Tình hình KTXH tháng 1 năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
- 20/07/2024 16:05
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 01/2021 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch cây trồng vụ Đông 2020 và tiến hành gieo cấy lúa vụ Xuân 2021.+ Sản xuất vụ Đông 2020 Xác định vụ Đông là vụ sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm tại chỗ và cung cấp thức ăn cho gia súc. Ước tính tổng diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm 2020 đạt 13.054 ha, bằng 108,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích tăng so với cùng kỳ chủ yếu là do diện tích ngô, còn các loại cây trồng chủ lực khác đều giảm. Nguyên nhân diện tích ngô tăng mạnh so với cùng kỳ do vụ Đông năm 2019 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Lũ lụt xẩy ra trên địa bàn vào trung tuần tháng 10/2020 đã làm cho năng suất và sản lượng các loại cây trồng năm này sụt giảm so với vụ Đông năm trước (riêng sản lượng ngô tăng do diện tích tăng).Để kịp thời khắc phục thiệt hại do lũ lụt gây ra, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3771/QĐ-UBND ngày 06/11/2020 phân bổ 8.000 kg hạt giống ngô và 5.940 kg hạt giống rau cho các huyện, thành phố, thị xã để phục vụ sản xuất vụ Đông 2020. Nguồn giống được phân bổ đã góp phần giúp bà con nông dân thực hiện việc gieo trỉa khắc phục các diện tích bị thiệt hại do mưa lũ nhằm thực hiện tối đa về diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm 2020. + Sản xuất vụ Xuân 202: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Xuân 2021 là phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh sản xuất toàn diện trên tất cả các đối tượng cây trồng, phấn đấu đạt diện tích, năng suất, sản lượng. Tính đến ngày 15/01/2021, theo cập nhật sơ bộ từ các đơn vị cung ứng giống, lượng giống cung ứng khoảng 1.652 tấn, tương đương với 27.530 ha diện tích gieo cấy. Trong đó: nguồn giống xuất dự trữ Quốc gia 500 tấn, nguồn từ các đơn vị doanh nghiệp cung ứng 1.152 tấn.Tiến độ gieo cấy lúa vụ Xuân 2021 tính đến ngày 22/01/2021, tổng diện tích mạ toàn tỉnh là 607 ha, tương ứng với 8.685 ha diện tích lúa cấy, chủ yếu là các giống lúa P6, nếp, HT1 và nhóm giống X. Đã có 13/13 huyện, thành phố, thị xã xuống giống lúa P6, nếp, HT1… với tổng diện tích ước đạt 22.997 ha, trong đó: Diện tích gieo thẳng 22.571 ha, diện tích cấy 426 ha; một số huyện có diện tích gieo, cấy lớn như: Huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh. Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang tập trung làm đất và vào giống để tiến hành gieo cấy lúa vào cuối tháng 01 và đầu tháng 02/2021. + Sâu bệnh, thiệt hại: trong tháng 01/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra rét đậm rét hại nên đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng vụ Đông 2020. Sâu bệnh chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua có những tín hiệu tích cực hơn.Tổng đàn trâu, bò không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm trước, có tăng nhưng với mức tăng nhẹ. Đối với chăn nuôi lợn thì sau ảnh hưởng nặng nề bởi dịch tả lợn Châu Phi việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang dần được khắc phục, tổng đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm 2020. Đàn lợn chủ yếu phát triển ở các trang trại, gia trại, còn đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ việc tái đàn vẫn còn gặp khó khăn. Giá lợn hơi trong tháng 01/2021 tăng cao đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho các cơ sở chăn nuôi lợn, đây vừa là động lực và cũng là nguồn lực để các cơ sở chăn nuôi tiếp tục phát triển sản xuất. Tổng đàn gia cầm trong thời gian qua phát triển tương đối khá, nhất là đàn gà. Thời gian qua giá lợn hơi tăng cao còn lại các sản phẩm chăn nuôi khác nhìn chung ổn định do nguồn cung tương đối dồi dào. Hiện nay, người chăn nuôi đang tích cực chăm sóc các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/01/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 44 hộ/32 thôn/13 xã/7 huyện, thành phố, thị xã (Can Lộc, Cẩm Xuyên, thị xã Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh, Hương Khê, Vũ Quang và Nghi Xuân) với tổng số lợn bị ốm chết, buộc tiêu hủy chưa qua 21 ngày là 248 con, trọng lượng 11.871 kg; Bệnh Viêm da nổi cục với số bò mắc bệnh là 185 con/153 hộ/44 thôn/14 xã/5 huyện, thành phố (Lộc Hà, Thạch Hà, Hương Khê, Cẩm Xuyên và thành phố Hà Tĩnh), trong đó đã tiến hành tiêu hủy 11 con bò với trọng lượng 2.116 kg.Trước tình hình rét đậm, rét hại đang xẩy ra, UBND tỉnh và Sở NN&PTNT đã ban hành các văn bản chỉ đạo tăng cường phòng, chống đói, rét, dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Tính đến ngày 15/1/2021, trên địa bàn tỉnh chưa có gia súc bị chết do rét đậm, rét hại.1.2. Lâm nghiệp - Trồng rừng và trồng cây phân tán: Thời tiết thuận lợi cho việc trồng cây nên dự ước diện tích trồng rừng tập trung tháng 01/2021 tăng 2,7% (tăng 13 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là diện tích rừng sản xuất. Diện tích trồng rừng tập trung chủ yếu ở huyện Hương Sơn 130 ha, huyện Hương Khê 85 ha, huyện Vũ Quang 48 ha, huyện Kỳ Anh 42 ha,...Hiện nay, người dân đang tập trung ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân năm 2021. Bên cạnh trồng rừng tập trung thì do quỹ đất ngày càng giảm nên lượng cây trồng phân tán cũng đang có xu hướng giảm. - Khai thác lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác tháng 01/2021 ước tăng 7,05% (tăng 1.087 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ tăng do một số diện tích rừng trồng không bị ảnh hưởng nhiều bởi cơn bão số 10 năm 2017 nên đến nay đã đủ tuổi để khai thác. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 01/2021 tập trung chủ yếu ở các địa phương: huyện Hương Khê 10.500 m3, huyện Vũ Quang 5.289 m3, huyện Kỳ Anh 1.500 m3, huyện Thạch Hà 1.200 m3,…Bên cạnh đó, do nhu cầu sử dụng giảm nên sản lượng củi khai thác tháng 01/2021 ước tính đạt 25.513 Ste, giảm 2,18% (giảm 569 Ste) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động lâm nghiệp trong tháng 01/2021 không có nhiều biến động. Một số sản phẩm thu nhặt từ rừng đang có xu hướng giảm dần do nhu cầu tiêu dùng và trữ lượng ngày càng giảm. - Thiệt hại rừng: Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/01/2021, trên địa bàn tỉnh không xẩy ra cháy rừng.1.3. Thủy sảnHoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 01/2021 nhìn chung ổn định và có sự tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước tăng 1,85% (tăng 71 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó:- Sản lượng thủy hải sản khai thác: Ước tính tháng 01/2021 tăng 2,76% (tăng 81 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 77,16% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01/2021. + Sản lượng khai thác biển ước đạt 2.594 tấn, bằng 103,1% (tăng 78 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 86,07% tổng sản lượng khai thác và chiếm 66,41% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01/2021. Sản lượng khai thác cá tăng 58 tấn; tôm giảm 2 tấn; thủy sản khác tăng 22 tấn. Cùng với đội tàu đánh bắt xa bờ thì thời gian qua các loài cá nổi xuất hiện nhiều ở vùng biển gần bờ nên bà con ngư dân đã tận dụng khai thác nguồn lợi hải sản góp phần làm tăng sản lượng khai thác biển.+ Sản lượng khai thác nội địa ước đạt 420 tấn, bằng 100,72% (tăng 3 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá tăng 3 tấn; sản lượng tôm giảm 2 tấn; sản lượng thuỷ sản khác tăng 2 tấn, sản lượng tăng do chủ yếu khai thác cá tự nhiên ở cửa sông, cửa lạch. - Sản lượng thủy sản nuôi trồng: Ước tính tháng 01/2021 giảm 1,11% (giảm 10 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 22,84% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01 năm 2021. Trong đó, sản lượng cá giảm 27 tấn; tôm tăng 11 tấn; thuỷ sản khác tăng 6 tấn. Hiện nay, các sản phẩm thủy sản nuôi trồng đang được chăm sóc để xuất bán phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới.- Dịch bệnh: Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn.Dự báo tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 2/2021:Tháng 2/2021 sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục tập trung gieo cấy lúa vụ Xuân 2021, trồng rừng vụ Xuân và trồng cây phân tán dịp Tết Nguyên Đán Tân Sửu. Đối với hoạt động thủy sản thu hoạch các sản phẩm nuôi trồng phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết.2. Sản xuất công nghiệp (IIP)Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 dự ước giảm 6,56% so với cùng kỳ năm trước do tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin máy phát không làm việc vì mất nguồn điện chính và dự phòng sản lượng điện sản xuất giảm 38,1% so với tháng 1/2021. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 19,78% so với tháng trước và tăng 4,24% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,4% so với tháng trước và tăng 0,36% so với thàng 01/2021; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,38% so với tháng 12/2021 và giảm 36,98% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,73% so với tháng trước và giảm 2,17% so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2021 dự ước tăng mạnh so cùng kỳ năm trước do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp lớn trong tháng 1 năm trước giảm sản lượng sản xuất do tạm ngừng để bảo dưỡng thiết bị…. Đặc biệt là công ty Formosa Hà Tĩnh trong tháng 1 và tháng 2 năm trước tiến hành sữa chữa lớn dây chuyền cán nóng (tháng 1 từ ngày 01 đến 19; tháng 2 dây chuyền trục trặc phải tiến hành sửa chữa 9 ngày). Hiện nay sau những khó khăn do dịch bệnh, thiên tai trong năm 2020, các doanh nghiệp dần ổn định sản xuất, ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 1 năm 2021 tăng 2,93% so với tháng 12 năm 2020 và tăng 51,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 41,31%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 67,51%; sản xuất và phân phối điện tăng 14,06%; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 7,98% so với cùng kỳ năm trước.Ước tháng 1/2021 trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có đến 21 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 8 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: khai thác quặng kim loại tăng 242,52%; Sản xuất kim loại tăng 83,84%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 65,71%; Sản xuất trang phục tăng 54,73%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 39,56%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 38,62%; Khai khoáng khác tăng 34,74%; Sản xuất đồ uống tăng 33,07%;…Trong bối cảnh chung của các nhóm ngành công nghiệp có tăng trưởng thì vẫn có 4 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: khai thác, xử lý cung cấp nước giảm 9,93%; Sản xuất phương tiện vận tải giảm 5,87%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 4,96%; Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 1%. Nhìn chung tháng 1 năm 2021, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi hơn. Các doanh nghiệp hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn nhưng vẫn chưa có sự tăng trưởng đột phá. Dự báo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 2/2021: Sản xuất công nghiệp không có sự tăng trưởng lớn do trùng vào một số ngày nghỉ Tết Nguyên Đán. 3. Vốn đầu tưTổng vốn đầu tư thực hiện thuộc vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2021 ước đạt 374.418 triệu đồng, giảm 23,75% so với tháng trước và chủ yếu giảm ở nguồn vốn cấp huyện. Trong tháng 1/2021 nguồn vốn chưa được giao theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỷ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2020, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2021 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng nên giá trị vốn đầu tư dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước.Năm 2021, kế hoạch vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý giao 7.611.156 triệu đồng, tăng 51,05% so với năm 2020. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách chi đầu tư xây dựng cơ bản tập trung trong nước là 622.688 triệu đồng, nguồn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương là 3.279.927 triệu đồng, nguồn vốn ODA là 1.473.095 triệu đồng. Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách cấp tỉnh được giao 6.124.981 triệu đồng, tăng 84,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu tăng gấp 4,67 lần. Kế hoạch vốn ngân sách cấp huyện được giao 910.104 triệu đồng, giảm 25,73%, kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 576.071 triệu đồng, tăng 18,8%, nguồn vốn chủ yến thu từ quỹ sử dụng đất. Dự báo tổng vốn đầu tư do ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 2/2021: Vốn đầu tư thực hiện ước giảm so với tháng trước do các công trình tạm ngừng thi công để nghỉ Tết. 4. Thương mại dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 01/2021 tăng 2,37% so với tháng trước và tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động bán lẻ hàng hóa chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị tăng 95,25% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 01/2021 ước đạt 4.445.202,6 triệu đồng, tăng 2,37% so với tháng trước và tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị đạt 28.950,0 triệu đồng, tăng 95,25% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước.Xét theo nhóm ngành hàng, trong tháng 01/2021 một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm tăng 9,41%; hàng may mặc tăng 7,51%; đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 6,48%; Vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 11,96%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,18%; Xăng dầu các loại tăng 3,97%; Nhiên liệu khác tăng 3,06%; Đá quý, kim loại quý tăng 5,12%.Để đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường Tết Nguyên đán Tân Sửu, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch số 478/KH-UBND ngày 10/12/2020 nhằm thực hiện các giải pháp kiểm soát và ổn định thị trường. Thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Thực hiện chương trình “ Đưa hàng Việt Nam về nông thôn” ; đặc biệt chú trọng công tác cung ứng hàng hóa cho các vùng bị thiệt hại do lũ lụt thời gian qua. Nhìn chung thị trường tiêu dùng hàng hoá tháng 01/2021 sôi động, lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết.- Hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2021 ước tăng 5,53% so với tháng trước, trong đó: Lưu trú giảm 1,18%; ăn uống tăng 5,84%; du lịch lữ hành giảm 2,84% so với tháng trước. Như vậy, nguyên nhân do ảnh hưởng lớn nhất từ nhóm ngành ăn uống (chiếm 96,04%); tháng 01/2021 trùng mùa cưới hỏi và dịp cuối năm nên nhu cầu tổ chức tiệc cưới; giao lưu tất niên, tổng kết và ăn uống ngoài gia đình tăng lên. Mặc dù doanh thu du lịch lữ hành và lưu trú có giảm hơn so với tháng trước do yếu tố mùa vụ, thời tiết rét đậm nhưng chiếm tỉ trọng thấp nên nhìn chung hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tăng so với tháng trước.Dự kiến hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh sang tháng 02/2021 xu hướng tăng cao so với tháng 01/2021 do dịp đầu Xuân lượng khách đến tham quan du lịch một số điểm tâm linh văn hóa của tỉnh tăng.Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 01/2021 tăng 4,49% so với tháng trước. Nguyên nhân do là tháng giáp Tết Nguyên đán nên các các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ cung ứng dịch vụ như: dịch vụ cho thuê ki-ốt kinh doanh cá thể; dịch vụ vui chơi giải trí; dịch vụ sữa chữa bảo dưỡng đồ dùng gia đình; dịch vụ làm đẹp tăng lên. Bên cạnh đó trong tháng, với tình hình thời tiết rét đậm số người mắc các loại bệnh theo mùa về hô hấp tăng làm doanh thu dịch vụ y tế tăng. Ngoài ra đây là tháng của mùa cưới hỏi và thời tiết ít mưa thuận lợi cho hoạt động dịch vụ trang trí; cho thuê đồ hiếu hỷ và dịch vụ thuê máy móc thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng cũng tăng lên.- Hoạt động vận tải: Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách tháng 01/2021 tăng 2,32% so với tháng trước và tăng 7,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 3,63% so với tháng trước và giảm 1,18% so với cùng kỳ năm trước do thời điểm đầu tháng trùng với dịp nghỉ lễ Tết dương lịch nên lượng người đi lại về quê, vui chơi cao tăng. Trong tháng, thời tiết rét đậm, rét hại tiếp tục diễn ra nên nhu cầu sử dụng các loại phương tiện công cộng như taxi, xe buýt cũng tăng; vận tải hàng hóa tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 2,11% so với cùng kỳ do xuất phát từ những yếu tố như: cuối năm, mặc dù rét đậm nhưng ít mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu xây dựng cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công; cùng với đó là các công trình sửa chữa trong dân tăng cũng là những nguyên nhân khiến nhu cầu vận tải hàng vật liệu xây dựng tăng so tháng trước. Các đơn vị bán buôn đẩy mạnh việc thu mua, tích trữ hàng hóa chuẩn bị cung ứng ra thị trường dịp Tết nên đã làm tăng nhu cầu vận tải hàng hóa. Dự báo hoạt động thương mại dịch vụ tháng 02/2021: Hoạt động thương mại dịch vụ sẽ sôi động hơn do là tháng trùng vào dịp Tết Nguyên Đán Tân Sửu, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cũng như sử dụng các dịch vụ của người dân sẽ tăng.5. Chỉ số giá tiêu dùng - CPI chung tháng 01 năm 2021 tăng nhẹ 0,28% so với tháng trước, giảm 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 0,31% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 0,93%; Khu vực nông thôn tăng 0,27% so với tháng trước và giảm 1,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính gồm có 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,59% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,97%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,7% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,59%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,04% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 3,05%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,92%; Giao thông tăng 1,63% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 11,08%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 1,4%; Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,89% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,6%; 01 nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,75% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 4,13% và có 03 nhóm không biến động so với tháng trước gồm: Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông.* Những yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 01/2021 đó là: (1) Yếu tố mùa vụ, thời tiết thay đổi đã tác động khiến nhu cầu và giá cả nhiều nhóm hàng hóa tăng dần vào dịp cuối năm như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, nước sinh hoạt. (2) Giá gas, xăng, dầu các loại được điều chỉnh theo xu hướng thị trường thế giới. (3) Thực hiện Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 17/12/2020 của Chính phủ về phương án hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện (đợt 2) và Công văn số 9764/BCT-ĐTĐL ngày 18/12/2020 của Bộ Công thương về việc hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 đợt 2. Điện lực Hà Tĩnh tiến hành giảm giá điện sinh hoạt trong tháng 01/2021 khiến mức giá bình quân giảm mạnh.- Chỉ số giá vàng tăng 2,61% so với tháng trước, tăng 26,32% so với cùng tháng năm trước; thị trường giá vàng 9999 trong tháng nhìn chung có xu hướng tăng trở lại vào cuối tháng do giá vàng thế giới tăng cùng với việc giá USD tăng. Giá bán lẻ vàng giảm nhẹ vào giữa tháng và tăng trở lại về cuối tháng. Bình quân tháng 01 giá vàng 9999 khu vực thành thị mức giá 5.546.000 đồng/chỉ; Khu vực nông thôn 5.573.000 đồng/chỉ.- Giá bán lẻ đô la Mỹ tại thời điểm ngày 21/01/2021 ở mức 23.420 đồng/USD. Do đó chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,65% so với tháng trước, tăng 0,84% so với cùng tháng năm trước.Dự kiến CPI tháng 02/2021: Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 02/2021 dự kiến sẽ tăng mạnh so tháng 01/2021. Mức giá diễn biến theo hướng tăng mạnh vào thời điểm trước Tết Nguyên đán và giảm dần về cuối tháng. Giá cả nhiều nhóm hàng hóa như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, cước giao thông, vật phẩm văn hóa dự kiến đều tăng giá. Giá điện và nước sinh hoạt cũng dự kiến tăng mạnh khi không còn nhận được hỗ trợ về giá của Chính phủ.6. Một số vấn đề xã hội6.1. Tình hình thiếu đói Tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và thời tiết rét đậm, rét hại, nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch và thiên tai, cũng như công tác hỗ trợ kịp thời đến người dân; ngoài ra, trong tháng cùng với việc chăm sóc, thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông và làm thêm các công việc khác để tăng thu nhập, nên đời sống dân cư vẫn giữ vững ổn định so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra thiếu đói. Dự kiến trong tháng tới thiếu đói trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra.6.2. Hoạt động y tếĐể đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần và mùa lễ hội xuân 2022 với mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch COVID-19 trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thực phẩm. Theo đó, huy động mọi nguồn lực, mọi hình thức, phương tiện, các cơ quan thông tấn truyền hình, báo chí để phổ biến, tuyên truyền các nội dung của Luật An toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn liên quan, các quy định về ATTP, kiến thức về bảo đảm ATTP; tuyên truyền Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” và các hướng dẫn, quy định về phòng, chống dịch COVID-19 cho các cấp quản lý, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.- Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, cộng dồn tổng số bệnh nhân nhiễm Covid -19 là 4 người, tất cả các ca trên đã điều trị khỏi, bệnh nhân cuối cùng được điều trị khỏi bệnh là ngày 7/5/2020. Ngoài ra, còn có 1 người cách ly tại cơ sở y tế (Bệnh viên đa khoa tỉnh Hà Tĩnh); 1443 người cách ly tại địa điểm tập trung (677 người ở Khu ký túc xá Mitraco; 114 người ở Khu nhà F, công ty FSH; 326 người ở cổng B, Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; 326 người ở KTX Trường đại học Hà Tĩnh), cộng dồn cách ly tập trung toàn tỉnh là 17.510 người, số hoàn thành cách ly là 15.945 người; hiện có 74 người cách ly và theo dõi tại nhà, cộng dồn toàn tỉnh có 19.825 người.Tính từ ngày 16/12/2020 đến 15/01/2021 trên địa bàn Hà Tỉnh, có 33 ca mắc bệnh sốt rét, không thay đổi so với cùng kỳ năm 2020; 3 ca mắc bệnh quai bị, giảm 2 ca; 12 ca mắc lỵ trực trùng, giảm 10 ca; 16 ca mắc lỵ a míp, tăng 1 ca; 52 ca mắc bệnh thủy đậu, tăng 38 ca; 2.303 ca mắc bệnh cúm, giảm 701 ca. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030. Nhờ vậy, tính từ 16-15/01/2021 Hà Tĩnh chỉ có 1 người nhiễm mới HIV (giảm 4 người so với cùng kỳ năm 2020), 1 người chuyển thành AIDS (giảm 4 người) và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh ban hành kế hoạch số 01/KH-BCĐ ngày 04/01/2021 triển khai công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Tân Sửu và mùa Lễ hội Xuân 2021 với mục tiêu đảo đảm ATTP trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thực phẩm; tăng cường kiểm soát, xử lý việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, phòng chống ngộ độc thực phẩm. Tính từ ngày 16/12/2020 đến 15/01/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra vụ ngộ độc thực phẩm, chỉ có 97 người bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2020) và không có trường hợp nào tử vong vì ngộ độc thực phẩm.6.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh chủ yếu tập trung vào công tác bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa như: phát hiện Ấn đồng cổ có niên đại thời kỳ Hậu Lê; tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh Đền thờ Lê Huy Tích ở Thị xã Kỳ Anh; tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia mộ và đền thờ Trần Tịnh ở huyện Can Lộc. Ngoài ra, các địa phương trên địa bàn Hà Tĩnh còn tổ chức một số hoạt động văn hóa sôi nổi như: tổ chức lễ hội đua thuyền truyền thống lần thứ I nhân ngày giỗ Thành Hoàng Làng và chào đón Xuân Tân Sửu ở thôn Quyết Tiến, xã Đồng Môn, thành phố Hà Tĩnh; tổ chức chương trình nghệ thuật chào mừng năm mới 2021 tại Trung tâm Văn hoá - Điện ảnh tỉnh; chương trình “Noel san sẻ yêu thương, giao lưu các câu lạc bộ thanh niên tôn giáo” do Hội liên hiệp thanh niên huyện Can Lộc tổ chức.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa : Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Thanh tra công tác phòng chống tham nhũng và thực hiện nhiệm vụ công vụ tại Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh và BQL di tích Nguyễn Du. Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cấp 32 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch, 03 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, 27 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.- Hoạt động thể thao: Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng với nhiều hoạt động như: ngày hội chạy bộ “Tiếp sức cùng đồng đội” với 150 người dân, vận động viên cùng tham gia; giải Quần vợt thành phố Hà Tĩnh mở rộng lần thứ nhất quy tụ 88 đôi vận động viên đến nhiều cơ quan, đơn vị; giải bóng đá nam mở rộng lần thứ 2 ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) với mục đích ủng hộ giúp đỡ học sinh mồ côi, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện… Cùng với đó, trong tháng thể thao thành tích cao Hà Tĩnh giành được 01 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 7 huy chương đồng.6.4. Tình hình an toàn giao thôngĐể đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ góp phần đảm bảo ANTT, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đặc biệt là phục vụ nhân dân vui Tết, đón Xuân và các lễ hội đầu năm 2021, Công an Hà Tĩnh đã triển khai đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông; tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.Tính từ 15/12/2020 đến 14/01/2021 đã xẩy ra 6 vụ tai nạn giao thông (giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm 2020), tất cả đều là tai nạn giao thông đường bộ làm chết 4 người (giảm 6 người) và làm bị thương 4 người (giảm 2 người). Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.6.5. Môi trường- Tình hình cháy nổ: Nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 12/01/2021 về việc tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; giảm thiểu số vụ cháy, nổ, sự cố, tai nạn xảy ra mùa hanh khô năm 2021, trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021 và các sự kiện chính trị quan trọng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.Từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/01/2021 đã xảy ra 3 vụ cháy, làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 150 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết; bao gồm: 2 vụ ở huyện Can Lộc; 1 vụ ở huyện Hương Khê. Nguyên nhân, chủ yếu là do chập điện và sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn nhiệt. Trong các vụ cháy, vụ xảy ra vào ngày 16/12/2020 thuộc thôn Đất Đỏ, xã Thường Nga, huyện Can Lộc đã làm 1 người chết. Trong tháng không xảy ra vụ nổ.- Về vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh đã phát hiện 14 vụ vi phạm môi trường, tăng 13 vụ so với cùng kỳ 2020. Trong đó: huyện Can Lộc 7 vụ, huyện Thạch Hà 2 vụ, huyện Vũ Quang 5 vụ. Các hình thức vi phạm: Khai thác, vận chuyển đất cát trái phép 12 vụ, không có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn kỹ thuật 1 vụ, khai thác khoáng sản trái phép 1 vụ. Hình thức nộp phạt chủ yếu là xử lý hành chính.Trong đó có 2 vụ đã xử lý nộp phạt tổng 95 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình kinh tế -xã hội năm 2020
- 23/07/2024 16:19
Năm 2020 là năm cuối của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng quyết định kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm 2016-2020 trong phát trển kinh tế xã mà Đại hội đảng các cấp đề ra; một năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị, văn hoá lớn trong cả nước, tùng vùng và từng địa phương, đặc biệt là năm tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tuy nhiên nhìn lại trong năm vừa qua, việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn như nguồn lực đầu tư hạn chế, thời tiết mưa lũ kéo dài, dịch bệnh diễn biến phức tạp, đặc biệt là đại dịch Covid-19 xẩy ra trong quý I vừa qua đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt của người dân, doanh thu các ngành dịch vụ bị ảnh hưởng; trong sản xuất nông nghiệp chịu sự tác động của thời tiết mưa lũ, dịch tả lợn Châu Phi..vv đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cũng như đời sống nhân dân. Trong bối cảnh đó, tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai kịp thời Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm tính chủ động, kịp thời, linh hoạt, lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm để tập trung chỉ đạo, phù hợp với diễn biến tình hình và các vấn đề mới phát sinh, phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu, kế hoạch đề ra. Tuy vậy, quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cụ thể như sau: 1. Tăng trưởng kinh tế 1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành: Quy mô GRDP năm 2020 theo giá hiện hành ước đạt 81.818,42 tỷ đồng. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 12.940,29 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 15,81%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 34.322,17 tỷ đồng chiếm 41,95%; khu vực dịch vụ ước đạt 27.612,81 tỷ đồng chiếm 33,75% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 6.943,16 tỷ đồng chiếm 8,49% trong tổng chung - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh 2010: GRDP năm 2020 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 47.740,93 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước tăng 0,53% so với cùng kỳ năm 2019. Đây là năm có tốc độ tăng trưởng GRDP thấp nhất kể từ sau sự cố môi trường biển năm 2016. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76% đóng góp 0,5 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,48%, đóng góp 0,21 điểm %; khu vực dịch vụ tăng 0,69%, đóng góp 0,23 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 4,57%, đóng góp -0,41 điểm %. 1.2. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế. - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Năm 2020 đạt mức tăng trưởng khá. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,59% đóng góp 0,38 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành lâm nghiệp tăng 2,81% đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Điểm sáng của khu vực này là ngành thủy sản đạt kết quả khá với mức tăng 5,46%, nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ đóng góp 0,09 điểm phần trăm. Năm 2020 do diện tích gieo trồng vụ Hè Thu tăng so với năm trước. Bên cạnh đó đồng ruộng Hà Tĩnh được ghi nhận rất ít sâu bệnh, nông dân tuân thủ lịch thời vụ nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt đem lại sản lượng cao (sản lượng lúa năm 2020 tăng 5,41% (tăng 27.389 tấn) so với năm 2019). Cùng với cây lúa các loại cây trồng cạn (ngô, rau, khoai lang đậu các loại) và cây ăn quả năng suất và sản lượng cao hơn năm 2019. Chăn nuôi từ đầu năm đã tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp kiểm soát dịch và đạt được những kết quả bước đầu về tăng đàn, tái đàn và tăng sản lượng. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tăng so với cùng kỳ do một số diện tích rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác tăng nhẹ. Đối với hoạt động sản xuất thủy năm 2020 vẫn duy trì được mức tăng khá, sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác đều tăng so với năm 2019. Mặc dù duy trì được mức tăng khá nhưng ngành thủy sản chiếm tỷ trọng nhỏ nên đóng góp không nhiều vào tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng như tăng trưởng chung. - Khu vực Công nghiệp và xây dựng: Ngành công nghiệp năm 2020 tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ các năm 2011-2020, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,5 %, đóng góp -0,64 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 5,08%, làm giảm 0,03 điểm phần trăm; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước là điểm sáng trong tăng trưởng của khu vực này với mức tăng 12,52%, đóng góp 1,10 điểm phần trăm. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,27% so với cùng kỳ đóng góp -0,03 điểm %. Ngành xây dựng năm 2020 giảm -2,24% đóng góp -0,19 điểm phần trăm. Năm 2020 sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phôi thép, thép thành phẩm của Công ty Formosa giảm mạnh do hiện nay giá thép thành phẩm liên tục giảm, giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao. Cùng với đó là ảnh hưởng của dịch Covid-19 và chiến tranh thương mại Mỹ-Trung kéo dài từ năm 2019 đến nay đồng thời Công ty Formosa ngừng hoạt động để bảo dưỡng sửa chữa máy móc dây chuyền cán nóng nên dự ước sản lượng phôi thép đạt 5,8 triệu tấn (giảm 4,06%) và sản lượng thép là 4,4 triệu tấn (giảm 9,17%) so với cùng kỳ năm 2019. Cùng với sự sụt giảm của Công ty Formosa thì các ngành công nghiệp chế biến chế tạo khác cũng đều sụt giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19 và Nghị định 100 về cấm sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông.Tăng trưởng của ngành điện sản xuất được duy trì ổn định do có sự đóng góp của dự án điện mặt trời Cẩm Hòa, từ tháng 7/2019 đi vào hoạt động và Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh vận hành ổn định các tổ máy, sản lượng tăng so với cùng kỳ (đầu năm 2019 có 2 tháng thiếu nhiên liệu và các tổ máy ngừng hoạt động để sửa chữa). Hoạt động xây dựng năm 2020 tiếp tục gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 diễn ra trong thời gian dài các hoạt động xây dựng tạm ngừng hoặc giãn thi công, tháng 10 mưa lớn ngập úng trên diện rộng nên hoạt động xây dựng tiếp tục sụt giảm. - Khu vực dịch vụ: Năm 2020 tăng 0,69%, đây là năm thứ hai tăng trưởng khu vực này đạt thấp kể từ khi xảy ra sự cố môi trường biển năm 2016. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn như: Bán buôn và bán lẻ tăng 3,22% so với năm 2019, đóng góp 0,19 điểm phần trăm vào mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có mức tăng khá 7,7%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 23,39%, đóng góp -0,55 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 7,36%, đóng góp -0,27 điểm phần trăm. Do là ngành chịu tác động lớn của tình hình dịch bệnh Covid-19 và chính sách pháp luật với việc thực hiện Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ, những tháng cuối năm lại chịu ảnh hưởng bởi thời tiết không thuận lợi, mưa bão xảy ra liên tiếp. - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: Hiện nay, thực hiện tính chỉ tiêu GRDP theo giá cơ bản thì thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP. Năm 2020, thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm theo giá so sánh giảm 4,57% so với năm 2019 đã làm giảm 0,41 điểm phần trăm trong tổng mức tăng trưởng chung. Nguyên nhân chính do số thu từ công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa giảm và hoàn thuế VAT tăng cao so với cùng kỳ. Nhìn chung, giai đoạn 5 năm từ 2016 đến 2020 Hà Tĩnh đã có nhiều thay đổi trong tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2016-2020 chỉ đạt 4,42%/năm, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1,53%/năm; khu vực công nghiệp-xây dựng đạt 8,8%/năm; khu vực dịch vụ đạt 3,46%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt -3,91%/năm. Như vậy, hoạt động sản xuất ổn định của Công ty Fomosa đóng vai trò rất lớn cho sự phát triển của ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước tạo tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế cho những năm tiếp theo và tạo tiền đề cho bước đột phá mới. 1.2. Cơ cấu nền kinh tế Cơ cấu kinh tế Hà Tĩnh trong những năm qua đã chuyển dịch theo hướng tích cực tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, giảm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19; thiên tai, lũ lụt và chiến tranh thương mại Mỹ-Trung kéo dài từ năm 2019 đến nay đã làm thay đổi tỷ trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế, cụ thể đến nay khu vực công nghiêp- xây dựng chiếm 41,95% giảm 1,03 điểm % so với năm 2019; khu vực dịch vụ chiếm 33,75%, giảm 0,83 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,49% giảm 0,23 điểm % so với năm 2019 và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,81%, tăng 2,09 điểm %. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế không chỉ diễn ra ở các khu vực kinh tế mà xu hướng chuyển đổi trong nội ngành cũng diễn ra tích cực trong những năm gần đây. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu nội ngành, năm 2020 chiếm 80,77%; trong khi đó ngành thủy sản chỉ chiếm 6,92%; ngành lâm nghiệp chiếm 12,31%. Trong sản xuất nông nghiệp cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là giống, biện pháp thâm canh mới…góp phần tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm đang có sự thay đổi để phù hợp hơn với nhu cầu thị trường. Trong những năm gần đây tỷ trong của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất và phân phối điện có xu hướng tăng, năm 2020 chiêm 97,5% trong cơ cấu nội ngành (tăng 0,2 điểm % so với năm 2019); tỷ trọng của ngành khai khoáng chiếm 1,39% (giảm 0,12 điểm % so với năm 2019). Điều này cho thấy chính sách phát triển kinh tế đã hướng vào tăng trưởng bền vững, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên. Khu vực dịch vụ được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ. Tuy nhiên hiện nay tỷ trọng giá trị dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế tăng với tốc độ chậm. Điểm yếu của khu vực dịch vụ chính là tỷ trọng các phân ngành còn có sự chênh lệch lớn. Năm 2020 tỷ trọng ngành khách sạn, nhà hàng trong cơ cấu nội ngành nhiều năm vẫn giữ ở mức thấp 5,07% (giảm 1,67 điểm %) so với năm 2019, ngành tài chính-ngân hàng và bảo hiểm chiếm 6,92% (tăng 0,24 điểm %); Ngành vận tải và thông tin truyền thông là hai ngành tác động trực tiếp và không thể thiếu đối với các ngành sản xuất cũng chỉ chiếm tỷ lệ 16,92% (giảm 1,1 điểm %); trong khi đó phân ngành bán buôn bán lẻ chiếm tỷ trọng 22,44% (tăng 0,85 điểm %). 2. Tài chính, ngân hàng 2.1. Thu - Chi ngân sách Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2020 đạt 10.126 tỷ đồng, bằng 80% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: thu nội địa chiếm 69,81%; thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 20,66% và thu khác chiếm 9,53%, tăng 27,75%. Trong điều kiện khó khăn chung do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, bên cạnh đó hậu quả do lũ lụt, cháy rừng và dịch bệnh trong sản xuất đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị thu nội địa tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước góp phần ổn định cân đối ngân sách địa phương trong điều kiện khó khăn chung. Tuy nhiên, do sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phôi thép, thép thành phẩm giảm mạnh do giá thép thành phẩm giảm, giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao, cùng với ảnh hưởng của dịch Covid-19 và Formosa phải bảo dưỡng sửa chữa lớn đã ảnh hưởng đến hoạt động xuất, nhập khẩu nên tổng thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu chỉ bằng 73,88% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, việc hoàn thuế VAT tăng 3,92 lần so với cùng kỳ dẫn đến thu cân đối hoạt động xuất, nhập khẩu giảm 63,02% so với cùng kỳ năm 2019. Với các giải pháp điều hành linh hoạt, bố trí sắp xếp hợp lý các nhiệm vụ chi nên chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/202 đạt 18.917,1 tỷ đồng bằng 111,36% so với cùng kỳ năm 2019. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 44,32% tổng chi, tăng 20,66% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 55,60% tổng chi, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm 2019. 2.2. Hoạt động ngân hàng Năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung vào các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của Ngành và UBND tỉnh có liên quan đến hoạt động ngân hàng năm 2020 và các văn bản chỉ đạo liên quan đến phòng chống, khắc phục hậu quả dịch Covid -19 và lũ lụt năm 2020. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên địa bàn khá ổn định. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2020 đạt 69,7 nghìn tỷ đồng, tăng 23% so với cuối năm 2019, đạt 143,75% so với kế hoạch. Nguồn vốn trung, dài hạn tăng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (tăng 26,28% so với đầu năm, chiếm 52,09% trong tổng nguồn vốn) đã tạo điều kiện cho các TCTD chủ động nguồn vốn để cho vay tạo điều kiện cho khách hàng tháo gỡ khó khăn và mở rộng sản xuất kinh doanh trong điều kiện phòng chống dịch Covid-19, lũ lụt.. . Dư nợ cho vay ước đến cuối năm 2020 đạt 59,3 nghìn tỷ, tăng 14,25% so với cuối năm. Cơ cấu tín dụng diễn biến tích cực theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng. Dư nợ tín dụng bằng đồng Việt Nam tăng 16,45% trong khi tín dụng ngoại tệ giảm 50,57% phù hợp với chủ trương chống đô la hóa của nhà nước. Chất lượng tín dụng được cải thiện rõ rệt. Tín dụng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 67/NĐ-CP.... Nợ xấu được kiểm soát và dưới mức cho phép (1,17%). Các dịch vụ ngân quỹ, thanh toán tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn. Công tác quản lý ngoại hối, vàng của NHNN được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động của các TCTD được đẩy mạnh, phát hiện và chỉnh sửa kịp thời các sai sót trong hoạt động nghiệp vụ. Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch Covid-19, NHNN đã tập trung chỉ đạo thực hiện các hoạt động ứng phó và khắc phục khó khăn liên quan đến dịch. Cụ thể, tính đến ngày 30/11/2020 dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN là 442,05 tỷ đồng, với 548 khách hàng được cơ cấu. Dư nợ miễn giảm lãi theo Thông tư 01 là 127,87 tỷ đồng cho 234 khách hàng với số lãi giảm 564 triệu đồng; hạ lãi suất dư nợ hiện hữu với dư nợ 8.369 tỷ đồng cho 3.760 khách hàng với số lãi được hạ 18.286 triệu đồng (giảm từ 0,05% đến 3,2%/năm). Các TCTD đã cho vay mới nhằm hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất kinh doanh với doanh số cho vay là 24.561 tỷ đồng, đối với 7.174 khách hàng (với lãi suất thấp hơn so với trước khi có dịch từ 0.05-0.3%/năm). Bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại đó là mặc dù nợ xấu đã giảm so với cuối năm 2019 (nợ xấu cuối năm 2019 chiếm 1,42% tổng dư nợ), tuy nhiên nguồn nợ này chủ yếu tập trung vào các khách hàng có dư nợ lớn, khó xử lý và chưa tìm ra hướng giải quyết. 3. Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản Thực hiện Kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2020 gặp rất nhiều khó khăn, thách thức đó là: đại dịch Covid-19 tác động sâu rộng đến mọi mặt kinh tế xã hội, trong đó có xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản; dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn ảnh hưởng đến tái đàn, tăng đàn; mưa lớn gây ngập lụt trên diện rộng, lốc xoáy, hạn hán kéo dài đã ảnh hưởng đến diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng…Mặc dù vậy, phát huy thuận lợi, vượt qua khó khăn, kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2020 vẫn đạt được kết quả khá cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. 3.1. Sản xuất nông nghiệp a. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh năm 2020 sơ bộ đạt 155.714 ha, bằng 99,28% (giảm 1.130 ha) so với năm 2019. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm sơ bộ đạt 580.398 tấn, bằng 105,32% (tăng 29.363 tấn) so với năm 2019. - Cây lúa: Sản xuất vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu 2020 nhìn chung đều được mùa, được giá. Tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm 2020 sơ bộ tăng 0,31% (tăng 322 ha) so với năm 2019. Vụ lúa Hè Thu diện tích gieo trồng tăng 1,1% (tăng 481 ha). Nguyên nhân tăng diện tích gieo trồng vụ Hè Thu là do sự vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong việc vận động, tuyên truyền người dân hạn chế tình trạng bỏ hoang ruộng đất. Vụ lúa Đông Xuân diện tích gieo trồng giảm 0,22% (giảm 133 ha) do chuyển đổi mục đích sử dụng và vụ Mùa diện tích gieo trồng giảm 4,82% (giảm 26 ha) do năng suất thấp nên người dân bỏ ruộng nhiều. - Năng suất thu hoạch lúa cả năm 2020 sơ bộ tăng 3,12% (tăng 1,56 tạ/ha) so với năm 2019. Vụ Hè Thu năng suất tăng do ít sâu bệnh, nông dân tuân thủ lịch thời vụ nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Năng suất lúa vụ Đông Xuân và vụ Mùa giảm do một số diện tích thời kỳ lúa trổ gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi. Đặc biệt, vụ Đông Xuân do ảnh hưởng một một số loại sâu bệnh đạo ôn lá, bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh bạc lá đã làm cho năng suất giảm. Tổng sản lượng lúa năm 2020 sơ bộ tăng 5,41% (tăng 27.389 tấn) so với năm 2019. Trong đó: sản lượng lúa Đông Xuân chiếm tỷ trọng 60,92%, giảm 1,75% (giảm 5.793 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu chiếm tỷ trọng 38,92%, tăng 19,27% (tăng 33.588 tấn) và sản lượng lúa Mùa chiếm tỷ trọng 0,16% tổng sản lượng lúa cả năm, giảm 32,97% (giảm 406 tấn) so với cùng kỳ năm 2019. Diện tích gieo trỉa các loại cây hàng năm chủ lực khác như ngô, khoai lang, sắn, lạc đều giảm, chỉ có diện tích rau tăng hơn so với năm 2019. Nguyên nhân do đầu vụ Đông mưa kéo dài làm cho đất ướt khó sản xuất đối với một số loại cây, nhiều diện tích chậm tiến độ so với lịch thời vụ nên phải chuyển sang trồng các loại rau và một số cây trồng khác. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc ít sâu bệnh và điều kiện thời tiết thuận lợi thì năng suất các loại cây trồng chủ lực khác năm 2020 như ngô, khoai lang, sắn, rau đều tăng hơn so với năm 2019. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại là không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân có 796 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá, phân bố ở các địa phương như Nghi Xuân, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh; có 1.580 ha nhiễm bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng (nhiễm nặng 122 ha), tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên và có 347 ha nhiễm bệnh bạc lá, phân bố tại các địa phương như Lộc Hà, Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên...Vụ Hè Thu năm nay có phát sinh một số loại sâu bệnh nhưng với mật độ thấp và không gây ảnh hưởng đến năng suất lúa. Đối với các loại cây trồng khác tuy sâu bệnh có phát sinh gây hại nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng. - Tiến độ sản xuất vụ Đông 2020: với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tiến độ gieo trồng các loại cây trồng vụ Đông năm 2020 tính đến ngày 15/12/2020 đạt được như sau: Ngô lấy hạt 3.310 ha/3.036 ha, đạt 109,03% kế hoạch; Ngô sinh khối 2.056 ha/2.046 ha, đạt 100,5% kế hoạch; Rau các loại 3.361 ha/4.328, đạt 77,7% kế hoạch; Khoai lang 821 ha/1.422, đạt 57,7% kế hoạch. Hiện nay bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng vụ Đông, tuy nhiên do điều kiện thời tiết diễn biến bất thường, nhất là đợt lũ lụt xẩy ra vào trung tuần tháng 10 nên sản xuất vụ Đông gặp nhiều khó khăn. - Kế hoạch sản xuất vụ Xuân 2021: mục tiêu sản xuất phấn đấu tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 35 vạn tấn và diện tích gieo trỉa một số loại cây trồng như sau: diện tích lúa 59.050 ha; Diện tích cây rau đậu thực phẩm 5.277 ha; Diện tích lạc 11.111 ha; Diện tích ngô 4.210 ha; Diện tích khoai lang 1.651 ha; Diện tích đậu các loại 419 ha. Cơ cấu giống lúa chú trọng tăng tỷ lệ các giống năng suất, chất lượng để tăng giá trị hàng hóa góp phần nâng cao chỉ số tăng trưởng, không cơ cấu 01 giống quá 30% diện tích gieo, cấy. - Về lịch thời vụ: bắc mạ lúa từ 20/12/2020-5/02/2021, thời gian gieo cấy lúa từ 20/01/2021-25/02/2021. Cây lạc phấn đấu kết thúc trong tháng 2/2021; Cây ngô kết thúc trước 20/2/2021; Cây đậu trồng thuần hoặc trồng xen lạc, thời vụ sau 25/2 và kết thúc trước 10/3/2021; Rau các loại phải tranh thủ tối đa thời tiết thuận lợi để triển khai gieo trồng, khuyến khích trồng xen, luân canh, gối vụ để tăng hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích. b. Cây lâu năm Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện, tổng diện tích cây lâu năm sơ bộ đạt 31.449 ha, bằng 101,28%, tăng 396 ha so với năm 2019. Diện tích trồng mới trong năm đạt 973 ha, chiếm tỷ trọng 3,1% tổng diện tích cây lâu năm hiện có. - Tổng diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 18.797 ha, chiếm 59,8% tổng diện tích cây lâu năm, bằng 105,37%, tăng 958 ha so với năm 2019. Trong đó, diện tích trồng mới đạt 854 ha, chiếm 4,5% tổng diện tích cây ăn quả hiện có. Sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 127.588 tấn, bằng 102,02%, tăng 2.521 tấn so với năm 2019. Hiện nay cây cam, bưởi đang được coi là cây ăn quả chủ lực và đang được các địa phương phát động các hộ dân trồng, trong đó tập trung mở rộng diện tích các loại cam bù, cam chanh, cam xã đoài. - Diện tích cây cao su sơ bộ đạt 8.739 ha, giảm 601 ha so với năm 2019. Do các Công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả, chuyển đổi một phần diện tích cao su, đất rừng trồng của các công ty sang cây trồng khác cho hiệu quả cao hơn và chuyển đổi mục đích sử dụng một số diện tích đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sản lượng mũ cao su ước đạt 3.108 tấn, bằng 116,14%, tăng 432 tấn so với năm 2019. Chất lượng mủ cao su khá tốt, chất lượng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. - Chè búp sơ bộ đạt 1.260 ha, tăng 57 ha so với năm 2019. Chè xanh sơ bộ đạt 1.811 ha, tăng 46 ha so với năm 2019. Năng suất chè búp sơ bộ đạt 82,28 tạ/ha, tăng 5,99 tạ/ha với sản lượng chè búp đạt 7.775 tấn, tăng 307 tấn, bằng 104,11%. Năng suất cây chè xanh sơ bộ đạt 106,47 tạ/ha, giảm 1,67 tạ/ha với sản lượng chè xanh đạt 18207 tấn, tăng 460 tấn. Mô hình trồng chè đã đạt những kết quả khả quan, hiệu quả cao hơn so với trồng các loại cây công nghiệp khác. c. Chăn nuôi Đối với chăn nuôi trâu nguồn con giống hạn chế, chi phí đầu tư ban đầu cao hơn các loại vật nuôi khác và điều kiện chăn thả cũng đang ngày càng bị thu hẹp. Chăn nuôi bò nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Đã hình thành 846 mô hình chăn nuôi bò thâm canh với quy mô trên 10 con theo hướng hàng hóa; chất lượng đàn tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ bò lai Zêbu, bò thịt chất lượng cao chiếm 53% tổng đàn. Chăn nuôi lợn, từ đầu năm đã tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp kiểm soát dịch và đạt được những kết quả bước đầu về tăng đàn, tái đàn và tăng sản lượng. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2020 ước đạt 72,39 nghìn tấn tăng 1,34% so với năm trước. Tuy vậy, những tháng cuối năm, đặc biệt là thời gian sau đợt lũ lụt tháng 10/2020, tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp, bùng phát ở các địa phương trong tỉnh, gây rủi ro lớn đến chính sách hỗ trợ chăn nuôi lợn của tỉnh; vì vậy, trong giai đoạn hiện nay không khuyến khích tái đàn, đặc biệt tại các hộ chăn nuôi không đảm bảo tốt các điều kiện an toàn sinh học. Trong khi chăn nuôi lợn gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm nên tổng đàn và sản lượng gia cầm trong thời gian qua phát triển tương đối khá. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: tính từ đầu năm đến ngày 20/12/2020, dịch lở mồm long móng đã xảy ra tại 10 xã thuộc 7 huyện, thị xã (Can Lộc, Hương Sơn, huyện Kỳ Anh, thị xã Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Nghi Xuân, Hương Khê), làm cho 132 con gia súc mắc bệnh, hiện còn ổ dịch tại các xã Gia Phố, Hương Vĩnh (huyện Hương Khê) chưa qua 21 ngày. Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 34 hộ/20 xã của 10 huyện, thành phố, thị xã, buộc phải tiêu hủy là 234 con với trọng lượng 13,5 tấn. Các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác không xẩy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 253.524 liều, đạt 81,2% kế hoạch; Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 243.868 liều, đạt 79,6% kế hoạch; Dịch tả lợn 300.263 liều, đạt 79,4% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 300.186 liều, đạt 80,9% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 120.847 liều, đạt 75,9% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,97 triệu liều, đạt 39,8% kế hoạch. 3.2. Lâm nghiệp - Trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng: diện tích trồng rừng tập trung sơ bộ năm 2020 tăng 3,43% (tăng 295 ha) do điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng, diện tích rừng được chăm sóc sơ bộ đạt 33.236 ha, bằng 84,81% (giảm 5.952 ha); diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh năm sơ bộ đạt 2.013 ha, bằng 109,7% (tăng 178 ha), diện tích rừng được giao khoán bảo vệ sơ bộ đạt 169.020 ha, bằng 108,55% (tăng 13.310 ha) so với năm trước. Công tác trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng rừng tiếp tục được chú trọng và đầu tư hợp lý, nhằm khôi phục diện tích rừng bị nghèo kiệt. Tuy nhiên, một số diện tích rừng hết thời hạn cần được chăm sóc nên diện tích giảm. - Trồng cây phân tán: số lượng cây trồng phân tán sơ bộ 2020 giảm 19,46% (giảm 795 ngàn cây) so với năm trước. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, do quỹ đất ngày càng giảm nên lượng cây trồng phân tán cũng ngày càng có xu hướng giảm. - Ươm giống cây lâm nghiệp: sơ bộ năm 2020 số lượng cây giống ươm đạt 4.638 ngàn cây, bằng 102,63% (tăng 119 ngàn cây) so với năm 2019. Năm 2020, thời tiết thuận lợi cho công tác ươm giống, cây giống chủ yếu là keo, tràm...Hiện nay, người dân đang tập trung ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân năm 2021. - Khai thác, thu nhặt gỗ và lâm sản khác: sản lượng gỗ khai thác sơ bộ tăng 6,71% (tăng 22.805 m3) so với năm trước. Sản lượng gỗ tăng so với năm trước do một số huyện không bị ảnh hưởng nhiều bởi cơn bão số 10 năm 2017, đến nay đã đủ tuổi để khai thác, tập trung chủ yếu ở các huyện như: huyện Kỳ Anh sơ bộ đạt 115.138 m3, Hương Khê sản lượng gỗ sơ bộ đạt 80.500 m3, Vũ Quang sản lượng gỗ sơ bộ đạt 55.686 m3, Hương Sơn sản lượng gỗ sơ bộ đạt 80.940 m3.. Sản lượng củi khai thác sơ bộ đạt 427.798 Ste, bằng 82,41% (giảm 91.282 Ste) so với năm trước do nhu cầu tiêu dùng giảm. Một số huyện có sản lượng khai thác củi lớn như: huyện Thạch Hà sơ bộ đạt 85.230 ste, huyện Kỳ Anh sơ bộ đạt 105.452 ste, Can Lộc sơ bộ đạt 30.000 ste, Nghi Xuân sơ bộ đạt 18.000 ste... - Thiệt hại rừng: công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng được tăng cường, từ đầu năm đến nay đã phát hiện và xử lý 189 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, tịch thu tang vật 164,287 m3 gỗ các loại, 164,4 kg động vật rừng, 3752,7kg lâm sản khác và 24 phương tiện. Năm 2020, toàn tỉnh xảy ra 51 điểm phát lửa, trong đó có 14 điểm gây cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 85,67ha, diện tích rừng thiệt hại không có khả năng phục hồi ước tính khoảng 59,7ha (so với năm 2019 giảm 49 điểm phát lửa, giảm 7 vụ cháy, diện tích rừng bị cháy giảm 377,23 ha, diện tích rừng thiệt hại không có khả năng phục hồi giảm 243,25 ha). 3.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản năm 2020 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá với sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng sơ bộ tăng 2,7%, tăng 1.440 tấn so với năm 2019, trong đó: - Sản phẩm thủy sản khai thác: sơ bộ đạt tăng 2,93%, tăng 1.125 tấn so với năm 2019, chiếm 72,07% tổng sản lượng thủy hải sản năm 2020. Sản lượng khai thác cá tăng 1.008 tấn; tôm giảm 93 tấn; thủy sản khác tăng 210 tấn. Ngư dân mạnh dạn đầu tư nâng cấp, cải hoán tàu thuyền, phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ, góp phần mở rộng ngư trường khai thác. Các loài cá nổi xuất hiện nhiều ở vùng biển gần bờ nên sản lượng khai thác tăng. Những tháng cuối năm do mưa bão nên ngư trường khai thác gặp khó khăn hơn - Sản phẩm thủy sản nuôi trồng: sơ bộ tăng 2,1%, tăng 315 tấn so với năm 2019, chiếm 27,93% tổng sản lượng thủy hải sản năm 2020. Trong đó, sản lượng cá giảm 128 tấn; tôm tăng 173 tấn; thuỷ sản khác tăng 270 tấn. Đợt lũ lụt vào trung tuần tháng 10 cũng đã gây thiệt hại đối với nuôi trồng. - Số lượng giống thủy sản: sơ bộ đạt 759 triệu con, giảm 31 triệu con so với năm 2019. Trong đó, số lượng cá giống giảm 11 triệu con; tôm giống giảm 20 triệu con. Tuy con giống chưa đáp ứng hết nhu cầu người nuôi nên phải nhập từ tỉnh khác về Thanh Hóa; Nam Định; Thái Bình; Bến Tre... - Tình hình dịch bệnh: bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy trên tôm với diện tích 73,1 ha/16 xã/5 huyện. Trong đó: bệnh đốm trắng diện tích 62,25 ha/13 xã/5 huyện; hoại tử gan tụy cấp tính diện tích 10,85 ha/7 xã/3 huyện. Nguyên nhân là do thời tiết thay đổi thất thường, nắng nóng làm cho nhiệt độ chênh lệch, gây biến động các yếu tố môi trường, giảm sức đề kháng của tôm, sinh ra dịch bệnh. 4. Sản xuất công nghiệp Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 bùng phát đã gây ra tác động xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các ngành, các doanh nghiệp, cơ sơ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đều gặp phải khó khăn, nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp phải giảm sản xuất do không tiêu thụ được sản phẩm. Đặc biệt, Công ty Formosa do giá nguyên liệu vẫn tăng cao, giá thép thành phẩm thấp và nhiều ngày phải ngừng sữa chữa lớn dây chuyền cán nóng nên đã tác động lớn tới hoạt động công nghiệp toàn tỉnh. Cụ thể: - Ngành công nghiệp năm 2020 có tốc độ tăng giá trị tăng thêm so với cùng kỳ năm trước đạt 1,13% thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt trong tăng trưởng kinh tế giảm 2,5% - Chỉ số sản xuất công nghiệp: Tính chung 12 tháng năm 2020, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính giảm 4,83% so với năm 2019. Ngành khai khoáng giảm 6,49%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,62%, làm giảm 6,06 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện tăng 8,43%, đóng góp 1,42 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 4,63%, làm giảm 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. - Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính giảm 9,3%, trong đó chỉ có 2 ngành có chỉ số tiêu thụ cộng dồn 12 tháng tăng: sản xuất trang phục tăng 134,32%; in, sao chép các bản ghi tăng 6,39%. Còn lại 12 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tiêu thụ giảm. Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 46,54%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 40,07%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 39,6%; … - Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12 ước tính tăng 37,37% so với tháng trước và tăng 25,76% so cùng kỳ năm trước, trong đó 5 ngành có chỉ số tồn kho tăng, 7 ngành giảm so cùng kỳ năm trước, cụ thể: ngành dệt giảm 86,69%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 63,03%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 61,91%;... - Về Một số sản phẩm chủ yếu: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2020 chỉ có 7 sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng cao nhất là Quặng Zircon và tinh quặng Zircon tăng 43,79%; thu gom rác thải tăng 15,27%; điện sản xuất tăng 8,18%; Nước uống được tăng 5,22%; song song với việc một số sản phẩm công nghiệp tăng thì trong năm vừa qua đã có đến 14 sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số sản phẩm cộng dồn giảm mạnh như: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 61,05%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 43,2%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) giảm 39,83%. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp - Phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã: Đã tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Ước đến 20/12/2020 toàn tỉnh thành lập mới 943 doanh nghiệp (giảm 7,73% ) và 38 hợp tác xã (tăng 15,15%) so với cùng kỳ năm trước, với tổng số vốn đăng ký đạt 7.393 tỷ đồng, giảm 39,02% so với cùng kỳ năm trước; bình quân doanh nghiệp đăng ký vốn đạt 7,84 tỷ đồng/doanh nghiệp, giảm 6,16 tỷ đồng/doanh nghiệp so với năm 2019. Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua do tình hình dịch bệnh hết sức phức tạp, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể đã có 401 doanh nghiệp phải giải thể và tạm ngừng kinh doanh, tăng 18,28% so với cùng kỳ, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. - Thu hút đầu tư: Chấp thuận chủ trương 62 dự án, trong đó 61 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 10.500 tỷ đồng và 01 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,5 triệu USD; ngoài ra, điều chỉnh vốn đầu tư 01 dự án FDI từ 1,2 triệu USD lên 32 triệu USD. Mặc dù tổng số dự án chấp thuận chủ trương đầu tư giảm mạnh so với năm 2019 nhưng số vốn đăng ký tăng cao hơn; vốn đầu tư trong nước tăng 2,7%, vốn đầu tư FDI tăng gấp 2,6 lần. Đối với các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, trong điều kiện dịch covid 19 diễn biến phức tạp, gặp nhiều khó khăn, nhưng một số dự án lớn vẫn có tiến độ triển khai tốt như bệnh viện TTH Hà Tĩnh, nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát, nhà máy điện mặt trời Cẩm Hưng, nhà máy may Hanvina, nhà máy may Apatech Đức Thọ. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong năm 2020 tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. - Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh năm 2021: Năm 2021, các doanh nghiệp nhận định sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng lên. Trong đó: + Về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo năm tiếp theo có xu hướng tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (75% doanh nghiệp). Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo vẫn giữ nguyên là 18,18% và chỉ có 6,82% doanh nghiệp cho rằng năm tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại. + Về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo năm tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,91%), trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 6,82%. Tuy nhiên, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ chững lại và giữ nguyên trong năm tiếp theo. Các doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao (58,33%). Điều này cho thấy trước tình hình dịch bệnh đang diễn ra trên thế giới, số lượng hàng hóa sản xuất cho tiêu thụ trong nước tăng nhưng xuất khẩu ra nước ngoài giảm do các nước vẫn đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh nên hạn chế số lượng đặt hàng xuất khẩu mới ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. + Về dự báo số lượng lao động năm tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong năm tiếp theo chiếm đến 68,18% doanh nghiệp, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 25% và chỉ có 6,82% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động. 6. Đầu tư và xây dựng 6.1. Đầu tư phát triển Dự ước tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2020 trên địa bàn toàn tỉnh đạt 26.075,4 tỷ đồng, bằng 100,5% so với năm 2019. Trong đó: vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.867,4 tỷ đồng, tăng 32,72% so với năm trước, chiếm 30,17% tổng vốn; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 14.664,7 tỷ đồng, bằng 99,03% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 56,24% tổng vốn; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.543,3 tỷ đồng, bằng 68,01% so với năm trước, chiếm 13,59% tổng vốn. Mặc dù nguồn vốn nhà nước trên địa bàn có tăng mạnh trên (32,72%) so với năm trước, song do cơ cấu nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và dòng nguồn vốn này tiếp tục giảm trong năm 2020 khi các dự án lớn giai đoạn II tại Formosa chưa được triển khai do đó ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng tổng vốn nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Về thực hiện vốn đầu tư công, tổng giá trị giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công dự ước tăng 32,72% so với năm trước. Để thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, UBND tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 296/CTr-UBND ngày 31/7/2020 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công năm 2020. Bên cạnh đó nguồn vốn ngân sách cũng như các chương trình mục tiêu của Chính phủ tăng mạnh so với năm trước (tăng 46%). Đối với các dự án ngoài Nhà nước đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, trong điều kiện dịch Covid 19 diễn biến phức tạp, gặp nhiều khó khăn nhưng một số dự án lớn vẫn có tiến độ triển khai tốt như: Bệnh viện TTH Hà Tĩnh; nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát; nhà máy điện mặt trời Cẩm Hưng; nhà máy may Hanvina; nhà máy may Apatech Đức Thọ. Tuy nhiên, cũng do dịch bệnh ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn xã hội, các doanh nghiệp đầu tư sửa chữa cũng như mua sắm cơ sở vật chất giảm mạnh. Do đó, nguồn vốn khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 15,29% so với năm 2019. Nguồn vốn khu vực hộ dân cư dự ước đạt 10.312,5 tỷ đồng, tăng 6,93% so với năm trước. Nguyên nhân do nguồn vốn đầu tư hộ dân cư chủ yếu là xây dựng nhà cửa, năm nay lực lượng lao động cá thể tăng mạnh do đó khối lượng thi công đạt cao. 6.2. Xây dựng Năm 2020, mặc dù nguồn vốn ngân sách tỉnh đầu tư trên địa bàn tăng 46% so với năm trước. Một số dự án lớn do doanh nghiệp ngoài nhà nước, nước ngoài đầu tư trên địa bàn như Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh (gần 1.200 tỷ), dự án nhà máy sản xuất lâm sản An Việt Phát (380 tỷ); Dự án nhà máy gỗ Thanh Thành Đạt tăng nguồn vốn từ 1.485 tỷ lên 1.785 tỷ; Dự án nhà máy điện mặt trời Cẩm Xuyên (550 tỷ)... Tuy nhiên, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 diễn ra trong thời gian dài. Tháng 4, các hoạt động xây dựng tạm ngừng hoặc giãn thi công do giãn cách xã hội, tháng 10 mưa lớn ngập úng trên diện rộng. Do vậy Giá trị tăng thêm theo giá so sánh của ngành xây dựng năm 2020 ước đạt 3.895,6 tỷ đồng, giảm 2,24% so với năm 2019, đóng góp -0,19 điểm phần trăm trong mức tăng chung của toàn ngành. 7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 12/2020 tăng khá so với tháng trước (tăng 4,57%) và so với cùng kỳ năm trước (tăng 5,44%). Ước cả năm 2020 tăng 3,7% so năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng 9% của năm 2019. Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định, không có sự đột biến xẩy ra. Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và tiêu dùng, nguy cơ tăng giá rất cao. Để góp phần đảm bảo cung cầu trong dịp cuối năm 2020 và Tết Nguyên Đán, Sở Công thương đã yêu cầu các doanh nghiệp, địa phương báo cáo tình hình dự trữ hàng hóa; nắm bắt nhu cầu tiêu dùng của người dân để triển khai kế hoạch cụ thể dự trữ hàng hóa thiết yếu, phục vụ người dân trong dịp Tết; kiểm soát chặt chẽ về chất lượng hàng hóa, bình ổn giá cả thị trường, tránh tình trạng khan hàng, sốt giá, nhất là nhóm mặt hàng thực phẩm tươi sống (thịt bò, thịt lợn và thịt gà). - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Năm 2020 dự tính đạt 4.284,13 tỷ đồng, giảm 20,9% so năm trước. Trong đó: Dịch vụ Lưu trú dự tính đạt 201,76 tỷ đồng (chiếm 4,71%) tổng doanh thu, giảm 37,72%; Dịch vụ ăn uống dự tính 4.082,37 tỷ đồng (chiếm 95,29%) tổng doanh thu, giảm 19,86% so với năm trước. - Doanh thu Dịch vụ Lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 11,56 tỷ đồng, (chiếm 0,27%) tổng doanh thu, giảm 55,33% so với năm trước. Mặc dù trong năm vừa số doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh cá thể tham gia trong linh vực dịch vụ này có tăng về số lượng, quy mô, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng lên, song do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp làm hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, nhất là ngành dịch vụ du lịch, lưu trú đã làm giảm sâu so với năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Ước cả năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác đạt 1.501,16 tỷ đồng, giảm 9,06% so với năm 2019, đây là năm giảm lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong đó: doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 197,96 tỷ đồng (giảm 3,51%); hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 345,84 tỷ đồng (giảm 5,54%); giáo dục đào tạo ước đạt 31,15 tỷ đồng (giảm 3,83%); Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 177,36 tỷ đồng (tăng 4,11%); nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 155,02 tỷ đồng (giảm 27,16%); sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 174,33 tỷ đồng (giảm 4,05%); dịch vụ khác ước đạt 419,50 tỷ đồng (giảm 10,71%) so với năm trước. - Hoạt động dịch vụ Vận tải, kho bãi năm 2020 ước đạt 5.169,07 tỷ đồng, giảm 7,7% so với năm trước. Trong đó: + Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.698,84 tỷ đồng, giảm 13,69% so với năm trước. Sản lượng vận chuyển hành khách ước đạt 21.174,2 nghìn HK, giảm 15,85% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 3.799.661,5 nghìn HK.km, giảm 14,55% so với năm trước. + Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.872,19 tỷ đồng, giảm 8,22% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 32.710,6 nghìn tấn, giảm 8,8% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 874.663,7 nghìn tấn.km, giảm 6,99% so với năm trước.+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 598,04 tỷ đồng, tăng 19,01% so với năm trước. Nhìn chung, kết quả hoạt động bán lẽ, kinh doanh các ngành dịch vụ, dịch vụ khác trong năm 2020 giảm mạnh so với năm 2019. Nguyên nhân do từ đầu năm 2020 đến nay, sự bùng phát của đại dịch Covid -19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng và tiếp tục có diễn biến phức tạp, khó lường, tình hình kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, sự biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt, mưa bão, ngập úng diễn ra liên tiếp trong thời gian qua, làm cho các hoạt động sản xuất phát triển kinh tế đều bị ngừng trệ, các thành phần kinh tế gặp vô vàn khó khăn, lực lượng lao động mất việc làm tăng, nguyên liệu sản xuất đầu vào thiếu, một số doanh nghiệp phải cắt giảm lao động, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa giảm mạnh, đời sống của Nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Chính phủ cũng đã đưa ra các phương án, giải pháp, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Thực hiện các chính sách, giải pháp phát triển bền vững, tạo cơ sở phát triển mô hình, tổ chức sản xuất kinh doanh mới. Triển khai thực hiện các định hướng, nhiệm vụ, giải pháp mà tỉnh đưa ra, tập trung khắc phục những khó khăn do đại dịch Covid -19 và mưa bão, lũ lụt gây ra, nhằm thực hiện được mục tiêu kép là vừa phòng chống được dịch bệnh Covid-19 vừa phát triển kinh tế - xã hội. 8. Chỉ số giá tiêu dùng Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung kéo dài, cùng với đó là tình hình thiên tai diễn biến phức tạp. Giá các loại lương thực, thực phẩm tăng cao đã ảnh hưởng đến đời sống người dân. Tháng 12 năm 2020, chỉ số CPI chung tăng nhẹ 0,02% so với tháng trước, tăng 0,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực thành thị tăng 0,01% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,07%; Khu vực nông thôn tăng 0,03% so với tháng trước và giảm 0,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 4 nhóm có chỉ số giá ổn định so với tháng trước gồm: Đồ dùng gia đình; May mặc, mũ nón, dày dép; Bưu chính viễn thông và nhóm hàng hóa dịch vụ khác. Có 02 nhóm hàng giảm so với tháng trước đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (giảm 1,32%) và Chỉ số giá vàng (giảm 0,49%). Còn lại 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước là: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 1,25%); Giao thông tăng 1,82% *Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 12/2020. - Giá thịt lợn hơi tiếp tục giảm do ảnh hưởng bởi dịch bệnh tả châu Phi bùng phát trở lại trên địa bàn, ảnh hưởng đến tâm lý người chăn nuôi và người tiêu dùng. - Do yếu tố thời tiết chuyển rét đậm, tác động đến nhu cầu và giá cả nhóm hàng may mặc, đồ dùng gia đình, điện và nước sinh hoạt. - Giá gas, xăng, dầu các loại được điều chỉnh theo xu hướng biến động thị trường thế giới. - Ảnh hưởng của thị trường thế giới cùng với nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng tăng nhằm để sửa chữa, khắc phục những thiệt hại sau các đợt mưa lũ đầu quý 4 cũng như các công trình được đẩy nhanh tiến độ thi công vào dịp cuối năm nên đã tác động làm cho giá cả các loại sắt, thép bán ra trên địa bàn tỉnh tăng. *Tính chung CPI cả năm 2020, chỉ số giá bình quân năm 2020 bằng 103,45% (tăng 3,45%) so với bình quân năm 2019. Trong đó: khu vực thành thị tăng 4,18%; Nông thôn tăng 3,01%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,40%; Đồ uống và thuốc lá tăng 2,67%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,85%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,19%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,9%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,51%; Giao thông giảm 11,28%; Bưu chính viễn thông giảm 0,95%; Giáo dục tăng 5,12%; Văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,01%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,39% so với bình quân năm 2019. *Dự kiến CPI tháng 01/2021 Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 01/2021 dự kiến có khả năng tăng mạnh so tháng 12. Giá cả nhiều nhóm hàng hóa như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật liệu xây dựng, hàng may mặc có thể tăng giá vào thời điểm cuối tháng, khi mà dịp Tết Nguyên đán đến gần. Giá thịt gia súc, gia cầm có thể tăng trở lại khi dịch bệnh được kiểm soát và nguồn cung bị ảnh hưởng do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ hạn chế xuất bán, chờ dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Trong khi đó, giá điện, nước sinh hoạt dự kiến giảm trong tháng tới khi nhu cầu tiêu dùng dự kiến giảm và chính sách giảm giá điện của Chính phủ được áp dụng. Công tác kiểm tra quản lý giá, bình ổn thị trường thương mại trong những tháng cuối năm được các cấp các ngành quan tâm hơn. Để bảo đảm nguồn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, các siêu thị lớn, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đang có sự chuẩn bị về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu, bình ổn giá…Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống cũng như sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Dân số, lao động và việc làm Dân số trung bình năm 2020 ước tính 1.296.622 người, tăng 0,49% so với năm 2019 (tăng 6.359 người). Trong đó: Dân số thành thị 287.766 người, chiếm 22,19%; dân số nông thôn 1.008.856 người, chiếm 77,81%; dân số nam 642.159 người, chiếm 49,53% và dân số nữ 654.463 người, chiếm 50,47%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2020 ước khoảng 715.476 người, chiếm 55,18% dân số toàn tỉnh, tăng 1,17% so với năm 2019; trong đó lực lượng lao động nam 349.750 người (chiếm 48,88% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị 158.262 người (chiếm 22,12% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên). Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2020 ước tính 694.050 người, chiếm 97,01% trong tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, trong đó: lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 50,63% trong tổng số (tương ứng 351.376 người), giảm 0,44 điểm phần trăm so năm trước; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 18,77% (tương ứng 130.246 người), tăng 0,62 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 30,61% (tương ứng 212.428 người), giảm 0,18 điểm phần trăm. Ước tính năm 2020, Hà Tĩnh đã giải quyết việc làm cho 19.893 lao động, giảm 19,73% so với năm 2019, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh t ế - xã hội trên địa bàn tỉnh 12.240 người, tăng 3,2%; xuất khẩu lao động 4.803 người, giảm 49,89%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 2.850 người, giảm 14,67%. 9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Thời gian qua, tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự nỗ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch, cũng như công tác hỗ trợ người dân, nên đời sống dân cư năm 2020 vẫn giữ vững ổn định so với năm trước. Ngoài ra, tính đến 15/12/2020 Hà Tĩnh đã thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ cho 177.349 đối tượng với kinh phí 238,43 tỷ đồng (đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo; đối tượng là hộ kinh doanh và lao động bị mất việc làm). Vì vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. - Công tác giảm nghèo: Với sự quyết tâm chính trị nhằm hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững, đảm bản an sinh xã hội, Hà Tĩnh đã hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo (tỷ lệ tái nghèo bình quân hàng năm xấp xỉ 1,5% so với tổng số hộ nghèo); tạo điều kiện hỗ trợ những hộ nghèo có khả năng vươn lên thoát nghèo bền vững; hỗ trợ về thu nhập cho cho hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội để họ có mức sống trên chuẩn nghèo. Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2020 của tỉnh, tỷ lệ giảm nghèo Hà Tĩnh đã đạt được kết quả đáng ghi nhận, đến nay tỷ lệ hộ nghèo là 3,51% (gồm 13.412 hộ, với 26.990 khẩu), giảm 1,02 điểm phần trăm so với năm 2019; tỷ lệ hộ cận nghèo là 4,31% (gồm 16.462 hộ, với 50.219 khẩu), giảm 0,75 điểm phần trăm. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: đến nay, toàn tỉnh trao tặng khoảng 475.242 suất quà trị giá khoảng 144,42 tỷ đồng, trong đó: tặng quà cho người có công khoảng 287.580 suất trị giá 61,055 tỷ đồng; quà cho hộ nghèo 75.097 suất, kinh phí 34,766 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 54.767 suất, kinh phí 16,051 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn 13.198 suất, kinh phí 6,299 tỷ đồng; quà đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác 44.600 suất, kinh phí 26,249 tỷ đồng. Cấp khoảng 28.570 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 49.048 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 144.358 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 59.798 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo. 9.3. Giáo dục, đào tạo - Giáo dục phổ thông: Trên cơ sở những kết quả đạt được, năm học 2020-2021 ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tập trung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hoàn thành các điều kiện để triển khai chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Năm học 2020-2021, toàn tỉnh có 667 trường, giảm 35 trường so với năm học 2019-2020 (gồm 254 trường mầm non, giảm 11 trường; 221 trường tiểu học, giảm 20 trường; 147 trường THCS, giảm 4 trường; 45 trường THPT, không thay đổi) với 10.400 lớp (mẫu giáo 2.804 lớp, tiểu học 4.030 lớp, THCS 2.366 lớp, THPT 1.200 lớp) và 18.005 giáo viên (mầm non 5.254 người, tiểu học 5.375 người, THCS 4.599 người, THPT 2.777 người) và 322.636 học sinh (nhà trẻ, mẫu giáo 79.237 em, tiểu học 121.205 em, THCS 78.464 em và THPT 43.730 em). - Giáo dục đào tạo: Năm học 2020-2021, chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy là 1.430 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.380 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Năm 2020, Hà Tĩnh có 23 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 4 trường cao đẳng, 1 phân hiệu của trường cao đẳng, 4 trường trung cấp, 10 trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện, 4 cơ sở dạy nghề khác. Tính đến ngày 10/12/2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 4.313 người, trong đó: trình độ cao đẳng 35 người, trình độ trung cấp 806 người; trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên 3.472 người. 9.4. Hoạt động Y tế Năm 2020, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân. - Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, cộng dồn tổng số bệnh nhân nhiễm Covid -19 là 4 người, tất cả các ca trên đã điều trị khỏi, bệnh nhân cuối cùng được điều trị khỏi bệnh là ngày 7/5/2020. Ngoài ra, còn có 5 người cách ly tại cơ sở y tế (Bệnh viện đa khoa huyện Cẩm Xuyên và Bệnh viên đa khoa tỉnh Hà Tĩnh); 413 người cách ly tại địa điểm tập trung (392 người tại Khu ký túc xá Mitraco; 17 người tại Khu nhà F – Công ty FHS; 04 người tại Khu cách ly Khách sạn Hữu Tình, huyện Cẩm Xuyên), cộng dồn cách ly tập trung toàn tỉnh là 15.261 người; 105 người cách ly và theo dõi tại nhà, cộng dồn toàn tỉnh có 19.739 người. Ngoài dịch bệnh Covid-19, năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 3 ổ dịch xuất huyết Dengue (gồm 25 ca) và 2 ổ dịch thủy đậu (gồm 17 ca); tất cả các ổ dịch đều không có bệnh nhân tử vong. Ngoài các ổ dịch trên còn có 64 trường hợp sốt xuất huyết, 266 trường hợp sốt rét, 175 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 258 trường hợp mắc lỵ a míp, 126 trường hợp mắc quai bị, 636 trường hợp mắc thủy đậu, 108 trường hợp mắc bệnh chân tay miệng và 45 trường hợp mắc bệnh viêm gan siêu vi trùng. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Hà Tĩnh đã khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư ở mức 0,14% (dưới 0,15% theo nghị quyết) và đạt mục tiêu 3 giảm: "Giảm số người nhiễm mới HIV, giảm số người chuyển sang giai đoạn AIDS và giảm số người tử vong do AIDS”, qua đó giảm tác động của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Nghị quyết đã cung cấp nguồn lực để đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức truyền thông trong Nhân dân, nhất là những nhóm đối tượng có nguy cơ cao dễ lây nhiễm HIV. Hiện mỗi năm ngành y tế tổ chức tư vấn, xét nghiệm HIV từ 3.500 - 6.000 mẫu. Có 87% bệnh nhân được điều trị ARV. Năm 2020, Hà Tĩnh có 75 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 3 trường hợp so với năm trước), 70 trường hợp chuyển thành AIDS (giảm 2 trường hợp so với năm trước) và có 9 trường hợp chết vì AIDS (giảm 1 trường hợp so với năm trước). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: An toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Năm 2020, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm với 1.173 ca ngộ độc (24 ca ngộ độc tập thể, 1.149 ca đơn lẻ), không có người chết vì ngộ độc. 3 vụ ngộ độc tập thể đó là: 1 vụ xẩy ra xã Cẩm Dương, huyện Cẩm Xuyên làm 9 người bị ngộ độc, nghi ngờ do vi sinh vật; 1 vụ ở xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh làm 6 người bị ngộ độc do ăn canh nấm, 1 vụ ngộ độc xảy ra tại bếp ăn bán trú thuộc xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ với 9 ca ngộ độc do nghi ngờ vi sinh vật. So với năm 2019 giảm 1 vụ ngộ độc, giảm 507 ca ngộ độc (giảm 62 ca ngộ độc tập thể, giảm 445 ca ngộ độc đơn lẻ). 9.5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh phải đóng cửa, tạm ngừng hoạt động, nên hoạt động văn hóa năm 2020 không sôi động và rất trầm lắng. Năm 2020, Hà Tĩnh chủ yếu tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hoạt động văn hóa ở Hà Tĩnh nổi bật với hoạt động như “ Mừng Đảng- mừng Xuân Kỷ Hợi” năm 2020, kỷ niệm ngày Giải phóng Miền Nam (30/4), ngày Quốc tế lao động, kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh, ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2020) hay lễ kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh Liệt sỹ như lễ thắp nến, dâng hoa, tri ân các anh hùng liệt sỹ tại nghĩa trang và đài tưởng niệm tại tất cả các huyện, thị trong toàn tỉnh như tại nghĩa trang Liệt sỹ Núi Nài (thành phố Hà Tĩnh) với hơn 1.500 đoàn viên thanh niên, thân nhân gia đình liệt sỹ và người dân... - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Năm 2020, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện 06 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm tra trên 100 cơ sở kinh doanh. Cấp 192 giấy phép, trong đó có 31 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 7 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 141 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 07 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao, 06 cái thuộc lĩnh vực còn lại. - Hoạt động thể thao: Hoạt động thể thao quần chúng ngày càng sôi nổi, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; đồng thời gắn với các phong trào thi đua yêu nước thường xuyên được duy trì và tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với đó, thể thao thành tích cao năm 2020, Hà Tĩnh Tham gia 31 giải thành tích cao, kết quả đạt: 147 HC (67V-32B-48Đ ), trong đó môn điên kinh tham gia 5 giả đạt 44 HC (24HCV, 8HCB, 12HCĐ), Muay tham gia 2 giải đạt 3 huy chương (1HCB, 2HCĐ), Đua Thuyền tham gia 4 giải đạt 21 huy chương (13V, 4B, 4Đ)… 9.6. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/11/2020 đến ngày 14/12/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11 người, bị thương 18 người, trong đó có 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 10 người chết, 18 người bị thương, 1 vụ tai nạn đường sắt, 1 người chết tại huyện Đức Thọ. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vậy, tính từ 15/12/2019 đến 14/12/2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xẩy ra 124 vụ tai nạn giao thông, 103 người chết, 64 người bị thương so với năm 2019 số vụ tai nạn giao thông đã giảm 2 vụ (giảm 1,58%), giảm 7 người chết (giảm 3,74%), giảm 15 người bị thương (giảm 18,98%), trong đó: tai nạn giao thông đường bộ 123 vụ, 102 người chết, 64 người bị thương; tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ ,1 người chết. 9.7. Tình hình thiên tai Năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 11 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 11/5/2020; đợt 2 vào ngày 17/5/2020; đợt 3 vào ngày 13/6/2020; đợt 4 vào ngày 02/8/2020; đợt 5 vào ngày 26/8/2020; đợt 6 vào ngày 13/9/2020; đợt 7 vào ngày 17-19/9/2020; đợt 8 vào ngày 07-11/10/2020; đợt 9 vào ngày 16-20/10/2020; đợt 10 vào ngày 28-31/10/2020; đợt 11 vào ngày 14-16/11/2020). Thiên tai đã gây thiệt hại làm 7 người chết, 51 người bị thương; 8 nhà bị sập, 4.565 nhà bị hư hỏng; 1520,4 ha lúa, 4.598,4 ha hoa màu, 2.154 ha cây trồng hằng năm, 836,05 ha cây trồng hằng năm, 480,9 ha rừng, 2.304 ha cây ăn quả bị đổ gãy và hư hỏng; 826,6 nghìn con gia cầm, 339 con trâu, bò, 9.281 con lợn, 397 gia súc khác bị cuốn trôi và chết; 643 cột điện, 3 ăng ten bị gãy đổ; 970 nhà cơ quan và 141 trường học bị hư hại... Ngoài ra, còn có một cây cối bị đổ gãy và nhiều thiệt hại khác. Tổng thiệt hại ước tính là 5.456,07 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại đồng thời kêu gọi hỗ trợ 4079 tấn gạo và hàng ngàn suất quà có trị giá 246 tỷ đồng để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người dân. 9.8. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 12/2020, tình hình cháy, nổ không xẩy ra. Tính cả năm 2020, trên địa bàn xảy ra 67 vụ cháy, nổ (trong đó có 67 vụ cháy và 0 vụ nổ), làm chết 3 người, bị thương 4 người, thiệt hại ước tính 12.363,8 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 9 vụ cháy nổ (giảm 4 vụ cháy, 5 vụ nổ), tăng 1 người chết, tăng 4 người bị thương. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 12/2020, đã phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 6 vụ với số tiền 71,9 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ. Tính chung cả năm 2020, phát hiện 48 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 43 vụ với số tiền xử phạt là 329,4 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: giảm 55 vụ (giảm 53,39%), số vụ xử lý giảm 47 vụ, số tiền nộp phạt tăng 27,9 triệu. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cái trái phép. Các cơ quan chức năng đã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính. 10. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 Kỳ họp thứ 18 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2021 như sau: a. Các chỉ tiêu kinh tế - Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%; GRDP bình quân đầu người trên 69 triệu đồng. - Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đạt trên 93 triệu đồng/ha. - Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 31.000 tỷ đồng.- Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD. -Tổng thu ngân sách đạt trên 12.000 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa 7.000 tỷ đồng; thu xuất nhập khẩu: 5.000 tỷ đồng. - Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 1,5%. - Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 91%. - Tỷ lệ lao động qua đào tạo 72%. - Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia 88%. - Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi xuống còn 14,7%. - Duy trì độ che phủ rừng trên 52%. - Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom đạt 97%. - Có thêm ít nhất 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 2 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn; ít nhất 120 Khu dân cư NTM kiểu mẫu đạt chuẩn, 1.200 vườn mẫu đạt chuẩn; có tối thiểu 50 sản phẩm được chứng nhận đạt chuẩn OCOP, trong đó có sản phẩm OCOP 4 sao, 5 sao. - 100% đơn vị đạt tiêu chuẩn cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, 100% xã, phường ổn định chính trị. b. Giải pháp Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là: - Tập trung xây dựng ban hành các đề án, chính sách phát triển Khu kinh tế Vũng Áng, cảng biển - logistics, công nghiệp hỗ trợ, huy động nguồn lực phát triển đô thị, triển khai đầu tư các trục giao thông chiến lược. - Có các chính sách hỗ trợ để sớm khôi phục sản xuất, bảo đảm an sinh cho người dân; trước mắt tập trung thực hiện chính sách hỗ trợ giống cây trồng phục vụ sản xuất vụ Đông năm 2020. Rà soát, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu. - Triển khai phong trào xây dựng mô hình sản xuất cánh đồng mẫu ở các huyện, thị xã, thành phố; tiếp tục rà soát, chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng, mùa vụ, phát triển các cây trồng cạn, rau màu có giá trị cao. Tập trung tháo gỡ khó khăn về đất đai, hỗ trợ, khuyến khích thu hút các doanh nghiệp đầu tư, phát triển bền vững các chuỗi, dự án chăn nuôi lợn, bò, hươu, gia cầm trang trại, gia trại quy mô lớn. - Phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu; tập trung thực hiện tốt chính sách phát triển công nghiệp, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp đảm bảo đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhà đầu tư thứ cấp vào đầu tư; đặc biệt thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép tại Khu kinh tế Vũng Áng; đồng thời tập trung phát triển công nghiệp nông thôn, tạo ra sản phẩm có thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. - Tập trung hỗ trợ, khôi phục sản xuất tại các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ; ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để ổn định sản xuất sau thiên tai. - Chủ động theo dõi, dự báo tình hình thị trường, biến động cung - cầu hàng hóa trên địa bàn. Xây dựng và thực hiện hiệu quả chính sách phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch giai đoạn 2021 - 2025. Đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. - Tập trung đẩy mạnh huy động vốn và tăng trưởng tín dụng đáp ứng tốt nhất các nhu cầu vốn vay. Triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, ngăn chặn tình trạng nợ xấu gia tăng. - Phát triển toàn diện lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội. Quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biên pháp luật. Đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại. Để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, cần phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương./.
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2020
- 23/07/2024 10:37
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: sản xuất trồng trọt trong tháng qua chủ yếu tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ Mùa và tiến hành sản xuất cây vụ Đông. + Chính thức vụ Hè Thu 2020: kết quả sản xuất lúa vụ Hè Thu năm nay không phải là sự đột biến lớn nhưng cũng đạt được kết quả khá tốt, tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Vụ Hè Thu 2020, nhìn chung nông dân tuân thủ lịch thời vụ, bám sát đồng ruộng và tích cực chăm bón lúa. Đồng ruộng Hà Tĩnh được ghi nhận rất ít sâu bệnh gây hại. Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa tuy gặp thời tiết nắng nóng gay gắt nhưng diện tích lúa trên địa bàn toàn tỉnh cơ bản đủ nước tưới nên sinh trưởng và phát triển tốt. Năng suất lúa vụ Hè Thu năm nay tăng 5,36 tạ/ha so với năm 2019. Cả diện tích và năng suất đều tăng đã làm cho sản lượng lúa vụ Hè Thu năm 2020 tăng 33.589 tấn so với cùng kỳ năm 2019. Vụ Hè Thu năm 2020, do lúc lúa bắt đầu trổ bông thì gặp mưa lớn kèm dông lốc kéo dài từ ngày 31/7/2020 đến ngày 02/8/2020 làm nhiều diện tích lúa Hè Thu bị ngập nặng lâu ngày đã làm cho 402 ha lúa Hè Thu bị mất trắng, trong đó: huyện Kỳ Anh 386 ha; huyện Lộc Hà 6 ha; Thị xã Kỳ Anh 10 ha. Do có diện tích mất trắng nên đã ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng lúa. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực khác như ngô, khoai lang, sắn, lạc đều giảm, chỉ có diện tích rau tăng hơn so với năm 2019. Nguyên nhân do đầu vụ Đông mưa kéo dài làm cho đất ướt khó sản xuất đối với một số loại cây, nhiều diện tích chậm tiến độ so với lịch thời vụ nên phải chuyển sang trồng các loại rau và một số cây trồng khác. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc ít sâu bệnh và điều kiện thời tiết thuận lợi nên năng suất các loại cây trồng chủ lực khác năm 2020 như ngô, khoai lang, sắn, rau đều tăng hơn so với năm 2019. + Kết quả sơ bộ sản xuất vụ Mùa 2020: sản xuất vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết nên người dân ít đầu tư sản xuất nên kết quả đạt được thường không cao. Cuối vụ Mùa năm nay trên địa bàn tỉnh xẩy ra lũ lụt nên đã ảnh hưởng đến các loại cây trồng. Kết quả sơ bộ vụ Mùa đối với một số loại cây trồng so với cùng kỳ năm trước đạt được như sau: sản lượng lúa giảm 406 tấn, khoai lang tăng 267 tấn và các loại rau tăng 289 tấn, các loại rau màu chủ yếu được người dân trồng để cải thiện đời sống, phục vụ nhu cầu hộ gia đình là chủ yếu. + Sản xuất vụ Đông năm 2020: với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tuy nhiên, do từ ngày 16/10 đến ngày 20/10/2020 trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra mưa lũ đã gây thiệt hại lớn đối với sản xuất vụ Đông. Tiến độ gieo trồng các loại cây trồng vụ Đông tính đến ngày 20/11/2020 đạt được như sau: ngô lấy hạt 1.511 ha/3.036 ha, đạt 49,8% kế hoạch; ngô sinh khối 867 ha/2.046 ha, đạt 42,4% kế hoạch; rau các loại 1.803 ha/4.328 ha, đạt 41,7% kế hoạch; khoai lang 255 ha/1.422 ha, đạt 17,9% kế hoạch. Hiện nay bà con nông dân đang tích cực gieo trỉa và chăm sóc các loại cây trồng vụ Đông, tuy nhiên do điều kiện thời tiết diễn biến bất lợi nên sản xuất vụ Đông năm nay gặp nhiều khó khăn. + Kế hoạch sản xuất vụ Xuân năm 2021: Với quan điểm chỉ đạo phải tuân thủ nghiêm lịch thời vụ, tăng tỷ lệ giống chất lượng, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu; ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trồng trọt trong sản xuất; phát huy hiệu quả các chuỗi liên kết sản xuất bền vững từ sản xuất đến thị trường tiêu thụ sản phẩm. Vụ Xuân năm 2021 đặt ra các mục tiêu phấn đấu cụ thể như sau: tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 36 vạn tấn; diện tích lúa 58.113 ha, sản lượng 33,2 vạn tấn; diện tích rau đậu 5.920 ha, sản lượng 45.510 tấn; diện tích lạc 11.195 ha, sản lượng 33.469 tấn; diện tích ngô lấy hạt 4.669 ha, sản lượng 24.880 tấn; diện tích khoai lang 1.536 ha, sản lượng 12.553 tấn; diện tích đậu các loại 437 ha, sản lượng 420 tấn. Sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại trên các loại cây trồng như: ngô, khoai lang, rau nhưng với mức độ ảnh hưởng nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. - Chăn nuôi: Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua đang có dấu hiệu phục hồi sau ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi nhưng mức độ phục hồi vẫn còn chậm. Nhìn chung, tình hình chăn nuôi vẫn đang gặp khó khăn, số lượng đàn vật nuôi tuy có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng mức tăng không cao. Dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn từ trung tuần tháng 5/2019 đến nay vẫn chưa kết thúc và hiện nay đang xẩy ra trên địa bàn nên người dân chưa dám mạnh dạn tái đàn. Cùng với đó, trung tuần tháng 10/2020, trên địa bàn tỉnh xẩy ra mưa lũ đã làm cho 9.979 con gia súc và 790.463 con gia cầm bị chết và cuốn trôi. Để hỗ trợ địa phương khôi phục sản xuất sau lũ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ hỗ trợ tỉnh Hà Tĩnh 203.000 con gà và 17.000 con vịt 1 ngày tuổi, 60 tấn thức ăn chăn nuôi và một số vật tư, hóa chất, vắc xin liên quan (ngày 09/11//2020 Hà Tĩnh đã nhận được 5.000 con gà 1 ngày tuổi). Thời gian tới, để ổn định và phát triển đàn vật nuôi trên địa bàn, bên cạnh việc tập trung phòng chống các loại dịch bệnh thì các cơ quan chức năng cũng cần phải tập trung thực hiện một số nội dung công việc như sau: tiếp tục tham mưu cho địa phương có những cơ chế, chính sách hổ trợ người chăn nuôi để tạo điều kiện cho họ tái đàn; xác định thị trường cung - cầu thực phẩm, nhất là dịp Tết Nguyên đán để có những chính sách điều hành linh hoạt, tránh nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn có thể xẩy ra; trong thời gian qua giá lợn hơi tăng mạnh nên người chăn nuôi có tâm lý muốn sớm tái đàn trong khi tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp nên cần có những khuyến cáo kịp thời để tránh thiệt hại cho người chăn nuôi. Dự báo trong những tháng tới, trong bối cảnh dịch bệnh luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thì hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn tiếp tục gặp khó khăn, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung thịt lợn phục vụ dịp Tết nguyên đán có thể xẩy ra. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2020, dịch tả lợn Châu Phi đã xẩy ra tại 5/13 huyện, thành phố, thị xã. Dịch bệnh xẩy ra tại 32 hộ chăn nuôi, thuộc 18 thôn, ở 12 xã (xã Quang Lộc, Xuân Lộc, Trung Lộc, Mỹ Lộc, Khánh Vĩnh Yên huyện Can Lộc; xã Sơn Tây, Sơn Hồng huyện Hương Sơn; xã Nam Phúc Thăng, Cẩm Thành, Thị trấn Cẩm Xuyên huyện Cẩm Xuyên, phường Hưng trí thị xã Kỳ Anh và xã Đức Liên huyện Vũ Quang), số lợn bị ốm chết, buộc tiêu hủy là 248 con với trọng lượng 11.048 kg. Các địa phương trên hiện đang có bệnh dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày. Thời gian này, do hậu quả của lũ lụt, môi trường bị ô nhiểm nên các loại dịch bệnh rất dễ xẩy ra đối với đàn gia súc, gia cầm. Vì vậy, các ngành chuyên môn và người chăn nuôi cần tập trung phòng, chống dịch bệnh để bảo vệ đàn vật nuôi nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do dịch bệnh gây ra. 1.2. Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn trong tháng 11/2020 nhìn chung không có nhiều biến động. Dù là mùa vụ trồng cây lâm nghiệp vụ Thu nhưng do ảnh hưởng của đợt lũ lụt xẩy ra tháng 10/2020 nên diện tích trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán và khai thác lâm sản trong tháng 11/2020 ước giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, người dân cũng đang ươm và chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân 2021. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 11 năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3. Thuỷ sản Tháng 11/2020, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản trên địa bàn Hà Tĩnh gặp khó khăn, sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước tính giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do từ giữa tháng 10 đến nay, mưa bão liên tục xẩy ra trên vùng biển Miền Trung nên bà con ngư dân không thể ra khơi đánh bắt. Cùng với đó, do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn trên diện rộng, hồ Kẻ Gỗ xả với dung lượng lớn đã làm cho hơn 3.000 ha diện tích nuôi thủy sản ở các huyện Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Can Lộc...bị ngập và cuốn trôi, một số bị chết do sốc môi trường sau khi nước lũ rút. Một số vùng nuôi không bị tràn bờ nhưng nước mưa vào nhiều làm môi trường thay đổi quá nhanh khiến tôm, cá, ngao/nghêu nuôi bị chết. Sau lũ lụt, môi trường nuôi bị xáo trộn, nhiều loại bệnh rất dễ xuất hiện, do đó người dân cần theo dõi thường xuyên các ao nuôi tôm, hệ thống lồng bè nuôi cá để có biện pháp xử lý kịp thời; bổ sung vitamin C, khoáng chất vào thức ăn để tăng sức đề kháng. Để khôi phục lại sản xuất nuôi trồng thủy sản, các cấp chính quyền cũng cần có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện vay vốn để các hộ tiếp tục cải tạo lại ao hồ, sữa chữa hạ tầng, thả nuôi vụ mới trong thời gian tới. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua nhìn chung thiếu ổn định. Do chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 10/2020 sụt giảm bởi ảnh hưởng của lũ lụt nên tháng 11/2020 chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp đã tăng trở lại với mức tăng 4,52% so với tháng trước và tăng 0,49% so với cùng kỳ năm trước. Bị ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt nên 1 số ngành công nghiệp đã sụt giảm mạnh trong tháng 10/2020 như: ngành sản xuất và phân phối điện giảm 41,91%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 19,56%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,92%. Sau ảnh hưởng của lũ lụt thì chính những ngành này đã tăng mạnh trở lại trong tháng 11/2020 góp phần làm cho chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11/2020 tăng hơn so với tháng trước, trong đó ngành sản xuất và phân phối điện dự ước tăng 29,86%; ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,52%. Tính chung 11 tháng năm 2020, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn giảm hơn so với cùng kỳ năm trước (giảm 4,72%). Trong đó, ngành khai khoáng giảm 6,99%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,09% làm giảm 6,45 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng, giảm toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện tăng 11,52%, đóng góp 1,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 3,88%, làm giảm 0,11 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. Như vậy, có 3/4 ngành công nghiệp cấp I có chỉ số phát triển sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tác động lớn nhất đến chỉ số chung toàn ngành công nghiệp của Hà Tĩnh vẫn là từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà chủ yếu là từ ngành sản xuất kim loại của dự án Fomosa Hà Tĩnh. Do giá thép thành phẩm liên tục giảm, trong khi giá nguyên liệu tăng cao nên Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Fomosa Hà Tĩnh đã điều chỉnh giảm sản lượng sản xuất trong năm 2020 (ước tính năm 2020 sản xuất 4,4 triệu tấn thép, giảm 12,6% so với năm 2019). Đây sẽ là yếu tố tác động thiếu tích cực đến phát triển sản xuất chung toàn ngành công nghiệp trong năm 2020. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng năm 2020 có sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước, đó là: quặng Zircon và tinh quặng zircon tăng 35,98%; thu gom rác thải tăng 15,03%; điện sản xuất tăng 11,24%; điện thương phẩm tăng 9,69%;…Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 64,09%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 46,04%; đá xây dựng giảm 8,3%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 38,55%; võ bào, dăm gỗ giảm 17,89%; thép giảm 9,26%… 3. Thực hiện vốn đầu tư Do thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp giải ngân vốn đầu tư công năm 2020 theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ. Mặc dù còn có những khó khăn nhất định trong việc thực hiện các hồ sơ thủ tục đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng, tiến độ giải ngân vốn...nhưng kết quả thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong năm 2020 là rất tích cực. Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 cũng như 11 tháng năm 2020 tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2020, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện đạt 83,53% kế hoạch vốn năm 2020, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh chiếm 64,5% tổng vốn, đạt 81,6% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện chiếm 25,4% tổng vốn, đạt 87,1% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã chiếm 10,1% tổng vốn, đạt 87,8% kế hoạch. Dự ước cả năm 2020, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý sẽ thực hiện đạt khoảng 94% kế hoạch vốn năm 2020, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2019. Mặc dù thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước dự ước tăng cao so với cùng kỳ nhưng vẫn chưa hoàn thành kế hoạch đặt ra. Nguyên nhân là do nguồn vốn ODA được giao năm 2020 là 1.290 tỷ đồng , tuy nhiên kế hoạch giao vốn chậm, hồ sơ, thủ tục khá phức tạp, tiến độ thi công các công trình dự án chưa đảm bảo nên nguồn vốn này ước tính chỉ đạt 72,5% kế hoạch năm. 4. Thương mại, dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn thời gian qua tiếp tục có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2020 tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 11,92% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm hàng tăng cao như: hàng may mặc tăng 14,4%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 12,96%; xăng, dầu các loại tăng 12,7%; vật phẩm, văn hóa, giáo dụ tăng 7,08%. Tính chung 11 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (tăng 3,75%) và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: ô tô các loại tăng 52,49%; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 22,66%; lương thực, thực phẩm tăng 20,93%. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: là tháng trùng với Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc, Ngày nhà giáo Việt Nam và mùa cưới hỏi nên làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 11/2020 tăng 1,53% và dịch vụ khác tăng 1,96% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng năm 2020, do ảnh hưởng của dịch covid-19, nên doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác đều giảm so với cùng kỳ năm trước, lần lượt giảm 22,04% và 10,32%. - Hoạt động vận tải: sang tháng 11/2020, tình hình thời tiết có nhiều chuyển biến tốt hơn nên hoạt động lưu thông của các phương tiện vận tải thuận lợi hơn, đã làm cho hoạt động vận tải hành khách cũng như vận tải hàng hóa tháng này tăng so với tháng trước. Ước tính vận tải hành khách tháng 11/2020 so với tháng trước tăng 4,19% về số lượng lượt khách vận chuyển và 5,28% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 5,78%. Tính chung 11 tháng, giảm 17,26% về số lượng khách vận chuyển và 15,31% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 14,54% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính vận tải hàng hóa tháng 11/2020 so với tháng trước tăng 5,37% về số lượng hàng hóa vận chuyển và 5,68% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 6,26%. Chung 11 tháng, giảm 7,72% về số lượng hàng hóa vận chuyển và 5,41% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 7,58% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 11/2020 tăng 8,29% so với tháng trước và 42,43% so với cùng kỳ năm trước. Chung 11 tháng, tăng 10,26% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn Hà Tĩnh 11 tháng năm 2020 vẫn đáp ứng tốt nhu cầu đi lại cũng như vận tải hàng hóa của người dân, doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên kết quả hoạt động vận tải giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 11 năm 2020 giảm 0,29% so với tháng trước, tăng 1,61% so với cùng tháng năm trước và tăng 0,07% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị giảm 0,08%; nông thôn giảm 0,38%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, có 2 nhóm là nhóm giáo dục và nhóm thuốc và dịch vụ y tế có chỉ số giá ổn định so với tháng trước. 5 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,52% (trong đó lương thực tăng 0,92%, thực phẩm giảm 0,86% và ăn uống ngoài gia đình không biến động); thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,06%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,65%; giao thông giảm 0,55 và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%. Còn lại 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, nhưng với mức tăng nhẹ: nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; may mặc, mũ nón, dày dép tăng 0,45%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08% và nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,61%. Một số nguyên nhân chính tác động đến chỉ số CPI tháng 11/2020, đó là: (1) Do ảnh hưởng bởi hai đợt mưa lũ lớn vào cuối tháng 10 trên phạm vi toàn tỉnh gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp. Nguồn cung ứng thóc và rau màu bị ảnh hưởng dẫn đến tăng giá lương thực. (2) Do yếu tố thời tiết chuyển mùa đã tác động làm tăng nhu cầu và giá cả nhóm hàng may mặc, mũ nón, dày dép nhưng lại làm giảm nhu cầu sử dụng dịch vụ điện, nước sinh hoạt. (3) Giá lợn hơi giảm mạnh do nguồn cung ổn định hơn, khiến giá các loại thịt lợn thành phẩm giảm theo. (4) Giá gas, xăng, dầu các loại được điều chỉnh giảm theo xu hướng thị trường thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 11/2020 tăng 2,17% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 29,35% và tăng 30,22% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/11/2020 ở khu vực thành thị là 5,428 triệu đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 5,461 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2020 giảm 0,02% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,07% và tăng 0,1% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/11/2020 mức giá bán ra là 2.320 nghìn đồng/100USD. CPI bình quân 11 tháng đầu năm 2020 tăng 3,76% so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng cao hơn 2,25 điểm phần trăm so với mức tăng bình quân 11 tháng năm 2019, trong đó khu vực thành thị tăng 4,47% và khu vực nông thôn tăng 3,32%. Như vậy, CPI bình quân 11 tháng năm 2020 đạt mức tăng cao tính trong vòng 5 năm trở lại đây (11 tháng năm 2016 tăng 2,5%; 11 tháng năm 2017 tăng 3,93%, 11 tháng năm 2018 tăng 3,78% và 11 tháng năm 2019 tăng 1,51 ). Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có CPI bình quân 11 tháng tăng cao hơn mức bình quân chung như: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,24% (trong đó lương thực tăng 3,97%, thực phẩm tăng tăng 11,74% và ăn uống ngoài gia đình tăng 5,78%); hàng may mặc, mũ nón và dày dép tăng 4,04%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,48%; giáo dục tăng 4,25%. Nguyên nhân chính là do giá nhóm thực phẩm tăng cao bởi giá lợn hơi tăng mạnh trong thời gian qua. Cùng với đó, việc thực hiện điều chỉnh chính sách về giá xăng dầu, dịch vụ giáo dục cũng đã tác động đến chỉ số giá chung. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 12/2020 dự kiến tiếp tục tăng so với tháng trước. Nguyên nhân do giá thịt gia súc, gia cầm có thể tăng trở lại do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ hạn chế xuất bán, chờ dịp cung cấp Tết Nguyên đán sắp tới. Giá các loại đồ dùng gia đình cũng có thể tăng do nhu cầu mua sắm dịp cuối năm. Bên cạnh đó, giá điện, nước sinh hoạt dự kiến giảm do điều kiện thời tiết chuyển mùa nhu cầu sử dụng giảm. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Tình hình đời sống dân cư Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Mặc dù trên địa bàn xẩy ra lũ lụt gây thiệt hại nặng nề cho người dân, nhưng nhờ sự hỗ trợ kịp thời của Trung ương, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh nên thời gian qua trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. 6.2. Tình hình thiên tai Tính từ ngày 24/10 đến ngày 16/11/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 2 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 28-31/10/2020; đợt 2 vào ngày 14-16/11/2020). Hai đợt thiên tai đã gây thiệt hại làm 146 nhà dân bị sập, cuốn trôi và bị hư hại; 12,2 ha diện tích lúa và 795 ha diện tích hoa màu bị thiệt hại; 35 con gia súc và 36,2 nghìn con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Ngoài ra, còn có một số cây cối bị đổ gãy và nhiều thiệt hại khác. Ước tính tổng thiệt hại 93,15 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 6.3. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch bệnh: tính đến ngày 15/11/2020, ở Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19; hiện đang cách ly, theo dõi tại bệnh viện đa khoa tỉnh 3 người, cách ly tập trung 372 người, cách ly tại nhà 13 người. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Ngoài dịch bệnh Covid-19, tính từ ngày 16/10-15/11/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh có 6 trường hợp sốt xuất huyết, 12 trường hợp viêm gan siêu vi trùng, 34 trường hợp mắc lỵ a míp, 5 trường hợp mắc quai bị, 66 trường hợp mắc thủy đậu và không có trường hợp nào tử vong do các dịch bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Tính từ ngày 16/10-15/11/2020, Hà Tĩnh có 3 trường hợp nhiễm HIV (giảm 4 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019), 3 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 3 trường hợp) và không có trường hợp chết vì AIDS (giảm 3 trường hợp). Tính chung 11 tháng năm 2020, có 69 trường hợp nhiễm HIV, 68 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 6 trường hợp chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 16/10-15/11/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm 2019), làm 15 người bị ngộ độc (xảy ra ở huyện Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh). Ngoài ra, còn có 95 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 8 ca so với cùng kỳ năm 2019). Tính chung 11 tháng năm 2020, có 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm 2019), 1.038 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 451 ca so với cùng kỳ năm 2019) và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 6.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã phối hợp với UBND thị xã Hồng Lĩnh tổ chức Liên hoan thực hành nghi lễ thờ mẫu tam phủ của người Việt tỉnh Hà Tĩnh mở rộng lần thứ 4, năm 2020 với hơn 40 nghệ nhân, thanh đồng trên địa bàn Hà Tĩnh và 13 tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia. Ngoài ra, hướng tới Kỷ niệm ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/2020), ngày 18/11/2020, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Bảo tàng Hà Tĩnh phối hợp tổ chức khai mạc triển lãm “Bãi Cọi - Nơi gặp gỡ các nền văn hóa” tại Hà Nội, với gần 150 hình ảnh, tài liệu, hiện vật tiêu biểu được lựa chọn, chương trình trưng bày góp phần cung cấp tư liệu khoa học, làm sáng tỏ những khoảng trống lịch sử giai đoạn sơ sử miền Trung Việt Nam; đồng thời ghi nhận thành công của mô hình hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, khai quật khảo cổ học giữa Bảo tàng Lịch sử quốc gia với Sở VH-TT&DL Hà Tĩnh, Bảo tàng Hà Tĩnh và Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: trong tháng, đã tiến hành cấp 25 giấy phép, bao gồm 3 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 1 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 21 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. - Hoạt động thể thao: phong trào thể thao quần chúng trong toàn tỉnh được diễn ra thường xuyên và tạo được sức lan tỏa, đặc biệt là vào ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc như: giải bóng chuyền da nam huyện Can lộc; giải bóng chuyền hơi nam-nữ được tổ chức ở các thôn, xóm chào mừng ngày Đại đoàn kết toàn dân tộc… Đối với thể thao thành tích cao, Hà Tĩnh đã giành được 27 huy chương các loại (gồm 14 HCV; 7 HCB; 6 HCĐ), trong đó có một số giải đạt thành tích nổi bật như giải vô địch CLB Karate toàn quốc giành được 7 HCV, 3 HCB, 3 HCĐ; giải Đua thuyền vô địch vô địch quốc gia giành được 4 HCV, 2 HCB, 1 HCĐ. 6.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Tính từ ngày 15/10/2020 đến ngày 14/11/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người, bị thương 4 người. So với tháng trước tăng 1 vụ tai nạn đường bộ và giảm 1 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và giảm 3 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vây, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/11/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 130 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 115 người và bị thương 53 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 19 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 13 người chết và giảm 16 người bị thương. 6.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: tính từ ngày 16/10/2020 đến ngày 15/11/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ cháy, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 171,8 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2020, xẩy ra 68 vụ cháy, làm 3 người chết và 4 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 12,36 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2019 giảm 3 vụ cháy và 5 vụ nổ, giảm 1 người chết và 4 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: tính từ ngày 16/10/2020 đến ngày 15/11/2020, đã phát hiện 7 vụ và xử lý 5 vụ vi phạm môi trường (tăng 5 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 42,5 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2020, đã phát hiện 40 vụ và xử lý 36 vụ vi phạm môi trường (giảm 57 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt 257,5 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2020 tỉnh Hà Tĩnh
- 23/07/2024 10:03
Nhìn chung, 11 tháng đầu năm 2019 tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn do những ảnh hưởng của dịch bệnh covid-19 và tình hình thiên tai diễn biến phức tạp. Giá các loại lương thực, thực phẩm tăng cao ảnh hưởng đến đời sống người dân. Sang tháng 11 năm 2020, chỉ số CPI giảm 0,29% so với tháng trước, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo khu vực: So với tháng trước khu vực thành thị giảm 0,08%, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,01%; nông thôn giảm 0,38% so với tháng trước và tăng 0,86% so với cùng kỳ năm trước.Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính gồm có:+ 04 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,27% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,41%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,45% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,83%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 2,03%; Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,61% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,25%;+ 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,52% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,53%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,65% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 1,08%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,06% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,71%; Giao thông giảm 0,55% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 13,82%; Bưu chính viễn thông giảm 0,02% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,01%;+ 02 nhóm: Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục không có sự biến động so tháng trước.* Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ(1) Do ảnh hưởng bởi hai đợt mưa lũ ngập úng tháng 10 vừa qua trên địa bàn tỉnh gây thiệt hại lớn đến sản xuất và kinh doanh. Nguồn cung ứng thóc và rau màu bị ảnh hưởng dẫn đến tăng giá. Bên cạnh đó, do mưa lũ gây thiệt hại đến tài sản đồ dùng gia đình, tác động đến nhu cầu và giá cả nhóm hàng hóa trên.(2) Do yếu tố thời tiết trở lạnh tác động đến nhu cầu và giá cả nhóm hàng may mặc và dịch vụ điện, nước sinh hoạt.(3) Giá thịt lợn giảm, do ảnh hưởng bệnh dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trở lại và nguồn cung ổn định, khiến giá các loại thịt lợn hơi tiếp tục giảm (giá thịt lợn hơi tháng 11/2020 hiện tại đang ở mức khoảng 65.000đ/kg).(4) Giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm, giá gas tăng do yếu tố tính chất biến động theo xu hướng thị trường thế giới.Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2020 so các giai đoạn năm 2016 – 2020* Tính chung CPI, 11 tháng năm 2020, chỉ số chung 103,76% (tăng 3,76%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực thành thị tăng 4,47%; Nông thôn tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước.Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,24%; Đồ uống và thuốc lá tăng 2,69%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 4,04%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,48%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,90%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,67%; Giao thông giảm 11,21%; Bưu chính viễn thông giảm 1,03%; Giáo dục tăng 4,25%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,18%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong năm, nhìn chung hầu hết các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều có mức tăng giá cao, ngoại trừ nhóm văn hóa giải trí và du lịch. Nguyên nhân chủ yếu là tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp trong thời gian dài. Bên cạnh đó, những tháng cuối năm, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tĩnh có những diễn biến ngày càng phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố không ổn định, ảnh hưởng đến việc điều hành các chính sách kinh tế, ổn định vĩ mô, bình ổn thị trường. Đợt mưa lớn kéo dài gây lũ lụt trong nửa cuối tháng 10 đã gây nhiều thiệt hại đến con người, tài sản, thu nhập, sức sản xuất của xã hội, đặc biệt là sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản.Hầu hết dự kiến tốc độ chung cả giá tiêu dùng lẫn giá sản xuất trong năm nay ở mức cao. Qua đó, cần có những giải pháp nhằm sớm ổn định đời sống người dân, kiềm chế giá cả, bình ổn thị trường tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh dịp Tết Nguyên đán 2021 sắp tới.Uông Thị Hoàn (Cục Thống kê Hà Tĩnh)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2020
- 23/07/2024 10:30
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: sản xuất trồng trọt trong tháng 10/2020 chủ yếu tập trung chăm sóc cây vụ Mùa và tiến hành sản xuất vụ Đông. Tuy nhiên, do trên địa bàn tỉnh có đợt mưa to gây ngập lụt lớn đã làm cho nhiều diện tích cây trồng ở một số địa phương bị thiệt hại nặng nề. Sản xuất vụ Mùa năm 2020 trong điều kiện đầu vụ thời tiết tương đối thuận lợi nên diện tích khoai lang và các loại rau trồng được ước tính tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, đến thời kỳ các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển mạnh thì gặp phải đợt lũ lụt nghiêm trọng đã làm cho nhiều diện tích hoa màu bị ngập úng, hư hại ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng. Nhìn chung, tình hình sản xuất vụ Mùa hàng năm trên địa bàn đạt kết quả không cao do ảnh hưởng bởi điều kiện thiên tai, lũ lụt. Chính vì thế nên người dân chưa mặn mà trong việc đầu từ vào sản xuất vụ Mùa, chủ yếu sản xuất với mục đích để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân. Về sản xuất vụ Đông năm 2020, với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tiến độ sản xuất vụ Đông 2020 tính đến ngày 20/10/2020: Ngô lấy hạt ước đạt 1.095 ha, bằng 36,07% kế hoạch; ngô sinh khối ước đạt 480 ha, bằng 23,46% kế hoạch; khoai lang ước đạt 594 ha, bằng 34,81% kế hoạch và rau các loại ước đạt 2.003 ha, bằng 46,28% kế hoạch. Hiện nay, do chịu ảnh hưởng nặng nề bởi lũ lụt, nhất là một số địa phương bị ảnh hưởng nặng như: Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hương Khê, Vũ Quang...nên sản xuất vụ Đông năm nay đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu kế hoạch sản xuất đã đề ra. Sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại trên diện tích các loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ sâu bệnh, nhất là đối với các loại sâu bệnh như: sâu keo mùa thu, sâu xám, sâu đục thân, bệnh khô vằn, bệnh lùn sọc đen Phương Nam...nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 10 năm 2020 vẫn đang gặp khó khăn. Đàn lợn đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng nặng nề bởi dịch tả lợn Châu Phi nhưng vẫn còn chậm, tổng đàn lợn ước tính hiện có giảm 2,91% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh sự sụt giảm của tổng đàn trâu và đàn lợn thì đàn bò và đàn gia cầm tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Điều này phù hợp với tình hình hiện nay đối với ngành chuăn nuôi của Hà Tĩnh khi mà chăn nuôi lợn đang gặp khó khăn. Bên cạnh dịch bệnh luôn tiềm ẩn thì trước diễn biến phức tạp của thiên tai, lũ lụt cũng luôn là những khó khăn thách thức đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn. Vì vậy, các cấp, các ngành cũng như người chăn nuôi luôn phải có các giải pháp thích hợp để chủ động ứng phó với dịch bệnh và thiên tai nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại đối với đàn vật nuôi. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: tính từ ngày 02-21/10/2020, dịch tả lợn Châu Phi đã phát sinh trên địa bàn 5 xã: xã Quang Lộc và xã Xuân Lộc (huyện Can Lộc); xã Sơn Tây và xã Sơn Hồng (huyện Hương Sơn) và xã Thạch Trị (huyện Thạch Hà). Dịch bệnh đã xẩy ra tại 14 hộ chăn nuôi, thuộc 8 thôn, làm cho 120 con lợn bị bệnh, trong đó chết và tiêu hủy 110 con, với tổng trọng lượng là 4,5 tấn. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 10/2020, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên sản lượng gỗ khai thác giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh việc khai thác, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng thì người dân cũng đang tập trung tiến hành trồng cây lâm nghiệp vụ Thu 2020 và ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân 2021. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 25/9 đến 20/10/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng. 1.3. Thuỷ sản Hoạt động sản xuất nuôi trồng và khai thác thủy hải sản trong tháng 10/2020 gặp khó khăn do thời tiết mưa lũ nên sản lượng thủy hải sản khai thác giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2020, tổng sản lượng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng vẫn duy trì được mức tăng ổn định trên 6% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng dịch bệnh không xẩy ra đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 10/2020 ổn định và dự ước chỉ số phát triển sản xuất tăng hơn so với tháng trước cũng như với cùng kỳ năm trước, với mức tăng tương ứng là 8,68% và 9,3%. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất, phân phối điện là những nhân tố có sự ảnh hưởng làm tăng chỉ số chung so với tháng trước. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng khá so với tháng trước như: sản xuất đồ uống tăng 6,5%; dệt tăng 11,5%; sản xuất trang phục tăng 6,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 8,4%; sản xuất kim loại tăng 9,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 22,1%. Do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nên tính chung 10 tháng năm 2020 chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp giảm 2,81% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có ngành sản xuất và phân phối điện vẫn duy trì được mức tăng khá 19,87%, còn lại 3/4 ngành công nghiệp cấp I đều có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó: công nghiệp khai khoáng giảm 6%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,37%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,69%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng năm 2020 có sản lượng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: thức ăn cho gia súc giảm 20,15%; bia lon giảm 9,67%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 11,9%; gạch xây dựng giảm 41,07%; bê tông trộn sắn giảm 63,8%; thép giảm 11,3%...Bên cạnh đó, một số sản phẩm tăng: than cốc tăng 19,15%; điện sản xuất tăng 19,82%; điện thương phẩm tăng 9,57%; nước máy tăng 6,57%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 14,89%... 3. Thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý Năm 2020 là năm cuối thực hiện đầu tư trung hạn giai đoạn 2015-2020 và có nhiều công trình dự án được đẩy nhanh tiến độ thi công hoàn thành để chào mừng đại hội Đảng các cấp. Vì vậy, dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 cũng như 10 tháng năm 2020 tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn chủ yếu đầu tư thực hiện các công trình dự án xây dựng, sửa chữa nâng cấp hệ thống giao thông thủy lợi, cơ sở hạ tầng nông thôn...Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu vốn đầu tư phát triển là rất lớn nhưng nguồn thu ngân sách và cân đối vốn cho đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước đang gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với cấp xã. Bắt đầu bước vào mùa mưa lũ nên thời gian tới việc thực hiện các công trình dự án xây dựng cơ bản sẽ gặp khó khăn và sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện vốn đầu tư phát triển, trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước. 4. Thương mại, dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn thời gian qua tiếp tục có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10/2020 tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 11,96% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm hàng tăng cao như: hàng may mặc tăng 12,65%; xăng, dầu các loại tăng 11,5%; hàng hóa khác tăng 9,57%; Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có đông cơ khác tăng 7,65%. Tính chung 10 tháng năm 2020, do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên tổng mức bán lẻ hàng hóa có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (tăng 2,77%) và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: ô tô các loại tăng 58,36%; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 25,02%; lương thực, thực phẩm tăng 20,15%. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác tháng 10 cũng như 10 tháng năm 2020 đều giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Do tính chất thời vụ kèm với bị ảnh hưởng của lũ lụt nên lượt khách đến tham quan, nghỉ mát tại các bãi biển, khu sinh thái nghỉ dưỡng trên địa bàn và nhu cầu sử dụng một số dịch vụ khác trong tháng 10/2020 giảm mạnh, đã tác động làm cho doanh thu hoạt động này giảm so với tháng trước. - Hoạt động vận tải: ảnh hưởng của mưa lũ, nhiều tuyến đường bị ngập, nên hoạt động lưu chuyển hàng hóa tháng 10/2020 gặp nhiều khó khăn và có xu hướng giảm so với tháng trước. Còn vận tải hành khách, trong tháng là thời điểm bước vào năm học mới, nhu cầu đi lại của đối tượng học sinh, sinh viên nhập học tăng. Cùng với đó, tình hình thời tiết chuyển mưa lạnh, nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng cũng tăng, đã làm cho hoạt động vận tải hành khách tháng này tăng hơn so với tháng trước. Ước tính vận tải hành khách tháng 10/2020 so với tháng trước tăng 3,34% về số lượng lượt khách vận chuyển và 3,75% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 4%. Tính chung 10 tháng, giảm 17,71% về số lượng khách vận chuyển và 15,48% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 14,99% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính vận tải hàng hóa tháng 10/2020 so với tháng trước giảm 3,15% về số lượng hàng hóa vận chuyển và 4,13% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 2,9%. Chung 10 tháng, giảm 7,39% về số lượng hàng hóa vận chuyển và 4,94% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 7,04% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 10/2020 tăng 4,58% so với tháng trước và 59,39% so với cùng kỳ năm trước. Chung 10 tháng, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 10 năm 2020 giảm 0,34% so tháng trước, tăng 3,45% so cùng tháng năm trước và tăng 0,36% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị giảm 0,1% và khu vực nông thôn giảm 0,44%. CPI tháng 10/2020 giảm so với tháng trước là tín hiệu tích cực trong việc bình ổn giá cả thị trường trên địa bàn tỉnh. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ, chỉ có 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng nhẹ so với tháng trước (nhóm may mặc, mũ nón, giày dép; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng và nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình); có 4/11 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch; nhóm giao thông và nhóm hàng hoá và dịch vụ khác) và có 4/11 nhóm hàng hóa ổn định không có sự biến động so với tháng trước (nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục). Một số nguyên nhân chính tác động đến chỉ số CPI tháng 10/2020, đó là: (1) Giá gạo trong nước giảm do ảnh hưởng bởi giá gạo thị trường thế giới giảm; (2) Nguồn cung ổn định hơn nên giá lợn hơi giảm đã làm cho giá các loại thịt lợn thành phẩm giảm; (3) Do yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh, tác động đến các mặt hàng đồ dùng gia đình, hàng may mặc và điện, nước sinh hoạt. Chỉ số giá vàng tháng 10/2020 giảm 1,66% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 26,68% và tăng 27,46% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng bình quân trên thị trường Hà Tĩnh tháng 10/2020 ở khu vực thành thị là 5,355 triệu đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 5,304 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2020 tăng 0,08% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,08% và tăng 0,12% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/10/2020 mức giá bán ra là 2.321 nghìn đồng/100USD. CPI bình quân 10 tháng đầu năm 2020 tăng 3,98% so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng cao hơn 2,6 điểm phần trăm so với mức tăng bình quân 10 tháng năm 2019, trong đó khu vực thành thị tăng 4,61% và khu vực nông thôn tăng 3,57%. Như vậy, CPI bình quân 10 tháng đầu năm 2020 vẫn có mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây (10 tháng 2016 tăng 2,51%; 10 tháng 2017 tăng 3,87%; 10 tháng 2018 tăng 3,87% và 10 tháng 2019 tăng 1,38%). Chỉ có nhóm giao thông và nhóm bưu chính viễn thông có CPI bình quân 10 tháng giảm so với cùng kỳ, còn lại tất cả các nhóm hàng hóa khác đều tăng. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có CPI bình quân tăng cao so với cùng kỳ là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,62%; nhóm may mặc, mũ nón, dày dép tăng 4,16%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,05%; nhóm giáo dục tăng 3,22%. Chỉ số CPI tháng 11/2020 dự kiến sẽ tăng trở lại do ảnh hưởng lũ lụt nên nhu cầu đối với một số mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống của người dân sẽ tăng lên. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Tình hình đời sống dân cư Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra mưa lớn làm ngập lụt trên diện rộng, nhưng nhờ sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, cũng như sự hỗ trợ kịp thời của các cấp, ngành, tập thể, cá nhân trong và ngoài tỉnh giúp người dân vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Vì vậy, tính đến 23/10/2020 trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. 6.2. Tình hình thiên tai Tính từ ngày 15/9 đến ngày 23/10/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 3 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 17-19/9/2020; đợt 2 vào ngày 07-11/10/2020; đợt 3 vào ngày 16-20/10/2020). Ba đợt thiên tai (đợt 3 số liệu sơ bộ) đã gây thiệt hại làm 7 người chết; 266 nhà ở bị hư hỏng, 1.759 nhà ở bị ngập nước, 1 điểm trường, 12 phòng học, 5 trụ sở cơ quan, 5 cơ sở y tế và 11 công trình văn hóa bị thiệt hại; 18 con trâu, bò, 363 con lợn, 116,2 nghìn con gia cầm bị chết và cuốn trôi; 120 ha lúa, 2.104,7 ha cây trồng hàng năm, 2.213 ha cây lâu năm, 8,9 ha diện tích rừng bị đổ, gãy, hư hỏng; 1.149,4 ha diện tích thủy sản bị thiệt hại; 67.430 m chiều dài đường giao thông, 3.240 m chiều dài kênh mương, kè bị sạt lở và hư hỏng; 13 đập bị sạt lở, 98 cầu, cống bị hư hỏng. Ngoài ra một số cột điện, cây cối bị đổ gãy và nhiều thiệt hại khác. Ước tính tổng thiệt hại 1.434,26 tỷ đồng, trong đó thiệt hại nặng nhất là đợt 3 với giá trị thiệt hại 1.399 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 6.3. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch bệnh: tính đến ngày 15/10/2020, ở Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19; hiện đang cách ly tập trung 507 người, cách ly tại nhà 11 người. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Ngoài dịch bệnh Covid-19, trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có 14 trường hợp sốt xuất huyết, 6 trường hợp viêm gan siêu vi trùng, 14 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 32 trường hợp mắc lỵ a míp, 2 trường hợp mắc quai bị, 14 trường hợp mắc thủy đậu, 5 trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệng và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Trong tháng, Hà Tĩnh có 5 trường hợp nhiễm HIV (giảm 3 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019), 7 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 4 trường hợp) và 2 trường hợp chết vì AIDS (tăng 2 trường hợp). Tính chung 10 tháng, có 66 trường hợp nhiễm HIV, 65 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 6 trường hợp chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 105 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 13,22% so với cùng kỳ năm 2019. Tính chung 10 tháng, có 943 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 31,96% so với cùng kỳ năm 2019 và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. Hiện nay, trên địa bàn vừa xẩy ra lũ lụt nên việc đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường và nguồn nước ăn uống cho người dân đang được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. 6.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: trong tháng, chủ yếu tập trung thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh, đặc biệt là tuyên truyền, xây dựng tin bài, phóng sự đại hội Đảng; tổ chức treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu...vào các ngày tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX. Ngoài ra, Hà Tĩnh cũng đã trọng thể tổ chức kỷ niệm 255 năm ngày sinh, tưởng niệm 200 năm ngày mất Đại thi hào dân tộc - Danh nhân Văn hóa thế giới Nguyễn Du, nhằm ghi nhớ công lao, tài năng và tôn vinh những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông đối với nền văn hóa Việt Nam và toàn nhân loại. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: trong tháng, đã tiến hành cấp 23 giấy phép, bao gồm 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản; 22 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. - Hoạt động thể thao: phong trào thể thao quần chúng trong toàn tỉnh được diễn ra thường xuyên và tạo được sức lan tỏa như: giải bóng chuyền nam cán bộ Hội Nông dân toàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2020; Giải Bóng đá thiếu niên, nhi đồng Hà Tĩnh năm 2020; giải bóng chuyền Nam công đoàn cơ sở xã, thị trấn thuộc huyện Hương Sơn… Đối với thể thao thành tích cao, Hà Tĩnh đã giành được 45 huy chương các loại (gồm 23 HCV; 6 HCB; 16 HCĐ), trong đó có một số giải đạt thành tích nổi bật như giải vô địch trẻ Karate giành được 7 HCV, 1 HCB, 2 HCĐ; giải vô địch điền kinh trẻ các lứa tuổi giành được 12 HCV, 3 HCB, 10 HCĐ. 6.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Tính từ ngày 15/9/2020 đến ngày 14/10/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người, bị thương 5 người. So với tháng trước giảm 9 vụ tai nạn đường bộ, giảm 7 người chết và giảm 2 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ tai nạn đường bộ, giảm 7 người chết và giảm 6 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vây, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/10/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 120 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 108 người và bị thương 49 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 18 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 11 người chết và giảm 13 người bị thương. 6.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: tính từ ngày 16/9/2020 đến ngày 15/10/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 8 vụ cháy, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 450 triệu đồng, so với cùng kỳ năm 2019 tăng 4 vụ cháy. Tính chung 10 tháng năm 2020, xẩy ra 61 vụ cháy, làm 7 người chết và 4 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 8,24 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2019 giảm 10 vụ cháy và 5 vụ nổ, tăng 5 người chết và giảm 4 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: tính từ ngày 16/9/2020 đến ngày 15/10/2020, đã phát hiện 5 vụ và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường (bằng cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 36,5 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2020, đã phát hiện 33 vụ và xử lý 31 vụ vi phạm môi trường (giảm 62 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt 215 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình kinh tế xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2020
- 23/07/2024 15:33
Triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2020 trong trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức và cũng là tình hình chung của cả nước. Tình hình dịch bệnh Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã tác động tiêu cực tới kinh tế toàn cầu và Việt Nam, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người dân; diễn biến thời tiết, dịch bệnh bất lợi đối với các loại cây trồng và vật nuôi, nhất là ngành chăn nuôi chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch tả lợn Châu Phi; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn hạn chế; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Trước những khó khăn đó, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ giữ mức ổn định so với cùng kỳ năm trước. Nhiệm vụ từ nay đến cuối năm để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2020 khoảng từ 2,5 đến 3% là rất nặng nề; đòi hỏi cả hệ thống chính trị, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp phải tiếp tục quyết tâm nỗ lực lớn, tập trung phục hồi sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong điều kiện phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và kịp thời ứng phó với diễn biến của thiên tai, bão lũ để có thể đạt kết quả cao nhất mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2020. 1. Tài chính, ngân hàng 1.1. Thu - chi ngân sách Nhà nước Tổng thu NSNN trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2020 bằng 64,81% so với cùng kỳ năm 2019. Trong thu ngân sách Nhà nước thì thu nội địa chiếm 85,95% và thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 14,05%. Mặc dù ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19, nhiều hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn bị đình trệ, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị nên thu nội thu nội địa tăng 10,42% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do Formosa phải bảo dưỡng sửa chữa lớn và dịch Covid-19 ảnh hưởng đến hoạt động xuất, nhập khẩu nên tổng thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu chỉ bằng 64,99% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, việc hoàn thuế VAT 9 tháng đầu năm 2020 tăng cao so với cùng kỳ dẫn đến thu cân đối hoạt động xuất, nhập khẩu giảm 81,63% so với cùng kỳ năm 2019. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả thu ngân sách Nhà nước 9 tháng đầu năm 2020 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Để thực hiện hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2020 vẫn còn nhiều khó khăn thách thức trong những tháng cuối năm. Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi NSNN trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2020 bằng 108,8% so với cùng kỳ năm 2019. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 45,02% tổng chi, tăng 16,63% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 54,89% tổng chi, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019. 2.2. Hoạt động ngân hàng Trong 9 tháng đầu năm 2020, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Hà Tĩnh đã kịp thời quán triệt và chỉ đạo thực hiện các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của Ngành đến các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Trong dó tập trung vào các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của Ngành và UBND tỉnh có liên quan đến hoạt động Ngân hàng năm 2020 và các văn bản chỉ đạo liên quan đến phòng chống, khắc phục hậu quả dịch Covid-19. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển. Nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định, nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt (tăng 17,45% so với đầu năm), nguồn vốn huy động trung, dài hạn tăng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (tăng 19,27% so với đầu năm, chiếm 51,5% trong tổng nguồn vốn) đã tạo điều kiện cho các TCTD chủ động nguồn vốn để cho vay. Trong 9 tháng đầu năm, mặc dù ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt (tăng 9,58% so với đầu năm), trong đó dư nợ cho vay 4 lĩnh vực ưu tiên chiếm 50,3% tổng dư nợ và tăng 16,65% so với đầu năm, dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng dư nợ (chiếm 40,3%) tạo điều kiện cho khách hàng ổn định nguồn tài chính để đầu tư phát triển sản xuất. Nợ xấu được kiểm soát và ở dưới mức cho phép (1,19%). Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng chấp hành nghiêm túc các quy định trong quá trình hoạt động. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động của các TCTD được thực hiện chặt chẽ. Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch Covid-19, NHNN đã tập trung chỉ đạo thực hiện các hoạt động ứng phó và khắc phục khó khăn liên quan đến dịch. Cụ thể, tính đến ngày 31/8/2020: dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN là 503,75 tỷ đồng, với 543 khách hàng được cơ cấu. Dư nợ miễn giảm lãi theo Thông tư 01 là 168,43 tỷ đồng cho 223 khách hàng với số lãi giảm 434 triệu đồng; hạ lãi suất dư nợ hiện hữu với dư nợ 8.709 tỷ đồng cho 4.065 khách hàng với số lãi được hạ 15.381 triệu đồng (giảm từ 0,05% đến 3,2%/năm). Các TCTD đã cho vay mới nhằm hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất kinh doanh với doanh số cho vay là 18.209 tỷ đồng, đối với 6.085 khách hàng (với lãi suất thấp hơn so với trước khi có dịch từ 0.05-0.3%/năm). Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại, đó là: nợ xấu đã giảm so với cuối năm 2019 (nợ xấu cuối năm 2019 chiếm 1,42% tổng dư nợ), tuy nhiên tập trung chủ yếu vào các khách hàng có dư nợ lớn, khó xử lý và chưa tìm ra hướng giải quyết; việc thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN vẫn gặp nhiều khó khăn; Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19 đến nay chưa phát sinh số liệu. 2. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 9 năm 2020 tăng nhẹ (tăng 0,57%) so tháng trước (khu vực thành thị tăng 0,93% và khu vực nông thôn tăng 0,41%), tăng 3,92% so cùng tháng năm trước và tăng 0,7% so với tháng 12 năm 2019. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: nhóm giáo dục; may mặc, mũ nón, giày dép; thiết bị và đồ dùng gia đình; giao thông và nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng. Có 2 nhóm hàng hoá có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: nhóm văn hóa, giải trí, du lịch và nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống. Còn lại 3 nhóm hàng hóa và dịch vụ ổn định so với tháng trước là nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm bưu chính viễn thông. Một số nguyên nhân chính tác động đến CPI tháng 9/2020 so với tháng trước là: (1) Tháng 9 là thời điểm bước vào năm học mới, mặc dù các cơ sở giáo dục công lập ổn định chưa tăng giá. Nhưng các cơ sở giáo dục tư thục đều có mức tăng học phí khá cao, bình quân trên 10% so với năm học trước. Cùng với đó, nhu cầu hàng may mặc, mũ nón, dày dép, vật tư văn phòng phẩm đều tăng đã tác động làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tăng cao so với tháng trước (tăng 15,13%); (2) Sau khi thu hoạch lúa vụ Hè Thu thì giá gạo giảm; (3) Giá thịt lợn hơi giảm khiến các mặt hàng thịt lợn và thực phẩm chế biến từ thịt lợn giảm nhẹ. Chỉ số giá vàng tháng 9/2020 giảm 1,28% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 27,92% và tăng 29,61% so với tháng 12 năm 2019. Giá vàng giảm theo biến động của giá vàng thế giới. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/9/2020 ở khu vực thành thị là 5.441 nghìn đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 5.389 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2020 tăng 0,04% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,99% và tăng 0,05% so với tháng 12 năm 2019. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/9/2020 mức giá bán ra là 23.200 đồng/1USD. CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2020 tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 4,6% và khu vực nông thôn tăng 3,66%. Phân theo nhóm hàng hóa và dịch vụ: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,68%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,79%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 4,23%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,93%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,1%; giao thông giảm 10,62%; bưu chính viễn thông giảm 1,19%; giáo dục tăng 1,98%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,68%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,41 so với cùng kỳ năm trước. Tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2020 tăng ở mức cao nhất. Nguyên nhân, do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh Covid-19 và dịch tả lợn Châu Phi, cùng với việc điều chỉnh các chính sách về giá đối với một số mặt hàng nên đã tác động đến chỉ số giá chung. CPI tháng 10/2020 dự kiến có khả năng giảm nhẹ so với tháng trước. Nguyên nhân do giá gạo, thịt lợn dự kiến tiếp tục giảm do nguồn cung tăng. Giá điện, nước sinh hoạt dự kiến cũng giảm khi thời tiết bắt đầu chuyển lạnh và mưa nhiều trong tháng, khối lượng tiêu dùng giảm theo. 3. Đầu tư và xây dựng Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện giai đoạn 2016-2020 liên tục giảm mạnh qua các năm. Nguyên nhân cơ bản là: (i) các dự án đầu tư công có tổng vốn kế hoạch lớn gặp vướng mắc trong giải phóng mặt bằng; vốn NSTW bổ sung trong kế hoạch đầu tư công trung hạn đến tháng 6/2020 mới được giao vốn; việc thay đổi về cơ chế trong quản lý, vận hành các dự án cấp nước sinh hoạt và VSNT thuộc CTMQTG xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những khó khăn, lúng túng trong quá trình thực hiện ở cấp cơ sở; (ii) ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên huy động vốn đầu tư từ tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước gặp nhiều khó khăn; (iii) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt thấp do các tháng đầu năm Công ty Formosa chủ yếu tập trung vào công tác bảo trì, bảo dưỡng, chưa triển khai các hoạt động đầu tư mới. Xác định để phát triển kinh tế, Hà Tĩnh phải đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư toàn xã hội, đặc biệt đầu tư công theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 622/TTg-KTTH ngày 26/5/2020 và của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Văn bản số 2274-CV/TU ngày 01/6/2020, trong đó tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai, thủ tục đầu tư, tránh máy móc, cầu toàn, trì trệ, đùn đẩy; đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm đã được Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy đồng ý chủ trương; tổ chức khởi công, triển khai ngay các dự án lớn tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Xem xét thu hồi các dự án chậm tiến độ, không có khả năng thực hiện để tạo quỹ đất, kêu gọi các nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án; rà soát, thu hồi vốn đối với các dự án đầu tư công giải ngân không đạt yêu cầu, bố trí cho dự án khác. Với việc thực hiện đồng bộ và quyết liệt các giải pháp, kết quả thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2020 tăng 14,1% so với quý trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2020, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giảm 2,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn ngoài Nhà nước chỉ đạt mức tăng nhẹ 0,7% nhưng nguồn vốn Nhà nước lại tăng 17,3% so với cùng kỳ. Riêng vốn FDI giảm 34,3% so với cùng kỳ do Dự án Formosa đã hoàn thành nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh. Do trong tổng vốn đầu tư phát triển thì chủ yếu là vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Vì vậy, khi thực hiện vốn đầu tư phát triển đạt thấp thì hoạt động sản xuất xây dựng cũng gặp khó khăn. Cùng với việc thực hiện vốn đầu tư đạt thấp, không có các công trình dự án lớn được triển khai xây dựng và bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên kết quả hoạt động sản xuất xây dựng 9 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn không có nhiều biến động so với năm 2019. Các công trình xây dựng trọng điểm chào mừng Đại hội Đảng các cấp đang được đẩy nhanh tiến độ, góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất xây dựng như: Dự án cầu Thọ Tường bắc qua sông La; dự án cầu Cửa Hội nối thị xã Cửa Lò với Nghi Xuân; nâng cấp, sữa chữa kênh chính Linh Cảm trong hệ thống thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; chỉnh trang đô thị thành phố Hà Tĩnh; đường giao thông nối Chợ Cồn - Liên Giang; cải tạo, sữa chữa đường Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ... 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 24/9/2020, toàn tỉnh thành lập mới 555 doanh nghiệp, giảm 10,6% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký đạt 5.111 tỷ đồng, giảm 4.825% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân đạt 9,2 tỷ đồng/doanh nghiệp. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng giảm khá lớn. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, 9 tháng đầu năm 2020 đã tạo việc làm mới cho 4.190 lao động. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 3.015 lao động, chiếm 71,9% trong tổng số, quy mô bình quân 7 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 1.162 lao động, chiếm 27,7% trong tổng số, quy mô 9,5 lao động/doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm mới cho 13 lao động, chiếm 0,4%. Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động trong 9 tháng đầu năm là 49 doanh nghiệp, giảm 34% và số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 241 doanh nghiệp, tăng 23,6% so cùng kỳ năm trước. Như vậy, số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay giảm so với cùng kỳ bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng có xu hướng tăng cao, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh so cùng kỳ năm trước. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý III/2020 của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Về tổng quan tình hình SXKD của doanh nghiệp có 70,5% số doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 36,4% khẳng định SXKD tốt lên và 34,1% khẳng định giữ ổn định) và có 29,5% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý IV/2020 so với quý trước, có 72,7% số doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 40,9% số doanh nghiệp dự báo tốt lên và 31,8% số doanh nghiệp dự báo ổn định), bên cạnh đó còn có 27,3% số doanh nghiệp nhận định tiếp tục gặp khó khăn hơn. Trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì có: 77,3% doanh nghiệp khẳng định là “Nhu cầu thị trường trong nước thấp”; 61,4% doanh nghiệp đánh giá “Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”; 45,5% doanh nghiệp đánh giá “Khó khăn về tài chính”, 29,6% doanh nghiệp đánh giá “Thiếu nguyên, nhiên vật liệu” và 27,3% số doanh nghiệp đánh giá “lãi suất vốn vay cao” là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đánh giá về biến động lao động quý III/2020 so với quý trước, có đến 86,4% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 9,1% khẳng định tăng lên và 77,3% khẳng định giữ ổn định) và 13,6% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý IV/2020 so với quý trước, có 86,4% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động giữ ổn định, 2,3% số doanh nghiệp tăng lao động và có 11,3% số doanh nghiệp khẳng định giảm lao động. Đánh giá về sử dụng công suất máy móc, thiết bị, bình quân các doanh nghiệp sử dụng 72,6% công suất. Trong đó 36,4% số doanh nghiệp sử dụng công suất từ 90%-100%; 31,8% doanh nghiệp sử dụng công suất từ 70%-dưới 90%; 15,9% số doanh nghiệp sử dụng công suất từ 50%-dưới 70% và 15,9% số doanh nghiệp sử dụng dưới 50% công suất thiết kế. Những ngành có hệ số sử dụng công suất máy móc, thiết bị cao như: sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị; ngành sản xuất đồ uống 100%; ngành dệt 100%. 5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 5.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Trong tháng 9/2020, hoạt động sản xuất trồng trọt chủ yếu tập trung thu hoạch lúa vụ Hè Thu và chăm sóc cây trồng vụ Mùa. Do quỹ đất sản xuất trồng trọt ngày càng thu hẹp bởi một số diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng nên ước tính năm 2020, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm 1.130 ha so với năm 2019. Trong đó diện tích lúa cả năm tăng 321 ha (vụ Đông Xuân giảm 133 ha, vụ Hè Thu tăng 480 ha và vụ Mùa giảm 26 ha) so với năm 2019 và chiếm 66,7% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 581.034 tấn, bằng 105,4%, tăng 29.999 tấn so với năm 2019. Trong đó, sản lượng lúa ước đạt 534.843 tấn, chiếm 92,05% tổng sản lượng lương thực có hạt, tăng 28.164 tấn so với năm 2019. Năm 2020, sản xuất lúa vụ Đông Xuân và vụ Mùa đều giảm cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Nguyên nhân năng suất lúa vụ Đông Xuân năm nay giảm do thời kỳ trổ bông gặp phải đợt rét tăng cường đối với giống lúa cấy sớm, còn đối với giống lúa cấy muộn hơn gặp phải đợt mưa lớn trái mùa; thời gian lúa trổ kéo dài hơn một tháng từ 25/3 đến 29/4. Đặc biệt, do ảnh hưởng của một số loại sâu bệnh như đạo ôn lá, bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh bạc lá đã làm cho năng suất và sản lượng lúa giảm. Còn sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, hiệu quả kinh tế thấp nên người dân ít đầu tư sản xuất. Kết quả sản xuất lúa vụ Hè Thu năm nay không phải là sự đột biến lớn nhưng cũng đạt được kết quả khá tốt, tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Vụ Hè Thu 2020, nhìn chung nông dân tuân thủ lịch thời vụ, bám sát đồng ruộng và tích cực chăm bón lúa. Đồng ruộng Hà Tĩnh được ghi nhận rất ít sâu bệnh gây hại. Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa tuy gặp thời tiết nắng nóng gay gắt nhưng diện tích lúa trên địa bàn toàn tỉnh cơ bản đủ nước tưới nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Thời kỳ lúa trổ bông và thu hoạch điều kiện thời tiết thuận lợi nên năng suất lúa vụ Hè Thu năm nay ước tính tăng 7,3 tạ/ha so với năm 2019. Cả diện tích và năng suất đều tăng đã làm cho sản lượng lúa vụ Hè Thu năm 2020 sơ bộ tăng 34.044 tấn so với cùng kỳ năm 2019. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực khác như ngô, khoai lang, sắn, lạc đều giảm, chỉ có diện tích rau tăng hơn so với năm 2019. Nguyên nhân do đầu vụ Đông mưa kéo dài làm cho đất ướt khó sản xuất đối với một số loại cây, nhiều diện tích chậm tiến độ so với lịch thời vụ nên phải chuyển sang trồng các loại rau và một số cây trồng khác. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc ít sâu bệnh và điều kiện thời tiết thuận lợi thì năng suất các loại cây trồng chủ lực khác năm 2020 như ngô, khoai lang, sắn, rau đều tăng hơn so với năm 2019. Sản xuất cây lâu năm: Ước tính tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.059 ha, bằng 103,7%, tăng 1.103 ha so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó diện tích cây ăn quả ước đạt 18.656 ha, bằng 109,7%, tăng 1.655 ha so với cùng kỳ năm 2019. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 70.087 tấn, bằng 107,9%, tăng 5.110 tấn so với cùng kỳ năm 2019. Trong những năm qua, hiệu quả kinh tế từ trồng cây ăn quả mang lại cho người làm vườn là tương đối tích cực nên người dân đang tiếp tục phát triển vườn cây ăn quả. Cùng với các loại cây ăn quả có múi như cam, bưởi, chanh...thì hiện nay một số loại cây ăn quả như ổi, thanh long, mít...cũng đã được người làm vườn đưa vào trồng với diện tích ngày càng tăng. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại là không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân có 796 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá, phân bố ở các địa phương như Nghi Xuân, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh; có 1.580 ha nhiễm bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng (nhiễm nặng 122 ha), tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên và có 347 ha nhiễm bệnh bạc lá, phân bố tại các địa phương như Lộc Hà, Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên...Vụ Hè Thu năm nay chỉ phát sinh một số loại sâu bệnh như: bệnh vàng lá di động, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá, rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi nhưng với mật độ thấp và không gây ảnh hưởng đến năng suất lúa. Đối với các loại cây trồng khác tuy sâu bệnh có phát sinh gây hại nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng. - Chăn nuôi: Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy, 9 tháng năm 2020 chỉ có kết quả chăn nuôi lợn đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước do hậu quả từ dịch tả lợn châu Phi, còn các sản phẩm chăn nuôi khác đều tăng hơn so với cùng kỳ. Đối với chăn nuôi trâu thì tổng đàn đang có xu hướng giảm do nguồn con giống hạn chế, chi phí đầu tư ban đầu cao hơn các loại vật nuôi khác và điều kiện chăn thả cũng đang ngày càng bị thu hẹp. Chăn nuôi bò nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Thời gian qua, các hộ chăn nuôi đã đưa giống bò Belgan Blue Breed hay còn gọi là bò "3B" có nguồn gốc từ Bỉ, là giống bò thịt chuyên dụng, cơ bắp phát triển siêu trội hơn so với bò thường khoảng 40% vào nuôi và bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực làm tăng cả tổng đàn cũng như sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng. Phát triển chăn nuôi bò "3B" nhằm chuyển đổi cơ cấu vật nuôi là hướng đi thích hợp khi mà chăn nuôi lợn đang gặp khó khăn do dịch bệnh. Đối với chăn nuôi lợn, hiện nay mặc dù dịch tả lợn Châu Phi đã cơ bản được khống chế và dập tắt. Tuy nhiên, hậu quả của dịch bệnh vẫn ảnh hưởng nặng nề. Con giống khan hiếm và giá lợn giống quá cao đang là rào cản lớn cho việc tái đàn lợn, nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Trong khi chăn nuôi lợn gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm nên tổng đàn và sản lượng gia cầm trong thời gian qua phát triển tương đối khá. Để phát triển ngành chăn nuôi trong thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh phòng chống dịch bệnh thì cần phải có giải pháp căn cơ hơn để xây dựng, chủ động nguồn cung con giống, đảm bảo cả về số lượng, chất lượng, giá cả nhằm đáp ứng tốt nhu cầu cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn. Thúc đẩy phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại và tăng cường liên kết trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: tính từ đầu năm đến ngày 22/9/2020, dịch lở mồm long móng đã xẩy ra trên đàn gia súc tại 8 xã, phường thuộc 6 huyện, thị xã (Can Lộc, Hương Sơn, huyện Kỳ Anh, thị xã Hồng Lĩnh, Nghi Xuân, Đức Thọ), làm cho 110 con gia súc mắc bệnh (25 con trâu, 81 con bò và 4 con lợn), trong đó có 3 con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy. Dịch tả lợn Châu Phi đã làm cho 92 con lợn ốm chết và buộc tiêu hủy, với trọng lượng trên 5,7 tấn. Các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác không xẩy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I/2020: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 133.061 liều, đạt 83,3% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 128.027 liều, đạt 81,2% kế hoạch; dịch tả lợn 149.023 liều, đạt 80,82% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 149.122 liều, đạt 84,1% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 120.847 liều, đạt 75,9% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,16 triệu liều, đạt 39,8% kế hoạch. Kết quả tiêm phòng đợt II/2020 tính đến ngày 24/9/2020: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 16.619 liều, đạt 15,9% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 15.718 liều, đạt 15,6% kế hoạch; dịch tả lợn 41.207 liều, đạt 30,41% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 41.196 liều, đạt 30,4% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 158.189 liều, đạt 7,5% kế hoạch. 5.2. Lâm nghiệp Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán 9 tháng đầu năm 2020 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Kết quả trồng rừng tập trung 9 tháng năm 2020 tăng 307 ha so với cùng kỳ năm 2019. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: huyện Kỳ Anh 1.462,7 ha, huyện Hương Khê 582 ha, huyện Hương sơn 505 ha, huyện Cẩm Xuyên 173,5 ha, huyện Thạch Hà 119 ha...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác 9 tháng năm 2020 giảm 4.191 m3 so với cùng kỳ năm 2019. Kết quả trồng cây phân tán cũng giảm so với cùng kỳ do quỹ đất trồng cây phân tán ngày càng bị thu hẹp. Do điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn, cùng với sự bất cẩn và vô ý thức của một số người dân khi vào rừng nên từ đầu năm đến ngày 25/9/2020 trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 13 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), làm thiệt hại 83,97 ha rừng (giảm 88 ha) so với cùng kỳ năm 2019, diện tích rừng bị thiệt hại hoàn toàn không có khả năng phục hồi là 59,03 ha, trong đó: Tháng 6/2020 xẩy ra 2 vụ (Đức Thọ 1 vụ và Lộc Hà 1 vụ), tháng 7/2020 xẩy ra 5 vụ (Hương Sơn - Vũ Quang 1 vụ, Đức Thọ 1 vụ, huyện Kỳ Anh 1 vụ, Can Lộc 1 vụ và Hương Khê 1 vụ), tháng 8/2020 xẩy ra 4 vụ (Hương Sơn 1 vụ, Hương Khê 1 vụ và Lộc Hà 1 vụ), tháng 9/2020 xẩy ra 2 vụ (Đức Thọ 1 vụ và Cẩm Xuyên 1 vụ). Mặc dù số vụ cháy rừng giảm hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn là năm có số vụ cháy rừng và thiệt hại rừng lớn trong nhiều năm trở lại đây. 5.3. Thuỷ sản Kết quả sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2020 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá, với mức tăng tổng sản lượng thủy sản ước đạt 2.826 tấn so với cùng kỳ năm 2019. Sản lượng khai thác chiếm đến 69,6% tổng sản lượng thủy hải sản và tăng 1.970 tấn so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa đã làm cho sản lượng khai thác biển ước đạt 26.742 tấn, chiếm 88,75% tổng sản lượng khai thác và tăng 1.919 tấn so với cùng kỳ năm 2019. Cùng với đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản thời gian qua cũng được quan tâm thực hiện, với kết quả sản lượng nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2020 ước tính tăng 856 tấn so với cùng kỳ năm 2019, trong đó sản lượng tôm ước đạt 3.901 tấn, tăng 436 tấn so với cùng kỳ. Mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao, an toàn sinh học theo quy trình VietGAP đang là hướng đi phù hợp, mang lại giá trị kinh tế cao cho các vùng nuôi tôm của tỉnh. Vì thế, tỉnh cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ, đầu tư xây dựng hạ tầng vùng nuôi để tạo điều kiện cho người dân phát triển nuôi trồng thủy sản. Những tháng cuối năm, điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển sẽ gặp khó khăn hơn. Cùng với đó, công tác phòng chống, bảo vệ lồng bè, ao hồ nuôi trồng thủy sản cần phải được quan tâm thực hiện để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho các hộ nuôi trồng thủy sản do ảnh hưởng của thiên tai. Trong tháng 9/2020, dịch bệnh đốm trắng và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính đã xẩy ra đối với tôm nuôi tại xã Cẩm Hưng (huyện Cẩm Xuyên) và xã Thạch Khê, xã Đỉnh Bàn (huyện Thạch Hà), với diện tích nhiễm bệnh là 2,07 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã có 62,75 ha tôm nuôi bị nhiễm bệnh. Trong đó, diện tích bị nhiễm bệnh bệnh đốm trắng là 55,1 ha và diện tích bị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính là 7,65 ha. Các ngành chức năng đã phối hợp với các hộ nuôi trồng thủy sản tập trung xử lý, không để dịch bệnh lây lan. 6. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp mặc dù vẫn đang gặp nhiều khó khăn nhưng cũng đã có những dấu hiệu tích cực hơn sau ảnh hưởng của dịch Covid-19. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2020 dự ước tăng nhẹ 2,74% so với tháng trước và tăng 18,22% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng khá so với tháng trước như: khai khoáng khác tăng 6,71%; sản xuất đồ uống tăng 4,58%; chế biến gỗ và sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 6,09%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,16%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 13,81%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 10,47%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 10,2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 6,24%... Mặc dù hoạt động sản xuất công nghiệp đã có sự phục hồi hơn trong quý III/2020, nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung nên kết quả sản xuất công nghiệp vẫn giảm hơn so với cùng kỳ năm 2019. Chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm 2020 giảm 4,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý I/2020 giảm 0,65%, quý II/2020 giảm 13,94% và quý III/2020 tăng 2,68% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì đây là năm đầu tiên có chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp có sự ảnh hưởng rất lớn từ ngành sản xuất kim loại (dự án Formosa). Trong khi, 9 tháng đầu năm 2020 chỉ số phát triển sản xuất của ngành sản xuất kim loại giảm 11,74% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, một số ngành công nghiệp khác cũng có chỉ số sản xuất giảm đã làm cho chỉ số phát triển sản xuất chung toàn ngành giảm như: khai khoáng khác giảm 7,55%; sản xuất đồ uống giảm 12,03%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 5,31%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 23,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 9,44%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 34,43%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 7,05%. Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thời gian tới dự kiến sẽ có sự phục hồi nhưng vẫn còn chậm do hậu quả của dịch Covid-19 và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn đang ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2020 có tín hiệu tích cực khi tăng 9,1% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng đầu năm 2020, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (gạch nung, bê tông tươi...) giảm 48,73%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 33,82%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 18,74%; sản xuất kim loại giảm 13,94%; sản xuất đồ uống giảm 6,5%… Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2020 tăng 64,56% so với tháng trước và tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, so với tháng trước thì chỉ số tồn kho tăng cao hơn rất nhiều so với chỉ số tiêu thụ, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn đang gặp rất nhiều khó khăn, lượng sản phẩm tồn kho ngày càng lớn. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2020 cơ bản ổn định so với tháng trước nhưng lại giảm 6,27% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2020 số lao động giảm 6,46% so với cùng kỳ năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp thuộc khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh nhất với mức giảm 7,61%, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 6,79% và khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 3,56%. 7. Thương mại và dịch vụ Từ khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng 7/2020, đến nay cơ bản đã được khống chế và kiểm soát chặt chẽ. Các hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ diễn ra sôi động hơn. Tâm lý người dân cũng yên tâm hơn khi khi sử dụng các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình, tham quan du lịch. Mặt khác, đây cũng là tháng trùng với rằm tháng 7 âm lịch và là thời điểm bước vào năm học mới nên nhu cầu mua hàng thực phẩm, sách vở, văn phòng phẩm tăng nên đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 9/2020 tăng so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 9/2020 tăng 5,02% so với tháng trước và tăng 11,08% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 19,92%; ô tô tăng 10,41%; hàng hóa khác tăng 8,54%; lương thực, thực phẩm tăng 6,73%. Tính riêng từng quý cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa quý I đạt mức tăng khá (tăng 7,15%) so với cùng kỳ năm 2019; quý II, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (mà chịu tác động mạnh nhất là tháng 4/2020) nên tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm 9,88%; sang quý III, tuy dịch bùng phát trở lại nhưng thị trường tiêu dùng hàng hóa vẫn diễn ra bình thường nên tổng mức vẫn đạt mức tăng khá (tăng 7,17%). Ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, tổng mức bán lẻ hàng hóa hóa 9 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 1,69% và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng: ô tô các loại tăng 60,74%; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 27,13%; lương thực, thực phẩm tăng 18,89%. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 9/2020 ước tính tăng 5,91% so với tháng trước và giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 13,11%). Tách riêng từng quý cho thấy, so với cùng kỳ năm trước doanh thu lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành qua các quý đều giảm, nhưng với mức giảm khác nhau: giảm mạnh nhất là quý II, giảm 46,65%; tiếp đến là quý III, giảm 14,52%; quý I giảm 10,31%. Tính chung 9 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm 23,84% và giảm ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 9/2020 ước tính tăng 4,67% so với tháng trước và 2,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, quý I/2020 giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước, sang quý II/2020 chịu tác động nặng nề của dịch Covid-19 nên doanh thu dịch vụ khác giảm mạnh 34,4% và tăng nhẹ ở quý III với mức tăng 0,75%. Chung 9 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước giảm 12,88% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động vận tải: tính đến nay, dịch bệnh Covid-19 trên cả nước cơ bản đã được kiểm soát. Hoạt động lưu thông, vận chuyển hành khách, hàng hóa đã ổn định trở lại. Là tháng bước vào năm học mới, nên nhu cầu đi lại của học sinh, sinh viên tăng; cùng với nhu cầu mua bán, vận chuyển hàng hóa cũng tăng, đã làm cho hoạt động vận tải tháng 9/2020 tăng so với tháng trước. Vận tải hành khách tháng 9/2020 so với tháng trước ước tính tăng 5,32% về số lượng lượt khách vận chuyển và tăng 3,68% về số lượng khách luân chuyển; doanh thu tăng 4,47%. Quý III so với cùng kỳ năm trước ước tính giảm 7,65% về số lượng lượt khách vận chuyển và giảm 4,15% về số lượng khách luân chuyển; doanh thu giảm 5,19%. Tính chung 9 tháng năm 2020, giảm 19,73% về số lượng khách vận chuyển và giảm 17,56% về số lượng khách luân chuyển; doanh thu giảm 17,27% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa tháng 9/2020 so với tháng trước ước tính tăng 4,32% về số lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 5,11% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 6,5%. Quý III so với cùng kỳ năm trước ước tính giảm 1,35% về số lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 0,27% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 3,89%. Tính chung 9 tháng năm 2020, giảm 7,96% về số lượng hàng hóa vận chuyển và giảm 5,74% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9/2020 tăng 2,52% so với tháng trước và tăng 59,45% so với cùng kỳ năm trước. Quý III ước tính tăng 58,63% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước. 8. Các vấn đề xã hội 8.1. Tình hình lao động và giải quyêt việc làm Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên 9 tháng đầu năm 2020 ước tính là 713,5 nghìn người, chiếm 50% tổng dân số toàn tỉnh; số lao động đang làm việc là 692,47 nghìn người (chiếm 97,05% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 21,03 nghìn người (chiếm 2,95% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,5%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có 354,89 nghìn người, chiếm 51,25%; công nghiệp, xây dựng 167,92 nghìn người, chiểm 24,25% và dịch vụ 169,66 nghìn người, chiếm 24,5%. Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn. Tình hình việc làm và thu nhập cũng bị ảnh hưởng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm có chiều hướng tăng. Trong khoảng thời gian chịu sự tác động nặng nề của dịch Covid-19, trên địa bàn tỉnh đã có trên 26.000 lao động làm việc tại các doanh nghiệp, hợp tác xã phải nghỉ việc không hưởng lương và 45.600 lao động làm việc tự do không có giao kết hợp đồng ở lĩnh vực phi nông nghiệp bị mất việc làm. Ước tính 9 tháng đầu năm 2020, đã giải quyết việc làm cho 11.292 lao động, giảm 34,38% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh là 6.153 người, giảm 25,54%; xuất khẩu lao động là 3.951 người, giảm 31,01% và lao động đi làm việc ngoại tỉnh là 1.188 người, giảm 63,08%. 8.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Thời gian qua, tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch, cũng như công tác hỗ trợ người dân, nên đời sống dân cư 9 tháng đầu năm 2020 vẫn giữ vững ổn định so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, tính đến 15/9/2020 Hà Tĩnh đã thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ cho 177.466 đối tượng với kinh phí 237,89 tỷ đồng (đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo; đối tượng là hộ kinh doanh và lao động bị mất việc làm). Vì vậy, tính từ đầu năm đến ngày 20/9/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. 9 tháng đầu năm 2020, đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 468.947 suất quà với tổng kinh phí 141,26 tỷ đồng, bao gồm 61,06 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ cho các đối tượng chính sách; 34,35 tỷ đồng hỗ trợ cho hộ nghèo và 45,85 tỷ đồng cho cứu trợ xã hội khác. Đồng thời, trao tặng 25 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách với tổng trị giá 122 triệu đồng; xây mới 200 nhà tình nghĩa trị giá 11,4 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã cấp 26.464 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 46.424 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 131.905 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 53.018 thẻ BHYT cho người có công. 8.3. Tình hình thiên tai 9 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 6 đợt lốc xoáy kèm theo mưa lớn và sét đánh (đợt 1 vào ngày 11/5/2020; đợt 2 vào ngày 17/5/2020; đợt 3 vào ngày 13/6/2020; đợt 4 vào ngày 02/8/2020; đợt 5 vào ngày 26/8/2020; đợt 6 vào ngày 13/9/2020). Lốc xoáy làm 8 người bị thương; 423 nhà ở (trong đó có 13 nhà bị thiệt hại trên 50%), 1 trường học và 1 nhà văn hóa bị tốc mái; 1 con bò bị chết; 221,2 ha lúa, 610,5 ha mạ lúa lai, 38,8 ha hoa màu, 3 ha cây lâu năm và 2 ha diện tích rừng bị đổ, gãy, hư hỏng. Ngoài ra một số cột điện, cây cối bị đổ gãy. Ước tính tổng thiệt hại 10,97 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 8.4. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: sáng ngày 05/9/2020, hơn 330 ngàn cán bộ giáo viên và học sinh tại 663 trường học trên địa bàn Hà Tĩnh đã khai giảng năm học mới 2020 - 2021. Trong điều kiện trên địa bàn tỉnh đang an toàn về dịch bệnh, phần lớn các trường học đều tổ chức lễ khai giảng ngoài trời với quy mô toàn trường, đồng thời quán triệt thực hiện nghiêm túc việc đeo khẩu trang, giãn cách theo hướng dẫn của ngành y tế trong thời gian diễn ra buổi lễ. Thời gian tổ chức khai giảng được quy định chỉ trong 30 phút với đầy đủ các nghi lễ trang trọng và đảm bảo các nội dung. Năm học 2020-2021, toàn tỉnh có 663 trường (gồm 249 trường mầm non, 221 trường tiểu học, 148 trường THCS và 45 trường THPT), giảm 37 trường so với cuối năm học trước, do sát nhập xã; với 10.424 lớp (mẫu giáo 2.700 lớp, tiểu học 4.050 lớp, THCS 2.372 lớp, THPT 1.302 lớp), 18.168 giáo viên (mầm non 5.118 người, tiểu học 5.526 người, THCS 4.691 người, THPT 2.833 người) và 320.436 học sinh (mầm non 76.916 em, tiểu học 121.800 em, THCS 77.988 em và THPT 43.732 em). Với cơ sở vật chất trường lớp ngày càng được đầu tư xây dựng hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt yêu cầu học tập của các cấp học. - Giáo dục đào tạo: năm học 2020-2021, trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.650 chỉ tiêu, gồm 1.600 chỉ tiêu hệ đại học và 50 sinh viên hệ cao đẳng. Trưởng tổ chức tuyển sinh theo 2 phương thức: phương thức thứ nhất là dựa vào kết quả kỳ thi THPT Quốc gia năm 2020 và phương thức thứ 2 là dựa vào kết quả học tập lớp 12 THPT (xét học bạ THPT). Đối với ngành Giáo dục mầm non, trường tổ chức thi môn năng khiếu (đọc diễn cảm - hát). Bên cạnh đó, giáo dục nghề nghiệp cũng được chú trọng với chất lượng đào tạo ngày càng cao hơn. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm đến công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. 9 tháng đầu năm 2020, đã tổ chức dạy nghề cho 3.603 người, giảm 6.267 người so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: trình độ cao đẳng nghề 35 người, trung cấp nghề 766 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 2.802 người. 8.5. Hoạt động Y tế 9 tháng đầu năm 2020, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. - Tình hình dịch bệnh: tính đến ngày 22/9/2020, ở Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19; hiện đang cách ly, theo dõi tại các cơ sở y tế 4 người, cách ly tập trung 287 người. Từ 1/7/2020 đến 22/9/2020, đã theo dõi, cách ly tại nhà 807 người, tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Trong thời gian tới, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện khai báo y tế, điều tra theo dõi, giám sát và cách ly y tế phù hợp đối với các trường hợp từ Đà Nẵng và các địa điểm có dịch trong nước về địa bàn tỉnh trong vòng 14 ngày. Tiếp tục truyền thông về công tác phòng, chống dịch trong tình hình mới và thực hiện tốt các khuyến cáo của cơ quan chức năng, nhất là đối với người cao tuổi, có bệnh lý nền; khuyến khích khai báo y tế tự nguyện, cài đặt và sử dụng ứng dụng Bluezone. Ngoài dịch bệnh Covid-19, 9 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh có 26 trường hợp sốt xuất huyết, 184 trường hợp sốt rét, 162 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 196 trường hợp mắc lỵ a míp, 39 trường hợp mắc quai bị, 164 trường hợp mắc thủy đậu và 103 trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệng. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, nhiều hoạt động phòng chống HIV/AIDS được thực hiện như: tổ chức các lớp truyền thông, vận động các đối tượng nghiện chính ma túy, nhiễm HIV tham gia các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS; tổ chức các đợt giám sát, đánh giá các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trên toàn tỉnh. 9 tháng đầu năm 2020, Hà Tĩnh có 61 trường hợp nhiễm HIV, tăng 17,3%; có 58 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, tăng 16%; có 4 trường hợp chết vì AIDS (bằng cùng kỳ năm 2019). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. 9 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh có 838 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 33,75% so với cùng kỳ năm 2019 và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 8.6. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh phải đóng cửa, tạm ngừng hoạt động, nên hoạt động văn hóa 9 tháng đầu năm 2020 không sôi động và rất trầm lắng. Ngoài các hoạt động văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý”, Hà Tĩnh chủ yếu tập trung thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh, đặc biệt là tuyên truyền, xây dựng tin bài, phóng sự Đại hội Đảng; tổ chức treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu...vào các ngày lễ lớn của đất nước; tổ chức lễ tổng kết, trao thưởng vòng sơ khảo cuộc thi “Đại sứ văn hóa đọc” (gồm 1 giải đặc biệt, 26 giải nhất, 52 giải khuyến khích) và chọn 20 bài thi xuất sắc gửi tham dự vòng chung kết toàn quốc. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: 9 tháng đầu năm 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức 6 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với trên 100 cơ sở kinh doanh. Cấp 124 giấy phép, trong đó có 25 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 5 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 82 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 7 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao, 5 giấy phép thuộc lĩnh vực còn lại. - Hoạt động thể thao: đầu năm, trong không khí “ Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý năm 2020” tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao. Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch Covid-19, tỉnh đã chỉ đạo hạn chế tổ chức các hoạt động thể thao có quy mô lớn, chỉ tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực cho chính bản thân. Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên số lượng giải đấu thể thao thành tích cao giảm. Kết quả 9 tháng đầu năm 2020, giành được 70 huy chương các loại (gồm 30 HCV, 17 HCB và 23 HCĐ) ở các giải đấu trong nước. 8.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Tính từ ngày 15/8/2020 đến ngày 14/9/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 14 người, bị thương 7 người. So với tháng trước tăng 7 vụ tai nạn đường bộ, tăng 4 người chết và tăng 5 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 12 vụ, tăng 10 người chết và tăng 2 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. Như vây, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/9/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 111 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 101 người và bị thương 44 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 20 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 18 người chết và giảm 7 người bị thương. 8.8. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: tính từ ngày 16/8/2020 đến ngày 15/9/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 3 vụ cháy (tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với tổng giá trị thiệt hại ước tính 3,12 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng, xẩy ra 53 vụ cháy, làm 7 người chết và 4 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 7,79 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2019 giảm 14 vụ cháy và 5 vụ nổ, tăng 5 người chết và giảm 4 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 16/8/2020 đến ngày 15/9/2020, đã phát hiện và xử lý 1 vụ vi phạm môi trường (giảm 24 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 35 triệu đồng. Tính chung 9 tháng năm 2020, đã phát hiện 28 vụ và xử lý 27 vụ vi phạm môi trường (giảm 58 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền 178,5 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. 9. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội những tháng cuối năm 2020 Với kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm như trên, để tiếp tục kiên trì thực hiện “mục tiêu kép”, vừa quyết liệt phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế trong năm 2020 ở mức cao nhất (đạt mức 2,5-3%), cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Các cấp, các ngành và các địa phương phải đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết, khách quan kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm 2020 đối với từng ngành, từng lĩnh vực. Từ đó tìm ra những điểm mạnh cũng như tồn tại hạn chế để đưa ra những giải pháp sát đúng, kịp thời và linh hoạt nhằm chỉ đạo và tổ chức thực hiện, nhất là tập trung giải quyết các điểm nghẽn, hạn chế về cơ chế chính sách và về chỉ đạo điều hành. (2) Tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. Trong đó tập trung tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 và các chính sách hỗ trợ ban hành theo Nghị quyết số 214/2020/NQ-HĐND ngày 10/7/2020 của HĐND tỉnh. (3) Cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh để thu hút, phát huy hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển. Đẩy nhanh tiến độ triển khai và giải ngân vốn đầu tư công để tăng nguồn lực phát triển. Cùng với việc đồng hành với nhà đầu tư tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất của dự án Fomosa thì chúng ta cũng cần phải quan tâm chú trọng phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất khác, nhất là tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án lớn vào hoạt động trên địa bàn tỉnh, tránh việc tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà phụ thuộc quá nhiều vào dự án Fomosa. (4) Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện và các điều kiện đảm bảo khác, chủ động ứng phó với các diễn biến của thời tiết trong mùa mưa bão, nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất về thiệt hại do thiên tai gây ra cho người dân cũng như các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn. (5) Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên địa bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2020 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chậm so với cùng kỳ. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong những tháng cuối năm./.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2020 tỉnh Hà Tĩnh
- 23/07/2024 10:12
9 tháng đầu năm 2020 tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn do những ảnh hưởng của dịch bệnh covid-19. Giá các loại lương thực, thực phẩm tăng cao ảnh hưởng đến đời sống người dân. Tháng 9/2020, chỉ số CPI tăng 0,57% so với tháng trước, tăng 3,92% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo khu vực: So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,93%, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,91%; nông thôn tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính gồm có: + 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng: Giao thông tăng 0,04% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 12,88%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,59%; Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,02% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,59%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,71%; Giáo dục tăng 15,13% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 15,13%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,11% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 3,74%. + 02 nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,49% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 10,32%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 1,93%; + 03 nhóm: Thuốc và dịch vụ y tế, Bưu chính viễn thông; Đồ uống và thuốc lá không có sự biến động so tháng trước. * Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ (1) Giá gạo giảm sau khi kết thúc thu hoạch lúa vụ Hè Thu; (2) Tháng 9 là thời điểm bước vào năm học mới, nhu cầu hàng may mặc trẻ em, văn phòng phẩm tăng cao. Bên cạnh đó, giá sách giáo khoa bán lẻ và học phí khối trường tư thục và giáo dục chuyên nghiệp cũng tăng hơn so tháng trước. Giá học phí các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh được điều chỉnh theo Nghị quyết 57/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; (3) Giá thịt lợn hơi giảm khiến các mặt hàng thịt lợn giảm nhẹ theo. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 so các giai đoạn năm 2016 – 2020hung CPI 9 tháng đầu năm 2020, chỉ số chung 104,04% (tăng 4,04%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực thành thị tăng 4,60%; Nông thôn tăng 3,66% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,68%; Đồ uống và thuốc lá tăng 2,79%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 4,23%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,32%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,93%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,10%; Giao thông giảm 10,62%; Bưu chính viễn thông giảm 1,19%; Giáo dục tăng 1,98%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,68%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,41% so với cùng kỳ năm trước. So với năm trước, chỉ số giá tiêu dùng nhìn chung tăng tăng cao. Dịch bệnh covid-19, dịch tả châu Phi trên đàn lợn, tình trạng thiên tai hạn hán và việc điều chỉnh một số mặt hàng dịch vụ như nhiên liệu, dịch vụ giáo dục là những yếu tố tác động chủ yếu đến giá cả hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng. Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống do ảnh hưởng bởi giá thịt lợn và các mặt hàng chế biến từ thịt lợn ở mức cao trong thời gian dài dẫn tới chỉ số chung tăng mạnh. Trong nhóm này có các loại rau củ quả cũng tăng giá cao do tình hình sản xuất khó khăn, trong khi nguồn rau củ nhập khẩu từ Trung Quốc giảm mạnh. Hoạt động vận tải trong và ngoài nước gặp khó khăn, sản xuất đình trệ dẫn tới giá xăng dầu thị trường thế giới giảm, kéo theo giá trong nước giảm theo. Bên cạnh đó, giá các loại dịch vụ khác như điện, nước sinh hoạt vẫn theo xu thế chung tăng mạnh vào mùa nóng, tuy nhiên mức giá bình quân nhìn chung thấp hơn năm trước do các chính sách hỗ trợ của Chính phủ và sản lượng tiêu dùng giảm bởi tình hình kinh tế khó khăn cùng với sự gia tăng của nhóm hộ gia đình sử dụng điện năng lượng mặt trời. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG, CHỈ SỐ GIÁ VÀNG VÀ CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ CHUNG TOÀN TỈNH Tháng 9 năm 2020Uông Thị Hoàn (Cục Thống kê Hà Tĩnh)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2020
- 23/07/2024 10:23
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: sản xuất vụ Hè Thu năm nay từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 nắng nóng gay gắt trên diện rộng nền nhiệt cao đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển các loại cây trồng. Sau đợt mưa lớn đầu tháng 8 vừa qua, nguồn nước ở các hồ đập đã được bổ sung để đảm bảo lượng nước tưới cho cây trồng. Hiện nay, cây lúa đang trong giai đoạn chắc hạt. Đối với cây trồng cạn thì nhiều diện tích đến đầu tháng 7 mới bắt đầu làm đất để tiến hành gieo trỉa, đến nay các loại rau màu và cây trồng cạn đã gieo trồng xong và đang trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển. Tổng diện tích gieo trồng vụ Hè Thu năm 2020 toàn tỉnh tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích gieo trồng lúa vụ Hè Thu năm 2020 chỉ đạt 98,95% kế hoạch, nhưng với sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc vận động, tuyên truyền người dân hạn chế tình trạng bỏ hoang ruộng đất. Cùng với đó, do năm nay có nhuận 2 tháng 4 âm lịch, người dân nhận thấy khả năng có thể thu hoạch lúa sớm trước mùa mưa lũ nên nhiều hộ dân đã tiến hành gieo cấy lúa vụ Hè Thu ở vùng đất thấp trũng. Vì vậy, diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm nay vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích lúa tăng như: Thị xã Hồng Lĩnh tăng 135 ha, hyện Hương Sơn tăng 110 ha, huyện Đức Thọ tăng 106 ha, huyện Lộc Hà tăng 88 ha...Cơ cấu giống lúa thiếu tập trung, còn giàn trải nhiều loại giống. Những giống lúa truyền thống như Khang dân 18, Khang dân đột biến, Xuân Mai, BT09, Nếp 97, Nếp 98 có năng suất cao, ít sâu bệnh, một số giống lúa như Thiên ưu 8, TH3-3 chất lượng gạo ngon nên người dân sử dụng nhiều. Các giống có triển vọng trong vụ Hè Thu tiếp tục được đưa vào sản xuất với quy mô phù hợp ở các địa phương có điều kiện thâm canh (vùng đồng bằng): giống DQ11, Bắc Hương 9, HDT10, ADI 28, VTNA6, Bắc Thịnh; các vùng chủ động tưới tiêu đưa vào sản xuất các giống mới ngắn ngày: giống HN6, Lam Sơn 8, Kim cương 111, TBR 279, Đài thơm 8, BT09...Giai đoạn lúa trổ bông điều kiện thời tiết thuận lợi nên ước tính năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2020 bình quân toàn tỉnh tăng 4,67 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Do điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài nên kết quả gieo trỉa một số cây trồng cạn thiếu ổn định. Kết quả sản xuất các loại cây trồng cạn vụ hè Thu năm 2020 đạt được như sau: diện tích ngô ước đạt 1.717 ha, giảm 91 ha, với năng suất ước đạt 28,68 tạ/ha, xấp xỉ bằng cùng kỳ năm trước; diện tích khoai lang ước đạt 455 ha, giảm 3 ha, với năng suất ước đạt 58,13 tạ/ha, tăng 1,88 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích sắn ước đạt 2.712 ha, giảm 168 ha, với năng suất ước đạt 154,91 tạ/ha, tăng 4,72 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích lạc ước đạt 345 ha, giảm 101 ha, với năng suất ước đạt 16,5 tạ/ha, tăng 1,87 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích vừng ước đạt 542 ha, tăng 68 ha, với năng suất ước tính đạt 5,75 tạ/ha, tăng 0,26 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích rau các loại ước đạt 2.440 ha, tăng 66 ha, với năng suất ước đạt 70,11 tạ/ha, tăng 1,65 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích đậu ước đạt 3.244 ha, giảm 192 ha, với năng suất ước đạt 7,62 tạ/ha, giảm 0,97 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết nên người dân ít đầu tư sản xuất. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa 2020 ước đạt 480 ha, so với cùng kỳ bằng 88,23%, giảm 64 ha. Vụ Mùa thường khó sản xuất và hiệu quả kinh tế thấp vì thời tiết đầu vụ khô hạn, cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: hiện nay trên lúa Hè Thu có sâu bệnh phát sinh gây hại nhưng mức độ ảnh hưởng thấp. Bệnh vàng lá di động gây hại trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỷ lệ trung bình 10-15%, nơi cao 30-40%, cục bộ 70%, diện tích nhiễm bệnh 88 ha, trong đó 15 ha nhiễm nặng, gây hại chủ yếu trên giống lúa Xuân mai, Khang dân; bệnh khô vằn, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-30%, diện tích nhiễm bệnh 465 ha; bệnh bạc lá phát sinh gây hại trên địa bàn các huyện Đức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 15-30%, diện tích nhiễm bệnh 8 ha; bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi với mật độ trung bình 50-100 con/m2, nơi cao 500-1.000con/m2, cục bộ 2.000 con/m2, rầy đang ở độ tuổi T3,4, diện tích nhiễm bệnh 3 ha, phân bố chủ yếu ở huyện Đức Thọ. Trên cây ngô sâu keo mùa Thu phát sinh gây hại với mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-4 con/m2, diện tích nhiễm bệnh 4 ha, tập trung trên trà ngô 5-7 lá ở huyện Cẩm Xuyên. Cây sắn có bệnh khảm lá gây hại với diện tích 205 ha ở huyện Kỳ Anh và nhện đỏ với tỷ lệ trung bình 10-15%, nơi cao 20-25%, diện tích bị gây hại là 22 ha, tập trung ở huyện Cẩm Xuyên. Trên cây ăn quả thì bệnh chảy gôm với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích bị bệnh 11,5 ha; sâu đục cành, đục quả gây hại trên diện tích 8 ha; nhện hại quả tỷ lệ trung bình 3-5%, diện tích gây hại là 25 ha, tập trung chủ yếu trên các vườn cây ăn quả ở huyện Vũ Quang và Hương Sơn. Trước tình hình diễn biến của sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, dự báo chính xác các đối tượng sâu, bệnh. Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức phòng trừ sâu, bệnh đạt hiệu quả, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu năm 2020. - Chăn nuôi: tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 8/2020 vẫn chưa có gì khởi sắc, số lượng đàn gia súc giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay mặc dù dịch tả lợn Châu Phi đã cơ bản được khống chế và dập tắt. Tuy nhiên, hậu quả của dịch bệnh vẫn ảnh hưởng nặng nề đối với hoạt động chăn nuôi lợn trên địa bàn Hà Tĩnh. Con giống khan hiếm và giá lợn giống quá cao đang là rào cản lớn cho việc tái đàn lợn. Trong khi chăn nuôi lợn gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi bò và chăn nuôi gia cầm nhưng vẫn chưa có nhiều tín hiệu tích cực, khả quan do giá gia cầm đang có xu hướng giảm mạnh. Giai đoạn này, để thực hiện tái đàn lợn, phát triển chăn nuôi thì bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh phòng chống dịch bệnh, giải pháp trước mắt là cần phải tập trung tháo gỡ khó khăn, tìm nguồn cung cấp để đáp ứng nhu cầu con giống với chi phí hợp lý, giúp cho các hộ chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ tiếp tục tái đàn. Tình hình dịch bệnh: từ ngày 20-25/7/2020, trên địa bàn huyện Đức Thọ đã xẩy ra dịch lở mồm long móng trên đàn trâu, có 8 con trâu bị bệnh ở thôn Đại liên, xã Thanh Bình Thịnh. Sau khi dịch bệnh xẩy ra UBND huyện cùng với xã triển khai các biện pháp phòng trừ dịch bệnh cấp bách và ban hành Công điện số 1628/CĐ-UBND ngày 22/7/2020 gửi UBND các xã trên địa bàn huyện yêu cầu thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho đàn vật nuôi. Đến nay, tình hình dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh được kiểm soát ổn định, không có địch bệnh nguy hiểm xảy ra. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 8/2020, điều kiện thời tiết nền nhiệt thấp hơn nên kết quả trồng rừng tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 43,2%. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 8/2020 chủ yếu ở các địa phương: huyện Cẩm Xuyên 25 ha, huyện Thạch Hà 26 ha, huyện Vũ Quang 53 ha, huyện Kỳ Anh 61 ha...Đối với hoạt động khai thác gỗ, do rừng trồng chưa đến tuổi khai thác nên sản lượng giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng đã phát sinh 7 điểm phát lửa (Thạch Hà 1 điểm, Hương Sơn 2 điểm, Lộc Hà 1 điểm, huyện Kỳ Anh 2 điểm và thị xã Kỳ Anh 1 điểm). Trong đó có 4 vụ gây cháy rừng (ở xã Sơn Lĩnh, huyện Hương Sơn; xã Lộc Yên và xã Phú Gia, huyện Hương Khê; xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà); diện tích có rừng bị cháy 14,03 ha, diện tích rừng bị tiệt hại hoàn toàn không có khả năng phục hồi 4,78 ha. Như vậy, do thời tiết nắng nóng kéo dài cùng với việc thiếu ý thức của người dân nên trên địa bàn toàn tỉnh từ đầu năm đến nay đã có 48 điểm phát lửa (Thạch Hà 3 điểm, Hương Sơn 15 điểm, Lộc Hà 3 điểm, Đức Thọ 4 điểm, Cẩm Xuyên 5 điểm, huyện Kỳ Anh 8 điểm, Can Lộc 3 điểm, Hương Khê 3 điểm, Vũ Quang 1 điểm, thị xã Kỳ Anh 3 điểm). Trong đó đã có 11 vụ gây cháy rừng (Hương Sơn 1 vụ, Hương Sơn - Vũ Quang 1 vụ, huyện Kỳ Anh 1 vụ, Hương Khê 3 vụ, Đức Thọ 2 vụ, Can Lộc 1 vụ và Lộc Hà 2 vụ); diện tích có rừng bị cháy 68,46 ha, diện tích rừng bị tiệt hại hoàn toàn không có khả năng phục hồi 16,53 ha (riêng vụ cháy liên huyện Vũ Quang - Hương Sơn, diện tích rừng bị thiệt hại hoàn toàn trên địa bàn huyện Hương Sơn chưa thống kê được). Bên cạnh trách nhiệm bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng thì người dân cũng cần phải nêu cao ý thức và trách nhiệm khi vào rừng để hạn chế thiệt hại do cháy rừng gây ra. 1.3. Thuỷ sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 8/2020 nhìn chung vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chiếm tỷ trọng trên 60% tổng sản lượng thủy hải sản, trong đó khai thác biển chiếm 88,5% tổng sản lượng khai thác trong tháng. Sản lượng nuôi trồng trong tháng chủ yếu là thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2020, với sản lượng tôm chiếm 53% tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng. Trong tháng cũng đã phát sinh dịch bệnh đối với tôm nuôi: bệnh đốm trắng trên tôm xẩy ra tại xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên với diện tích nhiễm bệnh là 1,1 ha và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm xẩy ra tại xã Thạch Khê và xã Đỉnh Bàn, huyện Thạch Hà với diện tích nhiễm bệnh là 0,97 ha. Các ngành chức năng đã phối hợp với các hộ nuôi trồng thủy sản xử lý, không để dịch bệnh lây lan. 2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư - Hoạt động sản xuất công nghiệp: chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 8/2020 giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 6,52%), nhưng so với tháng trước vẫn đạt mức tăng 4,74%. Sản xuất công nghiệp trong tháng 8/2020 tiếp tục có dấu hiệu tích cực hơn so với tháng trước. Trong đó, sản lượng thép tăng 15,8% góp phần làm cho chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,36% so tháng trước. Tuy nhiên, do trong tháng này Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh ngừng bảo dưỡng định kỳ máy móc thiết bị 30 ngày, lượng điện sản xuất đạt thấp làm chỉ số ngành sản xuất điện giảm so tháng trước, là nguyên nhân chính tác động giảm chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng này. Xét theo ngành công nghiệp cấp II, chỉ có ngành sản xuất và phân phối điện giảm 25,36%, còn lại tất cả các ngành công nghiệp đều tăng so với tháng trước. Trong đó có một số ngành tăng khá như: sản xuất trang phục tăng 18,31%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 11,25%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 14,06%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,01%; sản xuất kim loại tăng 15,8%, sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 9,2%... Tính chung 8 tháng năm 2020, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục giảm, chỉ số sản xuất cộng dồn giảm 6,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng làm giảm 0,06 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo làm giảm 11,05 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 4,55 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Thời gian tới, hoạt động sản xuất công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung đang tiếp tục gặp nhiều khó khăn, khi mà dịch bệnh Covid-19 đang tái bùng phát ở một số địa phương trên toàn quốc; chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn đang diễn ra sẽ tiếp tục có những tác động tiêu cực tới kinh tế - xã hội, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu bị đình trệ, doanh nghiệp thiếu nguyên liệu sản xuất, giá bán sản phẩm giảm... - Thực hiện vốn đầu tư: Mặc dù đang là mùa cao điểm thi công các công trình xây dựng cơ bản, nhưng kết quả thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2020 ước tính có tăng so với tháng trước nhưng với mức tăng không cao (tăng 3,75%). Nguyên nhân do tiến độ triển khai một số công trình dự án lớn chậm như: Dự án cải tạo nâng cấp hệ thống kênh tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và thoát lũ cho vùng bắc Thạch Hà; dự án xây dựng hệ thống giám sát an toàn giao thông tại thành phố Hà Tĩnh...Bên cạnh sự sụt giảm của nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, với việc các dự án đường, trường thuộc tiêu chí mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được đẩy nhanh tiến độ nên nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện và cấp xã tăng khá so với tháng trước. Hiện nay, nguồn thu ngân sách và cân đối vốn cho đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước đang còn hạn chế, nhất là đối với cấp huyện và cấp xã, cùng với đó là tiến độ giải ngân vốn chậm là những khó khăn trong việc thực hiện vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn trong thời gian qua cũng như thời gian tới. 3. Thương mại, dịch vụ Mặc dù dịch bệnh Covid-19 xuất hiện trở lại từ cuối tháng 7/2020 trên phạm vi nhiều tỉnh, thành phố nhưng ở Hà Tĩnh vẫn chưa có bệnh nhân nhiễm bệnh. Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và thị trường tiêu dùng hàng hoá vẫn diễn ra bình thường. Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh đã khiến tâm lý người dân e ngại khi sử dụng các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình, lượt khách du lịch giảm, nhất là du lịch biển giảm mạnh; hàng loạt khách hàng đã huỷ các tour du lịch đặt trước trong quý, khiến các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch lữ hành, khách sạn lưu trú bị ảnh hưởng nặng nề. Tất cả những yếu tố đó, đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 8/2020 giảm so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: ước tính tháng 8/2020 giảm nhẹ so với tháng trước (giảm 0,75%), chủ yếu giảm ở các nhóm ngành hàng: lương thực, thực phẩm giảm 2,61%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 3,1%; ô tô các loại giảm 0,91%...Tính chung 8 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa hóa có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 1,25% và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng: ô tô các loại tăng 86,88%; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 34,29%; lương thực, thực phẩm tăng 14,71%... - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2020 ước tính đạt giảm mạnh so với tháng trước với mức giảm 16,79% và so với cùng kỳ năm trước giảm 21,05%. Tính chung 8 tháng năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm 25,27% và giảm ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 8/2020 ước tính giảm so với tháng trước với mức giảm 5,44% và so với cùng kỳ năm trước giảm 2,83%. Tính chung 8 tháng năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước giảm 14,82% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động vận tải: dịch bệnh covid-19 tái bùng phát trở lại gây ảnh hưởng đến hoạt động vận tải hành khách. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng không lớn và chủ yếu là tuyến Hà Tĩnh - Đà Nẵng, nên làm cho hoạt động vận tải hành khách tháng 8/2020 giảm nhẹ so với tháng trước. Đối với vận tải hàng hóa vẫn ổn định và tăng nhẹ, do nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng tăng. Vận tải hành khách tháng 8/2020 so với tháng trước ước tính giảm 0,53% về số lượng lượt khách vận chuyển và giảm 1,5% về số lượng khách luân chuyển; doanh thu giảm 2,55%. Tính chung 8 tháng năm 2020, giảm 54,05% về số lượng khách vận chuyển và giảm 37,4% về số lượng khách luân chuyển; doanh thu giảm 31,94% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa tháng 8/2020 so với tháng trước ước tính tăng 0,15% về số lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 0,31% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 0,31%. Tính chung 8 tháng năm 2020, giảm 38,06% về số lượng hàng hóa vận chuyển và giảm 22,02% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 22,99% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8/2020 tăng 13,17% so với tháng trước và tăng 65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2020, giảm 5,15% so với cùng kỳ năm trước. 4. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 8 năm 2020 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước với mức tăng 0,04% (cả khu vực thành thị và khu vực nông thôn đều tăng 0,04%), tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,13% so với tháng 12/2019. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 5 nhóm không có sự biến động so với tháng trước, gồm: đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giày dép; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục. Có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước là nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình và nhóm văn hóa, giải trí, du lịch. Còn lại 4 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông và nhóm hàng hoá và dịch vụ khác. Tháng 8 năm 2020, có 6 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá biến động so với tháng trước nhưng với mức biến động nhẹ nên chỉ số giá bình quân chung tương đối ổn định so với tháng trước. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 8 năm 2020 là: (i) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân tăng do chính sách điều chỉnh giá của Nhà nước; (ii) Dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát trở lại từ cuối tháng 7/2020 ở một số địa phương trong cả nước cũng đã ảnh hưởng đến thị trường cung - cầu hàng hóa, nhất là đối với các hoạt động lưu trú, lữ hành và ăn uống ngoài gia đình; (iii) Giá thịt lợn hơi giảm khiến các mặt hàng thịt lợn giảm nhẹ. Chỉ số giá vàng tháng 8/2020 tăng 9,84% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 32,56% và tăng 31,3% so với tháng 12 năm 2019. Do giá vàng thế giới tăng mạnh nên giá vàng trong nước cũng đang biến động, hiện nay giá vàng vẫn trên mốc 50 triệu đồng/lượng. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/8/2020 ở khu vực thành thị là 5,49 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2020 giảm 0,04% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,1% và tăng 0,01% so với tháng 12 năm 2019. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/8/2020 mức giá bán ra là 2.318 nghìn đồng/100USD. CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2020 tăng 4,05% so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng cao hơn 2,6 điểm % so với mức tăng bình quân 8 tháng năm 2019, trong đó khu vực thành thị tăng 4,56% và khu vực nông thôn tăng 3,7%. Như vậy, CPI bình quân 8 tháng năm 2020 có mức tăng cao nhất trong giai đoạn 5 năm trở lại đây. Một số nhóm hàng có CPI bình quân tăng cao trên mức bình quân là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,6%; nhà ở, điện, nước, chất đốt tăng 5,61%; may mặc, mũ nón và dày dép tăng 4,29%. Chỉ số CPI tháng 9/2020 dự kiến tăng nhẹ so với tháng trước. Nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng lương thực, thực phẩm, hoa tươi, đồ uống trong dịp rằm tháng 7 và nghỉ lễ Quốc khánh dự kiến tăng mạnh. Giá điện, nước sinh hoạt dự kiến ổn định, không có nhiều biến động. Bên cạnh đó, giá gạo có thể giảm nhẹ khi thu hoạch lúa vụ Hè Thu. 5. Các vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn Hà Tĩnh thời gian qua vẫn ổn định. Công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ và triển khai kịp thời. Vì vậy, tính đến 15/8/2020 trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. 5.2. Giáo dục phổ thông Trong tháng 8/2020, ngành Giáo dục Hà Tĩnh đã tập trung thực hiện tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020. Năm nay, Hà Tĩnh có hơn 15.000 thí sinh dự thi, trong đó có 694 thí sinh tự do đã tốt nghiệp THPT tham gia thi để xét tuyển đại học; toàn tỉnh có 35 điểm thi tại các trường THPT. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay diễn ra trong điều kiện dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp. Vì vậy, các điểm thi đều đã chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị y tế phòng chống dịch bệnh, tất cả các thí sinh đều đeo khẩu trang và được kiểm tra thân nhiệt. Chiều ngày 8/8/2020, các em đã thực hiện việc khai báo y tế khi làm các thủ tục dự thi. Ngoài 696 phòng thi chính thức còn có hơn 100 phòng chờ cho các thí sinh; tại mỗi điểm thi cũng chuẩn bị sẵn phòng cách ly và 3 phòng thi dự phòng để chủ động trong các tình huống đột xuất. Bên cạnh đó, để đảm bảo an toàn cho cán bộ làm nhiệm vụ tại các điểm thi, Ban chỉ đạo tỉnh cũng đã bố trí ăn, ở tập trung tại nơi đặt điểm thi. Trong 2 ngày thi, công tác niêm phong đề thi được đảm bảo đúng quy định. Trật tự an toàn trường thi được đảm bảo, các thí sinh và giám thị coi thi thực hiện đúng quy chế trường thi, không có trường hợp nào vi phạm quy chế thi. Cùng với sự chuẩn bị chu đáo tại 35 điểm thi, sự đồng hành của các bậc phụ huynh, của các cơ quan, ban ngành, doanh nghiệp, thanh niên tình nguyện trong hoạt động hỗ trợ tiếp sức đã là động lực cho thí sinh Hà Tĩnh vượt qua một kỳ thi đáng nhớ, an toàn, nghiêm túc, không áp lực. 5.3. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch bệnh: tính đến ngày 20/8/2020, ở Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19; hiện đang cách ly, theo dõi tại các cơ sở y tế 17 người, cách ly tập trung 269 người. Từ 1/7/2020 đến 20/8/2020, tổng số công dân từ Đà Nẵng và các vùng có dịch về trên địa bàn được rà soát, lập danh sách là 15.073 người, hiện đang theo dõi, cách ly tại nhà 3.423 người, tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Ngoài dịch bệnh Covid-19, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện tốt Công điện số 862/CĐ-TTg ngày 8/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh bạch hầu. UBND tỉnh đã yêu cầu các sở ngành, địa phương tăng cường công tác phòng, chống bệnh bạch hầu và chủ động đối phó với dịch bệnh đang có diễn biến phức tạp tại một số địa bàn trên cả nước. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có 5 trường hợp sốt xuất huyết, 16 trường hợp sốt rét, 13 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 25 trường hợp mắc lỵ a míp, 6 trường hợp mắc quai bị, 14 trường hợp mắc thủy đậu, 20 trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệng, 27 trường hợp mắc viêm gan siêu vi trùng, 11 trường hợp mắc viêm gan siêu vi rút khác và không có trường hợp nào tử vong do các dịch bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Trong tháng, Hà Tĩnh có 7 trường hợp nhiễm HIV (tăng 6 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019), 10 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (tăng 9 trường hợp) và không trường hợp nào chết vì AIDS (giảm 1 trường hợp). Tính chung 8 tháng năm 2020, có 56 trường hợp nhiễm HIV, 51 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 2 trường hợp chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 103 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 28,47% so với cùng kỳ năm 2019. Tính chung 8 tháng năm 2020, có 785 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 30,65% so với cùng kỳ năm 2019 và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: các hoạt động kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947- 27/7/2020) được tổ chức trang trọng: lễ thắp nến, dâng hoa, tri ân các anh hùng liệt sỹ tại nghĩa trang và đài tưởng niệm tại tất cả các địa phương trong tỉnh; tổ chức tặng quà, thăm hỏi các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thân nhân các anh hùng liệt sỹ và người có công tiêu biểu. Đặc biệt, tại Khu Di tích Ngã ba Đồng Lộc đã tổ chức lễ kỷ niệm 52 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2020), tưởng niệm ngày hy sinh của 10 nữ thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc. Ngay sau lễ kỷ niệm là chương trình nghệ thuật "Huyền thoại Đồng Lộc", chương trình đã tái hiện lại những năm tháng hào hùng nơi tuyến lửa Đồng Lộc, tô đậm thêm những huyền thoại trên vùng đất Hà Tĩnh cũng như lòng biết ơn, sự tri ân của thế hệ trẻ đối với những hy sinh của cha ông; khẳng định niềm tự hào và quyết tâm giành những thắng lợi mới trong thời đại mới. Tuy nhiên, do dịch Covid-19 bùng phát trở lại nên các hoạt động văn hóa, thể thao, hội nghị tập trung đông người từ 100 người trở lên đang tạm dừng từ ngày 09/8/2020. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: trong tháng, đã thực hiện 1 cuộc kiểm tra tại 35 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao, qua kiểm tra nhắc nhở thực hiện đình chỉ 7 cơ sở không đảm bảo điều kiện hoạt động. Cùng với đó, đã tiến hành cấp 36 giấy phép, bao gồm 21 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 7 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch, 4 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao và 4 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. - Hoạt động thể thao: do ảnh hưởng dịch Covid-19 bùng phát trở lại, tỉnh đã chỉ đạo hạn chế tổ chức các hoạt động thể thao có quy mô lớn, chỉ tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực cho chính bản thân. Còn đối với thể thao thành tích cao, số lượng giải cũng diễn ra ít. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ tham gia và giành được 1 HCĐ tại Giải vô địch trẻ toàn quốc môn Kickboxing diễn ra ở Nghệ An từ ngày 18-30/7/2020. 5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Tính từ ngày 15/7/2020 đến ngày 14/8/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người, bị thương 2 người. So với tháng trước giảm 4 vụ tai nạn đường bộ, giảm 6 người chết và giảm 14 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn đường bộ không thay đổi, tăng 1 người chết và giảm 5 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vây, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/8/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 93 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 87 người và bị thương 37 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 8 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 8 người chết và giảm 9 người bị thương. 5.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 16/7/2020 đến ngày 15/8/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 12 vụ cháy, làm 4 người chết và 1 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 136 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2019 tăng 7 vụ cháy, tăng 4 người chết và 1 người bị thương. Tính chung 8 tháng năm 2020, xẩy ra 50 vụ cháy, làm 7 người chết và 4 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 4,67 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2019 giảm 16 vụ cháy và 5 vụ nổ, tăng 5 người chết và giảm 4 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 16/7/2020 đến ngày 15/8/2020, đã phát hiện và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường, giảm 4 vụ so với cùng kỳ năm 2019, với số tiền xử phạt là 31 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2020, đã phát hiện 27 vụ và xử lý 26 vụ vi phạm môi trường, giảm 34 vụ so với cùng kỳ năm 2019, với số tiền 143,5 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình kinh tế xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2020
- 23/07/2024 09:25
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 7/2020 chủ yếu tập trung gieo trỉa và chăm sóc cây trồng vụ Hè Thu. Mặc dù thời tiết nắng nóng, nhiều vùng đất cao thiếu nước nhưng kết quả gieo cấy lúa vụ Hè Thu vẫn đạt 99,4% kế hoạch đặt ra và tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Lúa vụ Hè Thu năm 2020 đang được bà con nông dân tích cực chăm bón và đang trong quá trình sinh trưởng, phát triển. Các loại cây trồng khác cũng đã được gieo trỉa: Diện tích ngô gieo trồng ước đạt 92,12% kế hoạch; diện tích khoai lang ước đạt 12,37% kế hoạch; diện tích lạc ước đạt 27,2% kế hoạch; diện tích rau các loại ước đạt 57,27% kế hoạch; diện tích đậu ước đạt 72,52% kế hoạch. Như vậy, do điều kiện thời tiết đầu vụ nắng nóng gay gắt kéo dài nên tiến độ gieo trỉa các loại cây trồng vụ Hè Thu vẫn còn chậm, kết quả đang đạt rất thấp so với kế hoạch. Với những diễn biến khắc nghiệt của điều kiện thời tiết đã ảnh hưởng đến lúa vụ Hè Thu. Đợt nắng nóng gay gắt diễn ra trong thời gian dài đã làm cho khoảng 400 ha lúa ở huyện Hương Khê (Hương Long, Hương Bình) bị hạn cục bộ, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển. Cùng với cây lúa thì có 1.942 ha cây trồng cạn và 1.220 ha cây ăn quả và 575 ha chè cũng bị hạn hán, chủ yếu tập trung ở Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc và huyện Kỳ Anh. Yếu tố khó lường nhất đối với sản xuất vụ Hè Thu đó chính là diễn biến bất thường của thời tiết. Hiện nay sâu bệnh đã xuất hiện gây hại đối với các loại cây trồng nhưng với mức độ chưa đáng kể, chủ yếu là gây hại đối với các loại cây trồng cạn như ngô, đậu. Thời tiết năng nóng đang là điều kiện thuận lợi để bọ trĩ, rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại đối với cây lúa nên bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện và phòng trừ sâu bệnh trong thời gian tới. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 7/2020 vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, số lượng đàn gia súc giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi nên hiện nay khó khăn nhất cho việc tái đàn lợn chính là việc khan hiếm con giống và giá lợn giống quá cao. Hoạt động chăn nuôi thời gian tới vẫn chưa có nhiều tín hiệu tích cực, khả quan. Việc tái đàn lợn sẽ tiếp tục gặp khó khăn nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ, do giá đầu tư con giống đang quá cao. Tình hình dịch bệnh: Từ ngày 20/6/2020 đến nay trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh phát sinh gây hại đối với đàn vật nuôi. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 7/2020, do điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt nên kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp ước tính giảm cả về diện tích trồng rừng cũng như sản lượng lâm sản khai thác. Hiện nay đang là mùa nắng nóng, khô hạn rất dễ xẩy ra cháy rừng. Do thời tiết nắng nóng kéo dài cùng với việc thiếu ý thức của người dân nên trên địa bàn toàn tỉnh từ đầu năm đến nay đã có 41 điểm phát lửa (Thạch Hà 2 điểm, Hương Sơn 13 điểm, Lộc Hà 2 điểm, Đức Thọ 4 điểm, Cẩm Xuyên 5 điểm, huyện Kỳ Anh 6 điểm, Can Lộc 3 điểm, Hương Khê 3 điểm, Vũ Quang 1 điểm, thị xã Kỳ Anh 2 điểm). Trong đó đã có 7 vụ gây cháy rừng (Hương Sơn - Vũ Quang 1 vụ, huyện Kỳ Anh 1 vụ, Hương Khê 1 vụ, Đức Thọ 2 vụ, Can Lộc 1 vụ và Lộc Hà 1 vụ); diện tích có rừng bị cháy 54,43 ha, diện tích rừng bị tiệt hại hoàn toàn không có khả năng phục hồi 11,77 ha (riêng vụ cháy liên huyện Vũ Quang - Hương Sơn, diện tích rừng bị thiệt hại hoàn toàn trên địa bàn huyện Hương Sơn chưa thống kê được). Thời gian tới nắng nóng vẫn còn xẩy ra, nguy cơ cháy rừng cao, bên cạnh trách nhiệm bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng thì người dân cũng cần phải nêu cao ý thức và trách nhiệm khi vào rừng để hạn chế thiệt hại do cháy rừng gây ra. 1.3. Thuỷ sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 7/2020 nhìn chung vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh hoạt động khai thác với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa thì hoạt động nuôi trồng đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2020 nên tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng đạt khá hơn so với tháng trước. Cùng với đó, sản xuất giống thủy sản ước đạt 20 triệu con, trong đó có 17 triệu con giống tôm thẻ, tăng 3 triệu con so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng không phát sinh dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư - Hoạt động sản xuất công nghiệp: hoạt động sản xuất công nghiệp đang có dấu hiệu hồi phục tích cực sau ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 7/2020 ước tính tăng so với tháng trước, với mức tăng 14,11% và tăng ở cả 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là nhân tố có sự ảnh hưởng lớn đến chỉ số chung. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,52% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 11,85% so với cùng kỳ năm trước. Đóng góp chính trong tăng trưởng của ngành này so với tháng trước là hoạt động sản xuất kim loại tăng 23,83%; dệt tăng 9,3%; may mặc tăng 21,7%; sản xuất gạch xây dựng tăng 17,09%; sản xuất than cốc tăng 8,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 7,81%... Tính chung 7 tháng đầu năm 2020, do tình hình dịch bệnh do Covid-19 bùng phát và chiến trang thương mại Mỹ - Trung đã tác động tiêu cực tới kinh tế xã hội, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu bị đình trệ, doanh nghiệp thiếu nguyên liệu sản xuất, giá sản phẩm tiêu thụ giảm...nên chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn 7 tháng giảm 7,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 7,3%, làm giảm 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 15,59%, làm giảm 12,57 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 35,03%, đóng góp 5,51 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,96%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Cùng với nhu cầu ngày càng tăng lên thì việc Nhà máy điện mặt trời Cẩm Hòa chính thức phát điện lên lưới quốc gia vào đầu tháng 7/2019 đã làm cho chỉ số ngành sản xuất và phân phối điện tăng mạnh và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của ngành công nghiệp so với cùng kỳ năm 2019. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng đầu năm 2020 đều có sản lượng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, đó là: bê tông trộn sẵn giảm 62%; gạch xây dựng giảm 46,4%; mực đông lạnh giảm 22,8%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 22,2%; thức ăn cho gia súc giảm 20,3%; thép không rỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 18,3%; bia đóng lon giảm 15,5%...Bên cạnh đó, một số sản phẩm tăng: quặng Zircon tăng 40,7%; điện sản xuất tăng 35,4%; nước uống được tăng 5,1%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 16,1%. - Thực hiện vốn đầu tư: thực hiện đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công theo chỉ đạo của Chính phủ, nguồn vốn được bố trí kịp thời, các công trình dự án được đẩy nhanh tiến độ nên dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2020 tăng hơn so với tháng trước với mức tăng 11,08% so với tháng trước. Tính chung 7 tháng, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý dự ước tăng khá so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 28,9%. Trong tháng 7/2020, các công trình dự án có giá trị thực hiện vốn đầu tư lớn như: các dự án ODA về cải tạo nâng cấp hệ thống kênh tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và thoát lũ cho vùng bắc Thạch Hà; dự án phát triển hạ tầng cơ bản tỉnh Hà Tĩnh; dự án cải thiện cơ sở hạ tầng các vùng ngập lụt; dự án đầu tư xây dựng cầu cửa Hội bắc qua sông Lam; các dự án cầu dân sinh và các dự án trong xây dựng nông thôn mới. 3. Thương mại, dịch vụ Sau ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, các cơ sở sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ trở lại hoạt động bình thường. Cùng với đó, giá một số mặt hàng như vàng, hàng lương thực, thực phẩm, điện lạnh, hàng may mặc và xăng dầu tăng mạnh và là tháng cao điểm thu hút nhiều du khách đến tham quan du lịch, nghỉ mát và tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Ngã ba Đồng Lộc nhân ngày thương binh liệt sĩ 27/7/2020, đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 7/2020 tăng so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: ước tính tháng 7/2020 đạt mức tăng khá so với tháng trước (tăng 6,07%) và so với cùng kỳ năm trước (tăng 6,76%). Hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: ô tô các loại tăng 16,72%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 12,38%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,72%; phương tiện đi lại tăng 9,81%; hàng may mặc tăng 9,3%. Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (tăng 0,87%) và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: ô tô các loại tăng 62,27%; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 40,75%; lương thực, thực phẩm tăng 17,26%. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: đang là mùa du lịch biển nên doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2020 ước tính đạt mức tăng khá so với tháng trước (tăng 22,39%) nhưng vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước bởi ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 (giảm 8,29%). Tính chung 7 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm 24,61% và giảm ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ. Doanh thu dịch vụ khác tháng 7/2020 ước tính tăng mạnh so với tháng trước (tăng 19,04%), nhưng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (tăng 2,77%). Tính chung 7 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước giảm 16,55% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động vận tải: thời tiết nắng nóng nên người dân hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân mà chuyển sang sử dụng phương tiện giao thông công cộng; nhiều doanh nghiệp đã ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa nên sản lượng hàng hóa thông qua cảng Vũng Áng tăng; cùng với đó, hoạt động sản xuất kinh doanh đang trên đà phục hồi khiến nhu cầu vận chuyển nguyên liệu sản xuất, hàng hoá tiêu dùng tăng, tất cả yếu tố đó đã làm cho hoạt động vận tải tháng 7/2020 tăng so với tháng trước. Ước tính vận tải hành khách tháng 7/2020 so với tháng trước tăng 4,99% về số lượng lượt khách vận chuyển và tăng 8,92% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 8,65%. Tính chung 7 tháng, giảm 53,54% về số lượng khách vận chuyển và giảm 39,5% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 34,5% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính vận tải hàng hóa tháng 7/2020 so với tháng trước tăng 5,57% về số lượng hàng hóa vận chuyển và tăng 7,08% về số lượng luân chuyển; doanh thu tăng 9,13%. Chung 7 tháng, giảm 37,63% về số lượng hàng hóa vận chuyển và giảm 23,84% về số lượng luân chuyển; doanh thu giảm 24,61% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7/2020 tăng 1,52% so với tháng trước và giảm 8,59% so với cùng kỳ năm trước. Chung 7 tháng, giảm 20,65% so với cùng kỳ năm trước. 4. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 7 năm 2020 tăng 0,28% so tháng trước, tăng 3,62% so cùng tháng năm trước và tăng 0,09% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,175% và khu vực nông thôn tăng 0,36%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì có 4 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá không biến động so với tháng trước là: thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông; đồ uống và thuốc lá. có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống và nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình. Còn lại 5 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước là: may mặc, mũ nón, giày dép; văn hóa, giải trí và du lịch; giao thông; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; hàng hoá và dịch vụ khác. Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 7/2020, đó là: (1) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục được điều chỉnh tăng giá theo tình hình thị trường xăng dầu thế giới; (2) Yếu tố thời tiết nắng nóng kéo dài, tình hình hạn hán ảnh hưởng đến nguồn cung thực phẩm giảm và nhu cầu tiêu dùng tăng cao đối với các mặt hàng điện tử điện lạnh, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, đồ uống, điện và nước sinh hoạt; (3) Giá thịt lợn hơi giảm mạnh vào đầu và giữa tháng, tăng nhẹ vào thời điểm cuối tháng tác động đến các mặt hàng thịt lợn và thực phẩm chế biến từ thịt; (4) Hoạt động du lịch lữ hành từng bước ổn định, tác động đến các hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống ngoài gia đình. Chỉ số giá vàng tháng 7/2020 tăng 3,23% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 26,44% và tăng 19,53% so với tháng 12 năm trước. Do giá vàng thế giới tăng mạnh nên giá vàng trong nước đang đạt mức cao nhất từ trước đến nay, hiện nay giá vàng vượt mốc 50 triệu đồng/lượng. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/7/2020 ở khu vực thành thị là 5,08 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2020 giảm 0,22% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,14% và tăng 0,05% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/7/2020 mức giá bán ra là 2.323 nghìn đồng/100USD. CPI bình quân 7 tháng đầu năm 2020 tăng 4,16 so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng cao hơn 2,73 điểm % so với mức tăng bình quân 7 tháng năm 2019, trong đó khu vực thành thị tăng 4,65% và khu vực nông thôn tăng 3,83%. Như vậy, CPI bình quân 7 tháng năm 2020 đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 5 năm trở lại đây. Một số nhóm hàng có CPI bình quân tăng cao trên mức bình quân là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,34%; nhà ở, điện, nước, chất đốt tăng 6,17%; may mặc, mũ nón và dày dép tăng 4,44%. Chỉ số CPI tháng 8/2020 dự kiến tiếp tục tăng do nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt, đồ uống, rau củ quả, ăn uống ngoài gia đình và các dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành...sẽ tác động làm cho chỉ số giá tăng. 5. Các vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được quan tâm triển khai kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói. Tính đến 15/7/2020, Hà Tĩnh đã thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ cho 172.083 đối tượng với kinh phí 197,15 tỷ đồng (đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo). Trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. 5.2. Giáo dục phổ thông Hiện nay các bậc học đang trong thời gian nghỉ hè. Trong tháng 7/2020, ngành Giáo dục Hà Tĩnh đã tổ chức kỳ thi vào lớp 10 THPT năm học 2020-2021, hiện nay đang tổ chức chấm thi. Kỳ thi năm nay có gần 16.500 thí sinh thi vào lớp 10, trong đó có 13.700 thí sinh đăng ký thi vào trường THPT công lập, có 864 thí sinh đăng ký nguyện vọng vào trường THPT chuyên Hà Tĩnh; toàn tỉnh có 37 điểm thi tại các trường THPT, với hơn 2.100 cán bộ, giáo viên, nhân viên làm nhiệm vụ tại các điểm thi; ngoài ra, còn có gần 1.200 thanh niên tình nguyện đã tham gia hỗ trợ tích cực ở vòng ngoài để hỗ trợ thí sinh, bố trí 74 cán bộ lực lượng công an làm nhiệm vụ bảo vệ đề thi, bài thi 24/24h và hơn 100 cán bộ bảo vệ trong các buổi thi, đồng thời tăng cường lực lượng phân luồng giao thông tại các điểm thi. Với sự chu đáo trong công tác chuẩn bị và việc thực hiện nghiêm túc tinh thần của Ban chỉ đạo, kỳ thi vào lớp 10 THPT năm học 2020-2021 ở Hà Tĩnh đã thành công tốt đẹp, đảm bảo các yếu tố an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. 5.3. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch bệnh: Tính đến ngày 15/7/2020, ở Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, mà chỉ còn 366 trường hợp được cách ly tập trung tại khu ký túc xá Mitraco ở thị xã Kỳ Anh. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Ngoài dịch bệnh Covid-19, Hà Tĩnh cũng đang thực hiện tốt Công điện số 862/CĐ-TTg ngày 8/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh bạch hầu, theo đó UBND tỉnh đã yêu cầu các sở ngành, địa phương tăng cường công tác phòng, chống bệnh bạch hầu và chủ động đối phó với dịch bệnh đang có diễn biến phức tạp tại một số địa bàn trong cả nước. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có 6 trường hợp sốt xuất huyết, 31 trường hợp sốt rét, 21 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 19 trường hợp mắc lỵ a míp, 2 trường hợp mắc quai bị, 12 trường hợp mắc thủy đậu, 23 trường hợp mắc bệnh tay-chân-miệng và không có trường hợp nào tử vong. Trong các dịch bệnh trên, chỉ có sốt xuất huyết tạo thành ổ dịch (xảy ra ở thôn Tân Nam, xã Kỳ Nam, thị xã Kỳ Anh), nhưng nhờ kịp thời thực hiện các biện pháp điều trị và phòng chống dịch nên không bị lây lan. Hiện 6 ca sốt xuất huyết đã được điều trị khỏi và trở về nhà. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Trong tháng, Hà Tĩnh có 13 trường hợp nhiễm HIV (tăng 11 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019), 12 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (tăng 10 trường hợp) và không trường hợp nào chết vì AIDS (giảm 1 trường hợp). Tính chung 7 tháng, có 49 trường hợp nhiễm HIV, 41 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 2 trường hợp chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 115 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 31,55% so với cùng kỳ năm 2019. Tính chung 7 tháng, có 682 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 30,97% so với cùng kỳ năm 2019 và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Nhân dịp kỷ niệm kỷ niệm 19 năm ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) tại các thôn, xóm, khu phố trên toàn tỉnh đã thực hiện nhiều hoạt động hết sức ý nghĩa như: tổ chức buổi gặp mặt, nói chuyện chuyên đề "Xây dựng gia đình hạnh phúc"; biểu dương gia đình hạnh phúc tiêu biểu; tổ chức buổi tuyên truyền, giáo dục đời sống trong gia đình; tổ chức hội thi nấu ăn “Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương”.... Bên cạnh đó, các Câu lạc bộ gia đình trong toàn tỉnh đã tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, các trò chơi dân gian, tạo không khí phấn khởi, khẳng định các giá trị truyền thống trong xây dựng gia đình hạnh phúc. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng đã thực hiện 01 cuộc kiểm tra về lĩnh vực quảng cáo tại 05 cơ sở. Ban hành 03 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 35 triệu đồng. Cùng với đó đã tiến hành cấp 20 giấy phép, trong đó 12 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở; 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản và 4 giấy phép thuộc các lĩnh vực khác. - Hoạt động thể thao: Hưởng ứng phong trào “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, thiết thực chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Hà Tĩnh lần thứ VII, Đại hội Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh lần thứ XVI, các đơn vị, địa phương trên toàn tỉnh đã tổ chức nhiều giải thể thao như: giải bóng bàn các CLB mở rộng lần thứ 2 năm 2020 do Báo Hà Tĩnh tổ chức; tại các thôn, xóm, khu phố, người dân tích cực tham gia tập luyện các môn bóng chuyền, cầu lông, đá bóng,... Đối với thể thao thành tích cao, trong tháng Hà Tĩnh đã tham gia 8 giải, giành được 55 huy chương các loại (gồm 20 HCV, 14 HCB, 21 HCĐ). Trong đó có một số giải nổi bật như: xếp thứ 2 Giải vô địch Karate khu vực miền Trung - Tây Nguyên được tổ chức tại Quảng Bình, với thành tích 11 HCV, 5 HCB, 5 HCĐ; giải vô địch Pencak Silat trẻ toàn quốc dành được 2 HCV, 2HCB, 4HCĐ; giải đua thuyền Rowing vô địch các câu lạc bộ toàn quốc tại Đà Nẵng dành được 5 HCV,1 HCB,1HCĐ. 5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Tính từ ngày 15/6/2020 đến ngày 14/7/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 16 người, bị thương 10 người. So với tháng trước tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, tăng 6 người chết và tăng 5 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 4 vụ tai nạn đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 4 người chết và tăng 7 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. Như vây, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/7/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 82 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 77 người và bị thương 35 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 8 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 7 người chết và giảm 4 người bị thương. 5.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/6/2020 đến ngày 15/7/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 14 vụ cháy (trong đó có 5 vụ cháy rừng), với tổng giá trị thiệt hại ước tính 250 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2019 tăng 5 vụ. Tính chung 7 tháng, xẩy ra 38 vụ cháy (trong đó có 7 vụ cháy rừng), làm 3 người chết và 3 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 4,53 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2019 giảm 23 vụ cháy và 5 vụ nổ, tăng 1 người chết và giảm 5 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 7/2020, đã phát hiện và xử lý 2 vụ vi phạm môi trường (giảm 4 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 4,5 triệu đồng. Tính chung 7 tháng, đã phát hiện 23 vụ và xử lý 22 vụ vi phạm môi trường (giảm 30 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền 112,5 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Thông cáo báo chí: Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2020
- 23/07/2024 09:27
1. Tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDRP 6 tháng đầu năm 2020 của Hà Tĩnh ước tính đạt mức tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong mức tăng chung thì khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính tăng 1,5% so với cùng kỳ, đóng góp 0,2 điểm phần trăm (nông nghiệp tăng 0,8% so với cùng kỳ, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 2,7% so với cùng kỳ, đóng góp 0,02 điểm phần trăm và thủy sản tăng 7,2% so với cùng kỳ, đóng góp 0,1 điểm phần trăm); khu vực công nghiệp và xây dựng ước tính tăng 2,6% so với cùng kỳ, đóng góp 1,1 điểm phần trăm (công nghiệp tăng 2% so với cùng kỳ, đóng góp 0,7 điểm phần trăm và xây dựng tăng 4,9% so với cùng kỳ, đóng góp 0,4 điểm phần trăm); khu vực thương mại, dịch vụ ước giảm 3,6% so với cùng kỳ, đóng góp -1,2 điểm phần trăm và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 0,3% so với cùng kỳ, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. GRDP 6 tháng đầu năm 2020 có tốc độ tăng trưởng thấp chủ yếu là do ngành công nghiệp tăng thấp và khu vực thương mại, dịch vụ giảm mạnh. Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2020: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,06%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,08%; khu vực thương mại, dịch vụ chiếm 33,59% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,27%. Cơ cấu kinh tế nhìn chung ổn định và không có sự dịch chuyển nhiều giữa các khu vực so với cùng kỳ năm 2019 2. Tài chính, ngân hàng - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2020 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 nên nhiều hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn bị đình trệ, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn đã ảnh đến nguồn thu ngân sách. Trong tình hình hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2020 sẽ còn nhiều khó khăn thách thức. Tổng thu NSNN trên địa bàn ước tính đến ngày 15/6/2020 đạt 3.620 tỷ đồng, bằng 56,9% so với cùng kỳ năm 2019. Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi NSNN trên địa bàn ước tính đến ngày 15/6/2020 là 8.712,2 tỷ đồng, bằng 107,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 43,2% tổng chi, tăng 7,8% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 56,7% tổng chi, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2019. - Hoạt động ngân hàng: Trong 6 tháng đầu năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Ước đến 30/6/2020, nguồn vốn huy động đạt khoảng 61.486 tỷ đồng, tăng 8,6% so với đầu năm và tổng dư nợ cho vay ước đạt 55.607 tỷ đồng, tăng 7,1% so với đầu năm. 3. Giá cả, lạm phát CPI 6 tháng đầu năm 2020 tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 4,72% và khu vực nông thôn tăng 3,93%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với mức tăng 8,95% (trong đó thực phẩm tăng 11,94%); đồ uống và thuốc lá tăng 3%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 4,69%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,71; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,81%; giao thông giảm 9,06%; bưu chính viễn thông giảm 1,48%; giáo dục tăng 0,59%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,92%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,43 so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng ở mức cao nhất (Chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước: năm 2016 tăng 2,56%; năm 2017 tăng 4,05%; năm 2018 tăng 3,63%, năm 2019 tăng 1,41%). Nguyên nhân, do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh Covid-19 và dịch tả lợn Châu Phi, cùng với việc điều chỉnh các chính sách về giá đối với một số mặt hàng nên đã tác động đến chỉ số giá chung. 4. Vốn đầu tư phát triển Tổng số vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 11.758 tỷ đồng, bằng 93,6% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: Vốn Nhà nước ước đạt 3.021 tỷ đồng, bằng 108,5%, chiếm tỷ trọng 25,7% tổng vốn; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 7.154 tỷ đồng, bằng 101,3%, chiếm tỷ trọng 60,8% tổng vốn; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1.583 tỷ đồng, bằng 58,4%, chiếm tỷ trọng 13,5% tổng vốn. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện giai đoạn 2015-2020 liên tục giảm mạnh qua các năm. Kết quả thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội ước tính 6 tháng đầu năm 2020 giảm so với cùng kỳ năm 2019. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư, nhưng nay nguồn vốn khu vực này giảm mạnh. 5. Tình hình biến động của doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh có 339 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 21,5% so với cùng kỳ năm 2019. Giai đoạn 2015-2020 thì đây là năm đầu tiên 6 tháng đầu năm có số doanh nghiệp thành lập mới sụt giảm so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2020 là 2.517 tỷ đồng, giảm 66,6% so với cùng kỳ năm 2019. Có 214 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 8,1% so với cùng kỳ 2019, trong đó có 180 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 14,6% so với cùng kỳ 2019. 6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6.1. Sản xuất nông nghiệp - Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2019-2020 ước đạt 97.190 ha, bằng 98,4% (giảm 1.622 ha), trong đó: Diện tích gieo cấy lúa ước đạt 59.327 ha, bằng 99,8% (giảm 133 ha); diện tích ngô ước đạt 8.712 ha, bằng 94,4% (giảm 516 ha); diện tích khoai lang ước đạt 2.909 ha, bằng 89,9% (giảm 328 ha); diện tích lạc ước đạt 10.738 ha, bằng 90,9% (giảm 1.082 ha) và diện tích rau các loại ước đạt 10.461 ha, bằng 103,6% (tăng 363 ha). Như vậy, diện tích cây lương thực có hạt ước đạt 68.039 ha, bằng 99,1% (giảm 649 ha) so với cùng kỳ. Năng suất lúa vụ Xuân sơ bộ đạt 55,64 tạ/ha, bằng 99,9% (giảm 0,05 tạ/ha) và sản lượng lúa ước đạt 330.115 tấn, bằng 99,7% (giảm 1.046 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên đã làm cho sản lượng lúa sơ bộ giảm. Diện tích gieo trồng lúa giảm 133 ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 742 tấn và do sâu bệnh và thời tiết bất lợi làm cho năng suất lúa ước tính giảm 0,05 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 304 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sơ bộ năng suất và sản lượng các loại cây trồng khác so với cùng kỳ năm 2019 cụ thể như sau: Năng suất ngô đạt 48,27 tạ/ha, bằng 113,7% (tăng 5,82 tạ/ha), với sản lượng ngô đạt 41.470 tấn, bằng 105,9% (tăng 2.300 tấn); năng suất khoai lang đạt 72,93 tạ/ha, bằng 101,6% (tăng 1,12 tạ/ha), với sản lượng khoai lang đạt 21.219 tấn, bằng 91,3% (giảm 2.027 tấn); năng suất lạc đạt 24,8 tạ/ha, bằng 94,7% (giảm 1,4 tạ/ha), với sản lượng lạc đạt 26.630 tấn, bằng 86% (giảm 4.336 tấn); năng suất rau các loại đạt 64,71 tạ/ha, bằng 100,6% (tăng 0,41 tạ/ha), với sản lượng rau các loại đạt 67.698 tấn, bằng 104,3% (tăng 2.764 tấn). Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu 2020: tính đến ngày 16/6/2020, ước tính diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh 44.428 ha, đạt 99,8% kế hoạch (diện tích lúa gieo thẳng 42.903 ha và diện tích lúa cấy là 1.525 ha); diện tích ngô 1.618 ha, đạt 81,2% kế hoạch; diện tích đậu các loại 2.493 ha, đạt 51,2% kế hoạch; diện tích rau các loại 1.252 ha, đạt 48,7% kế hoạch; diện tích vừng 213 ha, đạt 52,6% kế hoạch; diện tích lạc 85 ha, đạt 15,6% kế hoạch; diện tích khoai lang 46 ha, đạt 6,7% kế hoạch. Các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2020 đang tiếp tục được gieo trỉa. - Chăn nuôi: Kết quả sản xuất chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2020 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi (chỉ có kết quả chăn nuôi gia cầm cơ bản ổn định). Ước tính số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 66.348 con, bằng 93% (giảm 5.014 con); đàn bò 167.596 con, bằng 101,2% (tăng 1.926 con); đàn lợn 363.480 con, bằng 77,5% (giảm 105.707 con); đàn gia cầm 8.829 ngàn con, bằng 100,8% (tăng 66 ngàn con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 50.280 tấn, bằng 92,6% (giảm 4.011 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 1.880 tấn, bằng 97,7% (giảm 45 tấn); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 5.352 tấn, bằng 102,9% (tăng 152 tấn); sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 31.312 tấn, bằng 87,06% (giảm 4.656 tấn); sản lượng thịt gia cầm hơi giết, bán ước đạt 11.049 tấn, bằng 104,6% (tăng 489 tấn). 6.2. Lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2020, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 146.342 m3 gỗ, bằng 117,7% (tăng 21.964 m3) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng tập trung, trồng mới và trồng bổ sung ước đạt 2.239 ha, bằng 114,9% (tăng 291 ha); diện tích rừng khoanh nuôi 5.151 ha, bằng 97,52% (giảm 131 ha); diện tích rừng chăm sóc 17.620 ha, bằng 86,87% (giảm 2.663 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 74.500 ha, bằng 101,64% (tăng 1.200 ha). Thời tiết quá nắng nóng nên đầu tháng 6/2020 đã xẩy ra 2 vụ cháy rừng tại xã Đức Đồng (huyện Đức Thọ) và xã Hồng Lộc (huyện Lộc Hà), diện tích rừng bị thiệt hại không có khả năng phục hồi ước tính khoảng 1,5 ha. 6.3. Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản vẫn duy trì mức tăng trưởng khá và ổn định, nhất là hoạt động khai thác biển. Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy hải sản 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 24.269 tấn, bằng 108,2% (tăng 1.834 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng nuôi trồng ước đạt 5.841 tấn, bằng 104,30% (tăng 241 tấn). Sản lượng khai thác ước đạt 18.428 tấn, bằng 109,46% (tăng 1.593 tấn) so với cùng kỳ năm trước. 7. Sản xuất công nghiệp Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong những tháng đầu năm 2020 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, biến động giá thép, phôi, thị trường xuất khẩu. Ước tính chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2020 bằng 92,74% (giảm 7,26%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp khai khoáng giảm 8,76% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 16,14% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 35,46% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,11% so với cùng kỳ năm trước. 8. Thương mại và dịch vụ Nhìn chung, hoạt động thương mại và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2020 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 18.895 tỷ đồng, tăng 0,14% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 8.647 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 45,76%, tăng 16,25%; tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 2.118 tỷ đồng, chiếm 11,21%, giảm 10,6% và nhóm ô tô các loại ước đạt 1.955 tỷ đồng, chiếm 10,35%, tăng 66,18% so với cùng kỳ năm 2019. Như vậy, hoạt động bán lẻ vẫn chủ yếu là phục vụ các mặt hàng đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của người dân (chiếm 69,7%). - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác ước đạt 2.525,5 tỷ đồng, giảm 27% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 100 tỷ đồng, giảm 37,85%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.772 tỷ đồng, giảm 28,35%; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 5 tỷ đồng, giảm 62,86% và doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 648,5 tỷ đồng, giảm 20% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: 6 tháng đầu năm 2020, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 11.284 nghìn tấn, giảm 36,4% với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 330.060 nghìn tấn.km, giảm 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 1.107 tỷ đồng, giảm 26,8% so với cùng kỳ năm trước.- Vận tải hành khách: 6 tháng đầu năm 2020, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6.025 nghìn hành khách, giảm 52,4% so với cùng kỳ với khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.258.510 nghìn hành khách.km, giảm 43,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 602 tỷ đồng, giảm 38,1% so với cùng kỳ. 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Tình hình lao động và giải quyêt việc làm Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn. Trong khoảng thời gian chịu sự tác động nặng nề của dịch Covid-19, trên địa bàn tỉnh đã có trên 26.000 lao động làm việc tại các doanh nghiệp, HTX phải nghỉ việc không hưởng lương và 45.600 lao động làm việc tự do ở lĩnh vực phi nông nghiệp bị mất việc làm. Ước tính 6 tháng đầu năm 2020, đã giải quyết việc làm cho 5.500 lao động, giảm 6.343 lao động so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh là 1.003 người, giảm 4.335 người; xuất khẩu lao động là 3.077 người, giảm 751 người và lao động đi làm việc ngoại tỉnh là 1.420 người, giảm 1.257 người. 9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Do ảnh hưởng của dịch bệnh đã làm cho đời sống dân cư 6 tháng đầu năm 2020 có phần giảm sút so với cùng kỳ năm trướcính đến 15/6/2020, Hà Tĩnh đã thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ cho 171.557 đối tượng với kinh phí 196,68 tỷ đồng (đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo) và giải quyết chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 2.785 lao động với số tiền 38,74 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2020 trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra. 6 tháng đầu năm 2020, đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 329.805 suất quà với tổng kinh phí 100,96 tỷ đồng, bao gồm 34,31 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ cho các đối tượng chính sách; 34,35 tỷ đồng hỗ trợ cho hộ nghèo và 32,33 tỷ đồng cho cứu trợ xã hội khác. Đồng thời, trao tặng 3 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách với tổng trị giá 16 triệu đồng; xây mới 138 nhà tình nghĩa trị giá 7,71 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã cấp 24.366 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 42.228 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 106.999 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 44.901 thẻ BHYT cho người có công. 9.3. Tình hình thiên tai 6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 3 đợt lốc xoáy kèm theo mưa lớn và sét đánh (đợt 1 vào ngày 11/5/2020; đợt 2 vào ngày 17/5/2020; đợt 3 vào ngày 13/6/2020). Lốc xoáy làm 8 người bị thương; 380 nhà ở (trong đó có 13 nhà bị thiệt hại trên 50%), 1 trường học và 1 nhà văn hóa bị tốc mái; 1 con bò bị chết; 53,2 ha lúa, 610,5 ha mạ lúa lai, 38,8 ha hoa màu, 3 ha cây lâu năm, 2 ha diện tích rừng và một số cột điện, cây cối bị đổ, gãy, hư hỏng. Ước tính tổng thiệt hại 10,31 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 9.4. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Năm học 2019-2020, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã có 89/100 học sinh đạt giải (gồm 4 giải nhất, 19 giải nhì, 31 giải ba và 35 giải khuyến khích). Đặc biệt, có 8 em đạt thành tích xuất sắc nhất được gọi vào tham gia chọn đội dự tuyển dự thi quốc tế (môn Toán có 4 em, Vật lý có 2 em, Sinh học có 2 em). Hà Tĩnh xếp thứ nhất toàn quốc về tỷ lệ học sinh tham gia thi đạt giải và xếp thứ 2 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải (sau Hà Nội). Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên Hà Tĩnh đã quyết định cho toàn bộ học sinh nghỉ học bắt đầu từ 04/02/2020 đến 04/5/2020. Thực hiện Quyết định số 736/QĐ-BGDĐT ngày 13/3/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định lùi thời gian kết thúc năm học 2019-2020, dự kiến học sinh kết thúc năm học trước ngày 15/7/2020. - Giáo dục đào tạo: Năm học 2019-2020, Hà Tĩnh có 1 trường đại học với 2.123 sinh viên, gồm 2.067 sinh viên hệ đại học và 56 sinh viên hệ cao đẳng. 6 tháng đầu năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tổ chức dạy nghề cho 1.743 người, giảm 7,83% (giảm 148 người) so với cùng kỳ năm 2019, trong đó: trình độ trung cấp nghề 106 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 1.637 người. 9.5. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch bệnh: Hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 ở nước ta cơ bản được kiểm soát, hơn 2 tháng Hà Tĩnh cũng như cả nước không ghi nhận ca mắc mới trong cộng đồng. Tính đến ngày 15/6/2020, ở Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, mà chỉ còn 367 trường hợp được cách ly tập trung tại khu ký túc xá Mitraco - thị xã Kỳ Anh. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Ngoài dịch bệnh Covid-19, 6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh có 4 trường hợp sốt xuất huyết, 208 trường hợp sốt rét, 163 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 158 trường hợp mắc lỵ a míp, 48 trường hợp mắc quai bị, 208 trường hợp mắc thủy đậu, 12 trường hợp mắc bệnh sởi và 10 trường hợp mắc bệnh do virut adeno. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: 6 tháng đầu năm 2020, Hà Tĩnh có 36 trường hợp nhiễm HIV, giảm 18,18%; có 29 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, giảm 34,09%; có 2 trường hợp chết vì AIDS, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, Hà Tĩnh đã hoàn thành mục tiêu 100% người nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm và được chi trả các dịch vụ chăm sóc, điều trị theo quy định của pháp luật. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: 6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 537 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 34,51% so với cùng kỳ năm 2019 và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm. 9.6. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nhiều vui chơi, giải trí hoạt động du lịch, hướng dẫn du lịch trên địa bànhoạt động văn hóa 6 tháng đầu năm 2020 trầm lắng Hà Tĩnh đã công nhận di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh cho nhà thờ Trần Quỳ ở huyện Can Lộc, đền Đông Hải Đại Vương và nhà thờ Phan Thái ở huyện Nghi Xuân; tổ chức lễ tổng kết, trao thưởng vòng sơ khảo cuộc thi “Đại sứ văn hóa đọc” (gồm 1 giải đặc biệt, 26 giải nhất, 52 giải khuyến khích) và chọn 20 bài thi xuất sắc gửi tham dự vòng chung kết toàn quốc. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: 6 tháng đầu năm 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức 4 cuộc thanh, kiểm tra tại 75 cơ sở kinh doanh hoạt động văn hóa và du lịch. Qua kiểm tra đã lập biên bản nhắc nhở 30 cơ sở không đảm bảo các điều kiện kinh doanh theo quy định; xử phạt vi phạm hành chính 2 tổ chức, 4 cá nhân với số tiền 36 triệu đồng; tịch thu chờ tiêu hủy 5.000 tờ rơi, từ gấp quảng cáo các loại phát hành trái quy định. Ngoài ra, đã cấp 55 giấy phép, trong đó: có 15 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 1 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 38 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 1 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao. - Hoạt động thể thao: Đầu năm, các hoạt động thể thao diễn ra sôi nỗi. Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch Covid-19, tỉnh đã chỉ đạo hạn chế tổ chức các hoạt động thể thao có quy mô lớn, chỉ tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên số lượng giải đấu thể thao thành tích cao giảm. Kết quả 6 tháng đầu năm 2020, giành được 14 huy chương các loại (gồm 10 HCV, 3 HCB và 1 HCĐ) ở các giải đấu trong nước. 9.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Tính từ ngày 15/5/2020 đến ngày 14/6/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người, bị thương 5 người. So với tháng trước tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, tăng 1 người chết và giảm 1 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ và tăng 3 người chết. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. Như vây, tính từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/6/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 67 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 61 người và bị thương 25 người. So với cùng kỳ năm 2019 tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 3 người chết và giảm 11 người bị thương. 9.8. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 6/2020 xảy ra 11 vụ cháy (tăng 5 vụ so với cùng kỳ năm 2019), làm 1 người chết và 3 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 41 triệu đồng. Tính chung 6 tháng, xẩy ra 24 vụ cháy (trong đó có 2 vụ cháy rừng), làm 3 người chết và 3 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 4,28 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm 2019 giảm 18 vụ cháy và 5 vụ nổ, tăng 1 người chết và giảm 5 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 6/2020, đã phát hiện 5 vụ và xử lý 4 vụ vi phạm môi trường (giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền xử phạt là 12 triệu đồng. Tính chung 6 tháng, đã phát hiện 21 vụ và xử lý 20 vụ vi phạm môi trường (giảm 26 vụ so với cùng kỳ năm 2019), với số tiền 108 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép.