0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
TÌnh hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2019
  •   24/07/2024 09:08

Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2019 trong điều kiện có những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2018. 6 tháng đầu năm 2019, kinh tế vẫn đang phát triển theo xu hướng tích cực, đặc biệt là sự đi vào hoạt động sản xuất ổn định của Dự án Fomosa Hà Tĩnh đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước. Tuy nhiên, cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; diễn biến thời tiết, thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn những rủi ro; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn hạn chế; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Nhưng với sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả của các cấp, các ngành, các địa phương, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân nên mặc dù không có bước phát triển đột phá nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2019 vẫn ổn định với những kết quả chủ yếu như sau:         1. Tăng trưởng kinh tế          1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)          - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành: Quy mô GRDP 6 tháng đầu năm 2019 theo giá hiện hành ước đạt 37.303 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy, sau 4 năm thì quy mô GRDP 6 tháng đầu năm 2019 đã tăng 38,38% so với năm 2015.         Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2019 tiếp tục có sự chuyển dịch giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và khu vực dịch vụ, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng. Với kết quả như trên thì cơ cấu kinh tế khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,02%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,19%; khu vực dịch vụ giảm 2,19% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 0,99% so với cùng kỳ năm trước.         - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh 2010: GRDP 6 tháng đầu năm 2019 theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 24.190 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước tăng 12,78% so với cùng kỳ năm 2018, là tỉnh có tốc độ tăng cao thứ 5 trên 63 tỉnh, thành phố. Trong mức biến động chung thì khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính tăng 2,58% so với cùng kỳ, đóng góp 0,4 điểm phần trăm (Nông nghiệp tăng 4,1% so với cùng kỳ, đóng góp 0,56 điểm phần trăm; lâm nghiệp giảm 26,2% so với cùng kỳ, đóng góp -0,26 điểm phần trăm và thủy sản tăng 9,54% so với cùng kỳ, đóng góp 0,1 điểm phần trăm); khu vực công nghiệp và xây dựng ước tăng 26,23% so với cùng kỳ, đóng góp 10,57 điểm phần trăm (Công nghiệp tăng 30,98% so với cùng kỳ, đóng góp 10,15 điểm phần trăm và xây dựng tăng 5,55% so với cùng kỳ, đóng góp 0,42 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ ước tăng 4,84% so với cùng kỳ, đóng góp 1,65 điểm phần trăm và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước tăng 1,55% so với cùng kỳ, đóng góp 0,15 điểm phần trăm. Như vậy, nguyên nhân chính làm cho GRDP 6 tháng đầu năm 2019 có tốc độ tăng trưởng cao chủ yếu là do ngành công nghiệp tăng mạnh.          1.2. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế         - Đối với khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 đạt mức tăng không cao. Khu vực này tăng 2,58% và đóng góp 0,4 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung.         Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực này nhưng chỉ duy trì mức tăng ổn định, không có sự đột phá để tạo sự tác động tích cực vào tăng trưởng khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp tăng 4,1%, làm tăng 0,56 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung GRDP. Nguyên nhân chính làm cho kết quả sản xuất nông nghiệp không có sự biến động lớn đó là: Đối với hoạt động trồng trọt vụ Xuân do năng suất lúa giảm nhẹ (giảm 0,37 tạ/ha) đã làm cho sản lượng lúa giảm 449 tấn. Cùng với đó, hoạt động chăn nuôi lợn cũng gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch lở mồm long móng, dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn và giá cả sản xuất đầu vào tăng trong khi thị trường, giá cả đầu ra của sản phẩm chăn nuôi lợn thiếu ổn định. Bên cạnh đó, chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển mặc dù tốc độ có xu hướng chững lại (tổng đàn tăng 3,35% và sản lượng xuất chuồng tăng 6,6%).            Hoạt động sản xuất lâm nghiệp giảm mạnh, 6 tháng đầu năm 2019 giảm 26,2%, đóng góp -0,26 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 giảm mạnh do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng lâm sản khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước.        Đối với hoạt động sản xuất thủy sản thì 6 tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng khá, tăng 9,54% và đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Như vậy, sau ba năm xẩy ra sự cố môi trường biển thì hoạt động khai thác thủy hải sản đã sôi động trở lại. Mặc dù vẫn duy trì được mức tăng khá nhưng do ngành thủy sản chiếm tỷ trọng nhỏ nên đóng góp không nhiều vào tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng như tăng trưởng chung.         - Khu vực công nghiệp và xây dựng trong những năm qua luôn có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung. 6 tháng đầu năm 2019, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao 26,23%, đóng góp đến 10,57 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung. Đây là nguyên nhân chính của sự tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn Hà Tĩnh.         Đối với ngành công nghiệp, 6 tháng đầu năm 2019 tăng 30,98%, đóng góp 10,15 điểm phần trăm trong tăng trưởng chung, đây chính là nhân tố tác động chính vào tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2019. Bên cạnh một số sản phẩm vẫn giữ ổn định sản lượng sản xuất và có tăng nhẹ so với cùng kỳ như: Sản phẩm bia đóng lon ước đạt 30,7 triệu lít (tăng 3,5%), điện thương phẩm ước đạt 477,5 triệu Kwh (tăng 10,5%)...thì một số sản phẩm đã có bước phát triển mạnh đó là dự án Fomosa 6 tháng đầu năm 2019 sản xuất ước đạt 1,5 triệu tấn than cốc (tăng 36,5%), 2,46 triệu tấn thép (tăng 44,6%) và 3,1 triệu tấn phôi thép. Nhìn chung, dự án Fomosa trong thời gian qua đã đi vào sản xuất ổn định, đây là dự án lớn và có sự ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp Hà Tĩnh cũng như tăng trưởng kinh tế chung.        Bên cạnh sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp thì kết quả hoạt động của ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2019 chỉ đạt mức tăng nhẹ so với cùng kỳ. Tăng trưởng của ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2019 ước tính tăng 5,55% so với cùng kỳ, đóng góp 0,42 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Như vậy, mặc dù kết quả sản xuất ngành xây dựng có tăng nhưng tác động không nhiều đến tăng trưởng chung.          - Đối với khu vực dịch vụ nhìn chung ổn định so với cùng kỳ. Kết quả sản xuất của các ngành thương mại và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2019 dự ước đạt tốc độ tăng trưởng 4,84% so với cùng kỳ, đóng góp 1,65 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung. Nguyên nhân do nền kinh tế đang có xu hướng chững lại nên lượng tiền chi tiêu cho mua sắm hàng hóa trong dân tăng không lớn. Các hoạt động dịch vụ công, du lịch, nhà ở...tương đối ổn định.          - Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP mà 6 tháng đầu năm 2019 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 1,55% so với cùng kỳ nên chỉ làm tăng 0,15 điểm phần trăm trong tổng mức tăng chung. Nguyên nhân do thu thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng như thuế giá trị gia tăng hàng sản xuất, kinh doanh trong nước và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước sau khi tính khấu trừ chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ.         Tóm lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn đạt mức tăng khá (tăng 12,78%). Khi mà dự án Fomosa đi vào sản xuất ổn định với sản lượng tăng lên thì sẽ có sự tác động lớn đối với chỉ tiêu GRDP. Nếu loại trừ yếu tố tăng sản phẩm thép của dự án Fomosa thì tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2019 của Hà Tĩnh chỉ đạt 6,2% (đóng góp của thép trong tăng trưởng chung là 6,58 điểm phần trăm). Như vậy, đóng góp từ sản phẩm thép của dự án Fomosa vào tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2019 là rất lớn. Thời gian tới, cùng với việc tiêp tục duy trì và phát triển sản xuất của dự án Fomosa thì chúng ta cũng cần phải quan tâm phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất khác, tránh việc tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà phụ thuộc nhiều vào dự án này.         2. Tài chính, ngân hàng               - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2019 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Đây là tín hiệu tích cực nhưng để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2019 thì vẫn còn nhiều khó khăn thách thức. Trong thu cân đối ngân sách thì thu hải quan chiếm 31,86% và thu nội địa chiếm 29,36%. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách Trung ương chiếm 43,3% tổng thu ngân sách Nhà nước. Kết quả 6 tháng đầu năm 2019, thu hải quan đạt 52,68% và thu nội địa cũng đã đạt 53,18% dự toán năm 2019, đây là kết quả khá tích cực trong việc thu ngân sách trên địa bàn.          Cùng với việc thực hiện thu ngân sách thì việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 31,54% tổng chi, tăng 44,02% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 35,05% tổng chi, tăng 7,33% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới chiếm 32,67% tổng chi, tăng 8,94% so với cùng kỳ năm 2018.         - Hoạt động ngân hàng: Trong 6 tháng đầu năm 2019, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng năm 2019. Các giao dịch ngân hàng diễn ra sôi động. Nguồn vốn và dư nợ tín dụng tăng trưởng tương đối tốt, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,6-1,0% đối với tiền gửi không kỳ hạn; từ 4,3-5,5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-6,5%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 6,5-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên từ 6-6,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn, từ 9-10%/năm đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay thông thường từ 6,8-9% đối với khoản vay ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch.        Bên cạnh kết quả đạt được thì mặc dù nợ xấu đã giảm so với cuối năm 2018 do xử lý từ nguồn dự phòng rủi ro. Tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ vẫn còn cao, khó xử lý. Nợ xấu cho vay theo NĐ 67/2014/NĐ-CP vẫn còn cao (9/11 tàu có nợ xấu, chiểm 76% trên tổng dư nợ), các chủ tàu có tâm lý chây ì, không trả nợ cho ngân hàng, nhưng chưa có chế tài xử lý đối với các trường hợp này.         3. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2019 giảm 0,16% so tháng trước, tăng 0,99% so cùng tháng năm trước và tăng 0,53% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước thì khu vực thành thị giảm 0,23% và khu vực nông thôn giảm 0,11%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 1,2%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,63%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,42%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,27%; giáo dục tăng 0,46%. Còn lại 5 nhóm hàng hoá có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,52%; giao thông giảm 1,57%; bưu chính viễn thông giảm 0,86%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,38%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,3%. Nguyên nhân chính tác động đến CPI tháng 6 năm 2019 so với tháng trước chủ yếu là do: (1) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng giá, do chi phí sản xuất và vận chuyển trong những tháng qua tăng cao; (2) Giá điện, nước sinh hoạt tăng cao, do nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán càng tăng; (3) Ảnh hưởng thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh; (4) Do dịch bệnh tả châu Phi trên đàn lợn lan rộng ra nhiều địa phương trong tỉnh khiến giá các mặt hàng thịt lợn tiếp tục giảm; (5) Giá xăng dầu được điều chỉnh giảm sau hai kỳ vào các ngày 02/6/2019 và 17/6/2019, khiến mức giá bán lẻ bình quân các mặt hàng xăng dầu giảm hơn so với tháng trước. Chỉ số giá vàng tháng 6/2019 tăng 3,51% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,32% và tăng 4,71% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng tăng theo biến động của giá vàng thế giới. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/6/2019 ở khu vực thành thị là 3.860 nghìn đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 3.832 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2019 tăng 0,28% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,05% và bằng tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/6/2019 mức giá bán ra là 2.330,24 nghìn đồng/100USD. CPI 6 tháng đầu năm 2019 tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,08% và khu vực nông thôn tăng 1,64%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,98%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,72%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 4,47%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,8%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,39%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,3%; giao thông giảm 1,25%; bưu chính viễn thông giảm 1,28%; giáo dục tăng 0,61%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 2,26%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,93 so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng ở mức thấp, điều đó thể hiện công tác kiềm chế lạm phát đang được triển khai thực hiện với những tín hiệu tích cực. Nguyên nhân làm cho thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ 6 tháng đầu năm 2019 tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước là do nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng và chi phí sản xuất tăng nên giá một số mặt hàng tăng. Cùng với đó, nhiều mặt hàng tăng giá mạnh do việc điều chỉnh các chính sách về giá cũng đã ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá chung như: Giá dịch vụ y tế, giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu, vàng và đô la Mỹ. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 7/2019 tiếp tục tăng so với tháng trước. Trong đó các nhóm hàng hóa như giá khách sạn, nhà nghỉ, thực phẩm hải sản dự kiến tăng cao do bước vào mùa du lịch biển. Cũng do thời tiết chuyển mùa nắng nóng nên nhu cầu mua sắm đồ dùng điện lạnh, quạt điện sẽ tăng.          4. Đầu tư và xây dựng         4.1. Đầu tư phát triển         Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm giai đoạn 2015-2019 liên tục giảm mạnh qua các năm. Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, giảm 14,25% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 26,66% so với 6 tháng năm 2015. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (6 tháng đầu năm 2015 chiếm 84,6% tổng vốn đầu tư), nhưng nay do dự án Formosa đã hoàn thành nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh (6 tháng đầu năm 2019 chỉ chiếm 24,68% tổng vốn đầu tư); tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 tháng đầu năm 2019 giảm 58% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 7,78% so với 6 tháng đầu năm 2015. Mặc dù nguồn vốn Nhà nước và vốn ngoài nhà nước tuy có tăng nhẹ nhưng khi chưa có các dự án lớn được triển khai thực hiện trên địa bàn, trong khi Dự án Formosa đã hoàn thành thì nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đang tiếp tục có xu hướng giảm.         4.2. Xây dựng         Trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thì vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm đến 92,51% tổng nguồn vốn đầu tư. Nhưng do nguồn vốn đầu tư phát triển 6 tháng đầu năm 2019 giảm 14,25% nên giá trị sản xuất của ngành xây dựng theo giá so sánh 2010 cũng giảm nhẹ với mức giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay trên địa bàn các công trình dự án trọng điểm vẫn đang triển khai thực hiện đảm bảo tiến độ như: Dự án công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; dự án thí điểm nhà ở xã hội tại phường Thạch Linh - Thành phố Hà Tĩnh; dự án Phát triển nông thôn bền vững vì người nghèo Hà Tĩnh (SRDP); dự án chung cư Winhouse Hàm Nghi - Hà Tĩnh; dự án Vinhomes New centrel Hà Tĩnh; các công trình xây dựng thành phố Hà Tĩnh đạt đô thị loại II; cầu Cửa Hội vượt sông Lam nối hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh; công trình nâng cấp tuyến đường ven biển Xuân Hội - Thạch Khê - Vũng Áng; cầu cảng số 4 Vũng Áng; dự án điện mặt trời ở xã Cẩm Hòa, huyện Cẩm Xuyên...Nhìn chung, hoạt động xây dựng trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2019 vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thi công công trình không đi cùng với tiến dộ giải ngân vốn nên nhiều công trình, dự án bị chậm tiến độ theo kế hoạch. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nhận thầu thi công các công trình dự án có quy mô lớn. Cùng với đó, chi phí vật liệu xây dựng, nhân công tăng, thời tiết nắng nóng gay gắt cũng là những yếu tố gây khó khăn đối với hoạt động xây dựng trong thời gian qua.          5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2019, toàn tỉnh thành lập mới 399 doanh nghiệp, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký đạt 6.362 tỷ đồng, tăng 76,2% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân đạt 15,9 tỷ đồng/doanh nghiệp. Những năm qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới luôn tăng so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng tăng khá cao, điều đó thể hiện quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, 6 tháng đầu năm 2019 đã tạo việc làm mới cho 3.674 lao động. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 2.528 lao động, chiếm 68,8% trong tổng số, quy mô bình quân 7,7 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 1.106 lao động, chiếm 30,1% trong tổng số, quy mô 16,3 lao động/doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm mới cho 40 lao động, chiếm 1,1%. Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động trong 6 tháng đầu năm là 41 doanh nghiệp, giảm 25,5% và số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 157 doanh nghiệp, tăng 10,5% so cùng kỳ năm trước. Như vậy, số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng nhưng số doanh nghiệp tạm ngừng cũng tăng lên, thể hiện các doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 5.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý II/2019 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Về tổng quan tình hình SXKD của doanh nghiệp có 80% số doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 37,78% khẳng định SXKD tốt lên và 42,22% khẳng định giữ ổn định) và có 20% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý III/2019 so với quý trước, có 71,11% số doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 26,67% số doanh nghiệp dự báo tốt lên và 44,44% số doanh nghiệp dự báo ổn định), bên cạnh đó còn có 28,89% số doanh nghiệp nhận định tiếp tục gặp khó khăn hơn. Dự báo xu hướng quý III/2019 so với quý trước có 31,11% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 24,44% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt giảm; 26,67% số doanh nghiệp có khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 31,11% số doanh nghiệp có khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 76,4% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 54,4% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 44,3% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” và 21,4% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.        Đánh giá về biến động lao động quý II/2019 so với quý trước, có 82,22% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 6,67% khẳng định tăng lên và 75,55% khẳng định giữ ổn định) và 17,78% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý III/2019 so với quý trước, có 84,44% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 2,22% khẳng định tăng lên và 82,22% khẳng định giữ ổn định) và có 15,56% số doanh nghiệp khẳng định lao động giảm.         6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản         6.1. Nông nghiệp         - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong 6 tháng đầu năm 2019, tập trung chủ yếu vào gieo trỉa, chăm sóc và thu hoạch cây trồng vụ Đông Xuân 2018-2019 và gieo trồng cây vụ Hè Thu năm 2019.          + Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2018-2019: Với các giải pháp trong sản xuất như: Cung cấp giống và phân bón có chất lượng và giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống; theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi là những yếu tố tích cực để sản xuất vụ Đông Xuân 2018-2019 đạt được kết quả khá. Tổng diện tích gieo trồng cây vụ Đông Xuân năm nay ước đạt 98.812 ha, bằng 100,08%, tăng 80 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực như lúa, ngô, khoai lang, rau đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có diện tích lạc giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân do hiện nay giá lạc giống cao, giá bán lại thiếu ổn định nên người dân đã chuyển đổi sang sản xuất các loại cây trồng khác. Cùng với đó là một số đất trồng lạc nằm trong quy hoạch đường ven biển bị thu hồi để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nên diện tích giảm. Mặc dù kết quả sản xuất các loại cây trồng vụ Đông Xuân năm nay nhìn chung vẫn đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên, do việc gieo cấy lúa của bà con nông dân sớm hơn lịch thời vụ khoảng 10-15 ngày nên lúa đã trổ sớm và lại đúng vào đợt không khí lạnh cuối mùa nên năng suất và sản lượng lúa giảm hơn so với cùng kỳ. + Sản xuất vụ Hè Thu 2019: Tính đến ngày 15/6/2019, lúa Hè thu cơ bản đã kết thúc gieo cấy với diện tích ước đạt 43.975 ha, đạt 99,5% kế hoạch (lúa gieo thẳng 40.650 ha và lúa cấy 3.325 ha). Hiện nay, lúa Hè Thu đang được bà con nông dân tích cực dắm tỉa, chăm sóc và đang sinh trưởng, phát triển tốt. Do điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt nên có nguy cơ xẩy ra hạn hán đối với cây lúa ở một số địa phương. Cùng với cây lúa, tiến độ gieo trồng một số loại cây trồng khác vụ Hè Thu đạt được như sau: Diện tích ngô 1.258 ha, đạt 48,8% kế hoạch; đậu các loại 2.508 ha, đạt 38,4% kế hoạch; rau các loại 585 ha, đạt 24,3% kế hoạch; lạc 33 ha, đạt 5,2% kế hoạch. + Sản xuất cây lâu năm: Ước tính tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 29.705 ha, bằng 103,33%, tăng 957 ha so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó diện tích cây ăn quả ước đạt 16.770 ha, bằng 105,78%, tăng 917 ha so với cùng kỳ năm 2018. Mặc dù chủng loại cây ăn quả được trồng trên địa bàn ngày càng phong phú hơn nhưng nhìn chung cây ăn quả có múi như cam, bưởi, chanh...vẫn chiếm tỷ trọng lớn với 65% tổng diện tích cây ăn quả. Trong những năm qua, hiệu quả kinh tế từ trồng cây ăn quả mang lại cho người làm vườn là tương đối khả quan nên người dân đang tiếp tục phát triển vườn cây ăn quả, nhất là đối với những vùng có điều kiện về đất đai, khí hậu.          + Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Vụ Đông Xuân năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng và đã ảnh hưởng đến năng suất nhưng với mức độ thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Đối với cây lúa đã có 229 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá (nhiễm nặng là 7 ha), tập trung ở Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh, Thạch Hà; 140,8 ha nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông (nhiễm nặng là 25 ha), tập trung ở Cẩm Xuyên, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh, Nghi Xuân, Lộc Hà, Can Lộc, Thị xã Kỳ Anh; 117 ha nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng (nhiễm nặng là 10,5 ha), tập trung ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, Thạch Hà, Đức Thọ, Hương Sơn; 29 ha bị bệnh đốm nâu, tập trung ở Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Thị xã Hồng Lĩnh; 20,5 ha bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại, tập trung tại Thành phố Hà Tĩnh, Lộc Hà, Can Lộc, Đức Thọ; 1.962 ha nhiễm bệnh khô vằn (nhiễm nặng là 132 ha) và 1.084,5 ha bị chuột phá hại (gây hại nặng là 446,5 ha) xẩy ra trên địa bàn toàn tỉnh. Trên cây lạc thì bệnh héo rũ do nấm đã xẩy ra tại Hương Khê, Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh với diện tích bị bệnh là 35,5 ha; nhóm sâu ăn lá cũng đã xuất hiện gây hại với diện tích là 30 ha, tập trung ở Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh, Lộc Hà. Công tác chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh được triển khai kịp thời, đồng bộ, các địa phương đã chủ động, quyết liệt và làm tốt công tác phòng trừ các đối tượng sâu bệnh gây hại do đó đã hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra.          - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2019 gặp nhiều khó khăn, số lượng đàn đại gia súc giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của các đợt dịch lở mồm long móng xuất hiện trong những tháng đầu năm, cùng với đó là dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn nên người dân lo ngại ít sử dụng thịt lợn, làm cho việc tiêu thụ thịt lợn giảm mạnh. Cùng với đó thì các dự án chăn nuôi bò trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, sản xuất thiếu ổn định, quy mô đàn bò tiếp tục giảm mạnh, trong đó có Dự án chăn nuôi bò của Công ty Cổ phần chăn nuôi Bình Hà là dự án có quy mô đầu tư lớn nhưng hoạt động kém hiệu quả, không đạt được kết quả như mong đợi nên nay đã ngừng sản xuất chăn nuôi.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra dịch lở mồm long móng đối với đàn gia súc tại 28 xã, phường, thị trấn thuộc 8 huyện, thành phố (Can Lộc, Hương Khê, Đức Thọ, Thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh) làm cho 3.770 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 3.714 con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy; dịch tai xanh xuất hiện trên đàn lợn ở xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc làm cho 16 con lợn ốm, chết phải tiêu hủy; dịch tả lợn Châu Phi cũng đã xuất hiện trên địa bàn kể từ ngày 16/5/2019, đến nay trên địa bàn tỉnh dịch đã xảy ra tại 12 xã ở huyện Cẩm Xuyên, huyện Lộc Hà và thành phố Hà Tĩnh. Ngoài ra, tại một số xã thuộc huyện Cẩm Xuyên, huyện Lộc Hà và một số địa phương khác có lợn ốm, chết buộc phải tiêu hủy. Tổng số lợn buộc phải tiêu hủy là 466 con (trong đó có 139 con dương tính với dịch tả lợn Châu phi. Mặc dù các cấp, các ngành và người chăn nuôi đã tích cực thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh nhưng đến nay dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang diễn biến phức tạp, khó lường và có nguy cơ lây lan ra diện rộng.         6.2. Lâm nghiệp                                                                              Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán 6 tháng đầu năm 2019 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng lâm sản khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng cây phân tán cũng giảm so với cùng kỳ do quỹ đất trồng cây phân tán ở các khu đô thị ngày càng bị thu hẹp. Hiện nay, tổng diện tích đất có rừng là 325.009 ha, tuy nhiên mới chỉ có 201.908 ha được chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh và giao khoán bảo vệ (chiếm 62%). Hiện nay nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước còn hạn chế nên diện tích rừng được chăm sóc, nuôi dưỡng ngày càng có xu hướng giảm dần.         Bên cạnh hoạt động sản xuất lâm nghiệp thì công tác tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng tại gốc cũng luôn được tập trung chỉ đạo thực hiện, tình hình quản lý bảo vệ rừng ổn định, các vụ vi phạm được ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm. Trong 6 tháng đầu năm 2019, đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng tại xã Sơn Long, huyện Hương Sơn, làm thiệt hại 0,56 ha rừng.         6.3. Thuỷ sản Tuy chưa có sự tăng trưởng đột phá nhưng trong 6 tháng đầu năm 2019 hoạt động sản xuất thủy sản vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Với những chuyến biển đầu năm của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa, cùng với việc thu hoạch các sản phẩm nuôi trồng nên đã làm cho sản lượng thủy hải sản tăng so với cùng kỳ.          Bên cạnh các loại thủy sản khác thì nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Vì vậy, toàn tỉnh năm 2019 đã xây dựng kế hoạch thả nuôi 2.750 ha tôm (tăng 49 ha so với năm 2018), trong đó: Nuôi tôm thâm canh, công nghệ cao là 920 ha; bán thâm canh là 450 ha; quảng canh, quảng canh cải tiến 1.380 ha. Với sản lượng tôm phấn đấu đạt 4.800 tấn. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, sản lượng tôm nuôi trồng ước đạt 1.006 tấn, bằng 21% kế hoạch và bằng 112,91%  (tăng 115 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay người nuôi tôm đang tập trung chăm sóc vụ tôm chính vụ để thu hoạch trong khoảng quý III/2019.          Để cung cấp nguồn giống cho người dân nuôi trồng thủy sản, 6 tháng đầu năm 2019 các đơn vị sản xuất con giống trên địa bàn đã cung cấp 355 triệu con giống các loại cho các hộ nuôi. Tuy nhiên, lượng con giống trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu người nuôi mà chủ yếu phải nhập từ các tỉnh khác như: Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Bến Tre... 7. Sản xuất công nghiệp        Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 6/2019 ước tính giảm 1,91% so với tháng trước và tăng 23,08% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,18% so với tháng trước và tăng 34,74% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,98% so với tháng trước và tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện giảm 7,06% so với tháng trước và tăng 2,12% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 6,6 lần so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm nhẹ so với tháng trước do ảnh hưởng từ thị trường tiêu thụ cũng như kế hoạch sản xuất. Điện sản xuất dự ước giảm 7,43% so với tháng trước do Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng không đủ than để vận hành đồng thời cả 2 tổ máy mà phải ngừng luân phiên các tổ máy làm cho sản lượng điện giảm.         Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 32,39%), trong đó quý I/2019 tăng 34,43% và quý II/2019 tăng 30,7% so với cùng kỳ năm trước. Ngành khai thác và cung cấp nước tăng đột biến do Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Vũng Áng (thuộc Tập đoàn Hoành Sơn) trong tháng 3 đã ký kết hợp đồng cung cấp nước cho Công ty Hưng nghiệp Fomosa Hà Tĩnh phục vụ hoạt động luyện cán thép, với sản lượng bình quân từ 300 ngàn m­3­/tháng tăng lên 3.400 ngàn m­3­/tháng.          Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì 6 tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng cao và ổn định. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 6 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Khai thác đá, cát, sỏi tăng 59,72%; sản xuất than cốc tăng 36,48%; sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 46,13%; cung cấp nước tăng 5,38 lần...Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: Khai thác quặng kim loại giảm 71,08%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 21,24%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 22,17%...Trong những năm qua cũng như hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp ở Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng rất lớn từ dự án Formosa (chủ yếu là sản phẩm thép, điện), từ lúc dự án đi vào hoạt động đã đóng góp nhiều cho tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cũng như kinh tế chung của tỉnh. Nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2019 chỉ tăng 5,27% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 34,34%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,36%; sản xuất và phân phối điện giảm 10,55%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,38 lần so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm khi không có yếu tố Fomorsa là do một số ngành cấp II có tỷ trọng lớn giảm so cùng kỳ như: Dệt giảm 23,62%; chế biến gỗ giảm 31,22%; in ấn giảm 39,14%; sản xuất gạch ngói giảm 43,73%; sản xuất bê tông tươi giảm 21,13%. Ngành sản xuất và phân phối điện giảm do trong tháng 02/2019 Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng ngừng vận hàng tổ máy số 2 (từ ngày 01-20/2) để khắc phục sự cố bất thường, cùng với đó là việc phải ngừng luân phiên các tổ máy do không đủ than để vận hành đồng thời cả 2 tổ máy đã làm cho sản lượng điện giảm so với cùng kỳ. Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thời gian tới dự kiến vẫn duy trì mức tăng khá và kết quả hoạt động sản xuất từ dự án Formosa vẫn là nhân tố quyết định mức tăng trưởng chung của toàn ngành.        Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2019 giảm 1,48% so với tháng trước và tăng 28,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 37,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Chế biến thực phẩm tăng 68,72%; may trang phục tăng 14,65%, sản xuất kim loại (chủ yếu thép) tăng 43,51%; sản xuất than cốc tăng 23,63%...Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Chế biến gỗ giảm 37,28%; in ấn giảm 39,14%; sản xuất vật liệu xây dựng giảm 20,98%...         Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2019 tăng 35,69% so với tháng trước và tăng 68,03% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mặc dù chỉ số tiêu thụ có tăng nhưng mức tăng chỉ số tồn kho vẫn cao hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn đang gặp rất nhiều khó khăn.         Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2019 không thay đổi so với tháng trước nhưng lại giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019 giảm 3% so với cùng kỳ năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 6,2% và 6,5%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ 0,6%.         8. Thương mại, dịch vụ 8.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ         - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 6/2019 ước đạt 3.905,1 tỷ đồng, so với tháng trước chỉ tăng nhẹ (tăng 1,73%), tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 5,19%) và chủ yếu tăng ở khu vực kinh tế cá thể (tăng 14,64% so với cùng kỳ năm trước). Góp phần vào mức tăng chung là một số nhóm hàng tăng cao như: Lương thực, thực phẩm tăng 7,43%; hàng may mặc tăng 15,42%; ô tô các loại tăng 11,95%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 10,73%; hàng hóa khác tăng 10,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng quý II/2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.168,05 tỷ đồng, giảm 5,4% so với quý trước và tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mức tăng quý I/2019 cao hơn quý II/2019 là 3,08 điểm phần trăm và tập trung chủ yếu ở một số nhóm hàng như: Vật phẩm, văn hóa, giáo dục (tăng 49,45 điểm phần trăm); ô tô các loại (tăng 44,78 điểm phần trăm); xăng, dầu các loại (tăng 13,51 điểm phần trăm); gỗ và vật liệu xây dựng (tăng 10,81 điểm phần trăm)... Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt mức tăng khá so cùng kỳ năm trước (tăng 10,52%) và tất cả các nhóm hàng đều tăng. Một số nhóm hàng có tổng mức bán lẻ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 31,98%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 22,02%; lương thực, thực phẩm tăng 12,29%; đá quý, kim loại quý tăng 12,12%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,03%...Nhìn chung, 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hoá tại Hà Tĩnh vẫn duy trì được mức tăng trưởng khá. Song những diễn biến mới của thị trường như: Giá điện tăng, giá xăng dầu duy trì ở mức cao…tiếp tục chi phối lớn đến giá các các mặt hàng thiết yếu tại Hà Tĩnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của tổng mức bán lẻ hàng hoá. Đặc biệt, dịch tả lợn châu Phi đang xẩy ra trên địa bàn ảnh hưởng đến nguồn cung thịt lợn, giá cả và tâm lý người tiêu dùng. Vì vậy, các đơn vị chức năng cần phải tuyên truyền rộng rãi về dịch tả lợn Châu Phi, tránh gây hoang mang cho người tiêu dùng, song song với việc cung cấp các thông tin giúp phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh lây lan, bảo đảm nguồn cung thịt lợn ổn định cho thị trường trong thời gian tới.         - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2019 ước đạt 499,95 tỷ đồng, tăng 8,64% so tháng trước và tăng 7,79% so cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2019 tiếp tục tăng so với tháng trước và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 6,21%, ăn uống tăng 8,77% và du lịch lữ hành tăng 15,22%.         Tính riêng quý II/2019 ước đạt 1.391,59 tỷ đồng, tăng 13,84% so với quý trước, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn mức tăng quý I là 5,1 điểm %. Tính chung 6 tháng năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng 8,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú tăng 4,91%; ăn uống tăng 9,24%; lữ hành và hỗ trợ du lịch tăng 14,33%. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 6 tháng đầu năm 2019 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này nhờ lượng khách đến với các điểm du lịch sinh thái: Đồng Nôi (Cẩm Xuyên); Quỳnh Viên, khu trang trại hoa hồng (Thạch Hà); khu du lịch sinh thái Hải Thượng Lãn Ông (Hương Sơn) những tháng đầu năm tăng mạnh. Bên cạnh đó, lượng khách đến các bãi biển, khu nghỉ dưỡng: Thiên Cầm, Vinpeal Cửa sót, Kỳ Xuân Resot… cũng không ngừng tăng lên, nên đã làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.                 - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 6/2019 ước đạt 135,54 tỷ đồng, tăng 2,79% so với tháng trước và tăng 5,79% so cùng kỳ năm 2018. Quý II/2019 ước đạt 396,17 tỷ đồng, tăng 1,43% so với quý trước, tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn mức tăng quý I là 0,82 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác 6 tháng đầu năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ. Trong đó có một số nhóm ngành có doanh thu tăng như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 12,83%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 9,85%; dịch vụ khác tăng 5,16%.          - Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 6/2019 ước đạt 2,15 triệu lượt hành khách (tăng 0,39% so với tháng trước), với số lượng luân chuyển là 382,19 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,41%); doanh thu vận tải hành khách ước đạt 168,27 tỷ đồng, tăng 0,69%. Là đỉnh điểm của nắng nóng nên nhu cầu sử dụng các phương tiện vận tải công cộng như xe buýt, taxi của người dân tăng mạnh; đây cũng là thời điểm nhiều người tham gia du lịch, nghỉ mát, đặc biệt là các đối tượng giáo viên và học sinh, sinh viên, nên nhu cầu thuê xe du lịch trong dân cũng tăng, từ đó làm cho kết quả vận tải hành khách trong tháng tăng. Hoạt động vận tải hành khách quý II/2019 tăng hơn so với quý I/2019, số lượng hành khách vận chuyển tăng 7,55 điểm phần trăm và luân chuyển tăng 2,64 điểm phần trăm so với quý trước. Tính chung 6 đầu năm 2019, số lượng hành khách vận chuyển tăng 8,89% và số lượng hành khách luân chuyển tăng 9,44%, doanh thu hoạt động vận tải hành khách tăng 11,41%. Nhìn chung, hoạt động vận tải hành khách 6 tháng đầu năm vẫn ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân.         - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 6/2019 ước đạt 2,87 triệu tấn (tăng 0,22% so với tháng trước), với khối lượng hàng hóa luân chuyển 73,3 triệu tấn.km (tăng 1,48%); doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 258,64 tỷ đồng, tăng 1,46%.          Cùng xu thế với hoạt động vận tải hành khách, hoạt động vận tải hàng hóa quý II/2019 cũng tăng hơn so với quý I/2019 với khối lượng vận chuyển tăng 2,2 điểm phần trăm và khối lượng luân chuyển tăng 1,04 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 8,47%, với khối lượng luân chuyển tăng 8,48%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa tăng 11,51%. Do các công trình xây dựng đang tiếp tục tăng, đặc biệt là xây dựng trong dân nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng đang có xu hướng tăng lên. - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 6/2019 ước đạt 41,19 tỷ đồng, tăng 8,17% so tháng trước và giảm 45,15% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, doanh thu ước đạt 259,41 tỷ đồng, giảm 37,06% so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ kết quả doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do Trạm thu phí BOT Cầu Rác trên QL1A dùng để thu phí BOT tuyến tránh thành phố Hà Tĩnh đã tạm dừng thu phí từ 0 giờ ngày 21/2/2019 để tính toán lại phương án tài chính, theo yêu cầu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2019 mặc dù nhu cầu đi lại cũng như vận tải hàng hóa của người dân tăng lên nhưng đã được các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn đáp ứng đầy đủ. Dự kiến trong thời gian tới vận tải hành khách sẽ tiếp tục duy trì mức tăng ổn định và vận tải hàng hóa sẽ tăng cao hơn so với những tháng đầu năm. Nguyên nhân do các công trình xây dựng cơ bản sẽ được triển khai thực hiện nhiều hơn nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa sẽ tăng.         9. Các vấn đề xã hội         9.1. Tình hình lao động việc làm và đời sống dân cư          - Lao động, việc làm: Tình hình lao động việc làm 6 tháng năm 2019, có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt Hà Tĩnh là một trong những địa phương thực hiện tốt phong trào xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động, tăng thu nhập, góp phần thay đổi diện mạo đời sống vật chất, tính thần ở khu vực nông thôn. Ước tính 6 tháng đầu năm 2019, đã giải quyết việc làm cho 11.843 lao động, tăng 10,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh là 5.338 người, tăng 11,93%; xuất khẩu lao động là 3.828 người, tăng 20,23% và lao động đi làm việc ngoại tỉnh là 2.677 người, giảm 3,77%.         Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2019 ước tính là 720,65 nghìn người, chiếm 56,45% tổng dân số toàn tỉnh; số lao động đang làm việc là 695,87 nghìn người (chiếm 96,56% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 24,78 nghìn người (chiếm 3,44% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 2%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có 322,27 nghìn người, chiếm 46,31%; công nghiệp xây dựng 170,83 nghìn người, chiểm 24,55% và dịch vụ 202,77 nghìn người, chiếm 29,14%.          - Đời sống dân cư: Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2019 có cải thiện hơn so với cùng kỳ. Nhờ thay đổi một số chính sách mới về tiền lương, tiền công, nên đã góp phần cải thiện đời sống cho cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hưởng lương. Đồng thời, hiện nay bà con nông dân đã thu hoạch lúa vụ Xuân năm 2019 nên lượng lương thực trong dân dồi dào. Cùng với sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Trong 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn Hà tĩnh không xẩy ra thiếu đối và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra.         9.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội         - Công tác giảm nghèo: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền, các dân tộc và các nhóm dân cư. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã thực sự đi vào cuộc sống, người nghèo đã được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng để phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững (tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 là 6,92%). Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương vẫn còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.         - Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 39.318 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 72.708 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 152.630 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 54.942 thẻ BHYT cho người có công. Tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 84%.         Đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 215.072 suất quà với tổng kinh phí 63,098 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đồng thời, trao tặng 6 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách với tổng trị giá 24 triệu đồng; xây mới 18 nhà tình nghĩa, trị giá 556 triệu đồng và sữa chữa 22 nhà với tổng giá trị là 168 triệu đồng.         9.3. Tình hình thiên tai         6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 2 đợt thiên tai, cụ thể: Đợt 1 vào ngày 30/4/2019, do ảnh hưởng của rãnh áp thấp bị nén bởi một bộ phận áp cao lạnh lục địa, đã xảy ra mưa giông kèm theo lốc xoáy ở nhiều địa phương; đợt 2 vào ngày 23/5/2019, xảy ra mưa giông kèm theo sấm sét. Hậu quả 2 đợt thiên tai đã làm 2 người chết; 225 nhà ở của dân và 2 trường học bị tốc mái, hư hỏng; 1.590 ha lúa vụ Xuân, 360,3 ha ngô, 31,5 ha rau màu và 2 ha cây lâu năm bị đổ và hư hỏng; 0,5 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 1.860 cây lâm nghiệp và 530 cây cảnh, cây bóng mát bị đổ gãy; 8 cột điện hạ thế và 300 m đường dây điện bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 6 tỷ đồng. Sau khi xảy ra lốc xoáy và mưa lớn, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người dân.         9.4. Hoạt động giáo dục đào tạo         - Giáo dục phổ thông: Năm học 2018-2019, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã có 88/99 học sinh đạt giải (4 giải nhất, 30 giải nhì, 29 giải ba và 25 giải khuyến khích). Đặc biệt, có 13 em đạt thành tích xuất sắc nhất được gọi vào tham gia chọn đội dự tuyển dự thi quốc tế. Hà Tĩnh đứng thứ 3 về số lượng học sinh giỏi cấp quốc gia, đây là thành tích xuất sắc nhất từ trước đến nay. Cuộc thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp quốc gia năm nay, đoàn Hà Tĩnh có 4/6 sản phẩm đạt giải, trong đó có 2 giải Ba và 2 giải Tư. Tại các cuộc thi học sinh giỏi cấp tỉnh, Hà Tĩnh có hàng ngàn học sinh đoạt giải. Riêng các bộ môn văn hóa các lớp 9, 10, 11, 12 có 2.455 học sinh được công nhận học sinh giỏi cấp tỉnh (227 giải Nhất, 551 giải Nhì, 818 giải Ba và 859 giải Khuyến khích). Cuộc thi Khoa học-Kỹ Thuật giành cho học sinh trung học có 85 dự án đạt giải (8 giải Nhất, 17 giải Nhì, 26 giải Ba và 34 giải Tư). Với kết quả đã đạt được, ngành giáo dục Hà Tĩnh vẫn giữ vững vị trí là một trong những tỉnh thuộc tốp dẫn đầu của cả nước về chất lượng giáo dục mũi nhọn.         Số lượng học sinh đến cuối năm học vẫn ổn định. Tổng số cháu đi mầm non là 87.783 cháu, số học sinh tiểu học là 111.178 học sinh, số học sinh trung học cơ sở là 74.287 học sinh và số học sinh trung học phổ thông là 44.180 học sinh.         Công tác chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2019 đã được tiến hành đảm bảo các nội dung. Năm nay, cụm thi Hà Tĩnh có hơn 16.886 thí sinh đăng ký dự thi tại 55 đơn vị trường học, Trung tâm GDNN-GDTX, các trường cao đẳng, trung cấp nghề (tăng hơn 400 thí sinh so với kỳ thi năm 2018), trong đó có hơn 600 thí sinh tự do. Ban chỉ đạo kỳ thi đã bố trí 715 phòng tại 35 điểm thi trên địa bàn toàn tỉnh với tổng số hơn 3.100 cán bộ, nhân viên phục vụ cho kỳ thi. Để chuẩn bị tốt cho kỳ thi THPT quốc gia, Hà Tĩnh đã ban hành quyết định thành lập Ban chỉ đạo thi đồng thời yêu cầu chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã làm thành viên. Các trường Đại học được phân công làm nhiệm vụ thi tại Hà Tĩnh cũng đã phối hợp chặt chẽ với Sở GD&ĐT trong công tác điều động lực lượng cán bộ coi thi, học tập quy chế, nghiệp vụ thi và các công tác hậu cần khác.         - Giáo dục đào tạo: Theo Thông tư số 44/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội ngày 28/12/2016, quy định từ 01/7/2017 tất cả các trường cao đẳng chuyên nghiệp (trừ hệ thống sư phạm) đều chuyển thành cao đẳng giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, từ năm học 2018-2019 thì hệ giáo dục đào tạo ở Hà Tĩnh chỉ còn có 1 trường Đại học, chỉ tiêu tuyển sinh năm học 2019-2020 là 1.285 chỉ tiêu (so với năm học 2018-2019 tăng 2,8%), trong đó hệ đại học 1.235 chỉ tiêu, hệ cao đẳng 50 chỉ tiêu. Ngoài ra, Đại học Hà Tĩnh còn tuyển sinh hệ liên thông và văn bằng 2 với chỉ tiêu tuyển sinh là 270 chỉ tiêu.         9.5. Hoạt động Y tế         6 tháng đầu năm 2019, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. Đến nay, Hà Tĩnh chỉ còn 260 trạm y tế xã, phường, thị trấn (giảm 2 trạm do sát nhập ở huyện Can Lộc: xã Khánh Lộc với Vĩnh Lộc; Song Lộc với Trường Lộc), có 245 trạm y tế đạt chuẩn (đạt tỷ lệ 94,23%), 202 trạm y tế có bác sĩ (đạt tỷ lệ 77,69%) và có 98,74% người dân được khám tạo lập hồ sơ sức khoẻ đạt chất lượng theo quy định.          - Tình hình dịch bệnh: Công tác phòng chống dịch bệnh tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động, đặc biệt là dịch bệnh sởi-rubella. Để phòng tránh bệnh, ngành y tế Hà Tĩnh đã chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm y tế dự phòng các huyện, thị xã, thành phố tăng cường giám sát phát hiện các trường hợp sốt phát ban nghi sởi, triển khai biện pháp xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bùng phát và lan rộng. Cũng trong thời gian này, ngành y tế Hà Tĩnh đã tổ chức tiêm vắc xin sởi-rubella cho tất cả các trẻ từ 1-5 tuổi ở 11/13 huyện, thị xã, thành phố (riêng huyện Kỳ Anh và Hương Khê đã được triển khai năm 2018), nhằm tăng tỷ lệ miễn dịch phòng bệnh sởi-rubella trong cộng đồng. 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn Hà Tĩnh có 33 trường hợp sốt xuất huyết, 172 trường hợp sốt rét, 85 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 91 trường hợp mắc lỵ a míp, 18 trường hợp mắc bệnh sởi, 27 trường hợp viêm gan siêu vi rút và không có trường hợp nào bị tử vong do các loại dịch bệnh trên.         - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hướng tới mục tiêu 90-90-90 (90% được biết - được chữa - được kiểm soát bệnh HIV/AIDS) vào năm 2020, nhằm khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,135%, giảm tác động của đại dịch HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có hiệu quả các biện pháp dự phòng, biện pháp can thiệp có hiệu quả và tác động trực tiếp đến giảm nhiễm mới và giảm tử vong do AIDS; tăng cường hiệu quả kết nối giữa dự phòng, xét nghiệm, điều trị và chăm sóc hỗ trợ thông qua sự phối hợp với cộng đồng; đảm bảo 100% người nhiễm HIV/AIDS tham gia điều trị bằng thuốc kháng vi rút (ARV) có thẻ Bảo hiểm y tế; chuẩn hóa các phòng xét nghiệm tại tuyến huyện nhằm tăng cường xét nghiệm sàng lọc HIV tại cộng đồng. 6 tháng đầu năm 2019, Hà Tĩnh có 44 trường hợp nhiễm HIV, tăng 51,72% so với cùng kỳ năm trước; có 44 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, tăng 33,33%; có 2 trường hợp chết vì AIDS, tăng 1 trường hợp so với cùng kỳ năm trước.         - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Để hướng tới một thị trường có thực phẩm an toàn, các cơ quan chức năng Hà Tĩnh đã tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền về an toàn thực phẩm; nâng cao ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm của các tổ chức và cá nhân trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Đồng thời, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra bảo đảm VSATTP; tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan quản lý, tổ chức xã hội và người tiêu dùng đối với việc thực thi pháp luật về VSATTP của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh; giảm thiểu ngộ độc do tiêu dùng thực phẩm không an toàn. 6 tháng đầu năm 2019, đã xảy ra 3 vụ ngộ độc tập thể ở huyện Cẩm Xuyên và huyện Hương Khê làm 75 người bị ngộ độc. Ngoài ra, còn có 820 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 26,15% so với cùng kỳ năm trước) và có 1 trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm (ở phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh).          9.6. Hoạt động văn hóa - thể thao         - Hoạt động văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, cụ thể: Chào Xuân Kỷ Hợi, Hà Tĩnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã; tổ chức 3 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh vào đêm giao thừa; tổ chức các hoạt động chào mừng ngày Giải phóng Miền Nam (30/4), ngày quốc tế lao động (01/5), 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh, ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn, 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5)... Bên cạnh đó, các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương. Ngoài ra, còn có một số hoạt động văn hóa sổi nổi khác như: Tổ chức khai hội chùa Hương Tích, lễ hội Hải Thượng Lãn Ông mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh; Tổ chức lễ mừng thành phố Hà Tĩnh được công nhận đô thị loại II; Tham gia Liên hoan tuyên truyền lưu động “Trường Sơn - Con đường huyền thoại” tại Thừa Thiên - Huế và xuất sắc giành được 2 giải A, 3 giải B; Tham gia Liên hoan Ảnh nghệ thuật Bắc Trung Bộ lần thứ 26 được tổ chức tại Nghệ An, Hà Tĩnh có 9 tác giả với 15 tác phẩm được chọn triển lãm; Tổ chức Đại lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng vương; Đón nhận Bằng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia Đền thờ Nguyễn Huy Cự, ở xã Trường Lộc-huyện Can Lộc...         - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. 6 tháng đầu năm 2019, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh thực hiện 4 cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch; trực tiếp làm việc chấn chỉnh, nhắc nhở đối với 105 tổ chức cá nhân; xử lý vi phạm hành chính 5 tổ chức và 13 cá nhân với số tiền 57 triệu đồng. Ngoài ra, đã cấp 111 giấy phép, trong đó có 20 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 14 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 75 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 2 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao.         - Hoạt động thể thao: Những năm gần đây, phong trào thể thao quần chúng gắn với các phong trào thi đua yêu nước thường xuyên được duy trì, phát triển mạnh mẽ và tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với đó, thể thao thành tích cao trong 6 tháng đầu năm 2019 cũng đã đạt nhiều thành tích cao với 72 huy chương các loại (gồm 28HCV, 17 HCB và 27HCĐ) tại các đấu trường khu vực, quốc gia, trong đó có tham gia 5 giải quốc tế và giành được 11 huy chương (7 HCV, 4 HCĐ).         9.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         Tính từ ngày 16/5/2019 đến ngày 14/6/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người, bị thương 5 người. So với tháng trước giảm 1 vụ tai nạn đường sắt, tăng 1 người chết và giảm 3 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, giảm 2 người chết và tăng 1 người bị thường. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.         Tính chung từ ngày 16/12/2018 đến ngày 14/6/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 63 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 1 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 58 người và bị thương 36 người. So với cùng kỳ năm 2018 giảm 4 vụ tai nạn đường bộ, tăng 1 vụ tai nạn đường sắt, giảm 9 người chết và tăng 6 người bị thương.         9.8. Môi trường         - Tình hình cháy, nổ: 6 tháng đầu năm 2019, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 42 vụ cháy và 5 vụ nổ (tăng 3 vụ cháy và 3 vụ nổ so với cùng kỳ năm 2018), làm chết 2 người và bị thương 8 người, ước tính thiệt hại về tài sản là 25,27 tỷ đồng. Nguyên nhân do bất cẩn trong sử dụng lửa, chập điện và sử dung pháo tự chế.         - Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu bảo đảm môi trường luôn xanh, sạch đẹp, Sở tài nguyên môi trường đã kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. 6 tháng đầu năm 2019, đã kiểm tra phát hiện 47 vụ và xử lý 35 cơ sở vi phạm môi trường, với số tiền 108,5 triệu đồng. Các cơ sở bị xử lý, chủ yếu là vi phạm về khai thác đất, cát trái phép và công tác xử lý chuồng trại chăn nuôi chưa đạt chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi lợn làm ảnh hưởng đến môi trường sống của các hộ dân xung quanh.          10. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội 6 tháng cuối năm 2019    10.1. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019         Kỳ họp thứ 8 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2019 như sau:         - Tổng sản phẩm (GRDP) tăng từ 11,5%-12% so với năm 2018.          - Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn.          - Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 1,1 tỷ USD.         - Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt trên 13.200 tỷ đồng, trong đó thu nội địa trên 6.300 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 6.900 tỷ đồng.         - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 38.000 tỷ đồng.         - Tỷ lệ người tham gia BHYT đạt trên 88%.         - Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) giảm từ 1,3-1,5%.         - Giải quyết việc làm mới cho 23.500 người.         - Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%.         10.2. Giải pháp thực hiện 6 tháng cuối năm         Với những kết quả đạt được 6 tháng đầu năm, để thực hiện đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2019 cần phải thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp như trong Nghị quyết đã nêu. Tuy nhiên, trong 6 tháng cuối năm chúng ta cần phải chú trọng thực hiện một số giải pháp để tạo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, đó là:          (1) Các cấp, các ngành và các địa phương phải đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết, khách quan kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2019 đối với từng ngành, các lĩnh vực. Từ đó tìm ra những điểm mạnh cũng như tồn tại hạn chế để đưa ra những giải pháp sát đúng, kịp thời và linh hoạt để chỉ đạo và tổ chức thực hiện, nhất là tập trung giải quyết các điểm ngẽn, hạn chế về cơ chế chính sách và về chỉ đạo điều hành.         (2) Trước mắt, phải tập trung chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu đạt kết quả cao, trong đó chú trọng việc phòng trừ sâu bệnh, chủ động ứng phó với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, chống hạn cho cây trồng. Cùng với đó, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi, xử lý dứt điểm các ổ dịch bệnh, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, không để dịch tiếp tục lây lan, đồng thời chuẩn bị cung ứng đủ giống phục vụ tái đàn sau dịch bệnh và cần có giải pháp bù đắp cho lĩnh vực chăn nuôi lợn do thiệt hại của dịch bệnh để người chăn nuôi có điều kiện tiếp tục sản xuất.          (3) Cùng với việc đồng hành với nhà đầu tư tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất của dự án Fomosa thì chúng ta cũng cần phải quan tâm chú trọng phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất khác, nhất là tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án lớn vào hoạt động trên địa bàn tỉnh, tránh việc tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà phụ thuộc quá nhiều vào dự án Fomosa.         (4) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tăng cường thu hút đầu tư nhằm huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phải tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.         (5) Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ.          Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2019 diễn ra trong điều kiện vẫn còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà vẫn ổn định và phát triển theo chiều hướng tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2019./.

Tình hình kinh tế xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2019
  •   24/07/2024 08:52

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản         1.1. Nông nghiệp             - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 5/2019 chủ yếu tập trung thu hoạch lúa, lạc vụ Đông Xuân và chuẩn bị làm đất để gieo cấy lúa vụ Hè Thu 2019.  Với các giải pháp trong sản xuất như: Cung cấp giống, phân bón có chất lượng với giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa; theo dõi sát sao diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời; đẩy mạnh việc đưa cơ giới hóa vào trong sản xuất nông nghiệp...cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi là những yếu tố tích cực để sản xuất vụ Đông Xuân năm nay đạt được kết quả khá tích cực. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực vụ Đông Xuân như lúa, ngô, rau đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có diện tích lạc giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân do hiện nay giá lạc giống cao, làm lạc cần nhiều công chăm sóc nhưng giá bán lại thiếu ổn định nên người dân đã chuyển đổi sang sản xuất các loại cây trồng khác. Cùng với đó là một số đất trồng lạc nằm trong quy hoạch đường ven biển bị thu hồi để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nên diện tích giảm. Khi năng suất các loại cây trồng khác đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước thì do một số địa phương gieo cấy lúa vụ Xuân sớm hơn lịch thời vụ nên lúa đã trổ sớm hơn khoảng từ 15 đến 20 ngày, thời kỳ lúa trổ bông điều kiện thời tiết không thật sự thuận lợi. Cùng với đó là sự phát sinh gây hại của các loại sâu bệnh nên đã làm cho năng suất lúa vụ Xuân năm nay giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực vụ Đông Xuân như đã phản ánh ở phần trên.         Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Vụ Đông Xuân năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng và đã ảnh hưởng đến năng suất nhưng với mức độ thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Đối với cây lúa đã có 561 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá (nhiễm nặng là 12 ha), tập trung ở Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh, Thạch Hà; 140,8 ha nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông (nhiễm nặng là 25 ha), tập trung ở Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Lộc Hà, Can Lộc, Thị xã Kỳ Anh; 117 ha nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng (nhiễm nặng là 10,5 ha), tập trung ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, Thạch Hà, Đức Thọ, Hương Sơn; 29 ha bị bệnh đốm nâu, tập trung ở Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Thị xã Hồng Lĩnh; 20,5 ha bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại, tập trung tại Thành phố Hà Tĩnh, Lộc Hà, Can Lộc, Đức Thọ; 1.962 ha nhiễm bệnh khô vằn (nhiễm nặng là 132 ha) và 1.084,5 ha bị chuột phá hại (gây hại nặng là 446,5 ha) xẩy ra trên địa bàn toàn tỉnh. Trên cây lạc thì bệnh héo rũ do nấm đã xẩy ra tại Hương Khê, Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh với diện tích bị bệnh là 35,5 ha; nhóm sâu ăn lá cũng đã xuất hiện gây hại với diện tích là 30 ha, tập trung ở Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh, Lộc Hà. Công tác chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh được triển khai kịp thời, đồng bộ, các địa phương đã chủ động, quyết liệt và làm tốt công tác phòng trừ các đối tượng sâu bệnh gây hại do đó đã hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 5/2019 vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, số lượng đàn gia súc giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của các đợt dịch lở mồm long móng xuất hiện trên địa bàn những tháng đầu năm, cùng với đó là dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện trên địa bàn nên người dân lo ngại ít sử dụng thịt lợn, làm cho việc tiêu thụ thịt lợn giảm mạnh. Cùng với đó các dự án chăn nuôi bò trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, sản xuất thiếu ổn định, quy mô đàn bò tiếp tục giảm mạnh. Với việc dịch bệnh đối với đàn vật nuôi diễn biến phức tạp, giá cả sản xuất đầu vào tăng trong khi thị trường, giá cả đầu ra của sản phẩm chăn nuôi thiếu ổn định vẫn là những rào cản lớn đối với sự phát triển của ngành chăn nuôi trên địa bàn trong những tháng đầu năm 2019 cũng như thời gian tới.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Ngày 16/5/2019, tại hộ chăn nuôi của ông Đặng Văn Đoàn (Tổ dân phố 6, thị trấn Cẩm Xuyên) đã có 20/55 con lợn bị ốm, chết; huyện đã báo với cơ quan thú y cấp tỉnh để phối hợp kiểm tra, nhận định nguyên nhân và lấy mẫu gửi phân tích, kết quả dương tính với bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Sau khi có kết quả dương tính với virus dịch tả lợn châu Phi, lãnh đạo tỉnh, Sở NN&PTNT Hà Tĩnh, huyện Cẩm Xuyên đã tập trung chỉ đạo các ngành chuyên môn cùng với hộ chăn nuôi tiến hành tiêu hủy toàn bộ số lượng 55 con lợn và 14 bao thức ăn thừa của hộ ông Đặng Văn Đoàn theo đúng quy trình, phun tiêu độc khử trùng toàn bộ khu vực nuôi của hộ và các khu vực lân cận, thành lập 2 chốt chặn để kiểm soát việc vận chuyển lợn và các sản phẩm, các phương tiện ra vào vùng có ổ dịch. UBND huyện Cẩm Xuyên cũng đã thành lập 5 tổ theo Quyết định 773 của UBND tỉnh (tổ giám sát, tổ chốt chặn, tổ tiêu hủy, tổ tiêu độc khử trùng, tổ phản ứng nhanh) để ứng phó kịp thời với dịch bệnh. Để khống chế, không để dịch bệnh lây lan ra diện rộng, Sở NN&PTNT Hà Tĩnh đã chỉ đạo chính quyền địa phương huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để triển khai thực hiện dập dịch theo kịch bản 773 của tỉnh về các biện pháp trước và sau khi phát hiện bệnh dịch tả lợn châu Phi. Nguy cơ dịch lan ra diện rộng là rất cao và sẽ gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, giám sát chặt chẽ, phát hiện dịch bệnh và có phương án chủ động đối phó kịp thời để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho người chăn nuôi.         1.2. Lâm nghiệp         Do trong tháng 5/2019 trên địa bàn điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng. Hoạt động trồng cây lâm nghiệp và khai thác rừng tuy có thực hiện nhưng đạt kết quả thấp. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, ước tính toàn tỉnh trồng được 1.670 ha rừng (bằng 52,33%) và 1.832 ngàn cây phân tán (bằng 73,99%) so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 77.844 m3 gỗ (bằng 64,52%) và 150.691 Ste củi (bằng 59,53%) so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Mặc dù trong tháng điều kiện thời tiết nắng nóng nhưng do làm tốt công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng nên đã không xẩy ra thiệt hại về rừng.          1.3. Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 5/2019 nhìn chung vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, tổng sản lượng thủy hải sản ước đạt 18.312 tấn, bằng 111,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước đạt 13.812 tấn, bằng 112,71% và sản lượng nuôi trồng ước đạt 4.500 tấn, bằng 108,96% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh hoạt động khai thác với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa thì hoạt động nuôi trồng vẫn tiếp tục được quan tâm thực hiện. Trong đó nuôi tôm vẫn được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, diện tích nuôi tôm ước đạt 2.468 ha, bằng 105,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 89,75% kế hoạch năm, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chiếm đến 76,5% tổng diện tích nuôi tôm, diện tích tôm chủ yếu mới được xuống giống thả nuôi vụ Xuân Hè năm 2019. Tình hình dịch bệnh: Bệnh đốm trắng trên tôm đã xuất hiện tại 13 hộ nuôi tại xã Kỳ Thọ (huyện Kỳ Anh) với diện tích nhiễm bệnh 13,5 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm thẻ chân trắng xẩy ra tại xã Thạch Bàn và xã Thạch Trị (huyện Thạch Hà) với diện tích nhiễm bệnh là 5,39 ha. Đối với hiện tượng thuỷ sản chết ở xã Cẩm Lĩnh (huyện Cẩm Xuyên) với diện tích 18,6 ha của 15 hộ nuôi không phát hiện bị nhiễm dịch bệnh. Qua kiểm tra, khảo sát thực tế nhận thấy tại các hồ nuôi việc quản lý môi trường của các hộ dân chưa được đảm bảo. Việc thay nước ra, vào không được thường xuyên, không đảm bảo yêu cầu. Người dân không kịp thời xử lý nên càng khiến cho ao nuôi thêm ô nhiễm. Hiện nay các cơ quan chức năng đang phối hợp với các hộ nuôi trồng thủy sản tiến hành xử lý để tránh bùng phát và lây lan dịch bệnh.         2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư       - Sản xuất công nghiệp: Hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 5/2019 vẫn ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với tháng trước (tăng 7,32%) cũng như cùng kỳ năm trước (tăng 29,87%), chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo mà cụ thể là nhờ sự đóng góp từ hoạt động sản xuất thép của dự án Formosa.          Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 32,82%). Trong mức tăng chung đó thì ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngành có mức đóng góp cao nhất, tăng 39,2%, đóng góp 29,77 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 5 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất máy móc, thiết bị tăng 189,31%; khai khoáng khác tăng 67,28%; sản xuất than cốc tăng 47,87%; sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 47,73%. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 90,37%; khai thác quặng kim loại giảm 73,37%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 51,29% ...          Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Mực đông lạnh tăng 117,8%; thức ăn cho gia súc tăng 71,72%; đá xây dựng khác tăng 69,47%; than cốc tăng 47,87%; thép tăng 47,74%. Một số sản phẩm lại giảm mạnh như: Quặng zircon giảm 75,89%; quặng inmenit giảm 51,66%; gạch nung giảm 44,03%; bê tông tươi giảm 43,2%.         Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2019 giảm 0,15% so với tháng trước và giảm 4,76% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019 giảm 2,37% so với cùng kỳ năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 6,39% và 5,47%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn ổn định và tăng nhẹ với mức tăng 1,29%. - Vốn đầu tư: Do nguồn vốn được bố trí kịp thời, cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành đã đẩy nhanh tiến độ các công trình dự án; cùng với đó là điều kiện thời tiết thuận lợi nên dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2019 tăng hơn so với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tăng 11,58% so với tháng trước và tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 5 tháng, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.222,87 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước chỉ tăng nhẹ, với mức tăng 4,52%, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 817,73 tỷ đồng, tăng 22,56%; cấp huyện ước đạt 274,14 tỷ đồng, tăng 7,22%; cấp xã ước đạt 131 tỷ đồng, giảm 46,99%. Hiện nay, nhu cầu vốn đầu tư phát triển là rất lớn nhưng nguồn thu ngân sách và cân đối vốn cho đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước đang gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với cấp xã. 3. Thương mại, dịch vụ          - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 5/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước (tăng 0,29%), tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 8,17%) và chủ yếu tăng ở khu vực kinh tế cá thể (tăng 18,69% so với cùng kỳ năm trước). Một số nhóm mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Lương thực, thực phẩm tăng 11,69%; hàng may mặc tăng 16,14%; ô tô các loại tăng 10,25%; hàng hóa khác tăng 10,23%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 15.760,72 tỷ đồng, tăng 11,61% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 845,41 tỷ đồng, tăng 1,7%; ngoài Nhà nước ước đạt 14.915,19 tỷ đồng, tăng 12,32% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,11 tỷ đồng. Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn những tháng đầu năm vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ năm trước, chưa có sự đột phá nào lớn xẩy ra.  - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Do nhu cầu tham quan du lịch của người dân tiếp tục tăng lên, ngoài các điểm du lịch sinh thái Đồng Nôi, Quỳnh Viên, khu trang trại Hoa hồng ở huyện Thạch Hà, thì lượng khách đến các bãi biển, khu nghỉ dưỡng bắt đầu tăng mạnh so với những tháng đầu năm, nhất là các bãi biển Thiên Cầm, Khu nghỉ dưỡng Vinpeal Cửa sót Hà Tĩnh, Khu nghỉ dưỡng Kỳ Xuân Resot…từ đó làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 5/2019ước tính tăng 6,57% so với tháng trước và tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.114,1 tỷ đồng, tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 9,26%). Trong đó, doanh thu dịch vụ ăn uống vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu các hoạt động dịch vụ này (chiếm đến 93,03%).          - Hoạt động dịch vụ khác: Là tháng cao điểm thi công xây dựng đã làm cho dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình tăng. Bên cạnh đó, trong tháng có tổ chức lễ hội ánh sáng đèn Led thu hút nhiều lượng khách đến tham quan, tác động đến dịch vụ vui chơi, giải trí tăng. Ngoài ra, do thời tiết chuyển mùa nên nhu cầu sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị điện tử, điện lạnh cũng tăng dẫn đến các hoạt động dịch vụ tăng.         Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 650,3 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí (tăng 14,34%); y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng 11,29%); dịch vụ khác (tăng 3,84%). Dự kiến sang tháng 6/2019 doanh thu dịch vụ tiếp tục tăng. Do hoạt động xây dựng tiếp tục tăng nên nhu cầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ tăng. Cùng với đó thì các dịch vụ khác như dịch vụ Y tế, vui chơi giải trí, dịch vụ sửa chữa tiếp tục có xu hướng tăng.         - Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 5/2019 ước đạt 2,15 triệu lượt hành khách, tăng 0,75%, khối lượng luân chuyển đạt 376,02 triệu lượt hành khách.km, tăng 1,67% so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 166,41 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10,52 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 1.824,23 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,3% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 8,91% về lượt hành khách luân chuyển; doanh thu ước đạt 803,44 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết nắng nóng, nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải công cộng tăng. Cùng với đó là tháng bước vào mùa du lịch biển và diễn ra Lễ hội Phật Đản nên lượng khách đến tham quan tăng đã làm cho vận tải hành khách tăng lên.         - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 5/2019 ước đạt 2,9 triệu tấn, tăng 1,15% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 68,25 triệu tấn.km, tăng 2,04%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 252,35 tỷ đồng, tăng 1,51% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 14,87 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 360,38 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,91% về khối lượng vận chuyển và tăng 8,51% về khối lượng luân chuyển; doanh thu ước đạt 1.249,85 tỷ đồng, tăng 11,14% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 5, các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, đặc biệt là xây dựng trong dân và các xã về đích nông thôn mới nên nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng tăng. Cùng với đó, là thời điểm thu hoạch vụ Đông xuân nên nhu cầu vận chuyển sản phẩm trong kỳ thu hoạch cũng như nhu cầu vận chuyển vật tư nông nghiệp phân bón, giống để chuẩn bị cho vụ sản xuất tiếp theo tăng, làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng.         - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 5/2019 ước đạt 40,77 tỷ đồng, tăng 3,86% so tháng trước và giảm 44,65% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, doanh thu ước đạt 220,91 tỷ đồng, giảm 34,45 so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tháng 5/2019 tăng hơn so với tháng trước, do trong tháng lượng hàng hóa thông qua cảng tăng. So với cùng kỳ năm trước giảm mạnh là do ngừng hoạt động trạm thu phí Cầu Rác (huyện Cẩm Xuyên).         4. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 5 năm 2019 tăng 0,25% so tháng trước, tăng 1,52% so cùng tháng năm trước và tăng 0,69% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,19% và khu vực nông thôn tăng 0,29%. Một số nguyên nhân chính tác động CPI tháng 5/2019, đó là:  - Nhóm nguyên nhân làm tăng CPI: (1) Giá xăng dầu bình quân tăng mạnh so với tháng trước sau hai kỳ điều chỉnh trong tháng (ngày 02/5/2019 điều chỉnh tăng và ngày 17/5/2019 điều chỉnh giảm); (2) Giá vật liệu xây dựng tăng mạnh, do chính sách quản lý và chi phí vận chuyển tác động đến giá cả; (3) Giá điện sinh hoạt tăng mạnh do sự điều chỉnh giá cơ sở theo Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/2019 của Bộ Công Thương và khối lượng tiêu thụ tăng mạnh; (3) Tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt đã tác động đến nhu cầu tiêu dùng thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy. - Nhóm nguyên nhân làm giảm CPI: (1) Do thu hoạch lúa vụ Đông Xuân 2018-2019 nên nguồn cung dồi dào đã làm cho giá lương thực giảm; (2) Trên địa bàn đã xuất hiện Dịch tả lợn châu Phi nên đã ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng khiến cho giá thịt lợn giảm. Chỉ số giá vàng tháng 5/2019 giảm 0,93% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,16% và tăng 1,16% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng giảm theo biến động của giá vàng thế giới. Giá vàng trên thị trường Hà Tĩnh, ngày 21/5/2019 ở khu vực thành thị là 3.670 nghìn đồng/chỉ và ở khu vực nông thôn là 3.691 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2019 tăng 0,44% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,16% và giảm 0,28% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/5/2019 mức giá bán ra là 2.330 nghìn đồng/100USD. CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2019 tăng 1,5% so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn 1,76 điểm % so với mức tăng bình quân 5 tháng năm 2018, trong đó khu vực thành thị tăng 1,19% và khu vực nông thôn tăng 1,71%. Một số nhóm hàng có CPI bình quân tăng cao hơn mức tăng bình quân chung là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,55%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,54%; may mặc, mũ nón và dày dép tăng 3,89%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,86%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,07%. Chỉ số CPI tháng 6/2019 dự kiến tiếp tục tăng. Do ảnh hưởng của giá nhiên liệu thế giới đang ở mức cao, kéo theo giá xăng dầu dự kiến tăng. Đồng thời, ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại giữa hai nền kinh tế hàng đầu trên thế giới Mỹ và Trung Quốc, cũng sẽ tác động đến tình hình sản xuất, mua bán, trao đổi thương mại trong nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng.         5. Các vấn đề xã hội         5.1. Tình hình đời sống dân cư          Hiện nay bà con nông dân đã thu hoạch lúa vụ Xuân năm 2019 nên lượng lương thực trong dân dồi dào. Công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội, trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo cũng được quan tâm, thực hiện đầy đủ và kịp thời. Vì vậy, trong tháng 5/2019 trên địa bàn toàn tỉnh không phát sinh hộ thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra.         5.2. Tình hình thiên tai         Ngày 30/4/2019,  do ảnh hưởng của rãnh áp thấp bị nén bởi một bộ phận áp cao lạnh lục địa, tại Hà Tĩnh đã xảy ra mưa giông kèm theo lốc xoáy ở nhiều địa phương. Lốc xoáy và mưa lớn đã làm 225 nhà ở của dân và 2 trường học bị tốc mái, hư hỏng; 1.590 ha lúa Đông Xuân, 360,3 ha ngô, 31,5 ha rau màu và 2 ha cây lâu năm bị đổ và hư hỏng; 0,5 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 1.860 cây lâm nghiệp và 530 cây cảnh, cây bóng mát bị đổ gãy; 8 cột điện hạ thế và 300 m đường dây điện bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 6 tỷ đồng.      Sau khi xảy ra lốc xoáy và mưa lớn, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân.         5.3. Giáo dục phổ thông         Hiện nay, toàn ngành Giáo dục Hà Tĩnh đang tập trung chuẩn bị cho kỳ thi vào lớp 10 trung học phổ thông (THPT) năm học 2019-2020. Kỳ thi này toàn tỉnh có 17.503 thí sinh đăng ký dự thi, tăng gần 600 thí sinh so với năm học trước, thành lập 33 Hội đồng thi với 695 phòng thi. Riêng Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh có 829 thí sinh đăng ký dự thi, với 2 điểm thi. Theo phương án phê duyệt của UBND tỉnh, Hà Tĩnh chỉ tổ chức một kỳ thi chung cho tất cả các trường THPT.         Để đảm bảo tính khách quan, trung thực, nghiêm túc cho kỳ thi, Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các văn bản hướng dẫn tổ chức, quy chế thi cho các trường THPT; tập huấn nghiệp vụ tuyển sinh cho cán bộ, giáo viên tham gia công tác coi thi; tích cực chuẩn bị cơ sở vật chất cùng những vấn đề cần thiết nhằm phục vụ tốt nhất cho kỳ thi. Bên cạnh đó, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đề nghị lực lượng công an cấp huyện tiếp tục hỗ trợ đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, bảo vệ các điểm coi thi, chấm thi, hội đồng ra đề thi, sao in và công tác vận chuyển đề thi, bài thi. Cùng với đó, các ngành (Y tế, điện lực, thông tin truyền thông) tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong việc chuẩn bị các điều kiện về chăm sóc sức khỏe, đảm bảo nguồn điện và giữ vững thông tin liên lạc.         5.4. Hoạt động Y tế  - Tình hình dịch bệnh: Công tác y tế và vệ sinh phòng chống dịch bệnh được thực hiện thường xuyên. Trong tháng 5/2019, ngành Y tế đã tổ chức ngày hội “ Rửa tay bằng xà phòng, phòng chống đuối nước, bệnh chân tay miệng” tại các trường học, nhằm kêu gọi các thầy cô giáo, phụ huynh, những người chăm sóc trẻ tại trường học, học sinh cần tự giác thực hiện các biện pháp vệ sinh như: Ăn chín, uống sôi; rửa tay nhiều lần trong ngày vào các thời điểm quan trọng như trước khi chế biến thức ăn, trước khi cho trẻ ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi làm vệ sinh cho trẻ, sau khi chăm sóc trẻ mắc bệnh; làm sạch nền nhà, bề mặt bàn ghế, đồ chơi của trẻ em bằng xà phòng hoặc hóa chất khử khuẩn thông thường để ngăn ngừa sự lây lan các dịch bệnh truyền nhiễm. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có 1 trường hợp sốt xuất huyết, 34 trường hợp sốt rét, 27 trường hợp viêm gan siêu vi rút; 18 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 23 trường hợp mắc lỵ a míp, không có trường hợp nào bị tử vong do các dịch bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS. Trong tháng 5/2019, Hà Tĩnh có 3 trường hợp nhiễm HIV (giảm 3 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 4 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 3 trường hợp) và không có trường hợp nào chết vì AIDS.    - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tiếp tục tăng cường công tác giáo dục, truyền thông, thông tin chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm; nâng cao ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm của các tổ chức, cá nhân trong việc sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Trong tháng, xảy ra 150 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 33,93% so với cùng kỳ năm trước) và có 1 trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm (ở phường Kỳ Trinh-thị xã Kỳ Anh).         5.5. Hoạt động văn hóa - thể thao         - Hoạt động văn hóa: Nhân kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh, ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019), Đài Phát thanh và truyền hình Hà Tĩnh tổ chức chương trình giao lưu nghệ thuật "Hà Tĩnh với con đường huyền thoại"; chương trình đã tái hiện quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Tĩnh trong nỗ lực viết tiếp bản anh hùng ca mới trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước. Cũng thời gian này, Hà Tĩnh đã tham gia Liên hoan tuyên truyền lưu động “Trường Sơn - Con đường huyền thoại” tại Thừa Thiên - Huế và xuất sắc giành được 2 giải A, 3 giải B. Ngoài ra, trong tháng Hà Tĩnh còn tham gia Liên hoan Ảnh nghệ thuật Bắc Trung Bộ lần thứ 26 được tổ chức tại Nghệ An - quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đúng dịp kỷ niệm 129 năm ngày sinh của Người, Hà Tĩnh có 9 tác giả với 15 tác phẩm được chọn triển lãm.         - Hoạt động thể thao: Những năm gần đây, phong trào thể thao quần chúng gắn với các phong trào thi đua yêu nước như: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phong trào rèn luyện sức khỏe bảo vệ Tổ quốc...cũng thường xuyên được duy trì và phát triển, tạo sức lan tỏa như: Giải quần vợt thị xã Kỳ Anh lần thứ nhất năm 2019; giải việt dã “Cùng Sacombank chạy vì sức khỏe cộng đồng” lần thứ V năm 2019; giải thể thao công đoàn ngành ngân hàng các chi nhánh tỉnh Hà Tĩnh năm 2019; giải Bóng đá nam khối cơ quan - doanh nghiệp thị xã Hồng Lĩnh năm 2019; giải bóng chuyền nữ khai trương mùa du lịch biển Xuân Thành năm 2019.         Thể thao thành tích cao: Tại Giải điền kinh mở rộng ở Thái Lan, đoàn Hà Tĩnh giành được 1 HCV nội dung chạy 400 m nam; tại Giải vô địch các CLB Pencak silat toàn quốc năm 2019 ở Tiền Giang, đoàn VĐV Hà Tĩnh giành được 1 HCV ở hạng cân 55kg nữ; còn ở Giải vô địch karatedo trẻ Châu Á ở Malaysia, đoàn Hà Tĩnh giành được 1 HCV và 1 HCĐ.            5.6. Tình hình an toàn giao thông          Tính từ ngày 16/4/2019 đến ngày 15/5/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người, bị thương 8 người. So với tháng trước tăng 1 vụ, giảm 3 người chết và tăng 7 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, giảm 2 người chết và 2 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu bia khi tham gia giao thông, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.         Như vậy, tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/5/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 49 người và bị thương 30 người. So với cùng kỳ năm 2018 giảm 2 vụ, giảm 8 người chết và tăng 4 người bị thương. 5.7. Môi trường         - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ cháy, nổ (gồm có 6 vụ cháy và 1 vụ nổ), ước tính thiệt hại 780 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 4 vụ cháy và 1 vụ nổ. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn trong sử dụng lửa, than. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, đã xảy ra 41 vụ cháy, nổ (gồm 36 vụ cháy và 5 vụ nổ), làm 2 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 19,27 tỷ đồng.         - Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu cùng chung tay bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra về công tác bảo vệ môi trường, trong tháng phát hiện 15 vụ vi phạm môi trường, xử lý 8 vụ với số tiền 31,5 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, đã kiểm tra phát hiện 41 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 29 cơ sở với số tiền 72,5 triệu đồng.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2019
  •   24/07/2024 08:41

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản          1.1. Nông nghiệp         - Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp trong tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân năm 2019.         Vụ Xuân 2019 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho các loại cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là cây lúa. Tính đến ngày 20/4/2019, diện tích lúa vụ Xuân trên địa bàn toàn tỉnh đã trổ hết, nhiều diện tích lúa đang trong giai đoạn chắc hạt. Như vậy, lúa vụ Xuân 2019 đã trổ trước lịch thời vụ khoảng 15-20 ngày. Mặc dù lúa vụ Xuân đã trổ bông và trong giai đoạn chắc hạt để chuẩn bị thu hoạch nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nhiều rũi ro trước những diễn biến bất thường của thời tiết và sâu bệnh sẽ làm ảnh hưởng đến năng suất lúa. Cùng với cây lúa thì các loại cây trồng vụ Xuân khác cũng đang được chăm sóc và đang sinh trưởng, phát triển tốt.          Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Hiện nay trên cây lúa một số đối tượng sâu bệnh cũng đã phát sinh gây hại như: Bệnh đạo ôn xuất hiện trên các giống lúa P6, Xi23, NX30, XT28, TBR225, VTNA2, VTNA6...Tính đến ngày 15/4/2019, bệnh đạo ôn trên lá, cổ lá với tỷ lệ nhiễm bệnh trung bình 1-3%, nơi cao 7-10%, cục bộ 30-40%, diện tích nhiễm bệnh là 314,5 ha, trong đó có 5 ha nhiễm nặng, tập trung ở Cẩm Xuyên, Can Lộc, Thị xã Kỳ Anh,Thạch Hà...Đạo ôn cổ bông với tỷ lệ nhiễm bệnh trung bình 5-7%, nơi cao 20-30%, diện tích nhiễm bệnh là 28,5 ha, tập trung ở Cẩm Xuyên, Can Lộc, Kỳ Anh. Rầy nâu và rầy lưng trắng với mật độ trung bình 300-750 con/m2, nơi cao 1.500-3.000 con/m2, cục bộ ổ 5.000-10.000 con/m2, rầy tuổi 3,4, trưởng thành, diện tích nhiễm bệnh là 64,5ha, tập trung ở huyện Kỳ Anh, Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Lộc Hà. Chuột gây hại ở hầu hết các địa phương trong tỉnh với tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-30%, cục bộ 50-70%, diện tích gây hại là 991,5 ha, trong đó có 443,5 ha bị gây hại nặng. Bệnh khô vằn xẩy ra trên địa bàn toàn tỉnh với tỷ lệ nhiễm bệnh trung bình 5-7%, nơi cao 20-30%, cục bộ 60-70%, với diện tích nhiễm bệnh là 1.433 ha, trong đó có 84 ha nhiễm nặng. Bệnh đốm nâu với tỷ lệ nhiễm bệnh trung bình 10-15%, nơi cao 30-50%, với diện tích nhiễm bệnh là 29 ha, tập trung ở Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Thị xã Hồng Lĩnh. Trên cây lạc: Bệnh héo rũ do nấm gây hại với tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, với diện tích nhiễm bệnh là 23,5 ha, phân bố ở Hương Khê, Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh. Nhóm sâu ăn lá gây hại với mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2, với diện tích nhiễm bệnh là 25 ha, tập trung ở Nghi Xuân, huyện Kỳ Anh, Lộc Hà. Trên cây sắn thì bệnh khảm lá xuất hiện và gây hại ở huyện Kỳ Anh, với tỷ lệ gây hại trung bình 10-15%, nơi cao 30-40%, cục bộ 70-80%, với diện tích nhiễm bệnh là 159 ha, trong đó có 149 ha nhiễm nặng. Trên cây ăn quả có múi thì bệnh chảy gôm, bệnh loét sẹo, sâu vẽ bùa, sâu nhớt, sâu róm cũng đã xuất hiện gây hại trên các vườn cây ăn quả ở các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Vũ quang. Với sự diễn biến phức tạp của sâu bệnh, trong thời gian này bà con nông dân và các ngành chức năng cần phải tích cực thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện và phòng trừ sâu bệnh phát sinh gây hại, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 4/2019 vẫn còn gặp nhiều khó khăn, số lượng đàn gia súc giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của các đợt dịch lở mồm long móng xuất hiện trên địa bàn những tháng đầu năm, cùng với đó là dịch tả lợn Châu Phi bùng phát ở nhiều tỉnh khác nên người dân lo ngại ít sử dụng thịt lợn, làm cho việc tiêu thụ thịt lợn giảm mạnh, người chăn nuôi chưa dám đầu tư tái đàn. Cùng với đó các dự án chăn nuôi bò trên địa bàn cũng đang gặp nhiều khó khăn, quy mô đàn bò giảm mạnh: Dự án chăn nuôi bò Bình Hà đến thời điểm hiện nay đã ngừng chăn nuôi; bò sữa của Công ty Vinamilk hiện có 2.650 con, giảm 148 con so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó trại bò sữa ở xã Thường Nga, huyện Can Lộc hiện chỉ còn 56 con, giảm 174 con, nguyên nhân do giá sữa giảm mạnh và điều kiện khí hậu, tự nhiên ở đây không phù hợp với chăn nuôi bò sữa nên doanh nghiệp đang có xu hướng chuyển sang chăn nuôi bò thịt. Với việc dịch bệnh luôn tiềm ẩn, giá cả sản xuất đầu vào tăng trong khi thị trưởng, giá cả sản phẩm chăn nuôi thiếu ổn định vẫn là những rào cản đối với sự phát triển của ngành chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Những tháng đầu năm 2019 dịch lở mồm long móng đã xẩy ra trên địa bàn Hà Tĩnh, nhưng đến cuối tháng 3/2019 dịch đã được dập tắt, cơ quan chức năng đã công bố hết dịch. Dịch tả lợn Châu Phi tuy có xẩy ra trên địa bàn tỉnh Nghệ An giáp ranh với Hà Tĩnh nhưng đến nay Hà Tĩnh không phát sinh dịch bệnh. Trong tháng 4/2019, các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi. Mặc dù hiện nay không phát sinh dịch bệnh nhưng nguy cơ xẩy ra dịch bệnh đối với đàn vật nuôi và gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất cao và luôn tiềm ẩn xẩy ra. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại khi dịch bệnh xẩy ra.         1.2. Lâm nghiệp         Hoạt động lâm nghiệp trong tháng 4/2019 chủ yếu là tập trung vào công tác chăm sóc rừng. Do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch, cùng với đó là thời tiết đã bước vào mùa nắng nóng gay gắt nên kết quả trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán cũng như sản lượng lâm sản khai thác đều giảm so với cùng kỳ năm trước. kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở các địa phương như: Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh.         Trong tháng đã không xẩy ra thiệt hại về rừng. Tuy nhiên, hiện nay đã bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.           1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 4/2019 vẫn tiếp tục được duy trì ổn định và có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Cùng với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa, thì trong tháng 4/2019 các hộ nuôi trồng đã tập trung xuống giống thả nuôi vụ tôm Xuân Hè năm 2019. Diện tích nuôi tôm trong tháng 4/2019 ước đạt 1.809 ha, tăng 44 ha sơ với cùng kỳ năm trước, trong đó tôm thẻ chân trắng là 1.323 ha, chiếm 73,13% tổng diện tích nuôi tôm và tôm sú là 486 ha chiếm 26,87% tổng diện tích tôm. Nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Vì vậy, năm 2019 đã xây dựng kế hoạch với tổng diện tích tôm thả nuôi toàn tỉnh là 2.750 ha (tăng 49 ha so với năm 2018), trong đó: Nuôi tôm thâm canh, công nghệ cao là 920 ha; bán thâm canh là 450 ha; quảng canh, quảng canh cải tiến 1.380 ha. Với sản lượng tôm toàn tỉnh năm 2019 phấn đấu đạt 4.800 tấn. Tính chung 4 tháng, diện tích tôm thả nuôi ước đạt 1.957 ha, bằng 71,16% kế hoạch năm.         Trong tháng không phát sinh dịch bệnh trên thủy sản nuôi trồng.         2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư         - Sản xuất công nghiệp: Hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 4/2019 vẫn ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo mà cụ thể là nhờ sự đóng góp từ hoạt động sản xuất thép của dự án Formosa.          Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 34,91%). Trong mức tăng chung 4 tháng đầu năm của toàn ngành thì ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngành có mức đóng góp cao nhất, tăng 40,73%, đóng góp 31,12 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 4 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất máy móc, thiết bị tăng 2,06 lần; sản xuất than cốc tăng 60,4%; khai khoáng khác tăng 58,91%; sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 47,74%. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 88,07%; khai thác quặng kim loại giảm 63,89%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 36,43%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 36,1% ...              Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Chè (trà) nguyên chất tăng 180,57%; mực đông lạnh tăng 113,43%; thức ăn cho gia súc tăng 75,19%; than cốc tăng 60,4%; đá xây dựng khác tăng 59,93%; thép tăng 47,75%. Một số sản phẩm lại giảm mạnh như: Quặng zircon giảm 65,79%; bê tông tươi giảm 65,31%; gạch nung giảm 48,21%; quặng inmenit giảm 44,15%.         Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2019 giảm 0,2% so với tháng trước và giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019 giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 6,6% và 3,6%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn ổn định và tăng nhẹ với mức tăng 2%. - Vốn đầu tư: Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2019 ước đạt 263,88 tỷ đồng, tăng 6,57% so với tháng trước và tăng 0,86% so với cùng kỳ năm trước. Các nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã, cộng với các nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu được phân bổ và giải ngân kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các công trình nên tiến độ thi công được đảm bảo. Mặt khác, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đang trong giai đoạn gấp rút về đích ở một số xã nên việc đầu tư cơ sở hạ tầng tiếp tục phát triển mạnh, ngoài nguồn vốn Trung ương hỗ trợ còn có nguồn vốn cân đối ngân sách huyện, cân đối ngân sách xã và nguồn đóng góp của nhân dân, nên vốn đầu tư thực hiện thuộc ngân sách nhà nước địa phương quản lý tăng so với tháng trước. Tính chung 4 tháng, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 904,34 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước chỉ tăng nhẹ, với mức tăng 4,01%, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 606,71 tỷ đồng, tăng 23,46%; cấp huyện ước đạt 201,64 tỷ đồng, tăng 1,6%; cấp xã ước đạt 95,99 tỷ đồng, giảm 46,53%.         3. Thương mại, dịch vụ        - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 4/2019 vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ năm trước, tăng chủ yếu ở kinh tế cá thể (tăng 18,0% so với cùng kỳ năm trước) và kinh tế tư nhân (tăng 7,15% so với cùng kỳ năm trước). Một số nhóm mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Lương thực, thực phẩm tăng 18,88%; hàng may mặc tăng 18,53%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 15,09%; xăng, dầu các loại tăng 14,79%... Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 12.712,99 tỷ đồng, tăng 12,38% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 671,06 tỷ đồng, tăng 5,4%; ngoài Nhà nước ước đạt 12.041,85 tỷ đồng, tăng 12,88% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,09 tỷ đồng. Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn những tháng đầu năm vẫn dữ được mức tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ năm trước, chưa có sự đột phá nào lớn xẩy ra.  - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Tháng 4/2019, nhu cầu tham quan du lịch của người dân tăng lên, đặc biệt là các điểm du lịch sinh thái Đồng Nôi, Quỳnh Viên, khu trang trại Hoa hồng ở huyện Thạch Hà. Mặt khác, đây cũng là tháng bắt đầu bước vào mùa du lịch biển nên lượng khách trong và ngoài tỉnh đến với các bãi biển ở Hà Tĩnh tăng lên, từ đó làm cho doanh thu tăng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính vẫn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 10,13%). Trong đó, doanh thu dịch vụ ăn uống vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu các hoạt động dịch vụ này (chiếm đến 92,96%).         - Hoạt động dịch vụ khác: Là tháng trùng với dịp nghỉ các ngày lễ lớn như: Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5 thời gian nghỉ dài ngày nên nhu sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí tăng. Đặc biệt trên địa bàn tỉnh từ những ngày cuối tháng tổ chức khai trương các điểm du lịch biển nên dự kiến lượng khách đến tham quan nghỉ mát sẽ tăng dẫn đến các hoạt động dịch vụ tăng.         Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 519,25 tỷ đồng, tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí (tăng 12,1%); y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng 13,07%); dịch vụ khác (tăng 4,57%). Dự kiến sang tháng 5/2019, là mùa cao điểm của hoạt động xây dựng nên nhu cầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ tăng. Ngoài ra, các dịch vụ khác như dịch vụ Y tế, vui chơi giải trí, dịch vụ sửa chữa tiếp tục có xu hướng tăng.         - Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 4/2019 ước đạt 2,14 triệu lượt hành khách, tăng 1,02%, khối lượng luân chuyển đạt 371,84 triệu lượt hành khách.km, tăng 1,94% so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 164,02 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 8,37 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 1.450,2 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,24% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 8,92% về lượt hành khách luân chuyển; doanh thu ước đạt 637,41 tỷ đồng, tăng 10,93% so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết nắng nóng, nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải công cộng tăng. Cùng với đó là tháng rơi vào dịp nghỉ lễ 30/4 - 01/5 nên lượng khách đến tham quan du lịch cũng như về thăm quê tăng đã làm cho vận tải hành khách tăng lên. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4/2019 ước đạt 2,87 triệu tấn, tăng 1,09% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 67,47 triệu tấn.km, tăng 2,29%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 251,28 tỷ đồng, tăng 2,51% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 11,99 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 292,71 triệu tấn.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,97% về khối lượng vận chuyển và tăng 9,72% về khối lượng luân chuyển; doanh thu ước đạt 1.000,2 tỷ đồng, tăng 10,54% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 4, là thời điểm hầu hết các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, nên nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng tăng. Cùng với đó thì nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng gia đình (hàng điện tử, điện lạnh, hàng hóa đồ dùng, dụng cụ gia đình, nước giải khát, hàng may mặc...) cũng tăng lên nên làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng. - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 4/2019 ước đạt 41,9 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước và giảm 37,13% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, doanh thu ước đạt 182,79 tỷ đồng, giảm 30,59% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tháng 4/2019 tăng hơn so với tháng trước, do trong tháng nhu cầu đăng kiểm phương tiện và số lượng hàng hóa thông qua cảng tăng. So với cùng kỳ năm trước lại giảm mạnh là do Công ty TNHH MTV Hạ tầng Sông Đà (Công ty chiếm gần 50% thị phần trong hoạt động dịch vụ hỗ trợ kho bãi vận tải) đã tạm ngừng hoạt động trạm thu phí Cầu Rác (huyện Cẩm Xuyên). 4. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá CPI tháng 4 năm 2019 tăng 0,33% so tháng trước, tăng 1,63% so cùng tháng năm trước và tăng 0,44% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,27% và khu vực nông thôn tăng 0,38%. CPI tháng 4 năm nay tăng so với tháng trước do một số nguyên nhân chủ yếu: (1) Giá xăng dầu bình quân tăng mạnh so tháng trước; (2) Giá vật liệu xây dựng, dịch vụ cho thuê nhà tăng và giá điện cơ sở được điều chỉnh tăng; (3) Thời tiết nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, hàng dệt may, hàng điện máy tăng. Bên cạnh các nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước do những nguyên nhân trên thì so với tháng trước, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá giảm 0,47%, nguyên nhân chủ yếu do giá thóc, giá gạo và giá ngô giảm, cùng với ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi nên giá thịt lợn đầu tháng và giữa tháng giảm mạnh; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,06%, do một số mặt hàng điện thoại giá rẻ được tung ra thị trường khiến nhu cầu tiêu thụ các loại có model cũ giảm làm cho giá giảm.           Chỉ số giá vàng tháng 4/2019 giảm 0,8% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,09% và tăng 2,11% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng ngày 21/4/2019 tại địa bàn thành phố Hà Tĩnh ở mức 3.705 ngàn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2019 tăng 0,02% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,85% và giảm 0,1% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/4/2019 mức giá bán ra 2.323 ngàn đồng/100USD. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2019 tăng 1,49% so với bình quân cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn 1,83 điểm % so với mức tăng bình quân 4 tháng năm 2018, trong đó khu vực thành thị tăng 1,21% và khu vực nông thôn tăng 1,69%. Một số nhóm hàng có CPI bình quân tăng cao hơn mức tăng bình quân chung là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,03%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,54%; may mặc, mũ nón và dày dép tăng 3,44%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,78%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,06%. Chỉ số CPI tháng 5/2019 dự kiến tiếp tục tăng. Do sang tháng các mặt hàng, dịch vụ liên quan đến ngành du lịch như: Dịch vụ ăn uống; hàng thuỷ hải sản; giá phòng lưu trú và dịch vụ lữ hành dự kiến tăng mạnh. Cùng với đó thì do điều kiện thời tiết nắng nóng nên lượng tiêu thụ điện và nước sinh hoạt cũng sẽ tăng làm cho giá tăng.          5. Các vấn đề xã hội         5.1. Tình hình đời sống dân cư Do thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho người dân chủ động trong việc sản xuất các loại cây trồng và làm thêm các ngành nghề khác tăng thêm thu nhập. Công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội, trợ cấp cho hộ nghèo, cận nghèo cũng được quan tâm, thực hiện đầy đủ và kịp thời. Vì vậy, trong tháng 4/2019 trên địa bàn toàn tỉnh không phát sinh hộ thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra.          5.2. Hoạt động Y tế  - Tình hình dịch bệnh: Công tác y tế và vệ sinh phòng chống dịch bệnh được thực hiện thường xuyên. Trong tháng 4/2019, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Tĩnh đã cung cấp hơn 40 ngàn chiếc màn tẩm hóa chất cho người dân tại 40 xã trọng điểm trên địa bàn nhằm phòng chống sốt rét; tổ chức phun hàng trăm lít hoá chất FENDONA diệt muỗi gây bệnh sốt rét tại các khu vực nguy cơ cao thuộc 3 xã trọng điểm về sốt rét là Kỳ Sơn (huyện Kỳ Anh), Sơn Kim 1 (huyện Hương Sơn) và xã Hương Lâm (huyện Hương Khê); tổ chức tuyên truyền về các dấu hiệu của bệnh và các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có 37 trường hợp sốt rét, 19 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 25 trường hợp mắc lỵ a míp và không có trường hợp nào bị tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác thông tin, giáo dục truyền thông nâng cao kiến thức phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt tăng cường hoạt động truyền thông thay đổi hành vi cho các nhóm người dễ bị nhiễm HIV, dễ bị tổn thương và thanh thiếu niên; tiếp tục sử dụng phương pháp điều trị Methadone, đặc biệt là các nhóm đối tượng có nguy cơ cao (đối tượng nghiện tiệm chích ma túy; phụ nữ bán dâm; quan hệ tình dục đồng giới...); duy trì có hiệu quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone. Trong tháng 4/2019, Hà Tĩnh có 8 trường hợp nhiễm HIV (tăng 5 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 10 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (tăng 6 trường hợp) và 1 trường hợp chết vì AIDS (giảm 2 trường hợp).    - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Đây là tháng hành động vì an toàn thực phẩm (ATTP) năm 2019 diễn ra từ ngày 15/4 đến ngày 15/5 với chủ đề “Nói không với thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng”, nhằm đề cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật về ATTP; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra về ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tăng cường giám sát, hậu kiểm tại các địa phương; tăng cường các giải pháp giảm thiểu ngộ độc do tiêu dùng thực phẩm không an toàn, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng. Trong tháng, đã xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể ở huyện Cẩm Xuyên và huyện Hương Khê làm 70 người bị ngộ độc. Ngoài ra, còn có 126 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 3,08% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm.          5.3. Hoạt động văn hóa - thể thao         - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, tại chùa Đại Hùng (phường Đậu Liêu - thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh), UBND thị xã Hồng Lĩnh tổ chức Đại lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng vương và chương trình văn nghệ “Tiếng hát từ cội nguồn”. Chương trình nghệ thuật đã tái hiện truyền thống dựng nước và giữ nước hào hùng của các Vua Hùng; đồng thời, góp phần khơi dậy niềm tự hào, nhắc nhở thế hệ trẻ về đạo lý uống nước nhớ nguồn và tình yêu quê hương, đất nước. Nhân dịp mừng thành phố Hà Tĩnh được công nhận đô thị loại II đã tổ chức màn trình diễn pháo hoa rực rỡ, đầy màu sắc, được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng thưởng thức. Ngoài ra, còn có một số hoạt động văn hóa sổi nổi khác như: Tổ chức khai mạc Ngày Sách Việt Nam lần thứ VI và trao giải cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc; tổ chức vui tết Bunpimay - Tết cổ truyền của nước CHDCND Lào cho lưu học sinh Lào đang theo học tại Trường Đại học Hà Tĩnh trong dịp tết cổ truyền. - Hoạt động thể thao: Chào mừng thành phố Hà Tĩnh lên đô thị loại II, mừng ngày lễ Giỗ tổ Hùng Vương, trên địa bàn toàn tỉnh đã diễn ra các hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi như: Giải bóng chuyền nam thành phố Hà Tĩnh; giải vô địch đẩy gậy nam - nữ thị xã Hồng Lĩnh. Thể thao thành tích cao: Tại giải Karatedo Đông Nam Á năm 2019 ở Thái Lan, đoàn Hà Tĩnh có 4 VĐV tham gia và xuất sắc giành được 4 huy chương (3 HCV, 1 HCĐ); tại Giải đua thuyền Rowing vô địch các CLB toàn quốc năm 2019 ở thành phố Đà Nẵng, đoàn VĐV Hà Tĩnh giành được 7 huy chương (1 HCV, 5 HCB, 1 HCĐ) và đứng thứ 5 toàn đoàn; còn ở Giải vô địch Việt dã toàn quốc và Marathon Báo Tiền phong năm 2019, đoàn Hà Tĩnh có 6 VĐV tham dự và giành được 2 HCV, 1 HCB.          5.4. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         - Về an toàn giao thông: Tính từ ngày 16/3/2019 đến ngày 15/4/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người, bị thương 1 người. So với tháng trước giảm 3 vụ, giảm 1 người chết và giảm 3 người bị thường; so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn và số người chết không thay đổi, giảm 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu bia khi tham gia giao thông, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.         Như vậy, tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/4/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 42 người và bị thương 22 người. So với cùng kỳ năm 2018 giảm 3 vụ, giảm 6 người chết và tăng 6 người bị thương. 5.5. Môi trường         - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 15 vụ cháy, nổ (gồm có 13 vụ cháy và 2 vụ nổ); so với cùng kỳ năm trước tăng 9 vụ cháy và 2 vụ nổ; ước tính thiệt hại 6,37 tỷ đồng; làm chết 1 người và bị thương 1 người. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn trong sử dụng lửa, than. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, đã xảy ra 34 vụ cháy, nổ (gồm 30 vụ cháy và 4 vụ nổ), làm 2 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 18,49 tỷ đồng.         - Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu cùng chung tay bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra về công tác bảo vệ môi trường, trong tháng phát hiện 2 vụ vi phạm môi trường, xử lý 1 vụ với số tiền 2 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, đã kiểm tra phát hiện 26 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 21 cơ sở với số tiền 41 triệu đồng.

Tình hình Kinh tế - xã hội quý I năm 2019
  •   22/07/2024 15:41

Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2019 trong điều kiện có những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2018, những tháng đầu năm 2019 đang phát triển theo xu hướng tích cực, đặc biệt là sự đi vào hoạt động sản xuất ổn định của Dự án Fomosa Hà Tĩnh đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước. Tuy nhiên, cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; diễn biến thời tiết, thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn những rủi ro; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn hạn chế; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Nhưng với sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả của các cấp, các ngành, các địa phương, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân nên mặc dù không có bước phát triển đột phá nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội quý I/2019 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn ổn định với những kết quả chủ yếu như sau:         1. Tài chính, ngân hàng            - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2019 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Đây là tín hiệu tích cực nhưng để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước trong năm 2019 thì vẫn còn nhiều khó khăn thách thức. Trong thu cân đối ngân sách thì thu hải quan chiếm 52% và thu nội địa chiếm 27,7%. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách Trung ương chiếm 43,1% tổng thu ngân sách Nhà nước. Bên cạnh kết quả thu hải quan đạt khá (đạt 23,56%) thì thu nội địa còn đạt thấp so với dự toán năm 2019.          Cùng với việc thực hiện thu ngân sách thì việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 35,8% tổng chi, tăng 119,5% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 30,54% tổng chi, tăng 7,72% so với cùng kỳ; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới chiếm 33,5% tổng chi và giảm 3,27% so với cùng kỳ năm 2018.         - Hoạt động ngân hàng: Trong qúy I năm 2019, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã triển khai nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tiền tệ, ngân hàng năm 2019. Trong 3 tháng đầu năm 2019, các giao dịch ngân hàng diễn ra sôi động. Nguồn vốn và dư nợ tín dụng tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,6-1,0% đối với tiền gửi không kỳ hạn; từ 4,3-5,5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-6,5%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 6,5-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên từ 6-6,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn, từ 9-10%/năm đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay thông thường từ 6,8-9% đối với khoản vay ngắn hạn, từ 9,3-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Hoạt động mua bán, kinh doanh ngoại tệ và vàng trên địa bàn diễn ra bình thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch.          Bên cạnh kết quả đạt được thì mặc dù nợ xấu có xu hướng giảm so với cuối năm 2018 nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn và khó xử lý. Nguyên nhân là do một số doanh nghiệp lớn làm ăn kém hiệu quả (như doanh nghiệp Bình Hà chiếm 54,9% tổng nợ xấu và nợ xấu cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP tính đến 28/2/2019 chiếm 8,25%).         2. Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2019 giảm 0,21% so tháng trước, tăng 1,32% so cùng tháng năm trước và tăng 0,11% so với tháng 12 năm trước. So với tháng trước thì khu vực thành thị giảm 0,38% và khu vực nông thôn giảm 0,09%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 2 nhóm là: Thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục có chỉ số giá không thay đổi so với tháng trước; 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,96%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18% và nhóm giao thông tăng 1,49%. Còn lại có 6 nhóm hàng hoá có chỉ số giảm so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,68%; đồ uống và thuốc lá giảm 1,38%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,57%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,43%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%; bưu chính viễn thông giảm 0,46%. Nguyên nhân chính tác động đến CPI tháng 3 năm 2019 so với tháng trước chủ yếu là do: (1) Là tháng sau Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, đặc biệt các nhóm hàng hóa lương thực, thực phẩm, đồ uống, hàng may mặc...đều có xu hướng giảm mạnh so tháng trước; (2) Giá xăng dầu bình quân giảm so tháng trước; (3) Giá vật liệu xây dựng và dịch vụ cho thuê nhà tăng. Cùng với đó, khối lượng tiêu dùng điện và nước sinh hoạt cũng tăng cao hơn so với tháng trước; (4) Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn trong nước ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, việc tiêu thụ gặp khó khăn ảnh hưởng đến giá các mặt hàng thịt lợn. CPI 3 tháng đầu năm 2019 tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,21% và khu vực nông thôn tăng 1,61%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,25%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,58%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,10%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,40%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,22%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 8,35%; giao thông giảm 2,92%; bưu chính viễn thông giảm 1,20%; giáo dục tăng 0,47%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 3,17%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ số giá bình quân quý I năm 2019 tăng ở mức thấp, điều đó thể hiện công tác kiềm chế lạm phát đang được triển khai thực hiện với những tín hiệu tích cực. Nguyên nhân làm cho thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ quý I năm 2019 tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước là do: Dịp Tết Nguyên đán rơi vào thời điểm giữa quý nên đã làm cho các nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hoa, cây cảnh, giao thông, đồ uống, thuốc lá tăng mạnh so với quý trước. Cùng với đó, nhiều mặt hàng tăng giá mạnh do việc điều chỉnh các chính sách về giá cũng đã ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá chung như: Giá dịch vụ y tế, giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu, vàng và đô la Mỹ. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 4/2019 tiếp tục tăng so với tháng trước. Trong đó các nhóm hàng hóa như giá khách sạn, nhà nghỉ, thực phẩm hải sản dự kiến tăng cao do bước vào mùa du lịch biển. Cũng do thời tiết chuyển mùa nắng nóng nên nhu cầu mua sắm đồ dùng điện lạnh, quạt điện sẽ tăng. Bên cạnh đó thì giá điện sinh hoạt vừa có quyết định tăng giá kể từ ngày 18/3/2019 sẽ tác động đến giá các nhóm mặt hàng tiêu dùng.         3. Đầu tư và xây dựng         3.1. Đầu tư phát triển          Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I hàng năm giai đoạn 2015-2019 liên tục giảm mạnh qua các năm. Thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội quý I năm 2019 ước tính đạt thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, giảm 29,33% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 23,23% so với quý I năm 2015. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (quý I năm 2015 chiếm 86,1% tổng vốn đầu tư), nhưng nay do dự án Formosa đã hoàn thành nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh (quý I năm 2019 chỉ chiếm 19,1% tổng vốn đầu tư); tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I năm 2019 giảm 74,79% so với cùng kỳ năm trước và chỉ bằng 5,15% so với quý I năm 2015. Mặc dù nguồn vốn Nhà nước và vốn ngoài nhà nước tuy có tăng nhẹ nhưng khi chưa có các dự án lớn được triển khai thực hiện trên địa bàn, trong khi Dự án Formosa đã hoàn thành thì nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đang tiếp tục có xu thế giảm.         3.2. Xây dựng         Trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thì vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm 88,09% tổng nguồn vốn đầu tư. Nhưng do nguồn vốn đầu tư phát triển quý I năm 2019 giảm 29,33% nên giá trị sản xuất của ngành xây dựng chỉ tăng nhẹ với mức tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động xây dựng trong qúy I năm 2019 chủ yếu là các công trình nhà không để ở (tăng 105,8% so với cùng kỳ năm trước) và các công trình công trình kỹ thuật dân dụng (tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước). Hiện nay trên địa bàn các công trình dự án trọng điểm vẫn đang triển khai thực hiện đảm bảo tiến độ như: Dự án công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang; dự án thí điểm nhà ở xã hội tại phường Thạch Linh - Thành phố Hà Tĩnh; dự án Phát triển nông thôn bền vững vì người nghèo Hà Tĩnh (SRDP); dự án chung cư Winhouse Hàm Nghi - Hà Tĩnh; dự án Vinhomes New centrel Hà Tĩnh; các công trình xây dựng thành phố Hà Tĩnh đạt đô thị loại II; cầu Cửa Hội vượt sông Lam nối hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh; công trình nâng cấp tuyến đường ven biển Xuân Hội - Thạch Khê - Vũng Áng; cầu cảng số 4 Vũng Áng...         4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 20/3/2019, toàn tỉnh thành lập mới 181 doanh nghiệp, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký đạt 2.540 tỷ đồng, tăng 136% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân đạt 14 tỷ đồng/doanh nghiệp. Những năm qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới luôn tăng so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng tăng khá cao, điều đó thể hiện quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, 3 tháng đầu năm 2019 đã giải quyết được 1.308 việc làm cho lao động mới. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 907 lao động, chiếm 69,3% trong tổng số, quy mô bình quân 6,2 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 401 lao động, chiếm 30,7% trong tổng số, quy mô 11,8 lao động/doanh nghiệp. Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động là 40 doanh nghiệp (tăng 11%) và số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 114 doanh nghiệp (tăng 16,3%) so cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, trong 3 tháng đầu năm đã có 99 doanh nghiệp hoạt động trở lại (tăng 65%) so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng cũng tăng mạnh, thể hiện các doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý I/2019 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Về tổng quan tình hình SXKD của doanh nghiệp có 53,34% số doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 15,56% khẳng định SXKD tốt lên và 37,78% khẳng định giữ ổn định) và có 46,67% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý II/2019 so với quý trước, có 73,34% số doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 35,56% số doanh nghiệp dự báo tốt lên và 37,78% số doanh nghiệp dự báo ổn định), bên cạnh đó còn có 26,67% số doanh nghiệp nhận định tiếp tục gặp khó khăn hơn. Dự báo xu hướng quý II/2019 so với quý trước có 36,4% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 31,8% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt giảm; 37,8% doanh nghiệp có khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 37,8% doanh nghiệp có khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 71,1% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 60% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 53,3% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” và 37,8% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.        Đánh giá về biến động lao động quý I/2019 so với quý IV/2018, có 80% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 6,7% khẳng định tăng lên và 73,3% khẳng định giữ ổn định) và 20% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý II/2019 so với quý trước, có 80% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 4,4% khẳng định tăng lên và 75,6% khẳng định giữ ổn định) và có 20% số doanh nghiệp khẳng định lao động giảm.         5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                   5.1. Nông nghiệp         - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong quý I/2019, tập trung chủ yếu vào chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2018 và gieo trồng, chăm sóc cây vụ Xuân năm 2019.          + Kết quả sản xuất vụ Đông 2018: Với điều kiện thời tiết thuận lợi nên nhìn chung kết quả sản xuất một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2018 đạt khá so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 13.212 ha, bằng 102,29%, tăng 296 ha so với năm trước. Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2018 như đã phản ánh ở phần trên.         + Kết quả sản xuất vụ Xuân 2019: Với các giải pháp trong sản xuất vụ Xuân 2019 như: Cung cấp giống và phân bón có chất lượng và giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống đúng lịch thời vụ; theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi là những yếu tố tích cực để sản xuất vụ Xuân 2019. Tổng diện tích gieo trồng cây vụ Xuân 2019 ước đạt 85.799 ha, bằng 99,68%, giảm 274 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trỉa các loại cây trồng chủ lực vụ Xuân như lúa, ngô, rau năm nay đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có diện tích lạc giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân do hiện nay giá lạc giống cao, làm lạc cần nhiều công chăm sóc nhưng giá bán lại thiếu ổn định nên người dân đã chuyển đổi sang sản xuất các loại cây trồng khác. Cùng với đó là một số đất trồng lạc nằm trong quy hoạch đường ven biển bị thu hồi để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nên diện tích giảm. Hiện nay các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng, đặc biệt là thăm đồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại cây trồng vụ Xuân.          + Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Thời tiết đang bước vào tiết Vũ Thủy trời âm u, có mưa, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng dịch bệnh phát sinh gây hại đối với cây trồng. Hiện nay trên cây lúa một số đối tượng sâu bệnh cũng đã phát sinh gây hại như: Bệnh đạo ôn xuất hiện rải rác trên các giống lúa P6, Xi23, NX30, XT28, TBR225, VTNA2, VTNA6...Tính đến ngày 4/3/2019, diện tích nhiễm bệnh là 151 ha (Đức Thọ 70 ha, Cẩm Xuyên 55ha, Nghi Xuân 9 ha, Hồng Lĩnh 5 ha, Lộc Hà 4,5 ha, Thạch Hà 2 ha, thị xã Kỳ Anh 2 ha, Kỳ Anh 1 ha, Hương Khê 1 ha, Vũ quang 1 ha, Hương Sơn 0,5 ha), trong đó nhiễm nặng 1,75 ha, tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ 30-40%. Hiện nay, cây lúa đang thời kỳ đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát sinh gây hại và có nguy cơ lây lan trên diện rộng. Bên cạnh bệnh đạo ôn thì các đối tượng như: Chuột, bọ trĩ, rầy nâu, rầy lưng trắng cũng đã xuất hiện gây hại đối với cây lúa. Bệnh héo rũ gốc mốc đen, gốc mốc trắng, lở cổ rễ trên cây lạc và nhóm sâu ăn lá, nấm trên cây rau cũng đã phát sinh sây hại nhưng mức độ ảnh hưởng còn nhẹ.          Để phòng trừ sâu, bệnh gây hại, đối với bệnh đạo ôn cần phải thường xuyên thăm đồng, theo dõi chặt chẽ diễn biến của bệnh, khi phát hiện bệnh ngừng bón đạm, không phun các loại phân bón qua lá có chứa đạm, duy trì mực nước hợp lý và tiến hành xử lý bằng một trong các loại thuốc như: Beam 75WP, Kasoto 200SC, Fuji one 40WP, Fu Nhật 40WP, Kabim 30WP, Ninja 35SE, Ka-Bum 800WP...Chỉ phun thuốc khi trời tạnh ráo, sau khi phun thuốc 5-7 ngày, điều tra nếu thấy vết bệnh cấp tính thì tiến hành xử lý thuốc lần 2. Đối với ruồi đục nõn cũng cần phát hiện sớm (nhổ cây lúa lên đập nhẹ 2-3 cái sẽ thấy sâu non (dòi) rơi xuống) tiến hành phòng trừ kịp thời bằng một trong các loại thuốc hóa học sau: Padan 95SP, Virtako 40WG, Tango 800 WP, Tasieu 1.9EC...Trên cây lạc cần theo dõi chặt chẽ diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen, gốc mốc trắng, lở cổ rễ và nhóm sâu ăn lá, nấm trên cây rau...Để hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra, cùng với việc diệt trừ các loại sâu bệnh đã phát sinh gây hại thì bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng, theo dõi, phòng trừ các đối tượng gây hại đối với cây trồng vụ Xuân, nhất là bệnh đạo ôn.           - Chăn nuôi: Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2019 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi (chỉ có kết quả chăn nuôi gia cầm tăng). Hoạt động chăn nuôi trong những tháng đầu năm 2019 đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, tình hình dịch bệnh luôn tiềm ẩn và diễn biến phức tạp nên người chăn nuôi chậm tái đàn làm cho tổng đàn giảm. Cùng với đó, các dự án chăn nuôi bò lớn trên địa bàn tỉnh cũng đều gặp khó khăn, trong đó có Dự án chăn nuôi bò của Công ty Cổ phần chăn nuôi Bình Hà là dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi ở Hà Tĩnh nhưng hoạt động kém hiệu quả, không đạt được kết quả như mong đợi nên nay đã ngừng sản xuất chăn nuôi. Mặc dù trong thời gian qua giá các sản phẩm chăn nuôi đang khá cao nhưng đứng trước những khó khăn và thách thức như trên thì người chăn nuôi vẫn chưa giám đầu tư phát triển sản xuất. Nhìn chung, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn những tháng đầu năm 2019 cũng như thời gian tới đang thiếu sự ổn định và luôn tiềm ẩn nhiều rũi ro đối với người chăn nuôi do dịch bệnh cũng như không chủ động được thị trường tiêu thụ sản phẩm.          Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra dịch lở mồm long móng đối với đàn gia súc tại 28 xã, phường, thị trấn thuộc 8 huyện, thành phố (Can Lộc, Hương Khê, Đức Thọ, Thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh) làm cho 3.757 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 3.711 con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy. Hiện tại, có 2 xã là Trung Lộc và Vượng Lộc thuộc huyện Can Lộc đang có dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày. Hiện nay, trên địa bàn Hà Tĩnh chưa phát hiện trường hợp động vật mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi. Tuy nhiên, dịch tả lợn Châu Phi đang tiềm ẩn cao nguy cơ phát sinh trên diện rộng (đến ngày 15/3/2019, dịch đã phát sinh tại 17 tỉnh phía Bắc, trong đó có tỉnh Nghệ An). Trước tình hình đó, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành văn bản và tổ chức chỉ đạo thực hiện các giải pháp cấp bách chủ động ứng phó với bệnh dịch tả lợn Châu Phi, nhất là kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, buôn bán, giết mổ động vật, vệ sinh phòng dịch.           5.2. Lâm nghiệp                                                                              Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán trong qúy I năm 2019 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng lâm sản khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng cây phân tán cũng giảm so với cùng kỳ do quỹ đất trồng cây phân tán ở các khu đô thị ngày càng bị thu hẹp.          Bên cạnh hoạt động sản xuất lâm nghiệp thì công tác tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng tại gốc cũng luôn được tập trung chỉ đạo thực hiện, tình hình quản lý bảo vệ rừng ổn định, các vụ vi phạm được ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm. Trong quý I năm 2019, không có cháy rừng xẩy ra nhưng đã phát hiện, xử lý 56 vụ vi phạm, tịch thu 63,2 m3 gỗ và 6 kg động vật rừng.          5.3. Thuỷ sản Mặc dù chưa có sự tăng trưởng đột phá nhưng trong 3 tháng đầu năm 2019 hoạt động sản xuất thủy sản vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Với những chuyến biển đầu năm của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa, cùng với việc các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi là nguyên nhân làm cho sản lượng thủy hải sản tăng so với cùng kỳ.          Năm 2019, nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Vì vậy, đã xây dựng kế hoạch với tổng diện tích thả nuôi toàn tỉnh là 2.750 ha (tăng 49 ha so với năm 2018), trong đó: Nuôi tôm thâm canh, công nghệ cao là 920 ha; bán thâm canh là 450 ha; quảng canh, quảng canh cải tiến 1.380 ha. Với sản lượng tôm toàn tỉnh năm 2019 phấn đấu đạt 4.800 tấn. Để cung cấp nguồn giống chất lượng cao cho người dân nuôi tôm trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Sản xuất tôm giống Thông Thuận ở xã Cương Gián (Nghi Xuân) đã nhập khẩu hơn 400 cặp tôm bố mẹ từ Mỹ về cho sinh sản. Đồng thời đầu tư máy nâng nhiệt của Nhật về đảm bảo điều kiện cho con tôm phát triển tốt nhất. Hiện tại, đơn vị đã sản xuất được 40 triệu con tôm giống khỏe mạnh, được kiểm dịch đầy đủ để cung cấp ra thị trường. Thời điểm này, bà con nông dân đang khẩn trương thu hoạch tôm vụ đông muộn và tập trung cải tạo ao hồ nuôi để xuống giống vụ Xuân Hè năm 2019. Trong quý I năm 2019 không xẩy ra dịch bệnh đối với hoạt động nuôi trồng thủy hải sản.        6. Sản xuất công nghiệp                 Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3/2019 ước tính tăng 14,08% so với tháng trước và tăng 17,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 29,68% so với tháng trước và giảm 9,27% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,66% so với tháng trước và tăng 24,54% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 11,3% so với tháng trước và giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,15% so với tháng trước và tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán dài ngày trong tháng 2/2019 thì hoạt động sản xuất công nghiệp đã trở lại sản xuất ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở công nghiệp chế biến, chế tạo.          Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 33,83%). Như vậy, tính trong vòng 5 năm trở lại đây thì quý I năm 2019 vẫn duy trì được mức tăng cao và ổn định. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 3 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất than cốc tăng 72,88%; sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 51,12%; sản xuất sản phẩm từ kim loại tăng 20,89%...Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: Khai thác quặng kim loại giảm 80,19%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 37,71%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 26,91%...Trong những năm qua cũng như hiện nay, hoạt động sản xuất công nghiệp ở Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng rất lớn từ dự án Formosa (chủ yếu là sản phẩm thép, điện), từ lúc dự án đi vào hoạt động đã đóng góp nhiều cho tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cũng như kinh tế chung của tỉnh. Nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 3 tháng đầu năm chỉ bằng 92,21% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 14,55%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,06%; sản xuất và phân phối điện giảm 13,83%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,99% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm khi không có yếu tố Fomorsa là do một số ngành cấp II có tỷ trọng lớn giảm so cùng kỳ như: Sản xuất trang phụ giảm 13,3%; chế biến gỗ giảm 37,7%; in ấn giảm 18,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (gạch ngói, bê tông tươi) giảm 26,91%. Ngành sản xuất và phân phối điện giảm do trong tháng 02/2019 Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh ngừng vận hàng tổ máy số 2 (từ ngày 01-20/2) để khắc phục sự cố bất thường do đó sản lượng giảm so cùng kỳ. Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thời gian tới dự kiến vẫn duy trì mức tăng khá và kết quả hoạt động sản xuất từ dự án Formosa vẫn là nhân tố quyết định mức tăng trưởng chung của toàn ngành.         Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2019 tăng 16,79% so với tháng trước và tăng 18,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 46,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Chế biến thực phẩm tăng 51,5%; sản xuất kim loại (chủ yếu thép) tăng 56%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 26,3%; sản xuất sản phẩm sản xuất than cốc tăng 18,8%...Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: May trang phục giảm 33,5%; cưa, xẻ, bào gỗ giảm 48,9%; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét giảm 25,6%...         Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2019 tăng 38,31% so với tháng trước và tăng 117,68% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mặc dù chỉ số tiêu thụ có tăng nhưng mức tăng chỉ số tồn kho vẫn cao hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến trên địa bàn đang gặp nhiều khó khăn. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc tăng 4,1 lần; cưa, xẻ, bào gỗ tăng 71,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 214,1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 132,9%.         Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3/2019 giảm 0,02% so với tháng trước và giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2019 giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước giảm lần lượt là 6,7% và 3%, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ 3,2%.         6. Thương mại, dịch vụ 6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 3/2019, ước tính tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 3.158,95 tỷ đồng, tăng 13,25% so cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Ô tô tăng 54,55%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 14,63%; lương thực, thực phẩm tăng 15,94%...Sau khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Kỷ Hợi thì sức mua hàng hóa đã giảm xuống trong tháng 3 làm cho mức tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2019 thấp hơn so với mức tăng tháng trước. Với mức tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá quý I năm 2019 so với cùng kỳ năm trước đạt 13,88%, trong khi chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 1,44%, thể hiện lượng hàng hóa tiêu thụ tăng khoảng 9,6%%, điều này cũng đồng nghĩa với việc mức sống và sức mua hàng hóa của người dân đang ngày càng tăng lên. Để phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao và bình ổn giá cả thị trường trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi. Ngay từ đầu năm 2019, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp bình ổn giá; chỉ đạo các đơn vị tổ chức hơn 30 chuyến hàng lưu động về các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa với giá cả hợp lý; các doanh nghiệp trên địa bàn có hệ thống phân phối lớn (đại lý cấp I) và hệ thống bán lẻ phục vụ người tiêu dùng đã thực hiện dự trữ hàng hóa với giá trị trên 100 tỷ đồng; hàng hóa đa dạng về mẫu mã, đảm bảo chất lượng và phù hợp nhu cầu của người dân...Vì vậy, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn trong quý I năm 2019 vẫn được đáp ứng đảm bảo nhu cầu của người tiêu dùng, với giá cả ổn định. Dự báo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn trong thời gian tới vẫn tiếp tục có xu hướng tăng, nhưng với mức tăng không quá cao. Lượng cung hàng hóa vẫn dồi dào về số lượng, đa dạng về chủng loại, đảm bảo về chất lượng và sẽ đáp ứng được đầy đủ sức mua của người tiêu dùng. Một số nhóm hàng hóa có thể sẽ tăng cao như: Hàng lương thực, thực phẩm; hàng may mặc; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình; vật liệu xây dựng...    - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 3/2019 chỉ tăng nhẹ so với tháng trước, với mức tăng 2,25%. Như vậy, sau kỳ du lịch trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi thì nhu cầu du lịch, lễ hội, đền chùa của người dân đã tạm thời lắng xuống làm cho doanh thu hoạt động lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng 3/2019 đã giảm 1,76% so với tháng trước. Tính chung quý I năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính vẫn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 11,86%). Trong đó, doanh thu dịch vụ ăn uống vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu các hoạt động dịch vụ này (chiếm đến 92,91%). Nhìn chung, cùng với hoạt động lưu trú và dịch vụ lữ hành thì số lượng cơ sở dịch vụ ăn uống trên địa bàn đang ngày càng phát triển và nhu cầu ăn uống ngoài gia đình của người dân cũng đang có xu hướng tăng lên. Dự báo thời gian tới, khi thời tiết nắng nóng lên và mùa du lịch biển đến sớm hơn thì kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trên địa bàn sẽ có mức tăng cao hơn so với những tháng đầu năm. Cùng với đó thì cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động lưu trú, ăn uống và các dịch vụ lữ hành và hỗ trự du lịch trên địa bàn cũng đang ngày càng được đầu tư phát triển, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tăng cao của người dân trong mùa du lịch năm 2019.          - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 3/2019 giảm 4,18% so với tháng trước. Các thành phần kinh tế đều giảm so với tháng trước, trong đó tác động giảm mạnh nhất là ở thành phần kinh tế cá thể và thành phần kinh tế tư nhân, đây cũng là hai thành phần chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu dịch vụ khác. Nguyên nhân giảm chủ yếu do lượng khách giảm nên doanh thu hoạt động kinh doanh dịch vụ cáp treo khu du lịch Chùa Hương dự ước giảm (giảm 70,97% so với tháng trước và giảm 39,94% so với cùng kỳ) làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ thành phần tư nhân giảm. Cùng với đó thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí, dịch vụ sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình và các dịch vụ làm đẹp, cắt tóc gội đầu cũng đã giảm mạnh so với những tháng trước, trong và sau dịp Tết. Tính chung quý I năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tăng không cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 6,115). Chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí (tăng 10,56%); sửa chữa đồ dung cá nhân, gia đình (tăng 8,34%) và dịch vụ khác (tăng 8,87%). Dự kiến sang tháng 4/2019 do trùng vào dịp nghỉ giổ tổ Hùng Vương và nghỉ lễ 30/4, 1/5 nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi giải trí tăng sẽ tăng làm cho doanh thu dịch vụ khác tăng.         6.2. Hoạt động vận tải         - Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 3/2019 ước đạt 2,11 triệu lượt hành khách, tăng 0,07%, khối lượng luân chuyển đạt 364,75 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,2% so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 161,08 tỷ đồng, tăng 0,28% so với tháng trước. Như vậy, hoạt động vận tải hành khách đã trở lại mức ổn định bình thường không còn tăng cao như nhưng tháng trùng vào dịp Tết Nguyên đán. Tính chung quý I năm 2019, số lượng hành khách vận chuyển ước tính tăng 5,13% với số lượng luân chuyển ước tăng 8,11% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả đó đã làm cho doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước tính tăng 9,76% so với cùng kỳ năm trước. Phương tiện kinh doanh vận tải hành khách trên địa bàn ngày càng được đầu tư nâng cấp với nhiều đầu xe chất lượng cao (các dòng xe limousine) khiến cho giá vé dịch vụ vận tải hành khách tăng hơn nhưng vẫn nhận được sự lựa chọn của hành khách.         - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 3/2019 ước đạt 2,85 triệu tấn, tăng 0,35% so với tháng trước, với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 66,99 triệu tấn.km, tăng 1,64%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 245,1 tỷ đồng, tăng 2,23% so với tháng trước. Tính chung quý I năm 2019, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 10,8%, với khối lượng luân chuyển ước tăng 12,56%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù thời tiết tương đối thuận lợi nhưng do đầu năm các công trình xây dựng cơ bản triển khai còn ít nên hoạt động vận tải hàng hóa những tháng đầu năm 2019 không có biến động nhiều.          - Hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 3/2019 ước đạt 43,59 tỷ đồng, tăng 7,55% so tháng trước và giảm 42,5% so cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2019, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt ước 142,65 tỷ đồng, giảm 27,48% so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ kết quả doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là do Trạm thu phí BOT Cầu Rác trên QL1A dùng để thu phí BOT tuyến tránh thành phố Hà Tĩnh đã tạm dừng thu phí từ 0 giờ ngày 21/2/2019 để tính toán lại phương án tài chính, theo yêu cầu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Nhìn chung, trong qúy I năm 2019 mặc dù nhu cầu đi lại cũng như vận tải hàng hóa của người dân tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nhưng đã được các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn đáp ứng đầy đủ. Dự kiến trong thời gian tới vận tải hành khách nhìn chung ổn định và chỉ tăng nhẹ, nhưng vận tải hàng hóa sẽ tăng cao hơn so với những tháng đầu năm. Nguyên nhân do các công trình xây dựng cơ bản sẽ được triển khai thực hiện nhiều hơn nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa sẽ tăng.         7. Các vấn đề xã hội            7.1. Tình hình lao động việc làm và đời sống dân cư          - Lao động, việc làm: Tình hình lao động việc làm quý I năm 2019, có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt Hà Tĩnh là một trong những địa phương thực hiện tốt phong trào xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động, tăng thu nhập, góp phần thay đổi diện mạo đời sống vật chất, tính thần ở khu vực nông thôn. Ước tính quý I/2019, đã giải quyết việc làm cho 6.431 lao động, tăng 3,28% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh là 3.425 người, tăng 2,82%; xuất khẩu lao động là 1.746 người, tăng 6,08% và lao động đi làm việc ngoại tỉnh là 1.260 người, tăng 0,8%.         Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên quý I/2019 ước tính là 720 ngàn người, chiếm 56,3% tổng dân số toàn tỉnh; số lao động đang làm việc là 695 ngàn người (chiếm 96,53% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 25 ngàn người (chiếm 3,47% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 2,3%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có 323,87 ngàn người, chiếm 46,6%; công nghiệp xây dựng 170,2 ngàn người, chiểm 24,5% và dịch vụ 200,93 ngàn người chiếm 28,9%.          - Đời sống dân cư: Trong quý I năm 2019 tình hình đời sống dân cư vẫn ổn định, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói. Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương, nhờ sự thay đổi mức lương tối thiểu nên được cải thiện hơn, cùng với đó nhờ thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện cho người dân sản xuất nông nghiệp và làm thêm các ngành nghề khác để tăng thêm thu nhập. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời. Các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói trong dịp Tết. Sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra.  7.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội         - Công tác giảm nghèo: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền, các dân tộc và các nhóm dân cư. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã thực sự đi vào cuộc sống, người nghèo đã được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng để phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững (tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 là 6,92%). Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương vẫn còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.         - Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công:     Công tác đảm bảo an sinh xã hội, các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 33.508 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 59.830 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 93.537 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 39.362 thẻ BHYT cho người có công.          Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 207.177 suất quà với tổng kinh phí là 59,8 tỷ đồng, trong đó: Quà cho người có công 94.114 suất với số tiền 21,354 tỷ đồng (quà Trung ương 54.169 suất, kinh phí 11,062 tỷ đồng; quà địa phương 39.945 suất, kinh phí 10,292 tỷ đồng); quà cho đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là 10.825 suất với kinh phí là 3,668 tỷ đồng; quà cho người nghèo 34.533 suất với kinh phí là 13,744 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 47.425 suất với kinh phí là 10 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 6.489 suất với kinh phí là 2,928 tỷ đồng; quà cho đối tượng khác 13.791 suất với kinh phí là 8,106 tỷ đồng. Đồng thời, trao 2 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 83 triệu đồng và xây mới 1 nhà tình nghĩa, trị giá 40 triệu đồng.   7.3. Hoạt động giáo dục đào tạo         - Giáo dục phổ thông:          Học kỳ 1 năm học 2018-2019, Ngành GD&ĐT đã tập trung thực hiện Chỉ thị số 2919/CT-BGDĐT ngày 10/8/2018 của Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục năm học 2018-2019; Nghị quyết số 96/2018/NQ-HĐND ngày 18/7/2018 về phát triển giáo dục mầm non và phổ thông tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đã đề ra.    + Giáo dục mầm non: Tổng số và tổng số giáo viên mầm non, học sinh nhà trẻ và học sinh mẫu giáo giảm với mức giảm tương ứng là 7,33%, 10,43% và 0,19%. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ có nhiều chuyển biến tốt: Tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo là 94,88% (trẻ 5 tuổi chiếm 99,98%); tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân mẫu giáo là 5,4%; suy dinh dưỡng thấp còi mẫu giáo là 6,9%.         + Giáo dục tiểu học: Tổng số giáo viên giảng dạy 5.456 người, tăng 2,21% (tăng 118 người); tổng số học sinh có 111.862 em, tăng 9,11% (tăng 9.344 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (6-10 tuổi) ở cấp tiểu học là 110.379 em, chiếm tỷ lệ 98,67%.         + Trung học cơ sở: Tổng số giáo viên giảng dạy 4.899 người, giảm 1,45% (giảm 72 người); tổng số học sinh có 75.420 em, giảm 0,27% (giảm 207 em) so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (11-14 tuổi) ở cấp trung học cơ sở là 74.607 em, chiếm tỷ lệ 98,92%.         + Trung học phổ thông: Tổng số giáo viên giảng dạy 2.790 người, giảm 3,19% (giảm 92 người); tổng số học sinh có 44.267 em, tăng 1,57% (tăng 685 em) so cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (15-17 tuổi) ở cấp THPT là 44.123 em, chiếm tỷ lệ 99,67%. Ngoài ra, công tác nghiên cứu khoa học trong cán bộ, giáo viên và học sinh tiếp tục được đẩy mạnh. Trong cuộc thi khoa học - kỹ thuật cho học sinh trung học, toàn tỉnh có 144 dự án (lĩnh vực khoa học xã hội và hành vi 50 dự án; lĩnh vực vật lý năng lượng 65 dự án; lĩnh vực sinh hóa 23 dự án; lĩnh vực phần mềm hệ thống 6 dự án). Kết quả có 8 giải nhất, 17 giải nhì, 26 giải ba và 34 giải khuyến khích; trong đó lựa chọn 6 dự án tham gia vòng thi cấp quốc gia. - Giáo dục đào tạo          Năm học 2018-2019 ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh vẫn tiếp tục đổi mới công tác quản lý; chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Theo Thông tư số 44/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội ngày 28/12/2016, quy định từ 01/7/2017 tất cả các trường cao đẳng chuyên nghiệp (trừ hệ thống sư phạm) đều chuyển thành cao đẳng giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, năm học 2018-2019 thì hệ giáo dục đào tạo ở Hà Tĩnh chỉ còn có 01 trường Đại học với số lượng giáo viên có 200 người, so với cùng kỳ năm trước giảm 2,91% (trình độ trên đại học 186 người; giảm 3,63%; đại học 14 người, giảm 39,13%); số lượng học sinh là 3.162 học sinh, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,84% (hệ đại học 3.142 học sinh, hệ cao đẳng 20 học sinh); số tuyển mới có 814 học sinh (hệ đại học 794 học sinh, hệ cao đẳng 20 học sinh).          Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo, công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp luôn được quan tâm chú trọng. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Tuy nhiên, kết quả dạy nghề quý I năm 2019 đạt thấp hơn so với cùng kỳ, đã tổ chức dạy nghề cho 744 người, giảm 18,33% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Trình độ cao đẳng nghề 30 người, giảm 18,91%; trung cấp nghề 143 người, tăng 21,19%; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 571 người, giảm 17,01%. 7.4. Hoạt động Y tế Quý I/2019, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm trước, trong và sau Tết. Bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. Hoàn thành bàn giao nhân lực và nhiệm vụ y tế học đường về trạm y tế cấp xã; các huyện, thành phố, thị xã đã bàn giao, tiếp nhận 415 nhân viên y tế học đường cho ngành y tế (310 nhân viên chuyển về trạm y tế xã, 105 nhân viên chuyển về bệnh viện tuyến huyện). Phát động Chương trình sức khỏe Việt Nam theo Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Đã có 87% người dân được khám tạo lập hồ sơ sức khoẻ đạt chất lượng theo quy định.          - Tình hình dịch bệnh: Quý I năm 2019, công tác phòng chống dịch tiếp tục được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Đặc biệt, công tác phòng chống dịch bệnh sởi đã triển khai mạnh mẽ từ tỉnh đến cơ sở nên xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bùng phát và lan rộng. Đồng thời, tăng cường thực hiện tiêm vắc xin sởi trong chương trình tiêm chủng mở rộng định kỳ hàng tháng; rà soát, thống kê các đối tượng chưa được tiêm vắc xin sởi hoặc chưa tiêm đầy đủ; thường xuyên hướng dẫn người chăm sóc trẻ thực hiện các biện pháp phòng bệnh để hạn chế lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Trong quý I/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh có 30 trường hợp sốt xuất huyết, 61 trường hợp sốt rét, 24 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 20 trường hợp mắc lỵ a míp, 16 trường hợp mắc bệnh sởi và không có trường hợp nào bị tử vong.    - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Hà Tĩnh đã tăng cường đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt là công tác xét nghiệm. Đã tăng cường công tác đào tạo nhân lực, tham gia đầy đủ các lớp hội thảo, tập huấn về công tác tư vấn, xét nghiệm do Trung ương tổ chức. Đồng thời, tổ chức tập huấn về tư vấn, xét nghiệm HIV cho tất cả cán bộ y tế tại 13 bệnh viện tuyến huyện, thị xã, thành phố; giám sát, tư vấn, hỗ trợ về nhân sự, cách bố trí, tiêu chuẩn phòng xét nghiệm; hỗ trợ trang thiết bị cho các phòng xét nghiệm sàng lọc HIV; đầu tư các trang thiết bị hiện đại như tủ an toàn sinh học, dàn ELISA và các trang thiết bị khác để phục vụ tốt công tác xét nghiệm. Quý I năm 2019, Hà Tĩnh có 27 trường hợp nhiễm HIV (tăng 12 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 25 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (tăng 8 trường hợp) và 01 trường hợp chết vì AIDS.    - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Quý I/2019 là thời điểm tùng với Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nên nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh. Vì vậy, để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán và lễ hội Xuân, Ban Chỉ đạo liên ngành An toàn vệ sinh thực phẩm của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh. Toàn tỉnh đã thành lập 284 đoàn thanh tra, kiểm tra 4.021 cơ sở, đã phát hiện 363 cơ sở vi phạm và xử phạt 104 cơ sở, với tổng số tiền trên 200 triệu đồng. Đồng thời, đình chỉ hoạt động 01 cơ sở và tiến hành tiêu hủy: 10 kg giò, 10 kg chả chứa hàn the, 30 kg xúc xích, 79 kg thịt dăm bông, 40 kg táo tàu và một số số hàng hóa vi phạm an toàn thực phẩm khác...trị giá hàng hóa tiêu hủy trên 40 triệu đồng. Quý I/2019, có 409 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (tăng 18,55% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.         - Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán: Các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh và bệnh viện đa khoa tuyến huyện đã tổ chức thường trực cấp cứu 24/24 giờ và duy trì hoạt động khám, chữa bệnh, cấp cứu bình thường. Tổng số bệnh nhân còn lại đến ngày 09/02/2019 (tức ngày 05 Tết) tại bệnh viện các huyện, thành phố, thị xã và Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh là 1.866 bệnh nhân; tổng số lượt bệnh nhân khám và điều trị do va chạm giao thông, tai nạn giao thông là 578 bệnh nhân (trong đó: Mức độ nhẹ xử lý và cho về trong ngày là 237 bệnh nhân, phải nhập viện điều trị là 282 bệnh nhân, chuyển viện 59 bệnh nhân); tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị do pháo, chất nổ khác là 15 bệnh nhân; tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị do ngộ độc bia, rượu là 23 bệnh nhân.      7.5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, cụ thể: Chào xuân Kỷ Hợi, Hà Tĩnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã; Nhà hát Nghệ thuật truyền thống xây dựng chương trình văn nghệ phục vụ buổi gặp mặt kiều bào Hà Tĩnh về thăm quê hương nhân dịp Tết cổ truyền; Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Mùa xuân dâng Đảng” biểu diễn tại 13 huyện, thị xã, thành phố, từ ngày 27/01/2019 đến ngày 08/02/2019. Đêm giao thừa Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm nay, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức 03 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh. Bên cạnh đó, các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới. Tổ chức Hội báo xuân, triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan. Tổ chức khai hội chùa Hương Tích, lễ hội Hải Thượng Lãn Ông mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh.          - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội; đã kiểm tra diện rộng tại 140 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn toàn tỉnh, 7 lượt kiểm tra công tác quản lý và tổ chức lễ hội tại 8 di tích trong tỉnh (gồm: đền Chợ Củi, Chùa Hương, Đền Cả, Đền Truông Bát, Đền Bích Châu, Đều Lê Khôi, Di tích Miếu Ao, khu du lịch Hải Thượng Lãn Ông). - Hoạt động thể thao: Nhân dịp đón Xuân Mậu Tuất, các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi như: Kéo co, bóng chuyền, bóng đá, thi đấu cờ tướng, đua thuyền, như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La tổ chức tại huyện Đức Thọ; Hội đua thuyền truyền thống thuộc Phường Trung Lương – thị xã Hồng Lĩnh; giải cờ thẻ mừng xuân Kỷ Hợi tại thành phố Hà Tĩnh; giải kéo co toàn huyện Vũ Quang; Giải bóng đá Cúp các CLB cụm An toàn tổ chức tại huyện Nghi Xuân. Giải góp phần tạo không khí sôi nổi, động viên nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, quyết tâm giành thắng lợi ngay từ những ngày đầu năm mới.         7.6. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         - Về an toàn giao thông: Tính từ ngày 16/02/2019 đến ngày 15/3/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người, bị thương 4 người. So với tháng trước giảm 2 vụ, giảm 2 người chết và giảm 7 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn không thay đổi, tăng 1 người chết và giảm 2 người bị thường. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.         Tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/3/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 35 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 32 người và bị thương 21 người (Riêng dịp Tết nguyên đán xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 2 người và bị thương 5 người). So với cùng kỳ năm 2018 giảm 3 vụ, giảm 7 người chết và tăng 7 người bị thương.            - Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán, tính từ 02-10/02/2019 (tức từ ngày 28/12/2018-06/01/2019 âm lịch) xảy ra 10 vụ phạm pháp hình sự (giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm 2018), làm bị thương 9 người; phát hiện và bắt giữ 1 vụ, 1 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy; phát hiện và bắt giữ 2 vụ, 8 đối tượng đánh bạc. Phát hiện 271 vụ, 261 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép, thu giữ 33kg pháo các loại; riêng trong đêm giao thừa phát hiện, bắt giữ 238 vụ, 221 đối tượng tàng trữ, sử dụng trái phép pháo (tăng 114 vụ so với Tết năm 2018). 7.8. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Quý I/2019, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 17 vụ cháy và 2 vụ nổ (giảm 11 vụ cháy so với cùng kỳ năm 2018), làm chết 1 người và bị thương 7 người, ước tính thiệt hại về tài sản là 12,119 tỷ đồng. Trong đó có 1 vụ cháy làm 3 nhà dân bị cháy trụi thuộc huyện Hương Sơn với giá trị thiệt hại ước tính 11,35 tỷ đồng.  - Công tác bảo vệ môi trường: Với mục tiêu bảo đảm môi trường luôn xanh, sạch đẹp, Sở tài nguyên môi trường đã kết hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường công tác kiểm tra thanh tra công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Quý I/2019, đã kiểm tra phát hiện 24 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 20 cơ sở với số tiền 39 triệu đồng.         8. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2019               a. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019         Kỳ họp thứ 8 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2019 như sau:         - Tổng sản phẩm (GRDP) tăng từ 11,5%-12% so với năm 2018.          - Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn.          - Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 1,1 tỷ USD.         - Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt trên 13.200 tỷ đồng, trong đó thu nội địa trên 6.300 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 6.900 tỷ đồng.         - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 38.000 tỷ đồng.         - Tỷ lệ người tham gia BHYT đạt trên 88%.         - Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) giảm từ 1,3-1,5%.         - Giải quyết việc làm mới cho 23.500 người.         - Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%.         b. Giải pháp thực hiện         Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 cần phải thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp như trong Nghị quyết đã nêu. Tuy nhiên chúng ta cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là:          - Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu nêu trên, các cấp, các ngành và các địa phương phải mám sát Chương trình hành động triển khai nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 để triển khai thực hiện một cách cụ thể, sát đúng với tình hình thực tế của địa phương.         - Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Hoàn thành rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển.          - Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành kinh tế một cách thực chất, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2018-2020 gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thúc đẩy phát triển nhanh ngành công nghiệp - xây dựng, nhất là tạo điều kiện thuận lợi triển khai dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Phát triển thương mại nội địa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ; đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Trước mắt, phải tập trung chỉ đạo sản xuất vụ Xuân đạt kết quả cao, trong đó chú trọng việc phòng trừ sâu bệnh mà nhất là bệnh đạo ôn và rầy nâu gây hại trên lúa. Cùng với đó, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền và chủ động phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi đang có nguy cơ bùng phát trên địa bàn, nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại cho người dân.         - Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tăng cường thu hút đầu tư nhằm huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phải tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.         - Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ.            - Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.         Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội quý I/2019 diễn ra trong điều kiện vẫn còn khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà vẫn ổn định và phát triển theo chiều hướng tích cực./.

Tình hình KTXH tháng 2 năm 2019 tỉnh Hà Tĩnh
  •   22/07/2024 14:37

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp             - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 02/2019 bên cạnh việc tiếp tục thu hoạch một số cây vụ Đông thì chủ yếu tập trung gieo cấy, chăm sóc cây vụ Xuân 2019.         + Tình hình thu hoạch vụ Đông 2018: Với điều kiện thời tiết thuận lợi nên nhìn chung kết quả sản xuất một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2018 đạt khá so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 13.212 ha, bằng 102,29%, tăng 296 ha so với năm trước. Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2018 như đã phản ánh ở phần trên.         + Tình hình sản xuất vụ Xuân 2019: Với các giải pháp trong sản xuất vụ Xuân 2019 như: Cung cấp giống và phân bón có chất lượng và giá cả hợp lý; tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống đúng lịch thời vụ; theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi là những yếu tố tích cực để sản xuất vụ Xuân 2019. Tính đến ngày 15/02/2019, toàn tỉnh đã gieo cấy được 58.947 ha lúa, bằng 100,36% so với cùng kỳ năm trước và đạt 100,16% kế hoạch. Trong đó: Diện tích lúa cấy là 15.863 ha (chiếm 26,91% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 43.084 ha (chiếm 73,09% tổng diện tích gieo cấy). Cùng với việc gieo cấy lúa thì tiến độ gieo trỉa một số loại cây trồng khác đạt được như sau: Cây ngô ước đạt 2.655 ha, bằng 68,4% kế hoạch; cây khoai lang ước đạt 330 ha, bằng 20,1% kế hoạch; cây lạc ước đạt 6.599 ha, bằng 48,4% kế hoạch và rau các loại ước đạt 2.430 ha, bằng 50,5% kế hoạch. Hiện nay các trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng và phát triển tốt. Tranh thủ thời tiết thuận lợi, sau Tết Nguyên đán các địa phương cũng đang tích cực gieo trồng các loại cây hoa màu vụ Xuân đảm bảo lịch thời vụ.         + Dự báo tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Thời tiết đang bước vào tiết Lập Xuân - Vũ Thủy là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng dịch bệnh phát sinh gây hại đối với cây trồng. Hiện nay trên cây lúa một số đối tượng sâu bệnh cũng đã phát sinh gây hại như: Chuột gây hại tỷ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 10-15%, cục bộ 30-50%. Hiện có khoảng 52 ha lúa vụ Xuân đang bị chuột phá hại nặng, tập trung ở Can Lộc, Đức Thọ, Hồng Lĩnh...Tuyến trùng rễ gây hại với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích 2 ha, tập trung ở vùng bãi ngang huyện Thạch Hà. Rệp xanh phát sinh gây hại ở Đức Thọ, tỷ lệ 3-7%, nơi cao 10-15%, diện tích nhiễm bệnh 3 ha. Ốc bươu vàng với mật độ trung bình 3-5 con/m2, nơi cao 7-10 con/m2, cục bộ 25-30con/m2, diện tích bị gây hại là 67 ha phân bố ở Nghi Xuân, Đức Thọ, Thạch Hà. Trên cây rau thì nhóm sâu ăn lá (sâu xanh, sâu tơ) với mật độ trung bình 5-7con/m2, nơi cao 10-12 con/m2, diện tích bị gây hại là 8 ha tập trung ở Thạch hà, thành phố Hà Tĩnh.       Bọ nhảy, bọ trĩ gây hại với mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 5-7con/m2, với diện tích 4 ha tập trung ở Thạch Hà, Thành phố Hà Tĩnh,...Bệnh héo vàng khoai tây với tỷ lệ trung bình 5-10%, nơi cao 15-25%, diện tích 7 ha tập trung ở Cẩm Xuyên. Để hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra, cùng với việc diệt trừ các loại sâu bệnh đã phát sinh gây hại thì bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng, theo dõi, phòng trừ các đối tượng gây hại trên lúa như: Bệnh đạo ôn, ruồi đục nõn, bệnh lùn sọc đen phương Nam. Trên cây lạc cần theo dõi chặt chẽ diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc đen, gốc mốc trắng, lở cổ rễ và nhóm sâu ăn lá, nấm trên cây rau...         - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trong tháng 02/2019 đã ổn định trở lại sau khi dịch lở mồm long móng trên đàn gia súc đã được kiểm soát, khống chế và dập tắt. Mặc dù dịch xẩy ra giáp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi, nhưng do khống chế được dịch bệnh, không để lây lan nên sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn vẫn đáp ứng đảm bảo nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp Tết. Cũng do việc xuất bán phục vụ thực phẩm dịp Tết nên đã làm cho số lượng đàn vật nuôi giảm.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tháng 01/2019, dịch lở mồm long móng đã xẩy ra trên địa bàn Hà Tĩnh nhưng đến nay dịch đã được dập tắt, cơ quan chức năng đã công bố hết dịch. Còn trong tháng 02/2019 các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi.              1.2. Lâm nghiệp         Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán luôn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do hiện nay rừng sản xuất chưa đến kỳ thu hoạch nên kết quả trồng rừng tập trung cũng như sản lượng lâm sản khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước. Còn kết quả trồng cây phân tán tháng 02/2019 tăng so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước là do trong tháng trùng vào dịp Tết trồng cây Xuân Kỷ Hợi nên các địa phương, cơ quan, đơn vị đã trồng cây, chỉnh trang đô thị làm cho môi trường xanh, sạch, đẹp. Bên cạnh hoạt động sản xuất lâm nghiệp thì trong tháng cũng đã không xẩy ra thiệt hại về rừng.          1.3. Thủy sản Mặc dù chưa có sự tăng trưởng đột phá nhưng trong những tháng đầu năm 2019 hoạt động sản xuất thủy sản vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Với những chuyến biển đầu năm của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa, cùng với việc các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi là nguyên nhân làm cho sản lượng thủy hải sản tháng 02/2019 tăng so với cùng kỳ.          Năm 2019, nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Vì vậy, đã xây dựng kế hoạch với tổng diện tích thả nuôi toàn tỉnh là 2.750 ha (tăng 49 ha so với năm 2018), trong đó: Nuôi tôm thâm canh, công nghệ cao là 920 ha; bán thâm canh là 450 ha; quảng canh, quảng canh cải tiến 1.380 ha. Với sản lượng tôm toàn tỉnh năm 2019 phấn đấu đạt 4.800 tấn. Hiện nay tranh thủ tiết trời nắng ấm, người nuôi tôm ở Hà Tĩnh đang khẩn trương cải tạo ao đầm, chuẩn bị xuống giống cho vụ tôm nuôi đầu tiên trong năm 2019. Theo khung lịch thời vụ, tôm sẽ được xuống giống thả nuôi vào cuối tháng 2/2019. Để cung cấp nguồn giống chất lượng cao cho người dân nuôi tôm trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Sản xuất tôm giống Thông Thuận ở xã Cương Gián (Nghi Xuân) vừa mới nhập khẩu hơn 400 cặp tôm bố mẹ từ Mỹ về cho sinh sản. Đồng thời đầu tư máy nâng nhiệt của Nhật về đảm bảo điều kiện cho con tôm phát triển tốt nhất. Hiện tại, đơn vị đã sản xuất được 40 triệu con tôm giống khỏe mạnh, được kiểm dịch đầy đủ để cung cấp ra thị trường.         Trong tháng không phát sinh dịch bệnh trên thủy sản nuôi trồng.         2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư             - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 02/2019 ước tính giảm 11,57% so với tháng trước, nhưng vẫn tăng 51,93% so với cùng kỳ năm trước. Việc chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2019 giảm so với tháng trước là do ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan khi trong tháng có trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán dài ngày đã ảnh hưởng đến sản xuất. Còn nhìn chung thì hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn những tháng đầu năm vẫn đang duy trì được mức tăng khá. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng 46,2% so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng khá ở cả 4 ngành công nghiệp cấp I (khai khoáng tăng 30,89%; chế biến, chế tạo tăng 57,24%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,14%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 51,54%). Trong đó một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép từ Dự án Fomosa) tăng 69,6%; sản xuất than cốc tăng 75,52%; khai thác đá, cát, sỏi tăng 61,42%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 63,68%; sản xuất sợi tăng 39,1%; may trang phục tăng 42,76%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 82,1%...Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: Khai thác quặng kim loại giảm 70,33%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 40,04%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 36,58%...         Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2019 giảm 0,5% so với tháng trước và giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019 giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn biến động nhẹ theo xu hướng giảm lao động ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước, nhưng tăng ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là xu hướng tất yếu khi mà trên địa bàn các dự án FDI đang được triển khai đầu tư và đi vào sản xuất.        - Vốn đầu tư: Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 02/2019 ước tính giảm mạnh so với tháng trước là do những tháng đầu năm, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỷ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp cũng như khởi công mới các công trình trong năm 2019, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2019 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng; đồng thời, là tháng trùng vào dịp tết Nguyên đán, thời gian nghỉ lễ dài nên các công trình tạm ngừng thi công, giá trị vốn đạt thấp.         4. Thương mại, dịch vụ và giá cả  4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Hoạt động bán lẻ hàng hóa có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng 19,33%. Nhìn chung, do trùng vào dịp Tết Kỷ Hợi nên sức mua của thị trường trong tháng 02/2019 tăng mạnh, trong khi giá cả vẫn ổn định. Nhằm đảm bảo cung cầu hàng hóa và bình ổn giá cả thị trường trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi. Ngay từ đầu năm 2019, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp bình ổn giá; chỉ đạo các đơn vị tổ chức hơn 30 chuyến hàng lưu động về các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa với giá cả hợp lý; các doanh nghiệp trên địa bàn có hệ thống phân phối lớn (đại lý cấp I) và hệ thống bán lẻ phục vụ người tiêu dùng đã thực hiện dự trữ hàng hóa trên 100 tỷ đồng; với nhiều hàng hóa đa dạng về mẫu mã, đảm bảo chất lượng và nhu cầu của người dân. Bên cạnh đó, là tháng trùng vào ngày lễ vía thần tài (10/01 Âm lịch), nên nhu cầu mua vàng tích lũy của người dân trong dịp này tăng cao khiến doanh thu mặt hàng này tăng cao. Tính chung 02 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 6.995,11 tỷ đồng, tăng 19,36% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 327,35 tỷ đồng, tăng 6,8%; ngoài Nhà nước ước đạt 6.667,72 tỷ đồng, tăng 20,13% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,04 tỷ đồng. Một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 89,46%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 82,84%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 37,53%... - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 02/2019 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả ba ngành dịch vụ. Trong đó tăng mạnh nhất là ngành du lịch lữ hành, do ngay từ những tháng cuối năm 2018, nhiều công ty du lịch đã triển khai các chương trình tour du lịch trong và ngoài nước đón Tết Nguyên đán Kỷ Hợi; cùng với xu hướng đi du lịch trong dịp tết của người dân ngày càng tăng, do đó lượng khách đăng ký các tour du lịch tăng hơn so với tháng trước. Dự kiến sang tháng 3/2019, hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành sẽ tăng cao hơn tháng trước; do nhu cầu du lịch lễ hội, đền chùa tăng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 812,59 tỷ đồng, tăng 18,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 12,42 tỷ đồng, tăng 4,94%; ngoài Nhà nước ước đạt 798 tỷ đồng, tăng 17,46% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,17 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước.          - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 02/2019 có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với tháng trước. Do nhu cầu đi lễ, tham quan vãn cảnh đầu Xuân của người dân tăng đã tác động làm tăng doanh thu các hoạt động dịch vụ. Trong các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế cá thể và khu vực kinh thế tư nhân có doanh thu tăng so với tháng trước, lần lượt với mức tăng 3,82% và 0,71%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 235,38 tỷ đồng, tăng 5,62% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế nhà ước đạt 12,89 tỷ đồng, giảm 5,71%; ngoài Nhà nước ước đạt 220,88 tỷ đồng, tăng 6,15% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1,61 tỷ đồng, tăng 44,58% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ khác 2 tháng đầu năm 2019 chủ yếu tăng ở nhóm ngành dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí (tăng 14,87%); sửa chữa đồ dung cá nhân, gia đình (tăng 8,94%) và dịch vụ khác (tăng 6,21%). Dự kiến sang tháng 3/2019 một số nhóm ngành dịch vụ hoạt động trở lại nhưng nhu cầu sử dụng các dịch vụ không nhiều. Đặc biệt nhóm dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình sẽ giảm mạnh.          4.2. Hoạt động vận tải         - Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 02/2019 ước đạt 2,83 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 67,77 triệu tấn.km hàng hóa. So với tháng trước giảm 17,5% về khối lượng vận chuyển và giảm 27,41% về khối lượng luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa tháng 02/2019 ước đạt 229,13 tỷ đồng, giảm 13,22% so với tháng trước. Tính chung 02 tháng đầu năm 2019 ước đạt 6,26 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 161,14 triệu tấn.km hàng hóa, so với cùng kỳ năm trước tăng 12,07% về khối lượng vận chuyển và tăng 17,69% về khối lượng luân chuyển; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa 02 tháng ước đạt 493,17 tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động vận tải hàng hóa tháng 02/2019 giảm so với tháng trước. Mặc dù nhu cầu vận tải các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình thời điểm cận Tết tăng cao nhưng do các phương tiện vận tải vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng nghỉ Tết sớm, trong khi thời gian nghỉ sau Tết kéo dài dẫn đến kết quả vận tải hàng hóa trong tháng giảm. - Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 02/2019 ước đạt 2,1 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 366,04 triệu lượt hành khách.km. So với tháng trước tăng 4,69% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 4,7% về lượt hành khách.km luân chuyển. Tính chung 02 tháng đầu năm 2019 ước đạt 4,1 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 715,64 triệu lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,92% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 7,1% về lượt hành khách.km luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách 02 tháng ước đạt 310,61 tỷ đồng, tăng 6,29% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động vận tải hành khách tháng 02/2019 tăng so với tháng trước. Là tháng trùng vào dịp lễ Tết nên lượng khách đi lại luôn ở mức cao, tình trạng cháy vé các tuyến xe đường dài xảy ra thường xuyên, nhất là thời điểm trước ngày 15 tháng giêng âm lịch. Giá cước vận tải hành khách các tuyến ngoại tỉnh từ ngày 01/02 đến 24/02/2019 tăng cao. Tuyến Hà Tĩnh - Hà Nội có mức giá là 270 ngàn đồng (tăng 60 ngàn đồng); tuyến Hà Tĩnh - Thành phố Hồ Chí Minh có mức giá là 1,4 triệu đồng (tăng 800 ngàn đồng). Trong khi đó giá cước xe bus và xe taxi ổn định không thay đổi, nên lượng khách di chuyển nội tỉnh bằng các loại phương tiện này tăng mạnh. Nhìn chung, mặc dù nhu cầu đi lại của người dân tăng cao trong dịp Tết nhưng đã được các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn đáp ứng đầy đủ.   4.3. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường hàng hóa bảo đảm nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, các siêu thị lớn, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đã có sự chuẩn bị về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu, bình ổn giá…Các ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân và doanh nghiệp. Nhìn chung, trong tháng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 tăng so với tháng trước. Giá nhiên liệu, xăng dầu giảm theo tình hình chung thị trường thế giới. Giá lương thực và thực phẩm tăng mạnh do nhu cầu của người dân dịp lễ, tết tăng.           CPI tháng 02 năm 2019, tăng 0,76% so tháng trước, tăng 1,50% so cùng tháng năm trước và tăng 0,32% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,74%; nông thôn tăng 0,78%. Như vậy, CPI tháng 02 tăng so với tháng trước nhưng với mức tăng không cao, đây là một tín hiệu tích cực trong công tác bình ổn thị trường trong dịp Tết vừa qua. Tính chung, chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm 2019 tăng 1,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,32%; nông thôn tăng 1,65%. Tháng 02/2019, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá ổn định so với tháng trước (nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông). Còn lại có 9 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng. Trong đó có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng cao so với tháng trước và cũng là nguyên nhân chính tác động đến mức tăng chung chỉ số giá tháng 02/2019, đó là: - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,67% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,56% và tăng 1,00% so với tháng 12 năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực tăng 0,88% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,55%. Giá gạo đặc sản và gạo nếp tăng nhằm phục vụ nhu cầu thị trường tiêu dùng trong đợt Tết Nguyên đán. Bên cạnh đó, do lượng gạo, nếp tiêu thụ chủ yếu được nhập từ các tỉnh khác và các nước Lào, Thái Lan có chi phí vận tải cao hơn, ảnh hưởng đến giá thành. Giá gạo tăng cũng là nguyên nhân khiến các mặt hàng bánh phở, bún sợi và miến gạo tăng giá so tháng trước. Các mặt hàng thực phẩm tăng 2,37% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,04%. Trong đó thịt lợn tăng 2,76%, thịt bò tăng 6,62%, gà tăng 1,16%. Giá thịt tăng cùng nhu cầu tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến nhóm thịt chế biến giò, chả tăng 1,39% so tháng trước. Nhìn chung thị trường giá cả hàng hóa trong những ngày Tết khá bình ổn, không có sự tăng giá đột biến, các mặt hàng như thịt bò, thịt lợn, gà, rau củ quả….chỉ tăng nhẹ. Từ ngày 25/12-05/01 (âm lịch) giá thịt bò tùy loại giao động từ 210 ngàn đồng - 270 ngàn đồng/kg (tăng từ 10 đến 30 ngàn đồng/kg so với năm 2018), giò từ 150 ngàn đồng - 180 ngàn đồng/kg (tăng 15 ngàn đồng/kg so với năm 2018), thịt lợn tùy loại từ 87 ngàn đồng - 100 ngàn đồng/kg (tăng 5 ngàn đồng/kg so với năm 2018), thịt gà các loại dao động từ 80 ngàn đồng - 150 ngàn đồng/kg (giá ổn định so năm trước), gạo nếp, gạo tẻ, thực phẩm công nghiệp, dầu ăn, bánh kẹo, mứt, rượu, bia, thực phẩm tươi sống tăng không đáng kể. Riêng mặt hàng rau củ quả tăng so với ngày thường từ 5 - 15 ngàn đồng/kg. - Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,82% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,69%, tăng 2,04% so với tháng 12 năm trước. Tương tự các mặt hàng bánh kẹo, nhóm rượu, bia, nước ngọt và thuốc lá cũng tăng giá do nhu cầu tiêu dùng và làm quà biếu trong dịp lễ, tết, đi chùa, đền.Chỉ số giá vàng tháng 02/2019 tăng 1,33% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,97% và tăng 2,76% so với tháng 12 năm trước. Giá vàng trong tháng 2 tiếp tục tăng. Nguyên nhân chủ yếu do tâm lý người dân có thói quen tích trữ vàng trong dịp Tết, nhất là ngày vía Thần Tài theo quan niệm dân gian. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.748.671 đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2019 giảm 0,99% so với tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,32% và giảm 0,62% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/02/2019 mức giá bán ra 2.323 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 3/2019 dự kiến giảm. Xu hướng chung sau tháng Tết giá nhiều mặt hàng như thực phẩm, bánh kẹo, giao thông, phương tiện đi lại, hàng may mặc, đồ dùng gia đình giảm mạnh do nhu cầu tiêu dùng giảm. Trong khi đó, các mặt hàng gồm vật liệu xây dựng, văn hoá giải trí và du lịch tăng. Giá điện, nước sinh hoạt dự kiến tiếp tục tăng khi tình hình thời tiết chuyển mùa nắng nóng.          5. Một số vấn đề xã hội         5.1. Tình hình đời sống dân cư  - Tính đến ngày 15/02/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói. Do thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho người dân sản xuất nông nghiệp và làm thêm các ngành nghề khác tăng thêm thu nhập. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời. Các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói trong dịp Tết. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói vẫn không xảy ra.  - Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Các huyện, thành phố, thị xã đã chi trả trợ cấp tháng 01, tháng 02/2019 cho trên 44.000 người có công, với kinh phí 150 tỷ đồng; chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 69.000 đối tượng bảo trợ xã hội, với kinh phí 26 tỷ đồng.         Tính đến ngày 10/02/2019 (tức ngày 06 Tết), đã tổ chức thăm hỏi, tặng 207.177 suất quà với tổng kinh phí là 59,8 tỷ đồng, trong đó: Quà cho người có công 94.114 suất, kinh phí 21,354 tỷ đồng (quà Trung ương 54.169 suất, kinh phí 11,062 tỷ đồng; quà địa phương 39.945 suất, kinh phí 10,292 tỷ đồng); quà cho đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là 10.825 suất với kinh phí là 3,668 tỷ đồng; quà cho người nghèo 34.533 suất với kinh phí là 13,744 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 47.425 suất với kinh phí là 10 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 6.489 suất với kinh phí là 2,928 tỷ đồng; quà cho đối tượng khác 13.791 suất với kinh phí là 8,106 tỷ đồng.          - Lương, thưởng của công nhân, người lao động trong dịp Tết được thanh toán đầy đủ, không có doanh nghiệp nào nợ lương hay trả lương cho người lao động thấp hơn mức tiền lương tối thiểu vùng. Kết quả khảo sát tình hình tiền lương, tiền thưởng của người lao động dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 tại các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau: Tiền lương bình quân của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt 5,56 triệu đồng/người/tháng, trong đó: Khối doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước là 7,761 triệu đồng/người/tháng (cao nhất là 27 triệu đồng/người/tháng; thấp nhất là 2,953 triệu đồng/người/tháng); khối công ty cổ phần có vốn chi phối của Nhà nước trên 51% là 8,689 triệu đồng/người/tháng (cao nhất là 29,622 triệu đồng/người/tháng; thấp nhất là 3,375 triệu đồng/người/tháng); khối doanh nghiệp FDI bình quân là 9,636 triệu đồng/người/tháng (cao nhất là 31,077 triệu đồng/người/tháng; thấp nhất là 3,431 triệu đồng/người/tháng); tiền lương bình quân của người lao động làm việc trong doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp thuộc các loại hình khác là 4,83 triệu đồng/người/tháng (cao nhất là 31,077 triệu đồng/người/tháng; thấp nhất là 2,85 triệu đồng/người/tháng). Tiền thưởng Tết Dương lịch cao nhất 17,531 triệu đồng, thấp nhất 50 ngàn đồng; tiền thưởng Tết Âm lịch cao nhất 67 triệu đồng, thấp nhất 200 ngàn đồng. 5.2. Hoạt động y tế         - Tình hình dịch bệnh: Để người dân được vui Tết đón Xuân trong điều kiện đảm bảo sức khỏe, ngành Y tế Hà Tĩnh đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm để có biện pháp theo dõi và xử lý dịch kịp thời; duy trì các đội cơ động chống dịch khẩn cấp; chuẩn bị đủ vật tư, hoá chất, trang thiết bị và kinh phí để xử lý kịp thời khi có dịch bệnh xảy ra và cử cán bộ trực 24/24h trong các ngày nghỉ tết. Trong tháng 02/2019, toàn tỉnh có 73 người mắc bệnh tiêu chảy, 01 người mắc bệnh quai bị, 02 người mắc bệnh sốt xuất huyết, 20 người mắc bệnh thủy đâu, 31 người mắc bệnh sốt rét. Tất cả các trường hợp này đều là các ca mắc bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch và không có trường hợp nào tử vong.         - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác phòng chống HIV/AIDS, bằng cách tuyên truyền giúp người dân hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh và cách phòng tránh nhiễm bệnh. Trong tháng, Hà Tĩnh có 16 người nhiễm HIV (tăng 09 trường hợp so với cùng kỳ năm 2018), 15 người chuyển thành AIDS và không có trường hợp nào chết vì AIDS.  - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Mỗi dịp Tết đến, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm lại tăng mạnh. Đây cũng là thời điểm mà hàng hóa, thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được tung ra thị trường. Do đó, ngoài việc tăng cường kiểm tra, các cơ quan chức năng đã tích cực tổ chức tuyên truyền giúp người dân nhận biết được hiện tượng mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh có 124 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, tăng 21,57% so với cùng kỳ năm 2018. Không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm.         - Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh và bệnh viện đa khoa các huyện, thành phố, thị xã đều tổ chức thường trực cấp cứu 24/24 giờ; duy trì hoạt động khám, chữa bệnh, cấp cứu bình thường. Tổng số bệnh nhân còn lại đến ngày 09/02/2019 (tức ngày 05 Tết) tại bệnh viện các huyện, thành phố, thị xã và Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh là 1.866 bệnh nhân; tổng số lượt bệnh nhân khám và điều trị do va chạm giao thông, tai nạn giao thông là 578 bệnh nhân (trong đó: Mức độ nhẹ xử lý và cho về trong ngày là 237 bệnh nhân, phải nhập viện điều trị là 282 bệnh nhân, chuyển viện 59 bệnh nhân); tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị do pháo, chất nổ khác là 15 bệnh nhân; tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị do ngộ độc bia, rượu là 23 bệnh nhân.                 5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, cụ thể: Chào xuân Kỷ Hợi, Hà Tĩnh đã triển khai các cụm panô, áp phích, khẩu hiệu, tổ chức các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn tất cả các huyện, thành phố, thị xã; Nhà hát Nghệ thuật truyền thống xây dựng chương trình văn nghệ phục vụ buổi gặp mặt kiều bào Hà Tĩnh về thăm quê hương nhân dịp Tết cổ truyền; Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Mùa xuân dâng Đảng” biểu diễn tại 13 huyện, thị xã, thành phố, từ ngày 27/01/2019 đến ngày 08/02/2019. Đêm giao thừa Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm nay, tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức 03 điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh. Bên cạnh đó, các đơn vị: Bảo tàng tỉnh, Ban Quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú, Ban Quản lý Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đều chuẩn bị tốt các điều kiện cho các đoàn dâng hương vào dịp đầu năm mới. Các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của tỉnh; phản ánh đầy đủ, toàn diện không khí vui xuân, đón tết của nhân dân trên địa bàn tỉnh; tổ chức Hội báo xuân, triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh.          - Thể thao quần chúng: Nhân dịp đón Xuân Kỷ Hợi, các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh đều tổ chức các hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi như: Kéo co, bóng chuyền, bóng đá, thi đấu cờ tướng, đua thuyền...cụ thể: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La được tổ chức tại huyện Đức Thọ, với 12 đội thuyền (2 đội thuyền nữ và 10 đội thuyền nam) tham gia; giải kéo co toàn huyện Vũ Quang, gồm có 39 đội kéo co với gần 400 vận động viên từ các địa phương, trường học tham gia; giải cờ thẻ mừng xuân Kỷ Hợi 2019 được tổ chức tại Công viên Lý Tự Trọng, thành phố Hà Tĩnh, Tham gia giải gồm có 14 kỳ thủ đến từ các phường, xã trên địa bàn. Giải góp phần tạo không khí sôi nổi, động viên nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, quyết tâm giành thắng lợi ngay từ những ngày đầu năm mới.         5.4. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         - Về an toàn giao thông: Với mục tiêu hạn chế tai nạn giao thông đường bộ, trong dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi, UBND tỉnh đã có công điện yêu cầu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các sở, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội mở đợt cao điểm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ATGT đến cán bộ, hội viên, đoàn viên, thanh niên, học sinh, nhân dân, nhất là lứa tuổi thanh niên, học sinh đi học và làm ăn xa về quê ăn Tết; đặc biệt là việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng mô tô, xe gắn máy, nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện.         Tính từ ngày 16/01/2019 đến ngày 15/02/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 13 người, bị thương 11 người (riêng dịp Tết xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 2 người và bị thương 5 người). So với tháng trước tăng 5 vụ, tăng 5 người chết và tăng 5 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, giảm 5 người chết và tăng 6 người bị thường. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và lạng lách đánh võng.         Như vậy, tính từ 16/12/2018 đến 15/02/2019, Hà Tĩnh xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 21 người và bị thương 17 người. So cùng kỳ năm 2018 giảm 3 vụ, giảm 8 người chết và tăng 9 người bị thương.         - Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán, tính từ 02-10/02/2019 (tức từ ngày 28/12/2018-06/01/2019 âm lịch) xảy ra 10 vụ phạm pháp hình sự (giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm 2018), làm bị thương 9 người; phát hiện và bắt giữ 1 vụ, 1 đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy; phát hiện và bắt giữ 2 vụ, 8 đối tượng đánh bạc. Phát hiện 271 vụ, 261 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép, thu giữ 33kg pháo các loại; riêng trong đêm giao thừa phát hiện, bắt giữ 238 vụ, 221 đối tượng tàng trữ, sử dụng trái phép pháo (tăng 114 vụ so với Tết năm 2018).         5.5. Môi trường         - Tình hình cháy nổ: Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 12 vụ cháy (riêng dịp Tết xảy ra 5 vụ cháy), với nguyên nhân hầu hết do bất cẩn trong sử dụng lửa. Đồng thời, xảy ra 1 vụ nổ do sử dụng pháo tự chế, làm chết 1 người và bị thương 4 em học sinh. Tổng thiệt hại ước tính 768 triệu đồng.  - Về vi phạm môi trường: Với mục tiêu cùng chung tay bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra về công tác bảo vệ môi trường, trong tháng phát hiện 11 vụ vi phạm môi trường, xử lý 9 vụ với số tiền 13 triệu đồng.         Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2019 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 1 năm 2019
  •   24/07/2024 14:15

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản          1.1. Nông nghiệp         - Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp trong tháng 01/2019, chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2018 và gieo trồng cây vụ Xuân năm 2019. + Sản xuất vụ Đông năm 2018: Sản xuất vụ Đông năm 2018 trong điều kiện thời tiết đầu vụ tương đối thuận lợi cho triển khai gieo trồng. Nhưng từ trung tuần tháng 11/2018 đến hết tháng 12/2018 do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh nên nền nhiệt độ thấp (biến động 140C-220C), ẩm độ không khí cao (biến động 70-98%) và xen kẻ các đợt rét đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, cùng với các chính sách hổ trợ hạt giống ngô, rau của tỉnh (gồm 12,82 tấn hạt giống ngô và 6,384 tấn hạt giống rau) và sự nổ lực của bà con nông dân nên nhìn chung diện tích gieo trồng các loại cây chủ lực vụ Đông đã đạt và vượt kế hoạch đặt ra, với kết quả cụ thể như sau: Diện tích ngô ước đạt 4.434 ha, đạt 120,78% kế hoạch, bằng 114,57% (tăng 564 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích khoai lang ước đạt 1.723 ha, đạt 75,87% kế hoạch, bằng 110,14%  (tăng 158 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích rau các loại ước đạt 4.788 ha, đạt 112,45% kế hoạch, bằng 104,88% (tăng 223 ha) so với cùng kỳ năm trước. Vụ Đông năm nay đã liên kết với Viện Sinh học Việt Nam triển khai mô hình sản xuất khoai tây ở huyện Can Lộc (Yên Lộc, Trường Lộc) và huyện Cẩm Xuyên (Cẩm Hòa, Cẩm Dương, Thị trấn Thiên Cầm) với tổng diện tích là 17 ha, hiện nay cây khoai tây đang trong giai đoạn hình thành củ. Cùng với đó, Thành phố Hà Tĩnh và huyện Cẩm Xuyên cũng đã liên kết với công ty của tỉnh Thanh Hóa thực hiện mô hình trồng ớt với diện tích 9,5 ha. Do trung tuần tháng 12/2018 có mưa lớn kéo dài nên đã gây ngập úng và thiệt hại toàn bộ diện tích mô hình trồng ớt.         + Sản xuất vụ Xuân năm 2019: Để chủ động nguồn giống sản xuất vụ Xuân, UBND tỉnh đã phân bổ 367,55 tấn giống lúa từ nguồn hỗ trợ của Công ty Giống cây trồng Trung ương và 400 tấn giống lúa, 50 tấn giống ngô, 5 tấn hạt giống rau từ nguồn Dự trữ Quốc gia để hỗ trợ sản xuất vụ Xuân 2019. Cùng với đó, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cũng đã cung ứng khoảng 1.837,55 tấn giống lúa, 70 tấn giống ngô và 5 tấn hạt giống rau để phục vụ sản xuất vụ Xuân 2019. Nhằm thực hiện sản xuất vụ Xuân năm 2019 đảm bảo lịch thời vụ, hiện nay các địa phương đang tích cực tiến hành gieo cấy lúa. Tiến độ sản xuất vụ Xuân tính đến ngày 16/01/2019, toàn tỉnh đã gieo cấy được 6.681 ha, đạt 11,35% kế hoạch, trong đó diện tích gieo thẳng ước đạt 4.323 ha và diện tích lúa cấy là 2.358 ha.          + Tình hình sâu bệnh: Hiện nay đối với mạ đã bắc bệnh đạo ôn phát sinh gây hại trên giống IR1820, XT28, Xi23, NX30 tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, cục bộ 20-30%, diện tích nhiễm 0,1ha phân bố ở huyện Nghi Xuân. Trên cây ngô: Bệnh đốm lá gây hại với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 7,5 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ; sâu đục thân gây hại rãi rác trên trà 7-9 lá, tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 5ha ở huyện Đức Thọ. Các đối tượng sâu hại như: Sâu xám, sâu cuốn lá, sâu khoang phát sinh gây hại rãi rác.  Cây rau: Nhóm sâu ăn lá (sâu xanh, sâu tơ), sâu xám, bọ nhảy gây hại trên rau họ hoa thập tự, mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 5-7con/m2, tập trung ở Thạch Hà, Thành phố Hà Tĩnh,... Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại với tỷ lệ 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiểm bệnh là 55ha; bệnh nứt thân xì mủ phát sinh gây hại tỷ lệ bệnh trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiễm bệnh là 69 ha, trong đó có 3 ha nhiễm nặng, diện tích phòng trừ 100 ha, tập trung chủ yếu ở Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê; bệnh vàng lá thối rễ gây hại với tỷ lệ 1-3%, nơi cao 4-6%, diện tích nhiểm bệnh là 1 ha; bệnh loét, ghẻ gây hại rãi rác các vườn cây ăn quả, tỷ lệ hại trung bình 3-5%, nơi cao 10-12%, diện tích nhiễm 55 ha; bệnh muội đen gây hại với tỷ lệ bệnh trung bình 5-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm bệnh là 1 ha (Vũ Quang, Hương Sơn); ruồi đục quả gây hại với tỷ lệ trung bình 1-2%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiễm bệnh là 34,5 ha, tập trung chủ yếu ở Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang; bọ xít xanh gây hại với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiểm bệnh là 4 ha ở Hương Khê, Vũ Quang...         - Chăn nuôi:          Tình hình chăn nuôi trong tháng gặp khó khăn do dịch lở mồm long móng xẩy ra đối với đàn vật nuôi. Tính đến ngày 15/01/2019 dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày đang xẩy ra tại 4 huyện: Can Lộc, Cẩm Xuyên, Hương Khê và Thạch Hà. Tổng số gia súc toàn tỉnh bị bệnh là 2.847 con (9 con trâu, 22 con bò và 2.816 con lợn), trong đó có 2.053 con lợn phải tiêu hủy. Tại huyện Can Lộc dịch xẩy ra trên địa bàn 6 xã (Thiên Lộc, Thượng Lộc, Thị trấn Nghèn, Vượng Lộc, Đồng Lộc, Sơn Lộc), có 9 thôn với 20 hộ chăn nuôi có dịch, tổng số gia súc bị bệnh là 63 con (8 con trâu, 19 con bò, 36 con lợn), đã tiêu hủy 36 con lợn; huyện Cẩm Xuyên có 12 xã, 44 thôn với 217 hộ chăn nuôi có dịch, tổng số lợn bị bệnh là 2.137 con, đã tiêu hủy 1.669 con; huyện Hương Khê có 1 xã, 2 thôn với 2 hộ chăn nuôi có dịch, tổng số lợn bị bệnh là 23con và bị tiêu hủy hết; huyện Thạch Hà có 4 xã, 12 thôn với 60 hộ chăn nuôi có dịch, tổng số gia súc bị bệnh là 610 con (1 con trâu, 3 con bò và 606 con lợn), số bị tiêu hủy là 311 con lợn. Trước diễn biến của dịch bệnh, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh đã huy động lực lượng để dập dịch, lập 33 chốt kiểm dịch, lập 224 bản cam kết với hộ chăn nuôi, đánh dấu 35 đầu con trâu bò mắc bệnh để quản lý. Sử dụng 77,85 tấn vôi bột và 1.799 lít hóa chất để khử trùng, tiêm phòng bao vây 31.770 con gia súc. Chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Kỷ Hợi, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong khi dịch bệnh xẩy ra sẽ gây ra những khó khăn và thiệt hại cho người chăn nuôi.          1.2. Lâm nghiệp - Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong tháng tập trung chủ yếu vào trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng và bảo vệ rừng. Tính đến ngày 15/01/2019 toàn tỉnh trồng được 463 ha rừng tập trung, bằng 76,28% (giảm 144 ha) và 310 ngàn cây phân tán, bằng 64,99% (giảm 167 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay tỉnh đang triển khai công tác chuẩn bị cho Tết trồng cây Xuân Kỷ Hợi.  - Khai thác gỗ và lâm sản: Dự ước trong tháng 01/2019 khai thác đạt 13.607 m3 gỗ, bằng 95,24% (giảm 680 m3) so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 24.270 Ste củi bằng 61,76% (giảm 15.029 Ste) so với cùng kỳ năm trước. Gỗ khai thác chủ yếu ở huyện Hương Khê do có một số diện tích rừng trồng đã đến tuổi khai thác, còn các địa phương khác có sản lượng khai thác giảm do rừng mới được trồng lại sau cơn bão tháng 10/2017 chưa đến tuổi khai thác. Từ đầu tháng 01/2019 đến nay chưa có thiệt hại về rừng xẩy ra.         1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 01/2019 nhìn chung ổn định. Do thời tiết tương đối thuận lợi cho các tàu thuyền ra khơi đánh bắt, cũng như nuôi trồng thủy sản nên đã làm cho sản lượng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng dự kiến sẽ thu hoạch trong tháng 02/2019 để phục vụ nhu cầu dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi.   Trong tháng chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng.         2. Sản xuất công nghiệp              Sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 01/2019 vẫn tiếp tục duy trì phát triển sản xuất, giữ mức tăng trưởng nhẹ so với tháng trước nhưng đạt mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 4 ngành công nghiệp cấp I. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất kim loại (chủ yếu sản xuất thép) tăng 65,27%; than cốc tăng 76,65%; khai khoáng khác (chủ yếu khai thác cát, sỏi, đá) tăng 58,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 122,52%; may trang phục tăng 50,06%; dệt tăng 40,93%. Bên cạnh đó, cũng có một số ngành giảm mạnh như: Khai thác quặng giảm 56,36%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 30,05%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 25,15%.         Trong tháng 01/2019, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Thép tăng 65,27%; thức ăn gia súc tăng 78,5%; than cốc tăng 76,7%; đá xây dựng tăng 60,9%; mực đông lạnh tăng 57,1%. Một số sản phẩm giảm mạnh: Quặng zincon giảm 61,9%; bê tông tươi giảm 70,1%; vỏ bào và dăm gỗ giảm 36,6%.          Do tính chất thời vụ là tháng cận Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nên chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01/2019 tăng 16,5% so với tháng trước và tăng 41,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất trang phục tăng 88,5%; chế biến thực phẩm tăng 73,21%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 68,18%; sản xuất kim loại tăng 49,35%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Than cốc giảm 97,88%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 44,32%.         Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01/2019 tăng 34,86% so với tháng trước và tăng 121,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 149,85%; than cốc tăng 4,79 lần; sản xuất kim loại tăng 2,23 lần; ngành dệt tăng 154,26%.         Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 01/2019 giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 1,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 01/2019 biến động không lớn nhưng lại có sự dịch chuyển giữa các khu vực với xu thế lao động khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang dần tăng lên trong khi các khu vực khác lại giảm xuống.         3. Vốn đầu tư         Ước tính thực hiện kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2019 đạt 222,52 tỷ đồng, giảm 5,3% so với tháng trước và tăng 12,08% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2019 giảm so với tháng trước và chủ yếu giảm ở nguồn vốn cấp tỉnh. Trong tháng 01/2019, chủ yếu thi công các dự án chuyển tiếp từ năm 2018, hoàn thành việc giải ngân và thanh quyết toán theo kế hoạch năm 2018, còn các công trình thuộc kế hoạch năm 2019 vẫn chưa có quyết định phân bổ vốn. Năm 2019, kế hoạch vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý giao 3.582.062 triệu đồng, tăng 8,83% so với năm 2018, trong đó: Vốn cân đối ngân sách cấp tỉnh, huyện, xã là 2.151.488 triệu đồng (trong đó thu từ quỹ sử dụng đất là 1.369.600 triệu đồng); nguồn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương là 740.860 triệu đồng; nguồn vốn ODA là 421.400 triệu đồng. Kế hoạch vốn đầu tư thực hiện cấp tỉnh được giao 2.452.241 triệu đồng, tăng 6,12% so với năm trước, trong đó: Vốn cân đối ngân sách tỉnh tăng 36,7%; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu giảm 29,77%. Kế hoạch vốn ngân sách cấp huyện được giao 759.320 triệu đồng, tăng 37,06%. Kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 370.501 triệu đồng, tăng 13,17%, nguồn vốn chủ yếu thu từ quỹ sử dụng đất.          4. Thương mại, dịch vụ và giá cả              4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 01/2019 đạt 3.548,97 tỷ đồng, tăng 8,03% so với tháng trước và tăng 19,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 162,61 tỷ đồng, tăng 3,53%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 3.386,34 tỷ đồng, tăng 20,45%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,02 tỷ đồng, giảm 98,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tư nhân (tăng 26,13%). Xét theo nhóm ngành hàng, trong tháng 01/2019, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước đạt 290,99 tỷ đồng, tăng 103,03%; vật phẩm văn hóa, giáo dục ước đạt 50,34 tỷ đồng, tăng 100,97%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 222,67 tỷ đồng, tăng 33,54%. Trong các nhóm hàng, chỉ có hàng hóa khác doanh thu ước đạt 225,13 tỷ đồng, giảm 7,22% so với cùng kỳ năm trước. Để đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường phục vụ Tết, UBND tỉnh đã ban hành văn bản số 7201/UBND-NL ngày 15/11/2018 về việc thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường phục vụ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi. Đồng thời, chỉ đạo các doanh nghiệp chủ động đảm bảo nguồn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, không để xẩy ra tình trạng thiếu hàng hóa trên thị trường và phân phối hàng hóa bán lẻ thiết yếu rộng rãi; phối hợp với Cục Quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh. Ước tính lượng hàng hóa dữ trữ đáp ứng được khoảng 5% nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Kỷ Hợi. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2019 ước đạt 405,83 tỷ đồng, tăng 6,21% so với tháng trước và tăng 45,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: So với tháng trước, doanh thu dịch vụ l­ưu trú ước đạt 26,49 tỷ đồng, giảm 4,75%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 377,34 tỷ đồng, tăng 7,11%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 2 tỷ đồng, tăng 0,44%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2019 tiếp tục tăng so với tháng trước, nhưng chỉ tăng nhẹ và tăng chủ yếu ở dịch vụ ăn uống. Trong tháng, chỉ có hoạt đông dịch vụ lưu trú giảm so với tháng trước, do thời tiết mưa lạnh nên nhu cầu nghỉ dưỡng ít, lượt khách nghỉ giảm, nhất là khu vực kinh tế Nhà nước giảm 5,68% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm 29,32% so với tháng trước. Dự kiến tháng 02/2019 hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành xu hương tiếp tục tăng nhẹ so tháng 01/2019 ở nhóm ngành kinh doanh ăn uống và du lịch lữ hành. Do đầu xuân năm mới nhu cầu đi du lịch lễ hội, tham quan vãn cảnh các điểm văn hóa, tâm linh sẽ tăng.         - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 01/2019 ước đạt 116,83 tỷ đồng, tăng 3,27% so với tháng trước và tăng 5,86% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 6,5 tỷ đồng, giảm 9,79%; ngoài nhà nước ước đạt 109,49 tỷ đồng, tăng 7,07%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,84 tỷ đồng, giảm 6,28% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu dịch vụ khác tháng 01/2019 có tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu tăng ở khu vực kinh tế cá thể (tăng 7,37%), kinh tế tư nhân (tăng 5,97%). Dự kiến sang tháng 02/2019 là tháng lễ Tết Nguyên Đán Kỷ Hợi nên nhu cầu sử dụng một số ngành dịch vụ tăng cao, dẫn đến doanh thu tăng. Tăng chủ yếu ở nhóm dịch vụ y tế, dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí, dịch vụ sữa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình và tăng ở nhóm dịch vụ khác.         4.2. Hoạt động vận tải Vận tải hành khách: Số lượng hành khách vận chuyển tháng 01/2019 ước đạt 2,03 triệu lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 337,1 triệu lượt hành khách.km. So với tháng trước tăng 8,65% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 3,33% về lượt hành khách.km luân chuyển. Doanh thu vận tải hành khách tháng 01/2019 ước đạt 153,7 tỷ đồng, tăng 6,26% so với tháng trước.          Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 01/2019 ước đạt 3,43 triệu tấn với khối lượng luân chuyển là 84,16 triệu tấn.km hàng hóa. So với tháng trước tăng 1,13% về khối lượng vận chuyển và tăng 0,13% về khối lượng luân chuyển. Doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa tháng 01/2019 ước đạt 260,86 tỷ đồng, tăng 1,41% so với tháng trước. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vận tải tháng 01/2019 tăng hơn so với tháng trước. Đối với vận tải hành khách là tháng gần dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nhu cầu đi lại tăng, nên các đơn vị, doanh nghiệp dự kiến tăng chuyến vận tải hành khách; dự kiến giá cước xe biến động tăng bình quân từ 20-30% đồng/lượt khách tuyến xe Hà Nội - Hà Tĩnh (giá vé tạm bán những ngày giáp tết 300 ngàn đồng/vé). Còn vận tải hàng hóa tăng do nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ Tết, cũng như vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng tăng. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùng         CPI tháng 01 năm 2019, giảm 0,44% so tháng trước, tăng 1,53% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị giảm 0,49% và khu vực nông thôn giảm 0,4%. Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 01/2019 giảm nhẹ so với tháng trước đó là: (1) Giá thực phẩm giảm 1,12% do giá lợn, bò hơi giảm mạnh bởi ảnh hưởng của dịch bệnh long móng lở mồm trên đàn gia súc xẩy ra trên địa bàn trong thời gian qua đã làm cho giá thịt thành phẩm và các sản phẩm chế biến từ thịt giảm mạnh với mức giảm lên đến từ 10.000-20.000 đồng/kg; (2) Giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,27%, hoạt động xây dựng cơ bản giảm xuống trong tháng đầu năm cùng với giá nhiên liệu giảm mạnh trong thời gian qua đã làm cho giá các loại vật liệu sắt thép giảm so tháng trước; (3) Nhóm giao thông giảm 2,84% do tác động bởi hai kỳ điều chỉnh giảm giá xăng dầu vào các ngày 01/01 và 16/01/2019. Cùng với đó, Sở Giao thông vận tải Hà Tĩnh với tư cách đơn vị quản lý giá cước vận tải cũng yêu cầu các đơn vị kinh doanh dịch vụ vận tải giảm giá cước xe buýt và tắc xi (giá vé xe buýt toàn tuyến giảm 2.000 đồng/tuyến và giá cước taxi giảm 500 đồng/km); (4) Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,20%, do trong dịp này nhiều hãng bán lẻ, cửa hàng điện thoại đã triển khai nhiều chương trình khuyến mãi kích cầu doanh số, giảm tồn kho các mẫu mã cũ, làm mức giá thực tế của một số model điện thoại giảm giá so với tháng trước; (5) Cùng với sự giảm giá của 4 nhóm hàng hóa nói trên, để góp phần làm cho chỉ số giá tháng 01/2019 giảm chính là sự ổn định không biến động về giá của 2 nhóm hàng hóa (nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục). Cùng với đó, tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 01/2019 là sự tăng giá so với tháng trước của 5 nhóm hàng hóa, dịch vụ gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,21%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,4%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28%. Như vậy, chỉ có nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng cao còn lại 4 nhóm chỉ có mức giá tăng nhẹ so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do yếu tố mùa vụ cũng như nhu cầu về mang mặc, làm đẹp của người dân đang có xu hướng tăng lên, nhất là vào dịp giáp Tết Nguyên đán. Chỉ số giá vàng tháng 01/2019 tăng 1,41% so tháng trước, tăng 0,82% so cùng kỳ năm trước. Giá vàng trong tháng 01/2019 tiếp tục tăng. Xu hướng càng về cuối năm âm lịch thì giá vàng càng tăng, với mức giá tại thời điểm ngày 21/01/2019 là 3.675 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.699 ngàn đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2019 giảm 0,54% so với tháng trước, tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/01/2019 mức giá bán ra 2.324 ngàn đồng/100USD. Dự kiến CPI tháng 2/2019 sẽ tăng so với tháng trước. Nguyên nhân do Tết Nguyên đán Kỷ Hợi rơi vào thời điểm nửa đầu tháng, nhu cầu tiêu dùng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến một số nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng, nhất là các nhóm hàng phục vụ đời sống thiết yếu của người dân. Dự báo giá các mặt hàng sẽ tăng mạnh vào thời điểm đầu tháng và giảm dần về cuối tháng.          5. Một số vấn đề xã hội         5.1. Tình hình thiếu đói         Trong tháng, với việc chăm sóc, thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông và làm thêm các công việc khác để tăng thu nhập. Cùng với đó công tác an sinh xã hội được đảm bảo nên đời sống của người dân vẫn ổn định. Vì vậy, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra thiếu đói. Dự kiến trong tháng tới thiếu đói trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra.         Nhân dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi, UBND tỉnh đã trích ngân sách 6.329 triệu đồng để tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết cổ truyền Kỷ Hợi (theo Quyết định 106/QĐ-UBND ngày 09/01/2019 của UBND tỉnh); cùng với đó UBND cũng đã trích ngân sách 1.486,75 triệu đồng để tặng quà cho 5.947 người là đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, với mức quà tặng bằng tiền mặt là 250.000 đồng/1 người (theo Quyết định 193/QĐ-UBND ngày 14/01/2019 của UBND tỉnh).         Với tinh thần nhân ái, "lá lành đùm lá rách", các cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp các nhà hảo tâm và nhân dân đã tích cực hưởng ứng chương trình "Tết vì người nghèo - Xuân Kỷ Hợi 2019". Đến nay đã và đang phân bổ 3.805 suất quà với tổng trị giá là 2.103 triệu đồng để trao cho các đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi.          Hằng năm, UBND tỉnh vẫn thực hiện hỗ trợ gạo cho các huyện, thị xã, thành phố trong dịp Tết nguyên đán, tuy nhiên năm nay do nhu cầu ít nên các huyện, thị xã, thành phố tự thực hiện cân đối.         5.2. Hoạt động y tế  - Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tập trung công tác phòng chống dịch như: Sốt xuất huyết, lỵ trực trùng, lỵ a mip, chân tay miệng, cúm, tiêu chảy cấp và bệnh do adeno, tổ chức kiểm tra và giám sát VSAT thực phẩm. Mặt khác, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh phối hợp với các ngành liên quan thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo các phòng Y tế, trung tâm Y tế dự phòng huyện, thị xã, thành phố chủ động phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường trong đợt rét; tăng cường công tác giám sát dịch, phát hiện sớm và kịp thời dập tắt dịch bệnh. Trong tháng, toàn tỉnh chỉ xảy ra 89 trường hợp mắc thủy đậu (đây chỉ là những trường hợp đơn lẻ, không tạo thành dịch) và không có trường hợp nào tử vong.  - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, các cấp, các ngành cần tiếp tục đẩy mạnh về công tác truyền thông thay đổi hành vi; giám sát, tiếp cận bệnh nhân để vận động họ tham gia điều trị ARV và chương trình điều trị Methadone; đồng thời tích cực tham mưu cho UBND các cấp thực hiện kế hoạch bảo đảm tài chính cho công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 1 người nhiễm HIV (giảm 2 trường hợp so với cùng kỳ năm 2018), 3 người chuyển thành AIDS và có 1 người chết vì AIDS.  - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hiện nay, an toàn thực phẩm là vấn đề diễn ra phức tạp ở tất cả các khâu của chuỗi thực phẩm, dịch vụ ăn uống và tất cả các địa phương, đặc biệt là dịp Tết Nguyên đán. Do vậy, ngành y tế Hà Tĩnh đã khẩn trương tập trung vào công tác quản lý, chỉ đạo; thông tin tuyên truyền giáo dục; thanh tra liên ngành về an toàn thực phẩm; giám sát phát hiện sớm ca ngộ độc thực phẩm trong cộng đồng; điều tra, xử lý khắc phục vụ ngộ độc thực phẩm; bảo đảm vật tư, hóa chất, phương tiện phòng chống ngộ độc thực phẩm. Trong tháng 01/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 144 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, tăng 54,84% so với cùng kỳ năm 2018. Không có trường hợp nào tử vong do ngộ độc thực phẩm.         5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao  - Hoạt động văn hóa: Tại thành phố Hà Tĩnh diễn ra chương trình nghệ thuật “Chào năm mới 2019”, thu hút đông đảo khán giả trên địa bàn đến xem. Chương trình gồm nhiều tiết mục nghệ thuật ca múa nhạc, dân ca ví - giặm đặc sắc, ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ kính yêu, vẻ đẹp quê hương, đất nước và sự phát triển vượt bậc của thành phố trẻ.         Cũng trong thời gian này, Đài Phát thanh-Truyền hình Hà Tĩnh đã tổ chức đêm chung kết Liên hoan Tiếng hát truyền hình Hà Tĩnh - Giải Sao Mai năm 2019. Đây là nơi phát hiện những tài năng trong lĩnh vực âm nhạc, những giọng ca thực sự thuyết phục về chuyên môn nghệ thuật với 3 dòng biểu diễn âm nhạc phổ biến ở Việt Nam, đó là: Thính phòng cổ điển, dân gian và nhạc nhẹ.         - Thể thao quần chúng: Được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương, phong trào thể dục thể thao quần chúng đã phát triển khá toàn diện, như: Giải Karatedo thanh- thiếu nhi võ đường Hùng Quân mở rộng, đây là dịp để VĐV của các câu lạc bộ, các võ đường giao lưu học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kỹ năng thi đấu để tạo nguồn cho thể thao thành tích cao của tỉnh, đồng thời thắt chặt tinh thần đoàn kết xây dựng nền võ thuật ngày càng phát triển.         Vào ngày 12/01/2019, tại Nhà thi đấu Thể dục - Thể thao tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh phối hợp với Ban thể thao VTV3, các đơn vị liên quan tổ chức lễ ra mắt Câu lạc bộ bóng đá Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh. 5.4. Tình hình an toàn giao thông  Đảm bảo trật tự an toàn giao thông là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Do đó, ngay từ tháng đầu tiên của năm 2019, Công an Hà Tĩnh đã triển khai các biện pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế tai nạn và ùn tắc giao thông. Lực lượng Cảnh sát giao thông huy động tối đa lực lượng, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, tiến hành tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông, trọng tâm là các hành vi như: Chạy quá tốc độ; đi không đúng phần đường, làn đường; tránh, vượt sai quy định; chở quá tải, quá số người quy định; vi phạm về nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện cơ giới; đón, trả khách không đúng nơi quy định; vi phạm về đội mũ bảo hiểm; không chấp hành tín hiệu điều khiển giao thông; không có giấy phép lái xe hoặc giấy phép lái xe không hợp lệ; xe hết niên hạn sử dụng, hết hạn đăng kiểm... Tính từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/01/2019, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người, bị thương 6 người, thiệt hại tài sản 40 triệu đồng (so với tháng trước tăng 1 vụ, tăng 2 người chết). So cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 3 người chết và tăng 3 người bị thương.         5.5. Môi trường          - Tình hình cháy nổ: Trong tháng 01/2019, khu vực dân sự chỉ xảy ra 1 vụ cháy đường dây điện, nhưng thiệt hại không đáng kể.  - Về vi phạm môi trường: Với mục tiêu cùng chung tay bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra về công tác bảo vệ môi trường. Trong tháng đã phát hiện 4 cơ sở vi phạm do khai thác đất trái phép và xử lý, đổ chất thải không đúng nơi quy định; đã xử lý 3 cơ sở với số tiền 14 triệu đồng.         Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

BÁO CÁO Ước tính tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh năm 2018
  •   19/07/2024 16:35

BÁO CÁOƯớc tính tình hình kinh tế - xã hội năm 20181. Tăng trưởng kinh tế2. Tài chính, ngân hàng2.1. Thu - chi ngân sách: Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh tính đến 31/11/2017 đạt 10.180,9 tỷ đồng, bằng 100,24% so với cùng kỳ năm trước và bằng 137,49% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa đạt 4.530,5 tỷ đồng, bằng 103,14% so với cùng kỳ năm trước và bằng 77,38% dự toán năm; thu hải quan đạt 2.626,8 tỷ đồng, bằng 147,078% so với cùng kỳ năm trước và bằng 169,47% dự toán năm. Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước vẫn còn gặp khó khăn. Thời gian tới cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2017 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn toàn tỉnh tính đến ngày 31/11/2017 là 15.682,6 tỷ đồng, bằng 99,84% so với cùng kỳ năm trước và bằng 91,64% so với dự toán năm, trong đó: Chi ngân sách Nhà nước là 10.144,2 tỷ đồng, bằng 104,73% so với cùng kỳ năm trước và bằng 86,88% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 5.467,3 tỷ đồng, bằng 92,74% so với cùng kỳ năm trước và bằng 131,82% so với dự toán năm. Cụ thể một số khoản chi như sau: Chi đầu tư phát triển 3.634,1 tỷ đồng, bằng 102,14% so với cùng kỳ năm trước và bằng 130,18% so với dự toán năm; chi thường xuyên 6.510 tỷ đồng, bằng 106,31% so với cùng kỳ năm trước và bằng 73,28% so với dự toán năm. Trong điều kiện thu ngân sách rất khó khăn, nhưng với các giải pháp điều hành linh hoạt, hợp lý nên chi ngân sách địa phương cơ bản thực hiện đúng tiến độ theo dự toán. Một số nhiệm vụ, mục tiêu của tỉnh được quan tâm giải ngân kịp thời ngay từ đầu năm, chủ động cân đối xử lý nguồn kịp thời cho các cấp, các ngành, đơn vị thực hiện. Đảm bảo đủ nguồn vốn cho chi đầu tư phát triển, chi các hoạt động hành chính, sự nghiệp cấp tỉnh, các chính sách phát triển, an sinh xã hội, an ninh- quốc phòng và cố gắng, kịp thời đáp ứng nguồn thực hiện các nhiệm vụ đột xuất cấp bách, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.2.2. Hoạt động ngân hàng: Năm 2017, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý ước tính đến thời điểm 15/11/2017 đạt 41.415 tỷ đồng, tăng 20,3% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2017, nguồn vốn huy động đạt 42.150 tỷ đồng, tăng 23,26% so với đầu năm, vượt kế hoạch 35,06% kế hoạch đề ra đầu năm (kế hoạch tăng 17%). Huy động vốn tăng trưởng mạnh (tăng 19,16% so với đầu năm, tăng 22,45% so với cùng kỳ năm trước); trong đó nguồn vốn tiết kiệm dân cư tăng 19,82%, điều đó chứng tỏ việc gửi tiền vào ngân hàng vẫn là một kênh đầu tư hấp dẫn người dân. Nguồn vốn huy động tăng, trong đó nguồn trung dài hạn tăng hơn 50%, đã tạo điều kiện cho ngân hàng chủ động nguồn vốn để đẩy mạnh hoạt động cho vay trên địa bàn.- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay, nhờ đó dư nợ của các tổ chức tín dụng tăng trưởng tương đối tốt và tăng đều qua các tháng. Doanh số cho vay 10 tháng đầu năm 2017 đạt 47.726 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2016. Dư nợ cho vay đến 31/10/2017 đạt 36.414 tỷ đồng, tăng 10,04% so với đầu năm, tăng 22,44% so với cùng kỳ năm 2016.Dư nợ cho vay đến ngày 15/11/2017 đạt 37.185 tỷ đồng, tăng 12,36% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2017 tổng dư nợ đạt 38.725 tỷ đồng, tăng 17% so với đầu năm, đạt 100% so với kế hoạch đề ra. - Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn: Trong 10 tháng đầu năm 2017, số khách hàng được cho vay hỗ trợ lãi suất theo các quyết định của Chính phủ, của tỉnh tăng 194 khách hàng, với doanh số cho vay được hỗ trợ là 102,49 tỷ đồng, lãi được hỗ trợ cho các khách hàng đang hưởng chính sách là 28,05 tỷ đồng (lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.604 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là 43.099, số lãi được hỗ trợ 339,9 tỷ đồng). Từ đầu năm đến 31/10/2017, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ cho 5.363 khách hàng với dư nợ được cơ cấu, điều chỉnh kỳ hạn là hơn 326 tỷ đồng. Tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp do sự cố môi trường biển. Tính từ thời điểm xảy ra sự cố đến nay đã thực hiện cơ cấu lại nợ cho 446 khách hàng với tổng dư nợ được cơ cấu là 82,66 tỷ đồng, miễn giảm lãi vay cho 319 khách hàng với số lãi được miễn giảm là 1,1 tỷ đồng. Cho vay mới đối với 1.824 khách hàng với doanh số cho vay lũy kế 132,06 tỷ đồng. Cho vay đóng tàu, mua ngư cụ đối với 25 khách hàng, doanh số cho vay là 11,76 tỷ đồng, cho vay chuyển đối nghề tại Ngân hàng chính sách xã hội đối với 89 khách hàng, doanh số cho vay được hỗ trợ là 4,24 tỷ đồng. Thực hiện cơ cấu lại nợ theo Quyết định số 12/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 09 khách hàng với tổng dư nợ là 30,2 tỷ đồng; cho vay khôi phục sản xuất kinh doanh, chuyển đổi nghề cho 1.180 khách hàng với doanh số cho vay 132,44 tỷ đồng. Triển khai Nghị định 67, tính đến ngày 31/10/2017 đã có 11 chủ tàu ký hợp đồng tín dụng với các ngân hàng thương mại với tổng hạn mức cho vay là 162,93 tỷ đồng, đã giải ngân được 157,98 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm hiện tại 152,62 tỷ đồng. Đã bàn giao và hạ thủy được 10 con tàu vỏ thép, còn 01 tàu đang tiếp tục hoàn thiện để đưa vào sử dụng. Triển khai Nghị quyết 02, có 07 ngân hàng tham gia, đã cho vay 1.027 khách hàng với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng, tính đến 31/10/2017 dư nợ là 402 tỷ đồng. Còn triển khai chương trình kết nối Ngân hàng-Doanh nghiệp, 10 tháng đầu năm, ngành Ngân hàng đã chủ trì và phối hợp tổ chức 08 cuộc kết nối, với doanh số lũy kế hơn 33 tỷ đồng, cam kết cho vay hơn 28 nghìn khách hàng, trong đó có 2.000 là doanh nghiệp.Về dư nợ các chương trình chính sách trên địa bàn, tính đến ngày 31/10/2017 dư nợ NHCSXH đạt 4.077 tỷ đồng, chiếm 11,20% tổng dư nợ toàn địa bàn, dư nợ cụ thể các chương trình như sau: Cho vay hộ nghèo 693 tỷ đồng; Cho vay hộ cận nghèo 1.050 tỷ đồng; Cho vay hộ mới thoát nghèo 550 tỷ đồng; Cho vay HSSV 352 tỷ đồng; Cho vay GQVL 91,3 tỷ đồng; Cho vay XKLĐ 5,6 tỷ đồng; Cho vay NS&VSMTNT 510 tỷ đồng; Cho vay doanh nghiệp 0,13 tỷ đồng; Cho vay SXKD tại VKK 691 tỷ đồng; Cho vay thương nhân VKK 3,5 tỷ đồng; Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ167: 67,9 tỷ đồng; Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ33: 4,37 tỷ; Cho vay xây chòi tránh lũ, lụt 0,84 tỷ đồng; và một số chương trình khác.- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn. Đặc biệt đã đáp ứng nhu cầu tiền mặt cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Công tác phát hiện xử lý, phối hợp với các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tiền giả được quan tâm. Tính đến 31/10/2017 trên địa bàn có 132 máy đang hoạt động (trong đó: thành phố 58 máy và các huyện, thị xã 74 máy) với số lượng thẻ phát hành hơn 540 nghìn thẻ, tăng 3,13% so với đầu năm, tại địa bàn giao dịch qua máy ATM chủ yếu là rút tiền mặt (chiếm 94,18% tổng giao dịch qua máy ATM); toàn tỉnh có 374 máy POS, tăng 29 máy so với đầu năm, có 232 điểm chấp nhận thẻ đã kết nối liên thông với các TCTD trên địa bàn.        3. Đầu tư và xây dựng3.1. Đầu tư phát triển:Ước tính vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2018 theo giá hiện hành đạt 32.145,67 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước.Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2018Năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng so với năm 2017, nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu tăng ở khu vực vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng chủ yếu ở Dự án Formosa, hiện nay dự án tập trung nguồn vốn hoàn thiện lò cao số 2, các hạng phục phụ trợ còn lại và đầu tư mua sắm thiết bị máy móc lắp đặt lò cao nên nguồn vốn tăng so với năm trước. Riêng nguồn vốn Nhà nước giảm 11,37% và ngoài Nhà nước giảm 7,01%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư năm 2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 50,92%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 34,26%); còn xét theo khoản mục đầu tư, thì nguồn vốn tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 87,54%).Tính riêng quý IV/2018, vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 8.309,01 tỷ đồng, giảm 10,8 % so với quý trước và tăng 23,69% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội quý IV/2018 giảm so với quý trước chủ yếu giảm ở nguồn vốn Nhà nước (giảm 19,31%) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (giảm 17,27%). Vốn nhà nước giảm mạnh do các công trình xây dựng đã vào giai đoạn hoàn thành và hoàn tất thủ tục thanh toán giải ngân vốn cuối năm, nên giá trị thực hiện đầu tư công trình giảm dần trong các tháng cuối năm; còn vốn nước ngoài giảm chủ yếu do vốn đầu tư dự án Formosa giảm 17,05% (giảm 840,4 tỷ đồng).Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2018 tăng khá, ước đạt 3.436,43 tỷ đồng, tăng 19,69% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Trung ương quản lý ước đạt 205,74 tỷ đồng, tăng 23,48%; vốn địa phương quản lý ước đạt 3.230,69 tỷ đồng, tăng 19,46%.Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý năm 2018 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng ở nguồn vốn cấp tỉnh (tăng 23,15%) và cấp huyện (tăng 41,58%). Nếu tách từng quý cho thấy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I/2018 đạt 607,81 tỷ đồng (giảm 6,99% so với cùng kỳ năm trước); sang quý II, quý III và quý IV đạt mức tăng khá, lần lượt đạt 887,75 tỷ đồng (tăng 29,02%), 991,8 tỷ đồng (tăng 32,57%) và 743,33 tỷ đồng (tăng 20,9%). 3.2. Xây dựngNăm 2018, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với các công trình; tuy nhiên, do Dự án Formosa hiện tập trung nguồn vốn hoàn thiện lò cao số 2, các hạng phục phụ trợ còn lại và xây dựng nhà ở cho công nhân nên giá trị năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước, nhưng chỉ tăng nhẹ. Giá trị xây dựng toàn tỉnh năm 2018 tăng 0,84% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu tăng mạnh ở xây dựng khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, lần lượt tăng 2,37 lần và 78,2%. Riêng xây dựng khu vực ngoài Nhà nước năm 2018 giảm 2,63% so với cùng kỳ năm trước, do xây dựng khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 5,23% và khu vực xã, phường, thị trấn giảm 5,65%. Riêng quý IV/2018, một số dự án lớn trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì đầu tư xây dựng như: Dự án khu phức hợp Vincom Hà Tĩnh; một số hạng mục, công trình phụ trợ thuộc dự án Formosa Hà Tĩnh; Hồ chứa nước Ngàn Trươi-Hà Tĩnh; đường trung tâm huyện Kỳ Anh; kênh mương hồ Rào Trổ; nâng cấp đê dọc bờ biển Lộc Hà; khu cảng tổng hợp quốc tế Hoành Sơn…nên giá trị xây dựng quý III có tăng nhẹ so với quý trước. Giá trị xây dựng quý IV tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. 3. Sản xuất công nghiệp- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2018 ước tính tăng 9,24% so với tháng trước và tăng 65,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,59%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 102,15%; sản xuất và phân phối điện giảm 18,83%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 19,06% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Tính riêng quý IV/2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 50,87% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của quý I, quý II (quý I tăng 162,45%; quý II tăng 171,03%).Trong 4 ngành công nghiệp cấp I, hầu hết đều có chỉ số sản xuất tăng ở cả 4 quý. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất quý I giảm 11,32%; quý II giảm 2,74%; sang quý III tăng 12,68%; đạt mức tăng khá ở quý IV (tăng 34,85%) và, chủ yếu tăng ở khai thác cát, sỏi, đá (tăng 37,94%). Như vậy, sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh vẫn đạt tăng trưởng cao ở cả 4 quý, nhưng sang quý III và quý IV mức tăng có phần chững lại.       Tính chung cả năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 88,98% so với cùng kỳ năm trước và tăng thấp hơn 2,88 điểm % so với 11 tháng đầu năm (chung 11 tháng tăng 91,86%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 113,55%, đóng góp 81 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 29,3%, đóng góp 7,66 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 21,43%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 8,59%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm. Như vậy, năm 2018 hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa, nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh năm 2018 giảm 1,76% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,9%; sản xuất và phân phối điện giảm 10,7%. - Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 tăng 21,36% so với tháng trước và tăng 68,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính cả năm 2018, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 148,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 1,87 lần; sản xuất than cốc tăng 78,27%; dệt tăng 44,16%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 56,91%; chế biến thực phẩm giảm 51,46%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 tăng 37,85% so với tháng trước và tăng 110,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc tăng 7,39 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 5,03 lần; sản xuất giấy tăng 2,39 lần; ngành dệt tăng 1,48 lần.- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 12/2018 giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 8,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 28,82%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 16,71%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tình hình đăng ký kinh doanh: Lũy kế đến ngày 15/12/2018, toàn tỉnh Hà Tĩnh có 722 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó loại hình công ty cổ phần thành lập mới 125 đơn vị, chiếm 17,3% trong tổng số; loại hình công ty TNHH thành lập mới 594 đơn vị, chiếm 82,3% và loại hình doanh nghiệp tư nhân 3 đơn vị, chiếm 0,4%.Tổng số vốn đăng ký đạt 6.238 tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân đạt 8,6 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 1,15 tỷ đồng/doanh nghiệp so cùng kỳ năm trước) thể hiện các doanh nghiệp ngày càng tăng quy mô vốn. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng khá cao, bên cạnh tăng về số lượng, các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, năm 2018 đã giải quyết việc là, cho 9.415 lao động mới. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất (7.786 lao động), tiếp đến là loại hình công ty cổ phần (1.622 lao động) và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 15/12/2018 là 214 doanh nghiệp, tăng 21,5% và có 105 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, tăng 21,5% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong năm 2018 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng vẫn có xu hướng tăng, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. - Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV/2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 68,9% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 20% khẳng định SXKD tốt lên; 48,9% khẳng định giữ ổn định); 31,1% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý I/2018 so với quý IV/2018, có 68,9% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định (trong đó 31,1% số doanh nghiệp dự báo tốt lên; 37,8% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 31,1% số doanh nghiệp khó khăn hơn.Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 53,3% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”; 75,6% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”; 40% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 48,9% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.       Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2018, có 26,7% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý III/2018; 33,3% giảm đi; có 16,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 34,9% giảm đi; 78,6% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 17,8% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy) và 26,7% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 4,4% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 6,7% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý I/2019 so quý IV/2018 có 27,9% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 15,4% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 28,9% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 31,1% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.Đánh giá về biến động lao động quý IV/2018 so với quý III/2018, có 91,1% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 8,9% khẳng định tăng lên; 82,2% khẳng định giữ ổn định) và 8,9% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý I/2019 so với quý IV/2018 có 88,9% doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định; 11,1% doanh nghiệp dự kiện giảm lao động, điều đó cho thấy các doanh nghiệp gặp khó khăn trong quý tới và không có nhu cầu tuyển thêm lao động để phục vụ sản xuất kinh doanh.5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản5.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh sơ bộ đạt 159.235 ha, bằng 99,42% (giảm 928 ha), cây lương thực có hạt đạt 111.767 ha, chiếm 70,19% tổng diện tích gieo trồng và bằng 98,89% so với năm 2016. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 470.430 tấn, bằng 83,12% (giảm 95.508 tấn), trong đó sản lượng lúa đạt 442.980 tấn, bằng 83,52% (giảm 87.419 tấn); sản lượng ngô đạt 27.450 tấn, bằng 77,24% (giảm 8.089 tấn) so với năm 2016.Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 104.072 ha, bằng 100,67% (tăng 688 ha) so với năm trước; lúa Đông Xuân đạt 58.866 ha, bằng 101,15% (tăng 670 ha); lúa Hè Thu đạt 44.510 ha, bằng 101,17% (tăng 513 ha); lúa Mùa đạt 1.191 ha, bằng 58,44% (giảm 495 ha). Nguyên nhân tăng chủ yếu nhờ sự chỉ đạo của UBND các huyện, cùng với các ngành đã vào cuộc quyết không để diện tích đất bỏ hoang và cung cấp nguồn nước tưới tiêu đầy đủ, kịp thời cho người dân sản xuất. Riêng diện tích gieo cấy lúa mùa giảm do hiệu quả kinh tế đạt thấp nên nhiều huyện không gieo cấy; đồng thời, ở một số vùng diện tích lúa Mùa đã xuống giống do bị mưa bão làm trôi mất, hoặc bị ngâm nước lúa không phát triển được.Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 42,56 tạ/ha, so với năm trước bằng 82,97% (giảm 8,74 tạ/ha), trong đó: Năng suất lúa vụ Đông Xuân đạt 41,09 tạ/ha, bằng 72,76% (giảm 15,39 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 44,88 tạ/ha, bằng 98,75% (giảm 0,57 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 19,21 tạ/ha, bằng 128,97% (tăng 4,31 tạ/ha) so với cùng kỳ năm 2016. Do ở vụ lúa Đông Xuân bị dịch bệnh gây hại ngay từ đầu vụ, nhất là bệnh đạo ôn cổ bông phát triển gây hại nặng trên diện rộng làm cho hơn 20.782 ha lúa bị thiệt hại nặng, trong đó thiệt hại từ 30-70% là 7.633ha, thiệt hại trên 70% là 13.149 ha, từ đó làm cho sản lượng lúa giảm 86.794 tấn; còn ở vụ lúa Hè Thu do ảnh hưởng tâm lý từ vụ Xuân nên nhiều hộ dân ít chăm sóc, ít quan tâm, thiếu đồng bộ trong việc phun thuốc bảo vệ thực vật, cùng với sự ảnh hưởng của hai cơn bão số 2 và số 4 làm cho nhiều ha lúa bị ngập úng. Tất cả yếu tố này đã làm cho năng suất lúa cả năm giảm so với năm 2016.Diện tích ngô cả năm ước đạt 7.695 ha, bằng 79,86% (giảm 1.940 ha) so với năm 2016, trong đó: Diện tích ngô vụ Đông đạt 2.309 ha, bằng 58,09% (giảm 1.665ha); diện tích ngô vụ Xuân đạt 3.409 ha, bằng 86,76% (giảm 520 ha) và diện tích ngô vụ Thu Mùa ước đạt 1.977 ha, bằng 114,17% (tăng 245 ha). Với năng suất ngô cả năm ước tính đạt 35,66 tạ/ha, bằng 96,68% (giảm 1,22 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước tính đạt 27.440 tấn, bằng 77,21% (giảm 8.099 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng của đợt lũ cuối tháng 10 năm 2016 đã làm cho nhiều ha ngô bị ngập úng; ngoài ra, hiện nay người dân ở các vùng có nuôi bò sữa và nuôi hươu, nhiều hộ đã chuyển sang trồng ngô sinh khối lấy thân lá bán phục vụ chăn nuôi nên làm cho kết quả sản xuất cây ngô giảm cả về diện tích và sản lượng so với cùng kỳ năm trước.Kết quả sản xuất một số loại cây hàng năm khác thiếu ổn định cả về diện tích và năng suất so với năm trước, cụ thể: Cây khoai lang diện tích sơ bộ đạt 4.160 ha, bằng 87,66% (giảm 586 ha), năng suất sơ bộ đạt 64,62 tạ/ha, bằng 101,71% (tăng 1,1 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 27.299 tấn, bằng 89,15% (giảm 3.321 tấn); cây lạc diện tích sơ bộ đạt 15.117 ha, bằng 97,63% (giảm 367 ha), năng suất sơ bộ đạt 23,42 tạ/ha, bằng 94,45% (giảm 1,38 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 35.400 tấn, bằng 92,21% (giảm 2.989 tấn); cây rau các loại diện tích sơ bộ đạt 10.733 ha, bằng 100,59% (tăng 63ha), năng suất sơ bộ đạt 65,93 tạ/ha, bằng 101,27% (tăng 0,82 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 70.759 tấn, bằng 101,85% (tăng 1.288 tấn); cây đậu các loại diện tích sơ bộ đạt 6.711 ha, bằng 82,34% (giảm 1.439 ha), năng suất sơ bộ đạt 6,11 tạ/ha, bằng 68,1% (giảm 2,86 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 4.100 tấn, bằng 56,08% (giảm 3.211 tấn).Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 28.647 ha, bằng 103,88% (tăng 1.070 ha) so với năm 2016, trong đó diện tích cây ăn quả sơ bộ là 15.633 ha, bằng 111,94% (tăng 1.667 ha), chiếm 54,57% tổng diện tích cây lâu năm. Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, được sự hỗ trợ của nhà nước, trên địa bàn thành lập nhiều mô hình, vườn mẫu trồng cây ăn quả tập trung. Các loại cây ăn quả có múi hiệu quả kinh tế cao như: cam có diện tích tăng 1217 ha; bưởi tăng 308 ha; chanh tăng 44 ha. Song cũng có một số diện tích cây ăn quả giảm: dứa giảm 17 ha; quýt giảm 23 ha. Mặt khác, do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như phòng trừ sâu bệnh, các biện pháp chăm sóc, bảo vệ .... nên một số địa phương có diện tích cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước như:  Vũ Quang tăng 890 ha; Hương Sơn tăng 314 ha; Hương Khê tăng 298 ha.Hoạt động trồng trọt hiện nay đang tập trung chăm sóc và thu hoạch cây vụ Đông năm 2017. Diện tích gieo trồng cây vụ Đông toàn tỉnh ước đạt 12.817 ha, bằng 113,72% (tăng 1546 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích cây ngô ước đạt 3.345ha, bằng 84,65% kế hoạch và bằng 144,87% (tăng 1036 ha) so với cùng kỳ năm trước; khoai lang ước đạt 1.728 ha, bằng 61,09% kế hoạch và bằng 94,68% (giảm 97 ha) so với cùng kỳ năm trước; rau các loại ước đạt 4.216 ha, bằng 97,35% kế hoạch và bằng 112,07% (tăng 454 ha) so với cùng kỳ năm trước. b. Tình hình sâu bệnh đối với cây trồng: Năm 2017, các đối tượng sâu bệnh gây hại trên cây trồng diễn biến phức tạp như: bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng; sâu cuốn lá nhỏ; bệnh khô vằn; bệnh chảy gôm; sâu nhớt,… Cụ thể:Trên cây lúa bệnh đạo ôn lá diện tích nhiễm 2.024 ha, nhiễm nặng 124,4 ha; bệnh đạo ôn cổ bông nhiễm 20.782,8 ha, nhiễm nặng 13.149,5 ha; bọ trĩ nhiễm 385ha; bệnh khô vằn nhiễm 1.266 ha, nhiễm nặng 45 ha; rầy nâu, rầy lưng trắng nhiễm 25 ha. Trên cây lạc, nấm gây bệnh chết ẻo nhiễm 32 ha, bệnh gỉ sắt nhiễm 60 ha. Sâu cuốn lá nhỏ, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 868,3 ha (chủ yếu ở huyện Can Lộc, Đức Thọ, Hương Sơn và thị xã Hồng Lĩnh). Bệnh khô vằn với diện tích nhiễm 4.174 ha (tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên, Can Lộc), nhiễm nặng 129ha. Bệnh chảy gôm, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 180 ha (chủ yếu ở Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang). Bệnh câu cấu, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 120 ha (chủ yếu ở Hương Khê, Hương Sơn). Sâu nhớt, gây hại với diện tích nhiễm 101 ha (chủ yếu Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn). Tình hình sâu bệnh hại trên cây lâu năm, trên cây ăn quả có múi, xuất hiện bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, diện tích nhiễm 180 ha; cấu cấu gây hại 120ha; sâu nhớt 100ha; nhện đỏ gây hại 24 ha; sâu vẽ bùa 19 ha. c. Chăn nuôi: Dự ước số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 76.849 con, bằng 89,26% (giảm 9.243 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 4.449,3 tấn, bằng 97,72% (giảm 104 tấn), do hiện nay mô hình chăn nuôi trâu chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân, nuôi kết hợp với các loại vật nuôi khác; mặt khác loại thực phẩm này cũng chưa có xu hướng tiêu dùng mạnh, chỉ có những người già cả nuôi một vài con nên xu hướng chăn nuôi trâu trong dân giảm.Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 202.935 con, bằng 88,41% (giảm 26.614 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 11.971,7 tấn, bằng 98,16% (giảm 224,3 tấn). Chăn nuôi bò ở Hà Tĩnh mạnh nhất chủ yếu là của Công ty Cổ phần chăn nuôi Bình Hà, nhưng năm 2017 dự án này chỉ hoạt động cầm chừng việc xuất nhập bò, không diễn ra thường xuyên như năm 2016 do đang đầu tư sữa chữa chuồng trại và xử lý ô nhiễm môi trường; mặt khác, xu hướng chăn nuôi bò trong dân đang giảm dần, diện tích chăn thả cũng hẹp dần đã làm cho chăn nuôi bò giảm so với cùng kỳ năm trước. Số lượng bò công ty Bình Hà nhập nuôi các đợt 43.396 con, hết ngày 06/12/2017 xuất bán 39.544 con, hiện đang nuôi trong trại 2.359 con. Tổng đàn lợn ước tính hiện có 426.951 con, bằng 88,39% (giảm 56.064 con) với sản lượng lợn hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 78.844,7 tấn, bằng 95,62% (giảm 3.611,3 tấn). Tình hình chăn nuôi lợn gặp khó khăn do giá lợn hơi giảm trong thời gian vừa qua. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là hộ gia đình và gia trại, vì nguồn vốn không nhiều lại bị thua lỗ nặng nên người dân không tiếp tục tái đàn. Các mô hình chăn nuôi lớn như trang trại, hợp tác xã/doanh nghiệp một số vẫn cầm chừng được nhưng một số phải giảm quy mô chăn nuôi. Một số vùng chăn nuôi nhỏ lẻ, nguồn đất đai ít, người dân bỏ hẳn chăn nuôi lợn chuyển sang làm thuê buôn bán. Vì vậy chăn nuôi lợn giảm mạnh so với năm trước.Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.462 ngàn con, bằng 102,82% (tăng 232 ngàn con) với sản lượng gia cầm năm 2017 ước đạt 17.189,9 tấn, bằng 102,9% (tăng 484,9 tấn). Đàn gà hiện có 6.754 ngàn con, bằng 102,41% (tăng 159 ngàn con), sản lượng xuất chuồng đạt 13.429,3 tấn, bằng 104,18% (tăng 539,2 tấn). Chăn nuôi gà tiếp tục phát triển theo hướng mô hình trang trại, gia trại; chăn nuôi gà với quy mô nhỏ cũng đang phát triển mạnh và rộng rãi ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Hiện có 15 cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô 10.000 con/lứa liên kết theo chuỗi với các Công ty như Công ty JaFa, Công ty cổ phần thực phẩm Hà Nội, phát triển khá ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.Trong năm 2017, trên địa bàn toàn tỉnh đã xuất hiện một số dịch bệnh đối với đàn vật nuôi cụ thể như sau: Dịch LMLM gia súc xảy ra tại 29 xã, phường, thị trấn thuộc 09 huyện, thị xã, thành phố (T.X Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Cẩm Xuyên, TP.Hà Tĩnh, T.X Kỳ Anh, Kỳ Anh, Hương Sơn) làm cho 508 con gia súc mắc bệnh (gồm 43 trâu, 377 bò, 88 lợn); trong đó 88 lợn, 01 bò chết và đã tiêu hủy. Còn dịch Cúm gia cầm xảy ra ở xã Kỳ Bắc-huyện Kỳ Anh và phường Đại Nài-thành phố Hà Tĩnh, với tổng số gia cầm ốm, chết, tiêu huỷ là 2.568 con (547 gà, 2.000 vịt, 21 ngan). Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn xẩy ra dịch lở mồm long móng tại 02 xã ở huyện Đức Thọ (xã Bùi Xá và Đức Yên), 03 xã ở huyện Cẩm Xuyên (xã Cẩm Mỹ, Cẩm Duệ và thị trấn Cẩm Xuyên) và 04 xã ở huyện Thạch Hà (xã Thạch Đình, Thạch Long, Thạch Khê và thị trấn Thạch Hà). Tổng số gia súc mắc bệnh là 83 con (05 trâu, 78 bò lợn) của 59 hộ thuộc 14 thôn. Tiến độ tiêm phòng: Năm 2017 đã tiêm phòng 2 đợt. Đợt 1, vắc xin lở mồm long móng ở trâu bò tiêm được 133.101 con đạt 54% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 123.908 con đạt 50,5% kế hoạch; ở đàn lợn: Vắc xin dịch tả tiêm được 170.700 con đạt 44,5% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 164.668 con đạt 42.6% kế hoạch; ở đàn chó: Vắc xin dại chó tiêm được 92.795 con đạt 46.5% kê hoạch; ở đàn gia cầm: Vắc xin cúm gia cầm H5N1 tiêm được 679.816 con đạt 11% kế hoạch.Đợt 2, vắc xin lở mồm long móng ở trâu bò tiêm được 127.464 con đạt 52% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 114.404 con đạt 46,5% kế hoạch; Đàn lợn: vắc xin dịch tả tiêm được173.561 con đạt 45% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 152.136 con đạt 40% kế hoạch; Đàn gia cầm: vắc xin cúm gia cầm H5N1 tiêm được 591.692 con đạt 10% kế hoạch. 5.2. Lâm nghiệpNăm 2017, diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 7.437 ha, bằng 116,17% (tăng 1.035 ha), trong đó chủ yếu là rừng sản xuất với diện tích ước đạt 7.159 ha (chiếm 96,26%) tổng diện tích rừng trồng. Diện tích rừng trồng tập trung chủ yếu ở: huyện Hương Sơn ước đạt 1.505 ha, huyện Kỳ Anh ước đạt 3.208 ha, huyện Thạch Hà ước đạt 533 ha, huyện Hương Khê ước đạt 710 ha, huyện Cẩm Xuyên ước đạt 502 ha... Diện tích rừng được chăm sóc là 24.048 ha, bằng 100,54% (tăng 130 ha); diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh là 15.192 ha, bằng 93,77% (giảm 1.009 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 202.909 ha, bằng 91,04% (giảm 19.968 ha). Do thực hiện chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp bằng việc giao đất vùng đồi núi gần dân và hỗ trợ vốn của chương trình bảo vệ; cùng với vốn đầu tư tái sản xuất trong dân từ kết quả trồng và khai thác rừng nên diện tích rừng trồng tiếp tục phát triển. Số lượng cây trồng phân tán năm 2017 ước đạt 5.091 ngàn cây, bằng 86,54% (giảm 792 ngàn cây) so với năm 2016. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Sản lượng gỗ khai thác năm 2017 ước đạt 419.548 m3, bằng 155,36% (tăng 1149.505 m3) so với năm 2016, chủ yếu là các loại gỗ được khai thác từ rừng trồng phục vụ làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất dăm gỗ xuất khẩu; khai thác củi ước đạt 897.200 Ste, bằng 123,07%, (tăng 168.166 Ste). Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Huyện Hương Sơn 69.000 m3, huyện Kỳ Anh 182.500 m3, huyện Cẩm Xuyên 32.637 m3, huyện Hương Khê 43.620 m3, thị xã Kỳ Anh 40.800m3...Công tác phòng chống cháy rừng tiếp tục được tăng cường chặt chẽ từ cơ sở, đơn vị và vùng dân sống ở gần rừng. Năm 2017, đã xẩy ra 07 vụ cháy rừng (giảm 10 vụ), diện tích bị cháy ước thiệt hại 7,8 ha thuộc rừng trồng (giảm 104,7 ha), giá trị thiệt hại ước 440 triệu đồng (giảm 1.380 triệu đồng) so với năm 2016. Số vụ cháy rừng xẩy ra ở các huyện: huyện Hương Sơn 06 vụ và Thạch Hà 01 vụ. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng đã tập trung cao độ, song do thời tiết nắng nóng với nền nhiệt cao cùng với sự thiếu cẩn trọng của người dân nên cháy rừng vẫn xẩy ra. 5.3. Thuỷ sảnHoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản từng bước phục hồi và tăng trưởng trở lại sau sự cố môi trường biển. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2017 đạt 7.394 ha, bằng 108,85% (tăng 601 ha) so với năm 2016, trong đó: nuôi thâm canh, bán thâm canh chiếm 27,4%; nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến chiếm 72,5%. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ngày càng được mở rộng và tăng số vụ nuôi. Nhiều doanh nghiệp, hộ nông dân đã mạnh dạn bỏ vốn lớn để xây dựng và cải tạo ao hồ, thu được kết quả khá, qua đó kích thích được phong trào nuôi trồng thuỷ sản của người dân.Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy hải sản năm 2017 ước đạt 44.986 tấn, bằng 116,37% (tăng 6.327 tấn) so với năm 2016, trong đó: Sản lượng nuôi trồng là 12.986 tấn, bằng 103,95% (tăng 493 tấn) và sản lượng khai thác là 32.000 tấn, bằng 122,3% (tăng 5.843 tấn). Một năm sau sự cố môi trưởng biển, với sự nổ lực của các cấp, các ngành trong việc khắc phục sự cố thì hoạt động sản xuất thủy sản đã có dấu hiệu hồi sinh và dần đi vào ổn định sản xuất; mặt khác, thời tiết cũng thuận lợi đã tạo điều kiện cho bà con ngư dân hoạt động sản xuất về thủy sản trở lại bình thường, nên làm cho sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tăng so với năm trước.Về dịch bệnh: Trong năm 2017, do thời tiết thay đổi thất thường, gió mùa xen kẽ các đợt nắng nóng làm cho nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm rất lớn, gây biến động các yếu tố môi trường, giảm sức đề kháng của tôm,nên đã xuất hiện bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính ở tôm, cụ thể: bệnh đốm trắng xảy ra ở 149,33 ha và hoại tử 21,57 ha (thuộc huyện Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà, Nghi Xuân, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh). Dịch bệnh được phát hiện sớm, nên công tác phòng chống được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn khẩn trương triển khai các biện pháp xử lý ổ dịch. Cán bộ kỹ thuật trực tiếp xuống các vùng nuôi hướng dẫn người dân đóng kín cống, không tháo xả nước ra ngoài khi chưa qua xử lý, dùng vôi bột rải xung quanh bờ ao; thu nhặt tôm bệnh và tôm chết tiêu hủy theo đúng quy định, nhằm giảm thiệt hại cho người dân.6. Sản xuất công nghiệpDự ước năm 2017, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp dự ước bằng 181,76% (tăng 81,76%) so với cùng kỳ năm trước.Từ trên cho thấy, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2017 vẫn duy trì ổn định sản xuất và giữ được mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng toàn ngành là công nghiệp chế biến chế tạo và sản xuất phân phối điện. Chỉ có ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất giảm 23,74% so với cùng kỳ năm trước do hiện nay trữ lượng quặng kim loại ở các mỏ đã dần cạn kiệt, giảm ở cả khai thác quặng kim loại (giảm 27,28%) và khai thác đá, cát, sỏi (giảm 23,71%). Nhiều ngành công nghiệp cấp 2 có mức tăng khá như: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 15,26%; than cốc tăng 3715%; thép tăng 6,76 lần; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 32,9%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,56%. Bên cạnh một số ngành hoạt động hiệu quả vẫn còn một số ngành có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng sản xuất giảm so với cùng kỳ như: Chế biến gỗ (giảm 7,59%); bê tông trộn sẵn (giảm 76,23%); gạch xây dựng bằng đất sét nung (giảm 15,15%); Sản xuất bia (giảm 5,23%).Theo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV/2017 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2017 so với quý III/2017, có 60% DN đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 31,11% khẳng định SXKD tốt lên, 28,89% khẳng định giữ ổn định); 40% DN đánh giá là khó khăn hơn. Các ngành dự báo SXKD quý IV tốt hơn quý III gồm: Sản xuất trang phục 100%; sản xuất sản phẩm từ cao su 100%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế 100%;…Liên quan tới tình hình sản xuất: có 33,33% doanh nghiệp tăng sản xuất; 31,11% giảm đi; có 27,91% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 37,21% giảm đi; 80% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 33,33% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm và 28,89% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 6,67% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm chính và giá bán bình quân một sản phẩm giảm. Nhận định xu hướng SXKD dự kiến quý I/2018 so quý IV/2017 có 21,43% số DN có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 13,33% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 24,44% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 24,44% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.Ngoài ra, trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, có 2 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là "nhu cầu thị trường trong nước thấp" và "tính cạnh tranh của hàng trong nước cao", cụ thể có 60% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và 71,11% khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến SXKD của doanh nghiệp. Với sự đánh giá từ các doanh nghiệp như trên, chúng ta có thể kỳ vọng hoạt động sản xuất công nghiệp thời gian sẽ có bước phát triển tích cực. 7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 12/2018 đạt 3.302,2 tỷ đồng, tăng 1,98% so với tháng trước và tăng 22,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 179,2 tỷ đồng, giảm 24,72% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 3.122,97 tỷ đồng, tăng 26,68%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,02 tỷ đồng. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa có xu hướng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tư nhân, tăng 51,21%; tiếp đến là kinh tế tập thể tăng 28,27%. Tính riêng quý IV/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.748,23 tỷ đồng, tăng 5,2% so với quý trước và tăng 22,66% so với cùng kỳ năm trước.Qua bảng trên cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng đều qua các quý, trong đó quý IV tăng mạnh nhất, cao hơn quý I là 9 điểm %, cao hơn quý II là 14,41 điểm % và cao hơn quý III là 4,55 điểm %. Trong quý IV, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 2,69 lần; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 55,26%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 34,6%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 30,7%.Tính chung cả năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 36.079,07 tỷ đồng, tăng 15,72% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 2.081,13 tỷ đồng, giảm 24,81%; ngoài Nhà nước ước đạt 33.986,4 tỷ đồng, tăng 19,63% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,54 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 13.687,72 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 37,94%, tăng 16,07% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 4.667,1 tỷ đồng, chiếm 12,94%, tăng 5,01% so với cùng kỳ; và nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 3.637,48 tỷ đồng, chiếm 10,08%, tăng 8,86%. Như vậy, hoạt động bán lẻ chủ yếu là phục vụ các mặt hàng đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của người dân (chiếm 60,96%). Qua biểu đồ ta nhận thấy, do sự cố môi trường biển, năm 2016 tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm; nhưng sang năm 2017, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong việc khắc phục sự cố, tổng mức bán lẻ đã có xu hướng tăng nhẹ và tăng khá vào năm 2018. Tổng mức bán lẻ năm 2018 tăng cao hơn mức tăng năm 2017 là 11,65 điểm % và năm 2016 là 19,69 điểm %. Điều đó chứng tỏ nhu cầu hàng tiêu dùng của người dân ngày càng lớn; đồng thời, phản ánh tiềm năng ngành bán lẻ ở Hà Tĩnh đang có nhiều tín hiệu khả quan, là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước..- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú và ăn uống tháng 12/2018 ước đạt 564,2 tỷ đồng, tăng 4,02% so tháng trước và tăng 19,76% so cùng kỳ năm trước. Tính riêng quý IV/2018 ước đạt 1.623,57 đồng, tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; tăng cao hơn quý I là 16,09 điểm %, quý II là 7,83 điểm % và quý III là 7,67 điểm %. Chung cả năm 2018 ước đạt 5.284,17 tỷ đồng, tăng 13,66% so với cùng kỳ năm trước.Theo trên cho thấy, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống năm 2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 2 nhóm ngành dịch vụ: lưu trú tăng 11,29% và ăn uống tăng 13,81%. Do du lịch biển đã thu hút được nhiều khách trong và ngoài tỉnh tham quan nghỉ mát, kéo theo lượng khách đến thuê phòng nghỉ tăng; đồng thời, trong năm Hà Tĩnh đã tổ chức nhiều sự kiện nổi bật như: Giải Bóng chuyền nữ VTV Cup 2018, kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đồng Lộc, kỷ niệm 240 năm ngày sinh, tưởng niệm 160 năm ngày mất Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ nên thu hút được nhiều khách tham gia, từ đó làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng.- Hoạt động du lịch lữ hành: Doanh thu du lich lữ hành tháng 12/2018 ước đạt 1,92 tỷ đồng, tăng 7,87% so với tháng trước và tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. Quý III ước đạt 5,44 tỷ đồng, tăng 0,67% so với quý trước và tăng 4,54% so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng quý I là 23,21 điểm %, quý II là 18,71 điểm % và quý III là 5,84 điểm % . Tính chung cả năm 2018, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 19,2 tỷ đồng, tăng 14,45% so với cùng kỳ năm trước. Điều này chứng tỏ, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng tăng, đặc biệt là khách ngoài tỉnh đến tham quan du lịch tại các điểm văn hóa tâm linh và du lịch biển tăng mạnh; cùng với việc kết nối các tour du lịch lữ hành trong và ngoài tỉnh, mở rộng thị trưởng khách du lịch quốc tế đến từ Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc … đã góp phần làm tăng doanh thu hoạt động du lịch lữ hành.Những kết quả đạt được trong năm 2018 cho thấy tiềm năng, lợi thế, các chính sách phát triển du lịch của tỉnh đã tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và hoạt động du lịch nói riêng, hướng đến thực hiện thành công mục tiêu đưa Hà Tĩnh trở thành tỉnh có ngành công nghiệp lớn, dịch vụ phát triển nhanh.- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 12/2018 ước đạt 119,11 tỷ đồng, tăng 3,99% so với tháng trước và tăng 5,71% so cùng kỳ năm 2017. Quý IV ước đạt 345,47 tỷ đồng, tăng 6,92% so với quý trước và tăng 4,05% so với cùng kỳ năm trước. Chung cả năm 2018 ước đạt 1.265,88 tỷ đồng, tăng 5,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 13,05%; dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 9,85%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác năm 2018 vẫn tăng, nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ.7.2. Hoạt động vận tảiVận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12/2018 ước đạt 3,45 triệu tấn (tăng 1,85%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 84,48 triệu tấn.km (tăng 0,52%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 262,39 tỷ đồng, tăng 2,02%. Do các đầu mối bán buôn đẩy mạnh việc thu mua, tích trữ hàng hóa (như: hàng lương thực, thực phẩm, hàng may mặc ...) chuẩn bị cung ứng ra thị trường dịp cuối năm; hoạt động sữa chữa nhà ở trong dân tăng, các nhà thầu xây dựng cũng cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công một số hạng mục công trình xây dựng trước thời điểm quyết toán năm, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 12/2018 ước đạt 1,82 triệu lượt hành khách (tăng 0,45%), với khối lượng luân chuyển là 324,75 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,48%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 144,36 tỷ đồng, tăng 0,65%. Là tháng trùng với dịp nghỉ Tết dương lịch (nghỉ 4 ngày), dự kiến lượt khách đi du lịch, về thăm người thân tăng; những ngày đầu tháng, thời tiết rét đậm nên người dân tham gia các phương tiện vận tải công cộng cũng tăng, làm cho kết quả vận tải hành khách tăng.Tách riêng từng quý, ta thấy có sự khác nhau giữa vận tải hàng hóa và vận tải hành khách.Theo bảng trên, chứng tỏ hoạt động vận tải hành khách vẫn ổn định và đều tăng ở 4 quý, riêng quý IV có mức tăng thấp nhất trong 4 quý. Đối với vận tải hàng hóa, mức tăng từng quý không đồng đều, đạt mức tăng khá ở quý I và quý IV; còn quý II và quý III, vận chuyển hàng hóa vẫn tăng nhưng chỉ tăng nhẹ, luân chuyển hàng hóa có xu hướng giảm và chủ yếu do nhóm ngành vận tải hàng hóa đường bộ giảm (quý II giảm 1,08%; quý III giảm 2,54%). Tính chung cả năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 22,8 triệu HK (tăng 6,81%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 4.031,09 triệu HK.km (tăng 9,32%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.759,29 tỷ đồng, tăng 10,5%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 34,57 triệu tấn (tăng 8,77%), với khối lượng luân chuyển là 853,84 triệu tấn.km (tăng 5,21%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.782,74 tỷ đồng, tăng 6,25%. Với sự hoạt động ổn định trở lại của Khu kinh tế Vũng Áng, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua các cảng biển tăng hơn các năm trước. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy hoạt động dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải phát triển. Năm 2018, doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 785,1 tỷ đồng, tăng 25,19% so với năm 2017.Nhìn chung, hoạt động vận tải trên địa bàn năm 2018 vẫn ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. Cùng với hệ thống cảng biển được đầu tư và phát triển như Cảng Vũng Áng, cảng Sơn Dương, cảng Xuân Hải, với lượng hàng hóa thông qua cảng ngày càng tăng, từ đó làm cho hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi của tỉnh ngày càng phát triển và đóng vai trò lớn trong nền kinh tế tỉnh nhà.8. Các vấn đề xã hội8.1. Dân số, lao động việc làm và đời sống dân cư- Dân số: Ước tính quy mô dân số năm 2018 là 1.277.530 người, tăng 0,42% so với năm 2017 (tăng 5.349 người). Trong đó: Dân số nam là 628.768 người, tăng 0,5%, chiếm tỷ lệ 49,22% và dân số nữ là 648.762 người, tăng 0,34%, chiếm tỷ lệ 50,78%; dân số khu vực thành thị 239.643 người, tăng 3,11%, chiếm tỷ lệ 18,76% và khu vực nông thôn 1.037.887 người, giảm 0,18%, chiếm tỷ lệ 81,24%. Dân số khu vực thành thị tăng 3,11%, do trong năm 2018 xã Đồng Lộc-huyện Can Lộc nâng lên thành thị trấn Đồng Lộc.- Lao động, việc làm: Trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn nhưng với sự chỉ đạo quyết tâm của Chính phủ và các cấp chính quyền trong việc chống suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống người lao động mà trong đó công tác giải quyết việc làm là nhiệm vụ cấp thiết. Ước tính năm 2018, Hà Tĩnh giải quyết việc làm cho 23.970 lao động, tăng 1,67% so với năm 2017, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 11.830 người, tăng 3,13%; xuất khẩu lao động 8.890 người, tăng 3,66%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.250 người, giảm 7,93%.Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước năm 2018 là 724.850 người, chiếm 56,74% trong tổng dân số toàn tỉnh, tăng 0,89% so với năm 2017; số lao động đang làm việc là 711.450 người (chiếm 98,15% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 13.400 người (chiếm 1,85% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Riêng tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động năm 2018 là 2,25%, giảm 1,29 điểm % so với năm 2017. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy: Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có 320.460 người, chiếm 45,04%; công nghiệp xây dựng 157.693 người, chiểm 22,17%; dịch vụ 233.297 người chiếm 32,79%. - Đời sống dân cư: Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2018 nhìn chung ổn định. Đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương, nhờ sự thay đổi mức lương tối thiểu từ 1.300 nghìn đồng lên 1.390 nghìn đồng; mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng thêm 6,92%; mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng dao động từ 1.515 nghìn đồng/tháng đến 3.859 nghìn đồng/tháng nên đời sống được cải thiện hơn. Bên cạnh đó, tình hình sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân gặp nhiều thuận lợi nên đạt kết quả tốt. Công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm kịp thời của các cấp, các ngành. Ngoài ra, người dân cũng tranh thủ những lúc nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn được đảm bảo và có phần cải thiện hơn. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra.8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ngày 02/5/2018 về phân bổ kế hoạch vốn từ ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018 với tổng số vốn phân bổ là 58,7 tỷ đồng. Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2018 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỷ lệ hộ nghèo là 6,92% (gồm 26.140 hộ) giảm 1,65 điểm phần trăm so với năm 2017; tỷ lệ hộ cận nghèo là 6,57% (gồm 24.833 hộ) giảm 1,21 điểm phần trăm so với năm 2017. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.         - Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai kịp thờ. Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 78.022 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, 106.893 thẻ bảo hiểm cho hộ cận nghèo, 122.998 thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và 51.627 thẻ bảo hiểm cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 319.587 suất quà với tổng kinh phí 72,606 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong dịp Tết UBND tỉnh đã cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ cho 5.740 hộ với 10.672 nhân khẩu để đảm bảo cho người dân không thiếu đói trong dịp Tết. Trao 87 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 388 triệu đồng; xây mới 200 nhà tình nghĩa, trị giá 8.654 triệu đồng và sữa chữa 58 nhà với tổng giá trị là 967 triệu đồng.Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; trang trọng tổ chức an táng 12 hài cốt các liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Nầm vào sáng ngày 8/5/2018; kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, Hà Tĩnh có 83 liệt sĩ được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến nay, toàn tỉnh đã tìm kiếm, quy tập được 914 hài cốt liệt sỹ.8.3. Giáo dục và Đào tạoa. Giáo dục phổ thôngNăm học 2017-2018, chất lượng giáo dục Hà Tĩnh vẫn được giữ vững; chất lượng mũi nhọn đạt nhiều thành tích nổi bật: giành 1 HCV, 2 HCB và 2HCĐ Olympic toán quốc tế; xếp thứ 4 toàn quốc về số lượng sinh giỏi quốc gia (gồm 85 giải: 03 giải nhất, 28 giải nhì, 31 giải ba và 23 giải khuyến khích), có 2.359 em đạt học sinh giỏi tỉnh (gồm: 216 giải nhất, 552 giải nhì, 796 giải ba và 795 giải khuyến khích), các cuộc thi khoa học kỹ thuật và thi về kỹ năng mềm của học sinh đều đạt giải cao. Kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS tiếp tục được củng cố vững chắc: Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi có 13/13 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn (có 262/262 đơn vị cấp xã đạt); giáo dục tiểu học có 13/13 đơn vị cấp huyện đạt mức 3 (có 260/262 đơn vị cấp xã đạt mức 3; 02 đơn vị cấp xã đạt mức 2); giáo dục THCS có 09/13 đơn vị cấp huyện đạt mức 2, có 04 đơn vị cấp huyện đạt mức 3 (52/262 đơn vị cấp xã đạt mức 2; 210/262 đơn vị cấp xã đạt mức 3). Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2018 được tổ chức tốt và đạt tỷ lệ 99,04%; hệ bổ túc đạt 97,67%.Trên cơ sở những kết quả đạt được, năm học 2018-2019 ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tích cực chuẩn bị các điều kiện để triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên toàn ngành, cụ thể: toàn tỉnh có 725 trường, giảm 02 trường so với cuối năm học 2017 - 2018 (gồm 273 trường mầm non; 254 trường tiểu học, giảm 05 trường; 152 trường THCS, tăng 01 trường; 46 trường THPT, tăng 02 trường) với 10.260 lớp (mẫu giáo 2.843 lớp, tiểu học 3.852 lớp, THCS 2.380 lớp, THPT 1.185 lớp) và 17.632 giáo viên (mầm non 4.757 người, tiểu học 5.201 người, THCS 4.916 người, THPT 2.758 người) và 318.221 học sinh (nhà trẻ 11.658 em, mẫu giáo 74.813 em, tiểu học 111.855 em, THCS 75.450 em và THPT 44.445 em). b. Giáo dục đào tạo:Năm học 2018-2019 ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh vẫn tiếp tục đổi mới công tác quản lý; chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; phát triển mạng lưới trường, lớp và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2018 - 2019 là 2.240 chỉ tiêu (so với năm học 2016 - 2017 tăng 22,74%), trong đó: Trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.250 chỉ tiêu, giảm 11,35% (hệ đại học 1.200 chỉ tiêu, cao đẳng 50 chỉ tiêu); các trường cao đẳng chỉ tuyên sinh hệ cao đẳng, với chỉ tiêu tuyển sinh là 990 chỉ tiêu, tăng 1,39 lần (hệ cao đẳng 460 chỉ tiêu, trung cấp 530 chỉ tiêu). Ngoài nhiệm vụ đào tạo hệ chính quy các trường còn liên kết đào tạo hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm, dạy nghề và bồi dưỡng nghiệp vụ như: trường Đại học Hà Tĩnh đào tạo hệ liên thông chính quy, văn bằng 2 là 201 chỉ tiêu; hệ vừa làm vừa học, liên thông vừa làm vừa học 530 chỉ tiêu; trường Cao đẳng Y tế đào tạo liên thông trung cấp lên cao đẳng 153 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Trong năm 2018 đã tổ chức dạy nghề cho 5.243 người, trong đó: Trình độ cao đẳng nghề 393 người, trung cấp nghề 1.044 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 3.806 người. 8.4. Chăm sóc sức khỏe cộng đồngNăm 2018, ngành Y tế Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh như: Cải tiến công tác đón tiếp người bệnh, giảm quá tải bệnh viện; chú trọng công tác đào tạo chuyên môn; phát triển chuyên môn kỹ thuật; phát triển chữa bệnh bằng y học cổ truyền; đầu tư trang thiết bị; nâng cao y đức... Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.- Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Các cơ sở khám chữa bệnh cũng đã chuẩn bị các phương án ứng phó với các bệnh dịch. Bệnh viện đã sẵn sàng cấp cứu và điều trị bệnh nhân; kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện; phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thông tin, báo cáo ca bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định. Mặt khác, bệnh viện luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới về chuyên môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết; chỉ đạo các bệnh viện huyện chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết; tổ chức tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các cơ sở thực hiện...Toàn tỉnh, năm 2018 đã xảy ra 16 trường hợp mắc sốt xuất huyết, tay chân miệng 76 trường hợp, sốt rét 175 trường hợp, thủy đậu 119 trường hợp và sốt phát ban/sởi 01 trường hợp. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng-chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn; tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi hành vi, nhằm giảm sự mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Năm 2018, Hà Tĩnh có 52 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 38 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 48 trường hợp chuyển thành AIDS và có 03 trường hợp nào chết vì AIDS.      - Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, Sở Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong tiêu dùng thực phẩm; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm, đặc biệt khuyến khích xử phạt nặng các trường hợp vi phạm, đủ sức răn đe để không còn tái phạm. Năm 2018, xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể ở huyện Lộc Hà, Cẩm Xuyên và thành phố Hà Tĩnh (tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm ngoái) làm 50 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. Ngoài ra, còn có 1.491 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 28,35% so với cùng kỳ năm ngoái) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.8.5. Hoạt động văn hoá, thể thao- Hoạt động văn hóa:  Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo thay đổi nội dung tuyên truyền ở các cụm panô, áp phích tấm lớn trên địa bàn, hướng dẫn cơ sở tổ chức sinh hoạt CLB văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao cũng như treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, như: Chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng Xuân Mậu Tuất; chương trình nghệ thuật khai hội chùa hương; tổ chức Hội báo xuân; Đại lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh; triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018” tại khu di tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân; tổ chức Lễ đón bằng chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "lễ hội đền Chiêu Trưng"; tổ chức khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực IV - Bắc miền Trung lần thứ 23 năm 2018; tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2018 lần thứ 4 liên tỉnh Hà Tĩnh - Nghệ An; tổ chức Liên hoan Ca Trù toàn quốc năm 2018.Trong năm, tại Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh đã tổ chức đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, cán bộ, người dân tử nạn tại Ngã ba Đồng Lộc vào tối 14/7/2018; và tổ chức chương trình nghệ thuật “Đồng Lộc-bài ca bất tử” vào tối 21/7/2018 nhằm kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc. Đồng thời, công bố sự kiện “Hoàng hoa sứ trình đồ” là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thuộc xã Trường Lộc, huyện Can Lộc; qua sự kiện này nhằm tuyên truyền, giáo giục về truyền thống văn hóa, truyền thống hiếu học của quê hương Hà Tĩnh; giới thiệu, quảng bá để mọi người hiểu rõ giá trị của di sản.Đặc biệt trong thời gian này, Hà Tĩnh đã tổ chức kỷ niệm 240 năm ngày sinh, tưởng niệm 160 năm ngày mất Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ; đón nhận bằng công nhận huyện Nghi Xuân đạt chuẩn nông thôn mới tại Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh tỉnh Hà Tĩnh cùng với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Nguyễn Công Trứ - Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Chương trình đã tái hiện toàn diện những giai đoạn quan trọng và đóng góp của Nguyễn Công Trứ đối với đất nước; điểm lại những nét nổi bật trong xây dựng đời sống kinh tế xã hội, nhất là nông thôn mới Hà Tĩnh hiện nay. Đây cũng chính là dịp để Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh khẳng định quyết tâm đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, vươn lên giành những thắng lợi mới.- Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. 9 tháng đầu năm 2018, đã nhắc nhở 34 cơ sở, đình chỉ 15 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh; Đại hội TDTT lần thứ VIII; giải bóng rổ thiếu niên nhi đồng lần thứ V; Giải đua thuyền toàn tỉnh năm 2018; các giải thể thao bóng đá mi ni, bóng chuyền hơi nữ, bóng chuyền thuộc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổ chức vào dịp chào mừng 73 năm Cách mạng tháng 8, Quốc khánh 02/9, ngày Doanh nhân Việt Nam, ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam; tham dự lễ hội đua thuyền truyền thống tỉnh Bôlykhămxay … Trong năm, từ ngày 04/8/2018 đến ngày 11/8/2018, tại Hà Tĩnh diễn ra Giải bóng chuyền nữ quốc tế VTV Cup 2018. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Giải bóng chuyền quốc tế VTV Cup 2018, góp phần làm nên một giải đấu quy mô, hấp dẫn và để lại ấn tượng về một Hà Tĩnh yên bình, thân thiện, mến kháchTrong năm, hoạt động thể thao thành tích cao cũng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Kết quả, năm 2018 đoàn Hà Tĩnh tham gia dành được 55 huy chương các loại, bao gồm: 26 HCV, 17 HCB và 12 HCĐ.8.6. Tai nạn giao thôngTình hình trật tự ATGT còn diễn biến phức tạp, khó lường, số vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại về người và tài sản còn ở mức cao. Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự ATGT; tập trung đảm bảo ATGT mùa mưa bão; tăng cường công tác tuần tra, thanh tra, kiểm soát xử lý vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang an toàn giao thông, quản lý Nhà nước về vận tải; tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông đường sắt; tiếp tục tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ATGT.Tính từ ngày 16/11/2018 đến ngày 15/12/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 06 người, bị thương 06 người, thiệt hại tài sản 30 triệu đồng. So với tháng trước giảm 14 vụ, giảm 09 người chết, giảm 06 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ, giảm 08 người chết và tăng 01 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/12/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 137 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 124 người, bị thương 73 người, ước tính thiệt hại tài sản 855 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 02 vụ tai nạn đường sắt, giảm 12 người chết và tăng 04 người bị thương.8.7. Tình hình thiên taiNăm 2018, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chỉ xảy ra 01 đợt thiên tai từ ngày 15-17/7/2018. Do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão số 3 (Sơn Tinh), đã xảy ra mưa lớn kéo dài làm chết 01 người (ở huyện Hương Sơn); 6.935 ha diện tích lúa Hè Thu, 587 ha ngô và 2.629 ha rau đậu các loại bị ngập. Ngoài ra, đoạn đường Km53+750 – Km53+800 thuộc QL 8A bị ngập sâu 0,5 m gây ách tắc giao thông nghiêm trọng.       Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã ban hành Công điện số 13/CĐ-UBND ngày 15/7/2018; Ban chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh đã có Công điện số 04/CĐ-PCTT ngày 17/7/2018 chỉ đạo các đơn vị địa phương chủ động ứng phó với cơn bão số 3. Tỉnh cũng đã chỉ đạo các đoàn kiểm tra công tác PCTT và TKCN tại các địa phương khẩn trương xuống cơ sở để đôn đốc chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện các biện pháp ứng phó với cơn bão và tình hình mưa lũ.8.8. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ cháy (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 22 triệu đồng, trong đó: 02 vụ cháy nhà chứa rơm; 03 vụ cháy đường dây điện; 01 vụ cháy xưởng chăn ga, gối đệm và 03 vụ cháy khác. Tính cả năm 2018, trên địa bàn xảy ra 84 vụ cháy, nổ (trong đó có 81 vụ cháy và 03 vụ nổ), làm 10 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,32 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước chỉ tăng 16 vụ cháy, tăng 08 người bị thương và giảm 01 người chết.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, đã phát hiện và xử lý 04 cơ sở vi phạm môi trường với số tiền 57,5 triệu đồng. Tính cả năm 2018, phát hiện 55 cơ sở vi phạm, xử lý 52 cơ sở với số tiền 715,5 triệu đồng.      9. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2018      a. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017Kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2018 như sau:- Tổng sản phẩm (GRDP) tăng từ 18,5%-19% so với năm 2017. - Sản lượng lương thực trên 51 vạn tấn. - Kim ngạch xuất hàng hóa của các doanh nghiệp trong tỉnh đạt 470 triệu USD.- Thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu đạt trên 9.400 tỷ đồng, trong đó thu nội địa trên 6.000 tỷ đồng và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 3.400 tỷ đồng.- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 36.000 tỷ đồng.- Tỷ lệ người tham gia BHYT đạt 86%.- Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn tiếp cận đa chiều) giảm từ 1,1-1,3%.- Giải quyết việc làm mới cho 22.500 người.- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60-62%.- Có thêm ít nhất 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới, thêm ít nhất 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.b. Giải pháp thực hiệnĐể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 cần phải thực hiện đồng bộ 12 nhóm giải pháp như trong Nghị quyết đã nêu. Tuy nhiên chúng ta cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là: - Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu nêu trên, phải xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình hành động triển khai nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 một cách cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương.- Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Hoàn thành rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển. - Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành kinh tế một cách thực chất, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung chỉ đạo quyết liệt tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thúc đẩy phát triển nhanh ngành công nghiệp - xây dựng, nhất là tạo điều kiện thuận lợi triển khai dự án Nhiệt điện Vũng Áng 2, sớm đưa vào vận hành lò cao số 2 Nhà máy Formos. Phát triển thương mại nội địa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ; đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa.- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, tăng cường thu hút đầu tư nhằm huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phải tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nhất là những lĩnh vực thời gian qua còn bộc lộ hạn chế, yếu kém. Kiểm soát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường khi thẩm định cũng như cả quá trình hoạt động của dự án. - Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. - Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.Để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, cần phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho những năm tiếp theo.

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI tỉnh Hà Tĩnh Tháng 11 và 11 tháng năm 2018
  •   19/07/2024 15:37

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 11 và 11 tháng năm 20181. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng qua là tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ Mùa và tiến hành sản xuất cây vụ Đông.Kết quả sơ bộ sản xuất vụ Mùa 2018 đối với một số loại cây trồng khác cụ thể như sau: Diện tích ngô đạt 1.375 ha, bằng 69,55% (giảm 602 ha), năng suất đạt 27,78 tạ/ha, bằng 96,99% (giảm 0,87 tạ/ha) với sản lượng đạt 3.820 tấn, bằng 67,44% (giảm 1.844 tấn) so với cùng kỳ năm trước; diện tích khoai lang 593 ha, bằng 78,92% (giảm 158 ha), năng suất đạt 55,75 tạ/ha, bằng 101,5% (tăng 0,83 tạ/ha) với sản lượng đạt 3.305 tấn, bằng 80,11% (giảm 820 tấn) so với cùng kỳ năm trước; diện tích lạc đạt 482 ha, bằng 84,48% (giảm 88 ha), năng suất đạt 15,84 tạ/ha, bằng 101,67% (tăng 0,26 tạ/ha) với sản lượng đạt 763 tấn, bằng 85,9% (giảm 125 tấn) so với cùng kỳ năm trước; diện tích đậu các loại đạt 2.979 ha, bằng 47,84% (giảm 3.247 ha), năng suất đạt 5,29 tạ/ha, bằng 93,49% (giảm 0,38 tạ/ha) với sản lượng đạt 1.576 tấn, bằng 44,73% (giảm 1.947 tấn) so với cùng kỳ năm trước và diện tích rau các loại đạt 2.367 ha, bằng 98,48% (giảm 37 ha), năng suất đạt 70,71 tạ/ha, bằng 102,26% (tăng 1,57 tạ/ha) với sản lượng đạt 16.784 tấn, bằng 100,7% (tăng 117 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do sản xuất vụ Mùa năm 2018 trong điều kiện thời tiết bất lợi. Từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 thời tiết chủ yếu nắng nóng gay gắt, trung tuần tháng 7 (ngày 13-19/7/2018) lại bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và cơn bão số 3 nên kết quả sản xuất vụ Mùa 2018 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Về sản xuất vụ Đông năm 2018, với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tiến độ sản xuất một số cây trồng vụ Đông tính đến ngày 15/11/2018 đạt được như sau: Ngô lấy hạt 3.105 ha/3.671 ha (đạt 84,58% kế hoạch); ngô sinh khối 1.701 ha/2.250 ha (đạt 75,6% kế hoạch); khoai lang 1.787 ha/2.271 ha (đạt 78,69% kế hoạch); rau các loại 3.939 ha/4.258 ha (đạt 92,51% kế hoạch).Sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại trên các loại cây trồng như: Ngô, khoai lang, rau nhưng với mức độ ảnh hưởng nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. - Chăn nuôi: Nhìn chung tổng đàn vật nuôi vẫn ổn định không có biến động đột biến. Đàn đại gia súc trâu, bò đang có xu hướng tiếp tục giảm. Nguyên nhân do chăn nuôi trâu chủ yếu là nhỏ lẻ trong dân, trong khi loại thực phẩm này cũng chưa được tiêu dùng một cách phổ biến. Còn đối với các dự án chăn nuôi bò trên địa bàn (Dự án chăn nuôi bò Bình Hà, dự án chăn nuôi bò của Công ty Mitraco) hiện đang gặp rất nhiều khó khăn nên hoạt động cầm chừng và giảm quy mô đàn. Do giá lợn hơi sau khi tăng trở lại vẫn đang giữ được ổn định, cùng với đó là trong thời gian qua ít xẩy ra dịch bệnh nên đàn lợn và đàn gia cầm đang phát triển ổn định và có tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.  Theo báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh, tính từ ngày 15/10/2018 đến ngày 15/11/2018 trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra dịch bệnh đối với đàn vật nuôi.1.2. Lâm nghiệpTháng 11/2018, ước tính toàn tỉnh trồng được 661 ha rừng tập trung, bằng 31,48% (giảm 1.439 ha) và 438 ngàn cây phân tán, bằng 158,7% (tăng 162 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2018, ước tính trồng được 7.345 ha rừng tập trung, bằng 89,72% (giảm 842 ha) và 3.646 ngàn cây phân tán, bằng 105,07% (tăng 176 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 11/2018 ước đạt 48.863 m3, bằng 75,68% (giảm 15.700 m3) và 55.641 ste củi, bằng 56,62% (giảm 42.632 ste) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 385.605 m3, bằng 94,19% (giảm 23.803 m3) và 689.188 ste củi, bằng 92,33% (giảm 57.218 ste) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân, do năm 2017 ảnh hưởng của bão số 10, nhiều ha rừng trồng và cây cối bị đổ gãy nên người dân đã khai thác tận thu và tiến hành trồng mới lại rừng nên có diện tích rừng trồng và khối lượng gỗ, củi lớn hơn so với cùng kỳ năm 2018. Thực tế hiện nay, người trồng rừng đã phải bỏ nhiều công sức chăm sóc, vốn đầu tư, chịu mọi rủi ro trong nhiều năm nhưng do họ thiếu đầu mối tiêu thụ, không có phương tiện vận chuyển và chưa có nhiều các cơ sở chế biến tinh sâu nên lợi nhuận từ gỗ vườn, gỗ rừng trồng chủ yếu thuộc về khâu trung gian và rơi vào túi các thương lái thu mua gỗ. Đây chính là vấn đề mà các cấp, các ngành và các địa phương cần phải quan tâm tháo gỡ để phát triển kinh tế rừng và để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho chính những người trực tiếp trồng rừng. Cùng với việc trồng và chăm sóc rừng thì công tác phòng, chống cháy rừng cũng luôn được quan tâm. Từ ngày 15/10/2018 đến ngày 15/11/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng.1.3. Thuỷ sảnTháng 11/2018, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn diễn ra bình thường, sản lượng thủy hải sản khai thác nuôi trồng tăng nhẹ so với cùng kỳ. Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản.2. Sản xuất công nghiệp- Chỉ số sản xuất công nghiệp: Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2018 tăng 0,28% so với tháng trước và tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước.Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tháng 11/2018 vẫn tăng so với tháng trước, nhưng chỉ đạt mức tăng nhẹ và tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.Tính chung 11 tháng năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 93,24% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của 10 tháng đầu năm (chung 10 tháng tăng 104,90%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 116,18%, đóng góp 83,16 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 37,41%, đóng góp 9,67 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 34,43%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 7,47%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm. Nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 11 tháng chỉ tăng 3,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,9%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,7%.Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng năm 2018 có sản lượng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đó là: Thép tăng 171,16%; than cốc tăng 106,14%; dược phẩm tăng 115,16%. Bên cạnh đó, cũng có một số sản phẩm giảm mạnh như: Thức ăn cho gia súc giảm 59,34%; quặng inmenit giảm 30,37%; mực đông lạnh giảm 24,42%.- Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2018 tăng 10,07% so với tháng trước và tăng 72,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,68 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ như: Sản xuất kim loại tăng 2,14 lần; sản xuất than cốc tăng 78,41%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 36,32%; dệt tăng 35,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 59,57%; chế biến thực phẩm giảm 57,05%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2018 tăng 37,33% so với tháng trước và tăng 91,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 31,51 lần; than cốc tăng 5,63 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 4,24 lần; ngành dệt tăng 1,06 lần.- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2018 giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 8,89% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,01%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 28,48%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 17,99%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 11 tháng năm 2018 vẫn tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.3. Thực hiện vốn đầu tưThực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2018 ước đạt 245,03 tỷ đồng, giảm 7,08% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.996,1 tỷ đồng, tăng 17,77 % so với cùng kỳ năm trước, đạt 91,03% kế hoạch cả năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.927,46 tỷ đồng, tăng 19,38% so với cùng kỳ năm trước, đạt 83,41% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 536,14 tỷ đồng, tăng 58,87% so với cùng kỳ năm trước, đạt 96,77% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 532,51 tỷ đồng, giảm 10,07% so với cùng kỳ năm trước, đạt 124,8% kế hoạch. Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 2018 tiếp tục đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước và tăng chủ yếu ở vốn Nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện.4. Thương mại, dịch vụ và giá cả4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 11/2018 đạt 3.304,8 tỷ đồng, tăng 3,02% so với tháng trước và tăng 24,23% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với tháng trước và tăng chủ yếu ở khu vực ngoài Nhà nước. Nguyên nhân chủ yếu do sự tăng mạnh của nhóm hàng ô tô các loại do thị trường tiêu dùng ô tô những tháng cuối năm trờ nên sôi động ,tâm lý mua xe mới để đi trong dịp Tết khiến nhu cầu mua, đặt xe tăng cao. Giá lương thực, thực phẩm tăng, giá gas tăng (tăng 25 nghìn đồng/bình/12kg) khiến doanh thu mặt hàng nhiên liệu tăng khá so với tháng trước. Thời tiết bắt đầu chuyển lạnh khiến nhu cầu về các mặt hàng may mặc, đồ dùng gia đình như chăn ga, gối, đệm...của người dân đều có xu hướng tăng. Cùng với đó, các công trình xây dựng đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng trước thời điểm cuối năm nên nhu cầu về vật liệu xây dựng (chủ yếu là xi măng, cát sỏ, gạch ngói) tăng...Tất cả các yếu tố trên đã làm cho doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 4,53 lần; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 57,05%; phương tiện đi lại tăng 21,28%; lương thực, thực phẩm ước tăng 21,70%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 32,28%; đồ dùng gia đình tăng 16,54%; xăng dầu tăng 20,56%. Trong các nhóm hàng, chỉ có nhóm hàng nhiên liệu khác giảm 9,8%, nhóm may mặc giảm 7,12% do năm này thời tiết chuyển lạnh chậm hơn so với năm ngoái; và nhóm đá quý, kim loại quý giảm 1,22% do giá vàng giảm hơn so với năm trước.Tính chung 11 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 32.843,60 tỷ đồng, tăng 15,35% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.908,40 tỷ đồng, giảm 24,57%; ngoài Nhà nước ước đạt 30.923,69 tỷ đồng, tăng 19,19% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,52 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất là 38,01% và tăng 15,75% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 12,98% và tăng 4,49%; nhóm xăng, dầu các loại chiếm 10,11% và tăng 7,45%. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 11/2018 ước đạt 543,05 tỷ đồng, tăng 4,69% so với tháng trước và tăng 18,14% so với cùng kỳ năm trước.Nguyên nhân chủ yếu do hiện nay nhiều khách sạn, nhà hàng có quy mô lớn đã đi vào hoạt động thu hút được nhiều lượt khách, bên cạnh đó đây là tháng diễn ra nhiều ngày lễ lớn như: Ngày đại đoàn kết dân tộc, ngày nhà giáo Việt Nam…và cũng là tháng trùng với mùa cưới hỏi nên nhu cầu dịch vụ ăn uống tăng hơn so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, thì hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tiếp tục đạt mức tăng khá (tăng 18,14%) và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 7,16%; ăn uống tăng 18,93%; du lịch lữ hành tăng 2,08%. Tính chung 11 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.736,14 tỷ đồng, tăng 12,96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 287,47 tỷ đồng, tăng 12,96%; ăn uống ước đạt 4.431,40 tỷ đồng, tăng 12,94% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 17,27 tỷ đồng, tăng 15,18%. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 11/2018 ước đạt 114,49 tỷ đồng, tăng 2,39% so với tháng trước và tăng 3,56% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 11/2018 tiếp tục tăng so với tháng trước. Do các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành các công trình xây dựng dở dang trước thời điểm cuối năm và trước mùa mưa lũ nên làm cho dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị thi công tăng. Mặt khác, đây cũng là tháng trùng với nhiều ngày lễ lớn và cũng là tháng trùng với mùa cưới hỏi nên các dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ hiếu hỉ, cho thuê đồ dùng cá nhân, gia đình và các dịch vụ làm đẹp, cắt tóc, gội đầu…bắt đầu tăng lên. Tất cả yếu tố đó đã làm cho doanh thu dịch vụ khác tăng hơn so với tháng trướcTính chung 11 tháng đầu năm 2018, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.146,71 tỷ đồng, tăng 5,43% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực kinh tế nhà nước (tăng 50,15%); kinh tế cá thể tăng 2,68% và kinh tế tư nhân tăng 4,12%. Một số nhóm ngành tăng cao hơn mức tăng chung: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 9,75%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 6%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. 4.2. Hoạt động vận tảiVận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 11/2018 ước đạt 3,40 triệu tấn (tăng 0,42%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 85,40 triệu tấn.km (tăng 1,68%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 255,74 tỷ đồng, tăng 2,75%. Do các công trình xây dựng đang bước vào giai đoạn hoàn thiện gấp rút để bàn giao công trình trước thời điểm cuối năm, cùng với đó thời tiết thuận lợi nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 11/2018 ước đạt 1,78 triệu lượt hành khách (giảm 1,48%), với khối lượng luân chuyển là 312,88 triệu lượt hành khách.km (giảm 3,1%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 140,41 tỷ đồng, giảm 1,86% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 20,95 triệu HK (tăng 7,19%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 3.696,03 triệu HK.km (tăng 9,66%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.611,91 tỷ đồng, tăng 10,93%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 31,12 triệu tấn (tăng 7,3%), với khối lượng luân chuyển là 770,70 triệu tấn.km (tăng 4,56%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.518,89 tỷ đồng, tăng 5,72% so với cùng kỳ năm ngoái.4.3. Chỉ số giá tiêu dùngCPI tháng 11 năm 2018, giảm 0,33% so tháng trước, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,75% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị giảm 0,35%; nông thôn giảm 0,31%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: Có 4 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,39% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 1,24%, tăng 0,8% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,79% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 3,11%, tăng 1,39% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,8%, tăng 0,56% so với tháng 12 năm trước; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 3,99%, tăng 3,99% so với tháng 12 năm trước.Có 4 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,56% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 3,99%, tăng 4,34% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,26% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,58%, tăng 1,66% so với tháng 12 năm trước; Giao thông giảm 1,44% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,84%, tăng 6,16% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,19% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,8%, giảm 1,84% so với tháng 12 năm trước.Có 3 nhóm gồm: Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông; Giáo dục ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 11/2018 giảm so với tháng trước chủ yếu là: (1) Giá các mặt hàng thịt lợn giảm do giá thịt hơi giảm; (2) Giá dầu thô thế giới giảm khiến giá xăng, dầu các loại giảm; (3) Sản lượng điện, nước sinh hoạt tiêu dùng giảm.Chỉ số giá vàng tăng 1,13% so tháng trước, giảm 0,07% so cùng kỳ năm trước, tăng 0,11% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng, sang tháng 11 vẫn tiếp tục tăng, với mức giá tại thời điểm ngày 21/11/2018 là 3.530 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.591 ngàn đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,16% so tháng trước, tăng 2,91% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,94% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/10/2018 mức giá bán ra 2.344 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bình quân 11 tháng năm 2018 tăng 3,78% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,61%; nông thôn tăng 3,9%. Nhìn chung, 11 tháng năm 2018, chỉ số giá bình quân tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm chưa giảm mà còn tiếp tục tăng; trong khi những mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý và phân phối như giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tiếp tục tăng đã làm cho chỉ số giá bình quân tăng.Dự kiến CPI tháng 12/2018 tiếp tục tăng. Do giá lương thực, thực phẩm dự kiến tăng cao; đồng thời, giá các nhóm mặt hàng đồ dùng gia đình, (bao gồm hàng điện tử, điện lạnh, đồ dùng nhà bếp), hàng may mặc dự kiến tiếp tục tăng giá do nhu cầu mua sắm những tháng cuối năm. Bên cạnh đó, do nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở dịp cuối năm nên giá sắp thép, vật liệu xây dựng tăng giá.5. Các vấn đề xã hội 5.1. Đời sốngTình hình đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương có phần được cải thiện hơn. Công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm kịp thời của các cấp, các ngành. Cùng với người dân cũng tranh thủ những lúc nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn được đảm bảo. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra.  5.2. Y tế- Tình hình dịch bệnh: Để chủ động phòng chống các dịch bệnh thường xẩy ra trong mùa mưa bão, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục công tác phòng chống dịch. Các cơ sở khám chữa bệnh cũng đã chuẩn bị các phương án ứng phó với các bệnh dịch. Bệnh viện đã sẵn sàng tổ chức thu dung, cấp cứu và điều trị bệnh nhân; kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện; phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thông tin, báo cáo ca bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định. Toàn tỉnh, trong tháng đã xảy ra 03 trường hợp mắc sốt xuất huyết và 38 trường hợp tay-chân-miệng. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người lây, nhiễm HIV/AIDS, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh đã tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ năng truyền thông phòng, chống HIV/AIDS cho những người tham gia thực hiện; tăng cường các hình thức truyền thông nhằm thay đổi hành vi về phòng chống HIV/AIDS cho người dân.     Trong tháng, Hà Tĩnh có 06 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 08 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 06 trường hợp chuyển thành AIDS và không có trường hợp nào chết vì AIDS.      - Công tác an toàn thực phẩm: Tỉnh tiếp tục huy động sự hỗ trợ, vào cuộc của toàn xã hội; đẩy mạnh công tác thanh, kiểm tra, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm và công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để răn đe, tăng cường công tác giám sát, thanh, kiểm tra an toàn thực phẩm; tích cực tuyền truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng để hạn chế sản xuất và sử dụng thực phẩm kém chất lượng cũng như hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng; quản lý chặt chẽ việc quảng cáo sản phẩm, thực phẩm, nhất là thực phẩm chức năng. Trong tháng xảy ra 135 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 10,6% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.5.3. Hoạt động văn hoá- thông tin, thể dục thể thao - Hoạt động văn hóa: Từ ngày 01-05/11/2018, tại Trung tâm Văn hóa-Điện ảnh Hà Tĩnh đã diễn ra Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2018, với sự tham gia của 15 đoàn nghệ thuật, CLB đến từ 13 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đây là hoạt động nhằm đánh giá lại quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong đời sống nhân dân của các tỉnh, thành phố đang nắm giữ di sản này; cùng với mục tiêu đưa ca trù ra khỏi danh sách “di sản văn hoá cần được bảo vệ khẩn cấp” của UNESCO. Mặt khác, đây cũng là sự kiện mở màn cho chuỗi hoạt động Kỷ niệm 240 năm ngày sinh và 160 năm ngày mất Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và được nhiều người cùng hưởng ứng như: Giải bóng chuyền hơi, Giải bóng chuyền da do ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức, nhằm chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam. Cũng trong thời gian này, Hà Tĩnh tham dự lễ hội đua thuyền truyền thống tỉnh Bôlykhămxay, gồm 3 đội thuyền tham gia đua hữu nghị: Cộng đồng Hà Tĩnh ở Bôlykhămxay, tỉnh Bôlykhămxay, Bưng Càn cùng nhau tranh tài. Kết quả, đội thuyền Cộng đồng Hà Tĩnh ở Bôlykhămxay đạt giải nhất, đội tỉnh Bưng Càn đạt giải nhì, đội tỉnh Bôlykhămxay đạt giải ba. Hoạt động này nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống hai tỉnh kết nghĩa Bôlykhămxay và Hà Tĩnh.5.4.Tình hình an toàn giao thông:Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, đặc biệt vi phạm trật tự ATGT liên quan đến người đi mô tô, xe máy, xe đạp điện vi phạm quy định về đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Ban ATGT tỉnh đã phối hợp với Sở Giao thông vận tải, Công an tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND các huyện, thành phố, thị xã và các tổ chức đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến quy đinh của pháp luật về trật tự an toàn giao thông; tập trung tuyên truyền, vận động người dân đội mũ bảo hiểm đúng quy định khi ngồi trên mô tô, xe máy, xe đạp điện tham gia giao thông.Tính từ ngày 16/10/2018 đến ngày 15/11/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 22 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 15 người, bị thương 12 người, thiệt hại tài sản 80 triệu đồng. So với tháng trước tăng 14 vụ, tăng 10 người chết và tăng 5 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 4 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 01 người chết và tăng 03 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/11/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 129 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 118 người, bị thương 67 người, ước tính thiệt hại tài sản 825 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 02 vụ tai nạn đường sắt, giảm 04 người chết và giảm 05 người bị thương.5.5. Môi trường      - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ cháy, chỉ xảy ra 01 vụ nổ nắp thùng phuy tại sân thượng Trạm máy phát điện lò luyện cốc – Công ty Formosa làm bị thương 02 người. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn xảy ra 75 vụ cháy, nổ (trong đó có 72 vụ cháy và 03 vụ nổ), làm 10 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,3 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 17 vụ cháy, nổ (tăng 17 vụ cháy, vụ nổ không thay đổi) và tăng 8 người bị thương.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, đã phát hiện 15 cơ sở vi phạm môi trường, xử lý 12 cơ sở với số tiền 50 triệu đồng. Chung 11 tháng, phát hiện 51 cơ sở vi phạm, xử lý 48 cơ sở với số tiền 658 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2018./.

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI tỉnh Hà Tĩnh Tháng 10 và 10 tháng năm 2018
  •   19/07/2024 10:14

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 10 và 10 tháng năm 20181. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong thời gian qua là tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ Hè Thu, chăm sóc cây vụ Mùa và tiến hành sản xuất cây vụ Đông. Với kết quả sơ bộ trên, diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu giảm bởi ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây mưa lớn, ngập lụt trên địa bàn làm cho một số diện tích lúa gieo trồng đang thời kỳ phát triển bị ngập úng, thiệt hại. Các địa phương có diện tích lúa Hè Thu giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 728 ha, Đức Thọ giảm 575 ha, Hương Khê giảm 155 ha, Nghi Xuân giảm 94,32 ha...         Mặc dù diện tích gieo cấy lúa giảm nhưng do năng suất tăng nên sản lượng lúa vụ Hè Thu năm 2018 sơ bộ vẫn tăng so với vụ Hè Thu năm 2017. Các địa phương có năng suất lúa vụ Hè Thu đạt cao hơn mức bình quân chung toàn tỉnh như: Cẩm Xuyên 53,13 tạ/ha, Thị xã Kỳ Anh 51,23 tạ/ha, Lộc Hà 47,97 tạ/ha, Thạch Hà 47,52 tạ/ha, huyện Kỳ Anh 46,64 tạ/ha.Sản xuất vụ Mùa năm 2018 trong điều kiện thời tiết bất lợi. Từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 thời tiết chủ yếu nắng nóng gay gắt, trung tuần tháng 7 (ngày 13-19/7/2018) lại bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và cơn bão số 3 nên kết quả sản xuất vụ Mùa 2018 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng vụ Mùa ước đạt 12.791 ha, bằng 72,99% (giảm 4.734 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa ước đạt 511 ha, bằng 73,4% (giảm 185 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất lúa ước đạt 17,84 tạ/ha, bằng 116,46% (tăng 2,52 tạ/ha) với sản lượng lúa ước đạt 912 tấn, bằng 85,49% (giảm 155 tấn); diện tích ngô ước đạt 1.375 ha, bằng 69,55% (giảm 602 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất ngô ước đạt 27,42 tạ/ha, bằng 95,75% (giảm 1,22 tạ/ha) với sản lượng ngô ước đạt 3.771 tấn, bằng 66,58% (giảm 1.893 tấn); diện tích khoai lang ước đạt 593 ha, bằng 78,92% (giảm 158 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất khoai lang ước đạt 54,67 tạ/ha, bằng 99,52% (giảm 0,26 tạ/ha) với sản lượng khoai lang ước đạt 3.240 tấn, bằng 78,55% (giảm 885 tấn); diện tích lạc ước đạt 482 ha, bằng 84,48% (giảm 88 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất lạc ước đạt 15,04 tạ/ha, bằng 103,72% (tăng 0,54 tạ/ha) với sản lượng lạc ước đạt 724 tấn, bằng 81,54% (giảm 164 tấn); diện tích đậu các loại ước đạt 2.979 ha, bằng 47,84% (giảm 3.247 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất đậu ước đạt 5,37 tạ/ha, bằng 94,83% (giảm 0,03 tạ/ha) với sản lượng đậu ước đạt 1.598 tấn, bằng 45,37% (giảm 1.924 tấn) và diện tích rau các loại ước đạt 2.367 ha, bằng 98,48% (giảm 37 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất rau ước đạt 70,36 tạ/ha, bằng 101,47% (tăng 1,02 tạ/ha) với sản lượng rau ước đạt 16.654 tấn, bằng 99,93% (giảm 12 tấn). Về sản xuất vụ Đông năm 2018, với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Vụ Đông năm nay toàn tỉnh phấn đấu gieo trồng 3.671 ha ngô lấy hạt và 2.250 ha ngô sinh khối, sản lượng cả 2 loại đạt khoảng 95.944 tấn; 4.258 ha rau các loại với sản lượng 25.977 tấn;  40 ha lạc với sản lượng 72 tấn và 1.911 ha khoai lang, sản lượng 11.920 tấn. Hiện nay, sâu bệnh cũng đã xuất hiện gây hại trên diện tích các loại cây trồng như: Ngô, khoai lang, rau nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Nhìn chung tổng đàn vật nuôi vẫn ổn định không có biến động đột biến. Hiện đàn đại gia súc trâu, bò đang có xu hướng ngày càng giảm. Nguyên nhân do chăn nuôi trâu chủ yếu là nhỏ lẻ trong dân, trong khi loại thực phẩm này cũng chưa được tiêu dùng một cách phổ biến. Còn đối với các dự án chăn nuôi bò trên địa bàn cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, hoạt động cầm chừng (Dự án chăn nuôi bò Bình Hà, dự án chăn nuôi bò của của Công ty Mitraco). Đàn lợn và đàn gia cầm đang phát triển ổn định do giá lợn hơi đã tăng trở lại và trong thời gian qua ít xẩy ra dịch bệnh.  Tính từ ngày 15/9/2018 đến ngày 15/10/2018 trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra dịch bệnh đối với đàn vật nuôi.1.2. Lâm nghiệpTrong tháng, toàn tỉnh đã trồng được 640 ha rừng tập trung, bằng 29,45% (giảm 1.533 ha) và 413 ngàn cây phân tán, bằng 104,82% (tăng 19 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 46.503 m3, bằng 69,96% (giảm 19.966 m3) và 82.641 ste củi, bằng 77,84% (giảm 23.522 ste) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân, do năm 2017 ảnh hưởng của bão số 10, nhiều ha rừng trồng và cây cối bị đổ gãy nên người dân đã khai thác tận thu và tiến hành trồng mới lại rừng nên có diện tích rừng trồng và khối lượng gỗ, củi lớn hơn so với cùng kỳ năm 2018. Cùng với việc trồng và chăm sóc rừng thì công tác phòng, chống cháy rừng cũng luôn được quan tâm. Từ ngày 15/9/2018 đến ngày 15/10/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng.1.3. Thuỷ sảnHoạt động sản xuất nuôi trồng và khai thác thủy hải sản vẫn diễn ra bình thường, sản lượng thủy hải sản khai thác nuôi trồng tăng nhẹ so với cùng kỳ. Trông tháng dịch bệnh không xẩy ra đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản.2. Sản xuất công nghiệp- Chỉ số sản xuất công nghiệp: Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2018 tăng 14,61% so với tháng trước và tăng 81,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số sản xuất công nghiệp khai khoáng giảm 9,75% so với tháng trước và tăng 61,98% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,88% so với tháng trước và tăng 70,82% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 21,93% so với tháng trước và tăng 187,1% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,88% so với tháng trước và tăng 52,38% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh vẫn duy trì mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng cả ở 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó chủ yếu tăng mạnh ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện.Tính chung 10 tháng năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 105,6% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của 9 tháng đầu năm (chung 9 tháng tăng 109,39%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 134,25%, đóng góp 94 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 41,96%, đóng góp 11,4 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 17,53%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,95%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 10 tháng chỉ tăng 6,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,1%.- Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2018 tăng 13,33% so với tháng trước và tăng 42,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,91 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 2,51 lần; sản xuất than cốc tăng 72,36%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 53,19%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 60,08%; chế biến thực phẩm giảm 60,27%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2018 tăng 40,39% so với tháng trước và tăng 91,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 34,25 lần; than cốc tăng 8,05 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 4,3 lần; ngành dệt tăng 1,57 lần.- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2018 giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 10,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,73%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 28,12%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 19,16%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 10 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.3. Thực hiện vốn đầu tưThực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2018 ước đạt 301,63 tỷ đồng, giảm 5,63% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.789 tỷ đồng, tăng 19,32% so với cùng kỳ năm trước, đạt 84,73% kế hoạch cả năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.725,84 tỷ đồng, tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước, đạt 74,69% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 528,48 tỷ đồng, tăng 77,66% so với cùng kỳ năm trước, đạt 95,39% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 534,67 tỷ đồng, giảm 3,92% so với cùng kỳ năm trước, đạt 125,31% kế hoạch. Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng năm 2018 tiếp tục đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước và tăng chủ yếu ở vốn Nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện.   4. Thương mại, dịch vụ và giá cả4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 10/2018 đạt 3.252,3 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 25,85% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng so với tháng trước và tăng chủ yếu ở khu vực ngoài Nhà nước. Do giá lương thực, thực phẩm tăng, giá gas tăng (tăng 10 nghìn đồng/bình/12kg); bên cạnh đó, nhu cầu về các mặt hàng may mặc, đồ dùng gia đình như chăn ga, gối, đệm... của người dân đều có xu hướng tăng; cùng với đó, thời tiết thuận lợi cho việc hoàn thiện công trình nên nhu cầu về vật liệu xây dựng (chủ yếu là xi măng, cát sỏ, gạch ngói) tăng...Tất cả các yếu tố trên đã làm cho doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng.So với cùng kỳ năm trước, hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng chủ yếu ở khu kinh tế tập thể, tăng 65,42% và kinh tế tư nhân tăng 61,48%. Một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 3,29 lần; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 54,77%; phương tiện đi lại tăng 54,34%; lương thực, thực phẩm ước tăng 20,99%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 31,04%; đồ dùng gia đình tăng 20,43%; xăng dầu tăng 20,86%. Trong các nhóm hàng, chỉ có nhóm hàng may mặc giảm 3,4%; nhiên liệu khác giảm 7,03% và nhóm đá quý, kim loại quý giảm 8,74%.Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 29.583,14 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.720,05 tỷ đồng, giảm 25,16%; ngoài Nhà nước ước đạt 27.851,61 tỷ đồng, tăng 18,44% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,49 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất là 38,17% và tăng 15,29% so với cùng kỳ; tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 13,07% và tăng 3,74%; nhóm xăng, dầu các loại chiếm 10,08% và tăng 6,03%. - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 10/2018 ước đạt 498,59 tỷ đồng, giảm 2,08% so với tháng trước và tăng 18,96% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch tháng 10/2018 có xu hướng giảm so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do lượng khách đến tham quan du lịch biển giảm mạnh; còn tại các điểm văn hóa tâm linh, lượng khách đến vẫn tăng nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu phục vụ lượt khách trong ngày, tất cả điều đó đã làm cho tổng doanh thu chung giảm.So với cùng kỳ năm trước, thì hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tiếp tục đạt mức tăng khá và tăng đều ở cả 3 nhóm ngành dịch vụ: Lưu trú tăng 14,19%; ăn uống tăng 19,33%; du lịch lữ hành tăng 2,26%. Tính chung 10 tháng, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.172,97 tỷ đồng, tăng 11,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 256,39 tỷ đồng, tăng 13,27%; ăn uống ước đạt 3.901,09 tỷ đồng, tăng 11,66% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15,49 tỷ đồng, tăng 16,79%. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 10/2018 ước đạt 112,39 tỷ đồng, tăng 1,92% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 10/2018 tiếp tục tăng, nhưng chỉ tăng nhẹ so với tháng trước. Do các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành các công trình xây dựng dở dang cũng như mới trước mùa mưa lũ, nên làm cho dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị thi công tăng; mặt khác, đây cũng là tháng mà nhu cầu làm đẹp, massa, cắt tóc, uốn sấy... của chị em bắt đầu có xu hướng tăng; đồng thời, trùng với ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20/10, đã tác động đến các hoạt động giải trí tăng. Tất cả yếu tố đó đã làm cho doanh thu dịch vụ khác tăng.Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.032,79 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực kinh tế nhà, tăng 55,4%; kinh tế cá thể tăng 2,65% và kinh tế tư nhân tăng 4,94%. Một số nhóm ngành tăng cao hơn mức tăng chung: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 9,76%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 7,12%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 6,43% so với cùng kỳ năm trước.4.2. Hoạt động vận tảiVận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 10/2018 ước đạt 3,15 triệu tấn (tăng 0,32%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 77,27 triệu tấn.km (tăng 0,95%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 237,57 tỷ đồng, tăng 2,24%. Do các công trình xây dựng gấp rút hoàn thành trước mùa mưa bão, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 10/2018 ước đạt 1,88 triệu lượt hành khách (tăng 0,53%), với khối lượng luân chuyển là 340,81 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,4%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 150,85 tỷ đồng, tăng 0,65%. Do giá xăng dầu tăng đã tác động đến giá vé vận tải hành khách công cộng bắt đầu tăng từ đầu tháng 10, nên làm cho kết quả vận tải hành khách tăng.Tính chung 10 năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 19,25 triệu HK (tăng 8,29%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 3.401,07 triệu HK.km (tăng 11,19%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.479,28 tỷ đồng, tăng 12,26%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 27,49 triệu tấn (tăng 4,65%), với khối lượng luân chuyển là 678,61 triệu tấn.km (tăng 2,1%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.251,82 tỷ đồng, tăng 4,54%. 4.3. Chỉ số giá tiêu dùngThị trường tháng 10 năm 2018 CPI tiếp tục tăng giá. Chịu ảnh hưởng từ giá lương thực, thực phẩm đều tăng, nhất là giá nhiên liệu xăng dầu được điều chỉnh tăng với biên độ cao. Một mặt hàng thiết yếu khác là giá gas nhiên liệu cũng được điều chỉnh tăng giá là những yếu tố khiến chỉ số giá tiêu dùng tháng này tăng khá cao.CPI tháng 10 năm 2018, tăng 0,44% so tháng trước, tăng 3,48% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,09% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,45%; nông thôn tăng 0,42%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: Có 5 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,65% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 5,03%, tăng 4,92% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,56% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 3,08%, tăng 0,59% so với tháng 12 năm trước; Nhà ở vật liệu xây dựng tăng 0,46% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,1%, tăng 1,92% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 1,18% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 9,05%, tăng 7,71% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước giảm 3,5%, giảm 1,65% so với tháng 12 năm trước.Có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm đó là nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,21% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,84%, tăng 0,54% so với tháng 12 năm trước; Đồ dùng và dịch vụ khác giảm 0,09% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,69%, tăng 3,96% so với tháng 12 năm trước.Có 4 nhóm gồm: Đồ uống và thuốc là; Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông; Giáo dục ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 10/2018 có sự biến động so tháng trước chủ yếu là: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhiên liệu xăng dầu điều chỉnh tăng mạnh so với tháng trước; (3) Giá mặt hàng vật liệu xây dựng, gas nhiên liệu tăng.Chỉ số giá vàng giảm 1,19% so tháng trước, giảm 1,34% so cùng kỳ năm trước, giảm 1,01% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng, sau nhiều tháng giảm, sang tháng 10 bắt đầu tăng trở lại, với mức giá tại thời điểm ngày 21/10/2018 là 3.550 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.558 ngàn đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,35% so tháng trước, tăng 2,8% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,77% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/10/2018 mức giá bán ra 2.340 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bình quân 10 tháng đầu năm 2018 tăng 3,87% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,71%; nông thôn tăng 3,97%. Nhìn chung, 10 tháng đầu năm 2018, chỉ số giá bình quân tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm chưa giảm mà còn tiếp tục tăng; trong khi những mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước quản lý và phân phối như giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tiếp tục tăng đã làm cho chỉ số giá bình quân tăng.Dự kiến CPI tháng 11/2018 tiếp tục tăng. Nguyên nhân do giá thịt và lương thực chưa có dấu hiệu giảm. Trong khi đó, một số mặt hàng như lạc, đậu xanh, đường, gừng dự kiến tăng giá; giá các nhóm mặt hàng đồ dùng gia đình, (bao gồm hàng điện tử, điện lạnh, đồ dùng nhà bếp), hàng may mặc dự kiến tiếp tục tăng giá do nhu cầu mua sắm những tháng cuối năm. Bên cạnh đó, do nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở dịp cuối năm nên giá sắp thép, vật liệu xây dựng tăng giá.5. Các vấn đề xã hội 5.1. Đời sốngTình hình đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo luôn được sự quan tâm kịp thời của các cấp, các ngành. Đồng thời, ngoài thời gian sản xuất nông nghiệp, người dân cũng tranh thủ những lúc nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên trong tháng không xảy ra thiếu đói. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh cũng không xảy ra.5.2. Y tế- Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, bệnh tay - chân - miệng (TCM) có khả năng lây truyền cao và chủ yếu mắc ở trẻ dưới 6 tuổi. Để ngăn ngừa sự lây lan, phát tán của bệnh, Sở Y tế đã chỉ đạo các bệnh viện đảm bảo các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, thuốc, hóa chất và vật tư y tế để phòng bệnh TCM. Các trung tâm YTDP tham mưu các biện pháp tăng cường về phòng chống bệnh TCM như: Công tác tuyên truyền, bổ sung kinh phí mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc, hóa chất cần thiết. Các cơ sở KCB tổ chức tập huấn và triển khai việc thu dung, điều trị người bệnh. Thực hiện tốt phối hợp giữa bệnh viện với YTDP trong phát hiện, chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh.Toàn tỉnh, trong tháng đã xảy ra 02 trường hợp mắc sốt xuất huyết (chủ yếu là các trường hợp vãng lai) và 28 trường hợp tay-chân-miệng. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng-chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp các địa phương tập huấn các kiến thức cơ bản về phòng, chống HIV/AIDS, trong đó chú trọng về công tác tuyên truyền tư vấn, xét nghiệm sớm HIV và vận động các đối tượng sử dụng ma túy, hoạt động động mại dâm trên địa bàn tích cực tiếp cận các Chương trình can thiệp Dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS như: Điều trị Methadone đối với người nghiện ma túy; Sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục đối với gái hoạt động mại dâm, nhằm dự phòng lây nhiễm HIV cho bản thân, gia đình và cộng đồng; vận động người dân tích cực tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm nhằm góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội và giảm sự lây nhiễm HIV/AIDS. Trong tháng, Hà Tĩnh có 07 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 04 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 04 trường hợp chuyển thành AIDS, không có trường hợp nào chết vì AIDS.          - Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các cơ sở sản xuất, kinh doanh bánh kẹo, ki-ốt bán hàng tạp hóa và các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; đồng thời, tuyên truyền, nhắc nhở, hướng dẫn các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện đầy đủ các thủ tục, giấy tờ có liên quan nhằm nâng cao ý thức chấp hành các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong tháng ra, chỉ xảy ra 142 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 0,7% so với cùng kỳ năm ngoái) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.5.3. Hoạt động văn hoá- thông tin, thể dục thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh đã công bố sự kiện “Hoàng hoa sứ trình đồ” là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thuộc xã Trường Lộc, huyện Can Lộc. Sự kiện này thêm một lần nữa tô đậm những giá trị văn hoá độc đáo mà dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam, góp phần to lớn vào các thời kỳ dựng xây đất nước; đồng thời, qua sự kiện này nhằm tuyên truyền, giáo giục về truyền thống văn hóa, truyền thống hiếu học của quê hương Hà Tĩnh; giới thiệu, quảng bá để mọi người hiểu rõ giá trị của di sản.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Giải bóng đá mini ngành Ngân hàng tỉnh chào mừng ngày Doanh nhân Việt Nam; Giải bóng chuyền hơi, bóng chuyền kỷ niệm ngày truyền thống các ban Đảng; Giải bóng đá nữ do Thành Đoàn Hà Tĩnh tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam... - Thể thao thành tích cao: đoàn Hà Tĩnh dành được 01 HCV tại giải vô địch Pencaksilat tổ chức ở Ấn Độ.5.4.Tình hình an toàn giao thông:Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tập trung cao điểm đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong mùa mưa lũ và những tháng cuối năm. Xử lý triệt để tình trạng vi phạm tải trọng xe, cơi nới thành thùng để chở quá tải, đặc biệt là các loại phương tiện ô tô vận chuyển hành khách không đảm bảo an toàn kỹ thuật, người điều khiển phương tiện tham giao giao thông sử dụng rượu bia. Các ngành chức năng, địa phương có giải pháp căn cơ, quyết liệt nhằm xử lý triệt để tình trạng lấn chiếm hành lang an toàn giao thông để tập kết vật liệu xây dựng, họp chợ trên đường...Tính từ ngày 16/9/2018 đến ngày 15/10/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 05 người, bị thương 07 người, thiệt hại tài sản 45 triệu đồng. So với tháng trước giảm 05 vụ, giảm 08 người chết; so với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, giảm 10 người chết và giảm 01 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/10/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 107 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 103 người, bị thương 55 người, ước tính thiệt hại tài sản 745 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 02 vụ tai nạn đường sắt, giảm 05 người chết và giảm 08 người bị thương.5.6. Môi trường- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 6 vụ cháy (tăng 2 vụ cháy so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 190 triệu đồng, trong đó: 02 vụ cháy nhà chứa rơm, 01 vụ cháy nhà xưởng, 01 vụ cháy xe khách và 02 vụ cháy khác. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn xảy ra 74 vụ cháy, nổ (trong đó có 72 vụ cháy và 02 vụ nổ), làm 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,3 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 24 vụ cháy, nổ (tăng 25 vụ cháy, giảm 01 vụ nổ) và tăng 6 người bị thương.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. Trong tháng, đã phát hiện và xử lý 02 cơ sở vi phạm môi trường với số tiền 15 triệu đồng. Chung 10 tháng, phát hiện và xử lý 36 cơ sở, với số tiền 608 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2018./.

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI tình Hà Tĩnh Tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018
  •   19/07/2024 09:33

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘITháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018Thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2018 trong điều kiện có những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2017, xu hướng phát triển tích cực 6 tháng đầu năm 2018, đặc biệt là sự đi vào hoạt động sản xuất ổn định của Dự án Fomosa Hà Tĩnh đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ cho ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước. Tuy nhiên, cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức: Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, chất đốt...tăng lên đã tạo nên sức ép lạm phát cũng đang tăng so với cùng kỳ; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; diễn biến thời tiết, thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn; nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn khó khăn; an ninh trật tự, an toàn xã hội và các tai tệ nạn xã hội luôn tiềm ẩn các diễn biến khó lường...Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban ngành, các địa phương quyết liệt thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, nhất là Nghị quyết số 68/2017/NQ-HĐND ngày 13/12/2017 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện để có những điều chỉnh phù hợp và kịp thời hơn với tình hình thực tiễn. Nhờ đó, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Kết quả đạt được cụ thể của các ngành, các lĩnh vực như sau:  1. Tài chính, ngân hàng1.1. Thu - chi ngân sách Nhà nướcTổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 12.309 tỷ đồng, bằng 129,53% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,05% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa ước đạt 4.204 tỷ đồng, bằng 114,62% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,06% dự toán năm; thu hải quan ước đạt 4.342 tỷ đồng, bằng 218,52% so với cùng kỳ năm trước và bằng 70,04% dự toán (Trung ương mới giao thu bổ sung thêm 2.800 tỷ đồng). Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước vẫn còn gặp khó khăn. Đặc biệt, Tổng cục Hải quan vừa có Văn bản số 5132/TCHQ-TXNK giao bổ sung thu ngân sách nhà nước cho Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh với mức giao thu tăng thêm 2.800 tỷ đồng. Như vậy, chỉ tiêu được giao năm 2018 gần gấp đôi so với chỉ tiêu đầu năm (đầu năm Bộ Tài chính giao chỉ tiêu 3.100 tỷ đồng; HĐND tỉnh giao chỉ tiêu 3.400 tỷ đồng), trong khi chỉ còn hơn 3 tháng nữa là kết thúc năm tài chính ngân sách năm 2018 nên đây thực sự là một thách thức lớn đối với công tác thu ngân sách. Thời gian tới cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2018 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2018 ước tính là 13.967 tỷ đồng, bằng 111,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chi cân đối ngân sách là 9.128 tỷ đồng, bằng 111,95% so với cùng kỳ năm trước và bằng 67,98% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 4.791 tỷ đồng, bằng 110,27% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số khoản chi như sau: Chi đầu tư phát triển 3.469 tỷ đồng, bằng 119,93% so với cùng kỳ năm trước và bằng 100,88% so với dự toán năm; chi thường xuyên 5.659 tỷ đồng, bằng 107,56% so với cùng kỳ năm trước và bằng 60,06% so với dự toán năm. Nhìn chung, việc điều hành và thực hiện dự toán chi NSĐP trong thời gian qua vẫn đảm bảo và đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên cũng như đột xuất của địa phương. 1.2. Hoạt động ngân hàng9 tháng năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.- Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý tính đến thời điểm 10/9/2018 đạt 46.948 tỷ đồng, tăng 12,65% so với đầu năm. Ước tính đến 30/9/2018, nguồn vốn huy động đạt 47.345 tỷ đồng, tăng 13,6% so với đầu năm. Huy động vốn tăng trưởng tốt (8 tháng đầu năm tăng 11,34% so với đầu năm, ước 9 tháng tăng 13,6%), đặc biệt là nguồn vốn huy động từ dân cư (tăng hơn 14%); nguồn vốn trung, dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (chiếm 46,97%) và tăng 24,39% so với đầu năm. Nguồn vốn trung, dài hạn tăng đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động nguồn vốn và đầu tư cho vay dài hạn nhằm tạo điều kiện cho khách hàng mở rộng sản xuất kinh doanh.- Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm nới lỏng hoạt động cho vay, do đó doanh số cho vay 8 tháng đầu năm 2018 đạt hơn 49.000 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017.Dư nợ cho vay đến ngày 10/9/2018 đạt 41.308 tỷ đồng, tăng 9,08% so với đầu năm. Ước tính đến 30/9/2018 tổng dư nợ đạt 41.682 tỷ đồng, tăng 10,06% so với đầu năm (tăng cao hơn 9 tháng đầu năm 2017: 8,52%).- Dư nợ theo các chương trình: Trong 9 tháng năm 2018, số khách hàng được cho vay hỗ trợ lãi suất theo các quyết định của Chính phủ, của tỉnh là 59 khách hàng, với doanh số cho vay được hỗ trợ là 24,55 tỷ đồng, tiền lãi phải hỗ trợ cho các khách hàng đang hưởng chính sách là 7,13 tỷ đồng (lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.747 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là 40,42 ngàn lượt, số lãi được hỗ trợ là hơn 35,47 tỷ đồng). Triển khai Nghị định 67, tính đến ngày 31/8/2018 đã có 11 chủ tàu ký hợp đồng tín dụng với các ngân hàng thương mại với tổng hạn mức cho vay là 162,62 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm hiện tại 153,79 tỷ đồng. Nợ xấu chiếm 76,45% tổng dư nợ, trong đó có 9/11 chủ tàu phát sinh nợ xấu. Kết quả triển khai Nghị quyết 02/NQ-CP, các ngân hàng đã cho vay đối với 1.027 khách hàng với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng. Dư nợ đến thời điểm 31/8/2018 là hơn 358 tỷ đồng. Kết quả cho vay các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH: Tính đến ngày 31/8/2018, dư nợ NHCSXH đạt hơn 4.312 tỷ đồng, chiếm 10,51% tổng dư nợ toàn địa bàn, tăng 5,41% so với đầu năm 2018. Dư nợ các chương trình tín dụng chính sách: Cho vay hộ nghèo 708 tỷ đồng; cho vay hộ cận nghèo 1.000 tỷ đồng; cho vay hộ mới thoát nghèo 762 tỷ đồng; cho vay học sinh sinh viên 251 tỷ đồng; cho vay giải quyết việc làm 105 tỷ đồng; cho vay XKLĐ 6,6 tỷ đồng; cho vay NS&VSMTNT 536 tỷ đồng; cho vay SXKD tại vùng khó khăn 804 tỷ đồng; cho vay thương nhân vùng khó khăn 2,79 tỷ đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ167 là 62,14 tỷ đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QÐ33 là 467 tỷ; cho vay xây chòi tránh lũ, lụt 0,765 tỷ đồng và một số chương trình khác.- Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng, hoạt động quản lý ngoại hối và vàng; công tác cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nghiêm túc tại các ngân hàng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và các hoạt động khác diễn ra an toàn và hiệu quả.2. Đầu tư và xây dựng2.1 Đầu tư phát triển     Ước tính vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện 9 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành đạt 21.830,05 tỷ đồng, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước.9 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước và giảm ở cả 3 nguồn vốn: Nhà nước giảm 5,25%; ngoài Nhà nước giảm 6,99% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 8,89%. Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư 9 tháng đầu năm 2018 chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chiếm 48,07%), vốn ngoài nhà nước (chiếm 33,45%); còn xét theo khoản mục đầu tư, thì nguồn vốn tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản (chiếm 85,54%).Tính riêng quý III/2018, vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 7.308,19 tỷ đồng, tăng 2,81% so với quý trước và giảm 12,41% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội quý III/2018 tăng so với quý trước chủ yếu tăng ở nguồn vốn Nhà nước (tăng 11,01%). Do thời tiết thuận lợi, các công trình cuối năm được đẩy nhanh tiến độ thi công, đảm bảo tiến độ giải ngân, đặc biệt là ở một số huyện, xã về đích nông thôn mới cuối năm 2018 (Vũ Quang, Nghi Xuân).Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng năm 2018 tăng khá, ước đạt 2.651,59 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn Trung ương quản lý ước đạt 148,37 tỷ đồng, giảm 6,92%; vốn địa phương quản lý ước đạt 2.503,22 tỷ đồng, tăng 19,79%.Như vậy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 9 tháng năm 2018 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước và tăng ở cả 3 cấp, trong đó tăng mạnh là vốn Nhà nước cấp huyện (tăng 83,99%). Nếu tách từng quý cho thấy, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I/2018 đạt 607,81 tỷ đồng (giảm 6,99% so với cùng kỳ năm trước); sang quý II và quý III đạt mức tăng khá, lần lượt đạt 887,75 tỷ đồng (tăng 29,02%) và 1.007,66 tỷ đồng (tăng 34,69%). Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, 9 tháng đầu năm 2018 chủ yếu tập trung vốn đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép Formosa, phần lớn là xây dựng khu phụ trợ, phục vụ hoạt động sản xuất chính thức và Cảng nước sâu Sơn Dương Formosa nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng giảm.2.2. Xây dựng9 tháng đầu năm 2018, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài triển khai chậm, riêng dự án Khu liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Formosa cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 nên vốn đầu tư khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh và chủ yếu đầu tư vào máy móc thiết bị. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với các công trình, nên giá trị 9 tháng đầu năm 2018 giảm so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xây dựng toàn tỉnh 9 tháng năm 2018 giảm 10,59% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giảm mạnh ở xây dựng khu vực Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, lần lượt giảm 83,68% và 81,63%. Riêng xây dựng khu vực ngoài Nhà nước, 9 tháng năm 2018 tăng 7,88% so với cùng kỳ năm trước, do xây dựng khu vực dân cư tăng 34,51%. Riêng quý III/2018, một số dự án lớn trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì đầu tư xây dựng như: Dự án khu phức hợp Vincom Hà Tĩnh; một số hạng mục, công trình phụ trợ thuộc dự án Formosa Hà Tĩnh; Đê La Giang; Kè Nậm La; Đường giao thông nông thôn xã Trung Lễ, Sơn Trường, Hương Long; hệ thống kênh tưới tiêu phía Nam thị trấn Nghèn…nên giá trị xây dựng quý III có tăng nhẹ so với quý trước. Giá trị xây dựng quý III tăng 2,74% so với quý trước và giảm 4,47% so với cùng kỳ năm trước. 3. Sản xuất công nghiệp- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2018 ước tính tăng 3,73% so với tháng trước và tăng 59,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 68,59%; sản xuất và phân phối điện tăng 20,1%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,32% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng cả ở 4 ngành công nghiệp cấp I, trong đó chủ yếu tăng mạnh ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tính riêng quý III/2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 54,53% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của quý I, quý II (quý I tăng 162,1%; quý II tăng 168,46%).Trong 4 ngành công nghiệp cấp I, hầu hết đều có chỉ số sản xuất tăng ở cả 3 quý, nhưng mức tăng của quý III thấp hơn mức tăng quý I và quý II. Riêng ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất quý I giảm 11,32%; quý II giảm 2,66%, sang quý III tăng 1,24%, nhưng chỉ tăng nhẹ và chủ yếu tăng ở khai thác cát, sỏi, đá (tăng 1,97%). Như vậy, sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh vẫn đạt tăng trưởng cao ở cả 3 quý, nhưng sang quý III mức tăng có phần chững lại. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 110,44% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn mức tăng của 8 tháng đầu năm (chung 8 tháng tăng 120,59%), cụ thể: Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 148,79%, đóng góp 99,69 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 35,5%, đóng góp 10,68 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 15,86%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3,35%, làm giảm 0,07 điểm phần trăm. 9 tháng đầu năm 2018, hoạt động công nghiệp ở Hà Tĩnh đạt tăng trưởng cao, chủ yếu do ảnh hưởng lớn từ dự án Formosa, nếu loại trừ ảnh hưởng từ dự án Formosa thì chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 9 tháng chỉ tăng 4,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ có hai ngành chịu ảnh hưởng là: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,11%. - Chỉ số tiêu thụ, tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 tăng 2,36% so với tháng trước và tăng 87,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,44 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 3,42 lần; sản xuất than cốc tăng 65,46%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh: Sản xuất hóa chất giảm 56,44%; chế biến thực phẩm giảm 64,72%.Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 tăng 44,53% so với tháng trước và tăng 100,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy tăng 38,15 lần; than cốc tăng 10,23 lần; sản phẩm đúc sẵn từ kim loại tăng 3,64 lần; ngành dệt tăng 2,56 lần; sản xuất đồ uống tăng 40,76%.- Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp: Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2018 giảm 0,27% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng tăng 17,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 2,92%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 27,64%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 20,66%. Như vậy, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng năm 2018 tăng chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tình hình đăng ký kinh doanh: Lũy kế đến ngày 20/9/2018, có 686 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc thành lập mới, trong đó doanh nghiệp là 536 đơn vị, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước, tổng số vốn đăng ký đạt 4.517,7 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ năm trước (tăng 496,9 tỷ đồng). Số vốn đăng ký bình quân đạt 8,4 tỷ đồng/doanh nghiệp (tăng 0,9 tỷ đồng/doanh nghiệp so cùng kỳ năm trước) thể hiện các doanh nghiệp ngày càng tăng quy mô vốn. Những năm gần đây số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng khá cao, bên cạnh tăng về số lượng, các doanh nghiệp cũng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Trong đó loại hình công ty cổ phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất, tiếp đến là loại hình công ty TNHH và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải đăng ký tạm ngừng hoạt động tình từ đầu năm đến 20/9/2018 là 180 doanh nghiệp, tăng 31,3% và có 86 doanh nghiệp tự nguyện giải thể, giảm 1,1% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong 9 tháng đầu năm 2018 vẫn duy trì hoạt động sản xuất và là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến nay tăng so với cùng kỳ nhưng bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng vẫn có xu hướng tăng, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. - Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý III/2018 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau: Có 68,8% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 28,8% khẳng định SXKD tốt lên, 40% khẳng định giữ ổn định); 31,2% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Dự báo quý IV so với quý III năm 2018, có 75,5% doanh nghiệp đánh giá sản xuất kinh doanh tốt hơn và giữ ổn định so với quý III (trong đó 33,3% số doanh nghiệp dự báo tốt lên, 42,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định); còn 24,5% số doanh nghiệp khó khăn hơn.Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 64,4% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp”, 68,8% doanh nghiệp khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao”, 33,3% doanh nghiệp khẳng định “Lãi suất vay vốn cao” và 42,2% doanh nghiệp cho rằng vấn đề “Khó khăn về tài chính” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.       Liên quan tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2018, có 33,3% doanh nghiệp tăng sản xuất so với quý II/2018; 28,8% giảm đi; có 25% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 31,8% giảm đi; 73,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 20% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy) và 24,4% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm (ngành có tỷ lệ lớn doanh nghiệp giảm tồn kho nguyên vật liệu là dệt, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất); 6,6% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và 6,6% giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. Xu hướng dự kiến quý IV so quý III có 27,9% số doanh nghiệp có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 15,3% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 24,4% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 24,4% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.Đánh giá về biến động lao động quý III/2018 so với quý II/2018, có 88,8% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 2,2% khẳng định tăng lên, 86,6% khẳng định giữ ổn định) và 11,1% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý IV so với quý III vẫn duy trì tỷ lệ như quý III so với quý II, điều đó khẳng định các doanh nghiệp hoạt động khá ổn định và không có nhu cầu tăng thêm lao động hoặc giảm lao động do gặp khó khăn trong sản xuất.5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản5.1. Sản xuất nông nghiệp- Sản xuất cây hàng năm: Trong tháng 9/2018, hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung thu hoạch lúa vụ Hè Thu và chăm sóc cây trồng vụ Mùa. Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 154.926 ha, bằng 97,3% (giảm 4.303 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, cây lương thực có hạt ước đạt 112.051 ha, chiếm 72,33% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm, bằng 100,25% (tăng 284 ha) so với cùng kỳ năm 2017.Diện tích gieo cấy lúa cả năm ước đạt 102.799 ha, bằng 98,78% (giảm 1.273 ha) so với năm trước, trong đó: Diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 59.143 ha, bằng 100,47% (tăng 277 ha); diện tích gieo cấy lúa Hè Thu sơ bộ đạt 43.145 ha, bằng 96,93% (giảm 1.365 ha) và diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa ước đạt 511 ha, bằng 73,42% (giảm 185 ha). Nguyên nhân chính là do diện tích lúa Hè Thu giảm bởi ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây mưa lớn, ngập lụt trên địa bàn làm cho một số diện tích lúa gieo trồng đang thời kỳ phát triển bị ngập úng, thiệt hại. các địa phương có diện tích lúa Hè Thu giảm mạnh như: Hương Sơn giảm 728 ha, Đức Thọ giảm 575 ha, Hương Khê giảm 155 ha, Nghi Xuân giảm 94,32 ha...Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 51,94 tạ/ha, so với năm trước bằng 122,1% (tăng 9,41 tạ/ha), trong đó: Năng suất lúa vụ Xuân đạt 56,42 tạ/ha, bằng 137,31% (tăng 15,33 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 46,2 tạ/ha, bằng 102,93% (tăng 1,32 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 17,85 tạ/ha, bằng 116,51% (tăng 2,53 tạ/ha) so với cùng kỳ năm 2017. Như vậy, năng suất lúa của cả ba vụ sản xuất trong năm 2018 đều tăng hơn so với năm 2018. Bên cạnh các yếu tố về sự chủ động trong sản xuất, sự thuận lợi về điều kiện thời tiết thì còn có nguyên nhân làm tăng năng suất lúa đó chính là việc mở rộng sản xuất các giống lúa lai có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hạn chế gieo cấy các giống lúa nhiễm và nhạy cảm với bệnh đạo ôn cổ bông.Sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 533.947 tấn, bằng 120,6% (tăng 91.218 tấn) so với năm trước. Diện tích lúa giảm 1.273 ha đã làm cho sản lượng lúa giảm 6.714 tấn, năng suất lúa tăng 9,41 tạ/ha đã làm cho sản lượng lúa tăng 97.932 tấn. Trong đó: Sản lượng lúa vụ Xuân đạt 333.700 tấn, bằng 137,96% (tăng 91.817 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu sơ bộ đạt 199.336 tấn, bằng 99,78% (giảm 445 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa ước tính đạt 912 tấn, bằng 85,55% (giảm 154 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Diện tích ngô cả năm ước đạt 9.252 ha, bằng 120,23% (tăng 1.557 ha) so với năm 2017, trong đó: Diện tích ngô vụ Đông Xuân đạt 7.876 ha, bằng 137,77% (tăng 2.159 ha) và diện tích ngô vụ Thu Mùa ước đạt 1.376 ha, bằng 69,55% (giảm 602 ha). Với năng suất ngô cả năm ước tính đạt 38,46 tạ/ha, bằng 104,08% (tăng 1,51 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước tính đạt 35.583 tấn, bằng 125,14% (tăng 7.148 tấn). Diện tích ngô tăng 1.557 ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 5.988 tấn, năng suất ngô tăng 1,51 tạ/ha đã làm cho sản lượng ngô tăng 1.160 tấn.Kết quả sản xuất một số loại cây hàng năm khác đạt được như sau: Cây khoai lang diện tích ước đạt 3.691 ha, bằng 88,73% (giảm 469 ha), năng suất ước đạt 70,47 tạ/ha, bằng 107,37% (tăng 4,84 tạ/ha), sản lượng ước đạt 26.013 tấn, bằng 95,28% (giảm 1.290 tấn); cây sắn diện tích ước đạt 2.965 ha, bằng 100,98% (tăng 29 ha), năng suất ước đạt 142,78 tạ/ha, bằng 103,54% (tăng 4,89 tạ/ha), sản lượng ước đạt 42.334 tấn, bằng 104,55% (tăng 1.843 tấn); cây lạc diện tích ước đạt 13.563 ha, bằng 89,72% (giảm 1.554 ha), năng suất ước đạt 26,71 tạ/ha, bằng 114,06% (tăng 3,29 tạ/ha), sản lượng ước đạt 36.227 tấn, bằng 102,33% (tăng 825 tấn); cây rau các loại diện tích ước đạt 11.988 ha, bằng 111,71% (tăng 1.257 ha), năng suất ước đạt 68,02 tạ/ha, bằng 102,96% (tăng 1,96 tạ/ha), sản lượng ước đạt 81.537 tấn, bằng 115,02% (tăng 10.649 tấn); cây đậu các loại diện tích ước đạt 3.503 ha, bằng 52,2% (giảm 3.208 ha), năng suất ước đạt 5,98 tạ/ha, bằng 101,18% (tăng 0,07 tạ/ha), sản lượng ước đạt 2.095 tấn, bằng 52,82% (giảm 1.871 tấn).Nhìn chung, kết quả sản xuất trồng trọt tính từ đầu năm đến nay đã đạt được những kết quả khá. Sản xuất vụ Xuân 2018 được mùa khá toàn diện. Bước vào sản xuất vụ Hè Thu do ảnh hưởng của bão số 3 đã làm giảm diện tích gieo trỉa một số loại cây trồng. Tuy nhiên, với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật, chuyển đổi mùa vụ, thay đổi bộ giống vào trong sản xuất trồng trọt nên năng suất các loại cây trồng tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc năng suất tăng đã làm cho sản lượng các loại cây trồng tăng. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 ước đạt 569.530 tấn, bằng 120,88% (tăng 98.366 tấn) so với năm 2017.- Sản xuất cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng được quan tâm thực hiện. Diện tích cây lâu năm chủ yếu tăng ở diện tích cây ăn quả, chè búp...Với lợi thế về đất đai, địa hình và các cơ chế chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện, nhiều hộ nông dân ở các địa phương như: Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc...đã mạnh dạn đầu tư phát triển trồng cây ăn quả và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước tính là 29.087 ha, bằng 103,6% (tăng 1.010 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tổng diện tích cây ăn quả ước tính là 16.074 ha, bằng 108,84% (tăng 1.305 ha) so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là cam, quýt và các loại cây ăn quả có múi với 10.414 ha, chiếm 64,79% tổng diện tích cây ăn quả, tăng 1.033 ha so với cùng kỳ. Diện tích cam tăng 628 ha, bưởi tăng 397 ha, chanh tăng 14 ha...Diện tích cam Hương Khê tăng 305 ha, Hương Sơn tăng 180 ha, Can Lộc tăng 94 ha, Vũ Quang tăng 89 ha...Còn diện tích bưởi tăng chủ yếu ở huyện Hương Khê với diện tích tăng 269 ha. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 62.307 tấn, bằng 103,98% (tăng 2.384 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cùng với phát triển mở rộng diện tích trồng cây ăn quả là việc đưa vào các loại giống có năng suất cao cho nên sản lượng cây ăn quả đã tăng hơn so với cùng kỳ. Sản lượng một số loại cây ăn quả tăng so với cùng kỳ năm trước như: Bưởi tăng 867 tấn, chuối tăng 396 tấn, cam tăng 284 tấn, mít tăng 284 tấn, nhãn tăng 201 tấn, thanh long tăng 125 tấn, chanh tăng 149 tấn...Diện tích cây cao su ước đạt 9.479 ha, bằng 95,33% (giảm 464 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cao su ước đạt 1.976 tấn, bằng 105,84% (tăng 109 tấn) so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè búp ước đạt 1.113 ha, bằng 116,54% (tăng 158 ha), với sản lượng chè búp ước đạt 6.933 tấn, bằng 115,53% (tăng 932 tấn) và diện tích chè xanh ước đạt 1.702 ha, bằng 96,7% (giảm 58 ha), với sản lượng chè xanh ước đạt 14.888 tấn, bằng 99,31% (giảm 104 tấn) so với cùng kỳ năm trước. - Tình hình sâu bệnh đối với cây trồng: Với sự vào cuộc tích cực của các cơ quan chuyên môn và sự chủ động của bà con nông dân trong công tác phòng, trừ sâu bệnh nên đã hạn chế mức thiệt hại thấp nhất do sâu bệnh gây ra đối với cây trồng. Vì vậy, tình hình sâu bệnh năm nay tuy có xẩy ra nhưng gây thiệt hại không đáng kể đối với sản xuất. sản xuất lúa vụ Xuân thì bệnh đạo ôn lá xuất hiện rải rác trên các giống lúa Xi23, NX30, P6, VTNA6 tại Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 15-20% với diện tích nhiễm bệnh là 2.054,8 ha, trong đó có 80,9 ha nhiễm nặng. Bệnh đạo ôn cổ bông gây hại trên giống TH3-3, KD18, VTNA2, Xi23, BT09 với diện tích nhiễm 32,7 ha. Bệnh khô vằn với tỷ lệ nhiểm bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh là 2.560 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Còn đối với lúa vụ Hè Thu sâu cuốn lá xuất hiện gây hại tại các địa phương Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Thạch Hà...với diện tích nhiễm 80,5 ha; bệnh khô vằn phát sinh gây hại rải rác trên toàn tỉnh với diện tích nhiễm bệnh là 546 ha. Trên các loại cây trồng khác như lạc, ngô cũng đã xuất hiện một số dịch bệnh như: Bệnh lỡ cổ rễ, bệnh đốm lá nhỏ, sâu đục thân, đục bắp... - Chăn nuôi: Dự ước số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 76.556 con, bằng 92,39% (giảm 6.310 con) với sản lượng xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.231 tấn, bằng 96,85% (giảm 105 tấn). Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 194.487 con, bằng 90,95% (giảm 19.349 con) với sản lượng xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 8.761 tấn, bằng 97,57% (giảm 218 tấn). Tổng đàn lợn ước tính hiện có 423.049 con, bằng 103,25% (tăng 13.316 con) với sản lượng lợn hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 58.560 tấn, bằng 102,19% (tăng 1.255 tấn). Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.197 ngàn con, bằng 101,06% (tăng 86 ngàn con) với sản lượng gia cầm 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 10.991 tấn, bằng 107,39% (tăng 756 tấn).Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong thời gian qua vẫn còn gặp khó khăn, thiếu sự ổn định. Mặc dù hoạt động chăn nuôi lợn trong thời gian qua có những chuyển biến tích cực hơn, giá thịt hơi tăng lên sau kỳ sụt giảm giá mạnh nên nhiều hộ chăn nuôi lợn đã tái đàn trở lại. Tuy nhiên, do việc dự báo về lượng cầu hàng hóa và đặc biệt là giá lợn hơi xuất chuồng rất hạn chế nên khi người chăn nuôi lợn tái đàn sẽ tiềm ẩn rất nhiều rũi ro. Bên cạnh đó, thiên tai lũ lụt, dịch bệnh cũng luôn có thể xẩy ra vào mùa mưa bão và sẽ gây thiệt hại lớn đối với người chăn nuôi. Các dự án chăn nuôi bò lớn trên địa bàn tỉnh cũng đều gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ, do giá cả thấp và nhiều yếu tố khác như ảnh hưởng môi trường...Trong đó có Dự án chăn nuôi bò giống và bò thịt chất lượng cao của Công ty cổ phần chăn nuôi Bình Hà, đây là một dự án có quy mô đầu tư lớn nhất vào ngành chăn nuôi Hà Tĩnh tính đến thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, năm 2018 dự án này hoạt động cầm chừng không đạt được kết quả như mong đợi, việc xuất nhập bò không diễn ra thường xuyên với số lượng bò ngày càng giảm. Hiện dự án chỉ còn 1.140 con bò đang nuôi ở trại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, giảm 7.813 con so với cùng kỳ năm 2017.- Tình hình dịch bệnh: Mặc dù đã tăng cường công tác quản lý kiểm soát, kiểm tra vệ sinh thú y, phòng chống dịch cho vật nuôi. Tuy nhiên, trong 9 tháng đầu năm 2018 cũng đã xẩy ra dịch lỡ mồm long móng làm cho 215 con gia súc mắc bệnh (28 con trâu, 107 con bò và 80 con lợn), trong đó có 80 con lợn buộc phải tiêu hủy. Dịch xẩy ra ở các địa phương: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà và Lộc Hà.Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I/2018: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 133.758 liều, đạt 71,6% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 119.360 liều, đạt 64,6% kế hoạch; dịch tả lợn 133.565 liều, đạt 55,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 118.836 liều, đạt 49,2% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 103.496 liều, đạt 66,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 577.421 liều, đạt 20,1% kế hoạch. Hiện nay các địa phương đang tiến hành tiêm phòng đợt II/2018 với kết quả tính đến ngày 19/8/2018 đạt được như sau: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 6.150 liều, đạt 4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 5.200 liều, đạt 3,5% kế hoạch; dịch tả lợn 1.253 liều, đạt 1% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 1.263 liều, đạt 1% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 23.480 liều, đạt 1,5% kế hoạch.5.2. Lâm nghiệp  - Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng: Trong 9 tháng đầu năm 2018, cùng với việc hưởng ứng Tết trồng cây nhân dịp Xuân Mậu Tuất nên toàn tỉnh dự ước trồng được 3.415 ha rừng tập trung, bằng 87,25%, giảm 499 ha và 2.795 ngàn cây phân tán, bằng 99,82%, giảm 5 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng trồng chủ yếu ở các địa phương: Huyện Kỳ Anh 1.819 ha, Hương Sơn 579 ha, Thạch Hà 385 ha, Hương Khê 221 ha, Cẩm Xuyên 180 ha,...Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng vẫn được duy trì thực hiện. Diện tích rừng được chăm sóc là 23.626 ha, bằng 97,31% (giảm 652 ha); diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 14.401 ha, bằng 94,8% (giảm 790 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 174.423 ha, bằng 95,75% (giảm 7.741 ha). Nguyên nhân diện tích rừng được giao khoán bảo vệ giảm do nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện giảm.- Khai thác gỗ và lâm sản: 9 tháng đầu năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 251 ngàn m3 gỗ, bằng 90,25% (giảm 27 ngàn m3) so với cùng kỳ năm trước. Khai thác 466 ngàn Ste củi, bằng 85,97%, giảm 76 ngàn Ste so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Hương Sơn 55 ngàn m3, Cẩm Xuyên 36,4 ngàn m3, huyện Kỳ Anh 71,3 ngàn m3, Hương Khê 15,2 ngàn m3...Bên cạnh đó, một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt thấp như: Nghi Xuân, Đức Thọ, Lộc Hà ...- Thiệt hại rừng: Trong 9 tháng đầu năm 2018 đã xẩy ra 10 vụ cháy rừng, bằng 142,86% (tăng 3 vụ), diện tích bị cháy 53,79 ha thuộc rừng trồng, bằng 6,3 lần (tăng 43,3 ha), giá trị thiệt hại ước tính 1.836 triệu đồng, bằng 417,27% (tăng 1.396 triệu đồng) so với cùng kỳ năm 2017. Số vụ cháy rừng xẩy ra ở huyện Hương Sơn 3 vụ, Đức Thọ 2 vụ, Nghi Xuân 2 vụ, Vũ Quang 2 vụ, Cẩm Xuyên 1 vụ. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng đã tập trung cao độ, song do thời tiết nắng nóng cùng với sự thiếu cẩn trọng của người dân nên số vụ cháy rừng vẫn xẩy ra và tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. 5.3. Thủy sản9 tháng đầu năm 2018, diện tích xuống giống thả nuôi ước đạt 7.391 ha, bằng 105,89%, tăng 411 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ước đạt 2.073 ha, bằng 104,86%, tăng 96 ha; diện tích nuôi tôm sú ước đạt 628 ha, bằng 131,93%, tăng 152 ha. Diện tích nuôi trồng thủy sản thu hoạch 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 7.211 ha, bằng 97,56% tổng diện tích thả nuôi trong kỳ. Nguyên nhân tăng diện tích thả nuôi do năm nay điều kiện thời tiết không có rét đậm, rét hại nên các hộ nuôi trồng nước ngọt tập trung xuống giống thả nuôi trong quý I/2018, còn diện tích nước lợ và nước mặn được thả giống đại trà vào đầu quý II/2018 và thu hoạch trong quáy III/2018. Số lồng/bè nuôi trồng thuỷ sản ước tính hiện có 362 cái, bằng 93,3%, giảm 26 cái so với cùng kỳ năm 2017. Nguyên nhân giảm là do năm trước ảnh hưởng của thời tiết mưa bão nên một số lồng/bè bị cuốn trôi, hư hỏng và nuôi không hiệu quả nên nhiều hộ không đầu tư nuôi tiếp. Số lượng tàu, thuyền khai thác thủy sản biển có động cơ ước tính hiện có 4.091 chiếc, bằng 103,78% tăng 149 chiếc so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Tàu 90 CV trở lên là 399 chiếc, tăng 36 chiếc. Các huyện có số lượng tàu trên 90 CV tăng: Thạch Hà tăng 18 chiếc, Lộc Hà tăng 11 chiếc, Cẩm Xuyên tăng 6 chiếc, Thị xã Kỳ Anh tăng 4 chiếc…Những năm gần đây, năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn đang có bước phát triển. Thực hiện Nghị định 67 của Chính phủ và các chính sách hỗ trợ của địa phương, ngư dân Hà Tĩnh đã đầu tư, cải hoán hàng trăm tàu đánh bắt xa bờ có công suất lớn. Tuy nhiên, do hệ thống hạ tầng cảng cá trên địa bàn còn yếu kém cộng với những bất cập trong quy hoạch phát triển hệ thống cảng cá và khu neo đậu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động khai thác thủy hải sản của ngư dân.Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 35.213 tấn, bằng 104,98%, tăng 1.669 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước đạt 24.333 tấn, bằng 103,31%, tăng 780 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 10.880 tấn, bằng 108,9%, tăng 889 tấn so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng nuôi trồng tăng khá như: Lộc Hà tăng 214 tấn, chủ yếu sản phẩm nghêu ngao nuôi nước mặn; Thạch Hà tăng 158 tấn; Kỳ Anh tăng 139 tấn; Cẩm Xuyên tăng 98 tấn; Thị xã Kỳ Anh tăng 80 tấn…Nuôi trồng tôm năm nay được đánh giá khá thành công về năng suất, sản lượng. Tuy nhiên, giá tôm năm nay giảm mạnh so với những năm trước đã làm cho người nuôi thua lỗ. Mức giá tôm ở tất cả các loại kích cỡ đều giảm hơn 30% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, giá nguyên liệu để nuôi tôm tăng nên thua lỗ là điều không tránh khỏi. Giá tôm rẻ khiến nhiều hộ nuôi thu hoạch xong chưa tái đầu tư ao đầm để tiếp tục thả nuôi. 9 tháng đầu năm 2018, đã xuất hiện dịch bệnh tôm bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính tại các địa phương (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh) với diện tích bị nhiểm bệnh là 25,67 ha. Cùng với đó, trong tháng 4/2018 cũng đã xẩy ra hiện tượng cá, mực nuôi của các hộ kinh doanh hải sản chết hàng loạt ở Thị xã Kỳ Anh. Nguyên nhân được xác định là do ngạt khí bởi các nhà thầu đang thi công cầu cảng số 3,4 tại cảng Vũng Áng tạo nên một vòng cung khép kín khiến cho nước biển không được lưu thông làm cá thiếu ôxi dẫn đến chết ngạt. Dịch bệnh được phát hiện sớm, cùng với công tác phòng chống kịp thời nên các loại dịch bệnh đã được khống chế và giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất cho các hộ nuôi.6. Thương mại và dịch vụ6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 9/2018 đạt 3.159,32 tỷ đồng, tăng 2,35% so với tháng trước và tăng 20,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 171,86 tỷ đồng, giảm 25,85% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 2.987,47 tỷ đồng, tăng 24,92%. Như vậy, hoạt động bán lẻ hàng hóa có xu hướng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là kinh tế tập thể, tăng 71,29%; tiếp đến là kinh tế tư nhân tăng 41,67%. Tính riêng quý III/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.259,24 tỷ đồng, tăng 10,04% so với quý trước và tăng 18,01% so với cùng kỳ năm trước.Qua bảng trên cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng đều qua các quý, trong đó quý III tăng mạnh nhất, cao hơn quý I là 4,35 điểm % và cao hơn quý II là 9,76 điểm %. Trong quý III, một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm ngành ô tô các loại ước tăng 2,99 lần; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 43,23%; lương thực, thực phẩm tăng 18,59%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,65%.Tính chung 9 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 26.323,39 tỷ đồng, tăng 13,32% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước ước đạt 1.539,87 tỷ đồng, giảm 25,82%; ngoài Nhà nước ước đạt 24.772,05 tỷ đồng, tăng 17,11% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11,47 tỷ đồng. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm ước đạt 10.109,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,4%, tăng 14,75% so với cùng kỳ, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 3.461,27 tỷ đồng, chiếm 13,15%, tăng 2,23% so với cùng kỳ; và nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 2.641,15 tỷ đồng, chiếm 10,03%, tăng 4,08%. Qua biểu đồ ta nhận thấy, do sự cố môi trường biển, 9 tháng đầu năm 2016 tổng mức bán lẻ hàng hóa giảm; nhưng sang năm 2017, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong việc khắc phục sự cố, tổng mức bán lẻ đã có xu hướng tăng nhẹ và tăng khá vào năm 2018. Tổng mức bán lẻ 9 tháng năm 2018 tăng cao hơn mức tăng năm 2017 là 12,68 điểm % và năm 2016 là 14,37 điểm %. Điều đó chứng tỏ nhu cầu hàng tiêu dùng của người dân ngày càng lớn; đồng thời, phản ánh tiềm năng ngành bán lẻ ở Hà Tĩnh đang có nhiều tín hiệu khả quan, là cơ hội để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.- Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú và ăn uống tháng 9/2018 ước đạt 511,57 tỷ đồng, tăng 2,36% so tháng trước và tăng 18,26% so cùng kỳ năm trước. Tính riêng quý III/2018 ước đạt 1.531,05 đồng, tăng 13,21% so với cùng kỳ năm trước; tăng cao hơn quý I là 8,72 điểm % và quý II là 0,46 điểm %. Chung 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.664,72 tỷ đồng, tăng 10,96% so với cùng kỳ năm trước.Theo trên cho thấy, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống 9 tháng năm 2018 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 2 nhóm ngành dịch vụ: lưu trú tăng 12,87% và ăn uống tăng 10,84%. Do du lịch biển đã thu hút được nhiều khách trong và ngoài tỉnh tham quan nghỉ mát, kéo theo lượng khách đến thuê phòng nghỉ tăng; đồng thời, trong 9 tháng Hà Tĩnh đã tổ chức nhiều sự kiện nổi bật như: Giải Bóng chuyền nữ VTV Cup 2018, kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đồng Lộc nên thu hút được nhiều khách tham gia, từ đó làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng.  - Hoạt động du lịch lữ hành: Doanh thu du lich lữ hành tháng 9/2018 ước đạt 1,75 tỷ đồng, giảm 0,45% so với tháng trước và tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Quý III ước đạt 5,42 tỷ đồng, tăng 13,02% so với quý trước và tăng 10,71% so với cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng quý I là 17,04 điểm % và quý II là 12,54 điểm %. Tính chung 9 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 13,78 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Điều này chứng tỏ, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng tăng, đặc biệt là khách ngoài tỉnh đến tham quan du lịch tại các điểm văn hóa tâm linh và du lịch biển tăng mạnh; cùng với việc kết nối các tour du lịch lữ hành trong và ngoài tỉnh, mở rộng thị trưởng khách du lịch quốc tế đến từ Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc … đã góp phần làm tăng doanh thu hoạt động du lịch lữ hành.- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng 9/2018 ước đạt 110,09 tỷ đồng, tăng 2,75% so với tháng trước và tăng 4,13% so cùng kỳ năm 2017. Quý III ước đạt 322,87 tỷ đồng, tăng 6,74% so với quý trước và tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Chung 9 tháng ước đạt 919,82 tỷ đồng, tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 16,69%; dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 10,23%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 8,09%. Như vậy, doanh thu hoạt động dịch vụ khác 9 tháng đầu năm 2018 vẫn tăng, nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng nhẹ.6.2. Giao thông vận tải           Vận tải hàng hóa: Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 9/2018 ước đạt 2,62 triệu tấn (tăng 0,57%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 68,99 triệu tấn.km (tăng 2,05%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 226,16 tỷ đồng, tăng 2,1%. Do các công trình xây dựng gấp rút hoàn thành trước mùa mưa bão, nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng đã làm cho hoạt động vận tải hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước.Vận tải hành khách: Khối lượng hành khách vận chuyển tháng 9/2018 ước đạt 1,95 triệu lượt hành khách (tăng 0,28%), với khối lượng luân chuyển là 354,87 triệu lượt hành khách.km (tăng 0,89%) so với tháng trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 155,24 tỷ đồng, tăng 1,12%. Với sự đầu tư của các nhà xe vào việc tăng số lượng xe, chất lượng xe, cũng như chất lượng dịch vụ phục vụ đã thu hút được nhiều người tham gia, nên làm cho kết quả vận tải hành khách tăng.Tách riêng từng quý, ta thấy có sự khác nhau giữa vận tải hàng hóa và vận tải hành khách.Theo bảng trên, chứng tỏ hoạt động vận tải hành khách vẫn ổn định và tăng dần qua các quý; còn vận tải hàng hóa chỉ đạt mức tăng khá ở quý I, sang quý II và quý III có xu hướng giảm dần, chủ yếu do nhóm ngành vận tải hàng hóa đường bộ giảm (quý III: vận chuyển giảm 4,54%; luân chuyển giảm 6,43% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 9 năm 2018, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 17,45 triệu HK (tăng 8,96%), với khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 3.075,67 triệu HK.km (tăng 11,79%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hành khách ước đạt 1.333,8 tỷ đồng, tăng 12,65%. Còn số lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 23,82 triệu tấn (tăng 1,11%), với khối lượng luân chuyển là 593,79 triệu tấn.km (tăng 0,02%) so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa ước đạt 2.008,06 tỷ đồng, tăng 4,14%. Nhìn chung, hoạt động vận tải trên địa bàn trong 9 tháng qua vẫn ổn định sản xuất kinh doanh, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân.7. Chỉ số giá tiêu dùngThị trường tháng 9 năm 2018 CPI tiếp tục tăng giá. Mặc dù giá lương thực, điện, nước sinh hoạt giảm; nhưng do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng cao hơn so tháng trước, tác động đến chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển các loại mặt hàng khác, khiến hàng hoá có xu hướng tăng hơn so những tháng trước.CPI tháng 9 năm 2018, tăng 0,28% so tháng trước, tăng 3,58% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,64% so với tháng 12 năm trước. So tháng trước khu vực thành thị tăng 0,31%; nông thôn tăng 0,26%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính: Có 7 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,93% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 5,38%, tăng 4,24% so với tháng 12 năm trước; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,54%, tăng 0,04% so với tháng 12 năm trước; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,57% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,92%, tăng 0,75% so với tháng 12 năm trước; Giao thông tăng 0,74% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 8,37%, tăng 6,45% so với tháng 12 năm trước; Bưu chính viễn thông tăng 0,04% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước giảm 0,77%, giảm 0,88% so với tháng 12 năm trước; Giáo dục tăng 0,1% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 0,45%, tăng 0,45% so với tháng 12 năm trước; Đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,01% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 4,74%, tăng 4,06% so với tháng 12 năm trước.Có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm đó là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,48% so tháng trước, so cùng kỳ năm trước tăng 2,57%, tăng 1,45% so với tháng 12 năm trước; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,11% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,39%, giảm 1,74% so với tháng 12 năm trước.Có 2 nhóm gồm: Đồ uống và thuốc là; Thuốc và dịch vụ y tế ổn định, không có sự tăng giảm so tháng trước.Nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 8/2018 có sự biến động so tháng trước chủ yếu là: (1) Giá lương thực, thực phẩm, bao gồm cả rau củ quả, thịt lợn tiếp tục tăng giá; (2) Giá nhiên liệu xăng dầu điều chỉnh tăng mạnh so với tháng trước; (3) Giá các mặt hàng thép xây dựng giảm và (4) Giá điện, nước sinh hoạt giảm do giảm khối lượng tiêu dùngChỉ số giá vàng giảm 1,15% so tháng trước, giảm 3,27% so cùng kỳ năm trước, giảm 2,17% so với tháng 12 năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng tiếp tục giảm so tháng trước, mức giá hiện tại thời điểm ngày 21/9/2018 ở mức 3.470 ngàn đồng/chỉ tại thị trường thành phố Hà Tĩnh. Đây là lần đầu tiên trong vòng 1 năm qua giá vàng xuống dưới mốc 3.500 ngàn đồng/chỉ. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.508 ngàn đồng/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,46% so tháng trước, tăng 2,54% so cùng kỳ  năm trước và tăng 2,4% so với tháng 12 năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 21/8/2018 mức giá bán ra 2.325 ngàn đồng/100USD. Chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2018 tăng 3,91% so cùng kỳ. Trong đó khu vực thành thị tăng 3,77%; nông thôn tăng 4,01%. Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2018, chỉ số giá bình quân tăng khá so với cùng kỳ năm trước và có khả năng vượt ngưỡng kế hoạch năm. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm diễn biến phức tạp, có biến động lớn. Cùng với giá một số mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, điện nước đều tăng. Bên cạnh đó, xu hướng hiện tại từ nay đến cuối năm ít mặt hàng có khả năng giảm giá mạnh, gây nhiều ảnh hưởng đến tình hình giá cả tiêu dùng hiện nay.Dự kiến CPI tháng 10/2018 tiếp tục tăng. Nguyên nhân do giá thịt chưa có dấu hiệu giảm, trong khi một số mặt hàng như gạo, thực phẩm, rau củ quả, đồ dùng gia đình, hàng may mặc khả năng tiếp tục tăng giá.8. Các vấn đề xã hội8.1. Tình hình đời sống dân cư Nhìn chung, đời sống dân cư Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2018 có cải thiện hơn so với cùng kỳ, không xẩy ra thiếu đói. Hiện nay bà con nông dân đã thu hoạch lúa vụ Hè Thu năm 2018 nên lượng lương thực trong dân dồi dào. Cùng với sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp cũng đã góp phần tạo sự ổn định cho đời sống nhân dân. Dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói không xảy ra. 8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội- Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ngày 02/5/2018 về phân bổ kế hoạch vốn từ ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2018 với tổng số vốn phân bổ là 58,7 tỷ đồng. Mặc dù tốc độ giảm nghèo của Hà Tĩnh nhanh hơn cả nước nhưng kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao. Thời gian tới, cần tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm thường xuyên, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, nhất là đối với hộ nghèo.- Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách đối với người có công: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai kịp thờ. Các chế độ, chính sách đối người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã cấp 58.891 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, 85.066 thẻ bảo hiểm cho hộ cận nghèo, 108.069 thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và 57.547 thẻ bảo hiểm cho người có công. Đã tổ chức thăm hỏi, tặng 319.587 suất quà với tổng kinh phí 72,606 tỷ đồng cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong dịp Tết UBND tỉnh đã cấp kinh phí mua 243,57 tấn gạo hỗ trợ cho 5.740 hộ với 10.672 nhân khẩu để đảm bảo cho người dân không thiếu đói trong dịp Tết. Trao 86 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách với tổng trị giá 385 triệu đồng; xây mới 161 nhà tình nghĩa, trị giá 7.295 triệu đồng và sữa chữa 53 nhà với tổng giá trị là 917 triệu đồng.Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Chiều 10/2/2018, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Hà Tĩnh đã tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 9 cho 17 mẹ. Qua 9 đợt, đến nay, Hà Tĩnh đã có 1.985 Mẹ được trao tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng; trang trọng tổ chức an táng 12 hài cốt các liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Nầm vào sáng ngày 8/5/2018; kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, Hà Tĩnh có 83 liệt sĩ được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến nay, toàn tỉnh đã tìm kiếm, quy tập được 914 hài cốt liệt sỹ.8.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làmNăm 2018, Hà Tĩnh tiếp tục ưu tiên thực hiện đào tạo nghề cho các đối tượng lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo; Đề án “Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường trên địa bàn Hà Tĩnh”. 9 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã đào tạo được 4.228 người (cao đẳng nghề 137 người, trung cấp nghề 850 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới ba tháng 3.241 người). Giải quyết việc làm cho 16.129 người. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 7.027 người; xuất khẩu lao động 5.915 người; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.187 người.      8.4. Hoạt động giáo dục đào tạo- Giáo dục phổ thông: Phát huy kết quả đã đạt được trong năm học 2017-2018, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh bước vào năm học mới 2018 - 2019 với tinh thần nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ vững vị trí là một trong những tỉnh thuộc tốp dẫn đầu của cả nước về chất lượng giáo dục mũi nhọn. Với số lượng trường đạt chuẩn quốc gia là 535 trường, đạt tỷ lệ 73,33%, trong đó: Mầm non 169 trường, đạt tỷ lệ 61,8% (mức 1 là 140 trường, mức 2 là 29 trường); Tiểu học 214 trường, đạt tỷ lệ 82,9% (mức 1 là 91 trường, mức 2 là 123 trường); THCS 120 trường, đạt tỷ lệ 79,5%; THPT 32 trường, đạt tỷ lệ 71,1%.Năm học 2018 - 2019 toàn tỉnh có: 727 trường (gồm 273 trường mầm non, 258 trường tiểu học, 151 trường THCS và 45 trường THPT) với 10.385 lớp (mẫu giáo 2.896 lớp, tiểu học 3.875 lớp, THCS 2.406 lớp, THPT 1.208 lớp), 18.231 giáo viên (mầm non 5.302 người, tiểu học 5.153 người, THCS 4.860 người, THPT 2.916 người) và 318.279 học sinh (nhà trẻ 10.379 em, mẫu giáo 75.070 em, tiểu học 112.084 em, THCS 76.170 em và THPT 44.576 em). Với cơ sở vật chất trường lớp ngày càng được đầu tư xây dựng hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt yêu cầu học tập của các cấp học.Đầu năm học 2018-2019, thành lập và cấp phép hoạt động mới 04 trường tư thục gồm: 02 trường mầm non, 01 trường tiểu học và 01 trường THPT; đồng thời, sát nhập 04 trường tiểu học thành 02 trường, 04 trường mầm non thành 02 trường. Ngoài ra, có 01 Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và GDTX tỉnh; 11 Trung tâm GDNN&GDTX cấp huyện; 34 Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học, 35 Trung tâm Tư vấn du học; 262 Trung tâm học tập cộng đồng ở 262 xã, phường, thị trấn.Kết quả tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2018-2019, toàn tỉnh có 15.502 học sinh trúng tuyển với 445 lớp, đạt tỷ lệ 84,2% so với số học sinh tốt nghiệp THCS, trong đó: có 15.152 học sinh, với 435 lớp không chuyên; 350 học sinh, với 10 lớp trúng tuyển vào trường THPT Chuyên. Tuyển sinh hệ bổ túc THPT co 1.419 học sinh với 33 lớp.- Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2018 - 2019 là 3.590 chỉ tiêu (so với năm học 2017 - 2018 tăng 96,71%), trong đó: Trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.250 chỉ tiêu, giảm 11,35% (hệ đại học 1.200 chỉ tiêu, cao đẳng 50 chỉ tiêu); các trường cao đẳng chỉ tuyên sinh hệ cao đẳng, với chỉ tiêu tuyển sinh là 2.340 chỉ tiêu, tăng 4,64 lần (hệ cao đẳng 1.150 chỉ tiêu, trung cấp 690 chỉ tiêu, sơ cấp 500 chỉ tiêu). Ngoài nhiệm vụ đào tạo hệ chính quy các trường còn liên kết đào tạo hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm, dạy nghề và bồi dưỡng nghiệp vụ như: trường Đại học Hà Tĩnh đào tạo hệ liên thông chính quy, văn bằng 2 là 185 chỉ tiêu; hệ vừa làm vừa học, liên thông vừa làm vừa học 530 chỉ tiêu. 8.5. Hoạt động Y tế9 tháng đầu năm 2018, ngành Y tế Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh như: Cải tiến công tác đón tiếp người bệnh, giảm quá tải bệnh viện; chú trọng công tác đào tạo chuyên môn; phát triển chuyên môn kỹ thuật; phát triển chữa bệnh bằng y học cổ truyền; đầu tư trang thiết bị; nâng cao y đức... Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.- Tình hình dịch bệnh: 9 tháng đầu năm 2018, công tác phòng chống dịch được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động. Các cơ sở khám chữa bệnh cũng đã chuẩn bị các phương án ứng phó với các bệnh dịch. Bệnh viện đã sẵn sàng cấp cứu và điều trị bệnh nhân; kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện; phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thông tin, báo cáo ca bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định. Mặt khác, bệnh viện luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới về chuyên môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết; chỉ đạo các bệnh viện huyện chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết; tổ chức tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các cơ sở thực hiện...Toàn tỉnh, 9 tháng đầu năm 2018 đã xảy ra 11 trường hợp mắc sốt xuất huyết, tay chân miệng 09 trường hợp, sốt rét 143 trường hợp, thủy đậu 119 trường hợp và sốt phát ban/sởi 01 trường hợp. Không có trường hợp nào tử vong bởi các dịch bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Trung tâm Phòng-chống HIV/AIDS tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương triển khai nhiều biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn; tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi hành vi, nhằm giảm sự mặc cảm, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại, giám sát theo dõi, tư vấn xét nghiệm HIV, cũng như tăng cường chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. 9 tháng đầu năm 2018, Hà Tĩnh có 49 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 09 trường hợp so với cùng kỳ năm ngoái), 44 trường hợp chuyển thành AIDS và có 03 trường hợp nào chết vì AIDS.   - Công tác an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn thực phẩm, Sở Y tế Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành kiểm tra một số nhà hàng, khách sạn, các điểm bán hàng thực phẩm tươi sống; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân trong tiêu dùng thực phẩm; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm, đặc biệt khuyến khích xử phạt nặng các trường hợp vi phạm, đủ sức răn đe để không còn tái phạm. Ngoài ra, trong dịp tết Trung Thu năm 2018, Hà Tĩnh cũng đã thành lập 276 đoàn thanh kiểm tra ATTP, trong đó tuyến tỉnh 1 đoàn, tuyến huyện 13 đoàn và tuyến xã 262 đoàn, nhằm hạn chế hàng nhái, hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.9 tháng năm 2018, xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể ở huyện Lộc Hà và huyện Cẩm Xuyên (tăng 03 vụ so với cùng kỳ năm ngoái) làm 24 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. Ngoài ra, có 1.080 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 34,66% so với cùng kỳ năm ngoái) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.8.6. Hoạt động văn hóa - thể thao- Hoạt động văn hóa: Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo thay đổi nội dung tuyên truyền ở các cụm panô, áp phích tấm lớn trên địa bàn, hướng dẫn cơ sở tổ chức sinh hoạt CLB văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao cũng như treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh, như: Chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng Xuân Mậu Tuất; chương trình nghệ thuật khai hội chùa hương; tổ chức Hội báo xuân; Đại lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương tại Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh; triển lãm Bản đồ và trưng bày tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Khu Tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Lý Tự Trọng thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; tổ chức Hội thi “Viết thư pháp lần thứ nhất năm 2018” tại khu di tích Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân; tổ chức Lễ đón bằng chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "lễ hội đền Chiêu Trưng"; tổ chức khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực IV - Bắc miền Trung lần thứ 23 năm 2018; tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2018 lần thứ 4 liên tỉnh Hà Tĩnh - Nghệ An.Với sự kiện "Hoàng Hoa sứ trình đồ" là tư liệu quý hiếm về hành trình đi sứ thế kỷ XVIII được lưu giữ cẩn thận chính trong dòng họ Nguyễn Huy của vị sứ thần Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) ở làng Trường Lưu nay thuộc xã Trường Lộc, huyện can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh được Hội nghị MOWCAP lần thứ 8 tại Hàn Quốc nhất trí ghi danh hồ sơ vào danh sách các di sản tư liệu của Chương trình Ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã thêm một lần nữa vinh danh những giá trị văn hóa của Việt Nam, của Hà Tĩnh lên tầm quốc tế. Cũng trong thời gian này, vào dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc, tại Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc, Hà Tĩnh đã tổ chức đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, cán bộ, người dân tử nạn tại Ngã ba Đồng Lộc vào tối 14/7/2018; và tổ chức chương trình nghệ thuật “Đồng Lộc-bài ca bất tử” vào tối 21/7/2018. Đây là hoạt động ý nghĩa, thể hiện sự tri ân sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Hà Tĩnh đối với những cống hiến to lớn, sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sỹ đối với sự nghiệp cách mạng, bảo vệ Tổ quốc. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước trong và sau Tết cổ truyền dân tộc, trong đó tập trung kiểm tra chấn chỉnh công tác tổ chức lễ hội ở một số điểm văn hóa tâm linh. 9 tháng đầu năm 2018, đã nhắc nhở 34 cơ sở, đình chỉ 15 cơ sở vi phạm, xử phạt hành chính 11 triệu đồng.- Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ như: Hội đua thuyền truyền thống trên sông La lần thứ 18 được tổ chức tại huyện Đức Thọ; giải cờ thẻ mừng xuân Mậu Tuất tại thành phố Hà Tĩnh; Đại hội TDTT lần thứ VIII; giải bóng rổ thiếu niên nhi đồng lần thứ V; Giải đua thuyền toàn tỉnh năm 2018; các giải thể thao bóng đá mi ni, bóng chuyền hơi nữ do các Khối thi đua thuộc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổ chức nhân dịp chào mừng 73 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 02/9Bên cạnh đó, từ ngày 04/8/2018 đến ngày 11/8/2018, tại Hà Tĩnh diễn ra Giải bóng chuyền nữ quốc tế VTV Cup 2018, với sự tham gia của 8 đội gồm: CLB Altay (Kazakhstan), Đại học Hokkaido (Nhật Bản), Đội tuyển Việt Nam, CLB Vân Nam (Trung Quốc, đội tuyển trẻ Việt Nam, CLB Tứ Xuyên (Trung Quốc), CHDCND Triều Tiên, Đại học Đài Bắc - Trung Hoa. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Giải bóng chuyền quốc tế VTV Cup 2018, góp phần làm nên một giải đấu quy mô, hấp dẫn và để lại ấn tượng về một Hà Tĩnh yên bình, thân thiện, mến kháchThể thao thành tích cao: 9 tháng đầu năm 2018, đoàn Hà Tĩnh dành được 34 huy chương các loại, bao gồm: 19 HCV, 10 HCB và 5 HCĐ.8.7. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hộiĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông, cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các giải pháp đảm bảo trật tự ATGT; tập trung đảm bảo ATGT mùa mưa bão; tăng cường công tác tuần tra, thanh tra, kiểm soát xử lý vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang an toàn giao thông, quản lý Nhà nước về vận tải; tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông đường sắt; tiếp tục tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ATGT.Tính từ ngày 16/8/2018 đến ngày 15/9/2018, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 13 người, bị thương 7 người, thiệt hại tài sản 50 triệu đồng. So với tháng trước tăng 03 vụ, tăng 03 người chết, tăng 03 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ, tăng 02 người chết và giảm 04 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, uống rượu, bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.Như vậy, tính từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/9/2018 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 99 tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 98 người, bị thương 48 người, ước tính thiệt hại tài sản 700 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 01 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 01 vụ tai nạn đường sắt, tăng 05 người chết và giảm 09 người bị thương.8.8. Môi trường- Tình hình cháy, nổ: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ cháy (giảm 1 vụ cháy so với cùng kỳ năm trước), ước tính thiệt hại 75 triệu đồng, trong đó: 3 vụ cháy nhà, 1 vụ cháy chứa rơm, 1 vụ cháy rừng và 4 vụ cháy khác. Tính chung 9 tháng, trên địa bàn xảy ra 68 vụ cháy, nổ (trong đó có 66 vụ cháy và 02 vụ nổ), làm 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 8,11 tỷ đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 22 vụ cháy, nổ (tăng 23 vụ cháy, giảm 01 vụ nổ) và tăng 6 người bị thương.- Công tác bảo vệ môi trường: Để có một môi trường luôn xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cùng chung tay giữ gìn và bảo vệ môi trường nơi mình đang sống. 9 tháng năm 2018, đã phát hiện và xử lý 34 cơ sở vi phạm môi trường với số tiền 593 triệu đồng, trong đó có 01 vụ do Công ty CP Xây dựng Tiến Đạt nuôi tôm ở xã Thịnh Lộc-huyện Lộc Hà xả thải ra môi trường không thông qua hệ thống xử lý, bị xử phạt 435 triệu đồng.9. Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2018Mặc dù kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2018 có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2018 đạt và vượt kế hoạch đặt ra thì chúng ta không được chủ quan mà cần phải chú trọng thực hiện quyết liệt các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như có bước đột phá, đó là: 9.1. Trên cơ sở các mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra cho cả năm 2018, với kết quả đã đạt được 9 tháng đầu năm phải tiếp tục xem xét đánh giá một cách cụ thể, khách quan đối với từng nội dung, từng ngành, từng lĩnh vực để từ đó có những giải pháp thực hiện có hiệu quả và sát đúng với tình hình thực tế của địa phương, nhất là đối với những nội dung, lĩnh vực còn nhiều hạn chế.9.2. Tiếp tục tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch phù hợp với quy luật phát triển khách quan và điều kiện phát triển của tỉnh, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Đẩy nhanh tiến độ sớm hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, xây dựng quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2018-2020, đảm bảo tập trung, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiển. 9.3. Tiếp tục tạo bước đột phá mới trong cải cách hành chính, trọng tâm là tinh giản bộ máy biên chế, cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, chú trọng thu hút đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn trong và ngoài nước. Quan tâm, tạo điều kiện và đồng hành cùng chủ đầu tư để sớm đưa các dự án lớn trên địa bàn và triển khai thực hiện và hoạt động sản xuất (Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II; hoạt động của lò cao số 2 dự án Fomosa…). Tăng cường quản lý đầu tư, nhất là đầu tư công. Đẩy mạnh thu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ các nhiệm vụ chi.9.4. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Nhận định tốt tình hình để tập trung chỉ đạo có hiệu quả hoạt động sản xuất cây trồng vụ Đông Xuân và hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới, tránh thiệt hại cho người người nông dân do những yếu tố chủ quan. 9.5. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Quan tâm và chăm lo đến đời sống vật chật và tinh thần của người dân. Nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội để không xẩy ra các vấn đề nóng trên đại bàn nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu 2018 vẫn diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội nên các chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh nhà đã đạt được kết quả khá tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong năm 2018./.