt, quyết liệt, bám sát cơ sở; phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra. Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, nhưng đánh giá chung tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 vẫn tiếp tục xu hướng tích cực, nhiều chỉ tiêu đạt cao hơn cùng kỳ. Kết quả đạt được thể hiện sự nỗ lực, cố gắng lớn trong chỉ đạo điều hành của các cấp, ngành, địa phương; sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Trên cơ sở chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 theo Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 04/12/2018 của BCH Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết số 108/2018/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của HĐND tỉnh. Ước tính năm 2019, có 8 chỉ tiêu đạt kế hoạch: Giá trị sản xuất/đơn vị diện tích; giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm; tỷ lệ dân số tham gia BHYT; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng; số giường bệnh/1 vạn dân; giải quyết việc làm mới; tỷ lệ lao động qua đào tạo; độ che phủ rừng. 4 chỉ tiêu vượt kế hoạch: Thu ngân sách trên địa bàn; tổng sản lượng lương thực; tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom; số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Có 3 chỉ tiêu không đạt: Tăng trưởng kinh tế; tổng vốn đầu tư toàn xã hội; kim ngạch xuất khẩu. Kết quả đạt được trên các lĩnh vực cụ thể như sau: 1. Tăng trưởng kinh tế 1.1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Tiếp nối đà tăng trưởng năm 2018, tốc độ tăng trưởng GDRP năm 2019 của Hà Tĩnh ước tính đạt mức tăng trưởng khá 10,99% so với năm 2018. Mặc dù tăng trưởng chưa đạt so với kế hoạch đề ra (11,5-12%) nhưng kết quả đạt được cũng đã khẳng định tính quyết đoán, kịp thời trong chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh; sự nỗ lực của các cấp, các ngành trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng khá trong năm 2019. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,58% (năm 2018 tăng 5,59%), đóng góp -0,23% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 21,94%, đóng góp 8,84%; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,3%, đóng góp 2,38%. - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2019 gặp nhiều khó khăn do thiên tai lũ lụt và biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng. Dịch tả lợn Châu Phi lây lan trên diện rộng ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất của ngành chăn nuôi. Nhiều mặt hàng nông sản gặp khó khăn cả về thị trường và giá cả. Nắng nóng kéo dài cộng thêm ý thức của người dân đã gây cháy rừng trên diện rộng. Riêng ngành thủy sản đạt mức tăng trưởng khá, sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác đều tăng so với năm 2018. Đối với khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản sau sự tăng trưởng khá năm 2018 (5,59%), năm 2019 có sự sụt giảm mạnh (-1,58%), đóng góp -0,23% vào mức tăng trưởng chung do ảnh hưởng của thời tiết và dịch bệnh. Trong vòng 10 năm trở lại đây, đây là năm thứ hai khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng âm (năm 2017 -2,67%). Năm 2019 tăng trưởng kinh tế ngành nông, lâm, thủy sản của Hà Tĩnh vẫn chưa có bước đột phá về chiều sâu. - Hoạt động công nghiệp năm 2019 tiếp tục tăng trưởng khá với tốc độ tăng giá trị tăng thêm so với cùng kỳ năm trước đạt 28,34%, đóng góp 8,75 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt dẫn dắt mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp và toàn nền kinh tế. Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 25,32% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, ngành công nghiệp Hà Tĩnh còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động sản xuất của Dự án Formorsa. Năm 2019, nếu loại trừ yếu tố thép, phôi thép, điện sản xuất của Formosa thì tốc độ tăng trưởng kinh tế còn 4,44%; riêng của ngành công nghiệp còn 11,15%; năm 2018 lần lượt là 7,9% và 16,42% (trong khi tăng trưởng kinh tế năm 2018 là 20,38% và của khu vực công nghiệp là 69,99%). Như vậy, tăng trưởng năm 2019 chưa đạt so với kế hoạch đề ra nguyên nhân chủ yếu đến từ sự sụt giảm sản lượng của Formosa. Hà Tĩnh vẫn đang còn hạn chế trong phát triển công nghiệp sau thép, kết nối với các tỉnh trong khu vực về chuỗi giá trị ngành thép và hệ thống logictics, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và thu hút các nhà đầu tư vào khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp trên địa bàn...Tái cơ cấu các ngành công nghiệp thực hiện còn chậm, chưa tạo ra những thay đổi đáng kể về cơ cấu nội ngành. Hoạt động xây dựng tiếp tục khó khăn với tốc độ tăng giá trị tăng thêm so với cùng kỳ năm trước là 0,96%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Nhiều dự án lớn chậm thi công, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài triển khai chậm, dự án xây dựng khu liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Fomosa đã cơ bản hoàn thành đi vào sản xuất. Việc Formosa giảm đầu tư, trong khi dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II chưa triển khai xây dựng như dự kiến đã làm cho tăng trưởng xây dựng của khu vực FDI giảm mạnh. - Khu vực sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ nhìn chung ổn định và tiếp tục có sự phát triển, thị trường tiêu thụ được mở rộng, nguồn cung hàng hóa dồi dào, chất lượng được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người dân, tốc độ tăng giá trị tăng thêm so với năm 2018 đạt 5,16%, đóng góp 1,82 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, lĩnh vực thương mại, dịch vụ cũng đóng góp không nhỏ cho sự tăng trưởng kinh tế chung. Thị trường hàng hoá phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hoạt động bán lẻ tăng trưởng tích cực, giá cả thị trường không có nhiều biến động. Hạ tầng thương mại phát triển tích cực, các loại hình thương mại như siêu thị mini, chuỗi cửa hàng tiện ích từng bước hình thành phát triển trên địa bàn nông thôn...Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ duy trì tăng trưởng khá, ước năm 2019 tăng 10,6% so với năm 2018; tổng khách du lịch lưu trú đạt 1,85 triệu lượt khách, tăng 5,98% so với năm 2018, góp phần làm cho tăng trưởng kinh tế ngành lưu trú, ăn uống ước tăng 7,64%; hoạt động kinh doanh vận tải hành khách và hàng hoá trong thời gian qua tăng trưởng khá ổn định, tốc độ tăng trưởng ngành vận tải kho bãi ước tăng 4,62% . - Hiện nay, thực hiện tính chỉ tiêu GRDP theo giá cơ bản thì thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP. Năm 2019, thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm theo giá so sánh tăng 5,82% so với năm 2018 đã làm tăng 0,56 điểm phần trăm trong tổng mức tăng trưởng chung. Nhìn chung, giai đoạn 5 năm từ 2015 đến 2019 Hà Tĩnh đã có nhiều thay đổi trong tăng trưởng kinh tế, trong giai đoạn này tăng trưởng của Hà Tĩnh phụ thuốc rất lớn vào dự án gang thép Hưng Nghiệp Formosa. Do nền kinh tế năm 2016 giảm sâu, nên tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2015-2019 chỉ đạt 5,83%/năm, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1,01%/năm; khu vực công nghiệp-xây dựng đạt 11,69%/năm; khu vực dịch vụ đạt 4,3%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt -3,11%/năm. Mặc dù khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng là thành tố quan trọng đóng góp cho sự cải thiện về tốc độ tăng trưởng bình quân chung cả giai đoạn. Tuy nhiên, năm 2016 với hoạt động xây dựng thông qua vốn đầu tư dự án Fomosa đã đầu tư xây dựng hoàn thành và năm 2019 sau khi lò cao số 2 bước vào sản xuất ổn định ở năm thứ 2 đã làm cho tăng trưởng khu vực công nghiệp xây dựng hai năm này đạt thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Như vậy, việc hoạt động sản xuất ổn định của Dự án Fomosa đóng vai trò rất lớn cho sự phát triển mạnh mẽ ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước tạo tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế cho những năm tiếp theo và tạo tiền đề cho bước đột phá mới. 1.2. Cơ cấu nền kinh tế Sự tăng trưởng kinh tế nhanh trong thời gian qua là kết quả của những thay đổi quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Mô hình tăng trưởng kinh tế Hà Tĩnh đã có sự chuyển đổi, chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến mới, trong đó yếu tố sản xuất đóng vai trò quan trọng. Nông nghiệp nông thôn phát triển khá. Công nghiệp có bước phát triển đột phá; bắt đầu thu hút được công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp năng lượng mới; công nghiệp chế biến chế tạo. Hoạt động thương mại dịch vụ phục hồi nhanh và tăng trưởng khả quan sau sự cố môi trường, xã hội hóa các loại hình dịch vụ được đẩy mạnh và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng xã hội. Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế không còn chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng xét một cách tổng thế thì cơ cấu kinh tế Hà Tĩnh chuyển dịch vẫn đang còn chậm. 2. Tài chính, ngân hàng 2.1. Thu - chi ngân sách Trong điều kiện nền kinh tế đang có những khó khăn chung nhưng được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; sự chỉ đạo điều hành quyết liệt của Ủy ban nhân dân tỉnh, sự quyết tâm của ngành Thuế, Hải quan và sự đồng hành của hệ thống chính trị nên thu ngân sách vẫn có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, do cơ cấu các khoản thu ngân sách không đảm bảo dự toán đầu năm, các khoản thuế, phí và thu khác đưa vào cân đối ngân sách chưa đạt kế hoạch, hụt thu ngân sách tỉnh trong năm 2019 nên khả năng cân đối ngân sách để đảm bảo các nhiệm vụ chi theo dự toán còn khó khăn. Trong thu cân đối ngân sách thì thu hải quan chiếm 31,8% và thu nội địa chiếm 36,1%. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách Trung ương chiếm 50% tổng thu ngân sách Nhà nước. Kết quả năm 2019, thu hải quan đạt 85,5% và thu nội địa đạt 107,1% dự toán năm 2019, đây là kết quả khá tích cực trong việc thu ngân sách trên địa bàn. Cùng với việc thực hiện thu ngân sách thì việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 13,1% tổng chi, giảm 13,5% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 33,1% tổng chi, giảm 0,95% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới chiếm 32,6% tổng chi, tăng 8,9% so với năm 2018. 2.2. Hoạt động ngân hàng Năm 2019, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển. Nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định. Lãi suất huy động phổ biến ở mức 0,5% - 1,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%- 5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,5% - 6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 6,5% - 7,3%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Nguồn vốn trung, dài hạn tăng đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động nguồn vốn và đầu tư cho vay dài hạn, tạo điều kiện cho khách hàng mở rộng sản xuất kinh doanh. Doanh số cho vay tăng cao hơn mức tăng trưởng dư nợ, chứng tỏ vòng quay vốn nhanh, tín dụng trên địa bàn tăng trưởng tốt. Nợ xấu được kiểm soát và dưới mức cho phép (1,21%). Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại, đó là: Cho vay đóng mới tàu cá theo Nghị định số 67 nợ xấu ngày càng tăng (chiếm trên 77% dư nợ cho vay NĐ 67), các chủ tàu vẫn tiếp tục thiếu phối hợp và chây ỳ việc trả nợ cho các ngân hàng; việc cho vay một số dự án lớn không thu hồi được nợ (như Dự án chăn nuôi Bình Hà, dự án Thép Vạn lợi,...) làm ảnh hưởng đến tính an toàn vốn, thậm chí ảnh hưởng đến cả trách nhiệm pháp lý của cán bộ. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 3.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: Năm 2019, diện tích gieo cấy lúa tăng nhưng do điều kiện thời tiết diễn biến bất lợi nên đã ảnh hưởng làm giảm năng suất của cả hai vụ sản xuất chính trong năm. Vụ Xuân việc gieo cấy lúa của bà con nông dân sớm hơn lịch thời vụ khoảng 10-15 ngày nên lúa đã trổ sớm và lại đúng vào đợt không khí lạnh cuối mùa. Vụ Hè Thu thì vào những thời điểm sinh trưởng, trổ bông, cây lúa liên tục bị ảnh hưởng bởi nắng nóng, hạn hán kéo dài. Giai đoạn cuối vụ lúa chín đang thu hoạch thì bị ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 gây mưa lớn từ ngày 28/8 đến 5/9/2019 làm cho 2.337 ha lúa mất trắng năng suất. Do năng suất giảm nên tổng sản lượng lúa cả năm 2019 sơ bộ giảm 5,4% (giảm 28.638 tấn) so với năm 2018. Kết quả sản xuất các loại cây trồng hàng năm khác có mức tăng nhẹ so với năm 2018. Hiện nay, bà con nông dân đang tập trung sản xuất cây rau màu vụ Đông 2019. Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.448 ha, bằng 105,1% (tăng 1.511 ha) so với năm 2018, trong đó diện tích cây ăn quả là 18.453 ha, bằng 108,6% (tăng 1.462 ha), chiếm 58,7% tổng diện tích cây lâu năm. Việc khai thác điều kiện thuận lợi về đất đai để phát triển cây ăn quả là rất cần thiết. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải có quy hoạch và kế hoạch phát triển một cách hợp lý, nhất là quan tâm đến chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ, tránh hiện tượng người dân tự phát phát triển cây ăn quả không theo quy hoạch sẽ dễ dẫn đến hiện tượng mất cân đối cung - cầu và gây thiệt hại cho người dân. Năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng nhẹ, ảnh hưởng và thiệt hại chủ yếu là do sự bất lợi của thời tiết. c. Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong năm 2019 gặp rất nhiều khó khăn, số lượng đàn vật nuôi giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính là do dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn từ trung tuần tháng 5/2019 đến nay vẫn chưa kết thúc và hiện nay vẫn đang diễn biến phức tạp, khó lường gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi. Cùng với sự sụt giảm sản lượng lúa thì đây cũng là một trong những nguyên nhân chính tác động làm cho tăng trưởng GRDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,58% so với năm 2018. Thời gian tới, để ổn định và phát triển đàn vật nuôi trên địa bàn, bên cạnh việc tập trung phòng chống các loại dịch bệnh thì các cơ quan chức năng cũng cần phải tập trung thực hiện một số nội dung công việc như: Phải đánh giá một cách đầy đủ, căn cơ về tình hình dịch bệnh, thiệt hại do dịch bệnh gây ra đối với người chăn nuôi để tham mưu cho địa phương có những cơ chế, chính sách hổ trợ người chăn nuôi một cách kịp thời nhằm tạo điều kiện cho họ tái đàn; xác định thị trường cung - cầu thực phẩm, nhất là dịp Tết Nguyên đán để có những chính sách điều hành linh hoạt, tránh nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn có thể xẩy ra; trong thời gian qua giá lợn hơi tăng mạnh nên người chăn nuôi có tâm lý muốn sớm tái đàn trong khi tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp nên cần có những khuyến cáo kịp thời để tránh thiệt hại cho người chăn nuôi. Dự báo trong những tháng tới, trong bối cảnh dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thì hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn tiếp tục gặp khó khăn, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn phục vụ dịp Tết nguyên đán có thể xẩy ra. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Đến thời điểm ngày 15/12/2019, dịch tả lợn Châu Phi đã xẩy ra trên tất cả các huyện, thành phố, thị xã với mức độ khác nhau. Dịch bệnh đã xẩy ra tại 5.253 hộ chăn nuôi, thuộc 703 thôn, làm chết và tiêu hủy 32.678 con lợn, với tổng trọng lượng là 1.738 tấn. Cùng với dịch tả lợn Châu Phi, hiện nay trên địa bàn cũng đã phát hiện dịch lở mồm long móng đối với gia súc tại một số địa phương (Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh và Thị xã Hồng Lĩnh), với 327 con gia súc mắc bệnh (51 con trâu và 276 con bò), trong đó có 8 con bê, nghé bị chết buộc phải tiêu hủy. Có thể nhận thấy, tình hình dịch bệnh đối với đàn vật nuôi đang diễn biến rất phức tạp và có nguy cơ bùng phát. Vì vậy, người chăn nuôi và các cơ quan chức năng cần phải chủ động và làm tốt công tác phòng bệnh cũng như dập dịch để hạn chế thấp nhất thiệt hại đối với người chăn nuôi và ổn định được đàn vật nuôi trên địa bàn. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 241.138 liều, đạt 76,5% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 213.291 liều, đạt 70,1% kế hoạch; dịch tả lợn 253.177 liều, đạt 56,3% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 259.814 liều, đạt 57,7% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 106.087 liều, đạt 76,2% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1.013.265 liều, đạt 24,1% kế hoạch. Kết quả tiêm phòng đạt thấp cũng đã ảnh hưởng đến công tác phòng dịch và nguy cơ xảy ra, bùng phát dịch bệnh đối với đàn vật nuôi và gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất lớn. 3.2. Lâm nghiệp Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán năm 2019 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng lâm sản khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng cây phân tán cũng giảm so với cùng kỳ do quỹ đất trồng cây phân tán ngày càng bị thu hẹp. Do điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn, cùng với sự bất cẩn và vô ý thức của một số người dân khi vào rừng nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 20 vụ cháy rừng (tăng 10 vụ so với năm 2018), làm thiệt hại 171,97 ha rừng, trong đó: Hương Sơn 8 vụ, huyện Kỳ Anh 4 vụ, Can Lộc 2 vụ và Đức Thọ, Vũ Quang, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà mỗi địa phương 1 vụ. Đây là năm có số vụ cháy rừng và thiệt hại rừng lớn nhất trong nhiều năm qua. 3.3. Thuỷ sản Kết quả sản xuất thủy sản năm 2019 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá, với mức tăng tổng sản lượng thủy sản ước đạt 8,9% so với năm 2018. Với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa đã làm cho sản lượng khai thác biển ước tính tăng 10,4% so với năm 2018, chiếm đến 61,6% tổng sản lượng thủy sản năm 2019. Cùng với đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản thời gian qua cũng được quan tâm thực hiện, với kết quả sản lượng nuôi trồng năm 2019 ước tăng 6,5% so với năm 2018. Trong khi hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đang gặp khó khăn và không có sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước thì với mức tăng sản lượng thủy sản như trên là kết quả tích cực trong hoạt động sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Để cung cấp nguồn giống cho người dân nuôi trồng thủy sản, năm 2019 các đơn vị sản xuất con giống trên địa bàn đã cung cấp 633 triệu con giống các loại cho các hộ nuôi. Tuy nhiên, lượng con giống trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu người nuôi mà chủ yếu phải nhập từ các tỉnh khác như: Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Bến Tre... Năm 2019, bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy xuất hiện trên tôm với diện tích nhiểm bệnh 37,34 ha ở các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và thị xã Kỳ Anh; bệnh EHP xuất hiện tại Lộc Hà với diện tích nhiểm bệnh là 0,7 ha, bệnh này chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Cùng với đó, sự tác động tổng hợp của các yếu tố độ mặn giảm đột ngột, kết hợp với sự bất lợi của các yếu tố oxy hòa tan, độ kiềm và sắt tổng số là nguyên nhân làm cho cá lồng bè, ngao nghêu, ốc hương chết ở huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Lộc Hà. 4. Sản xuất công nghiệp - Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2019 ước tính tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,2%; sản xuất và phân phối điện giảm 2,3%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động công nghiệp tháng 12/2019 chỉ biến động nhẹ so với tháng trước do Fomosa có sự điều chỉnh giảm sản lượng sản xuất những tháng cuối năm. Năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn duy trì mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 25,3%, trong đó quý I/2019 tăng 44,0%, quý II/2019 tăng 32,5%, quý III/2019 tăng 20,4% và quý IV/2019 tăng 10,7% so với cùng kỳ năm 2018. Tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng cao và ổn định. Chỉ số sản xuất công nghiệp có sự ảnh hưởng rất lớn từ ngành sản xuất kim loại (dự án Formosa). Nếu loại trừ yếu tố ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2019 tăng 17,8% so với năm 2018, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 19,5%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 2,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 19,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,5 lần. Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm có phần chững lại do khó khăn khi giá nguyên liệu tăng trong khi giá bán giảm nên dự án Formosa đã điều chỉnh giảm sản lượng sản xuất và ước tính đạt 94% kế hoạch. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2019 ước tính tăng 21,7% so với tháng trước và tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,7% so với năm 2018. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Chế biến thực phẩm tăng 17,5%; may trang phục tăng 11,9%, sản xuất kim loại (chủ yếu thép) tăng 24,4%...Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Chế biến gỗ giảm 14,5%; in ấn giảm 31,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (gạch nung, bê tông tươi...) giảm 19,7%... Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2019 ước tính tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, trong khi chỉ số tiêu thụ tăng khá và mức tăng chỉ số tồn kho thấp, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn đang có những tín hiệu tích cực hơn. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 12/2019 ổn định so với tháng trước nhưng lại giảm 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2019 giảm 4% so với năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 4,8% và 8,5%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm nhẹ 1,3%. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp - Tình hình đăng ký kinh doanh: Lũy kế từ đầu năm đến ngày 17/12/2019, toàn tỉnh có 774 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó loại hình công ty cổ phần thành lập mới 158 doanh nghiệp, chiếm 20%; công ty TNHH 611 doanh nghiệp, chiếm 78% và doanh nghiệp tư nhân 5 doanh nghiệp, chiếm 2% trong tổng số. Tổng số vốn đăng ký đạt 11.104 tỷ đồng, tăng 78% so với cùng kỳ năm trước với số vốn đăng ký bình quân đạt 14,3 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 5,7 tỷ đồng/doanh nghiệp so với năm 2018), thể hiện quy mô vốn các doanh nghiệp ngày càng tăng. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm trên địa bàn tỉnh tăng khá cao, các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Năm 2019 đã giải quyết việc làm mới cho 10.142 lao động. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất (7.653 lao động), tiếp đến là loại hình công ty cổ phần (2.440 lao động) và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 17/12/2019 là 243 doanh nghiệp, tăng 13% và có 96 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, giảm 9% so với năm 2018. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong năm 2019 tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động vẫn có xu hướng tăng, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. - Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV/2019 tại các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 73,4% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 26,7% khẳng định SXKD tốt lên; 46,7% khẳng định giữ ổn định); 26,7% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý I/2020 so với quý IV/2019, có 64,5% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 17,8% số doanh nghiệp dự báo tốt lên; 46,7% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 35,6% số doanh nghiệp khó khăn hơn. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 62,2% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”; 68,9% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”; 48.9% doanh nghiệp khẳng định “Khó khăn về tài chính” và 28,9% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Thiếu nguyên, nhiên, vật liệu” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2019, có 28,9% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý trước; 44,4% giữ nguyên và có tới 26,7% doanh nghiệp giảm khối lượng sản xuất (chủ yếu là ngành sản xuất gạch và chế biến gỗ); có 24,4% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 31,1% giảm đi; 58,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 24,4% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm và 28,9% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 4,4% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 13,3% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Dự kiến xu hướng quý I/2020 so quý IV/2019 có 17,8% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 10% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 17,8% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 28,9% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm. Đánh giá về biến động lao động quý IV/2019 so với quý III/2019, có 80% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 2,2% khẳng định tăng lên; 77,8% khẳng định giữ ổn định) và 20% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý I/2020 so với quý IV/2019 có 88,9% doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định; 11,1% doanh nghiệp dự kiện giảm lao động, điều đó cho thấy các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong quý tới và không có nhu cầu tuyển thêm lao động để mở rộng sản xuất kinh doanh. 6. Đầu tư và xây dựng 6.1. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư toàn xã hội liên tục giảm mạnh qua các năm trong giai đoạn 2015-2019. Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội năm 2019 ước tính đạt thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, giảm 22,7% so với năm 2018 và chỉ bằng 29,5% so với năm 2015. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (năm 2015 chiếm 79,3% tổng vốn đầu tư), nhưng nay do dự án Formosa đã hoàn thành nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh (năm 2019 chỉ chiếm 23,3% tổng vốn đầu tư); tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2019 giảm 61,1% so với năm 2018 và chỉ bằng 8,7% so với năm 2015. Mặc dù nguồn vốn Nhà nước và vốn ngoài nhà nước tuy có tăng nhẹ nhưng khi chưa có các dự án lớn được triển khai thực hiện trên địa bàn, trong khi Dự án Formosa đã hoàn thành thì nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đang tiếp tục có xu hướng giảm. 6.2. Xây dựng Giá trị tăng thêm theo giá so sánh của ngành xây dựng năm 2019 ước đạt 4.132,2 tỷ đồng, tăng 0,96% so với năm 2018, đóng góp 0,09 điểm phần trăm trong mức tăng chung. Năm 2019, hoạt động xây dựng trên địa bàn tiếp tục gặp khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài triển khai chậm, dự án khu liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Fomosa đã hoàn thanh giai đoạn 1. Việc Formosa giảm mạnh đầu tư, trong khi dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II chưa triển khai xây dựng như dự kiến, đã làm cho tăng trưởng xây dựng của khu vực FDI giảm mạnh. Trong khi đó hoạt động xây dựng dân dụng chưa có nhiều biến chuyển, các doanh nghiệp ngoài nhà nước đang gặp khó khăn…các yếu tố này đã làm cho tăng trưởng trưởng của ngành xây dựng sụt giảm mạnh. 7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 12/2019 tăng khá so với tháng trước (tăng 6,1%) và so với cùng kỳ năm trước (tăng 14,9%). Tính chung quý IV, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 9,6% so với quý trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Cả năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước tăng 9% so cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng 15,7% của năm 2018. Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định, không có sự đột biến xẩy ra. Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và tiêu dùng, nguy cơ tăng giá rất cao. Để góp phần đảm bảo cung cầu trong dịp cuối năm 2019 và Tết Nguyên Đán, Sở Công thương đã yêu cầu các doanh nghiệp, địa phương báo cáo tình hình dự trữ hàng hóa; nắm bắt nhu cầu tiêu dùng của người dân để triển khai kế hoạch cụ thể dự trữ hàng hóa thiết yếu, phục vụ người dân trong dịp Tết; kiểm soát chặt chẽ về chất lượng hàng hóa, bình ổn giá cả thị trường, tránh tình trạng khan hàng, sốt giá, nhất là nhóm mặt hàng thực phẩm tươi sống (thịt bò, thịt lợn và thịt gà). - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 12/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 2,9%) và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Cả năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 7,8% so với năm 2018 và tăng đều ở cả 3 ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 6,5%; ăn uống tăng 7,9% và du lịch tăng 11,6%. Năm 2019, các cơ sở lưu trú du lịch được tăng cường và nâng cao hiệu lực hiệu quả; chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành du lịch ngày càng được nâng lên, làm cho hoạt động du lịch Hà Tĩnh duy trì được tốc độ phát triển. Đặc biệt, các tour du lịch nội tỉnh; kết nối các tour du lịch lữ hành, mở rộng thị trường khách du lịch quốc tế đến với tỉnh nhà cũng được đẩy mạnh. Với kết quả đó sẽ tạo đà để Hà Tĩnh tiếp tục phát huy các thế mạnh trong du lịch, dịch vụ hỗ trợ; kết nối với các vùng trọng điểm du lịch khác trong cả nước, thu hút đông đảo khách tham quan, nghỉ dưỡng trong thời gian tiếp theo. - Hoạt động dịch vụ khác: Tháng 12/2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác chỉ đạt mức tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 2,1%). Cả năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước tăng 6,4% so với năm 2018. Chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng 12,4%); dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí (tăng 11,5%); dịch vụ cá nhân khác (tăng 6,8%). Năm 2019, hoạt động dịch vụ khác trên địa bàn tỉnh có những bước chuyển biến tích cực, với sự cải cách mạnh mẽ về môi trường kinh doanh, huy động được nhiều nguồn lực đầu tư, kết cấu hạ tầng giao thông tiếp tục được cải thiện, nhiều dự án kinh doanh vui chơi giải trí được xây dựng mới, trang thiết bị hiện đại cùng với đó thu nhập của người dân ngày càng tăng,nên dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ tăng. - Hoạt động dịch vụ vận tảỉ hành khách và hàng hóa: Vận tải hành khách tháng 12/2019 tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 1,7% về số lượt hành khách vận chuyển và tăng 1,6% số lượt hành khách luân chuyển). Năm 2019, vận tải hành khách so với năm trước tăng 10% về số lượt hành khách vận chuyển và tăng 10,1% về số lượt hành khách luân chuyển. Vận tải hàng hóa tháng 12/2019 tiếp tục duy trì ổn định và tăng so với tháng trước (tăng 5,3% về số lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 11,4% số lượng hàng hóa luân chuyển). Năm 2019, vận tải hàng hóa so với năm trước tăng 8,8% về số lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 11,5% về số lượng hàng hóa luân chuyển. Nhìn chung, hoạt động vận tải trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2019 vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định ở tất cả các chỉ tiêu hoạt động của ngành. Đáp ứng tốt nhu cầu đi lại cũng như vận tải hàng hóa của người dân, doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ ngày càng tốt hơn. - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 12/2019 ước đạt 40,69 tỷ đồng, giảm 11,3% so tháng trước và giảm 24,2% so cùng kỳ năm trước. Cả năm 2019, doanh thu ước đạt 498,22 tỷ đồng, giảm 36,9% so với năm 2018. Như vậy, doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải năm 2019 giảm so với năm trước do ngừng thu phí trạm cầu Rác (huyện Cẩm Xuyên) và lượng hàng hóa thông qua cảng Sơn Dương và Vũng Áng giảm. 8. Chỉ số giá tiêu dùng - CPI tháng 12 năm 2019, tăng 1,54% so với tháng trước, tăng 4,52% so với cùng kỳ năm 2018. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 1,94%; nông thôn tăng 1,26%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 5 nhóm có chỉ số giá ổn định so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục; văn hóa, giải trí và du lịch); nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,84% so với tháng trước. Còn lại 6 nhóm hàng hóa đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,59% (trong đó thực phẩm tăng 5,67%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,63%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%; giao thông tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,16%. Một số nguyên nhân chính tác động đến chỉ số CPI tháng 12/2019, đó là: (1) Tình hình dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra trên địa bàn trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến nguồn cung, khiến giá thịt lợn tăng đột biến, kéo theo các loại thực phẩm thịt tươi sống, chế biến và hàng thuỷ hải sản đều tăng giá mạnh; (2) Nhu cầu tiêu dùng những tháng cuối năm mua sắm đồ dùng gia đình, hàng may mặc, ô tô tăng; (3) Yếu tố quản lý điều hành giảm giá xăng dầu do biến động giảm của thị trường xăng dầu thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 12/2019 giảm 0,67% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 14,92%. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/12/2019 ở khu vực thành thị là 4,165 triệu đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 4,198 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2019 giảm 0,03% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,82%. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/12/2019 mức giá bán ra là 2.318 nghìn đồng/100USD. - CPI năm 2019, tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,43% và khu vực nông thôn tăng 1,98%. Năm 2019, chỉ số giá tiêu dùng chịu ảnh hưởng chủ yếu từ sự tăng giá mạnh của 4 nhóm hàng hoá, dịch vụ gồm: Thuốc và dịch vụ y tế (tăng 6,9%); may mặc, mũ nón, giày dép (tăng 5,5%); nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 3,82%) và nhóm đồ uống và thuốc lá (tăng 2,15%). Cùng với đó, có 2 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ: Nhóm giao thông (giảm 1,25%) và nhóm bưu chính viễn thông (giảm 1,5%). Tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân năm 2019 tăng ở mức thấp, điều đó thể hiện công tác kiềm chế lạm phát đang được triển khai thực hiện với những tín hiệu tích cực. Nguyên nhân làm cho thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ năm 2019 tăng so với năm trước là do nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng và chi phí sản xuất tăng nên giá một số mặt hàng tăng. Cùng với đó, nhiều mặt hàng có sự biến động mạnh do việc điều chỉnh các chính sách về giá cũng đã ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá chung như: Giá dịch vụ y tế, giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu, vàng và đô la Mỹ. - Dự kiến CPI tháng 01/2020, tiếp tục tăng do là tháng cận Tết Nguyên đán nên nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên. Cùng với đó, tình hình dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra trên địa bàn trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến nguồn cung, khiến giá thịt lợn tăng mạnh làm cho các loại thực phẩm thịt tươi sống, chế biến và hàng thuỷ hải sản cùng tăng; nhu cầu tiêu dùng những tháng cuối năm mua sắm đồ dùng gia đình, hàng may mặc tăng sẽ là những yếu tố tác động làm cho chỉ số giá tăng. Công tác kiểm tra quản lý giá, bình ổn thị trường thương mại trong những tháng cuối năm được các cấp các ngành quan tâm hơn. Để bảo đảm nguồn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, các siêu thị lớn, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đang có sự chuẩn bị về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu, bình ổn giá…Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống cũng như sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Dân số, lao động và việc làm Dân số trung bình năm 2019 ước tính 1.290.263 người, tăng 1% so với năm 2018 (tăng 12.733 người). Trong đó: Dân số thành thị 253.864 người, chiếm 19,68%; dân số nông thôn 1.036.399 người, chiếm 80,31%; dân số nam 641.489 người, chiếm 49,72% và dân số nữ 648.774 người, chiếm 50,28%. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên năm 2019 ước tính 726.289 người, tăng 7.086 người so với năm trước, chiếm 56,29% dân số toàn tỉnh, bao gồm lao động nam 369.433 người, chiếm 50,87%; lao động nữ 356.856 người, chiếm 49,13%; lao động khu vực thành thị 150.763 người, chiếm 20,76%; lao động khu vực nông thôn 575.526 người, chiếm 79,24%. Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2019 ước tính 696.978 người, chiếm 95,96% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, bao gồm 300.049 người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 43,05% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 165.290 người, chiếm 23,72%; khu vực dịch vụ 231.639 người, chiếm 33,23%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2019 là 2,65%, giảm 2,35 điểm phần trăm so với năm 2018. Ước tính năm 2019, Hà Tĩnh đã giải quyết việc làm cho 24.784 lao động, tăng 3,4% so với năm 2018, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 11.860 người, tăng 0,25%; xuất khẩu lao động 9.584 người, tăng 2,77%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.340 người, tăng 7,81%. 9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Đời sống dân cư Hà Tĩnh năm 2019 tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2019 ước tính 4,53%, giảm 2,39 điểm phần trăm so với năm 2018. Cùng với sự thay đổi mức lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động; tỉnh còn chỉ đạo ưu tiên hỗ trợ vay vốn sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích, kích cầu cho hộ nghèo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng khoa học - kỹ thuật; đồng thời tranh thủ vận dụng các nguồn vốn từ các chương trình, dự án để hộ nghèo có thêm điều kiện sản xuất, cải thiện đời sống. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra. Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Năm 2019, đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 239.417 suất quà với tổng kinh phí 67,93 tỷ đồng, bao gồm 26,11 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ cho các đối tượng chính sách; 15,36 tỷ đồng hỗ trợ cho hộ nghèo và 26,46 tỷ đồng cho cứu trợ xã hội khác. Đồng thời, trao tặng 21 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách với tổng trị giá 0,83 tỷ đồng; xây mới 70 nhà tình nghĩa, trị giá 8,84 tỷ đồng và sữa chữa 65 nhà với tổng giá trị là 1,05 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã cấp 39.318 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 72.708 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 155.033 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 56.698 thẻ BHYT cho người có công. 9.3. Giáo dục, đào tạo - Giáo dục phổ thông: Năm học 2019-2020, ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tập trung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hoàn thành các điều kiện để triển khai chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới từ năm 2020-2021. Trong năm học này, toàn tỉnh có 701 trường, giảm 24 trường so với năm học 2018-2019 (gồm 265 trường mầm non, giảm 10 trường; 241 trường tiểu học, giảm 12 trường; 150 trường THCS, giảm 2 trường; 45 trường THPT) với 10.138 lớp (mẫu giáo 2.614 lớp, tiểu học 3.942 lớp, THCS 2.370 lớp, THPT 1.212 lớp) và 17.811 giáo viên (mầm non 5.099 người, tiểu học 5.245 người, THCS 4.699 người, THPT 2.768 người) và 314.312 học sinh (nhà trẻ, mẫu giáo 76.022 em, tiểu học 118.610 em, THCS 75.865 em và THPT 43.815 em). - Giáo dục đào tạo: Năm 2019-2020, toàn tỉnh chỉ có 1 trường đại học với 2.116 sinh viên, gồm 2.060 sinh viên hệ đại học và 56 sinh viên hệ cao đẳng. Trong đó, tuyển mới 320 sinh viên, gồm 282 sinh viên hệ đại học và 38 sinh viên hệ cao đẳng. Bên cạnh đó, giáo dục nghề nghiệp cũng được chú trọng, chất lượng ngày càng nâng cao hơn. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm đến công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Trong năm 2019, đã tổ chức dạy nghề cho 19.402 người, trong đó: Trình độ cao đẳng nghề 1.101 người, trung cấp nghề 4.730 người, sơ cấp nghề và đào tạo thường xuyên 13.571 người. 9.4. Hoạt động Y tế Năm 2019, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân. - Tình hình dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch bệnh luôn được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời. Đặc biệt là tình hình dịch bệnh sởi và dịch sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp trên thế giới và tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Ở Hà Tĩnh, ngành Y tế đã tập trung cán bộ trực tiếp đi kiểm tra, giám sát phòng chống dịch bệnh tại các địa phương; triển khai các biện pháp xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bùng phát và lan rộng. Năm 2019, đã có 290 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 357 trường hợp sốt rét, 222 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 239 trường hợp mắc lỵ a míp, 47 trường hợp mắc bệnh sởi, 27 trường hợp viêm gan siêu vi rút, 8 trường hợp mắc bệnh virus adeno, 8 trường hợp mắc bệnh ho gà và không có trường hợp nào tử vong do các loại dịch bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Hà Tĩnh đã tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi hành vi, nhằm giảm sự mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Năm 2019, Hà Tĩnh có 78 trường hợp nhiễm mới HIV (tăng 26 trường hợp so với năm 2018), 72 trường hợp chuyển thành AIDS (tăng 24 trường hợp) và có 10 trường hợp chết vì AIDS (tăng 7 trường hợp). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: An toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Năm 2019, xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể ở huyện Cẩm Xuyên và Hương Khê (giảm 1 vụ so với năm 2018) làm 86 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. Ngoài ra, còn có 1.594 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 6,91% so với năm 2018) và có 1 trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. 9.5. Hoạt động văn hóa - thể thao Hoạt động văn hóa trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2019, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo thay đổi nội dung tuyên truyền ở các cụm panô, áp phích tấm lớn trên địa bàn, hướng dẫn cơ sở tổ chức sinh hoạt CLB văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao cũng như treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh; ngoài ra, còn chú trọng đến công tác bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa, di tích lịch sử, nhằm lan toả các giá trị tốt đẹp tới cộng đồng dân cư. Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên. Năm 2019, đã thực hiện 6 cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch, tiến hành kiểm tra 162 cơ sở, đình chỉ hoạt động 12 cơ sở, tịch thu tiêu hủy 3.543 tờ rơi, tờ gấp, xử phạt vi phạm hành chính 18 trường hợp với số tiền 64 triệu đồng. Cấp 223 giấy phép, trong đó có 33 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 22 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 163giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 5 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao. Hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; đồng thời gắn với các phong trào thi đua yêu nước thường xuyên được duy trì và tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với đó, thể thao thành tích cao trong năm 2019 cũng đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Hà Tĩnh tham gia 49 giải, giành được 223 huy chương các loại (gồm có 82 HCV, 62 HCB và 79 HCĐ) tại các đấu trường khu vực, quốc gia, trong đó tham gia 20 giải quốc tế và giành được 54 huy chương (27 HCV, 14 HCB, 13 HCĐ). Riêng tại Seagames 30, Hà Tĩnh có 7 VĐV tham gia và giành được 7 huy chương (gồm 3 HCV, 3 HCB và 1 HCĐ). 9.6. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/11/2019 đến ngày 14/12/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người, bị thương 10 người. So với tháng trước tăng 4 vụ tai nạn đường bộ, tăng 3 người chết và tăng 3 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 5 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và tăng 4 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu bia khi tham gia giao thông, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng. Như vậy, tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 14/12/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 124 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 2 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 110 người và bị thương 79 người. So với năm 2018 giảm 7 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 2 vụ tai nạn giao thông đường sắt, giảm 14 người chết và tăng 6 người bị thương. 9.7. Tình hình thiên tai Năm 2019, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 5 đợt thiên tai, chủ yếu là mưa lớn, lốc xoáy, sét đánh và ngập lụt. Thiệt hại do thiên tai năm 2019 tăng nhiều so với năm 2018: có 7 người chết (tăng 6 người), 5 người bị thương; 292 nhà ở của dân, 2 trường học bị tốc mái, hư hỏng và 6.002 nhà ở bị ngập; 8.923 ha lúa (1.590 ha vụ Xuân; 7.333 ha vụ Hè Thu), 360,3 ha ngô, 847,5 ha rau màu và 938 ha cây lâu năm bị đổ và hư hỏng; 6 con bò bị chết; 1.341,5 ha diện tích và 170 lồng bè nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 1.860 cây lâm nghiệp và 530 cây cảnh, cây bóng mát bị đổ gãy; 2.040 m kè, 10,63 km kênh mương, 13.922 m3 đất đá bị sạt lở; 5 cầu và 9 cống bị sập trôi; 1 cột ăng ten, 568 cột điện 15,59 km đường dây điện và 9 trạm biến thế bị đổ, hư hỏng nặng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 745,2 tỷ đồng. Sau khi xảy ra lốc xoáy và mưa lớn, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người dân. Ngoài ra, có 63 đoàn thông qua Mặt trận Tổ quốc tỉnh và trực tiếp về tại các địa phương động viên, chia sẽ với bà con bị thiệt hại với số tiền, hàng trị giá 6,153 tỷ đồng; Hội Chữ thập đỏ cứu trợ trên địa bàn Hương Khê hàng và tiền trị giá 229 triệu đồng; Trung ương hỗ trợ 1.000 tấn gạo. 9.8. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Công tác Phòng cháy chữa cháy (PCCC) luôn được tỉnh quan tâm và chỉ đạo sâu sát như: Tổ chức các khóa tập huấn, huấn luyện nâng cao nghiệp vụ về PCCC cho các cán bộ chiến sĩ; làm tốt công tác tự kiểm tra an toàn PCCC, định kỳ bảo quản, bão dưỡng phương tiện chữa cháy tại chỗ; tổ chức nghiêm túc công tác thường trực sẵn sàng chữa cháy; đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật PCCC đến người dân, đặc biệt trong các khu công nghiệp và những nơi có nguy cơ cháy nổ cao. Nhờ vậy, trong tháng không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Cả năm 2019, toàn tỉnh đã xảy ra 71 vụ cháy và 5 vụ nổ (giảm 10 vụ cháy và tăng 2 vụ nổ so với năm 2018), làm 2 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 34,42 tỷ đồng. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 12/2019, cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 10 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt 28 triệu đồng. Cả năm 2019, đã kiểm tra phát hiện 107 cơ sở vi phạm môi trường, trong đó xử lý 90 cơ sở với số tiền 301,5 triệu đồng. Các vụ vi phạm trên, chủ yếu là hoạt động khai thác đất trái phép. 10. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 a. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 Kỳ họp thứ 12 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2020 như sau: - Tổng sản phẩm (GRDP) tăng từ 10,5%-11% so với năm 2019; - Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn; - Giá trị sản xuất/đơn vị diện tích đạt trên 90 triệu đồng/ha; - Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 1,2 tỷ USD; - Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt trên 14.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa trên 7.200 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 6.800 tỷ đồng; - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 36.000 tỷ đồng; - Tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt trên 90%; - Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 8,5%; - Số giường bệnh/1 vạn dân đạt 26 giường; - Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) còn dưới 3%; - Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%; - Có thêm ít nhất 20 xã và 3 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 3 xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu. b. Giải pháp thực hiện Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là: - Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành; hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh; hoàn thiện cơ chế, chính sách, thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư trên địa bàn, đẩy nhanh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. - Tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Thực hiện các giải pháp đồng bộ, quyết liệt triển khai thực hiện các dự án trọng điểm, huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. - Chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững và mỗi xã một sản phẩm, tạo tiền đề để tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2025. - Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu.Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, dịch vụ, đồng thời phát triển thế mạnh của tỉnh về nguồn tài nguyên du lịch sẵn có để đưa du lịch thành ngành kinh tế quan trọng vào năm 2020 và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2025. - Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, các vụ việc tồn đọng; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. - Phát triển toàn diện lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội. Quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biên pháp luật. Đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại - Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy; hoàn thành sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hình thức thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo đồng thuận xã hội, thực hiện hoàn thiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và nhiệm kỳ 2016-2020. Đẩy mạnh phong trào thi đua lập thành tích chào mừng các sự kiện lớn và Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí, biểu dương khen thưởng kịp thời và xử lý nghiêm các vi phạm... Để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, cần phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương./.
Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2019
- 24/07/2024 10:00
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng qua là tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ Mùa và tiến hành sản xuất cây vụ Đông. + Chính thức vụ Hè Thu 2019: Sản xuất vụ Hè Thu năm nay trong điều kiện có nhiều khó khăn về thời tiết; đặc biệt vào những thời điểm sinh trưởng, trổ bông, cây lúa liên tục bị ảnh hưởng bởi nắng nóng, hạn hán kéo dài. Trong quá trình thu hoạch do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão số 4 (từ ngày 28/8 đến ngày 5/9/2019) đã gây mưa lớn làm một số diện tích lúa chưa thu hoạch bị ảnh hưởng nghiêm trọng, lúa chưa kịp thu hoạch ngâm nước lâu ngày nên đã bị mọc mầm. Vì vậy, năng suất thu hoạch lúa vụ Hè Thu năm 2019 bình quân toàn tỉnh đạt 42,27 tạ/ha, giảm 4,27 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Cùng với năng suất lúa giảm thì có 2.337 ha lúa mất trắng tập trung ở các huyện Cẩm Xuyên, Can Lộc, Hương Khê, Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh...đã làm cho sản lượng lúa Hè Thu năm 2019 giảm 26.248 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cùng với cây lúa thì kết quả chính thức vụ Hè Thu 2019 của các loại cây trồng khác đạt được như sau: Sản lượng ngô tăng 1.366 tấn, sản lượng khoai lang giảm 620 tấn, sản lượng lạc giảm 112 tấn, sản lượng đậu tăng 1.377 tấn và sản lượng rau các loại giảm 3.134 tấn. + Kết quả sơ bộ sản xuất vụ Mùa 2019: Sản xuất vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết nên người dân ít đầu tư sản xuất nên kết quả đạt được thường không cao. Kết quả sơ bộ vụ Mùa đối với một số loại cây trồng so với cùng kỳ năm trước đạt được như sau: Sản lượng lúa tăng 149 tấn, khoai lang giảm 22 tấn, sắn giảm 32 tấn và các loại rau chủ yếu được người dân trồng để cải thiện đời sống, phục vụ nhu cầu hộ gia đình là chủ yếu. + Sản xuất vụ Đông năm 2019: Với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tiến độ gieo trồng các loại cây trồng vụ Đông tính đến ngày 15/11/2019 đạt được như sau: Ngô lấy hạt 2.491 ha/3.784 ha, đạt 65,83% kế hoạch; ngô sinh khối 1.049 ha/ 1.769 ha, đạt 59,30% kế hoạch; rau các loại 3.939 ha/4.490 ha, đạt 87,73% kế hoạch; khoai lang 1.376 ha/1.909 ha, đạt 72,08% kế hoạch. Hiện nay bà con nông dân đang tích cực gieo trỉa và chăm sóc các loại cây trồng vụ Đông, tuy nhiên do điều kiện thời tiết diễn biến bất thường nên vẫn gặp nhiều khó khăn. + Kế hoạch sản xuất vụ Xuân năm 2020: Với quan điểm chỉ đạo phải tuân thủ nghiêm lịch thời vụ, tăng tỷ lệ giống chất lượng, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu; ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trồng trọt trong sản xuất; phát huy hiệu quả các chuỗi liên kết sản xuất bền vững từ sản xuất đến thị trường tiêu thụ sản phẩm. Vụ Xuân năm 2020 đặt ra các mục tiêu phấn đấu cụ thể như sau: Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 35 vạn tấn; diện tích lúa 58.956 ha, sản lượng 33 vạn tấn; diện tích rau đậu 5.558 ha, sản lượng 39.326 tấn; diện tích lạc 12.546 ha, sản lượng 32.292 tấn; diện tích ngô lấy hạt 3.519 ha, sản lượng 16.562 tấn; diện tích ngô sinh khối 1.550 ha, sản lượng 46.500 tấn; diện tích khoai lang 1.774 ha, sản lượng 14.504 tấn; diện tích đậu các loại 498 ha, sản lượng 501 tấn. Sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại trên các loại cây trồng như: Ngô, khoai lang, rau nhưng với mức độ ảnh hưởng nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 11 năm 2019 vẫn đang tiếp tục gặp khó khăn, số lượng đàn vật nuôi giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính vẫn là do dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn từ trung tuần tháng 5/2019 đến nay vẫn chưa kết thúc và hiện nay đang diễn biến phức tạp, khó lường đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua. Thời gian tới, để ổn định và phát triển đàn vật nuôi trên địa bàn, bên cạnh việc tập trung phòng chống các loại dịch bệnh thì các cơ quan chức năng cũng cần phải tập trung thực hiện một số nội dung công việc như sau: Phải đánh giá một cách đầy đủ, căn cơ về tình hình dịch bệnh, thiệt hại do dịch bệnh gây ra đối với người chăn nuôi để tham mưu cho địa phương có những cơ chế, chính sách hổ trợ người chăn nuôi một cách kịp thời nhằm tạo điều kiện cho họ tái đàn; xác định thị trường cung - cầu thực phẩm, nhất là dịp Tết Nguyên đán để có những chính sách điều hành linh hoạt, tránh nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn có thể xẩy ra; trong thời gian qua giá lợn hơi tăng mạnh nên người chăn nuôi có tâm lý muốn sớm tái đàn trong khi tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp nên cần có những khuyến cáo kịp thời để tránh thiệt hại cho người chăn nuôi. Dự báo trong những tháng tới, trong bối cảnh dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thì hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn tiếp tục gặp khó khăn, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn phục vụ dịp Tết nguyên đán có thể xẩy ra. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Đến thời điểm ngày 18/11/2019, dịch tả lợn Châu Phi đã xẩy ra tại 13/13 huyện, thành phố, thị xã. Dịch bệnh đã xẩy ra tại 5.439 hộ chăn nuôi, thuộc 689 thôn, làm chết và tiêu hủy 31.799 con lợn, với tổng trọng lượng là 1.703 tấn. Cùng với dịch tả lợn Châu Phi, hiện nay trên địa bàn cũng đã phát hiện dịch lở mồm long móng đối với gia súc tại một số địa phương (Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh và Thị xã Hồng Lĩnh), với 327 con gia súc mắc bệnh (51 con trâu và 276 con bò), trong đó có 8 con bê, nghé bị chết buộc phải tiêu hủy. Có thể nhận thấy, tình hình dịch bệnh đối với đàn vật nuôi đang diễn biến rất phức tạp và có nguy cơ bùng phát. Vì vậy, người chăn nuôi và các cơ quan chức năng cần phải chủ động và làm tốt công tác phòng bệnh cũng như dập dịch để hạn chế thấp nhất thiệt hại đối với người chăn nuôi và ổn định được đàn vật nuôi trên địa bàn. 1.2. Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn trong tháng 11/2019 nhìn chung không có nhiều biến động. Là mùa vụ trồng cây lâm nghiệp vụ Thu, cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi nên diện tích trồng rừng tập trung trong tháng 11/2019 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó thì người dân cũng đang ươm và chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân 2020. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 11 năm 2019, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3. Thuỷ sản Tháng 11/2019, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn diễn ra bình thường, sản lượng thủy hải sản khai thác nuôi trồng vẫn đạt được mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 11/2019 trên địa bàn Hà Tĩnh nhìn chung ổn định, không có nhiều biến động so với tháng trước. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 11/2019 có tăng so với tháng trước nhưng chỉ với mức tăng nhẹ 1,95%. Nguyên nhân chính là do khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm nên một số doanh nghiệp phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất. Trong đó tác động lớn nhất vẫn là từ việc điều chỉnh kế hoạch sản xuất của Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Fomosa Hà Tĩnh. Trong tháng 11/2019, doanh nghiệp này dự kiến sản xuất 415 ngàn tấn thép, chỉ đạt mức tăng nhẹ 3,9% so với tháng trước. Cùng với đó, một số sản phẩm như: Võ bào, dăm gỗ, than cốc, gạch xây, điện sản xuất, điện thương phẩm và nước đều dự ước sản lượng sản xuất trong tháng 11/2019 giảm nhẹ so với tháng trước. Tính chung 11 tháng năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn duy trì được mức tăng khá cao và ổn định (tăng 27,49%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 22,82%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,39%, đóng góp 21,18 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 16,71%, đóng góp 3,07 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 5,8 lần, đóng góp 3,01 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Như vậy, tác động lớn nhất đến chỉ số chung toàn ngành công nghiệp của Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn là từ ngành sản xuất kim loại của dự án Fomosa Hà Tĩnh. Tuy nhiên, do hiện nay giá thép thành phẩm liên tục giảm, trong khi giá nguyên liệu tăng cao nên Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Fomosa Hà Tĩnh dự kiến giảm sản lượng sản xuất trong những tháng cuối năm nên khó đạt được kế hoạch sản xuất trong năm 2019 (kế hoạch sản xuất 5,1 triệu tấn thép). Đây sẽ là yếu tố tác động thiếu tích cực đến phát triển sản xuất chung toàn ngành công nghiệp trong thời gian tới. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng năm 2019 có sản lượng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đó là: Đá xây dựng tăng 41,9%; thức ăn cho gia súc tăng 35,1%; thép không rỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 24,8%; điện sản xuất tăng 16,8%; điện thương phẩm tăng 14,1%; nước tăng 9,5 lần...Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm: Gạch xây dựng giảm 41,5%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 32,5%; dược phẩm giảm 28,3%; bê tông trộn sẵn giảm 11,2%... 3. Thực hiện vốn đầu tư Nhu cầu vốn đầu tư phát triển luôn là rất lớn. Tuy nhiên, việc cân đối nguồn từ ngân sách Nhà nước để đầu tư phát triển đang gặp nhiều khó khăn cả ở cấp tỉnh, huyện, xã. Vì vậy, nên dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 cũng như 11 tháng năm 2019 tuy có tăng nhưng với mức tăng không cao so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn chủ yếu đầu tư thực hiện các công trình dự án đã và đang triển khai về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các đơn vị ngành Y tế; các dự án sửa chữa nâng cấp hệ thống giao thông thủy lợi... 4. Thương mại, dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 11/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 3,32%) và tính chung 11 tháng thì tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt mức tăng 8,14% so cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 15,11% của 11 tháng năm 2018. Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn chỉ duy trì mức tăng trưởng ổn định, không có sự đột biến xẩy ra. Thời gian tới là những tháng cuối năm, cùng với sự tác động của những yếu tố biến động giá mặt hàng thịt lợn do nguồn cung hạn chế, việc điều chỉnh giá một số dịch vụ do Nhà nước quản lý (y tế, giáo dục), giá cả các mặt hàng xăng dầu thế giới...sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến thị trường toàn tỉnh. Do vậy, các đơn vị liên quan cần chủ động theo dõi sát diễn biến để có giải pháp bình ổn thị trường và tâm lý người tiêu dùng. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 11/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 1,47%) và chủ yếu tăng ở dịch vụ ăn uống (tăng 1,53%), do trùng với kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày Đại đoàn kết toàn dân tộc và đây cũng là tháng trùng với mùa cưới hỏi nên nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống tăng. Tính chung 11 tháng năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 5.089,81 tỷ đồng, tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 7,96%) và tăng đều ở cả 3 ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 6,19%; ăn uống tăng 8,06% và du lịch tăng 11,61%. - Hoạt động dịch vụ khác: Tháng 11/2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác chỉ đạt mức tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 1,82%). Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng một số ngành dịch vụ như dịch vụ hỗ trợ hành chính, giáo dục, y tế, vui chơi giải trí và dịch vụ làm đẹp tăng so với tháng trước. Tính chung 11 tháng năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước tăng 6,11% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng 12,24%); dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí (tăng 11,22%); dịch vụ cá nhân khác (tăng 6,77%). - Hoạt động dịch vụ vận tảỉ hành khách và hàng hóa: Kết quả hoạt động vận tải hành khách tháng 11/2019 giảm nhẹ so với tháng trước (giảm 3,86% về số lượng hành khách vận chuyển và giảm 2,99% doanh thu vận tải hành khách). Nguyên nhân là do thời tiết trong tháng có mưa nhiều hơn tháng trước nên nhu cầu đi lại của người dân giảm hơn. Cùng với đó, lượng khách tham quan du lịch cũng đã giảm nên làm cho kết quả vận tải hành khách giảm so với tháng trước. Kết quả hoạt động vận tải hàng hóa tháng 11/2019 tiếp tục duy trì ổn định và tăng hơn so với tháng trước. Những tháng cuối năm, các đơn vị kinh doanh tập trung đẩy mạnh việc nhập hàng hoá, tích trữ nguyên liệu sản xuất để chuẩn bị bán vào dịp Tết. Mặt khác, các chủ công trình và dân cư xây dựng nhà ở cũng đang gấp rút hoàn thiện công trình nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng hơn so với tháng trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn Hà Tĩnh 11 tháng năm 2019 vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định trên 10% ở tất cả các chỉ tiêu hoạt động của ngành. Đáp ứng tốt nhu cầu đi lại cũng như vận tải hàng hóa của người dân, doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ ngày càng tốt hơn. - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 11/2019 ước đạt 40,85 tỷ đồng, giảm 3,23% so tháng trước và giảm 22,17% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, doanh thu ước đạt 452,54 tỷ đồng, giảm 38,53% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tháng 11/2019 giảm so với tháng trước do lượng hàng hóa thông qua cảng Sơn Dương và Vũng Áng giảm so với tháng trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 11 năm 2019 tăng 1,51% so với tháng trước, tăng 2,78% so với cùng tháng năm trước và tăng 2,94% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 1,6%; nông thôn tăng 1,48%. Như vậy, đây là tháng có chỉ số CPI tăng cao nhất kể từ đầu năm đến nay. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, ngoài 3 nhóm là giáo dục, thuốc và dịch vụ y tế, đồ uống và thuốc lá có chỉ số giá ổn định so với tháng trước và 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm là giao thông và bưu chính viễn thông. Còn lại 6 nhóm hàng hóa đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,86% (trong đó thực phẩm tăng 4,53%) và nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,51% so với tháng trước là nguyên nhân chính tác động làm tăng mạnh chỉ số CPI tháng 11/2019. Một số nguyên nhân chính tác động đến chỉ số CPI tháng 11/2019, đó là: (1) Tình hình dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra trên địa bàn trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến nguồn cung, khiến giá thịt lợn tăng đột biến, kéo theo các loại thực phẩm thịt tươi sống, chế biến và hàng thuỷ hải sản đều tăng giá mạnh; (2) Do ảnh hưởng bởi giá gas thế giới nên giá gas trên địa bàn trong tháng tăng thêm 15.000 đồng/bình, đạt mốc 340.000 đồng/bình 12 kg. Cùng với đó giá dịch vụ nhà trọ, nhà cho thuê cũng tăng thêm từ 50-100 ngàn đồng/phòng 15 m2; (3) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng giảm. Giá xăng dầu ngày 23/11/2019 tiếp tục được điều chỉnh giảm và rời đỉnh 2 tháng do thị trường Mỹ-Trung không có nhiều chuyển biến tích cực về việc gia hạn cắt giảm sản lượng của OPEC; (4) Giá vật liệu xây dựng giảm do hiện nay lượng hàng tồn kho của các đại lý bán buôn và đơn vị bán lẻ đang lớn. Mặt hàng xi măng hiện nay lượng cung ứng của các nhà máy sản xuất đang vượt cầu tiêu dùng nên các đơn vị sản xuất đã điều chỉnh giảm giá bán; (5) Yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh, tác động đến nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc. Chỉ số giá vàng tháng 11/2019 tăng nhẹ 0,06% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 17,59% và tăng 15,7% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/11/2019 ở khu vực thành thị là 4,2 triệu đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 4,230 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2019 giảm 0,02% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 1,08% và giảm 0,8% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/11/2019 mức giá bán ra là 2.319 nghìn đồng/100USD. CPI bình quân 11 tháng đầu năm 2019 tăng 1,51% so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn 2,27 điểm phần trăm so với mức tăng bình quân 11 tháng năm 2018, trong đó khu vực thành thị tăng 1,15% và khu vực nông thôn tăng 1,75%. Như vậy, CPI bình quân 11 tháng năm 2019 đạt mức tăng thấp nhất trong vòng 4 năm trở lại đây (11 tháng năm 2016 tăng 2,5%; 11 tháng năm 2017 tăng 3,93% và 11 tháng năm 2018 tăng 3,78%). Một số nhóm hàng có CPI bình quân tăng cao là: Nhóm hàng may mặc, mũ nón và dày dép tăng 5,35%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,43%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,25%. Chỉ số CPI tháng 12/2019 dự kiến sẽ tiếp tục tăng. Nguyên nhân chính là: (1) Do các chính sách điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục; (2) Nguồn cung thịt lợn giảm mạnh nên giá thực phẩm vẫn ở mức cao và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; (3) Nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Tình hình đời sống dân cư Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương có phần được cải thiện. Công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm kịp thời. Cùng với đó, người dân cũng tranh thủ thời gian nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên đời sống ngày càng được cải thiện. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra. 6.2. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch bệnh: Trước diễn biến phức tạp của dịch sốt xuất huyết trong 2 tháng qua, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung quyết liệt cho công tác phòng chống dịch nhằm ngăn chặn để dịch không bùng phát trên diện rộng; đồng thời, chỉ đạo các Trung tâm y tế dự phòng huyện phối hợp với các ban, ngành cấp xã, thôn ra quân thực hiện chiến dịch diệt loăng quăng, bọ gậy, vệ sinh môi trường và tiến hành nhiều đợt phun hóa chất diệt muỗi tại các địa bàn đang có dịch cũng như các địa bàn tiếp giáp, lân cận. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có 115 trường hợp sốt xuất huyết; 33 trường hợp sốt rét; 23 trường hợp mắc lỵ trực trùng; 15 trường hợp mắc lỵ a míp; 1 trường hợp mắc bệnh virus adeno nhưng không có trường hợp nào bị tử vong do các dịch bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong thời gian qua, để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh đã tăng cường công tác thông tin, giáo dục truyền thông nâng cao kiến thức phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư nói chung, đặc biệt tăng cường hoạt động truyền thông thay đổi hành vi cho các nhóm người dễ bị nhiễm HIV, những người dễ bị tổn thương và thanh thiếu niên; đồng thời, duy trì có hiệu quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone. Trong tháng, Hà Tĩnh có 7 trường hợp nhiễm HIV (tăng 1 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 6 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và 3 trường hợp chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong mùa mưa lũ, Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm Hà Tĩnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng hàng kém chất lượng như hàng giả, hàng nhái; đồng thời, quản lý chặt chẽ việc quảng cáo sản phẩm, thực phẩm, nhất là thực phẩm chức năng; cũng như xử lý nghiêm và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng những trường hợp vi phạm. Trong tháng đã xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể (ở xã Cẩm Thành - huyện Cẩm Xuyên) làm 4 người bị ngộ độc. Ngoài ra, có 103 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 23,7% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 6.3. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Hoạt động văn hóa-văn nghệ trên địa bàn Hà Tĩnh ngày càng phát triển mãnh mẽ, đa dạng các loại hình, chú trọng đến công tác bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa. Điển hình là, tổ chức khai mạc Liên hoan thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt tỉnh Hà Tĩnh lần thứ III năm 2019 tại Đền Truông Bát (xã Ngọc Sơn - huyện Thạch Hà). Liên hoan này nằm trong khuôn khổ chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt giai đoạn 2017 - 2022, với sự tham gia của 30 thanh đồng, cung văn đến từ các tỉnh, thành: Hà Tĩnh, Nghệ An, Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương, Lạng Sơn, Quảng Ngãi… Riêng Hà Tĩnh có 16 thanh đồng, cung văn tham gia. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên. Trong tháng, đã tiến hành kiểm tra 12 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa. Qua kiểm tra, lập biên bản nhắc nhở 5 cơ sở và yêu cầu bổ sung hồ sơ trang thiết bị đảm bảo (đặc biệt là đảm bảo về công tác phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự). Tiến hành cấp 31 giấy phép, trong đó: có 8 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 19 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở; 3 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa và 1 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao. - Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và được nhiều người cùng hưởng ứng như: Giải bóng chuyền cán bộ, công chức, viên chức do ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức, chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam; Giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh cho giới trung, cao tuôi nam, nữ phổi hợp; Giải bóng chuyền nam do Ban Chỉ huy Biên phòng cửa khẩu Cảng Vũng Áng - Sơn Dương tổ chức chào mừng Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh. Đối với thể thao thành tích cao: Hà Tĩnh đã tham gia các giải và giành được 6 huy chương các loại (2 HVC, 1 HCB, 3 HCĐ), trong đó tiêu biểu là: Giải vô địch bắn súng toàn quốc đã giành được 2 HCV, 1 HCB và 2 HCĐ. 6.4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/10/2019 đến ngày 14/11/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 5 người, bị thương 7 người. So với tháng trước giảm 2 vụ tai nạn đường bộ, giảm 9 người chết và giảm 4 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 13 vụ tai nạn đường bộ, giảm 10 người chết và giảm 5 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu bia khi tham gia giao thông, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng. Như vậy, tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 14/11/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 111 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 2 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 102 người và bị thương 69 người. So với cùng kỳ năm 2018 giảm 18 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 2 vụ tai nạn giao thông đường sắt, giảm 16 người chết và tăng 2 người bị thương. 6.5. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Thời gian gần đây, công tác Phòng cháy chữa cháy (PCCC) luôn được tỉnh quan tâm và chỉ đạo sâu sát như: Tổ chức các khóa tập huấn, huấn luyện nâng cao nghiệp vụ về PCCC cho các cán bộ chiến sĩ; làm tốt công tác tự kiểm tra an toàn PCCC, định kỳ bảo quản, bão dưỡng phương tiện chữa cháy tại chỗ; tổ chức nghiêm túc công tác thường trực sẵn sàng chữa cháy; đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật PCCC đến người dân, đặc biệt trong các khu công nghiệp và những nơi có nguy cơ cháy nổ cao. Nhờ vậy, trong tháng không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 11 tháng năm 2019, toàn tỉnh đã xảy ra 71 vụ cháy và 5 vụ nổ (giảm 1 vụ cháy và tăng 2 vụ nổ so với cùng kỳ năm 2018), làm 2 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 34,42 tỷ đồng. - Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 2 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt 21 triệu đồng, các vụ vi phạm trên đều là hoạt động khai thác đất trái phép. Tính chung 11 tháng năm 2019, đã kiểm tra phát hiện 97 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 80 cơ sở với số tiền 273,5 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2019 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2019
- 24/07/2024 09:53
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong thời gian qua là tập trung chăm sóc cây vụ Mùa và tiến hành sản xuất vụ Đông. Sản xuất vụ Mùa năm 2019 trong điều kiện thời tiết bất lợi. Đầu vụ thời tiết nắng nóng nên bà con nông dân gieo trồng muộn hơn so với các năm trước. Đến thời kỳ các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển mạnh thì gặp phải đợt áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn trên diện rộng làm cho nhiều diện tích hoa màu bị ngập úng, ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng. Về sản xuất vụ Đông năm 2019, với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Vụ Đông năm nay toàn tỉnh phấn đấu gieo trồng 3.784 ha ngô lấy hạt, với sản lượng là 13.465 tấn và 1.769 ha ngô sinh khối, với sản lượng là 58.541 tấn; 1.909 ha khoai lang, với sản lượng là 11.317 tấn và 4.490 ha rau các loại, với sản lượng là 25.689 tấn. Tiến độ sản xuất vụ Đông 2019 tính đến ngày 23/10/2019: Ngô lấy hạt ước đạt 2.298 ha, bằng 60,72% kế hoạch; ngô sinh khối ước đạt 799 ha, bằng 45,17% kế hoạch; khoai lang ước đạt 1.003 ha, bằng 52,52% kế hoạch và rau các loại ước đạt 2.668 ha, bằng 59,42% kế hoạch. Hiện nay, bà con nông dân đang tích cực sản xuất cây trồng vụ Đông, tuy nhiên do điều kiện thời tiết diễn biến bất thường nên sản xuất vụ Đông cũng đang gặp khó khăn. Hiện nay, sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại trên diện tích các loại cây trồng như: Ngô, khoai lang, rau nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ sâu bệnh, nhất là đối với các loại sâu bệnh như: Sâu keo mùa thu, sâu xám, bệnh khô vằn, bệnh lùn sọc đen Phương Nam...nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 10 năm 2019 vẫn đang gặp nhiều khó khăn, số lượng đàn vật nuôi giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính là do dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn từ trung tuần tháng 5/2019 đến nay vẫn chưa kết thúc và hiện nay đang diễn biến phức tạp, khó lường đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua. Những tháng tới, trong bối cảnh dịch tả lợn Châu Phi và các loại dịch bệnh khác vẫn diễn biến phức tạp và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thì hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn tiếp tục gặp khó khăn, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn phục vụ dịp Tết nguyên đán có thể xẩy ra. Trong tháng qua, giá lợn hơi tăng cao, một số trang trại cũng như hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn đang đầu tư tái đàn để đáp ứng nhu cầu thị trường vào dịp cuối năm. Tuy nhiên, cũng cần phải cẩn trọng và chưa nên mạo hiểm tái đàn trong bối cảnh dịch đang diễn biến khó lường, nhất là đối với chăn nuôi nông hộ để tránh thiệt hại cho người chăn nuôi. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Đến thời điểm này, dịch tả lợn Châu Phi đã xẩy ra tại 12/13 huyện, thành phố, thị xã (huyện Nghi Xuân chưa có dịch). Đặc biệt, sau thời gian mưa lũ đã gây ngập úng nhiều nơi nên việc tiêu hủy lợn chết gặp nhiều khó khăn, công tác tiêu độc khử trùng cũng không thể thực hiện triệt để. Hiện dịch bệnh tại các huyện Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Vũ Quang, thành phố Hà Tĩnh đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Dịch bệnh đã xẩy ra tại 3.124 hộ chăn nuôi, thuộc 480 thôn, làm chết và tiêu hủy 18.551 con lợn, với tổng trọng lượng là 970,2 tấn. Dự báo thời gian tới, dịch bệnh sẽ tiếp tục phát sinh, lây lan tại các địa phương chưa có dịch, tái phát các ổ dịch cũ, nguy cơ xâm nhiễm vào các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn, gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất cao. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 10/2019, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp bên cạnh việc khai thác, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng thì người dân đang tập trung tiến hành trồng cây lâm nghiệp vụ Thu 2019 và ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân 2020. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 10 năm 2019, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng. 1.3. Thuỷ sản Hoạt động sản xuất nuôi trồng và khai thác thủy hải sản vẫn diễn ra bình thường, sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng tăng hơn so với cùng kỳ, trong đó chủ yếu là tăng từ khai thác biển. Trong tháng dịch bệnh không xẩy ra đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Sau kỳ sụt giảm trong tháng 9/2019 do mưa lũ bởi ảnh hưởng của bão số 4, sang tháng 10/2019 hoạt động sản xuất công nghiệp ổn định và dự ước chỉ số phát triển sản xuất tăng hơn so với tháng trước cũng như với cùng kỳ năm trước, với mức tăng tương ứng là 13,3% và 6,1%. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện là những nhân tố có sự ảnh hưởng lớn đến chỉ số chung so với tháng trước. Tính chung 10 tháng năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn duy trì được mức tăng khá cao và ổn định (tăng 28,1%) so với cùng kỳ năm trước. Tác động lớn nhất đến chỉ số chung toàn ngành công nghiệp của Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn là từ ngành sản xuất kim loại của dự án Fomosa Hà Tĩnh. Tuy nhiên, do hiện nay giá thép thành phẩm liên tục giảm, trong khi giá nguyên liệu tăng cao nên Công ty Fomosa dự kiến giảm sản lượng sản xuất trong những tháng tới nên khó đạt được kế hoạch sản xuất trong năm 2019 (kế hoạch sản xuất 5,1 triệu tấn thép). Đây sẽ là yếu tố tác động thiếu tích cực đến phát triển sản xuất chung toàn ngành công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong năm 2019. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng năm 2019 có sản lượng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đó là: Đá xây dựng tăng 45,5%; thức ăn cho gia súc tăng 41%; thép không rỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 26,6%; điện thương phẩm tăng 14,1%; nước tăng 9 lần...Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm: Vỏ bào, dăm gỗ giảm 39,1%; dược phẩm giảm 29,2%; gạch xây dựng giảm 42,2%; bê tông trộn sẵn giảm 13,7%... 3. Thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý Nhu cầu vốn đầu tư phát triển là rất lớn nhưng nguồn thu ngân sách và cân đối vốn cho đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước đang gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với cấp xã. Vì vậy, nên dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 cũng như 10 tháng năm 2019 tuy có tăng nhưng với mức tăng không cao so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn chủ yếu đầu tư thực hiện các công trình dự án về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các đơn vị ngành Y tế; các dự án sửa chữa nâng cấp hệ thống giao thông thủy lợi... 4. Thương mại, dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn thời gian qua vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ năm trước. Đời sống của người dân tiếp tục được cải thiện nên thúc đẩy nhu cầu sử dụng các loại hàng hoá, dịch vụ tăng. Tuy nhiên, những yếu tố như biến động phức tạp của giá xăng dầu thế giới; việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý (y tế, giáo dục); giá mặt hàng thịt lợn do nguồn cung hạn chế... tiếp tục tác động tiêu cực đến thị trường toàn tỉnh. Do vậy, các đơn vị liên quan cần chủ động theo dõi sát diễn biến để có giải pháp bình ổn thị trường và tâm lý người dân. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 10/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 0,49%) và chủ yếu tăng ở dịch vụ ăn uống (tăng 1,86%), do trùng với kỷ niệm ngày phụ nữ Việt Nam, nhiều đơn vị tổ chức giao lưu thể thao, văn nghệ, nên nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống tăng. Tính chung 10 tháng năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.596,8 tỷ đồng, tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 8,21%) và tăng đều ở cả 3 ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 5,81%; ăn uống tăng 8,35% và du lịch tăng 12,08%. - Hoạt động dịch vụ khác: Tháng 10/2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác chỉ đạt mức tăng nhẹ so với tháng trước. Nguyên nhân chính tác động làm tăng doanh thu dịch vụ khác là: do nhu cầu sử dụng một số ngành dịch vụ như dịch vụ giáo dục, y tế, vui chơi giải trí và dịch vụ làm đẹp tăng so với tháng trước. Tính chung 10 tháng năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước tăng 5,81% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng 12,1%); dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí (tăng 10,96%); dịch vụ cá nhân khác (tăng 6,74%). - Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 10/2019 ước đạt 2,11 triệu lượt hành khách, giảm 0,94%, khối lượng luân chuyển đạt 382,84 triệu lượt hành khách.km, giảm 0,71% so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 166,89 tỷ đồng, giảm 1,08% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 21,33 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 3.756,33 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,73% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 11,03% về lượt hành khách luân chuyển; doanh thu ước đạt 1.646,23 tỷ đồng, tăng 11,87% so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng của mưa lũ, nhiều nơi trên địa bàn xảy ra ngập lụt, gây khó khăn cho các phương tiện vận tải hoạt động; ngoài ra, sang tháng 10, lượng khách tham quan du lịch cũng giảm nên làm cho vận tải hành khách giảm so với tháng trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 10/2019 ước đạt 2,98 triệu tấn, tăng 1,98%, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 82,19 triệu tấn.km, tăng 0,81% so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 265,25 tỷ đồng, tăng 0,46% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 29,47 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 761,5 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,1% về khối lượng vận chuyển và tăng 10,95% về khối lượng luân chuyển; doanh thu ước đạt 2.568,58 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động vận tải hàng hóa tăng hơn so với tháng trước là do các công trình xây dựng đang được tích cực đẩy nhanh tiến độ thi công, đặc biệt là trong xây dựng nông thôn mới, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tiếp tục tăng; một số doanh nghiệp đã ký kết được hợp đồng xuất khẩu dăm gỗ nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng so với tháng trước. - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 10/2019 ước đạt 42,21 tỷ đồng, tăng 6,53% so tháng trước và giảm 30,06% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, doanh thu ước đạt 411,68 tỷ đồng, giảm 39,78% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tháng 10/2019 tiếp tục tăng so với tháng trước và vẫn tăng chủ yếu ở ngành đường biển, do lượng hàng hóa thông qua cảng Sơn Dương và Vũng Áng tăng. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 10 năm 2019 tăng 0,11% so tháng trước, tăng 0,91% so cùng tháng năm trước và tăng 1,4% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,06% và khu vực nông thôn tăng 0,14%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, ngoài 2 nhóm là bưu chính viễn thông và giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước thì có 5 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, đó là: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,63%; Giao thông tăng 1,14%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02%; Đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,35%. Có 4 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ uống giảm 0,06%; Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,38%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03%; Thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,01%. Một số nguyên nhân chính tác động đến chỉ số CPI tháng 10/2019, đó là: (1) Giá nhiên liệu xăng dầu trong tháng được điều chỉnh tăng mạnh do ảnh hưởng bởi tình hình khai thác tại khu vực Trung Đông; (2) Giá thực phẩm các loại có xu hướng giảm giá do tình hình dịch bệnh trên đàn lợn và sản xuất nông nghiệp phục hồi sau đợt lũ vừa qua; (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục giảm do mưa lớn kéo dài trong hai tháng qua ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng; (4) Do yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh, tác động đến các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc. Chỉ số giá vàng tháng 10/2019 giảm 0,7% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 18,85% và tăng 15,63% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/10/2019 ở khu vực thành thị là 4,22 triệu đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 4,246 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2019 tăng 1,98% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,91% và giảm 0,78% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/10/2019 mức giá bán ra là 2.319 nghìn đồng/100USD. CPI bình quân 10 tháng đầu năm 2019 tăng 1,38% so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn 2,49 điểm phần trăm so với mức tăng bình quân 10 tháng năm 2018, trong đó khu vực thành thị tăng 1,02% và khu vực nông thôn tăng 1,63%. Như vậy, CPI bình quân 10 tháng đầu năm 2019 đạt mức thấp nhất trong vòng 4 năm trở lại đây (10 tháng 2016 tăng 2,51%; 10 tháng 2017 tăng 3,87% và 10 tháng 2018 tăng 3,87%). Một số nhóm hàng có CPI bình quân tăng cao là: Nhóm hàng may mặc, mũ nón và dày dép tăng 5,27%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,97%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,96%. Chỉ số CPI tháng 11/2019 dự kiến sẽ tăng mạnh. Do giá dầu thô trên thị trường thế giới đang ở mức cao sẽ tác động đến giá xăng dầu trong nước tiếp tục tăng; đồng thời, giá gạo, giá các loại hàng may mặc, đồ dùng gia đình tăng cao sẽ tác động làm tăng giá. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Tình hình đời sống dân cư Tình hình đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm kịp thời của các cấp, các ngành. Đồng thời, ngoài thời gian sản xuất nông nghiệp, người dân cũng tranh thủ những lúc nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên trong tháng không xảy ra thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh cũng không xảy ra. 6.2. Tình hình thiên tai Ngày 14/10/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra lốc xoáy và sét đánh (ở thị xã Kỳ Anh và huyện Thạch Hà) làm 06 nhà dân bị tốc mái, 06 con bò bị sét đánh chết và nhiều cây cối bị đổ, ngã; với tổng giá trị thiệt hại ước 190 triệu đồng. Sau khi xảy ra lốc xoáy và sét đánh, chính quyền địa phương đã cử cán bộ đến xem xét, động viên những gia đình bị thiệt hại; đồng thời, huy động lực lượng giúp người dân khắc phục để sớm ổn định cuộc sống. 6.3. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, Hà Tĩnh đang bước vào mùa mưa lũ, vì vậy để chủ động phòng chống các dịch bệnh sau lũ lụt, với phương châm “nước rút đến đâu xử lý vệ sinh môi trường đến đó”, Ngành Y tế Hà Tĩnh đã chỉ đạo cán bộ trực tiếp đi kiểm tra, giám sát phòng chống dịch bệnh tại thôn; hướng dẫn y tế thôn và người dân vệ sinh nguồn nước, vệ sinh môi trường, xử lý rác thải; tuyên truyền cho người dân một số biện pháp phòng chống dịch bệnh lây qua đường tiêu hóa, da niêm mạc… để phòng chống dịch bệnh sau mưa lũ. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có 36 trường hợp sốt xuất huyết; 32 trường hợp sốt rét; 26 trường hợp mắc lỵ trực trùng; 28 trường hợp mắc lỵ a míp; 3 trường hợp mắc bệnh virus adeno và không có trường hợp nào bị tử vong do các dịch bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong thời gian qua, để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hà Tĩnh đã tăng cường công tác thông tin, giáo dục truyền thông nâng cao kiến thức phòng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư nói chung, đặc biệt tăng cường hoạt động truyền thông thay đổi hành vi cho các nhóm người dễ bị cảm nhiễm HIV, những người dễ bị tổn thương và thanh thiếu niên; đồng thời, duy trì có hiệu quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone. Trong tháng, Hà Tĩnh có 8 trường hợp nhiễm HIV (tăng 1 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 11 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (tăng 7 trường hợp) và không có trường hợp chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong mùa mưa lũ, Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm Hà Tĩnh đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn; đồng thời, triển khai công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân về 10 nguyên tắc về an toàn thực phẩm, đặc biệt là một số huyện thường xuyên bị ảnh hưởng bởi bão lụt như các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Vũ Quang. Trong tháng đã xảy ra 121 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 14,79% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 6.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Hoạt động văn hóa-văn nghệ trên địa bàn Hà Tĩnh ngày càng phát triển mãnh mẽ, đa dạng các loại hình, chú trọng đến công tác bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa. Điển hình là, tổ chức lễ ra mắt Câu lạc bộ Trò Kiều xã Hồng Lộc-huyện Lộc Hà, gồm 28 thành viên tham gia. Việc thành lập và ra mắt Câu lạc bộ Trò Kiều xã Hồng Lộc có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc bảo tồn, giữ gìn giá trị văn hoá của loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo này, lan toả các giá trị tốt đẹp tới cộng đồng dân cư. Cũng trong thời gian này, tại Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh Hà Tĩnh, có 28 đoàn với gần 1.000 thí sinh tham gia tranh tài ở Hội diễn văn nghệ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp toàn quốc năm 2019 do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tổ chức. Đây là dịp để các bạn học sinh, sinh viên giao lưu học hỏi và thể hiện tài năng của mình trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên. Trong tháng, đã tiến hành kiểm tra 15 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa. Qua kiểm tra, lập biên bản nhắc nhở 12 cơ sở và yêu cầu bổ sung hồ sơ trang thiết bị đảm bảo (đặc biệt là đảm bảo về công tác phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự); xử phạt vi phạm hành chính 01 trường hợp với số tiền 3.000.000 đồng. - Hoạt động thể thao: Thời gian gần đây, hoạt động thể dục thể thao quần chúng trong toàn tỉnh đã diễn ra rất sôi động, nhất là vào các ngày lễ như: Giải bóng đá nam thanh niên lần thứ I, chào mừng ngày Doanh nhân Việt Nam, do Đoàn khối các cơ quan và Doanh nghiệp Hà Tĩnh tổ chức; Giải bóng chuyền hơi nam, nữ kỷ niệm ngày truyền thống các cơ quan khối Đảng và ngày phụ nữ Việt Nam, do Ban cán sự khối Công đoàn các cơ quan Đảng và chi đoàn thanh niên các cơ quan Tỉnh ủy phối hợp tổ chức ... Đối với thể thao thành tích cao: Hà Tĩnh đã tham gia và giành được 21 huy chương các loại (8 HVC, 7 HCB, 6 HCĐ), trong đó có một số giải tiêu biểu như: Giải vô địch Rowing và Canoening quốc gia năm 2019 tổ chức tại Hải Phòng, giành được 3 HCV, 3 HCB và xếp thứ 3 toàn đoàn ở nội dung Rowing; Giải vô địch bắn súng toàn quốc năm 2019 giành được 2HCV và 1 HCĐ. 6.5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/9/2019 đến ngày 14/10/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 14 người, bị thương 11 người. So với tháng trước tăng 5 vụ tai nạn đường bộ, tăng 10 người chết và tăng 6 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, tăng 10 người chết và tăng 4 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu bia khi tham gia giao thông, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng. Như vậy, tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 14/10/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 102 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 2 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 97 người và bị thương 62 người. So với cùng kỳ năm 2018 giảm 5 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 vụ tai nạn đường sắt, giảm 6 người chết và tăng 7 người bị thương. 6.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 16/9/2019 đến ngày 15/10/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 4 vụ cháy (trong đó có 1 vụ cháy rừng và 3 vụ cháy khác), ước tính giá trị thiệt hại 3 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ cháy. Nguyên nhân chủ yếu do bất cẩn trong sử dụng lửa và chập điện. Tính chung 10 tháng năm 2019, đã xảy ra 71 vụ cháy và 5 vụ nổ (giảm 1 vụ cháy và tăng 3 vụ nổ so với cùng kỳ năm 2018), làm 2 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 34,42 tỷ đồng. - Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng phát hiện và xử lý 5 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt 8 triệu đồng, tất cả các vụ vi phạm trên đều là hoạt động khai thác đất trái phép. Tính chung 10 tháng, đã kiểm tra phát hiện 95 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 78 cơ sở với số tiền 252,5 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2019 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2019
- 24/07/2024 09:44
Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2019 trong điều kiện có những thuận lợi từ kết quả đạt được trong năm 2018, đặc biệt là sự đi vào hoạt động sản xuất ổn định của Dự án Fomosa Hà Tĩnh đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như cả nước. Tuy nhiên, cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; diễn biến thời tiết, thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn những rủi ro; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn hạn chế; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Nhưng với sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả của các cấp, các ngành, các địa phương, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân nên mặc dù không có bước phát triển đột phá nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2019 vẫn ổn định với những kết quả chủ yếu như sau: 1. Tài chính, ngân hàng - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước 9 tháng đầu năm 2019 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Đây là tín hiệu tích cực nhưng để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2019 thì vẫn còn nhiều khó khăn thách thức. Trong thu cân đối ngân sách thì thu hải quan chiếm 31,7% và thu nội địa chiếm 28,3%. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách Trung ương chiếm 42,3% tổng thu ngân sách Nhà nước. Kết quả 9 tháng đầu năm 2019, thu hải quan đạt 68,9% và thu nội địa cũng đã đạt 67,4% dự toán năm 2019, đây là kết quả khá tích cực trong việc thu ngân sách trên địa bàn. Cùng với việc thực hiện thu ngân sách thì việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 31,5% tổng chi, tăng 51% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 36,6% tổng chi, tăng 8,9% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới chiếm 31,4% tổng chi, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2018. - Hoạt động ngân hàng: Trong 9 tháng đầu năm 2019, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển. Nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định, nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt (tăng 12,0% so với đầu năm và tăng 17,1% so với cùng kỳ) cao hơn mức tăng của toàn ngành (toàn ngành tăng 7,5% so đầu năm), trong đó tập trung vào tiền gửi tiết kiệm dân cư (tăng 13,1% so với đầu năm và tăng 16,4% so với cùng kỳ), nguồn vốn huy động trung, dài hạn tăng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vồn (tăng 13,1% so với đầu năm và tăng 20,6% so với cùng kỳ, chiếm 49,5% trong tổng nguồn vốn) đã tạo điều kiện cho các TCTD chủ động nguồn vốn để cho vay trung, dài hạn. Dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt (tăng 11,4% so với đầu năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ), trong đó dư nợ cho vay 5 lĩnh vực ưu tiên chiếm 44,1% tổng dư nợ và tăng 5,8% so với đầu năm. Nợ xấu được kiểm soát và dưới mức cho phép (1,2%). Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại, đó là: Cho vay đóng mới tàu cá theo Nghị định số 67 nợ xấu ngày càng tăng (chiếm trên 75% dư nợ), các chủ tàu vẫn tiếp tục chây ỳ việc trả nợ cho các ngân hàng; việc cho vay một số dự án lớn không thu hồi được nợ (như Dự án chăn nuôi Bình Hà, dự án Thép Vạn lợi,...) làm ảnh hưởng đến tính an toàn vốn, thậm chí ảnh hưởng đến cả trách nhiệm pháp lý của cán bộ. 2. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 9 năm 2019 giảm nhẹ (giảm 0,07%) so tháng trước (khu vực thành thị giảm 0,02% và khu vực nông thôn giảm 0,1%), tăng 1,24% so cùng tháng năm trước và tăng 1,29% so với tháng 12 năm 2018. Như vậy, CPI tháng 9/2019 giảm nhẹ so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính chỉ có 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng nhẹ so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,18%. Có 4 nhóm hàng hoá có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,31%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,78%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,05%; giao thông giảm 1,05%. Còn lại 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ ổn định so với tháng trước. Một số nguyên nhân chính tác động đến CPI tháng 9/2019 so với tháng trước là: (1) Giá nhiên liệu xăng dầu qua hai kỳ điều chỉnh vào các ngày 31/8 và 16/9/2019 làm cho mức giá bán lẻ bình quân giảm hơn so với tháng trước. Đây đã là kỳ giảm giá thứ 4 liên tiếp trong thời gian qua; (2) Giá vật liệu xây dựng giảm; (3) Giá thực phẩm các loại có xu hướng tăng giá do việc sản xuất và cung ứng trên địa bàn gặp khó khăn do ảnh hưởng của đợt mưa lũ hồi đầu tháng; (4) Là tháng trùng với dịp Tết Trung thu nên nhu cầu sử dụng một số mặt hàng thực phẩm, bánh kẹo, trái cây, đồ chơi trẻ em tăng lên. Chỉ số giá vàng tháng 9/2019 tiếp tục tăng 2,29% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 21,1% và tăng 16,44% so với tháng 12 năm 2018. Giá vàng tăng theo biến động của giá vàng thế giới. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/9/2019 ở khu vực thành thị là 4.230 nghìn đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 4.297 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2019 giảm 2,02% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 2,49% và giảm 2,71% so với tháng 12 năm 2018. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/9/2019 mức giá bán ra là 23.173 đồng/1USD. CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2019 tăng 1,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,08% và khu vực nông thôn tăng 1,67%. Phân theo nhóm hàng hóa và dịch vụ: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,0%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,02%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 5,19%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,82%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,6%; giao thông giảm 1,36%; bưu chính viễn thông giảm 1,35%; giáo dục tăng 0,72%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,69%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,42 so với cùng kỳ năm trước. Tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2019 tăng ở mức thấp, điều đó thể hiện công tác kiềm chế lạm phát đang được triển khai thực hiện với những tín hiệu tích cực. Nguyên nhân làm cho thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ 9 tháng đầu năm 2019 tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước là do nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng và chi phí sản xuất tăng nên giá một số mặt hàng tăng. Cùng với đó, nhiều mặt hàng có sự biến động mạnh do việc điều chỉnh các chính sách về giá cũng đã ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá chung như: Giá dịch vụ y tế, giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu, vàng và đô la Mỹ. CPI tháng 10/2019 dự kiến tăng mạnh trở lại do giá gạo, thịt, rau củ tiếp tục tăng giá và duy trì ở mức cao. Cùng với đó, thời điểm tháng 10 cũng là dịp chuyển mùa nên nhu cầu đối với các mặt hàng may mặc, chăn đệm, đồ nội thất tăng. Giá xăng dầu trong nước cũng có thể tăng cao do xung đột vũ trang tại khu vực Trung Đông ảnh hưởng đến sản lượng dầu thô. 3. Đầu tư và xây dựng 3.1. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý III/2019 ước đạt 6.755,2 tỷ đồng, tăng 5% so với quý trước. Tính chung 9 tháng đầu năm, vốn đầu tư toàn xã hội liên tục giảm mạnh qua các năm trong giai đoạn 2015-2019. Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, giảm 20,9% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 27,5% so với 9 tháng năm 2015. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (9 tháng đầu năm 2015 chiếm 81,3% tổng vốn đầu tư), nhưng nay do dự án Formosa đã hoàn thành nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh (9 tháng đầu năm 2019 chỉ chiếm 25,3% tổng vốn đầu tư); tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 9 tháng đầu năm 2019 giảm 38,8% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 8,5% so với 9 tháng đầu năm 2015. Mặc dù nguồn vốn Nhà nước và vốn ngoài nhà nước tuy có tăng nhẹ nhưng khi chưa có các dự án lớn được triển khai thực hiện trên địa bàn, trong khi Dự án Formosa đã hoàn thành thì nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đang tiếp tục có xu hướng giảm. 3.2. Xây dựng Nhìn chung, hoạt động xây dựng trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2019 vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thi công công trình không đi cùng với tiến độ giải ngân vốn nên nhiều công trình, dự án bị chậm tiến độ theo kế hoạch. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nhận thầu thi công các công trình dự án có quy mô lớn. Cùng với đó, chi phí vật liệu xây dựng, nhân công tăng, thời tiết nắng nóng gay gắt cũng là những yếu tố gây khó khăn đối với hoạt động xây dựng trong thời gian qua. Mặc dù vậy, các công trình dự án trọng điểm thì vẫn đang triển khai thực hiện đảm bảo tiến độ như: Dự án công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; dự án thí điểm nhà ở xã hội tại phường Thạch Linh - Thành phố Hà Tĩnh; dự án Phát triển nông thôn bền vững vì người nghèo Hà Tĩnh (SRDP); dự án chung cư Winhouse Hàm Nghi - Hà Tĩnh; dự án Vinhomes New centrel Hà Tĩnh; các công trình xây dựng thành phố Hà Tĩnh đạt đô thị loại II; cầu Cửa Hội vượt sông Lam nối hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh; công trình nâng cấp tuyến đường ven biển Xuân Hội - Thạch Khê - Vũng Áng; cầu cảng số 4 Vũng Áng; dự án điện mặt trời ở xã Cẩm Hòa, huyện Cẩm Xuyên... 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 23/9/2019, toàn tỉnh thành lập mới 621 doanh nghiệp, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký đạt 9.936,4 tỷ đồng, tăng 119,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân đạt 16 tỷ đồng/doanh nghiệp. Những năm qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới luôn tăng so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng tăng khá cao, điều đó thể hiện quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, 9 tháng đầu năm 2019 đã tạo việc làm mới cho 9.030 lao động. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 6.977 lao động, chiếm 77,3% trong tổng số, quy mô bình quân 14 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 2.004 lao động, chiếm 22,2% trong tổng số, quy mô 16,3 lao động/doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm mới cho 49 lao động, chiếm 0,5%. Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động trong 9 tháng đầu năm là 74 doanh nghiệp, giảm 24% và số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 195 doanh nghiệp, tăng 8,3% so cùng kỳ năm trước. Như vậy, mặc dù các doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng nhưng số doanh nghiệp chấm dứt hoạt động đang có xu hướng giảm hơn so với cùng kỳ năm trước, đây là tín hiệu tích cực hơn trong hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn trong thời gian qua. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý III/2019 của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Về tổng quan tình hình SXKD của doanh nghiệp có 68,9% số doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 17,8% khẳng định SXKD tốt lên và 51,1% khẳng định giữ ổn định) và có 31,1% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý IV/2019 so với quý trước, có 73,3% số doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 31,1% số doanh nghiệp dự báo tốt lên và 42,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định), bên cạnh đó còn có 26,7% số doanh nghiệp nhận định tiếp tục gặp khó khăn hơn. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 64,4% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 51,1% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 64,4% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” và 44,4% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đánh giá về biến động lao động quý III/2019 so với quý trước, có 77,8% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 2,2% khẳng định tăng lên và 75,6% khẳng định giữ ổn định) và 22,2% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý IV/2019 so với quý trước, có 86,7% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động giữ ổn định và có 13,3% số doanh nghiệp khẳng định lao động giảm. 5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 5.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Trong tháng 9/2019, hoạt động sản xuất trồng trọt chủ yếu tập trung thu hoạch lúa vụ Hè Thu và chăm sóc cây trồng vụ Mùa. Ước tính năm 2019, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 156.842 ha, bằng 101,3%, tăng 2.020 ha so với năm 2018 và tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 555.871 tấn, bằng 97,4%, giảm 15.075 tấn so với năm 2018. Trong đó, sản lượng lúa ước đạt 511.465 tấn, chiếm 92,0% tổng sản lượng lương thực có hạt, bằng 95,5%, giảm 23.850 tấn so với năm 2018. Năm 2019, mặc dù diện tích gieo cấy lúa tăng nhưng do điều kiện thời tiết diễn biến bất lợi nên đã ảnh hưởng làm giảm năng suất của cả hai vụ sản xuất chính trong năm. Vụ Xuân việc gieo cấy lúa của bà con nông dân sớm hơn lịch thời vụ khoảng 10-15 ngày nên lúa đã trổ sớm và lại đúng vào đợt không khí lạnh cuối mùa nên năng suất và sản lượng lúa giảm. Vụ Hè Thu thì vào những thời điểm sinh trưởng, trổ bông, cây lúa liên tục bị ảnh hưởng bởi nắng nóng, hạn hán kéo dài. Giai đoạn cuối vụ lúa chín đang thu hoạch thì bị ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 gây mưa lớn từ ngày 28/8 đến 5/9/2019 làm cho 7.333 ha lúa lúa bị ngập úng, nãy mầm, giảm năng suất. Còn sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, hiệu quả kinh tế thấp nên người dân ít đầu tư sản xuất. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực khác như ngô, khoai lang, rau đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có diện tích lạc giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân do hiện nay giá lạc giống cao, giá bán lại thiếu ổn định nên người dân đã chuyển đổi sang sản xuất các loại cây trồng khác. Cùng với đó là một số đất trồng lạc nằm trong quy hoạch đường ven biển bị thu hồi để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nên diện tích giảm. + Sản xuất cây lâu năm: Ước tính tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 29.956 ha, bằng 103,3%, tăng 968 ha so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó diện tích cây ăn quả ước đạt 17.001 ha, bằng 105,8%, tăng 932 ha so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng cây ăn quả ước tính đạt 64.964 tấn, bằng 104,3%, tăng 2.660 tấn so với cùng kỳ năm 2018. Mặc dù diện tích và sản lượng cây ăn quả ước tính tăng so với cùng kỳ, nhưng do ảnh hưởng của đợt nắng nóng, hạn hán kéo dài đã làm cho chất lượng sản phẩm cây ăn quả giảm. Đặc biệt là ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 vào cuối tháng 8/2019 gây ngập lụt ở các địa phương có nhiều diện tích cây ăn quả như Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn đã gây thiệt hại đối với các loại cây ăn quả, nhất là cây cam, cây bưởi. Trong những năm qua, hiệu quả kinh tế từ trồng cây ăn quả mang lại cho người làm vườn là tương đối tích cực nên người dân đang tiếp tục phát triển vườn cây ăn quả. Cùng với các loại cây ăn quả có múi như cam, bưởi, chanh...thì hiện nay một số loại cây ăn quả như ổi, thanh long, mít...cũng đã được người làm vườn đưa vào trồng với diện tích ngày càng tăng. + Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng và đã ảnh hưởng đến năng suất. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh được triển khai kịp thời, đồng bộ, các địa phương đã chủ động, quyết liệt và làm tốt công tác phòng trừ các đối tượng sâu bệnh gây hại cho nên thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng là không lớn, ảnh hưởng và thiệt hại chủ yếu là do sự bất lợi của thời tiết. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2019 gặp nhiều khó khăn, số lượng đàn vật nuôi và sản lượng thịt hơi xuất chuồng giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của các đợt dịch lở mồm long móng, dịch tai xanh xuất hiện trong những tháng đầu năm, dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn từ trung tuần tháng 5/2019 đến nay vẫn chưa kết thúc và đợt lũ lụt vào cuối tháng 8/2019 đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua. Cùng với đó thì các dự án chăn nuôi bò trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, sản xuất thiếu ổn định, quy mô đàn bò tiếp tục giảm mạnh. Những tháng tới, trong bối cảnh dịch tả lợn Châu Phi và các loại dịch bệnh khác vẫn diễn biến phức tạp và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thì hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn tiếp tục gặp khó khăn, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn phục vụ dịp Tết nguyên đán có thể xẩy ra. Vì vậy, cần phải tập trung dập dịch tả lợn Châu Phi, tăng cường áp dụng các biện pháp bảo vệ duy trì đàn nái hiện có để đảm bảo nguồn cung con giống phục vụ tái đàn sau khi dịch bệnh được kiểm soát. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra dịch lở mồm long móng đối với đàn gia súc tại 28 xã, phường, thị trấn thuộc 9 huyện, thành phố (Can Lộc, Hương Khê, Đức Thọ, Thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh, Hương Sơn) làm cho 3.924 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 3.764 con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy. Từ ngày 17/6/2019 đến nay không có gia súc mắc dịch lở mồm long móng; dịch tai xanh xuất hiện trên đàn lợn ở xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc làm cho 16 con lợn ốm, chết phải tiêu hủy. Từ ngày 28/3/2019 đến nay không có gia súc mắc dịch tai xanh; dịch tả lợn Châu Phi cũng đã xuất hiện trên địa bàn tỉnh kể từ ngày 14/5/2019, đến nay dịch đã xảy ra tại 97 xã, phường, thị trấn ở 11 huyện, thành phố, thị xã (2 huyện chưa có dịch là Nghi Xuân và Vũ Quang). Tổng số lợn mắc bệnh là 9.657 con, trong đó số chết, tiêu hủy là 9.557 con với trọng lượng 492,6 tấn. Mặc dù các cấp, các ngành và người chăn nuôi đã tích cực thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh nhưng đến nay dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang diễn biến phức tạp, khó lường và có nguy cơ tái phát. Đến nay mới có 22/97 xã, phường, thị trấn đã qua 30 ngày kể từ ngày tiêu hủy cuối cùng không phát sinh thêm ca bệnh mới, nhưng cũng đã có 2 xã, phường (Hồng Lộc và Đại Nài) có lợn mắc bệnh lại sau 30 ngày. Dịch tả lợn Châu Phi đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất chăn nuôi trên địa bàn trong 9 tháng đầu năm 2019. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I/2019: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 106.087 liều, đạt 76,2% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 93.747 liều, đạt 61,2% kế hoạch; dịch tả lợn 185.436 liều, đạt 76,7% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 179.581 liều, đạt 57,5% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 101.137 liều, đạt 74,3% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 542.111 liều, đạt 26,1% kế hoạch. 5.2. Lâm nghiệp Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán 9 tháng đầu năm 2019 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng lâm sản khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng cây phân tán cũng giảm so với cùng kỳ do quỹ đất trồng cây phân tán ngày càng bị thu hẹp. Mặc dù trong tháng 9/2019 không xẩy ra cháy rừng. Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn, cùng với sự bất cẩn và vô ý thức của một số người dân khi vào rừng nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 20 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 171,97 ha rừng, trong đó: Tháng 4/2019 xẩy ra 1 vụ (Hương Sơn), tháng 6/2019 xẩy ra 13 vụ (Hương Sơn 4 vụ, Đức Thọ 1 vụ, Vũ Quang 1 vụ, Nghi Xuân 1 vụ, huyện Cẩm Xuyên 1 vụ, huyện Kỳ Anh 2 vụ, Can Lộc 1 vụ, Thị xã Kỳ Anh 1 vụ và huyện Lộc Hà 1 vụ), tháng 7/2019 xẩy ra 3 vụ (Can Lộc 1 vụ và Hương Sơn 2 vụ) và tháng 8/2019 xẩy ra 3 vụ (Hương Sơn 1 vụ và huyện Kỳ Anh 2 vụ). Đây là năm có số vụ cháy rừng và thiệt hại rừng lớn nhất trong nhiều năm qua. 5.3. Thuỷ sảnKết quả sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2019 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá, với mức tăng tổng sản lượng thủy sản ước đạt 13% so với cùng kỳ năm 2018. Với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa đã làm cho sản lượng khai thác biển ước tính tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm đến 61,3% tổng sản lượng thủy sản 9 tháng đầu năm 2019. Cùng với đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản thời gian qua cũng được quan tâm thực hiện, với kết quả sản lượng nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2019 tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó sản lượng tôm ước đạt 3.546 tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Trong khi hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đang gặp khó khăn và không có sự tăng trưởng đáng kể so với cùng kỳ năm trước thì với mức tăng sản lượng thủy sản ước đạt 13% là kết quả tích cực trong hoạt động sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Để cung cấp nguồn giống cho người dân nuôi trồng thủy sản, 9 tháng đầu năm 2019 các đơn vị sản xuất con giống trên địa bàn đã cung cấp 599 triệu con giống các loại cho các hộ nuôi. Tuy nhiên, lượng con giống trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu người nuôi mà chủ yếu phải nhập từ các tỉnh khác như: Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Bến Tre... Ngày 8-9/9/2019, tại xã Thạch Sơn và xã Thạch Đỉnh của huyện Thạch Hà đã xẩy ra hiện tượng cá chẽm và cá hồng nuôi lồng bè bị chết, gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi. Đã có 64 hộ, với 278 ô lồng nuôi, với trọng lượng là 66,5 tấn cá bị chết. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do bèo tây bị chết tích tụ lắng xuống sông tạo ra nhiều loại khí độc dẫn đến thủy sản chất hàng loạt. Tại huyện Kỳ Anh và Thị xã Kỳ Anh do sau khi mưa lũ nguồn nước vùng nuôi trồng nước lợ bị giảm độ mặn, môi trường sống thay đổi đột ngột nên cũng đã xẩy ra hiện tượng thủy sản chết hàng loạt, với mức độ thiệt hại trên 80%. Còn hiện nay, tại xã Mai Phụ huyện Lộc Hà đang xẩy ra hiện tượng ngao chết trắng bãi, các ngành chức năng đang tích cực làm rõ nguyên nhân. 6. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2019 ước tính giảm 7,3% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,5% so với tháng trước và giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,4% so với tháng trước và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 60,1% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 10,1 lần so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với tháng trước là do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 gây mưa lớn ngập lụt nhiều vùng trên địa bàn tỉnh nên đã ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất công nghiệp, đặc biệt là ngành khai khoáng (đá, cát, sỏi…), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (gạch nung), khai thác, xử lý và cung cấp nước… Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn duy trì mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 31,4%, trong đó quý I/2019 tăng 34,4%, quý II/2019 tăng 31,1% và quý III/2019 tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì 9 tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng cao và ổn định. Chỉ số sản xuất công nghiệp có sự ảnh hưởng rất lớn từ ngành sản xuất kim loại (dự án Formosa). Nếu loại trừ yếu tố ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn 9 tháng đầu năm tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 26,9%; công nghiệp chế biến chế tạo giảm 4,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,7%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6 lần. Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thời gian tới dự kiến vẫn duy trì mức tăng khá và kết quả hoạt động sản xuất từ dự án Formosa vẫn là nhân tố quyết định mức tăng trưởng chung của toàn ngành. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2019 giảm 1,8% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Chế biến thực phẩm tăng 43,8%; may trang phục tăng 5,1%, sản xuất kim loại (chủ yếu thép) tăng 31,0%; sản xuất than cốc tăng 12,6%...Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Chế biến gỗ giảm 15,0%; in ấn giảm 33,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (gạch nung, bê tông tươi...) giảm 21,3%... Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2019 tăng 38,6% so với tháng trước và tăng 44,2% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, trong khi chỉ số tiêu thụ giảm và mức tăng chỉ số tồn kho tăng cao, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn đang gặp rất nhiều khó khăn, lượng sản phẩm tồn kho ngày càng lớn. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2019 ổn định so với tháng trước nhưng lại giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2019 giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 5,2% và 7,4%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn ổn định với mức giảm nhẹ 0,5%. 7. Thương mại và dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 9/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 1,5%) cung như so với cùng kỳ năm trước (tăng 2,4%). Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt mức tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở tất cả các nhóm hàng. Một số nhóm hàng có tổng mức bán lẻ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 22,1%; ô tô tăng 19,3%; đá quý, kim loại quý tăng 18,2%; hàng may mặc tăng 13,2%; lương thực, thực phẩm tăng 12,1%. Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2019 tình hình cung cầu hàng hóa đảm bảo, số lượng và chủng loại hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 9/2019 ước đạt 481 tỷ đồng, giảm 2,7% so tháng trước và tăng 6,7% so cùng kỳ năm trước. Sang tháng 9 do tính chất thời vụ và chịu ảnh hưởng của bão số 4, xảy ra mưa lớn kéo dài đã tác động làm giảm doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành. Tính chung 9 tháng năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.111,3 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhờ kết nối tốt các tour du lịch lữ hành trong và ngoài tỉnh, mở rộng thị trường khách du lịch quốc tế đến từ Thái Lan, Lào, Hàn Quốc…Đồng thời, nhiều khách sạn, nhà hàng được đầu tư xây dựng với tiêu chuẩn 3-5 sao đã thu hút được lượng lớn khách đến lưu trú trên địa bàn. Bên cạnh đó, mức sống của người dân ngày càng được nâng lên nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ này cũng ngày càng tăng. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 9/2019 dự ước giảm nhẹ so với tháng trước (giảm 0,3%). Tính chung 9 tháng năm 2019, hoạt động dịch vụ khác tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 11,5%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước tăng 10,4%. - Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 9/2019 ước đạt 2,16 triệu lượt hành khách (tăng 0,05% so với tháng trước), với số lượng luân chuyển là 388,07 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,1% so với tháng trước); doanh thu vận tải hành khách ước đạt 170,06 tỷ đồng (tăng 0,5% so với tháng trước). Như vậy, kết quả hoạt động vận tải hành khách tháng 9/2019 không có nhiều biến động so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, số lượng hành khách vận chuyển tăng 10,2% và số lượng hành khách luân chuyển tăng 10,3%, doanh thu hoạt động vận tải hành khách tăng 11,5%. Nhìn chung, hoạt động vận tải hành khách 9 tháng đầu năm 2019 vẫn ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 9/2019 ước đạt 2,9 triệu tấn (giảm 0,5% so với tháng trước), với khối lượng hàng hóa luân chuyển 80,15 triệu tấn.km (giảm 0,2% so với tháng trước); doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 261 tỷ đồng (giảm 1,1% so với tháng trước. Do đầu tháng 9, ảnh hưởng của bão số 4 gây mưa lớn, ngập lụt đã ảnh hưởng đến hoạt động vận tải hàng hóa. Tính chung 9 tháng năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 9,1%, với khối lượng luân chuyển tăng 11,4%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa tăng 13,4%. Do nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng, làm cho vận chuyển hàng hóa tăng trong những tháng đầu năm. - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 9/2019 ước đạt 40,23 tỷ đồng, tăng 10,7% so tháng trước và giảm 40,3% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, doanh thu ước đạt 370,09 tỷ đồng, giảm 40,6% so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ kết quả doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do Trạm thu phí BOT Cầu Rác trên QL1A tạm dừng thu phí từ ngày 21/2/2019 để tính toán lại phương án tài chính theo yêu cầu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam. 8. Các vấn đề xã hội 8.1. Tình hình đời sống dân cư Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2019 có cải thiện hơn so với cùng kỳ. Nhờ thay đổi một số chính sách mới về tiền lương, tiền công, nên đã góp phần cải thiện đời sống cho cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hưởng lương. Cùng với sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Trong 9 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn Hà tĩnh không xẩy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra. 8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội - Công tác giảm nghèo: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền, các dân tộc và các nhóm dân cư. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã thực sự đi vào cuộc sống, người nghèo đã được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng để phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững (tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 là 6,92%). Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương vẫn còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo. - Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 39.318 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 72.708 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 155.033 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 56.698 thẻ BHYT cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 238.858 suất quà với tổng kinh phí 67,855 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đồng thời, trao tặng 13 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách với tổng trị giá 53 triệu đồng; xây mới 70 nhà tình nghĩa, trị giá 2.754 triệu đồng và sữa chữa 41 nhà với tổng giá trị là 352 triệu đồng. 8.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm Năm 2019, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện công tác quy hoạch và tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Tăng cường thực hiện có hiệu quả đề án “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 và định hướng đến 2030” với mục tiêu kế hoạch tuyển sinh đạt 80-90 % quy mô cấp phép và tập trung nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, đào tạo theo đơn đặt hàng, đảm bảo 70-80% học viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp. 9 tháng đầu năm 2019, toàn tỉnh đã đào tạo mới được 9.870 người (cao đẳng nghề 1.067 người, trung cấp nghề 1.753 người, sơ cấp nghề 7.050 người). Giải quyết việc làm cho 17.208 người. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 8.263 người; xuất khẩu lao động 5.727 người; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.218 người. 8.4. Tình hình thiên tai 9 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 4 đợt thiên tai, cụ thể: Đợt 1 vào ngày 30/4/2019, do ảnh hưởng của rãnh áp thấp bị nén bởi một bộ phận áp cao lạnh lục địa, đã xảy ra mưa giông kèm theo lốc xoáy ở nhiều địa phương; đợt 2 vào ngày 23/5/2019, xảy ra mưa giông kèm theo sấm sét; đợt 3 vào ngày 29/8/2019, xảy ra mưa giông kèm theo sấm sét; đợt 4 vào ngày 01-05/9/2019, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và dải hội tụ nhiệt đới, đã xảy ra mưa to gây ngập lụt trên diện rộng. Hậu quả 4 đợt thiên tai đã làm 7 người chết, 5 người bị thương; 286 nhà ở của dân, 2 trường học bị tốc mái, hư hỏng và 6.002 nhà ở bị ngập; 8.923 ha lúa (1.590 ha vụ Xuân; 7.333 ha vụ Hè Thu), 360,3 ha ngô, 847,5 ha rau màu và 938 ha cây lâu năm bị đổ và hư hỏng; 1.341,5 ha diện tích nuôi trồng thủy sản và 170 lồng bè nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 1.860 cây lâm nghiệp và 530 cây cảnh, cây bóng mát bị đổ gãy; 2.040 m kè, 10,63 km kênh mương, 13.922 m3 đất đá bị sạt lở; 5 cầu và 9 cống bị sập trôi; 1 cột ăng ten, 568 cột điện 15,59 km đường dây điện và 9 trạm biến thế bị đổ, hư hỏng nặng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 745 tỷ đồng. Sau khi xảy ra lốc xoáy và mưa lớn, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người dân. Theo số liệu từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, tính đến ngày 11/9/2018 đã có 63 đoàn thông qua Mặt trận Tổ quốc tỉnh và trực tiếp về tại các địa phương động viên, chia sẽ với bà con bị thiệt hại với số tiền, hàng trị giá 6,153 tỷ đồng; Hội Chữ thập đỏ cứu trợ trên địa bàn Hương Khê hàng và tiền trị giá 229 triệu đồng; Trung Ương hỗ trợ 1.000 tấn gạo. 8.5. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Sáng ngày 5/9, cả nước rộn ràng trong không khí khai giảng năm học 2019-2020, thì ở Hà Tĩnh có 343 trường (gồm 139 trường mầm non, 106 trường tiểu học, 86 trường trung học cơ sở, 12 trường trung học phổ thông) không tổ chức được khai giảng do mưa lũ gây ngập lụt trên diện rộng. Đến ngày 09/9/2019, các trường này đã tổ chức lễ khai giảng lồng ghép với buổi chào cờ đầu tuần, lễ khai giảng với tinh thần gọn nhẹ, nhưng vẫn tạo được không khí trang nghiêm, hứng khởi cho giáo viên, học sinh trước thềm năm học mới. Năm học 2019 - 2020 toàn tỉnh có: 714 trường (gồm 265 trường mầm non, 252 trường tiểu học, 152 trường THCS và 45 trường THPT) với 10.123 lớp (mẫu giáo 2.608 lớp, tiểu học 3.948 lớp, THCS 2.375 lớp, THPT 1.192 lớp), 17.575 giáo viên (mầm non 5.064 người, tiểu học 5.099 người, THCS 4.696 người, THPT 2.716 người) và 313.100 học sinh (nhà trẻ 9.672 em, mẫu giáo 64.524 em, tiểu học 118.063 em, THCS 76.683 em và THPT 44.158 em). Với cơ sở vật chất trường lớp ngày càng được đầu tư xây dựng hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt yêu cầu học tập của các cấp học. - Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào trường đại học trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2019 - 2020 là 3.445 chỉ tiêu, so với năm học 2018 - 2019 tăng 15,6%, trong đó: Hệ đại học 1.395 chỉ tiêu, tăng 16,3%; cao đẳng 50 chỉ tiêu, không thay đổi so với năm học trước. Ngoài ra, Đại học Hà Tĩnh còn tuyển sinh hệ liên thông và văn bằng 2 với chỉ tiêu tuyển sinh là 270 chỉ tiêu . 8.6. Hoạt động Y tế 9 tháng đầu năm 2019, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân. - Tình hình dịch bệnh: 9 tháng đầu năm 2019, công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Đặc biệt là tình hình dịch bệnh Sởi đang diễn biến phức tạp trên thế giới và tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước. Riêng tại Hà Tĩnh, Sở Y tế đã chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, các Trung tâm Y tế dự phòng các huyện, thành phố, thị xã tăng cường giám sát phát hiện các trường hợp sốt phát ban nghi sởi tại các cơ sở khám chữa bệnh và cộng đồng để kịp thời lấy mẫu xét nghiệm xác định trường hợp mắc bệnh. Triển khai các biện pháp xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bùng phát và lan rộng. Bên cạnh đó, để chủ động phòng chống các dịch bệnh sau lũ lụt, ngành Y tế Hà Tĩnh đã tập trung cán bộ trực tiếp đi kiểm tra, giám sát phòng chống dịch bệnh tại các địa phương; xử lý hóa chất để đảm bảo khử khuẩn môi trường, nguồn nước ăn uống sinh hoạt, xử lý rác thải, xác súc vật cho các hộ gia đình bị ngập. 9 tháng đầu năm 2019, đã có 59 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 266 trường hợp sốt rét, 154 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 179 trường hợp mắc lỵ a míp, 19 trường hợp mắc bệnh sởi, 27 trường hợp viêm gan siêu vi rút và không có trường hợp nào tử vong do các loại dịch bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, nhiều hoạt động phòng chống HIV/AIDS được thực hiện như: Tổ chức các lớp truyền thông, vận động các đối tượng nghiện chính ma túy, nhiễm HIV tham gia các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS; xây dựng 1 phóng sự, cấp phát 140 băng rôn, 5.000 tờ rơi tuyên truyền về Tháng cao điểm dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con năm 2019; tiếp tục thực hiện chương trình điều trị Methadone, nhằm từng bước hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trên địa bàn; tổ chức các đợt giám sát, đánh giá các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trên toàn tỉnh. 9 tháng đầu năm 2019, Hà Tĩnh có 52 trường hợp nhiễm mới HIV (tăng 3 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 50 trường hợp chuyển thành AIDS (tăng 6 trường hợp) và có 4 trường hợp chết vì AIDS (tăng 1 trường hợp). - Công tác an toàn thực phẩm: Để bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) cho người tiêu dùng, nhất là vào dịp Tết Trung thu, Ban chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm đã ban hành kế hoạch số 58 ngày 13/8/2019 triển khai thanh tra, kiểm tra liên ngành về ATTP trong dịp Tết Trung thu năm 2019. Thông qua hoạt động này, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các trường hợp vi phạm về ATTP, không để thực phẩm không bảo đảm lưu thông trên thị trường. Hạn chế tối đa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm, góp phần làm tốt công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. 9 tháng năm 2019, xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể ở huyện Cẩm Xuyên và Hương Khê (9 tháng năm 2018 cũng xẩy ra 3 vụ), làm 82 người bị ngộ độc. Ngoài ra, có 1.265 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2018) và có 1 trường hợp tử vong vì ngộ độc thực phẩm (ở phường Kỳ Trinh - Thị xã Kỳ Anh). 8.7. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong 9 tháng đầu năm 2019, các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, cụ thể: Chào Xuân Kỷ Hợi, Hà Tĩnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã; tổ chức 3 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh vào đêm giao thừa; tổ chức các hoạt động chào mừng ngày Giải phóng Miền Nam (30/4), ngày quốc tế lao động (01/5), 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh, ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn, 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5), 51 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2019), 72 năm ngày thương bình liệt sỹ (27/7), 74 năm ngày Quốc khánh (02/9)...Bên cạnh đó, các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương. Ngoài ra, còn có một số hoạt động văn hóa sổi nổi khác như: Tổ chức khai hội chùa Hương Tích, lễ hội Hải Thượng Lãn Ông mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh; Tổ chức lễ mừng thành phố Hà Tĩnh được công nhận đô thị loại II; Tham gia Liên hoan tuyên truyền lưu động “Trường Sơn - Con đường huyền thoại” tại Thừa Thiên - Huế và xuất sắc giành được 2 giải A, 3 giải B; Tham gia Liên hoan Ảnh nghệ thuật Bắc Trung Bộ lần thứ 26 được tổ chức tại Nghệ An, Hà Tĩnh có 9 tác giả với 15 tác phẩm được chọn triển lãm; Tham gia Cuộc thi Sáng tác tranh cổ động tuyên truyền phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em do Cục Văn hóa cơ sở phối hợp Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức, đoàn Hà Tĩnh đã giành được 1 giải nhì; Tổ chức Đại lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng vương; Đón nhận Bằng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia Đền thờ Nguyễn Huy Cự, ở xã Trường Lộc-huyện Can Lộc... - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. 9 tháng đầu năm 2019, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh thực hiện 6 cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch; trực tiếp kiểm tra 162 cơ sở, đình chỉ hoạt động 12 cơ sở, tịch thu tiêu hủy 3.543 tờ rơi, tờ gấp; xử phạt vi phạm hành chính 18 cơ sở, với số tiền 64 triệu đồng. Ngoài ra, đã cấp 223 giấy phép, trong đó: Có 33 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 22 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 163 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 5 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao. - Hoạt động thể thao: Những năm gần đây, phong trào thể thao quần chúng gắn với các phong trào thi đua yêu nước thường xuyên được duy trì, phát triển mạnh mẽ và tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với đó, thể thao thành tích cao trong 9 tháng đầu năm 2019 cũng đã đạt nhiều thành tích cao. Hà Tĩnh tham gia 32 giải, giành được 149 huy chương các loại (gồm 58HCV, 38 HCB và 53 HCĐ) tại các đấu trường khu vực, quốc gia, trong đó đã tham gia 12 giải quốc tế và giành được 27 huy chương (17 HCV, 3 HCB, 7 HCĐ). Ngoài ra, còn tham gia một số giải điển hình như: giải Karate Khu vực Miền Trung - Tây Nguyên xếp thứ 3 toàn đoàn; Giải vô địch Cúp các CLB mạnh Karate xếp thứ nhất toàn đoàn lứa tuổi 12-14, thứ 3 toàn đoàn lứa tuổi 15-17; Giải vô địch Điền kinh các lứa tuổi trẻ xếp thứ 3 toàn đoàn; Giải bóng chuyền cúp Hoa Lư đạt HCB; Giải đua thuyền Rowing trẻ vô địch quốc gia năm 2019 xếp thứ 2 toàn đoàn. 8.8. Tình hình an toàn giao thông Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự ATGT; tập trung đảm bảo ATGT mùa mưa bão; tăng cường công tác tuần tra, thanh tra, kiểm soát xử lý vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang an toàn giao thông, quản lý Nhà nước về vận tải; tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông đường sắt; tiếp tục tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ATGT. Tính từ ngày 15/8/2019 đến ngày 14/9/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 4 người, bị thương 5 người. So với tháng trước giảm 5 vụ, giảm 5 người chết, giảm 2 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, giảm 4 người chết. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường. Như vậy, tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 14/9/2019 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 91 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 2 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 83 người, bị thương 51 người. So với cùng kỳ năm trước giảm 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 2 vụ tai nạn đường sắt, giảm 15 người chết và tăng 3 người bị thương. 8.9. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ cháy sơ sở kinh doanh ăn uống ở xã Kỳ Đồng - huyện Kỳ Anh (giảm 8 vụ cháy so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 50 triệu đồng, nguyên nhân do bất cẩn trong sử dụng lửa. Tính chung 9 tháng, trên địa bàn xảy ra 67 vụ cháy và 5 vụ nổ (so với cùng kỳ giảm 1 vụ cháy và tăng 3 vụ nổ), làm 2 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 31,42 tỷ đồng. - Công tác bảo vệ môi trường: Để góp phần khắc phục hậu quả bão số 4, làm sạch vệ sinh môi trường, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh đã chỉ đạo các huyện, thị, thành Đoàn và Đoàn trực thuộc tổ chức 52 đội với gần 1.500 thanh niên tình nguyện tại chỗ và hơn 600 thanh niên tình nguyện chi viện, tập trung hỗ trợ các địa bàn bị thiệt hại do mưa lũ gây ra. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng phát hiện 25 cơ sở vi phạm môi trường, xử phạt 24 cơ sở với số tiền xử phạt 77 triệu đồng. Tính chung 9 tháng, đã kiểm tra phát hiện 86 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 73 cơ sở với số tiền 244,5 triệu đồng. Chủ yếu là các vụ vi phạm về khai thác đất, cát trái phép và công tác xử lý chuồng trại chưa đạt chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi lợn làm ảnh hưởng đến môi trường sống của các hộ dân xung quanh. 9. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội những tháng cuối năm 2019 Để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2019 theo tinh thần Nghị quyết kỳ họp thứ 8 HĐND tỉnh khóa XVII đã đề ra là một nhiệm vụ đang rất khó khăn. Vì vậy, với những kết quả đã đạt được 9 tháng đầu năm, cần phải chú trọng thực hiện một số giải pháp để tiếp tục tạo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, đó là: (1) Các cấp, các ngành và các địa phương phải đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết, khách quan kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm 2019 đối với từng ngành, từng lĩnh vực. Từ đó tìm ra những điểm mạnh cũng như tồn tại hạn chế để đưa ra những giải pháp sát đúng, kịp thời và linh hoạt nhằm chỉ đạo và tổ chức thực hiện, nhất là tập trung giải quyết các điểm ngẽn, hạn chế về cơ chế chính sách và về chỉ đạo điều hành. (2) Trước mắt, phải tập trung chỉ đạo sản xuất vụ Đông đạt kết quả cao, trong đó chủ động ứng phó với điều kiện khắc nghiệt của thời tiết. Cùng với đó, phải tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi, xử lý dứt điểm các ổ dịch bệnh, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, không để dịch tiếp tục lây lan, đồng thời chuẩn bị cung ứng đủ giống phục vụ tái đàn sau dịch bệnh và cần có giải pháp bù đắp cho lĩnh vực chăn nuôi lợn do thiệt hại của dịch bệnh để người chăn nuôi có điều kiện tiếp tục sản xuất. (3) Cùng với việc đồng hành với nhà đầu tư tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất của dự án Fomosa thì chúng ta cũng cần phải quan tâm chú trọng phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất khác, nhất là tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án lớn vào hoạt động trên địa bàn tỉnh, tránh việc tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà phụ thuộc quá nhiều vào dự án Fomosa. (4) Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện và các điều kiện đảm bảo khác, chủ động ứng phó với các diễn biến của thời tiết trong mùa mưa bão, nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất về thiệt hại do thiên tai gây ra cho người dân cũng như các công trình cơ sở hạn tầng trên địa bàn. (5) Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2019 diễn ra trong điều kiện vẫn còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà vẫn ổn định và phát triển theo chiều hướng tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2019./.