0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 12 và 12 tháng năm 2021
  •   26/07/2024 17:27

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại trong năm vừa qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ; một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản lượng và việc tái đàn gặp khó khăn. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội…vv. Đồng thời, đã tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp  Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.  1. Tốc độ tăng, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) - Về tăng trưởng: Là chỉ tiêu kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ tạo nên nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế vĩ mô mà còn bảo đảm việc làm, thu nhập, tạo nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Tốc độ tăng trưởng GDRP năm 2021 của Hà Tĩnh ước tăng 5,02% so với năm 2020, xếp thứ 4 trong 6 tỉnh Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung[1]. GRDP bình quân đầu người ước tính đạt 67,03 triệu đồng/người/năm (tăng 4,91 triệu đồng/người/năm so với năm 2020). Mặc dù tăng trưởng chưa đạt so với kế hoạch đề ra[2] tuy nhiên trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, kết quả đạt được cũng đã khẳng định sự nỗ lực của các cấp, các ngành, tổ chức doanh nghiệp và người dân trong thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế năm 2021 thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78% đóng góp 0,53 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,6%, đóng góp 4,16 điểm %; khu vực dịch vụ giảm 0,7%, làm giảm 0,24 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,46%, đóng góp 0,57 điểm %. Nhìn chung, giai đoạn 5 năm trở lại đây từ 2017 đến 2021 Hà Tĩnh đã có nhiều thay đổi trong tăng trưởng kinh tế[3]. Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2017-2021 đạt 8,74%/năm, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,48%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 17,39%/năm; khu vực dịch vụ đạt 3,52%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 5,88%/năm. - Về cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế năm 2021 tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Năm 2021 khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,52%, giảm 0,79 điểm % so với năm 2020; khu vực công nghiêp - xây dựng chiếm 43,95% tăng 3,47 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 31,76%, giảm 2,82 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,77% tăng 0,16 điểm %. * Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Năm 2021 ngành sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng khá tăng 3,78% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,88% đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành thủy sản tăng 1,95% đóng góp 0,26 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp đạt kết quả khá với mức tăng 5,81%, nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ đóng góp 0,47 điểm phần trăm trong tổng mức tăng chung của toàn ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Sản xuất nông nghiệp năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 58,95 tạ/ha. Hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi và viêm da nổi cục ở trâu, bò; chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. Sản xuất lâm nghiệp tăng so với cùng kỳ do diện tích rừng đã đến tuổi khai thác, sản phẩm chủ yếu cây keo, tràm thời gian và chi phí chăm sóc không nhiều trong khi lợi nhuận đạt khá. Sản xuất thủy sản nỗ lực ổn định trong trạng thái bình thường mới và tuân thủ các biện pháp phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp.         - Trong khu vực công nghiệp và xây dựng: Ngành công nghiệp năm 2021 tăng 12,64% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 4,46 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2021 thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ các năm 2017-2019, tuy nhiên có dấu hiệu phục hồi tích cực so với năm 2020 (tăng 0,63%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh với mức tăng 18,68 %, đóng góp 4,62 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 11,95%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 1,54%, làm giảm 0,15 điểm phần trăm; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 20,10% so với cùng kỳ làm giảm 0,08 điểm phần trăm. Ngành xây dựng năm 2021 giảm 3,63% đóng góp -0,29 điểm phần trăm. Năm 2021, Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa sản xuất ổn định, sản lượng phôi thép ước đạt 6,5 triệu tấn,[4] tăng 11,62%; sản xuất thép ước đạt 5,4 triệu tấn tăng 23,21% so với năm 2020. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác tăng so với năm trước do khai thác ở vùng mỏ có trữ lượng quặng inmenit và tinh quặng inmenit lớn. Bên cạnh sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo; khai khoáng thì hoạt động ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí năm 2021 gặp khó khăn. Sản lượng điện sản xuất ước đạt 10.896 triệu kwh (giảm 7,44%) so với năm 2021. Nguyên nhân do Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 triển khai thực hiện đại tu tổ máy số 2 trong 75 ngày từ ngày 20/8/2021. Đồng thời ngày 19/9/2021, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động đến cuối năm vẫn đang trong quá trình kiểm tra, sữa chữa. Năm 2021, hoạt động xây dựng trên địa bàn tiếp tục gặp khó khăn. Một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công do thiếu nguyên vật liệu cũng như chưa kí hợp đồng đầu ra như: Dự án nhà máy sản xuất gỗ MDF; Dự án nhà máy gỗ An Việt Phát đã hoàn thành giai đoạn 1, chưa thi công giai đoạn 2; Bên cạnh đó, nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh, nhiệt điện Vũng Áng 2, Khu đô thị Nam Cầu Phủ dời thời gian khởi công xây dựng do vướng mắc thủ tục.         - Khu vực dịch vụ: Năm 2021 khu vực dịch vụ giảm 0,7%, đây là năm thứ hai khu vực này có mức tăng trưởng âm kể từ khi xảy ra sự cố môi trường biển năm 2016[5]. Trong khu vực dịch vụ, ngành bán buôn và bán lẻ giảm 2,27% so với năm 2020, làm giảm 0,14 điểm phần trăm trong mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có mức tăng khá 12,09%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm. Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 23,32%, làm giảm 0,41 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 9,55%, làm giảm 0,34 điểm phần trăm. Do tâm lý lo ngại về dịch bệnh, người tiêu dùng vẫn ưu tiên mua sắm các nhóm hàng hóa thiết yếu và hạn chế các nhóm hàng hóa chưa thật sự cần thiết. Hoạt động vận tải hành khách, lưu trú ăn uống tiếp tục là những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề do thực hiện các biện pháp giãn cách.          - Thực hiện tính chỉ tiêu GRDP theo giá cơ bản thì thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP. Năm 2021, thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 6,46% so với cùng kỳ năm 2020, đóng góp 0,57 điểm phần trăm trong tổng mức tăng trưởng chung. Nguyên nhân chính là do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất. Ngoài ra, kim ngạch một số mặt hàng như nước giải khát, tinh bột sắn, gỗ xẻ các loại, máy móc thiết bị, hàng điện tử… năm 2021 cũng tăng khá bên cạnh đó hoàn thuế VAT giảm mạnh so với năm trước.  2. Tài chính, ngân hàng  2.1 Thu, chi ngân sách  Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid -19, đã làm ảnh hưởng hầu hết đến các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội và ảnh hưởng lớn đến công tác thực hiện nhiệm vụ NSNN. Song với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự cố gắng, nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân, cùng với sự phối hợp của các sở, ngành đã tích cực thực hiện nhiều giải pháp tăng cường quản lý thu, phân bổ, sử dụng NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết... góp phần quan trọng trong khống chế, kiểm soát dịch bệnh, từng bước phục hồi và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân.         - Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 15.302,89 tỷ đồng, bằng 151,12% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.881,28 tỷ đồng tăng 11,49% so với năm 2020, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh ước đạt 2.732,68 tỷ đổng giảm 20,64% so với năm 2020; các khoản thu về nhà đất ước đạt 3.043,80 tỉ đổng tăng 59,60%; thu phí,lệ phí ước đạt 735,47 tỷ đồng tăng 55,41% .... Bên cạnh các khoản thu nội địa thì thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 6.668,98 tỷ đồng, tăng 218,71% so với năm trước nguyên nhân chủ yếu là do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất. Ngoài ra, kim ngạch một số mặt hàng như nước giải khát, tinh bột sắn, gỗ xẻ các loại, máy móc thiết bị, hàng điện tử… năm 2021 cũng tăng khá; đồng thời năm 2021 hoàn thuế VAT bằng 41,75% so với năm trước.         - Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 19.975,13 tỷ đồng bằng 105,59% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 9.662,41 tỷ đồng chiếm 48,37% tổng chi, tăng 15,25% so với năm trước; chi thường xuyên đạt 10.296,48 tỷ đồng chiếm 51,55% tổng chi, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2020. Về cơ bản chi thường xuyên đáp ứng đủ nguồn kinh phí cho các hoạt động hành chính, sự nghiệp các cấp, các ngành; các chế độ an sinh xã hội; tiếp tục khắc phục hậu quả thiên tai, các nhiệm vụ phòng chống dịch; đảm bảo an ninh quốc phòng và các nhiệm vụ chi trên các lĩnh vực.        2.2 Hoạt động ngân hàng Năm 2021 các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh triển khai quyết liệt các biện pháp ứng phó với tác động của dịch; hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn do covid-19, để sớm phục hồi sản xuất kinh doanh; tiếp tục triển khai quyết liệt công tác cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu. Nhờ đó, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh nhưng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực trên các mặt hoạt động.                Trong năm 2021 vừa qua mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,1-3,7% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0-5,9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,5-6,7%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4,5-8,4%/năm, trung dài hạn phổ biến 8,4-11%/năm; lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5%/năm. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2021 đạt 87.699 tỷ đồng, tăng 25,3%, so với cuối năm 2020. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 11.402 tỷ đồng, tăng (tăng 28,56% so với cuối năm 2020). Dư nợ cho vay đến 30/12/2021 ước đạt 70.465 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2020, đạt 96,3% so với kế hoạch đề ra. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 46.767 tỷ đồng (chiếm 26,93% tổng dư nợ), tăng 26,93% so với cuối năm 2020; dư nợ trung dài hạn đạt 23.698 tỷ đồng (chiếm 33,95% tổng dư nợ), giảm 0,84% so với cuối năm 2020. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 35,91% so với đầu năm; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 175,96 % so với đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp và nằm trong giới hạn cho phép, nợ xấu chiếm 0,7% dư nợ toàn địa bàn.         Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Công tác thanh toán tiếp tục được đẩy mạnh đảm bảo kịp thời, chính xác; chú trọng và tăng cường công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD được thực hiện thường xuyên, đảm bảo hoạt động của các TCTD an toàn, hiệu quả. Bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động ngân hàng trong thời gian tới vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Tình hình sản xuất kinh doanh và việc làm đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, khiến các rủi ro về nợ xấu có chiều hướng gia tăng trở lại. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 58,95 tạ/ha; hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn, cùng với đó là dịch viêm gia, nổi cục xuất hiện đã gây khó khăn cho tái đàn, tăng đàn; sản lượng gỗ khai thác tăng so với cùng kỳ; sản xuất thủy sản nỗ lực ổn định trong trạng thái bình thường mới và tuân thủ các biện pháp phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp. 3.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: - Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh sơ bộ đạt 158.893 ha, bằng 102,04% (tăng 3.179 ha) so với năm trước; với tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 633.340 tấn, so với thực hiện năm trước, bằng 109,12% (tăng 52.946 tấn). Sản lượng lúa sơ bộ đạt 580.512 tấn, bằng 108,7% (tăng 46.449 tấn) so với năm trước, trong đó : Sản lượng lúa vụ Đông Xuân chính thức đạt 349.794 tấn, bằng 107,51% (tăng 24.425 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu chính thức đạt 229.803 tấn, bằng 110,55% (tăng 21.930 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa sơ bộ đạt 915 tấn, bằng 110,71% (tăng 88 tấn) ; sản lượng ngô cả năm sơ bộ đạt 52.828 tấn, bằng 114,02% (tăng 6.497 tấn) so với năm trước; sản lượng khoai lang cả năm sơ bộ đạt 25.943 tấn, bằng 106,32% (tăng 1.542 tấn) so với năm trước; sản lượng lạc cả năm sơ bộ đạt 29.130 tấn, bằng 105,18% ( tăng 1.434 tấn) so với năm trước; sản lượng rau cả năm sơ bộ đạt 95.395 tấn, bằng 105,88% (tăng 5.302 tấn) so với năm trước. Trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, sâu bệnh phát triển dưới mức bình quân nhiều năm, cùng với tập trung cao chỉ đạo tái cơ cấu giống, thời vụ, quy trình canh tác theo hướng năng suất, chất lượng cao, áp dụng đồng bộ cơ giới hóa, gắn với chế biến và liên kết tiêu thụ sản phẩm; nhân rộng phong trào cải tạo đồng ruộng, phá bờ thửa nhỏ để xây dựng cánh đồng lớn đã góp phần đưa năng suất, sản lượng lúa đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu đều được mùa toàn diện (là năm thứ 2 liên tiếp được mùa); tổng sản lượng lúa cả năm lần đầu tiên đạt trên 58 vạn tấn, tăng hơn 4,6 vạn tấn so với năm 2020. Kết quả sản xuất các loại cây trồng hàng năm khác cũng đều tăng hơn so với năm 2020. Hiện nay, bà con nông dân đang tập trung sản xuất cây rau màu vụ Đông 2021. Tiến độ gieo trồng các loại cây trồng vụ Đông tính đến ngày 15/12/2021 đạt 11.524 ha, đạt 101,7% kế hoạch, trong đó: Ngô lấy hạt 3.924 ha, đạt 105,3% kế hoạch; ngô sinh khối 1.540 ha, đạt 98,2% kế hoạch; khoai lang 1.470 ha, đạt 99,3% kế hoạch; rau các loại 4.590 ha, đạt 100,7% kế hoạch. Hiện nay bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng vụ Đông, tuy nhiên do điều kiện thời tiết diễn biến bất thường nên sản xuất vụ Đông vẫn gặp khó khăn. - Cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.510 ha, bằng 100,2% (tăng 61 ha) so với năm 2020, trong đó diện tích cây ăn quả là 19.103 ha, bằng 103,7% (tăng 672 ha), chiếm 60,6% tổng diện tích cây lâu năm, trong đó: diện tích cây cam sơ bộ đạt 7.476 ha, (tăng 263 ha) với diện tích trồng mới 263 ha; diện tích cam cho sản phẩm 6.061 ha, (tăng 602 ha); diện tích cây bưởi sơ bộ đạt 3.949 ha, (tăng 274 ha) với diện tích trồng mới 274 ha; diện tích bưởi cho sản phẩm 2.860 ha, (tăng 398 ha). Năm nay điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao, sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 152.067 tấn, bằng 112,2% (tăng 16.519 tấn) so với năm 2020, trong đó: sản lượng cam sơ bộ đạt 58.026 tấn, (tăng 10.361 tấn); sản lượng bưởi sơ bộ đạt 31.629 tấn, (tăng 5.827 tấn) so với năm 2020.Mặc dù sản lượng tăng nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, giá bán sản phẩm giảm mạnh so với năm trước nên hiệu quả kinh tế mang lại cho các chủ vườn là không cao. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân.- Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại là không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân: Có 232 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá, 94,5 ha nhiễm đạo ôn cổ bông; rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại nhẹ, diện tích nhiễm 3 ha; có 2.511 ha nhiễm bệnh khô vằn và 168 ha bị chuột hại. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 47 ha; bệnh đốm lá, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. Vụ Hè Thu: Trên cây lúa có sâu cuốn lá nhỏ diện tích nhiễm 34 ha; ốc bươu vàng diện tích nhiễm 180 ha; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 1.163 ha; chuột hại 170 ha. Trên cây ngô đậu thì sâu keo mùa thu, sâu cắn nõn diện tích nhiễm 15 ha; sâu đục quả đậu diện tích nhiễm 10 ha. Trên cây lâu năm thì các loại sâu bệnh như: sâu đục thân, bệnh xì mũ...cũng phát sinh nhưng không gây ảnh hưởng đáng kể. b. Chăn nuôi - Chăn nuôi gia súc: Hoạt động sản xuất chăn nuôi gia súc trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh xẩy ra đối với đàn gia súc; tổng đàn trâu, bò và sản lượng đều giảm so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Ước đến 15/12/2021, tổng đàn trâu có 67.150 con, bằng 99,87% (giảm 89 con); tổng đàn bò có 168.550 con, bằng 99,74% (giảm 437 con), đàn lợn có 408.721 con, bằng 100,82% (tăng 3.308 con). Nguyên nhân giảm về số đầu con là do từ tháng 12/2020 đến tháng 8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát sinh dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò gây thiệt hại nặng về kinh tế và ảnh hưởng đến số lượng đàn gia súc. Chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn, cuối năm 2020 khi dịch tả lợn Châu Phi dần ổn định, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, gia trại, trang trại bắt đầu thực hiện tái đàn trở lại thì dịch lại tiếp tục bùng phát trở lại vào đầu tháng 3/2021 ở nhiều địa phương trong tỉnh gây thiệt hại cho người chăn nuôi và khó khăn trong việc thực hiện tái đàn - Chăn nuôi gia cầm: Điểm sáng trong hoạt động chăn nuôi đó là đàn gia cầm phát triển khá, đến nay tổng đàn gia cầm ước đạt 8.403 ngàn con, bằng 100,39% (tăng 33 ngàn con so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do khó khăn trong chăn nuôi lợn, cùng với việc sản phẩm thịt trâu, bò, lợn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nên người tiêu dùng hạn chế sử dụng. Vì vậy, sản phẩm gia cầm dễ tiêu thụ nên người dân đã mở rộng quy mô phát triển chăn nuôi gia cầm. Thời gian tới, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn cũng chỉ ở mức duy trì ổn định đàn vật nuôi, chưa thể có bước phát triển đột phá. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2021, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 134 xã, thị trấn, thuộc 13 huyện, thành phố, thị xã với tổng số lợn mắc bệnh là 16.324 con, trong đó số buộc phải tiêu hủy là 16.260 con, với trọng lượng 1.199 tấn. Đến nay trên địa bàn tỉnh còn 15 xã có dịch chưa qua 21 ngày kể từ con gia súc bị tiêu hủy cuối cùng, với đàn lợn mắc bệnh là 560 con; dịch LMLM gia súc đã xảy ra tại 05 xã, thuộc 03 huyện (Lộc Hà, Hương Khê, Đức Thọ), làm cho 396 con gia súc mắc bệnh. Đến nay, các ổ dịch LMLM gia súc đã qua 21 ngày; dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò đã xẩy ra tại 208 xã, phường, thị trấn của 13 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh làm 17.686 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó có 2.949 con bị chết. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được khống chế thành công; dịch Cúm gia cầm (H5N6) xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà làm 9.720 con gia cầm mắc bệnh bị tiêu hủy và dịch cúm gia cầm H5N8 xảy ra tại 01 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên làm 3.147 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy. Hiện nay, các ổ dịch cúm gia cầm đã qua 21 ngày.   3.2 Lâm nghiệp - Trồng rừng và chăm sóc rừng: Năm 2021, mặc dù trong điều kiện khó khăn chung do dịch bệnh nhưng sản xuất lâm nghiệp vẫn đạt được kết quả khá. Diện tích rừng trồng mới sơ bộ đạt 8.857 ha, bằng 103,75%, (tăng 320 ha) so với năm 2020, trong đó rừng sản xuất chiếm đến 97,2% tổng diện tích rừng trồng mới. Nhờ thực hiện giao rừng cho hộ gia đình quản lý đã nâng cao ý thức bảo vệ rừng, tạo thu nhập ổn định cho người dân ven rừng. Từ đó, tập trung cho công tác trồng rừng, giảm thiểu tác động tiêu cực vào rừng, góp phần hạn chế thiên tai, bão lũ do phá rừng gây ra. Hoạt động trồng cây lâm nghiệp phân tán cũng được quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do quỹ đất ngày càng thu hẹp nên kết quả trồng cây phân tán đang có xu thế ngày càng giảm. Cuối tháng 11/2021, thực hiện chương trình 1 tỉ cây xanh của Chính phủ, Hà Tĩnh đã ra quân Chương trình trồng 100.000 cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh, quyết phủ xanh thành phố, gây rừng trong lòng thành phố, tạo cảnh quan và môi trường xanh - sạch - đẹp.  Cùng với hoạt động trồng rừng thì các chủ rừng cũng đã thực hiện khai thác rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch, chủ yếu cây keo, tràm để phục vụ các nhà máy chế biến dăm gỗ và gỗ ván ép đóng trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, sản lượng gỗ khai thác năm 2021 sơ bộ đạt 471.089 m3, bằng 118,33%, (tăng 72.970 m3) so với năm 2020. Khi trên địa bàn tỉnh đang có các nhà máy lớn về chế biến lâm sản là điều kiện thuận lợi để người trồng rừng tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, cũng cần phải có những chính sách và chiến lược phù hợp để phát triển sản xuất lâm nghiệp có tính bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. - Thiệt hại rừng: Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha); Đã xảy ra 41 vụ phá rừng (giảm 13 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,576 ha (giảm 13,829 ha) so với cùng kỳ năm trước. 3.3 Thủy sản Sản xuất ngành thủy sản năm 2021 gặp nhiều khó khăn, tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng đều giảm so với cùng kỳ, cụ thể: Tổng sản lượng thủy sản sơ bộ năm 2021 ước đạt 54.485 tấn, bằng 98,22%, (giảm 986 tấn) so với năm 2020. Trong đó: Sản lượng khai thác sơ bộ đạt 38.688 tấn, chiếm đến 71% tổng sản lượng thủy hải sản nhưng lại giảm 2,03% (giảm 853 tấn) so với năm 2020; sản lượng nuôi trồng ước đạt 15.797 tấn, bằng 98,85% so với cùng kỳ. Như vậy, cùng với sự sụt giảm nhẹ của sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản biển giảm đã làm cho tổng sản lượng thủy sản năm 2021 giảm so với năm trước. Nguyên nhân chính đó là: (1) Mức độ đầu tư để nâng cao điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển còn hạn chế, trong khi ngư trường và nguồn lợi thủy sản ngày càng giảm; (2) Chi phí khai thác biển tăng mạnh, nhất là chi phí nhiên liệu xăng dầu, nhân công tăng liên tục trong nhiều kỳ điều chỉnh giá với mức tăng cao; (3) Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp làm cho lượng cầu hàng hải sản giảm mạnh, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn và giá bán sụt giảm nên nhiều chuyến biển của ngư dân bị lỗ nặng nên phần nào cũng đã hạn chế ra khơi đánh bắt. Thời gian tới, khi dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, giá chi phí sản xuất còn ở mức cao và thị trường đầu ra sản phẩm không có nhiều chuyển biến tích cực vẫn sẽ là những rào cản đối với hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh.  - Dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản: Tính từ ngày 15/11 đến ngày 15/12/2021, trên địa bàn không xẩy ra dịch bệnh đối với thủy sản nuôi trồng. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2021, trên tôm nuôi đã xuất hiện bệnh đốm trắng xảy ra tại 16 xã thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 45,94 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,22 ha. Ngành chức năng và các hộ nuôi đã tập trung xử lý và kiểm soát không để lây lan dịch bệnh. 4. Sản xuất công nghiệp Năm 2021, trong điều kiện khó khăn do dịch Covid-19, cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã linh hoạt triển khai các giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh. Đặc biệt, Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh vẫn giữ vững vai trò hạt nhân trong việc thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Hà Tĩnh. Ước tính năm 2021, Formosa Hà Tĩnh sản xuất đạt 5,4 triệu tấn thép tăng 23,21% so với năm 2020. Việc Formosa đi vào hoạt động sản xuất ổn định, hiệu quả đã tác động lớn tới hoạt động công nghiệp toàn tỉnh.       - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP): + Ước tính tháng 12/2021, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thuận lợi hơn so với tháng 11, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng 4,81%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,58%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 1,49%; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 30,71%; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải giảm 2,35%.      + Tính chung cả năm 2021, Chỉ số sản xuất toàn ngành Công nghiệp tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,03%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,93%, đóng góp 14,61 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,09%, làm giảm 0,57 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 5,77%, làm giảm 0,18 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. + Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có đến 18 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn cả năm tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 53,23%; khai thác quặng kim loại tăng 49,97%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 26,73%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,55%; sản xuất kim loại tăng 22,04%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 17,6%; + Bên cạnh những ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng thì vẫn còn 7 nhóm ngành có chỉ số sản xuất ngành công nghiệp cộng dồn đến tháng 12 năm 2021 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 26,85%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 8,45%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 7,09%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 6,78%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 3,47%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 0,41%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 0,29%.         - Chỉ số tiêu thụ: Năm 2021, nhờ sự đóng góp tích cực của 4 nhóm ngành: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 282,09%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 27,95%; sản xuất kim loại tăng 23,57%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 17,9%. Vì vậy chỉ số tiêu thụ tăng 22,71% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy trong năm 2021 nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. - Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2021 tăng 51,3% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chỉ số tồn kho tăng là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 96,28% so với cùng kỳ), nguyên liệu sản xuất ra chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao như: Sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 153,14%; dệt tăng 121,23%; sản xuất sản phẩm từ cao su và platstic tăng 72,91%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 36,26%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 29,86%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 20,26%; … Với kết quả này cho thấy, việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. 5. Đầu tư và xây dựng        5.1 Vốn đầu tư phát triển         Năm 2021, bên cạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục giảm, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, một số địa bàn tại các huyện, thành phố, thị xã phải thực hiện giãn cách xã hội và phong tỏa đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự án trên địa bàn. Song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sử chủ động của các Sở, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp trong triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ, công tác giải phóng mặt bằng..vv. Vì vậy tình hình dịch vẫn nằm trong kiểm soát và được khống chế, đảm bảo an toàn cho sản xuất, kinh doanh; một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ và khởi công mới.             Năm 2021, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 27.314 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch giao và tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 31% GRDP, trong đó:          - Nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.039 tỷ đồng, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân của nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng là do kế hoạch ban đầu đưa ra tăng (51,05%), trong đó phải kể đến vốn chương trình mục tiêu quốc gia tăng gấp 4,6 lần so với cùng kỳ; Việc giải ngân vốn đầu tư công nằm trong nhóm đầu cả nước, đến ngày 30/11/2021 đạt 7.773 tỷ đồng, đạt 80% kế hoạch giao đã làm thức đầy tăng về nguồn vốn đầu tư trên địa bàn.         - Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 17.898 tỷ đồng, tăng 18,02% so với cùng kỳ. Ở khu vực này, một số dự án ngoài nhà nước hiện đang xây dựng trên địa bàn tỉnh như: Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn tiếp tục triển khai sau khi nhập được máy móc thiết bị, Dự án nhà máy thủy điện Ngàn trươi - Cẩm trang đẩy nhanh tiến độ thi công. Ngoài ra, doanh nghiệp ngoài nhà trên địa bàn đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị trên địa bàn cũng tăng mạnh. Bên cạnh đó, đã xúc tiến khởi công dự án Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy sản xuất Cell Pin, khởi công dự án nhà máy thủy điện Hương Sơn 2, dự án nhà ở phức hợp Tân Hoàng Minh. Vì vậy, vốn đầu tư của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nước tăng mạnh so với năm trước (tăng 23,25%).      - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1377 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 61,58%). Nguyên nhân do Dự án Gang thép Formosa chiếm phần lớn tỷ trọng vốn nước ngoài, tuy nhiên dự án này đang giảm dần đầu tư do dự án đã hoàn thành. Ngoài ra dự án khu bến cảng Phonix, Dự án điện mặt trời Sơn Quang tạm ngừng thi công, Dự án điện mặt trời Cẩm Xuyên đã hoàn thành và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh cuối năm 2020. 5.2 Hoạt động Xây dựng Năm 2021, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, chính quyền địa phương các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; xử lý kịp thời các khó khăn vướng mắc, thực hiện nhanh công tác bàn giao mặt bằng phục vụ triển khai các dự án trên địa bàn, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình xây dựng. Song tình hình thực hiện và giải ngân vốn nhà nước vẫn chưa đạt kế hoạch đề ra “đạt 93,87% kế hoạch năm”. Nguyên nhân do thời gian đầu năm, chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước; những dự án mới chỉ đang mới tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, trong quý III/2021, dịch bệnh diễn biến phức tạp và lan rộng hơn trong nước cũng như trên địa bàn tỉnh, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội, nguồn cung ứng vật tư cũng chậm trễ. Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2021 theo giá hiện hành đạt 18.986 tỷ đồng, bằng 100,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực vốn doanh nghiệp nhà nước ước đạt 7,5 tỷ đồng, bằng 4,4 lần so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thi công các công trình trên địa bàn tỉnh ước đạt 7.194 tỷ đồng, bằng 90,31% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 147 tỷ đồng, bằng 56,65% với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm của khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vỗn đầu từ nước ngoài là do một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công do thiếu nguyên vật liệu cũng như chưa kí hợp đồng đầu ra như: Dự án nhà máy sản xuất gỗ MDF; Dự án nhà máy gỗ An Việt Phát đã hoàn thành giai đoạn 1, chưa thi công giai đoạn 2; Dự án điện mặt trời Sơn Quang, nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh, nhiệt điện Vũng Áng 2, thành phố giáo dục quốc tế Hà Tĩnh dời thời gian khởi công xây dựng; bên cạnh đó số lượng doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn giảm về số lượng cũng như giá trị thực hiện. Nhìn chung kết quả hoạt động ngành xây dựng năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như: Tình hình dịch bệnh Covid- 19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp khó khăn trong bố trí nguồn ngân sách phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là nguồn vốn ODA. Mặt khác, mặc dù đã có nhiều công trình, dự án đăng ký đầu tư trên địa bàn nhưng chỉ mới ở giai đoạn lập hồ sơ, chưa đầu tư nên không có các công trình lớn đầu tư xây dựng mới trong thời gian qua; một số dự án lớn triển khai không đảm bảo theo đúng tiến độ như dự án nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án thành phố giáo dục Nguyễn Hoàng, các khu đô thị..vv 6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 6.1. Tình hình đăng ký kinh doanh         Năm 2021 vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Ước đến 15/12/2021, toàn tỉnh thành lập mới 1.086 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 13.259 tỷ đồng (tăng 15,6% về số lượng và 80% về số vốn đăng ký). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,2 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 7,8 tỷ đồng). Một số doanh nghiệp thành lập mới có số vốn đăng ký lớn như CTCP Tập đoàn D&N (2.600 tỷ đồng), CTCP Giải pháp năng lượng VINES Hà Tĩnh (1.800 tỷ đồng); Công ty TNHH T&T Land Thạch Bình (900 tỷ đồng).           Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 417 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 27% so với cùng kỳ năm 2020), 136 doanh nghiệp giải thể (tăng 17% so với cùng kỳ năm 2020); doanh nghiệp có phát sinh thuế chỉ chiếm 47%. Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp trong năm qua là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 6.2 Thu hút đầu tư Tiếp tục kêu gọi, kết nối, làm việc, xúc tiến dự án đầu tư với các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu trong sản xuất linh kiện ô tô, đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp, hạ tầng đô thị, du lịch, dịch vụ tại khu kinh tế và các khu du lịch biển. Trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết về phát triển Khu kinh tế Vũng Áng giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Tính đến ngày 15/11/2021, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 52 dự án đầu tư, trong đó: 51 dự án trong nước với tổng số vốn đăng ký trên 14.600 tỷ đồng và 01 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với tổng số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD (riêng trong quý IV chấp thuận chủ trương đầu tư 02 dự án lớn là Nhà máy sản xuất Cell Pin của tập đoàn Vingroup (8.800 tỷ đồng), Nhà máy luyện gang thép của Công ty cổ phần gang thép Vũng Áng (2.268 tỷ đồng). Xúc tiến đầu tư chuỗi du lịch dịch vụ ven biển; triển khai lập quy hoạch các Tổ hợp dự án nghỉ dưỡng và sân golf tại huyện Lộc Hà (xã Thịnh Lộc), huyện Cẩm Xuyên (xã Cẩm Dương), thị xã Kỳ Anh (xã Kỳ Ninh). Khánh thành đưa vào hoạt động giai đoạn 1 Nhà máy sản xuất, chế biến lâm sản tiêu thụ nội địa và xuất khẩu An Việt Phát với tổng mức gần 1.300 tỷ đồng tại Khu kinh tế Vũng Áng. Xúc tiến khởi công dự án Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy Nhà máy sản xuất Cell Pin. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong năm 2021 vừa qua tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh nhà. 6.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp         Năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả điều tra các doanh nghiệp về xu hướng sản xuất kinh doanh trong năm 2022 thì các doanh nghiệp đã có một số nhận định như sau:        *Đối với Doanh nghiệp hoạt động xây dựng         Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng tiếp tục gặp khó khăn trong năm 2022, có 59,44% ý kiến cho rằng khó khăn hơn, 25,17% ý kiến cho rằng không thay đổi và 10,49% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Trong đó: Doanh nghiệp ngoài nhà nước có 59,42% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 60% ý kiến cho rằng khó khăn hơn. Quý đầu năm chủ yếu thi công các công trình chuyển tiếp, công trình mới chưa được giao vốn và triển khai thi công, do đó các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động xây dựng.        *Đối với Doanh nghiệp hoạt động công nghiệp         Năm 2022, các doanh nghiệp nhận định sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng lên và giữ nguyên so với năm 2021. Cụ thể:         - Doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo năm tiếp theo vẫn giữ nguyên chiếm tỷ trọng lớn (52,27% doanh nghiệp); tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng tăng lên là 31,82% và chỉ có 15,91% doanh nghiệp cho rằng năm tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại.         - Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo năm tiếp theo vẫn giữ nguyên chiếm tỷ trọng lớn nhất (50%); Trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 18,18%. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ chững lại và giữ nguyên trong năm tiếp theo. Các doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao (61,11%). Điều này cho thấy trước tình hình dịch bệnh đang diễn ra trên thế giới, số lượng hàng hóa sản xuất cho tiêu thụ trong và xuất khẩu ra nước ngoài vẫn tiếp tục giữ ổn định trong năm 2022.          - Với tình hình thực tế hiện nay, đa số các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động năm tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong năm tiếp theo chiếm đến 72,73% doanh nghiệp, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 15,91% và chỉ có 11,36% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động.      7. Giá cả, lạm phát Tháng 12 củng như 12 tháng năm 2021, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ như: Nhóm hàng lương thực, may mặc, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, lương thực, nhiên liệu xăng dầu, hàng điện tử, đồ uống; Tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến một số dịch vụ giải trí tiếp tục phải tạm ngừng hoạt động. Xuất khẩu hàng hóa gặp khó khăn, ảnh hưởng đến cung cầu tiêu dùng trong tỉnh - Tháng 12 năm 2021, chỉ số giá CPI chung giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,22% (so cùng kỳ tăng 2,46%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% (so cùng kỳ tăng 3,82%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19% (so cùng kỳ tăng 1,51%); thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% (so cùng kỳ tăng 0,19%); bưu chính viễn thông tăng 0,01% (so cùng kỳ trước tăng 0,07%); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,21% (so cùng kỳ tăng 0,66%); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,09% (so cùng kỳ tăng 1,97%); 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,35% (so cùng kỳ giảm 3,91%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,51% (nhưng so cùng kỳ tăng 3,06%); giao thông giảm 1,36% (nhưng so cùng kỳ tăng 12,14%). - Tính chung cả năm 2021, chỉ số giá CPI tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,96%; nông thôn tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,68%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,97%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giao thông tăng 7,54%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; giáo dục tăng 9,93%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng năm 2021 tăng là do giá cả nhóm vật liệu xây dựng, xăng dầu và khí đốt hóa lỏng có mức tăng cao hơn nhiều so cùng kỳ năm trước theo xu hướng của thị trường thế giới. Bên cạnh đó tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động cung ứng hàng hóa từ các tỉnh khác và nhập khẩu từ nước ngoài gặp khó khăn; các mặt hàng nông sản sản xuất trong nước cũng gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ. Đặc biệt, nguồn tiền của các nhóm đối tượng làm việc tại ngoại tỉnh và nước ngoài gửi về giảm, thu nhập của người dân nhìn chung giảm mạnh khiến nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ giảm sút. Cùng với đó là dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp, kéo dài đã ảnh hưởng đến nguồn cung ứng ra thị trường và nhu cầu tiêu dùng của người dân. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 01/2022 sẽ tăng mạnh so tháng 12/2021. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ, Tết Nguyên đán rơi vào thời điểm cuối tháng, dẫn tới nhu cầu và giá cả hầu hết các nhóm hàng hóa dịch vụ đều tăng mạnh. Để bảo đảm nguồn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, các siêu thị lớn, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đang có sự chuẩn bị về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu…Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống cũng như sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.8. Hoạt động thương mại, dịch vụ        8.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng         Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2021 khá ảm đạm. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và cả nước vào những ngày cuối tháng 4 đến nay nên UBND tỉnh nhiều lần đã có các văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động dịch vụ để phòng chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc thực hiện cách ly y tế nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh qua các tháng.      - Tổng mức bán lẻ hàng hoá: Tháng 12/2021 ước đạt 3.837,58 tỷ đồng, tăng khá so với tháng trước (tăng 6,84%) nhưng lại giảm sâu so với cùng kỳ năm trước (giảm 11,62%) chủ yếu do sự suy giảm của thu nhập dân cư do dịch bệnh giảm sức mua ở các mặt hàng xa xỉ như ô tô các loại; các mặt hàng thiết bị gia đình, may mặc cũng giảm mạnh. Ước cả năm 2021 đạt 41.939,38 tỷ đồng tăng 1,99% so với năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng của năm 2020. Trong mức tăng của tổng mức bán lẻ 5 nhóm mặt hàng tăng mạnh so với năm 2020 do sự tăng mạnh về giá như: Xăng, dầu các loại (23,40%); nhiên liệu khác (35,77%); đá quý, kim loại quý (27,05%); gỗ và vật liệu xây dựng (24,90%); vật phẩm văn hóa giáo dục (13,24%). Bên cạnh đó cũng có 3 nhóm mặt hàng giảm so với năm 2020 gổm nhóm hàng lương thực, thực phẩm (giảm 1,88%); đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (giảm 7,75%); ô tô con (giảm 6,10%).          Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong cả năm 2021 gặp nhiều hạn chế hơn so với năm 2020. Luân chuyển hàng hóa gặp khó khăn, nhất là giữa các địa phương xuất hiện dịch bệnh Covid-19. Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân có xu hướng giảm, trong khi một nguồn thu quan trọng khác là nguồn tiền từ các công dân xuất khẩu lao động nước ngoài, làm công nhân tại các khu công nghiệp gửi về giảm mạnh. Trong khi đó, mặt bằng giá cả chung đều tăng, đặc biệt là các mặt hàng, dịch vụ thiết yếu như lương thực, xăng dầu, khí đốt hóa lỏng đã ảnh hưởng đến nhu cầu hàng hóa. Nhưng tính chung bán lẻ là ngành ít chịu ảnh hưởng nhất từ dịch bệnh và tăng trong khu vực dịch vụ.- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Tháng 12/2021 dự tính đạt 260,75 tỷ đồng, tăng 23,08% so với tháng trước, giảm 37,34% so với cùng kỳ năm trước. Ước cả năm 2021 đạt 3.491,20 tỷ đồng, giảm 18,51% so năm trước. Trong đó: Dịch vụ Lưu trú dự tính đạt 110,56 tỷ đồng, giảm 45,20%; Dịch vụ ăn uống dự tính 3.380,64 tỷ đồng, giảm 17,19% so với năm trước. Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và cả nước vào những ngày cuối tháng 4 đến nay UBND tỉnh nhiều lần đã có các văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động dịch vụ để phòng chống dịch. Các hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà hàng ăn uống tạm ngừng hoạt động liên tục hoặc sắp xếp giãn cách chỗ ngồi dưới 50%, các quán điểm ăn uống vỉa hè; quán cà phê, dịch vụ giải khát chỉ được bán đưa về. Có rất nhiều doanh nghiệp, cá thể đã phải giải thể, chuyển hướng kinh doanh. Vì vậy, dù đã trở lại hoạt động nhưng để khôi phục ngành Lưu trú ăn uống vẫn cần thêm thời gian cũng như hi vọng những tín hiệu khả quan từ công tác phòng chống dịch. - Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch: Các đơn vị kinh doanh lữ hành vẫn đang ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu từ tháng 6 đến nay. Năm 2021 ước đạt 7,35 tỷ đồng, giảm 36,37% so với năm trước. Ngành du lịch chịu ảnh hưởng rất lớn từ dịch, cùng với những khuyến cáo hạn chế đi lại. Hoạt động kinh doanh tại địa điểm du lịch như biển Thiên Cầm, Thạch Bằng, Xuân Hải dừng hoạt động kể cả trong những mùa du lịch, dẫn đến ngành du lịch tiếp tục đà giảm sâu từ năm 2020 qua đến năm nay. - Hoạt động dịch vụ khác: Tháng 12/2021 ước tính đạt 99,59 tỷ đồng, tăng 19,35% so với tháng trước và giảm 35,99% so với cùng kỳ năm trước. Ước cả năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác đạt 1.339,65 triệu đồng, giảm 13,87% so với cùng kỳ năm trước, đây là năm giảm lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 160,74 tỷ đồng, giảm 18,78%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 378,92 tỷ đồng, tăng 9,42%; giáo dục đào tạo ước đạt 54,56 tỷ đồng, giảm 36,65%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 197,57 tỷ đồng, tăng 11,41%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 98,75 tỷ đồng, giảm 36,31%; dịch vụ khác ước đạt 449,10 tỷ đồng, giảm 24,41%.8.2. Hoạt động vận tải Những tháng cuối năm đánh dấu sự trở lại của các hoạt động vận tải, kho bãi nhưng tính chung cả năm hoạt động vận tải vẫn khó phục hồi. Hi vọng với những chính sách mới trong việc thực hiện mục tiêu kép phòng chống dịch và phát triển kinh tế, hoạt động vận tải, kho bãi sẽ sớm khôi phục lại. Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 12/2021 ước đạt 351,94 tỷ đồng, tăng 6,25% so tháng trước và giảm 27,76% so cùng kỳ năm trước. Do các loại hình vận tải vừa trở lại hoạt động vào những tháng cuối năm nhưng về vận tải hành khách công cộng như xe buýt, taxi cũng chỉ hoạt động được thời gian ít và chỉ được chở tối đa 50% lượng khách. Trong khi đó, vận tải hàng hoá không ảnh hưởng nhiều bởi dịch nên có giảm nhẹ so với cùng kỳ, hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng nhẹ do số lượng tàu cập cảng ổn định, lượng hàng hóa thông qua cảng không giảm nhiều do hàng thông qua cảng chủ yếu là nguyên vật liệu và thép qua cảng Sơn Dương của Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa. Tính chung 12 tháng năm 2021 doanh thu vận tải, kho bãi đạt 4.341,47 tỷ đồng, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: + Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 839,80 tỷ đồng, giảm 42,82% so với năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11.584,97 nghìn HK, giảm 42,83% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 1.927,50 triệu HK.km, giảm 46,40% so với năm trước.  + Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.623,56 tỷ đồng, giảm 8,60% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 29.179,13 nghìn tấn, giảm 9,1% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 744,17 triệu tấn.km, giảm 10,57% so với năm trước. + Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 878,11 tỷ đồng, tăng 12,47% so với năm trước. Hiện nay, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân tích cực triển khai thực hiện nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, dần đưa các hoạt động kinh doanh dịch vụ trở về trạng thái “bình thường mới”. Có thể thấy, tình hình hoạt động thương mại của tỉnh trong những năm qua sự chuyển biến cơ bản về phương thức hoạt động, chủng loại hàng hoá kinh doanh. Trong những năm gần đây, người tiêu dùng có xu hướng chuyển việc mua sắm từ các chợ, trung tâm thương mại truyền thống sang các điểm bán lẻ trên đường phố, ngõ, xóm, các cửa hàng tiện ích. Ngoài ra chú trọng công tác phát triển hạ tầng thương mại, phát triển dịch vụ chất lượng cao, dịch vụ logistics. Cùng với đó, nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng vệ, gian lận thương mại, chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh là động lực để khu vực thương mại dịch vụ tăng trưởng trong thời gian tới. 8. 3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mặc dù ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong năm 2021 của Hà Tĩnh ước đạt 5,3 tỷ USD, tăng 55,88% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra.   Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 ước đạt 2 tỷ USD, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do giá thép tăng cao nên Formosa đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 1,9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh).  Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,3 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa (gần 2,9 tỷ USD). Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia hoạt động xuất khẩu, xuất nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị phục vụ sản xuất, hàng hóa; hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường… Hà Tĩnh xây dựng Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025. Đồng thời ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyên container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI         1. Dân số, lao động và việc làm    Dân số trung bình năm 2021 ước tính 1.314.056 người, tăng 1,34% so với năm 2020 (tăng 17.434 người). Trong đó: Dân số thành thị 293.012 người, chiếm 22,29%; dân số nông thôn 1.021.044 người, chiếm 77,71%; dân số nam 650.793 người, chiếm 49,52% và dân số nữ 663.263 người, chiếm 50,48%.    Ước năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 692.514 người, chiếm 52,7% dân số toàn tỉnh và tăng 3,08% so với năm 2020. Trong đó lực lượng lao động nam là 332.653 người, chiếm 48,03% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lưc lượng lao động nữ là 359.861 người, chiếm 51,97%; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 145.019 người, chiếm 20,94%; nông thôn là 547.495 người chiếm 79,06%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2021 là 71,06%, trong đó: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 71,97%, cao hơn 1,86 điểm phần trăm so với nam; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 70,07%, thấp hơn 1,26 điểm phần trăm so với ở nông thôn.        Ước năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 675.634 người, chiếm 97,56% so với lực lượng lao động và tăng 3,25% so với năm 2020. Trong đó, lao động có việc làm ở thành thị là 139.552 người, chiếm 20,65%; ở nam giới là 322.108 người, chiếm 47,67%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 349.247 người, chiếm 51,69% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 120.169 người, chiếm 17,79%; ngành dịch vụ là 206.219 người, chiếm 30,52%.        Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2021 là 22.568 người, đạt 102,58% kế hoạch năm 2021, tăng 13,45% so với năm 2020. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 11.539 người, chiếm 51,13% trong tổng số, giảm 5,73%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 5.442 người, chiếm 24,11%, tăng 90,95%; xuất khẩu lao động 5.587 người, chiếm 24,76%, tăng 16,32%.          Ước năm 2021, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 16.880 người, chiếm 2,44% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2021 ước tính là 3,07%, giảm 0,11 điểm phần trăm so với năm 2020.          2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội             - Đời sống dân cư: Năm 2021 thời tiết tương đối thuận lợi tạo điều kiện cho bà con nông dân tập trung sản xuất. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid, các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm, hỗ trợ các đối tượng kịp thời. Tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.        - Công tác giảm nghèo: Hà Tĩnh tập trung triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Hiện nay tỉnh không còn huyện nghèo, còn 3/8 xã biên giới, 13 thôn đặc biệt khó khăn được hưởng chương trình 135. Năm 2021 tiến hành tổng rà soát hộ nghèo, cận nghèo nhằm xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2022 -2025 để phân loại và lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021 và các năm tiếp theo. Làm cơ sở thực hiện các chính sách giảm nghèo, chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2022 - 2025. Ngoài ra, xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025 làm căn cứ thực hiện các chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế. Theo kết quả rà soát, tỷ lệ hộ nghèo là 3,03% (11.566 hộ, tương ứng 23.615 khẩu) giảm 0,48 điểm phần trăm so với năm 2020; tỷ lệ hộ cận nghèo là 4.11% (15.675 hộ, tướng ứng 47.315 khẩu) giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm 2020.        - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: đến nay, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 419.350 suất quà với tổng số tiền khoảng 112.486 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể: quà cho người có công: 224.304 suất quà trị giá khoảng 51.500 triệu đồng; quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất quà trị giá khoảng 10.636 triệu đồng; quà người cao tuổi: 29.627 suất quà trị giá khoảng 9.557 triệu đồng; quà trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: 90.500 suất quà trị giá khoảng 16.500 triệu đồng; quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội: 54.225 suất quà trị giá khoảng 24.293 triệu đồng. Cấp khoảng 13.605 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.558 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 163.470 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 98.917 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Năm 2021 tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công khoảng 224.304 suất quà trị giá khoảng 51.500 triệu đồng. Trao tặng 82 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 646 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 1.876 nhà kinh phí khoảng 119.185 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 49 nhà kinh phí khoảng 1.793 triệu đồng.        Nhìn chung, công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo.             3. Giáo dục, đào tạo         - Giáo dục phổ thông: trên cơ sở những kết quả đạt được của năm học trước, năm học mới 2021-2022 ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, toàn tỉnh có 667 trường mầm non và phổ thông, 10.636 lớp, 18.172 giáo viên và 329.333 học sinh. Trong đó: Giáo dục mầm non: 254 trường, 2.846 lớp, 4.819 giáo viên và 76.567 học sinh; Tiểu học: 221 trường (220 trường công lập, 01 trường tư thục), 4.229 lớp học, 5.775 giáo viên và 131.971 học sinh; Trung học cơ sở: 147 trường (147 trường công lập), 2.369 lớp học, 4.806 giáo viên và 78.310 học sinh; Trung học phổ thông: 45 trường (39 trường công lập, 1 trường dân lập, 5 trường tư thục), 1.192 lớp, 2.772 giáo viên và 42.485 học sinh.        - Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy năm 2021 là 1.691 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.641 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao.        Năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 17.100 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 1.200 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 4.700 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 11.200 người. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo.         4. Hoạt động Y tế        Quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, năm 2021, ngành Y tế đã phối hợp với chính quyền địa phương triển khai quyết liệt giải pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc khoanh vùng rộng, phong tỏa hẹp, xét nghiệm nhanh, truy vết thần tốc để xử lý triệt để ổ dịch. Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tốc độ tiêm vắc-xin và tiếp tục linh hoạt trong việc cách ly, điều trị cho bệnh nhân COVID-19.        - Tình hình dịch Covid 19: Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến nay là 1.436 ca mắc, trong đó Thành phố Hà Tĩnh 86 ca, TX Hồng Lĩnh 30 ca, Hương Sơn 77 ca, Đức Thọ 178 ca, Vũ Quang 25 ca, Nghi Xuân 106 ca, Can Lộc 163 ca, Hương Khê 92 ca, Thạch Hà 166 ca, Cẩm Xuyên 128 ca, huyện Kỳ Anh 201 ca, Lộc Hà 89 ca, TX Kỳ Anh 43 ca, nhập cảnh, ngoại tỉnh 52 ca.                                                                            Toàn tỉnh đã có 11/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 207 người, trong đó đã có 70 ca khỏi bệnh. Đến nay, Hà Tĩnh đã có 99,7% người dân từ 18 tuổi trở lên đã tiêm ít nhất 1 mũi và 70% đã tiêm 2 mũi vắc-xin phòng COVID-19; 97% trẻ em từ 12 đến dưới 18 tuổi đã được tiêm mũi 1. Ngành y tế đang triển khai tiêm vắc-xin đợt 2 cho người từ 18 tuổi trở lên và tiêm đợt 4 cho trẻ em.         - Tình hình dịch bệnh khác: trong tháng trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca sốt xuất huyết, 1 ca mắc bệnh quai bị, 8 ca mắc lỵ trực trùng; 11 ca mắc lỵ a míp; 14 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.127 ca mắc bệnh cúm, tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết vì do các bệnh trên trên.         Năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 33 ca mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp nào tử vong vì dịch. Ngoài ra, còn có 9 ca mắc sốt xuất huyết (giảm 85,93% so với cùng kỳ năm trước), 1 ca mắc sốt rét (giảm 99,62%), 93 ca viêm não do vi rút (tăng 106,66%), 39 ca mắc bệnh quai bị (giảm 69,04%), 133 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 24,0%); 287 ca mắc lỵ a míp (tăng 11,24%); 723 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 13,68%), 16.237 ca mắc bệnh cúm (giảm 26,56%), tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên.        - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Thực hiện chương trình mục tiêu y tế, trong năm 2021, ngành Y tế phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể triển khai có hiệu quả công tác phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh có 4 người nhiễm mới HIV, 3 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. Năm 2021 toàn tỉnh có 55 người nhiễm mới HIV, 50 người chuyển thành AIDS và 02 người chết vì AIDS, so năm 2020 số người nhiễm mới HIV giảm 20 người (giảm 26,67%), số người chuyển thành AIDS giảm 20 người (giảm 28,57%), số người chết vì AIDS giảm 7 người (giảm 77,77%).        - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: An toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 172 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 9 ca ngộ độc tập thể, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 61 ca (tăng 54,95%), số ca tử vong không thay đổi.         Năm 2021 đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 1.244 ca ngộ độc đơn lẻ; So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc không đổi, số ca ngộ độc tập thể tăng 29 người (tăng 120,83%), số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 95 ca (tăng 8,26%).5. Hoạt động văn hóa - thể thao        - Hoạt động văn hóa: Năm 2021, hoạt động văn hóa có phần trầm lắng do chịu tác động của dịch Covid – 19 kéo dài. Vì vậy, trong thời gian này, chủ yếu tập trung công tác tuyên truyền về phòng chống dịch Covid-19 thông qua các phương tiện truyền thông như: đài truyền hình, báo chí, đặc biệt là loa đài tại các tổ dân phố, thôn, xóm liên tục và thường xuyên đưa tin về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống dịch để người dân nắm rõ và yên tâm. Tổ khúc dân ca ví giặm “Can Lộc chung tay đẩy lùi COVID-19” ra đời và tạo được hiệu ứng tích cực trong cộng đồng, trở thành bài tuyên truyền phòng chống dịch tại các địa phương trên toàn tỉnh.        Ngoài ra, còn tập trung chỉ đạo triển khai các cụm pano, áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước: Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), ngày Giải phóng Miền Nam (ngày 30 tháng 4), ngày Quốc tế lao động (ngày 01 tháng 5), ngày Quốc khánh 02/9; tuyên truyền, xây dựng tin bài, phóng sự về cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.         - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Năm 2021, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 14 cuộc thanh, kiểm tra. Qua kiểm tra 268 cơ sở (105 tổ chức, 163 cá nhân) lập 248 biên bản kiểm tra, xử lý vi phạm 7 trường hợp, nộp 35 triệu đồng vào ngân sách nhà nước.        -  Hoạt động thể thao: Tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động. Phong trào tập luyện thể dục thể thao gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” diễn ra sôi nổi phù hợp và thích ứng với diễn biến của dịch Covid-19, thu hút nhiều người tham gia. Đến nay có 74/216 đơn vị cấp xã tiến hành khai mạc và tổ chức các môn thi đấu trong khuôn khổ Đại hội Thể dục – Thể thao (đạt 34,25%). Trước khi dịch bùng phát, đã tổ chức thành công một số giải thể thao cấp tỉnh như Giải Việt dã và Giải Bóng chuyền nam Đại hội Thể dục thể thao toàn tỉnh lần 11 hay Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh lần thứ XIII năm 2021.         Năm 2021 Hà Tĩnh tham gia 18 giải thành tích cao đạt 103 huy chương các loại ((37 huy chương vàng (HCV), 22 huy chương bạc (HCB), 44 huy chương đồng (HCĐ)), trong đó 01 giải quốc tế với 3 loại huy chương (1 huy chương vàng, 2 huy chương đồng. Dưới đây là một số môn đạt thành tích cao: Điền kinh 03 giải đạt 30HC (11V-6B-13Đ, giải Điền kinh cúp tốc độ TP HCM xếp nhì toàn đoàn; Môn Pencak Silat 02 giải đạt 13HC (4V-3B-6Đ); Môn Karate 02 giải đạt 33HC (13V-6B-14Đ), Giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên xếp thứ nhì toàn đoàn; Môn Đua thuyền 04 giải đạt 21HC (8V-5B-8Đ); Môn Muay 01 giải đạt 4HC (1V-1B-2Đ); Vovinam 01 giải đạt 2HC (1B-1Đ); Bóng chuyền thi đấu vòng I Giải vô địch quốc gia xếp thứ 2 bảng A (xếp thứ 4 vòng I) được tham gia Giải bóng chuyền vô địch quốc gia Cup Hùng Vương năm 2021.        6. Tình hình an toàn giao thông         Từ ngày 15/11 - 14/12/2021 xảy ra 17 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 13 người, bị thương 7 người, thiệt hại tài sản 196 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: giảm 1 vụ, tăng 2 người chết, giảm 11 người bị thương. Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra, so với cùng kỳ năm trước ổn định.         Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/12/2021 xảy ra 115 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 96 người, bị thương 50 người, thiệt hại tài sản 844 triệu đồng. So với với năm trước: giảm 9 vụ (giảm 6,50%), giảm 7 người chết (giảm 6,8%), giảm 14 người bị thương (giảm 21,87%). Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.         7. Tình hình thiên tai        Năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 12 đợt thiên tai đã làm 3 người chết, 4 người bị thương; 666 nhà bị hư hỏng; 12.025,8 ha lúa; 1.452,7 ha hoa màu; 900 con gia cầm, 3 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 187.280 triệu đồng. So với năm trước tăng 1 vụ, giảm 3 người chết, giảm 42 người bị thương. Trong đó, vụ gây ảnh hưởng nặng nề nhất là vụ mưa lũ do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 8 và của không khí lạnh, kết hợp với rìa bắc dải hội tụ nhiệt đới nên từ ngày 15/10 - 18/10/2021 đã làm 199 nhà bị hư hại, 60 ha lúa, 552,4 ha hoa màu, 500 con gia cầm bị cuốn trôi và chết…tổng thiệt hại ước tính 140.113 triệu đồng.         8. Môi trường        - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/11/2021 đến ngày 14/12/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ cháy, không có người chết và bị thương với tổng giá trị thiệt hại ước tính 14 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 số vụ, không đổi; tăng 1 người chết; giảm 1 người bị thương. Tính chung cả năm 2021, xẩy ra 63 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 6.355 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 4 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa.        - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/11 đến ngày 14/12/2021 đã phát hiện 21 vụ, đã xử lý 21 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.470,5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 tăng 14 vụ (tăng 200%) đã phát hiện, tăng 15 vụ (tăng 250%) đã xử lý, số tiền xử phạt tăng 1.398,60 triệu đồng (tăng 1.945,20%). Năm 2021 đã phát hiện 164 vụ, đã xử lý 123 vụ, tổng số tiền xử phạt 2.867,85 triệu đồng; so với năm 2020 tăng 116 vụ (tăng 241,67%) đã phát hiện, tăng 80 vụ (tăng 186,05%) đã xử lý, tăng 2.538,45 triệu đồng (tăng 770,63%).        III. DỰ BÁO, ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Năm 2022 tiếp tục là một năm khó khăn đối với tỉnh nhà trong thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH khi mà tình hình Dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp; mặc dù tỷ lệ tiêm chủng ở trong nước, trong tỉnh dần được phủ kín nhưng chưa đồng đều; các chuỗi cung ứng và các liên kết sản xuất có thể bị gián đoạn cùng với tình trạng thiếu hụt lao động; giá năng lượng, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng sẽ gây áp lực lớn đến lạm phát. Việc bảo vệ sức khoẻ và ổn định sản xuất, giữ vững an ninh và an sinh xã hội là thách thức đòi hỏi nỗ lực rất lớn của Chính quyền cùng doanh nghiệp và người dân.  Đứng trước những khó khăn nêu trên, để hoàn thành đồng thời 02 nhiệm vụ: Vừa chiến thắng dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho người dân, vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây: Một là, Tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh. Không chủ quan, lơ là; cách ly có chọn lọc, linh hoạt, thích ứng với trạng thái bình thường mới; nâng cao năng lực xét nghiệm tại các cửa khẩu, bến cảng cùng với năng lực điều trị bệnh Covid-19, năng lực tiêm chủng tại các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân. Hai là, Huy động sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, khơi dậy sức mạnh văn hoá của người Việt Nam để mỗi người dân là một chiến sĩ trong việc tự bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân và gia đình, bảo vệ doanh nghiệp, cơ quan, trường học không bị nhiễm virus. Ba là: Triển khai thực hiện kịp thời các chính sách giảm, giãn thuế; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo việc làm và thu nhập tối thiểu cho người lao động. Bốn là: Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất các vụ trong năm; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. Năm là: Tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.Sáu là: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong tất cả các hoạt động hành chính của cơ quan Nhà nước, nhất là những nơi thực hiện dịch vụ hành chính công - xem đây là nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng chính quyền điện tử phục vụ người dân, từ đó thay đổi tư duy quản lý, phương pháp quản trị điều hành trong toàn xã hội. Tranh thủ thời cơ đẩy nhanh việc số hoá dữ liệu ở tất cả cơ quan, nhất là dữ liệu dân cư, dữ liệu doanh nghiệp. Khuyến khích thành lập doanh nghiệp mới trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin, tài chính, giáo dục, y tế./.[1] Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 tỉnh Thanh Hóa: 8,85%; Nghệ An: 6,2%; Quảng Bình: 4,83%; Quảng Trị 6,5%; Thừa Thiên Huế: 4,36%. [2] Kỳ họp thứ 18 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%[3] Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hà Tĩnh năm 2017: 9,9%; năm 2018: 20,85%; năm 2019: 9,27%; năm 2020: 0,77%; năm 2021: 5,02%.[4] Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa tiêu thụ nội bộ 5,5 triệu tấn phôi thép.[5] Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ năm 2016:-0,9%; năm 2017: 6,85%; năm 2018: 5,74%; năm 2019: 6,28%; năm 2020: 0,45%; năm 2021: -0,7% .

Báo cáo tình hình kinh tế -xã hội tháng 11 và 11 năm 2021
  •   26/07/2024 16:06

1.    Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng mười một diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi cho cây trồng; nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất đã không chủ động được nước tưới, một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Các địa phương trong tỉnh tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2021; trong chăn nuôi tuy đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn còn chậm; tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất - chế biến - tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản.         1.1. Sản xuất nông nghiệp         - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 11/2021 chủ yếu tập trung thu hoạch một số loại rau màu vụ Mùa và tiếp tục sản xuất cây trồng vụ Đông 2021.         + Sản xuất vụ Mùa 2021: Diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới. Tuy người dân đã chủ động gieo trồng đúng lịch thời vụ nhưng do ảnh hưởng của thời tiết nên một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2021 sơ bộ đạt 1.308 ha, bằng 98,13% (giảm 25 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lúa sơ bộ đạt 490 ha, bằng 94,58% (giảm 28 ha), cây lấy củ có chất bột sơ bộ đạt 253 ha, bằng 89,6% (giảm 29 ha), diện tích gieo trồng rau các loại sơ bộ đạt 211 ha, bằng 140,09% (tăng 60 ha), diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm khác sơ bộ đạt 209 ha, bằng 93,87% (giảm 14 ha). Nhìn chung, sản xuất vụ Mùa hàng năm trên địa bàn Hà Tĩnh thường gặp bất lợi của điều kiện thời tiết. Chính vì thế nên người dân chưa mặn mà trong việc đầu từ vào sản xuất nên hiệu quả kinh tế mang lại từ vụ sản xuất này rất hạn chế. + Tiến độ sản xuất vụ Đông 2021: Hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2021 đã kết thúc. Tuy nhiên, do đầu vụ thời tiết trên địa bàn có nhiều đợt mưa làm cho đất ướt không gieo trỉa được cho nên kết quả đạt được thấp so với kế hoạch đặt ra. Hiện nay, bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng các loại cây vụ Đông. Ước tính đến ngày 15/11/2021, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2021 là 7.081 ha/11.332 ha, đạt 62,5% kế hoạch, cụ thể: Diện tích ngô lấy hạt 2.405 ha/3.726 ha, đạt 64,5% kế hoạch; diện tích ngô sinh khối 880 ha/1.568 ha, đạt 56,1% kế hoạch; diện tích khoai lang 891 ha/1.480 ha, đạt 60,2% kế hoạch và diện tích rau các loại 2.905 ha/4.558 ha, đạt 63,7% kế hoạch. + Cây lâu năm: Tháng 11 năm 2021, người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Thời điểm này cũng đang là chính vụ thu hoạch các loại cây ăn quả chủ lực của địa phương như cam, chanh..vv. Năm nay, điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao, sản lượng cây ăn quả ước tính đạt 149.310 tấn, bằng 110,17% (tăng 13.782 tấn) so với năm 2020. Mặc dù sản lượng tăng nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, giá bán sản phẩm giảm mạnh so với năm trước nên hiệu quả kinh tế mang lại cho các chủ vườn là không cao. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân. - Tình hình sâu bệnh và thiệt hại: Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Tuy nhiên, để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã đưa ra khuyến cáo về một số loại sâu bệnh gây hại đối với cây ngô như: Sâu keo mùa thu, sâu xám, sâu đục thân, đục bắp, rệp cờ, bệnh khô vằn, bệnh lùn sọc đen Phương Nam...Đối với cây rau là các loại sâu bệnh như: Sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy, rệp muội, bệnh lở cổ rễ (thối gốc), bệnh sương mai…Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ các loại sâu bệnh trên nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng.         - Chăn nuôi: Hoạt động chăn nuôi trong những tháng đầu quý IV năm 2021 vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Đàn đại gia súc giảm nhẹ, đàn lợn và đàn gia cầm ổn định so với cùng kỳ năm trước. Sau dịch bệnh viêm da nổi cục thì đàn trâu, bò dần phục hồi để tăng đàn nhưng vẫn còn chậm do chi phí đầu tư con giống cao; tổng đàn lợn tuy có tăng nhưng không đáng kể so với cùng kỳ năm trước vì giá lợn hơi bán ra giảm mạnh từ trung tuần tháng 8/2021. Mức giá lợn hơi trên địa bàn Hà Tĩnh bình quân quý II/2021 đạt 69,1 ngàn đồng/kg nhưng sang quý III/2021 đã giảm xuống còn 60,1 ngàn đồng/kg (giảm 13,04%) so với quý trước, trong khi giá thức ăn và các chi phí khác vẫn đang ở mức cao là những rào cản đối với chăn nuôi lợn. Mặc dù dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra trên địa bàn tỉnh, chăn nuôi lợn còn khó khăn nhưng khi giá lợn hơi ổn định trở lại và để bảo đảm nguồn cung lợn thịt phục vụ nhu cầu tăng cao của người tiêu dùng trong dịp Tết sắp tới thì các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn vẫn tiếp tục thả nuôi nhưng với quy mô không có nhiều biến động lớn. Do dịch bệnh trong thời gian qua ít xẩy ra, trong khi giá bán và thị trường tiêu thụ sản phẩm khá ổn định nên đàn gia cầm tiếp tục phát triển.  - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/11/2021 trên địa bàn tỉnh đang còn có 30 ổ dịch tả lợn Châu phi chưa qua 21 ngày kể từ con gia súc bị tiêu hủy cuối cùng, với đàn lợn mắc bệnh là 693 con, trọng lượng 43.912 kg của 138 hộ ở 74 thôn trên địa bàn 11/13 huyện, thành phố, thị xã (trừ huyện Vũ Quang, Nghi Xuân). Các loại dịch bệnh khác đối với đàn vật nuôi đều đã qua 21 ngày. Tuy dịch bệnh cơ bản được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn rất cao. Vì vậy, cần phải thường xuyên thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi để tránh thiệt hại do dịch bệnh gây ra. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 11 năm 2021, hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn được thực hiện với kết quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Diện tích rừng trồng tập trung tăng 162 ha và sản lượng gỗ khai thác tăng 10.185m3; nếu so với tháng trước thì diện tích rừng trồng tập trung tăng 10,27% (tăng 173 ha) và sản lượng gỗ khai thác cũng tăng 12,53% (tăng 7.151 m3). Nguyên nhân do hiện nay bên cạnh việc trồng rừng thì người trồng rừng cũng đang tập trung khai thác các diện tích đến kỳ thu hoạch trước mùa mưa bão nên cả diện tích và sản lượng khai thác đều tăng.         Trong tháng không xẩy ra cháy rừng mà chỉ xẩy ra 5 vụ phá rừng, với diện tích diện tích rừng bị phá 1,14 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 39 vụ phá rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,41 ha (giảm 9,80 ha) so với cùng kỳ năm trước.         1.3. Thủy sản         Kết quả sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh tháng 11/2021 nhìn chung ổn định, tuy có tăng hơn so với tháng trước nhưng lại giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Tổng sản lượng thủy hải sản ước tăng 193 tấn so với tháng trước, trong đó sản lượng khai thác tăng 534 tấn và sản lượng nuôi trồng giảm 341 tấn. Nguyên nhân do trong tháng 10/2021 bị ảnh hưởng bởi bão số 7 và số 8 trên biển nên tàu thuyền hạn chế ra khơi đánh bắt hải sản hơn so với tháng 11/2021. Mặt khác, sản phẩm nuôi trồng cũng đã được thu hoạch từ những tháng trước để tránh thiệt hại do mưa lũ gây ra nên sản lượng nuôi trồng tiếp tục giảm. Tính chung 11 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước tính chỉ tăng nhẹ 1,1% (tăng 566 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua không có nhiều sự thay đổi nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản cũng chỉ giữ được ở mức ổn định, không có nhiều biến động lớn. Những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển.           - Dịch bệnh trên tôm nuôi: Tính từ ngày 15/10 đến ngày 15/11/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà, với diện tích nhiễm bệnh là 0,9 ha và 0,2 ha bệnh hoại tử gan tụy cấp. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại 16 xã thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 45,94 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,22 ha. Đến nay, dịch bệnh đốm trắng trên tôm tại xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà vẫn chưa qua 15 ngày. Ngành chức năng và các hộ nuôi đang tập trung xử lý để kiểm soát không để lây lan dịch bệnh. 2. Sản xuất công nghiệp Trong bối cảnh dịch Covid-19 tái bùng phát trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp công nghiệp Hà Tĩnh đã đã linh hoạt triển khai nhiều giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 11 tháng năm 2021 ước tăng 14,35% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế đóng góp lớn điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của ngành. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) chính thức tháng 10 năm 2021 tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,20%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,65%; sản xuất và phân phối điện giảm 29,35%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,12%. Ước tính tháng 11/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 10/2021 tăng 1,97% và tăng 7,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,39% so với tháng trước và giảm 1,98% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,73% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 11,74%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 55,42% so với tháng trước và giảm 15,24% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,99% so với tháng trước và giảm 1,26% so với cùng kỳ năm trước.   Tính chung 11 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 14,35% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,41%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,55%, đóng góp 15,8 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,03%, làm giảm 1,37 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,21%, làm giảm 0,19 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 11 tháng năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai thác quặng kim loại tăng 47,06%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 28,56%; sản xuất kim loại tăng 22,87%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 22,36%.                      Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 11 tháng năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai thác quặng kim loại tăng 47,06%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 28,56%; sản xuất kim loại tăng 22,87%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 22,36%. Bên cạnh đó có 9 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 11 tháng năm 2021 giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 27,96%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 10,11%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 9,08%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí giảm 7,03%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 3,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 1,93%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 1,49%; sản xuất trang phục giảm 1,07%; sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất giảm 0,85%.  3. Đầu tư Trong tháng 11 vừa qua tình hình thời tiết khá thuận lợi, mặc dù dich Covid-19 diễn biến khá phức tạp, số ca trong cộng đồng ngày một tăng; song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, tình hình dịch vẫn nằm trong kiểm soát và được khống chế, đảm bảo an toàn cho sản xuất, kinh doanh; một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ; các Sở, ban ngành, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ. Bên cạnh đó, bám sát dự án, quyết liệt trong công tác giải phóng mặt bằng để đảm bảo đúng tiến độ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Vì vậy tổng vốn đầu tư thực hiện tháng 11/2021 tăng 6,85% so với tháng trước và tăng 113,95% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2021 ước đạt 875,72 tỷ đồng, tăng 6,85% so với tháng trước và tăng 113,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 729,47 tỷ đồng, tăng 11,74% so với tháng trước và tăng 215,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 93,25 tỷ đồng, giảm 8,46% so với tháng trước và giảm 32,59% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 53 tỷ đồng, giảm 18,36% so với tháng trước và tăng 87,96% lần so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nguồn vốn, bao gồm các nguồn vốn chính là nguồn cân đối ngân sách tỉnh và nguồn vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu. Nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh được giao từ đầu năm và được bổ sung hàng tháng đến thời điểm tháng 11 là 1.155,8 tỷ đồng và thực hiện đạt 87,21% kế hoạch năm; vốn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu được giao là 3.279,93 tỷ đồng và thực hiện đạt 80,85% kế hoạch năm. Tính đến tháng 11, các công trình xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã đã vào giai đoạn hoàn thành và hoàn tất thủ tục thanh toán giải ngân vốn cuối năm, vì vậy giá trị thực hiện đầu tư công trình thuộc nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã giảm dần trong các tháng cuối năm. Nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đấy mạnh thi công trong các tháng cuối năm để kịp tiến độ đề ra, đặc biệt là chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới “xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu”, phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021 các địa bàn đăng ký ban đầu. Do đó, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 11/2021 tăng 6,85% so với tháng trước. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 11, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp; từ đầu tháng xuất hiện nhiều ca F0 trong cộng đồng, tuy nhiên các cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn được phép hoạt động theo Nghị quyết số 128/NQ-CP quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” nhưng không vượt quá 50% công suất, không quá 30 người trong cùng thời điểm và chỉ được hoạt động đến 21 giờ đêm, cộng với tâm lý e ngại của người dân dẫn đến hoạt động thương mại, dịch vụ toàn tỉnh chưa có nhiều biến chuyển. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn thời gian qua tiếp tục có những tín hiệu khả quan, nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn còn giảm khá sâu. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2021 đạt 3.482,11 tỷ đồng, tăng 2,41% so với tháng trước và giảm 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng doanh thu lớn tăng so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm tăng 3,36%; xăng dầu các loại tăng 2,22%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 4,97%. Bên cạnh đó, có 4/12 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước, trong đó giảm mạnh ở 2 nhóm hàng là phương tiện đi lại giảm 10,49%; và vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 5,73%. Tính chung 11 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 37.992,14 tỷ đồng, mặc dù có tăng nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (tăng 3,29%) và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: Nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 37,26%; đá quý, kim loại quý tăng 28,30%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 26,57%; xăng, dầu các loại tăng 21,47%. Nguyên nhân chính của việc tăng doanh thu chủ yếu do việc tăng giá cao của các mặt hàng trên trong khoảng thời gian từ đầu năm đến nay. Bên cạnh những mặt hàng có mức tăng cao thì nhóm hàng lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng cao trong doanh thu giảm 2,19% so với cùng kỳ.  - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2021 ước đạt 210,90 tỷ đồng, giảm 12,18% so với tháng trước, giảm 46,78% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2021 ước đạt 83,13 tỷ đồng, giảm 1,74% so với tháng trước và giảm 43,80% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ lữ hành đến tháng 11 vẫn tạm ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu.  Tính chung 11 tháng năm 2021, doanh thu hoạt động l­ưu trú, ăn uống ước đạt 3.229,52 tỷ đồng, giảm 46,65%; du lịch lữ hành ước đạt 7,35 tỷ đồng, giảm 29,65%; hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.239,75 tỷ đồng, giảm 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động dịch đến nay đạt mức thấp nhất trong mấy năm gần đây, việc xuất hiện những ca F0 trong cộng đồng càng khiến hoạt động của dịch vụ này vừa có tín hiệu khả quan nay lại càng khó khăn hơn.  4.2. Hoạt động vận tải  Kinh doanh vận tải vẫn được hoạt động với điều kiện đảm bảo phòng chống dịch nên tình hình kinh doanh vận tải tháng 11 khả quan hơn so với tháng 10 năm 2021. Kinh doanh vận tải hành khách vẫn hoạt động tối đa 50% công suất, so với vận tải hành khách thì hoạt động vận tải hàng hóa ít bị ảnh hưởng hơn bởi dịch Covid-19. Tuy nhiên, tính chung 11 tháng hoạt động vận tải vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước.    - Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 11/2021 ước đạt 34,34 tỷ đồng, tăng 5,94% so với tháng trước và giảm 74,87% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 402,89 nghìn HK, tăng 5,2% so với tháng trước và giảm 78,34% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 62.892,91 nghìn HK.km, tăng 5,71% so với tháng trước, giảm 80,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng ước đạt 784,22 tỷ đồng, giảm 40,91%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10.987,4 nghìn HK, giảm 40,16% và luân chuyển đạt 1.181.606,4 nghìn HK.km, giảm 44,37%.  - Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 11/2021 ước đạt 225,54 tỷ đồng, tăng 6,07% so với tháng trước và giảm 8,27% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 2.537,4 nghìn tấn, tăng 5,35% so với tháng trước và giảm 8,43% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 67.207,2 nghìn tấn.km, tăng 5,5% so với tháng trước và giảm 8,44% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng ước đạt đạt 2.411,86 tỷ đồng, giảm 7,86%; khối lượng vận chuyển ước đạt 26.747,3 nghìn tấn, giảm 8,49% và luân chuyển ước đạt 681.378,1 nghìn tấn.km, giảm 10,09%.  - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Ước tính tháng 11/2021 đạt 74,66 tỷ đồng, giảm 4,11% so với tháng trước và giảm 14,42% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng ước đạt 796,72 tỷ đồng, tăng 15,84% so với cùng kỳ năm trước.  4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa  Dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, bằng các giải pháp linh hoạt vừa phòng dịch, vừa ổn định sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tháng 11 và 11 tháng năm 2021  duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước.  - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 11/2021 ước đạt 178,5 triệu USD, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 37,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 163,05 triệu USD tăng 6,17% so với tháng trước và tăng 26,36% so với cùng kỳ; sợi, dệt và hàng may mặc đạt 1,5 triệu USD giảm 4,46% so với tháng trước và tăng 1.053,85% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 4,0 triệu USD giảm 16,49% so với tháng trước.  Cộng dồn 11 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.877,16 triệu USD, tăng 75,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 92,22%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Bên cạnh các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng như: Thép, may, sợi dệt, dăm gỗ…thì gạo là mặt hàng xuất khẩu duy nhất có kim ngạch giảm 59,30% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu từ các nước nhập khẩu gạo truyền thống bắt đầu có xu hướng tăng trở lại so với tháng trước tuy nhiên vẫn đang ở mức thấp so với cùng kỳ năm trước.  - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 11/2021 ước đạt 270 triệu USD, tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 103,07% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Cộng dồn 11 tháng năm 2021, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.090,57 triệu USD, tăng 71,51% so với cùng kỳ năm trước.  Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong tháng tới, do chính sách đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép giai đoạn sau Covid-19. Cùng với đó tỉnh sẽ tiến hành tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu của tỉnh như hàng nông, lâm, thủy sản phù hợp với tình hình diễn biến của dịch bệnh trên địa bàn, đặc biệt là qua kênh thương mại điện tử.  5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)         Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2021 tăng nhẹ so với tháng trước, tăng chủ yếu ở nhóm giao thông từ việc trở lại hoạt động của loại hình kinh doanh vận tải cộng với việc giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng theo sự điều chỉnh của các cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường.       - CPI tháng 11 năm 2021 tăng 0,48% so với tháng trước, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,69% so với tháng trước, tăng 1,56% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,39% so với tháng trước và tăng 1,21% so với cùng kỳ năm trước.           Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó tăng mạnh nhất ở các nhóm hàng: Giao thông tăng 2,81%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,80%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,55%. 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm không đáng kể so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,07%. 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Thuốc và dịch vụ y tế va nhóm giáo dục.          - Tính chung CPI 11 tháng năm 2021, chỉ số chung 101,49% (tăng 1,49%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,02%; nông thôn tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến, chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 12/2021 tăng hơn so tháng 11/2021. Giá gạo và thịt gia súc có thể tăng cao trong thời gian tới, khi sức ép từ việc chi phí vận chuyển tăng ảnh hưởng đến giá thành hàng hóa. Bên cạnh đó, giá các nhóm hàng may mặc, hàng điện tử, đồ dùng gia đình tiếp tục tăng khi nhiệt độ thời tiết dự kiến giảm mạnh, trong thời gian tới giá điện, nước sinh hoạt xu hướng tiếp tục giảm.       - Chỉ số giá vàng tăng 4,2% so với tháng trước, giảm 1,14% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,97% so với tháng trước, tăng 0,89% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng so tháng trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.382 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.341.039 đồng/100 USD.         6. Các vấn đề xã hội Hà Tĩnh đang ở dịch cấp độ 2 - nguy cơ trung bình. Theo đó, Sở VH-TT&DL Hà Tĩnh hướng dẫn tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh kể từ ngày 23/10 cho đến khi có quy định mới.          6.1. Giáo dục           Năm học này, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục hướng đến học sinh phát triển toàn diện. Các cuộc thi được tổ chức để hướng đến mục tiêu trên, cụ thể, ngày 04/11/2021, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Công thương và Công ty Điện lực Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức hội thi “Tìm hiểu kiến thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong trường học năm 2021”, hội thi đã tạo sân chơi bổ ích, giúp nâng cao kiến thức, hiểu biết cho các em học sinh về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.           Ngày 13/11/2021, Tỉnh đoàn phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức lễ tuyên dương “Nhà giáo trẻ tiêu biểu”, “Sinh viên 5 tốt”, “Học sinh 3 tốt”, “Học sinh 3 rèn luyện” năm 2021. Để đảm bảo an toàn phòng dịch, ban tổ chức đã trao chứng nhận và giải thưởng cho 16 đại biểu (tới từ TP Hà Tĩnh, các huyện Lộc Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên) đại diện cho 68 gương mặt tiêu biểu (20 gương “Nhà giáo trẻ”, 30 gương “Học sinh 3 tốt”, 14 gương “Sinh viên 5 tốt” và 4 gương “Học sinh 3 rèn luyện”). Các cá nhân còn lại sẽ được các huyện, thị, thành Đoàn và Đoàn trực thuộc trao tuyên dương trong các chương trình cấp cơ sở, đảm bảo trang trọng, ý nghĩa. Cũng trong dịp này, Quỹ Học bổng VAS - Vươn cao tinh thần Việt thuộc Công ty Giang thép Nghi Sơn phối hợp Tỉnh đoàn trao tặng 10 máy tính xách tay trị giá 120 triệu đồng, hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn học tập trực tuyến.          6.2. Hoạt động Y tế          - Tình hình dịch Covid-19: Hà Tĩnh đánh giá cấp độ dịch ở cấp 2 - nguy cơ trung bình. Cấp huyện, có 9/13 đơn vị cấp độ 1, có 4/13 đơn vị cấp độ 2 (thành phố Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh, TX Kỳ Anh, TX Hồng Lĩnh). Cấp xã có 195/216 đơn vị cấp độ 1, có 18/216 đơn vị cấp độ 2, có 2/216 đơn vị cấp độ 3 (phường Hưng Trí - thị xã Kỳ Anh và xã Lâm Hợp - huyện Kỳ Anh), có 1/216 cấp độ 4 (xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh).          Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến 18h ngày 22/11/2021 là 875 ca mắc, đặc biệt từ ngày 04/11/2021 đến 22/11/2021 phát hiện 275 ca, trong đó 96 ca cộng đồng, 52 ca trong các khu vực phong tỏa và 127 ca F0 từ các tỉnh miền Nam về trên địa bàn tỉnh được cách ly ngay. Để chủ động đối phó với tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, ngăn chặn có hiệu quả, không để dịch bệnh lây lan rộng, bảo đảm an toàn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh, Vì vậy, ngày 14/11/2021 Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 7649 /UBND-VX1 về việc tạm dừng một số dịch vụ, hoạt động để phòng, chống dịch COVID-19, theo đó tạm dừng các hoạt động, dịch vụ: Karaoke, xông hơi, massage, bi-a, các điểm cung cấp trò chơi điện tử, điểm truy cập internet công cộng trên địa bàn toàn tỉnh (các cơ sở kinh doanh dịch vụ quán bar, vũ trường vẫn tiếp tục dừng hoạt động).          Dự báo tình hình dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh có thể có diễn biến phức tạp do xuất hiện một số ca bệnh cộng đồng chưa rõ nguồn lây, liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều địa điểm, nhiều lĩnh vực phức tạp như các cơ sở kinh doanh, trường học,...; đặc biệt cần cảnh giác với các yếu tố nguy cơ như: Số lượng người dân về từ các tỉnh, thành phía nam về và đi qua địa bàn tỉnh sẽ tăng lên với số lượng rất lớn; một số người đã tiêm 2 mũi vắc xin vẫn có khả năng mắc bệnh, có nguy cơ lây lan; tình hình dịch ở một số tỉnh lân cận có diễn biến phức tạp, vẫn còn xuất hiện các ca cộng đồng.         - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều ca mắc bệnh đơn lẻ, cụ thể: 01 ca sốt xuất huyết, 7 ca mắc bệnh quai bị, 15 ca mắc lỵ trực trùng; 67 ca mắc lỵ a míp; 15 ca mắc bệnh thủy đậu, 859 ca mắc bệnh cúm. Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết vì do các bệnh trên trên. So với cùng kỳ năm trước: Giảm 6 ca sốt xuất huyết, giảm 2 ca mắc bệnh quai bị, tăng 15 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, tăng 33 ca mắc bệnh lỵ amíp, giảm 51 ca mắc bệnh thủy đậu, giảm 849 ca mắc cúm.          - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Tính từ ngày 16/10-15/11/2021, Hà Tĩnh có 8 người nhiễm mới HIV (tăng 5 người so với cùng kỳ năm 2020), 6 người chuyển thành AIDS (tăng 3 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS.         - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 66 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: giảm 2 vụ ngộ độc tập thể, giảm 15 ca ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 29 ca (giảm 30,53%), số ca tử vong không thay đổi.         6.3. Hoạt động văn hóa - thể thao         - Hoạt động văn hóa: Dân ca ví giặm Nghệ - Tĩnh là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Với mong muốn phát huy vai trò của ngành văn hóa trong cuộc chiến này, đặc biệt là vai trò của dân ca ví giặm. Vì vậy, tổ khúc dân ca ví giặm “Can Lộc chung tay đẩy lùi COVID-19” ra đời và tạo được hiệu ứng tích cực trong cộng đồng, trở thành bài tuyên truyền phòng chống dịch tại các địa phương trên toàn tỉnh. “Nhiều cụ già, em nhỏ, khi nghe ca khúc đã bày tỏ mong muốn được học lời bài hát, được học hát dân ca ví giặm”. Từ tổ khúc dân ca ví, giặm về phòng chống dịch đầu tiên ấy, phong trào sáng tác lời mới cho làn điệu dân ca truyền thống để phục vụ công tác tuyên truyền đã lan tỏa ở nhiều trường học trên địa bàn Can Lộc như: THCS Xuân Diệu, Mầm non Hoa Hồng, Mầm non Trung Lộc….         - Công tác quản lý nhà nước: Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 02 cuộc kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Công ty Cổ phần Golf Xuân Thành. Đã cấp 22 giấy phép, trong đó có 17 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 05 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.         - Hoạt động thể thao: Do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên các giải thể thao thành tích cao không diễn ra theo kế hoạch. Các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ. Người tham gia hoạt động tập luyện thể dục thể thao ngoài trời, trong nhà đáp ứng điều kiện đã tiêm ít nhất 01 liều vắc-xin ngừa COVID-19 thời gian đủ 14 ngày trở lên, hoặc đã khỏi bệnh COVID-19 trong vòng 6 tháng, hoặc có giấy xét nghiệm âm tính với COVID-19 theo quy định của Sở Y tế.          6.4. Tai nạn giao thông          Tính từ ngày 15/10 - 14/11/2021, Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 7 người, bị thương 8 người, thiệt hại tài sản trên 50 triệu đồng. Giảm 1 vụ tai nạn và tăng 3 người bị thương, nguyên nhân chủ yếu do người tham gia giao thông không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép. Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra.          Cộng dồn từ đầu năm đến ngày 14/11/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 98 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 8 vụ so với cùng kỳ), làm chết 83 người (giảm 9 người) và bị thương 42 người (giảm 4 người). Như vậy tính chung 11 tháng năm 2021 tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, vẫn rất cần tuyên truyền nâng cao ý thức người dân nhất là vào những tháng cuối năm.          6.5. Thiệt hại thiên tai  Từ ngày 18/10 - 18/11/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 01 vụ thiên tai (gió mạnh trên biển) tuy không có thiệt hại về người nhưng thuyền, máy móc, ngư lưới cụ bị chìm trên biển chưa tìm kiếm được, tổng thiệt hại dự kiến 92 triệu đồng. So với cùng kỳ tháng trước giảm 2 vụ, 6 người chết và 41 người bị thương.  Tính chung 11 tháng năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 12 đợt thiên tai đã làm 3 người chết, 4 người bị thương; 666 nhà bị hư hỏng; 12.025,8 ha lúa; 1.452,7 ha hoa màu; 900 con gia cầm, 3 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 187.280 triệu đồng. Trong đó, vụ gây ảnh hưởng nặng nề nhất là vụ mưa lũ do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 8 và của không khí lạnh, kết hợp với rìa bắc dải hội tụ nhiệt đới nên từ ngày 15/10 - 18/10/2021 đã làm 199 nhà bị hư hại, 60 ha lúa, 552,4 ha hoa màu, 500 con gia cầm bị cuốn trôi và chết…tổng thiệt hại ước tính 140.113 triệu đồng.  6.6. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ  - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/10/2021 đến ngày 14/11/2021 đã xảy ra 9 vụ cháy (tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm trước), không có thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại ước tính là 88 triệu đồng, các vụ cháy chủ yếu là do chập điện. Trong tháng không xảy ra vụ nổ nào. Tính chung 11 tháng năm 2021, xảy ra 62 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2.741 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 5 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa.  - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/10 đến ngày 14/11/2021 đã phát hiện 14 vụ, đã xử lý 6 vụ, tổng số tiền xử phạt 97,5 triệu đồng, so với cùng kỳ năm 2020 tăng 7 vụ đã phát hiện, tăng 1 vụ đã xử lý, số tiền xử phạt tăng 55 triệu đồng. Các vụ vi phạm trong tháng chủ yếu là việc xử lý chất thải của dự án, xả nước thải có chứa thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật; việc đánh bắt thủy sản bằng xung điện là một cách khai thác phản khoa học, có tác hại lâu dài phá hủy sinh cảnh, gây ô nhiễm môi trường sống của các loài thủy sản. Vì vậy, Hà Tĩnh đã tăng cường truy quét đấu tranh các đối tượng sử dụng hình thức nói trên. Tính chung 11 tháng năm 2021, đã phát hiện 143 vụ, đã xử lý 102 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.397,35 triệu đồng, so với cùng kỳ năm 2020 tăng 102 vụ đã phát hiện, tăng 65 vụ đã xử lý, tăng 1.139,85 triệu đồng.   Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Báo cáo Kinh tế-Xã hôi tháng 10 và 10 tháng năm 2021
  •   26/07/2024 11:37

1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng mười diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi cho cây trồng; nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất đã không chủ động được nước tưới, một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Các địa phương trong tỉnh tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2021; trong chăn nuôi tuy đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn còn chậm; tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất - chế biến - tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản.         1.1. Sản xuất nông nghiệp         - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 10/2021 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2021.          + Kết quả sản xuất vụ Mùa: Sản xuất vụ Mùa 2021 diễn ra trong tình hình thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới. Tuy người dân đã chủ động gieo trồng đúng lịch thời vụ nhưng do ảnh hưởng của thời tiết nên một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2021 ước tính đạt 1.308 ha, bằng 98,08% (giảm 25 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình sản xuất vụ Mùa hàng năm trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết diễn biến thất thường, Bên cạnh đó, vụ Mùa hàng năm không phải là vụ sản xuất chính mà chủ yếu với mục đích sản xuất để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân. Vì vậy người dân chưa mặn mà trong việc đầu từ vào sản xuất + Tiến độ sản xuất vụ Đông 2021: Hiện nay, bà con nông dân đang tích cực gieo trồng các loại cây vụ Đông 2021. Ước tính đến ngày 15/10/2021, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm đạt được như sau: Diện tích ngô lấy hạt 655 ha/3.726 ha, đạt 17,6%; khoai lang 326 ha/1.480 ha, đạt 22%; rau các loại 1.788 ha/4.558 ha, đạt 39,2%. Thời gian này trên địa bàn Hà Tĩnh đang có mưa lớn do ảnh hưởng của bão số 8 nên cũng đã ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất các loại cây trồng vụ Đông 2021. + Tình hình sâu bệnh và thiệt hại: Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Nhận định tình hình thời tiết năm nay, theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn Hà Tĩnh từ nay đến hết năm 2021 có khoảng 2-4 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta; tháng 11-12 nhiệt độ khu vực Bắc Trung bộ thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,50C; không khí lạnh có xu hướng hoạt động sớm gia tăng tần suất và cường độ trong tháng 11, hoạt động mạnh hơn trong tháng 12/2021 và tháng 01/2022; mùa mưa có khả năng kết thúc muộn, tổng lượng mưa tháng 10/2021 phổ biến cao hơn so với trung bình nhiều năm từ 30-50%. Vì vậy, sản xuất vụ Đông 2021 đang đứng trước nguy cơ rủi ro lớn do các yếu tố thời tiết bất thuận và diễn biến phức tạp của các đối tượng dịch hại cây trồng.          - Chăn nuôi          Tình hình chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 10 năm 2021 vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Đàn bò, lợn tuy đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn còn chậm. Tổng đàn bò hiện có ước giảm 2,5% và đàn lợn giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên việc tiêu thụ lợn hơi ra địa bàn ngoài tỉnh gặp khó khăn, trong khi giá lợn hơi lại đang xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm đến nay với mức giao động từ 40-43 ngàn đồng/kg, giảm hơn 10 ngàn đồng/kg so với tháng trước, trong khi các chi phí chăn nuôi không giảm nên các trang trại chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, để chuẩn bị đáp ứng nguồn cung thực phẩm cho dịp tết Nguyên đán sắp tới nên các hộ vẫn duy trì và phát triển đàn vật nuôi. Thời gian tới, bên cạnh nguy cơ dịch bệnh thì diễn biến phức tạp của thiên tai, lũ lụt cũng luôn là những khó khăn thách thức đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn.                    Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 17/10/2021, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 128 xã, thuộc 13 huyện, thành phố, thị xã với tổng số lợn mắc bệnh là 15.212 con, trong đó có 14.145 con chết, tiêu hủy với trọng lượng 1.136,9 tấn. Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn 16 xã thuộc 7 huyện, thành phố (Hương Khê, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ và thành phố Hà Tĩnh) đang có các ổ dịch chưa qua 21 ngày kể từ con lợn bị tiêu hủy cuối cùng; dịch LMLM gia súc đã xảy ra tại 05 xã, thuộc 03 huyện (Lộc Hà, Hương Khê, Đức Thọ), làm cho 396 con gia súc mắc bệnh, hiện nay dịch đã qua 21 ngày; dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò đã xẩy ra tại 208 xã, phường, thị trấn của 13 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh làm 17.686 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó có 2.949 con bị chết, hiện nay dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được dập tắt; dịch Cúm gia cầm (H5N6) xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà làm 9.720 con gia cầm mắc bệnh bị tiêu hủy và dịch cúm gia cầm H5N8 xảy ra tại 01 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên làm 3.147 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy. Hiện nay, các ổ dịch cúm gia cầm đã qua 21 ngày. Tuy dịch bệnh cơ bản được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao và luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho người chăn nuôi.         Kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/10/2021: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 129.536 liều, đạt 83,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 125.700 liều, đạt 83,6% kế hoạch; dịch tả lợn 145.111 liều, đạt 68,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 144.0853 liều, đạt 69,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 136.733 liều, đạt 98,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,056 triệu liều, đạt 35,5% kế hoạch. 1.2.   Lâm nghiệp Trong tháng 10/2021, kết quả sản xuất lâm nghiệp giảm hơn so với tháng trước. So với cùng kỳ năm 2020 thì diện tích rừng trồng tập trung tháng 10/2021 giảm 4,05% (giảm 71 ha) và sản lượng gỗ khai thác tăng 4,25% (tăng 2.326 m3); so với tháng trước thì diện tích rừng trồng tập trung giảm 6,81% (giảm 123 ha) và sản lượng gỗ khai thác cũng giảm 4,46% (giảm 3.299 m3). Nguyên nhân do trong tháng 10/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh có mưa lớn bởi ảnh hưởng của bão số 8 nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp gặp khó khăn hơn. Thời gian tới, khi bước vào mùa bão lũ thì cũng là thời điểm mà các chủ rừng sản xuất sẽ thu hoạch các sản phẩm để tránh thiệt hại. Cùng với đó, các chính sách phòng chống dịch Covid-19 được thực hiện một cách linh hoạt hơn, các doanh nghiệp chế biến lâm sản tăng lượng cầu nguyên liệu nên sản lượng gỗ khai thác dự kiến sẽ tăng hơn.Trong tháng không xẩy ra cháy rừng mà chỉ xẩy ra 3 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 0,793 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 34 vụ phá rừng (giảm 12 vụ), với diện tích rừng bị phá là 11,266 ha (giảm 10,938 ha) so với cùng kỳ năm trước.         1.3. Thủy sản         Kết quả sản xuất thủy sản tháng 10/2021 giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng 10/2021 giảm 86 tấn, trong đó sản lượng khai thác giảm 33 tấn và sản lượng nuôi trồng giảm 53 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trong tháng 10/2021 bị ảnh hưởng bởi bão số 7 và số 8 trên biển nên tàu thuyền hạn chế ra khơi đánh bắt hải sản. Mặt khác, sản phẩm nuôi trồng cũng đã được thu hoạch từ những tháng trước để tránh thiệt hại do mưa lũ gây ra nên sản lượng nuôi trồng cũng giảm mạnh. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước tính chỉ tăng nhẹ 1,51% (tăng 702 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cũng như các hoạt động kinh tế khác, năm 2021 do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 làm cho giá bán sản phẩm thủy sản giảm mạnh, nhất là đối với sản phẩm tôm nuôi nên người nuôi tôm gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, chi phí nhiên liệu, nhân công tăng trong khi năng lực sản xuất không tăng là những hạn chế trong phát triển sản xuất thủy sản. Những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên hoạt động sản xuất thủy sản sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển.          Dịch bệnh trên tôm nuôi: Tính từ ngày 15/9 đến ngày 15/10/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại 3 xã ở thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Thạch Hà, với diện tích nhiễm bệnh là 3,89 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2021, bệnh đốm trắng đã xảy ra tại 16 xã, thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 45,04 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,02 ha. Đến nay, tình hình dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát không để lây lan. 2. Sản xuất công nghiệp Tính đến tháng 10 năm 2021, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh ghi nhận mức tăng khá. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã linh hoạt triển khai nhiều giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 10 tháng năm 2021 ước tăng 15,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế đóng góp lớn điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của ngành. - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) chính thức tháng 9 năm 2021 tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,18%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,03%; sản xuất và phân phối điện giảm 44,33%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,39%. - Ước tháng 10/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 9/2021 tăng 8,08% và tăng 6,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,77% so với tháng trước và tăng 5,39% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,07% so với tháng trước và tăng 9,87% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 25,08% so với tháng trước và giảm 17,21% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,28% so với tháng trước và tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 10 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 15,28% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,53%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,55%, đóng góp 16,48 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,61%, làm giảm 1,12 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,4%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.   Là doanh nghiệp đóng góp quan trọng cho kinh tế Hà Tĩnh, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) cũng đã siết chặt công tác phòng dịch, thực hiện phương án “3 tại chỗ” để ổn định sản xuất. Trong 10 tháng, sản lượng thép ước đạt 4,5 triệu tấn, tăng 25,2% so với cùng kỳ năm 2020. Hiện tại, FHS đang hoàn tất thủ tục pháp lý để triển khai đầu tư xây dựng khu gia công phụ trợ với số vốn 80 triệu USD. 3. Đầu tư Trong tháng 10 vừa qua tình hình thời tiết khá thuận lợi, Dich Covid-19 được khống chế, đảm bảo an toàn cho sản xuất, kinh doanh; một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ; các Sở, ban ngành, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ. Bên cạnh đó, bám sát dự án, quyết liệt trong công tác giải phóng mặt bằng để đảm bảo đúng tiến độ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Mặt khác, cùng kỳ năm trước, thời tiết không thuận lợi, mưa nhiều, địa bàn Hà Tĩnh ngập úng trên diện rộng. Một số huyện ngập sâu trong nhiều ngày, do đó các công trình thi công trên địa bàn tạm dừng thi công. Vì vậy tổng vốn đầu tư thực hiện tháng 10/2021 tăng 22,01% so với tháng trước và tăng 140,32% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2021 ước đạt 861,57 tỷ đồng, tăng 22,01% so với tháng trước và tăng 140,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 675,3 tỷ đồng, tăng 24,46% so với tháng trước và tăng 178,37% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 111,6 tỷ đồng, tăng 14,21% so với tháng trước và tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 74,66 tỷ đồng, tăng 13,44% so với tháng trước và tăng 9,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2021, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.875,49 tỷ đồng, tăng 30,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh 3.691,85 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 75,72% trong tổng vốn, tăng 53,21% so với cùng kỳ; nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã chiếm 24,28% chủ yếu là nguồn vốn thu từ quỹ sử dụng đất, so với cùng kỳ năm trước nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã lần lượt tăng 77,37% và 16,29%. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 10 năm 2021, tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ đang có những dấu hiệu khởi sắc sau thời gian dài gặp khó khăn bởi dịch Covid-19. Ngày 22/9/2021, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 6255/UBND-VX1 về việc cho phép hoạt động trở lại một số dịch vụ như: Dạy học và ăn bán trú đối với bậc mầm non; dịch vụ nhà hàng, quán ăn, quán cà phê, các tuyến xe buýt nội tỉnh và dịch vụ cắt tóc gội đầu bắt đầu được hoạt động trở lại từ 0 giờ ngày 23/9/2021. Cùng với đó, Quyết định tạm dừng Chỉ thị 15, Chỉ thị 16, và Chỉ thị 19 trên toàn quốc cũng ảnh hưởng tích cực đến hoạt động thương mại, dịch vụ toàn tỉnh. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn thời gian qua tiếp tục có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10/2021 đạt 3.162,37 tỷ đồng, tăng 1,48% so với tháng trước và giảm 16,35% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng doanh thu lớn tăng mạnh so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm chiếm 46,71% tăng 3,47%; xăng dầu các loại chiếm 9,94% tăng 4,62%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 9,01% tăng 3,60%, nhóm hàng may mặc tuy chiếm tỷ trọng không cao 4,2% nhưng có mức tăng cao nhất 10,76% trong các nhóm mặt hàng. Nguyên nhân do tháng vừa qua các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống ngoài gia đình hoạt động trở lại mạnh mẽ, và sự tăng giá nhiên liệu như xăng, dầu, khí đốt các loại. Bên cạnh đó, có 4/12 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước, giảm sâu nhất ở nhóm ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) với 13,04%, do chưa có nhiều mẫu xe mới mở bán và tâm lý người dân có xu hướng chờ đợi dịp cận Tết mới mua sắm các loại phương tiện giao thông. Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 34.272,39 tỷ đồng, tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, một số nhóm có mức tăng khá như: hàng may mặc tăng 16,49%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 13,32%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 27,01%; xăng dầu các loại tăng 20,27%; nhiên liệu khác tăng 38,59%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 29,45%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 12,36% so với cùng kỳ năm trước. Ben cạnh những mặt hàng có mức tăng cao thì một số mặt hàng hóa bán lẽ trong 10 tháng vẫn chưa có nhiều khởi sắc; luân chuyển hàng hóa gặp khó khăn, nhất là giữa các địa phương xuất hiện dịch bệnh Covid-19; nhóm hàng lương thực thực phẩm chiếm vị trị chủ đạo giảm 1,78% so với cùng kỳ.  - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 10/2021 ước đạt 229,67 tỷ đồng, tăng 142,86% so với tháng trước, giảm 40,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2021 ước tính đạt 81,89 tỷ đồng, tăng 8,15% so với tháng trước và giảm 43,39% so với cùng kỳ năm trước. Với những quy định nới lỏng hơn trong quy định phòng chống dịch Covid-19, các cơ sở kinh doanh nhà hàng, ăn uống, lưu trú cũng hoạt động dần ổn định, cùng với dịp kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 tăng nhu cầu ăn uống ngoài gia đình. Mặc dù nới lỏng các hoạt động nhưng chính quyền vẫn khuyến cáo người dân hạn chế đi lại và chấp hành 5K, đó là lý do khiến cho hoạt động của các đơn vị kinh doanh lữ hành vẫn tạm ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu.  Tính chung 10 tháng năm 2021, doanh thu hoạt động l­ưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 3.015,49 tỷ đồng, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 1.153,90 tỷ đồng, giảm 7,83%. Mặc dù hoạt động dịch vụ tháng 10 hoạt động trở lại nhưng nhìn chung 10 tháng cũng như cả năm 2021 sẽ khó phục hồi doanh thu so với năm trước. 4.2. Hoạt động vận tải  - Vận tải hành khách: tháng 10/2021, UBND tỉnh đã cho hoạt động thí điểm các tuyến xe khách, xe buýt liên tỉnh, nhu cầu đi lại tăng hơn. Vận tải hành khách tháng 10/2021 ước đạt 32,18 tỷ đồng, tăng 274,84% so với tháng trước và giảm 75,83% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 474,2 nghìn HK, tăng 353,49% so với tháng trước; luân chuyển ước đạt 70.367,1 nghìn HK.km, tăng 480,7% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng ước đạt 749,64 tỷ đồng, giảm 37,03%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10.675,6 nghìn HK, giảm 35,3% và luân chuyển đạt 1.766.585,8 nghìn HK.km, giảm 40,1%. - Vận tải hàng hóa: Do ít bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 so với vận tải hành khách, cùng với nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu sản xuất hàng hóa phục vụ dịp Tết đã bắt đầu. Tháng 10/2021 ước đạt 217,13 tỷ đồng, tăng 9,07% so với tháng trước và giảm 10,32% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2.446,3 nghìn tấn, tăng 7,44% so với tháng trước; luân chuyển ước đạt 58.858,4 nghìn tấn.km, tăng 4,98% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng ước đạt 2.190,82 tỷ đồng, giảm 7,63%; khối lượng vận chuyển ước đạt 24.247,7 nghìn tấn, giảm 8,34% và luân chuyển ước đạt 609.327,8 nghìn tấn.km, giảm 10,97%. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Ước tính tháng 10/2021 đạt 54,64 tỷ đồng, tăng 8,68% so với tháng trước và giảm 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Chung 10 tháng ước đạt 698,86 tỷ đồng, tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, bằng các giải pháp linh hoạt vừa phòng dịch, vừa ổn định sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tháng 10 và 10 tháng năm 2021  duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch xuất khẩu: tháng 10/2021 ước đạt 213,5 triệu USD, giảm 3,74% so với tháng trước và tăng 68,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như: thép, phôi thép ước đạt 193,4 triệu USD giảm 4,17% so với tháng trước, tăng 146,72 so với cùng kỳ năm trước; sợi, dệt và hàng may mặc đạt 1,5 triệu USD tăng 3,45 % so với tháng trước, tăng 219,15% so với cùng kỳ; dăm gỗ đạt 3 triệu USD giảm 2,91% so với tháng trước, giảm 13,04% so với cùng kỳ. Cộng dồn 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.740,5 triệu USD, tăng 84,49 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 92,2%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Bên cạnh các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng như: thép, may, sợi dệt, dăm gỗ…thì gạo là mặt hàng xuất khẩu duy nhất có kim ngạch giảm 59,37% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do thời gian vừa qua thị trường truyền thống giảm tiêu thụ, khâu vận chuyển hàng hóa gặp khó khăn, chi phí logistics tăng cao… bên cạnh đó giá gạo của Việt Nam cao hơn so với các nước xuất khẩu khác. Tuy nhiên trong thời gian tới vơi việc nới lỏng các quy định giãn cách, cùng với nhu cầu từ các nước nhập khẩu gạo truyền thống bắt đầu có xu hướng tăng trở lại. Đây sẽ là một trong những tín hiệu tích cực giúp cho kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này có triển vọng tốt. - Kim ngạch nhập khẩu: tháng 10/2021 ước đạt 298 triệu USD, tăng 10,13% so với trước và tăng 76,61% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Cộng dồn 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.883 triệu USD, tăng 76,5 % so với cùng kỳ năm trước. Dự báo hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong những tháng cuối năm khi mà Hiệp định tự do thương mại (FTA) đang dần được thực thi hiệu quả hơn…tạo điều kiện để hàng hóa của Hà Tĩnh thâm nhập vào các thị trường các nước với thuế quan ưu đãi, qua đó thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, giá hàng hóa xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng, nhất là các mặt hàng thế mạnh của Hà Tĩnh sẽ là động lực quan trọng để gia tăng giá trị xuất khẩu. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua đã làm sức sản xuất hàng hóa giảm khiến nguồn cung ứng một số nhóm hàng hóa bị ảnh hưởng đã tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng mười và 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó giá thịt lợn hơi và giá mặt hàng thủy sản giảm mạnh so với tháng trước là nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng trong tháng giảm so với tháng trước. CPI tháng 10 năm 2021 giảm 0,83% so với tháng trước, tăng 0,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị giảm 0,5% so với tháng trước, tăng 0,77% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn giảm 0,97% so với tháng trước, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước: may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,49%; giao thông tăng 1,63%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,1%. 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,8%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,68%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%. 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 10 năm 2021 là: (1) yếu tố thời tiết chuyển mùa, nền nhiệt giảm mạnh khiến nhu cầu các nhóm hàng may mặc, đồ dùng gia đình, điện, nước sinh hoạt có sự thay đổi; (2) giá nhiên liệu xăng dầu tăng theo sự điều chỉnh của các cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (3) dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua đã làm sức sản xuất hàng hóa giảm khiến nguồn cung ứng một số nhóm hàng hóa bị ảnh hưởng.Chỉ số giá vàng giảm 0,8% so với tháng trước, giảm 3,07% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,26% so với tháng trước, giảm 0,11% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng nhẹ so tháng trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.165 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.318.549 đồng/100 USD. Tính chung CPI 10 tháng đầu năm 2021, chỉ số chung 101,51% (tăng 1,51%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,07%; nông thôn tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 11/2021 tăng hơn so tháng 10/2021. Giá gạo và thịt gia súc có thể tăng trở lại, khi nguồn cung ứng được điều tiết ổn định hơn. Bên cạnh đó, giá các nhóm hàng may mặc, hàng điện tử, đồ dùng gia đình tiếp tục tăng khi nhiệt độ thời tiết dự kiến giảm mạnh trong thời gian tới. Trong khi giá điện, nước sinh hoạt tiếp tục giảm. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Công tác an sinh xã hội Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, cùng sự nỗ lực của người dân, công tác an sinh xã hội, giảm nghèo được đảm bảo; các chế độ, chính sách cho đối tượng Bảo trợ xã hội, trẻ em, hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh được giải quyết kịp thời. Bên cạnh đó, nhằm góp phần hỗ trợ người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, hỗ trợ người sử dụng lao động thích ứng với trạng thái bình thường mới duy trì sản xuất, kinh doanh, ngày 1/7/2021 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp và Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 8/10/2021 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 68/NQ-CP. Theo đó, tính đến ngày 20/10/2021, Hà Tĩnh có 50.514 lượt đối tượng của 9/12 nhóm chính sách đã phát sinh hồ sơ đề nghị hỗ trợ với tổng số tiền 22.964 triệu đồng, gồm: giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (47.719 đối tượng, tổng số tiền 14.552 triệu đồng); tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất (26 đối tượng, 142 triệu đồng); hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương (677 đối tượng, 2.649 triệu đồng); hỗ trợ người lao động ngừng việc (499 đối tượng, 829 triệu đồng); hỗ trợ bổ sung và trẻ em (483 đối tượng; tổng số tiền 483 triệu đồng); hỗ trợ tiền ăn đối với F0, F1 (875 đối tượng, 882 triệu đồng); hỗ trợ viên chức hoạt động nghệ thuật và hướng dẫn viên du lịch (31 đối tượng, 115 triệu đồng); hỗ trợ hộ kinh doanh (198 đối tượng, 594 triệu đồng); hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất (6 đối tượng, 2.719 triệu đồng). Trong đó, số đã được chi trả hỗ trợ 48.374 lượt đối tượng với số tiền 18.215 triệu đồng. 6.2. Giáo dục Để đảm bảo an toàn cho học sinh trong mùa mưa bão, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh trao quyền chủ động cho các phòng GD&ĐT, các nhà trường, địa phương. Theo đó, các đơn vị căn cứ tình hình mưa bão trên địa bàn chủ động cho học sinh nghỉ học, đảm bảo an toàn cho các em; tuyên truyền các bậc phụ huynh quan tâm nhắc nhở, quản lý con em trong thời gian nghỉ học. Tùy vào tình hình thực tế, các trường học chủ động kế hoạch và thời gian để đón học sinh trở lại đồng thời linh hoạt chương trình, kế hoạch dạy bù. Trong tháng do ảnh hưởng của cơn bão số 8 ngày 14/10/2021 hơn 42 ngàn học sinh tại 107 trường học từ mầm non đến THCS thuộc 2 huyện Hương Sơn và Nghi Xuân đã phải nghỉ học. Ngày 18/10/2021 dự báo tình hình thời tiết phức tạp, các hồ đập xả tràn gần 22.500 học sinh tại 53 trường học ở Hà Tĩnh đã nghỉ học. 6.3. Hoạt động Y tế- Tình hình dịch Covid-19: Thực hiện Nghị quyết số 128/NQCP ngày 11/10/2021 của Chính phủ quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” và Quyết định số 4800/QĐ-BYT ngày 12/10/2021 của Bộ y tế về hướng dẫn tạm thời về chuyên môn y tế thực hiện Nghị quyết số 128/NQCP ngày 11/10/2021 của Chính phủ, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã đánh giá và xác định cấp độ dịch trên địa bàn tỉnh ở cấp độ 2- nguy cơ trung bình và ban hành Công văn số 6993/UBND-VX1 về việc quy định áp dụng tạm thời các biện pháp kiểm soát dịch trên phạm vi toàn tỉnh từ ngày 20/10/2021 theo đó các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ được mở cửa hoạt động trở lại (trừ quán bar, vũ trường) và phải tuân thủ đảm bảo các quy định phòng, chống dịch Covid-19. Tính từ 10/7/2021 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 41 ca cộng đồng, 325 ca F0 từ TP Hồ Chí Minh, Bình Dương,...về đã được cách ly ngay. Tổng số ca mắc cộng dồn từ 04/6/2021 đến 18h ngày 20/10/2021 là 508 ca (trong đó có 8 trường hợp nhập cảnh, ngoại tỉnh); 13 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 51, Hương Sơn: 42, Thạch Hà: 64, Lộc Hà: 52, Hồng Lĩnh: 21, Nghi Xuân: 13; Huyện Kỳ Anh: 33; Hương Khê: 42, Đức Thọ: 28, Can Lộc 89, Cẩm Xuyên 44, Vũ Quang 9, TX Kỳ Anh 12. Tình hình điều trị ca bệnh dương tính: Tính đến ngày 20/10/2021 điều trị khỏi 460 bệnh nhân (BN) trong đó tại Hà Tĩnh 397 BN, Chuyển Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 63 BN; có 5 BN tử vong. Kết quả truy vết xét nghiệm: cộng dồn F1 từ 4/6 đến ngày 20/10/2021 là 4.763 trường hợp, đã hoàn thành cách ly: 4.624 trường hợp; F2 là 27.292 trường hợp. Rà soát, quản lý người đến/về từ vùng dịch tính đến ngày 20/10/2021: Người đến/về từ các vùng dịch đang cách ly, theo dõi là 24.859 người: TPHCM 6.937 người, Bình Dương 9.917 người, Đồng Nai 4.874 người, Hà Nội 2.115 người, từ một số các tỉnh khác là 1.016 người. Trong đó, số hiện đang cách ly tập trung 2.262 người。 -Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xuất hiện các ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca mắc bệnh quai bị, 12 ca mắc lỵ trực trùng; 72 ca mắc lỵ a míp; 7 ca mắc bệnh thủy đậu, 974 ca mắc bệnh cúm, 185 ca tiêu chảy, 11 ca viêm gan vi rút khác, các ca bệnh khác không phát sinh. So với cùng kỳ năm trước: Sốt xuất huyết giảm 14 ca, giảm 6 ca viêm gan siêu vi trùng, số ca mắc bệnh quai bị không đổi, giảm 2 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, tăng 40 ca mắc bệnh lỵ amíp, tăng 7 ca mắc bệnh thủy đậu, giảm 1.134 ca mắc cúm và giảm 5 ca bệnh chân tay miệng. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để đạt được mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030 theo Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS. Trong thời gian qua, Hà Tĩnh đã đẩy mạnh công tác phòng chống dịch HIV/AIDS bằng nhiều hình thức. Đến nay, đã khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư ở mức thấp. Tính từ 16/9-15/10/2021 Hà Tĩnh có 8 người nhiễm mới HIV (tăng 3 người so với cùng kỳ năm 2020), 9 người chuyển thành AIDS (tăng 2 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (giảm 2 ca so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 10 tháng, có 43 trường hợp nhiễm HIV (giảm 23 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 41 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 24 trường hợp) và có 2 trường hợp chết vì AIDS (giảm 4 trường hợp). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được tỉnh quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 16/9- 15/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 83 ca độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 22 ca (giảm 20,95%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/10/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 1006 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 63 ca. 6.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh tổ chức lễ Dâng hương tưởng niệm 201 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du nhằm tưởng nhớ, tôn vinh những giá trị mà Danh nhân văn hóa thế giới để lại cho dân tộc, cho nhân loại. Lễ dâng hương diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn còn phức tạp nên nghi lễ được tổ chức gọn nhẹ, đảm bảo theo đúng phong tục truyền thống văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, UBND thành phố Hà Tĩnh phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo khai mạc tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2021 với chủ đề “Chuyển đổi số để xây dựng thành công một xã hội học tập mới”. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 6 cuộc thanh tra, kiểm tra văn hóa. Thực hiện cấp 43 giấy phép, trong đó có 36 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 7 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng trong thời gian vừa qua đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người. Các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân, và tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế. Dự kiến trong thời gian tới với quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” của Chính phủ, hoạt động thể thao trong cộng đồng và các giải thi đấu thành tích cao trở lại hoạt động hiệu quả trong điều kiện "bình thường mới". 6.5. Tai nạn giao thông Tính từ ngày 15/9/2021 đến ngày 14/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 8 người, bị thương 9 người, thiệt hại tài sản 70 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ, tăng 01 người chết, tăng 04 người bị thương. Cộng dồn từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 89 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 7 vụ so với cùng kỳ), làm chết 76 người (giảm 9 người) và bị thương 35 người (giảm 7 người). Như vậy tính chung 10 tháng đầu năm 2021 tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ năm 2020. 6.6. Thiệt hại thiên tai Để chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại trong mùa mưa bão, tỉnh Hà Tĩnh với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là chủ động phòng, tránh, ứng phó kịp thời và thực hiện nghiêm túc phương châm "4 tại chỗ". Công tác khắc phục, tái thiết sau bão, lũ luôn được tỉnh chú trọng và tập trung cao với phương châm "không để người dân nào bị thiếu lương thực, thực phẩm, nước sinh hoạt, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và Nhân dân”. Tính từ ngày 18/9/2021 đến ngày 18/10/2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 3 vụ thiên tai (ngày 21/9 xảy ra sét đánh huyện Nghi Xuân; ngày 26-26/9/2021 xẩy ra mưa lớn huyện Hương Sơn; ngày 15-18/9/2021 xảy ra 1 đợt mưa lớn kéo dài) làm 1 người chết, 1 người bị thương, 01 con trâu chết, 75 nhà dân bị hư hại, một số tuyến đường giao thông bị ngập từ 0,5-0,8m, có 288 ha rau củ quả; 77,7 ha ngô, khoai vụ Đông; 60 ha lúa mùa; 4.200m2 dưa lưới và hoa cúc; 6 ha sắn bị ngập; 2 ha nuôi tôm; 4 ha cá nước ngọt bị ngập với tổng thiệt hại ước tính 395 triệu đồng. 6.7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/9/2021 đến ngày 14/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 13 vụ cháy, không có người chết và bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 117 triệu đồng; So với cùng kỳ năm trước, tăng 5 vụ cháy, số người chết và bị người không đổi. Tính chung 10 tháng năm 2021, xẩy ra 53 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2.653 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 7 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 14 vụ, xử lý 9 vụ, tổng số tiền xử phạt 78 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: Số vụ đã phát hiện tăng 9 vụ, số vụ đã xử lý tăng 5 vụ, số tiền xử phạt tăng 41,5 triệu đồng. Các lĩnh vực vi phạm trong tháng bao gồm: Vận chuyển, chôn, đổ, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường phát hiện 8 vụ, xử lý 4 vụ với tổng số tiền xử phạt 61,5 triệu; Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường phát hiện 4 vụ và xử lý 2 vụ, với tổng số tiền xử phạt 2 triệu đồng; còn lại là vi phạm khác 2 vụ về sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản, phát hiện 2 vụ, xử lý 3 vụ (trong đó có 01 vụ phát hiện tháng trước), với tổng số tiền là 14,5 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2021, đã phát hiện 129 vụ (tăng 95 vụ so với cùng kỳ) và xử lý 96 vụ (tăng 64 vụ) vi phạm môi trường, với số tiền 1299,85 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép; xử lý các trang trại chăn nuôi lợn, gà không đảm bảo vệ sinh môi trường và sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng mười và 10 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình Kinh tế -Xã hội tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng năm 2021
  •   26/07/2024 11:28

Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế xã hội nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại 9 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, thu hẹp sản xuất; một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi hồi đầu quý I, quý II đã gây thiệt hại không nhỏ đến số lượng, doanh thu của doanh nghiệp, người nông dân..vv Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. 1. Tài chính, ngân hàng 1.1 Hoạt động tài chính Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng năm 2021 gặp nhiều khó khăn do đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư đang gây sức ép nặng nề lên mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Chi ngân sách Nhà nước tập trung ưu tiên hỗ trợ kịp thời để mua sắm vật phẩm, trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh, quốc phòng.  Tổng thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) sơ bộ tính đến ngày 15/9/2021 đạt 10.688,80 tỷ đồng (tăng 53,27% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 5.237,27 tỷ đồng (chiếm 49 % trong tổng thu) giảm 1,03% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh đạt 2.060,63 tỷ đổng giảm 29,62%; các khoản thu về nhà đất đạt 1.693,87 tỷ đổng tăng 57,33% so với cùng kỳ năm 2020. Bên cạnh thu nội địa thì thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng khá so với cùng kỳ sơ bộ đạt 4.701,44 tỷ đồng (chiếm 43,98% tổng thu) tăng 533,12% so với cùng kỳ. Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/9/2021 đạt 15.300,51 tỷ đồng tăng 8,7% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 7.644,49 tỷ đồng chiếm 49,94% tổng chi, tăng 20,30% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 7.649,63 tỷ đồng chiếm 50% tổng chi, giảm 0,85% so với cùng kỳ năm 2020. 1.2 Hoạt động ngân hàng Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở một số địa phương, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã thực hiện hiệu quả đồng bộ các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán tiền mặt cho doanh nghiệp và người dân trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Nhìn chung hoạt động ngân hàng Hà Tĩnh trong 9 tháng năm 2021 tiếp tục ổn định và có bước tăng trưởng.  Kết quả 9 tháng năm 2021, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Ước nguồn vốn huy động đến 30/9/2021 đạt 85.262 tỷ đồng, tăng 21,77% so với đầu năm. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt qua các tháng. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 10.126 tỷ đồng, chiếm 11,88% tổng nguồn vốn huy động, tăng 14,29% so với đầu năm; tiền gửi tiết kiệm ước đạt 57.016 tỷ đồng tăng 6,37%, tiền gửi thanh toán ước đạt 27.798 tỷ đồng tăng 74,54%.   Dư nợ cho vay đến 31/9/2021 đạt 67.697 tỷ đồng, tăng 12,35% so với so với đầu năm. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 44.135 tỷ đồng (chiếm 53,39% tổng dư nợ), tăng 19,78% so với đầu năm; dư nợ trung dài hạn đạt 23,562 tỷ đồng (chiếm 46,61% tổng dư nợ) tăng 0,66%. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 29.952 tỷ đồng, tăng 9,56% so với đầu năm. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 9,18% so với đầu năm, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 222,13% so với đầu năm, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 7,22% so với đầu năm. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 3,1-3,7%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 4- 5,9%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 5,5-6,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 4,5-8,4%/năm, từ 8,4-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Tính đến 31/9/2021 nợ xấu ước tính 516 tỷ đồng, chiếm 0,76% tổng dư nợ (giảm 0,29% so với 6 tháng). Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp, giảm so với các năm trước và nằm trong giới hạn cho phép. 2. Giá cả, lạm phát Tháng 9 củng như 9 tháng năm 2021, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ như: Nhóm hàng lương thực, may mặc, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, lương thực, nhiên liệu xăng dầu, hàng điện tử, đồ uống; Tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động nhập khẩu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hàng điện tử, hàng nông sản, đồ uống từ thị trường nước ngoài như Thái Lan và Trung Quốc gặp khó khăn - CPI tháng 9 giảm 0,64% so với tháng trước và tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 4,1%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,25%; giáo dục tăng 0,02% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,17%; có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,68% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 3,67%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 2,42% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,58%; giao thông giảm 0,32% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 10,32%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,04% so tháng trước, tăng 0,15% so cùng tháng năm trước; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,19% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,61%); có 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông) Một số yếu tố tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 9/2021, đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến trong thời gian dài đã ảnh hưởng lớn đến các khâu cung ứng hàng hóa, dịch vụ và thu nhập chung của người dân; (2) Yếu tố mùa vụ: Gạo và hoa quả giảm giá sau khi lúa vụ Hè Thu và bưởi địa phương cho thu hoạch. Cùng với đó là việc các cơ sở giáo dục, dịch vụ được hoạt động trở lại ảnh hưởng đến các mặt hàng phục vụ các hoạt động trên; (3) Giá nhiên liệu xăng dầu giảm theo sự điều chỉnh của các cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. Giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn tỉnh giảm sau các kỳ điều chỉnh. Trong khi đó, do dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nhiều tuyến xe vận tải hành khách, xe buýt vận tải nội tỉnh phải tạm ngừng hoạt động đến ngày 23/9/2021 mới được phép hoạt động trở lại. Hoạt động vận tải hàng hóa cũng gặp nhiều khó khăn; Chỉ số giá vàng tăng 0,22% so với tháng trước, giảm 3,91% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,26% so với tháng trước, giảm 0,29% so với cùng tháng năm trước. - Tính chung CPI 9 tháng năm 2021 tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,2%; khu vực nông thôn tăng 1,34% so với cùng kỳ năm trước.Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,29%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,76%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,93%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; giao thông tăng 5,61%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; giáo dục tăng 13,39%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,34%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước.Một số yếu tố chính ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm như sau: (1) Giá cả nhóm vật liệu xây dựng và xăng dầu ở mức cao hơn nhiều so cùng kỳ năm trước theo xu hướng của thị trường thế giới; (2) Tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động cung ứng hàng hóa từ các tỉnh khác và nhập khẩu từ nước ngoài gặp khó khăn. Đặc biệt, nguồn tiền của các nhóm đối tượng làm việc tại các khu công nghiệp trong nước và nước ngoài gửi về giảm, thu nhập của người dân chịu ảnh hưởng khiến nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ giảm sút; (3) Dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp, kéo dài đã ảnh hưởng đến nguồn cung ứng ra thị trường và nhu cầu tiêu dùng của người dân. Dự kiến tháng 10/2021, Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dự kiến tăng hơn so tháng 9/2021. Giá gạo và thịt gia súc có thể tăng trở lại, khi vấn đề đầu ra ổn định hơn sau khi các tỉnh khu vực phía bắc ổn định, kiểm soát được dịch bệnh Covid-19. Các nhóm đồ dùng gia đình giá trị cao, hàng điện tử, dịch vụ lữ hành, lưu trú tiếp tục gặp khó khăn. 3. Đầu tư và xây dựng 3.1 Vốn đầu tư phát triển         Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện giai đoạn 2016-2021 liên tục giảm qua các năm. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư, nhưng nay nguồn vốn khu vực này giảm mạnh. Trong 9 tháng năm 2021 kinh tế Hà Tĩnh vẫn gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc thực hiện giãn cách xã hội tại thành phố Hà Tĩnh và phong tỏa 1 số địa bàn các huyện Hương Sơn, Thạch Hà vào đầu tháng 6 vừa qua củng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự án.         Dự ước nguồn vốn 9 tháng năm 2021 đạt 18.263 tỷ đồng, bằng 100,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:         - Nguồn vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.896,8 tỷ đồng, giảm 3,75% so với cùng kỳ năm trước. mặc dù vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng 20,02% so với cùng kỳ năm trước, song do nguồn vốn trái phiếu Chính phủ chuyển đổi đầu tư công, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh do đó vốn đầu tư khu vực Nhà nước giảm 3,75% so với cùng kỳ.        - Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 12.870,4 tỷ đồng, tăng 22,43% so với cùng kỳ. Một dự án ngoài nhà nước hiện đang xây dựng trên địa bàn tỉnh như dự án Nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát với nguồn vốn đầu tư, Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn tiếp tục triển khai sau khi nhập được máy móc thiết bị, Dự án nhà máy thủy điện Ngàn trươi - Cẩm trang đẩy nhanh tiến độ thi công. Ngoài ra, doanh nghiệp ngoài nhà trên địa bàn đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư hệ thống điện mặt trời trên địa bàn cũng tăng mạnh. Bên cạnh đó, dự ước vốn đầu tư hộ dân cư đạt 8.678,8 tỷ đồng tăng 12,07%, nguyên nhân tăng do nguồn lực thi công hộ dân cư chủ yếu là cá thể, nguồn lực lao động tăng do các công nhân nước ngoài về nước, mặt khác giá vật liệu thi công tăng mạnh do đó giá trị xây dựng nhà ở cũng tăng theo.         - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 495,7 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (bằng 19,72%). Nguyên nhân do Dự án Gang thép Formosa chiếm phần lớn tỷ trọng vốn nước ngoài, tuy nhiên dự án này đang giảm dần đầu tư do dự án đã hoàn thành. Ngoài ra dự án khu bến cảng Phonix, Dự án điện mặt trời Sơn Quang tạm ngừng thi công, Dự án điện mặt trời Cẩm Xuyên đã hoàn thành và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh cuối năm 2020. 3.2 Hoạt động Xây dựng 9 tháng năm 2021, Hà Tĩnh cũng như cả nước đang chịu ảnh hưởng của dịch Covid- 19 bùng phát lần thứ 4, một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công do thiếu nguyên vật liệu đầu vào; việc giải phóng mặt bằng chậm, năng lực nhà thầu yếu, giá cả nguyên vật liệu (đặc biệt là thép) tăng cao củng đã ảnh hưởng lớn đến công tác triển khai thi công xây dựng các công trình; trong giải ngân vốn nhà nước vẫn đạt mức độ thấp so với cùng ký năm trước đã làm giảm giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn toàn tỉnh Trong 9 tháng vửa qua, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công; tuy nhiên tình hình thực hiện và giải ngân vốn nhà nước vẫn đạt mức độ thấp so với cùng ký năm trước. Nguyên nhân do thời gian đầu năm, chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật;… dẫn đến việc thi công công trình chậm; việc giải phóng mặt bằng chậm, năng lực nhà thầu yếu, giá cả nguyên vật liệu (đặc biệt là thép) tăng cao củng đã ảnh hưởng lớn đến công tác triển khai thi công xây dựng các công trình…Bên cạnh đó, trong quý III/2021, dịch bệnh diễn biến phức tạp và lan rộng trong nước cũng như trên địa bàn tỉnh, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội, nguồn cung ứng vật tư cũng chậm trễ, do đó dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng 9 tháng năm 2021 giảm mạnh so với cùng kỳ. Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2021 theo giá hiện hành đạt 13.514 tỷ đồng, bằng 92,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực vốn doanh nghiệp nhà nước ước đạt 7,49 tỷ đồng, bằng 4,4 lần so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.905 tỷ đồng, bằng 79,97% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 133,98 tỷ đồng, bằng 55,64% với cùng kỳ năm trước; loại hình khác ước đạt 8.467 tỷ đồng, bằng 103,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn ước đạt 543 tỷ đồng, bằng 61,07% so với cùng kỳ năm trước; giá trị xây dựng hộ ước đạt 7.924,4 tỷ đồng, bằng 108,57% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung kết quả hoạt động ngành xây dựng 9 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như tình hình dịch bệnh Covid-19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp khó khăn trong bố trí nguồn ngân sách phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là nguồn vốn trung ương hỗ trợ mục tiêu và nguồn vốn ODA. Mặt khác, mặc dù đã có nhiều công trình, dự án đăng ký đầu tư trên địa bàn nhưng chỉ mới ở giai đoạn lập hồ sơ, chưa đầu tư nên không có các công trình lớn đầu tư xây dựng mới trong thời gian qua. Để hoạt động xây dựng 3 tháng cuối năm đạt kết quả khả quan hơn cần phải triển khai thực hiện các công trình dự án trên địa bàn tỉnh đảm bảo theo đúng tiến độ như dự án nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án thành phố giáo dục Nguyễn Hoàng, các khu đô thị…. 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Đến ngày 17/9/2021, toàn tỉnh có 765 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 8.341 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 6.180 lao động (tăng 11,84% về số doanh nghiệp, tăng 67,18% về vốn đăng ký, tăng 18,7% về số lao động so với cùng kỳ năm trước). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt gần 11 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 7,3 tỷ đồng). Tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử tăng cao, chiếm gần 60% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.         Song song với số lượng doanh nghiệp thành lập mới, trong 9 tháng vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 344 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 26% so với cùng kỳ năm 2020), 93 doanh nghiệp giải thể (tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2020). Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp những tháng cuối năm tăng khá trong khi doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm ngoái là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 4.2 Thu hút đầu tư Tính đến ngày 20/9/2021, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 37 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 2.922 tỷ đồng và 01 dự án đầu tư nước ngoài gần 2,5 tỷ USD (dự án Nhiệt điện Vũng Áng II). Khởi công 03 dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp (tại Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh và huyện Đức Thọ) tổng mức đầu tư 700 tỷ đồng; khánh thành, đưa vào hoạt động giai đoạn 1 của Nhà máy sản xuất, chế biến lâm sản tiêu thụ nội địa và xuất khẩu An Việt Phát tổng mức đầu tư gần 1.300 tỷ đồng tại Khu kinh tế Vũng Áng. Ký kết với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn về việc thiết lập tuyến container Vũng Áng, đến nay đã có 12 chuyến cập bến. Ban hành chính sách hỗ trợ các hãng tàu và doanh nghiệp vận chuyển hàng bằng container qua Cảng Vũng Áng, tạo sự hấp dẫn trong thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Vũng Áng, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho người lao động. Đã và đang kêu gọi, kết nối, làm việc, xúc tiến dự án đầu tư với các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu trong xây dựng phát triển tổ hợp công nghiệp ô tô, đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp, hạ tầng đô thị, du lịch dịch vụ tại khu kinh tế và các khu du lịch biển. Tổ chức làm việc với một số nhà đầu tư lớn tìm hiểu đầu tư vào địa bàn tỉnh: Công ty Cổ phần Tập đoàn TH khảo sát, nghiên cứu đầu tư các dự án tại Vũ Quang và Hồ Kẻ Gỗ; Tập đoàn VSIP nghiên cứu, khảo sát đầu tư dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ tại huyện Can Lộc và Thị xã Hồng Lĩnh; Tập đoàn Vingroup nghiên cứu, khảo sát đầu tư Dự án Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast tại Khu kinh tế Vũng Áng và nghiên cứu đầu tư Khu du lịch nghĩ dưỡng Kỳ Ninh; Công ty cổ phần Vịnh Nha trang khảo sát đầu tư khu đô thị du lịch, sân gôn Kỳ Nam và khu đô thị Xuân Hồng; Tập đoàn Tân Cơ và LNG Centra (Hoa Kỳ) nghiên cứu đầu tư trung tâm nhập khẩu và phân phối khí LNG...  Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong 9 tháng năm 2021 tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Xây dựng         9 tháng đầu năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả điều tra các doanh nghiệp hoạt động ngành xây dựng có 12,59% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn và 25,87% ý kiến cho rằng không thay đổi và 60,84% ý kiến cho rằng khó khăn trong quý IV/2021. Trong đó: Đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước có 25,36% ý kiến cho rằng không thay đổi, 12,33% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn và 61,59% ý kiến cho rằng khó khăn hơn. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 40% ý kiến cho rằng không thay đổi và 40% ý kiến cho rằng khó khăn hơn và 20% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Hoạt động sản xuất kinh doanh quý IV/2021 dự kiến tiếp tục gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh trong nước vẫn chưa được kiểm soát, thiếu hụt vật tư, hàng hóa do giảm nguồn cung. Một số ngành dịch vụ trên địa bàn cũng chưa đi vào hoạt động. Riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn do chủ yếu thực hiện công trình thuộc dự án Formosa, nhưng đến nay cơ bản dự án đã hoàn thiện. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng tiếp tục gặp khó khăn trong quý IV/2021, có 69,93% ý kiến cho rằng khó khăn hơn, 13,99% ý kiến cho rằng không thay đổi và 11,88% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Trong đó: Doanh nghiệp ngoài nhà nước có 70,29% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 60% ý kiến cho rằng khó khăn hơn.           - Tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2021 có xu hướng tăng, chiếm 41,26%; yếu tố nguyên vật liệu xây dựng có xu hướng tăng chiếm 41,96%; chi phí nhân công và số lao động thường xuyên và lao động thời vụ có xu hướng không thay đổi trong quý tiếp theo chiếm 40,56%. *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Công nghiệp - Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2021 khả quan hơn so quý III/2021 khi có 68,18% DN nhận định SXKD quý IV sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý III (trong đó 18,18% số DN dự báo tốt lên và 50% số DN dự báo giữ ổn định), có 31,82% số DN dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. - Dự báo xu hướng quý IV/2021 so với quý III/2021: Có 20,46% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 36,36% giảm đi. Các doanh nghiệp dự báo quý IV/2021 số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ gặp khó khăn và doanh nghiệp cố gắng duy trì số lượng đơn đặt hàng như quý trước (54,55% nhận định giữ nguyên như quý III, 45,45% DN dự định giảm số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu và không có DN nào nhận định lượng hàng xuất khẩu tăng lên). Có 31,82% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất phương tiện vận tải khác; ...); 31,82% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm và có 4,55% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm.  5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi: Rét đậm, hạn hán không diễn ra gay gắt như cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa và sản lượng cây lâu năm đạt khá; đàn lợn tiếp tục đà hồi phục, đàn gia gia cầm phát triển tốt. Sản xuất lâm nghiệp phát triển, thị trường xuất khẩu các mặt hàng gỗ và lâm sản được mở rộng. Sản xuất thủy sản khả quan hơn so với cùng kỳ năm trước, giá các mặt hàng nông sản có xu hướng tăng. 5.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt *Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 158.893 ha, bằng 102,04% (tăng 3.179 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 632.253 tấn, so với thực hiện năm trước bằng 108,94% (tăng 51.859 tấn). Nhìn chung, kết quả sản xuất cây hàng năm năm 2021 đạt kết quả thắng lợi khá toàn diện, nhất là đối với cây lúa, vượt mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: - Cây lúa:  Diện tích gieo trồng lúa cả năm ước tăng 1.028 ha so với năm 2020. Trong đó: Diện tích lúa vụ Đông Xuân tăng 151 ha, vụ Hè Thu ước tăng 905 ha và vụ Mùa ước giảm 28 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng diện tích là do vụ Xuân cây lúa phát triển tốt cho năng suất, sản lượng cao, giá thu mua lúa khá cao so với những năm trước, tạo động lực cho người dân tiến hành gieo cấy vụ Hè Thu. Mặt khác, một số xã do hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên nhiều diện tích những năm trước bỏ hoang năm nay người dân tiến hành gieo cấy. Năng suất gieo trồng lúa cả năm 2021 ước tăng 3,82 tạ/ha so với năm trước, trong đó: Năng suất lúa vụ Đông Xuân tăng 4,11 tạ/ha, vụ Hè Thu ước tăng 3,71 tạ/ha và vụ Mùa ước tăng 1,09 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất lúa tăng cao là do sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năng suất lúa đạt cao nhất kể từ trước đến nay, vụ lúa này cũng được đánh giá được mùa nhất từ trước tới nay và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Tổng sản lượng lúa năm 2021 ước tăng 45.365 tấn so với năm 2020. Trong đó: Sản lượng lúa vụ Đông Xuân tăng 24.425 tấn, vụ Hè Thu ước tăng 20.930 tấn và vụ Mùa ước tăng 10 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do các vụ tăng cả diện tích và năng suất nên tổng sản lượng lúa cả năm tăng hơn so với năm 2020. - Một số cây hàng năm khác + Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô năm 2021 ước tính đạt 12.185 ha, bằng 116,83% (tăng 1.756 ha) so với năm trước. Trong đó: Diện tích ngô vụ Đông Xuân 2020-2021 đạt 10.181 ha, bằng 116,86% (tăng 1.469 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 2.004 ha, bằng 116,69% (tăng 287 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích ngô vụ Đông Xuân tăng so với cùng kỳ do vụ Đông năm 2019-2020 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Năng suất ngô cả năm ước đạt 43,35 tạ/ha, bằng 97,59% (giảm 1,07 tạ/ha) so với năm trước. Trong đó: Năng suất gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 44,80 tạ/ha, bằng 94,36% (giảm 2,67 tạ/ha) và vụ Hè Thu ước đạt 36,02 tạ/ha, bằng 124,41% (tăng 7,07 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước đạt 52.825 tấn, bằng 114,02% (tăng 6.494 tấn) so với năm 2020. +Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng khoai lang năm 2021 ước đạt 3.570 ha, bằng 103,76% (tăng 129 ha) so với năm trước. Trong đó: Diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân đạt 2.944 ha, bằng 101,2% (tăng 35 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 556 ha, bằng 122,22% (tăng 101 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Mùa ước đạt 70 ha, bằng 91,78% (giảm 7 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang cả năm ước đạt 72,59 tạ/ha, bằng 102,37% (tăng 1,68 tạ/ha) so với năm trước. Trong đó: Năng suất gieo trồng vụ Đông Xuân đạt 75,84 tạ/ha, bằng 103,32% (tăng 2,44 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 59,17 tạ/ha, bằng 100,32% (tăng 0,19 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Mùa ước đạt 41,98 tạ/ha, bằng 89,6% (giảm 4,87 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang cả năm ước đạt 25.918 tấn, bằng 106,22% (tăng 1.517 tấn) so với năm 2020. + Cây sắn: Diện tích sắn năm 2021 ước đạt 2.450 ha, bằng 90,35% (giảm 262 ha) so với năm 2020. Năng suất ước đạt 150,80 tạ/ha, bằng 98,22% (giảm 2,76 tạ/ha), với sản lượng ước đạt 36.950 tấn, bằng 88,15% (giảm 4.969 tấn) so với năm trước. Nguyên nhân giảm do sản lượng sắn thu hoạch được chủ yếu để làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, do sắn khó trồng, chế biến thành thức ăn chăn nuôi phải qua nhiều công đoạn nên một số diện tích người nông dân chuyển sang trồng cỏ sinh khối. + Cây lạc: Diện tích gieo trồng lạc năm 2021 ước đạt 10.377 ha, bằng 93,62% (giảm 707 ha) so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng đạt 10.022 ha, bằng 93,33% (giảm 716 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 355 ha, bằng 102,76% (tăng 10 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, trồng lạc mất nhiều công sức và chi phí cao hơn các loại cây trồng khác nên người dân ít canh tác hơn làm cho diện tích lạc giảm. Năng suất lạc cả năm ước đạt 28,06 tạ/ha, bằng 112,31% (tăng 3,08 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng lạc cả năm ước đạt 29.122 tấn, bằng 105,15% (tăng 1.426 tấn) so với năm trước. Nguyên nhân năng suất, sản lượng lạc tăng hơn so với cùng kỳ năm trước là do vụ Xuân điều kiện thời tiết thuận lợi cộng với sự ổn định của bộ giống, quy trình chăm sóc theo hướng thâm canh là những yếu tố căn bản để tạo nên một mùa lạc bội thu. + Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng rau năm 2021 ước đạt 13.675 ha, bằng 104,77% (tăng 623 ha) so với năm 2020. Trong đó: Diện tích rau Vụ Đông Xuân đạt 10.754 ha, bằng 102,8% (tăng 293 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 2.709 ha, bằng 111,06% (tăng 270 ha) so với cùng kỳ năm trước và vụ Mùa ước đạt 211 ha, bằng 140,09% (tăng 60 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân làm diện tích rau năm nay đạt cao là do một số huyện đang tiến hành rộng rãi việc quy hoạch lại vườn tạp, làm vườn mẫu trong công cuộc thực hiện xây dựng nông thôn mới. Người dân đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại vườn hộ theo hướng hiệu quả, cho giá trị kinh tế thông qua việc tăng diện tích rau các loại...Năng suất rau bình quân cả năm ước đạt 69,71 tạ/ha, bằng 100,99% (tăng 0,68tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng rau cả năm ước đạt 95.326 tấn, bằng 105,81% (tăng 5.230 tấn) so với năm trước. *Cây lâu năm - Diện tích: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 31.845 ha, bằng 101,97%, tăng 615 ha so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: + Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.164 ha, bằng 102,72%, tăng 508 ha so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 60,18% tổng diện tích cây lâu năm. Các loại cây ăn quả có múi thuộc họ cam, quýt ước ước đạt 13.020 ha (diện tích cam ước đạt 7.397 ha), bằng 104,33%, tăng 540 ha so với cùng kỳ năm trước. Cây có múi chiếm 67,94% tổng diện tích cây ăn quả. Cây có múi vẫn đang là một trong những sản phẩm cây ăn quả hàng hóa chủ lực của Hà Tĩnh và đang được các địa phương quan tâm đầu tư sản xuất. + Diện tích cây cao su ước đạt 8.895 ha, bằng 99,88%, giảm 11 ha so với cùng kỳ năm 2020. Công ty cao su đã tiến hành thanh lý diện tích kém hiệu quả, chuyển đổi một phần diện tích cao su, đất rừng trồng của các công ty sang cây trồng khác cho hiệu quả cao hơn cũng như để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. + Diện tích chè búp ước đạt 1.243 ha, bằng 102,05%, tăng 25 ha và diện tích chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.854 ha, bằng 100,82%, tăng 15 ha so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích chè trên địa bàn nhìn chung ổn định và tiếp tục được mở rộng thêm do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận.+ Diện tích cây lâu năm khác ước đạt 567 ha, bằng 97,93%, giảm 12 ha so với cùng kỳ năm 2020. - Sản lượng: Do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất, cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi, tỷ lệ đậu quả cao nên dự ước năng suất và sản lượng cây ăn quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hiện nay ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nên thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn và giá bán sản phẩm giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. + Sản lượng cây ăn quả 9 tháng năm 2021 ước đạt 74.074 tấn, bằng 105,83%, tăng 4.078 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 37.431 tấn, bằng 110,62%, tăng 3.595 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng cam tăng 338 tấn, bưởi tăng 2.886 tấn. Thời điểm này, bưởi đang tập trung thu hoạch với giá 20-25 ngàn đồng/quả, giảm hơn so với năm trước. + Sản lượng cao su ước đạt 2.872 tấn, bằng 108,25%, tăng 219 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ cũng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. Sản phẩm gỗ cao su thanh lý ước đạt 965 m3, với giá trị ước tính 427 triệu đồng. + Sản lượng chè búp ước đạt 7.497 tấn, bằng 105,19%, tăng 370 tấn và sản lượng chè xanh (chè hái lá) ước đạt 15.600 tấn, bằng 103,24%, tăng 490 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chè búp tăng chủ yếu ở các địa phương: Hương Sơn tăng 178 tấn, Hương Khê tăng 125 tấn, huyện Kỳ Anh tăng 35 tấn...Các địa phương có sản lượng chè xanh (chè hái lá) tăng là: Can Lộc tăng 150 tấn, Thạch Hà tăng 147 tấn, Hương Sơn tăng 144 tấn, Đức Thọ tăng 98 tấn... *Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, tình hình sâu bệnh xẩy ra đối với các loại cây trồng như sau: - Vụ Đông Xuân: Trên cây lúa vụ Xuân 2021 các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại nhẹ, diễn biến ở mức độ trung bình hoặc thấp hơn vụ Xuân 2020, cụ thể: Có khoảng 232 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá, 94,5 ha nhiễm đạo ôn cổ bông; rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại nhẹ, diện tích nhiễm 3 ha; có 2.511 ha nhiễm bệnh khô vằn và 168 ha bị chuột hại. Đối với cây ngô: Sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 47 ha; bệnh đốm lá, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. - Vụ Hè Thu: Trên cây lúa vụ Hè Thu 2021, các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại nhẹ nhìn chung không ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa, cụ thể: Sâu cuốn lá nhỏ diện tích nhiễm 34 ha, không có diện tích nhiễm nặng; ốc bươu vàng diện tích nhiễm 180 ha; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 1.163 ha; chuột hại 170 ha. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu, sâu cắn nõn diện tích nhiễm 15 ha và trên cây đậu sâu đục quả đậu diện tích nhiễm 10 ha.- Cây ăn quả xuất hiện bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, diện tích nhiễm 35 ha; câu cấu, diện tích nhiễm 150 ha; sâu vẽ bùa, diện tích nhiễm 135 ha, phân bố tại Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc.b. Chăn nuôi Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng năm 2021 vẫn bị tác động của dịch bệnh, mà chủ yếu là đối với đàn gia súc. Vì vậy, tổng đàn cũng như sản lượng thịt hơi xuất chuồng có sự biến động với xu hướng đàn trâu, bò giảm, đàn lợn tăng nhẹ và đàn gia cầm tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Dịch tả lợn Châu Phi không dập tắt được triệt để mà vẫn còn xẩy ra ở một số địa phương; giá lợn hơi giảm mạnh trong khi giá thức ăn chăn nuôi tăng cao đã gây khó khăn cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn nên tổng đàn cũng như sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, từ tháng 12/2020 đến tháng 8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát sinh dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò gây thiệt hại nặng về kinh tế và ảnh hưởng đến số lượng đàn đại gia súc. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được khống chế thành công nhưng vẫn còn có nguy cơ tái phát. Do ảnh hưởng của dịch bệnh đã làm cho số lượng cùng như sản lượng thịt trâu, bò hơi giảm so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia cầm không bị ảnh hưởng của dịch bệnh và giá bán sản phẩm tương đối ổn định nên kết quả chăn nuôi gia cầm tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2021, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 126 xã, thuộc 13 huyện, thành phố, thị xã với tổng số lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy là 14.971 con, với trọng lượng 1.122 tấn. Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn 05 ổ dịch chưa qua 21 ngày kể từ con lợn bị tiêu hủy cuối cùng; dịch LMLM gia súc đã xảy ra tại 05 xã, thuộc 03 huyện (Lộc Hà, Hương Khê, Đức Thọ), làm cho 396 con gia súc mắc bệnh. Đến nay, các ổ dịch LMLM gia súc đã qua 21 ngày; Dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò đã xẩy ra tại 208 xã, phường, thị trấn của 13 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh làm 17.686 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó có 2.949 con bị chết. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được khống chế thành công; dịch Cúm gia cầm (H5N6) xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà làm 9.720 con gia cầm mắc bệnh bị tiêu hủy và dịch cúm gia cầm H5N8 xảy ra tại 01 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên làm 3.147 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy. Kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/9/2021: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 129.536 liều, đạt 83,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 125.700 liều, đạt 83,6% kế hoạch; dịch tả lợn 145.111 liều, đạt 68,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 144.0853 liều, đạt 69,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 136.733 liều, đạt 98,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,056 triệu liều, đạt 35,5% kế hoạch. 5.2 Sản xuất Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp 9 tháng năm 2021 duy trì mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng rừng tập trung 9 tháng năm 2021 tăng 54 ha so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác 9 tháng năm 2021 tăng 19.439 m3 so với cùng kỳ năm 2020. Kết quả trồng cây phân tán cũng tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp 9 tháng năm 2021 duy trì mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng rừng tập trung 9 tháng năm 2021 tăng 54 ha so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác 9 tháng năm 2021 tăng 19.439 m3 so với cùng kỳ năm 2020. Kết quả trồng cây phân tán cũng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 31 vụ phá rừng (giảm 13 vụ), với diện tích rừng bị phá là 10,47 ha (giảm 11,14 ha) so với cùng kỳ năm trước. 5.3 Thủy sảnKết quả sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2021 vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng nhẹ với mức ước tăng tổng sản lượng thủy sản là 798 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng khai thác chiếm 69,73% tổng sản lượng thủy hải sản và tăng 609 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa đã làm cho sản lượng khai thác biển ước tăng so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản thời gian qua cũng được quan tâm thực hiện, với kết quả sản lượng nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 189 tấn so với cùng kỳ năm 2020, trong đó sản lượng tôm ước đạt 3.179 tấn, tăng 44 tấn so với cùng kỳ. Thời gian qua do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 làm cho giá tôm giảm mạnh, người nuôi tôm gặp khó khăn. Những tháng cuối năm, điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển sẽ gặp khó khăn hơn.            Dịch bệnh trên tôm nuôi: Tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại 15 xã thuộc 6 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 41,15 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,02 ha. Đến nay, vẫn còn 0,25 ha diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng do virus tại xã Đan Trường, huyện Nghi Xuân chưa qua 15 ngày. 6. Sản xuất công nghiệp         9 tháng năm 2021, mặc dù chịu tác động bởi dịch Covid-19 song hoạt động Ngành công nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng khá, Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng tăng 16,56% so cùng kỳ năm trước đã đóng góp lớn điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với quy mô lớn và có chỉ số sản xuất mức tăng 22,89% đóng góp 17,26 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của ngành         - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP): + Ước tháng 9/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 8/2021 ước tính giảm 7,4%, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự tính tăng 3,81%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,8% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước ngành này giảm 19,98%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,61% so với tháng trước và tăng 8,43% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 29,5% so với tháng trước và giảm 20,26% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,61% so với tháng 8/2021 và tăng 2,86% so với tháng 9/2020.                                        + Tính chung 9 tháng năm 2021, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục tăng, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 9 tháng năm 2021 tăng 16,56% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,55%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,89% đóng góp 17,26 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,93%, làm giảm 0,61 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,62%, làm giảm 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá chủ yếu nhờ đóng góp của ngành sản xuất kim loại cũng như hoạt động sản xuất của Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS). Nếu loại trừ yếu tố ảnh hưởng từ dự án Formosa , chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn 9 tháng năm 2021 chỉ tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước. + Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 7 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 47,79%; khai thác quặng kim loại tăng 35,13%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tre nứa tăng 27,39%; sản xuất kim loại tăng 25,83%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 23,91%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 16,45%. + Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng thì trong 9 tháng qua, có 9 nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 27,22%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 13,01%; sản xuất trang phục giảm 8,44%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 4,45%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3,36%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,93%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 2,06%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 0,86%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 0,68%. - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 9/2021 giảm 0,53% so với tháng trước và giảm 8,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021 ước tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 9 tháng năm 2021, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo. - Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 9/2021 tăng 34,78% so với tháng trước và tăng 170,53% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 59,7 lần so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. - Chỉ số sử dụng lao động: Tính chung 9 tháng năm giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Số lượng lao động của ngành khai khoáng giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 2,6% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt tăng 0,3%, so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải có chỉ số sử dụng lao động giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước.          7. Thương mại, dịch vụ          9 tháng năm 2021, tình hình dịch covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh qua các tháng. Hoạt động kinh doanh các mặt hàng không thiết liên tiếp tạm ngừng hoạt động dài ngày. Các hoạt động kinh doanh nhà hàng, ăn uống tạm ngừng hoặc thu hẹp kinh doanh; hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch dừng hoạt động kể cả trong mùa du lịch. Cùng với đó, dịch viêm da nổi cục ở trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi hoành hành cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh nhà hàng, ăn uống. Tuy nhiên, nhìn lại 9 tháng qua nhờ thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới nên hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh vẫn đảm bảo cung, cầu thiết yếu cho người dân và toàn xã hội          - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 9/2021 đạt 3215,6 tỷ đồng tăng 4% so với tháng trước và giảm 10,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 15 tỷ đồng, tăng 31,59% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 31.209 tỷ đồng, tăng 7,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 13.507,7 tỷ đồng, tăng 0,48%; hàng may mặc ước đạt 1.560 tỷ đồng, tăng 21,32%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 3.291 tỷ đồng, tăng 1,15%; vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 183,6 tỷ đồng, tăng 15,44%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.588 tỷ đồng, tăng 28,05%; ô tô con ước đạt 3.352 tỷ đồng, tăng 12,5%; phương tiện đi lại trừ ô tô con ước đạt 1.5545 tỷ đồng, giảm 1,34%; xăng dầu các loại ước đạt 2.789.055 triệu đồng, tăng 21,38%; nhiên liệu khác ước đạt 552,6 tỷ đồng, tăng 37,95%; đá quý, kim loại quý các loại ước đạt 453 tỷ đồng, tăng 31,88%; hàng hóa khác ước đạt 1.538 tỷ đồng, tăng 10,16%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt 838 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ năm trước.  Hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 9 tháng năm 2021 có tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong thời gian gần đây bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nhưng thời gian giãn cách ngắn hơn và vùng giãn cách thu hẹp hơn so với 9 tháng đầu năm 2020. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động làm tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa hơn so với cùng kỳ năm trước. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: + Ước tháng 9, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 70,6 tỷ đồng, giảm 13,91% so với tháng trước và giảm 82,37% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 2.597,8 triệu đồng, giảm 9,61% so với tháng trước, giảm 84,87% so với cùng kỳ năm trước. dịch vụ ăn uống ước đạt 68 tỷ đồng, giảm 14,07% so với tháng trước, giảm 82,22% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch: Do tình hình dịch bệnh vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, chính quyền khuyến cáo hạn chế đi lại và tụ tập, cùng với tâm lý e ngại dịch bệnh, đó là lý do khiến cho hoạt động của các đơn vị kinh doanh lữ hành ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu. + Tính chung 9 tháng năm 2021, doanh thu hoạt động l­ưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 2.761,8 tỷ đồng, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 96.490,8 triệu đồng, giảm 37,29%; lượt khách phục vụ ước đạt 598.112 lượt, giảm 37,2% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 548.129 ngày, giảm 36,89% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 2.658 tỷ đồng, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 7,3 tỷ đồng, giảm 13,78% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu dịch vụ khác: 9 tháng năm 2021, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.073 tỷ đồng, giảm 3,11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 129 tỷ đồng, giảm 10,54%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 284 tỷ triệu đồng, tăng 14,97%; giáo dục đào tạo ước đạt 41 tỷ đồng, giảm 34,81%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 146,8 tỷ đồng, tăng 11,33%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 89,8 tỷ đồng, giảm 18,7%; dịch vụ khác ước đạt 381 tỷ đồng, giảm 7,19%. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 9 tháng năm 2021 đã có mức giảm so với cùng kỳ năm trước và đang còn vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Với tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay thì sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngành dịch vụ trong thời gian tới. - Hoạt động vận tải: + Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 9/2021 ước đạt 270 tỷ đồng, tăng 2,01% so tháng trước và giảm 43,24 % so cùng kỳ năm trước trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 8 tỷ đồng, tăng 9,59% so với tháng trước và giảm 94,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 194 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và giảm 26,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 68,4 tỷ đồng, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 4,98% so với cùng kỳ năm trước.      - Tính chung 9 tháng năm 2021, doanh thu vận tải ước tính đạt 3.347,8 tỷ đồng, giảm 10,13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 716,9 tỷ đồng, giảm 32,2%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10.179,5 nghìn HK, giảm 30,85% và luân chuyển đạt 1.694.887 nghìn HK.km, giảm 35,69%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.968 tỷ đồng, giảm 7,57%; khối lượng vận chuyển ước đạt 21.669,1 nghìn tấn, giảm 8,61% và luân chuyển ước đạt 550.500,8 nghìn tấn.km, giảm 9,82%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 662, tỷ đồng, tăng 23,05% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 9 tháng đầu năm 2021 giảm so với cùng kỳ. Tình hình dịch Covid - 19 vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp nên đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động vận tải trên địa bàn với kết quả giảm mạnh so với cùng kỳ. Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của tỉnh, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hoạt động vận tải hành khách phải tạm dừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến vùng cách ly y tế trong thời gian dài đã làm cho vận tải hành khách giảm mạnh, cùng với đó, nhiều cơ sở kinh doanh thương mại cũng tạm dừng hoạt động nên nhu cầu vận chuyển hàng hoá giảm. Bên cạnh đó, trong một số tháng lượng than bốc qua cảng giảm, kéo theo doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ giảm. Tất cả yếu tố trên đã làm cho hoạt động vận tải 9 tháng năm 2021 giảm so với cùng kỳ năm trước 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng năm 2021 Hà Tĩnh ước đạt 2.564,4 triệu USD, tăng 75,82% so với cùng kỳ. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra. Việc kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia hoạt động xuất khẩu, xuất nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị phục vụ sản xuất, hàng hóa; hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường… Hà Tĩnh xây dựng Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025. Đồng thời ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyên container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2021 ước đạt 1.490,6 triệu USD, tăng 106,63% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do Formosa đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 1386,1 triệu USD, chiếm tỷ trọng 92,98% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh). 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Tình hình lao động và giải quyêt việc làm Tình hình lao động, việc làm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong quý III/2021 có dấu hiệu phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,1 điểm phần trăm so với quý II/2021. - Lực lượng lao động: Ước tính quí III/2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Hà Tĩnh là 690.579 người, chiếm 53,05% dân số toàn tỉnh; tăng 0,48% so với quý II/2021, nhưng so với quý I/2021 giảm 0,67%. Trong tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, lao động nam là 331.903 người, chiếm 48,06%; lao động thuộc khu vực thành thị là 144.796 người, chiếm 20,97%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý III năm 2021 (lực lượng lao động 15 tuổi trở lên so với dân số 15 tuổi trở lên) là 71,48%, tăng 0,34 điểm phần trăm so với quý II/2021 và giảm 0,48 điểm phần trăm so với quý I/2021. Tính chung 9 tháng năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 691.040 người, chiếm 53,08% dân số toàn tỉnh; trong đó lực lượng lao động nam là 331.732 người, chiếm 48% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 144.372 người, chiếm 20,89%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng năm 2021 là 71,53%, trong đó: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 72,48%, cao hơn 1,96 điểm phần trăm so với nam; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 70,36%, thấp hơn 1,48 điểm phần trăm so với ở nông thôn. - Lao động có việc làm: Số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ước tính quý III/2021 là 674.535 người, chiếm 97,68% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,97% so với quý II/2021, nhưng so với quý I/2021 giảm 0,61%. Trong tổng số: khu vực thành thị là 139.487 người, chiếm 20,68%; lao động có việc làm ở nam giới là 322.015 người, chiếm 47,74%. Tính chung 9 tháng năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 673.750 người, chiếm 97,50% so với lực lượng lao động. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 139.135 người, chiếm 20,65%; ở nam giới là 321.232 người, chiếm 47,68%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 348.542 người, chiếm 51,73% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 119.623 người, chiếm 17,75%; ngành dịch vụ là 205.585 người, chiếm 30,51%. - Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Ước tính quý III/2021, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 16.044 người (chiếm 2,32% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,04%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với quý II/2021 và 0,04 điểm phần trăm so với quý I/2021. Tính chung 9 tháng năm 2021, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 17.290 người, chiếm 2,5% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2021 ước tính là 3,09%. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý III/2021 là 3,02%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với quý II/2021 và 0,02 điểm phần trăm so với quý I/2021. Tính chung 9 tháng năm 2021, ước tính tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 3,01%. - Tình hình giải quyết việc làm: Quý III/2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 2.086 người, giảm 51,22% so với quý II/2021 và 64,95% so với quý I/2021, lần lượt lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giảm 63,01% và 80,81%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh giảm 70,57% và 54,75%; xuất khẩu lao động giảm 31,78% và 43,55%. Ước tính 9 tháng năm 2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 12.314 người, đạt 55,97% kế hoạch năm 2021, tăng 9,05% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 5.589 người, chiếm 45,39% trong tổng số, giảm 9,17%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.513 người, chiếm 12,29%, tăng 27,36%; xuất khẩu lao động 5.212 người, chiếm 42,32%, tăng 29,41%. 9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Nhằm ổn định tình hình đời sống người dân cũng như đảm bảo công tác phòng chống dịch, Hà Tĩnh đã kịp thời đảm bảo các chế độ, chính sách, cơ sở vật chất cho việc cách ly, điều trị, các trang thiết bị cần thiết. Đến nay, số kinh phí năm 2021 đã bố trí từ nguồn dự phòng ngân sách các cấp địa phương để thực hiện phòng, chống dịch Covid-19 là 91.095 triệu đồng (gồm: dự phòng ngân sách tỉnh 64.236 triệu đồng; dự phòng ngân sách huyện, xã 26.859 triệu đồng). Trong đó: Kinh phí thực hiện Nghị quyết số 16/NQ-CP, Nghị quyết số 17/NQ-CP là 85.325 triệu đồng (Ngân sách tỉnh 58.466 triệu đồng; Ngân sách cấp huyện, xã 26.859 triệu đồng). Ngoài ra, Hà Tĩnh tiến hành thực hiện Nghị Quyết số 68/NQ-CP hỗ trợ cho người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, góp phần phục hồi sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch, đảm bảo đời sống và an toàn cho người lao động theo. Đến nay, toàn tỉnh đã giải ngân hỗ trợ 19,417 tỷ đồng. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. Đến nay, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 251.207 suất quà với tổng số tiền khoảng 76.843 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể: Quà cho người có công: 119.575 suất quà trị giá khoảng 26.657 triệu đồng; Quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất quà trị giá khoảng 10.636 triệu đồng; Quà người cao tuổi: 28.347 suất quà trị giá khoảng 9.237 triệu đồng; Quà trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: 35.000 suất quà trị giá khoảng 8.000 triệu đồng; Quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội: 47.591 suất quà trị giá khoảng 22.313 triệu đồng. Đồng thời, trao tặng 13 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 65 triệu đồng; Số nhà xây mới cho các hộ nghèo và cận nghèo là 1.353 nhà với khinh phí khoảng 79.283 triệu đồng. Hỗ trợ sửa chữa nhà ở đối với hộ nghèo và cận nghèo là 29 nhà với kinh phí khoảng 398 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 397 nhà kinh phí khoảng 26.623 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 23 nhà kinh phí khoảng 1.202 triệu đồng. Cấp khoảng 14.929 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.534 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 165.961 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 50.992 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. 9.3. Tình hình thiên tai Tình hình thiên tai 9 tháng năm 2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 8 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 26/4/2021; đợt 2 vào ngày 28/4/2021; đợt 3 vào ngày 2/5/2021; đợt 4 vào ngày 10/5/2021; đợt 5 vào ngày 15/5/2021; đợt 6 vào ngày 17/5/2021; đợt 7 vào ngày 25/5/2021; đợt 8 vào ngày 12/6/2021). Thiên tai đã gây thiệt hại làm 2 người chết, 1 người bị thương; 466 nhà bị hư hỏng; 11.965,8 ha lúa; 900,3 ha hoa màu; 400 con gia cầm, 2 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 47 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân, tổng số tiền hỗ trợ khắc phục thiệt hại do thiên tai là 8 triệu hỗ trợ cho gia đình có người chết được trích từ quỹ phòng chống thiên tai. 9.4. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, sáng ngày 05/9/2021, Hà Tĩnh không tổ chức tựu trường tập trung ở tất cả các trường mà chỉ tổ chức khai giảng năm học mới trực tiếp tại duy nhất một cơ sở giáo dục và truyền hình trực tiếp cho hơn 350 ngàn giáo viên, học sinh tại 666 trường học trên địa bàn 13 huyện, thành, thị ở Hà Tĩnh theo dõi. Bắt đầu từ ngày 15/9/2021, có 12/13 huyện, thị xã, thành phố đã đón học sinh từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông trở lại trường (bậc mầm non chưa tổ chức dạy học).  Năm học 2021-2022 toàn tỉnh có 667 trường (gồm 254 trường mầm non (tăng 4 trường so với năm học trước), 221 trường tiểu học (không đổi),147 trường THCS (giảm 1 trường do sát nhập xã), 45 trường THPT (không đổi)); với 10.623 lớp (mẩu giáo 2.846 lớp; tiểu học 4.216 lớp; THCS 2.368 lớp; THPT 1.193 lớp); 17.534 giáo viên (mầm non 4.819 người; tiểu học 5.418 người; THCS 4.627 người; THPT 2.670 người) và 329.140 học sinh (mầm non 76.567 người; tiểu học 131.718 người; THCS 78.389 người; THPT 42.466 người). - Giáo dục đào tạo: Tuyển sinh năm học 2021-2022, trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh hệ chính quy là 1.405 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.355 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu; theo 2 phương thức là xét tuyển học sinh tốt nghiệp THPT và xét tuyển học bạ lớp 11 hoặc lớp 12 THPT, điểm trung bình các môn thuộc tổ hợp xét tuyển không nhỏ hơn 5.0. Đăng ký xét tuyển làm 2 đợt, đợt 1 từ ngày 01/4/2021 đến ngày 30/7/2021 và đợt 2 từ ngày 01/8/2021 - 31/12/2021. Bên cạnh đó, giáo dục nghề nghiệp cũng được chú trọng, chất lượng ngày càng nâng cao hơn. 9 tháng đầu năm 2021 , 9 tháng năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 10.348 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 319 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 2.549 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 7.480 người. 9.5 Hoạt động Y tế -Tình hình dịch Covid -19: Dịch Covid-19 đang tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp tại nhiều tỉnh thành trong cả nước. Tính từ ngày 04/6/2021 đến nay, Hà Tĩnh đã ghi nhận 450 ca dương tính tại 13/13 huyện, thực hiện giản cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 tại 8 huyện,thành phố với 40 xã/phường có thôn cách ly. Tính từ ngày 10/7 đến 22/9/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 34 ca trong cộng đồng và 277 ca F0 từ TP Hồ Chí Minh, Bình Dương,...về trên địa bàn tỉnh được cách ly ngay. Kết quả truy vết, xét nghiệm, quản lý người đến/về từ vùng dịch: F1 đã truy vết (từ 4/6 đến 22/9/2021): 4.563 người; F2 đã truy vết (từ 4/6 đến nay): 27.239 người. Tổng số hiện còn cách ly: 3.675 người trong đó: cách ly tập trung 883 người, cách ly tại nhà 2.761 người, cách ly tại cơ sở y tế: 31 người. -Tình hình dịch bệnh khác: 9 tháng năm 2021, Hà Tĩnh đã ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 33 ca mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp nào tử vong vì dịch. So với cùng kỳ năm trước: Số ổ dịch không thay đổi, số lượng người mắc tăng 23 người. Ngoài ra, còn có 7 ca sốt xuất huyết đơn lẻ; 1 ca sốt rét; 93 ca viêm não do vi rút; 29 ca quai bị ; 98 ca lỵ trực trùng; 137 ca lỵ ca lỵ amip; 687 ca thủy đậu; cúm 13.277 ca; 17 ca chân tay miệng. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tính từ 16/8-15/9/2021 Hà Tĩnh có 2 người nhiễm mới HIV (giảm 3 người so với cùng kỳ năm 2020), 2 người chuyển thành AIDS (giảm 5 người so với cùng kỳ năm trước) và không người chết vì AIDS (giảm 2 người so với cùng kỳ năm trước). Quý III năm 2021 có 7 người nhiễm HIV, có 8 trường hợp chuyển thành AIDS, 0 người chết (so với cùng kỳ năm trước: giảm 18 người nhiễm HIV, giảm 21 người chuyển thành AIDS, giảm 2 người chết AIDS). Như vậy, tính từ ngày 16/12/2020-15/9/2021 có 35 người nhiễm mới HIV (giảm 29 người so với cùng kỳ năm 2020), 32 người chuyển thành AIDS (giảm 26 người) và có 2 người chết vì AIDS (giảm 2 người so với cùng kỳ năm trước). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: An toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời . Tính từ ngày 16/8-15/9/2021, Hà Tĩnh không xẩy ra vụ ngộ độc tập thể, nhưng có 97 ca bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ; không có người chết vì ngộ độc. Quý III/2021 (từ 16/6/2021-15/9/2021) không xẩy ra vụ ngộ độc tập thể, có 360 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 9 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/9/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 923 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 85 ca (tăng 10,14%).                       9.6 Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Quý III/2021 hoạt động văn hóa có phần trầm lắng do chịu tác động của dịch Covid – 19 kéo dài. Vì vậy, trong thời gian này, chủ yếu tập trung công tác tuyên truyền về phòng chống dịch Covid-19 thông qua các phương tiện truyền thông như: đài truyền hình, báo chí, hay các trang báo mạng chính thống, đặc biệt là loa đài tại các tổ dân phố, thôn, xóm liên tục và thường xuyên đưa tin về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống dịch để người dân nắm rõ và yên tâm. Nhìn chung 9 tháng đầu năm chỉ diễn ra các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước và xây dựng tin bài, phóng sự về cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: 9 tháng năm 2021, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 7 cuộc thanh tra, kiểm tra. Trong đó: 01 cuộc phối hợp với đội kiểm tra liên ngành Văn hóa xã hội tỉnh kiểm tra tại 115 cơ sở kinh doanh dịch vụ do ngành quản lý; 01 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh; 01 cuộc kiểm tra về điều kiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, công tác bảo đảm an toàn phòng chống dịch Covid - 19 tại 15 khu điểm du lịch trong tỉnh; 01 cuộc thanh kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công vụ tại các phòng, ban, đơn vị trực thuộc Sở, 02 cuộc kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid 19 tại doanh nghiệp. Qua kiểm tra đã xử phạt vi phạm hành chính 02 tổ chức, 02 cá nhân với số tiền 17 triệu đồng. Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã cấp 102 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa; 8 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao; 90 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. - Hoạt động thể thao: Chín tháng năm 2021, Hà Tĩnh tham gia 12 giải thành tích cao đạt được 65 huy chương các loại (25 huy chương vàng (HCV) -13 huy chương bạc (HCB) -27 huy chương đồng (HCĐ), trong đó Môn Điền kinh đạt 23 huy chương (9HCV-4HCB-10HCĐ); Môn Pencak Silat đạt 2 huy chương (1HCV-1HCĐ); Môn Karate đạt 28 Huy chương (11HCV-5HCB-12HCĐ), Giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên xếp thứ nhì toàn đoàn; Môn Đua thuyền đạt 6 huy chương (3HCV-2HCB-1HCĐ); Môn Muay đạt 4 huy chương(1HCV-1HCB-2HCĐ); Vovinam đạt 2 huy chương (1HCB-1HCĐ); Bóng chuyền thi đấu vòng I Giải vô địch quốc gia xếp thứ 2 bảng A (xếp thứ 4 vòng I) được tham gia Giải bóng chuyền vô địch quốc gia Cup Hùng Vương năm 2021. 9.7 Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Từ ngày 15/8/2021 đến ngày 14/9/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người, bị thương 1 người, thiệt hại khoảng 60 triệu đồng. Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra. So với cùng kỳ năm trước: giảm 2 vụ, tăng 4 người chết, giảm 4 người bị thương.        Tính trong quý III/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông đường bộ với 29 người chết, 7 người bị thương, thiệt hại khoảng 165 triệu đồng; Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra. So với cùng kỳ năm trước: giảm 8 vụ, giảm 1 người chết, giảm 12 người bị thương. Như vậy, tính ngày 15/12/2020 đến ngày 14/9/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 78 vụ tai nạn đường bộ với 68 người chết, 26 người bị thương, thiệt hại tài sản 528 triệu. So với cùng kỳ năm trước giảm 11 vụ, giảm 11 người chết, tăng 12 người bị thương. 9.8 Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng (từ ngày 15/8/2021 đến ngày 14/9/2021) đã xảy ra 5 vụ cháy, không có vụ nổ không có người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 120 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ, số người chết và bị thương không đổi. Quý III/2021 (từ ngày 15/6/2021-14/9/2021) xảy ra 23 vụ cháy, 01 người chết và không có người bị thương, thiệt hại ước 226 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: giảm 5 vụ, tăng 01 người chết và giảm 1 người bị thương. Từ ngày 15/12/2020-14/9/2021 đã xẩy ra 39 vụ cháy, 1 vụ nổ làm 3 người chết, 02 người bị thương, tổng thiệt hại 2.536 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 13 vụ cháy, tăng 1 vụ nổ, số người chết không đổi, giảm 2 người bị thương. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/8 đến ngày 14/9/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 10 vụ, xử lý 10 vụ, tổng số tiền xử phạt 92,6 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 9 vụ, số vụ đã xử lý tăng 9 vụ, số tiền xử phạt tăng 57,6 triệu đồng.  Tính trong quý III/2021 (từ ngày 15/6-14/9/2021) Hà Tĩnh đã phát hiện 40 vụ, đã xử lý 35 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 374,8 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 33 vụ (tăng 471,42%), số vụ đã xử lý tăng 29 vụ (tăng 483,33%), số tiền xử phạt tăng 304,3 triệu đồng. Từ ngày 15/12/2020-14/9/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 115 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 87 vụ, tổng số tiền thu được là 1.221,85 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 86 vụ (tăng 296,55%), số vụ đã xử lý tăng 59 vụ (tăng 210,71%), số tiền xử phạt tăng 1.043,35 triệu đồng. 10. Đề xuất, giải pháp trong thời gian tới Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu KT-XH năm 2021, đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần phải thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, đồng thời cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do đại dịch Covid-19. (2) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa, cắt giảm các thủ tục nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân. (3) Tập trung đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công cho những tháng cuối năm; huy động tốt nguồn vốn tư nhân cho đầu tư phát triển. (4) Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất vụ Hè Thu năm 2021; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. (5) Quan tâm phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; xây dựng và thực hiện kế hoạch kích cầu tiêu dùng, chương trình khuyến mại tập trung năm 2021.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2021 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hà Tĩnh. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2021 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của cấp ủy chính quyền các cấp và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong 3 tháng cuối năm./.

Tình kình Kinh tế -Xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2021
  •   26/07/2024 11:09

1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiêp * Trồng trọt - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Sản xuất trồng trọt vụ Hè Thu 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, quá trình cây sinh trưởng có nhiều đợt mưa làm cho lúa và các loại cây hàng năm phát triển tốt. Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu 2021 toàn tỉnh ước tính đạt 58.461 ha, bằng 102,22% (tăng 1.271 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 223.951 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 105,21% (tăng 11.106 tấn). Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước tính đạt 44.955 ha, tăng 905 ha so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích gieo cấy lúa tăng như: Lộc Hà tăng 302 ha, Thị xã Hồng Lĩnh tăng 207 ha, Hương Khê tăng 205 ha, Đức Thọ tăng 67 ha…Nguyên nhân chủ yếu diện tích lúa Hè Thu năm nay tăng là do vụ Xuân cây lúa phát triển tốt cho năng suất, sản lượng cao, giá thu mua lúa khá cao so với những năm trước, tạo động lực cho người dân tiến hành gieo cấy vụ Hè Thu. Mặt khác, một số xã do hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên nhiều diện tích những năm trước bỏ hoang năm nay người dân tiến hành gieo cấy. Vụ Hè Thu năm nay sử dụng nhóm giống có thời gian sinh trưởng dưới 105 ngày, các giống đã thích ứng diện rộng và ổn định trong sản xuất qua các năm gần đây gồm: Khang dân 18, Khang dân đột biến, BQ, HT1, Xuân Mai 12, Thiên ưu 8, ADI 168, VNR20. Các vùng, các địa phương chủ động nguồn nước, có điều kiện thâm canh tiếp tục đưa vào sản xuất quy mô phù hợp với từng địa phương các giống: DQ11, Bắc Hương 9, HDT10, ADI 28, VTNA6, Bắc Thịnh…; các vùng chậm nước, gieo cấy muộn sản xuất các giống mới ngắn ngày (dưới 100 ngày): HN6, Lam Sơn 8, TBR 279, BT09... Năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2021 ước tính tăng 1,25 tạ/ha, với sản lượng lúa ước tính tăng 9.905 tấn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn như BT 09, HN6, lai thơm 6, TH3-3, TH3-5...ở các địa phương bắt đầu bước vào giai đoạn chín và thu hoạch. Dự kiến thời gian thu hoạch rộ lúa vụ Hè Thu trên toàn tỉnh từ ngày 1-10/9/2021. Để tránh nguy cơ mưa lũ làm ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch lúa Hè Thu và tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, các địa phương cần phải tập trung chỉ đạo rà soát lại số lượng, điều tiết máy gặt để tập trung thu hoạch nhanh gọn lúa Hè Thu với phương châm “xanh nhà hơn già đồng” phấn đấu cơ bản xong trước 15/9/2021 Cũng như cây lúa, với điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc gieo trỉa và sinh trưởng, phát triển của cây trồng thì ước tính diện tích và sản lượng các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2021 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích ngô tăng 287 ha với sản lượng tăng 1.201 tấn; diện tích khoai lang tăng 102 ha với sản lượng tăng 606 tấn; diện tích lạc tăng 10 ha với sản lượng tăng 37 tấn; diện tích vừng tăng 47 ha với sản lượng tăng 74 tấn; diện tích rau các loại tăng 269 ha với sản lượng rau tăng 1.924 tấn so với cùng kỳ năm trước. -  Sản xuất vụ Mùa 2021: Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, đầu vụ thường xẩy ra khô hạn và cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Cùng với đó, năng suất lúa vụ Mùa thường rất thấp nên người dân ít đầu tư sản xuất. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa 2021 ước đạt 518 ha, bằng cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh hiện còn có huyện Nghi Xuân và huyện Lộc Hà đang triển khai gieo cấy lúa vụ Mùa trên những chân rộng pha cát. Do hiệu quả sản xuất vụ Mùa thấp nên không được xác định là vụ sản xuất chính của địa phương cho nên xu thế sản xuất lúa vụ Mùa đang ngày càng giảm. - Cây lâu năm Năm nay, điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho cây ăn quả sinh trưởng phát triển. Thời điểm này, nhiều loại cây ăn quả như mít, ổi, nhãn, chanh…đang thu hoạch chính vụ, trong đo cây bưởi là một loại cây ăn quả chủ lực của địa phương đang chuẩn bị bước vào thu hoạch. Năm nay, do điều kiện thời tiết thuận lợi, tỷ lệ đậu quả cao nên dự ước năng suất và sản lượng cây ăn quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp nên các hộ làm vườn gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm và hiện tượng được mùa mất giá có thể xẩy ra đối với vụ bưởi năm 2021. Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch các loại cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được quan tâm chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống, nhất là trong điều kiện khó khăn bởi dịch bệnh. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, trên lúa Hè Thu đang có các loại sâu bệnh phát sinh gây hại, cụ thể: Sâu cuốn lá lứa 2 mật độ trung bình 7-10 con/m2­, nơi cao 10-15 con/m2, diện tích nhiễm 34 ha, phân bố chủ yếu ở Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ; bọ trĩ, ruồi đục nõn phát sinh gây hại trên những vùng khô hạn ở Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Hương Khê, tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích bị nhiễm 13 ha; bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những vùng gieo cấy dày, bón phân không cân đối, tỷ lệ bệnh trung bình 5-7%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiễm 446 ha, phân bố rải rác trên địa bàn toàn tỉnh; bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh mật độ phổ biến 100-300 con/m2, cục bộ ổ 700-1.000 con/m2, diện tích nhiễm 0,5 ha; bệnh bạc lá gây hại trên giống Nhị ưu 838, Bắc thơm 67 ở Can lộc, diện tích nhiễm 5 ha; bệnh vàng lá sinh lý xuất hiện ở nhiều địa phương như: Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh,…chủ yếu ở những vùng không chủ động được nguồn nước; ốc bươu vàng gây hại ở những vùng sâu trũng, ngập nước, mật độ trung bình 3-5 con/m2, nơi cao 7-15 con/m2, diện tích nhiễm 173 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; chuột phát sinh gây hại với tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 7-10%, diện tích bị hại 123 ha ở những chân ruộng cao, gần làng trên địa bàn toàn tỉnh. Trên cây đậu thì sâu cắn lá mật độ trung bình 3-5 con/m2, diện tích 5 ha tập trung ở Hương Khê, Đức Thọ. Cây ngô sâu keo mùa thu gây hại trên trà ngô 5-9 lá với mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 15 ha, tập trung ở Vũ Quang, Cẩm Xuyên. Giai đoạn này bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện và phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Bệnh nứt thân xì mủ diện tích nhiễm 43 ha; bệnh vàng lá thối rễ diện tích nhiễm 30ha; bệnh loét, sẹo diện tích nhiễm 50 ha; sâu đục thân, đục quả 25 ha; nhóm nhện diện tích nhiễm 50 ha và các đối tượng sâu xanh bướm phượng, rầy chổng cánh…cũng xuất hiện gây hại nhưng với mức độ nhẹ. Diện tích cây ăn quả nhiễm bệnh chủ yếu tập trung ở huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang. * Chăn nuôi Hiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nhìn chung, đàn đại gia súc giảm, chăn nuôi lợn tăng nhẹ, đàn gia cầm tăng khá hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chăn nuôi trâu, bò gặp nhiều khó khăn do trên địa bàn phát sinh dịch bệnh viêm da, nổi cục gây thiệt hại nặng về kinh tế và ảnh hưởng đến số lượng đàn gia súc. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái phát. Chăn nuôi lợn đang trên đà phục hồi tái đàn nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn nhiều nguy cơ tái phát. Đặc biệt giá lợn hơi hiện nay đang giảm mạnh, giá bán đang ở mức 55 đến 60 ngàn đồng/kg, trong khi chi phí chăn nuôi tăng đây là rào cản đối với chăn nuôi lợn. Đàn gia cầm tăng khá mà chủ yếu tăng ở đàn gà (đàn gà hiện có chiếm gần 80% tổng số gia cầm), do chăn nuôi gà phát triển theo hướng trang trại, gia trại nhiều hơn các loại gia cầm khác. Thời gian tới, với những khó khăn chung của nền kinh tế do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 làm cho lượng cầu và giá bán sản phẩm giảm, trong khi chi phí sản xuất vẫn đang có xu hướng tăng nên chăn nuôi vẫn gặp khó khăn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, đến thời điểm hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 2 huyện (Cẩm Xuyên và Can Lộc). Tổng số lợn mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 13 con/5 thôn/5 hộ nuôi, số con chết tiêu hủy là 13 con, với trọng lượng 1.079 kg; dịch bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày trên địa bàn 5 huyện (Hương Sơn, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Lộc Hà). Tổng số gia súc mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày là 35 con bò/33 hộ/10 thôn. Tổng số chết tiêu hủy là 57 con (1 con trâu và 56 con bò), với trọng lượng 7.131 kg. Hiện nay, dịch bệnh cơ bản được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao đối với đàn vật nuôi.         Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm tiếp tục được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 19/8/2021: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 106.337 liều, đạt 68,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 103.739 liều, đạt 69% kế hoạch; dịch tả lợn 99.294 liều, đạt 51,33% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 98.310 liều, đạt 52,4% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 117.332 liều, đạt 84,6% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 988.208 liều, đạt 38,7% kế hoạch. 1.2. Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 8/2021 nhìn chung ổn định. Hoạt động trồng rừng vẫn được triển khai thực hiện nhưng do điều kiện thời tiết nắng nóng nên kết quả trồng rừng tập trung giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 12,6%). Sản lượng gỗ khai thác tháng 8/2021 ước tính tăng khá so với tháng trước (tăng 26,98%) cũng như so với cùng kỳ năm trước (tăng 8,19%). Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp thường thiếu ổn định. Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, trong tháng đã xẩy ra 2 vụ cháy rừng (01 vụ tại xã Phú Lộc, huyện Can Lộc và 01 vụ tại xã Tân Dân, huyện Đức Thọ) với diện tích rừng bị cháy là 1 ha và 7 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 1,57 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 29 vụ phá rừng (giảm 15 vụ), với diện tích rừng bị phá là 9,89 ha (giảm 10,01 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3. Thủy sản    Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 8/2021 ước tính tăng hơn so với tháng trước và giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù sản lượng thủy hải sản đánh bắt và nuôi trồng 8 tháng đầu năm tăng hơn so với cùng kỳ nhưng các ngư dân khai thác hải sản và người nuôi trồng thủy sản vẫn gặp khó khăn. Nguyên nhân do chi phí xăng, dầu, nhân công và các dịch vụ hậu cần nghề cá, thức ăn thủy sản đều tăng. Trong khi do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải thực hiện giản cách xã hội, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm mạnh đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với cả sản phẩm khai thác và nuôi trồng đều giảm. Hiện nay, nuôi tôm vẫn đang là hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ lực của tỉnh. Mặc dù đang bước vào nuôi tôm vụ Đông 2021 nhưng do dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp khiến thị trường tôm thêm “ảm đạm”, giá bán liên tục sụt giảm nên nhiều người nuôi tôm ở Hà Tĩnh không mặn mà đầu tư cho vụ mới. Đây sẽ là yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động nuôi trồng thủy sản những tháng cuối năm 2021. Trong tháng, dịch bệnh đốm trắng đối với tôm xuất hiện trên địa bàn huyện Lộc Hà và thành phố Hà Tĩnh với diện tích nhiễm bệnh là 2,39 ha nhưng đã được kiểm soát. 2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư         - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Ước tính tháng 8/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 7/2021 giảm 2,32% và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,74% so với tháng trước và tăng 19,58% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,07% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,47%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 14,04% so với tháng trước và tăng 12,59% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,78% so với tháng trước và giảm 1,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong 4 nhóm ngành cấp I, ngành sản xuất và phân phối điện giảm mạnh so với tháng trước nguyên nhân do trong tháng Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh ngừng một tổ máy để sữa chữa bảo dưỡng định kỳ dẫn đến lượng điện sản xuất đạt thấp, đây là nguyên nhân chính tác động giảm chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng này. Tính theo nhóm ngành công nghiệp cấp II, có tới 17/25 nhóm ngành có chỉ số sản xuất trong tháng tăng so với tháng trước. Trong đó có 6 nhóm ngành có mức tăng khá như: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 31,37%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 27,69%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 23,32%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 21,4%; khai khoáng khác tăng 21,31%; dệt tăng 13,26%. Bên cạnh những nhóm ngành có chỉ số tăng cao thì vẫn có 8 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với tháng trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Khai thác quặng kim loại giảm 27,01%; khai khoáng khác giảm 0,35%; sản xuất đồ uống giảm 6,39%; Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 1,5%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 1,88%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 0,35%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 2,41%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 14,04%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 18,28% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,88%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 24,89%, đóng góp 18,58 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,04%, làm giảm 0,23 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,9%, làm giảm 0,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Vượt lên những tác động tiêu cực của dịch Covid-19, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh 8 tháng đầu năm 2021 vẫn ghi nhận mức tăng khá. Đặc biệt có sự đóng góp lớn của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo do những tháng đầu năm 2021 hoạt động sản xuất thép của Công ty Formosa Hà Tĩnh (FHS) nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Những khó khăn trong thời gian qua đã được FHS từng bước tháo gỡ, góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh. - Thực hiện vốn đầu tư: Trong tháng tình hình thời tiết khá thuận lợi, một số dự án và công trình đẩy nhanh tiến độ, như: Dự án Cải thiện cơ sở hạ tầng các xã vùng ngập lụt tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 68 tỷ đồng; dự án hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 57 tỷ đồng…. Ngoài ra các dự án đường, trường thuộc tiêu chí mục tiêu nông thôn mới đẩy nhanh tiến độ kịp thời gian đề ra. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 8 ước đạt 524,29 tỷ đồng, tăng 18,87% so với tháng trước và tăng 7,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 400,12 tỷ đồng, tăng 19,25% so với tháng trước và tăng 15,54% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 72,92 tỷ đồng, tăng 13,38% so với tháng trước và bằng 67,01% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 51,25 tỷ đồng, tăng 24,34% so với tháng trước và tăng 66,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2021, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.268,97 tỷ đồng, tăng 13,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh chiếm tỷ trọng 74,54% trong tổng vốn, tăng 35,88% so với cùng kỳ; nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã chiếm 25,46% chủ yếu là nguồn vốn thu từ quỹ sử dụng đất, so với cùng kỳ năm trước nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã giảm lần lượt 28,57% và 11,87%. 3. Thương mại, dịch vụ Tình hình diễn biến dịch bệnh Covid-19 trên cả nước trong thời gian gần đây ngày càng bùng phát nghiêm trọng và khó kiểm soát. Bên cạnh đó đầu tháng 8, địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã tái xuất hiện các ca nhiễm Covid-19 trong cộng đồng khiến cho một số khu vực phải thực hiện cách ly y tế, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ phải tạm dừng hoạt động và gặp khó khăn hơn so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước đạt 3.236,51 triệu đồng, giảm 2,8% so với tháng trước và giảm 5,24% so với cùng kỳ năm trước. 7/12 nhóm hàng giảm so với tháng trước, trong đó một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn giảm so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm chiếm 43,41% giảm 3,38%; ôtô các loại chiếm 11,81% giảm 10,06%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 9,91% giảm 1,64%; xăng dầu các loại chiếm 9,46% giảm 3,88%. Mặc dù đây là tháng trùng với dịp lễ Rằm Tháng Bảy tuy nhiên với diễn biến phức tạp của dịch bệnh, tỉnh đã có quy định các gia đình, dòng họ chỉ được tổ chức tế lễ gọn nhẹ, cấm tập trung ăn uống đông người nên nhu cầu mua sắm của người dân giảm hơn so với dịp lễ trước. Bên cạnh các nhóm hàng có chỉ số giảm thì có 5/12 nhóm hàng có chỉ số tăng so với tháng trước trong đó tăng mạnh nhất là nhóm vật phẩm, văn hóa giáo dục (tăng 12,84%) do đây là thời điểm chuẩn bị bước vào năm học mới.   Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 28.138,28 tỷ đồng, tăng 10,27% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở tất cả 12/12 nhóm hàng, trong đó một số nhóm có mức tăng khá như: hàng may mặc tăng 28,41%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 23,89%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 28,84%; xăng dầu các loại tăng 23,27% đá quý, kim loại quý tăng 34,75%, sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 19,41%. Nhìn chung 8 tháng đầu năm 2021 tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng khá so với cùng kỳ, tình hình hàng hóa trên thị trường cơ bản ổn định; nguồn cung hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người dân, không xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá, bên cạnh đó tỉnh cũng đã có các phương án vừa bảo đảm hiệu quả chống dịch vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thời gian tới hoạt động thương mại đang còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, bất lợi, khi tình hình dịch bệnh ở các thành phố lớn trên cả nước đang diễn biến hết sức phức tạp, khó kiểm soát tác động đến nguồn cung và giá cả hàng hóa. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2021 ước đạt 84,67 tỷ đồng, giảm 55,96% so với tháng trước, giảm 77,25% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác tháng 8/2021 ước tính đạt 74,89 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 12,36% và so với cùng kỳ năm trước giảm 46,05%. Do dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhu cầu đi lại bị hạn chế, cùng với việc kiểm soát chặt người đến và đi trên địa bàn tỉnh nên hoạt động lưu trú giảm mạnh, nhất là các cơ sở lưu trú ngắn ngày. Bên cạnh đó, tuân thủ nghiêm Công văn số 5094/UBND-VX ngày 06/8/2021 và Công văn 5297/UBND ngày 13/8/2021 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc triển khai một số biện pháp cấp bách phòng chống dịch bệnh Covid 19 trên địa bàn tỉnh theo đó các cơ sở kinh doanh dịch vụ không thiết yếu phải đóng cửa trở lại sau hơn một tháng hoạt động; các quán ăn, nhà hàng chỉ được phép bán mang về. Đây là những nguyên nhân chính làm cho doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác tháng 8 giảm hơn so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2021 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.693,92 tỷ đồng, tăng 0,05 % so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 995,63 tỷ đồng tăng 3,58 % so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 8 tháng đầu năm 2021 có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Với tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay thì sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngành dịch vụ trong thời gian tới. - Hoạt động vận tải: Tháng 8/2021 tình hình dịch bệnh trên cả nước vẫn còn diễn biến phức tạp do các biến chủng mới của virus  SARS-CoV-2, lây lan nhanh ở nhiều thành phố lớn, đồng thời trên địa bàn tỉnh đã tái xuất hiện các ca nhiễm Covid-19 trong cộng đồng. Do đó đối với tuyến vận tải hành khách liên tỉnh, nhiều địa phương tiếp tục chỉ đạo tạm ngừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến Hà Tĩnh. Đối với vận tải hành khách nội tỉnh kể từ 0 giờ ngày 10/8/2021, tạm dừng hoạt động tất cả các tuyến xe buýt nội tỉnh cho đến khi có thông báo mới. Đối với vận tải hàng hoá do thời tiết thuận lợi và không bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch nên tăng nhẹ so với tháng trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên số lượng tàu cập cảng vận chuyển trong tháng tiếp tục giảm. Vận tải hành khách tháng 8/2021 ước đạt 365,01 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 25,07% so với tháng trước; lượng hành khách luân chuyển ước đạt 41,78 triệu lượt khách.km, giảm 39,44%; doanh thu ước đạt 18,98 tỷ đồng giảm 24,3%. Tính chung 8 tháng đầu năm ước tính đạt 10.379,67 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 18,79% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.715,92 triệu lượt khách.km, giảm 24,6%, doanh thu ước đạt 711,55 tỷ đồng giảm 8,06%. Vận tải hàng hóa tháng 8/2021 ước tính đạt 2.504,52 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,43 % so với tháng trước; lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 52,83 triệu tấn.km, tăng 4,22%; doanh thu ước đạt 190,08 tỷ đồng tăng 4,56%. Tính chung 8 tháng đầu năm ước tính đạt 19.515,64 nghìn tấn vận chuyển, giảm 5,78% so với cùng kỳ năm trước; lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 492,45 triệu tấn.km, giảm 6,98%, doanh thu ước đạt 1775,57 tỷ đồng, giảm 4,75%. Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8/2021 đạt 57,87 tỷ đồng giảm 17,83% so với tháng trước. Chung 8 tháng ước đạt 583,21 tỷ đồng tăng 23,27% so với cùng kỳ năm trước. 4. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 8 năm 2021 giảm 0,44% so với tháng trước, tăng 2,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị giảm 0,6% so với tháng trước, tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn giảm 0,37% so với tháng trước, tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,23%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%; giao thông tăng 0,32%; giáo dục tăng 0,15%. 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,36%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,27%; bưu chính viễn thông giảm 0,03% so tháng trước; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,03%. 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; văn hóa, giải trí và du lịch. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 8 năm 2021 là: i) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến trong thời gian dài và ngày càng phức tạp. Nhiều ngành nghề tiếp tục phải tạm ngừng hoặc hạn chế hoạt động. Thu nhập của người dân chịu ảnh hưởng, khiến người dân giảm tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu. Qua đó tác động đến nhu cầu và giá cả các nhóm này; (ii) Trong tháng rơi vào thời điểm tháng 7 âm lịch cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng lương thực, thực phẩm và mua sắm đồ dùng gia đình. Bên cạnh đó, việc chuẩn bị cho năm học mới khiến nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm tăng cao; (iii) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (iv) giá vật liệu xây dựng trong tháng tiếp tục giảm. Chỉ số giá vàng giảm 1,12% so với tháng trước, giảm 5,36% so với cùng tháng năm trước; Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,41% so với tháng trước, ổn định so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.196 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.318 nghìn đồng/100 USD. Tính chung CPI 8 tháng đầu năm 2021, chỉ số chung 101,69% (tăng 1,69%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,35%; nông thôn tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 9/2021 dự kiến giảm hơn so tháng 8/2021. Tình hình dịch bệnh Covid-19 dự kiến còn diễn biến phức tạp trong thời gian dài, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục phải giảm thời gian hoạt động, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Sang tháng, dự kiến giá lương thực, thực phẩm giảm do vụ lúa Hè Thu vào vụ thu hoạch, cùng với việc hoạt động xuất khẩu tiếp tục gặp nhiều khó khăn, nguồn cung hàng hóa trong nước tăng cao sẽ tác động làm cho giá giảm. 5. Các vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Trước diễn biến phức tạp của đợt bùng phát đại dịch COVID-19 lần thứ 4, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành kế hoạch đảm bảo nguồn cung hàng hóa thiết yếu theo các cấp độ của dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tình hình mới. Kế hoạch cung ứng hàng hóa được xây dựng theo 3 tình huống của dịch COVID-19, cụ thể: cấp độ 1, khi tình hình dịch bệnh ổn định, các ca bệnh đã được cách ly, không có nguy cơ lây nhiễm ra cộng đồng; cấp độ 2, khi áp dụng thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg tại một số địa phương; cấp độ 3, khi áp dụng thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg trên phạm vi toàn tỉnh. Theo đó, hàng hóa sẽ cung ứng kịp thời, đầy đủ lương thực, thực phẩm, nhu cầu thiết yếu cho nhân dân, đặc biệt đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người mất công ăn việc làm do dịch bệnh; không để tình trạng thiếu hàng hóa, ách tắc lưu thông. Đồng thời yêu cầu các đơn vị tăng cường công tác quản lý về thị trường, chống các hành vi đầu cơ, găm hàng, vi phạm hoạt động thương mại. Kịp thời bảo đảm đời sống người dân trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. Kết quả vận động ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19: Từ ngày 16/7 đến ngày 22/8/2021 tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 8,04 tỷ đồng. Lũy kế từ khi phát động ngày 24/3 đến nay, tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 199,61 tỷ đồng, trong đó đợt 1 là 77,91 tỷ đồng, đợt 2 là 121,7 tỷ đồng. 5.2. Giáo dục phổ thông Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2020-2021 đã phản ánh sự thành công của giáo dục Hà Tĩnh trong mục tiêu nâng cao chất lượng đại trà ở các trường học. Điểm bình quân các môn của thí sinh Hà Tĩnh là 6,56, xếp thứ 18 cả nước, tăng 7 bậc so với mùa thi trước. Tỷ lệ đạt tốt nghiệp THPT Quốc gia của Hà Tĩnh đạt 99,02% (với số lượng thí sinh tốt nghiệp là 16.424 học sinh trên tổng số 16.586 thí sinh dự thi). Trong đó: Đối với bậc THPT: Số em dự thi ở tất cả các cụm là 15.148 học sinh, số tốt nghiệp là 15.101 em đạt 99,69%; Đối với hệ bổ túc THPT: Số dự thi là 1.438 học sinh, số tốt nghiệp là 1.323 học sinh, đạt 92,00%. Riêng bậc tiểu học và trung học cơ sở chỉ xét tốt nghiệp. Đối với bậc tiểu học: Số học sinh được công nhận hoàn thành chương trình là 18.190 học sinh, trên tổng số 18.269 học sinh được xét, tương ứng với tỉ lệ hoàn thành chương trình là 99,57% (giảm 0,06% so với năm học trước); Đối với bậc THCS: Số học sinh được công nhận tốt nghiệp là 18.016 học sinh trên tổng số 18.191 học sinh được xét, tương ứng với tỷ lệ được công nhận tốt nghiệp là 99,04% (giảm 0,17% so với năm học trước). 5.3. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch Covid-19: Trước diễn biến hết sức phức tạp của dịch bệnh COVID-19 tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước; trên địa bàn tỉnh có nhiều người từ vùng thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg về địa phương có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2, để chủ động trong công tác phòng, chống dịch COVID-19 và hạn chế sự lây lan trong cộng đồng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 5094/UBND-VX1 ngày 6/8/2021 và Công văn số 5297/UBND-VX1 ngày 16/8/2021 về việc về triển khai một số biện pháp cấp bách phòng chống dịch COVID-19. Từ 10/7/2021 đến nay phát hiện 28 ca cộng đồng, 223 ca F0 từ TP Hồ Chí Minh, Bình Dương,...về trên địa bàn tỉnh được cách ly ngay. Tổng số ca cộng dồn từ 04/6/2021 đến 18h ngày 22/8/2021 là 382 ca (trong đó có 03 trường hợp nhập cảnh, 02 trường hợp ngoại tỉnh); 13 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 50, Hương Sơn: 38, Thạch Hà: 57, Lộc Hà: 51, Hồng Lĩnh: 19, Nghi Xuân: 10; Huyện Kỳ Anh: 24; Hương Khê: 32, Đức Thọ: 17, Can Lộc 49, Cẩm Xuyên 20, Vũ Quang 08, TX Kỳ Anh 02. Tình hình điều trị ca bệnh dương tính: Điều trị tại Hà Tĩnh 324 ca, có 133 bệnh nhân đã khỏi bệnh ra viện, hiện còn 191 bệnh nhân đang điều trị, trong đó: tại TTYT huyện Kỳ Anh (61), BVĐK Cửa Khẩu Cầu Treo (91), BV Phổi (38), còn lại đang điều chuyển về các bệnh viện khác; Chuyển Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 58 BN, trong đó có 33 ca đã ra viện, 03 ca tử vong. Kết quả truy vết xét nghiệm: Cộng dồn F1 từ 4/6 đến ngày 22/8/2021 là 4.343 trường hợp, đã hoàn thành cách ly: 2.809 trường hợp; F2 là 26.766 trường hợp, đã hoàn thành cách ly: 20.852 trường hợp.  Rà soát, quản lý người đến/về từ vùng dịch tính đến ngày 22/8/2021: Người đến/về từ các vùng dịch đang cách ly, theo dõi là 13.756 người: TPHCM 4.540 người, Bình Dương 5.188 người, Đồng Nai 2.520 người, Hà Nội 1.050 người, từ một số các tỉnh phía Nam thực hiện chỉ thị 16 là 458 người. Số lượng người hiện đang cách ly tập trung tính đến ngày 22/8/2021 là 5.294 người; cách ly tại nhà/nơi lưu trú 7.688 người; cách ly tại cơ sở y tế 71 người. Công tác tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19: Đã hoàn thành chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 đợt 3: 25.983 người (đạt 114,4% kế hoạch); đợt 4: 45.221 người (đạt 105% kế hoạch). - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 1 ổ dịch sốt xuất huyết Lộc Hà vào ngày 31/7/2021, từ đó đến nay, tại địa phương này đã ghi nhận 14 trường hợp mắc Sốt xuất huyết, không có ca bệnh tử vong vì dịch; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 ổ dịch, tăng 14 ca ca bị dịch, số trường hợp tử vong vì dịch không đổi. Ngoài ra có các ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 5 ca mắc bệnh quai bị (giảm 1 ca so với cùng kỳ), 11 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 2 ca); 14 ca mắc lỵ a míp (giảm 11 ca); 34 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 20 ca), 862 ca mắc bệnh cúm (giảm 720 ca), 5 ca chân tay miệng (giảm 15 ca), 2 ca viêm gan vi rút (giảm 9 ca), tiêu chảy 67 ca, không phát sinh các ca bệnh khác. Ngoài dịch sốt xuất huyết nêu trên thì các bệnh khác đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.   - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Tính từ 16/7-15/8/2021 Hà Tĩnh chỉ có 3 người nhiễm mới HIV (giảm 4 người so với cùng kỳ năm 2020), 3 người chuyển thành AIDS (giảm 7 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 8 tháng, có 33 trường hợp nhiễm HIV (giảm 23 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 30 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 21 trường hợp) và có 2 trường hợp chết vì AIDS (không đổi). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được tỉnh quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 16/7- 15/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 141 ca độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 38 ca ( tăng 36,89%), số ca tử vong không thay đổi.      Tính chung 8 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/8/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 826 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 41 ca. 5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Do dịch Covid-19 bùng phát trở lại nên các hoạt động văn hóa, thể thao, hội nghị tập trung đông người tiếp tục tạm dừng. Các hoạt động tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng (kể cả ngày Rằm tháng 7) được tổ chức không quá 30 người tham gia và phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định về phòng, chống dịch COVID-19. Các hoạt động văn hóa chính trong tháng chủ yếu là tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch Covid-19. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 11 giấy phép (09 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 02 giấy phép thuộc lĩnh vực thể thao). - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người. Các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân, vừa tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế. 5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         Tính từ ngày 15/7/2021 đến ngày 14/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 11 người, bị thương 3 người, thiệt hại tài sản 60 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ không đổi, tăng 01 người chết, tăng 01 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.         Như vây, tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 71 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 9 vụ so với cùng kỳ), làm chết 59 người (giảm 15 người) và bị thương 25 người (giảm 8 người). 5.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 16/8/2021 đến ngày 15/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ cháy, làm 1 người chết và không có người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 59 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 số vụ, không đổi; tăng 1 người chết; giảm 1 người bị thương. Tính chung 8 tháng năm 2021, xẩy ra 35 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2.416 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 14 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/7 đến ngày 14/8/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 22 vụ, xử lý 15 vụ, tổng số tiền xử phạt 104,7 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020, số vụ đã phát hiện tăng 18 vụ, số vụ đã xử lý tăng 11 vụ, số tiền xử phạt tăng 73,7 triệu đồng. Các lĩnh vực vi phạm trong tháng bao gồm: Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường đã phát hiện 10 vụ và xử lý 8 vụ, với tổng số tiền 48,7 triệu đồng; còn lại là vi phạm khác 12 vụ (khai thác đất, cát trái phép, sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản...), đã xử lý 7 vụ, với tổng số tiền là 56 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2021, đã phát hiện 105 vụ (tăng 78 vụ so với cùng kỳ) và xử lý 77 vụ (tăng 51 vụ) vi phạm môi trường, với số tiền 1.129,25 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép; xử lý vi phạm môi trường và xử lý các trang trại chăn nuôi lợn, gà không đảm bảo vệ sinh môi trường.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KT-XH tháng 7 và 7 tháng năm 2021
  •   26/07/2024 11:00

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 7 tháng qua trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. 1.Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, thủy sản      1.1 Sản xuất nông nghiệp *Trồng trọt - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Trong tháng 7 năm 2021, bà con nông dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu. Với điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu đang sinh trưởng và phát triển tốt. Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021 toàn tỉnh ước đạt 44.489 ha, bằng 101% (tăng 439 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu tăng là do vụ sản xuất Đông Xuân vừa qua được mùa toàn diện đã tạo động lực cho bà con nông dân trong sản xuất; cùng với đó là điều kiện thời tiết thuận lợi và các chính sách khuyến nông hỗ trợ về giống, vật tư tiếp tục được triển khai nên bà con nông dân đã khai thác tối đa quỹ đất trồng lúa từ đất bỏ hoang, đất trồng một số loại cây hoa màu khác kém hiệu quả để gieo cấy lúa. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa tăng cả so với kế hoạch cũng như so với cùng kỳ năm trước như: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Khê, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số địa phương không hoàn thành kế hoạch đặt ra như: Thành phố Hà Tĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà. Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2021 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 12/7/2021, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 1.467 ha, đạt 94,8% kế hoạch; ngô sinh khối 410 ha, đạt 53,9% kế hoạch; khoai lang 186 ha, đạt 37,9% kế hoạch; đậu các loại 2.673 ha, đạt 71% kế hoạch; lạc 133 ha, đạt 29,1% kế hoạch; vừng 388 ha, đạt 78,6% kế hoạch; rau các loại 2.222 ha, đạt 88,8% kế hoạch. Nhìn chung, đầu vụ sản xuất Hè Thu năm nay điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không xẩy ra hạn hán, nguồn nước đảm bảo cho sản xuất; các loại cây trồng sản xuất đúng lịch thời vụ; cơ cấu các loại giống cơ bản theo Đề án của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các loại giống ngắn ngày, năng suất cao và thích ứng với điều kiện khí hậu của địa phương; công tác chỉ đạo sản xuất và quản lý nhà nước về hàng hoá vật tư nông nghiệp, kiểm soát chất lượng giống lúa được tăng cường…nên kết quả diện tích gieo cấy lúa đạt khá. Tuy nhiên, đối với các loại cây trồng cạn khác thực hiện không đạt kế hoạch đặt ra. Nguyên nhân, đầu vụ có đợt mưa lớn và sau đó lại có đợt nắng nóng gay gắt nên một số diện tích rau màu không xuống giống được. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đứng cái, làm đòng. Để có một vụ Hè Thu thắng lợi toàn diện như vụ Đông Xuân, ngoài yếu tố thiên nhiên thì bà con nông dân cần phải tuân thủ quy trình kỷ thuật chăm sóc lúa và thường xuyên thăm đồng để phát hiện và kịp thời phòng trừ các loại dịch bệnh gây hại. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 22/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh thì trên lúa Hè Thu có sâu bệnh phát sinh gây hại nhưng mức độ ảnh hưởng thấp, cụ thể: Sâu cuốn lá nhỏ với mật độ trung bình 5-7con/m2, nơi cao 10-15 con/m2, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, diện tích nhiểm bệnh 27 ha, tập trung ở Can Lộc, Lộc Hà, Đức Thọ…; bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những chân ruộng bón thừa đạm, gieo cấy dày, tỷ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiểm bệnh 38a, phân bố ở Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Thạch Hà; bệnh vàng lá sinh lý xuất hiện trên những vùng không chủ động nước ở các địa phương Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh; ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên địa bàn toàn tỉnh, mật độ trung bình 4-6 con/m2, nơi cao 7-9 con/m2, cục bộ 10-15con/m2, diện tích nhiễm là 70 ha; chuột phát sinh gây hại tại Cẩm Xuyên, Lộc Hà với tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 7-10%, diện tích bị hại 85 ha. Trên cây đậu thì sâu ăn lá mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2 diện tích 5 ha tập trung ở Hương Khê, Đức Thọ. Cây ngô sâu keo mùa thu, sâu ăn lá mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 10 ha, tập trung ở Vũ Quang. Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Bệnh chảy gôm diện tích nhiễm 43 ha; bệnh vàng lá thối rễ diện tích nhiễm 30 ha; bệnh loét, sẹo diện tích nhiễm 50 ha; sâu đục thân, đục quả 25 ha; nhóm nhện diện tích nhiễm 50 ha; sâu vẻ bùa, sâu nhớt 30 ha và các đối tượng sâu xanh bướm phượng, rầy chổng cánh…cũng xuất hiện gây hại nhưng với mức độ nhẹ. Diện tích cây ăn quả nhiễm bệnh chủ yếu tập trung ở huyện Hương Sơn, Hương Khê. Trước tình hình diễn biến của sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, dự báo chính xác các đối tượng sâu, bệnh để phòng trừ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu và cây ăn quả năm 2021, cụ thể: Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, chuột,…trên cây lúa, đặc biệt cần theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu cuốn lá nhỏ để có biện pháp phòng trừ kịp thời; sâu keo mùa thu, sâu đục thân trên cây ngô; bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá trên cây đậu; sâu vẽ bùa, nhóm nhện, bệnh chảy gôm trên cây ăn quả để có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Đối với rầy và bệnh lùn sọc đen Phương Nam phải thường xuyên thu mẫu rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen để giám định vi rút lùn sọc đen Phương Nam, bệnh vàng lụi để có biện pháp phòng trừ kịp thời.  *Chăn nuôi Hiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn. Chi phí chăn nuôi ngày càng tăng trong khi giá bán sản phẩm đang có xu hướng giảm mạnh đã gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi, nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Tín hiệu tích cực là trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm nên đàn gia cầm phát triển khá, với giá bán sản phẩm tương đối ổn định. Dự kiến, thời gian tới với những khó khăn chung của nền kinh tế do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 làm cho lượng cầu hàng hóa giảm, trong khi chi phí sản xuất vẫn đang có xu hướng tăng mà giá bán sản phẩm thì giảm. Vì vậy, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn gặp khó khăn, cơ bản chỉ ổn định được đàn vật nuôi chứ chưa thể có bước đột phá trong ngắn hạn.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 14/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 501 con (9 con trâu và 492 con bò)/382 hộ/62 thôn/18 xã, thị trấn của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Vũ Quang) đang có gia súc mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày; có 10 xã của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, Đức Thọ, Lộc Hà) dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày, nhưng không còn có lợn mắc dịch; dịch LMLM xẩy ra ở Hương Khê đã hết dịch qua 21 ngày. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi.         Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/7/2021: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 35.098 liều, đạt 58,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 34.868 liều, đạt 59,8% kế hoạch; dịch tả lợn 9.431 liều, đạt 17,65% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 9.381 liều, đạt 19,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 23.058 liều, đạt 40,1% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 110.676 liều, đạt 11,4% kế hoạch.          1.2 Lâm nghiệp         Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 7/2021 nhìn chung ổn định. Tranh thủ các đợt mưa trong tháng thì hoạt động trồng rừng tập trung vẫn tiếp tục được triển khai với kết quả tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 7/2021 tuy tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 19,48% so với tháng trước. Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp giữa các tháng và các năm thường có sự chênh lệch khá lớn.         Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, trong tháng đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng tại huyện Can Lộc với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha và 4 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 0,796 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 9 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha (giảm 58,57 ha) và 22 vụ phá rừng (giảm 17 vụ), với diện tích rừng bị phá là 8,32 ha (giảm 6,826 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản   Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 7/2021 không có nhiều biến động, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển gặp khó khăn do chi phí xăng dầu, nhân công ngày càng tăng trong khi nguồn lợi hải sản ngày càng giảm. Cùng với đó, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2021. Tuy nhiên, năm nay do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải thực hiện giản cách xã hội, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với tôm nuôi giảm nên người nuôi tôm gặp khó khăn.  Trong tháng không phát sinh dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản.         2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư        2.1 Hoạt động sản xuất công nghiệp:- Ước tính chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 7/2021 tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Một số ngành công nghiệp có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ năm trước đó là: Ngành khai khoáng tăng 18,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,15%. Bên cạnh một số ngành có chỉ số tăng cao thì trong tháng 7 vừa qua vẫn còn một số ngành có chỉ số đạt thấp so với tháng trước củng như cùng kỳ năm trước như ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,33% so với tháng trước và giảm 4,61% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,61% so với tháng trước và giảm 4,92% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 7 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,85% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,78%, đóng góp 0,18 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,07%, đóng góp 21,38 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,87%, làm giảm 0,45 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8%, làm giảm 0,26 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. - Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 17 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 85,29%; khai khoáng quặng kim loại tăng 51,8%; sản xuất kim loại tăng 33,19%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 24,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 24,71%. Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng cao thì vẫn có 8 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 22,17%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 21,66%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 10,61%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 6,63%; sản xuất trang phục giảm 6,52%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 5,07%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,87%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị giảm 0,38%. 2.2. Vốn đầu tưTrong tháng 7 vừa qua tình hình Dịch Covid-19 tạm thời được khống chế, thời tiết tương đối thuận lợi đã tạo điều kiện trong việc thi công các công trình dự án trên địa bàn đảm bảo tiến độ đề ra, bên cạnh đó các công trình sử dụng nguồn vốn ODA như dự án cải thiện cơ sở hạ tầng các vùng lũ ngập Hà Tĩnh, các dự án đường, cầu dân sinh đã được phân bổ, bàn giao vốn kịp thời để triển khai thi công. Trong tháng 7/2021, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 489,02 tỷ đồng, tăng 20,95% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 363,21 tỷ đồng, tăng 15,2% (tăng 47,9 tỷ đồng) so với tháng trước và tăng 20,72% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 78,94 tỷ đồng, tăng 34,66% (tăng 20,32 tỷ đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46.869 triệu đồng, tăng 54,15% (tăng 16,47 tỷ đồng) so với tháng trước. - Dự ước 7 tháng đầu năm 2021: Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2792,62 tỷ đồng, đạt 36,69% kế hoạch năm, tăng 17,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.064,55 tỷ đồng, chiếm 73,93% tổng vốn, tăng 42,66% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 444,47 tỷ đồng, chiếm 15,92% tổng vốn, giảm 25,30% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 283,60 tỷ đồng, chiếm 10,15% tổng vốn, tăng 0,78% so với cùng kỳ. Trong 7 tháng đầu năm, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch vẫn đang đạt thấp (đạt 36,69%). Nguyên nhân do thời gian qua, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước; giá thép tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến triển khai các dự án công trình của các nhà thầu. Bên cạnh đó một số dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm. 2.Thương mại, dịch vụ Sau khi khống chế được dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh, bước sang tháng 7 các cơ sở sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ đã trở lại hoạt động bình thường tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong tình hình mới. Cùng với đó, bệnh viêm da nổi cục ở trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 7/2021 tăng so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 7/2021 đạt 3.417,33 tỷ đồng, tăng 9,84% so với tháng trước và giảm 0,91% so với cùng kỳ năm trước. 12/12 nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: Vật phẩm văn hóa, giáo dục 27,02%; hàng may mặc tăng 14,93%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,95%; xăng dầu các loại tăng 14,81%; đá quý và kim loại quý tăng 42,5%. Dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, đa số các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định hoạt động trở lại, thời gian hoạt động bình quân cũng dài hơn so tháng trước. Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 24.989,32 triệu đồng, tăng 13,06% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: hàng may mặc tăng 36,41%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 26,57%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 29,25%; xăng dầu các loại tăng 25,05% đá quý, kim loại quý tăng 40,99%. Nhìn chung 7 tháng đầu năm 2021 tổng mức bán lẻ tăng khá so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu thời gian qua các doanh nghiệp đã đổi mới sản phẩm của mình; chuyển đổi từ hình thức bán hàng truyền thống sang hình thức bán hàng trực tuyến để thích ứng với tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thời gian tới còn gặp nhiều khó khăn, bất lợi, tiềm ẩn nhân tố không ổn định khi dịch bệnh ở các địa phương khác đang diễn biến hết sức phức tạp. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động đến lượng cầu hàng hóa.         - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2021 ước đạt 194,05 tỷ đồng, tăng 19,55% so với tháng trước, giảm 56,28% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 ước đạt 2.611,07 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước         Doanh thu dịch vụ khác tháng 7/2021 ước tính đạt 80,31 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 7,51% và so với cùng kỳ năm trước giảm 45,47%. Chung 7 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 915,6 tỷ đồng tăng 11,34 % so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác 7 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. - Hoạt động vận tải:          Mặc dù dịch Covid 19 trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, hoạt động vận tải hành khách tăng so với tháng trước, tuy nhiên trong thời gian tới vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh cả nước nói chung đang còn diễn biến phức tạp, nhiều địa phương đã chỉ đạo tạm ngừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến Hà Tĩnh. Vận tải hàng hoá tăng nhẹ so với tháng trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên số lượng tàu cập cảng vận chuyển giảm.         Vận tải hành khách tháng 7/2021 ước đạt 678,68 nghìn lượt hành khách vận chuyển, tăng 10,5% so với tháng trước và luân chuyển 90,58 triệu lượt khách.km, tăng 11,47%; doanh thu ước đạt 37,03 tỷ đồng tăng 15,38%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 10.206,18 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 6,18% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.695,74 triệu lượt khách.km, giảm 12,08%, doanh thu ước đạt 711,55 tỷ đồng giảm 8,06%.         Vận tải hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 2.074,31 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 2,48 % so với tháng trước và luân chuyển 50,52 triệu tấn.km, tăng 0,24%; doanh thu ước đạt 186,16 tỷ đồng tăng 2,7%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 17.509,99 nghìn tấn vận chuyển, giảm 1,96% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 439,45 triệu tấn.km, giảm 2,92%, doanh thu ước đạt 1.589,86 tỷ đồng, giảm 1,49%.         Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7/2021 đạt 67,65 tỷ đồng giảm 6,66% so với tháng trước. Chung 7 tháng ước đạt 522,58 tỷ đồng tăng 25,93% so với cùng kỳ năm trước.         3.Chỉ số giá tiêu dùng          CPI tháng 7 năm 2021 tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,29% và khu vực nông thôn tăng 0,65%.         Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,22%, Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,63%; giao thông tăng 1,74%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,16%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,53%. 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,09% so tháng trước. Có 3 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Giáo dục; văn hóa, giải trí và du lịch; đồ uống và thuốc lá.         Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 7/2021, đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, kéo dài trên phạm vi cả nước trong thời gian qua khiến mọi mặt của đời sống người dân nói chung cũng như một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nói riêng bị ảnh hưởng. Thu nhập người dân bị tác động, người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu, tác động đến nhu cầu và giá cả các đồ dùng đắt tiền; (2) Yếu tố thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt tiếp tục tăng đã tác động đến chỉ số giá nhóm hàng Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; (3) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (4) Giá vật liệu xây dựng bắt đầu giảm.         Chỉ số giá vàng giảm 2,02% so với tháng trước, tăng 5,14% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.254 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 0,37% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân 2.327 nghìn đồng/100 USD.         Tính chung CPI 7 tháng đầu năm 2021, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,34%; khu vực nông thôn tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước.         Chỉ số CPI tháng 8/2021 dự kiến tiếp tục tăng hơn so tháng 7/2021. Tình hình dịch bệnh covid-19 dự kiến còn diễn biến phức tạp trong thời gian dài sắp tới, nguồn cung hàng hóa gặp nhiều khó khăn hơn. Giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tăng cao liên tục trong thời gian qua ảnh hưởng đến đến chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa. Các nhóm hàng may mặc, văn phòng phẩm dự kiến tăng giá vào cuối tháng khi thời điểm năm học mới bắt đầu.         5. Các vấn đề xã hội         5.1. Tình hình đời sống dân cư         Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được quan tâm triển khai kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói. Tính đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiếu đói. Tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, cùng sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch nên đời sống của nhân dân ổn định. Dự kiến trong thời gian tới tình trạng thiếu đói không xẩy ra.          Kết quả vận động ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19: Tính đến ngày 16/7/2021, tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 191,57 tỷ đồng, trong đó đợt 1 là 77,91 tỷ đồng, đợt 2 là 113,66 tỷ đồng. Số tiền và hàng hóa đã phân phối hỗ trợ công tác phòng chống dịch như: vật tư sinh phẩm, thiết bị y tế; khẩu trang; nước sát khuẩn… cho lực lượng tuyến đầu và các nhu yếu phẩm, hỗ trợ khu phong tỏa, khu cách ly qua hai đợt là 128,57 tỷ đồng.          5.2. Giáo dục phổ thông         Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2021 (đợt 1) ở Hà Tĩnh được tổ chức hai ngày 7-8/7/2021 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh còn tiềm ẩn nguy cơ, một số khu dân cư vẫn bị phong tỏa, một số thí sinh F1, F2 phải chờ thi đợt 2. Tham gia kỳ thi tốt nghiệp với hơn 17.300 thí sinh và hơn 3.600 cán bộ, nhân viên, thanh niên tình nguyện phục vụ tại các điểm thi. Với sự sự nổ lực của các ngành chức năng trong công tác tổ chức kỳ thi và phòng, chống dịch, kỳ thi đã kết thúc nghiêm túc đúng quy chế và đảm bảo an toàn sức khỏe. Bên cạnh đó, công tác chấm thi và tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2021-2022 đã hoàn thành, theo đó năm học 2021-2022 điểm đầu vào trường THPT công lập trên địa bàn tỉnh tăng mạnh so với năm trước và có sự đồng đều về chất lượng giáo dục ở các vùng. Toàn tỉnh có 25/36 trường có điểm đầu vào từ 20 đến 33 điểm (tăng 16 trường so với năm học trước).         5.3. Hoạt động Y tế         - Tình hình dịch Covid-19: Tình hình dịch Covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản đã được khống chế. Các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố theo chức năng nhiệm vụ tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra các biện pháp phòng chống dịch Covid có hiệu quả. Đồng thời, lên kế hoạch triển khai đón người dân tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam về Hà Tĩnh và phương án cách ly, xét nghiệm người dân một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt.         Từ ngày 30/6 đến nay không phát hiện ca mắc mới trong cộng đồng. Tổng số ca mắc từ 04/6 đến 22/7/2021: 129 ca, trong đó, có 3 trường hợp nhập cảnh và 03 trường hợp đi từ vùng dịch về được cách ly ngay; có 07 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 40, Hương Sơn: 21, Thạch Hà: 48, Lộc Hà: 9, Hồng Lĩnh: 3, Nghi Xuân: 4; Huyện Kỳ Anh:1. Cộng dồn F1 từ 4/6 đến 22/7: 2.796 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 2.503 người; cộng dồn F2 từ 4/6 đến nay: 20.763 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 20.575 người.         Hiện nay, có 58 bệnh nhân đã khỏi bệnh và xuất viện, 25 bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở y tế của tỉnh; 46 bệnh nhân chuyển điều trị tại tuyến trung ương (trong có 01 bệnh nhân tử vong).         Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Số người tiêm vắc xin COVID-19 đợt 3 là 25.590 người trên tổng số 22.700 chỉ tiêu vắc xin (đạt 112,7%).         - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 1 ổ dịch sốt xuất huyết tại TX Kỳ Anh vào ngày 24/6/2021, từ đó đến nay, tại địa phương này đã ghi nhận 19 trường hợp mắc Sốt xuất huyết, không có ca bệnh bị tử vong vì dịch.            Ngoài ra, các ca bệnh đơn lẻ: có 2 ca mắc sốt xuất huyết ( so với cùng kỳ tăng 2 ca); 3 ca mắc bệnh quai bị (tăng 1 ca), 9 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 12 ca); 12 ca mắc lỵ a míp (giảm 7 ca); 21 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 9 ca), 987 ca mắc bệnh cúm (giảm 371 ca), 1 ca chân tay miệng (giảm 22 ca), tiêu chảy 78 ca, 03 viêm gan vi rút khác. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.         - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 2 người nhiễm mới HIV (giảm 11 người so với cùng kỳ năm 2020), 3 người chuyển thành AIDS (giảm 9 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 7 tháng, có 30 trường hợp nhiễm HIV, 27 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 2 trường hợp chết vì AIDS.         - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hà Tĩnh tiếp tục triển khai Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 03/6/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn thực phẩm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của chính quyền các cấp về an toàn thực phẩm (ATTP); nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với việc đảm bảo ATTP, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.          Tính từ ngày 16/6-15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nhưng có 122 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 7 ca ( tăng 6,08%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/7/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 685 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 3 ca (tăng 5,06%).         5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao         - Hoạt động văn hóa: Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 4420/UBND - VX1 ngày 13/7/2021 về việc thực hiện một số biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới, theo đó không tổ chức các hoạt động lễ hội, nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, sự kiện có tập trung đông người tại nơi công cộng, sân vận động và các sự kiện chưa cấp thiết. Vì vậy, các hoạt động văn hóa trong tháng đang có phần hạn chế. Bên cạnh đó, tập trung triển khai tốt các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh Hà Tĩnh (1831-2021), 30 năm tái lập tỉnh (1991 - 2021); tuyên truyền phòng, chống dịch Covid 19; tuyên truyền kỷ niệm 20 năm Ngày Gia đình Việt Nam (20/6); ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7).         - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Do dịch bệnh Covid 19 diễn biễn phức tạp nên các hoạt động kiểm tra, thanh tra văn hóa đều bị hủy, hoãn ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng cũng như hoạt động theo kế hoạch chuyên môn. Cùng với đó đã tiến hành Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 8 giấy phép, cả 8 giấy đều thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.            - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 nên Hà Tĩnh đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người, vì vậy, các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ như đánh bóng chuyền, cầu lông, chạy bộ với quy mô nhỏ tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân.         Đối với thể thao thành tích cao: Do ảnh hưởng của dịch Covid -19 đang diễn biến phức tạp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước nên các giải thể thao thành tích cao không diễn ra như kế hoạch.         5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người, bị thương 3 người, thiệt hại tài sản 45 triệu. So với tháng trước tăng 2 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương, so với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ, giảm 6 người chết, giảm 8 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.         Như vây, tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 48 người và bị thương 22 người. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 16 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 7 người chết và giảm 8 người bị thương.         5.6. Môi trường         - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ cháy (trong đó có 1 vụ cháy rừng), không có vụ nổ, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 47 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 giảm 7 vụ. Tính chung 7 tháng, xẩy ra 24 vụ cháy, nổ, làm 2 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,36 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 14 vụ cháy, nổ giảm 1 người chết và giảm 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/6 đến ngày 14/7/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 8 vụ, xử lý 10 vụ (trong đó có 02 vụ vi phạm từ tháng trước, đến tháng 7 mới tiến hành xử phạt), với tổng số tiền xử phạt 177,50 triệu đồng. Trong đó: Vận chuyển, chôn lấp, đổ, thải chất rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật phát hiện 1 vụ, đã xử lý 1 vụ với số tiền xử phạt 10 triệu đồng; Xả thải, khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đã phát hiện 0 vụ, đã xử lý 2 vụ từ các tháng trước chưa xử lý, với số tiền xử phạt 75,5 triệu đồng; Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đã phát hiện và xử lý 01 vụ với số tiền 80 triệu đồng; Vi phạm khác ( khai thác, vận chuyển đất cát trái phép...) đã phát hiện 6 vụ, xử lý 6 vụ với số tiền 12 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 6 vụ, số vụ đã xử lý tăng 8 vụ, số tiền xử phạt tăng 173 triệu đồng. Tính chung 7 tháng, đã phát hiện 83 vụ (tăng 60 vụ) và xử lý 62 vụ vi phạm môi trường (tăng 40 vụ so với cùng kỳ năm 2020), với số tiền 1.024,55 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 7 và 7 tháng năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   16/07/2024 09:33

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 7 tháng qua trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân.Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp.1.Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, thủy sản          1.1 Sản xuất nông nghiệp*Trồng trọt- Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Trong tháng 7 năm 2021, bà con nông dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu. Với điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu đang sinh trưởng và phát triển tốt.Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021 toàn tỉnh ước đạt 44.489 ha, bằng 101% (tăng 439 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu tăng là do vụ sản xuất Đông Xuân vừa qua được mùa toàn diện đã tạo động lực cho bà con nông dân trong sản xuất; cùng với đó là điều kiện thời tiết thuận lợi và các chính sách khuyến nông hỗ trợ về giống, vật tư tiếp tục được triển khai nên bà con nông dân đã khai thác tối đa quỹ đất trồng lúa từ đất bỏ hoang, đất trồng một số loại cây hoa màu khác kém hiệu quả để gieo cấy lúa. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa tăng cả so với kế hoạch cũng như so với cùng kỳ năm trước như: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Khê, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số địa phương không hoàn thành kế hoạch đặt ra như: Thành phố Hà Tĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà.Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2021 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 12/7/2021, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 1.467 ha, đạt 94,8% kế hoạch; ngô sinh khối 410 ha, đạt 53,9% kế hoạch; khoai lang 186 ha, đạt 37,9% kế hoạch; đậu các loại 2.673 ha, đạt 71% kế hoạch; lạc 133 ha, đạt 29,1% kế hoạch; vừng 388 ha, đạt 78,6% kế hoạch; rau các loại 2.222 ha, đạt 88,8% kế hoạch. Nhìn chung, đầu vụ sản xuất Hè Thu năm nay điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không xẩy ra hạn hán, nguồn nước đảm bảo cho sản xuất; các loại cây trồng sản xuất đúng lịch thời vụ; cơ cấu các loại giống cơ bản theo Đề án của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các loại giống ngắn ngày, năng suất cao và thích ứng với điều kiện khí hậu của địa phương; công tác chỉ đạo sản xuất và quản lý nhà nước về hàng hoá vật tư nông nghiệp, kiểm soát chất lượng giống lúa được tăng cường…nên kết quả diện tích gieo cấy lúa đạt khá. Tuy nhiên, đối với các loại cây trồng cạn khác thực hiện không đạt kế hoạch đặt ra. Nguyên nhân, đầu vụ có đợt mưa lớn và sau đó lại có đợt nắng nóng gay gắt nên một số diện tích rau màu không xuống giống được. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đứng cái, làm đòng. Để có một vụ Hè Thu thắng lợi toàn diện như vụ Đông Xuân, ngoài yếu tố thiên nhiên thì bà con nông dân cần phải tuân thủ quy trình kỷ thuật chăm sóc lúa và thường xuyên thăm đồng để phát hiện và kịp thời phòng trừ các loại dịch bệnh gây hại.- Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 22/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh thì trên lúa Hè Thu có sâu bệnh phát sinh gây hại nhưng mức độ ảnh hưởng thấp, cụ thể: Sâu cuốn lá nhỏ với mật độ trung bình 5-7con/m2, nơi cao 10-15 con/m2, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, diện tích nhiểm bệnh 27 ha, tập trung ở Can Lộc, Lộc Hà, Đức Thọ…; bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những chân ruộng bón thừa đạm, gieo cấy dày, tỷ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiểm bệnh 38a, phân bố ở Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Thạch Hà; bệnh vàng lá sinh lý xuất hiện trên những vùng không chủ động nước ở các địa phương Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh; ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên địa bàn toàn tỉnh, mật độ trung bình 4-6 con/m2, nơi cao 7-9 con/m2, cục bộ 10-15con/m2, diện tích nhiễm là 70 ha; chuột phát sinh gây hại tại Cẩm Xuyên, Lộc Hà với tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 7-10%, diện tích bị hại 85 ha. Trên cây đậu thì sâu ăn lá mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2 diện tích 5 ha tập trung ở Hương Khê, Đức Thọ. Cây ngô sâu keo mùa thu, sâu ăn lá mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 10 ha, tập trung ở Vũ Quang.Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Bệnh chảy gôm diện tích nhiễm 43 ha; bệnh vàng lá thối rễ diện tích nhiễm 30 ha; bệnh loét, sẹo diện tích nhiễm 50 ha; sâu đục thân, đục quả 25 ha; nhóm nhện diện tích nhiễm 50 ha; sâu vẻ bùa, sâu nhớt 30 ha và các đối tượng sâu xanh bướm phượng, rầy chổng cánh…cũng xuất hiện gây hại nhưng với mức độ nhẹ. Diện tích cây ăn quả nhiễm bệnh chủ yếu tập trung ở huyện Hương Sơn, Hương Khê.Trước tình hình diễn biến của sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, dự báo chính xác các đối tượng sâu, bệnh để phòng trừ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu và cây ăn quả năm 2021, cụ thể: Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, chuột,…trên cây lúa, đặc biệt cần theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu cuốn lá nhỏ để có biện pháp phòng trừ kịp thời; sâu keo mùa thu, sâu đục thân trên cây ngô; bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá trên cây đậu; sâu vẽ bùa, nhóm nhện, bệnh chảy gôm trên cây ăn quả để có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Đối với rầy và bệnh lùn sọc đen Phương Nam phải thường xuyên thu mẫu rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen để giám định vi rút lùn sọc đen Phương Nam, bệnh vàng lụi để có biện pháp phòng trừ kịp thời. *Chăn nuôiHiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn. Chi phí chăn nuôi ngày càng tăng trong khi giá bán sản phẩm đang có xu hướng giảm mạnh đã gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi, nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Tín hiệu tích cực là trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm nên đàn gia cầm phát triển khá, với giá bán sản phẩm tương đối ổn định. Dự kiến, thời gian tới với những khó khăn chung của nền kinh tế do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 làm cho lượng cầu hàng hóa giảm, trong khi chi phí sản xuất vẫn đang có xu hướng tăng mà giá bán sản phẩm thì giảm. Vì vậy, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn gặp khó khăn, cơ bản chỉ ổn định được đàn vật nuôi chứ chưa thể có bước đột phá trong ngắn hạn.           Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 14/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 501 con (9 con trâu và 492 con bò)/382 hộ/62 thôn/18 xã, thị trấn của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Vũ Quang) đang có gia súc mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày; có 10 xã của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, Đức Thọ, Lộc Hà) dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày, nhưng không còn có lợn mắc dịch; dịch LMLM xẩy ra ở Hương Khê đã hết dịch qua 21 ngày. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi.          Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/7/2021: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 35.098 liều, đạt 58,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 34.868 liều, đạt 59,8% kế hoạch; dịch tả lợn 9.431 liều, đạt 17,65% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 9.381 liều, đạt 19,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 23.058 liều, đạt 40,1% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 110.676 liều, đạt 11,4% kế hoạch.               1.2 Lâm nghiệp           Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 7/2021 nhìn chung ổn định. Tranh thủ các đợt mưa trong tháng thì hoạt động trồng rừng tập trung vẫn tiếp tục được triển khai với kết quả tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 7/2021 tuy tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 19,48% so với tháng trước. Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp giữa các tháng và các năm thường có sự chênh lệch khá lớn.          Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, trong tháng đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng tại huyện Can Lộc với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha và 4 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 0,796 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 9 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha (giảm 58,57 ha) và 22 vụ phá rừng (giảm 17 vụ), với diện tích rừng bị phá là 8,32 ha (giảm 6,826 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.          1.3 Thủy sản    Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 7/2021 không có nhiều biến động, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển gặp khó khăn do chi phí xăng dầu, nhân công ngày càng tăng trong khi nguồn lợi hải sản ngày càng giảm. Cùng với đó, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2021. Tuy nhiên, năm nay do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải thực hiện giản cách xã hội, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với tôm nuôi giảm nên người nuôi tôm gặp khó khăn. Trong tháng không phát sinh dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản.          2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư          2.1 Hoạt động sản xuất công nghiệp:- Ước tính chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 7/2021 tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Một số ngành công nghiệp có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ năm trước đó là: Ngành khai khoáng tăng 18,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,15%. Bên cạnh một số ngành có chỉ số tăng cao thì trong tháng 7 vừa qua vẫn còn một số ngành có chỉ số đạt thấp so với tháng trước củng như cùng kỳ năm trước như ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,33% so với tháng trước và giảm 4,61% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,61% so với tháng trước và giảm 4,92% so với cùng kỳ năm trước.- Tính chung 7 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,85% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,78%, đóng góp 0,18 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,07%, đóng góp 21,38 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,87%, làm giảm 0,45 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8%, làm giảm 0,26 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.- Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 17 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 85,29%; khai khoáng quặng kim loại tăng 51,8%; sản xuất kim loại tăng 33,19%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 24,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 24,71%. Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng cao thì vẫn có 8 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 22,17%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 21,66%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 10,61%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 6,63%; sản xuất trang phục giảm 6,52%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 5,07%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,87%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị giảm 0,38%.2.2. Vốn đầu tưTrong tháng 7 vừa qua tình hình Dịch Covid-19 tạm thời được khống chế, thời tiết tương đối thuận lợi đã tạo điều kiện trong việc thi công các công trình dự án trên địa bàn đảm bảo tiến độ đề ra, bên cạnh đó các công trình sử dụng nguồn vốn ODA như dự án cải thiện cơ sở hạ tầng các vùng lũ ngập Hà Tĩnh, các dự án đường, cầu dân sinh đã được phân bổ, bàn giao vốn kịp thời để triển khai thi công. Trong tháng 7/2021, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 489,02 tỷ đồng, tăng 20,95% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 363,21 tỷ đồng, tăng 15,2% (tăng 47,9 tỷ đồng) so với tháng trước và tăng 20,72% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 78,94 tỷ đồng, tăng 34,66% (tăng 20,32 tỷ đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46.869 triệu đồng, tăng 54,15% (tăng 16,47 tỷ đồng) so với tháng trước.- Dự ước 7 tháng đầu năm 2021: Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2792,62 tỷ đồng, đạt 36,69% kế hoạch năm, tăng 17,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.064,55 tỷ đồng, chiếm 73,93% tổng vốn, tăng 42,66% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 444,47 tỷ đồng, chiếm 15,92% tổng vốn, giảm 25,30% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 283,60 tỷ đồng, chiếm 10,15% tổng vốn, tăng 0,78% so với cùng kỳ. Trong 7 tháng đầu năm, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch vẫn đang đạt thấp (đạt 36,69%). Nguyên nhân do thời gian qua, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước; giá thép tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến triển khai các dự án công trình của các nhà thầu. Bên cạnh đó một số dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm.3.Thương mại, dịch vụSau khi khống chế được dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh, bước sang tháng 7 các cơ sở sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ đã trở lại hoạt động bình thường tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong tình hình mới. Cùng với đó, bệnh viêm da nổi cục ở trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ  tháng 7/2021 tăng so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 7/2021 đạt 3.417,33 tỷ đồng, tăng 9,84% so với tháng trước và giảm 0,91% so với cùng kỳ năm trước. 12/12 nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: Vật phẩm văn hóa, giáo dục 27,02%; hàng may mặc tăng 14,93%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,95%; xăng dầu các loại tăng 14,81%; đá quý và kim loại quý tăng 42,5%. Dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, đa số các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định hoạt động trở lại, thời gian hoạt động bình quân cũng dài hơn so tháng trước.Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 24.989,32 triệu đồng, tăng 13,06% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: hàng may mặc tăng 36,41%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 26,57%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 29,25%; xăng dầu các loại tăng 25,05% đá quý, kim loại quý tăng 40,99%. Nhìn chung 7 tháng đầu năm 2021 tổng mức bán lẻ tăng khá so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu thời gian qua các doanh nghiệp đã đổi mới sản phẩm của mình; chuyển đổi từ hình thức bán hàng truyền thống sang hình thức bán hàng trực tuyến để thích ứng với tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thời gian tới còn gặp nhiều khó khăn, bất lợi, tiềm ẩn nhân tố không ổn định khi dịch bệnh ở các địa phương khác đang diễn biến hết sức phức tạp. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động đến lượng cầu hàng hóa.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác:Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2021 ước đạt 194,05 tỷ đồng, tăng 19,55% so với tháng trước, giảm 56,28% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 ước đạt 2.611,07 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước          Doanh thu dịch vụ khác tháng 7/2021 ước tính đạt 80,31 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 7,51% và so với cùng kỳ năm trước giảm 45,47%. Chung 7 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 915,6 tỷ đồng tăng 11,34 % so với cùng kỳ năm trước.Nhìn chung doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác 7 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.- Hoạt động vận tải:          Mặc dù dịch Covid 19 trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, hoạt động vận tải hành khách tăng so với tháng trước, tuy nhiên trong thời gian tới vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh cả nước nói chung đang còn diễn biến phức tạp, nhiều địa phương đã chỉ đạo tạm ngừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến Hà Tĩnh. Vận tải hàng hoá tăng nhẹ so với tháng trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên số lượng tàu cập cảng vận chuyển giảm.          Vận tải hành khách tháng 7/2021 ước đạt 678,68 nghìn lượt hành khách vận chuyển, tăng 10,5% so với tháng trước và luân chuyển 90,58 triệu lượt khách.km, tăng 11,47%; doanh thu ước đạt 37,03 tỷ đồng tăng 15,38%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 10.206,18 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 6,18% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.695,74 triệu lượt khách.km, giảm 12,08%, doanh thu ước đạt 711,55 tỷ đồng giảm 8,06%.          Vận tải hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 2.074,31 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 2,48 % so với tháng trước và luân chuyển 50,52 triệu tấn.km, tăng 0,24%; doanh thu ước đạt 186,16 tỷ đồng tăng 2,7%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 17.509,99 nghìn tấn vận chuyển, giảm 1,96% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 439,45 triệu tấn.km, giảm 2,92%, doanh thu ước đạt 1.589,86 tỷ đồng, giảm 1,49%.           Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7/2021 đạt 67,65 tỷ đồng giảm 6,66% so với tháng trước. Chung 7 tháng ước đạt 522,58 tỷ đồng tăng 25,93% so với cùng kỳ năm trước.          4.Chỉ số giá tiêu dùng           CPI tháng 7 năm 2021 tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,29% và khu vực nông thôn tăng 0,65%.          Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,22%, Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,63%; giao thông tăng 1,74%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,16%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,53%. 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,09% so tháng trước. Có 3 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Giáo dục; văn hóa, giải trí và du lịch; đồ uống và thuốc lá.          Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 7/2021, đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, kéo dài trên phạm vi cả nước trong thời gian qua khiến mọi mặt của đời sống người dân nói chung cũng như một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nói riêng bị ảnh hưởng. Thu nhập người dân bị tác động, người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu, tác động đến nhu cầu và giá cả các đồ dùng đắt tiền; (2) Yếu tố thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt tiếp tục tăng đã tác động đến chỉ số giá nhóm hàng Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; (3) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (4) Giá vật liệu xây dựng bắt đầu giảm.          Chỉ số giá vàng giảm 2,02% so với tháng trước, tăng 5,14% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.254 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 0,37% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân 2.327 nghìn đồng/100 USD.          Tính chung CPI 7 tháng đầu năm 2021, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:  Khu vực thành thị tăng 2,34%; khu vực nông thôn tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước.          Chỉ số CPI tháng 8/2021 dự kiến tiếp tục tăng hơn so tháng 7/2021. Tình hình dịch bệnh covid-19 dự kiến còn diễn biến phức tạp trong thời gian dài sắp tới, nguồn cung hàng hóa gặp nhiều khó khăn hơn. Giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tăng cao liên tục trong thời gian qua ảnh hưởng đến đến chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa. Các nhóm hàng may mặc, văn phòng phẩm dự kiến tăng giá vào cuối tháng khi thời điểm năm học mới bắt đầu.          5. Các vấn đề xã hội          5.1. Tình hình đời sống dân cư          Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được quan tâm triển khai kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói. Tính đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiếu đói. Tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, cùng sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch nên đời sống của nhân dân ổn định. Dự kiến trong thời gian tới tình trạng thiếu đói không xẩy ra.          Kết quả vận động ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19: Tính đến ngày 16/7/2021, tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 191,57 tỷ đồng, trong đó đợt 1 là 77,91 tỷ đồng, đợt 2 là 113,66 tỷ đồng. Số tiền và hàng hóa đã phân phối hỗ trợ công tác phòng chống dịch như: vật tư sinh phẩm, thiết bị y tế; khẩu trang; nước sát khuẩn… cho lực lượng tuyến đầu và các nhu yếu phẩm, hỗ trợ khu phong tỏa, khu cách ly qua hai đợt là 128,57 tỷ đồng.          5.2. Giáo dục phổ thông          Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2021 (đợt 1) ở Hà Tĩnh được tổ chức hai ngày 7-8/7/2021 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh còn tiềm ẩn nguy cơ, một số khu dân cư vẫn bị phong tỏa, một số thí sinh F1, F2 phải chờ thi đợt 2. Tham gia kỳ thi tốt nghiệp với hơn 17.300 thí sinh và hơn 3.600 cán bộ, nhân viên, thanh niên tình nguyện phục vụ tại các điểm thi. Với sự sự nổ lực của các ngành chức năng trong công tác tổ chức kỳ thi và phòng, chống dịch, kỳ thi đã kết thúc nghiêm túc đúng quy chế và đảm bảo an toàn sức khỏe. Bên cạnh đó, công tác chấm thi và tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2021-2022 đã hoàn thành, theo đó năm học 2021-2022 điểm đầu vào trường THPT công lập trên địa bàn tỉnh tăng mạnh so với năm trước và có sự đồng đều về chất lượng giáo dục ở các vùng. Toàn tỉnh có 25/36 trường có điểm đầu vào từ 20 đến 33 điểm (tăng 16 trường so với năm học trước).          5.3. Hoạt động Y tế          - Tình hình dịch Covid-19: Tình hình dịch Covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản đã được khống chế. Các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố theo chức năng nhiệm vụ tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra các biện pháp phòng chống dịch Covid có hiệu quả. Đồng thời, lên kế hoạch triển khai đón người dân tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam về Hà Tĩnh và phương án cách ly, xét nghiệm người dân một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt.          Từ ngày 30/6 đến nay không phát hiện ca mắc mới trong cộng đồng. Tổng số ca mắc từ 04/6 đến 22/7/2021: 129 ca, trong đó, có 3 trường hợp nhập cảnh và 03 trường hợp đi từ vùng dịch về được cách ly ngay; có 07 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 40, Hương Sơn: 21, Thạch Hà: 48,  Lộc Hà: 9, Hồng Lĩnh: 3, Nghi Xuân: 4; Huyện Kỳ Anh:1. Cộng dồn F1 từ 4/6 đến 22/7: 2.796 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 2.503 người; cộng dồn F2 từ 4/6 đến nay: 20.763 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 20.575 người.          Hiện nay, có 58 bệnh nhân đã khỏi bệnh và xuất viện, 25 bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở y tế của tỉnh; 46 bệnh nhân chuyển điều trị tại tuyến trung ương (trong có 01 bệnh nhân tử vong).          Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Số người tiêm vắc xin COVID-19 đợt 3 là 25.590 người trên tổng số 22.700 chỉ tiêu vắc xin (đạt 112,7%).          - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 1 ổ dịch sốt xuất huyết tại TX Kỳ Anh vào ngày 24/6/2021, từ đó đến nay, tại địa phương này đã ghi nhận 19 trường hợp mắc Sốt xuất huyết, không có ca bệnh bị tử vong vì dịch.          Ngoài ra, các ca bệnh đơn lẻ: có 2 ca mắc sốt xuất huyết ( so với cùng kỳ tăng 2 ca); 3 ca mắc bệnh quai bị (tăng 1 ca), 9 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 12 ca); 12 ca mắc lỵ a míp (giảm 7 ca); 21 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 9 ca), 987 ca mắc bệnh cúm (giảm 371 ca), 1 ca chân tay miệng (giảm 22 ca), tiêu chảy 78 ca, 03 viêm gan vi rút khác. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.          - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 2 người nhiễm mới HIV (giảm 11 người so với cùng kỳ năm 2020), 3 người chuyển thành AIDS (giảm 9 người so với cùng kỳ năm trước) và  không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 7 tháng, có 30 trường hợp nhiễm HIV, 27 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 2 trường hợp chết vì AIDS.          - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hà Tĩnh tiếp tục triển khai Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 03/6/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn thực phẩm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của chính quyền các cấp về an toàn thực phẩm (ATTP); nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với việc đảm bảo ATTP, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.          Tính từ ngày 16/6-15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nhưng có 122 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 7 ca ( tăng 6,08%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/7/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 685 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 33 ca (tăng 5,06%).          5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao          - Hoạt động văn hóa: Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 4420/UBND - VX1 ngày 13/7/2021 về việc thực hiện một số biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới, theo đó không tổ chức các hoạt động lễ hội, nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, sự kiện có tập trung đông người tại nơi công cộng, sân vận động và các sự kiện chưa cấp thiết. Vì vậy, các hoạt động văn hóa trong tháng đang có phần hạn chế. Bên cạnh đó, tập trung triển khai tốt các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh Hà Tĩnh (1831-2021), 30 năm tái lập tỉnh (1991 - 2021); tuyên truyền phòng, chống dịch Covid 19; tuyên truyền kỷ niệm 20 năm Ngày Gia đình Việt Nam (20/6); ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7).          - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Do dịch bệnh Covid 19 diễn biễn phức tạp nên các hoạt động kiểm tra, thanh tra văn hóa đều bị hủy, hoãn ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng cũng như hoạt động theo kế hoạch chuyên môn.  Cùng với đó đã tiến hành Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 8 giấy phép, cả 8 giấy đều thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.          - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 nên Hà Tĩnh đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người, vì vậy, các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ như đánh bóng chuyền, cầu lông, chạy bộ với quy mô nhỏ tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân.          Đối với thể thao thành tích cao: Do ảnh hưởng của dịch Covid -19 đang diễn biến phức tạp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước nên các giải thể thao thành tích cao không diễn ra như kế hoạch.          5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội          Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người, bị thương 3 người, thiệt hại tài sản 45 triệu. So với tháng trước tăng 2 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương, so với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ, giảm 6 người chết, giảm 8 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.          Như vây, tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 48 người và bị thương 22 người. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 16 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 7 người chết và giảm 8 người bị thương.          5.6. Môi trường          - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ cháy (trong đó có 1 vụ cháy rừng), không có vụ nổ, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 47 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 giảm 7 vụ. Tính chung 7 tháng, xẩy ra 24 vụ cháy, nổ, làm 2 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,36 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 14 vụ cháy, nổ giảm 1 người chết và giảm 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa.- Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/6 đến ngày 14/7/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 8 vụ, xử lý 10 vụ (trong đó có 02 vụ vi phạm từ tháng trước, đến tháng 7 mới tiến hành xử phạt), với tổng số tiền xử phạt 177,50 triệu đồng. Trong đó: Vận chuyển, chôn lấp, đổ, thải chất rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật phát hiện 1 vụ, đã xử lý 1 vụ với số tiền xử phạt 10 triệu đồng; Xả thải, khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đã phát hiện 0 vụ, đã xử lý 2 vụ từ các tháng trước chưa xử lý, với số tiền xử phạt 75,5 triệu đồng; Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đã phát hiện và xử lý 01 vụ với số tiền 80 triệu đồng; Vi phạm khác ( khai thác, vận chuyển đất cát trái phép...) đã phát hiện 6 vụ, xử lý 6 vụ với số tiền 12 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 6 vụ, số vụ đã xử lý tăng 8 vụ, số tiền xử phạt tăng 173 triệu đồng.Tính chung 7 tháng, đã phát hiện 83 vụ (tăng 60 vụ) và xử lý 62 vụ vi phạm môi trường (tăng 40 vụ so với cùng kỳ năm 2020), với số tiền 1.024,55 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2021
  •   26/07/2024 07:52

1. Tăng trưởng kinh tế Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế xã hội nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại 6 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản lượng, doanh thu của doanh nghiệp, người nông dân..vv Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. 1.1. Tốc độ tăng trưởng, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) - Về tăng trưởng: Tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 23.435 tỷ đồng, tăng 6,38% so với cùng kỳ năm 2020. Tuy mức tăng trưởng có thấp hơn so với những năm gần đây, nhưng là mức tăng trưởng khá trong khu vực Bắc Miền Trung trong bối cảnh chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19. Kết quả tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm cho thấy sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, người dân và doanh nghiệp để tiếp tục thực hiện hiệu quả mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế”; trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,13%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 7,74%, đóng góp 3,14 điểm phần trăm, trong đó ngành công nghiệp tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế Hà Tĩnh với mức tăng 12,96%; khu vực thương mại - dịch vụ tăng 6,41%, đóng góp 2,22 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,32%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm. - Về cơ cấu: Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,36%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,85%; khu vực thương mại, dịch vụ chiếm 35,42% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,37%. Qua số liệu theo giỏi từng năm cho thấy Hà Tĩnh đang phát triển theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp 1.2. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Trong 6 tháng qua, sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy đạt mức tăng trưởng khá, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước, do sản xuất lúa vụ Đông xuân được mùa toàn diện, sản lượng cây lâu năm đạt khá, dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục dần đã được kiểm soát, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá, đồng thời thị trường xuất khẩu các mặt hàng gỗ và lâm sản được mở rộng. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 2,07%, cao hơn mức tăng 0,38% của cùng kỳ năm trước và đóng góp 0,27 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,24% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,02%, thấp hơn mức tăng 4,64 % của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. - Khu vực công nghiệp và xây dựng: Trong 6 tháng vừa qua, ngành công nghiệp có mức tăng trưởng khá 12,96% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 2,49% của cùng kỳ năm trước và đóng góp 4,11 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với quy mô lớn và có mức tăng 24,25%, đóng góp 4,42 điểm phần trăm. Ngành xây dựng có mức tăng trưởng âm 10,94%, làm giảm 0,97 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Nguyên nhân do ngoài sự chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4, một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công hoặc chưa triển khai như: Dự án nhà máy sản xuất gỗ MDF, dự án nhà máy bia Hồng Lĩnh tạm ngừng thi công; Dự án nhà máy gỗ An Việt Phát chưa thi công giai đoạn 2; Dự án điện mặt trời Sơn Quang, nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh, nhiệt điện Vũng Áng 2, thành phố giáo dục quốc tế Hà Tĩnh chưa khởi công xây dựng.... Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến giá trị sản xuất ngành xây dựng 6 tháng đầu năm giảm mạnh. - Khu vực dịch vụ: Hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid bùng phát trở lại, nhất là các ngành dịch vụ vận tải kho bãi, lưu trú ăn uống.. vv; ước 6 tháng đầu năm 2021 khu vực dịch vụ chỉ tăng 6,41%, đóng góp 2,22 điểm phần trăm trong toàn ngành. Mặc dù mức tăng trưởng có cao hơn mức tăng (-1,15%) cùng kỳ năm trước nhưng thấp hơn nhiều so với những giai đoạn trước. Nguyên nhân có mức tăng trưởng thấp là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, một số vùng địa phương bị phong tỏa, giản cách xã hội, sản xuất kinh doanh đình trệ; thực hiện đóng cửa, tạm ngừng mọi hoạt động vui chơi, giải trí, dịch vụ tập trung đông người, hoạt động du lịch...nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ giảm mạnh so với cùng kỳ. - Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP, 6 tháng đầu năm 2021 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 7,32%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành, và có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng so với cùng kỳ năm trước. Qua số liệu theo giỏi từng năm cho thấy Hà Tĩnh đang phát triển theo hướng tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Tóm lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng khá 6,38% so với cùng kỳ năm 2020. Trước những khó khăn từ tình hình dịch bệnh Covid-19, dịch tả lợn Châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò diễn biến phức tạp cùng với điều kiện thời tiết...thì để đạt được mức tăng trưởng trên đã thể hiện rõ sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị cũng như các cấp, các ngành, các doanh nghiệp cùng với sự đồng thuận cao của người dân trong thời gian qua. Tuy nhiên, hiện nay ảnh hưởng của Công ty Fomosa vào tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh vẫn đang là rất lớn. Vì vậy, thời gian tới, chúng ta cần phải quan tâm phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất khác. Với quy mô GRDP của Hà Tĩnh không lớn nên với bất kỳ tác động của một yếu tố nào cũng có thể làm thay đổi nhiều đến chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP.       2. Tài chính, ngân hàng 2.1 Hoạt động tài chính Trong 6 tháng đầu năm 2021, tình hình thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn đang gặp nhiều khó khăn do dịch Covid-19 tiếp tục ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân; chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi trả nợ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và công tác phòng chống dịch Covid-19.  Tổng thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) sơ bộ tính đến ngày 15/6/2021 đạt 7.063,38 tỷ đồng (tăng 91,68% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 3.607,17 tỷ đồng (chiếm 51,07% trong tổng thu) giảm 5,55% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh đạt 1.522,39 tỷ đổng giảm 31,95%; các khoản thu về nhà đất đạt 1.052,95 tỷ đổng tăng 54,43% so với cùng kỳ năm 2020. Bên cạnh thu nội địa thì thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu sơ bộ đạt 2.711,01 tỷ đồng (chiếm 38,38% tổng thu) tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nguyên nhân do từ đầu năm 2021, Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng trọng điểm có thuế là than và quặng đã góp phần tăng thu ngân sách nhà nước. Ngoài ra, kim ngạch một số mặt hàng khác tăng mang lại số thu thuế trong 6 tháng đầu năm gồm: Dăm gỗ, hắc ín, dầu, phế liệu, điện tử điện lạnh, gỗ xẻ các loại, rebbull, vật liệu xây dựng, tinh bột sắn… đồng thời việc hoàn thuế VAT 6 tháng đầu năm giảm 59,8% so với cùng kỳ năm trước.  Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/6/2021 đạt 8.844,26 tỷ đồng tăng 1,36% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 3.766,06 tỷ đồng chiếm 42,58% tổng chi, giảm 0,21% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 5.073,14 tỷ đồng chiếm 57,36% tổng chi, tăng 2,68% so với cùng kỳ năm 2020.  2.2 Hoạt động ngân hàng  Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen nên hoạt động ngân hàng Hà Tĩnh trong 6 tháng đầu năm 2021 cơ bản ổn định và có bước tăng trưởng.  Kết quả 6 tháng đầu năm 2021, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Ước nguồn vốn huy động đến 30/6/2021 đạt 79.569 tỷ đồng, tăng 13,64% so với đầu năm. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt qua các tháng. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 13.280 tỷ đồng, chiếm 16,7% tổng nguồn vốn huy động, tăng 10,35% so với đầu năm, tiền gửi tăng 13,77%. Dư nợ cho vay ước đến thời điểm 30/6/2021 đạt 66.701 tỷ đồng, tăng 10,7% so đầu năm. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 42.031 tỷ đồng (chiếm 63,01% tổng dư nợ), dư nợ trung dài hạn đạt 24.670 tỷ đồng (chiếm 36,99% tổng dư nợ). Dư nợ qua các tháng có mức tăng trưởng tốt. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 14,17% so với đầu năm, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 89,47% so với đầu năm. Tuy nhiên tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản giảm đáng kể so với cuối năm 2020, giảm 36,26%. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4-4,5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 4- 6%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 5,6-6,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 4,5-9%/năm, từ 9-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Tính đến 31/6/2021 nợ xấu ước tính 700 tỷ đồng, chiếm 1,05% tổng dư nợ. Tuy nợ xấu toàn địa bàn ở mức thấp và giảm so với các năm trước nhưng nợ xấu chương trình cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP lại chiếm tỷ trọng lớn (19,84% nợ xấu toàn địa bàn). Điều này cho thấy việc thực hiện xử lý nợ xấu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP đang gặp nhiều khó khăn. 3. Giá cả, lạm phát Tháng 6 củng như 6 tháng đầu năm, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ như: Nhóm hàng lương thực, may mặc, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, lương thực, nhiên liệu xăng dầu, hàng điện tử, đồ uống; Tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động nhập khẩu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hàng điện tử, gạo, đồ uống từ thị trường nước ngoài như Thái Lan và Trung Quốc gặp khó khăn- CPI tháng 6 năm 2021 tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,57% và khu vực nông thôn tăng 0,38% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước ( Nhà hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; giao thông tăng 0,64%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%%). 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,02%). 05 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông; văn hóa, giải trí và du lịch; đồ uống và thuốc lá. Một số yếu tố tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 6/2021 đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trong tháng khiến mọi mặt của đời sống người dân nói chung cũng như một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nói riêng bị ảnh hưởng. Nhiều cơ sở, loại hình dịch vụ phải tạm ngừng hoạt động. Chuỗi cung ứng hàng hóa cũng bị ảnh hưởng. (2) Yếu tố mùa vụ: Thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt, đồ dùng gia đình tăng. (3) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. (4) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng. (5) Dịch bệnh trên đàn gia súc ổn định, tác động vào giá cả và nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm thịt gia súc trên thị trường.Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.363 nghìn đồng/chỉ 9999, tăng 0,76% so với tháng trước, tăng 10,77% so với cùng tháng năm trước; giá đô la mỹ bình quân 2.317 nghìn đồng/100 USD giảm 0,81% so với tháng trước và giảm 0,3% so với cùng tháng năm trước.- Tính chung CPI 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,23%; khu vực nông thôn tăng 1,2%. Nếu phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,38%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,85%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,93%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,21%; giao thông tăng 3,19%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; Giáo dục tăng 15,14%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,49%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế ổn định.          - Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 7/2021 dự kiến tiếp tục tăng hơn so tháng 6/2021. Giá điện, nước sinh hoạt dự kiến còn tăng trong thời gian tới khi mà thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài. Dịch bệnh covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội ổn định trở lại, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng lên.          4. Đầu tư và xây dựng          4.1 Vốn đầu tư phát triển           Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện giai đoạn 2016-2021 liên tục giảm qua các năm. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư, nhưng nay nguồn vốn khu vực này giảm mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2021 kinh tế Hà Tĩnh vẫn gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc thực hiện giãn cách xã hội tại thành phố Hà Tĩnh và phong tỏa 1 số địa bàn các huyện Hương Sơn, Thạch Hà vào đầu tháng 6 vừa qua củng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự ánTrong 6 tháng đầu năm 2021 tổng vốn đầu tư ước đạt 10.714,2 tỷ đồng, bằng 94,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: - Nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.771,2 tỷ đồng, bằng 96,81% so với cùng kỳ năm trước; mặc dù vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng 20,02% so với cùng kỳ năm trước, song do nguồn vốn trái phiếu Chính phủ chuyển đổi đầu tư công, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh do đó vốn đầu tư khu vực Nhà nước giảm 3,19% so với 6 tháng năm 2020.         - Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 7.462,5 tỷ đồng, tăng 10,81% so với cùng kỳ. Ở khu vực này, một số dự án ngoài nhà nước trên địa bàn hoàn thành trong 6 tháng đầu năm như: Dự án Nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát (ước đạt 81 tỷ); nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn (ước đạt 100 tỷ đồng); bệnh viện TTH Hà Tĩnh (ước đạt 150 tỷ). Dự ước vốn đầu tư hộ dân cư đạt 5.181,2 tỷ đồng, tăng 3,84% so với cùng kỳ.         - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 480,5 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 71,69%). Nguyên nhân do các dự án nước ngoài trên địa bàn Hà Tĩnh đã hoàn thành như: Dự án nhà máy gang thép Formosa dự ước vốn 6 tháng đầu năm chỉ đạt 24,62% so với cùng kỳ năm trước; Dự án nhà máy điện mặt trời Cẩm Hưng, dự án nhà máy may Haivina Hồng Lĩnh đã hoàn thành và đi vào hoạt động trong năm 2020. Một số dự án tạm ngừng thi công như dự án cầu cảng Phoenix (cầu cảng số 5, 6 Vũng Áng)... 4.2 Hoạt động Xây dựng 6 tháng đầu năm 2021, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên tình hình thực hiện và giải ngân vốn nhà nước chỉ bằng 40% so với 6 tháng năm 2020. Nguyên nhân do thời gian đầu năm, chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu, giá cả nguyên vật liệu (đặc biệt là thép) tăng cao nên nhà thầu chưa triển khai xây dựng… cũng đã phần nào làm cho giá trị xây dựng đầu năm thấp. Các công trình ngoài nhà nước chuyển tiếp năm trước đã hoàn thành, công trình mới chưa triển khai, do đó giá trị ngành xây dựng 6 tháng đầu năm giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Dự ước giá trị xây dựng 6 tháng đầu năm 2021 theo giá hiện hành đạt 8.564,7 tỷ đồng, bằng 91,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực vốn doanh nghiệp nhà nước đạt 7,5 tỷ đồng, bằng 4,4 lần so với quý trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 3.569,5 tỷ đồng, bằng 89,93% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 100,4 tỷ đồng, bằng 47,05% với cùng kỳ năm trước; Các loại hình khác ước đạt 4.887,3 tỷ đồng, bằng 93,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn ước đạt 247,8 tỷ đồng, bằng 43,97%; giá trị xây dựng hộ ước đạt 4.639,6 tỷ đồng, bằng 99,96% so với cùng kỳ năm trước. Loại hình khác giảm mạnh do công trình xã chủ yếu do doanh nghiệp thực hiện, do đó giá trị khu vực này giảm. Nhìn chung kết quả hoạt động ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như tình hình dịch bệnh Covid-19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp khó khăn trong bố trí nguồn ngân sách phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là nguồn vốn trung ương hỗ trợ mục tiêu và nguồn vốn ODA. Mặt khác, mặc dù đã có nhiều công trình, dự án đăng ký đầu tư trên địa bàn nhưng chỉ mới ở giai đoạn lập hồ sơ, chưa đầu tư nên không có các công trình lớn đầu tư xây dựng mới trong thời gian qua. Để hoạt động xây dựng 6 tháng cuối năm đạt kết quả khả quan hơn cần phải triển khai thực hiện các công trình dự án trên địa bàn tỉnh đảm bảo theo đúng tiến độ như dự án nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án thành phố giáo dục Nguyễn Hoàng, các khu đô thị…. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Tình hình đăng ký kinh doanh         Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Ước đến 10/6/2021 toàn tỉnh có 508 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 3.622,13 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 4.299 lao động (tăng 27,32% về số doanh nghiệp, tăng 54,70% về vốn đăng ký, tăng 49,89% về số lao động so với cùng kỳ năm trước). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,13 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 6,97 tỷ đồng). Tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử tăng cao, chiếm gần 60% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.          Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong 6 tháng vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 263 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 31,5% so với cùng kỳ năm 2020), 52 doanh nghiệp giải thể (giảm 36,59% so với cùng kỳ năm 2020). Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp những tháng đầu năm tăng khá trong khi doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm ngoái là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 5.2 Thu hút đầu tư Tính đến ngày 10/6/2021, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 23 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 1.120 tỷ đồng, số dự án tương đương cùng kỳ năm trước nhưng tổng vốn thấp hơn 3,6 lần. Khởi công 03 dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp (tại Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh và huyện Đức Thọ) tổng mức đầu tư 700 tỷ đồng; khánh thành, đưa vào hoạt động giai đoạn 1 của Nhà máy sản xuất, chế biến lâm sản tiêu thụ nội địa và xuất khẩu An Việt Phát tổng mức đầu tư gần 1.300 tỷ đồng tại Khu kinh tế Vũng Áng; tập trung cụ thể hóa các nội dung ký kết với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, tổ chức thông tuyến container đầu tiên của Tân Cảng cập cảng Vũng Áng; trình HĐND tỉnh ban hành Chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyển container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng. Tổ chức làm việc với một số nhà đầu tư lớn tìm hiểu đầu tư vào địa bàn tỉnh: Công ty Cổ phần Tập đoàn TH khảo sát, nghiên cứu đầu tư các dự án tại Vũ Quang và Hồ Kẻ Gỗ; Tập đoàn VSIP nghiên cứu, khảo sát đầu tư dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ tại huyện Can Lộc và Thị xã Hồng Lĩnh; Tập đoàn Vingroup nghiên cứu, khảo sát đầu tư Dự án Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast tại Khu kinh tế Vũng Áng và nghiên cứu đầu tư Khu du lịch nghĩ dưỡng Kỳ Ninh; Công ty cổ phần Vịnh Nha trang khảo sát đầu tư khu đô thị du lịch, sân gôn Kỳ Nam và khu đô thị Xuân Hồng; Tập đoàn Tân Cơ và LNG Centra (Hoa Kỳ) nghiên cứu đầu tư trung tâm nhập khẩu và phân phối khí LNG...  Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2021 tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. 5.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp         6 tháng đầu năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả điều tra các doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh về xu hướng sản xuất kinh doanh, biến động về số lượng đơn đặt hàng, về tồn kho thành phẩm, nguyên vật liệu, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD thì tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2021 có chiều hướng tích cực và khả quan hơn so với những tháng đầu năm Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh 6 tháng cuối năm thì cơ bản các doanh nghiệp đều nhận định sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và có bước phát triển, cụ thể: có 81,82% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ ổn định và tăng lên (61,37% giữ nguyên và 20,45% tăng lên), có 18,18% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm; Có 75% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về đơn đặt hàng mới sẽ ổn định và tăng lên (56,82% giữ nguyên và 18,18% tăng lên), có 25% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm; Có 85% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về số đơn đặt hàng mới xuất khẩu sẽ ổn định và tăng lên (75% giữ nguyên và 10% tăng lên), có 15% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm; Có 86,36% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về quy mô lao động sẽ ổn định và tăng lên (79,54% giữ nguyên và 6,82% tăng lên), có 13,64% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm. Mặc dù tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với những nhận định và dự báo của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo có thể kỳ vọng 6 tháng cuối năm sản xuất công nghiệp vẫn ổn định và duy trì mức tăng trưởng khá.  6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi: Rét đậm, hạn hán không diễn ra gay gắt như cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa và sản lượng cây lâu năm đạt khá; đàn lợn tiếp tục đà hồi phục, đàn gia gia cầm phát triển tốt. Sản xuất lâm nghiệp phát triển, thị trường xuất khẩu các mặt hàng gỗ và lâm sản được mở rộng. Sản xuất thủy sản khả quan hơn so với cùng kỳ năm trước, giá các mặt hàng nông sản có xu hướng tăng. 6.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Sản xuất trồng trọt trong 6 tháng đầu năm 2021 chủ yếu là chăm sóc và thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông Xuân 2020-2021. Trong tháng 6/2021, toàn tỉnh tập trung sản xuất gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021.         - Kết quả sơ bộ vụ Đông Xuân 2020-2021: Vụ Đông Xuân 2020-2021 toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm sơ bộ tăng 1.933 ha so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 394.766 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 107,65% (tăng 28.041 tấn). Nhìn chung, sản xuất vụ Đông Xuân năm nay đạt kết quả thắng lợi khá toàn diện, nhất là đối với cây lúa, vượt mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Một số nguyên nhân chính làm cho vụ lúa Đông Xuân năm nay được mùa toàn diện, đó là: (1) Các cấp, các ngành và các địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch sản xuất sát đúng với tình hình thực tiễn. Cùng với đó, bà con nông dân tuân thủ đúng lịch thời vụ trong sản xuất; (2) Đảm bảo các điều kiện sản xuất, trong đó có việc đưa các loại giống lúa có năng suất, chất lượng vào sản xuất như ADI168, Bắc Thịnh, nếp 98...với chất lượng giống đảm bảo; (3) Điều kiện thời tiết thuận lợi, nhất là thời kỳ lúa trổ bông nên hạt thóc chắc mẫy hơn; (4) Vụ lúa Đông Xuân năm nay ít sâu bệnh nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt, mặc dù cuối vụ có xẩy ra mưa lốc làm một số diện tích lúa đỗ gãy nhưng chỉ cục bộ ở một số địa phương và thiệt hại không lớn; (5) Sau đợt lũ cuối năm 2020, ruộng đồng được bồi đắp lượng phù sa làm cho đất đai màu mỡ hơn. Cùng với đó, do lũ lụt nên chuột giảm mạnh, ít phá hoại lúa hơn so với những năm trước.      - Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2021 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2021. Căn cứ Quyết định số 4025/QĐ-UBND ngày 26/11/2020 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc giao chỉ tiêu định hướng một số chỉ tiêu chủ yếu, kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2021 và đề xuất của các huyện, thành phố, thị xã. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh đã xây dựng Đề án 126/ĐA-SNN ngày 23/4/2021 về sản xuất vụ Hè Thu năm 2021. Định hướng về diện tích sản xuất vụ Hè Thu năm 2021 đối với một số loại cây trồng như sau: Lúa 44.186 ha, đậu 3.766 ha, ngô lấy hạt 1.548 ha, ngô sinh khối 760 ha, lạc 457 ha, khoai lang 490 ha, rau 2.502 ha, vừng 493 ha. UBND tỉnh đã ban hành Công điện số 07/CĐ-UBND ngày 13/5/2021 và Công điện số 08/CĐ-UBND ngày 01/6/2021 về việc đẩy nhanh thu hoạch lúa vụ Xuân 2021 và triển khai sản xuất vụ Hè Thu 2021, để chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và bà con nông dân tập trung sản xuất vụ Hè Thu năm 2021 dành được kết quả thắng lợi.           Tính đến ngày 11/6/2021, ước tính kết quả diện tích gieo trồng các loại cây vụ Hè Thu năm 2021 đạt được như sau: Diện tích lúa 43.857 ha, đạt 99,26% kế hoạch, trong đó: Diện tích lúa gieo thẳng 42.386 ha và diện tích lúa cấy là 1.471 ha. Một số địa phương có diện tích lúa đang cấy nên chưa hoàn thành kế hoạch (thành phố Hà Tĩnh, Đức Thọ, Nghi Xuân, Lộc Hà), còn lại các địa phương đã hoàn thành và vượt kế hoạch gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021 (Hương Sơn tăng 125 ha, Thạch Hà tăng 33 ha và huyện Kỳ Anh tăng 52 ha so với kế hoạch). Bên cạnh diện tích gieo cấy lúa đạt cao so với kế hoạch thì một số cây trồng có diện tích gieo trỉa vẫn đang còn ở mức độ thấp như: Diện tích ngô lấy hạt 284 ha, đạt 18,3% kế hoạch; đậu các loại 1.118 ha, đạt 29,7% kế hoạch; rau các loại 162 ha, đạt 6,5% kế hoạch; vừng 199 ha, đạt 40,4% kế hoạch; lạc 2 ha, đạt 0,4% kế hoạch. Các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2021 đang tiếp tục được gieo trỉa. - Cây lâu năm: Tổng diện tích hiện có cây lâu năm ước đạt 31.351 ha, bằng 101,91% tăng 588 ha so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 18.918 ha, bằng 102,39%, tăng 441 ha so với cùng kỳ năm 2020. Cụ thể diện tích một số loại cây tăng như: Cam tăng 171 ha, bưởi tăng 214 ha, mít tăng 33 ha, ổi tăng 19 ha, thanh long tăng 17 ha...Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cải tạo vườn tạp, những năm gần đây, nhiều hộ nông dân trên địa bàn tỉnh đã lựa chọn các cây ăn quả có múi để đưa vào sản xuất nên diện tích tăng; diện tích chè búp ước đạt 1.218 ha, tăng 54 ha; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.839 ha, tăng 79 ha. Nguyên nhân diện tích trồng chè tăng là do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận. Diện tích cây cao su ước đạt 8.692 ha, bằng 99,87%, giảm 11 ha so với cùng kỳ năm 2020. Nguyên nhân do Công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả để chuyển đổi trồng các loại cây khác. - Sản lượng: 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.205 tấn, bằng 99,89%, giảm 36 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: sản lượng các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới ước đạt 20.002 tấn, bằng 100,75% tăng 149 tấn; Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.684 tấn, giảm 175 tấn, trong đó sản lượng cam tăng 119 tấn chủ yếu là cam bù; Sản lượng cao su ước đạt 1.077 tấn, bằng 69,48%, giảm 473 tấn; Sản lượng chè búp ước đạt 5.453 tấn, bằng 102,21% tăng 118 tấn; sản lượng chè xanh (chè hái lá) ước đạt 11.329 tấn, bằng 103,36% tăng 368 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cây lâu năm chủ yếu tập trung thu hoạch vào 6 tháng cuối năm. - Tình hình sâu bệnh, thiên tai: Hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2021 mới được gieo trồng, chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Tuy nhiên, ngày 12/6/2021, trên địa bàn tỉnh có mưa to đã gây ngập úng hơn 12.630 ha lúa và hoa màu, trong đó một số địa phương bị ngập úng nặng như thành phố Hà Tĩnh, Can Lộc, huyện Kỳ Anh…Đối với cây ăn quả thì bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, câu cấu, sâu vẽ bùa gây hại, phân bố tại các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc. b. Chăn nuôi  - Chăn nuôi gia súc: Tình hình chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn tiếp tục gặp khó khăn. Tổng đàn trâu, bò và sản lượng đều giảm so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Tổng đàn trâu giảm 0,32%, tổng đàn bò giảm 3,36%. Nguyên nhân do 6 tháng vừa qua trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn đang còn phát sinh dịch bệnh. Cụ thể, đã có 207 xã, phường, thị trấn có dịch bệnh viêm da, nổi cục gây thiệt hại nặng về kinh tế cho người chăn nuôi. Đặc biệt, dịch bệnh đã gây tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng nên trong 6 tháng qua sản lượng thịt trâu giảm 0,68%, bò hơi giảm 5,93% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn vẫn bị ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu Phi. Do mầm bệnh dịch tả lợn Châu Phi lưu giữ trong chuồng trại thời gian dài nên đã gây khó khăn cho việc tái đàn, nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. - Chăn nuôi gia cầm: Điểm sáng trong hoạt động chăn nuôi đó là đàn gia cầm phát triển khá, đến này tổng đàn gia cầm tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do khó khăn trong chăn nuôi lợn, cùng với việc sản phẩm thịt trâu, bò, lợn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nên người tiêu dùng hạn chế sử dụng. Vì vậy, sản phẩm gia cầm dễ tiêu thụ nên người dân đã mở rộng quy mô phát triển chăn nuôi gia cầm. Thời gian tới, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn cũng chỉ ở mức duy trì ổn định đàn vật nuôi, chưa thể có bước phát triển đột phá. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 14/6/2021: dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện tại 3.500 hộ/557 thôn/126 xã trên địa bàn toàn tỉnh, đã có 14.767 con lợn mắc bệnh và số lợn chết, tiêu hủy là 14.695 con với trọng lượng 1.127,5 tấn; Dịch bệnh viêm da, nổi cục xuất hiện hiện tại 13.416 hộ/1.327 thôn/207 xã trên địa bàn toàn tỉnh, đã có 17.640 con (62 con trâu và 17.578 con bò) mắc bệnh và số chết, tiêu hủy là 2.877 con (23 con trâu và 2.854 con bò) với trọng lượng 314,6 tấn; Dịch LMLM đã xuất hiện tại 13 thôn ở 3 xã (Hương Trạch, Phúc Trạch và Hương Long) của huyện Hương Khê với số gia súc mắc bệnh là 370 con (162 con trâu và 208 con bò)/159 hộ. Tổng số chết tiêu hủy là 19 con bò), với trọng lượng 1.576 kg. Tính đến ngày 14/6/2021, vẫn đang còn có 2.207 hộ/241 thôn/43 xã trên địa bàn 12 huyện, thành phố, thị xã (trừ thị xã Kỳ Anh) dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày; Có 2.033 hộ/306 thôn/65 xã trên địa bàn 9 huyện (trừ thành Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, thị xã Kỳ Anh và Lộc Hà) dịch bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày (142 xã, phường, thị trấn hết dịch); Dịch LMLM chỉ còn 1 thôn ở xã Hương Long còn có dịch. Hiện nay, các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, dịch vẫn chưa qua 21 ngày nên nguy cơ dịch tái phát là rất lớn. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi. 6.2 Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 6/2021 vẫn tiếp tục triển khai trồng rừng tập trung và khai thác gỗ từ rừng trồng. Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết nắng nóng cùng với ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên diện tích trồng rừng tập trung giảm mạnh so với tháng trước (giảm 56,1%); Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 6/2021 giảm 3,9% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng tập trung và sản lượng gỗ khai thác đều tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không cao. Nguyên nhân do sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác rừng trồng và hoạt động trồng rừng tập trung cũng chủ yếu là rừng sản xuất nên phải khai thác mới có quỹ đất để tiếp tục trồng mới. Còn đối với trồng cây phân tán và khai thác củi thì do quỹ đất trồng cây ngày càng thu hẹp và nhu cầu sử dụng củi làm chất đốt giảm nên số lượng cây trồng phân tán và sản lượng củi khai thác thường thiếu ổn định. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 18 vụ phá rừng (giảm 15 vụ), với diện tích rừng bị phá là 7,5 ha (giảm 4,5 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 6.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản trong tháng 6 cũng như 6 tháng đầu năm 2021 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá so với cùng kỳ năm 2020. Tổng sản lượng thủy hải sản 6 tháng 2021 ước đạt 25.274 tấn, tăng 3,84% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Sản lượng nuôi trồng ước đạt 6.079 tấn (tăng 3,77%), sản lượng khai thác ước đạt 19.195 tấn tăng (3,86%). Hiện nay, sản lượng hải sản khai thác biển chiếm khoảng 70% tổng sản lượng thủy, hải sản trong khi điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Thời gian qua, do thực hiện giản cách xã hội bởi dịch bệnh Covid-19, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm hơn so với những tháng trước. Mặt khác, tuy giá bán sản phẩm ổn định nhưng giá nhiên liệu tăng nên ngư dân cũng gặp không ít khó khăn. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng vẫn tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tình hình dịch bệnh: Từ ngày 14/5/2021 đến nay đã xẩy ra bệnh đốm trắng trên tôm với diện tích nhiễm bệnh là 1 ha tại huyện Lộc Hà. Như vậy, tính từ đầu năm 2021 đến nay, dịch bệnh đốm trắng ở tôm xuất hiện trên diện tích 38,19 ha/13 xã/6 huyện gồm: Cẩm Xuyên; Lộc Hà; huyện Kỳ Anh; Tx Kỳ Anh, Tp Hà Tĩnh. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, dung hóa chất Chlorine dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm. 7. Sản xuất công nghiệp Ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 đạt mức tăng trưởng khá, tăng 12,96% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 2,49% của cùng kỳ năm trước và đóng góp 4,11 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với quy mô lớn và có mức tăng 24,25%, đóng góp 4,42 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.           - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP):           + Ước tính tháng 6/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 5/2021 giảm 3,4%, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,42%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,22%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,34%. Nguyên nhân do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 bùng phát trở lại, một số ngành sản xuất công nghiệp trên địa bàn giảm sản xuất. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 24,8%. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,38%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 37,29%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,12%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 10,98%. + Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng khá, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,97% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 22,27%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 29,42%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,94%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,21%. Kết quả sản xuất ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 với nhiều khởi sắc là động lực để các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng tốc sản xuất ở giai đoạn tới. Tuy có gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh đang diễn biến phức tạp tại một số địa phương, nhưng các doanh nghiệp vẫn đảm bảo vừa chống dịch tốt vừa ổn định sản xuất. Đặc biệt, công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) những tháng đầu năm 2021 hoạt động ổn định và có mức tăng khá cao, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh.+ Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 19 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 6 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 8 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 87,44%; khai khoáng quặng kim loại tăng 59,88%; sản xuất kim loại tăng 34,09%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 26,13%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,69%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 21,72%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,47%; khai khoáng khác tăng 20,15%.- Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2021 giảm 0,89% so với tháng trước và tăng 75,77% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu 2021, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 39,07% so với cùng kỳ. Như vậy, trong 6 tháng vừa qua, mức tiêu thụ sản phẩm tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.- Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chính ước tính tháng 6/2021 giảm 6,17% so với tháng trước và tăng 41,95% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 178,2% so với cùng kỳ) và sản phẩm dăm gỗ của Công ty trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy hanviha. Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. Tồn kho sản phẩm dăm gỗ của Công ty trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy hanviha là do công ty gom hàng để đủ khối lượng cho đơn hàng xuất khẩu đã ký kết chứ không phải do không tiêu thụ được sản phẩm.          8. Thương mại, dịch vụ           Trong tháng 6/2021 dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên phạm vi toàn tỉnh. Để khống chế sự lây lan dịch bệnh, thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của UBND tỉnh về việc giãn cách xã hội, tạm dừng các hoạt động dịch vụ không thiết yếu tại vùng cách ly y tế đã làm cho hoạt động thương mại dịch vụ tháng 6 giảm mạnh so với tháng trước. Tuy nhiên, nhìn chung 6 tháng đầu năm 2021 nhờ thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới nên hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng trưởng so với cùng kỳ.- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 6/2021 đạt 2.994,25 tỷ đồng giảm 12,14% so với tháng trước và giảm 7,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có chỉ số giảm mạnh so với tháng trước như: Nhóm hàng may mặc giảm 20,4%; nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 17,57%; vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 15,37%; xăng, dầu các loại giảm 15,12%; đá quý, kim loại quý, giảm 67,36%; hàng hóa khác giảm 31,15%. Quý I/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 11.618,9 tỷ đồng tăng 11,89% so với cùng kỳ, quý II/2021 ước đạt 9.836,08 tỷ đồng, giảm 15,34 % so với quý trước và tăng 18,94% so với cùng kỳ năm trước. Tách riêng từng quý cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa quý II/2021 giảm so với quý trước do tình hình dịch Covid diễn biến phức tạp từ đầu tháng 5 và tháng 6 cùng với việc thực hiện dãn cách xã hội ở các vùng cách ly y tế nên người dân hạn chế mua sắm, nhu cầu tiêu dùng giảm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 21.454,98 tỷ đồng (tăng 15,02%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 12/12 nhóm hàng tăng so với cùng kỳ, một số nhóm hàng tăng mạnh như: Hàng may mặc, tăng 39,46%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 30,09%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 36,98%; xăng dầu các loại ước tăng 24,82%; nhiên liệu khác tăng 37,29%; đá quý, kim loại quý các loại ước tăng 35,31%; hàng hóa khác ước đạt 1.231,36 tỷ đồng, tăng 27,68%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước tăng 26,18% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong thời gian gần đây bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nhưng thời gian giãn cách ngắn hơn và vùng giãn cách thu hẹp hơn so với 6 tháng đầu năm 2020. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động làm tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa so với cùng kỳ năm trước. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2021 ước đạt 172,58 tỷ đồng giảm 58,12% so với tháng trước và giảm 53,41% so với cùng kỳ năm trước. Quý I/2021, doanh thu lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng 13,49 %, sang quý II/2021 tăng mạnh hơn với mức tăng 54,99 % so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính tăng 29,35%. Doanh thu dịch vụ khác tháng 6/2021 ước tính đạt 77,78 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 41,28% và so với cùng kỳ năm trước giảm 37,46%. Trong đó, quý I/2021 tăng 16,2% sang quý II/2021 tăng 35,86% so với cùng kỳ năm trước. Chung 6 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước tăng 24,19 % so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 6 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Với tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay thì sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngành dịch vụ trong thời gian tới. - Hoạt động vận tải: Vận tải hành khách tháng 6/2021 ước đạt 9.706,58 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 36,83% so với tháng trước và luân chuyển 107,8 triệu lượt khách.km, giảm 46,24%. Quý I/2021, vận tải hành khách đạt 5.839,92 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 10,17% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.004,37 triệu lượt khách.km, tăng 8,77%; Quý II/2021 ước đạt 3.866,66 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 627,33 triệu lượt khách.km, giảm 6,17%. Tính chung 6 tháng đầu năm ước tính đạt 9.706,58 nghìn lượt hành khách vận chuyển, tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.631,7 triệu lượt khách.km, tăng 2,49%.  Vận tải hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 1.908,34 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 14,91% so với tháng trước và luân chuyển 55,33 triệu tấn.km, giảm 9,8%. Quý I/2021, vận tải hàng hóa đạt 8.386,72 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 208,25 triệu tấn.km, tăng 6,43%; Quý II/2021, vận tải hàng hóa đạt 6.933,10 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 185,6 triệu tấn.km, tăng 1,57%. Tính chung 6 tháng đầu năm ước tính đạt 15.319,82 nghìn tấn vận chuyển, tăng 1,53% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 393,85 triệu tấn.km, tăng 4,08%. Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của tỉnh, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hoạt động vận tải hành khách phải tạm dừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến vùng cách ly y tế từ ngày 8-18/6 đã làm cho vận tải hành khách giảm mạnh, cùng với đó, nhiều cơ sở kinh doanh thương mại cũng tạm dừng hoạt động nên nhu cầu vận chuyển hàng hoá giảm. Bên cạnh đó, trong tháng lượng than bốc qua cảng giảm, kéo theo doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ giảm. Tất cả yếu tố trên đã làm cho hoạt động vận tải tháng 6/2021 giảm mạnh so với tháng trước. Nhìn chung hoạt động dịch vụ vận tải 6 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. 9. Xuất nhập khẩu hàng hóa Dù ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2021 Hà Tĩnh ước tính đạt 2.428,95 triệu USD, tăng 79,66% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra.   Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 910,28 triệu USD, tăng 106,63% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do Formosa đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 828,36 triệu USD, chiếm tỷ trọng 91% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh).  Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.518,67 triệu USD, tăng 66,62% so với cùng kỳ năm 2020; chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia hoạt động xuất khẩu, xuất nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị phục vụ sản xuất, hàng hóa; hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường… Hà Tĩnh xây dựng Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025. Đồng thời ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyên container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng 10. Các vấn đề xã hội 10.1. Tình hình lao động và giải quyêt việc làm Do dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp trên địa bàn Hà Tĩnh, đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, việc làm của người lao động, trong đó một số lĩnh vực dịch vụ như: lưu trú, ăn uống, vận tải và dịch vụ khác...chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, nhiều lao động làm việc tự do không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm; từ đó làm cho tình hình việc làm và thu nhập bị ảnh hưởng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm có chiều hướng tăng.  Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, số người không có việc làm là 19.263 người (chiếm 2,8% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); Trong quý II năm 2021, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh gặp khó khăn hơn so với quý I/2021. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quí II ước tính là 3,14%, tăng 0,06 điểm % so với quý I/2021.  Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 10.228 người tăng 2,31% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 4.962 người, giảm 9,78%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.284 người, giảm 9,58%; xuất khẩu lao động 3.982 người, tăng 29,41%. Tách riêng từng quý cho thấy, do ảnh hưởng dịch covid-19 nên sang quý II/2021 tình hình giải quyết việc làm ở Hà Tĩnh có chiều hướng giảm. Quý II/2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 4.267 người, giảm 28,16% so với quý I/2021, trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 1.695 người, giảm 48,12%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 778 người, tăng 53,75%; xuất khẩu lao động 1.803 người, giảm 17,26%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2021 ước tính 687.285 người, chiếm khoảng 52,89% dân số toàn tỉnh, trong đó lực lượng lao động là nam 329.204 người (chiếm 47,9%); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 144.008 người, chiếm 20,95%. Số lao động đang làm việc là 668.022 người, chiếm 97,2% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, trong đó: Khu vực thành thị 138.566 người, chiếm 20,74%; lao động có việc làm là nam 315.988 người, chiếm 47,3%. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,14% (giảm 0,76 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2019). Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 52,05% trong tổng số (tương ứng 347.728 người); Công nghiệp - Xây dựng chiếm 17,76% (tương ứng 118.668 người); Thương mại - Dịch vụ chiếm 30,18% (tương ứng 201.626 người). 10.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Trong 6 tháng đầu năm 2021, thời tiết tương đối thuận lợi tạo điều kiện cho bà con nông dân tập trung sản xuất. Toàn tỉnh đã tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2021 được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác. 6 tháng đầu năm 2021 toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp một lần cho 330 người, kinh phí hơn 3,3 tỷ đồng; trợ cấp ưu đãi tháng 01, tháng 02/2021 cho hơn 42.000 người có công, kinh phí hơn 145 tỷ đồng; chi trả trợ cấp trên 62.000 đối tượng bảo trợ xã hội, kinh phí trên 25 tỷ đồng. Trao tặng khoảng 205.708 suất quà với tổng số tiền khoảng 72.411 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể: Quà cho người có công 97.624 suất quà trị giá khoảng 25.795 triệu đồng; quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất trị giá khoảng 10.636 triệu đồng; quà người cao tuổi 28.347 suất trị giá khoảng 9.237 triệu đồng; quà trẻ em có hoàn cảnh khó khăn 11.452 suất trị giá khoảng 4.430 triệu đồng; quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội 47.591 suất quà trị giá khoảng 22.313 triệu đồng. Ngoài ra trong 6 tháng qua đã cấp khoảng 15.031 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.571 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 167.548 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 50.594 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. 10.3. Tình hình thiên tai 6 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 8 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 26/4/2021; đợt 2 vào ngày 28/4/2021; đợt 3 vào ngày 2/5/2021; đợt 4 vào ngày 10/5/2021; đợt 5 vào ngày 15/5/2021; đợt 6 vào ngày 17/5/2021; đợt 7 vào ngày 25/5/2021; đợt 8 vào ngày 12/6/2021). Thiên tai đã gây thiệt hại làm 2 người chết, 1 người bị thương; 466 nhà bị hư hỏng; 11.965,8 ha lúa; 900,3 ha hoa màu; 400 con gia cầm, 2 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 47 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 10.4. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Năm học 2020-2021, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã có 89/100 học sinh đạt giải, (chiếm tỉ lệ 89%) gồm: 42 giải nhì, 34 giải ba và 13 giải khuyến khích. Hà Tĩnh lọt vào vào tốp đầu toàn quốc về tỷ lệ học sinh tham gia đoạt giải và xếp thứ 3 toàn quốc về số lượng học sinh đoạt giải. Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên Hà Tĩnh đã quyết định cho toàn bộ học sinh đẩy sớm thời thời gian kết thúc năm học 2020-2021, trước ngày 20/5/2021. Kỳ thi vào lớp 10 THPT năm học 2021-2022 được diễn ra từ ngày 2/6-3/6. Kỳ thi THPT quốc gia năm nay, cụm thi Hà Tĩnh có hơn 17.300 thí sinh, dự kiến kỳ thi sẽ diễn ra từ ngày ngày 6/7 - 9/7/2021. Để đảm bảo kỳ thi an toàn, nghiêm túc, mỗi kỳ thi, công tác chuẩn bị kỳ thi được thực hiện chu đáo đảm bảo trung thực, khách quan, an toàn và nghiêm túc. - Giáo dục đào tạo: Tuyển sinh năm học 2021-2022, trường Đại học Hà Tĩnh có 1.630 chỉ tiêu hệ chính quy, trong đó: Đại học 1.580 chỉ tiêu, Cao đẳng 50 chỉ tiêu; theo 2 phương thức là xét tuyển học sinh tốt nghiệp THPT và xét tuyển học bạ lớp 11 hoặc lớp 12 THPT. Đăng ký xét tuyển làm 2 đợt, đợt 1 từ ngày 01/4/2021 đến ngày 30/7/2021 và đợt 2 từ ngày 01/8/2021 - 31/12/2021. Bên cạnh đó, giáo dục nghề nghiệp cũng được chú trọng, chất lượng ngày càng nâng cao hơn. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghề; tập trung công tác tư vấn, giải quyết việc làm, cập nhật thông tin thị trường lao động; với những nỗ lực đó, 6 tháng đầu năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 5.938 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 204 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 2.383 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 3.351 người. 10.5  Hoạt động Y tế Trong tháng 6/2021 dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên địa bàn tỉnh. Để khống chế sự lây lan của dịch bệnh, Hà Tĩnh thiết lập vùng cách ly y tế toàn bộ Thành phố Hà Tĩnh (ngoại trừ xã Thạch Bình) theo Quyết định số 140/QĐ-BCĐ ngày 08/6/2021 của Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19. Tính đến ngày 16/6/2021 toàn tỉnh có 28 xã/phường/thị trấn có tổ dân phố/thôn/xóm thực hiện cách ly y tế; với 159 tổ dân phố/thôn/xã, 32.479 hộ và 133.819 khẩu. Tính từ ngày 04/6/2021 đến ngày 16/6/2021, Hà Tĩnh đã ghi nhận 69 ca mắc dịch covid-19, thuộc 06 địa phương gồm: Thành phố Hà Tĩnh, Thạch Hà, Hương Sơn, Lộc Hà, Nghi Xuân và TX Hồng Lĩnh. Tổng số F1 đã cách ly tập trung là 1.926 người; F2 15.090 người đã cách ly tại nhà. Tất cả F1, F2 được lấy mẫu xét nghiệm kịp thời theo đúng qui định; đồng thời lấy mẫu xét nghiệm toàn bộ dân trong vùng cách ly, xét nghiệm diện rộng theo hộ gia đình. Từ ngày 05/6 đến ngày 16/6/2021, tổng số mẫu đã lấy 103.770 mẫu, trong đó đã xét nghiệm 100.785 (dương tính 69, âm tính 100.716) số còn lại tiếp tục làm và cập nhật kết quả. Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Số người tiêm vắc xin COVID-19 đợt 2 là 1.317 người, trong đó: Tiêm mũi 1: 552 người, tiêm mũi 2: 765 người. Lũy kê cả hai đợt có 10.559 người được tiêm vắc xin. Tính từ ngày 16/5-15/6/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh 2 ca mắc bệnh quai bị, 11 ca mắc lỵ trực trùng; 17 ca mắc lỵ a míp; 108 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.120 ca mắc bệnh cúm, 3 ca chân tay miệng, không phát sinh các ca bệnh khác. Tính chung, 6 tháng đầu năm có 3 ca sốt xuất huyết; 1 ca sốt rét (giảm 99,51%); 93 ca viên não do vi rút (năm trước không có), 21 ca quai bị (giảm 56,25%), 69 ca lỵ trực trùng (giảm 57,67%), 99 ca lỵ a míp (giảm 37,34%), 622 ca thủy đậu (tăng 50,24%), cúm 10.535 ca (giảm 42,99%), 11 ca chân tay miệng, các ca bệnh khác không có. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tính từ 16/5-15/4/2021 Hà Tĩnh chỉ có 1 người nhiễm mới HIV (giảm 9 người so với cùng kỳ năm 2020), 1 người chuyển thành AIDS (giảm 5 người so với cùng kỳ năm trước) và 2 người chết vì AIDS (tăng 2 người so với cùng kỳ năm trước). Như vậy, tính từ ngày 16/12/2020-15/6/2021 có 28 người nhiễm mới HIV (giảm 8 người so với cùng kỳ năm 2020), 24 người chuyển thành AIDS (giảm 5 người) và có 2 người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 16/5-15/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 26 người bị ngộ độc; không có người chết vì ngộ độc; ngoài ra, còn có 102 ca bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ; không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/6/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 563 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 41 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 26 ca (tăng 4,84%).  10.6 Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2021, hoạt động văn hóa có phần trầm lắng. Trước thời gian bùng phát dịch, nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức như: công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa (toàn tỉnh thành lập được 165 câu lạc bộ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh); Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước: Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), ngày Giải phóng Miền Nam (ngày 30 tháng 4), ngày Quốc tế lao động (ngày 01 tháng 5); tuyên truyền, xây dựng tin bài, phóng sự về cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Từ cuối tháng 4, do dịch Covid diễn biến phức tạp Hà Tĩnh đã tạm dừng các hoạt động tập trung đông người không cần thiết, chủ yếu tập trung công tác tuyên truyền về phòng chống dịch Covid-19, qua các phương tiện truyền thông như: đài truyền hình, báo chí, đặc biệt là loa đài tại các tổ dân phố, thôn, xóm, thường xuyên đưa tin về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống dịch để người dân nắm rõ và yên tâm. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: 6 tháng đầu năm 2021, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 05 cuộc thanh tra, kiểm tra. Trong đó, 01 cuộc phối hợp với đội kiểm tra liên ngành Văn hóa xã hội tỉnh kiểm tra tại 115 cơ sở kinh doanh dịch vụ do ngành quản lý; 01 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh; 01 cuộc kiểm tra về điều kiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, công tác bảo đảm an toàn phòng chống dịch Covid - 19 tại 15 khu điểm du lịch trong tỉnh; 01 cuộc thanh kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công vụ tại các phòng, ban, đơn vị trực thuộc Sở. Qua kiểm tra đã xử phạt vi phạm hành chính 02 tổ chức, 02 cá nhân với số tiền 17 triệu đồng. Đồng thời, đã cấp 77 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa; 06 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao; 67 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.  - Hoạt động thể thao: Thế thao quần chúng: 6 tháng đầu năm 2021, các phong trào thể dục thể thao quần chúng vẫn diễn ra như: phong trào tập luyện thể dục thể thao gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Các phong trào được triển khai đảm bảo các biện pháp an toàn về công tác phòng, chống dịch Covid-19. Thể thao thành tích cao: Tính chung 6 tháng đầu năm, Hà Tĩnh tham gia 12 giải thành tích cao đạt được 65 huy chương các loại (25 huy chương vàng (HCV), 13 huy chương bạc (HCB), 27 huy chương đồng (HCĐ), trong đó: Môn Điền kinh đạt 23 huy chương (9HCV-4HCB-10HCĐ); môn Pencak Silat đạt 2 huy chương (1HCV-1HCĐ); Môn Karate đạt 28 Huy chương (11HCV-5HCB-12HCĐ), Giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên xếp thứ nhì toàn đoàn; Môn Đua thuyền đạt 6 huy chương (3HCV-2HCB-1HCĐ); Môn Muay đạt 4 huy chương(1HCV-1HCB-2HCĐ); Vovinam đạt 2 huy chương (1HCB-1HCĐ); Bóng chuyền thi đấu vòng I Giải vô địch quốc gia xếp thứ 2 bảng A (xếp thứ 4 vòng I) được tham gia Giải bóng chuyền vô địch quốc gia Cup Hùng Vương năm 2021. 10.7  Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Từ ngày 15/5/2021 đến ngày 14/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người, bị thương 0 người, thiệt hại khoảng 37 triệu đồng; tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra. So với tháng trước giảm 3 vụ tai nạn đường bộ, giảm 1 người chết và giảm 6 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ và tăng 3 người chết. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. Như vậy, tính ngày 15/12/2020 đến ngày 14/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 51 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 39 người, bị thương 19 người, thiệt hại tài sản 363 triệu. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ, giảm 10 người chết, số người bị thương không đổi. 10.8  Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/5/2021 đến ngày 14/6/2021 đã xảy ra 4 vụ cháy, nổ không có người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 22 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ, người chết giảm 1 người và bị thương giảm 3 người. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021 (từ ngày 15/12/2020-14/6/2021) đã xẩy ra 17 vụ cháy, nổ làm 2 người chết, 2 người bị thương, tổng thiệt hại 2,31 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ, giảm 1 người chết, giảm 1 người bị thương. - Công tác bảo vệ môi trường: Các hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm từ các cấp, các ngành cùng toàn thể người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ với tinh thần “Tuổi trẻ Hà Tĩnh tình nguyện, sáng tạo vì cộng đồng”, sáng ngày 30/5, gần 250 đội hình tình nguyện với hơn 4.000 lượt đoàn viên thanh niên tham gia hưởng ứng “Ngày chủ nhật xanh"; Công đoàn Hà Tĩnh phát động hưởng ứng tháng hành động vì môi trường, đây sẽ là những hoạt động nhằm hưởng ứng phát động của Bộ Tài nguyên & Môi trường tại công văn số 2298/BTNMT-TTTNMT ngày 14/5/2021 và Hướng dẫn số 24/HD-TLĐ của Tổng LĐLĐ Việt Nam ngày 20/5/2021 về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Môi trường thế giới (5/6) năm 2021. Từ ngày 15/5 đến ngày 14/6/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 12 vụ, đã xử lý 15 vụ, với tổng số tiền xử phạt 404,6 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 7 vụ (tăng 140,00%), số vụ đã xử lý tăng 11 vụ (tăng 275%), số tiền xử phạt tăng 392,6 triệu đồng. 6 tháng đầu năm 2021 (từ ngày 15/12/2020-14/6/2021), Hà Tĩnh đã phát hiện 75 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 52 vụ, tổng số tiền thu được là 847,05 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 53 vụ (tăng 240,90%), số vụ đã xử lý tăng 31 vụ (tăng 147,62%), số tiền xử phạt tăng 739,05 triệu đồng. 11. Đề xuất, giải pháp trong thời gian tới Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu KT-XH năm 2021, đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần phải thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, đồng thời cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do đại dịch Covid-19. (2) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa, cắt giảm các thủ tục nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân. (3) Tập trung đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công cho những tháng cuối năm; huy động tốt nguồn vốn tư nhân cho đầu tư phát triển. (4) Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất vụ Hè Thu năm 2021; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. (5) Quan tâm phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; xây dựng và thực hiện kế hoạch kích cầu tiêu dùng, chương trình khuyến mại tập trung năm 2021. Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2021 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hà Tĩnh. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2021 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của cấp ủy chính quyền các cấp và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong 6 tháng cuối năm./.

Tình hình KTXH tháng 5 và 5 tháng năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   25/07/2024 17:24

1.Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, thủy sản1.1 Sản xuất nông nghiệp*Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 5/2021 chủ yếu tập trung thu hoạch lúa vụ Đông Xuân. Theo kết quả thăm đồng đánh giá năng suất, sản lượng thu hoạch của các cây trồng cho thấy vụ Đông Xuân năm nay đạt kết quả rất thắng lợi, tăng cả về diện tích và năng suất. Tổng diện tích gieo trồng tăng 1,99% (tăng 1.933 ha) so với cùng kỳ năm trước.. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: - Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 59.478 ha, tăng 0,25% (tăng 151ha) so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích gieo cấy lúa tăng như: Lộc Hà 81 ha, Nghi Xuân 58 ha, Thạch Hà 27 ha, thị xã Kỳ Anh 23ha, Can Lộc 15ha; Vũ Quang 14 ha…Nguyên nhân diện tích lúa năm nay tăng là do một số xã có chính sách hỗ trợ 50% tiền công làm đất nhằm khuyến khích người dân không để ruộng bỏ hoang. Mặt khác, một số xã do hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên nhiều diện tích những năm trước trồng lạc nay chuyển sang trồng lúa. Cùng với đó, một số huyện có các vùng sản xuất theo hình thức phá bỏ bờ thửa nhỏ, hình thành ô thửa lớn vì vậy làm cho diện tích tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay bà con nông dân cơ bản đã thu hoạch xong lúa vụ Đông Xuân. Về cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân năm 2021 chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng sử dụng giống ngắn ngày, tăng năng suất, chất lượng để né tránh thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Năm nay một số giống lúa chất lượng gạo ngon như giống BT09, BQ, Thiên ưu 8, ADI, Bắc Hương 9 đã được UBND một số huyện đưa vào cơ cấu giống chủ lực cho người dân gieo cấy. Tuy nhiên, một số huyện cơ cấu giống lúa chưa tập trung, còn giàn trải nhiều loại giống, những giống lúa truyền thống như Khang dân 18, Khang dân đột biến, VTNA2, TH3-3, RVT, HT1, DT68, ..vv Năng suất lúa vụ Đông Xuân 2020-2021 ước tính tăng 5,97% (tăng 3,29 tạ/ha), với sản lượng lúa ước tính tăng 6,27% (tăng 20.385 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năng suất lúa đạt cao nhất kể từ trước đến nay. Một số nguyên nhân chính làm cho vụ lúa Đông Xuân năm nay được mùa toàn diện, đó là: (1) Các cấp, các ngành và các địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch sản xuất sát đúng với tình hình thực tiễn. Cùng với đó, bà con nông dân tuân thủ đúng lịch thời vụ trong sản xuất; (2) Đảm bảo các điều kiện sản xuất, trong đó có việc đưa các loại giống lúa có năng suất, chất lượng vào sản xuất như ADI168, Bắc Thịnh, nếp 98...với chất lượng giống đảm bảo; (3) Điều kiện thời tiết thuận lợi, nhất là thời kỳ lúa trổ bông nên hạt thóc chắc nẫy hơn; (4) Vụ lúa Đông Xuân năm nay ít sâu bệnh nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt, mặc dù cuối vụ có xẩy ra mưa lốc làm một số diện tích lúa đỗ gãy nhưng chỉ cục bộ ở một số địa phương và thiệt hại không lớn; (5) Sau đợt lũ cuối năm 2020, ruộng đồng được bồi đắp lượng phù sa làm cho đất đai màu mỡ hơn. Cùng với đó, do lũ lụt nên chuột giảm mạnh, ít phá hoại lúa hơn so với những năm trước.   - Một số cây hàng năm khác + Cây ngô: Diện tích ngô vụ Đông Xuân 2020-2021 ước tính tăng 16,86% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do vụ Đông năm 2019 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Năng suất ngô vụ Đông Xuân năm nay ước tính giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do đầu vụ Đông năm nay xẩy ra mưa lũ nên làm chậm lịch thời vụ do vậy năng suất thấp hơn. Mặc dù năng suất ngô giảm nhưng do diện tích tăng nên sản lượng ngô vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. + Cây khoai lang: So với cùng kỳ năm trước mặc dù năng suất khoai lang có giảm nhưng do diện tích tăng nên sản lượng khoai lang vẫn tăng nhẹ. + Cây lạc: Diện tích trồng lạc vụ Đông Xuân năm nay ước giảm 716 ha so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Trong đó: Huyện Vũ Quang giảm 122 ha, Hương Khê giảm 313 ha, Thạch Hà giảm 72 ha, Cẩm Xuyên giảm 76 ha, thị xã Kỳ Anh giảm 76 ha...Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, trồng lạc mất nhiều công sức và chi phí cao hơn các loại cây trồng khác nên người dân ít canh tác hơn làm cho diện tích lạc giảm. Năng suất lạc ước đạt 26,58 tạ/ha, bằng 105,5% (tăng 1,38 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lạc ước đạt 26.642 tấn, bằng 98,46% (giảm 417 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất lạc vụ Đông Xuân năm nay tăng hơn so với cùng kỳ nhưng do diện tích giảm nên sản lượng lạc giảm so với cùng kỳ năm trước. + Rau các loại: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 10.754ha, tăng 2,80% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do vụ Đông Xuân năm nay thời tiết thuận lợi, ít sâu bệnh nên người dân gieo trồng nhiều. Cả diện tích và năng suất rau đều tăng nên sản lượng rau các loại vụ Đông Xuân 2020-2021 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.         - Tình hình sâu bệnh: Vụ Xuân 2021 các đối tượng dịch phát sinh gây hại nhẹ, diễn biến ở mức độ trung bình hoặc thấp hơn vụ Xuân 2020, cụ thể: + Trên cây lúa: Bệnh đạo ôn lá cao điểm gây hại từ 15-30/3, diện tích nhiễm 232 ha, nhiễm nặng 4 ha, gây hại chủ yếu trên giống Thái Xuyên 111, Bắc Hương 9, VTNA6, Nếp 87, P6, phân bố trên toàn tỉnh; Bệnh đạo ôn cổ bông tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ 30-40%, diện tích nhiễm 94,5 ha, nhiễm nặng 17 ha, bệnh phát sinh gây hại trên toàn tỉnh tập trung trên giống ADI 168, Thái Xuyên 111, HN6, NA2, P6, KDĐB…; Rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh, mật độ trung bình 300-500 con/m2, nơi cao 700-1000 con/m2, diện tích nhiễm 3 ha; bệnh khô vằn tỷ lệ bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiễm 2.511 ha, nhiễm nặng 47 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; Chuột gây hại tỷ lệ hại trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiễm 168 ha, nhiễm nặng 3 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. + Cây trồng cạn: Trên cây ngô, sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 47 ha; bệnh đốm lá, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. Đã tiến hành xử lý thuốc, đến nay cơ bản kiểm soát tốt tình hình. + Cây ăn quả: Bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, diện tích nhiễm 35 ha; câu cấu, diện tích nhiễm 150 ha; sâu vẽ bùa, diện tích nhiễm 135 ha, phân bố tại Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc. *Chăn nuôi: Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 5/2021 vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh xẩy ra đối với trâu, bò, lợn. Cụ thể:         - Tình hình chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn gặp nhiều khó khăn. Tổng đàn bò giảm 2,52% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là do từ đầu năm đến nay xảy ra dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò. Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, lũy kế tính đến ngày 13/5/2021, dịch bệnh viêm da nổi cục đã làm cho 17.134 con (trâu 55 con và bò 17.079 con) mắc bệnh tại 1.323 thôn, 12.899 hộ trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó có 2.345 con bị chết (trâu 19 con và bò 2.326 con), gây thiệt hại nặng về kinh tế, gây tâm lý lo ngại cho người chăn nuôi.          - Tổng đàn lợn ước tính có tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2020. Cuối năm 2020, tình hình dịch tả lợn Châu phi dần ổn định, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, gia trại, trang trại bắt đầu thực hiện tái đàn trở lại thì dịch lại tiếp tục bùng phát trở lại vào đầu tháng 3/2021 ở nhiều địa phương trong tỉnh gây thiệt hại cho người chăn nuôi và khó khăn trong việc thực hiện tái đàn. Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh thì tính đến ngày 13/5/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã làm cho 12.576 con lợn bị chết phải tiêu hủy tại 536 thôn với 3.308 hộ nuôi trên địa bàn toàn tỉnh. Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh đối với đàn gia súc như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân bị ảnh hưởng nặng nề, tâm lý lo sợ dịch bệnh và giá cả bất thường nên hiện tại chưa đầu tư tái đàn. Hiện nay, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, giá con giống và thức ăn vẫn đang ở mức cao nên chăn nuôi lợn trên địa bàn thời gian tới sẽ vẫn chưa có bước phát triển đột phá, nhất là đối với chăn nuôi nông hộ.         - Ước tính tổng đàn gia cầm tăng 5,35% so với cùng kỳ năm 2020. Đàn gia cầm tăng chủ yếu ở đàn gà (chiếm 83,2% tổng đàn gia cầm), do chăn nuôi gà phát triển theo hướng trang trại, gia trại nhiều hơn các loại gia cầm khác. Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm này thường xuyên và cao hơn các loại thực phẩm gia cầm khác nên người dân đầu tư nhiều hơn. Các loại gia cầm khác như vịt, ngan, ngỗng chim cút hiện nay chưa có các mô hình chăn nuôi quy mô lớn, mới chỉ chăn nuôi nhỏ lẻ nên đầu tư thất thường, tuy có tăng nhưng các loại gia cầm này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng đàn vì vậy ảnh hưởng không nhiều đến tốc độ phát triển của tổng đàn gia cầm. 6 tháng đầu năm 2021, sản phẩm thịt trâu, bò, lợn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nên đã ảnh hưởng đến tâm lý của của người tiêu dùng. Vì vậy, sản phẩm gia cầm được lựa chọn là thực phẩm thay thế nên lượng cầu hàng hóa tăng đã khuyến khích chăn nuôi gia cầm phát triển sản xuất. Mặt khác, trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì phát triển chăn nuôi gia cầm là phù hợp, nhất là đối với chăn nuôi nông hộ.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 13/5/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 12 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số lợn mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 12.639 con/433 thôn/2.992 hộ nuôi, số con chết tiêu hủy là 12.576 con, với trọng lượng 859.799 kg; Dịch bệnh viêm da, nổi cục xuất hiện trên địa bàn tất cả 13/13 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 9.225 con (36 con trâu và 9.189 con bò)/6.958 hộ/1.122 thôn. Tổng số chết tiêu hủy là 2.345 con (19 con trâu và 2.326 con bò), với trọng lượng 275.988 kg; Dịch LMLM xuất hiện tại 2 thôn ở xã Hương Trạch, số gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 56 con (9 con trâu và 47 con bò)/16 hộ. Hiện nay, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, nguy cơ lây lan cao và gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất lớn. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi. 1.2 Lâm nghiệp         Tháng 5/2021, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp bên cạnh việc khai thác, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng thì người dân vẫn tiến hành trồng cây lâm nghiệp. Cùng với đó, tiến hành thu hoạch các diện tích rừng sản xuất đã đến tuổi khai thác để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dăm gỗ và sản xuất ván ép. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 2.123 ha, tăng 4,63% (tăng 94 ha); Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.857 ngàn cây, tăng 4,74% (tăng 84 ngàn cây); Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 117.864 ­m3, bằng 110,9% (tăng 11.582­ m3); Sản lượng củi khai thác ước đạt 122.770 Ste, giảm 2,25% (giảm 2.828 Ste) so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 5 tháng đầu năm 2021 chủ yếu tập trung ở các địa phương như: huyện Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Cẩm Xuyên.    Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 13 vụ phá rừng (giảm 10 vụ) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3. Thủy sản   Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò và dịch tả lợn Châu Phi đang xẩy ra trên địa bàn đã ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng, làm cho nhu cầu sử dụng các loại thịt bò, lợn giảm mạnh. Trong khi người dân hạn chế sử dụng các loại thịt gia súc thì nhu cầu sử dụng các sản phẩm thủy sản tăng mạnh. Kết quả sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh 5 tháng đầu năm 2021 vẫn duy trì được mức tăng ổn định, nhất là hoạt động khai thác biển. Tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng tháng 5/2021 ước tính tăng 654 tấn so với tháng trước và bằng 105,37% (tăng 227 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021 ước đạt 20.621 tấn, bằng 103,91% (tăng 775 tấn) so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: sản lượng khai thác ước đạt 15.879 tấn, bằng 105,54% (tăng 834 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 4.742 tấn, bằng 98,77% (giảm 59 tấn) so với cùng kỳ năm 2020. - Về khai thác thủy hải sản: Tổng sản lượng khai thác chiếm đến 77% tổng sản lượng thủy hải sản 5 tháng đầu năm. Như vậy, khai thác thủy sản có vai trò quan trọng, đóng góp lớn vào kết quả sản xuất thủy sản. Trong đó, sản lượng khai thác biển ước đạt 14.047 tấn, bằng 105,77% (tăng 766 tấn) so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 88,5% tổng sản lượng khai thác. Thời tiết đầu năm khá thuận lợi, biển lặng nên ngư dân tích cực ra khơi khai thác. Mặt khác, sản phẩm đánh bắt dễ tiêu thụ cũng là động lực để ngư dân tiếp tục vươn khơi bám biển. Đặc biệt, đội tàu đánh bắt xa bờ đạt sản lượng cao, đánh bắt được nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế như cá ngừ, cá thu, cá chim... - Về nuôi trồng thủy hải sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua nhìn chung ít biến động. Diện tích nuôi trồng đang có xu hướng dần thu hẹp, nhất là diện tích ao nuôi nhỏ lẻ trong dân. Cùng với việc các đối tượng thả nuôi vẫn chủ yếu là các loại giống truyền thống nên khó để tạo ra sự tăng trưởng lớn về sản lượng nuôi trồng. - Sản lượng giống thủy sản 5 tháng đầu năm 2021 ước đạt 289 triệu con, bằng 100,2% so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng cá giống ước đạt 27 triệu con, giảm 8 triệu con; Tôm giống ước đạt 255 triệu con, tăng 1 triệu con so với cùng kỳ năm 2020. Con giống sản xuất trên địa bàn nhìn chung đảm bảo chất lượng. Mặc dù sản lượng con giống sản xuất tăng nhưng cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trên địa bàn, nguồn giống nuôi trồng thủy sản chủ yếu vẫn phải nhập về từ ngoại tỉnh. Dịch bệnh gan tuỵ, đốm trắng ở tôm xuất hiện trên diện tích 37,19 ha/13 xã/5 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh; thị xã Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh). Khi bệnh xảy ra, ngành chức năng và người nuôi đã xác định tác nhân gây bệnh xử lý dập dịch kịp thời bằng hóa chất Chlorine.         2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư     - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Ước tính chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 5/2021 tăng 2,88% so với tháng trước và tăng 18,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Một số ngành công nghiệp có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ năm trước đó là: Ngành khai khoáng tăng 48,76%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 30,33%. Như vậy, mặc dù chỉ số sản xuất tháng 5/2021 tuy vẫn có tăng hơn so với tháng trước nhưng với mức tăng nhẹ. Nguyên nhân do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 bùng phát trở lại. Cùng với đó, sản lượng điện sản xuất của Công ty thủy điện Hương Sơn cũng giảm hơn so với tháng trước do sự điều chỉnh nhu cầu mua điện của EVN.  Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 5 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,34% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 26,32%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 28,46%, đóng góp 20,96 điểm phần trăm (Đây là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,36%, làm giảm 0,54 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,64%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.- Vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5 ước đạt 448 tỷ đồng, tăng 2,51% so với tháng trước, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 345,5 tỷ đồng, tăng 5,29% (tăng 17,4 tỷ đồng); vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 64,51 tỷ đồng, tăng 4,13% (tăng 2.558 triệu đồng); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 37,99 tỷ đồng, bằng 80,93% (giảm 8,9 tỷ đồng) so với tháng trước. Nguyên nhân tăng là do: Tháng 5/2021 công tác giải ngân vốn tăng tiếp tục tăng so với tháng trước. Nguồn vốn tăng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý là vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh (chiếm 77,12%). Các công trình nông thôn mới như rải thảm nhựa, xây dựng kiên cố hóa kênh mương, xây dựng hạ tầng các chỉ tiêu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục thi công đạt tiến độ đề ra. Bên cạnh đó, các công trình sử dụng nguồn vốn ODA như dự án cải thiện cơ sở hạ tầng các vùng lũ ngập Hà Tĩnh, các dự án đường, cầu dân sinh đã được phân bổ, bàn giao vốn để xây dựng kịp thời. - Dự ước 5 tháng đầu năm 2021: Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1902,94 tỷ đồng, đạt 25,0% kế hoạch năm, tăng 28,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.388,63 tỷ đồng, chiếm 72,97% tổng vốn, tăng 59,40% so với cùng kỳ; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 302,71 tỷ đồng, chiếm 15,91% tổng vốn, giảm 23,48% so với cùng kỳ; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 211,60 tỷ đồng, chiếm 11,12% tổng vốn, tăng 0,78% so với cùng kỳ. Trong 5 tháng đầu năm, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch đạt thấp (đạt 25,0%). Nguyên ngân do thời gian đầu năm, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm. 3. Thương mại, dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 5/2021: Dự ước giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 6/12 nhóm ngành hàng có chỉ số giảm so với tháng trước: Lương thực, thực phẩm ước tính giảm 4,18%; hàng may mặc ước giảm 5,95%; vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 14,90%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phương tiện) ước giảm 6,25%; nhiên liệu khác ước giảm 1,89%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước giảm 3,35%. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng dịch bệnh trên đàn gia súc vẫn chưa được kiểm soát, nhu cầu tiêu dùng và giá cả các sản phẩm thịt bò và thịt lợn vẫn đang ở mức rất thấp. Bên cạnh đó tình hình dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát trở lại trên nhiều tỉnh thành và diễn biến ngày càng phức tạp đã ảnh hưởng đến thu nhập của người dân; ngoài ra việc hạn chế ra ngoài mua sắm, tiêu dùng của người dân đã làm giảm mức doanh thu các cơ sở bán lẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những nhóm mặt hàng giảm, trong tháng qua đã có 6/12 nhóm ngành hàng có chỉ số tăng so với tháng trước như: Nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình ước tăng 4,28%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 3,39%, ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) ước tăng 8,37% so với tháng trước; xăng, dầu các loại ước tăng 3,54% so với tháng trước; đá quý, kim loại quý ước tăng 1,97% so với tháng trước; hàng hóa khác tăng 8,38% so với tháng trước.          Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 19,93% so với cùng kỳ năm trước. Sau hơn một năm bùng phát, dịch bệnh Covid-19 đang dần làm thay đổi thói quen, thị hiếu mua sắm của người tiêu dùng trong tỉnh. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 5 tháng đầu năm 2021 tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên với việc bùng phát và lây lan nhanh dịch Covid-19 chủng mới trong thời gian gần đây và vẫn chưa kiểm soát được, dự kiến hoạt động bán lẻ trên địa bản tỉnh trong thời gian tới sẽ còn gặp nhiều khó khăn.          - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 5/2021 giảm 19,8% so với tháng trước, tăng 63,64% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác dự ước giảm 17,44% so với tháng trước và tăng 33,06% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ tháng 5/2021 giảm mạnh so với các tháng đầu năm. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 lây lan rộng trên phạm vi cả nước, đồng thời đầu tháng 5 trên địa bàn tỉnh ghi nhận 2 ca dương tính với vi-rút SARS-CoV-2 sau thời gian cách ly, UBND tỉnh đã ban hành văn bản số 2650 /UBND-VX1 ngày 5/5/2021 về việc tạm dừng một số hoạt động, dịch vụ không thiết yếu để phòng, chống dịch COVID-19. Theo đó, hạn chế tập trung đông người, tạm dừng tổ chức các sự kiện không quan trọng, các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, quán bar, xông hơi, massage, cắt tóc, gội đầu,..vv phải dừng hoạt động, khiến cho doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác trong tháng giảm mạnh.          Tính chung 5 tháng đầu năm 2021 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 50,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước tăng 38,42% so với cùng kỳ. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ 5 tháng đầu năm 2021 tăng trưởng mạnh là do cùng kỳ năm trước phải thực hiện giãn cách xã hội nên doanh thu các ngành dịch vụ đạt thấp. Tuy nhiên, thời gian tới sẽ có những biến động về kết quả sản xuất các ngành dịch vụ theo xu thế giảm khi dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. - Hoạt động Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 5/2021 ước giảm 14,01% so tháng trước và tăng 11,70% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước giảm 31,76% so với tháng trước và tăng 19,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu vận tải hàng hóa ước tăng 8,79 % so với tháng trước và tăng 4,26 % so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 29,85% so với cùng kỳ năm trước.         Kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi tháng 5/2021 giảm hơn so với tháng trước, chủ yếu do sự giảm mạnh của vận tải hành khách. Nguyên nhân do để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19, UBND tỉnh đã có chỉ đạo từ ngày 10/5/2021 ngừng các tuyến xe cố định đến và đi các tỉnh có dịch; những tuyến còn hoạt động thì chỉ được phép chở tối đa 50% số khách theo quy định; cùng với đó là tâm lý e ngại khi sử dụng các phương tiện công cộng như xe buýt, taxi nên doanh thu vận tải hành khách giảm mạnh so với tháng trước.  Đối với vận tải hàng hóa, đây là thời điểm hầu hết các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, đồng thời cũng là thời điểm nắng nóng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng như: Điện tử, điện lạnh, đồ dùng, dụng cụ gia đình, nước giải khát...tăng mạnh nên nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng và đồ dùng gia đình tăng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên doanh thu vận tải hàng hóa chỉ tăng nhẹ so với tháng trước.  Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải trong tháng giảm nhẹ so với tháng trước do trong tháng lượng than bốc qua cảng giảm, kéo theo doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ giảm. Nhìn chung, kinh doanh vận tải trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 5 tháng đầu năm 2021 đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 17,72%). Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa đường bộ phát triển khá ổn định, các đơn vị kinh doanh vận tải chấp hành đầy đủ các qui định phòng chống dịch, với chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, hoạt động vận tải trên địa bàn trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, kết quả vận tải phụ thuộc vào diễn biến của dịch bệnh. 4. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá CPI chung tháng 5 năm 2021 tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,01% so tháng trước, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,06% so tháng trước, tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,23%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,6%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; giao thông tăng 0,48%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%). Có 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,42%). 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (nhóm thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông). CPI tháng 5 năm 2021 tăng so với tháng trước do các nguyên nhân chủ yếu: (1) Thời tiết chuyển dần nắng nóng, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt, đồ dùng gia đình, dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, thực phẩm tăng. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng cao, bao gồm cả sắt thép lẫn xi măng phục vụ xây dựng. Tuy nhiên dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu và giá cả các nhóm thực phẩm tiêu dùng, gián tiếp tác động đến hoạt động ăn uống ngoài gia đình đã tác động làm giảm chỉ số giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống. Chỉ số giá vàng tháng 5/2021 tăng 1,63% so với tháng trước, tăng 11,96% so với cùng tháng năm trước; Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 1,56% so với tháng trước, giảm 0,04% so với cùng tháng năm trước.  Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng nhẹ so tháng trước, nhìn chung diễn biến tăng, giảm giá vàng trong tháng với biên độ ổn định. Mức giá trong tháng thời điểm thấp nhất là 5.240 nghìn đồng, cao nhất 5.320 nghìn đồng/chỉ. Giá USD giảm mạnh, mức giá USD tại thời điểm ngày 21/5/2021 là 23.250 đồng/USD. CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2021 tăng 1,36% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 2,1%, khu vực nông thôn tăng 1,05%. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 6/2021 dự kiến tăng cao hơn so tháng 5/2021. Giá điện, nước sinh hoạt dự kiến tăng mạnh khi thời tiết dự báo nắng nóng kéo dài trong thời gian tới, kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng. Dịch bệnh trên đàn gia súc đang dần ổn định, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thịt lợn, bò đang tăng trở lại kéo theo giá thực phẩm có thể tăng. Cùng với đó, nhu cầu đối với các mặt hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng thiết bị điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống, dịch vụ tiêu dùng dự kiến còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. 5. Một số vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Sau dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, số ca nhiễm mới tăng cao bên cạnh đó thời tiết chuyển rét đậm đã gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, khai thác của người dân. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai các giải pháp, giám sát chặt chẽ công tác phòng dịch tại địa bàn, tăng cường việc xét nghiệm sàng lọc, đồng thời tiến hành từng bước thu hẹp phạm vi phong tỏa nhằm hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân theo tinh thần Nghị quyết 128 của Chính phủ. Đồng thời thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống đói rét và dịch bệnh trên đàn gia súc. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói.  5.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Trước tình hình dịch bệnh COVID-19 đang bùng phát trở lại, có nhiều diễn biến mới và phức tạp. Để giảm thiểu tối đa lây lan, sẵn sàng chủ động ngăn chặn, ứng phó với dịch bệnh trên diện rộng, bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của Nhân dân. Ngày 5/5/2021, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành văn bản số 2650 /UBND-VX1 về việc tạm dừng một số hoạt động, dịch vụ không thiết yếu để phòng, chống dịch COVID-19; Sở Y tế Hà Tĩnh ban hành QĐ số 552 /QĐ- SYT ngày 2/5/2021 về việc kiểm tra, xử phạt việc thực hiện quy định trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn Hà Tĩnh. Tính đến ngày 19/5/2021, Hà Tĩnh hiện có 09 ca dương tính, đang được điều trị tại BVĐK cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; chưa có ca bệnh nào tử vong. Lũy kế từ khi có dịch đến nay có 13 ca dương tính, không có ca bệnh tử vong, trong đó có 4 ca đã khỏi và ra viện vào ngày 7/5/2020. Ngoài ra, Hà Tĩnh hiện đang cách ly, theo dõi 15 trường hợp tại cơ sở y tế, cách ly tập trung 349 trường hợp và theo dõi sức khỏe tại nhà, nơi lưu trú 13.931 trường hợp. Tất cả các trường hợp trên hiện nay đều có sức khỏe ổn định. Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Hà Tĩnh đã được cấp 8.950 liều vắc xin COVID-19 Vaccine AstraZeneca, trong đó: 7.300 liều dành cho nhân viên y tế, ban chỉ đạo và 1.650 liều cho bộ đội, công an. Kết thúc đợt 1 đã tiêm phòng cho 10.007 đối tượng trên tổng số 10.182 đối tượng dự kiến được tiêm, đạt 98,28%. Nguyên nhân số đối tượng được tiêm tăng cao hơn nhiều so với Bộ Y tế cấp là do: Theo quy định mỗi liều tiêm 0,5 ml, một lọ được đóng ước tính cho 10 mũi tiêm. Tuy nhiên, các nhà sản xuất vắc-xin đóng dung lượng thực tế 6ml, để bù trừ sự hao hụt trong quá trình tiêm. Do vậy trong đợt tiêm vừa qua, do không bị hao hụt vắc-xin nên tổng số liều vắc-xin ở Việt Nam nói chung và tại Hà Tĩnh nói riêng đều cao hơn dự kiến. Các đối tượng được tiêm cụ thể như sau: Nhân viên y tế, ban chỉ đạo phòng, chống dịch là 7.093 người, đạt 97,16%; lực lượng biên phòng 1.172 người, đạt 97,83%; lực lượng công an 602 người, đạt 114,9%; cán bộ làm việc tại các khu cách ly 84 người, đạt 76,36%; cán bộ làm việc tại cửa khẩu, cảng biển 393 người, đạt 92,69%; cán bộ truyền hình, phóng viên 210 người, đạt 95,02%; Cục Hải quan 89 người, đạt 100%, các lực lượng khác 364 người, đạt 115,18%. Trong tháng, có 02 ca sốt xuất huyết, 3 ca quai bị, 16 ca lỵ trực trùng, 24 ca lỵ amíp, 310 ca thủy đậu, 1.783 ca mắc bệnh cúm, 5 ca chân tay miệng, tiêu chảy 252 ca, viêm gan vi rút khác 9 ca, các ca bệnh khác không có. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước: Sốt xuất huyết tăng 2 ca, sốt rét giảm 18 ca, quai bị tăng 01 ca, lỵ trực trùng giảm 01 ca, lỵ amip giảm 02 ca, thủy đậu tăng 296 ca, cúm tăng 469 ca. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AID, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AID đối với cá nhân và cộng đồng bằng nhiều hình thức như qua phương tiện thông tin đại chúng: Truyền thanh, truyền hình, báo, đài..vv. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 3 người nhiễm mới HIV (giảm 2 người so với cùng kỳ năm 2020), 4 người chuyển thành AIDS (giảm 3 người) và không có người chết vì AIDS (giảm 2 người). Tính chung 5 tháng, có 27 người nhiễm HIV, 23 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong phòng chống dịch Covid-19, nhằm hạn chế ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm, góp phần phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn hiệu quả. Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 15 ca bị ngộ độc. Ngoài ra, còn 103 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, không có trường hợp tử vong vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc thực phẩm tập thể tăng 01 vụ; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 22 ca (tăng 27,16%), số ca tử vong không đổi. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021 xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể làm 27 ca ngộ độc, bên cạnh đó có 564 ca ngộ độc đơn lẻ và ko có người bị tử vong vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc tăng 2 vụ, tăng 27 ca ngộ độc tập thể, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 112 ca ( tăng 24,78%). 5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trước thời điểm dịch diễn biến phức tạp, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức như: Các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước; các hoạt động tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 bằng nhiều hình thức như: Thông qua hội nghị, diễn đàn, sinh hoạt hội đoàn thể; qua hệ thống panô, áp phích, băng cờ, khẩu hiệu; tuyên truyền lưu động, qua hệ thống truyền thông, báo chí và bằng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao... Tuy nhiên từ cuối tháng 4 do dịch diễn biến phức tạp nên tạm dừng các hoạt động tập trung đông người không cần thiết vì vậy các hoạt động văn hóa, văn nghệ trầm lắng hơn so với thời điểm trước. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức 02 cuộc thanh tra kiểm tra. Qua kiểm tra đã thực hiện nhắc nhở, lập biên bản yêu cầu Ban quản lý các khu, điểm du lịch tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh, đôn đốc các cơ sở lưu trú, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch tại khu, điểm du lịch thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động lĩnh vực du lịch; đồng thời kiểm tra xử lý các biển hiệu, bảng quảng cáo, băng- rôn không đúng quy định theo Luật quảng cáo trên địa bàn thành phố. Ngoài ra, đã cấp 19 giấy phép, trong đó có 15 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao; 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa. - Hoạt động thể thao        + Thể thao quần chúng: Từ cuối tháng 4 tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, vì vậy các hoạt động luyện tập, thi đấu thể thao tập trung đông người trong thời gian gần đây dừng hẳn, chỉ tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực cho chính bản thân và gia đình nhưng vẫn tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch theo quy định. + Thể thao thành tích cao: Từ ngày 16/4-15/5, Hà Tĩnh giành được 32 huy chương các loại (13 huy chương vàng, 7 huy chương bạc và 12 huy chương đồng), cụ thể: Giải Điền kinh cúp tốc độ thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 đạt 20 huy chương các loại (9HCV-3HCB-8HCĐ), giải đua thuyền Rowing vô địch các câu lạc bộ toàn quốc tại Đà Nẵng dành được  6 huy chương ( 3HCV-2HCB-1HCĐ), Giải vô địch các đội mạnh Vovinam tại Vũng Tàu đạt 2 huy chương (1HCB-1HCĐ), Giải vô địch Muay quốc gia năm 2021 đạt 4 huy chương (1HCV-1HCB-2HCĐ). 5.4. Tai nạn giao thông Tính từ 15/4/2021 đến 14/5/2021 trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 10 vụ tai nạn giao thông làm 8 người chết, 6 người bị thương, ước tính thiệt hại khoảng 45 triệu đồng. So với tháng trước số vụ không thay đổi, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: tăng 4 vụ, tăng 01 người chết, tăng 01 người bị thương. Nguyên nhân xảy ra tai nạn, do không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và sử dụng rượu bia khi lái xe. Như vậy, tính từ 15/12/2020 đến 15/5/2021, Hà Tĩnh xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 32 người và bị thương 20 người. So cùng kỳ năm 2020 giảm 2 vụ, giảm 11 người chết và tăng 3 người bị thương. 5.5. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trước diễn biến phức tạp của thời tiết khắc nghiệt cùng với mùa nắng nóng kéo dài và liên tục, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 707/CAT-PCCC ngày 14/4/2021 về việc tăng cường phòng cháy, chữa cháy trong mùa nắng nóng nhằm chủ động phòng ngừa, giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy gây ra, góp phần đảm bảo an toàn trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Từ ngày 15/4 đến 14/5/2021 đã xảy ra 4 vụ cháy, làm 1 người bị thương; tổng thiệt hại ước tính là 38 triệu đồng, nguyên nhân: Do chập điện 02 vụ, sơ suất trong sử dụng lửa 01 vụ, 01 vụ do sự cố kỹ thuật. So với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ cháy, tăng 1 người bị thương, số người tử vong không đổi. Trong tháng không xảy ra nổ. So với cùng kỳ năm trước không thay đổi. Tính chung 5 tháng, xẩy ra 13 vụ cháy, nổ làm 2 người chết, 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,29 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2020 số vụ, số người chết không thay đổi, tăng 2 người bị thương. - Công tác bảo vệ môi trường: Hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng được các cấp, các ngành chú trọng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 06/5/2021 về thông tin, tuyên truyền phòng chống rác thải nhựa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nhằm nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường sống. Từ ngày 15/4 đến ngày 14/5/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 21 vụ, đã xử lý 13 vụ, với tổng số tiền xử phạt 254 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020, số vụ đã phát hiện tăng 12 vụ (tăng 133,33%), số vụ đã xử lý tăng 4 vụ (tăng 44,44%), số tiền xử phạt tăng 210 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm đã phát hiện 63 vụ vi phạm môi trường (tăng 46 vụ), xử lý 37 vụ (tăng 20 vụ) so với cùng kỳ năm 2020 với số tiền 442,5 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 4 và 4 tháng năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   25/07/2024 17:16

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                1.1. Nông nghiệp            - Trồng trọt:  Sản xuất trồng trọt trong tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân. Ngoài cây lạc thì diện tích các loại cây trồng chủ lực vụ Xuân năm nay đều đạt và vượt kế hoạch. Vụ Xuân 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho các loại cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là cây lúa. Tính đến ngày 15/4/2021, đã có khoảng 8.900 ha lúa trổ bông tập trung tại các huyện Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hương Khê, Can Lộc,...Dự kiến lúa trỗ đại trà từ 20-25/4/2021. Thời gian này thời tiết diễn biến bất thường, nền nhiệt thấp là điều kiện để sâu bệnh phát sinh gây hại. Cùng với cây lúa thì các loại cây trồng vụ Xuân khác cũng đang được chăm sóc và đang sinh trưởng, phát triển tốt. Cây lạc đang trong giai đoạn đâm tỉa, phát triển củ.     Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa, bệnh đạo ôn phát sinh gây trên giống Thiên ưu 8, Khang dân 18, BT09, Bắc Hương 9, ADI168, Thái xuyên 111, tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ một số diện tích ở Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Thạch Hà tỷ lệ 30-40%, diện tích nhiễm bệnh là 192 ha. Đến nay, bệnh đạo ôn lá đã cơ bản được khống chế, mặc dù vậy vết bệnh vẫn tồn tại trên cổ lá công năng và là nguồn bệnh phát sinh gây hại trên cổ bông. Đến ngày 15/4/2021, diện tích phun phòng bệnh đạo ôn cổ bông lần 1 đạt 6.008,5 ha; Chuột gây hại trên lúa gieo thẳng với diện tích 129 ha, trong đó 3 ha gây hại nặng phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; Bệnh bạc lá phát sinh gây hại ở Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Thạch Hà, Can Lộc, Lộc Hà với tỷ lệ trung bình 5-10%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh 155,5 ha, tập trung trên giống Xuân mai 12, Thái xuyên 111, BT7, BT9, NA2, Nếp 97; Bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những diện tích gieo cấy dày, bón thừa đạm, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiễm bệnh 1.650 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; Bệnh đốm nâu gây hại với tỷ lệ trung bình 10-15%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh 20 ha, tập trung trên những diện tích thâm canh kém, đất xấu. Trên cây lạc, bệnh nấm mốc gốc đen, lở cổ rễ gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, phân bố ở Hương Khê, Vũ Quang, Thạch Hà, diện tích nhiễm bệnh 24 ha; Nhóm sâu ăn lá (sâu khoang, sâu cắn lá) mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-4 con/m2, diện tích gây hại 32 ha, tập trung ở Hương Khê, Thạch Hà, Đức Thọ. Trên cây ngô, sâu cắn lá, sâu keo mùa thu với mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 50 ha, phân bố ở Cẩm Xuyên, Vũ Quang; Bệnh đốm lá gây hại với tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 10-15%, diện tích nhiễm bệnh 12,5 ha, tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn. Trên cây sắn, bệnh khảm lá sắn phát sinh gây hại ở huyện Kỳ Anh, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-30%, cục bộ 40%, diện tích nhiễm bệnh là 3 ha. Trên cây ăn quả có múi, bệnh chảy gôm gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 30 ha tập trung ở Hương Khê, Vũ quang; Sâu róm với mật độ trung bình 0,5-1 con/cành, nơi cao 2 con/cành, diện tích gây hại 100 ha tập trung ở Hương Khê; Châu chấu phát sinh gây hại ở Hương Khê, mật độ trung bình 1-2 con/cành, diện tích 120 ha. Hiện nay cây lúa đang thời kỳ trổ bông, các loại dịch bệnh luôn tiềm ẩn nên trong thời gian này các ngành chức năng cần phải tập trung chỉ đạo bà con nông dân tích cực thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện và phòng trừ sâu bệnh phát sinh gây hại, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 4/2021 vẫn khó khăn, chưa có gì khởi sắc. Nhìn chung số lượng đàn đại gia súc giảm nhẹ, đàn lợn và đàn gia cầm tuy có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không lớn và vẫn còn thiếu ổn định. Riêng đối với hoạt động chăn nuôi lợn, sau khi thực hiện tái đàn trở lại thì dịch tả lợn Châu Phi lại tiếp tục bùng phát ở nhiều địa phương trong tỉnh gây thiệt hại cho người chăn nuôi và khó khăn trong việc thực hiện tái đàn. Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh đối với đàn gia súc như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới vẫn tiếp tục gặp khó khăn.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/4/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 11 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số lợn mắc bệnh, chết là 7.972 con, trọng lượng 561.870 kg /2.187 hộ/415 thôn/90 xã/11 huyện, thành phố, thị xã (trừ thị xã Hồng Linh và Nghi Xuân); Dịch bệnh viêm da, nổi cục xuất hiện trên địa bàn ở tất cả 13 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 7.393 con /5.736 hộ/1.010 thôn/191 xã/13 huyện, thành phố, thị xã. Tổng số gia súc được tiêm phòng dịch bệnh viêm da, nổi cục là 112.355 con. Hiện nay, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, nguy cơ lây lan cao và gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất lớn. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại do dich bệnh gây ra.1.2. Lâm nghiệpTrong tháng 4/2021, nền nhiệt thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục trồng rừng sản xuất. Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 4/2021 ước tính tăng 121% (tăng 368 ha) so với tháng trước. Cùng với đó, tranh thủ thời gian nông nhàn người dân đã tiến hành khai thác các diện tích rừng sản xuất đã đến kỳ thu hoạch nên sản lượng gỗ khai thác tăng 13,33% (tăng 3.230 ha) so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.809 ha, tăng 3,97% (tăng 69 ha); Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 82.314 ­m3, tăng 13,89% (tăng 10.041­ m3); Sản lượng củi khai thác ước đạt 90.650 Ste, giảm 1,41% (giảm 1.298 Ste); Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.748 ngàn cây, tăng 4,73% (tăng 79 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu ngày càng giảm nên sản lượng củi khai thác tiếp tục giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 4 tháng đầu năm 2021 chủ yếu tập trung ở các địa phương như: Huyện Hương Sơn trồng mới 623 ha rừng và khai thác 21.150 m3 gỗ; huyện Vũ Quang trồng mới 412 ha rừng và khai thác 23.517 m3 gỗ; huyện Kỳ Anh trồng mới 243 ha rừng và khai thác 5.600 m3 gỗ; huyện Hương Khê trồng mới 231 ha rừng và khai thác 16.300 m3 gỗ; huyện Cẩm Xuyên trồng mới 100 ha rừng và khai thác 5.175 m3 gỗ...          Tính từ ngày 15/3 đến ngày 15/4/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 5 vụ phá rừng (giảm 4 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,52 ha (giảm 1,84 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 4/2021 vẫn tiếp tục được duy trì ổn định và có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với tháng trước giảm cả về sản lượng khai thác cũng như nuôi trồng. Trong khi sản lượng nuôi trồng giảm do sản phẩm chưa đến kỳ thu hoạch thì những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa nên ngư dân vươn khơi bám biển. Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 4/2021 ước tính tăng 6,54% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 19,9% so với tháng trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước tính tăng 8,86% so với cùng kỳ năm trước, giảm 7,3% so với tháng trước; Sản lượng nuôi trồng ước tính giảm 5,31% so với cùng kỳ năm trước, giảm 55,4% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính đạt 16.170 tấn, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: sản lượng khai thác ước đạt 12.521 tấn, tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước và sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.649 tấn, giảm 1,48% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay các hồ, ao nuôi thủy sản nhỏ lẻ trong dân ngày càng giảm do hiệu quả thấp. Bước sang tháng 4/2021, các hộ nuôi trồng đã tập trung xuống giống thả nuôi vụ tôm Xuân Hè năm 2021. Trong tháng 4/2021, dịch đốm trắng xuất hiện gây hại trên tôm với diện tích nhiễm bệnh 7,2 ha. Như vậy, tính chung từ đầu năm đến nay diện tích tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng là 8,9 ha (thành phố Hà Tĩnh 2,8 ha, huyện Kỳ Anh 5,35 ha, Lộc Hà 0,15 ha và Nghi Xuân 0,6 ha). Hiện nay, các ngành chức năng và các hộ nuôi trồng thủy sản đang tích cực triển khai các biện pháp phòng, trừ dịch bệnh không để lây lan gây hại.2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư   - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 04/2021 ước tính giảm 1,16% so với tháng trước và tăng 32,86% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước do tháng 4 năm 2020 là thời gian giãn cách toàn xã hội do dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn quốc đã tác động tiêu cực tới kinh tế xã hội, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu bị đình trệ, doanh nghiệp thiếu nguyên liệu sản xuất...Hiện nay, các doanh nghiệp đã dần đi vào ổn định, hoạt động sản xuất công nghiệp thuận lợi hơn. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,69% so với tháng trước và tăng 28,27% so với cùng kỳ năm trước; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,84% so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này tăng đến 44,73%; Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 3,09% so với tháng trước và tăng 1,5% so cùng kỳ năm trước; Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,47% so với tháng trước và tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục tăng, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 4 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 21,51% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,57%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,21%, đóng góp 21,61 điểm phần trăm; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,38%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,26%, làm giảm 0,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Như vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp.- Vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 4/2021 ước đạt 456,62 tỷ đồng, tăng 19,53% so với tháng trước. trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 347,77 tỷ đồng, tăng 24,89% (tăng 69,31 tỷ đồng) so với tháng trước; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 62,67 tỷ đồng, tăng 7,62% (tăng 4,4 tỷ đồng) so với tháng trước; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 46,18 tỷ đồng, tăng 1,90% (tăng 0,86 tỷ đồng) so với tháng trước. Nguyên nhân tăng là do: Các nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã, cộng với các nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đã phân bổ theo kế hoạch vốn đề ra của các công trình. Hồ sơ, thủ tục triển khai nhanh chóng, công tác giải ngân kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các công trình nên tiến độ thi công được đảm bảo. Bên cạnh đó, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai rộng khắp toàn tỉnh, việc đầu tư cơ sở hạ tầng ở các xã tiếp tục phát triển mạnh, ngoài nguồn vốn Trung ương hỗ trợ còn có nguồn vốn cân đối ngân sách huyện, cân đối ngân sách xã và nguồn đóng góp của Nhân dânTính chung 4 tháng đầu năm 2021, Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1474,53 tỷ đồng, tăng 36,16% so với cùng kỳ. trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1062,77 tỷ đồng, tăng 69,34%; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 238,92 tỷ đồng, tăng 79%; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 172,84 tỷ đồng, tăng 13,01%. Việc nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước từ các cấp đều tăng thể hiện sự chủ động trong việc phân bổ kịp thời các dự án, xử lý hoàn tất các thủ tục đầu tư sẽ có nhiều công trình mới khởi công, đặc biệt là các công trình thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, dự án ODA, chương trình 135, chương trình 106...là các chương trình trọng điểm, thiết yếu nên nguồn vốn được đáp ứng kịp thời. Bên cạnh đó việc chỉ đạo các cấp, các ngành để đẩy nhanh tiến độ dự án được thực hiện quyết liệt, cộng với tình hình thời tiết thuận lợi nên các công trình đã được triển khai thi cộng thuận lợi.3. Thương mại, dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2021: Dự ước tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 67,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 11/12 nhóm ngành hàng có chỉ số tăng so với tháng trước như: Hàng may mặc ước tăng 5,43%; nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình ước tăng 4,98%; vật phẩm văn hóa giáo dục ước tăng 0,87%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 3,89%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) ước tăng 13,34%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phương tiện) ước tăng 4,03%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước tăng 6,64%; xăng dầu các loại tăng 1,21%; nhiên liệu khác tăng 14,14%; đá quý, kim loại quý tăng 1,62%; hàng hóa khác tăng 5,95%. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời tiết chuyển mùa, nhu cầu và giá cả các mặt hàng đồ uống, hàng may mặc, rau củ quả, thiết bị điện lạnh dự kiến tăng. Ngoài ra cùng thời điểm năm trước, tỉnh bắt đầu thực hiện cách ly xã hội trong thời gian dài, khiến mức tiêu dùng hàng hóa dịch vụ trong thời gian đó đạt thấp. Tuy nhiên, bên cạnh những nhóm mặt hàng tăng thì nhóm hàng lương thực, thực phẩm giảm 1,37% so với cùng kỳ do dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến giá cả và nhu cầu tiêu dùng hai loại thực phẩm chủ yếu là thịt lợn và thịt bò. Mặc dù người dân đã chủ động thay thế bằng các loại thực phẩm khác nhưng nhìn chung mức tiêu thụ vẫn giảm mạnh, nhất là nhu cầu từ các cơ sở kinh doanh ăn uống ngoài gia đình.Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.042,6 tỷ đồng, tăng 21,08% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 4 tháng đầu năm 2021 tăng cao so cùng kỳ năm trước. Một phần do giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua. Mặt khác, do tình hình dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát tốt hơn, mức tiêu dùng hàng hóa bán lẻ đạt mức cao hơn.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 4/2021 dự ước tăng 5,21% so với tháng trước và tăng 44,11% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác dự ước tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 229,73% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ tháng 4/2021 có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm. Cùng với thời tiết chuyển mùa nắng ấm thuận lợi cho các hoạt động dịch vụ phát triển, các thành phần kinh tế cũng tập trung ổn định, mở rộng quy mô sản xuất, thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, ngành du lịch Hà Tĩnh tập trung khởi động du lịch hè 2021 với việc triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, quảng bá, các điểm du lịch tập trung chỉnh trang cơ sở vật chất để phục vụ du khách trong và ngoài nước. Với nhiều lợi thế về du lịch biển, dự tính những tháng tiếp theo sẽ là thời điểm vàng để Hà Tĩnh thu hút lượng khách lớn nhất trong năm. Đây chính là tiền đề góp phần làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành trong thời gian tới tăng lên. Tính chung 4 tháng đầu năm 2021 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 46,15% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu dịch vụ khác ước tăng 39,53%. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ 4 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ tăng trưởng cao.- Hoạt động vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 4/2021 ước đạt tăng 2,59% so tháng trước và tăng 61,12% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước tăng 3,06% so với tháng trước và tăng 184,99% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu vận tải hàng hóa ước tăng 2,58% so với tháng trước và tăng 35,53% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 38,72% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi tháng 4/2021 khởi sắc hơn so với tháng trước, chủ yếu do những nguyên nhân sau: Đối với vận tải hành khách, do tính chất thời vụ, thời tiết chuyển sang nắng nóng nên nhu cầu sử dụng các phương tiện vận tải hành khách công cộng xe buýt và taxi tăng. Bên cạnh đó, thời điểm trong tháng rơi vào dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 Âm lịch và dịp lễ 30/4 - 01/5 lượng người du lịch, về thăm quê ở mức cao hơn so với thông thường. Đối với vận tải hàng hóa, sang tháng bắt đầu là thời điểm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng gia đình tăng cao như: điện tử, điện lạnh, nước giải khát, hàng may mặc...đã khiến cho nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng. Hơn nữa đây là thời điểm hầu hết các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng tăng; Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải trong tháng tăng do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và xuất khẩu hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty Cổ phần Cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng làm cho doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng.Nhìn chung, kinh doanh vận tải trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 4 tháng đầu năm 2021 đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 19,4%), do năm 2020 bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, thực hiện giãn cách xã hội. Bên cạnh đó, các tháng đầu năm 2021 các đơn vị kinh doanh vận tải chấp hành đầy đủ các quy định, chất lượng dịch vụ được nâng lên. Sản xuất kinh doanh, bán buôn bán lẻ, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại dẫn đến làm tăng nhu cầu vận chuyển. Bên cạnh đó, cùng với hoạt động sản xuất ổn định của nhà máy Gang thép Formosa là một trong những động lực và là điều kiện lớn thúc đẩy sự phát triển cho dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải, hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương trở thành đầu mối trung chuyển hàng hóa và dịch vụ vận tải, kho bãi của tỉnh Hà Tĩnh.4. Chỉ số giá tiêu dùngChỉ số giá CPI tháng 4 năm 2021 tăng 0,04% so tháng trước, tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị giảm 0,04% so tháng trước, tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,07% so tháng trước, tăng 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,58%; giao thông tăng 0,67%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%); 06 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,53%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,09%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,03%); 04 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (nhóm thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông; hàng hóa và dịch vụ khác).CPI tháng 4 năm 2021 tăng so với tháng trước do các nguyên nhân chủ yếu: (1) Thời tiết chuyển dần nắng nóng, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt, đồ dùng gia đình, dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, thực phẩm tăng. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu tuy được điều chỉnh giảm, nhưng mức giảm thấp khiến giá bình quân trong tháng vẫn đang tiếp tục đà tăng từ đầu năm đến nay, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường hàng hóa. (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng cao, bao gồm cả sắt thép lẫn xi măng phục vụ xây dựng.Chỉ số giá vàng tháng 4/2021 giảm 1,0% so với tháng trước, tăng 13,01% so với cùng tháng năm trước; Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,73% so với tháng trước, tăng 0,72% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng không ổn định, giảm mạnh vào đầu tháng và tăng mạnh từ giữa và cuối tháng. Mức giá trong tháng thời điểm thấp nhất là 5 triệu đồng/chỉ, cao nhất đạt 5 triệu 350 nghìn đồng/chỉ. Giá USD giảm nhẹ, mức giá USD tại thời điểm ngày 21/4 đạt 23.710 đồng/USD. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2021 tăng 1,04% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,85%, khu vực nông thôn tăng 0,68%.Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 5/2021 dự kiến tăng mạnh so tháng 4/2021. Các hoạt động du lịch bước vào mùa cao điểm khiến nhu cầu về dịch vụ lưu trú lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tăng. Bước vào thời điểm đầu mùa nắng nóng; nhu cầu đối với các mặt hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng thiết bị điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống, điện và nước sinh hoạt cũng dự kiến tiếp tục tăng.5. Một số vấn đề xã hội5.1. Tình hình đời sống dân cưTuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch nên đời sống của nhân dân ổn định. Tính đến ngày 15/4/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiếu đói. Dự kiến trong thời gian tới tình trạng thiếu đói không xẩy ra. 5.2. Hoạt động y tếTrong tháng, công tác y tế và vệ sinh phòng dịch tiếp tục được thực hiện, đặc biệt là phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19, và các dịch bệnh phát sinh trong thời tiết giao mùa nắng, ẩm bất thường.- Tình hình dịch bệnh: + Tình hình dịch COVID-19: Tính đến ngày 15/4/2021, toàn tỉnh có 12.932 mẫu đã xét nghiệm. Tổng số hiện đang cách ly 401 người (268 người tại Khu ký túc xá Mitraco; 133 người tại Khu nhà F, công ty FHS). Cộng dồn cách ly tập trung: 3.326 người. Hiện nay không có trường hợp cách ly, theo dõi tại cơ sở y tế. Số trường hợp cách ly tại nhà 02 người, theo dõi tại nhà 130 người. Cộng dồn theo dõi, cách ly tại nhà 71.563 người.+ Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, có 1 ca sốt xuất huyết, 93 ca viêm não do vi rút, 5 ca quai bị, 11 ca lỵ trực trùng, 13 ca lỵ amíp, 22 ca thủy đậu, 1.753 ca mắc bệnh cúm, 3 ca chân tay miệng, các ca bệnh khác không có. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước: Sốt xuất huyết tăng 1 ca, quai bị giảm 16 ca, lỵ trực trùng giảm 60 ca, lỵ amip giảm 53 ca, thủy đậu giảm 75 ca, cúm giảm 6.805 ca.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng bằng nhiều hình thức như qua phương tiện thông tin đại chúng: truyền thanh, truyền hình, báo... Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 10 người nhiễm mới HIV (tăng 4 người so với cùng kỳ năm 2020), 9 người chuyển thành AIDS (tăng 5 người) và không có người chết vì AIDS. Tính chung 4 tháng, có 24 người nhiễm HIV, 19 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS.- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, chỉ có 139 người bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ và không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc và số người tử vong không thay đổi, số người ngộ độc thực phẩm đơn lẻ tăng 54 ca (tăng 63,53%). Tính chung 4 tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 12 người bị ngộ độc và 461 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ.5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao- Hoạt động văn hóa: Việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa luôn được các cấp, các ngành quan tâm. Toàn tỉnh hiện nay đã thành lập được 165 câu lạc bộ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh. Góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân; chú trọng công tác trùng tu, nâng cấp các công trình văn hóa ở các huyện, thị, nhiều nhà thờ đủ điều kiện đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên. Trong tháng, tổ chức 02 cuộc thanh, kiểm tra, trong đó, 01 cuộc phối hợp với đội kiểm tra liên ngành VHXH tỉnh kiểm tra tại 115 cơ sở kinh doanh dịch vụ do ngành quản lý. Qua kiểm tra đã xử phạt vi phạm hành chính 01 tổ chức, 03 cá nhân với số tiền 17 triệu đồng. 01 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra cơ bản các di tich chấp hành nghiêm túc các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên, thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 theo quy định.- Hoạt động thể thao: + Thể thao quần chúng: Hiện nay, tình hình dịch Covid-19 trong nước và Hà Tĩnh được kiểm soát tốt, nên hoạt động phong trào thể thao quần chúng trên địa bàn toàn tỉnh đã sôi động trở lại. Trong tháng diễn ra nhiều hoạt động như: Hội khỏe Phù Đổng lần thứ XIII năm 2021 diễn ra từ ngày 29-31/3 với gần 2.000 lượt vận động viên đã tham gia thi đấu 6 nội dung; Giải Việt dã toàn tỉnh năm 2021 tổ chức tại quảng trường Trần Phú, TP Hà Tĩnh, thu hút 150 vận động viên tham gia đến từ 13 huyện, thị, thành và Công an tỉnh. Hay nhiều nơi tổ chức đại hội thể dục thể thao (TDTT) như Đại hội TDTT xã Đức Liên (Vũ Quang - Hà Tĩnh) lần thứ V nhằm đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của luyện tập TDTT.+ Thể thao thành tích cao: Từ ngày 16/3-15/4, Hà Tĩnh tham gia các giải như: Giải vô địch Pencak Silat quốc gia diễn ra tại Đà Nẵng từ 18-31/3 đạt 2 huy chương (1 huy chương vàng, 1 huy chương đồng); giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên diễn ra tại Nghệ An từ ngày 22-31/3 đạt 27 huy chương (11 huy chương vàng, 5 huy chương bạc,11 huy chương đồng); giải vô địch quốc gia Marathon và cự ly dài giải Báo Tiền phong diễn ra tại Gia Lai từ ngày  23-30/3 giành 3 huy chương (1 huy chương bạc, 2 huy chương đồng). 5.4. Tai nạn giao thông Tính từ 15/3/2021 đến 14/4/2021 đã xẩy ra 10 vụ tai nạn giao thông, 6 người chết, 3 người bị thương, ước tính thiệt hại khoảng 55 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Tăng 2 vụ, giảm 2 người chết, tăng 3 người bị thương. Tất cả đều là các vụ tai nạn giao thông đường bộ. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vậy, tính từ 15/12/2020 đến 15/4/2021, Hà Tĩnh xảy ra 34 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 24 người và bị thương 14 người. So cùng kỳ năm 2020 giảm 6 vụ, giảm 12 người chết và tăng 2 người bị thương. 5.5. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/3 đến 14/4/2021 không xảy ra cháy. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ cháy, giảm 2 người chết, bị thương không đổi; trong tháng không xẩy ra vụ nổ so với cùng kỳ năm trước không thay đổi.  Tính chung 4 tháng, xẩy ra 8 vụ cháy, 1 vụ nổ, làm 2 người chết, 1 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,25 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2020 giảm 3 vụ cháy, tăng 1 vụ nổ, số người chết không thay đổi và tăng 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Từ ngày 15/3 đến ngày 14/4/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 8 vụ vi phạm môi trường trong đó đã xử lý 7 vụ, với tổng số tiền xử phạt 40,5 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước tăng 6 vụ vi phạm. Các hình thức vi phạm: 03 vụ khai thác, vận chuyển đá, cát trái phép; 01 vụ sử dụng kích điện đánh bắt thủy hải sản trái phép; 01 vụ lấn chiếm đất đai; 01 vụ xả nước thải từ hồ nuôi tôm vượt quá mức cho phép; 01 vụ vận chuyển, chôn lấp, đổ chất thải rắn, chất thải không đúng quy định; 01 vụ về vận chuyển gia súc bị dịch. Hình thức phạt chủ yếu là xử phạt phạt hành chính. Tính chung 4 tháng đầu năm đã phát hiện 42 vụ vi phạm môi trường (tăng 34 vụ so với cùng kỳ năm 2020), với số tiền 188,45 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.