TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI tỉnh Hà Tĩnh Tháng 10 và 10 tháng năm 2018
- 19/07/2024 10:14
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 10 và 10 tháng năm 20181. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong thời gian qua là tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ Hè Thu, chăm sóc cây vụ Mùa và tiến hành sản xuất cây vụ Đông. Với kết quả sơ bộ trên, diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu giảm bởi ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây mưa lớn, ngập lụt trên địa bàn làm cho một số diện tích lúa gieo trồng đang thời kỳ phát triển bị ngập úng, thiệt hại. Các địa phương có diện tích lúa Hè Thu giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 728 ha, Đức Thọ giảm 575 ha, Hương Khê giảm 155 ha, Nghi Xuân giảm 94,32 ha... Mặc dù diện tích gieo cấy lúa giảm nhưng do năng suất tăng nên sản lượng lúa vụ Hè Thu năm 2018 sơ bộ vẫn tăng so với vụ Hè Thu năm 2017. Các địa phương có năng suất lúa vụ Hè Thu đạt cao hơn mức bình quân chung toàn tỉnh như: Cẩm Xuyên 53,13 tạ/ha, Thị xã Kỳ Anh 51,23 tạ/ha, Lộc Hà 47,97 tạ/ha, Thạch Hà 47,52 tạ/ha, huyện Kỳ Anh 46,64 tạ/ha.Sản xuất vụ Mùa năm 2018 trong điều kiện thời tiết bất lợi. Từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 thời tiết chủ yếu nắng nóng gay gắt, trung tuần tháng 7 (ngày 13-19/7/2018) lại bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và cơn bão số 3 nên kết quả sản xuất vụ Mùa 2018 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng vụ Mùa ước đạt 12.791 ha, bằng 72,99% (giảm 4.734 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa ước đạt 511 ha, bằng 73,4% (giảm 185 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất lúa ước đạt 17,84 tạ/ha, bằng 116,46% (tăng 2,52 tạ/ha) với sản lượng lúa ước đạt 912 tấn, bằng 85,49% (giảm 155 tấn); diện tích ngô ước đạt 1.375 ha, bằng 69,55% (giảm 602 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất ngô ước đạt 27,42 tạ/ha, bằng 95,75% (giảm 1,22 tạ/ha) với sản lượng ngô ước đạt 3.771 tấn, bằng 66,58% (giảm 1.893 tấn); diện tích khoai lang ước đạt 593 ha, bằng 78,92% (giảm 158 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất khoai lang ước đạt 54,67 tạ/ha, bằng 99,52% (giảm 0,26 tạ/ha) với sản lượng khoai lang ước đạt 3.240 tấn, bằng 78,55% (giảm 885 tấn); diện tích lạc ước đạt 482 ha, bằng 84,48% (giảm 88 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất lạc ước đạt 15,04 tạ/ha, bằng 103,72% (tăng 0,54 tạ/ha) với sản lượng lạc ước đạt 724 tấn, bằng 81,54% (giảm 164 tấn); diện tích đậu các loại ước đạt 2.979 ha, bằng 47,84% (giảm 3.247 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất đậu ước đạt 5,37 tạ/ha, bằng 94,83% (giảm 0,03 tạ/ha) với sản lượng đậu ước đạt 1.598 tấn, bằng 45,37% (giảm 1.924 tấn) và diện tích rau các loại ước đạt 2.367 ha, bằng 98,48% (giảm 37 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất rau ước đạt 70,36 tạ/ha, bằng 101,47% (tăng 1,02 tạ/ha) với sản lượng rau ước đạt 16.654 tấn, bằng 99,93% (giảm 12 tấn). Về sản xuất vụ Đông năm 2018, với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Vụ Đông năm nay toàn tỉnh phấn đấu gieo trồng 3.671 ha ngô lấy hạt và 2.250 ha ngô sinh khối, sản lượng cả 2 loại đạt khoảng 95.944 tấn; 4.258 ha rau các loại với sản lượng 25.977 tấn; 40 ha lạc với sản lượng 72 tấn và 1.911 ha khoai lang, sản lượng 11.920 tấn. Hiện nay, sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại trên diện tích các loại cây trồng như: Ngô, khoai lang, rau nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Nhìn chung tổng đàn vật nuôi vẫn ổn định không có biến động đột biến. Hiện đàn đại gia súc trâu, bò đang có xu hướng ngày càng giảm. Nguyên nhân do chăn nuôi trâu chủ yếu là nhỏ lẻ trong dân, trong khi loại thực phẩm này cũng chưa được tiêu dùng một cách phổ biến. Còn đối với các dự án chăn nuôi bò trên địa bàn cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, hoạt động cầm chừng (Dự án chăn nuôi bò Bình Hà, dự án chăn nuôi bò của của Công ty Mitraco). Đàn lợn và đàn gia cầm đang phát triển ổn định do giá lợn hơi đã tăng trở lại và trong thời gian qua ít xẩy ra dịch bệnh. Tính từ ngày 15/9/2018 đến ngày 15/10/2018 trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra dịch bệnh đối với đàn vật nuôi.1.2. Lâm nghiệpTrong tháng, toàn tỉnh đã trồng được 640 ha rừng tập trung, bằng 29,45% (giảm 1.533 ha) và 413 ngàn cây phân tán, bằng 104,82% (tăng 19 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 46.503 m3, bằng 69,96% (giảm 19.966 m3) và 82.641 ste củi, bằng 77,84% (giảm 23.522 ste) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân, do năm 2017 ảnh hưởng của bão số 10, nhiều ha rừng trồng và cây cối bị đổ gãy nên người dân đã khai thác tận thu và tiến hành trồng mới lại rừng nên có diện tích rừng trồng và khối lượng gỗ, củi lớn hơn so với cùng kỳ năm 2018. Cùng với việc trồng và chăm sóc rừng thì công tác phòng, chống cháy rừng cũng luôn được quan tâm. Từ ngày 15/9/2018 đến ngày 15/10/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng.1.3. Thuỷ sảnHoạt động sản xuất nuôi trồng và khai thác thủy hải sản vẫn diễn ra bình thường, sản lượng thủy hải sản khai thác nuôi trồng tăng nhẹ so với cùng kỳ. Trông tháng dịch bệnh không xẩy ra đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản.2. Sản xuất công nghiệp- Chỉ số sản xuất công nghiệp: Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2018 tăng 14,61% so với tháng trước và tăng 81,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số sản xuất công nghiệp khai khoáng giảm 9,75% so với tháng trước và tăng 61,98% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,88% so với tháng trước và tăng 70,82% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 21,93% so với tháng trước và tăng 187,1% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,88% so với tháng trước và tăng 52,38% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh vẫn duy trì mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng cả ở 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó chủ yếu tăng mạnh ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện.Tính chung 10 tháng năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 105,6% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của 9 tháng đầu năm (chung 9 tháng tăng 109,39%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 134,25%, đóng góp 94 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 41,96%, đóng góp 11,4 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 17,53%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,95%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 10 tháng chỉ tăng 6,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,1%.- Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2018 tăng 13,33% so với tháng trước và tăng 42,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,91 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 2,51 lần; sản xuất than cốc tăng 72,36%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 53,19%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 60,08%; chế biến thực phẩm giảm 60,27%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2018 tăng 40,39% so với tháng trước và tăng 91,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 34,25 lần; than cốc tăng 8,05 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 4,3 lần; ngành dệt tăng 1,57 lần.- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2018 giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 10,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,73%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 28,12%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 19,16%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 10 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.3. Thực hiện vốn đầu tưThực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2018 ước đạt 301,63 tỷ đồng, giảm 5,63% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.789 tỷ đồng, tăng 19,32% so với cùng kỳ năm trước, đạt 84,73% kế hoạch cả năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.725,84 tỷ đồng, tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước, đạt 74,69% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 528,48 tỷ đồng, tăng 77,66% so với cùng kỳ năm trước, đạt 95,39% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 534,67 tỷ đồng, giảm 3,92% so với cùng kỳ năm trước, đạt 125,31% kế hoạch. Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng năm 2018 tiếp tục đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước và tăng chủ yếu ở vốn Nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 10/2018 đạt 3.252,3 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 25,85% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với tháng trước và tăng chủ yếu ở khu vực ngoài Nhà nước. Do giá lương thực, thực phẩm tăng, giá gas tăng (tăng 10 nghìn đồng/bình/12kg); bên cạnh đó, nhu cầu về các mặt hàng may mặc, đồ dùng gia đình như chăn ga, gối, đệm... của người dân đều có xu hướng tăng; cùng với đó, thời tiết thuận lợi cho việc hoàn thiện công trình nên nhu cầu về vật liệu xây dựng (chủ yếu là xi măng, cát sỏ, gạch ngói) tăng...Tất cả các yếu tố trên đã làm cho doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng.So với cùng kỳ năm trước, hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng chủ yếu ở khu kinh tế tập thể, tăng 65,42% và kinh tế tư nhân tăng 61,48%. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 3,29 lần; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 54,77%; phương tiện đi lại tăng 54,34%; lương thực, thực phẩm ước tăng 20,99%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 31,04%; đồ dùng gia đình tăng 20,43%; xăng dầu tăng 20,86%. Trong các nhóm hàng, chỉ có nhóm hàng may mặc giảm 3,4%; nhiên liệu khác giảm 7,03% và nhóm đá quý, kim loại quý giảm 8,74%.Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 29.583,14 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.720,05 tỷ đồng, giảm 25,16%; ngoài Nhà nước ước đạt 27.851,61 tỷ đồng, tăng 18,44% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,49 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất là 38,17% và tăng 15,29% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 13,07% và tăng 3,74%; nhóm xăng, dầu các loại chiếm 10,08% và tăng 6,03%. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 10/2018 ước đạt 498,59 tỷ đồng, giảm 2,08% so với tháng trước và tăng 18,96% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch tháng 10/2018 có xu hướng giảm so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do lượng khách đến tham quan du lịch biển giảm mạnh; còn tại các điểm văn hóa tâm linh, lượng khách đến vẫn tăng nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu phục vụ lượt khách trong ngày, tất cả điều đó đã làm cho tổng doanh thu chung giảm.So với cùng kỳ năm trước, thì hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tiếp tục đạt mức tăng khá và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 14,19%; ăn uống tăng 19,33%; du lịch lữ hành tăng 2,26%. Tính chung 10 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.172,97 tỷ đồng, tăng 11,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 256,39 tỷ đồng, tăng 13,27%; ăn uống ước đạt 3.901,09 tỷ đồng, tăng 11,66% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15,49 tỷ đồng, tăng 16,79%. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 10/2018 ước đạt 112,39 tỷ đồng, tăng 1,92% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 10/2018 tiếp tục tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với tháng trước. Do các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành các công trình xây dựng dở dang cũng như mới trước mùa mưa lũ, nên làm cho dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị thi công tăng; mặt khác, đây cũng là tháng mà nhu cầu làm đẹp, massa, cắt tóc, uốn sấy... của chị em bắt đầu có xu hướng tăng; đồng thời, trùng với ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20/10, đã tác động đến các hoạt động giải trí tăng. Tất cả yếu tố đó đã làm cho doanh thu dịch vụ khác tăng.Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.032,79 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực kinh tế nhà, tăng 55,4%; kinh tế cá thể tăng 2,65% và kinh tế tư nhân tăng 4,94%. Một số nhóm ngành tăng cao hơn mức tăng chung: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 9,76%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 7,12%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 6,43% so với cùng kỳ năm trước.4.2. Hoạt động vận tảiVận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 10/2018 ước đạt 3,15 triệu tấn (tăng 0,32%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 77,27 triệu tấn.km (tăng 0,95%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 237,57 tỷ đồng, tăng 2,24%. Do các công trình xây dựng gấp rút hoàn thành trước mùa mưa bão, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 10/2018 ước đạt 1,88 triệu lượt hành khách (tăng 0,53%), với khối lượng luân chuyển là 340,81 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,4%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 150,85 tỷ đồng, tăng 0,65%. Do giá xăng dầu tăng đã tác động đến giá vé vận tải hành khách công cộng bắt đầu tăng từ đầu tháng 10, nên làm cho kết quả vận tải hành khách tăng.Tính chung 10 năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 19,25 triệu HK (tăng 8,29%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 3.401,07 triệu HK.km (tăng 11,19%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.479,28 tỷ đồng, tăng 12,26%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 27,49 triệu tấn (tăng 4,65%), với khối lượng luân chuyển là 678,61 triệu tấn.km (tăng 2,1%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.251,82 tỷ đồng, tăng 4,54%. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùngThị trường tháng 10 năm 2018 CPI tiếp tục tăng giá. Chịu ảnh hưởng từ giá lương thực, thực phẩm đều tăng, nhất là giá nhiên liệu xăng dầu được điều chỉnh tăng với biên độ cao. Một mặt hàng thiết yếu khác là giá gas nhiên liệu cũng được điều chỉnh tăng giá là những yếu tố khiến chỉ số giá tiêu dùng tháng này tăng khá cao.CPI tháng 10 năm 2018, tăng 0,44% so tháng trước, tăng 3,48% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,09% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,45%; nông thôn tăng 0,42%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: Có 5 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,65% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 5,03%, tăng 4,92% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,56% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 3,08%, tăng 0,59% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở vật liệu xây dựng tăng 0,46% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,1%, tăng 1,92% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 1,18% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 9,05%, tăng 7,71% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước giảm 3,5%, giảm 1,65% so với tháng 12 năm trước.Có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm đó là nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,21% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,84%, tăng 0,54% so với tháng 12 năm trước; Đồ dùng và dịch vụ khác giảm 0,09% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,69%, tăng 3,96% so với tháng 12 năm trước.Có 4 nhóm gồm: Đồ uống và thuốc là; Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông; Giáo dục ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 10/2018 có sự biến động so tháng trước chủ yếu là: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhiên liệu xăng dầu điều chỉnh tăng mạnh so với tháng trước; (3) Giá mặt hàng vật liệu xây dựng, gas nhiên liệu tăng.Chỉ số giá vàng giảm 1,19% so tháng trước, giảm 1,34% so cùng kỳ năm trước, giảm 1,01% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng, sau nhiều tháng giảm, sang tháng 10 bắt đầu tăng trở lại, với mức giá tại thời điểm ngày 21/10/2018 là 3.550 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.558 ngàn đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,35% so tháng trước, tăng 2,8% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,77% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/10/2018 mức giá bán ra 2.340 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bình quân 10 tháng đầu năm 2018 tăng 3,87% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,71%; nông thôn tăng 3,97%. Nhìn chung, 10 tháng đầu năm 2018, chỉ số giá bình quân tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm chưa giảm mà còn tiếp tục tăng; trong khi những mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý và phân phối như giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tiếp tục tăng đã làm cho chỉ số giá bình quân tăng.Dự kiến CPI tháng 11/2018 tiếp tục tăng. Nguyên nhân do giá thịt và lương thực chưa có dấu hiệu giảm. Trong khi đó, một số mặt hàng như lạc, đậu xanh, đường, gừng dự kiến tăng giá; giá các nhóm mặt hàng đồ dùng gia đình, (bao gồm hàng điện tử, điện lạnh, đồ dùng nhà bếp), hàng may mặc dự kiến tiếp tục tăng giá do nhu cầu mua sắm những tháng cuối năm. Bên cạnh đó, do nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở dịp cuối năm nên giá sắp thép, vật liệu xây dựng tăng giá.5. Các vấn đề xã hội 5.1. Đời sốngTình hình đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm kịp thời của các cấp, các ngành. Đồng thời, ngoài thời gian sản xuất nông nghiệp, người dân cũng tranh thủ những lúc nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên trong tháng không xảy ra thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh cũng không xảy ra.5.2. Y tế- Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, bệnh tay - chân - miệng (TCM) có khả năng lây truyền cao và chủ yếu mắc ở trẻ dưới 6 tuổi. Để ngăn ngừa sự lây lan, phát tán của bệnh, Sở Y tế đã chỉ đạo các bệnh viện đảm bảo các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, thuốc, hóa chất và vật tư y tế để phòng bệnh TCM. Các trung tâm YTDP tham mưu các biện pháp tăng cường về phòng chống bệnh TCM như: Công tác tuyên truyền, bổ sung kinh phí mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc, hóa chất cần thiết. Các cơ sở KCB tổ chức tập huấn và triển khai việc thu dung, điều trị người bệnh. Thực hiện tốt phối hợp giữa bệnh viện với YTDP trong phát hiện, chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh.Toàn tỉnh, trong tháng đã xảy ra 02 trường hợp mắc sốt xuất huyết (chủ yếu là các trường hợp vãng lai) và 28 trường hợp tay-chân-miệng. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng-chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp các địa phương tập huấn các kiến thức cơ bản về phòng, chống HIV/AIDS, trong đó chú trọng về công tác tuyên truyền tư vấn, xét nghiệm sớm HIV và vận động các đối tượng sử dụng ma túy, hoạt động động mại dâm trên địa bàn tích cực tiếp cận các Chương trình can thiệp Dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS như: Điều trị Methadone đối với người nghiện ma túy; Sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục đối với gái hoạt động mại dâm, nhằm dự phòng lây nhiễm HIV cho bản thân, gia đình và cộng đồng; vận động người dân tích cực tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm nhằm góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội và giảm sự lây nhiễm HIV/AIDS. Trong tháng, Hà Tĩnh có 07 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 04 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 04 trường hợp chuyển thành AIDS, không có trường hợp nào chết vì AIDS. - Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các cơ sở sản xuất, kinh doanh bánh kẹo, ki-ốt bán hàng tạp hóa và các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; đồng thời, tuyên truyền, nhắc nhở, hướng dẫn các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện đầy đủ các thủ tục, giấy tờ có liên quan nhằm nâng cao ý thức chấp hành các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong tháng ra, chỉ xảy ra 142 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 0,7% so với cùng kỳ năm ngoái) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.5.3. Hoạt động văn hoá- thông tin, thể dục thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh đã công bố sự kiện “Hoàng hoa sứ trình đồ” là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thuộc xã Trường Lộc, huyện Can Lộc. Sự kiện này thêm một lần nữa tô đậm những giá trị văn hoá độc đáo mà dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam, góp phần to lớn vào các thời kỳ dựng xây đất nước; đồng thời, qua sự kiện này nhằm tuyên truyền, giáo giục về truyền thống văn hóa, truyền thống hiếu học của quê hương Hà Tĩnh; giới thiệu, quảng bá để mọi người hiểu rõ giá trị của di sản.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Giải bóng đá mini ngành Ngân hàng tỉnh chào mừng ngày Doanh nhân Việt Nam; Giải bóng chuyền hơi, bóng chuyền kỷ niệm ngày truyền thống các ban Đảng; Giải bóng đá nữ do Thành Đoàn Hà Tĩnh tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam... - Thể thao thành tích cao: đoàn Hà Tĩnh dành được 01 HCV tại giải vô địch Pencaksilat tổ chức ở Ấn Độ.5.4.Tình hình an toàn giao thông:Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tập trung cao điểm đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong mùa mưa lũ và những tháng cuối năm. Xử lý triệt để tình trạng vi phạm tải trọng xe, cơi nới thành thùng để chở quá tải, đặc biệt là các loại phương tiện ô tô vận chuyển hành khách không đảm bảo an toàn kỹ thuật, người điều khiển phương tiện tham giao giao thông sử dụng rượu bia. Các ngành chức năng, địa phương có giải pháp căn cơ, quyết liệt nhằm xử lý triệt để tình trạng lấn chiếm hành lang an toàn giao thông để tập kết vật liệu xây dựng, họp chợ trên đường...Tính từ ngày 16/9/2018 đến ngày 15/10/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 05 người, bị thương 07 người, thiệt hại tài sản 45 triệu đồng. So với tháng trước giảm 05 vụ, giảm 08 người chết; so với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, giảm 10 người chết và giảm 01 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/10/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 107 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 103 người, bị thương 55 người, ước tính thiệt hại tài sản 745 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 02 vụ tai nạn đường sắt, giảm 05 người chết và giảm 08 người bị thương.5.6. Môi trường- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 6 vụ cháy (tăng 2 vụ cháy so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 190 triệu đồng, trong đó: 02 vụ cháy nhà chứa rơm, 01 vụ cháy nhà xưởng, 01 vụ cháy xe khách và 02 vụ cháy khác. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn xảy ra 74 vụ cháy, nổ (trong đó có 72 vụ cháy và 02 vụ nổ), làm 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,3 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 24 vụ cháy, nổ (tăng 25 vụ cháy, giảm 01 vụ nổ) và tăng 6 người bị thương.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, đã phát hiện và xử lý 02 cơ sở vi phạm môi trường với số tiền 15 triệu đồng. Chung 10 tháng, phát hiện và xử lý 36 cơ sở, với số tiền 608 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2018./.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI tình Hà Tĩnh Tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018
- 19/07/2024 09:33
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2018 trong điều kiện có những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2017, xu hướng phát triển tích cực 6 tháng đầu năm 2018, đặc biệt là sự đi vào hoạt động sản xuất ổn định của Dự án Fomosa Hà Tĩnh đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ cho ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước. Tuy nhiên, cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, chất đốt...tăng lên đã tạo nên sức ép lạm phát cũng đang tăng so với cùng kỳ; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; diễn biến thời tiết, thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn khó khăn; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban ngành, các địa phương quyết liệt thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, nhất là Nghị quyết số 68/2017/NQ-HĐND ngày 13/12/2017 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện để có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời hơn với tình hình thực tiễn. Nhờ đó, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Kết quả đạt được cụ thể của các ngành, các lĩnh vực như sau: 1. Tài chính, ngân hàng1.1. Thu - chi ngân sách Nhà nướcTổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 12.309 tỷ đồng, bằng 129,53% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,05% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa ước đạt 4.204 tỷ đồng, bằng 114,62% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,06% dự toán năm; thu hải quan ước đạt 4.342 tỷ đồng, bằng 218,52% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,04% dự toán (Trung ương mới giao thu bổ sung thêm 2.800 tỷ đồng). Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước vẫn còn gặp khó khăn. Đặc biệt, Tổng cục Hải quan vừa có Văn bản số 5132/TCHQ-TXNK giao bổ sung thu ngân sách nhà nước cho Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh với mức giao thu tăng thêm 2.800 tỷ đồng. Như vậy, chỉ tiêu được giao năm 2018 gần gấp đôi so với chỉ tiêu đầu năm (đầu năm Bộ Tài chính giao chỉ tiêu 3.100 tỷ đồng; HĐND tỉnh giao chỉ tiêu 3.400 tỷ đồng), trong khi chỉ còn hơn 3 tháng nữa là kết thúc năm tài chính ngân sách năm 2018 nên đây thực sự là một thách thức lớn đối với công tác thu ngân sách. Thời gian tới cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2018 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2018 ước tính là 13.967 tỷ đồng, bằng 111,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chi cân đối ngân sách là 9.128 tỷ đồng, bằng 111,95% so với cùng kỳ năm trước và bằng 67,98% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 4.791 tỷ đồng, bằng 110,27% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số khoản chi như sau: Chi đầu tư phát triển 3.469 tỷ đồng, bằng 119,93% so với cùng kỳ năm trước và bằng 100,88% so với dự toán năm; chi thường xuyên 5.659 tỷ đồng, bằng 107,56% so với cùng kỳ năm trước và bằng 60,06% so với dự toán năm. Nhìn chung, việc điều hành và thực hiện dự toán chi NSĐP trong thời gian qua vẫn đảm bảo và đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên cũng như đột xuất của địa phương. 1.2. Hoạt động ngân hàng9 tháng năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý tính đến thời điểm 10/9/2018 đạt 46.948 tỷ đồng, tăng 12,65% so với đầu năm. Ước tính đến 30/9/2018, nguồn vốn huy động đạt 47.345 tỷ đồng, tăng 13,6% so với đầu năm. Huy động vốn tăng trưởng tốt (8 tháng đầu năm tăng 11,34% so với đầu năm, ước 9 tháng tăng 13,6%), đặc biệt là nguồn vốn huy động từ dân cư (tăng hơn 14%); nguồn vốn trung, dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (chiếm 46,97%) và tăng 24,39% so với đầu năm. Nguồn vốn trung, dài hạn tăng đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động nguồn vốn và đầu tư cho vay dài hạn nhằm tạo điều kiện cho khách hàng mở rộng sản xuất kinh doanh.- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm nới lỏng hoạt động cho vay, do đó doanh số cho vay 8 tháng đầu năm 2018 đạt hơn 49.000 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017.Dư nợ cho vay đến ngày 10/9/2018 đạt 41.308 tỷ đồng, tăng 9,08% so với đầu năm. Ước tính đến 30/9/2018 tổng dư nợ đạt 41.682 tỷ đồng, tăng 10,06% so với đầu năm (tăng cao hơn 9 tháng đầu năm 2017: 8,52%).- Dư nợ theo các chương trình: Trong 9 tháng năm 2018, số khách hàng được cho vay hỗ trợ lãi suất theo các quyết định của Chính phủ, của tỉnh là 59 khách hàng, với doanh số cho vay được hỗ trợ là 24,55 tỷ đồng, tiền lãi phải hỗ trợ cho các khách hàng đang hưởng chính sách là 7,13 tỷ đồng (lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.747 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là 40,42 ngàn lượt, số lãi được hỗ trợ là hơn 35,47 tỷ đồng). Triển khai Nghị định 67, tính đến ngày 31/8/2018 đã có 11 chủ tàu ký hợp đồng tín dụng với các ngân hàng thương mại với tổng hạn mức cho vay là 162,62 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm hiện tại 153,79 tỷ đồng. Nợ xấu chiếm 76,45% tổng dư nợ, trong đó có 9/11 chủ tàu phát sinh nợ xấu. Kết quả triển khai Nghị quyết 02/NQ-CP, các ngân hàng đã cho vay đối với 1.027 khách hàng với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng. Dư nợ đến thời điểm 31/8/2018 là hơn 358 tỷ đồng. Kết quả cho vay các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH: Tính đến ngày 31/8/2018, dư nợ NHCSXH đạt hơn 4.312 tỷ đồng, chiếm 10,51% tổng dư nợ toàn địa bàn, tăng 5,41% so với đầu năm 2018. Dư nợ các chương trình tín dụng chính sách: Cho vay hộ nghèo 708 tỷ đồng; cho vay hộ cận nghèo 1.000 tỷ đồng; cho vay hộ mới thoát nghèo 762 tỷ đồng; cho vay học sinh sinh viên 251 tỷ đồng; cho vay giải quyết việc làm 105 tỷ đồng; cho vay XKLĐ 6,6 tỷ đồng; cho vay NS&VSMTNT 536 tỷ đồng; cho vay SXKD tại vùng khó khăn 804 tỷ đồng; cho vay thương nhân vùng khó khăn 2,79 tỷ đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ167 là 62,14 tỷ đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QÐ33 là 467 tỷ; cho vay xây chòi tránh lũ, lụt 0,765 tỷ đồng và một số chương trình khác.- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng, hoạt động quản lý ngoại hối và vàng; công tác cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nghiêm túc tại các ngân hàng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và các hoạt động khác diễn ra an toàn và hiệu quả.2. Đầu tư và xây dựng2.1 Đầu tư phát triển Ước tính vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện 9 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành đạt 21.830,05 tỷ đồng, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước.9 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước và giảm ở cả 3 nguồn vốn: Nhà nước giảm 5,25%; ngoài Nhà nước giảm 6,99% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 8,89%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư 9 tháng đầu năm 2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 48,07%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 33,45%); còn xét theo khoản mục đầu tư, thì nguồn vốn tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 85,54%).Tính riêng quý III/2018, vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 7.308,19 tỷ đồng, tăng 2,81% so với quý trước và giảm 12,41% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2018 tăng so với quý trước chủ yếu tăng ở nguồn vốn Nhà nước (tăng 11,01%). Do thời tiết thuận lợi, các công trình cuối năm được đẩy nhanh tiến độ thi công, đảm bảo tiến độ giải ngân, đặc biệt là ở một số huyện, xã về đích nông thôn mới cuối năm 2018 (Vũ Quang, Nghi Xuân).Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng năm 2018 tăng khá, ước đạt 2.651,59 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Trung ương quản lý ước đạt 148,37 tỷ đồng, giảm 6,92%; vốn địa phương quản lý ước đạt 2.503,22 tỷ đồng, tăng 19,79%.Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 9 tháng năm 2018 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước và tăng ở cả 3 cấp, trong đó tăng mạnh là vốn Nhà nước cấp huyện (tăng 83,99%). Nếu tách từng quý cho thấy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I/2018 đạt 607,81 tỷ đồng (giảm 6,99% so với cùng kỳ năm trước); sang quý II và quý III đạt mức tăng khá, lần lượt đạt 887,75 tỷ đồng (tăng 29,02%) và 1.007,66 tỷ đồng (tăng 34,69%). Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, 9 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung vốn đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép Formosa, phần lớn là xây dựng khu phụ trợ, phục vụ hoạt động sản xuất chính thức và Cảng nước sâu Sơn Dương Formosa nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng giảm.2.2. Xây dựng9 tháng đầu năm 2018, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài triển khai chậm, riêng dự án Khu liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Formosa cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 nên vốn đầu tư khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh và chủ yếu đầu tư vào máy móc thiết bị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với các công trình, nên giá trị 9 tháng đầu năm 2018 giảm so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xây dựng toàn tỉnh 9 tháng năm 2018 giảm 10,59% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giảm mạnh ở xây dựng khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, lần lượt giảm 83,68% và 81,63%. Riêng xây dựng khu vực ngoài Nhà nước, 9 tháng năm 2018 tăng 7,88% so với cùng kỳ năm trước, do xây dựng khu vực dân cư tăng 34,51%. Riêng quý III/2018, một số dự án lớn trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì đầu tư xây dựng như: Dự án khu phức hợp Vincom Hà Tĩnh; một số hạng mục, công trình phụ trợ thuộc dự án Formosa Hà Tĩnh; Đê La Giang; Kè Nậm La; Đường giao thông nông thôn xã Trung Lễ, Sơn Trường, Hương Long; hệ thống kênh tưới tiêu phía Nam thị trấn Nghèn…nên giá trị xây dựng quý III có tăng nhẹ so với quý trước. Giá trị xây dựng quý III tăng 2,74% so với quý trước và giảm 4,47% so với cùng kỳ năm trước. 3. Sản xuất công nghiệp- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2018 ước tính tăng 3,73% so với tháng trước và tăng 59,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 68,59%; sản xuất và phân phối điện tăng 20,1%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,32% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng cả ở 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó chủ yếu tăng mạnh ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tính riêng quý III/2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 54,53% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của quý I, quý II (quý I tăng 162,1%; quý II tăng 168,46%).Trong 4 ngành công nghiệp cấp I, hầu hết đều có chỉ số sản xuất tăng ở cả 3 quý, nhưng mức tăng của quý III thấp hơn mức tăng quý I và quý II. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất quý I giảm 11,32%; quý II giảm 2,66%, sang quý III tăng 1,24%, nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu tăng ở khai thác cát, sỏi, đá (tăng 1,97%). Như vậy, sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh vẫn đạt tăng trưởng cao ở cả 3 quý, nhưng sang quý III mức tăng có phần chững lại. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 110,44% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của 8 tháng đầu năm (chung 8 tháng tăng 120,59%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 148,79%, đóng góp 99,69 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 35,5%, đóng góp 10,68 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 15,86%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3,35%, làm giảm 0,07 điểm phần trăm. 9 tháng đầu năm 2018, hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa, nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 9 tháng chỉ tăng 4,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,11%. - Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 tăng 2,36% so với tháng trước và tăng 87,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,44 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 3,42 lần; sản xuất than cốc tăng 65,46%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 56,44%; chế biến thực phẩm giảm 64,72%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 tăng 44,53% so với tháng trước và tăng 100,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 38,15 lần; than cốc tăng 10,23 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 3,64 lần; ngành dệt tăng 2,56 lần; sản xuất đồ uống tăng 40,76%.- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2018 giảm 0,27% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng tăng 17,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 2,92%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 27,64%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,66%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tình hình đăng ký kinh doanh: Lũy kế đến ngày 20/9/2018, có 686 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc thành lập mới, trong đó doanh nghiệp là 536 đơn vị, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước, tổng số vốn đăng ký đạt 4.517,7 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ năm trước (tăng 496,9 tỷ đồng). Số vốn đăng ký bình quân đạt 8,4 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 0,9 tỷ đồng/doanh nghiệp so cùng kỳ năm trước) thể hiện các doanh nghiệp ngày càng tăng quy mô vốn. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng khá cao, bên cạnh tăng về số lượng, các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Trong đó loại hình công ty cổ phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất, tiếp đến là loại hình công ty TNHH và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 20/9/2018 là 180 doanh nghiệp, tăng 31,3% và có 86 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, giảm 1,1% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong 9 tháng đầu năm 2018 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng vẫn có xu hướng tăng, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. - Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý III/2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 68,8% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 28,8% khẳng định SXKD tốt lên, 40% khẳng định giữ ổn định); 31,2% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý IV so với quý III năm 2018, có 75,5% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định so với quý III (trong đó 33,3% số doanh nghiệp dự báo tốt lên, 42,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 24,5% số doanh nghiệp khó khăn hơn.Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 64,4% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 68,8% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 33,3% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 42,2% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2018, có 33,3% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý II/2018; 28,8% giảm đi; có 25% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 31,8% giảm đi; 73,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 20% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy) và 24,4% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm (ngành có tỷ lệ lớn doanh nghiệp giảm tồn kho nguyên vật liệu là dệt, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất); 6,6% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 6,6% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý IV so quý III có 27,9% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 15,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 24,4% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 24,4% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.Đánh giá về biến động lao động quý III/2018 so với quý II/2018, có 88,8% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 2,2% khẳng định tăng lên, 86,6% khẳng định giữ ổn định) và 11,1% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý IV so với quý III vẫn duy trì tỷ lệ như quý III so với quý II, điều đó khẳng định các doanh nghiệp hoạt động khá ổn định và không có nhu cầu tăng thêm lao động hoặc giảm lao động do gặp khó khăn trong sản xuất.5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản5.1. Sản xuất nông nghiệp- Sản xuất cây hàng năm: Trong tháng 9/2018, hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung thu hoạch lúa vụ Hè Thu và chăm sóc cây trồng vụ Mùa. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 154.926 ha, bằng 97,3% (giảm 4.303 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, cây lương thực có hạt ước đạt 112.051 ha, chiếm 72,33% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm, bằng 100,25% (tăng 284 ha) so với cùng kỳ năm 2017.Diện tích gieo cấy lúa cả năm ước đạt 102.799 ha, bằng 98,78% (giảm 1.273 ha) so với năm trước, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 59.143 ha, bằng 100,47% (tăng 277 ha); diện tích gieo cấy lúa Hè Thu sơ bộ đạt 43.145 ha, bằng 96,93% (giảm 1.365 ha) và diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa ước đạt 511 ha, bằng 73,42% (giảm 185 ha). Nguyên nhân chính là do diện tích lúa Hè Thu giảm bởi ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây mưa lớn, ngập lụt trên địa bàn làm cho một số diện tích lúa gieo trồng đang thời kỳ phát triển bị ngập úng, thiệt hại. các địa phương có diện tích lúa Hè Thu giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 728 ha, Đức Thọ giảm 575 ha, Hương Khê giảm 155 ha, Nghi Xuân giảm 94,32 ha...Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 51,94 tạ/ha, so với năm trước bằng 122,1% (tăng 9,41 tạ/ha), trong đó: Năng suất lúa vụ Xuân đạt 56,42 tạ/ha, bằng 137,31% (tăng 15,33 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 46,2 tạ/ha, bằng 102,93% (tăng 1,32 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 17,85 tạ/ha, bằng 116,51% (tăng 2,53 tạ/ha) so với cùng kỳ năm 2017. Như vậy, năng suất lúa của cả ba vụ sản xuất trong năm 2018 đều tăng hơn so với năm 2018. Bên cạnh các yếu tố về sự chủ động trong sản xuất, sự thuận lợi về điều kiện thời tiết thì còn có nguyên nhân làm tăng năng suất lúa đó chính là việc mở rộng sản xuất các giống lúa lai có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hạn chế gieo cấy các giống lúa nhiễm và nhạy cảm với bệnh đạo ôn cổ bông.Sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 533.947 tấn, bằng 120,6% (tăng 91.218 tấn) so với năm trước. Diện tích lúa giảm 1.273 ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 6.714 tấn, năng suất lúa tăng 9,41 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 97.932 tấn. Trong đó: Sản lượng lúa vụ Xuân đạt 333.700 tấn, bằng 137,96% (tăng 91.817 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu sơ bộ đạt 199.336 tấn, bằng 99,78% (giảm 445 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa ước tính đạt 912 tấn, bằng 85,55% (giảm 154 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Diện tích ngô cả năm ước đạt 9.252 ha, bằng 120,23% (tăng 1.557 ha) so với năm 2017, trong đó: Diện tích ngô vụ Đông Xuân đạt 7.876 ha, bằng 137,77% (tăng 2.159 ha) và diện tích ngô vụ Thu Mùa ước đạt 1.376 ha, bằng 69,55% (giảm 602 ha). Với năng suất ngô cả năm ước tính đạt 38,46 tạ/ha, bằng 104,08% (tăng 1,51 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước tính đạt 35.583 tấn, bằng 125,14% (tăng 7.148 tấn). Diện tích ngô tăng 1.557 ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 5.988 tấn, năng suất ngô tăng 1,51 tạ/ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 1.160 tấn.Kết quả sản xuất một số loại cây hàng năm khác đạt được như sau: Cây khoai lang diện tích ước đạt 3.691 ha, bằng 88,73% (giảm 469 ha), năng suất ước đạt 70,47 tạ/ha, bằng 107,37% (tăng 4,84 tạ/ha), sản lượng ước đạt 26.013 tấn, bằng 95,28% (giảm 1.290 tấn); cây sắn diện tích ước đạt 2.965 ha, bằng 100,98% (tăng 29 ha), năng suất ước đạt 142,78 tạ/ha, bằng 103,54% (tăng 4,89 tạ/ha), sản lượng ước đạt 42.334 tấn, bằng 104,55% (tăng 1.843 tấn); cây lạc diện tích ước đạt 13.563 ha, bằng 89,72% (giảm 1.554 ha), năng suất ước đạt 26,71 tạ/ha, bằng 114,06% (tăng 3,29 tạ/ha), sản lượng ước đạt 36.227 tấn, bằng 102,33% (tăng 825 tấn); cây rau các loại diện tích ước đạt 11.988 ha, bằng 111,71% (tăng 1.257 ha), năng suất ước đạt 68,02 tạ/ha, bằng 102,96% (tăng 1,96 tạ/ha), sản lượng ước đạt 81.537 tấn, bằng 115,02% (tăng 10.649 tấn); cây đậu các loại diện tích ước đạt 3.503 ha, bằng 52,2% (giảm 3.208 ha), năng suất ước đạt 5,98 tạ/ha, bằng 101,18% (tăng 0,07 tạ/ha), sản lượng ước đạt 2.095 tấn, bằng 52,82% (giảm 1.871 tấn).Nhìn chung, kết quả sản xuất trồng trọt tính từ đầu năm đến nay đã đạt được những kết quả khá. Sản xuất vụ Xuân 2018 được mùa khá toàn diện. Bước vào sản xuất vụ Hè Thu do ảnh hưởng của bão số 3 đã làm giảm diện tích gieo trỉa một số loại cây trồng. Tuy nhiên, với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật, chuyển đổi mùa vụ, thay đổi bộ giống vào trong sản xuất trồng trọt nên năng suất các loại cây trồng tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc năng suất tăng đã làm cho sản lượng các loại cây trồng tăng. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 ước đạt 569.530 tấn, bằng 120,88% (tăng 98.366 tấn) so với năm 2017.- Sản xuất cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng được quan tâm thực hiện. Diện tích cây lâu năm chủ yếu tăng ở diện tích cây ăn quả, chè búp...Với lợi thế về đất đai, địa hình và các cơ chế chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện, nhiều hộ nông dân ở các địa phương như: Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc...đã mạnh dạn đầu tư phát triển trồng cây ăn quả và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước tính là 29.087 ha, bằng 103,6% (tăng 1.010 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tổng diện tích cây ăn quả ước tính là 16.074 ha, bằng 108,84% (tăng 1.305 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là cam, quýt và các loại cây ăn quả có múi với 10.414 ha, chiếm 64,79% tổng diện tích cây ăn quả, tăng 1.033 ha so với cùng kỳ. Diện tích cam tăng 628 ha, bưởi tăng 397 ha, chanh tăng 14 ha...Diện tích cam Hương Khê tăng 305 ha, Hương Sơn tăng 180 ha, Can Lộc tăng 94 ha, Vũ Quang tăng 89 ha...Còn diện tích bưởi tăng chủ yếu ở huyện Hương Khê với diện tích tăng 269 ha. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 62.307 tấn, bằng 103,98% (tăng 2.384 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cùng với phát triển mở rộng diện tích trồng cây ăn quả là việc đưa vào các loại giống có năng suất cao cho nên sản lượng cây ăn quả đã tăng hơn so với cùng kỳ. Sản lượng một số loại cây ăn quả tăng so với cùng kỳ năm trước như: Bưởi tăng 867 tấn, chuối tăng 396 tấn, cam tăng 284 tấn, mít tăng 284 tấn, nhãn tăng 201 tấn, thanh long tăng 125 tấn, chanh tăng 149 tấn...Diện tích cây cao su ước đạt 9.479 ha, bằng 95,33% (giảm 464 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cao su ước đạt 1.976 tấn, bằng 105,84% (tăng 109 tấn) so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè búp ước đạt 1.113 ha, bằng 116,54% (tăng 158 ha), với sản lượng chè búp ước đạt 6.933 tấn, bằng 115,53% (tăng 932 tấn) và diện tích chè xanh ước đạt 1.702 ha, bằng 96,7% (giảm 58 ha), với sản lượng chè xanh ước đạt 14.888 tấn, bằng 99,31% (giảm 104 tấn) so với cùng kỳ năm trước. - Tình hình sâu bệnh đối với cây trồng: Với sự vào cuộc tích cực của các cơ quan chuyên môn và sự chủ động của bà con nông dân trong công tác phòng, trừ sâu bệnh nên đã hạn chế mức thiệt hại thấp nhất do sâu bệnh gây ra đối với cây trồng. Vì vậy, tình hình sâu bệnh năm nay tuy có xẩy ra nhưng gây thiệt hại không đáng kể đối với sản xuất. sản xuất lúa vụ Xuân thì bệnh đạo ôn lá xuất hiện rải rác trên các giống lúa Xi23, NX30, P6, VTNA6 tại Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 15-20% với diện tích nhiễm bệnh là 2.054,8 ha, trong đó có 80,9 ha nhiễm nặng. Bệnh đạo ôn cổ bông gây hại trên giống TH3-3, KD18, VTNA2, Xi23, BT09 với diện tích nhiễm 32,7 ha. Bệnh khô vằn với tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh là 2.560 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Còn đối với lúa vụ Hè Thu sâu cuốn lá xuất hiện gây hại tại các địa phương Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Thạch Hà...với diện tích nhiễm 80,5 ha; bệnh khô vằn phát sinh gây hại rải rác trên toàn tỉnh với diện tích nhiễm bệnh là 546 ha. Trên các loại cây trồng khác như lạc, ngô cũng đã xuất hiện một số dịch bệnh như: Bệnh lỡ cổ rễ, bệnh đốm lá nhỏ, sâu đục thân, đục bắp... - Chăn nuôi: Dự ước số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 76.556 con, bằng 92,39% (giảm 6.310 con) với sản lượng xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.231 tấn, bằng 96,85% (giảm 105 tấn). Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 194.487 con, bằng 90,95% (giảm 19.349 con) với sản lượng xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 8.761 tấn, bằng 97,57% (giảm 218 tấn). Tổng đàn lợn ước tính hiện có 423.049 con, bằng 103,25% (tăng 13.316 con) với sản lượng lợn hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 58.560 tấn, bằng 102,19% (tăng 1.255 tấn). Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.197 ngàn con, bằng 101,06% (tăng 86 ngàn con) với sản lượng gia cầm 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 10.991 tấn, bằng 107,39% (tăng 756 tấn).Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong thời gian qua vẫn còn gặp khó khăn, thiếu sự ổn định. Mặc dù hoạt động chăn nuôi lợn trong thời gian qua có những chuyển biến tích cực hơn, giá thịt hơi tăng lên sau kỳ sụt giảm giá mạnh nên nhiều hộ chăn nuôi lợn đã tái đàn trở lại. Tuy nhiên, do việc dự báo về lượng cầu hàng hóa và đặc biệt là giá lợn hơi xuất chuồng rất hạn chế nên khi người chăn nuôi lợn tái đàn sẽ tiềm ẩn rất nhiều rũi ro. Bên cạnh đó, thiên tai lũ lụt, dịch bệnh cũng luôn có thể xẩy ra vào mùa mưa bão và sẽ gây thiệt hại lớn đối với người chăn nuôi. Các dự án chăn nuôi bò lớn trên địa bàn tỉnh cũng đều gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ, do giá cả thấp và nhiều yếu tố khác như ảnh hưởng môi trường...Trong đó có Dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà, đây là một dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi Hà Tĩnh tính đến thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, năm 2018 dự án này hoạt động cầm chừng không đạt được kết quả như mong đợi, việc xuất nhập bò không diễn ra thường xuyên với số lượng bò ngày càng giảm. Hiện dự án chỉ còn 1.140 con bò đang nuôi ở trại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, giảm 7.813 con so với cùng kỳ năm 2017.- Tình hình dịch bệnh: Mặc dù đã tăng cường công tác quản lý kiểm soát, kiểm tra vệ sinh thú y, phòng chống dịch cho vật nuôi. Tuy nhiên, trong 9 tháng đầu năm 2018 cũng đã xẩy ra dịch lỡ mồm long móng làm cho 215 con gia súc mắc bệnh (28 con trâu, 107 con bò và 80 con lợn), trong đó có 80 con lợn buộc phải tiêu hủy. Dịch xẩy ra ở các địa phương: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà và Lộc Hà.Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I/2018: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 133.758 liều, đạt 71,6% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 119.360 liều, đạt 64,6% kế hoạch; dịch tả lợn 133.565 liều, đạt 55,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 118.836 liều, đạt 49,2% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 103.496 liều, đạt 66,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 577.421 liều, đạt 20,1% kế hoạch. Hiện nay các địa phương đang tiến hành tiêm phòng đợt II/2018 với kết quả tính đến ngày 19/8/2018 đạt được như sau: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 6.150 liều, đạt 4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 5.200 liều, đạt 3,5% kế hoạch; dịch tả lợn 1.253 liều, đạt 1% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 1.263 liều, đạt 1% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 23.480 liều, đạt 1,5% kế hoạch.5.2. Lâm nghiệp - Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong 9 tháng đầu năm 2018, cùng với việc hưởng ứng Tết trồng cây nhân dịp Xuân Mậu Tuất nên toàn tỉnh dự ước trồng được 3.415 ha rừng tập trung, bằng 87,25%, giảm 499 ha và 2.795 ngàn cây phân tán, bằng 99,82%, giảm 5 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng trồng chủ yếu ở các địa phương: Huyện Kỳ Anh 1.819 ha, Hương Sơn 579 ha, Thạch Hà 385 ha, Hương Khê 221 ha, Cẩm Xuyên 180 ha,...Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng vẫn được duy trì thực hiện. Diện tích rừng được chăm sóc là 23.626 ha, bằng 97,31% (giảm 652 ha); diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 14.401 ha, bằng 94,8% (giảm 790 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 174.423 ha, bằng 95,75% (giảm 7.741 ha). Nguyên nhân diện tích rừng được giao khoán bảo vệ giảm do nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện giảm.- Khai thác gỗ và lâm sản: 9 tháng đầu năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 251 ngàn m3 gỗ, bằng 90,25% (giảm 27 ngàn m3) so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 466 ngàn Ste củi, bằng 85,97%, giảm 76 ngàn Ste so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Hương Sơn 55 ngàn m3, Cẩm Xuyên 36,4 ngàn m3, huyện Kỳ Anh 71,3 ngàn m3, Hương Khê 15,2 ngàn m3...Bên cạnh đó, một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt thấp như: Nghi Xuân, Đức Thọ, Lộc Hà ...- Thiệt hại rừng: Trong 9 tháng đầu năm 2018 đã xẩy ra 10 vụ cháy rừng, bằng 142,86% (tăng 3 vụ), diện tích bị cháy 53,79 ha thuộc rừng trồng, bằng 6,3 lần (tăng 43,3 ha), giá trị thiệt hại ước tính 1.836 triệu đồng, bằng 417,27% (tăng 1.396 triệu đồng) so với cùng kỳ năm 2017. Số vụ cháy rừng xẩy ra ở huyện Hương Sơn 3 vụ, Đức Thọ 2 vụ, Nghi Xuân 2 vụ, Vũ Quang 2 vụ, Cẩm Xuyên 1 vụ. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng đã tập trung cao độ, song do thời tiết nắng nóng cùng với sự thiếu cẩn trọng của người dân nên số vụ cháy rừng vẫn xẩy ra và tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. 5.3. Thủy sản9 tháng đầu năm 2018, diện tích xuống giống thả nuôi ước đạt 7.391 ha, bằng 105,89%, tăng 411 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ước đạt 2.073 ha, bằng 104,86%, tăng 96 ha; diện tích nuôi tôm sú ước đạt 628 ha, bằng 131,93%, tăng 152 ha. Diện tích nuôi trồng thủy sản thu hoạch 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 7.211 ha, bằng 97,56% tổng diện tích thả nuôi trong kỳ. Nguyên nhân tăng diện tích thả nuôi do năm nay điều kiện thời tiết không có rét đậm, rét hại nên các hộ nuôi trồng nước ngọt tập trung xuống giống thả nuôi trong quý I/2018, còn diện tích nước lợ và nước mặn được thả giống đại trà vào đầu quý II/2018 và thu hoạch trong quáy III/2018. Số lồng/bè nuôi trồng thuỷ sản ước tính hiện có 362 cái, bằng 93,3%, giảm 26 cái so với cùng kỳ năm 2017. Nguyên nhân giảm là do năm trước ảnh hưởng của thời tiết mưa bão nên một số lồng/bè bị cuốn trôi, hư hỏng và nuôi không hiệu quả nên nhiều hộ không đầu tư nuôi tiếp. Số lượng tàu, thuyền khai thác thủy sản biển có động cơ ước tính hiện có 4.091 chiếc, bằng 103,78% tăng 149 chiếc so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Tàu 90 CV trở lên là 399 chiếc, tăng 36 chiếc. Các huyện có số lượng tàu trên 90 CV tăng: Thạch Hà tăng 18 chiếc, Lộc Hà tăng 11 chiếc, Cẩm Xuyên tăng 6 chiếc, Thị xã Kỳ Anh tăng 4 chiếc…Những năm gần đây, năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn đang có bước phát triển. Thực hiện Nghị định 67 của Chính phủ và các chính sách hỗ trợ của địa phương, ngư dân Hà Tĩnh đã đầu tư, cải hoán hàng trăm tàu đánh bắt xa bờ có công suất lớn. Tuy nhiên, do hệ thống hạ tầng cảng cá trên địa bàn còn yếu kém cộng với những bất cập trong quy hoạch phát triển hệ thống cảng cá và khu neo đậu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động khai thác thủy hải sản của ngư dân.Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 35.213 tấn, bằng 104,98%, tăng 1.669 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước đạt 24.333 tấn, bằng 103,31%, tăng 780 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 10.880 tấn, bằng 108,9%, tăng 889 tấn so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng nuôi trồng tăng khá như: Lộc Hà tăng 214 tấn, chủ yếu sản phẩm nghêu ngao nuôi nước mặn; Thạch Hà tăng 158 tấn; Kỳ Anh tăng 139 tấn; Cẩm Xuyên tăng 98 tấn; Thị xã Kỳ Anh tăng 80 tấn…Nuôi trồng tôm năm nay được đánh giá khá thành công về năng suất, sản lượng. Tuy nhiên, giá tôm năm nay giảm mạnh so với những năm trước đã làm cho người nuôi thua lỗ. Mức giá tôm ở tất cả các loại kích cỡ đều giảm hơn 30% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, giá nguyên liệu để nuôi tôm tăng nên thua lỗ là điều không tránh khỏi. Giá tôm rẻ khiến nhiều hộ nuôi thu hoạch xong chưa tái đầu tư ao đầm để tiếp tục thả nuôi. 9 tháng đầu năm 2018, đã xuất hiện dịch bệnh tôm bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính tại các địa phương (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh) với diện tích bị nhiểm bệnh là 25,67 ha. Cùng với đó, trong tháng 4/2018 cũng đã xẩy ra hiện tượng cá, mực nuôi của các hộ kinh doanh hải sản chết hàng loạt ở Thị xã Kỳ Anh. Nguyên nhân được xác định là do ngạt khí bởi các nhà thầu đang thi công cầu cảng số 3,4 tại cảng Vũng Áng tạo nên một vòng cung khép kín khiến cho nước biển không được lưu thông làm cá thiếu ôxi dẫn đến chết ngạt. Dịch bệnh được phát hiện sớm, cùng với công tác phòng chống kịp thời nên các loại dịch bệnh đã được khống chế và giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất cho các hộ nuôi.6. Thương mại và dịch vụ6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 9/2018 đạt 3.159,32 tỷ đồng, tăng 2,35% so với tháng trước và tăng 20,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 171,86 tỷ đồng, giảm 25,85% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.987,47 tỷ đồng, tăng 24,92%. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa có xu hướng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tập thể, tăng 71,29%; tiếp đến là kinh tế tư nhân tăng 41,67%. Tính riêng quý III/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.259,24 tỷ đồng, tăng 10,04% so với quý trước và tăng 18,01% so với cùng kỳ năm trước.Qua bảng trên cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng đều qua các quý, trong đó quý III tăng mạnh nhất, cao hơn quý I là 4,35 điểm % và cao hơn quý II là 9,76 điểm %. Trong quý III, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 2,99 lần; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 43,23%; lương thực, thực phẩm tăng 18,59%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,65%.Tính chung 9 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 26.323,39 tỷ đồng, tăng 13,32% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.539,87 tỷ đồng, giảm 25,82%; ngoài Nhà nước ước đạt 24.772,05 tỷ đồng, tăng 17,11% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,47 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 10.109,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,4%, tăng 14,75% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 3.461,27 tỷ đồng, chiếm 13,15%, tăng 2,23% so với cùng kỳ; và nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 2.641,15 tỷ đồng, chiếm 10,03%, tăng 4,08%. Qua biểu đồ ta nhận thấy, do sự cố môi trường biển, 9 tháng đầu năm 2016 tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm; nhưng sang năm 2017, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong việc khắc phục sự cố, tổng mức bán lẻ đã có xu hướng tăng nhẹ và tăng khá vào năm 2018. Tổng mức bán lẻ 9 tháng năm 2018 tăng cao hơn mức tăng năm 2017 là 12,68 điểm % và năm 2016 là 14,37 điểm %. Điều đó chứng tỏ nhu cầu hàng tiêu dùng của người dân ngày càng lớn; đồng thời, phản ánh tiềm năng ngành bán lẻ ở Hà Tĩnh đang có nhiều tín hiệu khả quan, là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 9/2018 ước đạt 511,57 tỷ đồng, tăng 2,36% so tháng trước và tăng 18,26% so cùng kỳ năm trước. Tính riêng quý III/2018 ước đạt 1.531,05 đồng, tăng 13,21% so với cùng kỳ năm trước; tăng cao hơn quý I là 8,72 điểm % và quý II là 0,46 điểm %. Chung 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.664,72 tỷ đồng, tăng 10,96% so với cùng kỳ năm trước.Theo trên cho thấy, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống 9 tháng năm 2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 2 nhóm ngành dịch vụ: lưu trú tăng 12,87% và ăn uống tăng 10,84%. Do du lịch biển đã thu hút được nhiều khách trong và ngoài tỉnh tham quan nghỉ mát, kéo theo lượng khách đến thuê phòng nghỉ tăng; đồng thời, trong 9 tháng Hà Tĩnh đã tổ chức nhiều sự kiện nổi bật như: Giải Bóng chuyền nữ VTV Cup 2018, kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đồng Lộc nên thu hút được nhiều khách tham gia, từ đó làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng. - Hoạt động du lịch lữ hành: Doanh thu du lich lữ hành tháng 9/2018 ước đạt 1,75 tỷ đồng, giảm 0,45% so với tháng trước và tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Quý III ước đạt 5,42 tỷ đồng, tăng 13,02% so với quý trước và tăng 10,71% so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng quý I là 17,04 điểm % và quý II là 12,54 điểm %. Tính chung 9 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 13,78 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Điều này chứng tỏ, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng tăng, đặc biệt là khách ngoài tỉnh đến tham quan du lịch tại các điểm văn hóa tâm linh và du lịch biển tăng mạnh; cùng với việc kết nối các tour du lịch lữ hành trong và ngoài tỉnh, mở rộng thị trưởng khách du lịch quốc tế đến từ Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc … đã góp phần làm tăng doanh thu hoạt động du lịch lữ hành.- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 9/2018 ước đạt 110,09 tỷ đồng, tăng 2,75% so với tháng trước và tăng 4,13% so cùng kỳ năm 2017. Quý III ước đạt 322,87 tỷ đồng, tăng 6,74% so với quý trước và tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Chung 9 tháng ước đạt 919,82 tỷ đồng, tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 16,69%; dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 10,23%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 8,09%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác 9 tháng đầu năm 2018 vẫn tăng, nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ.6.2. Giao thông vận tải Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 9/2018 ước đạt 2,62 triệu tấn (tăng 0,57%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 68,99 triệu tấn.km (tăng 2,05%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 226,16 tỷ đồng, tăng 2,1%. Do các công trình xây dựng gấp rút hoàn thành trước mùa mưa bão, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 9/2018 ước đạt 1,95 triệu lượt hành khách (tăng 0,28%), với khối lượng luân chuyển là 354,87 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,89%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 155,24 tỷ đồng, tăng 1,12%. Với sự đầu tư của các nhà xe vào việc tăng số lượng xe, chất lượng xe, cũng như chất lượng dịch vụ phục vụ đã thu hút được nhiều người tham gia, nên làm cho kết quả vận tải hành khách tăng.Tách riêng từng quý, ta thấy có sự khác nhau giữa vận tải hàng hóa và vận tải hành khách.Theo bảng trên, chứng tỏ hoạt động vận tải hành khách vẫn ổn định và tăng dần qua các quý; còn vận tải hàng hóa chỉ đạt mức tăng khá ở quý I, sang quý II và quý III có xu hướng giảm dần, chủ yếu do nhóm ngành vận tải hàng hóa đường bộ giảm (quý III: vận chuyển giảm 4,54%; luân chuyển giảm 6,43% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 9 năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 17,45 triệu HK (tăng 8,96%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 3.075,67 triệu HK.km (tăng 11,79%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.333,8 tỷ đồng, tăng 12,65%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 23,82 triệu tấn (tăng 1,11%), với khối lượng luân chuyển là 593,79 triệu tấn.km (tăng 0,02%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.008,06 tỷ đồng, tăng 4,14%. Nhìn chung, hoạt động vận tải trên địa bàn trong 9 tháng qua vẫn ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân.7. Chỉ số giá tiêu dùngThị trường tháng 9 năm 2018 CPI tiếp tục tăng giá. Mặc dù giá lương thực, điện, nước sinh hoạt giảm; nhưng do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng cao hơn so tháng trước, tác động đến chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển các loại mặt hàng khác, khiến hàng hoá có xu hướng tăng hơn so những tháng trước.CPI tháng 9 năm 2018, tăng 0,28% so tháng trước, tăng 3,58% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,64% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,31%; nông thôn tăng 0,26%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: Có 7 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,93% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 5,38%, tăng 4,24% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,54%, tăng 0,04% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,57% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,92%, tăng 0,75% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 0,74% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 8,37%, tăng 6,45% so với tháng 12 năm trước; Bưu chính viễn thông tăng 0,04% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước giảm 0,77%, giảm 0,88% so với tháng 12 năm trước; Giáo dục tăng 0,1% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,45%, tăng 0,45% so với tháng 12 năm trước; Đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,01% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 4,74%, tăng 4,06% so với tháng 12 năm trước.Có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm đó là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,48% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,57%, tăng 1,45% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,11% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,39%, giảm 1,74% so với tháng 12 năm trước.Có 2 nhóm gồm: Đồ uống và thuốc là; Thuốc và dịch vụ y tế ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 8/2018 có sự biến động so tháng trước chủ yếu là: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm cả rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhiên liệu xăng dầu điều chỉnh tăng mạnh so với tháng trước; (3) Giá các mặt hàng thép xây dựng giảm và (4) Giá điện, nước sinh hoạt giảm do giảm khối lượng tiêu dùngChỉ số giá vàng giảm 1,15% so tháng trước, giảm 3,27% so cùng kỳ năm trước, giảm 2,17% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng tiếp tục giảm so tháng trước, mức giá hiện tại thời điểm ngày 21/9/2018 ở mức 3.470 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Đây là lần đầu tiên trong vòng 1 năm qua giá vàng xuống dưới mốc 3.500 ngàn đồng/chỉ. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.508 ngàn đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,46% so tháng trước, tăng 2,54% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,4% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/8/2018 mức giá bán ra 2.325 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2018 tăng 3,91% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,77%; nông thôn tăng 4,01%. Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2018, chỉ số giá bình quân tăng khá so với cùng kỳ năm trước và có khả năng vượt ngưỡng kế hoạch năm. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm diễn biến phức tạp, có biến động lớn. Cùng với giá một số mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, điện nước đều tăng. Bên cạnh đó, xu hướng hiện tại từ nay đến cuối năm ít mặt hàng có khả năng giảm giá mạnh, gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình giá cả tiêu dùng hiện nay.Dự kiến CPI tháng 10/2018 tiếp tục tăng. Nguyên nhân do giá thịt chưa có dấu hiệu giảm, trong khi một số mặt hàng như gạo, thực phẩm, rau củ quả, đồ dùng gia đình, hàng may mặc khả năng tiếp tục tăng giá.8. Các vấn đề xã hội8.1. Tình hình đời sống dân cư Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2018 có cải thiện hơn so với cùng kỳ, không xẩy ra thiếu đói. Hiện nay bà con nông dân đã thu hoạch lúa vụ Hè Thu năm 2018 nên lượng lương thực trong dân dồi dào. Cùng với sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói không xảy ra. 8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ngày 02/5/2018 về phân bổ kế hoạch vốn từ ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018 với tổng số vốn phân bổ là 58,7 tỷ đồng. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.- Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai kịp thờ. Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 58.891 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, 85.066 thẻ bảo hiểm cho hộ cận nghèo, 108.069 thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và 57.547 thẻ bảo hiểm cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 319.587 suất quà với tổng kinh phí 72,606 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong dịp Tết UBND tỉnh đã cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ cho 5.740 hộ với 10.672 nhân khẩu để đảm bảo cho người dân không thiếu đói trong dịp Tết. Trao 86 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 385 triệu đồng; xây mới 161 nhà tình nghĩa, trị giá 7.295 triệu đồng và sữa chữa 53 nhà với tổng giá trị là 917 triệu đồng.Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; trang trọng tổ chức an táng 12 hài cốt các liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Nầm vào sáng ngày 8/5/2018; kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, Hà Tĩnh có 83 liệt sĩ được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến nay, toàn tỉnh đã tìm kiếm, quy tập được 914 hài cốt liệt sỹ.8.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làmNăm 2018, Hà Tĩnh tiếp tục ưu tiên thực hiện đào tạo nghề cho các đối tượng lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo; Đề án “Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường trên địa bàn Hà Tĩnh”. 9 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã đào tạo được 4.228 người (cao đẳng nghề 137 người, trung cấp nghề 850 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới ba tháng 3.241 người). Giải quyết việc làm cho 16.129 người. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 7.027 người; xuất khẩu lao động 5.915 người; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.187 người. 8.4. Hoạt động giáo dục đào tạo- Giáo dục phổ thông: Phát huy kết quả đã đạt được trong năm học 2017-2018, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh bước vào năm học mới 2018 - 2019 với tinh thần nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ vững vị trí là một trong những tỉnh thuộc tốp dẫn đầu của cả nước về chất lượng giáo dục mũi nhọn. Với số lượng trường đạt chuẩn quốc gia là 535 trường, đạt tỷ lệ 73,33%, trong đó: Mầm non 169 trường, đạt tỷ lệ 61,8% (mức 1 là 140 trường, mức 2 là 29 trường); Tiểu học 214 trường, đạt tỷ lệ 82,9% (mức 1 là 91 trường, mức 2 là 123 trường); THCS 120 trường, đạt tỷ lệ 79,5%; THPT 32 trường, đạt tỷ lệ 71,1%.Năm học 2018 - 2019 toàn tỉnh có: 727 trường (gồm 273 trường mầm non, 258 trường tiểu học, 151 trường THCS và 45 trường THPT) với 10.385 lớp (mẫu giáo 2.896 lớp, tiểu học 3.875 lớp, THCS 2.406 lớp, THPT 1.208 lớp), 18.231 giáo viên (mầm non 5.302 người, tiểu học 5.153 người, THCS 4.860 người, THPT 2.916 người) và 318.279 học sinh (nhà trẻ 10.379 em, mẫu giáo 75.070 em, tiểu học 112.084 em, THCS 76.170 em và THPT 44.576 em). Với cơ sở vật chất trường lớp ngày càng được đầu tư xây dựng hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt yêu cầu học tập của các cấp học.Đầu năm học 2018-2019, thành lập và cấp phép hoạt động mới 04 trường tư thục gồm: 02 trường mầm non, 01 trường tiểu học và 01 trường THPT; đồng thời, sát nhập 04 trường tiểu học thành 02 trường, 04 trường mầm non thành 02 trường. Ngoài ra, có 01 Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và GDTX tỉnh; 11 Trung tâm GDNN&GDTX cấp huyện; 34 Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học, 35 Trung tâm Tư vấn du học; 262 Trung tâm học tập cộng đồng ở 262 xã, phường, thị trấn.Kết quả tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2018-2019, toàn tỉnh có 15.502 học sinh trúng tuyển với 445 lớp, đạt tỷ lệ 84,2% so với số học sinh tốt nghiệp THCS, trong đó: có 15.152 học sinh, với 435 lớp không chuyên; 350 học sinh, với 10 lớp trúng tuyển vào trường THPT Chuyên. Tuyển sinh hệ bổ túc THPT co 1.419 học sinh với 33 lớp.- Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2018 - 2019 là 3.590 chỉ tiêu (so với năm học 2017 - 2018 tăng 96,71%), trong đó: Trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.250 chỉ tiêu, giảm 11,35% (hệ đại học 1.200 chỉ tiêu, cao đẳng 50 chỉ tiêu); các trường cao đẳng chỉ tuyên sinh hệ cao đẳng, với chỉ tiêu tuyển sinh là 2.340 chỉ tiêu, tăng 4,64 lần (hệ cao đẳng 1.150 chỉ tiêu, trung cấp 690 chỉ tiêu, sơ cấp 500 chỉ tiêu). Ngoài nhiệm vụ đào tạo hệ chính quy các trường còn liên kết đào tạo hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm, dạy nghề và bồi dưỡng nghiệp vụ như: trường Đại học Hà Tĩnh đào tạo hệ liên thông chính quy, văn bằng 2 là 185 chỉ tiêu; hệ vừa làm vừa học, liên thông vừa làm vừa học 530 chỉ tiêu. 8.5. Hoạt động Y tế9 tháng đầu năm 2018, ngành Y tế Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh như: Cải tiến công tác đón tiếp người bệnh, giảm quá tải bệnh viện; chú trọng công tác đào tạo chuyên môn; phát triển chuyên môn kỹ thuật; phát triển chữa bệnh bằng y học cổ truyền; đầu tư trang thiết bị; nâng cao y đức... Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.- Tình hình dịch bệnh: 9 tháng đầu năm 2018, công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Các cơ sở khám chữa bệnh cũng đã chuẩn bị các phương án ứng phó với các bệnh dịch. Bệnh viện đã sẵn sàng cấp cứu và điều trị bệnh nhân; kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện; phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thông tin, báo cáo ca bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định. Mặt khác, bệnh viện luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới về chuyên môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết; chỉ đạo các bệnh viện huyện chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết; tổ chức tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các cơ sở thực hiện...Toàn tỉnh, 9 tháng đầu năm 2018 đã xảy ra 11 trường hợp mắc sốt xuất huyết, tay chân miệng 09 trường hợp, sốt rét 143 trường hợp, thủy đậu 119 trường hợp và sốt phát ban/sởi 01 trường hợp. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng-chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn; tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi hành vi, nhằm giảm sự mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. 9 tháng đầu năm 2018, Hà Tĩnh có 49 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 09 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 44 trường hợp chuyển thành AIDS và có 03 trường hợp nào chết vì AIDS. - Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, Sở Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong tiêu dùng thực phẩm; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm, đặc biệt khuyến khích xử phạt nặng các trường hợp vi phạm, đủ sức răn đe để không còn tái phạm. Ngoài ra, trong dịp tết Trung Thu năm 2018, Hà Tĩnh cũng đã thành lập 276 đoàn thanh kiểm tra ATTP, trong đó tuyến tỉnh 1 đoàn, tuyến huyện 13 đoàn và tuyến xã 262 đoàn, nhằm hạn chế hàng nhái, hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.9 tháng năm 2018, xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể ở huyện Lộc Hà và huyện Cẩm Xuyên (tăng 03 vụ so với cùng kỳ năm ngoái) làm 24 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. Ngoài ra, có 1.080 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 34,66% so với cùng kỳ năm ngoái) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.8.6. Hoạt động văn hóa - thể thao- Hoạt động văn hóa: Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo thay đổi nội dung tuyên truyền ở các cụm panô, áp phích tấm lớn trên địa bàn, hướng dẫn cơ sở tổ chức sinh hoạt CLB văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao cũng như treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, như: Chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng Xuân Mậu Tuất; chương trình nghệ thuật khai hội chùa hương; tổ chức Hội báo xuân; Đại lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh; triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018” tại khu di tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân; tổ chức Lễ đón bằng chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "lễ hội đền Chiêu Trưng"; tổ chức khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực IV - Bắc miền Trung lần thứ 23 năm 2018; tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2018 lần thứ 4 liên tỉnh Hà Tĩnh - Nghệ An.Với sự kiện "Hoàng Hoa sứ trình đồ" là tư liệu quý hiếm về hành trình đi sứ thế kỷ XVIII được lưu giữ cẩn thận chính trong dòng họ Nguyễn Huy của vị sứ thần Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) ở làng Trường Lưu nay thuộc xã Trường Lộc, huyện can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh được Hội nghị MOWCAP lần thứ 8 tại Hàn Quốc nhất trí ghi danh hồ sơ vào danh sách các di sản tư liệu của Chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã thêm một lần nữa vinh danh những giá trị văn hóa của Việt Nam, của Hà Tĩnh lên tầm quốc tế. Cũng trong thời gian này, vào dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc, tại Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh đã tổ chức đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, cán bộ, người dân tử nạn tại Ngã ba Đồng Lộc vào tối 14/7/2018; và tổ chức chương trình nghệ thuật “Đồng Lộc-bài ca bất tử” vào tối 21/7/2018. Đây là hoạt động ý nghĩa, thể hiện sự tri ân sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Hà Tĩnh đối với những cống hiến to lớn, sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sỹ đối với sự nghiệp cách mạng, bảo vệ Tổ quốc. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. 9 tháng đầu năm 2018, đã nhắc nhở 34 cơ sở, đình chỉ 15 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh; Đại hội TDTT lần thứ VIII; giải bóng rổ thiếu niên nhi đồng lần thứ V; Giải đua thuyền toàn tỉnh năm 2018; các giải thể thao bóng đá mi ni, bóng chuyền hơi nữ do các Khối thi đua thuộc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổ chức nhân dịp chào mừng 73 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9Bên cạnh đó, từ ngày 04/8/2018 đến ngày 11/8/2018, tại Hà Tĩnh diễn ra Giải bóng chuyền nữ quốc tế VTV Cup 2018, với sự tham gia của 8 đội gồm: CLB Altay (Kazakhstan), Đại học Hokkaido (Nhật Bản), Đội tuyển Việt Nam, CLB Vân Nam (Trung Quốc, đội tuyển trẻ Việt Nam, CLB Tứ Xuyên (Trung Quốc), CHDCND Triều Tiên, Đại học Đài Bắc - Trung Hoa. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Giải bóng chuyền quốc tế VTV Cup 2018, góp phần làm nên một giải đấu quy mô, hấp dẫn và để lại ấn tượng về một Hà Tĩnh yên bình, thân thiện, mến kháchThể thao thành tích cao: 9 tháng đầu năm 2018, đoàn Hà Tĩnh dành được 34 huy chương các loại, bao gồm: 19 HCV, 10 HCB và 5 HCĐ.8.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hộiĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự ATGT; tập trung đảm bảo ATGT mùa mưa bão; tăng cường công tác tuần tra, thanh tra, kiểm soát xử lý vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang an toàn giao thông, quản lý Nhà nước về vận tải; tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông đường sắt; tiếp tục tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ATGT.Tính từ ngày 16/8/2018 đến ngày 15/9/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 13 người, bị thương 7 người, thiệt hại tài sản 50 triệu đồng. So với tháng trước tăng 03 vụ, tăng 03 người chết, tăng 03 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ, tăng 02 người chết và giảm 04 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/9/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 99 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 98 người, bị thương 48 người, ước tính thiệt hại tài sản 700 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 01 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, tăng 05 người chết và giảm 09 người bị thương.8.8. Môi trường- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ cháy (giảm 1 vụ cháy so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 75 triệu đồng, trong đó: 3 vụ cháy nhà, 1 vụ cháy chứa rơm, 1 vụ cháy rừng và 4 vụ cháy khác. Tính chung 9 tháng, trên địa bàn xảy ra 68 vụ cháy, nổ (trong đó có 66 vụ cháy và 02 vụ nổ), làm 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,11 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 22 vụ cháy, nổ (tăng 23 vụ cháy, giảm 01 vụ nổ) và tăng 6 người bị thương.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. 9 tháng năm 2018, đã phát hiện và xử lý 34 cơ sở vi phạm môi trường với số tiền 593 triệu đồng, trong đó có 01 vụ do Công ty CP Xây dựng Tiến Đạt nuôi tôm ở xã Thịnh Lộc-huyện Lộc Hà xả thải ra môi trường không thông qua hệ thống xử lý, bị xử phạt 435 triệu đồng.9. Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2018Mặc dù kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2018 đạt và vượt kế hoạch đặt ra thì chúng ta không được chủ quan mà cần phải chú trọng thực hiện quyết liệt các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như có bước đột phá, đó là: 9.1. Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra cho cả năm 2018, với kết quả đã đạt được 9 tháng đầu năm phải tiếp tục xem xét đánh giá một cách cụ thể, khách quan đối với từng nội dung, từng ngành, từng lĩnh vực để từ đó có những giải pháp thực hiện có hiệu quả và sát đúng với tình hình thực tế của địa phương, nhất là đối với những nội dung, lĩnh vực còn nhiều hạn chế.9.2. Tiếp tục tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Đẩy nhanh tiến độ sớm hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, xây dựng quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển. 9.3. Tiếp tục tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Quan tâm, tạo điều kiện và đồng hành cùng chủ đầu tư để sớm đưa các dự án lớn trên địa bàn và triển khai thực hiện và hoạt động sản xuất (Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II; hoạt động của lò cao số 2 dự án Fomosa…). Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.9.4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Nhận định tốt tình hình để tập trung chỉ đạo có hiệu quả hoạt động sản xuất cây trồng vụ Đông Xuân và hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới, tránh thiệt hại cho người người nông dân do những yếu tố chủ quan. 9.5. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu 2018 vẫn diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà đã đạt được kết quả khá tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2018./.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI tỉnh Hà Tĩnh Tháng 8 và 8 tháng năm 2018
- 19/07/2024 10:29
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 8 và 8 tháng năm 20181. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 8/2018 chủ yếu vẫn tập trung chăm sóc cây trồng vụ Hè Thu và gieo cấy lúa vụ Mùa. Diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2018 giảm cả so với kế hoạch cũng như so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2018 ước đạt 42.725 ha, bằng 96,29% (giảm 1.644 ha) so với kế hoạch và bằng 95,99% (giảm 1.785 ha) so với vụ Hè Thu năm 2017. Các huyện có diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Hương Sơn giảm 728 ha, Đức Thọ giảm 575 ha, Can Lộc giảm 311 ha, Hương Khê giảm 155 ha...Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa Hè Thu giảm do ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây mưa lớn, ngập lụt trên địa bàn làm cho một số diện tích lúa gieo cấy đang thời kỳ phát triển bị ngập úng hư hỏng, một số diện tích tuy được khôi phục sau lũ lụt nhưng phát triển kém. Bên cạnh đó, thì một số địa phương đã tập trung chỉ đạo quyết liệt với phương châm không để diện tích đất bỏ hoang, nguồn nước tưới cung cấp đủ cho bà con sản xuất nên có diện tích lúa tăng so với cùng kỳ như: Thạch Hà tăng 106 ha, huyện Kỳ Anh tăng 28 ha, Thị xã Hồng Lĩnh tăng 24 ha...Năng suất lúa Hè Thu năm 2018 ước đạt 46,4 tạ/ha, bằng 103,37% (tăng 1,51 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất lúa dự ước tăng nhưng do diện tích giảm nên sản lượng lúa vụ Hè Thu ước đạt 198.238 tấn, bằng 99,23% (giảm 1.542 tấn). Hiện nay cây lúa đang trong thời kỳ trổ bông và làm hạt nhưng với diễn biến phức tạp của thời tiết và sâu bệnh thì kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2018 vẫn đang tiềm ẩn nhiều rủi ro.Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh chỉ còn có hai huyện là Nghi Xuân và Lộc Hà sản xuất lúa vụ Mùa. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa dự ước đạt 250 ha, bằng 31,65% (giảm 540 ha) và bằng 35,92% (giảm 446 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do hiệu quả sản xuất lúa mùa không cao, nên một số vùng người dân chuyển đổi sang gieo cấy lúa vụ Hè Thu. Diện tích gieo trồng cây hàng năm khác vụ Thu Mùa ước đạt 8.918 ha, bằng 52,99% giảm 7.910 ha so với cùng kỳ năm trước, một số huyện giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 2.170 ha, Đức Thọ giảm 1.070 ha, Nghi Xuân giảm 868 ha, Vũ Quang giảm 513 ha...Nguyên nhân diện tích giảm là do ảnh hưởng của bão số 3 gây mưa lũ làm cây trồng ngập lụt nhiều ngày nên bị hư hỏng nặng.Từ đầu tháng 8 đến nay hình thái thời tiết mưa nắng đan xen tạo điều kiện thuận lợi cho lúa Hè Thu trổ bông, phơi màu nhưng đồng thời cũng là yếu tố thuận lợi cho các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại. Tính đến ngày 10/8/2018, trên địa bàn toàn tỉnh đã xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại, cụ thể như sau: Sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại với mật độ trung bình 7-10 con/m2, nơi cao 10-15 con/m2, cục bộ 100-150 con/m2, tuổi sâu phổ biến từ tuổi 2 đến tuổi 3 và tuổi 4, diện tích nhiễm bệnh là 152 ha, tập trung chủ yếu ở Đức Thọ và Thạch Hà. Rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện với mật độ trung bình 200-300 con/m2, nơi cao 2.000-2.500 con/m2, tuổi rầy phổ biến tuổi 5, trưởng thành và có sự xen gối lứa, diện tích nhiễm bệnh là 175 ha (Cẩm Xuyên 85 ha, Can Lộc 45,5 ha, Thạch Hà 30 ha, huyện Kỳ Anh 5 ha, Đức Thọ 4 ha, Thị xã Hồng Lĩnh 4 ha...Bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên địa bàn toàn tỉnh ở những chân ruộng gieo cấy giày, bón thừa đạm với tỷ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 15-25%, diện tích 1.357 ha. Bệnh lùn sọc đen Phương Nam cũng đã xuất hiện rải rác ở các xã Cẩm Lạc, Cẩm Hưng (huyện Cẩm xuyên), đến thời điểm này bệnh thể hiện rõ rệt triệu chứng là cây thấp lùn và không trổ thoát bông. Bệnh đốm nâu phát sinh gây hại trên những diện tích nghèo dinh dưỡng, vùng đất cát ven biển, ven núi ở Can Lộc, Đức Thọ, Hồng Lĩnh...Với tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-30%, diện tích nhiểm bệnh là 114,5 ha. Bệnh bạc lá gây hại trên giống BT7, BT09 với diện tích 7,5 ha ở Đức Thọ. Cào cào xuất hiện với mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2, diện tích bị gây hại là 55 ha. Chuột gây hại trên diện tích 386 ha với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%. Trên cây đậu xanh ở huyện Vũ Quang thì bệnh lở cổ rễ gây hại trên diện tích 20 ha với tỷ lệ 1-3%. Bệnh đốm lá lớn, đốm lá nhỏ, sâu đục thân cũng đã xuất hiện gây hại rãi rác trên cây ngô. Hiện nay, các cấp, các ngành và bà con nông dân đang tích cực chủ động theo dõi và phòng trừ sâu bệnh gây hại nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu.- Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trong tháng 8 năm 2018 vẫn đang có những dấu hiệu chuyển biến tích cực, tổng đàn ổn định hơn so với tháng trước, trong đó đàn lợn đang tiếp tục phát triển. Dự ước tổng đàn trâu hiện có 76.263 con, bằng 92,15% (giảm 6.494 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước tính hiện có 195.385 con, bằng 89,9% (giảm 21.942 con) so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn ước tính hiện có 424.956 con, bằng 103,29% (tăng 13.551 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.122 ngàn con, bằng 105,15% (tăng 398 ngàn con) so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh thì từ ngày 16/7/2018 đến ngày 15/8/2018, trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra dịch bệnh đối với đàn vật nuôi. 1.2. Lâm nghiệpDiện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng 8/2018 ước đạt 159 ha ở các huyện: Thạch Hà 70 ha, Hương Khê 35 ha, Thị xã Kỳ Anh 22 ha, Can Lộc 20 ha và huyện Kỳ Anh 12 ha. Sản lượng gỗ và lâm sản khai thác ước đạt 32.817 m3 gỗ, bằng 232,1% (tăng 18.678 m3) và 38.408 Ste củi, bằng 113,2% (tăng 4.488 Ste củi) so với cùng kỳ năm trước.Trong tháng 8/2018 đã xảy ra 1 vụ cháy rừng ở xã Sơn Diệm, huyện Hương Sơn với diện tích rừng bị cháy là 0,9 ha.1.3. Thuỷ sảnDiện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh thả nuôi mới trong tháng 8/2018 ước đạt 216 ha, bằng 102,86% (tăng 6 ha) so với cùng kỳ năm trước, diện tích thả nuôi chủ yếu là tôm thẻ chân trắng với 147 ha, chiếm 68,06% tổng diện tích thả nuôi. Tính chung 8 tháng đầu năm 2017, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 7.062 ha, bằng 106,85% (tăng 453 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ước đạt 1.722 ha, tăng 47 ha so với cùng kỳ. Sản lượng thủy, hải sản nuôi trồng và đánh bắt tháng 8/2018 ước đạt 4.756 tấn, bằng 110,23% (tăng 441 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng nuôi trồng thu hoạch trong tháng ước đạt 1.724 tấn, bằng 110,16% (tăng 159 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Vụ tôm Xuân Hè năm nay được mùa nên sản lượng nuôi trồng trong tháng chủ yếu là tôm thẻ chân trắng ước đạt 627 tấn, chiếm 36,37% tổng sản lượng nuôi trồng và tăng 118 tấn so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác trong tháng ước đạt 3.032 tấn, bằng 110,26% (tăng 282 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, tổng sản lượng thủy, hải sản nuôi trồng và đánh bắt ước đạt 28.790 tấn, bằng 108,85% (tăng 2.341 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Những năm qua, Hà Tĩnh đã đánh thức và khơi dậy tiềm năng nhiều vùng nuôi tôm thâm canh, công nghệ cao trên cát...mang lại giá trị kinh tế cao trên đơn vị diện tích, đưa con tôm trở thành sản phẩm hàng hóa chủ lực của tỉnh. Nhiều mô hình nuôi tôm ở Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Kỳ Anh...được đầu tư bài bản, quy mô lớn đã mang hiệu quả kinh tế cao. Hiện, toàn tỉnh có 805 ha nuôi tôm thâm canh, công nghệ cao trên cát; đặc biệt, đã hình thành được 6 vùng nuôi tôm VietGap với quy mô 150 ha, 14 mô hình nuôi an toàn sinh học, đây chính là cơ sử để phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững.2. Sản xuất công nghiệpƯớc tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 năm 2018 tăng 3,41% so với tháng trước và tăng 46,68% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số sản xuất công nghiệp khai khoáng tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 62,39% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 14,47% so với tháng trước và giảm 5,46% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,31% so với tháng trước và tăng 15,54% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, kể từ đầu năm đến nay thì ngoài 3 tháng có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với tháng trước (tháng 1, tháng 2 và tháng 4) thì đây là tháng có chỉ tăng thấp nhất so với tháng trước. Nguyên nhân chính làm cho chỉ số phát triển sản xuất tháng này tăng thấp so với tháng trước là do Tổ máy số 1 và số 2 Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I ngừng hoạt động một số ngày để bảo dưỡng định kỳ đã làm cho chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 14,47% so với tháng trước.Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 121,44% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong vòng 6 năm nay (8 tháng năm 2013 tăng 12,36%, năm 2014 tăng 16,51%, năm 2015 tăng 39,07%, năm 2016 tăng 20,87% và năm 2017 tăng 41,02%). Bên cạnh các ngành công nghiệp vẫn duy trì sản xuất và có mức tăng trưởng ổn định thì việc nhà máy gang thép Fomosa Hà Tĩnh đi vào hoạt động sản xuất đã tạo bước tăng trưởng vượt bậc đối với hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Chỉ số sản xuất than cốc tăng 116,39% so với cùng kỳ; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 158,1% so với cùng kỳ; sản xuất kim loại tăng 320,66% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 37,16% so với cùng kỳ, đây chính là yếu tố làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm 2018 tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Sự ổn định sản xuất của Nhà máy gang thép Fomosa Hà Tĩnh sẽ là yếu tố để sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục phát triển cao hơn trong thời gian tới.Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 8 tháng năm 2018 tăng 302,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất sắt, thép, gang tăng 4,7 lần; sản xuất than cốc tăng 58,7%; in ấn tăng 40,79%; sản xuất giường tủ, bàn, ghế tăng 27,85%...Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 66,44%; sản xuất hóa chất giảm 57,99%; sản xuất trang phục giảm 30,57%; sản xuất sợi giảm 15,67%...Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đến cuối tháng 8/2018 ước tính tăng 47,57% so với tháng trước và tăng 128,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 47,02%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 21,14%; sản xuất hóa chất giảm 15,87%... Bên cạnh đó thì một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất than cốc; sản xuất sợi; sản xuất kim loại…3. Thực hiện vốn đầu tưThực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2018 ước đạt 340,35 tỷ đồng, tăng 2,88% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.166,73 tỷ đồng, tăng 18,15% so với cùng kỳ năm trước, đạt 65,83% kế hoạch cả năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.247,77 tỷ đồng, tăng 5,14% so với cùng kỳ năm trước, đạt 54% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 456,81 tỷ đồng, tăng 85,13% so với cùng kỳ năm trước, đạt 82,45% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 462,15 tỷ đồng, tăng 15,44% so với cùng kỳ năm trước, đạt 108,31% kế hoạch. Như vậy, cả ba dòng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã đều tăng so với cùng kỳ năm trước đã làm cho tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tăng so với cùng kỳ. Mặc dù thu ngân sách trên địa bàn cũng đang khó khăn, nhưng với các giải pháp điều hành linh hoạt, hợp lý nên vẫn đảm bảo đủ nguồn vốn cho chi đầu tư phát triển. Việc điều hành quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản được chú trọng. Trên cơ sở kế hoạch vốn được giao, đã đảm bảo kịp thời nguồn vốn để giải ngân, đẩy nhanh tiến độ các dự án. Bên cạnh đó, do thị trường bất động sản đang phục hồi, nguồn thu từ quỹ đất tăng và đã được dùng để tái đầu tư phát triển.4. Thương mại, dịch vụ và giá cả4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 8/2018 đạt 3.131,26 tỷ đồng, tăng 3,92% so với tháng trước và tăng 19,69% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với tháng trước và tăng chủ yếu ở khu vực ngoài Nhà nước. Do giá lương thực, thực phẩm tăng, cùng với giá xăng dầu tăng dẫn đến chi phí vận chuyển tăng làm cho doanh thu các mặt hàng này tăng; bên cạnh đó, chuẩn bị bước vào năm học mới nên nhu cầu về hàng may mặc, phương tiện đi lại (xe đạp điện, xe máy điện), văn phòng phẩm, sách báo, bút vở đều tăng. Cùng với đó, thời tiết thuận lợi cho việc hoàn thiện công trình nên nhu cầu về vật liệu xây dựng (chủ yếu là xi măng, cát sỏ, gạch ngói) tăng...Tất cả các yếu tố trên đã làm cho doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng.So với cùng kỳ năm trước, hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng chủ yếu ở khu kinh tế tập thể, tăng 115,64% và kinh tế tư nhân tăng 39,69%. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 2,67 lần; phương tiện đi lại tăng 67,77%; lương thực, thực phẩm ước tăng 18,86%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 13,83%. Trong các nhóm hàng, chỉ có nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 0,29% và nhóm đá quý, kim loại quý giảm 6,9%.Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 23.208,69 tỷ đồng, tăng 12,63% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.357,37 tỷ đồng, giảm 26,39%; ngoài Nhà nước ước đạt 21.839,85 tỷ đồng, tăng 16,41% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,47 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất là 38,48% và tăng 14,09% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 13,28% và tăng 2,77%; nhóm xăng, dầu các loại chiếm 9,88% và tăng 2,98%. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2018 ước đạt 510,54 tỷ đồng, giảm 2,13% so với tháng trước và tăng 13,24% so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 19,1%; ăn uống tăng 12,9%; du lịch lữ hành tăng 9,3%. Trong tháng trên địa bàn tỉnh diễn ra Giải Bóng chuyền nữ VTV Cup 2018 nên thu hút lượng khách lớn đến cổ vũ kết hợp với tham quan, từ đó làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.Tính chung 8 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.174,2 tỷ đồng, tăng 10,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 60,88 tỷ đồng, tăng 25,35%; ngoài Nhà nước ước đạt 3.104,73 tỷ đồng, tăng 10,05% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 8,6 tỷ đồng, giảm 15,51% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 8/2018 ước đạt 107,96 tỷ đồng, tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 8/2018 vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 14,11%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 12,09%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 8,98%; kinh doanh bất động sản tăng 8,95%. Chỉ có nhóm ngành dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 2,43%.Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 810,68 tỷ đồng, tăng 6,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 66,87 tỷ đồng, tăng 64,21%; ngoài Nhà nước ước đạt 739,35 tỷ đồng, tăng 3,19% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 4,45 tỷ đồng, giảm 18,22% so với cùng kỳ năm trước.4.2. Hoạt động vận tảiVận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 8/2018 ước đạt 2,55 triệu tấn, tăng 0,04% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 63,66 triệu tấn.km, tăng 0,72%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 220,76 tỷ đồng, tăng 0,84%. Hoạt động vận tải hàng hoá chủ yếu tăng ở thành phần kinh tế cá thể, với việc sử dụng các phương tiện trọng tải nhẹ, đã đáp ứng được nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng của người dân tăng cả về số lượng và doanh thu, nên làm cho vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước. Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 8/2018 ước đạt 1,94 triệu lượt hành khách, tăng 0,49% so với tháng trước, với khối lượng luân chuyển là 352,76 triệu lượt hành khách.km, tăng 1,12%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 154,38 tỷ đồng, tăng 1,41%. Do nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải công cộng của người dân tăng; cùng với nhu cầu tham quan tăng, dẫn đến việc khách du lịch tham gia phương tiện vận tải, thuê xe du lịch tăng nên đã làm cho vận tải hành khách tăng.Tính chung 8 tháng đầu năm 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 21,15 triệu tấn, tăng 1,66% so với cùng kỳ năm trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 520,85 triệu tấn.km, tăng 0,2%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 1.781,14 tỷ đồng, tăng 4,8%. Còn số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 15,5 triệu lượt hành khách, tăng 8,53% với khối lượng luân chuyển là 2.721,82 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,07%; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.179,42 tỷ đồng, tăng 12,06% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải trên địa bàn trong 8 tháng qua vẫn ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân.4.3. Chỉ số giá tiêu dùngKhác với tình hình giảm trong tháng 7, sang tháng 8 năm 2018 một loạt mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, rau củ quả, xăng dầu, điện, nước sinh hoạt có xu hướng tăng giá. Việc giá cả hàng hoá tăng đã ảnh hưởng đến sản xuất cũng như mức sống dân cư.CPI tháng 8 năm 2018, tăng 0,33% so tháng trước, tăng 4,61% so với tháng 8/2017năm trước và tăng 2,36% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,34%; nông thôn tăng 0,33%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: Có 7 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,84%, tăng 3,28% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,94% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,84%, giảm 0,09% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,06% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,93%, tăng 1,94% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,20%, tăng 0,18% so với tháng 12 năm trước; Giáo dục tăng 0,35% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 15,77%, tăng 0,35% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,55% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 1,31%, tăng 0,38% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,77%, tăng 4,05% so với tháng 12 năm trước.Chỉ có 1 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm đó là nhóm giao thông giảm 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 9,18%, tăng 5,68% so với tháng 12 năm trước;Có 4 nhóm gồm: Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông; Đồ uống và thuốc lá ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 8/2018 có sự biến động so tháng trước chủ yếu là: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm cả rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhóm giáo dục tăng, tác động bởi các mặt hàng văn phòng phẩm, sách giáo khoa tăng do bước vào năm học mới; (3) Giá một số mặt hàng may mặc, chủ yếu nhóm quần áo sơ mi tăng giá; (4) Giá xăng dầu bình quân tháng tăng nhẹ.Chỉ số giá vàng giảm 1,54% so tháng trước, giảm 0,15% so cùng tháng năm trước, giảm 1,03% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng tiếp tục giảm so tháng trước, mức giá hiện tại thời điểm ngày 21/8/2018 ở mức 3.465 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Đây là lần đầu tiên trong vòng 1 năm qua giá vàng xuống dưới mốc 3.500 ngàn đồng/chỉ. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.546 ngàn đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,16% so tháng trước, tăng 2,98% so cùng tháng năm trước và tăng 2,88% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/8/2018 mức giá bán ra 2.355 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bình quân 8 tháng đầu năm 2018 tăng 3,95% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,85%; nông thôn tăng 4,03%. Phân theo nhóm ngành hàng: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,14%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,20%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,85%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,58%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,40%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,57%; nhóm giao thông tăng 6,22%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,45%; nhóm giáo dục tăng 20,39%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,06%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,15%. Nhìn chung, chỉ số giá bình quân tính chung 8 tháng đầu năm 2018 tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, đã và đang gây nhiều sức ép đến kế hoạch kiềm chế lạm phát của Chính phủ (kế hoạch 4%). Nguyên nhân chính là do giá lương thực, thực phẩm diễn biến phức tạp, có mức biến động lớn. Cùng với việc giá xăng dầu qua nhiều lần điều chỉnh, hiện đã tăng tới 16,64% so bình quân 8 tháng năm trước. Giá nước sinh hoạt và điện sinh hoạt sau lần điều chỉnh giá cơ bản cuối năm 2017 cũng gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình giá cả tiêu dùng hiện nay.Dự kiến CPI tháng 9/2018 tiếp tục tăng. Nguyên nhân do giá thịt và lương thực chưa có dấu hiệu giảm. Giá văn phòng phẩm và hàng may mặc dự kiến tiếp tục tăng.5. Các vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cưThời gian qua, tuy người dân Hà Tĩnh vừa chịu ảnh hưởng mưa lớn do bão số 03 gây ra, nhưng nhờ nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời trong việc khắc phục sau thiên tai. Đồng thời, công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội, trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo cũng được quan tâm, thực hiện đầy đủ và kịp thời, nên đời sống nhân dân vẫn ổn định. Trong tháng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không xẩy ra thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói không xảy ra.5.3. Giáo dục, đào tạoChuẩn bị cho năm học mới 2018-2019, ngành GD&ĐT đã tập trung triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp: Rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng trong giáo dục phổ thông; nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ và hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục; tăng cường cơ sở vật chất, đảm bảo chất lượng giáo dục, chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện việc thay sách giáo khoa vào năm 2019. Ngoài ra, UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng đã ban hành Quyết định số 2315/QĐ-UBND khung kế hoạch năm học mới. Theo đó, năm học 2018 - 2019, học sinh ở các bậc học trên địa bàn sẽ tựu trường vào ngày 20/8/2018, sớm hơn 5 ngày so với những năm học trước.Với bậc mầm non và lớp 1, hai tuần đầu các em làm quen với nề nếp học tập, sinh hoạt và vui chơi. Học sinh lớp 2 cũng có 1 tuần ôn tập lại những kiến thức đã được học. Ở bậc trung học cơ sở, sau ngày tựu trường là khoảng thời gian để các em tổ chức lao động vệ sinh, phong quang trường lớp, học tập quy chế, nghi thức để chuẩn bị cho ngày khai giảng năm học mới. Thời gian này, một số học sinh xếp loại học lực yếu kém sẽ được ôn tập, củng cố lại kiến thức.5.4. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục công tác phòng chống dịch; kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện; luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới về chuyên môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết. Vì vậy, trong tháng chỉ xảy ra 01 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 09 trường hợp tay-chân-miệng và 01 trường hợp sốt phát ban/sởi. Không có trường hợp tử vong.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh về công tác truyền thông thay đổi hành vi; tiếp cận người người nghiện ma túy vận động họ tham gia Chương trình điều trị Methadone; tích cực theo dõi, giám sát việc cấp phát thuốc cho bệnh nhân; tổ chức sinh hoạt nhóm, ổn định tâm lý cho bệnh nhân tham gia điều trị Methadone tại các cơ sở. Trong tháng, Hà Tĩnh có 07 trường hợp nhiễm mới HIV, có 05 trường hợp chuyển thành AIDS và không có trường hợp nào chết vì AIDS.- Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, Sở Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong tiêu dùng thực phẩm; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm, đặc biệt khuyến khích xử phạt nặng các trường hợp vi phạm, đủ sức răn đe để không còn tái phạm. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 02 vụ ngộ độc tập thể (tại huyện Lộc Hà và Cẩm Xuyên) làm 14 người bị ngộ độc. Ngoài ra, còn có 145 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ nhưng không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. 5.5. Hoạt động văn hóa, thể thao - Hoạt động văn hóa: Nằm trong chuỗi kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc, tối 21/7, tại Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Trung ương Đoàn tổ chức chương trình nghệ thuật “Đồng Lộc-bài ca bất tử” đã gây ấn tượng mạnh khi tái hiện một thời lửa đạn với những mất mát hy sinh to lớn của quân và dân ta, đặc biệt là huyền thoại về 10 liệt nữ thanh niên xung phong lấp đá, mở đường, đêm đêm làm "cọc tiêu sống" cho xe vào tiền tuyến miền Nam.Ngoài ra, tại Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh Hà Tĩnh, UBND tỉnh phối hợp với Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực IV - Bắc miền Trung lần thứ 23 năm 2018; Chuẩn bị cho tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2018 lần thứ 4 liên tỉnh Hà Tĩnh - Nghệ An. Liên hoan dự kiến diễn ra từ 24-27/8 tại Hà Tĩnh.- Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập Đoàn thanh tra, kiểm tra 46 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra đã lập biên bản cảnh cáo 9 cơ sở, nhắc nhở 22 cơ sở vi phạm các điều kiện kinh doanh lưu trú du lịch. Kiểm tra lại 15 cơ sở kinh doanh hoạt động thể thao, lập biên bản đình chỉ 3 cơ sở, nhắc nhở 12 cơ sở yêu cầu chấp hành các quy định của pháp luật.- Hoạt động thể thao: Các hoạt động thể thao quần chúng được tổ chức thường xuyên từ tỉnh đến cơ sở; quy mô, chất lượng phong trào ngày càng được nâng cao, như: các giải thể thao bóng đá mi ni, bóng chuyền hơi nữ do các Khối thi đua thuộc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổ chức nhân dịp chào mừng 73 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9.Từ ngày 04/8/2018 đến ngày 11/8/2018, tại Hà Tĩnh diễn ra Giải bóng chuyền nữ quốc tế VTV Cup 2018, với sự tham gia của 8 đội gồm: CLB Altay (Kazakhstan), Đại học Hokkaido (Nhật Bản), Đội tuyển Việt Nam, CLB Vân Nam (Trung Quốc, đội tuyển trẻ Việt Nam, CLB Tứ Xuyên (Trung Quốc), CHDCND Triều Tiên, Đại học Đài Bắc - Trung Hoa. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Giải bóng chuyền quốc tế VTV Cup 2018, góp phần làm nên một giải đấu quy mô, hấp dẫn và để lại ấn tượng về một Hà Tĩnh yên bình, thân thiện, mến khách.Thể thao thành tích cao: Đoàn Hà Tĩnh giành được 2 HCV Tại Đại hội thể thao học sinh Đông Á; 1 HCV và 1 HCB tại giải vô địch Karatedo Châu Á.5.6. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 16/7/2018 đến ngày 15/8/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người, bị thương 4 người, thiệt hại tài sản 60 triệu đồng. So với tháng trước tăng 1 vụ, tăng 3 người chết, giảm 3 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước số vụ và người chết không thay đổi, chỉ giảm 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/8/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 86 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 85 người, bị thương 41 người, ước tính thiệt hại tài sản 650 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 3 người chết và giảm 5 người bị thương.5.7. Tình hình cháy, nổ- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 2 vụ cháy (giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 280 triệu đồng, trong đó: 1 vụ cháy nhà kho và 1 vụ cháy rừng, nguyên nhân do chập điện. Tính chung 8 tháng, trên địa bàn xảy ra 59 vụ cháy, nổ, làm 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,04 tỷ đồng.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Nhờ vậy, trong tháng không xảy ra vụ vi phạm môi trường nào cả. Tính chung 8 tháng, đã phát hiện 19 cơ sở vị phạm môi trường, trong đó xử phạt 16 cơ sở với số tiền 132 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2018./.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Tháng 7 và 7 tháng năm 2018 tỉnh Hà Tĩnh
- 18/07/2024 15:30
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 7 và 7 tháng năm 20181. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 7/2018 chủ yếu tập trung chăm sóc cây trồng vụ Hè Thu và chuẩn bị làm đất để gieo cấy lúa vụ Mùa. Do thời tiết nắng nóng, nhiều vùng đất cao thiếu nước để gieo cấy nên diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2018 giảm cả so với kế hoạch cũng như so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2018 ước đạt 43.247 ha, bằng 97,47% (giảm 1.122 ha) so với kế hoạch và bằng 97,16% (giảm 1.263 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Các huyện có diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu giảm so với kế hoạch như: Huyện Hương Sơn giảm 385 ha, huyện Thạch Hà giảm 376 ha, huyện Đức Thọ giảm 332 ha...Bên cạnh đó cũng có một số huyện có diện tích gieo cấy tăng nhẹ so với kế hoạch như: Huyện Hương Khê tăng 96 ha, huyện Lộc Hà tăng 41 ha, huyện Vũ Quang tăng 33 ha và huyện Cẩm Xuyên tăng 10 ha. Lúa vụ Hè Thu năm 2018 đang được bà con nông dân tích cực chăm bón và đang sinh trưởng, phát triển tốt. Hiện nay, lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh rộ, một số diện tích gieo cấy sớm tại các huyện Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Thạch Hà đã bước vào thời kỳ phân hóa đòng. Tuy nhiên, với những diễn biến khắc nghiệt của điều kiện thời tiết đã ảnh hưởng đến lúa vụ Hè Thu. Đợt nắng nóng gay gắt diễn ra vào đầu tháng 7/2018 đã làm cho trên 800 ha lúa bị hạn cục bộ, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển: Thành phố Hà Tĩnh 200 ha, Lộc Hà 130 ha, huyện Kỳ Anh 120 ha, Cẩm Xuyên 105 ha, Thạch Hà 100 ha, thị xã Kỳ Anh 35 ha, Nghi Xuân 35 ha, Hương Khê 25 ha, Can Lộc 25 ha, Vũ Quang 20 ha, Đức Thọ 15 ha. Trung tuần tháng 7/2018, do ảnh hưởng của bão số 3 (Sơn Tinh) đã gây mưa lớn làm ngập lụt gây ảnh hưởng đối với hơn 10 ngàn ha lúa và hoa màu. Thời tiết diễn biến bất thường chính là yếu tố khó lường đối với sản xuất vụ Hè Thu năm nay.Các huyện có gieo cấy lúa vụ Mùa hiện đang trong quá trình làm đất để tiến hành gieo cấy. Các loại cây trồng khác cũng đã được gieo trỉa: Diện tích ngô gieo trồng ước đạt 1.451 ha, so với kế hoạch bằng 76,2% và bằng 73,39% so với thực hiện cùng kỳ; diện tích khoai lang ước đạt 260 ha, so với kế hoạch bằng 30,7% và bằng 36,65% so với thực hiện cùng kỳ; diện tích lạc ước đạt 94 ha, so với kế hoạch bằng 13,2% và bằng 16,49% so với thực hiện cùng kỳ; diện tích rau các loại ước đạt 1.739 ha, so với kế hoạch bằng 72,91% và bằng 72,37% so với thực hiện cùng kỳ; diện tích đậu ước đạt 5.017 ha, so với kế hoạch bằng 67,7% và bằng 80,61% so với thực hiện cùng kỳ. Như vậy, do điều kiện thời tiết đầu vụ nắng nóng nên tiến độ gieo trỉa các loại cây trồng vụ Mùa vẫn còn chậm, kết quả đang đạt thấp so với kế hoạch cũng như cùng kỳ năm trước.Sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại đối với các loại cây trồng. Trên cây lúa: Sâu cuốn lá nhỏ với mật độ trung bình 10-15 con/m2, nơi cao 20-30 con/m2, cục bộ 300-400 con/m2 (xã Đức Lâm - Đức Thọ), diện tích nhiễm bệnh toàn tỉnh là 1.015,1 ha, tập trung chủ yếu ở Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Can Lộc...Rầy nâu, rầy lưng trắng với mật độ trung bình 400-500 con/m2, nơi cao 1.000-1.500 con/m2, cục bộ 2.000-2.500 con/m2, rầy chủ yếu tuổi 3, tuổi 4 và có sự xen gối lứa, diện tích nhiễm bệnh là 304 ha (Đức Thọ 4 ha và Cẩm Xuyên 300 ha). Bệnh lùn sọc đen Phương Nam với tỷ lệ bệnh trung bình 5-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm bệnh là 0,4 ha ở các xã Cẩm Lạc, Cẩm Hưng, Cẩm Thăng - huyện Cẩm Xuyên và xã Kỳ Hải - huyện Kỳ Anh. Trên cây trồng cạn: Bệnh đốm lá, bệnh lở cổ rễ, ruồi đục lá, sâu xanh phát sinh gây hại rãi rác trên cây đậu giai đoạn phân cành; bọ trĩ, đốm lá lớn, đốm lá nhỏ gây hại rãi rác trên cây ngô.- Chăn nuôi: Dự ước tổng đàn trâu hiện có 75.904 con, bằng 92,08% (giảm 6.530 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước tính hiện có 195.336 con, bằng 88,86% (giảm 24.491 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn lợn ước tính hiện có 439.584 con, bằng 113,26% (tăng 51.450 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.163 ngàn con, bằng 104,41% (tăng 345 ngàn con) so với cùng kỳ năm trước. Sau một thời gian giá lợn hơi sụt giảm mạnh thì hiện nay trên thị trường giá lợn đã tăng lên. Mặc dù người chăn nuôi vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn nhưng với việc giá lợn hơi tăng lên thì người chăn nuôi lợn đã tổ chức tái đàn nên đã làm cho đàn lợn tăng lên. Mặc dù giá lợn hơi đã tăng lên nhưng cũng đang tiềm ẩn rất nhiều rũi ro, người chăn nuôi cũng cần phải cẩn trọng để tránh được những thiệt hại có thể xẩy ra.Theo báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh thì từ ngày 15/6/2018 đến ngày 15/7/2018, trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra dịch bệnh đối với đàn vật nuôi.1.2. Lâm nghiệpTrong tháng 7/2018, mặc dù thời tiết nắng nóng nhưng trên địa bàn toàn tỉnh dự ước vẫn trồng được 21 ha rừng, bằng 80,77% (giảm 5 ha) so với cùng kỳ, đưa tổng diện tích rừng trồng 7 tháng năm 2018 ước đạt 2.865 ha, bằng 107,30% (tăng 195 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Khai thác gỗ và lâm sản trong tháng 7/2018 ước đạt 14.481 m3 gỗ, so với cùng kỳ năm trước bằng 73,52% (giảm 5.216 m3 ) và 29.227 Ste củi, so với cùng kỳ bằng 71,75% (giảm 11.508 Ste). Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là từ rừng trồng nhưng do chưa đến tuổi khai thác.Hiện nay đang là mùa nắng nóng, khô hạn rất dễ xẩy ra cháy rừng. Vì vậy, các cấp các ngành đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và triển khai các phương án để phòng chống cháy rừng. Tuy nhiên, trong tháng do thời tiết quá nắng nóng, khô hạn nên trên địa bàn toàn tỉnh đã xẩy ra 9 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 52,89 ha rừng, trong đó các huyện: Hương Sơn, Đức Thọ, Vũ Quang, Nghi Xuân mỗi huyện xẩy ra 2 vụ và huyện Cẩm Xuyên xẩy ra 1 vụ.1.3. Thuỷ sảnDiện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh thả nuôi mới trong tháng 7/2018 ước đạt 174 ha, bằng 59,39% (giảm 119 ha) so với cùng kỳ năm trước, diện tích thả nuôi trong tháng chủ yếu là nuôi tôm với 146 ha. Tính chung tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh thả nuôi trong 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 6.846 ha, bằng 106,98% (tăng 447 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy, hải sản nuôi trồng và đánh bắt tháng 7/2018 ước đạt 4.045 tấn, bằng 108,42% (tăng 314 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng nuôi trồng thu hoạch trong tháng ước đạt 1.293 tấn, bằng 120,39% (tăng 219 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng trong tháng chủ yếu là tôm thẻ chân trắng ước đạt 491 tấn, chiếm 37,97% tổng sản lượng nuôi trồng và tăng 4,25% (tăng 20 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác trong tháng ước đạt 2.752 tấn, bằng 103,58% (tăng 95 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác hải sản biển ước đạt 2.315 tấn, bằng 103,53% (tăng 79 tấn) và sản lượng khai thác thủy sản nội địa ước đạt 437 tấn, bằng 103,8% (tăng 16 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, tổng sản lượng thủy, hải sản nuôi trồng và đánh bắt ước đạt 24.034 tấn, bằng 108,58% (tăng 1.900 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng nuôi trồng ước đạt 6.306 tấn, bằng 113,27% (tăng 739 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác ước đạt 17.728 tấn, bằng 107,01% (tăng 1.161 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn 7 tháng qua đã có bước phát triển tăng cả về diện tích thả nuôi cũng như sản lượng so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệpChỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 7/2018 ước bằng 104,75% (tăng 4,75%) so với tháng trước và bằng 182,49% (tăng 82,49%) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 7/2018 dự ước tiếp tục tăng so với tháng trước, nhưng chỉ có 2 ngành công nghiệp cấp I có chỉ số tăng và 2 ngành lại có chỉ số giảm, đó là: Ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số phát triển sản xuất giảm 1,99%, chủ yếu giảm ở ngành khai thác đá, cát, sỏi, đất sét. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số phát triển sản xuất tăng 6,84%, chủ yếu tăng ở ngành dệt sợi (tăng 6,9%), sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (tăng 8,56%), in và sao chép bản ghi (tăng 7,7%), sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất (tăng 7,47%) và ngành sản xuất sắt, thép, gang (tăng 7,66%)…Đối với ngành công nghiệp phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có chỉ số giảm 5,87% là do yêu cầu về sản lượng điện cung cấp từ Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia Việt Nam. Còn ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải chỉ số sản xuất vẫn ổn định với mức tăng 1,38% so với tháng trước.Tính chung 7 tháng năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp bằng 249,27% (tăng 149,27%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng trưởng cao với mức tăng 210,03%, đóng góp 137,47 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng trưởng khá ở mức 37,77%, đóng góp 11,67 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 24,24%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 6,01%, làm giảm 0,15 điểm phần trăm trong mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. 7 tháng đầu năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp luôn đạt mức tăng cao, trong đó tác động lớn nhất đến chỉ số tăng chung là từ ngành sản xuất kim loại và nhiệt điện (Dự án Formosa). Nếu loại trừ yếu tố ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn 7 tháng đầu năm 2018 chỉ tăng 12,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,03%; sản xuất và phân phối điện tăng 20,08%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 24,24% và khai khoáng giảm 6,01%.Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng đầu năm 2018 có sản lượng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đó là: Thép không rỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 4,7 lần; dược phẩm tăng 1,69 lần; than cốc và bán cốc luyện từ than non hay than bùn tăng 1,28 lần; nước tăng 63,6%; quặng zircon và tinh quặng tăng 53,24%; điện sản xuất tăng 39,25%...Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm: Thức ăn cho gia súc giảm 70,58%; dầu nhựa thông giảm 62,42%; mực đông lạnh giảm 52,58%; gạch xây dựng giảm 23,4%; bê tông trộn sẵn giảm 19,57%; đá xây dựng khác giảm 13,37%...Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2018 tăng 33,48% so với tháng trước và tăng 3,13 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018 tăng 3,78 lần, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất sắt, thép, gang tăng 6,58 lần; sản xuất than cốc tăng 65,77%; in ấn tăng 37,68%; sản xuất giường tủ, bàn, ghế tăng 20,16%...Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm khác giảm 71,86%; sản xuất hóa chất giảm 47,01%; chế biến bảo quản thủy sản giảm 38,35%; sản xuất sợi giảm 33,68%...Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đến cuối tháng 7/2018 ước tính tăng 42,92% so với tháng trước và tăng 105,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm như: Sản xuất giường tủ, bàn ghế giảm 48,26%; sản xuất đồ uống giảm 44,48%; sản xuất hóa chất giảm 39,82%... 3. Thực hiện vốn đầu tưTình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2018 ước đạt 338,29 tỷ đồng, tăng 3,91% (tăng 12,72 tỷ đồng) so với tháng trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.833,85 tỷ đồng, tăng 16,01% so với cùng kỳ năm trước, đạt 55,72% kế hoạch cả năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.062,25 tỷ đồng, tăng 3,44% so với cùng kỳ và chiếm 57,93% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 390,09 tỷ đồng, tăng 80,51% so với cùng kỳ và chiếm 21,27% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 381,51 tỷ đồng, tăng 12,93% so với cùng kỳ và chiếm 20,80% tổng vốn.Trong tháng 7/2018, chủ yếu thực hiện các công trình dự án đường liên huyện, đường trung tâm xã như: Dự án đầu tư một số hạng mục văn hóa, thể thao tại công viên Nguyễn Trọng Phú; dự án nâng cấp, mở rộng đường đi vào trung tâm Thành phố Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh, Kỳ Anh, Hương Khê; dự án sữa chữa hồ chứa nước Khe Bò - Thị xã Kỳ Anh; dự án xây dựng đê phía Tây bờ tả sông Phủ; dự án sữa chữa và nâng cao an toàn đập WB8 ở huyện Hương Khê; dự án đường cứu hộ, cứu nạn các xã vùng trũng Thị xã Kỳ Anh và các dự án sửa chữa đường, trường, trạm sử dụng nguồn vốn cân đối ngân sách cấp huyện.4. Thương mại, dịch vụ và giá cả4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 7/2018 đạt 3.023,96 tỷ đồng, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 16,02% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tập thể, tăng 142,91%; tiếp đến là kinh tế tư nhân tăng 32,08%. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 2,11 lần; phương tiện đi lại tăng 45,16%; sữa chữa xe có động cơ ước tăng 21,4%. Trong các nhóm hàng, chỉ có nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 26,04% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 20.088,11 tỷ đồng, tăng 11,67% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.205,32 tỷ đồng, giảm 25,36%; ngoài Nhà nước ước đạt 18.871,32 tỷ đồng, tăng 15,25% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,47 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 7.768,88 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,67% và tăng 13,44% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 2.682,89 tỷ đồng, chiếm 13,36%, tăng 2,81%; nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 1.963,42 tỷ đồng, chiếm 9,77%, tăng 1,91%. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2018 ước đạt 523,67 tỷ đồng, tăng 5,72% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 25,02%; ăn uống tăng 10,03%; du lịch lữ hành tăng 21,52%. Là tháng trùng vào dịp Kỷ niệm 50 năm Ngày chiến thắng Ngã Ba Đồng Lộc nên thu hút lượng khách lớn đến tham quan, từ đó làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.Tính chung 7 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.665,7 tỷ đồng, tăng 9,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 49,18 tỷ đồng, tăng 17,13%; ngoài Nhà nước ước đạt 2.608,52 tỷ đồng, tăng 9,7% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ đồng, giảm 13,23% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 7/2018 ước đạt 105,17 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước và tăng 5,64% so cùng kỳ năm 2017. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 7/2018 vẫn tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở khu vực kinh tế Nhà nước và ngoài Nhà nước. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 22,67%; kinh doanh bất động sản tăng 17,99%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 17,97%. Chỉ có hai nhóm ngành giảm: Dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 9,24%; dịch vụ khác giảm 6%.Tính chung 7 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 701,91 tỷ đồng, tăng 6,38% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 57,36 tỷ đồng, tăng 70,4%; ngoài Nhà nước ước đạt 640,51 tỷ đồng, tăng 3,05% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 4,04 tỷ đồng, giảm 12,33% so với cùng kỳ năm trước .4.2. Hoạt động vận tảiVận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 7/2018 ước đạt 2,43 triệu tấn, giảm 3,91% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 61,41 triệu tấn.km, giảm 0,77%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 216,06 tỷ đồng, giảm 0,35%. Hoạt động vận tải hàng hoá tiếp tục tăng ở thành phần kinh tế cá thể, nhưng vận tải hàng hóa khối doanh nghiệp và vận tải hàng hóa đường sông giảm mạnh, giảm cả về số lượng và doanh thu, nên làm cho vận tải hàng hóa giảm. Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 7/2018 ước đạt 1,92 triệu lượt hành khách, tăng 0,38% so với tháng trước, với khối lượng luân chuyển là 351,97 triệu lượt hành khách.km, tăng 1,97%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 153,5 tỷ đồng, tăng 2,16%. Do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải công cộng của người dân tăng. Mặt khác, trong tháng nhu cầu tham quan tăng, dẫn đến việc khách du lịch tham gia phương tiện vận tải, thuê xe du lịch tăng. Những yếu tố đó đã làm cho vận tải hành khách tăng.Tính chung 7 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 18,49 triệu tấn, tăng 2,06% so với cùng kỳ năm trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 445,4 triệu tấn.km, tăng 1,59%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 1.557,51 tỷ đồng, tăng 5,39%. Còn số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 13,56 triệu lượt hành khách, tăng 8,55% với khối lượng luân chuyển là 2.372,19 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,18%; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.026,32 tỷ đồng, tăng 11,96% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùngTrong tháng 7 năm 2018, mặc dù chịu ảnh hưởng của bão số 3 và việc điều chỉnh tăng lương cơ bản nhưng tình hình thị trường tiêu dùng hàng hoá trên địa bàn cơ bản ổn định, không có những biến động đột biến về giá cả. CPI tháng 7 năm 2018, giảm 0,34% so tháng trước, tăng 1,78% so với tháng 12/2017 và tăng 5,03% so cùng kỳ năm trước. So với tháng trước thì khu vực thành thị giảm 0,42% và khu vực nông thôn giảm 0,28%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 3 nhóm có chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,33% so tháng trước, tăng 2,64% so với tháng 12/2017 và tăng 5,04% so với cùng kỳ năm trước; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,03% so tháng trước, tăng 1,88% so với tháng 12/2017 và tăng 5,18% so với cùng kỳ năm trước; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,94% so tháng trước, tăng 3,7% so với tháng 12/2017 và tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,01% so tháng trước, giảm 1,02% so với tháng 12/2017 và tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03% so tháng trước, tăng 0,14% so với tháng 12/2017 và tăng 0,24% so với cùng kỳ năm trước; thuốc và dịch vụ y tế giảm 8,61% so tháng trước, giảm 0,31% so với tháng 12/2017 và giảm 0,34% so với cùng kỳ năm trước; giao thông giảm 0,15% so tháng trước, tăng 5,73% so với tháng 12/2017 và tăng 11,45% so với cùng kỳ năm trước; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,15% so tháng trước, giảm 0,17% so với tháng 12/2017 và giảm 2% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm có chỉ số giá ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước gồm: Giáo dục; bưu chính viễn thông; đồ uống và thuốc lá. Chỉ số giá vàng giảm 1,58% so tháng trước, tăng 0,51% so với tháng 12/2017 và tăng 2,86% so cùng kỳ năm trước. Mức giá tại thời điểm ngày 21/7/2018 ở thị trường thành phố Hà Tĩnh là 3,55 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,13% so tháng trước, tăng 1,70% so với tháng 12/2017 và tăng 1,76% so cùng kỳ năm trước. Giá USD bán ra bình quân trên thị trường Hà Tĩnh ngày 23/6/2018 là 2.289.426 đồng/100USD. Nguyên nhân chính tác động đến CPI tháng 7/2018 là do: (1) Giá lợn hơi đang tiếp tục tăng làm cho giá thực phẩm tăng; (2) Giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 của Bộ Y tế, sau điều chỉnh, giá các loại dịch vụ đều có xu hướng giảm; (3) Giá xăng dầu bình quân trong tháng giảm.CPI 7 tháng đầu năm 2018 tăng 3,82% so cùng kỳ, trong đó khu vực thành thị tăng 3,75% và khu vực nông thôn tăng 3,88%.Dự kiến CPI tháng 8/2018 tiếp tục tăng so với tháng trước, trong đó chủ yếu tăng ở các nhóm hàng hóa: Thực phẩm; giáo dục, sách báo, văn phòng phẩm; may mặc sẵn, dày dép, mũ nón...Do nhu cầu mua sắm khi chuẩn bị bước vào năm học mới. 5. Các vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cưThời gian qua, do bà con nông dân mới thu hoạch sản phẩm vụ Đông Xuân 2017-2018 và làm thêm các ngành nghề khác tăng thêm thu nhập. Đồng thời, công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội, trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo cũng được quan tâm, thực hiện đầy đủ và kịp thời. Vì vậy, tháng này trên toàn tỉnh không phát sinh hộ thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói không xảy ra.5.2. Thiệt hại thiên tai Tính từ ngày 15-17/7/2018, ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão số 3 (Sơn Tinh), trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra mưa lớn kéo dài làm chết 01 người (ở huyện Hương Sơn); 6.935 ha diện tích lúa Hè Thu, 587 ha ngô và 2.629 ha rau đậu các loại bị ngập. Ngoài ra, đoạn đường Km53+750 – Km53+800 thuộc QL 8A bị ngập sâu 0,5 m gây ách tắc giao thông nghiêm trọng. Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã ban hành Công điện số 13/CĐ-UBND ngày 15/7/2018; Ban chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh đã có Công điện số 04/CĐ-PCTT ngày 17/7/2018 chỉ đạo các đơn vị địa phương chủ động ứng phó với cơn bão số 3. Tỉnh cũng đã chỉ đạo các đoàn kiểm tra công tác PCTT và TKCN tại các địa phương khẩn trương xuống cơ sở để đôn đốc chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện các biện pháp ứng phó với cơn bão và tình hình mưa lũ.5.3. Giáo dục, đào tạoHiện nay các bậc học đang trong thời gian nghỉ hè. Trong tháng qua, ngành giáo dục đã tập trung thực hiện tốt công tác thi tốt nghiệp THPT năm học 2017-2018. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay, ở cụm thi Hà Tĩnh có hơn 16.000 thí sinh (kể cả thí sinh tự do) tham gia dự thi, được bố trí tại 34 địa điểm với hơn 900 phòng thi ở tất cả các môn.Kết quả điểm thi năm nay thấp hơn hẳn năm 2017. Số thí sinh đạt điểm tuyệt đối giảm rõ rệt. Cả tỉnh chỉ có 10 bài thi đạt điểm 10 (năm 2017 có 121 bài); tỷ lệ học sinh tốt nghiệp sơ bộ đạt 99,04%, xếp thứ 25 trên toàn quốc. Nhìn chung, với công tác chuẩn bị chu đáo với sự vào cuộc đồng bộ của các đơn vị, lực lượng liên quan, tinh thần xung kích, tình nguyện của thanh niên, những nghĩa cử của người dân góp phần tiếp sức cho thí sinh đã làm nên một kỳ thi nghiêm túc, hiệu quả và thành công.5.4. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục công tác phòng chống dịch; tập trung chuẩn bị các phương án ứng phó khi có dịch bệnh xảy ra; luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới về chuyên môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết; chỉ đạo các bệnh viện huyện chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết. Nhờ vậy, trong tháng chỉ xảy ra 05 trường hợp mắc sốt xuất huyết, ngoài ra tình hình dịch bệnh khác tương đối ổn định, không có trường hợp tử vong.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác phòng chống HIV/AIDS, có nhiều phương pháp tuyên truyền giúp cho người dân hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh và cách phòng tránh nhiễm bệnh HIV/AIDS. Trong tháng, Hà Tĩnh có 04 trường hợp nhiễm mới HIV, có 04 trường hợp chuyển thành AIDS và 01 trường hợp chết vì AIDS.- Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, Hà Tĩnh đã tăng cường công tác giáo dục, truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm. Nâng cao ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm của các tổ chức, cá nhân trong việc sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 01 vụ ngộ độc tập thể (tại huyện Lộc Hà) với 13 người bị ngộ độc. Ngoài ra, còn có 142 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ nhưng không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. 5.5. Hoạt động văn hóa, thể thao - Hoạt động văn hóa: Hướng tới kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968-24/7/2018), tối 14/7, tại Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, Tỉnh đoàn Hà Tĩnh phối hợp với Ban Tôn giáo tỉnh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh tổ chức đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, cán bộ và người dân tử nạn tại Ngã ba Đồng Lộc. Đây là hoạt động ý nghĩa, thể hiện sự tri ân sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Hà Tĩnh đối với những cống hiến to lớn, sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sỹ đối với sự nghiệp cách mạng, bảo vệ Tổ quốc. - Hoạt động thể thao: Các hoạt động thể thao quần chúng được tổ chức thường xuyên từ tỉnh đến cơ sở; quy mô, chất lượng phong trào ngày càng được nâng cao, như: Giải Bóng đá thiếu niên nhi đồng thành phố Hà Tĩnh năm 2018; Giải đua thuyền toàn tỉnh năm 2018.Thể thao thành tích cao: Tại Hội thi thể thao người khuyết tật toàn quốc lần thứ VI năm 2018 tổ chức ở Đà Nẵng, đoàn Hà Tĩnh giành được 12 huy chương gồm: 04 HCV, 05 HCB và 03 HCĐ.5.6. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 16/6/2018 đến ngày 15/7/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 08 người, bị thương 07 người, ước tính thiệt hại tài sản 45 triệu đồng. So với tháng trước giảm 02 vụ, giảm 02 người chết, tăng 03 người bị thương và so với cùng kỳ năm trước giảm 03 vụ, giảm 02 người chết và tăng 03 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/7/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 76 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 75 người, bị thương 37 người, ước tính thiệt hại tài sản 590 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 01 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, tăng 03 người chết và giảm 04 người bị thương.5.7. Tình hình cháy, nổ- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 16 vụ cháy (tăng 07 vụ so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 993 triệu đồng, trong đó: 03 vụ cháy nhà chứa rơm, 01 vụ cháy nhà hàng, 09 vụ cháy rừng và 03 vụ cháy khác. Tính chung 7 tháng, trên địa bàn xảy ra 57 vụ cháy, nổ, làm 08 người bị thương, thiệt hại ước tính 7,76 tỷ đồng.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, phát hiện và xử lý 04 cơ sở vi phạm về môi trường, với số tiền 37,5 triệu đồng. Tính chung 7 tháng, đã phát hiện 19 cơ sở vị phạm môi trường, trong đó xử phạt 16 cơ sở với số tiền 132 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2018./.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 tháng đầu năm 2018 tình Hà Tĩnh
- 18/07/2024 07:47
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI6 tháng đầu năm 2018Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc: Sản xuất nông nghiệp được mùa toàn diện; sản xuất công nghiệp là điểm sáng và có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế; thu ngân sách vượt ngưỡng kế hoạch 6 tháng...Đây chính là kết quả của sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà trong thời gian qua. 1. Tăng trưởng kinh tế1.1. Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành ước đạt 30.467,9 tỷ đồng, tăng 32,83% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 4.735,6 tỷ đồng, tăng 2,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 13.420,8 tỷ đồng, tăng 91,21%; khu vực dịch vụ ước đạt 9.988,6 tỷ đồng, tăng 8,02% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 2.322,9 tỷ đồng, tăng 12,41%.Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,54%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 44,05%; khu vực dịch vụ chiếm 32,78%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,63% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 20,08%; 30,6%; 40,31% và 9,01%).1.2. Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2018 theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 21.163,3 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước tăng 32,94% so với cùng kỳ năm 2017. Trong mức biến động chung thì khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 3.266,9 tỷ đồng, tăng 5,54% so với cùng kỳ, đóng góp 1,08 điểm phần trăm (Trong đó: Nông nghiệp tăng 5,92% so với cùng kỳ, đóng góp 1 điểm phần trăm; lâm nghiệp giảm 3,29% so với cùng kỳ, đóng góp -0,03 điểm phần trăm và thủy sản tăng 8,45% so với cùng kỳ, đóng góp 0,11 điểm phần trăm); khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 9.246,8 tỷ đồng, tăng 95,61% so với cùng kỳ, đóng góp 28,39 điểm phần trăm (Trong đó: Công nghiệp tăng 149,66% so với cùng kỳ, đóng góp 28,74 điểm phần trăm và xây dựng giảm 3,3% so với cùng kỳ, đóng góp -0,35 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ ước đạt 7.036 tỷ đồng, tăng 5,61% so với cùng kỳ, đóng góp 2,35 điểm phần trăm và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 1.613,6 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ, đóng góp 1,12 điểm phần trăm. Như vậy, nguyên nhân chính làm cho GRDP 6 tháng đầu năm 2018 có tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu là do ngành công nghiệp tăng mạnh. Tốc độ tăng tổng sản phẩm phẩm trong tỉnh6 tháng các năm 2016, 2017 và 20181.3. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế- Đối với khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2018 đạt kết quả khá. Khu vực này tăng 5,54% và đóng góp 1,08 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá là nguyên nhân chính làm cho tăng trưởng khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng so với cùng kỳ. Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp tăng 5,92%, làm tăng 1 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung GRDP. Nguyên nhân chính làm cho kết quả sản xuất nông nghiệp đạt khá đó là: Đối với hoạt động trồng trọt vụ Xuân được mùa khá toàn diện. Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa vụ Xuân ước tính đạt 55,75 tạ/ha, tăng 35,67% (tăng 14,66 tạ/ha) và sản lượng lúa ước đạt 329.694 tấn, tăng 36,3% (tăng 87.811 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, với việc năng suất lúa tăng (do vụ Xuân năm 2017 lúa bị bệnh đạo ôn cổ bông nên năng suất lúa giảm) là nguyên nhân chính tác động làm cho ngành nông nghiệp tăng so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, hoạt động chăn nuôi lợn trên địa bàn sau một thời gian giá lợn hơi giảm mạnh thì nay đã tăng mạnh trở lại nên người chăn nuôi đã phát triển đàn lợn trở lại. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp giảm, với mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2018 giảm 3,29%, đóng góp -0,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn giảm do sản lượng gỗ khai thác giảm mạnh. Nguyên nhân là cuối năm 2017 bị ảnh hưởng bởi bão số 10 đã làm cho nhiều diện tích rừng trồng bị gãy đỗ phải khai thác nên sang đầu năm 2018 diện tích khai thác giảm.Đối với hoạt động sản xuất thủy sản thì 6 tháng đầu năm 2018 tăng 8,45%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Như vậy, sau hai năm xẩy ra sự cố môi trường biển thì hoạt động khai thác thủy hải sản đã sôi động trở lại. Từ đầu năm đến nay, những chuyến ra khơi của bà con ngư dân Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Nghi Xuân trúng đậm các mẻ cá lớn đưa lại nguồn thu nhập cao đã tạo động lực để bà con ngư dân tiếp tục ra khơi khai thác hải sản. - Khu vực công nghiệp và xây dựng trong những năm qua luôn có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung. 6 tháng đầu năm 2018, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao 95,61%, đóng góp đến 28,39 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Đây chính là nguyên nhân chính tạo dự tăng trưởng kinh tế cao của địa phương trong 6 tháng đầu năm 2018. Đối với ngành công nghiệp, 6 tháng đầu năm 2018 tăng 149,66%, đóng góp 28,74 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung, đây chính là nhân tố tác động chính vào tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2018. Bên cạnh một số sản phẩm vẫn giữ ổn định sản lượng sản xuất và có tăng nhẹ so với cùng kỳ như: Sản phẩm bia đóng lon ước đạt 29,5 triệu lít (tăng 2,38%), điện thương phẩm ước đạt 425,9 triệu Kwh (tăng 5,55%) ...thì một số sản phẩm đã có bước phát triển mạnh đó là dự án Fomosa 6 tháng đầu năm 2018 sản xuất ước đạt 1,1 triệu tấn than cốc (tăng 122,85%) và 1,7 triệu tấn thép (tăng 8,1 lần). Nhìn chung, dự án Fomosa trong thời gian qua đã đi vào sản xuất ổn định, đây là dự án lớn và có sự ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Với việc dự án Fomosa đưa vào vận hành thử nghiệm lò cao số 2 vào trung tuần tháng 5/2018 sẽ tiếp tục tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh trong thời gian tới. Bên cạnh sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp thì kết quả hoạt động của ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2018 tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Tăng trưởng của ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2018 ước tính giảm 3,3% so với cùng kỳ, đóng góp -0,35 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Như vậy, mặc dù kết quả sản xuất ngành xây dựng có giảm nhưng tác động không đáng kể đến tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm 2018. - Đối với khu vực dịch vụ nhìn chung ổn định so với cùng kỳ. Kết quả sản xuất của các ngành thương mại và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2018 dự ước đạt tốc độ tăng trưởng 5,61% so với cùng kỳ, đóng góp 2,35 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Nguyên nhân do nền kinh tế đang có xu hướng chững lại nên lượng tiền chi tiêu cho mua sắm hàng hóa trong dân tăng không lớn. - Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP mà 6 tháng đầu năm 2018 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 12,5% so với cùng kỳ đã làm tăng 1,12 điểm phần trăm trong tổng mức tăng chung. Nguyên nhân do thu thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng như thuế giá trị gia tăng hàng sản xuất, kinh doanh trong nước và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước đều tăng so với cùng kỳ.Tóm lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2018 trên địa bàn Hà Tĩnh đạt mức tăng cao nhất từ trước đến nay (tăng 32,94%). Khi mà dự án Fomosa đi vào sản xuất tạo ra sản phẩm mới thì sẽ có sự biến động tăng đột biến của chỉ tiêu GRDP. Nếu loại trừ yếu tố tăng sản phẩm thép của dự án Fomosa thì tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2018 của Hà Tĩnh chỉ đạt 12,65% (đóng góp của thép trong tăng trưởng chung là 20,29 điểm phần trăm). Như vậy, đóng góp từ sản phẩm thép của dự án Fomosa vào tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2018 là rất lớn. Thời gian tới, khi dự án Fomosa vận hành sản xuất lò cao số 2 sẽ tiếp tục tạo ra sự tăng trưởng mạnh đối với chỉ tiêu GRDP của Hà Tĩnh.2. Tài chính, ngân hàng2.1. Thu - chi ngân sách Nhà nướcTổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh tính đến 20/6/2018 đạt 13.149,3 tỷ đồng, bằng 107,55% so với cùng kỳ năm trước và bằng 59,29% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa đạt 1.907,3 tỷ đồng, bằng 87,22% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31,79% dự toán năm; thu hải quan đạt 2.602,5 tỷ đồng, bằng 235,79% so với cùng kỳ năm trước và bằng 76,54% dự toán năm; thu bổ sung từ ngân sách Trung ương đạt 6.693,9 tỷ đồng, bằng 109,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 76,28% dự toán năm. Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước đang gặp nhiều khó khăn, thu nội địa đang đạt thấp so với dự toán năm. Thời gian tới cần phải chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2018 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tính đến ngày 20/6/2018 là 8.482,7 tỷ đồng, bằng 104,74% so với cùng kỳ năm trước và bằng 56,68% so với dự toán năm, trong đó: Chi cân đối ngân sách Nhà nước là 5.401,8 tỷ đồng, bằng 103,17% so với cùng kỳ năm trước và bằng 41,47% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 3.056,8 tỷ đồng, bằng 109,36% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số khoản trong chi cân đối ngân sách Nhà nước như sau: Chi đầu tư phát triển 2.112,6 tỷ đồng, bằng 101,08% so với cùng kỳ năm trước và bằng 61,43% so với dự toán năm; chi thường xuyên 3.289,2 tỷ đồng, bằng 104,55% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34,91% so với dự toán năm. Nhìn chung, việc điều hành và thực hiện dự toán chi NSĐP trong thời gian qua vẫn đảm bảo và đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên cũng như đột xuất của địa phương.2.2. Hoạt động ngân hàng6 tháng đầu năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý tính đến thời điểm 31/5/2018 đạt 44.742 tỷ đồng, tăng 7,35% so với đầu năm. Ước tính đến 30/6/2018, nguồn vốn huy động đạt 45.425 tỷ đồng, tăng 8,98% so với đầu năm. Nguồn vốn tiền gửi trung và dài hạn có xu hướng tăng giúp cho ngân hàng chủ động hơn trong công tác cho vay.- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm nới lỏng hoạt động cho vay, do đó doanh số cho vay 5 tháng đầu năm 2018 đạt 29.830 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017. Dư nợ cho vay đến ngày 31/5/2018 đạt 39.824 tỷ đồng, tăng 5,16% so với đầu năm. Ước tính đến 30/6/2018 tổng dư nợ đạt 40.750 tỷ đồng, tăng 7,6% so với đầu năm. Trong đó, doanh số cho vay các nhóm ưu tiên đến 31/5/2017 là 16.438 tỷ đồng, chiếm 51,09% tổng dư nợ, tăng 2,24% so với đầu năm.- Chất lượng tín dụng: Đến 31/5/2018, nợ đủ tiêu chuẩn là 38.365 tỷ đồng, chiếm 96,41% tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 763 tỷ đồng, chiếm 1,92% tổng dư nợ và nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) là 663 tỷ đồng, chiếm 1,67% tổng dư nợ. Nợ xấu đang có xu hướng tăng so với đầu năm (đầu năm nợ xấu chiếm 1,36%). - Kết quả dư nợ theo các chương trình: Trong 6 tháng đầu năm 2018, các tổ chức tín dụng đã cho vay 44 khách hàng thuộc đối tượng cho vay theo các quyết định hỗ trợ lãi suất của Chính phủ và UBND tỉnh với doanh số cho vay là 15,91 tỷ đồng. Tiền lãi phải hỗ trợ cho các khách hàng theo các quyết định hỗ trợ lãi suất từ đầu năm đến nay là 4,4 tỷ đồng. Lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.693 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là hơn 43 nghìn khách hàng, số lãi được hỗ trợ (chưa bao gồm lãi hỗ trợ lãi suất theo Nghị định 67) là hơn 348 tỷ đồng.Đến 31/5/2018, các ngân hàng đã cho vay đối với 11 chủ tàu theo Nghị định 67 với dư nợ đạt 162,62 tỷ đồng, đã thu nợ được 8,73 tỷ, dư nợ đến thời điểm hiện tại là 153,11 tỷ đồng. Các ngân hàng cũng đã cho vay đối với 1.027 khách hàng theo Nghị quyết 02 với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm 31/5/2018 là hơn 370 tỷ đồng.- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng, hoạt động quản lý ngoại hối và vàng; công tác cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nghiêm túc tại các ngân hàng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và các hoạt động khác diễn ra an toàn và hiệu quả.3. Đầu tư và xây dựng3.1. Đầu tư phát triểnƯớc tính vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành đạt 14.812,07 tỷ đồng, giảm 3,08% so với cùng kỳ năm trước và bằng 48,62% GRDP. Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 6 tháng đầu năm6 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nguồn vốn Nhà nước giảm 29,29% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 7,2%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 47,03%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 39,06%); còn xét theo khoản mục đầu tư, thì nguồn vốn tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 86,29%).Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng năm 2018 tăng khá, ước đạt 1.585,21 tỷ đồng, tăng 10,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Trung ương quản lý ước đạt 89,3 tỷ đồng, giảm 0,89%; vốn địa phương quản lý ước đạt 1.495,91 tỷ đồng, tăng 11,51%.Vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đầu nămĐối với hoạt động đầu tư nước ngoài, 6 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung vốn đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép Formosa, phần lớn là xây dựng khu phụ trợ, phục vụ hoạt động sản xuất chính thức và Cảng nước sâu Sơn Dương Formosa nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng giảm. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 251,1 triệu USD, giảm 21,68% so với cùng kỳ năm 2017.Trong khi nguồn vốn đầu tư của khu vực Nhà nước và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài sụt giảm so với cùng kỳ thì nguồn vốn ngoài nhà nước lại có mức tăng khá 18,99% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 39,06% tổng vốn đầu tư 6 tháng đầu năm. Đây là nguồn vốn đầu tư phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực dân cư.3.2. Xây dựng6 tháng đầu năm 2018, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài tiến độ triển khai chậm, riêng dự án Khu liên hợp Gang thép và Cảng Sơn Dương Formosa cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 nên vốn đầu tư giảm mạnh và chủ yếu đầu tư vào máy móc thiết bị. Tuy nhiên, xây dựng khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng mạnh nên dẫn đến giá trị xây dựng toàn tỉnh tăng so với cùng kỳ năm trước, nhưng chỉ tăng nhẹ với mức tăng 3,08% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở xây dựng khu vực dân cư (tăng 32,35%) và khu vực ngoài nhà nước (tăng 5,14%). Riêng xây dựng khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, lần lượt giảm 63,08% và 66,89%. 4. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 6/2018 ước tính tăng 181,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,29%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,04 lần; sản xuất và phân phối điện tăng 11,89%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,87%. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng cả ở 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó chủ yếu tăng mạnh ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tính chung 6 tháng, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 170,86% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn mức tăng của 5 tháng đầu năm (chung 5 tháng tăng 168,27%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 259,09%, đóng góp 158,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 36,2%, đóng góp 12,68 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 18,6%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3,39%, làm giảm 0,09 điểm phần trăm. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp6 tháng đầu năm 2016, 2017, 20186 tháng đầu năm 2018, hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa (tập trung chủ yếu là sản phẩm thép), nếu loại trừ ảnh hưởng của các sản phẩm than cốc, thép, điện sản xuất từ Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh thì chỉ số sản xuất ước tính 6 tháng tăng 14,43% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,19%; sản xuất và phân phối điện tăng 24,35%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2018 giảm 0,48% so với tháng trước và tăng 3,99 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,03 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 7,85 lần; In, sao chép các bản ghi các loại tăng 85,12%; sản xuất than cốc tăng 65,83%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 60,64%; chế biến thực phẩm giảm 70,14%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2018 tăng 39,92% so với tháng trước và tăng 89,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 12,35 lần; than cốc tăng 3,18 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 275,26%; ngành dệt tăng 268,69%; sản xuất từ sản phẩm cao su và plastic tăng 158,48%.Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2018 giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng tăng 16,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,81%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 26,03%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,96%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 6 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp5.1. Tình hình đăng ký kinh doanh6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh thành lập mới 495 doanh nghiệp, tăng 2,9% (tăng 14 doanh nghiệp); số vốn đăng ký đạt 3.553 tỷ đồng, tăng 28,2% (tăng 781 tỷ đồng) so với cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân đạt 7,2 tỷ đồng/doanh nghiệp. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 22/6/2018 là 147 doanh nghiệp, tăng 15,75% (tăng 20 doanh nghiệp) so cùng kỳ năm trước và có 72 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, tăng 9,1% (tăng 6 doanh nghiệp) so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong 6 tháng đầu năm 2018 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. 5.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệpKết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý II năm 2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 80% DN đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 37,78% khẳng định SXKD tốt lên, 42,22% khẳng định giữ ổn định); 20% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý III so với quý II năm 2018, có 75,55% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh quý III tốt hơn và giữ ổn định so với quý II (trong đó 31,11% số doanh nghiệp dự báo tốt lên, 44,44% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 24,44% số doanh nghiệp khó khăn hơn.Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 62,22% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 53,33% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 42,22% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 53,33% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II/2018, có 46,67% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý I/2018; 17,78% giảm đi; có 34,21% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 20,93% giảm đi; 83,33% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 22,22% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy) và 31,11% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm (ngành có tỷ lệ lớn DN giảm tồn kho nguyên vật liệu là sản xuất đồ uống, dệt, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy); 2,22% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 4,44% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý III so quý II có 29,91% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 21,43% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 20% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 20% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.Đánh giá về biến động lao động quý II/2018 so với quý I/2018, có 93,33% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 6,67% khẳng định tăng lên, 86,67% khẳng định giữ ổn định) và 6,67% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý III so với quý II vẫn duy trì tỷ lệ như quý II so với quý I, điều đó khẳng định các doanh nghiệp hoạt động khá ổn định và không có nhu cầu tăng thêm lao động hoặc giảm lao động do gặp khó khăn trong sản xuất.6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnVới việc vụ Xuân 2018 được mùa khá toàn diện; giá lợn đang có xu hướng tăng trở lại; hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản hải sản thuận lợi là những yếu tố cơ bản giúp cho khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản 6 tháng đầu năm 2018 đạt được mức tăng trưởng khá, với mức tăng 5,54% so với cùng kỳ năm 2017 và đóng góp 1,08 điểm phần trăm trong mức tăng trưởng chung. 6.1. Sản xuất nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất vụ Đông Xuân năm nay trong điều kiện thời tiết thuận lợi nên kết quả đạt được là khá toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng, cụ thể như sau: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2017-2018 sơ bộ đạt 102.065 ha, bằng 101,62% (tăng 1.627 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng diện tích lúa, ngô và rau các loại, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa sơ bộ đạt 59.143 ha, bằng 100,47% (tăng 277 ha); diện tích ngô sơ bộ đạt 7.876 ha, bằng 137,77% (tăng 2.159 ha); diện tích khoai lang sơ bộ đạt 3.099 ha, bằng 90,9% (giảm 310 ha); diện tích lạc sơ bộ đạt 13.081 ha, bằng 89,92% (giảm 1.466 ha) và diện tích rau các loại sơ bộ đạt 9.619 ha, bằng 115,56% (tăng 1.295 ha). Như vậy, diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 67.019 ha, bằng 103,77% (tăng 2.436 ha) so với cùng kỳ. Các địa phương có diện tích lúa vụ Xuân tăng như: Hương Khê tăng 163 ha, Hương Sơn tăng 70,7 ha, Nghi Xuân tăng 69,7 ha...Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa vụ Xuân đạt 55,75 tạ/ha, bằng 135,67% (tăng 14,66 tạ/ha) và sản lượng lúa đạt 329.694 tấn, bằng 136,3% (tăng 87.811 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, diện tích gieo trồng lúa tăng 277 ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 1.516 tấn và năng suất lúa tăng 14,66 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 86.295 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ năng suất lúa tăng cao so với cùng kỳ là do vụ Xuân năm 2017 lúa bị bệnh đạo ôn cổ bông nên năng suất đạt thấp. Vụ Xuân năm nay năng suất lúa của tất cả các địa phương trong tỉnh đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó các địa phương có năng suất lúa tăng mạnh như: Nghi Xuân tăng 31,7 tạ/ha, Hương Sơn tăng 24,18 tạ/ha, Thành phố Hà Tĩnh tăng 20,94 tạ/ha, Thạch Hà tăng 19,37 tạ/ha, Lộc Hà tăng 17,78 tạ/ha,... Theo kết quả sơ bộ, năng suất và sản lượng các loại cây trồng khác so với cùng kỳ năm 2017 cụ thể như sau: Năng suất ngô đạt 39,78 tạ/ha, bằng 99,98% (giảm 0,01 tạ/ha). Sản lượng ngô đạt 31.328 tấn, bằng 137,74% (tăng 8.584 tấn). Năng suất khoai lang đạt 71,84 tạ/ha, bằng 105,67% (tăng 3,85 tạ/ha). Sản lượng khoai lang đạt 22.263 tấn, bằng 96,05% (giảm 915 tấn). Năng suất lạc đạt 25,71 tạ/ha, bằng 108,35% (tăng 1,98 tạ/ha). Sản lượng lạc đạt 33.626 tấn, bằng 97,43% (giảm 887 tấn). Năng suất rau các loại đạt 66,36 tạ/ha, bằng 101,85% (tăng 1,21 tạ/ha). Sản lượng rau các loại đạt 63.830 tấn, bằng 117,7% (tăng 9.600 tấn). Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2017-2018 đối với các loại cây trồng khác năng suất đều tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng ngô và lạc giảm so với cùng kỳ.Tình hình sâu bệnh năm nay tuy có xẩy ra nhưng gây thiệt hại không đáng kể. Trên cây lúa thì bệnh đạo ôn lá xuất hiện rải rác trên các giống lúa Xi23, NX30, P6, VTNA6 tại Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 15-20% với diện tích nhiễm bệnh là 2.054,8 ha, trong đó có 80,9 ha nhiễm nặng. Bệnh đạo ôn cổ bông gây hại trên giống TH3-3, KD18, VTNA2, Xi23, BT09 với diện tích nhiễm 32,7 ha. Bệnh khô vằn với tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh là 2.560 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Trên cây lạc thì bệnh lỡ cổ rễ gây hại với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích bị nhiễm bệnh là 16 ha, phân bố tại các địa phương như: Thạch Hà, Lộc Hà, Kỳ Anh,...Trên cây ngô bệnh đốm lá nhỏ với tỷ lệ nhiểm bệnh 3-5%, nơi cao 10-15%, diện tích bị nhiểm bệnh là 20 ha. Sâu đục thân, đục bắp mật độ trung bình 1-2con/m2, nơi cao 2-4 con/m2. Đối với cây ăn quả có múi bệnh nứt thân xì mủ gây hại tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 7%, diện tích nhiễm bệnh là 28ha, tập trung ở Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê… Nhóm nhện gây hại lá xuất hiện với tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm bệnh là 32 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang...Lấy phương châm “ăn chắc”, né tránh thiên tai, kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh trong sản xuất vụ Hè Thu 2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã định hướng sản xuất trên diện tích hơn 59.200 ha, trong đó có 44.369 ha lúa vụ Hè Thu, 790 ha lúa vụ Mùa, còn lại là các loại cây trồng cạn. Vụ Hè Thu 2018, cơ cấu sử dụng nhóm giống lúa chủ lực có thời gian sinh trưởng dưới 115 ngày, gồm: PC6, TH3-3, XM12, VTNA2, TH3-5, KD ĐB, KD18, HT1, Nếp 98, Nếp 87. Ngoài ra, tiếp tục sản xuất khu vực hóa một số giống (SV181, Kim cương 111, VTNA6), sản xuất thử giống BQ, Lam sơm 8…Tính đến ngày 15/6/2018 toàn tỉnh đã gieo cấy ước đạt 37.757 ha lúa, bằng 85,1% kế hoạch (kế hoạch là 44.369 ha), trong đó diện tích lúa gieo thẳng là 36.220 ha, lúa cấy là 1.537 ha. Như vậy, theo khung lịch thời vụ thì đến ngày 15/6 các địa phương trong tỉnh phải hoàn thành gieo cấy lúa vụ Hè Thu nhưng kết quả thực hiện thì vẫn chưa đạt kế hoạch đặt ra. Kết quả gieo cấy lúa vụ Hè Thu 2018 ở một số địa phương cụ thể như sau: Thành phố Hà Tĩnh 650 ha, Thị xã Hồng Lĩnh 530 ha, Hương Sơn 2.050 ha, Đức Thọ 4.100 ha, Nghi Xuân 440 ha, Can Lộc 7.767 ha, Thạch Hà 6.000 ha, Cẩm Xuyên 8.600 ha; huyện Kỳ Anh 4.300 ha và Lộc Hà 1.100 ha...Bên cạnh sản xuất gieo cấy lúa vụ Hè Thu thì các địa phương cũng đang làm đất gieo trồng một số cây hoa màu khác như đậu, vừng... Tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 28.791 ha, bằng 102,74% so với cùng kỳ năm trước (tăng 768 ha). Trong đó: Diện tích cây ăn quả ước tính là 15.853 ha, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,01% (tăng 1.175 ha) với sản lượng thu hoạch ước đạt 30.890 tấn, bằng 102,22% (tăng 672 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cùng với phát triển mở rộng diện tích trồng cây ăn quả là việc đưa vào các loại giống có năng suất cao cho nên sản lượng cây ăn quả đã tăng hơn so với cùng kỳ. Diện tích cây cao su ước đạt 9.479 ha, bằng 95,33% (giảm 464 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cao su ước đạt 1.872 tấn, bằng 99,48% (giảm 10 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè búp ước đạt 1.095 ha, bằng 108,31% (tăng 84 ha), với sản lượng chè búp ước đạt 5.146 tấn, bằng 102,92% (tăng 146 tấn) và diện tích chè xanh ước đạt 1.685 ha, bằng 95,52% (giảm 79 ha), với sản lượng chè xanh ước đạt 10.712 tấn, bằng 98,79% (giảm 131 tấn) so với cùng kỳ năm trước. - Chăn nuôi: Số lượng đàn vật nuôi ước tính hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 75.861 con, bằng 91,73%, giảm 6.840 con. Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 196.206 con, bằng 91,24%, giảm 18.833 con. Tổng đàn lợn có 434.883 con, bằng 110,74%, tăng 42.181 con. Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.084 ngàn con, bằng 102,67%, tăng 210 ngàn con. 6 tháng đầu năm 2018, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 2.476 tấn, bằng 91,06%, giảm 243 tấn; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 6.003 tấn, bằng 95,12%, giảm 307 tấn; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 36.897 tấn, bằng 89,73%, giảm 4.223 tấn; sản lượng gia cầm ước đạt 8.533 tấn, bằng 109,22%, tăng 721 tấn.Tình hình chăn nuôi gia súc trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2018 vẫn đang gặp nhiều khó khăn, sản lượng xuất chuồng giảm so với cùng kỳ năm trước. Dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty Cổ phần chăn nuôi Bình Hà là Dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi ở Hà Tĩnh tính đến thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, năm 2018 dự án này hoạt động cầm chừng không đạt được kết quả như mong đợi, việc xuất nhập bò không diễn ra thường xuyên với số lượng bò ngày càng giảm. Chăn nuôi bò của Công ty Mitraco hiện có 2 cơ sở nuôi tại huyện Kỳ Anh và huyện Cẩm Xuyên nhưng do thị trường tiêu thụ sản phẩm khó khăn, giá cả thấp nên công ty cũng đang tạm dừng liên kết với các hợp tác xã và hộ dân. Tình hình chăn nuôi lợn cũng đang gặp rất nhiều khó khăn do giá lợn hơi giảm mạnh trong thời gian vừa qua. Khu vực bị ảnh hưởng và gặp nhiều khó khăn nhất là hộ gia đình và gia trại vì đây là các khu vực có nguồn vốn không nhiều lại bị thua lỗ nặng nên khó để tiếp tục tái đàn. Tổng số trang trại chăn nuôi lợn hiện nay còn có 205 trang trại, bằng 95,79% (giảm 9 trang trại) và số lượng gia trại chăn nuôi lợn hiện nay chỉ còn có 1.130 gia trại, bằng 58,1% (giảm 815 gia trại) so với cùng kỳ năm trước. Các mô hình chăn nuôi lớn như trang trại, hợp tác xã/doanh nghiệp một số vẫn cầm chừng được nhưng một số phải giảm quy mô chăn nuôi xuống còn 50% quy mô trước đây. Hiện nay, giá lợn hơi đã tăng trở lại với mức giá trên 50 ngàn đồng/kg nên hoạt động chăn nuôi lợn trong thời gian tới sẽ tăng trở lại.- Tình hình dịch bệnh: Mặc dù đã tăng cường công tác quản lý kiểm soát, kiểm tra vệ sinh thú y, phòng chống dịch cho vật nuôi. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2018 cũng đã xẩy ra dịch lỡ mồm long móng làm cho 215 con gia súc mắc bệnh (28 con trâu, 107 con bò và 80 con lợn), trong đó có 80 con lợn buộc phải tiêu hủy. Dịch xẩy ra ở các địa phương: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà và Lộc Hà.Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 133.758 liều, đạt 71,6% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 119.360 liều, đạt 64,6% kế hoạch; dịch tả lợn 133.565 liều, đạt 55,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 118.836 liều, đạt 49,2% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 103.496 liều, đạt 66,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 577.421 liều, đạt 20,1% kế hoạch.6.2. Lâm nghiệp- Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong 6 tháng đầu năm 2018, cùng với việc hưởng ứng Tết trồng cây nhân dịp Xuân Mậu Tuất nên toàn tỉnh dự ước trồng được 2.844 ha rừng tập trung, bằng 107,58%, tăng 200 ha và 2.717 ngàn cây phân tán, bằng 99,52%, giảm 13 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng trồng chủ yếu ở các địa phương: Huyện Kỳ Anh 1.323 ha, Cẩm Xuyên 580 ha, Hương Sơn 260 ha, Hương Khê 135 ha, Thạch Hà 107 ha...Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng vẫn được duy trì thực hiện. Diện tích rừng được chăm sóc là 18.500 ha, bằng 101,4% (tăng 256 ha); diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 16.383 ha, bằng 71,57% (giảm 6.507 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 175.979 ha, bằng 86,73% (giảm 26.930 ha). Nguyên nhân diện tích rừng được giao khoán bảo vệ giảm do nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện giảm.- Khai thác gỗ và lâm sản: 6 tháng đầu năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 108.964 m3 gỗ, bằng 81,71% (giảm 24.397 m3) so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 282.717 Ste củi, bằng 88,6%, giảm 36.380 Ste so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Hương Sơn 36.500 m3, Cẩm Xuyên 26.146 m3, huyện Kỳ Anh 12.825 m3, Hương Khê 11.473 m3, Thạch Hà 5.375 m3, Thị xã Kỳ Anh 5.163 m3...Bên cạnh đó, một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt thấp như: Nghi Xuân 254 m3, Đức Thọ 493 m3, Lộc Hà 696 m3 ...- Thiệt hại rừng: 6 tháng đầu năm 2018 đã thực hiện tốt công việc bảo vệ và phòng chống cháy rừng nên không có thiệt hại về rừng xẩy ra. 6.3. Thủy sản6 tháng đầu năm 2018, diện tích xuống giống thả nuôi ước đạt 6.672 ha, bằng 109,27%, tăng 566 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi trồng nước ngọt ước đạt 4.049 ha, bằng 106,38%, tăng 243 ha; diện tích nuôi trồng nước lợ ước đạt 2.266 ha, bằng 117,84%, tăng 343 ha và diện tích nuôi trồng nước mặn ước đạt 357 ha, bằng 94,69%, giảm 20 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng diện tích thả nuôi do năm nay điều kiện thời tiết không có rét đậm rét, rét hại nên diện tích nuôi trồng nước ngọt và nước lợ tăng so với cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng nước ngọt chủ yếu thả nuôi trong quý I/2018, còn diện tích nước lợ và nước mặn được thả giống đại trà vào đầu quý II/2018. Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 19.989 tấn, bằng 108,62%, tăng 1.586 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước đạt 14.976 tấn, bằng 107,66%, tăng 1.066 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 5.013 tấn, bằng 111,57%, tăng 520 tấn so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất thủy sản đã ổn định và có bước tăng trưởng sau hai năm xẩy ra sự cố môi trưởng biển. Đây tiếp tục là tín hiệu tích cực đối với hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. 6 tháng đầu năm 2018, số lượng giống thủy sản sản xuất ước đạt 368 triệu con, tăng 27 triệu con so với cùng kỳ năm 2017. Hiện nay trên địa bàn có hai cơ sở sản xuất con giống thủy sản lớn đó là: HTX nuôi trồng thuỷ sản Tuấn Linh ở Thị xã Kỳ Anh ước đạt 23 triệu con giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng; Công ty TNHH Thông Thuận ở huyện Nghi Xuân ước đạt 320 triệu con giống tôm thẻ chân trắng. Sản xuất con giống thủy sản trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu người nuôi. Vì vậy, số lượng con giống chủ yếu vẫn được nhập về từ tỉnh khác như: Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Bến Tre...6 tháng đầu năm 2018, đã xuất hiện dịch bệnh tôm bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính tại các địa phương (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh) với diện tích bị nhiểm bệnh là 24,57 ha. Cùng với đó, trong tháng 4/2018 cũng đã xẩy ra hiện tượng cá, mực nuôi của các hộ kinh doanh hải sản chết hàng loạt ở Thị xã Kỳ Anh. Nguyên nhân được xác định là do ngạt khí bởi các nhà thầu đang thi công cầu cảng số 3,4 tại cảng Vũng Áng tạo nên một vòng cung khép kín khiến cho nước biển không được lưu thông làm cá thiếu ôxi dẫn đến chết ngạt.7. Thương mại, dịch vụ và giá cả7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 6/2018 đạt 2.942,04 tỷ đồng, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 196,8 tỷ đồng, tăng 35,36% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.741,85 tỷ đồng, tăng 10,49%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,4 tỷ đồng. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế nhà nước, tăng 35,36%; tiếp đến là kinh tế tập thể tăng 32,35%. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 3,29 lần; văn phẩm văn hóa, giáo dục ước tăng 23,47%; lương thực, thực phẩm ước tăng 14,54%; đá quý, kim loại quý ước tăng 17,17%; sữa chữa xe có động cơ ước tăng 16,41%. Trong các nhóm hàng, chỉ có hàng hóa khác giảm 6,85% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 17.063,87 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.160,97 tỷ đồng, tăng 27,79%; ngoài Nhà nước ước đạt 15.889,43 tỷ đồng, tăng 9,77% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 13,47 tỷ đồng.Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 6.327,85 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,82%, tăng 12,83% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 2.271,98 tỷ đồng, chiếm 13,31%, tăng 2,44% so với cùng kỳ. Đặc biệt là nhóm ô tô ước đạt 890,28 tỷ đồng, với mức tăng cao nhất 239,57% so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu mua sắm loại phương tiện này đang có xu hướng tăng cùng với đầu năm 2018 chính sách giảm thuế xe ô tô vào các nước Asean bắt đầu có hiệu lực nên thị trường có phần sôi động hơn. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2018 ước đạt 509,09 tỷ đồng, tăng 14,67% so tháng trước và tăng 12,42% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 6/2018Như vậy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2018 tiếp tục tăng so với tháng trước và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: lưu trú tăng 19,28%, ăn uống tăng 14,41% và du lịch lữ hành tăng 1,85%.Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.155,81 tỷ đồng, tăng 10,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 136,4 tỷ đồng, tăng 8,58%; ăn uống ước đạt 2.011,31 tỷ đồng, tăng 10,13%; lữ hành và hỗ trợ du lịch ước đạt 8,1 tỷ đồng, tăng 21,24%. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 6 tháng năm 2018 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do du lịch biển đã thu hút được nhiều khách trong và ngoài tỉnh tham quan nghỉ mát, kéo theo lượng khách đến thuê phòng nghỉ cũng tăng. Ngoài ra, còn có nhiều đoàn khách ra vào khu nghỉ mát Quỳnh Viên-Thạch Hà, khu du lịch Vinpearl Cửa Sót Lộc Hà, Kỳ Xuân C-resort - huyện Kỳ Anh nên đã làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 6/2018 ước đạt 102,92 tỷ đồng, tăng 2,87% so với tháng trước và tăng 5,42% so cùng kỳ năm 2017. Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 6/2018 tăng so với tháng trước, nhưng chỉ với mức tăng nhẹ và tăng đều ở cả 3 khu vực kinh tế. Đây là tháng cao điểm của mùa du lịch Biển nên lượng khách đến tham quan nghỉ mát tăng dẫn đến các hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí tăng; cùng với doanh thu các nhóm dịch vụ y tế, dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ khác đều có xu hướng tăng. Tất cả các yếu tố này đã tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác tăng so với tháng trước.Tính chung 6 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 595,91 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 22,32%; dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 7,47%; dịch vụ khác ước tăng 6,31%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác 6 tháng đầu năm 2018 cũng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ.7.2. Hoạt động vận tảiKhối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 6/2018 ước đạt 2,52 triệu tấn (giảm 4,4%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 62,93 triệu tấn.km (giảm 3,66%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 216,93 tỷ đồng, giảm 1,3%. Tuy vận tải hàng hóa khu vực kinh tế cá thể tăng, nhưng vận tải hàng hóa khối doanh nghiệp và vận tải hàng hóa đường sông cũng có xu hướng giảm đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa giảm.Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 6/2018 ước đạt 1,93 triệu lượt hành khách (tăng 0,79%), với khối lượng luân chuyển là 349,48 triệu lượt hành khách.km (tăng 1,73%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 151,77 tỷ đồng, tăng 2,61%. Do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải công cộng như xe buýt, taxi của người dân tăng. Mặt khác, là tháng bắt đầu kỳ nghỉ hè của học sinh, nên nhu cầu đi du lịch gia đình tăng, tác động đến việc khách du lịch tham gia phương tiện vận tải hoặc thuê xe du lịch tăng, những điều đó đã làm cho kết quả vận tải hành khách tăng so với tháng trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 16,05 triệu tấn (tăng 3,94%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 395,04 triệu tấn.km (tăng 4,26%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 1.341,55 tỷ đồng, tăng 6,72%. Còn số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11,64 triệu lượt hành khách (tăng 8,73%), với khối lượng luân chuyển là 2.024,52 triệu lượt hành khách.km (tăng 11,19%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 874,31 tỷ đồng, tăng 11,7%. 6 tháng đầu năm 2018, hoạt động vận tải tuy gặp một số khó khăn do yếu tố chi phí nhiên liệu tăng giá so với cùng kỳ năm trước nhưng kết quả đạt được vẫn tăng so với cùng kỳ. Cùng với hoạt động vận tải hành khách thì với việc dự án Formosa đưa vào vận hành cả 2 lò cao sẽ làm tăng khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Đây chính là yếu tố để hoạt động vận tải hàng hóa trong thời gian tới tiếp tục đạt được kết quả tích cực hơn.7.3. Chỉ số giá tiêu dùng6 tháng đầu năm 2018, với sự ảnh hưởng của giá dầu thô thế giới liên tục tăng, hiện đã vượt ngưỡng 100 USD/thùng dầu, đã đẩy giá xăng, dầu diezel trong nước tăng liên tục với biên độ mỗi lần điều chỉnh ngày càng cao; cùng với việc điều chỉnh giá điện và nước sạch đã gây nhiều sức ép đến chi phí sản xuất và chi phí vận tải, tác động đến giá cả các nhóm mặt hàng tiêu dùng. Giá ngoại tệ cũng có xu hướng tăng, dẫn đến sức ép về giá đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu trong nước.CPI tháng 6 năm 2018, tăng 0,36% so tháng trước, tăng 5,49% so cùng tháng năm trước và tăng 2,13% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,3% và khu vực nông thôn tăng 0,4%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,94%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,2%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%; giao thông tăng 0,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,71%.Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm so với tháng trước: May mặc, dày dép và mũ nón giảm 0,71%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 1,32%; bưu chính viễn thông giảm 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,12%.Các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.Chỉ số giá vàng giảm 0,94% so tháng trước, tăng 3,24% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,13% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng giảm so tháng trước với mức giá hiện tại thời điểm ngày 22/6/2018 ở mức 3,64 triệu đồng/chỉ tại thành phố Hà Tĩnh. Bình quân giá vàng trong tháng là 3,625 triệu đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,38% so tháng trước, tăng 0,92% so cùng kỳ năm trước và tăng 0,57% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh mức giá bán ra 2,289 triệu đồng/100USD. CPI tháng 6 năm 2018 biến động tăng so với tháng trước chủ yếu do: (1) Giá xăng dầu bình quân tăng so tháng trước; (2) Giá thực phẩm tiếp tục tăng, đặc biệt là giá mặt hàng từ thịt lợn, bình quân các mặt hàng thịt lợn đều tăng từ 10.000-15.000 đồng/kg; (3) Giá điện, nước sinh hoạt tăng do khối lượng tiêu thụ tăng. Đặc biệt là tổng tiền điện sinh hoạt tăng bình quân từ 50-80% tuỳ từng khu vực so với tháng trước.Dự kiến CPI tháng 7/2018 tiếp tục tăng so với tháng 6/2018. Nguyên nhân, do giá thịt lợn tiếp tục tăng; cùng với việc điều chỉnh lương cơ bản của những đối tượng hưởng lương từ ngân sách dự kiến sẽ gây ra ảnh hưởng tâm lý, tác động đến giá cả hàng hoá tiêu dùng tiếp tục tăng; tất cả những yếu tố này sẽ làm cho chỉ số giá tăng.8. Các vấn đề xã hội8.1. Tình hình đời sống dân cư Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2018 có cải thiện hơn so với cùng kỳ. Hiện nay bà con nông dân đã thu hoạch lúa vụ Xuân năm 2018 nên lượng lương thực trong dân dồi dào. Cùng với sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói không xảy ra. 8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ngày 02/5/2018 về phân bổ kế hoạch vốn từ ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018 với tổng số vốn phân bổ là 58,7 tỷ đồng. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.- Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai kịp thờ. Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 51.838 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 76.781 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 106.278 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 53.803 thẻ BHYT cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 228.112 suất quà với tổng kinh phí 54,327 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong dịp Tết UBND tỉnh đã cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ cho 5.740 hộ với 10.672 nhân khẩu để đảm bảo cho người dân không thiếu đói trong dịp Tết. Trao 45 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 182 triệu đồng; xây mới 59 nhà tình nghĩa, trị giá 2.491 triệu đồng và sữa chữa 40 nhà với tổng giá trị là 800 triệu đồng.Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; trang trọng tổ chức an táng 12 hài cốt các liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Nầm vào sáng ngày 8/5/2018.8.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làmNăm 2018, Hà Tĩnh tiếp tục ưu tiên thực hiện đào tạo nghề cho các đối tượng lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo; Đề án “Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường trên địa bàn Hà Tĩnh”. 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã đào tạo được 2.389 (cao đẳng nghề 37 người, trung cấp nghề 440 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới ba tháng 1.912 người). Giải quyết việc làm cho 10.735 người, tăng 5,71% so với cùng kỳ. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 4.769 người, tăng 15,42%; xuất khẩu lao động 3.184 người, giảm 7,98%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 2.782 người, tăng 8,54%.8.4. Hoạt động giáo dục đào tạo- Giáo dục phổ thông: Năm học 2017-2018, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã có 85/96 học sinh đạt giải (3 giải nhất, 28 giải nhì, 31 giải ba và 23 giải khuyến khích). Đặc biệt, có 9 em đạt thành tích xuất sắc nhất được gọi vào tham gia chọn đội dự tuyển dự thi quốc tế. Hà Tĩnh đứng thứ 3 về số lượng học sinh giỏi cấp quốc gia, đây là thành tích xuất sắc nhất từ trước đến nay. Trong năm học 2017-2018, toàn tỉnh cũng đã có 2.319 em đạt học sinh giỏi tỉnh (216 giải nhất, 520 giải nhì, 794 giải ba và 789 giải khuyến khích). Với kết quả đã đạt được, ngành giáo dục Hà Tĩnh vẫn giữ vững vị trí là một trong những tỉnh thuộc tốp dẫn đầu của cả nước về chất lượng giáo dục mũi nhọn.Số lượng học sinh đến cuối năm học vẫn ổn định. Tổng số cháu đi mầm non là 89.250 cháu, số học sinh tiểu học là 103.228 học sinh, số học sinh trung học cơ sở là 75.440 học sinh và số học sinh trung học phổ thông là 43.377 học sinh.Công tác chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 đã được tiến hành đảm bảo các nội dung. Năm nay, cụm thi Hà Tĩnh được tổ chức ở 34 điểm thi do Sở Giáo dục Đào tạo chủ trì, với hơn 900 cán bộ, giáo viên của các đơn vị phối hợp (Học viện thanh thiếu niên; Đại học Kinh tế quốc dân; Đại học Hà Tĩnh) được tăng cường làm nhiệm vụ coi thi ở Hà Tĩnh. Đến thời điểm hiện tại, cụm thi Hà Tĩnh có tổng số 16.401 thí sinh đăng ký dự thi (bao gồm 911 thí sinh tự do), trong đó: Môn Toán có 16.279, Vật lý 5.227, Hóa học 5.272, Sinh học 5.088, Ngữ văn 15.981, Lịch sử 12.135, Địa lý 11.929, Giáo dục công dân 10.715 thí sinh đăng ký. Số thí sinh đăng ký thi tổ hợp khoa học tự nhiên là 3.878 em, đăng ký bài thi KHXH là 10.678 em. Để đảm bảo các điều kiện phục vụ kỳ thi, các nhà trường cũng đã rà soát lại cơ sở vật chất và tiến hành tu sửa kịp thời. Dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo kỳ thi, các ngành liên quan như công an, thanh niên tình nguyện, y tế…đã vào cuộc, chuẩn bị lực lượng thực hiện công tác hỗ trợ kỳ thi. Ban chỉ đạo kỳ thi cũng đã giao cho các nhà trường rà soát và xây dựng kế hoạch cụ thể tham mưu việc hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên tinh thần không để học sinh bỏ thi; xây dựng phương án ăn ở, đi lại cho cán bộ, giáo viên các trường đại học về làm nhiệm vụ coi thi tại Hà Tĩnh. Có thể khẳng định, đến thời điểm hiện nay, cụm thi THPT quốc gia tại Hà Tĩnh đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị.- Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2018-2019 là 2.450 chỉ tiêu (so với năm học 2017-2018 giảm 3%). Cụ thể: Trường Đại học Hà Tĩnh 1.250 chỉ tiêu (đại học 1.200 chỉ tiêu, cao đẳng 50 chỉ tiêu); các trường cao đẳng là 1.200 chỉ tiêu (cao đẳng 1.000 chỉ tiêu và hệ trung học chuyên nghiệp 200 chỉ tiêu). 8.5. Hoạt động Y tế- Tình hình dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Trong tháng 4 và 5, dịch bệnh thủy đậu đã lây lan mạnh. Để khống chế, Trung tâm Y học dự phòng tỉnh đã phối hợp các Trạm Y tế phun Cloramin B khử trùng tại các điểm có dịch; đồng thời, hướng dẫn vệ sinh môi trường, tổ chức tuyên truyền cho các bậc phụ huynh và người dân các biện pháp phòng chống dịch bệnh. 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn Hà Tĩnh có 119 trường hợp mắc dịch thủy đậu, 02 trường hợp sốt xuất huyết, 143 trường hợp sốt rét và không có trường hợp nào bị tử vong do các loại dịch bệnh trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, thời gian qua Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn. Đồng thời, ngành Y tế tiếp tục giám sát, tư vấn, hỗ trợ về nhân sự, cách bố trí, tiêu chuẩn phòng xét nghiệm, hỗ trợ trang thiết bị cho các phòng xét nghiệm sàng lọc HIV tại 13 huyện, thị, thành phố nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm sàng lọc HIV. Đã đầu tư các trang thiết bị hiện đại như tủ an toàn sinh học, dàn ELISA, tủ lạnh âm sâu âm 40 - 860C và các trang thiết bị khác để phục vụ tốt công tác xét nghiệm. 6 tháng đầu năm 2018, Hà Tĩnh có 29 trường hợp nhiễm HIV, so với cùng kỳ năm trước không thay đổi; có 33 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, tăng 27%; có 01 trường hợp chết vì AIDS.- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Để hướng tới một thị trường có thực phẩm an toàn, các cơ quan chức năng Hà Tĩnh đã vào cuộc với nhiều biện pháp quyết liệt, nhằm ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ATVSTP. Ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục tập trung vào công tác quản lý, chỉ đạo; thông tin tuyên truyền giáo dục; thanh tra liên ngành về an toàn thực phẩm; giám sát phát hiện sớm ca ngộ độc tực phẩm trong cộng đồng; điều tra, xử lý khắc phục vụ ngộ độc thực phẩm; bảo đảm vật tư, hóa chất, phương tiện phòng chống vụ ngộ độc thực phẩm. 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 650 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 31% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. 8.6. Hoạt động văn hóa - thể thao- Hoạt động văn hóa: Nhân dịp xuân Mậu Tuất, nhiều nội dung mừng Đảng, mừng Xuân đã diễn ra trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã. Đêm giao thừa Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm nay, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức 2 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh. Bên cạnh đó, các đơn vị như: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới. Các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh; phản ánh đầy đủ, toàn diện không khí vui xuân, đón tết của nhân dân; tổ chức Hội báo xuân, triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018” tại khu di tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân.Cùng với đó, đã tổ chức Đại lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh. Với sự kiện "Hoàng Hoa sứ trình đồ" là tư liệu quý hiếm về hành trình đi sứ thế kỷ XVIII được lưu giữ cẩn thận chính trong dòng họ Nguyễn Huy của vị sứ thần Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) ở làng Trường Lưu nay thuộc xã Trường Lộc, huyện can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh được Hội nghị MOWCAP lần thứ 8 tại Hàn Quốc nhất trí ghi danh hồ sơ vào danh sách các di sản tư liệu của Chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã thêm một lần nữa vinh danh những giá trị văn hóa của Việt Nam, của Hà Tĩnh lên tầm quốc tế. Giá trị đó cần được chúng ta lưu giữ, bảo vệ và trao truyền cho thế hệ mai sau. Trung tuần tháng 6 năm 2018, UBND 2 huyện Thạch Hà và Lộc Hà đã long trọng tổ chức Lễ đón bằng chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "lễ hội đền Chiêu Trưng". Đây là lễ hội văn hóa truyền thống nhân ngày chính kỵ húy nhật của danh tướng Lê Khôi vào dịp đầu tháng 5 âm lịch hàng năm, gồm phần lễ và hội.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. 6 tháng đầu năm 2018, đã đình chỉ 12 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh; giải bóng chuyền nam thanh niên tại huyện Cẩm Xuyên; giải quần vợt cúp truyền hình Hà Tĩnh lần thứ III; hội thao Công nhân, viên chức, lao động các công ty điện lực khu vực phía Nam thuộc Tổng công ty Điện lực Miền Bắc; Đại hội TDTT lần thứ VIII; giải bóng rổ thiếu niên nhi đồng lần thứ V...Thể thao thành tích cao: 6 tháng đầu năm 2018, đoàn Hà Tĩnh dành được 17 huy chương các loại, bao gồm: 12 HCV, 3 HCB và 2 HCĐ.8.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hộiVới mục tiêu giảm TNGT tối thiểu 5% so với năm 2017, Ban ATGT tỉnh tổ chức ký kết tuyên truyền với 18 cơ quan, đơn vị và trường học trong toàn tỉnh nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT, lồng ghép trong hoạt động chuyên môn của từng đơn vị, qua đó nâng cao vai trò gương mẫu của mỗi cán bộ, hội viên...trong việc thực hiện pháp luật trật tự ATGT. Ban An toàn giao thông tỉnh Hà Tĩnh cũng đã tổ chức hội nghị tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2018 cho hơn 200 cán bộ làm công tác tham mưu, trực tiếp bảo đảm ATGT trong toàn tỉnh.Tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/6/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 67 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 67 người và bị thương 30 người, thiệt hại tài sản ước tính 545 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2017 tăng 5 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 5 người chết và giảm 7 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.8.8. Môi trường- Tình hình cháy, nổ: 6 tháng đầu năm 2018, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 39 vụ cháy, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước tính thiệt hại về tài sản là 6,76 tỷ đồng. Trong đó: Cháy nhà dân 10 vụ; 9 vụ cháy đường dây điện; 20 vụ cháy khác. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn trong sử dụng lửa. Ngoài ra, còn xảy ra 2 vụ nổ, làm bị thương 8 người.- Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu bảo đảm môi trường luôn xanh, sạch đẹp, Sở tài nguyên môi trường đã kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. 6 tháng đầu năm 2018, đã kiểm tra phát hiện 15 vụ và xử lý 12 cơ sở vi phạm môi trường, với số tiền 94,5 triệu đồng.9. Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2018Mặc dù kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2018 đạt và vượt kế hoạch đặt ra thì chúng ta không được chủ quan mà cần phải chú trọng thực hiện quyết liệt các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như có bước đột phá, đó là: 9.1. Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra cho cả năm 2018, với kết quả đã đạt được 6 tháng đầu năm phải tiếp tục xem xét đánh giá một cách cụ thể, khách quan đối với từng nội dung, từng ngành, từng lĩnh vực để từ đó có những giải pháp thực hiện có hiệu quả và sát đúng với tình hình thực tế của địa phương, nhất là đối với những nội dung, lĩnh vực còn nhiều hạn chế.9.2. Tiếp tục tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Đẩy nhanh tiến độ sớm hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, xây dựng quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển. 9.3. Tiếp tục tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Quan tâm, tạo điều kiện và đồng hành cùng chủ đầu tư để sớm đưa các dự án lớn trên địa bàn và triển khai thực hiện và hoạt động sản xuất (Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II; hoạt động của lò cao số 2 dự án Fomosa…). Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.9.4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Nhận định tốt tình hình để tập trung chỉ đạo có hiệu quả hoạt động sản xuất vụ Hè Thu 2018 và hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới, tránh thiệt hại cho người người nông dân do những yếu tố chủ quan. 9.5. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu 2018 vẫn diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà đã đạt được kết quả khá tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2018./.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Tháng 5 và 5 tháng năm 2018 tỉnh Hà Tĩnh
- 17/07/2024 15:42
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Tháng 5 và 5 tháng năm 2018 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp trong tháng năm chủ yếu tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông Xuân 2017-2018, trong đó tập trung thu hoạch lúa vụ Xuân đã chín.Sản xuất vụ Đông năm 2017 từ đầu vụ đến nay thời tiết diễn biến không thuận lợi, bão và áp thấp nhiệt đới kèm theo lượng mưa lớn đã gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp và cây trồng. Còn vụ Xuân năm 2018, thời tiết từ tháng 12/2017 đến cuối tháng 3/2018 rét đậm, rét hại, nhiệt độ xuống thấp, đã ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của lúa giai đoạn mạ. Nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự cố gắng nổ lực của bà con nông dân nên kết quả sản xuất cây hàng năm vụ Đông Xuân ước đạt được như sau:Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2016-2017 ước đạt 102.052 ha, bằng 101,61% (tăng 1.614 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng diện tích ngô và rau các loại, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa ước đạt 59.133 ha, bằng 100,45% (tăng 267 ha); diện tích ngô ước đạt 7.876 ha, bằng 137,76% (tăng 2.159 ha); diện tích khoai lang ước đạt 3.099 ha, bằng 90,91% (giảm 310 ha); diện tích lạc ước đạt 13.081 ha, bằng 89,92% (giảm 1.466 ha) và diện tích rau các loại ước đạt 9.617 ha, bằng 115,54% (tăng 1.293 ha). Như vậy, diện tích cây lương thực có hạt ước đạt 67.009 ha, bằng 103,76% (tăng 2.426 ha) so với cùng kỳ. Một số huyện có diện tích ngô tăng như: Huyện Hương Khê tăng 695 ha, Hương Sơn tăng 726 ha, Đức Thọ tăng 253 ha, Vũ Quang tăng 216 ha...Theo đánh giá ban đầu tính đến ngày 15/5/2018, năng suất lúa vụ Xuân năm nay ước tính đạt 51,96 tạ/ha, bằng 126,44% (tăng 10,87 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng lúa ước đạt 307.233 tấn, bằng 127,02% (tăng 65.350 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô ước đạt 37,99 ta/ha, bằng 95,5% (giảm 1,79 tạ/ha); sản lượng ngô ước đạt 29.923 tấn, bằng 131,56% (tăng 7.179 tấn). Năng suất khoai lang ước đạt 72,18 tạ/ha, bằng 106,16% (tăng 4,19 tạ/ha); sản lượng khoai lang ước đạt 22.367 tấn, bằng 96,5% (giảm 811 tấn). Năng suất lạc ước đạt 24,67 tạ/ha, bằng 103,98% (tăng 0,94 tạ/ha); sản lượng lạc ước đạt 32.269 tấn, bằng 93,5% (giảm 2.244 tấn). Năng suất rau các loại ước đạt 65,99 tạ/ha, bằng 101,28% (tăng 0,84 tạ/ha); sản lượng rau các loại ước đạt 63.460 tấn, bằng 117,02% (tăng 9.230 tấn). Tình hình sâu bệnh: Hiện nay, bệnh đạo ôn cổ bông và đốm nâu ở lúa xuân đã phát sinh trên 4.000 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Lộc Hà 569 ha, Thạch Hà 512 ha, Cẩm Xuyên 375 ha, Kỳ Anh 295 ha ... Ngoài ra, còn có hiện tượng vàng lá, khô đầu lá với diện tích 1.143 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Thạch Hà 560 ha, Lộc Hà 300 ha, Kỳ Anh 100 ha; Bệnh khô vằn, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-25%, với diện tích nhiễm 2.560 ha, phân bổ hầu hết các địa phương trong tỉnh; Bệnh đạo ôn lá, với diện tích nhiễm là 2.054,7 ha, chủ yếu nhiễm ở các loại giống Xi23, NX30, P6, VTNA2, VTNA6, KD18, nếp.- Chăn nuôi:Tổng đàn gia súc trâu, bò ước tính hiện có 270.195 con, bằng 92,14%, giảm 23.064 con so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Đàn trâu ước tính có 75.716 con, bằng 91,46%, giảm 7.070 con; đàn bò ước tính có 194.479 con, bằng 92,4%, giảm 15.994 con so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân: Đàn trâu giảm do chăn nuôi trâu chưa có hướng phát triển theo mô hình tập trung mà chỉ mang tính chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân, nuôi kết hợp với các vật nuôi khác. Đàn bò giảm do dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà là dự án có quy mô lớn nhất vào ngành chăn nuôi Hà Tĩnh nay chỉ hoạt động cầm chừng, việc xuất nhập bò không diễn ra thường xuyên như những năm trước, hiện còn 628 con đang nuôi ở trại Cẩm Quan huyện Cẩm Xuyên bằng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; còn Công ty Phát triển bò giống Mitraco - Tổng công ty Khoáng sản, hiện tổng đàn bò tại 2 cơ sở nuôi tại huyện Kỳ Anh và huyện Cẩm Xuyên chỉ có 590 con bò (trong đó có 357 con bò nái, 180 con bò thịt và 53 con), bê bằng 61,7% so với cùng kỳ năm trước.Về chăn nuôi bò sữa theo hình thức liên kết với công ty cổ phần sữa Việt Nam-Vinamilk, hiện nay tổng đàn bò sữa có 2.749 con, bằng 101,29% (tăng 35 con) so với cùng kỳ. Trong đó: Trang trại bò sữa tại xã Sơn Lễ - Hương Sơn hiện có 2.088 con; xã Thường Nga - Can Lộc hiện có 200 con; xã Đức Dũng - Đức Thọ có 461 con.Đàn lợn ước tính hiện có 417.890 con, bằng 91,43%, giảm 39.163 con so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, giá thịt hơi đã hồi phục tăng trở lại, nhưng do thời gian qua giảm mạnh, nên hộ chăn nuôi chưa kịp đầu tư tái đàn; đồng thời, các gia trại chăn nuôi lợn cũng giảm mạnh (hiện có 1.130 gia trại, giảm 41,9% so với cùng kỳ năm 2017), nên làm cho tổng đàn giảm.Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.054 ngàn con, bằng 102,89%, tăng 226,1 ngàn con so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà ước tính hiện có 6.418 ngàn con, bằng 103,44%, tăng 213,3 ngàn con so với cùng kỳ năm trước. Do chăn nuôi lợn bị thua lỗ nên người dân chuyển sang đầu tư chăn nuôi gia cầm; đồng thời, các mô hình chăn nuôi gia trại, trang trại gia cầm vẫn được duy trì và mở rộng; cùng với thời tiết thuận lợi cho việc chăn nuôi, không có dịch bệnh xẩy ra trên gia cầm; tất cả yếu tố đó đã làm cho chăn nuôi gia cầm tăng. 1.2 Lâm nghiệp- Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong tháng 5/2018 ước tính trồng được 1.035 ha rừng tập trung, bằng 189,56% (tăng 489 ha) và 178 ngàn cây phân tán, bằng 140,82% (tăng 51,6 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2018 ước tính trồng được 2.362 ha rừng tập trung, bằng 93,21% (giảm 172 ha) và 1.478 ngàn cây phân tán, bằng 56,67% (giảm 1.130 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng trong tháng vẫn được chú trọng và đầu tư, nhằm khôi phục diện tích bị bão làm gãy đổ năm 2017. - Khai thác gỗ và lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 5/2018 ước đạt 59.875 m3 gỗ, bằng 103,42% và 76.451 ste củi, bằng 100,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2018, ước tính sản lượng gỗ khai thác đạt 83.652,5 m3 gỗ, bằng 112,66% và 238.136 ste củi, bằng 105,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số huyện có sản lượng khai thác gỗ và củi lơn như: Huyện Hương Sơn khai thác 28.600 m3 gỗ và 51.800 ste củi, Cẩm Xuyên khai thác 12.476 m3 gỗ và 11.519 ste củi, Kỳ Anh khai thác 4.849 m3 gỗ và 73.673 ste củi, Thạch Hà khai thác 2.580 m3 gỗ và 21.125 ste củi... - Thiệt hại rừng: Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3. Thuỷ sảnDự ước sản lượng khai thác và nuôi trồng tháng 5/2018 đạt 3.931 tấn, bằng 109,29%, tăng 334 tấn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Sản lượng khai thác ước đạt 3.000 tấn, bằng 108,26%, tăng 229 tấn (gồm sản lượng khai thác biển ước đạt 2.504 tấn, tăng 8,59%; khai thác nội địa ước đạt 496 tấn, tăng 6,67%); còn sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 931 tấn, bằng 112,71%, tăng 105 tấn. Tính chung 5 tháng, tổng sản lượng thủy, hải sản nuôi trồng và khai thác ước đạt 16.268 tấn, bằng 107,77%, tăng 1.173 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 4.140 tấn, bằng 109,06%, tăng 344 tấn và sản lượng khai thác ước đạt 12.128 tấn, bằng 107,34%, tăng 829 tấn so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, đã xảy ra dịch bệnh đốm trắng trên tôm tại 03 xã thuộc huyện Kỳ Anh, Thạch Hà và Cẩm Xuyên, với diện tích nhiễm bệnh là 13,64 ha.2. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 5/2018 ước tính tăng 6,78% so với tháng trước và tăng 193,51% so với cùng kỳ năm trước.Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 năm 2018 Đơn vị:%Theo trên cho thấy, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 5/2018 ước tính tăng so với tháng trước, nhưng chỉ tăng nhẹ; trong 4 ngành công nghiệp cấp I, chỉ có ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,74% và chủ yếu giảm ở khai thác quặng kim loại (giảm 15,98%). Còn so với cùng kỳ năm trước, công nghiệp Hà Tĩnh vẫn tiếp tục đạt tăng trưởng cao và chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 3,36 lần). Tính chung 5 tháng, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 166,14% so với cùng kỳ năm trước và tăng cao hơn mức tăng chung của 4 tháng đầu năm (chung 4 tháng tăng 159,22%), cụ thể: ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 248,95%, đóng góp 153,46 điểm % vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 36,87%, đóng góp 12,7 điểm %; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 16,91%, đóng góp 0,21 điểm %; riêng ngành khai khoáng giảm 8,71%, làm giảm 0,23 điểm %. Những tháng đầu năm, hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa (tập trung chủ yếu là sản phẩm thép), nếu loại trừ ảnh hưởng của các sản phẩn than cốc, thép, điện sản xuất từ Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh thì chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính 5 tháng chỉ tăng 14,92% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,46%; sản xuất và phân phối điện tăng 26,99%.Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 5 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất kim loại tăng 8,09 lần; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 171,55%; sản xuất than cốc tăng 113,58%; khai khoáng quặng kim loại (chủ yếu quặng kim loại không chứa sắt) tăng 97,32%. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: sản xuất hóa chất giảm 58,82%; sản xuất sản phẩm từ cao su giảm 30,86%; khai khoáng khác (chủ yếu khai thác đá, cát, sỏi) giảm 19,09%.Trong 5 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Thép tăng 8,1 lần; dược phẩm tăng 171,55%; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 125,27%; than cốc tăng 113,61%; nước uống được tăng 72,43%. Một số sản phẩm giảm mạnh: Thức ăn cho gia súc giảm 73,11%; mực đông lạnh giảm 57,39%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 28,21%; bê tông tươi giảm 22,46%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2018 giảm 1,87% so với tháng trước và tăng 3,17 lầnso với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,94 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 7,89 lần; sản xuất sản phẩm sản xuất than cốc tăng 77,95%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 76,66%; chế biến thực phẩm giảm 72,23%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 45,59%; sản xuất trang phục giảm 38,8%; dệt giảm 31,18%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2018 tăng 21,88% so với tháng trước và tăng 153,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 53,13 lần; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,05 lần; than cốc tăng 145,25%.Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2018 tăng 0,22% so với tháng trước và tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng tăng 16,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 2,71%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 24,82%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,6%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 5 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.3. Vốn đầu tưVốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2018 ước tính đạt 304,76 tỷ đồng, tăng 16,49% so với tháng trước và tăng 39,61% so với cùng kỳ năm trước. Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính tháng 5 năm 2018Tháng 5, các dự án đường liên huyện, đường trung tâm xã như: Dự án nâng cấp, mở rộng đường đi vào trung tâm thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, Kỳ Anh, huyện Hương Khê; dự án đường cứu hộ, cứu nạn các xã vùng trũng thị xã Kỳ Anh, các dự án sửa chữa đường, trường, trạm sử dụng nguồn vốn cân đối ngân sách huyện đẩy mạnh thi công, ngoài ra một số công trình mục tiêu quốc gia, dự án cấp xã cũng đang hoàn tất hồ sơ để thi công kịp tiến độ đề ra. Đây là nguyên nhân dẫn đến vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã tăng mạnh trong tháng.Tính chung 5 tháng, thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.174,19 tỷ đồng, tăng 5,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 676,59 tỷ đồng, giảm 6,83% và chiếm 57,62% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 251,1 tỷ đồng, tăng 59,84% và chiếm 21,38% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 246,51 tỷ đồng, tăng 8,59% và chiếm 20,99% tổng vốn. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 5/2018 đạt 2.752,11 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 6,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 221,78 tỷ đồng, giảm 1,88% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.529,81 tỷ đồng, tăng 6,99%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,52 tỷ đồng. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tập thể, tăng 49,66%; tiếp đến là kinh tế tư nhân tăng 13,26%. Xét theo nhóm ngành hàng, trong tháng 5/2018, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước đạt 158,43 tỷ đồng, tăng 297,02%; văn phẩm văn hóa, giáo dục ước đạt 22,91 tỷ đồng, tăng 9,25%; lương thực, thực phẩm ước đạt 1.051,16 tỷ đồng, tăng 8,61%; đá quý, kim loại quý ước đạt 45,21 tỷ đồng, tăng 8,44%. Trong các nhóm hàng, chỉ có 3 nhóm hàng giảm: nhóm xăng dầu các loại ước đạt 253,49 tỷ đồng, giảm 13,24%; hàng hóa khác ước đạt 216,43 tỷ đồng, giảm 9,94%; hàng may mặc ước đạt 158,75 tỷ đồng, giảm 0,18%.Tính chung 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 13.658,52 tỷ đồng, tăng 7,07% so cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.181,03 tỷ đồng, tăng 1,77%; ngoài Nhà nước ước đạt 12.476,38 tỷ đồng, tăng 7,59% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,11 tỷ đồng.Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 5.209,27 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,14%, tăng 6,39% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 1.834,37 tỷ đồng, chiếm 13,43%, tăng 0,43% so với cùng kỳ. Đặc biệt là nhóm Ô tô ước đạt 716,96 tỷ đồng, có mức tăng mạnh nhất 219,87% so với cùng kỳ năm trước, do đầu năm 2018 với chính sách giảm thuế xe ô tô vào các nước Asean bắt đầu có hiệu lực nên số lượng xe bán ra tăng mạnh. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 5/2018 ước đạt 403,2 tỷ đồng, tăng 7,75% so với tháng trước và tăng 0,72% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 5/2018Là thời điểm bắt đầu mùa du lịch biển nên nhu cầu tham quan nghỉ mát tăng, lượng khách đến thuê phòng nghỉ cũng tăng; bên cạnh đó, còn có nhiều đoàn khách ra vào tham quan khu sinh thái Đồng Nôi-Cẩm Xuyên, khu nghỉ mát Quỳnh Viên-Thạch Hà, khu du lịch Vinpearl Cửa Sót Lộc Hà nên đã làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.Tính chung 5 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.605,96 tỷ đồng, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 27,41 tỷ đồng, tăng 12,24%; ngoài Nhà nước ước đạt 1.574,56 tỷ đồng, tăng 6,72% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,99 tỷ đồng, giảm 33,44% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 5/2018 ước đạt 99,55 tỷ đồng, tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 9,02% so cùng kỳ năm 2017. Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 5 năm 2018Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 5/2018 tăng so với tháng trước, nhưng chỉ với mức tăng nhẹ và tăng đều ở cả 3 khu vực kinh tế. Tháng 5 là thời điểm bắt đầu của mùa du lịch Biển nên dự kiến lượng khách đến tham quan nghỉ mát tăng dẫn đến các hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí tăng. Đồng thời, là mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, nên nhu cầu thuê máy móc công trình có xu hướng tăng. Tất cả các yếu tố này đã tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác tăng so với tháng trước.Tính chung 5 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 492,49 tỷ đồng, tăng 6,52% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao hơn mức tăng chung như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 58,4 tỷ đồng, tăng 25,76%; dịch vụ sữa chữa máy tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 60,3 tỷ đồng, tăng 9,65%; dịch vụ khác ước đạt 183,01 tỷ đồng, tăng 6,84%. 4.2. Hoạt động vận tải- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 5/2018 ước đạt 2,7 triệu tấn, tăng 1,01% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 67,93 triệu tấn.km, tăng 3,3%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 237,45 tỷ đồng, tăng 3,39%. Do thời tiết thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng bán lẻ như điện tử, điện lạnh, đồ dùng dụng cụ gia đình, nước giải khát, hàng may mặc tăng; các hoạt động xây dựng tăng, cũng như nhiều công trình dự án mới được thi công dẫn đến nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng, tất cả yếu tố đó làm cho vận tải hàng hóa tăng. Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 5/2018 ước đạt 1,9 triệu lượt hành khách, tăng 0,84% so với tháng trước, với khối lượng luân chuyển là 337,9 triệu lượt hành khách.km, tăng 1,16%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 145,77 tỷ đồng, tăng 1,68%. Do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải công cộng như xe buýt, taxi của người dân tăng; mặt khác, là thời điểm bước vào mùa du lịch, nhu cầu tham quan tăng, tác động đến việc khách du lịch tham gia phương tiện vận tải hoặc thuê xe du lịch tăng; tất cả điều đó đã làm cho vận tải hành khách tăng so với tháng trước.- Tính chung 5 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 13,6 triệu tấn, tăng 6,29% so với cùng kỳ năm trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 334,71 triệu tấn.km, tăng 7,24%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 1.142,28 tỷ đồng, tăng 9,84%. Còn số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 9,7 triệu lượt hành khách, tăng 8,47% với khối lượng luân chuyển là 1.669,4 triệu lượt hành khách.km, tăng 10,1%; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 720,4 tỷ đồng, tăng 10,78%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt ước đạt 328,23 tỷ đồng tăng 23,78%. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùngNhững tháng đầu năm 2018, với sự ảnh hưởng của giá dầu thô thế giới liên tục tăng, hiện đã vượt ngưỡng 100 USD/thùng dầu, đã đẩy giá xăng, dầu diezel trong nước tăng liên tục với biên độ mỗi lần điều chỉnh ngày càng cao; cùng với việc điều chỉnh giá điện và nước sạch đã gây nhiều sức ép đến chi phí sản xuất và chi phí vận tải, tác động đến giá cả các nhóm mặt hàng tiêu dùng.CPI tháng 5 năm 2018, tăng 0,37% so tháng trước, tăng 4,24% so cùng tháng năm trước và tăng 1,76% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,33% và khu vực nông thôn tăng 0,39%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,48%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,02%; May mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,12%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,42%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; Giao thông tăng 1,52%.Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm so với tháng trước: Bưu chính viễn thông giảm 0,76%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%.Các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.CPI tháng 5 năm 2018 biến động tăng so với tháng trước chủ yếu do:(1) Giá lương thực bao gồm các mặt hàng nhóm gạo tiếp tục tăng do chưa đến vụ thu hoạch lúa vụ Đông Xuân;(2) Giá xăng dầu bình quân điều chỉnh tăng so tháng trước;(3) Giá thực phẩm tăng, đặc biệt là giá mặt hàng từ thịt lợn;(4) Giá điện, nước sinh hoạt tăng do khối lượng tiêu thụ tăng; Biểu đồ: Chỉ số giá một số nhóm mặt hàng chính 5 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước (đơn vị tính%)Chỉ số giá vàng giảm 0,68% so tháng trước, tăng 5,37% so cùng tháng năm trước và tăng 3,1% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng biến động với xu hướng giảm, mức giá hiện tại thời điểm ngày 22/5/2018 ở mức 3,63 triệu đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Bình quân giá vàng trong tháng là 3,65 triệu đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,14% so tháng trước, tăng 0,39% so cùng tháng năm trước và tăng 0,19% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh mức giá bán ra 2.283 nghìn đồng/100USD. Giá USD tự do ngày 22/5/2018 ở mức giá 2.286 nghìn đồng/100USD. Dự kiến CPI tháng 6/2018 tiếp tục tăng so với tháng 5/2018. Nguyên nhân, do giá một số mặt hàng đồ dùng điện tử, điện lạnh, đồ uống, thực phẩm tiếp tục tăng; đặc biệt chịu ảnh hưởng bởi thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước sẽ tăng; từ đó kéo theo giá cước vận tải hành khách dự kiến cũng được điều chỉnh tăng; tất cả những yếu tố này sẽ làm cho chỉ số giá tăng.5. Một số vấn đề xã hội5.1. Tình hình đời sống dân cưDo thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho người dân chủ động trong việc sản xuất các loại cây trồng và làm thêm các ngành nghề khác tăng thêm thu nhập. Công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội, trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo cũng được quan tâm, thực hiện đầy đủ và kịp thời. Vì vậy, tháng này trên toàn tỉnh không phát sinh hộ thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói không xảy ra do đã thu hoạch lúa vụ Xuân 2018.5.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh:Tính đến thời điểm hiện nay, dịch thủy đậu vẫn đang lây lan rộng; để khống chế dịch bệnh, Trung tâm Y học dự phòng tiếp tục phối hợp với Trạm Y tế xã, phường, thị trấn và chính quyền địa phương phun Cloramin B khử trùng tại các địa điểm có dịch; đồng thời hướng dẫn vệ sinh môi trường nhất là tại trường học, các dụng cụ học tập, đồ chơi cho trẻ; tổ chức tuyên truyền cho các bậc phụ huynh và người dân trên địa bàn các biện pháp phòng chống bệnh dịch. Trong tháng xảy ra 82 trường hợp mắc thủy đậu (tăng 45 trường hợp so với tháng trước), ngoài ra tình hình dịch bệnh khác tương đối ổn định, không có các trường hợp tử vong.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác phòng chống HIV/AIDS, có nhiều phương pháp tuyên truyền giúp cho người dân hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh và cách phòng tránh nhiễm bệnh HIV/AIDS. Trong tháng, Hà Tĩnh có 06 trường hợp nhiễm mới HIV, có 07 trường hợp chuyển thành AIDS và 04 trường hợp chết vì AIDS.- Công tác an toàn thực phẩm: Thời gian qua, Hà Tĩnh đã triển khai “Tháng hành động vì An toàn thực phẩm” năm 2018 với chủ đề: “Tăng cường trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm”, với mục tiêu là: Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; Nâng cao ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm của các tổ chức, cá nhân trong việc sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 112 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 18,2% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. 5.3. Hoạt động văn hóa, thể thao - Hoạt động văn hóa: Tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, UBND thị xã Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh tổ chức Đại lễ giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, cùng với chương trình văn nghệ đặc sắc mang ý nghĩa ca ngợi công lao to lớn của các vị Vua Hùng và vẻ đẹp quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đặc biệt là bảo tồn các giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống. Đại lễ cũng đã thu hút hàng ngàn người dân, tăng ni phật tử trong và ngoài tỉnh tới dự.Ngoài ra, thành phố Hà Tĩnh tổ chức khai mạc Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh với sự tham gia của 16 CLB trên địa bàn, với chủ đề ca ngợi Đảng, Bác Hồ, sự đổi thay của quê hương, đất nước và thành phố Hà Tĩnh. Liên hoan cũng là dịp để nghệ nhân, hạt nhân các CLB dân ca giao lưu, xây dựng phong trào, giới thiệu các giá trị dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh trong đời sống sinh hoạt của nhân dân, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị loại hình dân ca này.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và được nhiều người cùng hưởng ứng như: Hội thao Công nhân, viên chức - lao động các công ty điện lực khu vực phía Nam thuộc Tổng công ty Điện lực Miền Bắc, với 147 vận động viên, thi đấu ở 4 bộ môn: Bóng đá, bóng bàn, cầu lông và quần vợt, thuộc nhiều lứa tuổi; Khai mạc Đại hội TDTT lần thứ VIII tại Nhà thi đấu TDTT tỉnh Hà Tĩnh, nhằm đánh giá sự phát triển của công tác TDTT trong quần chúng nhân dân, lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên chức và công tác giáo dục thể chất trong nhà trường. 5.4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 16/4/2018 đến ngày 15/5/2018 trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 09 người, bị thương 10 người, ước tính thiệt hại tài sản 170 triệu đồng. So với tháng trước số vụ và số người chết vì tai nạn giao thông không thay đổi, nhưng số người bị thương tăng 08 người; so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông đường bộ không thay đổi, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt và giảm 03 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/5/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 56 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 57 người, bị thương 26 người, ước tính thiệt hại tài sản 585 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 03 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, tăng 6 người chết và giảm 8 người bị thương.5.5. Tình hình cháy, nổ- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 02 vụ cháy (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 30 triệu đồng, trong đó: 01 vụ cháy nhà hàng và 01 vụ cháy nhà dân. Tính chung 05 tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 36 vụ cháy, nổ, làm 08 người bị thương, thiệt hại ước tính 6,72 tỷ đồng.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, chỉ phát hiện 01 cơ sở vi phạm về môi trường và đang xử lý. Tính chung 05 tháng, đã phát hiện 10 cơ sở vị phạm môi trường, trong đó xử phạt 6 cơ sở với số tiền 16,5 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2018./.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Tháng 4 và 4 tháng năm 2018 tỉnh Hà TĨnh
- 17/07/2024 15:04
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Tháng 4 và 4 tháng năm 2018 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp trong tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân năm 2018.Diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân 2018 ước đạt 59.133 ha, đạt 101,04% (tăng 606 ha) so với kế hoạch và bằng 100,45% (tăng 267 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích lúa cấy là 15.764 ha (chiếm 26,66% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 43.369 ha (chiếm 73,34% tổng diện tích gieo cấy); trà lúa Xuân sớm là 198 ha (chiếm 0,33% tổng diện tích gieo cấy), trà lúa Xuân trung là 3.308 ha (chiếm 5,59% tổng diện tích gieo cấy) và trà lúa Xuân muộn là 55.627 ha (chiếm 94,08% tổng diện tích gieo cấy).Diện tích ngô ước đạt 4.006 ha, đạt 123,99% kế hoạch và bằng 117,51% (tăng 597 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích lạc ước đạt 13.050 ha, đạt 88,62% kế hoạch và bằng 89,98% (giảm 1.454 ha) so với cùng kỳ năm trước và diện tích rau các loại ước đạt 5.051 ha, đạt 106,56% kế hoạch và bằng 110,36% (tăng 474 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số huyện như Hương Sơn, Hương Khê do thời vụ ngô Đông trên đất lạc chậm nên chuyển sang sản xuất ngô chuyên canh trong vụ Xuân.Tình hình sâu bệnh: Hiện nay, bệnh đạo ôn lá trên lúa xuân đã phát sinh 2.054,7 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên 1.167 ha, Đức Thọ 550 ha. Có gần 0,5 ha bị cháy dưới dạng chòm, khóm, bệnh tập trung trên các loại giống VTNA6, VTNA2, KD18, Xi23, NX30, P6; diện tích đã phòng trừ 2.597 ha. Còn bệnh đốm nâu, diện tích nhiễm bệnh 1.058 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên 370 ha, Kỳ Anh 295 ha, Lộc Hà 115 ha; diện tích nhiễm nặng tỷ lệ bệnh 70-90%; bệnh gây hại nặng trên các giống VTNA2, HT1, XM12, KD18, đặc biệt giống VTNA2 bị nhiễm nặng, hiện sinh trưởng, phát triển kém và có nguy cơ ảnh hưởng đến năng suất.Trên cây lạc: Bệnh lỡ cổ rễ gây hại tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 16 ha tại các huyện Thạch Hà, Lộc Hà, Kỳ Anh. Còn trên cây ngô, bệnh đốm lá nhỏ tỷ lệ 3-5%, nơi cao 10-15%, diện tích nhiễm 20 ha; sâu đục thân, đục bắp mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 2-4 con/m2.- Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc trâu, bò ước tính hiện có 279.419 con, bằng 91,53%, giảm 25.848 con so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Đàn trâu ước tính có 76.815 con, bằng 90,82%, giảm 7.768 con; đàn bò ước tính có 202.604 con, bằng 91,81%, giảm 18.080 con so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân đàn trâu bò giảm là do các mô hình chăn nuôi ở huyện Hương Sơn hoạt động kém hiệu quả nên đã tạm dừng nuôi, còn tại Kỳ Anh Công ty Bình Hà nghỉ nuôi; đồng thời, giá bán thịt hơi vẫn còn thấp, giá thức ăn cao, người dân chăn nuôi không có lãi nên không đầu tư. Về chăn nuôi bò sữa theo hình thức liên kết với công ty cổ phần sữa Việt Nam-Vinamilk, hiện nay tổng đàn bò sữa có 2.798 con, trong đó: tại trang trại Sơn Lễ-Hương Sơn nuôi 2.077 con với sản lượng sữa trong tháng 4/2018 dự ước là 935 tấn; Thường Nga-Can Lộc nuôi 230 con với sản lượng sữa dự ước là 30 tấn; Đức Dũng-Đức Thọ nuôi 491 con với sản lượng sữa dự ước là 30 tấn.Đàn lợn ước tính hiện có 428.777 con, bằng 90,33%, giảm 45.905 con so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện giảm mạnh: Huyện Hương Sơn giảm 3.399 con, Đức Thọ giảm 4.190 con, Can Lộc giảm 11.500 con, Cẩm Xuyên giảm 11.200 con. Nguyên nhân tổng đàn giảm mạnh là do một số trang trại không đạt tiêu chí môi trường nên tạm đình chỉ chăn nuôi, giá cả thịt hơi thấp, khó tiêu thụ nên hộ chăn nuôi chưa tái đàn. Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.026 ngàn con, bằng 104,7%, tăng 360 ngàn con so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà ước tính hiện có 6.375 ngàn con, bằng 102,82%, tăng 175 ngàn con so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có đàn gia cầm tăng: Huyện Hương Sơn tăng 119 ngàn con, Cẩm Xuyên tăng 389 ngàn con, Thạch Hà tăng 146 ngàn con. Một số huyện giảm: Huyện Kỳ Anh giảm 165 ngàn con, Lộc Hà giảm 79 ngàn con. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, đã phát sinh thêm dịch lở mồm long móng ở gia súc, tại huyện Hương Sơn, Lộc Hà, với tổng số gia súc mắc bệnh 23 con bò. Hiện nay, các địa phương đang tiếp tục triển khai tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm với kết quả đạt được như sau: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 5.146 con, đạt 2,8% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 3.346 con, đạt 1,8% kế hoạch; dịch tả lợn 34.171 con, đạt 14,1% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 34.093 con, đạt 14,1% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 39.108 con, đạt 25,1% kế hoạch; tiêm phòng dịch cúm gia cầm 132.414 con, đạt 4,61% kế hoạch. 1.2. Lâm nghiệp- Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong tháng 4/2018 ước tính trồng được 214 ha rừng tập trung, bằng 144,59% (tăng 66 ha) và 136 ngàn cây phân tán, bằng 36,27% (giảm 239 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 ước tính trồng được 1.327 ha rừng tập trung, bằng 127,72% (tăng 288 ha) và 1.299,5 ngàn cây phân tán, bằng 87,69% (giảm 182,5 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó huyện Hương Sơn trồng được 220 ha, Kỳ Anh 582 ha, Cẩm Xuyên 180 ha, Hương Khê 135 ha...Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng trong tháng vẫn được duy trì thực hiện. - Khai thác gỗ và lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 4/2018 ước đạt 4.563,5 m3 gỗ, bằng 60,13% và 48.483 ste củi, bằng 109,16% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, ước tính sản lượng gỗ khai thác đạt 23.777,5 m3 gỗ, bằng 145,37% và 161.685 ste củi, bằng 105,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó huyện Hương Khê khai thác 630 m3 gỗ và 8.870 ste củi, Hương Sơn khai thác 4.100 m3 gỗ và 31.500 ste củi, Vũ Quang khai thác 6.163 m3 gỗ và 4.510 ste củi, Cẩm Xuyên khai thác 3.400 m3 gỗ và 4.998 ste củi, Thạch Hà khai thác 1.080 m3 gỗ và 5.135 ste củi... - Thiệt hại rừng: Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3. Thuỷ sảnDự ước sản lượng khai thác và nuôi trồng tháng 4/2018 đạt 3.423 tấn, bằng 101,21%, tăng 41 tấn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Sản lượng khai thác ước đạt 2.874 tấn, bằng 101,27%, tăng 565 tấn (gồm sản lượng khai thác biển ước đạt 2.442 tấn, tăng 1,33%; khai thác nội địa ước đạt 432 tấn, tăng 0,93%); còn sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 549 tấn, bằng 100,92%, tăng 5 tấn. Tính chung 4 tháng, tổng sản lượng thủy, hải sản nuôi trồng và khai thác ước đạt 12.337 tấn, bằng 107,29%, tăng 838 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 3.209 tấn, bằng 108,05%, tăng 239 tấn và sản lượng khai thác ước đạt 9.128 tấn, bằng 107,02%, tăng 599 tấn so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, đã xảy ra dịch bệnh đốm trắng trên tôm tại 02 xã Kỳ Thọ-huyện Kỳ Anh và xã Kỳ Trinh-thị xã Kỳ Anh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,05 ha.2. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4/2018 ước tính bằng 95,48% (giảm 4,52%) so với tháng trước và tăng 159,47% so với cùng kỳ năm trước. Theo trên cho thấy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo. Tính chung 4 tháng, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 164,32% so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng chung của 3 tháng đầu năm (chung 3 tháng tăng 166,21%), cụ thể: ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 239,44%, đóng góp 151,75 điểm % vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 38,31%, đóng góp 12,58 điểm %; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 21,48%, đóng góp 0,27 điểm %; riêng ngành khai khoáng giảm 11,02%, làm giảm 0,28 điểm %. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 04 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất kim loại tăng 7,24 lần; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 129,01%; khai khoáng quặng kim loại (chủ yếu quặng kim loại không chứa sắt) tăng 174,51%; sản xuất than cốc tăng 113,10%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 99,37%. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: sản xuất hóa chất giảm 62,05%; sản xuất sản phẩm từ cao su giảm 35,62%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 35,06%; khai khoáng khác (chủ yếu khai thác đá, cát, sỏi) giảm 23,31%.Trong 04 tháng năm 2018, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Thép tăng 7,24 lần; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 243,79%; than cốc tăng 113,13%; dược phẩm tăng 129,01%; nước uống được tăng 73,36%. Một số sản phẩm giảm mạnh: Thức ăn cho gia súc giảm 73,36%; bê tông tươi giảm 54,29%; mực đông lạnh giảm 54,28%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 37,34%; quặng inmenit giảm 31,13%; đá xây dựng giảm 23,63%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2018 giảm 10,71% so với tháng trước và tăng 3,87 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,13 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 8,66 lần; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 70,58%; sản xuất sản phẩm sản xuất than cốc tăng 69,86%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 86,46%; chế biến thực phẩm giảm 74,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 74,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 40,25%; dệt giảm 30,04%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2018 tăng 25,1% so với tháng trước và tăng 139,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 70,12 lần; than cốc tăng 148,51%.Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2018 tăng 0,36% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 04 tháng tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 2,27%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 8,85%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 19,99%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 4 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.3. Vốn đầu tưVốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2018 ước tính đạt 259,36 tỷ đồng, tăng 9,17% so với tháng trước và tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước. Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước tính tháng 4 năm 2018Tháng 4, các dự án đường liên huyện, đường trung tâm xã như: Dự án nâng cấp, mở rộng đường đi vào trung tâm Thành phố Hà Tĩnh, TX Hồng Lĩnh, Kỳ Anh, Hương Khê; dự án đường cứu hộ, cứu nạn các xã vùng trũng Thị xã Kỳ Anh sử dụng nguồn vốn cân đối ngân sách huyện được đẩy mạnh thi công; ngoài ra một số công trình mục tiêu quốc gia, dự án cấp xã cũng đang hoàn tất hồ sơ để thi công kịp tiến độ đề ra, làm cho vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng so với tháng trước.Tính chung 4 tháng, thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 867,17 tỷ đồng, giảm 2,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 478,62 tỷ đồng, giảm 16,42% và chiếm 55,19% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 205,49 tỷ đồng, tăng 58,29% và chiếm 23,7% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 183,06 tỷ đồng, giảm 3,41% và chiếm 21,11% tổng vốn. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 4/2018 đạt 2.653,32 tỷ đồng, tăng 2,87% so với tháng trước và tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 269,73 tỷ đồng, tăng 21,51%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.383,6 tỷ đồng, tăng 2,14% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế cá thể, tăng 25,53%; tiếp đến là kinh tế nhà nước tăng 21,51%. Xét theo nhóm ngành hàng, trong tháng 4/2018, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước đạt 138,66 tỷ đồng, tăng 241,65%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 51,52 tỷ đồng, tăng 9,54%. Trong các nhóm hàng, chỉ có nhóm hàng hóa khác giảm 14,42% so với cùng kỳ năm trước, với doanh thu tháng 4/2018 ước đạt 203,44 tỷ đồng.Tính chung 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 10.897,06 tỷ đồng, tăng 7,19% so cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.010,62 tỷ đồng, tăng 8,15%; ngoài Nhà nước ước đạt 9.886,35 tỷ đồng, tăng 7,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,09 tỷ đồng.Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 4.113,06 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 37,74% tăng 4,69% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 1.456,91 tỷ đồng, chiếm 13,37% tăng 0,53% so với cùng kỳ. Đặc biệt là nhóm Ô tô ước đạt 543,48 tỷ đồng có mức tăng mạnh nhất 195,1% so với cùng kỳ năm trước, do đầu năm 2018 với chính sách giảm thuế xe ô tô vào các nước Asean bắt đầu có hiệu lực nên số lượng xe bán ra tăng mạnh. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 4/2018 ước đạt 318,66 tỷ đồng, tăng 12,32% so với tháng trước và tăng 2,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 20,72 tỷ đồng, tăng 17,55%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 296,7 tỷ đồng, tăng 11,97%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,24 tỷ đồng, tăng 12% so với tháng trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 4/2018 tiếp tục tăng khá so với tháng trước. Do là tháng trùng dịp nghỉ lễ dài ngày và bắt đầu mùa du lịch biển nên nhu cầu tham quan nghỉ mát tăng, lượng khách đến thuê phòng nghỉ dự kiến tăng; bên cạnh đó, còn có nhiều đoàn khách ra vào tham quan khu sinh thái Đồng Nôi-Cẩm Xuyên, cùng với lượng khách đến làm việc trên địa bàn tăng, đặc biệt trong tháng diễn ra Hội nghị toàn quốc xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu được tổ chức tại Hà Tĩnh, nên đã làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.Tính chung 4 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.147,22 tỷ đồng, tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 21,21 tỷ đồng, tăng 15,04%; ngoài Nhà nước ước đạt 1.122,65 tỷ đồng, tăng 3,7% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 3,36 tỷ đồng, giảm 25,61% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 4/2018 ước đạt 97,12 tỷ đồng, tăng 0,54% so với tháng trước và tăng 8,03% so cùng kỳ năm 2017. Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 3 và 4 năm 2018Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 4/2018 tăng so với tháng trước, nhưng chỉ với mức tăng nhẹ. Do là tháng trùng với dịp nghỉ các ngày lễ lớn như: Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 1/5 dài ngày nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí tăng. Đặc biệt trên địa bàn tỉnh, những ngày cuối tháng tổ chức khai trương các điểm du lịch Biển nên dự kiến lượng khách đến tham quan nghỉ mát tăng dẫn đến các hoạt động dịch vụ tăng. Đồng thời, là mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, nên nhu cầu thuê máy móc công trình có xu hướng tăng. Tất cả các yếu tố này đã tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác tăng so với tháng trước.Tính chung 4 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 391,58 tỷ đồng, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng khá như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 46,63 tỷ đồng, tăng 25,3%; dịch vụ sữa chữa máy tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 48,71 tỷ đồng, tăng 11,68%; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 3,97 tỷ đồng, tăng 8,55%.4.2. Hoạt động vận tải- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4/2018 ước đạt 2,71 triệu tấn, tăng 2,71% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 65,92 triệu tấn.km, tăng 2,82%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 231,82 tỷ đồng, tăng 3,82%. Do thời tiết thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiêu dùng bán lẻ như điện tử, điện lạnh tăng; các doanh nghiệp công nghiệp ổn định sản xuất, hàng hóa thiết bị máy móc được nhập khẩu từ các nước nhằm phục vụ các dự án, công trình xây dựng tăng dẫn đến nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng, tất cả yếu tố đó làm cho vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước. Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 4/2018 ước đạt 1,89 triệu lượt hành khách, tăng 1,24% so với tháng trước, với khối lượng luân chuyển là 335,83 triệu lượt hành khách.km, tăng 2%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 146,18 tỷ đồng, tăng 5,12%. Sang tháng 4 trùng với nghỉ lễ dài ngày, nên lượt khách du lịch đi tham quan nghỉ mát, về quê tăng; mặt khác, các phương tiện vận tải hành khách từng bước được đầu tư chất lượng cao, cũng thu hút nhiều hành khách tham gia, đã làm cho vận tải hành khách tăng so với tháng trước.- Tính chung 4 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10,94 triệu tấn, tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 266,69 triệu tấn.km, tăng 7,97%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 577,45 tỷ đồng, tăng 11,29%. Còn số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 7,81 triệu lượt hành khách, tăng 8,59% với khối lượng luân chuyển là 1.333,29 triệu lượt hành khách.km, tăng 9,74%; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 906,98 tỷ đồng, tăng 9,51%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt ước đạt 269,98 tỷ đồng tăng 26,83%. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùngThị trường hàng hóa tiêu dùng trong tháng 4/2018 nhìn chung ổn định, chỉ số giá chung không biến động nhiều. Tuy nhiên, xét giữa các mặt hàng trong các nhóm hàng thì lại có xu hướng biến động trái ngược nhau.CPI tháng 4 năm 2018, tăng 0,03% so tháng trước, tăng 3,38% so cùng tháng năm trước và tăng 1,39% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,03% và khu vực nông thôn tăng 0,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,66% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,16% và tăng 0,19% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,09% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,31% và tăng 0,9% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,09% và tăng 1,4% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 1,2% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,65% và tăng 3,3% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,83% và tăng 0,1% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,85% và tăng 2,03% so với tháng 12 năm trước.Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,29% so tháng trước, tăng 3,38% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,87% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,78% so tháng trước, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,41% so với tháng 12 năm trước.Các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.CPI tháng 4 năm 2018 biến động tăng so với tháng trước chủ yếu do:(1) Giá lương thực, gồm các mặt hàng nhóm gạo tiếp tục tăng do chưa đến vụ thu hoạch lúa vụ Đông Xuân;(2) Giá xăng dầu bình quân điều chỉnh tăng so tháng trước; bình quân giá xăng dầu, diesel tăng 2,72% so tháng trước;(3) Giá điện nước sinh hoạt tăng;(4) Giá đồ uống và đồ dùng gia đình tăng do yếu tố mùa vụ. Biểu đồ: Chỉ số giá một số nhóm mặt hàng chính so với cùng kỳ năm trước 4 tháng đầu năm 2018 (đơn vị tính%)Chỉ số giá vàng tăng 0,61% so tháng trước, tăng 5,61% so cùng tháng năm trước và tăng 3,8% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng biến động với xu hướng giảm, mức giá hiện tại thời điểm ngày 22/4/2018 ở mức 3.730 nghìn đồng/chỉ. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.711 nghìn đồng/chỉ. Giá vàng tăng, do chịu ảnh hưởng của giá vàng thế giới biến động tăng giá; tuy nhiên, sau nhiều phiên tăng giá liên tiếp thì đến ngày 23/4/2018, giá vàng đã có dấu hiệu hạ nhiệt. Giá vàng ngày 23/4/2018 giảm 50 nghìn đồng/chỉ so với ngày trước đóChỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,16% so tháng trước, tăng 0,27% so cùng tháng năm trước và tăng 0,05% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh mức giá bán ra 2.277,3 nghìn đồng/100USD. Giá USD tự do ngày 22/4/2018 ở mức giá 2.280 nghìn đồng/100USD.Dự kiến CPI tháng 5/2018 sẽ tăng so với tháng 4/2018. Nguyên nhân chủ yếu do mùa dù lịch trên địa bàn tỉnh bắt đầu vào thời điểm cuối tháng 4 đầu tháng 5, nên giá các dịch vụ cho thuê phòng khách sạn, nhà nghỉ, các mặt hàng thủy hải sản dự kiến tăng. Bên cạnh đó, do yếu tố thời vụ, giá các mặt hàng điện lạnh như tủ lạnh, điều hòa có khả năng tiếp tục tăng giá. Ngoài ra, mặt hàng tivi cũng tăng giá do nhu cầu mua sắm có thể tăng do đầu tháng 6 diễn ra Worldcup bóng đá năm 2018 tại Nga.5. Một số vấn đề xã hội5.1. Tình hình đời sống dân cưMặc dù là tháng giáp hạt nhưng do thời tiết thuận lợi cho sản xuất màu; công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội, trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo cũng được quan tâm, thực hiện đầy đủ và kịp thời. Vì vậy, tháng này trên toàn tỉnh không phát sinh hộ thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra.5.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, xảy ra bệnh dịch thủy đậu đang lây lan mạnh trên toàn tỉnh. Trước tình hình đó, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh đã phối hợp với các Trạm Y tế xã, phường và chính quyền địa phương phun Cloramin B khử trùng tại các địa điểm có dịch; đồng thời hướng dẫn vệ sinh môi trường nhất là tại các trường học, các dụng cụ học tập, đồ chơi cho trẻ; tổ chức tuyên truyền cho các bậc phụ huynh và người dân các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Trong tháng xảy ra 37 trường hợp mắc thủy đậu, ngoài ra tình hình dịch bệnh khác tương đối ổn định, không có các trường hợp tử vong.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tổ chức tập huấn cho 50 cán bộ là đội ngũ lãnh đạo xã, cán bộ trưởng thôn, nhân viên y tế thôn bản nhằm nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm trong công tác phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng; kỹ năng tiếp cận cộng đồng trong phòng, chống HIV/AIDS cũng như cung cấp thông tin về các chương trình can thiệp giảm tác hại, dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS. Trong tháng, Hà Tĩnh có 03 trường hợp nhiễm mới HIV, có 04 trường hợp chuyển thành AIDS và 03 trường hợp chết vì AIDS.- Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Hà Tĩnh đã thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra được 2.360 lượt cơ sở, phát hiện 350 lượt cơ sở vi phạm và tiến hành xử phạt hành chính 174 cơ sở với số tiền 246,19 triệu đồng, tiêu hủy lượng hàng hóa vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm trị giá trên 40 triệu đồng. Ngoài ra, các ngành chức năng và địa phương đã lấy 893 mẫu xét nghiệp nhanh về độ sạch của dụng cụ ăn uống, hàn the trong giò chả, foocmon trong bún, bánh phở, methanol trong rượu, kết quả có 75 mẫu không đạt, chiếm tỷ lệ 8,4%. Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 130 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 14,5% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm. 5.3. Hoạt động văn hóa, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, tại Khu di tích Nguyễn Du – huyện Nghi Xuân đã tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018”. Hội thi đã thu hút 55 thí sinh là học sinh, giáo viên trong huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh tham gia, trong đó thí sinh nhỏ nhất là 10 tuổi và lớn nhất 66 tuổi. Ngoài ra, Liên chi đoàn Tiểu đoàn huấn luyện - cơ động (BĐBP Hà Tĩnh) phối hợp với Đoàn xã Ngọc Sơn (Thạch Hà) và Chi đoàn Công ty Cao su Hà Tĩnh tổ chức chương trình giao lưu với chủ đề “Mùa xuân và tuổi trẻ”, nhằm ca ngợi Đảng, Bác Hồ kính yêu, ca ngợi quê hương đất nước, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và người chiến sỹ biên phòng ngày đêm bảo vệ biên cương Tổ quốc. Đặc biệt, chương trình có sự tham gia của các bạn sinh viên Lào, đã để lại ấn tượng đẹp cho đêm giao lưu và thêm phần ý nghĩa, đoàn kết.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và được nhiều người cùng hưởng ứng như: Giải Quần vợt Cúp Truyền hình Hà Tĩnh lần thứ III – 2018 tại thành phố Hà Tĩnh, đã thu hút gần 100 VĐV, đến từ 30 CLB quần vợt của Hà Tĩnh, Nghệ An, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh tham gia, nhằm tạo sân chơi cho những người yêu thích môn tennis giao lưu, rèn luyện sức khỏe, thắt chặt tình đoàn kết, góp phần khích lệ phong trào quần vợt tỉnh nhà phát triển; Giải bóng rổ học sinh tiểu học Thạch Hà, Hà Tĩnh tổ chức từ đầu tháng 2 lại nay, theo 3 giai đoạn: giải trường, giải cụm và vòng chung kết toàn huyện với sự tham gia của 31 đội bóng đến từ các trường tiểu học trên địa bàn.Đối với thể thao thành tích cao: Tại giải Rowing và Canoeing vô địch các CLB toàn quốc năm 2018 do Liên đoàn Đua thuyền Việt Nam phối hợp vơi Sở Văn hóa-Thông tin Đã Nẵng tổ chức, đoàn Hà Tĩnh giành được 05 huy chương (02 HCV, 02 HCB, 01 HCĐ) và xếp thứ 5/26 đoàn tham gia. Còn ở Giải vô đich điền kinh trẻ Đông Nam Á năm 2018 diễn ra tại Thái Lan, hai vận động viên Hà Tĩnh đã xuất sắc giành được 05 huy chương (03 HCV, 01 HCB, 01 HCĐ).5.4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 16/3/2018 đến ngày 15/4/2018 trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 09 người, bị thương 02 người, ước tính thiệt hại tài sản 30 triệu đồng. So với tháng trước giảm 03 vụ, giảm 01 người chết và giảm 04 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 05 người chết và giảm 14 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/4/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 47 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 48 người, bị thương 16 người, ước tính thiệt hại tài sản 415 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 03 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 6 người chết và giảm 11 người bị thương.5.5. Tình hình cháy, nổ- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 04 vụ cháy (tăng 02 vụ so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 4.100 triệu đồng, trong đó: 01 vụ cháy quán karaoke, 01 vụ cháy trang trại nuôi lợn, 01 vụ cháy ô tô và 01 vụ cháy bình nóng lạnh của hộ dân cư. Tính chung 04 tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 34 vụ cháy, nổ, làm 08 người bị thương, thiệt hại ước tính 6,69 tỷ đồng. - Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, đã phát hiện 04 cơ sở vi phạm về môi trường. Đoàn đã lập biên bản và xử phạt 01 cơ sở với số tiền 3 triệu đồng. Tính chung 04 tháng, đã phát hiện 09 cơ sở vị phạm môi trường, trong đó xử phạt 6 cơ sở với số tiền 16,5 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2018./.
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Quý I năm 2018 tình Hà Tĩnh
- 17/07/2024 14:35
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘIQuý I năm 2018 Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội quý I năm 2018 trên địa bàn trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả của các cấp, các ngành, các địa phương, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân nên mặc dù chưa có bước phát triển đột phá nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội quý I/2018 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn ổn định với những kết quả chủ yếu như sau:1. Tài chính, ngân hàng1.1. Thu - chi ngân sách Nhà nướcNăm 2018 là năm thứ hai của thời kỳ ổn định ngân sách 2017 - 2020, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và tài chính - ngân sách giai đoạn 2016 - 2020. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh tính đến 01/3/2018 đạt 4050,3 tỷ đồng, bằng 110,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa đạt 673,4 tỷ đồng bằng 106,63% so với cùng kỳ; thu hải quan đạt 825,9 tỷ đồng bằng 284,42% so với cùng kỳ; thu chuyển nguồn đạt 337,4 tỷ đồng bằng 74,22% so với cùng kỳ. Như vậy, thu ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn chưa thuận lợi.Tổng chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 01/3/2018 đạt 3247,7 tỷ đồng, bằng 112,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chi đầu tư phát triển 704,6 tỷ đồng, bằng 92,69% so với cùng kỳ; chi thường xuyên 1.030,9 tỷ đồng, bằng 105,06% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới 1.512,1 tỷ đồng, bằng 133,19% so với cùng kỳ. Nhìn chung, việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương.1.2. Hoạt động ngân hàngTrong qúy I năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh, nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng năm 2018. - Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý ước tính đến thời điểm 10/3/2018 đạt 43.185 tỷ đồng, tăng 3,61% so với đầu năm. Ước tính đến 31/3/2018, nguồn vốn huy động đạt 43.438 tỷ đồng, tăng 4,21% so với đầu năm. Nguồn vốn tiền gửi trung và dài hạn có xu hướng tăng giúp cho ngân hàng chủ động hơn trong công tác cho vay. - Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vốn vay, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong quá trình vay vốn. Doanh số cho vay 02 tháng đầu năm 2018 đạt 11.270 tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2017. Dư nợ cho vay đến 28/02/2018 đạt 37.531 tỷ đồng, giảm 0,89% so với đầu năm. Dư nợ cho vay đến ngày 10/3/2018 đạt 37.575 tỷ đồng, giảm 0,79% so với đầu năm. Ước tính đến 31/3/2018 tổng dư nợ đạt 37.725 tỷ đồng, giảm 0,39% so với đầu năm. Đến 28/02/2018, nợ đủ tiêu chuẩn: 36.355 tỷ đồng, chiếm 96,86% tổng dư nợ; nợ cần chú ý: 641 tỷ đồng, chiếm 1,71% tổng dư nợ. Nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) là 535 tỷ đồng, chiếm 1,43% tổng dư nợ. Như vậy, nợ xấu có xu hướng tăng so với đầu năm (đầu năm nợ xấu chiếm 1,36%). - Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn: Trong 02 tháng đầu năm 2018, số khách hàng được cho vay hỗ trợ lãi suất theo các quyết định của Chính phủ, của tỉnh là 19 khách hàng, với doanh số cho vay là 3,35 tỷ đồng, lãi được hỗ trợ cho các khách hàng là 1,2 tỷ đồng (lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.680 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là 43.150, số lãi được hỗ trợ 345 tỷ đồng).Triển khai Nghị định 67, tính đến ngày 28/02/2018, các ngân hàng đã cho vay 11 chủ tàu với dư nợ đạt 162,62 tỷ đồng, đã thu nợ được 7,51 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm hiện tại 155,11 tỷ đồng. Triển khai Nghị quyết 02, các ngân hàng đã cho vay 1.027 khách hàng với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng, tính đến 28/02/2018 dư nợ hơn 360 tỷ đồng. Ngoài ra, còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, tập trung vốn chủ yếu các lĩnh vực ưu tiên, dự án trọng điểm của tỉnh; cho vay theo các Quyết định hỗ trợ lãi suất của Trung ương và của tỉnh. Doanh số cho vay trong 02 tháng đầu năm 2018 đạt hơn 9.500 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2017; dư nợ cho vay đến 28/02/2018 đạt 37.531 tỷ đồng.- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Công tác phát hiện và xử lý tiền giả, việc phối hợp với các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tiền giả đặc biệt được quan tâm và thực hiện theo đúng các quy định. Đáp ứng tốt nhu cầu tiền trong lưu thông với chất lượng tiền sạch, đẹp, cơ cấu loại tiền hợp lý. Phối hợp tốt với lực lượng Công an bảo vệ mục tiêu trong công tác bảo vệ an toàn tài sản trước, trong và sau tết nguyên đán; đảm bảo an toàn tài sản.Công tác thanh toán tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn, đảm bảo kịp thời, chính xác, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất. Công tác kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động của máy ATM, POS được chú trọng và thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Thống đốc, đảm bảo phục vụ tốt nhất cho người dân trong quá trình sử dụng dịch vụ ngân hàng.2. Đầu tư và xây dựng2.1. Đầu tư phát triểnƯớc tính vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm 2018 theo giá hiện hành đạt 6.568,81 tỷ đồng, giảm 11,34% so với cùng kỳ năm trước. Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý I năm 2018Quý I tổng vốn đầu tư phát triển giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do nguồn vốn nhà nước giảm 31,75% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 25,21%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư trong quý I/2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 43,14%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 41,97%) và được tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 92,51%).Trong vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện quý I ước đạt 607,18 tỷ đồng, bằng 18,45% kế hoạch và giảm 7,08% so với cùng kỳ năm trước, gồm có: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 352,29 tỷ đồng, bằng 15,25% và giảm 12,87%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 137,73 tỷ đồng, bằng 24,86% và tăng 48,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 117,16 tỷ đồng, bằng 27,46% và giảm 25%. Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư có xu hướng giảm, do quá trình hoàn tất thủ tục và tổ chức đấu thầu thực hiện một số công trình mới vẫn chưa được thực hiện, tình hình giải ngân các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn ODA các tháng đầu năm đạt thấp; đồng thời, là thời gian trùng vào dịp lễ, tết Nguyên đán, nên các công trình tạm ngừng thi công và đạt giá trị thấp.2.2. Xây dựngNhững tháng cuối năm 2017, một số dự án lớn trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì đầu tư xây dựng như: Dự án khu phức hợp Vincom Hà Tĩnh; một số hạng mục, công trình phụ trợ thuộc dự án Formosa Hà Tĩnh; dự án khu đô thị Bắc thành phố Hà Tĩnh; Kênh Ngàn Trươi - Cẩm Trang; Công trình cảng tổng hợp quốc tế Hoành Sơn.... Ngoài ra có nhiều công trình trong quý 1/2018 cũng sẽ bắt đầu khởi công như: Công trình kì cao số 2 Formosa; đường đi Kẻ Gỗ; Hồ chứa nước Bộc Nguyên....Trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thì vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm 92,51% tổng nguồn vốn đầu tư. Vì vậy, khi nguồn vốn đầu tư phát triển giảm 14,58% thì giá trị sản xuất của ngành xây dựng giảm 17,43% so với cùng kỳ năm ngoái và chủ yếu giảm ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Do dự án Formosa cơ bản đã hoàn thành và bắt đầu đi vào hoạt động chính thức nên làm cho kết quả hoạt động xây dựng ở khu vực này giảm 85,79%. Nếu phân theo loại công trình, thì ta thấy kết quả hoạt động xây dựng cũng có sự khác biệt. Đối với xây dựng công trình nhà ở, kết quả hoạt động xây dựng quý I/2018 tăng 13,61% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở xây dựng khu vực hộ dân cư (tăng 35,58%); xây dựng công trình nhà không để ở tăng 19,8%; xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng giảm 61,09%, do ảnh hưởng từ hoạt động đầu tư khu vực Formosa và xây dựng chuyên dụng giảm 9,67%. Trong quý I năm 2018, các công trình dự án trọng điểm trên địa bàn Hà Tĩnh cơ bản đã hoàn thành bao gồm: Hạ tầng khu dân cư Nông thôn mới An Phúc Lộc-Xuân Liên và Hội Thủy-Xuân Hội, Nghi Xuân; Đường giao thông biên giới Tân Lĩnh-Hồng Lĩnh; Hệ thống cấp nguồn ưu tiên Vinhomes Hà Tĩnh; với tổng vốn ước thực hiện 29,68 tỷ đồng, chủ yếu cho hoạt động xây dựng. Các công trình dự án trọng điểm đang triển khai, chưa hoàn thành gồm 12 công trình, với tổng vốn đầu tư theo kế hoạch là 2.234,6 tỷ đồng, trong đó xây dựng quý I ước đạt 182,86 tỷ đồng. Ngoài ra, còn có 05 công trình mới thi công, với tổng vốn đầu tư theo kế hoạch là 207,85 tỷ đồng, trong đó xây dựng quý I ước đạt 36,61 tỷ đồng (lớn nhất là dự án công trình xây dựng lò cao số 2 Formossa, với tổng vốn đầu tư theo kế hoạch là 135,47 tỷ đồng, xây dựng quý I ước đạt 15,27 tỷ đồng).3. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 03/2018 ước tính tăng 164,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 27,58%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 226,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 51,26%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,86%. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo. Tính chung 3 tháng, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 160,51% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn mức tăng của 2 tháng đầu năm (chung 2 tháng tăng 158,19%), cụ thể: ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 239,89%, đóng góp 149,22 điểm % vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 34,19%, đóng góp 11,64 điểm %; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 2,12%, đóng góp 0,12 điểm %; riêng ngành khai khoáng giảm 19,37%, làm giảm 0,47 điểm %. Nói chung, hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng rất lớn từ dự án Formosa (chủ yếu là sản phẩm thép), từ lúc dự án tiến hành chạy thử đã đóng góp nhiều cho tốc độ tăng trưởng chung của ngành công nghiệp, nếu loại trừ ảnh hưởng của các sản phẩn than cốc, thép, điện sản xuất từ Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh thì chỉ số sản xuất ước tính tháng 3 tăng 18,41% so tháng trước và tăng 22,08% so cùng kỳ năm trước, tính chung 3 tháng chỉ tăng 15,58% so cùng kỳ năm trước.Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 03 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 8,39 lần; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 143,67%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 133,04%; khai khoáng quặng kim loại (chủ yếu quặng kim loại không chứa sắt) tăng 133,95%; sản xuất than cốc tăng 104,22%. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: sản xuất hóa chất giảm 67,37%; sản xuất sản phẩm từ cao su giảm 33,48%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 29,68%; khai khoáng khác (chủ yếu khai thác đá, cát, sỏi) giảm 28,47%; sản xuất trang phục giảm 24,5%.Trong 03 tháng năm 2018, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Thép tăng 8,39 lần; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 182,13%; than cốc tăng 104,22%; dược phẩm tăng 133,04%. Một số sản phẩm giảm mạnh: Thức ăn cho gia súc giảm 72,08%; chè (trà) giảm 59,35%; bê tông tươi giảm 52,78%; đá xây dựng giảm 28,82%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 25,84%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2018 tăng 73,61% so với tháng trước và tăng 3 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,85 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại (chủ yếu thép) tăng 8,42 lần; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 81,39%; sản xuất sản phẩm sản xuất than cốc tăng 44,66%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 73,01%; chế biến thực phẩm giảm 71,67%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 70,97%; sản xuất trang phục giảm 67,35%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2018 tăng 15,83% so với tháng trước và tăng 140,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 67,26 lần; bia tăng 178,84%; than cốc tăng 172,57%.Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2018 giảm 0,01% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng tăng 7,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,33%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 9,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,67%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp quý I/2018 tăng chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp4.1. Tình hình đăng ký kinh doanhTừ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thành lập mới 131 doanh nghiệp, giảm 17,6% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký đạt 963 tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân đạt 7,35 tỷ đồng/doanh nghiệp. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng khá cao, bên cạnh tăng về số lượng, các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. 3 tháng đầu năm đã giải quyết việc làm mới cho 971 lao động trên địa bàn, trong đó loại hình công ty cổ phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất, tiếp đến là loại hình công ty TNHH và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể là 123 doanh nghiệp (tạm ngừng 98 DN; giải thể 25 DN), cao gấp 2,4 lần so cùng kỳ năm trước. Như vậy, số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay giảm so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng tăng cao, thể hiện các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệpKết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý I/2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 62,2% DN đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 15,56% khẳng định SXKD tốt lên, 46,67% khẳng định giữ ổn định); 37,78% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý II so với quý I năm 2018, có 77,7% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh quý II tốt hơn và giữ ổn định so với quý I (trong đó 33,33% số doanh nghiệp dự báo tốt lên, 44,44% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 22,3% số doanh nghiệp khó khăn hơn.Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 50,9% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 61,9% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 53,9% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 57,9% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I/2018, có 15,56% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý trước; 37,78% giảm đi; có 14,29% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 38,1% giảm đi; 68,2% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 28,89% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ) và 26,67% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm (ngành có tỷ lệ lớn DN giảm tồn kho nguyên vật liệu là sản xuất đồ uống, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ); 8,89% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 6,67% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý II so quý I có 31,71% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 15,38% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 35,56% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 28,89% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.Đánh giá về biến động lao động quý I/2018 so với quý IV/2017, có 84,4% số doanh nghiệp khẳng định qui mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 6,67% khẳng định tăng lên, 77,78% khẳng định giữ ổn định) và 15,56% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý II so với quý I, có 88,8% số doanh nghiệp khẳng định qui mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 8,89% khẳng định tăng lên, 80% khẳng định giữ ổn định) và 11,11% khẳng định lao động giảm.5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản5.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong quý I/2018, tập trung chủ yếu vào chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2017 và gieo trồng, chăm sóc cây vụ Xuân năm 2018. + Sản xuất vụ Đông năm 2017-2018: Tổng diện tích gieo trồng cây vụ Đông đạt 12.917 ha, bằng 114,6%, tăng 1.646 ha so với cùng kỳ năm trước.Kết quả sản xuất các loại cây trồng vụ Đông cụ thể như sau: Diện tích ngô ước đạt 3.870 ha, bằng 167,61%, tăng 1.561 ha, năng suất ngô ước đạt 27,68 tạ/ha, bằng 98,92%, giảm 0,3 tạ/ha với sản lượng ngô ước đạt 10.711 tấn, bằng 165,86%, tăng 4.253 tấn so với cùng kỳ năm trước; diện tích khoai lang ước đạt 1.565 ha, bằng 85,73%, giảm 260 ha, năng suất khoai lang ước đạt 56,95 tạ/ha, bằng 104,07%, tăng 2,23 tạ/ha với sản lượng khoai lang ước đạt 8.910 tấn, bằng 89,22%, giảm 1.077 tấn so với cùng kỳ năm trước; diện tích rau các loại ước đạt 4.565 ha, bằng 121,83%, tăng 818 ha, năng suất rau ước đạt 56,54 tạ/ha, bằng 102,93%, tăng 1,61 tạ/ha với sản lượng rau ước đạt 25.810 tấn, bằng 125,4%, tăng 5.228 tấn so với cùng kỳ năm trước. + Sản xuất vụ Xuân 2017: Để thực hiện sản xuất vụ Xuân 2018 đạt kết quả cao, các huyện, thành phố, thị xã đã triển khai Đề án sản xuất vụ Xuân của tỉnh đến tận các xã, phường, thị trấn và bà con nông dân. Kết quả gieo cấy lúa vụ Xuân 2018 ước đạt 59.064 ha, đạt 100,92% (tăng 537 ha) so với kế hoạch và bằng 100,34% (tăng 198 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích lúa cấy là 16.026 ha (chiếm 27,13% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 43.038 ha (chiếm 72,87% tổng diện tích gieo cấy). Các địa phương có diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân 2018 tăng so với cùng kỳ như: Huyện Hương Khê tăng 164 ha, Hương Sơn tăng 70 ha, thị xã Kỳ Anh tăng 40 ha...Cùng với việc gieo cấy lúa thì tiến độ gieo trỉa một số loại cây trồng khác đạt được như sau: Cây ngô ước đạt 3.733 ha, bằng 115,54% (tăng 502 ha) so với kế hoạch và bằng 109,5% (tăng 324 ha) so với cùng kỳ năm trước; cây khoai lang ước đạt 1.071 ha, bằng 62,3% kế hoạch và bằng 67,61% (giảm 513 ha) so với cùng kỳ năm trước; cây lạc ước đạt 12.609 ha, bằng 85,63% kế hoạch và bằng 86,93% (giảm 1.895 ha) so với cùng kỳ năm trước; rau các loại ước đạt 4.595 ha, bằng 96,94% với kế hoạch và bằng 100,57% (tăng 26 ha) so với cùng kỳ năm trước. + Tình hình sâu bệnh: Hiện nay, bệnh đạo ôn lá trên lúa xuân đã phát sinh hơn 1.600 ha, nhiễm nặng 61,2 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên 1.000 ha, Đức Thọ 400 ha. Tỷ lệ trung bình nhiễm bệnh từ 5-7%, cục bộ có nơi 20%; có gần 3.000 m2 bị cháy dưới dạng chòm, khóm, bệnh tập trung trên các loại giống VTNA6, KD18, XT28, P6. Còn trên cây lạc: Bệnh lỡ cổ rễ gây hại rải rác 1-3% tại các huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn.- Chăn nuôi: Quý I/2018, tổng đàn gia súc trâu, bò ước tính hiện có 278.451 con, bằng 90,7%, giảm 28.544 con, trong đó: Đàn trâu ước tính có 76.601 con, bằng 89,99%, giảm 8.523 con so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thịt trâu xuất chuồng trong quý I/2018 ước tính 1.374 tấn, bằng 98,99%, giảm 14 tấn so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước tính có 201.850 con, bằng 90,98%, giảm 20.021 con so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thịt bò xuất chuồng trong quý I/2018 ước tính 3.355 tấn, bằng 95,39%, giảm 162 tấn so với cùng kỳ năm trước. Dự án chăn nuôi bò Bình Hà, tính lũy kế đến nay tổng đàn bò nhập về thả nuôi là 43.394 con, hiện còn 490 con đang nuôi tại trại Cẩm Quan-Cẩm Xuyên (gồm 150 con bò nái, 180 con bò thịt, 130 con bê và 30 con bò lai). Còn dự án chăn nuôi bò chất lượng cao của Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh, đến nay đang chăn nuôi 385 con bò nái và 230 con bê. Ngoài ra, còn chăn nuôi bò sữa theo hình thức liên kết với công ty cổ phần sữa Việt Nam-Vinamilk, với tổng đàn bò sữa 2.838 con, trong đó: tại trang trại Sơn Lễ-Hương Sơn nuôi 2.088 con; Thường Nga-Can Lộc nuôi 230 con; Đức Dũng-Đức Thọ nuôi 520 con.Đàn lợn ước tính hiện có 420.964 con, bằng 88,68%, giảm 53.750 con so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong quý I/2018 ước tính 19.069 tấn, bằng 95,91%, giảm 813 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do giá lợn hơi trong thời gian qua giảm mạnh; sau Tết giá thịt lợn hơi vẫn tiếp tục giảm, thị trường vẫn chưa ổn định nên người chăn nuôi, đặc biệt là các hộ chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ chưa tái đàn, đã làm cho tổng đàn lợn giảm. Hiện nay toàn tỉnh có 37 cơ sở nái (quy mô 300 con trở lên) với số lượng hơn 20.733 con.Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 7.974 ngàn con, bằng 104,05%, tăng 311 ngàn con so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà ước tính hiện có 6.283 ngàn con, bằng 103,92%, tăng 237 ngàn con so với cùng kỳ năm trước. Do kiểm soát được dịch bệnh nên đàn gia cầm phát triển khá, giá thịt gia cầm rẻ hơn so với giá gia súc nên sản lượng tiêu thụ tăng hơn so với năm trước. Sản lượng thịt gia cầm quý I/2018 ước đạt 4.695 tấn, bằng 103,99%, tăng 180 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thịt gà ước đạt 3.755 tấn, bằng 102,99%, tăng 109 tấn so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch bệnh: Trong quý I/2018, đã xảy ra dịch lở mồm long móng ở gia súc, chưa qua 21 ngày tại huyện Thạch Hà, Đức Thọ, Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh, với tổng số gia súc mắc bệnh 83 con (gồm 39 con bò; 13 con trâu và 31 con lợn), đã tiêu hủy 31 con lợn.5.2. Lâm nghiệp - Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong quý I/2018, cùng với việc hưởng ứng Tết trồng cây nhân dịp Xuân Mậu Tuất nên toàn tỉnh dự ước trồng được 1.113 ha rừng tập trung, bằng 124,92%, tăng 222 ha và 1163,5 ngàn cây phân tán, bằng 105,1%, tăng 56,5 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện trồng cây phân tán tăng so với cùng kỳ năm trước: Huyện Hương Sơn tăng 20 ngày cây, huyện Kỳ Anh tăng 163,8 ngàn cây, ... Một số huyện giảm: Huyện Cẩm Xuyên giảm 50 ngàn cây, Thạch Hà giảm 78 ngàn cây... - Khai thác gỗ và lâm sản: Trong quý I/2018, toàn tỉnh dự ước khai thác đạt 19.214 m3 gỗ, bằng 219,16%, tăng 10.447 m3 so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 113.202 Ste củi, bằng 103,36%, tăng 3.679 Ste so với cùng kỳ năm trước. Huyện Hương Khê khai thác 380 m3 gỗ và 7.050 Ste củi; huyện Hương Sơn khai thác 1.600 m3 gỗ và 22.000 Ste củi; huyện Vũ Quang khai thác 6.143 m3 gỗ và 3.290 Ste củi; huyện Cẩm Xuyên khai thác 2.550 m3 gỗ và 4.500 Ste củi; huyện Kỳ Anh khai thác 4.512 m3 gỗ và 45.570 Ste củi; huyện Thạch Hà khai thác 720 m3 gỗ và 3.905 Ste củi... Nguyên nhân khai thác lâm sản trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước là do người dân hiện vẫn đang tận thu sản phẩm thiệt hại sau cơn bão số 10 và nhu cầu sử dụng trong dịp Tết cao.- Thiệt hại rừng: Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành và các hộ dân liên quan triển khai thực hiện một cách nghiêm túc. Trong quý I/2018 trên địa bàn tỉnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 5.3. Thuỷ sảnTổng sản lượng khai thác và nuôi trồng quý I/2018 ước đạt 8.914 tấn, bằng 109,85%, tăng 799 tấn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:Dự ước sản lượng khai thác Quý I/2018 đạt 6.254 tấn, bằng 109,93%, tăng 565 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: sản lượng khai thác biển ước đạt 5.405 tấn, tăng 10,26%; khai thác nội địa ước đạt 849 tấn, tăng 7,88%. Còn sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 2.660 tấn, bằng 109,65%, tăng 234 tấn so với cùng kỳ năm 2017. Nguyên nhân sản lượng quý I/2018 tăng so với cùng kỳ là do năm nay thời tiết tương đối thuận lợi, nhu cầu sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán cao, nên nhiều tàu thuyền ra khơi đánh bắt thủy sản.Trong quý I năm 2018 không xẩy ra dịch bệnh đối với hoạt động nuôi trồng thủy hải sản.6. Thương mại, dịch vụ và giá cả6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: ước đạt 2.644,02 tỷ đồng, tăng 5,67% so cùng kỳ năm trước và giảm 8,94% so với tháng trước. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 244,57 tỷ đồng, tăng 0,42% so tháng trước, tăng 2,45% so cùng kỳ năm trước; Kinh tế Tập thể ước đạt 1,05 tỷ đồng, giảm 11,20% so tháng trước, tăng 16,32% so cùng kỳ năm trước; Kinh tế Cá thể ước đạt 1.525,6 tỷ đồng, giảm 13,42% so tháng trước, tăng 0,84% so cùng kỳ năm trước; Kinh tế Tư nhân ước đạt 872,8 tỷ đồng, giảm 2,66% so tháng trước, tăng 16,42% so cùng kỳ năm trước. Hầu hết các thành phần kinh tế đều giảm so với tháng trước, trong đó mức giảm mạnh nhất ở khối cá thể, do các nhóm hàng thiết yếu phục vụ Tết phần lớn tập trung ở khối cá thể.Tổng mức bán lẻ hàng hóa phân theo nhóm hàng Tháng 02/2018 và tháng 3/2018Theo bảng trên cho thấy, tình hình thương mại, dịch vụ trong tháng trầm lắng hơn so với tháng trước, sau Tết hầu hết các nhóm hàng hóa tiêu thụ đều giảm. Giảm mạnh nhất là nhóm hàng may mặc (giảm 17,75%), tiếp đến là nhóm lương thực, thực phẩm (giảm 13,54%), nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm (giảm 11,81%). Chỉ có nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng so với tháng trước (tăng 7,59%), do các công trình mới đồng loạt khởi công xây dựng, làm cho giá vật liệu xây dựng tăng, dẫn đến doanh thu của nhóm này tăng.Tính chung 3 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 8.308,4 tỷ đồng, tăng 9,17% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhà nước ước đạt 736,73 tỷ đồng, tăng 3,41%; Tập thể ước đạt 3,37 tỷ đồng, giảm 30,22%; Cá thể ước đạt 4.930,05 tỷ đồng, tăng 5,93%; Tư nhân ước đạt 2.638,16 tỷ đồng, tăng 17,83%. Như vậy, các thành phần kinh tế đều tăng chỉ có kinh tế tập thể giảm so với cùng kỳ năm 2017, do một số Hợp tác xã trước đây hoạt động cả lĩnh vực thương mại và công nghiệp nay chuyển sang chỉ hoạt động công nghiệp.Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 3.147,22 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 37,88% tăng 6,19% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 1.106,55 tỷ đồng, chiếm 13,32% tăng 1,15% so với cùng kỳ. Đặc biệt là nhóm Ô tô ước đạt 406,5 tỷ đồng có mức tăng mạnh nhất 283,11% so với cùng kỳ năm trước, do đầu năm 2018 với chính sách giảm thuế xe ô tô vào các nước Asean bắt đầu có hiệu lực nên số lượng xe bán ra tăng mạnh. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 3/2018 ước đạt 368,58 tỷ đồng, tăng 2,92% so tháng trước và tăng 5,42% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 25,77 tỷ đồng, tăng 2,17% so tháng trước và tăng 1,53% so cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 341,75 tỷ đồng, tăng 2,96% so tháng trước và tăng 5,66% so cùng kỳ; dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,06 tỷ đồng, tăng 6,0% so tháng trước và tăng 31,84% so cùng kỳ. Do trong tháng, lượt khách đến tham quan, vãn cảnh các địa điểm tâm linh như: Chùa Hương, đền ông Hoàng Mười… và dâng hương tri ân tại khu tưởng niệm “Ngã ba Đồng Lộc” tăng; là thời điểm trùng với ngày lễ 8/3, mùa cưới hỏi nên nhu cầu đặt tiệc tại các nhà hàng, trung tâm tiệc cưới tăng; ngoài ra các công ty du lịch chủ động thiết kế các tour du lịch ngắn ngày, với mức giá hợp lý nên thu hút được nhiều ngươi tham gia. Tất cả các yếu tố này đã làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.Tính chung 3 tháng đầu năm 2017, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1080 tỷ đồng, tăng 3,22% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành phân theo nhóm ngành 3 tháng năm 2017 và 2018Nhìn chung, tình hình hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch trong quý có tăng nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu là khách du lịch tham quan các địa điểm đền chùa, vãn cảnh, chỉ nghỉ chân trong thời gian ngắn rồi tiếp tục hành trình. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 3/2018 ước đạt 122,49 tỷ đồng, giảm 5,79% so với tháng trước và tăng 5,25% so cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Phân theo loại hình kinh tế Nhà nước ước đạt 6,07 tỷ đồng, giảm 6,20% so tháng trước; tập thể ước đạt 0,65 tỷ đồng, giảm 7,57%; cá thể ước đạt 91,49 tỷ đồng, giảm 4%; tư nhân ước đạt 23,811 tỷ đồng, giảm 12,20%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,45 tỷ đồng, tăng 9,83%. Do dịch vụ phục vụ cá nhân như cắt tóc, uốn sấy, trang điểm, làm đẹp khối cá thể giảm sâu đã làm cho doanh thu kinh doanh dịch vụ khác trong tháng giảm. Tính chung 3 tháng đầu năm 2018, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 374,09 tỷ đồng, tăng 5,25% so với cùng kỳ năm trước,Doanh thu hoạt động dịch vụ khác phân theo nhóm ngành 03 tháng năm 2018Nhìn chung, doanh thu hoạt động dịch vụ khác trong quý I tăng trưởng nhẹ, hầu hết các ngành dịch đều có xu hướng tăng so với cùng kỳ. Mức tăng cao nhất ở nhóm y tế, đặc biệt là các cơ sở y tế ở khối kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh do được trang bị khá hơn các trang thiết bị hiện đại, cùng với sự phục vụ nhiệt tình chu đáo và kịp thời; ngoài ra một số cơ sở còn nhận khám theo bảo hiểm y tế nên số lượt khách đến khám ngày càng tăng.6.2. Hoạt động vận tải- Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3/2018 ước đạt 2,68 triệu tấn, tăng 3,68% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 65,44 triệu tấn.km, tăng 6,07%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 225,17 tỷ đồng, tăng 6,96%. Sang tháng 3, giá xăng dầu ổn định, chưa điều chỉnh tăng, nhu cầu vận chuyển các mặt hàng như vật liệu xây dựng (cát, sỏi, sắt thép các loại) và nguyên liệu sản xuất (gỗ xẻ, gỗ keo, phân bón,...) tăng, làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng.Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 3/2018 ước đạt 1,84 triệu lượt hành khách, giảm 4,24% so với tháng trước, với khối lượng luân chuyển là 321,94 triệu lượt hành khách.km, giảm 5,21%; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 137,06 tỷ đồng, giảm 8,85%. Do lượt người tham gia phương tiện công cộng giảm; cùng với lượt khách đi lễ tại chùa Hương (Can Lộc) dự kiến trong tháng 3 giảm mạnh, nên làm cho hoạt động vận tải hành khách giảm.Đối với hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải, doanh thu tháng 3/2018 ước đạt 72 tỷ đồng, tăng 7,02% so tháng trước và tăng 35,6% so cùng kỳ năm trước. Do lượt phương tiện lưu thông qua các tuyến đường nhiều hơn, dẫn đến hoạt động các dịch vụ thu phí đường bộ, bảo trì, kiểm định và cứu hộ giao thông tăng; đồng thời, lượt tàu ra vào các cảng biển trên địa bàn tỉnh, nhất là khu vực khu kinh tế Vũng Áng tăng, làm cho doanh thu các dịch vụ bốc xếp, lai dắt tàu biển, kho bãi tăng. Đây chính là những yếu tố làm tăng doanh thu của lĩnh vực này.- Tính chung 3 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8,08 triệu tấn, tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 203,18 triệu tấn.km, tăng 10,45%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 677,05 tỷ đồng, tăng 9,39%. Còn số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 5,62 triệu lượt hành khách, tăng 3,05% với khối lượng luân chuyển là 990,14 triệu lượt hành khách.km, tăng 7,95%; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 429,28 tỷ đồng, tăng 10,54%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt ước đạt 192,9 tỷ đồng tăng 23,27%. Nhìn chung, trong quý I/2018, hoạt động vận tải tuy gặp một số khó khăn do yếu tố chi phí nhiên liệu tăng giá so quý trước và cùng kỳ năm trước nhưng hoạt động vận tải vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do sự phục hồi của nền kinh tế tỉnh từ năm 2017, ngoài các dự án đang vận hành thì từ cuối năm 2017 tỉnh Hà Tĩnh đã cấp phép cho nhiều dự án mới, trong đó có dự án xây dựng cầu cảng số 5 và 6 tại cảng Vũng Áng đã tác động trực tiếp đến hoạt động vận tải kho bãi; nền kinh tế phát triển tạo ra nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động trong và ngoài tỉnh, thúc đẩy lưu thông hành khách cũng như hàng hoá.6.3 Chỉ số giá tiêu dùngThị trường hàng hóa tiêu dùng trong tháng 3/2018 nhìn chung trầm lắng hơn so tháng trước. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nhìn chung có xu hướng giảm, sản lượng tiêu thụ các mặt hàng giảm so tháng trước.CPI tháng 3 năm 2018, giảm 0,03% so tháng trước, tăng 3,06% so cùng tháng năm trước và tăng 1,36% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị giảm 0,07% và khu vực nông thôn giảm 0,01%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,7% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,22%, tăng 1,16% so với tháng 12 năm trước; Đồ uống và thuốc lá giảm 1,6% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,74%, giảm 0,47% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,77% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,51%, tăng 0,37% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,14% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,44%, tăng 0,81% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,66% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,98%, tăng 1,16% so với tháng 12 năm trước; Giao thông giảm 1,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,17%, tăng 2,07% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,27% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,66%, tăng 0,04% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,28% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,88%, tăng 2,02% so với tháng 12 năm trước.Nhóm hàng hóa có chỉ số tăng: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,08% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 9,21%, tăng 9,08% so với tháng 12 năm trước.Các nhóm Giáo dục; Bưu chính viễn thông ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.CPI tháng 3 năm 2018 biến động giảm so với tháng trước chủ yếu do:(1) Do tháng 3 rơi vào thời điểm sau Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, đặc biệt các nhóm thực phẩm, điện, nước, phương tiện giao thông, đồ dùng gia đình, hàng may mặc đều có xu hướng giảm so tháng trước.(2) Giá xăng dầu bình quân giảm so tháng trước.(3) Giá dịch vụ y tế được điều chỉnh tăng theo yêu cầu của các cơ quan quản lý Nhà nước.Chỉ số giá vàng giảm 0,37% so tháng trước, tăng 6,02% so cùng tháng năm trước và tăng 3,17% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng biến động với xu hướng giảm, mức giá hiện tại thời điểm ngày 22/3/2018 ở mức 3.710 nghìn đồng/chỉ. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.685 nghìn đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,2% so tháng trước, giảm 0,32% so cùng tháng năm trước và giảm 0,11% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh mức giá bán ra 2.273,8 nghìn đồng/100USD. Giá USD tự do ngày 22/3/2018 ở mức giá 2.279 nghìn đồng/100USD.Dự kiến CPI tháng 04/2018 sẽ tăng so với tháng 3/2018. Nguyên nhân chủ yếu do tháng 4 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh bước vào mùa du lịch, trong đó có du lịch biển chiếm tỷ trọng lớn. Các loại thực phẩm thủy sản có khả năng tăng giá. Ngoài ra, do chuyển mùa nắng nóng, nhu cầu tiêu dùng các loại mặt hàng may mặc mùa hè, đồ uống, hoa quả, rau củ quả, điện lạnh cũng tăng giá. 7. Các vấn đề xã hội7.1. Tình hình đời sống dân cư Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh quý I năm 2018 có cải thiện hơn so với cùng kỳ năm năm 2017. Đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương, nhờ sự thay đổi mức lương tối thiểu từ 1.210 nghìn đồng lên 1.300 nghìn đồng; mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng thêm 7,44%; mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp tăng từ 180-230 nghìn đồng/tháng nên đời sống được cải thiện hơn. Đồng thời, do thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho người dân sản xuất các loại cây trồng Vụ Đông và làm thêm các ngành nghề khác tăng thêm thu nhập. Mặt khác, theo quyết định số 528/QĐ-UBND ngày 01/02/2018, tỉnh đã trích 2.762 triệu đồng mua gạo trợ cấp cho các hộ nghèo trong dịp tết Nguyên Đán và thời gian giáp hạt năm 2018 cho các huyện Thạch Hà, Hương Khê, Cẩm Xuyên và Thị xã Kỳ Anh. Sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra. 7.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững; chính sách an sinh xã hội trên các lĩnh vực: Giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, cải thiện nhà ở cho người có công, gia đình nghèo...Tập trung ưu tiên cho các vùng khó khăn nhằm tạo điều kiện để người dân được hưởng lợi từ các chương trình, dự án một cách hiệu quả nhất. Theo kết quả rà soát hộ nghèo cuối năm 2017 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỷ lệ hộ nghèo là 8,57% giảm 1,89 điểm phần trăm so với năm 2016; tỷ lệ hộ cận nghèo là 7,78% giảm 0.61 điểm phần trăm so với năm 2016. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn tốc độ giảm nghèo chung của cả nước, tuy nhiên kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin); tăng cường đầu tư để nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo nhanh và bền vững, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa các vùng trên địa bàn tỉnh, nhất là khu vực đặc biệt khó khăn miền núi, biên giới, bãi ngang ven biển.- Công tác an sinh xã hội: Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đến ngày 10/02/2018 (tức ngày 25/12 Âm lịch), các đoàn lãnh đạo tỉnh đã hoàn thành việc thăm hỏi, tặng quà người có công, gia đình chính sách, dâng hương các di tích lịch sử, thăm và tặng quà các đơn vị trong và ngoài tỉnh; các huyện, thành phố, thị xã đã chi trả trợ cấp tháng 02/2018 cho 45.615 người có công, với kinh phí 70 tỷ đồng; chi trả trợ cấp thường xuyên cho 69.539 đối tượng bảo trợ xã hội, với kinh phí 25,5 tỷ đồng, cấp 41.551 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 59.688 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 105.148 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 53.262 thẻ BHYT cho người có côngCông tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo; mọi người, mọi nhà đón Tết cổ truyền của dân tộc trong yên bình, vui vẻ, đầm ấm. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 216.731 suất quà, tổng kinh phí 49,3 tỷ đồng, trong đó: Quà cho người có công 96.604 suất, kinh phí 20,1 tỷ đồng (quà trung ương 54.827 suất, kinh phí 11,2 tỷ đồng; quà địa phương 37.407 suất, kinh phí 7,3 tỷ đồng); quà cho đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 33.137 suất, kinh phí 2,7 tỷ đồng; quà cho người nghèo 37.535 suất, kinh phí 13 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 35.851 suất, kinh phí 6,3 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 6.896 suất, kinh phí 1,5 tỷ đồng; quà cho đối tượng khác (bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển, gặp rủi ro đột xuất…) 6.710 suất, kinh phí 5,7 tỷ đồng. Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã quyết định cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ 5.740 hộ, 10.672 nhân khẩu; các địa phương cũng đã triển khai hỗ trợ gạo kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói trong dịp Tết. - Thực hiện chính sách đối với người có công: Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa đối với các đối tượng chính sách, người có công. Đã trao 01 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách, trị giá 3 triệu đồng; xây mới 04 nhà tình nghĩa, trị giá 205 triệu đồng và sữa chữa 08 nhà với tổng giá trị là 40 triệu đồng.Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng.7.3. Công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghềNăm 2018, Hà Tĩnh tiếp tục với chủ trương đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với các sản phẩm chủ lực, tái cấu trúc ngành nông nghiệp, kế hoạch xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Ưu tiên đào tạo nghề cho các đối tượng lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo. Tiếp tục đẩy mạnh Đề án “Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường trên địa bàn Hà Tĩnh”. Tiếp tục định hướng giáo dục nghề nghiệp gắn kết với nhu cầu cầu của doanh nghiệp, thị trường lao động. Tăng cường phối hợp với các địa phương nhằm tạo công ăn việc làm cho người dân. Quý I/2018, toàn tỉnh đã đào tạo 911 người, trong đó: Cao đẳng nghề là 37 người; trung cấp nghề là 118 người; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới ba tháng là 668 người. Giải quyết việc làm cho 6.227 người, tăng 8,24% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 3.331 người, tăng 6,08%; xuất khẩu lao động 1.646 người, giảm 6,26%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.250 người, tăng 45,86%.7.4. Hoạt động giáo dục đào tạo- Giáo dục phổ thông+ Giáo dục mầm non: Tổng số trường mầm non hiện nay là 273 trường, tăng 04 trường so năm học trước. Tổng số học sinh nhà trẻ có 12.725 cháu, giảm 17,11% (giảm 2.627 cháu); tổng số học sinh mẫu giáo có 75.376 74.168 cháu, tăng 1,63% (tăng 1.208 cháu) và tổng số giáo viên mầm non là 5.018 người, tăng 9,52% (tăng 436 người) so với cùng kỳ năm trước. + Giáo dục tiểu học: Tổng số giáo viên giảng dạy 5.338 người, giảm 4,17% (giảm 232 người); tổng số học sinh có 102.518 em, tăng 3,19% (tăng 3.170 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (6-10 tuổi) ở cấp tiểu học là 101.492 em, chiếm tỷ lệ 99%.+ Trung học cơ sở: Tổng số giáo viên giảng dạy 4.971 người, giảm 3,06% (giảm 157 người); tổng số học sinh có 75.627 em, tăng 0,84% (tăng 633 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (11-14 tuổi) ở cấp trung học cơ sở là 74.173 em, chiếm tỷ lệ 98,08%.+ Trung học phổ thông: Tổng số giáo viên giảng dạy 2.882 người, tăng 2,53% (tăng 71 người); tổng số học sinh có 43.582 em, giảm 3,11% (giảm 1.398 em) so cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (15-17 tuổi) ở cấp THPT là 41.576 em, chiếm tỷ lệ 95,4%.Ngoài ra, công tác nghiên cứu khoa học trong cán bộ, giáo viên và học sinh tiếp tục được đẩy mạnh; toàn ngành có 53 sáng kiến cấp tỉnh; có 49 sáng kiến cấp ngành (đợt 1). Cuộc thi khoa học - kỹ thuật cho học sinh trung học toàn tỉnh có 136 dự án (lĩnh vực khoa học xã hội và hành vi: 28 dự án; lĩnh vực tin học, phần mềm: 6 dự án; lĩnh vực sinh học, hóa học, môi trường: 14 dự án; lĩnh vực kỹ thuật năng lượng: 88 dự án). Kết quả có 6 giải nhất, 14 giải nhì, 20 giải ba và 40 giải khuyến khích. - Giáo dục đào tạo Năm học 2017-2018 ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh vẫn tiếp tục đổi mới công tác quản lý; chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; phát triển mạng lưới trường, lớp và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục.+ Về giáo viên: Trường Đại học gồm có 216 người (trình độ trên đại học 193 người; đại học 23 người); trường Cao đẳng có 67 người (trên đại học 41 người; đại học 25 người; trình độ khác 01 người).+ Về học sinh: Trường Đại học có 2.932 học sinh (hệ đại học 2.816 học sinh, hệ cao đẳng 81 học sinh và hệ trung cấp chuyên nghiệp 35 học sinh); số tuyển mới có 468 học sinh hệ đại học. Các trường Cao đẳng có 1.030 học sinh (hệ cao đẳng 682 học sinh và hệ trung cấp chuyên nghiệp 348 học sinh); số tuyển mới là 526 học sinh (hệ cao đẳng 374 học sinh và hệ trung cấp chuyên nghiệp 152 học sinh).7.5. Hoạt động Y tếQuý I/2018, ngành Y tế Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh như: Cải tiến công tác đón tiếp người bệnh, giảm quá tải bệnh viện; chú trọng công tác đào tạo chuyên môn; phát triển chuyên môn kỹ thuật; phát triển chữa bệnh bằng y học cổ truyền; đầu tư trang thiết bị; nâng cao y đức... Nhờ vậy, chất lượng phục vụ người bệnh từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.- Tình hình dịch bệnh: Quý I năm 2018, công tác phòng chống dịch tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Đặc biệt, công tác phòng chống dịch sốt xuất huyết đã triển khai mạnh mẽ từ tỉnh đến cơ sở nên các ca bệnh đều đã được điều trị khỏi, không có trường hợp tử vong, dịch đã sớm dập tắt và không lan rộng. Tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện các biện pháp không để dịch cúm A(H5N1) trên gia cầm lây sang người. Chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát chuyên môn, kỷ thuật về y tế dự phòng cho tuyến dưới. Trong quý, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 143 trường hợp sốt rét và không có trường hợp nào bị tử vong.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, thời gian qua Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn. Tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi hành vi, nhằm giảm sự mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Quý I năm 2018, Hà Tĩnh có 15 trường hợp nhiễm HIV, giảm 01 trường hợp so với năm trước; có 17 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, tăng 02 trường hợp và không có người chết vì AIDS.- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Để hướng tới một thị trường có thực phẩm an toàn, các cơ quan chức năng Hà Tĩnh đã vào cuộc với nhiều biện pháp quyết liệt, nhằm ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ATVSTP. Ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục tập trung vào công tác quản lý, chỉ đạo; thông tin tuyên truyền giáo dục; thanh tra liên ngành về an toàn thực phẩm; giám sát phát hiện sớm ca ngộ độc tực phẩm trong cộng đồng; điều tra, xử lý khắc phục vụ ngộ độc thực phẩm; bảo đảm vật tư, hóa chất, phương tiện phòng chống vụ ngộ độc thực phẩm. Quý I/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 345 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 28,13% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán: Các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh và bệnh viện đa khoa các huyện, thành phố, thị xã đều tổ chức thường trực cấp cứu 24/24 giờ; duy trì hoạt động khám, chữa bệnh, cấp cứu bình thường. Tổng số bệnh nhân còn lại đến ngày 20/02/2018 (tức ngày 05 Tết âm lịch) tại bệnh viện các huyện, thành phố, thị xã và Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh là 1.642 bệnh nhân; tổng số lượt bệnh nhân khám 2.263; thực hiện 176 ca phẫu thuật, 243 ca đẻ và mổ đẻ; tổng số ca tử vong tại các bệnh viện toàn tỉnh là 06 ca. Tổ chức tốt việc động viên, thăm hỏi bệnh nhân đang điều trị tại các bệnh viện trong dịp Tết. 7.6. Hoạt động văn hóa - thể thao- Hoạt động văn hóa: Chào xuân Mậu Tuất, Hà Tĩnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã. Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Mùa xuân dâng Đảng” biểu diễn tại 13 huyện, thị xã, thành phố, từ ngày 27/01/2018 đến ngày 08/02/2018; Chương trình nghệ thuật “Chào Xuân” biểu diễn vào tối Ngày 30 tháng Chạp tại Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh. Đêm giao thừa Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm nay, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức 2 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh.Bên cạnh đó, các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới. Các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh; phản ánh đầy đủ, toàn diện không khí vui xuân, đón tết của nhân dân trên địa bàn tỉnh; tổ chức Hội báo xuân, triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. Trong tháng đã đình chỉ 12 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.- Hoạt động thể thao: Nhân dịp đón Xuân Mậu Tuất, các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi như: Kéo co, bóng chuyền, bóng đá, thi đấu cờ tướng, đua thuyền, như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ, với 13 đội thuyền (2 đội thuyền nữ và 11 đội thuyền nam) đến từ 11 xã ven sông La với hơn 200 vận động viên tham gia; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh, thu hút 14 kỳ thủ đến từ các phường, xã trên địa bàn tham gia; giải bóng chuyền nam thanh niên tại huyện Cẩm Xuyên, với sự tham gia của 9 đội bóng. Giải góp phần tạo không khí sôi nổi, động viên nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, quyết tâm giành thắng lợi ngay từ những ngày đầu năm mới.Thể thao thành tích cao: Trong quý, đoàn Hà Tĩnh dành được 07 HCV tại giải Karatedo miền Trung Tây Nguyên.7.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội- Về an toàn giao thông: Năm 2018, với chủ đề “An toàn giao thông cho trẻ em”, nhằm mục tiêu giảm tai nạn giao thông tối thiểu 5% so với năm 2017, Ban an toàn giao thông tỉnh tổ chức ký kết tuyên truyền với 18 cơ quan, đơn vị và trường học trong toàn tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an toàn giao thông, lồng ghép trong hoạt động chuyên môn của từng đơn vị, qua đó nâng cao vai trò gương mẫu của mỗi cán bộ, hội viên... trong việc thực hiện pháp luật trật tự an toàn giao thông. Ngoài ra, UBND tỉnh đã chỉ đạo tăng cường các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường thủy; yêu cầu các chủ phương tiện thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về kinh doanh vận tải đường thủy nội địa, an toàn phương tiện, trang thiết bị cứu hộ…để nhân dân được vui lễ hội đầu xuân một cách an toàn.Tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/3/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 39 người và bị thương 14 người, thiệt hại tài sản ước tính 285 triệu đồng (Riêng dịp Tết nguyên đán xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người và bị thương 04 người). So với cùng kỳ năm 2017 tăng 09 vụ, tăng 11 người chết và tăng 03 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.- Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán, tính từ 14-20/02/2018 (tức từ ngày 29/01/2017-05/01/2018 âm lịch) xảy ra 12 vụ phạm pháp hình sự (tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm 2017), làm chết 01 người, bị thương 11 người; phát hiện và bắt giữ 02 vụ đánh bạc, 08 đối tượng (giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm 2017). Phát hiện 146 vụ, 151 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép, thu giữ 07 kg pháo các loại, riêng trong đêm giao thừa phát hiện, bắt giữ 135 vụ, 137 đối tượng tàng trữ, sử dụng trái phép pháo (tăng 74 vụ so với Tết năm 2017).7.8. Môi trường- Tình hình cháy, nổ: Quý I/2018, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 28 vụ cháy, tăng 16 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước tính thiệt hại về tài sản là 2,59 tỷ đồng. Trong đó: Cháy nhà dân 08 vụ; 09 vụ cháy đường dây điện; 11 vụ cháy khác, nguyên nhân chủ yếu do bất cẩn trong sử dụng lửa. Ngoài ra, còn xảy ra 02 vụ nổ, làm bị thương 08 người.- Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu bảo đảm môi trường luôn xanh, sạch đẹp, Sở tài nguyên môi trường đã kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Quý I/2017, đã kiểm tra phát hiện và xử lý 5 cơ sở vi phạm môi trường, với số tiền 13,5 triệu đồng.8. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 a. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018Kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2018 như sau:- Tổng sản phẩm (GRDP) tăng từ 18,5%-19% so với năm 2017. - Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn. - Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 470 triệu USD.- Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt trên 9.400 tỷ đồng, trong đó thu nội địa trên 6.000 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 3.400 tỷ đồng.- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 36.000 tỷ đồng.- Tỷ lệ người tham gia BHYT đạt 86%.- Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) giảm từ 1,1-1,3%.- Giải quyết việc làm mới cho 22.500 người.- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60-62%.- Có thêm ít nhất 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới, thêm ít nhất 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. b. Giải pháp thực hiện Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 cần phải thực hiện đồng bộ 12 nhóm giải pháp như trong Nghị quyết đã nêu. Tuy nhiên chúng ta cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là: - Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu nêu trên, phải xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình hành động triển khai nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 một cách cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương.- Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Hoàn thành rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển. - Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành kinh tế một cách thực chất, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung chỉ đạo quyết liệt tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thúc đẩy phát triển nhanh ngành công nghiệp - xây dựng, nhất là tạo điều kiện thuận lợi triển khai dự án Nhiệt điện Vũng Áng 2, sớm đưa vào vận hành lò cao số 2 Nhà máy Formos. Phát triển thương mại nội địa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ; đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa.- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp,cường thu hút đầu tư nhằm huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phải tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nhất là những lĩnh vực thời gian qua còn bộc lộ hạn chế, yếu kém. Kiểm soát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường khi thẩm định cũng như cả quá trình hoạt động của dự án. - Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. - Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội quý I/2018 diễn ra trong điều kiện vẫn còn khó khăn. Với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà vẫn ổn định theo chiều hướng tích cực./.
Hệ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội sơ bộ năm 2017 - tỉnh Hà Tĩnh
- 30/07/2024 16:17
Hệ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội sơ bộ năm 2017 - tỉnh Hà Tĩnh
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Tỉnh Hà Tĩnh Tháng 02 năm 2018
- 25/07/2024 16:35
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 02 năm 2018 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp trong tháng 02 bên cạnh việc tiếp tục thu hoạch một số cây vụ Đông thì chủ yếu tập trung gieo cấy, chăm sóc cây vụ Xuân 2018. + Tình hình thu hoạch vụ Đông 2017-2018: Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 12.917 ha, bằng 117,04%, tăng 1.881 ha so với năm trước.Sản xuất các loại cây trồng vụ Đông luôn phải chịu sự tác động bất lợi bởi yếu tố thời tiết mưa rét. Vì vậy, kết quả sản xuất vụ Đông thường thiếu tính ổn định và hiệu quả không cao. Kết quả sản xuất một số loại cây trồng chủ yếu vụ Đông năm 2017-2018 đạt được như sau: Diện tích ngô đạt 3.870 ha, bằng 167,6%, tăng 1.561 ha. Năng suất ngô đạt 27,68 tạ/ha, bằng 98,96%, giảm 0,29 tạ/ha. Sản lượng ngô đạt 10.711 tấn, so với cùng kỳ năm trước bằng 165,86%, tăng 4.253 tấn. Diện tích khoai lang đạt 1.565 ha, bằng 85,73%, giảm 260 ha. Năng suất khoai lang đạt 56,95 tạ/ha, bằng 104,07%, tăng 2,23 tạ/ha. Sản lượng khoai lang đạt 8.910 tấn, bằng 89,22%, giảm 1.077 tấn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích lạc đạt 30 ha, bằng 70,91%, giảm 12,51 ha. Năng suất lạc đạt 16,80 tạ/ha, bằng 98,93%, giảm 0,18 tạ/ha và sản lượng lạc đạt 51 tấn bằng 70,15%, giảm 21,79 tấn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rau các đạt 4.565 ha, bằng 121,49%, tăng 807 ha. Năng suất rau đạt 56,52 tạ/ha, bằng 103%, tăng 1,65 tạ/ha. Sản lượng rau đạt 25.810 tấn, bằng 125,17%, tăng 5.190 tấn so với cùng kỳ năm trước. + Tình hình sản xuất vụ Xuân 2018: Để thực hiện sản xuất vụ Xuân 2018 đạt kết quả cao, các huyện, thành phố, thị xã đã triển khai Đề án sản xuất vụ Xuân của tỉnh đến tận các xã, phường, thị trấn và bà con nông dân. Với các giải pháp như: Cung cấp giống và phân bón có chất lượng và giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống đúng lịch thời vụ; theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...Tuy nhiên, vào trung tuần tháng 1/2018 do ảnh hưởng của không khí lạnh đã gây nên đợt rét đậm, rét hại trên địa bàn tỉnh làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất vụ Xuân. Tính đến ngày 12/02/2018, toàn tỉnh đã gieo cấy được 58.006 ha lúa, bằng 99,87% so với cùng kỳ năm trước và đạt 99,11% kế hoạch. Trong đó: Diện tích lúa cấy là 15.077 ha (chiếm 25,99% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 42.929 ha (chiếm 74,01% tổng diện tích gieo cấy); trà lúa Xuân trung là 3.154 ha (chiếm 5,44% tổng diện tích gieo cấy) và trà lúa Xuân muộn là 54.708 ha (chiếm 94,31% tổng diện tích gieo cấy). Cùng với việc gieo cấy lúa thì tiến độ gieo trỉa một số loại cây trồng khác đạt được như sau: Cây ngô ước đạt 1.895 ha, bằng 59,0% kế hoạch; cây khoai lang ước đạt 395 ha, bằng 22,98% kế hoạch; cây lạc ước đạt 2.830 ha, bằng 19,22% kế hoạch và rau các loại ước đạt 1.639 ha, bằng 34,58% kế hoạch. + Dự báo tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Để chủ động trong công tác phòng trừ các đối tượng dịch hại trên cây trồng vụ Xuân 2018. Chi cục Trồng trọt vào Bảo vệ thực vật tỉnh dự báo thời điểm phát sinh gây hại của một số đối tượng dịch hại chủ yếu như sau:Trên cây lúa: Rệp xanh xuất hiện chủ yếu trên lúa gieo thẳng giai đoạn 2-3 lá, tuy nhiên trên cây lúa rệp xanh là đối tượng thứ yếu chỉ xuất hiện giai đoạn đầu vụ và ít ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của lúa nên đề nghị các địa phương không khuyến cáo bà con nông dân sử dụng thuốc hóa học để phun phòng trừ rệp. Bọ trĩ, ruồi đục nõn gây hại chủ yếu trên lúa gieo thẳng trà Xuân muộn giai đoạn 2-3 lá đến kết thúc đẻ nhánh. Tuyến trùng rễ gây hại mạnh vào giai đoạn lúa 2-3 lá đến cuối đẻ nhánh, nhất là môi trường ruộng thường xuyên bị khô hạn, đất pha cát hoặc đất nhiễm phèn, giữ nước kém. Rầy nâu - rầy lưng trắng thường tích lũy số lượng từ đầu vụ và hình thành các ổ gây hại từ giữa tháng 3 vào giai đoạn lúa đứng cái. Sâu cuốn lá nhỏ gây hại chủ yếu trà Xuân muộn trên các giống lúa có bản lá rộng từ giai đoạn lúa đẻ nhánh, tuy nhiên giai đoạn đẻ nhánh thường có mật độ thấp và ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa...Bên cạnh đó, chuột gây hại quanh năm nhưng hại nặng giai đoạn bắt đầu gieo cấy và giai đoạn lúa làm đòng - chín. Dự báo vụ Xuân 2018 chuột có khả năng gia tăng về số lượng và phát sinh gây hại nặng đặc biệt trên các chân ruộng cao cưỡng, gần gò đồi, ven làng.Trên cây lạc: Sâu xanh, sâu khoang là đối tượng sâu đa thực, gây hại nhiều loại cây trồng khác nhau và hại trên cả lá, hoa, quả và thân, cao điểm gây hại từ cuối tháng 3 đến hết tháng 4, trùng vào giai đoạn lạc ra hoa, đâm tia - phát triển quả. Bệnh héo rũ gốc mốc đen, mốc trắng, mốc xám phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, ẩm ướt, trên đất có nhiều chất hữu cơ, tàn dư cây và phân bón chưa hoai mục. Bệnh xuất hiện và gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây lạc, cao điểm gây hại từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 3, trùng vào giai đoạn lạc 3-4 lá đến phân cành. Nhện đỏ tập trung gây hại giai đoạn phát triển quả đến chín, đặc biệt trên những ruộng lạc khô hạn, bón thừa đạm.Trên cây ngô: Sâu xám thường gây hại ở tất cả các vùng trồng ngô vào giai đoạn cây con. Sâu thường gây hại vào ban đêm, sâu tuổi 1-3 ăn lá ngô non hoặc gặm xung quanh thân ngô. Sâu đục thân, đục bắp có thể gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây ngô, nhưng thường hại nhiều nhất từ khi cây trổ cờ đến hình thành bắp. Rệp cờ tích lũy số lượng từ giai đoạn 7-9 lá, cao điểm gây hại từ giai đoạn trỗ cờ - phun râu trở đi, rệp hút nhựa ở nõn, bẹ lá, bông cờ làm cho cây ngô sinh trưởng, phát triển kém, thân nhỏ, bắp bé. - Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc trâu, bò toàn tỉnh ước tính hiện có 278.600 con, bằng 90,49% giảm 29.275 con so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Đàn trâu ước tính hiện có 76.260 con, bằng 89,77%, giảm 8.691 con so với cùng kỳ năm trước. Những huyện có số lượng đàn trâu giảm mạnh so với cùng kỳ như: Hương Khê giảm 1.520 con, Hương Sơn giảm 539 con, Nghi Xuân giảm 360 con, huyện Kỳ Anh giảm 2.129 con, Cẩm Xuyên giảm 2.020 con...Đàn bò ước tính hiện có 202.340 con, bằng 90,77%, giảm 20.584 con so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có đàn bò giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 1.149 con, Đức Thọ giảm 960 con, Hương Khê giảm 1.478 con, Cẩm Xuyên giảm 3.505 con, Thạch Hà giảm 2.403 con, huyện Kỳ Anh giảm 7.099 con...Nguyên nhân đàn trâu, bò giảm mạnh là do người dân xuất bán nhiều để phục vụ dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất cũng như do thời tiết rét đậm rét hại, nguồn thức ăn dự trữ khan hiếm, giá cả biến động giảm. Tổng đàn lợn ước tính hiện có 430.842 con, bằng 88,92%, giảm 53.660 con so với cùng kỳ năm 2017. Một số địa phương có đàn lợn giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 5.645 con, Thạch Hà giảm 9.555 con, Can Lộc giảm 20.100 con, Cẩm Xuyên giảm 19.500 con...Nguyên nhân đàn lợn giảm mạnh là do đợt giảm giá sâu từ những tháng trước, chăn nuôi thua lỗ nhiều nên hộ chăn nuôi không tiếp tục tái đàn. Bên cạnh đó việc xuất bán phục vụ thực phẩm dịp Tết cũng đã làm cho đàn lợn giảm.Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.081 ngàn con, bằng 104,98%, tăng 383 ngàn con so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Đàn gà hiện có 6213 ngàn con, bằng 102,14%, tăng 130 ngàn con so với cùng kỳ năm trước. Do trong thời gian qua không xẩy ra dịch bệnh nên đàn gia cầm đang phát triển khá.+ Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tuần dịch lở mồm long móng đã xẩy ra tại xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà làm cho 23 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy. Dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày xẩy ra tại xã Sơn Thủy, huyện Hương Sơn làm cho 37 con (12 trâu, 25 bò) của 25 hộ nuôi ở 5 thôn mắc bệnh. 1.2. Lâm nghiệp - Trồng và chăm sóc nuôi dưỡng: Trong tháng 02 năm 2018, toàn tỉnh ước tính trồng được 207 ha rừng tập trung, bằng 116,88%, tăng 29,9 ha so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018 đã trồng được 576 ha rừng, bằng 100,16%, tăng 0,9 ha so với cùng kỳ năm trước. Trồng cây phân tán trong tháng 02 năm 2018 ước đạt 577,8 ngàn cây, bằng 134,87%, tăng 149,4 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018 đã trồng được 797,8 ngàn cây phân tán, bằng 105,33%, tăng 40,4 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước.Nguyên nhân trồng rừng và trồng cây phân tán tăng là do thời tiết thuận lợi cho việc trồng cây và sau khi tận thu xong gỗ, củi do bão số 10 gây ra thì người dân lại tiếp tục trồng lại rừng. - Khai thác gỗ và lâm sản: Dự ước khai thác đạt 5.287 m3 gỗ, bằng 165,53% m3 so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 37.299,5 Ste củi bằng 131,08%, tăng 8.843 Ste so với cùng kỳ năm trước. Huyện Hương Khê khai thác 125 m3 gỗ và 2.600 Ste củi; huyện Hương Sơn khai thác được 300 m3 gỗ và 3.600 Ste củi; huyện Vũ Quang khai thác 1.800 m3 gỗ và 1.000 Ste củi; huyện Cẩm Xuyên khai thác 1.820 m3 gỗ và 4.200 Ste củi; huyện Kỳ Anh khai thác 200 m3 gỗ và 350 Ste củi, huyện Thạch Hà khai thác 125 m3 gỗ và 2.600 Ste củi...Nguyên nhân khai thác lâm sản trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước là do người dân hiện vẫn đang tận thu sản phẩm thiệt hại sau cơn bão số 10 và nhu cầu sử dụng trong dịp Tết cao.- Thiệt hại rừng: Trong tháng không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3. Thủy sảnTổng sản lượng ước đạt 2.599 tấn, bằng 124%, tăng 503 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó:- Sản lượng khai thác ước đạt 1.759 tấn, bằng 122,15%, tăng 319 tấn so với cùng kỳ năm trước: + Sản lượng khai thác biển ước đạt 1.482 tấn, bằng 123,4%, tăng 281 tấn. Trong đó: Sản lượng khai thác cá ước đạt 638 tấn, tăng 159 tấn; tôm ước đạt 40 tấn, tăng 16 tấn; thủy sản khác ước đạt 804 tấn, tăng 106 tấn. + Sản lượng khai thác nội địa ước đạt 277 tấn, bằng 115,90%, tăng 38 tấn. Trong đó: Sản lượng cá tăng 32 tấn; tôm tăng 1 tấn; thủy sản khác tăng 5 tấn.- Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 840 tấn, bằng 128,05% tăng 184 tấn so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Sản lượng cá ước đạt 595 tấn, tăng 108 tấn; tôm ước đạt 73 tấn, tăng 29 tấn; thủy sản khác ước đạt 172 tấn, tăng 47 tấn. Nguyên nhân sản lượng tháng 02 năm 2018 tăng so với cùng kỳ là do năm tàu thuyền ra khơi đánh bắt để phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong dịp tết Nguyên Đán. Trong tháng không phát sinh dịch bệnh trên thủy sản nuôi trồng.2. Sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 02/2018 ước tính tăng 200,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,38%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,4 lần; sản xuất và phân phối điện tăng 14,16%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,64%. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo. Tính chung 2 tháng, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 164,36% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 264,66%; sản xuất và phân phối điện tăng 15,23%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 6,58%; riêng ngành khai khoáng giảm 2,47%. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 02 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 12,24 lần; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 147,39%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tăng 111,6%; khai khoáng quặng kim loại (chủ yếu quặng kim loại không chứa sắt) tăng 290,92%. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: sản xuất trang phục giảm 41,25%; ngành dệt (chủ yếu sản xuất sợi) giảm 33,27%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 31,58%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 30,61%; Trong 02 tháng năm 2018, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 3,74 lần; than cốc tăng 111,63%; thép tăng 12,25 lần; dược phẩm tăng 147,39%. Một số sản phẩm giảm mạnh: Chè (trà) giảm 55,88%; thức ăn cho gia súc giảm 76,67%; sợi giảm 48,86%; bê tông tươi giảm 52%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 30,83%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2018 tăng 17,45% so với tháng trước và tăng 125,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất các cấu kiện kim loại tăng 71,12 lần; sản xuất than cốc tăng 135,78%; sản xuất bia tăng 31,94%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Dệt giảm 71,33%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 63,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 63,57%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 62,29%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2018 giảm 20,91% so với tháng trước và tăng 7,99 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,32 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: sản xuất kim loại (chủ yếu là thép) tăng 13,74 lần; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 45,74%; sản xuất than cốc tăng 33,53%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 16,92%; sản xuất bia tăng 12,51%.Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2018 tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,44%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 6,18%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,34%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2018 tăng chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.3. Vốn đầu tưVốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 02/2018 ước tính đạt 162,78 tỷ đồng, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 105,73 tỷ đồng, chiếm 64,95% tổng vốn và giảm 12,92%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 35,91 tỷ đồng, chiếm 22,06% tổng vốn và tăng 25,49%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 21,14 tỷ đồng, chiếm 12,99% tổng vốn và giảm 55,96%. Do những tháng đầu năm, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỷ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp cũng như khởi công mới các công trình trong năm 2018, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2018 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng; đồng thời, là tháng trùng vào dịp tết Nguyên đán, thời gian nghỉ lễ dài nên các công trình tạm ngừng thi công, đạt giá trị thấp trong tháng.Tính chung 2 tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 361,32 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 230,39 tỷ đồng, tăng 14,36% và chiếm 63,76% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 80,8 tỷ đồng, tăng 15,57% và chiếm 22,36% tổng vốn; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 50,13 tỷ đồng, giảm 27,21% và chiếm 13,87% tổng vốn. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 02/2018 đạt 2.946,37 tỷ đồng, tăng 6,72% so với tháng trước và tăng 18,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 250,93 tỷ đồng, tăng 14,54%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.695,35 tỷ đồng, tăng 19,05% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tư nhân (tăng 24,71% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 02 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 5.707,22 tỷ đồng, tăng 11,73% so cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 499,56 tỷ đồng, tăng 5,45%; ngoài Nhà nước ước đạt 5.207,49 tỷ đồng, tăng 12,37% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,17 tỷ đồng.Nhìn chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhu cầu về các mặt hàng lương thực, thực phẩm; nhóm hàng hóa đồ dùng dụng cụ gia đình... tăng mạnh. Cùng với việc các chính sách kích cầu, bình ổn giá, Siêu thị Coopmart ngoài thực hiện chương trình bình ổn giá 15 loại mặt hàng thiết yếu khoảng 140 tấn hàng hóa, trị giá 8,5 tỷ đồng, còn thực hiện nhiều chương trình giảm giá ưu đãi khuyến mãi. Bên cạnh đó, là tháng trùng vào ngày lễ vía thần tài (10/01 Âm lịch) mức bán ra vàng dự kiến tăng. Đồng thời, đầu năm 2018 với chính sách giảm thuế xe ô tô vào các nước Asean có hiệu lực đồng thời thời điểm này trùng với dịp lễ tết nên nhu cầu mua sắm phương tiện ô tô trong tháng này tăng hơn. Tất cả điều đó làm cho tổng mức tăng so với cùng kỳ năm trước.- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 02/2018 ước đạt 367,62 tỷ đồng, tăng 4,06% so với tháng trước và tăng 9,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 25,22 tỷ đồng, tăng 0,16%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 341,32 tỷ đồng, tăng 9,75%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,08 tỷ đồng, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 02/2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 720,9 tỷ đồng, tăng 3,48% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 17,02 tỷ đồng, tăng 109,58%; ngoài Nhà nước ước đạt 697,58 tỷ đồng, tăng 2,02% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 6,3 tỷ đồng, tăng 30,63% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 02/2018 ước đạt 129.9 tỷ đồng, tăng 6,84% so với tháng trước và tăng 11,25% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 7,36 tỷ đồng, tăng 37,51%; ngoài nhà nước ước đạt 121,92 tỷ đồng, tăng 10,19%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,62 tỷ đồng, giảm 19,55% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu dịch vụ khác tháng 02/2018 tăng, do trong tháng trùng Tết Nguyên đán Mậu Tuất nhu cầu đi lễ tham quan vãn cảnh chùa trước trong, sau Tết tăng mạnh làm tác động kinh doanh dịch vụ tăng. Trong các thành phần kinh tế, chỉ có khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm, do khu vực này chủ yếu kinh doanh dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ cho thuê máy móc, mà các công trình xây dựng dự án trong tháng này giảm mạnh so với năm trước, nên làm cho doanh thu giảm.Tính chung 2 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 251,47 tỷ đồng, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 14,45 tỷ đồng, tăng 36,91%; ngoài Nhà nước ước đạt 235,82 tỷ đồng, tăng 2,63% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,2 tỷ đồng, giảm 33,52% so với cùng kỳ năm trước. 4.2. Hoạt động vận tảiVận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 02/2018 ước đạt 1,94 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 344,18 triệu lượt hành khách.km. So với tháng trước tăng 4,61% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 4,75% về lượt hành khách.km luân chuyển. Doanh thu vận tải hành khách tháng 02/2018 ước đạt 153,8 tỷ đồng, tăng 8,43% so với tháng trước. Tính chung 02 tháng ước đạt 3,8 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 672,74 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,77% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 7,85% về lượt hành khách.km luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách 02 tháng ước đạt 259,66 tỷ đồng, tăng 13,46% so với tháng trướcVận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 02/2018 ước đạt 2,64 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 71,66 triệu tấn.km hàng hóa. So với tháng trước giảm 6,01% về khối lượng vận chuyển và giảm 5,76% về khối lượng luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa tháng 02/2018 ước đạt 224,34 tỷ đồng, giảm 7,05% so với tháng trước. Tính chung 02 tháng ước đạt 5,45 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 147,7 triệu tấn.km hàng hóa, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,86% về khối lượng vận chuyển và tăng 20,86% về khối lượng luân chuyển; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa 02 tháng ước đạt 465,69 tỷ đồng, tăng 12,55% so với tháng trước.Nhìn chung vận tải hàng hóa trong tháng này giảm với biên độ đáng kể, mặc dầu nhu cầu vận tải thời điểm cận Tết tăng cao nhằm phục vụ vận chuyển, luân chuyển hàng hóa lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình; do đặc thù các phương tiện vận tải vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng nghỉ Tết sớm, trong khi thời gian nghỉ sau Tết thường kéo dài dẫn đến vận tải hàng hóa giảm. Còn đối với vận tải hành khách, mặc dù là tháng cao điểm về nhu cầu vận tải hành khách trong năm, lượng hành khách vận chuyển thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán thường tăng cao nhưng trên địa bàn tỉnh không xảy ra hiện tượng thiếu phương tiện đưa đón người dân đi lại; tuy giá xăng dầu biến động tăng, nhưng hiện tại mới chỉ có các phương tiện vận tải cự ly ngắn và trung bình như taxi, xe bus các tuyến nội tỉnh và tuyến Hà Tĩnh - thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) tăng giá nhẹ; các tuyến vận tải liên tỉnh đường dài như Hà Tĩnh - Hà Nội, Hà Tĩnh - Bắc Ninh, Hà Tĩnh - thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh - Đà Nẵng chỉ được các cơ quan quản lý tăng giá vé một chiều từ các tỉnh về Hà Tĩnh, mức tăng cũng được giới hạn trong một thời gian từ ngày 5/02 đến ngày 03/3/2018 (tức ngày 20/12 ÂL đến ngày 16/01/2018 ÂL); còn giá vé xe bus toàn tuyến Hà Tĩnh - Vinh hiện ở mức 30.000 đồng/HK, tuyến Hà Tĩnh – Hà Nội ở mức 250.000 đồng/HK; nên làm cho vận tải hành tăng so với tháng trước. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùngThị trường hàng hóa tiêu dùng trong tháng 02/2018 diễn ra sôi động, lượng hàng hóa lưu chuyển lớn, cao hơn hẳn so những tháng trước đó. Nguyên dân do rơi vào thời điểm dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đều ở mức cao.CPI tháng 02 năm 2018, tăng 0,79% so tháng trước, tăng 3,11% so cùng tháng năm trước và tăng 1,40% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,77% và khu vực nông thôn tăng 0,80%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,74% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,60%, tăng 1,87% so với tháng 12 năm trước; Đồ uống và thuốc lá giảm 1,28% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,22%, tăng 1,15% so với tháng 12 năm trước. May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,27% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,31%, tăng 1,15% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,47% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,31%, tăng 1,33% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 1,46% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,62%, tăng 3,16% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,16% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,99%, tăng 0,31% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,05% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,15%, tăng 2,31% so với tháng 12 năm trước.Nhóm hàng hóa có chỉ số giảm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,26% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,11%, tăng 0,95% so với tháng 12 năm trước.Các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.CPI tháng 02 năm 2018 biến động tăng, giảm so với tháng trước chủ yếu do:(1) Yếu tố Tết Nguyên đán là nguyên nhân chủ yếu tác động đến giá cả các loại mặt hàng. Trong đó giá lương thực và một số mặt hàng thực phẩm tăng với biên độ lớn. Mặc dù giá rau củ quả các loại tiếp tục giảm nhưng mức giảm này không đủ tác động đến xu hướng tăng giá chung của nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống. Bên cạnh đó, giá bia rượu, thuốc lá các loại cũng tăng giá.(2) Nhu cầu tiêu dùng tăng lên khiến giá các mặt hàng và dịch vụ may mặc tăng theo.(3) Giá cước vận tải hành khách được điều chỉnh tăng lên, cả cự ly đường ngắn lẫn đường dài. Mặc dù giá xăng dầu tại kỳ điều chỉnh ngày 21/02/2018 giảm, nhưng tính bình quân cả tháng vẫn tăng giá so tháng trước. Giá xăng A95 bình quân trong tháng 20.888 đ/lít, E5 giá 18.955 đ/lít, Dầu diezel giá 16.245 đ/lít. Những yếu tố này khiến chỉ số giá nhóm Giao thông tăng.(4) Giá gas điều chỉnh giảm mạnh, giảm 35.000 - 40.000 đồng/bình 12kg.Dự kiến CPI tháng 03/2018 sẽ giảm mạnh. Nguyên nhân chủ yếu do thời điểm sau Tết Nguyên đán, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, dịch vụ, phương tiện giao thông đều có xu hướng giảm. Bên cạnh đó, giá xăng dầu trong kỳ điều chỉnh ngày 21/02/2018 giảm, có thể tác động khiến các loại chi phí sản xuất giảm trong thời gian tới.Việc quản lý hàng hóa, thị trường tiêu dùng sau Tết. Nhất là các loại hàng hóa lương thực, thực phẩm. Các cơ quan quản lý cần tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh, chống hiện tượng bán hàng hết hạn sử dụng, hàng tồn kho lâu ngày, thực phẩm hư hỏng. 5. Một số vấn đề xã hội5.1. Tình hình đời sống dân cư- Tính đến ngày 15/02/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói. Do thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho người dân sản xuất các loại cây trồng Vụ Đông và làm thêm các ngành nghề khác tăng thêm thu nhập. Chăn nuôi tiếp tục ổn định, dịch bệnh được khống chế, sản lượng sản phẩm chăn nuôi xuất chuồng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của dân cư trong dịp Tết Nguyên đán, sản lượng thủy sản tăng cao so cùng kỳ năm trước. Mặt khác, theo quyết định số 528/QĐ-UBND ngày 01/02/2018, tỉnh đã trích 2.762 triệu đồng mua gạo trợ cấp cho các hộ nghèo trong dịp tết Nguyên Đán và thời gian giáp hạt năm 2018 cho các huyện Thạch Hà, Hương Khê, Cẩm Xuyên và Thị xã Kỳ Anh. Sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra. - Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đến ngày 10/02/2018 (tức ngày 25/12 Âm lịch), các đoàn lãnh đạo tỉnh đã hoàn thành việc thăm hỏi, tặng quà người có công, gia đình chính sách, dâng hương các di tích lịch sử, thăm và tặng quà các đơn vị trong và ngoài tỉnh; các huyện, thành phố, thị xã đã chi trả trợ cấp tháng 02/2018 cho 45.615 người có công, với kinh phí 70 tỷ đồng; chi trả trợ cấp thường xuyên cho 69.539 đối tượng bảo trợ xã hội, với kinh phí 25,5 tỷ đồng.- Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo; mọi người, mọi nhà đón Tết cổ truyền của dân tộc trong yên bình, vui vẻ, đầm ấm. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 216.731 suất quà, tổng kinh phí 49,3 tỷ đồng, trong đó: Quà cho người có công 96.604 suất, kinh phí 20,1 tỷ đồng (quà trung ương 54.827 suất, kinh phí 11,2 tỷ đồng; quà địa phương 37.407 suất, kinh phí 7,3 tỷ đồng); quà cho đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 33.137 suất, kinh phí 2,7 tỷ đồng; quà cho người nghèo 37.535 suất, kinh phí 13 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 35.851 suất, kinh phí 6,3 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 6.896 suất, kinh phí 1,5 tỷ đồng; quà cho đối tượng khác (bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển, gặp rủi ro đột xuất…) 6.710 suất, kinh phí 5,7 tỷ đồng. Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã quyết định cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ 5.740 hộ, 10.672 nhân khẩu; các địa phương cũng đã triển khai hỗ trợ gạo kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói trong dịp Tết. - Lương, thưởng của công nhân, người lao động trong dịp Tết: Tính đến ngày 20/02/2018 các doanh nghiệp trả lương cho người lao động không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu vùng, không có doanh nghiệp nợ lương của người lao động. Kết quả khảo sát tình hình tiền lương, tiền thưởng của người lao động Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018 tại 500 đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau:+ Về tiền lương: Khối doanh nghiệp có vốn nhà nước, tiền lương cao nhất: 12 triệu đồng/người/tháng tiền lương thấp nhất: 2,58 triệu đồng/người/tháng (bằng mức lương tối thiểu vùng), bình quân 5,52 triệu đồng (năm 2016 là: 4,051 triệu đồng/người/tháng). Khối doanh nghiệp dân doanh, tiền lương cao nhất: 21 triệu đồng đối với lao động người nước ngoài và 12 triệu đồng/người/tháng đối với lao động người Việt Nam, tiền lương thấp nhất: 3,5 triệu đồng/người/tháng; bình quân 7 triệu đồng (năm 2016 là: 5,52 triệu đồng/người/tháng). Khối doanh nghiệp FDI, tiền lương cao nhất 44,1 triệu đồng/người/tháng đối với lao động người nước ngoài và 30,63 triệu đồng/người/tháng đối với lao động người Việt Nam; tiền lương thấp nhất là 3 triệu đồng/người/tháng; bình quân 6,7 triệu đồng/người/tháng.+ Tiền thưởng Tết Dương lịch cao nhất 3,5 triệu đồng, thấp nhất 300 ngàn đồng; tiền thưởng Tết Âm lịch cao nhất 25,215 triệu đồng, thấp nhất 300 ngàn đồng. 5.2. Hoạt động y tế- Tình hình dịch bệnh:Để người dân được vui Tết đón Xuân trong điều kiện đảm bảo sức khỏe. Trung tâm YTDP tỉnh đã có công văn yêu cầu các Trung tâm YTDP huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc cúm A(H5N1) và A(H5N6) và các bệnh truyền nhiễm khác để có biện pháp theo dõi và xử lý dịch kịp thời; duy trì các đội cơ động chống dịch khẩn cấp; chuẩn bị đủ vật tư, hoá chất, trang thiết bị và kinh phí để xử lý kịp thời khi có dịch bệnh xảy ra và cử cán bộ trực 24/24h trong các ngày nghỉ tết. Nhờ vậy, trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh không có dịch lớn xảy ra.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn; đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 07 người nhiễm HIV (tăng 04 trường hợp so với cùng kỳ năm 2017), 06 người chuyển thành AIDS và không có trường hợp nào chết vì AIDS.- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Mỗi dịp Tết đến, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm lại tăng mạnh. Đây cũng là thời điểm mà hàng hóa, thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được tung ra thị trường. Do đó, ngoài việc tăng cường kiểm tra, các cơ quan chức năng đã tích cực tổ chức tuyên truyền giúp người dân nhận biết được hiện tượng mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy, trong tháng ở Hà Tĩnh chỉ có 102 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, giảm 35,03% so với cùng kỳ năm 2017. Không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm.- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh và bệnh viện đa khoa các huyện, thành phố, thị xã đều tổ chức thường trực cấp cứu 24/24 giờ; duy trì hoạt động khám, chữa bệnh, cấp cứu bình thường. Tổng số bệnh nhân còn lại đến ngày 20/02/2018 (tức ngày 05 Tết âm lịch) tại bệnh viện các huyện, thành phố, thị xã và Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh là 1.642 bệnh nhân; tổng số lượt bệnh nhân khám 2.263; thực hiện 176 ca phẫu thuật, 243 ca đẻ và mổ đẻ; tổng số ca tử vong tại các bệnh viện toàn tỉnh là 06 ca. Tổ chức tốt việc động viên, thăm hỏi bệnh nhân đang điều trị tại các bệnh viện trong dịp Tết. 5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Chào xuân Mậu Tuất, Hà Tĩnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã. Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Mùa xuân dâng Đảng” biểu diễn tại 13 huyện, thị xã, thành phố, từ ngày 27/01/2018 đến ngày 08/02/2018; Chương trình nghệ thuật “Chào Xuân” biểu diễn vào tối Ngày 30 tháng Chạp tại Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh. Đêm giao thừa Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm nay, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức 2 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh.Bên cạnh đó, các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới. Các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh; phản ánh đầy đủ, toàn diện không khí vui xuân, đón tết của nhân dân trên địa bàn tỉnh; tổ chức Hội báo xuân, triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. Trong tháng đã đình chỉ 12 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.- Thể thao quần chúng: Nhân dịp đón Xuân Mậu Tuất, các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi như: Kéo co, bóng chuyền, bóng đá, thi đấu cờ tướng, đua thuyền, như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ, với 13 đội thuyền (2 đội thuyền nữ và 11 đội thuyền nam) đến từ 11 xã ven sông La với hơn 200 vận động viên tham gia; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh, thu hút 14 kỳ thủ đến từ các phường, xã trên địa bàn tham gia; giải bóng chuyền nam thanh niên tại huyện Cẩm Xuyên, với sự tham gia của 9 đội bóng. Giải góp phần tạo không khí sôi nổi, động viên nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, quyết tâm giành thắng lợi ngay từ những ngày đầu năm mới. 5.4. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội- Về an toàn giao thông: Với mục tiêu hạn chế tai nạn giao thông đường bộ, trong dịp Tết nguyên đán Mậu Tuất, UBND tỉnh đã có công điện yêu cầu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các sở, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội mở đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ATGT đến cán bộ, hội viên, đoàn viên, thanh niên, học sinh, nhân dân, nhất là lứa tuổi thanh niên, học sinh đi học và làm ăn xa về quê ăn Tết; đặc biệt là việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng mô tô, xe gắn máy, nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện.Công an tỉnh chỉ đạo các lực lượng: Cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động, công an huyện/thành phố/thị xã, công an xã/phường/thị trấn lập và triển khai kế hoạch cao điểm tuần tra, kiểm soát việc chấp hành trật tự ATGT trên trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là tăng cường tuần tra lưu động trên các tuyến đường, địa bàn có tình hình trật tự ATGT diễn biến phức tạp như QL 1, QL 15, QL 8, đường tỉnh lộ, đường liên thôn, liên xã, các bến đò ngang.Tính từ ngày 16/01/2018 đến ngày 20/02/2017, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 18 người, bị thương 05 người (Riêng dịp Tết nguyên đán xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người và bị thương 04 người). So với tháng trước tăng 06 vụ, tăng 07 người chết và tăng 02 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 03 vụ, tăng 01 người chết và giảm 02 người bị thường. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.Như vậy, tính từ 16/12/2017 đến 20/02/2018, Hà Tĩnh xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 29 người và bị thương 08 người. So cùng kỳ năm 2017 tăng 03 vụ, tăng 06 người chết và tăng 01 người bị thương.- Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán, tính từ 14-20/02/2018 (tức từ ngày 29/01/2017-05/01/2018 âm lịch) xảy ra 12 vụ phạm pháp hình sự (tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm 2017), làm chết 01 người, bị thương 11 người; phát hiện và bắt giữ 02 vụ đánh bạc, 08 đối tượng (giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm 2017). Phát hiện 146 vụ, 151 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép, thu giữ 07 kg pháo các loại, riêng trong đêm giao thừa phát hiện, bắt giữ 135 vụ, 137 đối tượng tàng trữ, sử dụng trái phép pháo (tăng 74 vụ so với Tết năm 2017).5.5. Môi trường- Tình hình cháy nổ: Trong tháng khu vực dân sự xảy ra 06 vụ cháy, gồm 02 vụ cháy nhà dân, 02 vụ cháy xe, 02 vụ cháy cơ sở kinh doanh, nguyên nhân hầu hết do bất cẩn trong sử dụng lửa. Đồng thời, xảy ra 01 vụ nổ bình gas mini tại trường tiểu học Hộ Độ - huyện Lộc Hà, làm bị thương 05 em học sinh. Tổng thiệt hại ước tính 760 triệu đồng.- Về vi phạm môi trường: Với mục tiêu cùng chung tay bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra về công tác bảo vệ môi trường, trong tháng phat hiện 04 vụ vi phạm môi trường về khai thác đất trái phép, xử lý 03 vụ với số tiền 13,5 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2018 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.