0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình kình Kinh tế -Xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2021
  •   26/07/2024 11:09

1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiêp * Trồng trọt - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Sản xuất trồng trọt vụ Hè Thu 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, quá trình cây sinh trưởng có nhiều đợt mưa làm cho lúa và các loại cây hàng năm phát triển tốt. Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu 2021 toàn tỉnh ước tính đạt 58.461 ha, bằng 102,22% (tăng 1.271 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 223.951 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 105,21% (tăng 11.106 tấn). Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước tính đạt 44.955 ha, tăng 905 ha so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích gieo cấy lúa tăng như: Lộc Hà tăng 302 ha, Thị xã Hồng Lĩnh tăng 207 ha, Hương Khê tăng 205 ha, Đức Thọ tăng 67 ha…Nguyên nhân chủ yếu diện tích lúa Hè Thu năm nay tăng là do vụ Xuân cây lúa phát triển tốt cho năng suất, sản lượng cao, giá thu mua lúa khá cao so với những năm trước, tạo động lực cho người dân tiến hành gieo cấy vụ Hè Thu. Mặt khác, một số xã do hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên nhiều diện tích những năm trước bỏ hoang năm nay người dân tiến hành gieo cấy. Vụ Hè Thu năm nay sử dụng nhóm giống có thời gian sinh trưởng dưới 105 ngày, các giống đã thích ứng diện rộng và ổn định trong sản xuất qua các năm gần đây gồm: Khang dân 18, Khang dân đột biến, BQ, HT1, Xuân Mai 12, Thiên ưu 8, ADI 168, VNR20. Các vùng, các địa phương chủ động nguồn nước, có điều kiện thâm canh tiếp tục đưa vào sản xuất quy mô phù hợp với từng địa phương các giống: DQ11, Bắc Hương 9, HDT10, ADI 28, VTNA6, Bắc Thịnh…; các vùng chậm nước, gieo cấy muộn sản xuất các giống mới ngắn ngày (dưới 100 ngày): HN6, Lam Sơn 8, TBR 279, BT09... Năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2021 ước tính tăng 1,25 tạ/ha, với sản lượng lúa ước tính tăng 9.905 tấn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn như BT 09, HN6, lai thơm 6, TH3-3, TH3-5...ở các địa phương bắt đầu bước vào giai đoạn chín và thu hoạch. Dự kiến thời gian thu hoạch rộ lúa vụ Hè Thu trên toàn tỉnh từ ngày 1-10/9/2021. Để tránh nguy cơ mưa lũ làm ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch lúa Hè Thu và tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, các địa phương cần phải tập trung chỉ đạo rà soát lại số lượng, điều tiết máy gặt để tập trung thu hoạch nhanh gọn lúa Hè Thu với phương châm “xanh nhà hơn già đồng” phấn đấu cơ bản xong trước 15/9/2021 Cũng như cây lúa, với điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc gieo trỉa và sinh trưởng, phát triển của cây trồng thì ước tính diện tích và sản lượng các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2021 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích ngô tăng 287 ha với sản lượng tăng 1.201 tấn; diện tích khoai lang tăng 102 ha với sản lượng tăng 606 tấn; diện tích lạc tăng 10 ha với sản lượng tăng 37 tấn; diện tích vừng tăng 47 ha với sản lượng tăng 74 tấn; diện tích rau các loại tăng 269 ha với sản lượng rau tăng 1.924 tấn so với cùng kỳ năm trước. -  Sản xuất vụ Mùa 2021: Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, đầu vụ thường xẩy ra khô hạn và cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Cùng với đó, năng suất lúa vụ Mùa thường rất thấp nên người dân ít đầu tư sản xuất. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa 2021 ước đạt 518 ha, bằng cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh hiện còn có huyện Nghi Xuân và huyện Lộc Hà đang triển khai gieo cấy lúa vụ Mùa trên những chân rộng pha cát. Do hiệu quả sản xuất vụ Mùa thấp nên không được xác định là vụ sản xuất chính của địa phương cho nên xu thế sản xuất lúa vụ Mùa đang ngày càng giảm. - Cây lâu năm Năm nay, điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho cây ăn quả sinh trưởng phát triển. Thời điểm này, nhiều loại cây ăn quả như mít, ổi, nhãn, chanh…đang thu hoạch chính vụ, trong đo cây bưởi là một loại cây ăn quả chủ lực của địa phương đang chuẩn bị bước vào thu hoạch. Năm nay, do điều kiện thời tiết thuận lợi, tỷ lệ đậu quả cao nên dự ước năng suất và sản lượng cây ăn quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp nên các hộ làm vườn gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm và hiện tượng được mùa mất giá có thể xẩy ra đối với vụ bưởi năm 2021. Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch các loại cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được quan tâm chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống, nhất là trong điều kiện khó khăn bởi dịch bệnh. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, trên lúa Hè Thu đang có các loại sâu bệnh phát sinh gây hại, cụ thể: Sâu cuốn lá lứa 2 mật độ trung bình 7-10 con/m2­, nơi cao 10-15 con/m2, diện tích nhiễm 34 ha, phân bố chủ yếu ở Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ; bọ trĩ, ruồi đục nõn phát sinh gây hại trên những vùng khô hạn ở Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Hương Khê, tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích bị nhiễm 13 ha; bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những vùng gieo cấy dày, bón phân không cân đối, tỷ lệ bệnh trung bình 5-7%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiễm 446 ha, phân bố rải rác trên địa bàn toàn tỉnh; bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh mật độ phổ biến 100-300 con/m2, cục bộ ổ 700-1.000 con/m2, diện tích nhiễm 0,5 ha; bệnh bạc lá gây hại trên giống Nhị ưu 838, Bắc thơm 67 ở Can lộc, diện tích nhiễm 5 ha; bệnh vàng lá sinh lý xuất hiện ở nhiều địa phương như: Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh,…chủ yếu ở những vùng không chủ động được nguồn nước; ốc bươu vàng gây hại ở những vùng sâu trũng, ngập nước, mật độ trung bình 3-5 con/m2, nơi cao 7-15 con/m2, diện tích nhiễm 173 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; chuột phát sinh gây hại với tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 7-10%, diện tích bị hại 123 ha ở những chân ruộng cao, gần làng trên địa bàn toàn tỉnh. Trên cây đậu thì sâu cắn lá mật độ trung bình 3-5 con/m2, diện tích 5 ha tập trung ở Hương Khê, Đức Thọ. Cây ngô sâu keo mùa thu gây hại trên trà ngô 5-9 lá với mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 15 ha, tập trung ở Vũ Quang, Cẩm Xuyên. Giai đoạn này bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện và phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Bệnh nứt thân xì mủ diện tích nhiễm 43 ha; bệnh vàng lá thối rễ diện tích nhiễm 30ha; bệnh loét, sẹo diện tích nhiễm 50 ha; sâu đục thân, đục quả 25 ha; nhóm nhện diện tích nhiễm 50 ha và các đối tượng sâu xanh bướm phượng, rầy chổng cánh…cũng xuất hiện gây hại nhưng với mức độ nhẹ. Diện tích cây ăn quả nhiễm bệnh chủ yếu tập trung ở huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang. * Chăn nuôi Hiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nhìn chung, đàn đại gia súc giảm, chăn nuôi lợn tăng nhẹ, đàn gia cầm tăng khá hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chăn nuôi trâu, bò gặp nhiều khó khăn do trên địa bàn phát sinh dịch bệnh viêm da, nổi cục gây thiệt hại nặng về kinh tế và ảnh hưởng đến số lượng đàn gia súc. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái phát. Chăn nuôi lợn đang trên đà phục hồi tái đàn nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn nhiều nguy cơ tái phát. Đặc biệt giá lợn hơi hiện nay đang giảm mạnh, giá bán đang ở mức 55 đến 60 ngàn đồng/kg, trong khi chi phí chăn nuôi tăng đây là rào cản đối với chăn nuôi lợn. Đàn gia cầm tăng khá mà chủ yếu tăng ở đàn gà (đàn gà hiện có chiếm gần 80% tổng số gia cầm), do chăn nuôi gà phát triển theo hướng trang trại, gia trại nhiều hơn các loại gia cầm khác. Thời gian tới, với những khó khăn chung của nền kinh tế do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 làm cho lượng cầu và giá bán sản phẩm giảm, trong khi chi phí sản xuất vẫn đang có xu hướng tăng nên chăn nuôi vẫn gặp khó khăn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, đến thời điểm hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 2 huyện (Cẩm Xuyên và Can Lộc). Tổng số lợn mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 13 con/5 thôn/5 hộ nuôi, số con chết tiêu hủy là 13 con, với trọng lượng 1.079 kg; dịch bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày trên địa bàn 5 huyện (Hương Sơn, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Lộc Hà). Tổng số gia súc mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày là 35 con bò/33 hộ/10 thôn. Tổng số chết tiêu hủy là 57 con (1 con trâu và 56 con bò), với trọng lượng 7.131 kg. Hiện nay, dịch bệnh cơ bản được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao đối với đàn vật nuôi.         Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm tiếp tục được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 19/8/2021: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 106.337 liều, đạt 68,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 103.739 liều, đạt 69% kế hoạch; dịch tả lợn 99.294 liều, đạt 51,33% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 98.310 liều, đạt 52,4% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 117.332 liều, đạt 84,6% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 988.208 liều, đạt 38,7% kế hoạch. 1.2. Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 8/2021 nhìn chung ổn định. Hoạt động trồng rừng vẫn được triển khai thực hiện nhưng do điều kiện thời tiết nắng nóng nên kết quả trồng rừng tập trung giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 12,6%). Sản lượng gỗ khai thác tháng 8/2021 ước tính tăng khá so với tháng trước (tăng 26,98%) cũng như so với cùng kỳ năm trước (tăng 8,19%). Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp thường thiếu ổn định. Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, trong tháng đã xẩy ra 2 vụ cháy rừng (01 vụ tại xã Phú Lộc, huyện Can Lộc và 01 vụ tại xã Tân Dân, huyện Đức Thọ) với diện tích rừng bị cháy là 1 ha và 7 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 1,57 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 29 vụ phá rừng (giảm 15 vụ), với diện tích rừng bị phá là 9,89 ha (giảm 10,01 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3. Thủy sản    Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 8/2021 ước tính tăng hơn so với tháng trước và giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù sản lượng thủy hải sản đánh bắt và nuôi trồng 8 tháng đầu năm tăng hơn so với cùng kỳ nhưng các ngư dân khai thác hải sản và người nuôi trồng thủy sản vẫn gặp khó khăn. Nguyên nhân do chi phí xăng, dầu, nhân công và các dịch vụ hậu cần nghề cá, thức ăn thủy sản đều tăng. Trong khi do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải thực hiện giản cách xã hội, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm mạnh đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với cả sản phẩm khai thác và nuôi trồng đều giảm. Hiện nay, nuôi tôm vẫn đang là hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ lực của tỉnh. Mặc dù đang bước vào nuôi tôm vụ Đông 2021 nhưng do dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp khiến thị trường tôm thêm “ảm đạm”, giá bán liên tục sụt giảm nên nhiều người nuôi tôm ở Hà Tĩnh không mặn mà đầu tư cho vụ mới. Đây sẽ là yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động nuôi trồng thủy sản những tháng cuối năm 2021. Trong tháng, dịch bệnh đốm trắng đối với tôm xuất hiện trên địa bàn huyện Lộc Hà và thành phố Hà Tĩnh với diện tích nhiễm bệnh là 2,39 ha nhưng đã được kiểm soát. 2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư         - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Ước tính tháng 8/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 7/2021 giảm 2,32% và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,74% so với tháng trước và tăng 19,58% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,07% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,47%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 14,04% so với tháng trước và tăng 12,59% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,78% so với tháng trước và giảm 1,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong 4 nhóm ngành cấp I, ngành sản xuất và phân phối điện giảm mạnh so với tháng trước nguyên nhân do trong tháng Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh ngừng một tổ máy để sữa chữa bảo dưỡng định kỳ dẫn đến lượng điện sản xuất đạt thấp, đây là nguyên nhân chính tác động giảm chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng này. Tính theo nhóm ngành công nghiệp cấp II, có tới 17/25 nhóm ngành có chỉ số sản xuất trong tháng tăng so với tháng trước. Trong đó có 6 nhóm ngành có mức tăng khá như: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 31,37%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 27,69%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 23,32%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 21,4%; khai khoáng khác tăng 21,31%; dệt tăng 13,26%. Bên cạnh những nhóm ngành có chỉ số tăng cao thì vẫn có 8 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với tháng trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Khai thác quặng kim loại giảm 27,01%; khai khoáng khác giảm 0,35%; sản xuất đồ uống giảm 6,39%; Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 1,5%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 1,88%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 0,35%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 2,41%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 14,04%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 18,28% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,88%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 24,89%, đóng góp 18,58 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,04%, làm giảm 0,23 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,9%, làm giảm 0,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Vượt lên những tác động tiêu cực của dịch Covid-19, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh 8 tháng đầu năm 2021 vẫn ghi nhận mức tăng khá. Đặc biệt có sự đóng góp lớn của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo do những tháng đầu năm 2021 hoạt động sản xuất thép của Công ty Formosa Hà Tĩnh (FHS) nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Những khó khăn trong thời gian qua đã được FHS từng bước tháo gỡ, góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh. - Thực hiện vốn đầu tư: Trong tháng tình hình thời tiết khá thuận lợi, một số dự án và công trình đẩy nhanh tiến độ, như: Dự án Cải thiện cơ sở hạ tầng các xã vùng ngập lụt tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 68 tỷ đồng; dự án hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 57 tỷ đồng…. Ngoài ra các dự án đường, trường thuộc tiêu chí mục tiêu nông thôn mới đẩy nhanh tiến độ kịp thời gian đề ra. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 8 ước đạt 524,29 tỷ đồng, tăng 18,87% so với tháng trước và tăng 7,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 400,12 tỷ đồng, tăng 19,25% so với tháng trước và tăng 15,54% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 72,92 tỷ đồng, tăng 13,38% so với tháng trước và bằng 67,01% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 51,25 tỷ đồng, tăng 24,34% so với tháng trước và tăng 66,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2021, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.268,97 tỷ đồng, tăng 13,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh chiếm tỷ trọng 74,54% trong tổng vốn, tăng 35,88% so với cùng kỳ; nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã chiếm 25,46% chủ yếu là nguồn vốn thu từ quỹ sử dụng đất, so với cùng kỳ năm trước nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã giảm lần lượt 28,57% và 11,87%. 3. Thương mại, dịch vụ Tình hình diễn biến dịch bệnh Covid-19 trên cả nước trong thời gian gần đây ngày càng bùng phát nghiêm trọng và khó kiểm soát. Bên cạnh đó đầu tháng 8, địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã tái xuất hiện các ca nhiễm Covid-19 trong cộng đồng khiến cho một số khu vực phải thực hiện cách ly y tế, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ phải tạm dừng hoạt động và gặp khó khăn hơn so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước đạt 3.236,51 triệu đồng, giảm 2,8% so với tháng trước và giảm 5,24% so với cùng kỳ năm trước. 7/12 nhóm hàng giảm so với tháng trước, trong đó một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn giảm so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm chiếm 43,41% giảm 3,38%; ôtô các loại chiếm 11,81% giảm 10,06%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 9,91% giảm 1,64%; xăng dầu các loại chiếm 9,46% giảm 3,88%. Mặc dù đây là tháng trùng với dịp lễ Rằm Tháng Bảy tuy nhiên với diễn biến phức tạp của dịch bệnh, tỉnh đã có quy định các gia đình, dòng họ chỉ được tổ chức tế lễ gọn nhẹ, cấm tập trung ăn uống đông người nên nhu cầu mua sắm của người dân giảm hơn so với dịp lễ trước. Bên cạnh các nhóm hàng có chỉ số giảm thì có 5/12 nhóm hàng có chỉ số tăng so với tháng trước trong đó tăng mạnh nhất là nhóm vật phẩm, văn hóa giáo dục (tăng 12,84%) do đây là thời điểm chuẩn bị bước vào năm học mới.   Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 28.138,28 tỷ đồng, tăng 10,27% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở tất cả 12/12 nhóm hàng, trong đó một số nhóm có mức tăng khá như: hàng may mặc tăng 28,41%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 23,89%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 28,84%; xăng dầu các loại tăng 23,27% đá quý, kim loại quý tăng 34,75%, sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 19,41%. Nhìn chung 8 tháng đầu năm 2021 tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng khá so với cùng kỳ, tình hình hàng hóa trên thị trường cơ bản ổn định; nguồn cung hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người dân, không xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá, bên cạnh đó tỉnh cũng đã có các phương án vừa bảo đảm hiệu quả chống dịch vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thời gian tới hoạt động thương mại đang còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, bất lợi, khi tình hình dịch bệnh ở các thành phố lớn trên cả nước đang diễn biến hết sức phức tạp, khó kiểm soát tác động đến nguồn cung và giá cả hàng hóa. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2021 ước đạt 84,67 tỷ đồng, giảm 55,96% so với tháng trước, giảm 77,25% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác tháng 8/2021 ước tính đạt 74,89 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 12,36% và so với cùng kỳ năm trước giảm 46,05%. Do dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhu cầu đi lại bị hạn chế, cùng với việc kiểm soát chặt người đến và đi trên địa bàn tỉnh nên hoạt động lưu trú giảm mạnh, nhất là các cơ sở lưu trú ngắn ngày. Bên cạnh đó, tuân thủ nghiêm Công văn số 5094/UBND-VX ngày 06/8/2021 và Công văn 5297/UBND ngày 13/8/2021 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc triển khai một số biện pháp cấp bách phòng chống dịch bệnh Covid 19 trên địa bàn tỉnh theo đó các cơ sở kinh doanh dịch vụ không thiết yếu phải đóng cửa trở lại sau hơn một tháng hoạt động; các quán ăn, nhà hàng chỉ được phép bán mang về. Đây là những nguyên nhân chính làm cho doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác tháng 8 giảm hơn so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2021 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.693,92 tỷ đồng, tăng 0,05 % so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 995,63 tỷ đồng tăng 3,58 % so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 8 tháng đầu năm 2021 có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Với tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay thì sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngành dịch vụ trong thời gian tới. - Hoạt động vận tải: Tháng 8/2021 tình hình dịch bệnh trên cả nước vẫn còn diễn biến phức tạp do các biến chủng mới của virus  SARS-CoV-2, lây lan nhanh ở nhiều thành phố lớn, đồng thời trên địa bàn tỉnh đã tái xuất hiện các ca nhiễm Covid-19 trong cộng đồng. Do đó đối với tuyến vận tải hành khách liên tỉnh, nhiều địa phương tiếp tục chỉ đạo tạm ngừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến Hà Tĩnh. Đối với vận tải hành khách nội tỉnh kể từ 0 giờ ngày 10/8/2021, tạm dừng hoạt động tất cả các tuyến xe buýt nội tỉnh cho đến khi có thông báo mới. Đối với vận tải hàng hoá do thời tiết thuận lợi và không bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch nên tăng nhẹ so với tháng trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên số lượng tàu cập cảng vận chuyển trong tháng tiếp tục giảm. Vận tải hành khách tháng 8/2021 ước đạt 365,01 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 25,07% so với tháng trước; lượng hành khách luân chuyển ước đạt 41,78 triệu lượt khách.km, giảm 39,44%; doanh thu ước đạt 18,98 tỷ đồng giảm 24,3%. Tính chung 8 tháng đầu năm ước tính đạt 10.379,67 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 18,79% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.715,92 triệu lượt khách.km, giảm 24,6%, doanh thu ước đạt 711,55 tỷ đồng giảm 8,06%. Vận tải hàng hóa tháng 8/2021 ước tính đạt 2.504,52 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,43 % so với tháng trước; lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 52,83 triệu tấn.km, tăng 4,22%; doanh thu ước đạt 190,08 tỷ đồng tăng 4,56%. Tính chung 8 tháng đầu năm ước tính đạt 19.515,64 nghìn tấn vận chuyển, giảm 5,78% so với cùng kỳ năm trước; lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 492,45 triệu tấn.km, giảm 6,98%, doanh thu ước đạt 1775,57 tỷ đồng, giảm 4,75%. Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8/2021 đạt 57,87 tỷ đồng giảm 17,83% so với tháng trước. Chung 8 tháng ước đạt 583,21 tỷ đồng tăng 23,27% so với cùng kỳ năm trước. 4. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tháng 8 năm 2021 giảm 0,44% so với tháng trước, tăng 2,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị giảm 0,6% so với tháng trước, tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn giảm 0,37% so với tháng trước, tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,23%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%; giao thông tăng 0,32%; giáo dục tăng 0,15%. 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,36%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,27%; bưu chính viễn thông giảm 0,03% so tháng trước; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,03%. 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; văn hóa, giải trí và du lịch. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 8 năm 2021 là: i) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến trong thời gian dài và ngày càng phức tạp. Nhiều ngành nghề tiếp tục phải tạm ngừng hoặc hạn chế hoạt động. Thu nhập của người dân chịu ảnh hưởng, khiến người dân giảm tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu. Qua đó tác động đến nhu cầu và giá cả các nhóm này; (ii) Trong tháng rơi vào thời điểm tháng 7 âm lịch cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng lương thực, thực phẩm và mua sắm đồ dùng gia đình. Bên cạnh đó, việc chuẩn bị cho năm học mới khiến nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm tăng cao; (iii) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (iv) giá vật liệu xây dựng trong tháng tiếp tục giảm. Chỉ số giá vàng giảm 1,12% so với tháng trước, giảm 5,36% so với cùng tháng năm trước; Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,41% so với tháng trước, ổn định so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.196 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.318 nghìn đồng/100 USD. Tính chung CPI 8 tháng đầu năm 2021, chỉ số chung 101,69% (tăng 1,69%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,35%; nông thôn tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 9/2021 dự kiến giảm hơn so tháng 8/2021. Tình hình dịch bệnh Covid-19 dự kiến còn diễn biến phức tạp trong thời gian dài, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục phải giảm thời gian hoạt động, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Sang tháng, dự kiến giá lương thực, thực phẩm giảm do vụ lúa Hè Thu vào vụ thu hoạch, cùng với việc hoạt động xuất khẩu tiếp tục gặp nhiều khó khăn, nguồn cung hàng hóa trong nước tăng cao sẽ tác động làm cho giá giảm. 5. Các vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Trước diễn biến phức tạp của đợt bùng phát đại dịch COVID-19 lần thứ 4, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành kế hoạch đảm bảo nguồn cung hàng hóa thiết yếu theo các cấp độ của dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tình hình mới. Kế hoạch cung ứng hàng hóa được xây dựng theo 3 tình huống của dịch COVID-19, cụ thể: cấp độ 1, khi tình hình dịch bệnh ổn định, các ca bệnh đã được cách ly, không có nguy cơ lây nhiễm ra cộng đồng; cấp độ 2, khi áp dụng thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg tại một số địa phương; cấp độ 3, khi áp dụng thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg trên phạm vi toàn tỉnh. Theo đó, hàng hóa sẽ cung ứng kịp thời, đầy đủ lương thực, thực phẩm, nhu cầu thiết yếu cho nhân dân, đặc biệt đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người mất công ăn việc làm do dịch bệnh; không để tình trạng thiếu hàng hóa, ách tắc lưu thông. Đồng thời yêu cầu các đơn vị tăng cường công tác quản lý về thị trường, chống các hành vi đầu cơ, găm hàng, vi phạm hoạt động thương mại. Kịp thời bảo đảm đời sống người dân trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. Kết quả vận động ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19: Từ ngày 16/7 đến ngày 22/8/2021 tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 8,04 tỷ đồng. Lũy kế từ khi phát động ngày 24/3 đến nay, tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 199,61 tỷ đồng, trong đó đợt 1 là 77,91 tỷ đồng, đợt 2 là 121,7 tỷ đồng. 5.2. Giáo dục phổ thông Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2020-2021 đã phản ánh sự thành công của giáo dục Hà Tĩnh trong mục tiêu nâng cao chất lượng đại trà ở các trường học. Điểm bình quân các môn của thí sinh Hà Tĩnh là 6,56, xếp thứ 18 cả nước, tăng 7 bậc so với mùa thi trước. Tỷ lệ đạt tốt nghiệp THPT Quốc gia của Hà Tĩnh đạt 99,02% (với số lượng thí sinh tốt nghiệp là 16.424 học sinh trên tổng số 16.586 thí sinh dự thi). Trong đó: Đối với bậc THPT: Số em dự thi ở tất cả các cụm là 15.148 học sinh, số tốt nghiệp là 15.101 em đạt 99,69%; Đối với hệ bổ túc THPT: Số dự thi là 1.438 học sinh, số tốt nghiệp là 1.323 học sinh, đạt 92,00%. Riêng bậc tiểu học và trung học cơ sở chỉ xét tốt nghiệp. Đối với bậc tiểu học: Số học sinh được công nhận hoàn thành chương trình là 18.190 học sinh, trên tổng số 18.269 học sinh được xét, tương ứng với tỉ lệ hoàn thành chương trình là 99,57% (giảm 0,06% so với năm học trước); Đối với bậc THCS: Số học sinh được công nhận tốt nghiệp là 18.016 học sinh trên tổng số 18.191 học sinh được xét, tương ứng với tỷ lệ được công nhận tốt nghiệp là 99,04% (giảm 0,17% so với năm học trước). 5.3. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch Covid-19: Trước diễn biến hết sức phức tạp của dịch bệnh COVID-19 tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước; trên địa bàn tỉnh có nhiều người từ vùng thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg về địa phương có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2, để chủ động trong công tác phòng, chống dịch COVID-19 và hạn chế sự lây lan trong cộng đồng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 5094/UBND-VX1 ngày 6/8/2021 và Công văn số 5297/UBND-VX1 ngày 16/8/2021 về việc về triển khai một số biện pháp cấp bách phòng chống dịch COVID-19. Từ 10/7/2021 đến nay phát hiện 28 ca cộng đồng, 223 ca F0 từ TP Hồ Chí Minh, Bình Dương,...về trên địa bàn tỉnh được cách ly ngay. Tổng số ca cộng dồn từ 04/6/2021 đến 18h ngày 22/8/2021 là 382 ca (trong đó có 03 trường hợp nhập cảnh, 02 trường hợp ngoại tỉnh); 13 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 50, Hương Sơn: 38, Thạch Hà: 57, Lộc Hà: 51, Hồng Lĩnh: 19, Nghi Xuân: 10; Huyện Kỳ Anh: 24; Hương Khê: 32, Đức Thọ: 17, Can Lộc 49, Cẩm Xuyên 20, Vũ Quang 08, TX Kỳ Anh 02. Tình hình điều trị ca bệnh dương tính: Điều trị tại Hà Tĩnh 324 ca, có 133 bệnh nhân đã khỏi bệnh ra viện, hiện còn 191 bệnh nhân đang điều trị, trong đó: tại TTYT huyện Kỳ Anh (61), BVĐK Cửa Khẩu Cầu Treo (91), BV Phổi (38), còn lại đang điều chuyển về các bệnh viện khác; Chuyển Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 58 BN, trong đó có 33 ca đã ra viện, 03 ca tử vong. Kết quả truy vết xét nghiệm: Cộng dồn F1 từ 4/6 đến ngày 22/8/2021 là 4.343 trường hợp, đã hoàn thành cách ly: 2.809 trường hợp; F2 là 26.766 trường hợp, đã hoàn thành cách ly: 20.852 trường hợp.  Rà soát, quản lý người đến/về từ vùng dịch tính đến ngày 22/8/2021: Người đến/về từ các vùng dịch đang cách ly, theo dõi là 13.756 người: TPHCM 4.540 người, Bình Dương 5.188 người, Đồng Nai 2.520 người, Hà Nội 1.050 người, từ một số các tỉnh phía Nam thực hiện chỉ thị 16 là 458 người. Số lượng người hiện đang cách ly tập trung tính đến ngày 22/8/2021 là 5.294 người; cách ly tại nhà/nơi lưu trú 7.688 người; cách ly tại cơ sở y tế 71 người. Công tác tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19: Đã hoàn thành chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 đợt 3: 25.983 người (đạt 114,4% kế hoạch); đợt 4: 45.221 người (đạt 105% kế hoạch). - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 1 ổ dịch sốt xuất huyết Lộc Hà vào ngày 31/7/2021, từ đó đến nay, tại địa phương này đã ghi nhận 14 trường hợp mắc Sốt xuất huyết, không có ca bệnh tử vong vì dịch; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 ổ dịch, tăng 14 ca ca bị dịch, số trường hợp tử vong vì dịch không đổi. Ngoài ra có các ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 5 ca mắc bệnh quai bị (giảm 1 ca so với cùng kỳ), 11 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 2 ca); 14 ca mắc lỵ a míp (giảm 11 ca); 34 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 20 ca), 862 ca mắc bệnh cúm (giảm 720 ca), 5 ca chân tay miệng (giảm 15 ca), 2 ca viêm gan vi rút (giảm 9 ca), tiêu chảy 67 ca, không phát sinh các ca bệnh khác. Ngoài dịch sốt xuất huyết nêu trên thì các bệnh khác đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.   - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Tính từ 16/7-15/8/2021 Hà Tĩnh chỉ có 3 người nhiễm mới HIV (giảm 4 người so với cùng kỳ năm 2020), 3 người chuyển thành AIDS (giảm 7 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 8 tháng, có 33 trường hợp nhiễm HIV (giảm 23 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 30 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 21 trường hợp) và có 2 trường hợp chết vì AIDS (không đổi). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được tỉnh quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 16/7- 15/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 141 ca độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 38 ca ( tăng 36,89%), số ca tử vong không thay đổi.      Tính chung 8 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/8/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 826 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 41 ca. 5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Do dịch Covid-19 bùng phát trở lại nên các hoạt động văn hóa, thể thao, hội nghị tập trung đông người tiếp tục tạm dừng. Các hoạt động tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng (kể cả ngày Rằm tháng 7) được tổ chức không quá 30 người tham gia và phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định về phòng, chống dịch COVID-19. Các hoạt động văn hóa chính trong tháng chủ yếu là tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch Covid-19. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 11 giấy phép (09 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 02 giấy phép thuộc lĩnh vực thể thao). - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người. Các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân, vừa tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế. 5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         Tính từ ngày 15/7/2021 đến ngày 14/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 11 người, bị thương 3 người, thiệt hại tài sản 60 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ không đổi, tăng 01 người chết, tăng 01 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.         Như vây, tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 71 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 9 vụ so với cùng kỳ), làm chết 59 người (giảm 15 người) và bị thương 25 người (giảm 8 người). 5.6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 16/8/2021 đến ngày 15/8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ cháy, làm 1 người chết và không có người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 59 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 số vụ, không đổi; tăng 1 người chết; giảm 1 người bị thương. Tính chung 8 tháng năm 2021, xẩy ra 35 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2.416 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 14 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/7 đến ngày 14/8/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 22 vụ, xử lý 15 vụ, tổng số tiền xử phạt 104,7 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020, số vụ đã phát hiện tăng 18 vụ, số vụ đã xử lý tăng 11 vụ, số tiền xử phạt tăng 73,7 triệu đồng. Các lĩnh vực vi phạm trong tháng bao gồm: Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường đã phát hiện 10 vụ và xử lý 8 vụ, với tổng số tiền 48,7 triệu đồng; còn lại là vi phạm khác 12 vụ (khai thác đất, cát trái phép, sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản...), đã xử lý 7 vụ, với tổng số tiền là 56 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2021, đã phát hiện 105 vụ (tăng 78 vụ so với cùng kỳ) và xử lý 77 vụ (tăng 51 vụ) vi phạm môi trường, với số tiền 1.129,25 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép; xử lý vi phạm môi trường và xử lý các trang trại chăn nuôi lợn, gà không đảm bảo vệ sinh môi trường.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KT-XH tháng 7 và 7 tháng năm 2021
  •   26/07/2024 11:00

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 7 tháng qua trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. 1.Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, thủy sản      1.1 Sản xuất nông nghiệp *Trồng trọt - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Trong tháng 7 năm 2021, bà con nông dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu. Với điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu đang sinh trưởng và phát triển tốt. Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021 toàn tỉnh ước đạt 44.489 ha, bằng 101% (tăng 439 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu tăng là do vụ sản xuất Đông Xuân vừa qua được mùa toàn diện đã tạo động lực cho bà con nông dân trong sản xuất; cùng với đó là điều kiện thời tiết thuận lợi và các chính sách khuyến nông hỗ trợ về giống, vật tư tiếp tục được triển khai nên bà con nông dân đã khai thác tối đa quỹ đất trồng lúa từ đất bỏ hoang, đất trồng một số loại cây hoa màu khác kém hiệu quả để gieo cấy lúa. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa tăng cả so với kế hoạch cũng như so với cùng kỳ năm trước như: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Khê, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số địa phương không hoàn thành kế hoạch đặt ra như: Thành phố Hà Tĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà. Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2021 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 12/7/2021, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 1.467 ha, đạt 94,8% kế hoạch; ngô sinh khối 410 ha, đạt 53,9% kế hoạch; khoai lang 186 ha, đạt 37,9% kế hoạch; đậu các loại 2.673 ha, đạt 71% kế hoạch; lạc 133 ha, đạt 29,1% kế hoạch; vừng 388 ha, đạt 78,6% kế hoạch; rau các loại 2.222 ha, đạt 88,8% kế hoạch. Nhìn chung, đầu vụ sản xuất Hè Thu năm nay điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không xẩy ra hạn hán, nguồn nước đảm bảo cho sản xuất; các loại cây trồng sản xuất đúng lịch thời vụ; cơ cấu các loại giống cơ bản theo Đề án của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các loại giống ngắn ngày, năng suất cao và thích ứng với điều kiện khí hậu của địa phương; công tác chỉ đạo sản xuất và quản lý nhà nước về hàng hoá vật tư nông nghiệp, kiểm soát chất lượng giống lúa được tăng cường…nên kết quả diện tích gieo cấy lúa đạt khá. Tuy nhiên, đối với các loại cây trồng cạn khác thực hiện không đạt kế hoạch đặt ra. Nguyên nhân, đầu vụ có đợt mưa lớn và sau đó lại có đợt nắng nóng gay gắt nên một số diện tích rau màu không xuống giống được. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đứng cái, làm đòng. Để có một vụ Hè Thu thắng lợi toàn diện như vụ Đông Xuân, ngoài yếu tố thiên nhiên thì bà con nông dân cần phải tuân thủ quy trình kỷ thuật chăm sóc lúa và thường xuyên thăm đồng để phát hiện và kịp thời phòng trừ các loại dịch bệnh gây hại. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 22/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh thì trên lúa Hè Thu có sâu bệnh phát sinh gây hại nhưng mức độ ảnh hưởng thấp, cụ thể: Sâu cuốn lá nhỏ với mật độ trung bình 5-7con/m2, nơi cao 10-15 con/m2, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, diện tích nhiểm bệnh 27 ha, tập trung ở Can Lộc, Lộc Hà, Đức Thọ…; bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những chân ruộng bón thừa đạm, gieo cấy dày, tỷ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiểm bệnh 38a, phân bố ở Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Thạch Hà; bệnh vàng lá sinh lý xuất hiện trên những vùng không chủ động nước ở các địa phương Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh; ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên địa bàn toàn tỉnh, mật độ trung bình 4-6 con/m2, nơi cao 7-9 con/m2, cục bộ 10-15con/m2, diện tích nhiễm là 70 ha; chuột phát sinh gây hại tại Cẩm Xuyên, Lộc Hà với tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 7-10%, diện tích bị hại 85 ha. Trên cây đậu thì sâu ăn lá mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2 diện tích 5 ha tập trung ở Hương Khê, Đức Thọ. Cây ngô sâu keo mùa thu, sâu ăn lá mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 10 ha, tập trung ở Vũ Quang. Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Bệnh chảy gôm diện tích nhiễm 43 ha; bệnh vàng lá thối rễ diện tích nhiễm 30 ha; bệnh loét, sẹo diện tích nhiễm 50 ha; sâu đục thân, đục quả 25 ha; nhóm nhện diện tích nhiễm 50 ha; sâu vẻ bùa, sâu nhớt 30 ha và các đối tượng sâu xanh bướm phượng, rầy chổng cánh…cũng xuất hiện gây hại nhưng với mức độ nhẹ. Diện tích cây ăn quả nhiễm bệnh chủ yếu tập trung ở huyện Hương Sơn, Hương Khê. Trước tình hình diễn biến của sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, dự báo chính xác các đối tượng sâu, bệnh để phòng trừ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu và cây ăn quả năm 2021, cụ thể: Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, chuột,…trên cây lúa, đặc biệt cần theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu cuốn lá nhỏ để có biện pháp phòng trừ kịp thời; sâu keo mùa thu, sâu đục thân trên cây ngô; bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá trên cây đậu; sâu vẽ bùa, nhóm nhện, bệnh chảy gôm trên cây ăn quả để có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Đối với rầy và bệnh lùn sọc đen Phương Nam phải thường xuyên thu mẫu rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen để giám định vi rút lùn sọc đen Phương Nam, bệnh vàng lụi để có biện pháp phòng trừ kịp thời.  *Chăn nuôi Hiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn. Chi phí chăn nuôi ngày càng tăng trong khi giá bán sản phẩm đang có xu hướng giảm mạnh đã gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi, nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Tín hiệu tích cực là trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm nên đàn gia cầm phát triển khá, với giá bán sản phẩm tương đối ổn định. Dự kiến, thời gian tới với những khó khăn chung của nền kinh tế do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 làm cho lượng cầu hàng hóa giảm, trong khi chi phí sản xuất vẫn đang có xu hướng tăng mà giá bán sản phẩm thì giảm. Vì vậy, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn gặp khó khăn, cơ bản chỉ ổn định được đàn vật nuôi chứ chưa thể có bước đột phá trong ngắn hạn.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 14/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 501 con (9 con trâu và 492 con bò)/382 hộ/62 thôn/18 xã, thị trấn của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Vũ Quang) đang có gia súc mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày; có 10 xã của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, Đức Thọ, Lộc Hà) dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày, nhưng không còn có lợn mắc dịch; dịch LMLM xẩy ra ở Hương Khê đã hết dịch qua 21 ngày. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi.         Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/7/2021: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 35.098 liều, đạt 58,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 34.868 liều, đạt 59,8% kế hoạch; dịch tả lợn 9.431 liều, đạt 17,65% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 9.381 liều, đạt 19,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 23.058 liều, đạt 40,1% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 110.676 liều, đạt 11,4% kế hoạch.          1.2 Lâm nghiệp         Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 7/2021 nhìn chung ổn định. Tranh thủ các đợt mưa trong tháng thì hoạt động trồng rừng tập trung vẫn tiếp tục được triển khai với kết quả tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 7/2021 tuy tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 19,48% so với tháng trước. Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp giữa các tháng và các năm thường có sự chênh lệch khá lớn.         Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, trong tháng đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng tại huyện Can Lộc với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha và 4 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 0,796 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 9 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha (giảm 58,57 ha) và 22 vụ phá rừng (giảm 17 vụ), với diện tích rừng bị phá là 8,32 ha (giảm 6,826 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản   Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 7/2021 không có nhiều biến động, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển gặp khó khăn do chi phí xăng dầu, nhân công ngày càng tăng trong khi nguồn lợi hải sản ngày càng giảm. Cùng với đó, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2021. Tuy nhiên, năm nay do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải thực hiện giản cách xã hội, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với tôm nuôi giảm nên người nuôi tôm gặp khó khăn.  Trong tháng không phát sinh dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản.         2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư        2.1 Hoạt động sản xuất công nghiệp:- Ước tính chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 7/2021 tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Một số ngành công nghiệp có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ năm trước đó là: Ngành khai khoáng tăng 18,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,15%. Bên cạnh một số ngành có chỉ số tăng cao thì trong tháng 7 vừa qua vẫn còn một số ngành có chỉ số đạt thấp so với tháng trước củng như cùng kỳ năm trước như ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,33% so với tháng trước và giảm 4,61% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,61% so với tháng trước và giảm 4,92% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 7 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,85% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,78%, đóng góp 0,18 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,07%, đóng góp 21,38 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,87%, làm giảm 0,45 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8%, làm giảm 0,26 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. - Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 17 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 85,29%; khai khoáng quặng kim loại tăng 51,8%; sản xuất kim loại tăng 33,19%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 24,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 24,71%. Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng cao thì vẫn có 8 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 22,17%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 21,66%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 10,61%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 6,63%; sản xuất trang phục giảm 6,52%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 5,07%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,87%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị giảm 0,38%. 2.2. Vốn đầu tưTrong tháng 7 vừa qua tình hình Dịch Covid-19 tạm thời được khống chế, thời tiết tương đối thuận lợi đã tạo điều kiện trong việc thi công các công trình dự án trên địa bàn đảm bảo tiến độ đề ra, bên cạnh đó các công trình sử dụng nguồn vốn ODA như dự án cải thiện cơ sở hạ tầng các vùng lũ ngập Hà Tĩnh, các dự án đường, cầu dân sinh đã được phân bổ, bàn giao vốn kịp thời để triển khai thi công. Trong tháng 7/2021, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 489,02 tỷ đồng, tăng 20,95% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 363,21 tỷ đồng, tăng 15,2% (tăng 47,9 tỷ đồng) so với tháng trước và tăng 20,72% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 78,94 tỷ đồng, tăng 34,66% (tăng 20,32 tỷ đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46.869 triệu đồng, tăng 54,15% (tăng 16,47 tỷ đồng) so với tháng trước. - Dự ước 7 tháng đầu năm 2021: Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2792,62 tỷ đồng, đạt 36,69% kế hoạch năm, tăng 17,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.064,55 tỷ đồng, chiếm 73,93% tổng vốn, tăng 42,66% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 444,47 tỷ đồng, chiếm 15,92% tổng vốn, giảm 25,30% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 283,60 tỷ đồng, chiếm 10,15% tổng vốn, tăng 0,78% so với cùng kỳ. Trong 7 tháng đầu năm, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch vẫn đang đạt thấp (đạt 36,69%). Nguyên nhân do thời gian qua, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước; giá thép tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến triển khai các dự án công trình của các nhà thầu. Bên cạnh đó một số dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm. 2.Thương mại, dịch vụ Sau khi khống chế được dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh, bước sang tháng 7 các cơ sở sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ đã trở lại hoạt động bình thường tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong tình hình mới. Cùng với đó, bệnh viêm da nổi cục ở trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tháng 7/2021 tăng so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 7/2021 đạt 3.417,33 tỷ đồng, tăng 9,84% so với tháng trước và giảm 0,91% so với cùng kỳ năm trước. 12/12 nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: Vật phẩm văn hóa, giáo dục 27,02%; hàng may mặc tăng 14,93%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,95%; xăng dầu các loại tăng 14,81%; đá quý và kim loại quý tăng 42,5%. Dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, đa số các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định hoạt động trở lại, thời gian hoạt động bình quân cũng dài hơn so tháng trước. Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 24.989,32 triệu đồng, tăng 13,06% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: hàng may mặc tăng 36,41%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 26,57%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 29,25%; xăng dầu các loại tăng 25,05% đá quý, kim loại quý tăng 40,99%. Nhìn chung 7 tháng đầu năm 2021 tổng mức bán lẻ tăng khá so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu thời gian qua các doanh nghiệp đã đổi mới sản phẩm của mình; chuyển đổi từ hình thức bán hàng truyền thống sang hình thức bán hàng trực tuyến để thích ứng với tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thời gian tới còn gặp nhiều khó khăn, bất lợi, tiềm ẩn nhân tố không ổn định khi dịch bệnh ở các địa phương khác đang diễn biến hết sức phức tạp. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động đến lượng cầu hàng hóa.         - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2021 ước đạt 194,05 tỷ đồng, tăng 19,55% so với tháng trước, giảm 56,28% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 ước đạt 2.611,07 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước         Doanh thu dịch vụ khác tháng 7/2021 ước tính đạt 80,31 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 7,51% và so với cùng kỳ năm trước giảm 45,47%. Chung 7 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 915,6 tỷ đồng tăng 11,34 % so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác 7 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. - Hoạt động vận tải:          Mặc dù dịch Covid 19 trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, hoạt động vận tải hành khách tăng so với tháng trước, tuy nhiên trong thời gian tới vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh cả nước nói chung đang còn diễn biến phức tạp, nhiều địa phương đã chỉ đạo tạm ngừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến Hà Tĩnh. Vận tải hàng hoá tăng nhẹ so với tháng trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên số lượng tàu cập cảng vận chuyển giảm.         Vận tải hành khách tháng 7/2021 ước đạt 678,68 nghìn lượt hành khách vận chuyển, tăng 10,5% so với tháng trước và luân chuyển 90,58 triệu lượt khách.km, tăng 11,47%; doanh thu ước đạt 37,03 tỷ đồng tăng 15,38%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 10.206,18 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 6,18% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.695,74 triệu lượt khách.km, giảm 12,08%, doanh thu ước đạt 711,55 tỷ đồng giảm 8,06%.         Vận tải hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 2.074,31 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 2,48 % so với tháng trước và luân chuyển 50,52 triệu tấn.km, tăng 0,24%; doanh thu ước đạt 186,16 tỷ đồng tăng 2,7%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 17.509,99 nghìn tấn vận chuyển, giảm 1,96% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 439,45 triệu tấn.km, giảm 2,92%, doanh thu ước đạt 1.589,86 tỷ đồng, giảm 1,49%.         Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7/2021 đạt 67,65 tỷ đồng giảm 6,66% so với tháng trước. Chung 7 tháng ước đạt 522,58 tỷ đồng tăng 25,93% so với cùng kỳ năm trước.         3.Chỉ số giá tiêu dùng          CPI tháng 7 năm 2021 tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,29% và khu vực nông thôn tăng 0,65%.         Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,22%, Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,63%; giao thông tăng 1,74%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,16%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,53%. 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,09% so tháng trước. Có 3 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Giáo dục; văn hóa, giải trí và du lịch; đồ uống và thuốc lá.         Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 7/2021, đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, kéo dài trên phạm vi cả nước trong thời gian qua khiến mọi mặt của đời sống người dân nói chung cũng như một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nói riêng bị ảnh hưởng. Thu nhập người dân bị tác động, người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu, tác động đến nhu cầu và giá cả các đồ dùng đắt tiền; (2) Yếu tố thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt tiếp tục tăng đã tác động đến chỉ số giá nhóm hàng Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; (3) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (4) Giá vật liệu xây dựng bắt đầu giảm.         Chỉ số giá vàng giảm 2,02% so với tháng trước, tăng 5,14% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.254 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 0,37% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân 2.327 nghìn đồng/100 USD.         Tính chung CPI 7 tháng đầu năm 2021, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,34%; khu vực nông thôn tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước.         Chỉ số CPI tháng 8/2021 dự kiến tiếp tục tăng hơn so tháng 7/2021. Tình hình dịch bệnh covid-19 dự kiến còn diễn biến phức tạp trong thời gian dài sắp tới, nguồn cung hàng hóa gặp nhiều khó khăn hơn. Giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tăng cao liên tục trong thời gian qua ảnh hưởng đến đến chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa. Các nhóm hàng may mặc, văn phòng phẩm dự kiến tăng giá vào cuối tháng khi thời điểm năm học mới bắt đầu.         5. Các vấn đề xã hội         5.1. Tình hình đời sống dân cư         Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được quan tâm triển khai kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói. Tính đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiếu đói. Tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, cùng sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch nên đời sống của nhân dân ổn định. Dự kiến trong thời gian tới tình trạng thiếu đói không xẩy ra.          Kết quả vận động ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19: Tính đến ngày 16/7/2021, tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 191,57 tỷ đồng, trong đó đợt 1 là 77,91 tỷ đồng, đợt 2 là 113,66 tỷ đồng. Số tiền và hàng hóa đã phân phối hỗ trợ công tác phòng chống dịch như: vật tư sinh phẩm, thiết bị y tế; khẩu trang; nước sát khuẩn… cho lực lượng tuyến đầu và các nhu yếu phẩm, hỗ trợ khu phong tỏa, khu cách ly qua hai đợt là 128,57 tỷ đồng.          5.2. Giáo dục phổ thông         Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2021 (đợt 1) ở Hà Tĩnh được tổ chức hai ngày 7-8/7/2021 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh còn tiềm ẩn nguy cơ, một số khu dân cư vẫn bị phong tỏa, một số thí sinh F1, F2 phải chờ thi đợt 2. Tham gia kỳ thi tốt nghiệp với hơn 17.300 thí sinh và hơn 3.600 cán bộ, nhân viên, thanh niên tình nguyện phục vụ tại các điểm thi. Với sự sự nổ lực của các ngành chức năng trong công tác tổ chức kỳ thi và phòng, chống dịch, kỳ thi đã kết thúc nghiêm túc đúng quy chế và đảm bảo an toàn sức khỏe. Bên cạnh đó, công tác chấm thi và tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2021-2022 đã hoàn thành, theo đó năm học 2021-2022 điểm đầu vào trường THPT công lập trên địa bàn tỉnh tăng mạnh so với năm trước và có sự đồng đều về chất lượng giáo dục ở các vùng. Toàn tỉnh có 25/36 trường có điểm đầu vào từ 20 đến 33 điểm (tăng 16 trường so với năm học trước).         5.3. Hoạt động Y tế         - Tình hình dịch Covid-19: Tình hình dịch Covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản đã được khống chế. Các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố theo chức năng nhiệm vụ tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra các biện pháp phòng chống dịch Covid có hiệu quả. Đồng thời, lên kế hoạch triển khai đón người dân tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam về Hà Tĩnh và phương án cách ly, xét nghiệm người dân một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt.         Từ ngày 30/6 đến nay không phát hiện ca mắc mới trong cộng đồng. Tổng số ca mắc từ 04/6 đến 22/7/2021: 129 ca, trong đó, có 3 trường hợp nhập cảnh và 03 trường hợp đi từ vùng dịch về được cách ly ngay; có 07 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 40, Hương Sơn: 21, Thạch Hà: 48, Lộc Hà: 9, Hồng Lĩnh: 3, Nghi Xuân: 4; Huyện Kỳ Anh:1. Cộng dồn F1 từ 4/6 đến 22/7: 2.796 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 2.503 người; cộng dồn F2 từ 4/6 đến nay: 20.763 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 20.575 người.         Hiện nay, có 58 bệnh nhân đã khỏi bệnh và xuất viện, 25 bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở y tế của tỉnh; 46 bệnh nhân chuyển điều trị tại tuyến trung ương (trong có 01 bệnh nhân tử vong).         Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Số người tiêm vắc xin COVID-19 đợt 3 là 25.590 người trên tổng số 22.700 chỉ tiêu vắc xin (đạt 112,7%).         - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 1 ổ dịch sốt xuất huyết tại TX Kỳ Anh vào ngày 24/6/2021, từ đó đến nay, tại địa phương này đã ghi nhận 19 trường hợp mắc Sốt xuất huyết, không có ca bệnh bị tử vong vì dịch.            Ngoài ra, các ca bệnh đơn lẻ: có 2 ca mắc sốt xuất huyết ( so với cùng kỳ tăng 2 ca); 3 ca mắc bệnh quai bị (tăng 1 ca), 9 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 12 ca); 12 ca mắc lỵ a míp (giảm 7 ca); 21 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 9 ca), 987 ca mắc bệnh cúm (giảm 371 ca), 1 ca chân tay miệng (giảm 22 ca), tiêu chảy 78 ca, 03 viêm gan vi rút khác. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.         - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 2 người nhiễm mới HIV (giảm 11 người so với cùng kỳ năm 2020), 3 người chuyển thành AIDS (giảm 9 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 7 tháng, có 30 trường hợp nhiễm HIV, 27 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 2 trường hợp chết vì AIDS.         - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hà Tĩnh tiếp tục triển khai Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 03/6/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn thực phẩm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của chính quyền các cấp về an toàn thực phẩm (ATTP); nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với việc đảm bảo ATTP, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.          Tính từ ngày 16/6-15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nhưng có 122 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 7 ca ( tăng 6,08%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/7/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 685 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 3 ca (tăng 5,06%).         5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao         - Hoạt động văn hóa: Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 4420/UBND - VX1 ngày 13/7/2021 về việc thực hiện một số biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới, theo đó không tổ chức các hoạt động lễ hội, nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, sự kiện có tập trung đông người tại nơi công cộng, sân vận động và các sự kiện chưa cấp thiết. Vì vậy, các hoạt động văn hóa trong tháng đang có phần hạn chế. Bên cạnh đó, tập trung triển khai tốt các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh Hà Tĩnh (1831-2021), 30 năm tái lập tỉnh (1991 - 2021); tuyên truyền phòng, chống dịch Covid 19; tuyên truyền kỷ niệm 20 năm Ngày Gia đình Việt Nam (20/6); ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7).         - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Do dịch bệnh Covid 19 diễn biễn phức tạp nên các hoạt động kiểm tra, thanh tra văn hóa đều bị hủy, hoãn ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng cũng như hoạt động theo kế hoạch chuyên môn. Cùng với đó đã tiến hành Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 8 giấy phép, cả 8 giấy đều thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.            - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 nên Hà Tĩnh đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người, vì vậy, các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ như đánh bóng chuyền, cầu lông, chạy bộ với quy mô nhỏ tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân.         Đối với thể thao thành tích cao: Do ảnh hưởng của dịch Covid -19 đang diễn biến phức tạp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước nên các giải thể thao thành tích cao không diễn ra như kế hoạch.         5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội         Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người, bị thương 3 người, thiệt hại tài sản 45 triệu. So với tháng trước tăng 2 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương, so với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ, giảm 6 người chết, giảm 8 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.         Như vây, tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 48 người và bị thương 22 người. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 16 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 7 người chết và giảm 8 người bị thương.         5.6. Môi trường         - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ cháy (trong đó có 1 vụ cháy rừng), không có vụ nổ, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 47 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 giảm 7 vụ. Tính chung 7 tháng, xẩy ra 24 vụ cháy, nổ, làm 2 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,36 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 14 vụ cháy, nổ giảm 1 người chết và giảm 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/6 đến ngày 14/7/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 8 vụ, xử lý 10 vụ (trong đó có 02 vụ vi phạm từ tháng trước, đến tháng 7 mới tiến hành xử phạt), với tổng số tiền xử phạt 177,50 triệu đồng. Trong đó: Vận chuyển, chôn lấp, đổ, thải chất rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật phát hiện 1 vụ, đã xử lý 1 vụ với số tiền xử phạt 10 triệu đồng; Xả thải, khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đã phát hiện 0 vụ, đã xử lý 2 vụ từ các tháng trước chưa xử lý, với số tiền xử phạt 75,5 triệu đồng; Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đã phát hiện và xử lý 01 vụ với số tiền 80 triệu đồng; Vi phạm khác ( khai thác, vận chuyển đất cát trái phép...) đã phát hiện 6 vụ, xử lý 6 vụ với số tiền 12 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 6 vụ, số vụ đã xử lý tăng 8 vụ, số tiền xử phạt tăng 173 triệu đồng. Tính chung 7 tháng, đã phát hiện 83 vụ (tăng 60 vụ) và xử lý 62 vụ vi phạm môi trường (tăng 40 vụ so với cùng kỳ năm 2020), với số tiền 1.024,55 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 7 và 7 tháng năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   16/07/2024 09:33

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 7 tháng qua trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân.Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp.1.Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, thủy sản          1.1 Sản xuất nông nghiệp*Trồng trọt- Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Trong tháng 7 năm 2021, bà con nông dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu. Với điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu đang sinh trưởng và phát triển tốt.Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021 toàn tỉnh ước đạt 44.489 ha, bằng 101% (tăng 439 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu tăng là do vụ sản xuất Đông Xuân vừa qua được mùa toàn diện đã tạo động lực cho bà con nông dân trong sản xuất; cùng với đó là điều kiện thời tiết thuận lợi và các chính sách khuyến nông hỗ trợ về giống, vật tư tiếp tục được triển khai nên bà con nông dân đã khai thác tối đa quỹ đất trồng lúa từ đất bỏ hoang, đất trồng một số loại cây hoa màu khác kém hiệu quả để gieo cấy lúa. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa tăng cả so với kế hoạch cũng như so với cùng kỳ năm trước như: Thị xã Hồng Lĩnh, Hương Khê, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số địa phương không hoàn thành kế hoạch đặt ra như: Thành phố Hà Tĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà.Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2021 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 12/7/2021, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 1.467 ha, đạt 94,8% kế hoạch; ngô sinh khối 410 ha, đạt 53,9% kế hoạch; khoai lang 186 ha, đạt 37,9% kế hoạch; đậu các loại 2.673 ha, đạt 71% kế hoạch; lạc 133 ha, đạt 29,1% kế hoạch; vừng 388 ha, đạt 78,6% kế hoạch; rau các loại 2.222 ha, đạt 88,8% kế hoạch. Nhìn chung, đầu vụ sản xuất Hè Thu năm nay điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không xẩy ra hạn hán, nguồn nước đảm bảo cho sản xuất; các loại cây trồng sản xuất đúng lịch thời vụ; cơ cấu các loại giống cơ bản theo Đề án của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các loại giống ngắn ngày, năng suất cao và thích ứng với điều kiện khí hậu của địa phương; công tác chỉ đạo sản xuất và quản lý nhà nước về hàng hoá vật tư nông nghiệp, kiểm soát chất lượng giống lúa được tăng cường…nên kết quả diện tích gieo cấy lúa đạt khá. Tuy nhiên, đối với các loại cây trồng cạn khác thực hiện không đạt kế hoạch đặt ra. Nguyên nhân, đầu vụ có đợt mưa lớn và sau đó lại có đợt nắng nóng gay gắt nên một số diện tích rau màu không xuống giống được. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đứng cái, làm đòng. Để có một vụ Hè Thu thắng lợi toàn diện như vụ Đông Xuân, ngoài yếu tố thiên nhiên thì bà con nông dân cần phải tuân thủ quy trình kỷ thuật chăm sóc lúa và thường xuyên thăm đồng để phát hiện và kịp thời phòng trừ các loại dịch bệnh gây hại.- Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 22/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh thì trên lúa Hè Thu có sâu bệnh phát sinh gây hại nhưng mức độ ảnh hưởng thấp, cụ thể: Sâu cuốn lá nhỏ với mật độ trung bình 5-7con/m2, nơi cao 10-15 con/m2, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, diện tích nhiểm bệnh 27 ha, tập trung ở Can Lộc, Lộc Hà, Đức Thọ…; bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những chân ruộng bón thừa đạm, gieo cấy dày, tỷ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiểm bệnh 38a, phân bố ở Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Thạch Hà; bệnh vàng lá sinh lý xuất hiện trên những vùng không chủ động nước ở các địa phương Cẩm Xuyên, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh; ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên địa bàn toàn tỉnh, mật độ trung bình 4-6 con/m2, nơi cao 7-9 con/m2, cục bộ 10-15con/m2, diện tích nhiễm là 70 ha; chuột phát sinh gây hại tại Cẩm Xuyên, Lộc Hà với tỷ lệ trung bình 2-3%, nơi cao 7-10%, diện tích bị hại 85 ha. Trên cây đậu thì sâu ăn lá mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2 diện tích 5 ha tập trung ở Hương Khê, Đức Thọ. Cây ngô sâu keo mùa thu, sâu ăn lá mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 10 ha, tập trung ở Vũ Quang.Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Bệnh chảy gôm diện tích nhiễm 43 ha; bệnh vàng lá thối rễ diện tích nhiễm 30 ha; bệnh loét, sẹo diện tích nhiễm 50 ha; sâu đục thân, đục quả 25 ha; nhóm nhện diện tích nhiễm 50 ha; sâu vẻ bùa, sâu nhớt 30 ha và các đối tượng sâu xanh bướm phượng, rầy chổng cánh…cũng xuất hiện gây hại nhưng với mức độ nhẹ. Diện tích cây ăn quả nhiễm bệnh chủ yếu tập trung ở huyện Hương Sơn, Hương Khê.Trước tình hình diễn biến của sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, dự báo chính xác các đối tượng sâu, bệnh để phòng trừ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu và cây ăn quả năm 2021, cụ thể: Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến của sâu cuốn lá nhỏ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, chuột,…trên cây lúa, đặc biệt cần theo dõi chặt chẽ diễn biến sâu cuốn lá nhỏ để có biện pháp phòng trừ kịp thời; sâu keo mùa thu, sâu đục thân trên cây ngô; bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá trên cây đậu; sâu vẽ bùa, nhóm nhện, bệnh chảy gôm trên cây ăn quả để có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Đối với rầy và bệnh lùn sọc đen Phương Nam phải thường xuyên thu mẫu rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen để giám định vi rút lùn sọc đen Phương Nam, bệnh vàng lụi để có biện pháp phòng trừ kịp thời. *Chăn nuôiHiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn. Chi phí chăn nuôi ngày càng tăng trong khi giá bán sản phẩm đang có xu hướng giảm mạnh đã gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi, nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Tín hiệu tích cực là trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm nên đàn gia cầm phát triển khá, với giá bán sản phẩm tương đối ổn định. Dự kiến, thời gian tới với những khó khăn chung của nền kinh tế do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 làm cho lượng cầu hàng hóa giảm, trong khi chi phí sản xuất vẫn đang có xu hướng tăng mà giá bán sản phẩm thì giảm. Vì vậy, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn vẫn còn gặp khó khăn, cơ bản chỉ ổn định được đàn vật nuôi chứ chưa thể có bước đột phá trong ngắn hạn.           Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 14/7/2021, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 501 con (9 con trâu và 492 con bò)/382 hộ/62 thôn/18 xã, thị trấn của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Vũ Quang) đang có gia súc mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày; có 10 xã của 6 huyện (Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, Đức Thọ, Lộc Hà) dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày, nhưng không còn có lợn mắc dịch; dịch LMLM xẩy ra ở Hương Khê đã hết dịch qua 21 ngày. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi.          Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/7/2021: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 35.098 liều, đạt 58,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 34.868 liều, đạt 59,8% kế hoạch; dịch tả lợn 9.431 liều, đạt 17,65% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 9.381 liều, đạt 19,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 23.058 liều, đạt 40,1% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 110.676 liều, đạt 11,4% kế hoạch.               1.2 Lâm nghiệp           Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 7/2021 nhìn chung ổn định. Tranh thủ các đợt mưa trong tháng thì hoạt động trồng rừng tập trung vẫn tiếp tục được triển khai với kết quả tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 7/2021 tuy tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 19,48% so với tháng trước. Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp giữa các tháng và các năm thường có sự chênh lệch khá lớn.          Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, trong tháng đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng tại huyện Can Lộc với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha và 4 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 0,796 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 9 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,23 ha (giảm 58,57 ha) và 22 vụ phá rừng (giảm 17 vụ), với diện tích rừng bị phá là 8,32 ha (giảm 6,826 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.          1.3 Thủy sản    Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 7/2021 không có nhiều biến động, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển gặp khó khăn do chi phí xăng dầu, nhân công ngày càng tăng trong khi nguồn lợi hải sản ngày càng giảm. Cùng với đó, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2021. Tuy nhiên, năm nay do ảnh hưởng của dịch Covid-19 phải thực hiện giản cách xã hội, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với tôm nuôi giảm nên người nuôi tôm gặp khó khăn. Trong tháng không phát sinh dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản.          2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư          2.1 Hoạt động sản xuất công nghiệp:- Ước tính chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 7/2021 tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Một số ngành công nghiệp có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ năm trước đó là: Ngành khai khoáng tăng 18,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,15%. Bên cạnh một số ngành có chỉ số tăng cao thì trong tháng 7 vừa qua vẫn còn một số ngành có chỉ số đạt thấp so với tháng trước củng như cùng kỳ năm trước như ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,33% so với tháng trước và giảm 4,61% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,61% so với tháng trước và giảm 4,92% so với cùng kỳ năm trước.- Tính chung 7 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,85% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,78%, đóng góp 0,18 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,07%, đóng góp 21,38 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,87%, làm giảm 0,45 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8%, làm giảm 0,26 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.- Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 17 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 85,29%; khai khoáng quặng kim loại tăng 51,8%; sản xuất kim loại tăng 33,19%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 24,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 24,71%. Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng cao thì vẫn có 8 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 7 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 22,17%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 21,66%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 10,61%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 6,63%; sản xuất trang phục giảm 6,52%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 5,07%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,87%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị giảm 0,38%.2.2. Vốn đầu tưTrong tháng 7 vừa qua tình hình Dịch Covid-19 tạm thời được khống chế, thời tiết tương đối thuận lợi đã tạo điều kiện trong việc thi công các công trình dự án trên địa bàn đảm bảo tiến độ đề ra, bên cạnh đó các công trình sử dụng nguồn vốn ODA như dự án cải thiện cơ sở hạ tầng các vùng lũ ngập Hà Tĩnh, các dự án đường, cầu dân sinh đã được phân bổ, bàn giao vốn kịp thời để triển khai thi công. Trong tháng 7/2021, tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 489,02 tỷ đồng, tăng 20,95% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 363,21 tỷ đồng, tăng 15,2% (tăng 47,9 tỷ đồng) so với tháng trước và tăng 20,72% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 78,94 tỷ đồng, tăng 34,66% (tăng 20,32 tỷ đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46.869 triệu đồng, tăng 54,15% (tăng 16,47 tỷ đồng) so với tháng trước.- Dự ước 7 tháng đầu năm 2021: Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2792,62 tỷ đồng, đạt 36,69% kế hoạch năm, tăng 17,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.064,55 tỷ đồng, chiếm 73,93% tổng vốn, tăng 42,66% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 444,47 tỷ đồng, chiếm 15,92% tổng vốn, giảm 25,30% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 283,60 tỷ đồng, chiếm 10,15% tổng vốn, tăng 0,78% so với cùng kỳ. Trong 7 tháng đầu năm, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch vẫn đang đạt thấp (đạt 36,69%). Nguyên nhân do thời gian qua, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước; giá thép tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến triển khai các dự án công trình của các nhà thầu. Bên cạnh đó một số dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm.3.Thương mại, dịch vụSau khi khống chế được dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh, bước sang tháng 7 các cơ sở sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ đã trở lại hoạt động bình thường tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong tình hình mới. Cùng với đó, bệnh viêm da nổi cục ở trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát đã làm cho kết quả hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ  tháng 7/2021 tăng so với tháng trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 7/2021 đạt 3.417,33 tỷ đồng, tăng 9,84% so với tháng trước và giảm 0,91% so với cùng kỳ năm trước. 12/12 nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, trong đó một số nhóm ngành hàng tăng mạnh là: Vật phẩm văn hóa, giáo dục 27,02%; hàng may mặc tăng 14,93%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,95%; xăng dầu các loại tăng 14,81%; đá quý và kim loại quý tăng 42,5%. Dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, đa số các hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định hoạt động trở lại, thời gian hoạt động bình quân cũng dài hơn so tháng trước.Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 24.989,32 triệu đồng, tăng 13,06% so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: hàng may mặc tăng 36,41%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 26,57%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 29,25%; xăng dầu các loại tăng 25,05% đá quý, kim loại quý tăng 40,99%. Nhìn chung 7 tháng đầu năm 2021 tổng mức bán lẻ tăng khá so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu thời gian qua các doanh nghiệp đã đổi mới sản phẩm của mình; chuyển đổi từ hình thức bán hàng truyền thống sang hình thức bán hàng trực tuyến để thích ứng với tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thời gian tới còn gặp nhiều khó khăn, bất lợi, tiềm ẩn nhân tố không ổn định khi dịch bệnh ở các địa phương khác đang diễn biến hết sức phức tạp. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động đến lượng cầu hàng hóa.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác:Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2021 ước đạt 194,05 tỷ đồng, tăng 19,55% so với tháng trước, giảm 56,28% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 ước đạt 2.611,07 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước          Doanh thu dịch vụ khác tháng 7/2021 ước tính đạt 80,31 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 7,51% và so với cùng kỳ năm trước giảm 45,47%. Chung 7 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 915,6 tỷ đồng tăng 11,34 % so với cùng kỳ năm trước.Nhìn chung doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác 7 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.- Hoạt động vận tải:          Mặc dù dịch Covid 19 trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, hoạt động vận tải hành khách tăng so với tháng trước, tuy nhiên trong thời gian tới vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh cả nước nói chung đang còn diễn biến phức tạp, nhiều địa phương đã chỉ đạo tạm ngừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến Hà Tĩnh. Vận tải hàng hoá tăng nhẹ so với tháng trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên số lượng tàu cập cảng vận chuyển giảm.          Vận tải hành khách tháng 7/2021 ước đạt 678,68 nghìn lượt hành khách vận chuyển, tăng 10,5% so với tháng trước và luân chuyển 90,58 triệu lượt khách.km, tăng 11,47%; doanh thu ước đạt 37,03 tỷ đồng tăng 15,38%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 10.206,18 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 6,18% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.695,74 triệu lượt khách.km, giảm 12,08%, doanh thu ước đạt 711,55 tỷ đồng giảm 8,06%.          Vận tải hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 2.074,31 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 2,48 % so với tháng trước và luân chuyển 50,52 triệu tấn.km, tăng 0,24%; doanh thu ước đạt 186,16 tỷ đồng tăng 2,7%. Tính chung 7 tháng đầu năm ước tính đạt 17.509,99 nghìn tấn vận chuyển, giảm 1,96% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 439,45 triệu tấn.km, giảm 2,92%, doanh thu ước đạt 1.589,86 tỷ đồng, giảm 1,49%.           Ước tính doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7/2021 đạt 67,65 tỷ đồng giảm 6,66% so với tháng trước. Chung 7 tháng ước đạt 522,58 tỷ đồng tăng 25,93% so với cùng kỳ năm trước.          4.Chỉ số giá tiêu dùng           CPI tháng 7 năm 2021 tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước khu vực thành thị tăng 0,29% và khu vực nông thôn tăng 0,65%.          Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,22%, Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,63%; giao thông tăng 1,74%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,16%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,53%. 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,09% so tháng trước. Có 3 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Giáo dục; văn hóa, giải trí và du lịch; đồ uống và thuốc lá.          Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 7/2021, đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, kéo dài trên phạm vi cả nước trong thời gian qua khiến mọi mặt của đời sống người dân nói chung cũng như một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nói riêng bị ảnh hưởng. Thu nhập người dân bị tác động, người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu, tác động đến nhu cầu và giá cả các đồ dùng đắt tiền; (2) Yếu tố thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt tiếp tục tăng đã tác động đến chỉ số giá nhóm hàng Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; (3) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (4) Giá vật liệu xây dựng bắt đầu giảm.          Chỉ số giá vàng giảm 2,02% so với tháng trước, tăng 5,14% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.254 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 0,37% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân 2.327 nghìn đồng/100 USD.          Tính chung CPI 7 tháng đầu năm 2021, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:  Khu vực thành thị tăng 2,34%; khu vực nông thôn tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước.          Chỉ số CPI tháng 8/2021 dự kiến tiếp tục tăng hơn so tháng 7/2021. Tình hình dịch bệnh covid-19 dự kiến còn diễn biến phức tạp trong thời gian dài sắp tới, nguồn cung hàng hóa gặp nhiều khó khăn hơn. Giá điện, nước sinh hoạt, xăng dầu tăng cao liên tục trong thời gian qua ảnh hưởng đến đến chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa. Các nhóm hàng may mặc, văn phòng phẩm dự kiến tăng giá vào cuối tháng khi thời điểm năm học mới bắt đầu.          5. Các vấn đề xã hội          5.1. Tình hình đời sống dân cư          Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được quan tâm triển khai kịp thời, đảm bảo không để người dân nào thiếu đói. Tính đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiếu đói. Tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, cùng sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch nên đời sống của nhân dân ổn định. Dự kiến trong thời gian tới tình trạng thiếu đói không xẩy ra.          Kết quả vận động ủng hộ phòng, chống dịch bệnh Covid-19: Tính đến ngày 16/7/2021, tổng số tiền và hàng hóa quy ra tiền thu được 191,57 tỷ đồng, trong đó đợt 1 là 77,91 tỷ đồng, đợt 2 là 113,66 tỷ đồng. Số tiền và hàng hóa đã phân phối hỗ trợ công tác phòng chống dịch như: vật tư sinh phẩm, thiết bị y tế; khẩu trang; nước sát khuẩn… cho lực lượng tuyến đầu và các nhu yếu phẩm, hỗ trợ khu phong tỏa, khu cách ly qua hai đợt là 128,57 tỷ đồng.          5.2. Giáo dục phổ thông          Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2021 (đợt 1) ở Hà Tĩnh được tổ chức hai ngày 7-8/7/2021 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh còn tiềm ẩn nguy cơ, một số khu dân cư vẫn bị phong tỏa, một số thí sinh F1, F2 phải chờ thi đợt 2. Tham gia kỳ thi tốt nghiệp với hơn 17.300 thí sinh và hơn 3.600 cán bộ, nhân viên, thanh niên tình nguyện phục vụ tại các điểm thi. Với sự sự nổ lực của các ngành chức năng trong công tác tổ chức kỳ thi và phòng, chống dịch, kỳ thi đã kết thúc nghiêm túc đúng quy chế và đảm bảo an toàn sức khỏe. Bên cạnh đó, công tác chấm thi và tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2021-2022 đã hoàn thành, theo đó năm học 2021-2022 điểm đầu vào trường THPT công lập trên địa bàn tỉnh tăng mạnh so với năm trước và có sự đồng đều về chất lượng giáo dục ở các vùng. Toàn tỉnh có 25/36 trường có điểm đầu vào từ 20 đến 33 điểm (tăng 16 trường so với năm học trước).          5.3. Hoạt động Y tế          - Tình hình dịch Covid-19: Tình hình dịch Covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản đã được khống chế. Các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố theo chức năng nhiệm vụ tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra các biện pháp phòng chống dịch Covid có hiệu quả. Đồng thời, lên kế hoạch triển khai đón người dân tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam về Hà Tĩnh và phương án cách ly, xét nghiệm người dân một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt.          Từ ngày 30/6 đến nay không phát hiện ca mắc mới trong cộng đồng. Tổng số ca mắc từ 04/6 đến 22/7/2021: 129 ca, trong đó, có 3 trường hợp nhập cảnh và 03 trường hợp đi từ vùng dịch về được cách ly ngay; có 07 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 40, Hương Sơn: 21, Thạch Hà: 48,  Lộc Hà: 9, Hồng Lĩnh: 3, Nghi Xuân: 4; Huyện Kỳ Anh:1. Cộng dồn F1 từ 4/6 đến 22/7: 2.796 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 2.503 người; cộng dồn F2 từ 4/6 đến nay: 20.763 người, tổng số đã hoàn thành cách ly: 20.575 người.          Hiện nay, có 58 bệnh nhân đã khỏi bệnh và xuất viện, 25 bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở y tế của tỉnh; 46 bệnh nhân chuyển điều trị tại tuyến trung ương (trong có 01 bệnh nhân tử vong).          Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Số người tiêm vắc xin COVID-19 đợt 3 là 25.590 người trên tổng số 22.700 chỉ tiêu vắc xin (đạt 112,7%).          - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 1 ổ dịch sốt xuất huyết tại TX Kỳ Anh vào ngày 24/6/2021, từ đó đến nay, tại địa phương này đã ghi nhận 19 trường hợp mắc Sốt xuất huyết, không có ca bệnh bị tử vong vì dịch.          Ngoài ra, các ca bệnh đơn lẻ: có 2 ca mắc sốt xuất huyết ( so với cùng kỳ tăng 2 ca); 3 ca mắc bệnh quai bị (tăng 1 ca), 9 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 12 ca); 12 ca mắc lỵ a míp (giảm 7 ca); 21 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 9 ca), 987 ca mắc bệnh cúm (giảm 371 ca), 1 ca chân tay miệng (giảm 22 ca), tiêu chảy 78 ca, 03 viêm gan vi rút khác. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.          - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 2 người nhiễm mới HIV (giảm 11 người so với cùng kỳ năm 2020), 3 người chuyển thành AIDS (giảm 9 người so với cùng kỳ năm trước) và  không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 7 tháng, có 30 trường hợp nhiễm HIV, 27 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và có 2 trường hợp chết vì AIDS.          - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hà Tĩnh tiếp tục triển khai Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 03/6/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn thực phẩm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của chính quyền các cấp về an toàn thực phẩm (ATTP); nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với việc đảm bảo ATTP, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.          Tính từ ngày 16/6-15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể nhưng có 122 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 7 ca ( tăng 6,08%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 7 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/7/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 685 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 33 ca (tăng 5,06%).          5.4. Hoạt động văn hóa - thể thao          - Hoạt động văn hóa: Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 4420/UBND - VX1 ngày 13/7/2021 về việc thực hiện một số biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới, theo đó không tổ chức các hoạt động lễ hội, nghi lễ tôn giáo, giải đấu thể thao, sự kiện có tập trung đông người tại nơi công cộng, sân vận động và các sự kiện chưa cấp thiết. Vì vậy, các hoạt động văn hóa trong tháng đang có phần hạn chế. Bên cạnh đó, tập trung triển khai tốt các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 190 năm thành lập tỉnh Hà Tĩnh (1831-2021), 30 năm tái lập tỉnh (1991 - 2021); tuyên truyền phòng, chống dịch Covid 19; tuyên truyền kỷ niệm 20 năm Ngày Gia đình Việt Nam (20/6); ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7).          - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Do dịch bệnh Covid 19 diễn biễn phức tạp nên các hoạt động kiểm tra, thanh tra văn hóa đều bị hủy, hoãn ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng cũng như hoạt động theo kế hoạch chuyên môn.  Cùng với đó đã tiến hành Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 8 giấy phép, cả 8 giấy đều thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.          - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 nên Hà Tĩnh đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người, vì vậy, các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ như đánh bóng chuyền, cầu lông, chạy bộ với quy mô nhỏ tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân.          Đối với thể thao thành tích cao: Do ảnh hưởng của dịch Covid -19 đang diễn biến phức tạp ở nhiều tỉnh thành trong cả nước nên các giải thể thao thành tích cao không diễn ra như kế hoạch.          5.5. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội          Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người, bị thương 3 người, thiệt hại tài sản 45 triệu. So với tháng trước tăng 2 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương, so với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ, giảm 6 người chết, giảm 8 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.          Như vây, tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 48 người và bị thương 22 người. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 16 vụ tai nạn đường bộ, giảm 2 vụ tai nạn đường sắt, tăng 7 người chết và giảm 8 người bị thương.          5.6. Môi trường          - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/6/2021 đến ngày 15/7/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ cháy (trong đó có 1 vụ cháy rừng), không có vụ nổ, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 47 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 giảm 7 vụ. Tính chung 7 tháng, xẩy ra 24 vụ cháy, nổ, làm 2 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,36 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 14 vụ cháy, nổ giảm 1 người chết và giảm 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa.- Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/6 đến ngày 14/7/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 8 vụ, xử lý 10 vụ (trong đó có 02 vụ vi phạm từ tháng trước, đến tháng 7 mới tiến hành xử phạt), với tổng số tiền xử phạt 177,50 triệu đồng. Trong đó: Vận chuyển, chôn lấp, đổ, thải chất rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật phát hiện 1 vụ, đã xử lý 1 vụ với số tiền xử phạt 10 triệu đồng; Xả thải, khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đã phát hiện 0 vụ, đã xử lý 2 vụ từ các tháng trước chưa xử lý, với số tiền xử phạt 75,5 triệu đồng; Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đã phát hiện và xử lý 01 vụ với số tiền 80 triệu đồng; Vi phạm khác ( khai thác, vận chuyển đất cát trái phép...) đã phát hiện 6 vụ, xử lý 6 vụ với số tiền 12 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 6 vụ, số vụ đã xử lý tăng 8 vụ, số tiền xử phạt tăng 173 triệu đồng.Tính chung 7 tháng, đã phát hiện 83 vụ (tăng 60 vụ) và xử lý 62 vụ vi phạm môi trường (tăng 40 vụ so với cùng kỳ năm 2020), với số tiền 1.024,55 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2021
  •   26/07/2024 07:52

1. Tăng trưởng kinh tế Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế xã hội nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại 6 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản lượng, doanh thu của doanh nghiệp, người nông dân..vv Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. 1.1. Tốc độ tăng trưởng, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) - Về tăng trưởng: Tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 23.435 tỷ đồng, tăng 6,38% so với cùng kỳ năm 2020. Tuy mức tăng trưởng có thấp hơn so với những năm gần đây, nhưng là mức tăng trưởng khá trong khu vực Bắc Miền Trung trong bối cảnh chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19. Kết quả tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm cho thấy sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, người dân và doanh nghiệp để tiếp tục thực hiện hiệu quả mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế”; trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,13%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 7,74%, đóng góp 3,14 điểm phần trăm, trong đó ngành công nghiệp tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế Hà Tĩnh với mức tăng 12,96%; khu vực thương mại - dịch vụ tăng 6,41%, đóng góp 2,22 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,32%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm. - Về cơ cấu: Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,36%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,85%; khu vực thương mại, dịch vụ chiếm 35,42% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,37%. Qua số liệu theo giỏi từng năm cho thấy Hà Tĩnh đang phát triển theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp 1.2. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Trong 6 tháng qua, sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy đạt mức tăng trưởng khá, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước, do sản xuất lúa vụ Đông xuân được mùa toàn diện, sản lượng cây lâu năm đạt khá, dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục dần đã được kiểm soát, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá, đồng thời thị trường xuất khẩu các mặt hàng gỗ và lâm sản được mở rộng. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 2,07%, cao hơn mức tăng 0,38% của cùng kỳ năm trước và đóng góp 0,27 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,24% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,02%, thấp hơn mức tăng 4,64 % của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. - Khu vực công nghiệp và xây dựng: Trong 6 tháng vừa qua, ngành công nghiệp có mức tăng trưởng khá 12,96% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 2,49% của cùng kỳ năm trước và đóng góp 4,11 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với quy mô lớn và có mức tăng 24,25%, đóng góp 4,42 điểm phần trăm. Ngành xây dựng có mức tăng trưởng âm 10,94%, làm giảm 0,97 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Nguyên nhân do ngoài sự chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4, một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công hoặc chưa triển khai như: Dự án nhà máy sản xuất gỗ MDF, dự án nhà máy bia Hồng Lĩnh tạm ngừng thi công; Dự án nhà máy gỗ An Việt Phát chưa thi công giai đoạn 2; Dự án điện mặt trời Sơn Quang, nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh, nhiệt điện Vũng Áng 2, thành phố giáo dục quốc tế Hà Tĩnh chưa khởi công xây dựng.... Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến giá trị sản xuất ngành xây dựng 6 tháng đầu năm giảm mạnh. - Khu vực dịch vụ: Hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid bùng phát trở lại, nhất là các ngành dịch vụ vận tải kho bãi, lưu trú ăn uống.. vv; ước 6 tháng đầu năm 2021 khu vực dịch vụ chỉ tăng 6,41%, đóng góp 2,22 điểm phần trăm trong toàn ngành. Mặc dù mức tăng trưởng có cao hơn mức tăng (-1,15%) cùng kỳ năm trước nhưng thấp hơn nhiều so với những giai đoạn trước. Nguyên nhân có mức tăng trưởng thấp là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, một số vùng địa phương bị phong tỏa, giản cách xã hội, sản xuất kinh doanh đình trệ; thực hiện đóng cửa, tạm ngừng mọi hoạt động vui chơi, giải trí, dịch vụ tập trung đông người, hoạt động du lịch...nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ giảm mạnh so với cùng kỳ. - Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP, 6 tháng đầu năm 2021 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 7,32%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành, và có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng so với cùng kỳ năm trước. Qua số liệu theo giỏi từng năm cho thấy Hà Tĩnh đang phát triển theo hướng tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Tóm lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng khá 6,38% so với cùng kỳ năm 2020. Trước những khó khăn từ tình hình dịch bệnh Covid-19, dịch tả lợn Châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò diễn biến phức tạp cùng với điều kiện thời tiết...thì để đạt được mức tăng trưởng trên đã thể hiện rõ sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị cũng như các cấp, các ngành, các doanh nghiệp cùng với sự đồng thuận cao của người dân trong thời gian qua. Tuy nhiên, hiện nay ảnh hưởng của Công ty Fomosa vào tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh vẫn đang là rất lớn. Vì vậy, thời gian tới, chúng ta cần phải quan tâm phát triển các ngành và lĩnh vực sản xuất khác. Với quy mô GRDP của Hà Tĩnh không lớn nên với bất kỳ tác động của một yếu tố nào cũng có thể làm thay đổi nhiều đến chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP.       2. Tài chính, ngân hàng 2.1 Hoạt động tài chính Trong 6 tháng đầu năm 2021, tình hình thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn đang gặp nhiều khó khăn do dịch Covid-19 tiếp tục ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân; chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi trả nợ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và công tác phòng chống dịch Covid-19.  Tổng thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) sơ bộ tính đến ngày 15/6/2021 đạt 7.063,38 tỷ đồng (tăng 91,68% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 3.607,17 tỷ đồng (chiếm 51,07% trong tổng thu) giảm 5,55% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh đạt 1.522,39 tỷ đổng giảm 31,95%; các khoản thu về nhà đất đạt 1.052,95 tỷ đổng tăng 54,43% so với cùng kỳ năm 2020. Bên cạnh thu nội địa thì thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu sơ bộ đạt 2.711,01 tỷ đồng (chiếm 38,38% tổng thu) tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nguyên nhân do từ đầu năm 2021, Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng trọng điểm có thuế là than và quặng đã góp phần tăng thu ngân sách nhà nước. Ngoài ra, kim ngạch một số mặt hàng khác tăng mang lại số thu thuế trong 6 tháng đầu năm gồm: Dăm gỗ, hắc ín, dầu, phế liệu, điện tử điện lạnh, gỗ xẻ các loại, rebbull, vật liệu xây dựng, tinh bột sắn… đồng thời việc hoàn thuế VAT 6 tháng đầu năm giảm 59,8% so với cùng kỳ năm trước.  Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/6/2021 đạt 8.844,26 tỷ đồng tăng 1,36% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 3.766,06 tỷ đồng chiếm 42,58% tổng chi, giảm 0,21% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 5.073,14 tỷ đồng chiếm 57,36% tổng chi, tăng 2,68% so với cùng kỳ năm 2020.  2.2 Hoạt động ngân hàng  Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen nên hoạt động ngân hàng Hà Tĩnh trong 6 tháng đầu năm 2021 cơ bản ổn định và có bước tăng trưởng.  Kết quả 6 tháng đầu năm 2021, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Ước nguồn vốn huy động đến 30/6/2021 đạt 79.569 tỷ đồng, tăng 13,64% so với đầu năm. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt qua các tháng. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 13.280 tỷ đồng, chiếm 16,7% tổng nguồn vốn huy động, tăng 10,35% so với đầu năm, tiền gửi tăng 13,77%. Dư nợ cho vay ước đến thời điểm 30/6/2021 đạt 66.701 tỷ đồng, tăng 10,7% so đầu năm. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 42.031 tỷ đồng (chiếm 63,01% tổng dư nợ), dư nợ trung dài hạn đạt 24.670 tỷ đồng (chiếm 36,99% tổng dư nợ). Dư nợ qua các tháng có mức tăng trưởng tốt. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 14,17% so với đầu năm, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 89,47% so với đầu năm. Tuy nhiên tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản giảm đáng kể so với cuối năm 2020, giảm 36,26%. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4-4,5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 4- 6%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 5,6-6,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 4,5-9%/năm, từ 9-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Tính đến 31/6/2021 nợ xấu ước tính 700 tỷ đồng, chiếm 1,05% tổng dư nợ. Tuy nợ xấu toàn địa bàn ở mức thấp và giảm so với các năm trước nhưng nợ xấu chương trình cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP lại chiếm tỷ trọng lớn (19,84% nợ xấu toàn địa bàn). Điều này cho thấy việc thực hiện xử lý nợ xấu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP đang gặp nhiều khó khăn. 3. Giá cả, lạm phát Tháng 6 củng như 6 tháng đầu năm, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ như: Nhóm hàng lương thực, may mặc, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, lương thực, nhiên liệu xăng dầu, hàng điện tử, đồ uống; Tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động nhập khẩu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hàng điện tử, gạo, đồ uống từ thị trường nước ngoài như Thái Lan và Trung Quốc gặp khó khăn- CPI tháng 6 năm 2021 tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,57% và khu vực nông thôn tăng 0,38% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước ( Nhà hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; giao thông tăng 0,64%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%%). 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,02%). 05 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông; văn hóa, giải trí và du lịch; đồ uống và thuốc lá. Một số yếu tố tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 6/2021 đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trong tháng khiến mọi mặt của đời sống người dân nói chung cũng như một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nói riêng bị ảnh hưởng. Nhiều cơ sở, loại hình dịch vụ phải tạm ngừng hoạt động. Chuỗi cung ứng hàng hóa cũng bị ảnh hưởng. (2) Yếu tố mùa vụ: Thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt, đồ dùng gia đình tăng. (3) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. (4) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng. (5) Dịch bệnh trên đàn gia súc ổn định, tác động vào giá cả và nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm thịt gia súc trên thị trường.Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.363 nghìn đồng/chỉ 9999, tăng 0,76% so với tháng trước, tăng 10,77% so với cùng tháng năm trước; giá đô la mỹ bình quân 2.317 nghìn đồng/100 USD giảm 0,81% so với tháng trước và giảm 0,3% so với cùng tháng năm trước.- Tính chung CPI 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,23%; khu vực nông thôn tăng 1,2%. Nếu phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,38%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,85%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,93%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,21%; giao thông tăng 3,19%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; Giáo dục tăng 15,14%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,49%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế ổn định.          - Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 7/2021 dự kiến tiếp tục tăng hơn so tháng 6/2021. Giá điện, nước sinh hoạt dự kiến còn tăng trong thời gian tới khi mà thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài. Dịch bệnh covid-19 trên địa bàn tỉnh được kiểm soát, các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội ổn định trở lại, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng lên.          4. Đầu tư và xây dựng          4.1 Vốn đầu tư phát triển           Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện giai đoạn 2016-2021 liên tục giảm qua các năm. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư, nhưng nay nguồn vốn khu vực này giảm mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2021 kinh tế Hà Tĩnh vẫn gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc thực hiện giãn cách xã hội tại thành phố Hà Tĩnh và phong tỏa 1 số địa bàn các huyện Hương Sơn, Thạch Hà vào đầu tháng 6 vừa qua củng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự ánTrong 6 tháng đầu năm 2021 tổng vốn đầu tư ước đạt 10.714,2 tỷ đồng, bằng 94,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: - Nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.771,2 tỷ đồng, bằng 96,81% so với cùng kỳ năm trước; mặc dù vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng 20,02% so với cùng kỳ năm trước, song do nguồn vốn trái phiếu Chính phủ chuyển đổi đầu tư công, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh do đó vốn đầu tư khu vực Nhà nước giảm 3,19% so với 6 tháng năm 2020.         - Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 7.462,5 tỷ đồng, tăng 10,81% so với cùng kỳ. Ở khu vực này, một số dự án ngoài nhà nước trên địa bàn hoàn thành trong 6 tháng đầu năm như: Dự án Nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát (ước đạt 81 tỷ); nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn (ước đạt 100 tỷ đồng); bệnh viện TTH Hà Tĩnh (ước đạt 150 tỷ). Dự ước vốn đầu tư hộ dân cư đạt 5.181,2 tỷ đồng, tăng 3,84% so với cùng kỳ.         - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 480,5 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 71,69%). Nguyên nhân do các dự án nước ngoài trên địa bàn Hà Tĩnh đã hoàn thành như: Dự án nhà máy gang thép Formosa dự ước vốn 6 tháng đầu năm chỉ đạt 24,62% so với cùng kỳ năm trước; Dự án nhà máy điện mặt trời Cẩm Hưng, dự án nhà máy may Haivina Hồng Lĩnh đã hoàn thành và đi vào hoạt động trong năm 2020. Một số dự án tạm ngừng thi công như dự án cầu cảng Phoenix (cầu cảng số 5, 6 Vũng Áng)... 4.2 Hoạt động Xây dựng 6 tháng đầu năm 2021, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên tình hình thực hiện và giải ngân vốn nhà nước chỉ bằng 40% so với 6 tháng năm 2020. Nguyên nhân do thời gian đầu năm, chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu, giá cả nguyên vật liệu (đặc biệt là thép) tăng cao nên nhà thầu chưa triển khai xây dựng… cũng đã phần nào làm cho giá trị xây dựng đầu năm thấp. Các công trình ngoài nhà nước chuyển tiếp năm trước đã hoàn thành, công trình mới chưa triển khai, do đó giá trị ngành xây dựng 6 tháng đầu năm giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Dự ước giá trị xây dựng 6 tháng đầu năm 2021 theo giá hiện hành đạt 8.564,7 tỷ đồng, bằng 91,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực vốn doanh nghiệp nhà nước đạt 7,5 tỷ đồng, bằng 4,4 lần so với quý trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 3.569,5 tỷ đồng, bằng 89,93% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 100,4 tỷ đồng, bằng 47,05% với cùng kỳ năm trước; Các loại hình khác ước đạt 4.887,3 tỷ đồng, bằng 93,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn ước đạt 247,8 tỷ đồng, bằng 43,97%; giá trị xây dựng hộ ước đạt 4.639,6 tỷ đồng, bằng 99,96% so với cùng kỳ năm trước. Loại hình khác giảm mạnh do công trình xã chủ yếu do doanh nghiệp thực hiện, do đó giá trị khu vực này giảm. Nhìn chung kết quả hoạt động ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như tình hình dịch bệnh Covid-19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp khó khăn trong bố trí nguồn ngân sách phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là nguồn vốn trung ương hỗ trợ mục tiêu và nguồn vốn ODA. Mặt khác, mặc dù đã có nhiều công trình, dự án đăng ký đầu tư trên địa bàn nhưng chỉ mới ở giai đoạn lập hồ sơ, chưa đầu tư nên không có các công trình lớn đầu tư xây dựng mới trong thời gian qua. Để hoạt động xây dựng 6 tháng cuối năm đạt kết quả khả quan hơn cần phải triển khai thực hiện các công trình dự án trên địa bàn tỉnh đảm bảo theo đúng tiến độ như dự án nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án thành phố giáo dục Nguyễn Hoàng, các khu đô thị…. 5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Tình hình đăng ký kinh doanh         Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Ước đến 10/6/2021 toàn tỉnh có 508 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 3.622,13 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 4.299 lao động (tăng 27,32% về số doanh nghiệp, tăng 54,70% về vốn đăng ký, tăng 49,89% về số lao động so với cùng kỳ năm trước). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,13 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 6,97 tỷ đồng). Tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử tăng cao, chiếm gần 60% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.          Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong 6 tháng vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 263 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 31,5% so với cùng kỳ năm 2020), 52 doanh nghiệp giải thể (giảm 36,59% so với cùng kỳ năm 2020). Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp những tháng đầu năm tăng khá trong khi doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm ngoái là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 5.2 Thu hút đầu tư Tính đến ngày 10/6/2021, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 23 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 1.120 tỷ đồng, số dự án tương đương cùng kỳ năm trước nhưng tổng vốn thấp hơn 3,6 lần. Khởi công 03 dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp (tại Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh và huyện Đức Thọ) tổng mức đầu tư 700 tỷ đồng; khánh thành, đưa vào hoạt động giai đoạn 1 của Nhà máy sản xuất, chế biến lâm sản tiêu thụ nội địa và xuất khẩu An Việt Phát tổng mức đầu tư gần 1.300 tỷ đồng tại Khu kinh tế Vũng Áng; tập trung cụ thể hóa các nội dung ký kết với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, tổ chức thông tuyến container đầu tiên của Tân Cảng cập cảng Vũng Áng; trình HĐND tỉnh ban hành Chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyển container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng. Tổ chức làm việc với một số nhà đầu tư lớn tìm hiểu đầu tư vào địa bàn tỉnh: Công ty Cổ phần Tập đoàn TH khảo sát, nghiên cứu đầu tư các dự án tại Vũ Quang và Hồ Kẻ Gỗ; Tập đoàn VSIP nghiên cứu, khảo sát đầu tư dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ tại huyện Can Lộc và Thị xã Hồng Lĩnh; Tập đoàn Vingroup nghiên cứu, khảo sát đầu tư Dự án Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast tại Khu kinh tế Vũng Áng và nghiên cứu đầu tư Khu du lịch nghĩ dưỡng Kỳ Ninh; Công ty cổ phần Vịnh Nha trang khảo sát đầu tư khu đô thị du lịch, sân gôn Kỳ Nam và khu đô thị Xuân Hồng; Tập đoàn Tân Cơ và LNG Centra (Hoa Kỳ) nghiên cứu đầu tư trung tâm nhập khẩu và phân phối khí LNG...  Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2021 tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. 5.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp         6 tháng đầu năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả điều tra các doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh về xu hướng sản xuất kinh doanh, biến động về số lượng đơn đặt hàng, về tồn kho thành phẩm, nguyên vật liệu, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD thì tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2021 có chiều hướng tích cực và khả quan hơn so với những tháng đầu năm Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh 6 tháng cuối năm thì cơ bản các doanh nghiệp đều nhận định sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và có bước phát triển, cụ thể: có 81,82% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ ổn định và tăng lên (61,37% giữ nguyên và 20,45% tăng lên), có 18,18% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm; Có 75% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về đơn đặt hàng mới sẽ ổn định và tăng lên (56,82% giữ nguyên và 18,18% tăng lên), có 25% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm; Có 85% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về số đơn đặt hàng mới xuất khẩu sẽ ổn định và tăng lên (75% giữ nguyên và 10% tăng lên), có 15% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm; Có 86,36% số lượng doanh nghiệp nhận định xu hướng về quy mô lao động sẽ ổn định và tăng lên (79,54% giữ nguyên và 6,82% tăng lên), có 13,64% số doanh nghiệp nhận định giảm hơn so với 6 tháng đầu năm. Mặc dù tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với những nhận định và dự báo của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo có thể kỳ vọng 6 tháng cuối năm sản xuất công nghiệp vẫn ổn định và duy trì mức tăng trưởng khá.  6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi: Rét đậm, hạn hán không diễn ra gay gắt như cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa và sản lượng cây lâu năm đạt khá; đàn lợn tiếp tục đà hồi phục, đàn gia gia cầm phát triển tốt. Sản xuất lâm nghiệp phát triển, thị trường xuất khẩu các mặt hàng gỗ và lâm sản được mở rộng. Sản xuất thủy sản khả quan hơn so với cùng kỳ năm trước, giá các mặt hàng nông sản có xu hướng tăng. 6.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt Sản xuất trồng trọt trong 6 tháng đầu năm 2021 chủ yếu là chăm sóc và thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông Xuân 2020-2021. Trong tháng 6/2021, toàn tỉnh tập trung sản xuất gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021.         - Kết quả sơ bộ vụ Đông Xuân 2020-2021: Vụ Đông Xuân 2020-2021 toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm sơ bộ tăng 1.933 ha so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 394.766 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 107,65% (tăng 28.041 tấn). Nhìn chung, sản xuất vụ Đông Xuân năm nay đạt kết quả thắng lợi khá toàn diện, nhất là đối với cây lúa, vượt mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Một số nguyên nhân chính làm cho vụ lúa Đông Xuân năm nay được mùa toàn diện, đó là: (1) Các cấp, các ngành và các địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch sản xuất sát đúng với tình hình thực tiễn. Cùng với đó, bà con nông dân tuân thủ đúng lịch thời vụ trong sản xuất; (2) Đảm bảo các điều kiện sản xuất, trong đó có việc đưa các loại giống lúa có năng suất, chất lượng vào sản xuất như ADI168, Bắc Thịnh, nếp 98...với chất lượng giống đảm bảo; (3) Điều kiện thời tiết thuận lợi, nhất là thời kỳ lúa trổ bông nên hạt thóc chắc mẫy hơn; (4) Vụ lúa Đông Xuân năm nay ít sâu bệnh nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt, mặc dù cuối vụ có xẩy ra mưa lốc làm một số diện tích lúa đỗ gãy nhưng chỉ cục bộ ở một số địa phương và thiệt hại không lớn; (5) Sau đợt lũ cuối năm 2020, ruộng đồng được bồi đắp lượng phù sa làm cho đất đai màu mỡ hơn. Cùng với đó, do lũ lụt nên chuột giảm mạnh, ít phá hoại lúa hơn so với những năm trước.      - Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu năm 2021: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2021 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2021. Căn cứ Quyết định số 4025/QĐ-UBND ngày 26/11/2020 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc giao chỉ tiêu định hướng một số chỉ tiêu chủ yếu, kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2021 và đề xuất của các huyện, thành phố, thị xã. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh đã xây dựng Đề án 126/ĐA-SNN ngày 23/4/2021 về sản xuất vụ Hè Thu năm 2021. Định hướng về diện tích sản xuất vụ Hè Thu năm 2021 đối với một số loại cây trồng như sau: Lúa 44.186 ha, đậu 3.766 ha, ngô lấy hạt 1.548 ha, ngô sinh khối 760 ha, lạc 457 ha, khoai lang 490 ha, rau 2.502 ha, vừng 493 ha. UBND tỉnh đã ban hành Công điện số 07/CĐ-UBND ngày 13/5/2021 và Công điện số 08/CĐ-UBND ngày 01/6/2021 về việc đẩy nhanh thu hoạch lúa vụ Xuân 2021 và triển khai sản xuất vụ Hè Thu 2021, để chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và bà con nông dân tập trung sản xuất vụ Hè Thu năm 2021 dành được kết quả thắng lợi.           Tính đến ngày 11/6/2021, ước tính kết quả diện tích gieo trồng các loại cây vụ Hè Thu năm 2021 đạt được như sau: Diện tích lúa 43.857 ha, đạt 99,26% kế hoạch, trong đó: Diện tích lúa gieo thẳng 42.386 ha và diện tích lúa cấy là 1.471 ha. Một số địa phương có diện tích lúa đang cấy nên chưa hoàn thành kế hoạch (thành phố Hà Tĩnh, Đức Thọ, Nghi Xuân, Lộc Hà), còn lại các địa phương đã hoàn thành và vượt kế hoạch gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2021 (Hương Sơn tăng 125 ha, Thạch Hà tăng 33 ha và huyện Kỳ Anh tăng 52 ha so với kế hoạch). Bên cạnh diện tích gieo cấy lúa đạt cao so với kế hoạch thì một số cây trồng có diện tích gieo trỉa vẫn đang còn ở mức độ thấp như: Diện tích ngô lấy hạt 284 ha, đạt 18,3% kế hoạch; đậu các loại 1.118 ha, đạt 29,7% kế hoạch; rau các loại 162 ha, đạt 6,5% kế hoạch; vừng 199 ha, đạt 40,4% kế hoạch; lạc 2 ha, đạt 0,4% kế hoạch. Các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2021 đang tiếp tục được gieo trỉa. - Cây lâu năm: Tổng diện tích hiện có cây lâu năm ước đạt 31.351 ha, bằng 101,91% tăng 588 ha so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 18.918 ha, bằng 102,39%, tăng 441 ha so với cùng kỳ năm 2020. Cụ thể diện tích một số loại cây tăng như: Cam tăng 171 ha, bưởi tăng 214 ha, mít tăng 33 ha, ổi tăng 19 ha, thanh long tăng 17 ha...Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cải tạo vườn tạp, những năm gần đây, nhiều hộ nông dân trên địa bàn tỉnh đã lựa chọn các cây ăn quả có múi để đưa vào sản xuất nên diện tích tăng; diện tích chè búp ước đạt 1.218 ha, tăng 54 ha; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.839 ha, tăng 79 ha. Nguyên nhân diện tích trồng chè tăng là do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận. Diện tích cây cao su ước đạt 8.692 ha, bằng 99,87%, giảm 11 ha so với cùng kỳ năm 2020. Nguyên nhân do Công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả để chuyển đổi trồng các loại cây khác. - Sản lượng: 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.205 tấn, bằng 99,89%, giảm 36 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: sản lượng các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới ước đạt 20.002 tấn, bằng 100,75% tăng 149 tấn; Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.684 tấn, giảm 175 tấn, trong đó sản lượng cam tăng 119 tấn chủ yếu là cam bù; Sản lượng cao su ước đạt 1.077 tấn, bằng 69,48%, giảm 473 tấn; Sản lượng chè búp ước đạt 5.453 tấn, bằng 102,21% tăng 118 tấn; sản lượng chè xanh (chè hái lá) ước đạt 11.329 tấn, bằng 103,36% tăng 368 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cây lâu năm chủ yếu tập trung thu hoạch vào 6 tháng cuối năm. - Tình hình sâu bệnh, thiên tai: Hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2021 mới được gieo trồng, chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Tuy nhiên, ngày 12/6/2021, trên địa bàn tỉnh có mưa to đã gây ngập úng hơn 12.630 ha lúa và hoa màu, trong đó một số địa phương bị ngập úng nặng như thành phố Hà Tĩnh, Can Lộc, huyện Kỳ Anh…Đối với cây ăn quả thì bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, câu cấu, sâu vẽ bùa gây hại, phân bố tại các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc. b. Chăn nuôi  - Chăn nuôi gia súc: Tình hình chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn tiếp tục gặp khó khăn. Tổng đàn trâu, bò và sản lượng đều giảm so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Tổng đàn trâu giảm 0,32%, tổng đàn bò giảm 3,36%. Nguyên nhân do 6 tháng vừa qua trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn đang còn phát sinh dịch bệnh. Cụ thể, đã có 207 xã, phường, thị trấn có dịch bệnh viêm da, nổi cục gây thiệt hại nặng về kinh tế cho người chăn nuôi. Đặc biệt, dịch bệnh đã gây tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng nên trong 6 tháng qua sản lượng thịt trâu giảm 0,68%, bò hơi giảm 5,93% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn vẫn bị ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu Phi. Do mầm bệnh dịch tả lợn Châu Phi lưu giữ trong chuồng trại thời gian dài nên đã gây khó khăn cho việc tái đàn, nhất là đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. - Chăn nuôi gia cầm: Điểm sáng trong hoạt động chăn nuôi đó là đàn gia cầm phát triển khá, đến này tổng đàn gia cầm tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do khó khăn trong chăn nuôi lợn, cùng với việc sản phẩm thịt trâu, bò, lợn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nên người tiêu dùng hạn chế sử dụng. Vì vậy, sản phẩm gia cầm dễ tiêu thụ nên người dân đã mở rộng quy mô phát triển chăn nuôi gia cầm. Thời gian tới, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn cũng chỉ ở mức duy trì ổn định đàn vật nuôi, chưa thể có bước phát triển đột phá. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 14/6/2021: dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện tại 3.500 hộ/557 thôn/126 xã trên địa bàn toàn tỉnh, đã có 14.767 con lợn mắc bệnh và số lợn chết, tiêu hủy là 14.695 con với trọng lượng 1.127,5 tấn; Dịch bệnh viêm da, nổi cục xuất hiện hiện tại 13.416 hộ/1.327 thôn/207 xã trên địa bàn toàn tỉnh, đã có 17.640 con (62 con trâu và 17.578 con bò) mắc bệnh và số chết, tiêu hủy là 2.877 con (23 con trâu và 2.854 con bò) với trọng lượng 314,6 tấn; Dịch LMLM đã xuất hiện tại 13 thôn ở 3 xã (Hương Trạch, Phúc Trạch và Hương Long) của huyện Hương Khê với số gia súc mắc bệnh là 370 con (162 con trâu và 208 con bò)/159 hộ. Tổng số chết tiêu hủy là 19 con bò), với trọng lượng 1.576 kg. Tính đến ngày 14/6/2021, vẫn đang còn có 2.207 hộ/241 thôn/43 xã trên địa bàn 12 huyện, thành phố, thị xã (trừ thị xã Kỳ Anh) dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày; Có 2.033 hộ/306 thôn/65 xã trên địa bàn 9 huyện (trừ thành Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, thị xã Kỳ Anh và Lộc Hà) dịch bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày (142 xã, phường, thị trấn hết dịch); Dịch LMLM chỉ còn 1 thôn ở xã Hương Long còn có dịch. Hiện nay, các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, dịch vẫn chưa qua 21 ngày nên nguy cơ dịch tái phát là rất lớn. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi. 6.2 Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 6/2021 vẫn tiếp tục triển khai trồng rừng tập trung và khai thác gỗ từ rừng trồng. Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết nắng nóng cùng với ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên diện tích trồng rừng tập trung giảm mạnh so với tháng trước (giảm 56,1%); Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 6/2021 giảm 3,9% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng tập trung và sản lượng gỗ khai thác đều tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không cao. Nguyên nhân do sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác rừng trồng và hoạt động trồng rừng tập trung cũng chủ yếu là rừng sản xuất nên phải khai thác mới có quỹ đất để tiếp tục trồng mới. Còn đối với trồng cây phân tán và khai thác củi thì do quỹ đất trồng cây ngày càng thu hẹp và nhu cầu sử dụng củi làm chất đốt giảm nên số lượng cây trồng phân tán và sản lượng củi khai thác thường thiếu ổn định. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 18 vụ phá rừng (giảm 15 vụ), với diện tích rừng bị phá là 7,5 ha (giảm 4,5 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 6.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản trong tháng 6 cũng như 6 tháng đầu năm 2021 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá so với cùng kỳ năm 2020. Tổng sản lượng thủy hải sản 6 tháng 2021 ước đạt 25.274 tấn, tăng 3,84% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Sản lượng nuôi trồng ước đạt 6.079 tấn (tăng 3,77%), sản lượng khai thác ước đạt 19.195 tấn tăng (3,86%). Hiện nay, sản lượng hải sản khai thác biển chiếm khoảng 70% tổng sản lượng thủy, hải sản trong khi điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Thời gian qua, do thực hiện giản cách xã hội bởi dịch bệnh Covid-19, dịch vụ ăn uống tạm thời phải đóng cửa nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản giảm hơn so với những tháng trước. Mặt khác, tuy giá bán sản phẩm ổn định nhưng giá nhiên liệu tăng nên ngư dân cũng gặp không ít khó khăn. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng vẫn tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tình hình dịch bệnh: Từ ngày 14/5/2021 đến nay đã xẩy ra bệnh đốm trắng trên tôm với diện tích nhiễm bệnh là 1 ha tại huyện Lộc Hà. Như vậy, tính từ đầu năm 2021 đến nay, dịch bệnh đốm trắng ở tôm xuất hiện trên diện tích 38,19 ha/13 xã/6 huyện gồm: Cẩm Xuyên; Lộc Hà; huyện Kỳ Anh; Tx Kỳ Anh, Tp Hà Tĩnh. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, dung hóa chất Chlorine dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm. 7. Sản xuất công nghiệp Ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 đạt mức tăng trưởng khá, tăng 12,96% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 2,49% của cùng kỳ năm trước và đóng góp 4,11 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với quy mô lớn và có mức tăng 24,25%, đóng góp 4,42 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.           - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP):           + Ước tính tháng 6/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 5/2021 giảm 3,4%, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,42%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,22%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,34%. Nguyên nhân do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 bùng phát trở lại, một số ngành sản xuất công nghiệp trên địa bàn giảm sản xuất. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 24,8%. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,38%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 37,29%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,12%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 10,98%. + Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng khá, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với cùng kỳ năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,97% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 22,27%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 29,42%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,94%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,21%. Kết quả sản xuất ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 với nhiều khởi sắc là động lực để các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng tốc sản xuất ở giai đoạn tới. Tuy có gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh đang diễn biến phức tạp tại một số địa phương, nhưng các doanh nghiệp vẫn đảm bảo vừa chống dịch tốt vừa ổn định sản xuất. Đặc biệt, công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) những tháng đầu năm 2021 hoạt động ổn định và có mức tăng khá cao, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh.+ Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 19 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 6 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 8 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 87,44%; khai khoáng quặng kim loại tăng 59,88%; sản xuất kim loại tăng 34,09%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 26,13%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,69%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 21,72%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,47%; khai khoáng khác tăng 20,15%.- Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2021 giảm 0,89% so với tháng trước và tăng 75,77% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu 2021, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 39,07% so với cùng kỳ. Như vậy, trong 6 tháng vừa qua, mức tiêu thụ sản phẩm tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.- Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chính ước tính tháng 6/2021 giảm 6,17% so với tháng trước và tăng 41,95% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 178,2% so với cùng kỳ) và sản phẩm dăm gỗ của Công ty trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy hanviha. Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. Tồn kho sản phẩm dăm gỗ của Công ty trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy hanviha là do công ty gom hàng để đủ khối lượng cho đơn hàng xuất khẩu đã ký kết chứ không phải do không tiêu thụ được sản phẩm.          8. Thương mại, dịch vụ           Trong tháng 6/2021 dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên phạm vi toàn tỉnh. Để khống chế sự lây lan dịch bệnh, thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của UBND tỉnh về việc giãn cách xã hội, tạm dừng các hoạt động dịch vụ không thiết yếu tại vùng cách ly y tế đã làm cho hoạt động thương mại dịch vụ tháng 6 giảm mạnh so với tháng trước. Tuy nhiên, nhìn chung 6 tháng đầu năm 2021 nhờ thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới nên hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng trưởng so với cùng kỳ.- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 6/2021 đạt 2.994,25 tỷ đồng giảm 12,14% so với tháng trước và giảm 7,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có chỉ số giảm mạnh so với tháng trước như: Nhóm hàng may mặc giảm 20,4%; nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 17,57%; vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 15,37%; xăng, dầu các loại giảm 15,12%; đá quý, kim loại quý, giảm 67,36%; hàng hóa khác giảm 31,15%. Quý I/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 11.618,9 tỷ đồng tăng 11,89% so với cùng kỳ, quý II/2021 ước đạt 9.836,08 tỷ đồng, giảm 15,34 % so với quý trước và tăng 18,94% so với cùng kỳ năm trước. Tách riêng từng quý cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa quý II/2021 giảm so với quý trước do tình hình dịch Covid diễn biến phức tạp từ đầu tháng 5 và tháng 6 cùng với việc thực hiện dãn cách xã hội ở các vùng cách ly y tế nên người dân hạn chế mua sắm, nhu cầu tiêu dùng giảm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 21.454,98 tỷ đồng (tăng 15,02%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 12/12 nhóm hàng tăng so với cùng kỳ, một số nhóm hàng tăng mạnh như: Hàng may mặc, tăng 39,46%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 30,09%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 36,98%; xăng dầu các loại ước tăng 24,82%; nhiên liệu khác tăng 37,29%; đá quý, kim loại quý các loại ước tăng 35,31%; hàng hóa khác ước đạt 1.231,36 tỷ đồng, tăng 27,68%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước tăng 26,18% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong thời gian gần đây bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nhưng thời gian giãn cách ngắn hơn và vùng giãn cách thu hẹp hơn so với 6 tháng đầu năm 2020. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động làm tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa so với cùng kỳ năm trước. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6/2021 ước đạt 172,58 tỷ đồng giảm 58,12% so với tháng trước và giảm 53,41% so với cùng kỳ năm trước. Quý I/2021, doanh thu lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng 13,49 %, sang quý II/2021 tăng mạnh hơn với mức tăng 54,99 % so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính tăng 29,35%. Doanh thu dịch vụ khác tháng 6/2021 ước tính đạt 77,78 tỷ đồng, so với tháng trước giảm 41,28% và so với cùng kỳ năm trước giảm 37,46%. Trong đó, quý I/2021 tăng 16,2% sang quý II/2021 tăng 35,86% so với cùng kỳ năm trước. Chung 6 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước tăng 24,19 % so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 6 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Với tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay thì sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngành dịch vụ trong thời gian tới. - Hoạt động vận tải: Vận tải hành khách tháng 6/2021 ước đạt 9.706,58 nghìn lượt hành khách vận chuyển, giảm 36,83% so với tháng trước và luân chuyển 107,8 triệu lượt khách.km, giảm 46,24%. Quý I/2021, vận tải hành khách đạt 5.839,92 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 10,17% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.004,37 triệu lượt khách.km, tăng 8,77%; Quý II/2021 ước đạt 3.866,66 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 627,33 triệu lượt khách.km, giảm 6,17%. Tính chung 6 tháng đầu năm ước tính đạt 9.706,58 nghìn lượt hành khách vận chuyển, tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 1.631,7 triệu lượt khách.km, tăng 2,49%.  Vận tải hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 1.908,34 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 14,91% so với tháng trước và luân chuyển 55,33 triệu tấn.km, giảm 9,8%. Quý I/2021, vận tải hàng hóa đạt 8.386,72 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 208,25 triệu tấn.km, tăng 6,43%; Quý II/2021, vận tải hàng hóa đạt 6.933,10 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 185,6 triệu tấn.km, tăng 1,57%. Tính chung 6 tháng đầu năm ước tính đạt 15.319,82 nghìn tấn vận chuyển, tăng 1,53% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 393,85 triệu tấn.km, tăng 4,08%. Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của tỉnh, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hoạt động vận tải hành khách phải tạm dừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến vùng cách ly y tế từ ngày 8-18/6 đã làm cho vận tải hành khách giảm mạnh, cùng với đó, nhiều cơ sở kinh doanh thương mại cũng tạm dừng hoạt động nên nhu cầu vận chuyển hàng hoá giảm. Bên cạnh đó, trong tháng lượng than bốc qua cảng giảm, kéo theo doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ giảm. Tất cả yếu tố trên đã làm cho hoạt động vận tải tháng 6/2021 giảm mạnh so với tháng trước. Nhìn chung hoạt động dịch vụ vận tải 6 tháng đầu năm 2021 có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. 9. Xuất nhập khẩu hàng hóa Dù ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2021 Hà Tĩnh ước tính đạt 2.428,95 triệu USD, tăng 79,66% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra.   Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 910,28 triệu USD, tăng 106,63% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do Formosa đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 828,36 triệu USD, chiếm tỷ trọng 91% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh).  Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.518,67 triệu USD, tăng 66,62% so với cùng kỳ năm 2020; chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia hoạt động xuất khẩu, xuất nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị phục vụ sản xuất, hàng hóa; hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường… Hà Tĩnh xây dựng Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025. Đồng thời ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyên container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng 10. Các vấn đề xã hội 10.1. Tình hình lao động và giải quyêt việc làm Do dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp trên địa bàn Hà Tĩnh, đã làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, việc làm của người lao động, trong đó một số lĩnh vực dịch vụ như: lưu trú, ăn uống, vận tải và dịch vụ khác...chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, nhiều lao động làm việc tự do không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm; từ đó làm cho tình hình việc làm và thu nhập bị ảnh hưởng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm có chiều hướng tăng.  Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, số người không có việc làm là 19.263 người (chiếm 2,8% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); Trong quý II năm 2021, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh gặp khó khăn hơn so với quý I/2021. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quí II ước tính là 3,14%, tăng 0,06 điểm % so với quý I/2021.  Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 10.228 người tăng 2,31% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 4.962 người, giảm 9,78%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.284 người, giảm 9,58%; xuất khẩu lao động 3.982 người, tăng 29,41%. Tách riêng từng quý cho thấy, do ảnh hưởng dịch covid-19 nên sang quý II/2021 tình hình giải quyết việc làm ở Hà Tĩnh có chiều hướng giảm. Quý II/2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 4.267 người, giảm 28,16% so với quý I/2021, trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 1.695 người, giảm 48,12%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 778 người, tăng 53,75%; xuất khẩu lao động 1.803 người, giảm 17,26%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2021 ước tính 687.285 người, chiếm khoảng 52,89% dân số toàn tỉnh, trong đó lực lượng lao động là nam 329.204 người (chiếm 47,9%); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 144.008 người, chiếm 20,95%. Số lao động đang làm việc là 668.022 người, chiếm 97,2% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, trong đó: Khu vực thành thị 138.566 người, chiếm 20,74%; lao động có việc làm là nam 315.988 người, chiếm 47,3%. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,14% (giảm 0,76 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2019). Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 52,05% trong tổng số (tương ứng 347.728 người); Công nghiệp - Xây dựng chiếm 17,76% (tương ứng 118.668 người); Thương mại - Dịch vụ chiếm 30,18% (tương ứng 201.626 người). 10.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Trong 6 tháng đầu năm 2021, thời tiết tương đối thuận lợi tạo điều kiện cho bà con nông dân tập trung sản xuất. Toàn tỉnh đã tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2021 được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác. 6 tháng đầu năm 2021 toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp một lần cho 330 người, kinh phí hơn 3,3 tỷ đồng; trợ cấp ưu đãi tháng 01, tháng 02/2021 cho hơn 42.000 người có công, kinh phí hơn 145 tỷ đồng; chi trả trợ cấp trên 62.000 đối tượng bảo trợ xã hội, kinh phí trên 25 tỷ đồng. Trao tặng khoảng 205.708 suất quà với tổng số tiền khoảng 72.411 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể: Quà cho người có công 97.624 suất quà trị giá khoảng 25.795 triệu đồng; quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất trị giá khoảng 10.636 triệu đồng; quà người cao tuổi 28.347 suất trị giá khoảng 9.237 triệu đồng; quà trẻ em có hoàn cảnh khó khăn 11.452 suất trị giá khoảng 4.430 triệu đồng; quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội 47.591 suất quà trị giá khoảng 22.313 triệu đồng. Ngoài ra trong 6 tháng qua đã cấp khoảng 15.031 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.571 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 167.548 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 50.594 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. 10.3. Tình hình thiên tai 6 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 8 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 26/4/2021; đợt 2 vào ngày 28/4/2021; đợt 3 vào ngày 2/5/2021; đợt 4 vào ngày 10/5/2021; đợt 5 vào ngày 15/5/2021; đợt 6 vào ngày 17/5/2021; đợt 7 vào ngày 25/5/2021; đợt 8 vào ngày 12/6/2021). Thiên tai đã gây thiệt hại làm 2 người chết, 1 người bị thương; 466 nhà bị hư hỏng; 11.965,8 ha lúa; 900,3 ha hoa màu; 400 con gia cầm, 2 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 47 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân. 10.4. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Năm học 2020-2021, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đã có 89/100 học sinh đạt giải, (chiếm tỉ lệ 89%) gồm: 42 giải nhì, 34 giải ba và 13 giải khuyến khích. Hà Tĩnh lọt vào vào tốp đầu toàn quốc về tỷ lệ học sinh tham gia đoạt giải và xếp thứ 3 toàn quốc về số lượng học sinh đoạt giải. Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên Hà Tĩnh đã quyết định cho toàn bộ học sinh đẩy sớm thời thời gian kết thúc năm học 2020-2021, trước ngày 20/5/2021. Kỳ thi vào lớp 10 THPT năm học 2021-2022 được diễn ra từ ngày 2/6-3/6. Kỳ thi THPT quốc gia năm nay, cụm thi Hà Tĩnh có hơn 17.300 thí sinh, dự kiến kỳ thi sẽ diễn ra từ ngày ngày 6/7 - 9/7/2021. Để đảm bảo kỳ thi an toàn, nghiêm túc, mỗi kỳ thi, công tác chuẩn bị kỳ thi được thực hiện chu đáo đảm bảo trung thực, khách quan, an toàn và nghiêm túc. - Giáo dục đào tạo: Tuyển sinh năm học 2021-2022, trường Đại học Hà Tĩnh có 1.630 chỉ tiêu hệ chính quy, trong đó: Đại học 1.580 chỉ tiêu, Cao đẳng 50 chỉ tiêu; theo 2 phương thức là xét tuyển học sinh tốt nghiệp THPT và xét tuyển học bạ lớp 11 hoặc lớp 12 THPT. Đăng ký xét tuyển làm 2 đợt, đợt 1 từ ngày 01/4/2021 đến ngày 30/7/2021 và đợt 2 từ ngày 01/8/2021 - 31/12/2021. Bên cạnh đó, giáo dục nghề nghiệp cũng được chú trọng, chất lượng ngày càng nâng cao hơn. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghề; tập trung công tác tư vấn, giải quyết việc làm, cập nhật thông tin thị trường lao động; với những nỗ lực đó, 6 tháng đầu năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 5.938 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 204 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 2.383 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 3.351 người. 10.5  Hoạt động Y tế Trong tháng 6/2021 dịch Covid-19 bùng phát mạnh trên địa bàn tỉnh. Để khống chế sự lây lan của dịch bệnh, Hà Tĩnh thiết lập vùng cách ly y tế toàn bộ Thành phố Hà Tĩnh (ngoại trừ xã Thạch Bình) theo Quyết định số 140/QĐ-BCĐ ngày 08/6/2021 của Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19. Tính đến ngày 16/6/2021 toàn tỉnh có 28 xã/phường/thị trấn có tổ dân phố/thôn/xóm thực hiện cách ly y tế; với 159 tổ dân phố/thôn/xã, 32.479 hộ và 133.819 khẩu. Tính từ ngày 04/6/2021 đến ngày 16/6/2021, Hà Tĩnh đã ghi nhận 69 ca mắc dịch covid-19, thuộc 06 địa phương gồm: Thành phố Hà Tĩnh, Thạch Hà, Hương Sơn, Lộc Hà, Nghi Xuân và TX Hồng Lĩnh. Tổng số F1 đã cách ly tập trung là 1.926 người; F2 15.090 người đã cách ly tại nhà. Tất cả F1, F2 được lấy mẫu xét nghiệm kịp thời theo đúng qui định; đồng thời lấy mẫu xét nghiệm toàn bộ dân trong vùng cách ly, xét nghiệm diện rộng theo hộ gia đình. Từ ngày 05/6 đến ngày 16/6/2021, tổng số mẫu đã lấy 103.770 mẫu, trong đó đã xét nghiệm 100.785 (dương tính 69, âm tính 100.716) số còn lại tiếp tục làm và cập nhật kết quả. Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Số người tiêm vắc xin COVID-19 đợt 2 là 1.317 người, trong đó: Tiêm mũi 1: 552 người, tiêm mũi 2: 765 người. Lũy kê cả hai đợt có 10.559 người được tiêm vắc xin. Tính từ ngày 16/5-15/6/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh 2 ca mắc bệnh quai bị, 11 ca mắc lỵ trực trùng; 17 ca mắc lỵ a míp; 108 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.120 ca mắc bệnh cúm, 3 ca chân tay miệng, không phát sinh các ca bệnh khác. Tính chung, 6 tháng đầu năm có 3 ca sốt xuất huyết; 1 ca sốt rét (giảm 99,51%); 93 ca viên não do vi rút (năm trước không có), 21 ca quai bị (giảm 56,25%), 69 ca lỵ trực trùng (giảm 57,67%), 99 ca lỵ a míp (giảm 37,34%), 622 ca thủy đậu (tăng 50,24%), cúm 10.535 ca (giảm 42,99%), 11 ca chân tay miệng, các ca bệnh khác không có. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tính từ 16/5-15/4/2021 Hà Tĩnh chỉ có 1 người nhiễm mới HIV (giảm 9 người so với cùng kỳ năm 2020), 1 người chuyển thành AIDS (giảm 5 người so với cùng kỳ năm trước) và 2 người chết vì AIDS (tăng 2 người so với cùng kỳ năm trước). Như vậy, tính từ ngày 16/12/2020-15/6/2021 có 28 người nhiễm mới HIV (giảm 8 người so với cùng kỳ năm 2020), 24 người chuyển thành AIDS (giảm 5 người) và có 2 người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 16/5-15/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 26 người bị ngộ độc; không có người chết vì ngộ độc; ngoài ra, còn có 102 ca bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ; không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/6/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 563 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 41 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 26 ca (tăng 4,84%).  10.6 Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2021, hoạt động văn hóa có phần trầm lắng. Trước thời gian bùng phát dịch, nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức như: công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa (toàn tỉnh thành lập được 165 câu lạc bộ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh); Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước: Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), ngày Giải phóng Miền Nam (ngày 30 tháng 4), ngày Quốc tế lao động (ngày 01 tháng 5); tuyên truyền, xây dựng tin bài, phóng sự về cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Từ cuối tháng 4, do dịch Covid diễn biến phức tạp Hà Tĩnh đã tạm dừng các hoạt động tập trung đông người không cần thiết, chủ yếu tập trung công tác tuyên truyền về phòng chống dịch Covid-19, qua các phương tiện truyền thông như: đài truyền hình, báo chí, đặc biệt là loa đài tại các tổ dân phố, thôn, xóm, thường xuyên đưa tin về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống dịch để người dân nắm rõ và yên tâm. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: 6 tháng đầu năm 2021, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 05 cuộc thanh tra, kiểm tra. Trong đó, 01 cuộc phối hợp với đội kiểm tra liên ngành Văn hóa xã hội tỉnh kiểm tra tại 115 cơ sở kinh doanh dịch vụ do ngành quản lý; 01 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh; 01 cuộc kiểm tra về điều kiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, công tác bảo đảm an toàn phòng chống dịch Covid - 19 tại 15 khu điểm du lịch trong tỉnh; 01 cuộc thanh kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công vụ tại các phòng, ban, đơn vị trực thuộc Sở. Qua kiểm tra đã xử phạt vi phạm hành chính 02 tổ chức, 02 cá nhân với số tiền 17 triệu đồng. Đồng thời, đã cấp 77 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa; 06 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao; 67 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.  - Hoạt động thể thao: Thế thao quần chúng: 6 tháng đầu năm 2021, các phong trào thể dục thể thao quần chúng vẫn diễn ra như: phong trào tập luyện thể dục thể thao gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Các phong trào được triển khai đảm bảo các biện pháp an toàn về công tác phòng, chống dịch Covid-19. Thể thao thành tích cao: Tính chung 6 tháng đầu năm, Hà Tĩnh tham gia 12 giải thành tích cao đạt được 65 huy chương các loại (25 huy chương vàng (HCV), 13 huy chương bạc (HCB), 27 huy chương đồng (HCĐ), trong đó: Môn Điền kinh đạt 23 huy chương (9HCV-4HCB-10HCĐ); môn Pencak Silat đạt 2 huy chương (1HCV-1HCĐ); Môn Karate đạt 28 Huy chương (11HCV-5HCB-12HCĐ), Giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên xếp thứ nhì toàn đoàn; Môn Đua thuyền đạt 6 huy chương (3HCV-2HCB-1HCĐ); Môn Muay đạt 4 huy chương(1HCV-1HCB-2HCĐ); Vovinam đạt 2 huy chương (1HCB-1HCĐ); Bóng chuyền thi đấu vòng I Giải vô địch quốc gia xếp thứ 2 bảng A (xếp thứ 4 vòng I) được tham gia Giải bóng chuyền vô địch quốc gia Cup Hùng Vương năm 2021. 10.7  Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Từ ngày 15/5/2021 đến ngày 14/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người, bị thương 0 người, thiệt hại khoảng 37 triệu đồng; tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra. So với tháng trước giảm 3 vụ tai nạn đường bộ, giảm 1 người chết và giảm 6 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ và tăng 3 người chết. Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. Như vậy, tính ngày 15/12/2020 đến ngày 14/6/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 51 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 39 người, bị thương 19 người, thiệt hại tài sản 363 triệu. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ, giảm 10 người chết, số người bị thương không đổi. 10.8  Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/5/2021 đến ngày 14/6/2021 đã xảy ra 4 vụ cháy, nổ không có người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 22 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ, người chết giảm 1 người và bị thương giảm 3 người. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021 (từ ngày 15/12/2020-14/6/2021) đã xẩy ra 17 vụ cháy, nổ làm 2 người chết, 2 người bị thương, tổng thiệt hại 2,31 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ, giảm 1 người chết, giảm 1 người bị thương. - Công tác bảo vệ môi trường: Các hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm từ các cấp, các ngành cùng toàn thể người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ với tinh thần “Tuổi trẻ Hà Tĩnh tình nguyện, sáng tạo vì cộng đồng”, sáng ngày 30/5, gần 250 đội hình tình nguyện với hơn 4.000 lượt đoàn viên thanh niên tham gia hưởng ứng “Ngày chủ nhật xanh"; Công đoàn Hà Tĩnh phát động hưởng ứng tháng hành động vì môi trường, đây sẽ là những hoạt động nhằm hưởng ứng phát động của Bộ Tài nguyên & Môi trường tại công văn số 2298/BTNMT-TTTNMT ngày 14/5/2021 và Hướng dẫn số 24/HD-TLĐ của Tổng LĐLĐ Việt Nam ngày 20/5/2021 về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Môi trường thế giới (5/6) năm 2021. Từ ngày 15/5 đến ngày 14/6/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 12 vụ, đã xử lý 15 vụ, với tổng số tiền xử phạt 404,6 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 7 vụ (tăng 140,00%), số vụ đã xử lý tăng 11 vụ (tăng 275%), số tiền xử phạt tăng 392,6 triệu đồng. 6 tháng đầu năm 2021 (từ ngày 15/12/2020-14/6/2021), Hà Tĩnh đã phát hiện 75 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 52 vụ, tổng số tiền thu được là 847,05 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 53 vụ (tăng 240,90%), số vụ đã xử lý tăng 31 vụ (tăng 147,62%), số tiền xử phạt tăng 739,05 triệu đồng. 11. Đề xuất, giải pháp trong thời gian tới Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu KT-XH năm 2021, đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần phải thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, đồng thời cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do đại dịch Covid-19. (2) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa, cắt giảm các thủ tục nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân. (3) Tập trung đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công cho những tháng cuối năm; huy động tốt nguồn vốn tư nhân cho đầu tư phát triển. (4) Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất vụ Hè Thu năm 2021; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. (5) Quan tâm phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; xây dựng và thực hiện kế hoạch kích cầu tiêu dùng, chương trình khuyến mại tập trung năm 2021. Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2021 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hà Tĩnh. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2021 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của cấp ủy chính quyền các cấp và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong 6 tháng cuối năm./.

Tình hình KTXH tháng 5 và 5 tháng năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   25/07/2024 17:24

1.Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, thủy sản1.1 Sản xuất nông nghiệp*Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 5/2021 chủ yếu tập trung thu hoạch lúa vụ Đông Xuân. Theo kết quả thăm đồng đánh giá năng suất, sản lượng thu hoạch của các cây trồng cho thấy vụ Đông Xuân năm nay đạt kết quả rất thắng lợi, tăng cả về diện tích và năng suất. Tổng diện tích gieo trồng tăng 1,99% (tăng 1.933 ha) so với cùng kỳ năm trước.. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: - Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 59.478 ha, tăng 0,25% (tăng 151ha) so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích gieo cấy lúa tăng như: Lộc Hà 81 ha, Nghi Xuân 58 ha, Thạch Hà 27 ha, thị xã Kỳ Anh 23ha, Can Lộc 15ha; Vũ Quang 14 ha…Nguyên nhân diện tích lúa năm nay tăng là do một số xã có chính sách hỗ trợ 50% tiền công làm đất nhằm khuyến khích người dân không để ruộng bỏ hoang. Mặt khác, một số xã do hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên nhiều diện tích những năm trước trồng lạc nay chuyển sang trồng lúa. Cùng với đó, một số huyện có các vùng sản xuất theo hình thức phá bỏ bờ thửa nhỏ, hình thành ô thửa lớn vì vậy làm cho diện tích tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay bà con nông dân cơ bản đã thu hoạch xong lúa vụ Đông Xuân. Về cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân năm 2021 chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng sử dụng giống ngắn ngày, tăng năng suất, chất lượng để né tránh thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Năm nay một số giống lúa chất lượng gạo ngon như giống BT09, BQ, Thiên ưu 8, ADI, Bắc Hương 9 đã được UBND một số huyện đưa vào cơ cấu giống chủ lực cho người dân gieo cấy. Tuy nhiên, một số huyện cơ cấu giống lúa chưa tập trung, còn giàn trải nhiều loại giống, những giống lúa truyền thống như Khang dân 18, Khang dân đột biến, VTNA2, TH3-3, RVT, HT1, DT68, ..vv Năng suất lúa vụ Đông Xuân 2020-2021 ước tính tăng 5,97% (tăng 3,29 tạ/ha), với sản lượng lúa ước tính tăng 6,27% (tăng 20.385 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năng suất lúa đạt cao nhất kể từ trước đến nay. Một số nguyên nhân chính làm cho vụ lúa Đông Xuân năm nay được mùa toàn diện, đó là: (1) Các cấp, các ngành và các địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch sản xuất sát đúng với tình hình thực tiễn. Cùng với đó, bà con nông dân tuân thủ đúng lịch thời vụ trong sản xuất; (2) Đảm bảo các điều kiện sản xuất, trong đó có việc đưa các loại giống lúa có năng suất, chất lượng vào sản xuất như ADI168, Bắc Thịnh, nếp 98...với chất lượng giống đảm bảo; (3) Điều kiện thời tiết thuận lợi, nhất là thời kỳ lúa trổ bông nên hạt thóc chắc nẫy hơn; (4) Vụ lúa Đông Xuân năm nay ít sâu bệnh nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt, mặc dù cuối vụ có xẩy ra mưa lốc làm một số diện tích lúa đỗ gãy nhưng chỉ cục bộ ở một số địa phương và thiệt hại không lớn; (5) Sau đợt lũ cuối năm 2020, ruộng đồng được bồi đắp lượng phù sa làm cho đất đai màu mỡ hơn. Cùng với đó, do lũ lụt nên chuột giảm mạnh, ít phá hoại lúa hơn so với những năm trước.   - Một số cây hàng năm khác + Cây ngô: Diện tích ngô vụ Đông Xuân 2020-2021 ước tính tăng 16,86% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do vụ Đông năm 2019 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Năng suất ngô vụ Đông Xuân năm nay ước tính giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do đầu vụ Đông năm nay xẩy ra mưa lũ nên làm chậm lịch thời vụ do vậy năng suất thấp hơn. Mặc dù năng suất ngô giảm nhưng do diện tích tăng nên sản lượng ngô vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. + Cây khoai lang: So với cùng kỳ năm trước mặc dù năng suất khoai lang có giảm nhưng do diện tích tăng nên sản lượng khoai lang vẫn tăng nhẹ. + Cây lạc: Diện tích trồng lạc vụ Đông Xuân năm nay ước giảm 716 ha so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Trong đó: Huyện Vũ Quang giảm 122 ha, Hương Khê giảm 313 ha, Thạch Hà giảm 72 ha, Cẩm Xuyên giảm 76 ha, thị xã Kỳ Anh giảm 76 ha...Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, trồng lạc mất nhiều công sức và chi phí cao hơn các loại cây trồng khác nên người dân ít canh tác hơn làm cho diện tích lạc giảm. Năng suất lạc ước đạt 26,58 tạ/ha, bằng 105,5% (tăng 1,38 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lạc ước đạt 26.642 tấn, bằng 98,46% (giảm 417 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất lạc vụ Đông Xuân năm nay tăng hơn so với cùng kỳ nhưng do diện tích giảm nên sản lượng lạc giảm so với cùng kỳ năm trước. + Rau các loại: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 10.754ha, tăng 2,80% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do vụ Đông Xuân năm nay thời tiết thuận lợi, ít sâu bệnh nên người dân gieo trồng nhiều. Cả diện tích và năng suất rau đều tăng nên sản lượng rau các loại vụ Đông Xuân 2020-2021 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.         - Tình hình sâu bệnh: Vụ Xuân 2021 các đối tượng dịch phát sinh gây hại nhẹ, diễn biến ở mức độ trung bình hoặc thấp hơn vụ Xuân 2020, cụ thể: + Trên cây lúa: Bệnh đạo ôn lá cao điểm gây hại từ 15-30/3, diện tích nhiễm 232 ha, nhiễm nặng 4 ha, gây hại chủ yếu trên giống Thái Xuyên 111, Bắc Hương 9, VTNA6, Nếp 87, P6, phân bố trên toàn tỉnh; Bệnh đạo ôn cổ bông tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ 30-40%, diện tích nhiễm 94,5 ha, nhiễm nặng 17 ha, bệnh phát sinh gây hại trên toàn tỉnh tập trung trên giống ADI 168, Thái Xuyên 111, HN6, NA2, P6, KDĐB…; Rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh, mật độ trung bình 300-500 con/m2, nơi cao 700-1000 con/m2, diện tích nhiễm 3 ha; bệnh khô vằn tỷ lệ bệnh trung bình 7-10%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiễm 2.511 ha, nhiễm nặng 47 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; Chuột gây hại tỷ lệ hại trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiễm 168 ha, nhiễm nặng 3 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. + Cây trồng cạn: Trên cây ngô, sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 47 ha; bệnh đốm lá, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. Đã tiến hành xử lý thuốc, đến nay cơ bản kiểm soát tốt tình hình. + Cây ăn quả: Bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, diện tích nhiễm 35 ha; câu cấu, diện tích nhiễm 150 ha; sâu vẽ bùa, diện tích nhiễm 135 ha, phân bố tại Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc. *Chăn nuôi: Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 5/2021 vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh xẩy ra đối với trâu, bò, lợn. Cụ thể:         - Tình hình chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn gặp nhiều khó khăn. Tổng đàn bò giảm 2,52% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là do từ đầu năm đến nay xảy ra dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò. Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, lũy kế tính đến ngày 13/5/2021, dịch bệnh viêm da nổi cục đã làm cho 17.134 con (trâu 55 con và bò 17.079 con) mắc bệnh tại 1.323 thôn, 12.899 hộ trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó có 2.345 con bị chết (trâu 19 con và bò 2.326 con), gây thiệt hại nặng về kinh tế, gây tâm lý lo ngại cho người chăn nuôi.          - Tổng đàn lợn ước tính có tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2020. Cuối năm 2020, tình hình dịch tả lợn Châu phi dần ổn định, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, gia trại, trang trại bắt đầu thực hiện tái đàn trở lại thì dịch lại tiếp tục bùng phát trở lại vào đầu tháng 3/2021 ở nhiều địa phương trong tỉnh gây thiệt hại cho người chăn nuôi và khó khăn trong việc thực hiện tái đàn. Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh thì tính đến ngày 13/5/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã làm cho 12.576 con lợn bị chết phải tiêu hủy tại 536 thôn với 3.308 hộ nuôi trên địa bàn toàn tỉnh. Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh đối với đàn gia súc như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân bị ảnh hưởng nặng nề, tâm lý lo sợ dịch bệnh và giá cả bất thường nên hiện tại chưa đầu tư tái đàn. Hiện nay, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, giá con giống và thức ăn vẫn đang ở mức cao nên chăn nuôi lợn trên địa bàn thời gian tới sẽ vẫn chưa có bước phát triển đột phá, nhất là đối với chăn nuôi nông hộ.         - Ước tính tổng đàn gia cầm tăng 5,35% so với cùng kỳ năm 2020. Đàn gia cầm tăng chủ yếu ở đàn gà (chiếm 83,2% tổng đàn gia cầm), do chăn nuôi gà phát triển theo hướng trang trại, gia trại nhiều hơn các loại gia cầm khác. Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm này thường xuyên và cao hơn các loại thực phẩm gia cầm khác nên người dân đầu tư nhiều hơn. Các loại gia cầm khác như vịt, ngan, ngỗng chim cút hiện nay chưa có các mô hình chăn nuôi quy mô lớn, mới chỉ chăn nuôi nhỏ lẻ nên đầu tư thất thường, tuy có tăng nhưng các loại gia cầm này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng đàn vì vậy ảnh hưởng không nhiều đến tốc độ phát triển của tổng đàn gia cầm. 6 tháng đầu năm 2021, sản phẩm thịt trâu, bò, lợn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nên đã ảnh hưởng đến tâm lý của của người tiêu dùng. Vì vậy, sản phẩm gia cầm được lựa chọn là thực phẩm thay thế nên lượng cầu hàng hóa tăng đã khuyến khích chăn nuôi gia cầm phát triển sản xuất. Mặt khác, trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì phát triển chăn nuôi gia cầm là phù hợp, nhất là đối với chăn nuôi nông hộ.         Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 13/5/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 12 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số lợn mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 12.639 con/433 thôn/2.992 hộ nuôi, số con chết tiêu hủy là 12.576 con, với trọng lượng 859.799 kg; Dịch bệnh viêm da, nổi cục xuất hiện trên địa bàn tất cả 13/13 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 9.225 con (36 con trâu và 9.189 con bò)/6.958 hộ/1.122 thôn. Tổng số chết tiêu hủy là 2.345 con (19 con trâu và 2.326 con bò), với trọng lượng 275.988 kg; Dịch LMLM xuất hiện tại 2 thôn ở xã Hương Trạch, số gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 56 con (9 con trâu và 47 con bò)/16 hộ. Hiện nay, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, nguy cơ lây lan cao và gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất lớn. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi. 1.2 Lâm nghiệp         Tháng 5/2021, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp bên cạnh việc khai thác, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng thì người dân vẫn tiến hành trồng cây lâm nghiệp. Cùng với đó, tiến hành thu hoạch các diện tích rừng sản xuất đã đến tuổi khai thác để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dăm gỗ và sản xuất ván ép. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 2.123 ha, tăng 4,63% (tăng 94 ha); Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.857 ngàn cây, tăng 4,74% (tăng 84 ngàn cây); Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 117.864 ­m3, bằng 110,9% (tăng 11.582­ m3); Sản lượng củi khai thác ước đạt 122.770 Ste, giảm 2,25% (giảm 2.828 Ste) so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 5 tháng đầu năm 2021 chủ yếu tập trung ở các địa phương như: huyện Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Cẩm Xuyên.    Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 13 vụ phá rừng (giảm 10 vụ) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3. Thủy sản   Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò và dịch tả lợn Châu Phi đang xẩy ra trên địa bàn đã ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng, làm cho nhu cầu sử dụng các loại thịt bò, lợn giảm mạnh. Trong khi người dân hạn chế sử dụng các loại thịt gia súc thì nhu cầu sử dụng các sản phẩm thủy sản tăng mạnh. Kết quả sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh 5 tháng đầu năm 2021 vẫn duy trì được mức tăng ổn định, nhất là hoạt động khai thác biển. Tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng tháng 5/2021 ước tính tăng 654 tấn so với tháng trước và bằng 105,37% (tăng 227 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021 ước đạt 20.621 tấn, bằng 103,91% (tăng 775 tấn) so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: sản lượng khai thác ước đạt 15.879 tấn, bằng 105,54% (tăng 834 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 4.742 tấn, bằng 98,77% (giảm 59 tấn) so với cùng kỳ năm 2020. - Về khai thác thủy hải sản: Tổng sản lượng khai thác chiếm đến 77% tổng sản lượng thủy hải sản 5 tháng đầu năm. Như vậy, khai thác thủy sản có vai trò quan trọng, đóng góp lớn vào kết quả sản xuất thủy sản. Trong đó, sản lượng khai thác biển ước đạt 14.047 tấn, bằng 105,77% (tăng 766 tấn) so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 88,5% tổng sản lượng khai thác. Thời tiết đầu năm khá thuận lợi, biển lặng nên ngư dân tích cực ra khơi khai thác. Mặt khác, sản phẩm đánh bắt dễ tiêu thụ cũng là động lực để ngư dân tiếp tục vươn khơi bám biển. Đặc biệt, đội tàu đánh bắt xa bờ đạt sản lượng cao, đánh bắt được nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế như cá ngừ, cá thu, cá chim... - Về nuôi trồng thủy hải sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua nhìn chung ít biến động. Diện tích nuôi trồng đang có xu hướng dần thu hẹp, nhất là diện tích ao nuôi nhỏ lẻ trong dân. Cùng với việc các đối tượng thả nuôi vẫn chủ yếu là các loại giống truyền thống nên khó để tạo ra sự tăng trưởng lớn về sản lượng nuôi trồng. - Sản lượng giống thủy sản 5 tháng đầu năm 2021 ước đạt 289 triệu con, bằng 100,2% so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng cá giống ước đạt 27 triệu con, giảm 8 triệu con; Tôm giống ước đạt 255 triệu con, tăng 1 triệu con so với cùng kỳ năm 2020. Con giống sản xuất trên địa bàn nhìn chung đảm bảo chất lượng. Mặc dù sản lượng con giống sản xuất tăng nhưng cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trên địa bàn, nguồn giống nuôi trồng thủy sản chủ yếu vẫn phải nhập về từ ngoại tỉnh. Dịch bệnh gan tuỵ, đốm trắng ở tôm xuất hiện trên diện tích 37,19 ha/13 xã/5 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh; thị xã Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh). Khi bệnh xảy ra, ngành chức năng và người nuôi đã xác định tác nhân gây bệnh xử lý dập dịch kịp thời bằng hóa chất Chlorine.         2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư     - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Ước tính chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 5/2021 tăng 2,88% so với tháng trước và tăng 18,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Một số ngành công nghiệp có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ năm trước đó là: Ngành khai khoáng tăng 48,76%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 30,33%. Như vậy, mặc dù chỉ số sản xuất tháng 5/2021 tuy vẫn có tăng hơn so với tháng trước nhưng với mức tăng nhẹ. Nguyên nhân do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 bùng phát trở lại. Cùng với đó, sản lượng điện sản xuất của Công ty thủy điện Hương Sơn cũng giảm hơn so với tháng trước do sự điều chỉnh nhu cầu mua điện của EVN.  Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, kết quả sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 5 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 20,34% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 26,32%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 28,46%, đóng góp 20,96 điểm phần trăm (Đây là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,36%, làm giảm 0,54 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,64%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.- Vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5 ước đạt 448 tỷ đồng, tăng 2,51% so với tháng trước, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 345,5 tỷ đồng, tăng 5,29% (tăng 17,4 tỷ đồng); vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 64,51 tỷ đồng, tăng 4,13% (tăng 2.558 triệu đồng); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 37,99 tỷ đồng, bằng 80,93% (giảm 8,9 tỷ đồng) so với tháng trước. Nguyên nhân tăng là do: Tháng 5/2021 công tác giải ngân vốn tăng tiếp tục tăng so với tháng trước. Nguồn vốn tăng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý là vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh (chiếm 77,12%). Các công trình nông thôn mới như rải thảm nhựa, xây dựng kiên cố hóa kênh mương, xây dựng hạ tầng các chỉ tiêu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục thi công đạt tiến độ đề ra. Bên cạnh đó, các công trình sử dụng nguồn vốn ODA như dự án cải thiện cơ sở hạ tầng các vùng lũ ngập Hà Tĩnh, các dự án đường, cầu dân sinh đã được phân bổ, bàn giao vốn để xây dựng kịp thời. - Dự ước 5 tháng đầu năm 2021: Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1902,94 tỷ đồng, đạt 25,0% kế hoạch năm, tăng 28,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.388,63 tỷ đồng, chiếm 72,97% tổng vốn, tăng 59,40% so với cùng kỳ; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 302,71 tỷ đồng, chiếm 15,91% tổng vốn, giảm 23,48% so với cùng kỳ; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 211,60 tỷ đồng, chiếm 11,12% tổng vốn, tăng 0,78% so với cùng kỳ. Trong 5 tháng đầu năm, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch đạt thấp (đạt 25,0%). Nguyên ngân do thời gian đầu năm, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm. 3. Thương mại, dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 5/2021: Dự ước giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 6/12 nhóm ngành hàng có chỉ số giảm so với tháng trước: Lương thực, thực phẩm ước tính giảm 4,18%; hàng may mặc ước giảm 5,95%; vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 14,90%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phương tiện) ước giảm 6,25%; nhiên liệu khác ước giảm 1,89%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước giảm 3,35%. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng dịch bệnh trên đàn gia súc vẫn chưa được kiểm soát, nhu cầu tiêu dùng và giá cả các sản phẩm thịt bò và thịt lợn vẫn đang ở mức rất thấp. Bên cạnh đó tình hình dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát trở lại trên nhiều tỉnh thành và diễn biến ngày càng phức tạp đã ảnh hưởng đến thu nhập của người dân; ngoài ra việc hạn chế ra ngoài mua sắm, tiêu dùng của người dân đã làm giảm mức doanh thu các cơ sở bán lẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những nhóm mặt hàng giảm, trong tháng qua đã có 6/12 nhóm ngành hàng có chỉ số tăng so với tháng trước như: Nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình ước tăng 4,28%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 3,39%, ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) ước tăng 8,37% so với tháng trước; xăng, dầu các loại ước tăng 3,54% so với tháng trước; đá quý, kim loại quý ước tăng 1,97% so với tháng trước; hàng hóa khác tăng 8,38% so với tháng trước.          Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 19,93% so với cùng kỳ năm trước. Sau hơn một năm bùng phát, dịch bệnh Covid-19 đang dần làm thay đổi thói quen, thị hiếu mua sắm của người tiêu dùng trong tỉnh. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 5 tháng đầu năm 2021 tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên với việc bùng phát và lây lan nhanh dịch Covid-19 chủng mới trong thời gian gần đây và vẫn chưa kiểm soát được, dự kiến hoạt động bán lẻ trên địa bản tỉnh trong thời gian tới sẽ còn gặp nhiều khó khăn.          - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 5/2021 giảm 19,8% so với tháng trước, tăng 63,64% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác dự ước giảm 17,44% so với tháng trước và tăng 33,06% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ tháng 5/2021 giảm mạnh so với các tháng đầu năm. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 lây lan rộng trên phạm vi cả nước, đồng thời đầu tháng 5 trên địa bàn tỉnh ghi nhận 2 ca dương tính với vi-rút SARS-CoV-2 sau thời gian cách ly, UBND tỉnh đã ban hành văn bản số 2650 /UBND-VX1 ngày 5/5/2021 về việc tạm dừng một số hoạt động, dịch vụ không thiết yếu để phòng, chống dịch COVID-19. Theo đó, hạn chế tập trung đông người, tạm dừng tổ chức các sự kiện không quan trọng, các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, quán bar, xông hơi, massage, cắt tóc, gội đầu,..vv phải dừng hoạt động, khiến cho doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác trong tháng giảm mạnh.          Tính chung 5 tháng đầu năm 2021 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 50,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước tăng 38,42% so với cùng kỳ. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ 5 tháng đầu năm 2021 tăng trưởng mạnh là do cùng kỳ năm trước phải thực hiện giãn cách xã hội nên doanh thu các ngành dịch vụ đạt thấp. Tuy nhiên, thời gian tới sẽ có những biến động về kết quả sản xuất các ngành dịch vụ theo xu thế giảm khi dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. - Hoạt động Vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 5/2021 ước giảm 14,01% so tháng trước và tăng 11,70% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước giảm 31,76% so với tháng trước và tăng 19,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu vận tải hàng hóa ước tăng 8,79 % so với tháng trước và tăng 4,26 % so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 29,85% so với cùng kỳ năm trước.         Kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi tháng 5/2021 giảm hơn so với tháng trước, chủ yếu do sự giảm mạnh của vận tải hành khách. Nguyên nhân do để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19, UBND tỉnh đã có chỉ đạo từ ngày 10/5/2021 ngừng các tuyến xe cố định đến và đi các tỉnh có dịch; những tuyến còn hoạt động thì chỉ được phép chở tối đa 50% số khách theo quy định; cùng với đó là tâm lý e ngại khi sử dụng các phương tiện công cộng như xe buýt, taxi nên doanh thu vận tải hành khách giảm mạnh so với tháng trước.  Đối với vận tải hàng hóa, đây là thời điểm hầu hết các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, đồng thời cũng là thời điểm nắng nóng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng như: Điện tử, điện lạnh, đồ dùng, dụng cụ gia đình, nước giải khát...tăng mạnh nên nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng và đồ dùng gia đình tăng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên doanh thu vận tải hàng hóa chỉ tăng nhẹ so với tháng trước.  Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải trong tháng giảm nhẹ so với tháng trước do trong tháng lượng than bốc qua cảng giảm, kéo theo doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ giảm. Nhìn chung, kinh doanh vận tải trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 5 tháng đầu năm 2021 đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 17,72%). Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa đường bộ phát triển khá ổn định, các đơn vị kinh doanh vận tải chấp hành đầy đủ các qui định phòng chống dịch, với chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, hoạt động vận tải trên địa bàn trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, kết quả vận tải phụ thuộc vào diễn biến của dịch bệnh. 4. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá CPI chung tháng 5 năm 2021 tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,01% so tháng trước, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,06% so tháng trước, tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,23%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,6%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; giao thông tăng 0,48%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%). Có 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,42%). 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (nhóm thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông). CPI tháng 5 năm 2021 tăng so với tháng trước do các nguyên nhân chủ yếu: (1) Thời tiết chuyển dần nắng nóng, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt, đồ dùng gia đình, dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, thực phẩm tăng. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng mạnh, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng cao, bao gồm cả sắt thép lẫn xi măng phục vụ xây dựng. Tuy nhiên dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu và giá cả các nhóm thực phẩm tiêu dùng, gián tiếp tác động đến hoạt động ăn uống ngoài gia đình đã tác động làm giảm chỉ số giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống. Chỉ số giá vàng tháng 5/2021 tăng 1,63% so với tháng trước, tăng 11,96% so với cùng tháng năm trước; Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 1,56% so với tháng trước, giảm 0,04% so với cùng tháng năm trước.  Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng nhẹ so tháng trước, nhìn chung diễn biến tăng, giảm giá vàng trong tháng với biên độ ổn định. Mức giá trong tháng thời điểm thấp nhất là 5.240 nghìn đồng, cao nhất 5.320 nghìn đồng/chỉ. Giá USD giảm mạnh, mức giá USD tại thời điểm ngày 21/5/2021 là 23.250 đồng/USD. CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2021 tăng 1,36% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 2,1%, khu vực nông thôn tăng 1,05%. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 6/2021 dự kiến tăng cao hơn so tháng 5/2021. Giá điện, nước sinh hoạt dự kiến tăng mạnh khi thời tiết dự báo nắng nóng kéo dài trong thời gian tới, kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng. Dịch bệnh trên đàn gia súc đang dần ổn định, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thịt lợn, bò đang tăng trở lại kéo theo giá thực phẩm có thể tăng. Cùng với đó, nhu cầu đối với các mặt hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng thiết bị điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống, dịch vụ tiêu dùng dự kiến còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. 5. Một số vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư Sau dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, số ca nhiễm mới tăng cao bên cạnh đó thời tiết chuyển rét đậm đã gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, khai thác của người dân. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai các giải pháp, giám sát chặt chẽ công tác phòng dịch tại địa bàn, tăng cường việc xét nghiệm sàng lọc, đồng thời tiến hành từng bước thu hẹp phạm vi phong tỏa nhằm hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân theo tinh thần Nghị quyết 128 của Chính phủ. Đồng thời thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống đói rét và dịch bệnh trên đàn gia súc. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói.  5.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Trước tình hình dịch bệnh COVID-19 đang bùng phát trở lại, có nhiều diễn biến mới và phức tạp. Để giảm thiểu tối đa lây lan, sẵn sàng chủ động ngăn chặn, ứng phó với dịch bệnh trên diện rộng, bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của Nhân dân. Ngày 5/5/2021, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành văn bản số 2650 /UBND-VX1 về việc tạm dừng một số hoạt động, dịch vụ không thiết yếu để phòng, chống dịch COVID-19; Sở Y tế Hà Tĩnh ban hành QĐ số 552 /QĐ- SYT ngày 2/5/2021 về việc kiểm tra, xử phạt việc thực hiện quy định trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn Hà Tĩnh. Tính đến ngày 19/5/2021, Hà Tĩnh hiện có 09 ca dương tính, đang được điều trị tại BVĐK cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; chưa có ca bệnh nào tử vong. Lũy kế từ khi có dịch đến nay có 13 ca dương tính, không có ca bệnh tử vong, trong đó có 4 ca đã khỏi và ra viện vào ngày 7/5/2020. Ngoài ra, Hà Tĩnh hiện đang cách ly, theo dõi 15 trường hợp tại cơ sở y tế, cách ly tập trung 349 trường hợp và theo dõi sức khỏe tại nhà, nơi lưu trú 13.931 trường hợp. Tất cả các trường hợp trên hiện nay đều có sức khỏe ổn định. Công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19: Hà Tĩnh đã được cấp 8.950 liều vắc xin COVID-19 Vaccine AstraZeneca, trong đó: 7.300 liều dành cho nhân viên y tế, ban chỉ đạo và 1.650 liều cho bộ đội, công an. Kết thúc đợt 1 đã tiêm phòng cho 10.007 đối tượng trên tổng số 10.182 đối tượng dự kiến được tiêm, đạt 98,28%. Nguyên nhân số đối tượng được tiêm tăng cao hơn nhiều so với Bộ Y tế cấp là do: Theo quy định mỗi liều tiêm 0,5 ml, một lọ được đóng ước tính cho 10 mũi tiêm. Tuy nhiên, các nhà sản xuất vắc-xin đóng dung lượng thực tế 6ml, để bù trừ sự hao hụt trong quá trình tiêm. Do vậy trong đợt tiêm vừa qua, do không bị hao hụt vắc-xin nên tổng số liều vắc-xin ở Việt Nam nói chung và tại Hà Tĩnh nói riêng đều cao hơn dự kiến. Các đối tượng được tiêm cụ thể như sau: Nhân viên y tế, ban chỉ đạo phòng, chống dịch là 7.093 người, đạt 97,16%; lực lượng biên phòng 1.172 người, đạt 97,83%; lực lượng công an 602 người, đạt 114,9%; cán bộ làm việc tại các khu cách ly 84 người, đạt 76,36%; cán bộ làm việc tại cửa khẩu, cảng biển 393 người, đạt 92,69%; cán bộ truyền hình, phóng viên 210 người, đạt 95,02%; Cục Hải quan 89 người, đạt 100%, các lực lượng khác 364 người, đạt 115,18%. Trong tháng, có 02 ca sốt xuất huyết, 3 ca quai bị, 16 ca lỵ trực trùng, 24 ca lỵ amíp, 310 ca thủy đậu, 1.783 ca mắc bệnh cúm, 5 ca chân tay miệng, tiêu chảy 252 ca, viêm gan vi rút khác 9 ca, các ca bệnh khác không có. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước: Sốt xuất huyết tăng 2 ca, sốt rét giảm 18 ca, quai bị tăng 01 ca, lỵ trực trùng giảm 01 ca, lỵ amip giảm 02 ca, thủy đậu tăng 296 ca, cúm tăng 469 ca. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AID, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AID đối với cá nhân và cộng đồng bằng nhiều hình thức như qua phương tiện thông tin đại chúng: Truyền thanh, truyền hình, báo, đài..vv. Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 3 người nhiễm mới HIV (giảm 2 người so với cùng kỳ năm 2020), 4 người chuyển thành AIDS (giảm 3 người) và không có người chết vì AIDS (giảm 2 người). Tính chung 5 tháng, có 27 người nhiễm HIV, 23 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong phòng chống dịch Covid-19, nhằm hạn chế ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm, góp phần phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn hiệu quả. Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, làm 15 ca bị ngộ độc. Ngoài ra, còn 103 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, không có trường hợp tử vong vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc thực phẩm tập thể tăng 01 vụ; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 22 ca (tăng 27,16%), số ca tử vong không đổi. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021 xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể làm 27 ca ngộ độc, bên cạnh đó có 564 ca ngộ độc đơn lẻ và ko có người bị tử vong vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc tăng 2 vụ, tăng 27 ca ngộ độc tập thể, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 112 ca ( tăng 24,78%). 5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trước thời điểm dịch diễn biến phức tạp, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức như: Các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước; các hoạt động tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 bằng nhiều hình thức như: Thông qua hội nghị, diễn đàn, sinh hoạt hội đoàn thể; qua hệ thống panô, áp phích, băng cờ, khẩu hiệu; tuyên truyền lưu động, qua hệ thống truyền thông, báo chí và bằng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao... Tuy nhiên từ cuối tháng 4 do dịch diễn biến phức tạp nên tạm dừng các hoạt động tập trung đông người không cần thiết vì vậy các hoạt động văn hóa, văn nghệ trầm lắng hơn so với thời điểm trước. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức 02 cuộc thanh tra kiểm tra. Qua kiểm tra đã thực hiện nhắc nhở, lập biên bản yêu cầu Ban quản lý các khu, điểm du lịch tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh, đôn đốc các cơ sở lưu trú, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch tại khu, điểm du lịch thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động lĩnh vực du lịch; đồng thời kiểm tra xử lý các biển hiệu, bảng quảng cáo, băng- rôn không đúng quy định theo Luật quảng cáo trên địa bàn thành phố. Ngoài ra, đã cấp 19 giấy phép, trong đó có 15 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao; 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa. - Hoạt động thể thao        + Thể thao quần chúng: Từ cuối tháng 4 tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, vì vậy các hoạt động luyện tập, thi đấu thể thao tập trung đông người trong thời gian gần đây dừng hẳn, chỉ tăng cường các hoạt động nâng cao sức khỏe, thể lực cho chính bản thân và gia đình nhưng vẫn tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch theo quy định. + Thể thao thành tích cao: Từ ngày 16/4-15/5, Hà Tĩnh giành được 32 huy chương các loại (13 huy chương vàng, 7 huy chương bạc và 12 huy chương đồng), cụ thể: Giải Điền kinh cúp tốc độ thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 đạt 20 huy chương các loại (9HCV-3HCB-8HCĐ), giải đua thuyền Rowing vô địch các câu lạc bộ toàn quốc tại Đà Nẵng dành được  6 huy chương ( 3HCV-2HCB-1HCĐ), Giải vô địch các đội mạnh Vovinam tại Vũng Tàu đạt 2 huy chương (1HCB-1HCĐ), Giải vô địch Muay quốc gia năm 2021 đạt 4 huy chương (1HCV-1HCB-2HCĐ). 5.4. Tai nạn giao thông Tính từ 15/4/2021 đến 14/5/2021 trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 10 vụ tai nạn giao thông làm 8 người chết, 6 người bị thương, ước tính thiệt hại khoảng 45 triệu đồng. So với tháng trước số vụ không thay đổi, tăng 2 người chết và tăng 3 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: tăng 4 vụ, tăng 01 người chết, tăng 01 người bị thương. Nguyên nhân xảy ra tai nạn, do không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường và sử dụng rượu bia khi lái xe. Như vậy, tính từ 15/12/2020 đến 15/5/2021, Hà Tĩnh xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 32 người và bị thương 20 người. So cùng kỳ năm 2020 giảm 2 vụ, giảm 11 người chết và tăng 3 người bị thương. 5.5. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trước diễn biến phức tạp của thời tiết khắc nghiệt cùng với mùa nắng nóng kéo dài và liên tục, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 707/CAT-PCCC ngày 14/4/2021 về việc tăng cường phòng cháy, chữa cháy trong mùa nắng nóng nhằm chủ động phòng ngừa, giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy gây ra, góp phần đảm bảo an toàn trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Từ ngày 15/4 đến 14/5/2021 đã xảy ra 4 vụ cháy, làm 1 người bị thương; tổng thiệt hại ước tính là 38 triệu đồng, nguyên nhân: Do chập điện 02 vụ, sơ suất trong sử dụng lửa 01 vụ, 01 vụ do sự cố kỹ thuật. So với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ cháy, tăng 1 người bị thương, số người tử vong không đổi. Trong tháng không xảy ra nổ. So với cùng kỳ năm trước không thay đổi. Tính chung 5 tháng, xẩy ra 13 vụ cháy, nổ làm 2 người chết, 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,29 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2020 số vụ, số người chết không thay đổi, tăng 2 người bị thương. - Công tác bảo vệ môi trường: Hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng được các cấp, các ngành chú trọng, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 06/5/2021 về thông tin, tuyên truyền phòng chống rác thải nhựa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nhằm nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường sống. Từ ngày 15/4 đến ngày 14/5/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 21 vụ, đã xử lý 13 vụ, với tổng số tiền xử phạt 254 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020, số vụ đã phát hiện tăng 12 vụ (tăng 133,33%), số vụ đã xử lý tăng 4 vụ (tăng 44,44%), số tiền xử phạt tăng 210 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm đã phát hiện 63 vụ vi phạm môi trường (tăng 46 vụ), xử lý 37 vụ (tăng 20 vụ) so với cùng kỳ năm 2020 với số tiền 442,5 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 4 và 4 tháng năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   25/07/2024 17:16

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                1.1. Nông nghiệp            - Trồng trọt:  Sản xuất trồng trọt trong tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân. Ngoài cây lạc thì diện tích các loại cây trồng chủ lực vụ Xuân năm nay đều đạt và vượt kế hoạch. Vụ Xuân 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho các loại cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là cây lúa. Tính đến ngày 15/4/2021, đã có khoảng 8.900 ha lúa trổ bông tập trung tại các huyện Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hương Khê, Can Lộc,...Dự kiến lúa trỗ đại trà từ 20-25/4/2021. Thời gian này thời tiết diễn biến bất thường, nền nhiệt thấp là điều kiện để sâu bệnh phát sinh gây hại. Cùng với cây lúa thì các loại cây trồng vụ Xuân khác cũng đang được chăm sóc và đang sinh trưởng, phát triển tốt. Cây lạc đang trong giai đoạn đâm tỉa, phát triển củ.     Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa, bệnh đạo ôn phát sinh gây trên giống Thiên ưu 8, Khang dân 18, BT09, Bắc Hương 9, ADI168, Thái xuyên 111, tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ một số diện tích ở Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Thạch Hà tỷ lệ 30-40%, diện tích nhiễm bệnh là 192 ha. Đến nay, bệnh đạo ôn lá đã cơ bản được khống chế, mặc dù vậy vết bệnh vẫn tồn tại trên cổ lá công năng và là nguồn bệnh phát sinh gây hại trên cổ bông. Đến ngày 15/4/2021, diện tích phun phòng bệnh đạo ôn cổ bông lần 1 đạt 6.008,5 ha; Chuột gây hại trên lúa gieo thẳng với diện tích 129 ha, trong đó 3 ha gây hại nặng phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; Bệnh bạc lá phát sinh gây hại ở Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Thạch Hà, Can Lộc, Lộc Hà với tỷ lệ trung bình 5-10%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh 155,5 ha, tập trung trên giống Xuân mai 12, Thái xuyên 111, BT7, BT9, NA2, Nếp 97; Bệnh khô vằn phát sinh gây hại ở những diện tích gieo cấy dày, bón thừa đạm, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 10-20%, diện tích nhiễm bệnh 1.650 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; Bệnh đốm nâu gây hại với tỷ lệ trung bình 10-15%, nơi cao 20-25%, diện tích nhiễm bệnh 20 ha, tập trung trên những diện tích thâm canh kém, đất xấu. Trên cây lạc, bệnh nấm mốc gốc đen, lở cổ rễ gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, phân bố ở Hương Khê, Vũ Quang, Thạch Hà, diện tích nhiễm bệnh 24 ha; Nhóm sâu ăn lá (sâu khoang, sâu cắn lá) mật độ trung bình 1-2 con/m2, nơi cao 3-4 con/m2, diện tích gây hại 32 ha, tập trung ở Hương Khê, Thạch Hà, Đức Thọ. Trên cây ngô, sâu cắn lá, sâu keo mùa thu với mật độ trung bình 1-3 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, diện tích 50 ha, phân bố ở Cẩm Xuyên, Vũ Quang; Bệnh đốm lá gây hại với tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 10-15%, diện tích nhiễm bệnh 12,5 ha, tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn. Trên cây sắn, bệnh khảm lá sắn phát sinh gây hại ở huyện Kỳ Anh, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-30%, cục bộ 40%, diện tích nhiễm bệnh là 3 ha. Trên cây ăn quả có múi, bệnh chảy gôm gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 30 ha tập trung ở Hương Khê, Vũ quang; Sâu róm với mật độ trung bình 0,5-1 con/cành, nơi cao 2 con/cành, diện tích gây hại 100 ha tập trung ở Hương Khê; Châu chấu phát sinh gây hại ở Hương Khê, mật độ trung bình 1-2 con/cành, diện tích 120 ha. Hiện nay cây lúa đang thời kỳ trổ bông, các loại dịch bệnh luôn tiềm ẩn nên trong thời gian này các ngành chức năng cần phải tập trung chỉ đạo bà con nông dân tích cực thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện và phòng trừ sâu bệnh phát sinh gây hại, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 4/2021 vẫn khó khăn, chưa có gì khởi sắc. Nhìn chung số lượng đàn đại gia súc giảm nhẹ, đàn lợn và đàn gia cầm tuy có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không lớn và vẫn còn thiếu ổn định. Riêng đối với hoạt động chăn nuôi lợn, sau khi thực hiện tái đàn trở lại thì dịch tả lợn Châu Phi lại tiếp tục bùng phát ở nhiều địa phương trong tỉnh gây thiệt hại cho người chăn nuôi và khó khăn trong việc thực hiện tái đàn. Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh đối với đàn gia súc như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới vẫn tiếp tục gặp khó khăn.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/4/2021, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 11 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số lợn mắc bệnh, chết là 7.972 con, trọng lượng 561.870 kg /2.187 hộ/415 thôn/90 xã/11 huyện, thành phố, thị xã (trừ thị xã Hồng Linh và Nghi Xuân); Dịch bệnh viêm da, nổi cục xuất hiện trên địa bàn ở tất cả 13 huyện, thành phố, thị xã. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số gia súc mắc bệnh chưa qua 21 ngày là 7.393 con /5.736 hộ/1.010 thôn/191 xã/13 huyện, thành phố, thị xã. Tổng số gia súc được tiêm phòng dịch bệnh viêm da, nổi cục là 112.355 con. Hiện nay, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, nguy cơ lây lan cao và gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất lớn. Vì vậy, các ngành chức năng và người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại do dich bệnh gây ra.1.2. Lâm nghiệpTrong tháng 4/2021, nền nhiệt thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục trồng rừng sản xuất. Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 4/2021 ước tính tăng 121% (tăng 368 ha) so với tháng trước. Cùng với đó, tranh thủ thời gian nông nhàn người dân đã tiến hành khai thác các diện tích rừng sản xuất đã đến kỳ thu hoạch nên sản lượng gỗ khai thác tăng 13,33% (tăng 3.230 ha) so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.809 ha, tăng 3,97% (tăng 69 ha); Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 82.314 ­m3, tăng 13,89% (tăng 10.041­ m3); Sản lượng củi khai thác ước đạt 90.650 Ste, giảm 1,41% (giảm 1.298 Ste); Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.748 ngàn cây, tăng 4,73% (tăng 79 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu ngày càng giảm nên sản lượng củi khai thác tiếp tục giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 4 tháng đầu năm 2021 chủ yếu tập trung ở các địa phương như: Huyện Hương Sơn trồng mới 623 ha rừng và khai thác 21.150 m3 gỗ; huyện Vũ Quang trồng mới 412 ha rừng và khai thác 23.517 m3 gỗ; huyện Kỳ Anh trồng mới 243 ha rừng và khai thác 5.600 m3 gỗ; huyện Hương Khê trồng mới 231 ha rừng và khai thác 16.300 m3 gỗ; huyện Cẩm Xuyên trồng mới 100 ha rừng và khai thác 5.175 m3 gỗ...          Tính từ ngày 15/3 đến ngày 15/4/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 5 vụ phá rừng (giảm 4 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,52 ha (giảm 1,84 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 4/2021 vẫn tiếp tục được duy trì ổn định và có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với tháng trước giảm cả về sản lượng khai thác cũng như nuôi trồng. Trong khi sản lượng nuôi trồng giảm do sản phẩm chưa đến kỳ thu hoạch thì những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa nên ngư dân vươn khơi bám biển. Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 4/2021 ước tính tăng 6,54% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 19,9% so với tháng trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước tính tăng 8,86% so với cùng kỳ năm trước, giảm 7,3% so với tháng trước; Sản lượng nuôi trồng ước tính giảm 5,31% so với cùng kỳ năm trước, giảm 55,4% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính đạt 16.170 tấn, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: sản lượng khai thác ước đạt 12.521 tấn, tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước và sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.649 tấn, giảm 1,48% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay các hồ, ao nuôi thủy sản nhỏ lẻ trong dân ngày càng giảm do hiệu quả thấp. Bước sang tháng 4/2021, các hộ nuôi trồng đã tập trung xuống giống thả nuôi vụ tôm Xuân Hè năm 2021. Trong tháng 4/2021, dịch đốm trắng xuất hiện gây hại trên tôm với diện tích nhiễm bệnh 7,2 ha. Như vậy, tính chung từ đầu năm đến nay diện tích tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng là 8,9 ha (thành phố Hà Tĩnh 2,8 ha, huyện Kỳ Anh 5,35 ha, Lộc Hà 0,15 ha và Nghi Xuân 0,6 ha). Hiện nay, các ngành chức năng và các hộ nuôi trồng thủy sản đang tích cực triển khai các biện pháp phòng, trừ dịch bệnh không để lây lan gây hại.2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư   - Hoạt động sản xuất công nghiệp: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 04/2021 ước tính giảm 1,16% so với tháng trước và tăng 32,86% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước do tháng 4 năm 2020 là thời gian giãn cách toàn xã hội do dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn quốc đã tác động tiêu cực tới kinh tế xã hội, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu bị đình trệ, doanh nghiệp thiếu nguyên liệu sản xuất...Hiện nay, các doanh nghiệp đã dần đi vào ổn định, hoạt động sản xuất công nghiệp thuận lợi hơn. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,69% so với tháng trước và tăng 28,27% so với cùng kỳ năm trước; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,84% so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này tăng đến 44,73%; Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 3,09% so với tháng trước và tăng 1,5% so cùng kỳ năm trước; Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,47% so với tháng trước và tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục tăng, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 4 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 21,51% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,57%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 29,21%, đóng góp 21,61 điểm phần trăm; Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,38%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm; Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,26%, làm giảm 0,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Như vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp.- Vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 4/2021 ước đạt 456,62 tỷ đồng, tăng 19,53% so với tháng trước. trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 347,77 tỷ đồng, tăng 24,89% (tăng 69,31 tỷ đồng) so với tháng trước; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 62,67 tỷ đồng, tăng 7,62% (tăng 4,4 tỷ đồng) so với tháng trước; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 46,18 tỷ đồng, tăng 1,90% (tăng 0,86 tỷ đồng) so với tháng trước. Nguyên nhân tăng là do: Các nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã, cộng với các nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đã phân bổ theo kế hoạch vốn đề ra của các công trình. Hồ sơ, thủ tục triển khai nhanh chóng, công tác giải ngân kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các công trình nên tiến độ thi công được đảm bảo. Bên cạnh đó, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai rộng khắp toàn tỉnh, việc đầu tư cơ sở hạ tầng ở các xã tiếp tục phát triển mạnh, ngoài nguồn vốn Trung ương hỗ trợ còn có nguồn vốn cân đối ngân sách huyện, cân đối ngân sách xã và nguồn đóng góp của Nhân dânTính chung 4 tháng đầu năm 2021, Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1474,53 tỷ đồng, tăng 36,16% so với cùng kỳ. trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1062,77 tỷ đồng, tăng 69,34%; Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 238,92 tỷ đồng, tăng 79%; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 172,84 tỷ đồng, tăng 13,01%. Việc nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước từ các cấp đều tăng thể hiện sự chủ động trong việc phân bổ kịp thời các dự án, xử lý hoàn tất các thủ tục đầu tư sẽ có nhiều công trình mới khởi công, đặc biệt là các công trình thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, dự án ODA, chương trình 135, chương trình 106...là các chương trình trọng điểm, thiết yếu nên nguồn vốn được đáp ứng kịp thời. Bên cạnh đó việc chỉ đạo các cấp, các ngành để đẩy nhanh tiến độ dự án được thực hiện quyết liệt, cộng với tình hình thời tiết thuận lợi nên các công trình đã được triển khai thi cộng thuận lợi.3. Thương mại, dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2021: Dự ước tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 67,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 11/12 nhóm ngành hàng có chỉ số tăng so với tháng trước như: Hàng may mặc ước tăng 5,43%; nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình ước tăng 4,98%; vật phẩm văn hóa giáo dục ước tăng 0,87%; gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 3,89%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) ước tăng 13,34%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phương tiện) ước tăng 4,03%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước tăng 6,64%; xăng dầu các loại tăng 1,21%; nhiên liệu khác tăng 14,14%; đá quý, kim loại quý tăng 1,62%; hàng hóa khác tăng 5,95%. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời tiết chuyển mùa, nhu cầu và giá cả các mặt hàng đồ uống, hàng may mặc, rau củ quả, thiết bị điện lạnh dự kiến tăng. Ngoài ra cùng thời điểm năm trước, tỉnh bắt đầu thực hiện cách ly xã hội trong thời gian dài, khiến mức tiêu dùng hàng hóa dịch vụ trong thời gian đó đạt thấp. Tuy nhiên, bên cạnh những nhóm mặt hàng tăng thì nhóm hàng lương thực, thực phẩm giảm 1,37% so với cùng kỳ do dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến giá cả và nhu cầu tiêu dùng hai loại thực phẩm chủ yếu là thịt lợn và thịt bò. Mặc dù người dân đã chủ động thay thế bằng các loại thực phẩm khác nhưng nhìn chung mức tiêu thụ vẫn giảm mạnh, nhất là nhu cầu từ các cơ sở kinh doanh ăn uống ngoài gia đình.Tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.042,6 tỷ đồng, tăng 21,08% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 4 tháng đầu năm 2021 tăng cao so cùng kỳ năm trước. Một phần do giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua. Mặt khác, do tình hình dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát tốt hơn, mức tiêu dùng hàng hóa bán lẻ đạt mức cao hơn.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 4/2021 dự ước tăng 5,21% so với tháng trước và tăng 44,11% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác dự ước tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 229,73% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ tháng 4/2021 có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm. Cùng với thời tiết chuyển mùa nắng ấm thuận lợi cho các hoạt động dịch vụ phát triển, các thành phần kinh tế cũng tập trung ổn định, mở rộng quy mô sản xuất, thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, ngành du lịch Hà Tĩnh tập trung khởi động du lịch hè 2021 với việc triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, quảng bá, các điểm du lịch tập trung chỉnh trang cơ sở vật chất để phục vụ du khách trong và ngoài nước. Với nhiều lợi thế về du lịch biển, dự tính những tháng tiếp theo sẽ là thời điểm vàng để Hà Tĩnh thu hút lượng khách lớn nhất trong năm. Đây chính là tiền đề góp phần làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành trong thời gian tới tăng lên. Tính chung 4 tháng đầu năm 2021 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 46,15% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu dịch vụ khác ước tăng 39,53%. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ 4 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ tăng trưởng cao.- Hoạt động vận tải: Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 4/2021 ước đạt tăng 2,59% so tháng trước và tăng 61,12% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước tăng 3,06% so với tháng trước và tăng 184,99% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu vận tải hàng hóa ước tăng 2,58% so với tháng trước và tăng 35,53% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 38,72% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi tháng 4/2021 khởi sắc hơn so với tháng trước, chủ yếu do những nguyên nhân sau: Đối với vận tải hành khách, do tính chất thời vụ, thời tiết chuyển sang nắng nóng nên nhu cầu sử dụng các phương tiện vận tải hành khách công cộng xe buýt và taxi tăng. Bên cạnh đó, thời điểm trong tháng rơi vào dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 Âm lịch và dịp lễ 30/4 - 01/5 lượng người du lịch, về thăm quê ở mức cao hơn so với thông thường. Đối với vận tải hàng hóa, sang tháng bắt đầu là thời điểm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng gia đình tăng cao như: điện tử, điện lạnh, nước giải khát, hàng may mặc...đã khiến cho nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng. Hơn nữa đây là thời điểm hầu hết các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng tăng; Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải trong tháng tăng do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và xuất khẩu hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty Cổ phần Cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng làm cho doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng.Nhìn chung, kinh doanh vận tải trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 4 tháng đầu năm 2021 đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước (tăng 19,4%), do năm 2020 bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, thực hiện giãn cách xã hội. Bên cạnh đó, các tháng đầu năm 2021 các đơn vị kinh doanh vận tải chấp hành đầy đủ các quy định, chất lượng dịch vụ được nâng lên. Sản xuất kinh doanh, bán buôn bán lẻ, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại dẫn đến làm tăng nhu cầu vận chuyển. Bên cạnh đó, cùng với hoạt động sản xuất ổn định của nhà máy Gang thép Formosa là một trong những động lực và là điều kiện lớn thúc đẩy sự phát triển cho dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải, hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương trở thành đầu mối trung chuyển hàng hóa và dịch vụ vận tải, kho bãi của tỉnh Hà Tĩnh.4. Chỉ số giá tiêu dùngChỉ số giá CPI tháng 4 năm 2021 tăng 0,04% so tháng trước, tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị giảm 0,04% so tháng trước, tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,07% so tháng trước, tăng 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,58%; giao thông tăng 0,67%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%); 06 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,53%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,09%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,03%); 04 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (nhóm thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông; hàng hóa và dịch vụ khác).CPI tháng 4 năm 2021 tăng so với tháng trước do các nguyên nhân chủ yếu: (1) Thời tiết chuyển dần nắng nóng, nhu cầu về điện, nước sinh hoạt, đồ dùng gia đình, dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, thực phẩm tăng. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu tuy được điều chỉnh giảm, nhưng mức giảm thấp khiến giá bình quân trong tháng vẫn đang tiếp tục đà tăng từ đầu năm đến nay, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường hàng hóa. (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng cao, bao gồm cả sắt thép lẫn xi măng phục vụ xây dựng.Chỉ số giá vàng tháng 4/2021 giảm 1,0% so với tháng trước, tăng 13,01% so với cùng tháng năm trước; Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,73% so với tháng trước, tăng 0,72% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng không ổn định, giảm mạnh vào đầu tháng và tăng mạnh từ giữa và cuối tháng. Mức giá trong tháng thời điểm thấp nhất là 5 triệu đồng/chỉ, cao nhất đạt 5 triệu 350 nghìn đồng/chỉ. Giá USD giảm nhẹ, mức giá USD tại thời điểm ngày 21/4 đạt 23.710 đồng/USD. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2021 tăng 1,04% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,85%, khu vực nông thôn tăng 0,68%.Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 5/2021 dự kiến tăng mạnh so tháng 4/2021. Các hoạt động du lịch bước vào mùa cao điểm khiến nhu cầu về dịch vụ lưu trú lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tăng. Bước vào thời điểm đầu mùa nắng nóng; nhu cầu đối với các mặt hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng thiết bị điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống, điện và nước sinh hoạt cũng dự kiến tiếp tục tăng.5. Một số vấn đề xã hội5.1. Tình hình đời sống dân cưTuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch nên đời sống của nhân dân ổn định. Tính đến ngày 15/4/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiếu đói. Dự kiến trong thời gian tới tình trạng thiếu đói không xẩy ra. 5.2. Hoạt động y tếTrong tháng, công tác y tế và vệ sinh phòng dịch tiếp tục được thực hiện, đặc biệt là phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Covid-19, và các dịch bệnh phát sinh trong thời tiết giao mùa nắng, ẩm bất thường.- Tình hình dịch bệnh: + Tình hình dịch COVID-19: Tính đến ngày 15/4/2021, toàn tỉnh có 12.932 mẫu đã xét nghiệm. Tổng số hiện đang cách ly 401 người (268 người tại Khu ký túc xá Mitraco; 133 người tại Khu nhà F, công ty FHS). Cộng dồn cách ly tập trung: 3.326 người. Hiện nay không có trường hợp cách ly, theo dõi tại cơ sở y tế. Số trường hợp cách ly tại nhà 02 người, theo dõi tại nhà 130 người. Cộng dồn theo dõi, cách ly tại nhà 71.563 người.+ Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, có 1 ca sốt xuất huyết, 93 ca viêm não do vi rút, 5 ca quai bị, 11 ca lỵ trực trùng, 13 ca lỵ amíp, 22 ca thủy đậu, 1.753 ca mắc bệnh cúm, 3 ca chân tay miệng, các ca bệnh khác không có. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước: Sốt xuất huyết tăng 1 ca, quai bị giảm 16 ca, lỵ trực trùng giảm 60 ca, lỵ amip giảm 53 ca, thủy đậu giảm 75 ca, cúm giảm 6.805 ca.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng bằng nhiều hình thức như qua phương tiện thông tin đại chúng: truyền thanh, truyền hình, báo... Trong tháng, Hà Tĩnh chỉ có 10 người nhiễm mới HIV (tăng 4 người so với cùng kỳ năm 2020), 9 người chuyển thành AIDS (tăng 5 người) và không có người chết vì AIDS. Tính chung 4 tháng, có 24 người nhiễm HIV, 19 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS.- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời. Các hoạt động bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, chỉ có 139 người bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ và không có trường hợp nào tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số vụ ngộ độc và số người tử vong không thay đổi, số người ngộ độc thực phẩm đơn lẻ tăng 54 ca (tăng 63,53%). Tính chung 4 tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 12 người bị ngộ độc và 461 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ.5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao- Hoạt động văn hóa: Việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa luôn được các cấp, các ngành quan tâm. Toàn tỉnh hiện nay đã thành lập được 165 câu lạc bộ dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh. Góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân; chú trọng công tác trùng tu, nâng cấp các công trình văn hóa ở các huyện, thị, nhiều nhà thờ đủ điều kiện đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên. Trong tháng, tổ chức 02 cuộc thanh, kiểm tra, trong đó, 01 cuộc phối hợp với đội kiểm tra liên ngành VHXH tỉnh kiểm tra tại 115 cơ sở kinh doanh dịch vụ do ngành quản lý. Qua kiểm tra đã xử phạt vi phạm hành chính 01 tổ chức, 03 cá nhân với số tiền 17 triệu đồng. 01 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra cơ bản các di tich chấp hành nghiêm túc các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên, thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 theo quy định.- Hoạt động thể thao: + Thể thao quần chúng: Hiện nay, tình hình dịch Covid-19 trong nước và Hà Tĩnh được kiểm soát tốt, nên hoạt động phong trào thể thao quần chúng trên địa bàn toàn tỉnh đã sôi động trở lại. Trong tháng diễn ra nhiều hoạt động như: Hội khỏe Phù Đổng lần thứ XIII năm 2021 diễn ra từ ngày 29-31/3 với gần 2.000 lượt vận động viên đã tham gia thi đấu 6 nội dung; Giải Việt dã toàn tỉnh năm 2021 tổ chức tại quảng trường Trần Phú, TP Hà Tĩnh, thu hút 150 vận động viên tham gia đến từ 13 huyện, thị, thành và Công an tỉnh. Hay nhiều nơi tổ chức đại hội thể dục thể thao (TDTT) như Đại hội TDTT xã Đức Liên (Vũ Quang - Hà Tĩnh) lần thứ V nhằm đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của luyện tập TDTT.+ Thể thao thành tích cao: Từ ngày 16/3-15/4, Hà Tĩnh tham gia các giải như: Giải vô địch Pencak Silat quốc gia diễn ra tại Đà Nẵng từ 18-31/3 đạt 2 huy chương (1 huy chương vàng, 1 huy chương đồng); giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên diễn ra tại Nghệ An từ ngày 22-31/3 đạt 27 huy chương (11 huy chương vàng, 5 huy chương bạc,11 huy chương đồng); giải vô địch quốc gia Marathon và cự ly dài giải Báo Tiền phong diễn ra tại Gia Lai từ ngày  23-30/3 giành 3 huy chương (1 huy chương bạc, 2 huy chương đồng). 5.4. Tai nạn giao thông Tính từ 15/3/2021 đến 14/4/2021 đã xẩy ra 10 vụ tai nạn giao thông, 6 người chết, 3 người bị thương, ước tính thiệt hại khoảng 55 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Tăng 2 vụ, giảm 2 người chết, tăng 3 người bị thương. Tất cả đều là các vụ tai nạn giao thông đường bộ. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vậy, tính từ 15/12/2020 đến 15/4/2021, Hà Tĩnh xảy ra 34 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 24 người và bị thương 14 người. So cùng kỳ năm 2020 giảm 6 vụ, giảm 12 người chết và tăng 2 người bị thương. 5.5. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/3 đến 14/4/2021 không xảy ra cháy. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ cháy, giảm 2 người chết, bị thương không đổi; trong tháng không xẩy ra vụ nổ so với cùng kỳ năm trước không thay đổi.  Tính chung 4 tháng, xẩy ra 8 vụ cháy, 1 vụ nổ, làm 2 người chết, 1 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,25 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2020 giảm 3 vụ cháy, tăng 1 vụ nổ, số người chết không thay đổi và tăng 1 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Từ ngày 15/3 đến ngày 14/4/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 8 vụ vi phạm môi trường trong đó đã xử lý 7 vụ, với tổng số tiền xử phạt 40,5 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước tăng 6 vụ vi phạm. Các hình thức vi phạm: 03 vụ khai thác, vận chuyển đá, cát trái phép; 01 vụ sử dụng kích điện đánh bắt thủy hải sản trái phép; 01 vụ lấn chiếm đất đai; 01 vụ xả nước thải từ hồ nuôi tôm vượt quá mức cho phép; 01 vụ vận chuyển, chôn lấp, đổ chất thải rắn, chất thải không đúng quy định; 01 vụ về vận chuyển gia súc bị dịch. Hình thức phạt chủ yếu là xử phạt phạt hành chính. Tính chung 4 tháng đầu năm đã phát hiện 42 vụ vi phạm môi trường (tăng 34 vụ so với cùng kỳ năm 2020), với số tiền 188,45 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH quý I năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   25/07/2024 17:03

Thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH, QPAN mà Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra; trong quý I vừa qua việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức, diễn biến thời tiết, dịch bệnh đối với các loại cây trồng và vật nuôi luôn tiềm ẩn rủi ro nhất là dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tạ lợn châu phi..vv bên cạnh đó Dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên toàn cầu, nguy cơ lây nhiễm vẫn có thể xảy ra trên địa bàn tỉnh... Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện giúp đỡ của các Bộ ngành Trung ương; sự tập trung, đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở cùng với sự nỗ lực của người dân, doanh nghiệp. Vì vậy tình hình kinh tế - xã hội quý I/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh có bước tăng trưởng khá, các lĩnh vực văn hóa xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Các kết quả cụ thể được thể hiện trên các lĩnh vực sau:1. Tài chính, ngân hàng- Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2021 còn gặp rất nhiều khó khăn.Tuy nhiên số thu này là kết quả của việc quyết liệt chỉ đạo về nhiệm vụ thu NSNN ngay từ đầu năm, tập trung vào các nhóm giải pháp về cải cách thủ tục hành chính; chống buôn lậu, gian lận thương mại; tăng cường kiểm tra sau thông quan; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/3/2021 đạt 2.889,3 tỷ đồng (giảm 16,71% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 1.563,24 tỷ đồng (chiếm 54,10 % trong tổng thu) giảm 38,23% so với cùng kỳ. Tuy nhiên thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1269,02 tỷ đồng (chiếm 43,92% tổng thu) tăng 39,74% so với cùng kỳ, nguyên nhân do đầu năm đến nay, giá thành quặng sắt trên thế giới tăng cao nên Formosa Hà Tĩnh nhập nguyên liệu về nhiều để tránh tình trạng giá cả tiếp tục leo thang. Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước quý I năm 2021 ước đạt 4.514,70 tỷ đồng giảm 9,36% so với cùng kỳ.Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 52,31% tổng chi, giảm 14,64% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 47,66% tổng chi, giảm 3,64% so với cùng kỳ năm 2020.- Hoạt động ngân hàng:       Trong quý 1/2021, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã quán triệt và chỉ đạo kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước đến các TCTD trên địa bàn, trong đó tập trung vào các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của Ngành và UBND tỉnh có liên quan đến hoạt động ngân hàng năm 2021. Tiếp tục chỉ đạo các TCTD ưu tiên nguồn vốn, đẩy mạnh cho vay các phương án, dự án có hiệu quả; thực hiện nghiêm túc cơ chế điều hành về lãi suất, cạnh tranh lành mạnh; thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn, tháo gỡ khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tính đến ngày 31/3/2021 nguồn vốn huy động ước đạt 74.971 tỷ đồng, tăng 7,08% so với cuối năm 2020, xu hướng tăng phù hợp với quy luật tự nhiên do nguồn tiền gửi dồi dào sau dịp Tết Nguyên Đán của các tổ chức, cá nhân; dư nợ cho vay ước đạt 62.951 tỷ đồng tăng 4,48% so với đầu năm, trong đó dư nợ trung dài hạn đạt 24.150 tỷ đồng chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng dư nợ (chiếm 38,36%) đã tạo điều kiện cho khách hàng ổn định nguồn tài chính để đầu tư kinh doanh, phát triển sản xuất.         Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biến ở mức 0,2% - 0,8%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,0%-4,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; mức huy động bình quân 4,5%-7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 6,6%-7,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất cho vay VND ngắn hạn phổ biến 4,5-9%/năm, trung dài hạn phổ biến 9-11%/năm; lãi suất cho vay VND ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5-5,5%/năm. Công tác quản lý ngoại hối được triển khai thực hiện nghiêm túc trên địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Mặc dù tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra phức tạp nhưng lượng người mua vàng vào ngày vía Thần Tài năm nay vẫn khá nhộn nhịp. Nhiều khách hàng đã chọn hình thức mua vàng online để tránh tình trạng chen lấn cũng như hạn chế tụ tập nơi đông người.         Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch Covid-19 thì trên địa bàn tỉnh hiện có 44 khách hàng bị ảnh hưởng (27 doanh nghiệp, 1 HTX và 16 hộ tư nhân, cá thể). Tính đến thời điểm 29/02/2021, tổng dư nợ của 44 khách hàng này là 609.779 triệu đồng. Trong đó, dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là 7.626 triệu đồng, dư nợ được giảm lãi vay là 34.009 triệu đồng với số tiền lãi đã được giảm là 14 triệu đồng. Từ 23/01/2021 đến 29/02/2021 các TCTD đã cho vay mới nhằm hỗ trợ khách hàng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh với doanh số cho vay 1.655 triệu đồng.          Bên cạnh kết quả đạt được thì việc thực hiện xử lý nợ xấu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP gặp nhiều khó khăn; chưa tìm ra hướng giải quyết. Nợ xấu toàn địa bàn chiếm 1,12% dư nợ toàn địa bàn, giảm so với cuối năm 2020 (nợ xấu cuối năm 2020 chiếm 1,14% dư nợ toàn địa bàn).2.    Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2021, giảm 0,52% so với tháng trước, tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị giảm 0,59% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,35%; Khu vực nông thôn giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 02 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,21%; Giao thông tăng 1,03%. Có 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,85%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,37%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,01%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,11%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,04%; Hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,92%. Có 03 nhóm không biến động so với tháng trước gồm: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông. Như vậy, giá nhiên liệu xăng dầu liên tục tăng từ đầu năm đến nay, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường hàng hóa. Bên cạnh đó giá vật liệu xây dựng liên tục tăng cao, một phần do chi phí vận chuyển, một phần do ảnh hưởng bởi thị trường thép thế giới tăng giá trong thời gian vừa qua. Chỉ số CPI bình quân quý I năm 2021 tăng 0,43% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng so với cùng kỳ: Giáo dục tăng 15,14%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 3,75%; Đồ uống, thuốc lá tăng 2,55%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,97%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,44%. Nguyên nhân làm cho chỉ số giá bình quân nhóm hàng giáo dục có biến động lớn so với cùng kỳ do các tháng đầu năm dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên học sinh, sinh viên tiếp tục đến trường đã tác động đến giá cả nhóm hàng giáo dục. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 4/2021 dự kiến tăng mạnh so tháng 3/2021. Yếu tố thời tiết thay đổi khiến các loại hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng mua hè như thực phẩm hoa quả, đồ uống, điện, nước sinh hoạt, hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng tăng giá. Bên cạnh đó, dịch bệnh covid-19 trong nước ổn định, giá dịch vụ du lịch lữ hành và cho thuê phòng nghỉ tại các điểm du lịch biển trong tỉnh dự kiến tăng. 3. Đầu tư và xây dựng3.1. Đầu tư phát triển Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý I ước đạt 5.514,32 tỷ đồng, bằng 74,25% so với quý trước và bằng 100,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn đầu tư nhà nước trên địa bàn thực hiện (chiếm 28,17%) tăng 15,11% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do năm 2021 kế hoạch vốn ngân sách nhà nước tăng mạnh (51,05%), trong đó vốn chương trình mục tiêu quốc gia tăng 4,67 lần so với năm 2020. Tuy nhiên so với quý trước nguồn vốn nhà nước quý này thực hiện giảm 28,94 % do các tháng đầu năm nguồn vốn chưa được giao kịp thời, các công trình mới đang trong quy trình hoàn tất hồ sơ, thủ tục triển khai, ngoài ra cũng là quý trùng với các ngày lễ kéo dài. Khu vực ngoài nhà nước, đây là khu vực chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn (chiếm 65,89%), quí I năm 2021 vốn đầu tư khu vực này tăng 14,57% so với cùng kỳ năm trước; giảm 20,95% so với quý trước. Nguyên nhân do quý này các dự án đi vào giai đoạn đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện công trình, lắp đặt máy móc thiết bị để đi vào sản xuất kinh doanh theo kế hoạch đề ra nên vốn khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 49,39% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó năm 2021 dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên xây dựng khu vực hộ dân cư khởi sắc hơn so với cùng kỳ tăng 0,24%. Khu vực vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 5,91%) giảm mạnh so với quý trước (giảm 49,28%) và cùng kỳ năm trước (giảm 66,09%). Nguyên nhân do một số dự án đang dần hoàn thiện các công trình phụ trợ; bên cạnh đó một số dự án vẫn chưa triển khai do chưa có vật liệu thi công. Tuy nhiên nguồn vốn này chiếm tỷ trọng thấp nên tác động không đáng kể đến tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong quý. Bên cạnh đó, hiện nay Hà Tĩnh đang tiếp tục thu hút các dự án trong và ngoài nước như: Thành phố giáo dục quốc tế Hà Tĩnh; dự án nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh và nhiệt điện Vũng Áng 2, hiện nay 2 dự án này nhà đầu tư đã chuyển tiền bồi thường GPMB;.... Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh đầu tư các dự án đang được đầu tư trên địa bàn tỉnh như nhà máy bia Hà Nội Nghệ Tĩnh; nhà máy sản xuất chế biến lâm sản An Việt Phát (giai đoạn 2); Khu đô thị TNR Hồng Lĩnh; Khu công nghiệp cổng khánh 1, 2 Hồng Lĩnh.... Đây sẽ là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy hoạt động xây dựng trên địa bàn trong thời gian tới. 3.2. Xây dựng Giá trị sản xuất của ngành xây dựng giảm 9,59% so với quý trước và giảm 14,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Hai khu vực chiếm tỉ trọng lớn đó là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (chiếm 41,51%) giảm 15,55% so với quý trước và giảm 18,51% so với cùng kỳ; khu vực hộ dân cư (chiếm 56,51%) tăng 2,57% so với quý trước và tăng 0,25% so với cùng kỳ... Mặc dù nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước tăng 14,57% so với cùng kỳ, tuy nhiên các dự án lớn của khu vực này như: Dự án Cảng số 3 Việt - Lào, Nhà máy bia Hoành Sơn, Nhà máy sản xuất lâm sản An Việt Phát, nhà máy gỗ MDF Thanh Thành Đạt; dự án bệnh viện quốc tế TTH Hà Tĩnh…hiện nay đã đi vào giai đoạn lắp đặt máy móc thiết bị hoàn thiện công trình để đi vào sản xuất kinh doanh theo kế hoạch đề ra nên giá trị sản xuất xây dựng khu vực này giảm. Đối với khu vực hộ dân cư các công trình thực hiện ở khu vực này chủ yếu là công trình sửa chữa và xây mới nhà ở, địa điểm kinh doanh của hộ… các tháng đầu năm thời tiết nắng ấm thuận lợi cho việc thi công; ngoài ra các công trình phụ của hộ được tập trung sửa sang chỉnh trang lại để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới nên giá trị xây dựng khu vực này tăng nhẹ. Bên cạnh đó, một số dự án từ nguồn ngân sách nhà nước có kế hoạch vốn lớn như: Các dự án ODA về hệ thống tưới tiêu, khắc phục ngập úng trên địa bàn Hà Tĩnh; Các hạng mục tu bổ đê… hiện nay đang đẩy nhanh quá trình hoàn tất hồ sơ để triển khai sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xây dựng thời gian tới. 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 22/3/2021, toàn tỉnh thành lập mới 233 doanh nghiệp, tăng 13,66% so cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký đạt 1.032 tỷ đồng, bằng 79,98% so cùng kỳ năm trước, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 4,43 tỷ đồng, bằng 70,37% so cùng kỳ năm trước. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. 3 tháng đầu năm 2021 đã giải quyết được 1.538 việc làm cho lao động mới, tăng 14,52% so cùng kỳ. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 976 lao động, chiếm 63,46% trong tổng số, quy mô bình quân 6 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 297 lao động, chiếm 19,31% trong tổng số, quy mô 3 lao động/doanh nghiệp. Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động tính từ đầu năm đến 22/3/2021 là 30 doanh nghiệp, tăng 11,11% và số tạm ngừng là 195 doanh nghiệp, tăng 34,48% so cùng kỳ năm trước. Những năm qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới luôn tăng so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng tăng khá cao. Tuy nhiên, kể từ khi đại dịch Covid 19 bùng phát từ đầu năm 2020 đến nay hoạt động của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, các chỉ tiêu số doanh nghiệp thành lập mới; số vốn đăng ký; vốn bình quân/doanh nghiệp đều giảm so với giai đoạn trước khi dịch bùng phát. Cùng với đó số doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất phải làm thủ tục giải thể; tạm ngừng hoạt động tăng lên. Vì vậy trong thời gian tới các cấp, các ngành tiếp tục triển khai quyết liệt các chương trình, kế hoạch, đề án để tháogỡ những khó khăn, hỗ trợ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp; phát triển doanh nghiệp khu vực tư nhân, hỗ trợ khởi nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo.    4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Đánh giá chung về tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2021 so với quý trước, có 27,27% doanh nghiệp đánh giá tính hình sản xuất kinh doanh tốt lên; có 36,36% cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh vẫn giữ ổn định; 36,37% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn so với quý trước tập trung một số ngành như: Chế biến gỗ; sản xuất giấy; Sản xuất sản phẩm từ cao su; SX sản phẩm từ kim loại… Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2021 khả quan hơn so quý I/2021 khi có 82,5% doanh nghiệp cho rằng SXKD quý II sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý I (trong đó 42,5% số DN dự báo tốt lên và 40% số DN dự báo giữ ổn định), bên cạnh đó chỉ có 17,5% số DN dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. Các ngành dự báo SXKD quý II/2021 tốt hơn và giữ ổn định so quý I/2021 gồm: sản xuất đồ uống 100%; Dệt 100%; Sản xuất trang phục 100%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 100%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị 100%. Trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 4 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là: "nhu cầu thị trường trong nước thấp" chiếm 63,6%, "tính cạnh tranh của hàng trong nước cao" chiếm 56,8%, “Khó khăn về tài chính” chiếm 47,7%, “Thiếu nguyên, nhiên vật liệu” chiếm 38,6%. 5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 5.1. Trồng trọt 5.1.1 Kết quả chính thức vụ Đông 2020-2021   - Cây ngô: Diện tích ngô vụ Đông 2020-2021 tăng 988 ha so với cùng kỳ. Trong đó, ngô sinh khối đạt 1.167 ha, bằng 115,19% (tăng 154 ha) so với cùng kỳ, chiếm 25,81% tổng diện tích ngô.Nguyên nhân diện tích ngô tăng so với cùng kỳ là do vụ Đông năm 2019 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Năng suất ngô vụ Đông giảm nhẹ 0,41 tạ/ha nhưng sản lượng ngô vẫn tăng 3.068 tấn so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất ngô giảm nhẹ so với cùng kỳ do ảnh hưởng bởi lũ lụt vào trung tuần tháng 10/2020 nhưng do diện tích tăng mạnh nên sản lượng ngô tăng cao so với cùng kỳ năm trước. - Cây lấy củ có chất bột: Tổng diện tích đạt 1.469 ha, bằng 99,61% (giảm 6 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là cây khoai lang (đạt 1.444 ha), tương đương với diện tích gieo trồng cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang tăng 1,02 tạ/ha với sản lượng khoai lang tăng 145 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do sử dụng các giống khoai lang có chất lượng nên năng suất tăng, cùng với diện tích gieo trồng ổn định nên sản lượng khoai lang tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. - Cây lạc: Tổng diện tích đạt 25 ha (huyện nghi Xuân 22 ha và huyện Đức Thọ 3 ha), giảm 2 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất lạc giảm 1,67 tạ/ha với sản lượng lạc giảm 8 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết đầu vụ Đông ở Hà Tĩnh thường nhiều mưa, việc gieo trồng lạc gặp khó khăn, người dân ít gieo trỉa mà chủ yếu sản xuất lạc vụ Xuân nên kết quả vụ Đông là không đáng kể. - Cây rau, đậu, hoa và cây cảnh các loại: Diện tích nhóm rau, đậu, hoa và cây cảnh chính thức đạt 4.705 ha, bằng 95,85% (giảm 204 ha), trong đó: diện tích rau các loại chính thức đạt 4.700 ha, bằng 95,9% (giảm 201 ha). Nguyên nhân diện tích rau giảm là do nhiều diện tích rau ở các huyện đã gieo trỉa trước ngày 15/10/2020 bị ngập lụt gây hư hỏng. Năng suất rau các loại tăng 3,26 tạ/ha với sản lượng rau tăng 353 tấn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích rau giảm nhưng do vào thời điểm rau sinh trưởng thời tiết rất thuận lợi nên rau sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao đã làm cho sản lượng rau tăng so với cùng kỳ năm trước.         5.1.2. Kết quả sản xuất vụ Xuân 2021         Xác định vụ Xuân là vụ sản xuất chính trong năm đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Kết quả sản xuất vụ Xuân 2021, tổng diện tích gieo cấy lúa ước tính giảm 0,28% (giảm 166 ha) so với cùng kỳ năm trước và tăng 111 ha so với kế hoạch. Trong đó, diện tích lúa gieo thẳng ước đạt 47.789 ha, chiếm 80,8% tổng diện tích lúa; Diện tích ngô ước tính giảm 5,17% (giảm 268 ha) so với cùng kỳ năm trước và tăng 701 ha so với kế hoạch; Diện tích khoai lang ước tính giảm 14,06% (giảm 206 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 374 ha so với kế hoạch; Diện tích lạc ước tính giảm 11,77% (giảm 1.261 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 1.661 ha so với kế hoạch; Diện tích rau các loại ước tính giảm 9,49% (giảm 528 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 244 ha so với kế hoạch. Như vậy, chỉ có diện tích lúa và ngô là đạt còn các loại cây trồng chủ lực khác vụ Xuân 2021 đều không đạt kế hoạch đặt ra và giảm hơn so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó giảm mạnh nhất là diện tích lạc. Bên cạnh nguyên nhân do trời mưa, đất ướt và thời vụ gieo trồng trùng với dịp Tết thì do trồng lạc mất rất nhiều công chăm sóc, đặc biệt là khâu thu hoạch và sau khi trừ chi phí thì thu nhập không còn được bao nhiêu.Vì vậy, nhiều hộ nông dân đã giảm diện tích trồng lạc, chuyển sang trồng ngô.          5.1.3. Cây lâu năm         Cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Diện tích cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh có đến cuối năm 2020 là 31.449 ha, trong đó: diện tích cây ăn quả là 18.431 ha, chiếm 58,6% tổng diện tích cây lâu năm; Diện tích cao su là 9.096 ha, chiếm 28,9% tổng diện tích cây lâu năm và diện tích chè là 3.057 ha, chiếm 9,7% tổng diện tích cây lâu năm. Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh, hiện nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Hiện nay cây ăn quả trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định. 5.1.4. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại Hiện nay, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, trên cây lúa, bệnh đạo ôn phát sinh gây hại trên các giống Thiên ưu 8, Khang dân 18, BT09, Bắc Hương 9, BH9, ADI168, Thái xuyên 111, tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ một số diện tích ở Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên tỷ lệ 30%, diện tích 33,25ha, phân bố hầu hết ở các địa phương trong tỉnh; Ốc bươu vàng gây hại ở vùng sâu trũng, ruộng ngập nước ở các địa phương trong tỉnh, mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 5-7con/m2, diện tích 62 ha, ốc chủ yếu là trưởng thành, non; Chuột gây hại trên lúa gieo thẳng, tỉ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 23 ha, phân bố ở Thạch hà, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh. Cây lạc, bệnh nấm mốc gốc đen, lở cổ rễ phát sinh gây hại, tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, diện tích 4 ha, tại các huyện Thạch Hà, Vũ Quang. Cây ngô sâu cắn lá, sâu keo mùa thu gây hại với mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 3-5con/m2, diện tích 21 ha; Bệnh sương mai với tỷ lệ 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích 5 ha, tập trung ở Vũ Quang; Bệnh đốm lá tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 10-15%, diện tích 12,5 ha, tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn Cây ăn quả có múi bệnh chảy gôm tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 13 ha, tập trung ở Hương Khê, Vũ quang; Sâu vẽ bùa tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 10-17%, diện tích 52 ha, tập trung ở Vũ Quang, Hương Khê; Sâu nhớt mật độ 1-2con/cành, nơi cao 3-5 con/cành, diện tích 35 ha; Sâu róm mật độ trung bình 0,5-1 con/cành, nơi cao 2 con/cành, diện tích 30 ha, tập trung ở Hương Khê; Nhện nhỏ diện tích 5ha, sâu xanh bướm phượng 8 ha, tập trung ở vùng trồng cây ăn quả Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn. Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang trong quá trình sinh trưởng mạnh nên cần tập trung phòng, trừ sâu bệnh để tránh thiệt hại, nhất là bệnh đạo ôn gây hại đối với cây lúa.         5.2. Chăn nuôi Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2021 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi. Đàn đại gia súc trâu, bò số lượng tổng đàn ổn định, sản lượng thịt hơi tăng so với cùng kỳ năm trước do chăn nuôi lợn gặp khó khăn, giá lợn vào dịp tết vẫn tương đối cao trong khi giá thịt bò ổn định hơn nên nhu cầu tiêu dùng thịt bò vẫn cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra trên địa bàn tỉnh, chăn nuôi lợn còn khó khăn nhưng việc tái đàn đã được thực hiện và tổng đàn lợn đang có xu hướng tăng lên so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo nguồn cung lợn thịt phục vụ nhu cầu của người dân trên địa bàn, nhất là dịp Tết vừa qua. Tổng số lượng và sản lượng gia cầm tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia cầm trên địa bàn chủ yếu là chăn nuôi gà với số lượng gà chiếm 85,88% tổng đàn gia cầm và sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng chiếm 77,01% tổng sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng trong qúy I năm 2021. Trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì phát triển chăn nuôi gia cầm là phù hợp, nhất là đối với chăn nuôi nông hộ.                Tình hình dịch bệnh, thiệt hại:Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh đang có các loại dịch bệnh chưa qua 21 ngày: bệnh viêm da nổi cục trên trâu bò có 2.687 con/1.988 hộ/422 thôn/108 xã/9 huyện. Tổng số gia súc mắc bệnh chết, tiêu hủy 166 con, khối lượng 19,8 tấn; Dịch tả lợn Châu Phi tại 9 xã/5 huyện (Đức Thọ, Hương Sơn, Cẩm Xuyên, thị xã Kỳ Anh, Nghi Xuân). Số con mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 323 con; Bệnh cúm gia cầm 9H5N6) đang xảy ra tại xã Lưu Vĩnh Sơn (huyện Thạch Hà).          5.2. Lâm nghiệp Mặc dù các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2021. Tuy nhiên, do diện tích rừng trồng chủ yếu là rừng sản xuất nên kết quả trồng rừng phụ thuộc vào chu kỳ khai thác. Kết quả trồng rừng tập trung quý I/2021 không có nhiều biến động, chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Năm 2021, theo kế hoạch thì toàn tỉnh sẽ trồng khoảng hơn 3 triệu cây xanh, ngoài hơn 1 triệu cây xanh đã trồng, số còn lại sẽ được các địa phương tiếp tục thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Sản lượng gỗ thường phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng sản xuất nên thường thiếu ổn định giữa các tháng. Kết quả sản lượng gỗ khai thác trong quý I/2021 tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi đang có xu thế ngày càng giảm do nhu cầu sử dụng giảm.                  Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 5 vụ phá rừng (giảm 4 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,52 ha (giảm 1,84 ha) so với cùng kỳ năm trước.         5.3. Thủy sản Tổng sản lượng thủy hải sản quý I/2021 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác những chuyến biển đầu năm đạt khá với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế, nhất là được mùa cá cơm, cá đù, sứa...Với giá bán sản phẩm ổn định nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác hải sản. Cùng với đó, các hộ nuôi trồng cũng thu hoạch sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết. Tuy nhiên, do diện tích nuôi trồng mà nhất là các ao nuôi nhỏ trong dân ngày càng giảm nên sản lượng nuôi trồng giảm so với cùng kỳ năm trước.    Vụ tôm Xuân Hè 2021 toàn tỉnh dự kiến sẽ sản xuất trên diện tích 2.526 ha với hơn 869 triệu con giống. Trong đó: thành phố Hà Tĩnh 310 ha, thị xã Kỳ Anh 510 ha, huyện Kỳ Anh 591 ha, Cẩm Xuyên 300 ha, Thạch Hà 266 ha, Lộc Hà 125 ha, Nghi Xuân 424 ha. Hiện nay, tranh thủ thời tiết nắng ráo, các hộ nuôi tôm đang tích cực xử lý, cải tạo ao nuôi và xuống giống đảm bảo đúng lịch thời vụ. Tôm vẫn đang là sản phẩm nuôi chủ lực của địa phương. Nuôi tôm theo hướng thâm canh - an toàn sinh học nhằm giúp tôm tăng sức đề kháng, hạn chế dịch bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo VSATTP vẫn đang là hướng đi được Hà Tĩnh mở rộng trong vụ nuôi năm nay và hy vọng vụ tôm Xuân Hè 2021 sẽ thắng lợi. Trong tháng, dịch đốm trắng xuất hiện gây hại trên tôm với diện tích nhiễm bệnh 1,7 ha, tại thành phố Hà Tĩnh và huyện Lộc Hà. 6. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2021 ước tính tăng 9,54% so với tháng trước và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, do sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các doanh nghiệp đã trở lại hoạt động bình thường. Tính chung quý I năm 2021, thì chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 17,53% so cùng kỳ năm trước. Như vậy chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng trở lại sau mức giảm nhẹ của cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao tiếp tục ổn định hoạt động sản xuất (cùng kỳ năm trước sản lượng giảm do gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng bảo dưỡng thiết bị đặc biệt là ngành sản xuất kim loại Công ty Formosa Hà Tĩnh). Quý I năm 2021, trong mức tăng chung 17,53% của toàn ngành công nghiệp thì ngành khai khoáng đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 18,12 điểm phần trăm (là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện đóng góp âm 0,17 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải đóng góp âm 0,44 điểm phần trăm. Tính chung 3 tháng đầu năm 2021 trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 13 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 6 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 43,2%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 32,55%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 28,56%; Sản xuất kim loại tăng 27,91%; Sản xuất đồ uống tăng 19,62%; Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 19,58%;… Bên cạnh đó còn có 12 nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 27,64%; Sản xuất trang phục giảm 21,95%; Khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 14,73%; In, sao chép bản ghi các loại giảm 13,02%; Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 9,48%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 8,91%;…  Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2021 ước tăng 9,19% so với tháng trước và tăng 8,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý 1/2021, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp tăng 24,75% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, 3 tháng đầu năm 2021 nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo. Để đạt được kết quả trên là nhờ đóng góp tích cực của 5 nhóm ngành: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 820,04%; Sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 147,65%; Sản xuất kim loại tăng 27,26%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,34%; Sản xuất đồ uống tăng 6,73%. Tuy nhiên, bên cạnh đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 63,61%; Sản xuất trang phục giảm 46,72%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 43,63%; Dệt giảm 27,12%: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 19,05%… Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2021 tăng 34,56% so với tháng trước và tăng 70,84% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 783,69% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Ngoài ra chỉ số tồn kho tăng cao do một số ngành như: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 75,6%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 69,26%; Chế biến gỗ và sản xuất từ các sản phẩm từ gỗ tăng 37,09%. Có 2 ngành công nghiệp chỉ số tồn kho giảm mạnh so với cùng kỳ là ngành dệt giảm 69,38% và ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máymóc, thiết bị) giảm 47,55%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng 3/2021 tương đối ổn định, không có sự thay đổi nhiều so với tháng 2/2021. Lao động của toàn ngành công nghiệp tháng 3/2021 tăng 0,6% so với tháng 2/2021, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước giảm 0,31% và cộng dồn 3 tháng đầu năm giảm 2,05% so với cùng kỳ năm trước.        7. Thương mại, dịch vụ 7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa Quý I năm 2021, tình hình hoạt động kinh doanh trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn. Dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng. Giá cả nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao so với cùng kỳ năm trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2021 ước đạt 3.412,94 tỷ đồng, giảm 13,88% so với tháng trước và tăng 17,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Xăng dầu các loại tăng 37,41%; Hàng may mặc tăng 38,38%; Nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 43,73%; Đá quý, kim loại tăng 36,65%; Nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 13,20%. Nguyên nhân tổng mức bán lẻ tháng 3/2021 giảm so với tháng trước là do: (1) Do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời điểm tháng sau Tết nhu cầu và giá cả các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, phương tiện đi lại, đá quý đạt thấp hơn. Trong khi các nhóm vật liệu xây dựng tăng giá. (2) Do ảnh hưởng của thị trường thế giới tác động đến giá cả các loại hàng hóa trong nước. Các nhóm hàng hóa chịu ảnh hưởng gồm sắt thép, đá quý, nhiên liệu xăng dầu, khí đốt hóa lỏng. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa Quý 1 năm 2021: Mặc dù tháng 3/2021 có sự sụt giảm so với tháng trước nhưng do nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao trong dịp Tết nên tính chung 3 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hoá vẫn duy trì được mức khá. Ước quý I/2021 tổng mức bán lẽ hàng hóa đạt 11.700,21 tỷ đồng, tăng 12,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 5.323,97 tỷ đồng, tăng 21,89%; Hàng may mặc ước đạt 686,80 tỷ đồng, tăng 16,53%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.303,65 tỷ đồng, tăng 10,12%; Vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 68,99 tỷ đồng, tăng 15,13%; Gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 471,51 tỷ đồng, tăng 7,0%; Ô tô con ước đạt 1.006,51 tỷ đồng, giảm 4,1%; Phương tiện đi lại trừ ô tô con ước đạt 577.04 tỷ đồng, giảm 0,16%; Xăng dầu các loại ước đạt 960.07 tỷđồng, tăng 10,57%; Nhiên liệu khác ước đạt 174,48tỷ đồng, tăng 20,65%; Đá quý, kim loại quý các loại ước đạt 185.07 tỷ đồng, tăng 1,03%; Hàng hóa khác ước đạt 641,20 tỷ đồng, giảm 3,34%; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt 300.92 tỷ đồng, tăng 17,73% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong quý I năm 2021 tăng cao so quý trước. Một phần do thời điểm cùng quý năm trước chịu ảnh hưởng của đợt bùng phát lần thứ 2 của dịch Covid-19, doanh thu bán lẻ cùng kỳ đạt thấp. Mặt khác, mặt bằng giá cả cũng tăng mạnh, tác động đến doanh thu bán hàng hóa. Dự báo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn trong thời gian tới vẫn tiếp tục có xu hướng tăng, nhưng với mức tăng không cao. Lượng cung hàng hóa vẫn dồi dào về số lượng, đa dạng về chủng loại, đảm bảo về chất lượng và sẽ đáp ứng được đầy đủ sức mua của người tiêu dùng. Một số nhóm hàng hóa có thể sẽ tăng cao như: Hàng lương thực, thực phẩm; hàng may mặc; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình; vật liệu xây dựng...    7.2. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác 7.2.1. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành        - Ước tháng 3/2021 doanh thu đạt 439,74 tỷ đồng, tăng 4,24% so với tháng trước và tăng 42,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 16,49 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 421,65 tỷ đồng, tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 44,76% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,6 tỷ đồng, tăng 18,63% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 209,06%. Nguyên nhân tăng là do hoạt động du lịch, lữ hành trong tháng chủ yếu là hình thức du lịch tâm linh, khách đi lễ và tham quan, vãn cảnh đầu năm. Bên cạnh đó trong tháng trùng vào ngày Quốc tế phụ nữ 08/3 và kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn 26/3 nên lượng khách thập phương và địa phương dâng hương hoa tri ân tại các địa chỉ đỏ như Ngã ba Đồng Lộc, khu tưởng niệm Hà Huy Tập, Khu tưởng niệm Lý Tự Trọng...tăng hơn so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do đặc thù về vị trí địa lý, diện tích địa bàn nhỏ, nên khách tham quan không có thời gian lưu lại hoặc lưu lại ngắn. - Tính chung Quý I năm 2021,doanh thu hoạt động l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 1.311,33 tỷ đồng, tăng 13,14% so với cùng kỳ, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú đạt ước 48,62 tỷ đồng, giảm 25,20%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 1.258,37 tỷ đồng, tăng 15,44% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 4,34 tỷ đồng, tăng 7,53% so với cùng kỳ năm trước. 7.2.2. Hoạt động dịch vụ khác: - Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 3/2021 ước đạt 166,58 tỷ đồng, tăng 0,93% so với tháng trước và tăng 51,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có mức tăng cao như: Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 3,65% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 65,9% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do trong tháng thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng, các công trình xây dựng cơ bản tiếp tục thi công sau dịp nghỉ Tết nên dịch vụ thuê máy móc, thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng cũng tăng. Các dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, thuê xe, dịch vụ thuê đồ dùng cá nhân và gia đình tăng. Đó là các nguyên nhân chính khiến cho doanh thu nhóm dịch vụ hành chính, dịch vụ hỗ trợ tăng.        - Tính chung Quý 1 đầu năm 2021, doanh thu dịch vụ khác thực hiện ước đạt 495,31 tỷ đồng, tăng 23,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nhóm kinh doanh bất động sản đạt 53,74 tỷ đồng, tăng 4,19%; Hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 106,20 tỷ đồng, tăng 35,46%; Giáo dục đào tạo ước đạt 21,93 tỷ đồng, giảm 9,36%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 47,68 tỷ đồng, tăng 4,97%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 49,18 tỷ đồng, tăng 7,76%; Dịch vụ khác ước đạt 216,57 tỷ đồng, tăng 39,26%, trong đó dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 50,85 tỷ đồng, tăng 16,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ 3 tháng đầu năm so với cùng kỳ có mức tăng trưởng mạnh. Nguyên nhân là do cùng thời điểm này Dịch Covid-19 đã bùng phát mạnh làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội. Năm nay, mặc dù dịch bùng phát ở một số tỉnh nhưng Hà Tĩnh vẫn được kiểm soát chặt chẽ, các đơn vị kinh doanh vẫn hoạt động bình thường với những biện pháp phòng dịch hiệu quả, đảm bảo thực hiện mục tiêu kép, phục hồi và phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo công tác phòng chống dịch. 7.3. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tháng 3/2021 ước đạt 463,03 tỷ đồng, tăng 0,37% so tháng trước và tăng 15,92% so cùng kỳ năm trước.Vận tải hành khách ước đạt 143 tỷ đồng, giảm 5,76% so với tháng trước và tăng 23,18% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 254,9 tỷ đồng, tăng 3,21% so với tháng trước và tăng 11,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 65,13tỷ đồng, tăng 4% so với tháng trước và tăng 17,23% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nhu cầu đi lại giảm xuống bên cạnh đó sản xuất kinh doanh quay trở lại hoạt động bình thường nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng lên. Tính chung 3 tháng đầu năm 2021 doanh thu vận tải ước tính đạt 1.415,59 tỷ đồng, tăng 9,97% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 439,1 tỷ đồng, tăng 11,04%; Vận tải hàng hóa ước tính đạt 764,01 tỷ đồng, tăng 5,51%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 212,48 tỷ đồng, tăng 26,67% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời điểm đầu năm 2020 dịch Covid-19 mới bùng phát nên người dân tập trung cao cho công tác phòng chống dịch, hạn chế đi lại, học sinh, sinh viên được nghỉ học dài ngày. Năm nay, mặc dù những tháng đầu năm dịch bệnh tái bùng phát trên phạm vi nhiều tỉnh thành của cả nước, tuy nhiên người dân an tâm hơn nên nhu cầu đi lại tăng. Bên cạnh đó các hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn diễn ra bình thường, nhu cầu vận tải hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng tăng. Đó là những nguyên nhân chính khiến cho doanh thu vận tải hành khách và hàng hóa tăng so với cùng kỳ. Điểm đáng chú ý dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải những tháng đầu năm 2021 tăng trưởng cao so cùng kỳ năm trước. Đó chính là nhờ hoạt động sản xuất ổn định Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh với lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu thông qua cảng ở 2 bến cầu cảng 1 và 2 cảng Vũng Áng đã được khai thác. 8. Các vấn đề xã hội       8.1. Dân số, lao động và việc làm Nhìn chung quý I năm 2021, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh thuận lợi hơn so với năm trước. Mặc dù dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào đầu năm 2021, nhưng với sự quan tâm và chỉ đạo của chính quyền các cấp nên ở Hà Tĩnh ít bị ảnh hưởng bởi dịch, các hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ vẫn diễn ra bình thường, nhiều doanh nghiệp đã khởi động các kế hoạch đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao nhu cầu sử dụng lao động, nên tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I năm 2021 ước tính 695.257 người, chiếm khoảng 53,48% dân số toàn tỉnh; trong đó lực lượng lao động là nam 334.088 người (chiếm 48,05% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động nữ là 361.169 người (chiếm 51,95% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm 678.693 người (chiếm 97,62% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); số người không có việc làm là 16.564 người (chiếm 2,38% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,08%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 51,32% trong tổng số (tương ứng 348.325 người); Công nghiệp - Xây dựng chiếm 17,51% (tương ứng 118.866 người); Thương mại - Dịch vụ chiếm 31,17% (tương ứng 211.502 người). Ước tính quí I/2021 số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 5.952 người, đạt 27,05% kế hoạch năm 2021, tăng 43,35% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 2.866 người, tăng 25,76%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 907 người, tăng 57,74%; xuất khẩu lao động 2.179 người, tăng 55,75%. Thị trường xuất khẩu lao động ở Hà Tĩnh chủ yếu làm việc tại Nhật Bản là 1.290 người, chiếm 59,2% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; Đài Loan là 758 người, chiếm 34,79%; còn lại các nước khác là 131 người, chiếm 6,01%. 8.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội         Trong quý I năm 2021, nhìn chung tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh còn gặp nhiều khó khăn. Dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng. Giá cả nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân. Cùng với đó tình hình chăn nuôi cũng bấp bênh do tình hình dịch bệnh diễn biến bất thường. Trước tình hình đó các cấp các ngành đã tăng cường công tác kiểm tra giám sát nhằm đảm bảo nguồn thực phẩm đạt chất lượng. Huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chỉ đạo ưu tiên hỗ trợ vay vốn sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, nên tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh không xảy ra, đời sống dân cư quý I năm 2021 ổn định so với cùng kỳ năm trước. Các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội thực hiện đầy đủ, kịp thời. Quí I/2021, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 201.948 suất quà với tổng số tiền khoảng 71,24 tỷ đồng. Trong đó, quà cho người có công: 97.624 suất quà trị giá khoảng 29,33 tỷ đồng; quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất quà trị giá khoảng 16,99 tỷ đồng; và 83.630 suất quà trị giá khoảng 24,92 tỷ đồng cho các đối tượng khác. Đồng thời, trao tặng 07 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 34,5 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 144 nhà kinh phí khoảng 9.210 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 19 nhà kinh phí khoảng 1.110 triệu đồng. Bên cạnh đó, đã cấp khoảng 19.416 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 29.789 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 124.254 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 37.101 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. 8.3. Hoạt động giáo dục đào tạo năm học 2020-2021 - Giáo dục phổ thông: +Giáo dục mầm non: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 254 trường mầm non, giảm 11 trường so với cùng kỳ năm trước do sát nhập xã và 2.805 lớp tăng 7,51%. Tổng số giáo viên 5.254 giáo viên tăng 3,22%; học sinh nhà trẻ 3.457 em và mẩu giáo 75.693 em. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi có 13/13 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn. + Giáo dục tiểu học: Trên địa bàn tỉnh có 221 trường, giảm 20 trường so với cùng kỳ năm trước do sát nhập xã và có 4.030 lớp, tăng 2,23%; tổng số giáo viên giảng dạy 5.376 giáo viên, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; tổng số học sinh có 121.209 học sinh, tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (6-10 tuổi) ở cấp tiểu học là 117.706 em, chiếm tỷ lệ 97,11%. Toàn tỉnh có 184 (tỉ lệ 83,26%) trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 107 trường (tỉ lệ 48,42%) đạt chuẩn mức độ 2. Có 100% xã, phường, thị trấnđạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3. +Giáo dục Trung học: Trung học cơ sở có 147 trường, giảm 3 trường so với cùng kỳ năm trước, do sát nhập xã và có 2.366 lớp, giảm 0,17%; tổng số học sinh 78.464 học sinh, tăng 3,53%; tổng số giáo viên giảng dạy có 4.599 giáo viên, giảm 2,13% so với cùng kỳ năm trước. Học sinh học đúng tuổi (11-14 tuổi) ở cấp trung học cơ sở có 76.045 em, chiếm tỉ lệ 96,92%. Toàn tỉnh có 125 trường THCS (tỉ lệ 85,03%) đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 6 trường (tỉ lệ 4,08%) đạt chuẩn mức độ 2. Trung học phổ thông: Có 45 trường, giảm 01 trường so với cùng kỳ năm trước và có 1.200 lớp, giảm 0,99%; tổng số học sinh 43.859 học sinh, tăng 0,1%; tổng số giáo viên 2.776 giáo viên, tăng 0,29% so với cùng kỳ năm trước. Học sinh học đúng tuổi (15-17 tuổi) ở cấp THPT có 42.701 em, chiếm tỉ lệ 97,36%. Toàn tỉnh có 33 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 73,33%, trong đó chưa có trường nào đạt chuẩn mức độ 2. - Giáo dục đào tạo:Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chỉ có 1 trường Đại học (Đại học Hà Tĩnh), có 206 giáo viên, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: trình độ trên đại học 191 người; đại học, cao đẳng 15 người. Tổng số học sinh đang học tại trường là 1.657 học sinh, trong đó: hệ đại học có 1.584 học sinh và hệ cao đẳng có 73 học sinh; số học sinh tuyển mới 336 học sinh, trong đó: tuyển mới hệ đại học là 317 học sinh và hệ cao đẳng 19 học sinh. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Trong đó chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghề cập nhật thông tin thị trường lao động. Với những nỗ lực đó, trong quý I năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 463 người. Trong đó: trình độ trung cấp 120 người; trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên khoảng 343 người. 7.4. Hoạt động Y tế Quý I/2021, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; bảo đảm tốt công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý hành nghề y, dược ngoài công lập và công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định của pháp luật. - Tình hình dịch bệnh: Công tác bảo đảm an ninh y tế; công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động; đặc biệt là dịch COVID-19, phát hiện sớm, kịp thời khống chế không để dịch lớn xảy ra; ứng phó kịp thời với các tình huống khẩn cấp, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm, dịch bệnh mới. Củng cố vững chắc hệ thống tiêm chủng, tăng cường công tác phòng, chống bệnh lao, bệnh sốt rét; giảm số mắc và chết do các bệnh truyền nhiễm. Tính đến ngày 17/3/2021, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19; hiện có 20 người cách ly tại cơ sở y tế; 293 người cách ly tập trung, cộng dồn cách ly tập trung toàn tỉnh là 2.623 người, số hoàn thành cách ly 2.330 người; công tác quản lý theo dõi, cách ly tại nhà 09 người, theo dõi tại nhà 671 người, tính từ ngày 29/1/2021 đến nay, theo dõi, cách ly tại nhà 71.134 người. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định. Tính từ ngày 16/02-15/3/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh 3 ca mắc bệnh quai bị, 10 ca mắc lỵ trực trùng; 12 ca mắc lỵ a míp; 59 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.871 ca mắc bệnh cúm. Tính chung quý I/2021 có 34 ca mắc bệnh sốt rét, giảm 37 ca so với cùng kỳ năm 2020; 11 ca mắc bệnh quai bị, giảm 8 ca; 31 ca mắc lỵ trực trùng, giảm 18 ca; 45 ca mắc lỵ a míp, giảm 1 ca; 82 ca mắc bệnh thủy đậu, giảm 2 ca; 5.879 ca mắc bệnh cúm, giảm 1.157 ca. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành Y tế và các địa phương đã tích cực phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, các ban, ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS đến mọi người dân bằng nhiều hình thức khác nhau. Đồng thời tiếp tục duy trì hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại cả 03 cơ sở điều trị. Tính từ 16/02-15/3/2021 Hà Tĩnh chỉ có 4 người nhiễm mới HIV (tăng 1 người so với cùng kỳ năm 2020), 4 người chuyển thành AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Như vậy, tính từ ngày 16/12/2020-15/03/2021 có 14 người nhiễm mới HIV (giảm 01 người so với cùng kỳ năm 2020), 10 người chuyển thành AIDS (giảm 2 người) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Thời gian qua, hoạt động thanh tra, kiểm tra được tổ chức thường xuyên theo các hình thức chuyên ngành, liên ngành, đã phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm, ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm về an toàn thực phẩm. Tính từ ngày 16/02-15/3/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra 1 vụ ngộ độc tập thể (tại xã Sơn Lộc, huyện Can Lộc) làm 12 người bị ngộ độc; ngoài ra, còn có 115 ca bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ; không có người chết vì ngộ độc. Tính chung quý I/2021 (từ 16/12/2020-15/3/2021) xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 12 người bị ngộ độc, ngoài ra còn có 322 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (riêng dịp Tết Nguyên Đán (từ ngày 10/02-16/02/2021) không xảy ra ngộ độc tập thể, chỉ có 31 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ); so với cùng kỳ năm 2020 tăng 1 vụ ngộ độc tập thể và tăng 12,59% ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ.  8.5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Quý I/2021 trùng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Tết Nguyên đán, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 tái bùng phát ở nhiều tỉnh thành trên cả nước nên Hà Tĩnh đã dừng các chương trình nghệ thuật và các hoạt động văn hóa, thể thao, chủ yếu tập trung chỉ đạo triển khai các cụm pano, áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn toàn tỉnh. Bên cạnh đó, các lễ hội như: lễ hội chùa Hương Tích, lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác... cũng chỉ thực hiện phần lễ, không thực hiện phần hộinhằm đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dân. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong quý I/2021, các di tích đều thực hiện tốt Công điện của Bộ VH,TTDL và chỉ đạo của UBND tỉnh về thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 gây ra. Ngoài ra, Sở Văn hóa, thể thao & Du lịch Hà Tĩnh thực hiện cấp 51giấy phép, trong đó: 4 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, 2 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch, 1 giấy phép thuộc lĩnh vực thể thao và 44 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. Sở Văn hóa, thể thao & Du lịch Hà Tĩnh đồng thời phối hợp với đội kiểm tra liên ngành văn hóa xã hội tỉnh kiểm tra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trước, trong và sau tết. Tổ chức kiểm tra tại 80 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh; lập 55 biên bản kiểm tra, nhắc nhở các đơn vị chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống dịch; ban hành 01 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 10 triệu đồng. Tổ chức kiểm tra công tác phòng chống dịch Covid 19 tại Chùa Hương, Đền Củi, Đền Cả. - Hoạt động thể thao: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp từ ngày 27/01/2021 đến nay, các hoạt động thể dục thể thao quần chúng có phần trầm lắng. Trước thời điểm dịch bùng phát trở lại, các hoạt động thể thao quần chúng vẫn diễn ra đa dạng, nhằm nâng cao sức khỏe như: Đại hội Điền kinh - thể thao học sinh (từ ngày 11/12/2020-22/2021) do ngành Giáo dục TP Hà Tỉnh tổ chức; Đại hội Điền kinh - thể thao học sinh năm học 2020 - 2021 do ngành Giáo dục huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tổ chức diễn ra từ ngày 27 - 28/01; Giải Việt dã 2021 “Tiếp sức cùng đồng đội” do CLB Hà Tĩnh Runners tổ chức sáng ngày 17/01, tại Công viên trung tâm TP Hà Tĩnh. Thể thao thành tích cao: Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid -19 nên trong quý I năm 2021 diễn ra rất ít giải, Hà Tĩnh giành được 01 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 7 huy chương đồng tại giải vô địch Pencak Silat Thanh Hóa mở rộng diễn ra từ ngày 26/12/2020 với 200 VĐV đến từ 16 tỉnh, thành, ngành trên cả nước. 8.6. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội - Về an toàn giao thông: Từ ngày 15/02 - 14/3/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ so với cùng kỳ năm trước không thay đổi, làm chết 6 người (giảm 2 người), bị thương 6 người (tăng 4 người). Như vậy, tính từ 15/12/2020 đến 14/3/2021 đã xẩy ra 24 vụ tai nạn giao thông, 18 người chết, 11 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 8 vụ; giảm 10 người chết; giảm 1 người bị thương. Tất cả đều là tai nạn giao thông đường bộ nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.  - Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu, tính từ ngày 10/02/2021- 16/02/2021 đã xảy ra 5 vụ phạm pháp hình sự (không đổi so với cùng kỳ năm trước), trong đó cố ý gây thương tích 03 vụ làm 02 người chết, 02 người bị thương. Phát hiện, bắt giữ 434 vụ, 437 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép (tăng 135 vụ, 177 đối tượng so với cùng kỳ năm 2020). Do tăng cường công tác tuyên truyền, vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ vào pháo (thu hồi 1,2kg pháo và 165 quả pháo các loại); triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp đấu tranh, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về pháo nên tình trạng sử dụng pháo trên địa bàn tỉnh giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2020, đặc biệt không xảy ra tình trạng nổ mìn, pháo tự chế, không có trường hợp bị thương do đốt pháo nổ; tai nạn khác 04 vụ, làm 03 người chết, bị thương 01 người. 8.7. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/02/2021 đến ngày 14/3/2021) đã xảy ra 2 vụ cháy, không có người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 100 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, người chết và bị thương không thay đổi; trong tháng không xảy ra vụ nổ. Tính chung quý I/2021 (từ ngày 15/12/2020-14/3/2021) xảy ra 8 vụ cháy, làm chết 02 người, thiệt hại ước tính 2,25 tỷ đồng; xảy ra 01 vụ nổ, do nổ bình làm bị thương 01 người so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người bị thương.- Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh đã phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường, tăng 5 vụ so với cùng kỳ 2020; đã xử lý 8 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 35 triệu đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm 2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 34 vụ (tăng 28 vụ so với cùng kỳ năm 2020); đã xử lý 17 vụ, với số tiền xử phạt 147,95 triệu đồng. Các hình thức vi phạm: Khai thác,vận chuyển đất, cát trái phép 28 vụ; không có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn kỹ thuật 1 vụ, khai thác khoáng sản trái phép 1 vụ, 3 vụ xử lý rác không đúng quy định, 1 vụ vi phạm môi trường khác. Hình thức nộp phạt chủ yếu là xử lý hành chính

Tình hình KTXH tháng 2 và 2 tháng năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   25/07/2024 16:10

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                1.1. Nông nghiệp            1.1.1 Trồng trọt - Sản xuất vụ Đông 2020: Xác định vụ Đông là vụ sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm tại chỗ và cung cấp thức ăn cho gia súc. Ước tính tổng diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm 2020 đạt 13.054 ha, bằng 108,49% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu là diện tích ngô ước tính tăng mạnh (tăng 988 ha) so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do điều kiện cuối vụ thời tiết tương đối thuận lợi nên cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, rau các loại được mùa tạo ra nguồn cung dồi dào đáp ứng đầy đủ nhu cầu tăng cao trong dịp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Bên cạnh đó do vụ Đông năm 2019 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. - Sản xuất vụ Xuân 2021: Với các giải pháp về cung cấp giống và phân bón có chất lượng với giá cả hợp lý; Tập trung điều tiết nước đảm bảo phục vụ cày bừa và xuống giống đúng lịch thời vụ; Theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời...cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi là những yếu tố tích cực để sản xuất vụ Xuân 2021. Tiến độ sản xuất tính đến ngày 22/02/2021, toàn tỉnh đã gieo cấy được 59.121 ha lúa, đạt 100,1% kế hoạch, trong đó: diện tích lúa cấy là 11.332 ha (chiếm 19,17% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 47.789 ha (chiếm 80,83% tổng diện tích gieo cấy). Cơ cấu giống lúa chủ yếu là nhóm giống P6, nếp, HT1…chiếm trên 97% tổng diện tích gieo cấy. Đến nay hầu hết các địa phương đã đạt và vượt kế hoạch đề ra. Do thời gian qua bà con nông dân đang tập trung gieo cấy lúa nên tiến độ sản xuất các loại cây trồng cạn vụ Xuân tính đến ngày 22/02/2021 vẫn đạt thấp so với kế hoạch. Tháng 02/2021, trùng vào dịp tết Nguyên đán nên sau Tết cùng với việc chăm sóc diện tích cây đã gieo trồng thì bà con nông dân sẽ tiếp tục sản xuất gieo trỉa các loại cây trồng cạn vụ Xuân 2021 theo kế hoạch và đảm bảo khung lịch thời vụ. Nhìn chung, do thời tiết không có rét đậm, rét hại nên các loại cây trồng vụ Xuân 2021 đã gieo trồng đang phát triển tốt.         1.1.2. Chăn nuôi   Tín hiệu tích cực đối với hoạt động chăn nuôi trong thời gian qua đó là so với chăn nuôi nông hộ thì các trang trại chăn nuôi lợn đã có những dấu hiệu tốt hơn. Sau thời gian thu hẹp sản xuất, giảm đàn để thực hiện các giải pháp phòng dịch thì các trang trại chăn nuôi lớn đã vượt qua ngưỡng khó khăn, bảo vệ an toàn đàn lợn nái để đảm bảo điều kiện tái đàn tại chỗ. Với sự duy trì phát triển ổn định của đàn gia cầm, những hướng đi mới trong chăn nuôi bò về giống, về phương thức nuôi nhốt và việc phục hồi được đàn lợn sẽ là cơ sở tạo bước phát triển đối với ngành chăn nuôi trên địa bàn trong năm 2021.  Tín hiệu tích cực đối với hoạt động chăn nuôi trong thời gian qua đó là so với chăn nuôi nông hộ thì các trang trại chăn nuôi lợn đã có những dấu hiệu tốt hơn. Sau thời gian thu hẹp sản xuất, giảm đàn để thực hiện các giải pháp phòng dịch thì các trang trại chăn nuôi lớn đã vượt qua ngưỡng khó khăn, bảo vệ an toàn đàn lợn nái để đảm bảo điều kiện tái đàn tại chỗ. Với sự duy trì phát triển ổn định của đàn gia cầm, những hướng đi mới trong chăn nuôi bò về giống, về phương thức nuôi nhốt và việc phục hồi được đàn lợn sẽ là cơ sở tạo bước phát triển đối với ngành chăn nuôi trên địa bàn trong năm 2021.   Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra một số dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như dịch tả lợn Châu Phi, bệnh viêm da nổi cục ở trâu bò, dịch cúm gia cầm (H5N6), cụ thể:          Đầu năm 2021 đến nay, dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 13 xã của 5 huyện, thành phố, thị xã (Vũ Quang, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh) làm cho 80 con lợn mắc bệnh phải tiêu hủy. Đến nay, còn 7 xã/2 huyện (Cẩm Xuyên và Nghi Xuân) có các ổ dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày. Ổ dịch đầu tiên của bệnh viêm da nổi cục trên trâu bò được phát hiện tại xã Mai Phụ (huyện Lộc Hà) vào ngày15/12/2020. Lũy kế đến ngày 07/02/2021, dịch bệnh đã xảy ra tại 28 xã/6 huyện, thành phố, thị xã với tổng số gia súc mắc bệnh là 479 con, trong đó có 150 con đã khỏi triệu chứng lâm sàng và 3 xã là Phú Phong, Hương Xuân, Hương Trà (huyện Hương Khê) và phường Đại Nài (thành phố Hà Tĩnh) đã qua 30 ngày không phát sinh ca bệnh mới. Số gia súc mắc bệnh chết, tiêu hủy là 32 con (huyện Lộc Hà 12 con, huyện Thạch Hà 14 con, huyện Cẩm Xuyên 5 con và thành phố Hà Tĩnh 1 con). Hiện còn 24 xã/5 huyện, thành phố đang có dịch gồm: xã Mai Phụ, Thạch Châu, Phù Lưu, Hộ Độ, Thạch Mỹ, Tân Lộc, thị trấn Lộc Hà, (huyện Lộc Hà), xã Đỉnh Bàn, Thạch Hải, Thạch Khê, Thạch Lạc, Thạch Sơn, thị trấn Thạch Hà (huyện Thạch Hà), xã Cẩm Mỹ, Cẩm Thịnh, Yên Hòa, Cẩm Hưng, Nam Phúc Thăng, Cẩm Duệ, Cẩm Quan, thị trấn Cẩm Xuyên (huyện Cẩm Xuyên), xã Thạch Trung, Đồng Môn (thành phố Hà Tĩnh) và phường Hưng Trí (thị xã Kỳ Anh). Dịch cúm gia cầm (H5N6) xảy ra tại xã Thạch Văn (huyện Thạch Hà) vào ngày 05/02/2021. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết, buộc phải tiêu hủy là 6.570 con. Ngoài ra, tại xã Yên Hòa (huyện Cẩm Xuyên) cũng đã có gần 300 con gia cầm bị ốm chết (đã lấy mẫu lần 1 cho kết quả âm tính với cúm gia cầm), hiện nay cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương đang tiếp tục giám sát lấy mẫu để xác định nguyên nhân. Khi phát hiện dịch bệnh trên địa bàn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh đã kiểm tra trực tiếp tại các ổ dịch và phân công cán bộ chuyên môn bám sát địa bàn để theo dõi tình hình dịch bệnh; Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền và hướng dẫn người chăn nuôi chủ động giám sát, kịp thời phát hiện các trường hợp gia súc, gia cầm bị bệnh, nghi bị bệnh báo cáo để triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; Lập các chốt kiểm soát, biển cảnh báo vùng bị dịch để kiểm soát việc buôn bán, vận chuyển gia súc, gia cầm ra, vào vùng có dịch và thực hiện các biện pháp vệ sinh, tiêu độc, khử trùng chuồng nuôi và các khu vực liên quan để tiêu diệt mầm bệnh, tiêu diệt các vật chủ trung gian truyền bệnh; Yêu cầu tiêu hủy kịp thời số gia cầm mắc bệnh, nghi mắc bệnh cúm gia cầm (H5N6), lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi và số trâu bò bị chết do bệnh viêm da nổi cục theo quy đinh; Đã triển khai tiêm phòng thí điểm vắc xin viêm da nổi cục ở trâu bò tại 2 huyện (Lộc Hà, Thạch Hà) và trang trại bò sữa Vinamilk cho 4.227 con, đang tiếp tục rà soát tiêm bổ sung. Tổ chức tiêm vắc xin phòng bệnh cúm gia cầm tại xã Thạch Văn (huyện Thạch Hà) với 120.000 liều. Các địa phương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh hiện nay vẫn đang còn khá nhiều ổ dịch chưa qua 21 ngày. Thời gian tới, để phát triển chăn nuôi bên cạnh các chính sách nhằm phát triển đàn thì công tác phòng, chống dịch bệnh phải tiếp tục được quan tâm thực hiện để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi phát triển.         1.2. Lâm nghiệp  Trong tháng 02 trùng vào dịp Tết trồng cây Xuân Tân Sửu, toàn tỉnh trồng được 931 nghìn cây, tăng 0,76% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây của các địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng thu hẹp nên số lượng cây trồng phân tán cũng chỉ xấp xỉ so với cùng kỳ năm trước. Cùng với trồng cây phân tán thì hoạt động trồng rừng sản xuất vụ Xuân năm 2021 cũng đang được các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện. Sản lượng gỗ thường phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng sản xuất nên thường thiếu ổn định giữa các tháng, Trong tháng 2/2021 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 14.117 m3, tăng 7,34% so với cùng kỳ, còn sản lượng củi đang có xu thế ngày càng giảm do nhu cầu sử dụng giảm.  Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/02/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra thiệt hại về rừng.         1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 02 cũng như 2 tháng đầu năm 2021 có bước phát triển khá ổn định so với cùng kỳ năm 2020. Trong tháng 2/ 2021 tổng sản lượng nuôi trồng ước đạt 963 tấn, tăng 0,42% so với cùng kỳ; sản lượng khai thác ước đạt 2.764 tấn, tăng 3,56% so với cùng kỳ 2020. Nguyên nhân do thu hoạch sản lượng nuôi trồng phục vụ nhu cầu dịp tết Nguyên đán Tân Sửu. Cùng với đó, thời tiết tương đối thuận lợi cho các tàu thuyền ra khơi đánh bắt và sản lượng khai thác những chuyến biển đầu năm đạt khá nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác.   Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng. Theo khung lịch thời vụ, tôm nuôi chính vụ sẽ được xuống giống thả nuôi từ tháng 3/2021.      2. Sản xuất công nghiệp và vốn đầu tư           - Hoạt động sản xuất công nghiệp:  Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 02/2021 ước tính giảm 11,25% so với tháng trước do là tháng trùng tết Nguyên đán Tân Sửu các doanh nghiệp hoạt động sản xuất ít ngày hơn, bên cạnh đó nhu cầu một số mặt hàng giảm làm cho sản lượng khai thác giảm xuống. Tuy nhiên tính chung 2 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 25,14% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do các doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao đã đi vào hoạt động sản xuất ổn định.   Trong 2 tháng đầu năm 2021 trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có đến 22 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 7 nhóm ngành có mức tăng cao như: khai thác quặng kim loại tăng 45,79%; Sản xuất kim loại tăng 38,71%; sản xuất phương tiện vận tải tăng 32,18%; sản xuất đồ uống tăng 29,38%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 27,94%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 23,17%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 21,44%;…       Dự báo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 3/2021: sản xuất công nghiệp có sự ổn định trở lại do các doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất sau kì nghỉ Tết Nguyên Đán và tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đang có sự kiểm soát tốt.        - Vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 02/2021 giảm 35,09% so với tháng trước. Do tháng 2/2021 trùng dịp tết Nguyên đán thời gian nghỉ lễ kéo dài. Trong đó, nguồn vốn thực hiện từ nguồn cân đối ngân sách tỉnh và vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu giảm mạnh nhất (41,39%) nguyên nhân do nguồn này chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc chương trình mục tiêu quốc gia huyện, xã như đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng.... nhưng hiện nay, các dự án chuyển tiếp chờ giao vốn năm 2021 đang hoàn thiện hồ sơ đáp ứng để tiếp tục thi công, các dự án công trình mới chưa triển khai thực hiện. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý tăng 36,03% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu tăng nguồn vốn cấp tỉnh và cấp xã. Như vậy, tổng vốn đầu tư thực hiện 2 tháng đầu năm 2021 vẫn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2020.         4. Thương mại, dịch vụ và giá cả        4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 02/2021 ước giảm 7,25% so với tháng trước và tăng 21,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 72,58% so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, tết Nguyên đán rơi vào thời điểm giữa tháng, nhu cầu tiêu dùng và giá hàng hóa tăng vào trước, trong Tết và giảm mạnh sau Tết. Bên cạnh đó ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp từ ngày 27/01 đến nay trên phạm vi toàn quốc đã tác động xấu đến nhu cầu đi lại, mua sắm và các hoạt động sản xuất của nền kinh tế so với thời điểm trước đó. Trong tháng 02/2021, một số nhóm ngành hàng có doanh thu giảm mạnh so với tháng trước như: hàng may mặc giảm 28,19%; đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 3,89%; vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 14,48%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 17,36%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 55,22%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy giảm 13,19% ; phương tiện đi lại giảm 18,71%. Tính chung, 02 tháng đầu năm 2021 tổng mức bán lẻ hàng hóa dự tính tăng 11,61% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tháng 2 có sự sụt giảm so với tháng trước nhưng nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa các tháng đầu năm 2021 có những tín hiệu tích cực và đạt được mức tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước         - Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 02/2021 ước tính giảm 4,21% so với tháng trước. Trong đó, dịch vụ l­ưu trú ước giảm 2,64%, dịch vụ ăn uống ước giảm 4,25%, dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch giảm 5,82% so với tháng trước. Nguyên nhân do là tháng trùng dịp Tết âm lịch, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình giảm. Bên cạnh đó do dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát trở lại vào cuối tháng 01 nên nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng đầu năm mới giảm kéo theo doanh thu dịch vụ lưu trú và du lịch lữ hành giảm xuống. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tính tăng so với cùng kỳ năm trước (tăng 3,83%), tăng chủ yếu ở ngành dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống.         - Hoạt động dịch vụ khác: doanh thu dịch vụ khác ước tính giảm 0,76% so với tháng trước và tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do các cơ sở kinh doanh cá thể đã ổn định mặt bằng để đi vào kinh doanh làm doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản giảm. Bên cạnh đó trong tháng, các hoạt động xây dựng tạm nghỉ Tết nên dịch vụ thuê máy móc thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng giảm. Dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại với khuyến cáo hạn chế tụ tập nơi đông người của chính quyền nên các hoạt động vui chơi giải trí cũng giảm so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước.        4.2. Hoạt động vận tải        - Doanh thu vận tải hành khách tăng 6,52% so với tháng trước và tăng 17,36% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng vận chuyển hành khách tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 16,77% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển tăng 4,6% so với tháng trước, tăng 17,44% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách trong tháng rơi vào kỳ nghỉ tết Nguyên đán cổ truyền, lượt khách về quê nghỉ Tết và đi lại sau dịp Tết tăng. Cùng với đó, kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021, các đơn vị kinh doanh vận tải điều chỉnh tăng giá cước. Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch Covid - 19 người dân có xu hướng đi xe cá nhân nên tốc độ tăng của các hoạt động vận tải hành khách không cao như dịp Tết những năm trước.        - Doanh thu vận tải hàng hóa giảm 4,18% so với tháng trước và tăng 4,91% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính giảm 9,23% so với tháng trước và tăng 2,15% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển giảm 15,12% so với tháng trước và tăng 6,54% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong tháng nhu cầu vận tải hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất tăng do nhu cầu mua sắm dịp Tết tăng. Tuy nhiên, nhu cầu vận tải vật liệu xây dựng giảm xuống do các công trình xây dựng cơ bản tạm ngừng thi công dẫn tới tổng doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa giảm so với tháng trước.        - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 3,83% so với tháng trước và tăng 61,96% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng do nhu cầu thuê kho lưu trữ và chi phí nhân công không thường xuyên, hoạt động giữ xe, dịch vụ bốc xếp trong dịp nghỉ Tết tăng cao.        Tính chung hai tháng đầu năm 2021 doanh thu vận tải dự tính tăng 10,84% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: vận tải hành khách doanh thu dự tính tăng 6,72%; sản lượng vận chuyển tăng 5,85% và luân chuyển tăng 4,92%; vận tải hàng hóa doanh thu dự tính tăng 3,42%; khối lượng vận chuyển tăng 1,39% và luân chuyển tăng 3,2%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 53,92% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh những tháng đầu năm 2021 đáp ứng được nhu cầu của người dân và có mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra thì hoạt động vận tải thời gian tới đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức.        4.3. Chỉ số giá tiêu dùng        CPI tháng 2 năm 2021 tăng 1,59% so với tháng trước, tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,59% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,29%; khu vực nông thôn tăng 1,58% so với tháng trước và tăng 0,66% so với cùng kỳ năm trước.        Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 02/2021: Do dịp Tết Nguyên đán rơi vào giữa tháng 02 năm 2021, nhu cầu tiêu dùng và giá cả hàng hóa, dịch vụ trước và trong Tết đều tăng cao, có xu hướng giảm dần sau Tết. (2) Thực hiện Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 17/12/2020 của Chính phủ về phương án hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện đợt 2 do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong tháng, điện lực Hà Tĩnh tiếp tục tiến hành giảm giá điện sinh hoạt khoảng 250 triệu đồng nên tác động vào mức giá bình quân của điện sinh hoạt bán lẻ tăng. Tháng 02/2021, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá ổn định so với tháng trước (nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục); còn lại 9 nhóm hàng hóa đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó có 2 nhóm hàng hóa tăng mạnh nhất là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,33% và Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,92%. Chỉ số giá vàng tháng 02/2021 giảm 0,72% so với tháng trước, tăng 23,16% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng giảm không ổn định, phụ thuộc vào sự biến động của giá vàng thế giới. Mức giá trong tháng, thời điểm thấp nhất là 5.420 nghìn đồng/chỉ, cao nhất đạt 5.570 nghìn đồng/chỉ.  Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2021 tăng 1,11% so với tháng trước, tăng 1,54% so với cùng tháng năm trước. Giá USD bình quân thị trường Hà Tĩnh ngày 22/02/2021 ở mức 23.750 đồng/USD. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 3/2021 dự kiến sẽ giảm mạnh so tháng 02/2021. Là do tháng sau tết, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ đều giảm. Ngoại trừ nhóm vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi thời tiết bắt đầu chuyển nắng nóng. 5. Một số vấn đề xã hội 5.1. Tình hình đời sống dân cư - Tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch nên đời sống của nhân dân ổn định. Tính đến ngày 15/02/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói không xảy ra.  - Các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội được các cấp, các ngành tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời. 13/13 huyện, thành phố, thị xã đã chi trả trợ cấp một lần cho 330 người, kinh phí hơn 3,3 tỷ đồng; trợ cấp ưu đãi tháng 01, tháng 02/2021 cho hơn 42.000 người có công, kinh phí hơn 145 tỷ đồng; chi trả trợ cấp trên 62.000 đối tượng bảo trợ xã hội, kinh phí trên 25 tỷ đồng. - Nhân dịp Tết nguyên đán Tân Sửu năm 2021, toàn tỉnh đã trao tặng 201.948 suất quà với tổng số tiền 71.241 triệu đồng trong đó: Quà cho người có công: 97.624 suất quà; hộ nghèo: 20.694 suất quà; tặng quà người cao tuổi: 28.347 suất quà; trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: 7.692 suất quà; đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác: 47.591 suất quà, cấp kinh phí 160 triệu đồng để mua 9.405 kg gạo cho 60 hộ (209 khẩu) bản Rào Tre, xã Hương Liên và bản Giàng, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê. - Về tiền lương: chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội được doanh nghiệp, người lao động quan tâm thực hiện; không có doanh nghiệp trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng; không có doanh nghiệp nợ lương người lao động. Mức tiền lương bình quân 1 tháng của người lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước là: 6,7 triệu đồng (giảm gần 1 triệu đồng so với năm 2019), doanh nghiệp FDI là 10,5 triệu đồng (tăng 588.000 đồng so với năm 2020); doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp thuộc các loại hình khác là 4,6 triệu đồng (giảm 483.000 đồng so với năm 2020). Mức thưởng Tết nguyên đán bình quân khối doanh nghiệp do NN nắm giữ 100% vốn điều lệ là 2,9 triệu đồng; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước bình quân 9,1 triệu đồng; Doanh nghiệp dân doanh bình quân 5,5 triệu đồng; Doanh nghiệp FDI bình quân 5,5 triệu đồng. 5.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh: Để chuẩn bị cho người dân được đón Tết Nguyên đán 2021 an lành, Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Tĩnh đã yêu cầu các đơn vị liên quan tăng cường công tác giám sát phòng chống dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh; tăng cường thắt chặt kiểm soát dịch bệnh tại vùng cửa khẩu; tăng cường tuyên truyền các hoạt động về công tác khám, chữa bệnh, phòng và chống dịch bệnh mùa Đông - Xuân, đặc biệt là phòng chống dịch Covid-19. Toàn tỉnh đã chuẩn bị 16 cơ sở cách ly, số lượng dự kiến cách ly hơn 5.000 người; trong đó cấp tỉnh có 06 cơ sở với số lượng dự kiến 3.100 người, đáp ứng đủ yêu cầu cách ly trong dịp Tết. Tính đến ngày 19/2/2021 toàn tỉnh có 16 người cách ly tại cơ sở y tế; 87 người cách ly tại địa điểm tập trung, tất cả đều có tình trạng sức khỏe ổn định và đang được theo dõi đúng quy định.          Tính từ ngày 16 /12-15/01/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh có 33 ca mắc bệnh sốt rét, không thay đổi so với cùng kỳ năm 2020; 3 ca mắc bệnh quai bị, giảm 2 ca; 12 ca mắc lỵ trực trùng, giảm 10 ca; 16 ca mắc lỵ a míp, tăng 1 ca; 52 ca mắc bệnh thủy đậu, tăng 38 ca; 2.303 ca mắc bệnh cúm, giảm 701 ca. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.          - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư, Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh về công tác truyền thông thay đổi hành vi; giám sát, tiếp cận bệnh nhân để vận động họ tham gia điều trị ARV và chương trình điều trị Methadone. Tính từ 16/01-15/02/2021 Hà Tĩnh chỉ có 1 người nhiễm mới HIV (giảm 4 người so với cùng kỳ năm 2020), 01 người chuyển thành AIDS (giảm 4 người) và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tính từ ngày 16/12-15/01/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh có 97 người bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2020) và không có trường hợp nào tử vong. Trong đó trong thời điểm Tết Nguyên Đán Tân Sửu năm 2021 ( từ ngày 10/02-16/02/2021) có 31 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ. 5.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên Hà Tĩnh dừng các chương trình nghệ thuật “Mừng Đảng, mừng Xuân Tân Sửu 2021, mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII” và các hoạt động văn hóa, thể thao khác trên địa bàn toàn tỉnh. Các lễ hội như: Lễ hội chùa Hương Tích, lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác... chỉ thực hiện phần lễ, không thực hiện phần hội. - Hoạt động thể thao: Từ ngày 27/01/2021 đến nay, các hoạt động thể dục thể thao quần chúng trầm lắng hơn so với trước. Từ ngày 11/12/2020-22/1/2021 đã diễn ra Đại hội Điền kinh - thể thao học sinh do ngành Giáo dục TP Hà Tỉnh tổ chức thu hút với 1.500 lượt VĐV tham gia với 24 đội, 10 môn thi đấu; Đại hội Điền kinh - thể thao học sinh do ngành Giáo dục huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tổ chức diễn ra từ ngày 27 - 28/01/2021 thu hút 800 VĐV tham gia; Giải Việt dã 2021 “Tiếp sức cùng đồng đội” do CLB Hà Tĩnh Runners tổ chức sáng ngày 17/01/2021 thu hút 20 đội tham gia thi đấu với gần 150 người dân, vận động viên. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã cấp 14 giấy phép, trong đó có 01 giấy phép thuộc lĩnh vực thể thao; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 12 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. Tăng cường kiểm tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, du lịch trước, trong và sau Tết tại một số điểm văn hóa tâm linh như: Đền Củi (Nghi Xuân), Chùa Hương Tích (Can Lộc), Đền Nguyễn Thị Bích Châu (thị xã Kỳ Anh), đền Cả (Hồng Lĩnh), Đền Truông Bát (Thạch Hà), Miếu Ao... Tổ chức kiểm tra tại 35 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh; lập 20 biên bản kiểm tra, nhắc nhở các đơn vị chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống dịch; ban hành 3 quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 7 triệu đồng. 5.4. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội - Về an ninh, chính trị: Tết Nguyên đán Tân Sửu từ ngày 10/02/2021 (ngày 29 tháng Chạp) đến ngày 16/02/2021 (ngày 05 tháng Giêng) xảy ra 12 vụ, trong đó: Xảy ra 5 vụ phạm pháp hình sự, làm 02 người chết, 02 người bị thương; cố ý gây thương tích 03 vụ; tai nạn khác xảy ra 04 vụ làm 03 người chết, bị thương 01 người. Phát hiện, bắt giữ xử lý 434 vụ, 437 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép (tăng 135 vụ, 177 đối tượng so với năm 2020); thu hồi 1,2kg pháo và 165 quả pháo các loại; đặc biệt không xảy ra tình trạng nổ mìn, pháo tự chế, không có trường hợp bị thương do đốt pháo nổ. - Về an toàn giao thông: Tính từ ngày 15/01/2021 đến ngày 14/02/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 8 người và bị thương 1 người (riêng dịp Tết xảy ra 02 vụ, làm chết 02 người giảm 01 vụ, giảm 02 ngời bị thương, số người chết tương đương so với Tết Canh Tý 2020). So với tháng trước tăng 2 vụ, tăng 4 người chết, giảm 3 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ, giảm 8 người chết, giảm 5 người bị thương. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vậy, tính từ 15/12/2020 đến 14/02/2021, Hà Tĩnh xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 12 người và bị thương 5 người. So cùng kỳ năm 2020 giảm 8 vụ, giảm 8 người chết và giảm 5 người bị thương. 5.5. Môi trường - Tình hình cháy nổ: Tính từ ngày 15/01/2021 đến ngày 14/02/2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 3 vụ cháy (riêng dịp Tết xảy ra 1 vụ cháy) làm 1 người chết (tại xóm 11, xã Hòa Hải, huyện Hương Khê), không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 2 tỉ đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết. Trong tháng xảy ra 01 vụ nổ bình ga tại xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, làm bị thương 1 người. So với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người bị thương. Nguyên nhân các vụ cháy, nổ chủ yếu là do chập điện. Tính chung hai tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 7 vụ cháy, nổ làm 2 người chết, 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước tăng 4 vụ; tăng 2 người chết; tăng 1 người bị thương. - Về vi phạm môi trường: Với mục tiêu cùng chung tay bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan liên ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra về công tác bảo vệ môi trường. Trong tháng, Hà Tĩnh đã phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường, tăng 10 vụ so với cùng kỳ 2020. Trong đó: huyện Can Lộc 1 vụ, huyện Hương Khê 3 vụ, huyện Vũ Quang 6 vụ. Các hình thức vi phạm chủ yếu là khai thác, vận chuyển đất, cát, sỏi trái phép 9 vụ, còn 1 vụ về vi phạm môi trường khác. Hình thức nộp phạt chủ yếu là xử lý hành chính. Trong đó có 7 vụ đã xử lý với số tiền 17,95 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 2 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 1 năm 2021 tỉnh Hà Tĩnh
  •   20/07/2024 16:05

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản1.1. Nông nghiệp- Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 01/2021 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch cây trồng vụ Đông 2020 và tiến hành gieo cấy lúa vụ Xuân 2021.+ Sản xuất vụ Đông 2020 Xác định vụ Đông là vụ sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm tại chỗ và cung cấp thức ăn cho gia súc. Ước tính tổng diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm 2020 đạt 13.054 ha, bằng 108,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích tăng so với cùng kỳ chủ yếu là do diện tích ngô, còn các loại cây trồng chủ lực khác đều giảm. Nguyên nhân diện tích ngô tăng mạnh so với cùng kỳ do vụ Đông năm 2019 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Lũ lụt xẩy ra trên địa bàn vào trung tuần tháng 10/2020 đã làm cho năng suất và sản lượng các loại cây trồng năm này sụt giảm so với vụ Đông năm trước (riêng sản lượng ngô tăng do diện tích tăng).Để kịp thời khắc phục thiệt hại do lũ lụt gây ra, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3771/QĐ-UBND ngày 06/11/2020 phân bổ 8.000 kg hạt giống ngô và 5.940 kg hạt giống rau cho các huyện, thành phố, thị xã để phục vụ sản xuất vụ Đông 2020. Nguồn giống được phân bổ đã góp phần giúp bà con nông dân thực hiện việc gieo trỉa khắc phục các diện tích bị thiệt hại do mưa lũ nhằm thực hiện tối đa về diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm 2020. + Sản xuất vụ Xuân 202: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Xuân 2021 là phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh sản xuất toàn diện trên tất cả các đối tượng cây trồng, phấn đấu đạt diện tích, năng suất, sản lượng. Tính đến ngày 15/01/2021, theo cập nhật sơ bộ từ các đơn vị cung ứng giống, lượng giống cung ứng khoảng 1.652 tấn, tương đương với 27.530 ha diện tích gieo cấy. Trong đó: nguồn giống xuất dự trữ Quốc gia 500 tấn, nguồn từ các đơn vị doanh nghiệp cung ứng 1.152 tấn.Tiến độ gieo cấy lúa vụ Xuân 2021 tính đến ngày 22/01/2021, tổng diện tích mạ toàn tỉnh là 607 ha, tương ứng với 8.685 ha diện tích lúa cấy, chủ yếu là các giống lúa P6, nếp, HT1 và nhóm giống X. Đã có 13/13 huyện, thành phố, thị xã xuống giống lúa P6, nếp, HT1… với tổng diện tích ước đạt 22.997 ha, trong đó: Diện tích gieo thẳng 22.571 ha, diện tích cấy 426 ha; một số huyện có diện tích gieo, cấy lớn như: Huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và huyện Kỳ Anh. Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang tập trung làm đất và vào giống để tiến hành gieo cấy lúa vào cuối tháng 01 và đầu tháng 02/2021. + Sâu bệnh, thiệt hại: trong tháng 01/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra rét đậm rét hại nên đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng vụ Đông 2020. Sâu bệnh chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua có những tín hiệu tích cực hơn.Tổng đàn trâu, bò không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm trước, có tăng nhưng với mức tăng nhẹ. Đối với chăn nuôi lợn thì sau ảnh hưởng nặng nề bởi dịch tả lợn Châu Phi việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang dần được khắc phục, tổng đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm 2020. Đàn lợn chủ yếu phát triển ở các trang trại, gia trại, còn đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ việc tái đàn vẫn còn gặp khó khăn. Giá lợn hơi trong tháng 01/2021 tăng cao đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho các cơ sở chăn nuôi lợn, đây vừa là động lực và cũng là nguồn lực để các cơ sở chăn nuôi tiếp tục phát triển sản xuất. Tổng đàn gia cầm trong thời gian qua phát triển tương đối khá, nhất là đàn gà. Thời gian qua giá lợn hơi tăng cao còn lại các sản phẩm chăn nuôi khác nhìn chung ổn định do nguồn cung tương đối dồi dào. Hiện nay, người chăn nuôi đang tích cực chăm sóc các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/01/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 44 hộ/32 thôn/13 xã/7 huyện, thành phố, thị xã (Can Lộc, Cẩm Xuyên, thị xã Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh, Hương Khê, Vũ Quang và Nghi Xuân) với tổng số lợn bị ốm chết, buộc tiêu hủy chưa qua 21 ngày là 248 con, trọng lượng 11.871 kg; Bệnh Viêm da nổi cục với số bò mắc bệnh là 185 con/153 hộ/44 thôn/14 xã/5 huyện, thành phố (Lộc Hà, Thạch Hà, Hương Khê, Cẩm Xuyên và thành phố Hà Tĩnh), trong đó đã tiến hành tiêu hủy 11 con bò với trọng lượng 2.116 kg.Trước tình hình rét đậm, rét hại đang xẩy ra, UBND tỉnh và Sở NN&PTNT đã ban hành các văn bản chỉ đạo tăng cường phòng, chống đói, rét, dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Tính đến ngày 15/1/2021, trên địa bàn tỉnh chưa có gia súc bị chết do rét đậm, rét hại.1.2. Lâm nghiệp - Trồng rừng và trồng cây phân tán: Thời tiết thuận lợi cho việc trồng cây nên dự ước diện tích trồng rừng tập trung tháng 01/2021 tăng 2,7% (tăng 13 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là diện tích rừng sản xuất. Diện tích trồng rừng tập trung chủ yếu ở huyện Hương Sơn 130 ha, huyện Hương Khê 85 ha, huyện Vũ Quang 48 ha, huyện Kỳ Anh 42 ha,...Hiện nay, người dân đang tập trung ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân năm 2021. Bên cạnh trồng rừng tập trung thì do quỹ đất ngày càng giảm nên lượng cây trồng phân tán cũng đang có xu hướng giảm. - Khai thác lâm sản: Sản lư­ợng gỗ khai thác tháng 01/2021 ước tăng 7,05% (tăng 1.087 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ tăng do một số diện tích rừng trồng không bị ảnh hưởng nhiều bởi cơn bão số 10 năm 2017 nên đến nay đã đủ tuổi để khai thác. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 01/2021 tập trung chủ yếu ở các địa phương: huyện Hương Khê 10.500 m3, huyện Vũ Quang 5.289 m3, huyện Kỳ Anh 1.500 m3, huyện Thạch Hà 1.200 m3,…Bên cạnh đó, do nhu cầu sử dụng giảm nên sản lượng củi khai thác tháng 01/2021 ước tính đạt 25.513 Ste, giảm 2,18% (giảm 569 Ste) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động lâm nghiệp trong tháng 01/2021 không có nhiều biến động. Một số sản phẩm thu nhặt từ rừng đang có xu hướng giảm dần do nhu cầu tiêu dùng và trữ lượng ngày càng giảm. - Thiệt hại rừng: Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/01/2021, trên địa bàn tỉnh không xẩy ra cháy rừng.1.3. Thủy sảnHoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 01/2021 nhìn chung ổn định và có sự tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước tăng 1,85% (tăng 71 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó:- Sản lượng thủy hải sản khai thác: Ước tính tháng 01/2021 tăng 2,76% (tăng 81 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 77,16% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01/2021. + Sản lượng khai thác biển ước đạt 2.594 tấn, bằng 103,1% (tăng 78 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 86,07% tổng sản lượng khai thác và chiếm 66,41% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01/2021. Sản lượng khai thác cá tăng 58 tấn; tôm giảm 2 tấn; thủy sản khác tăng 22 tấn. Cùng với đội tàu đánh bắt xa bờ thì thời gian qua các loài cá nổi xuất hiện nhiều ở vùng biển gần bờ nên bà con ngư dân đã tận dụng khai thác nguồn lợi hải sản góp phần làm tăng sản lượng khai thác biển.+ Sản lượng khai thác nội địa ước đạt 420 tấn, bằng 100,72% (tăng 3 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá tăng 3 tấn; sản lượng tôm giảm 2 tấn; sản lượng thuỷ sản khác tăng 2 tấn, sản lượng tăng do chủ yếu khai thác cá tự nhiên ở cửa sông, cửa lạch. - Sản lượng thủy sản nuôi trồng: Ước tính tháng 01/2021 giảm 1,11% (giảm 10 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 22,84% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01 năm 2021. Trong đó, sản lượng cá giảm 27 tấn; tôm tăng 11 tấn; thuỷ sản khác tăng 6 tấn. Hiện nay, các sản phẩm thủy sản nuôi trồng đang được chăm sóc để xuất bán phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới.- Dịch bệnh: Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn.Dự báo tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 2/2021:Tháng 2/2021 sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục tập trung gieo cấy lúa vụ Xuân 2021, trồng rừng vụ Xuân và trồng cây phân tán dịp Tết Nguyên Đán Tân Sửu. Đối với hoạt động thủy sản thu hoạch các sản phẩm nuôi trồng phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết.2. Sản xuất công nghiệp (IIP)Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 dự ước giảm 6,56% so với cùng kỳ năm trước do tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin máy phát không làm việc vì mất nguồn điện chính và dự phòng sản lượng điện sản xuất giảm 38,1% so với tháng 1/2021. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 19,78% so với tháng trước và tăng 4,24% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,4% so với tháng trước và tăng 0,36% so với thàng 01/2021; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,38% so với tháng 12/2021 và giảm 36,98% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,73% so với tháng trước và giảm 2,17% so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2021 dự ước tăng mạnh so cùng kỳ năm trước do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp lớn trong tháng 1 năm trước giảm sản lượng sản xuất do tạm ngừng để bảo dưỡng thiết bị…. Đặc biệt là công ty Formosa Hà Tĩnh trong tháng 1 và tháng 2 năm trước tiến hành sữa chữa lớn dây chuyền cán nóng (tháng 1 từ ngày 01 đến 19; tháng 2 dây chuyền trục trặc phải tiến hành sửa chữa 9 ngày). Hiện nay sau những khó khăn do dịch bệnh, thiên tai trong năm 2020, các doanh nghiệp dần ổn định sản xuất, ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 1 năm 2021 tăng 2,93% so với tháng 12 năm 2020 và tăng 51,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 41,31%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 67,51%; sản xuất và phân phối điện tăng 14,06%; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 7,98% so với cùng kỳ năm trước.Ước tháng 1/2021 trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có đến 21 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 8 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: khai thác quặng kim loại tăng 242,52%; Sản xuất kim loại tăng 83,84%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 65,71%; Sản xuất trang phục tăng 54,73%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 39,56%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 38,62%; Khai khoáng khác tăng 34,74%; Sản xuất đồ uống tăng 33,07%;…Trong bối cảnh chung của các nhóm ngành công nghiệp có tăng trưởng thì vẫn có 4 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: khai thác, xử lý cung cấp nước giảm 9,93%; Sản xuất phương tiện vận tải giảm 5,87%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 4,96%; Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 1%. Nhìn chung tháng 1 năm 2021, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi hơn. Các doanh nghiệp hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn nhưng vẫn chưa có sự tăng trưởng đột phá. Dự báo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 2/2021: Sản xuất công nghiệp không có sự tăng trưởng lớn do trùng vào một số ngày nghỉ Tết Nguyên Đán.                 3. Vốn đầu tưTổng vốn đầu tư thực hiện thuộc vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2021 ước đạt 374.418 triệu đồng, giảm 23,75% so với tháng trước và chủ yếu giảm ở nguồn vốn cấp huyện. Trong tháng 1/2021 nguồn vốn chưa được giao theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỷ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2020, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2021 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng nên giá trị vốn đầu tư dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước.Năm 2021, kế hoạch vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý giao 7.611.156 triệu đồng, tăng 51,05% so với năm 2020. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách chi đầu tư xây dựng cơ bản tập trung trong nước là 622.688 triệu đồng, nguồn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương là 3.279.927 triệu đồng, nguồn vốn ODA là 1.473.095 triệu đồng. Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách cấp tỉnh được giao 6.124.981 triệu đồng, tăng 84,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu tăng gấp 4,67 lần. Kế hoạch vốn ngân sách cấp huyện được giao 910.104 triệu đồng, giảm 25,73%, kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 576.071 triệu đồng, tăng 18,8%, nguồn vốn chủ yến thu từ quỹ sử dụng đất. Dự báo tổng vốn đầu tư do ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 2/2021: Vốn đầu tư thực hiện ước giảm so với tháng trước do các công trình tạm ngừng thi công để nghỉ Tết. 4. Thương mại dịch vụ- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 01/2021 tăng 2,37% so với tháng trước và tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động bán lẻ hàng hóa chủ yếu tăng ở khu vực ngoài nhà nước, trong đó tăng mạnh nhất là bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị tăng 95,25% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 01/2021 ước đạt 4.445.202,6 triệu đồng, tăng 2,37% so với tháng trước và tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị đạt 28.950,0 triệu đồng, tăng 95,25% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước.Xét theo nhóm ngành hàng, trong tháng 01/2021 một số nhóm ngành có doanh thu tăng cao so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm tăng 9,41%; hàng may mặc tăng 7,51%; đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 6,48%; Vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 11,96%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,18%; Xăng dầu các loại tăng 3,97%; Nhiên liệu khác tăng 3,06%; Đá quý, kim loại quý tăng 5,12%.Để đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường Tết Nguyên đán Tân Sửu, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch số 478/KH-UBND ngày 10/12/2020 nhằm thực hiện các giải pháp kiểm soát và ổn định thị trường. Thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Thực hiện chương trình “ Đưa hàng Việt Nam về nông thôn” ; đặc biệt chú trọng công tác cung ứng hàng hóa cho các vùng bị thiệt hại do lũ lụt thời gian qua. Nhìn chung thị trường tiêu dùng hàng hoá tháng 01/2021 sôi động, lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết.- Hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2021 ước tăng 5,53% so với tháng trước, trong đó: L­ưu trú giảm 1,18%; ăn uống tăng 5,84%; du lịch lữ hành giảm 2,84% so với tháng trước. Như vậy, nguyên nhân do ảnh hưởng lớn nhất từ nhóm ngành ăn uống (chiếm 96,04%); tháng 01/2021 trùng mùa cưới hỏi và dịp cuối năm nên nhu cầu tổ chức tiệc cưới; giao lưu tất niên, tổng kết và ăn uống ngoài gia đình tăng lên. Mặc dù doanh thu du lịch lữ hành và lưu trú có giảm hơn so với tháng trước do yếu tố mùa vụ, thời tiết rét đậm nhưng chiếm tỉ trọng thấp nên nhìn chung hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tăng so với tháng trước.Dự kiến hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh sang tháng 02/2021 xu hướng tăng cao so với tháng 01/2021 do dịp đầu Xuân lượng khách đến tham quan du lịch một số điểm tâm linh văn hóa của tỉnh tăng.Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 01/2021 tăng 4,49% so với tháng trước. Nguyên nhân do là tháng giáp Tết Nguyên đán nên các các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ cung ứng dịch vụ như: dịch vụ cho thuê ki-ốt kinh doanh cá thể; dịch vụ vui chơi giải trí; dịch vụ sữa chữa bảo dưỡng đồ dùng gia đình; dịch vụ làm đẹp tăng lên. Bên cạnh đó trong tháng, với tình hình thời tiết rét đậm số người mắc các loại bệnh theo mùa về hô hấp tăng làm doanh thu dịch vụ y tế tăng. Ngoài ra đây là tháng của mùa cưới hỏi và thời tiết ít mưa thuận lợi cho hoạt động dịch vụ trang trí; cho thuê đồ hiếu hỷ và dịch vụ thuê máy móc thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng cũng tăng lên.- Hoạt động vận tải: Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách tháng 01/2021 tăng 2,32% so với tháng trước và tăng 7,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 3,63% so với tháng trước và giảm 1,18% so với cùng kỳ năm trước do thời điểm đầu tháng trùng với dịp nghỉ lễ Tết dương lịch nên lượng người đi lại về quê, vui chơi cao tăng. Trong tháng, thời tiết rét đậm, rét hại tiếp tục diễn ra nên nhu cầu sử dụng các loại phương tiện công cộng như taxi, xe buýt cũng tăng; vận tải hàng hóa tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 2,11% so với cùng kỳ do xuất phát từ những yếu tố như: cuối năm, mặc dù rét đậm nhưng ít mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu xây dựng cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công; cùng với đó là các công trình sửa chữa trong dân tăng cũng là những nguyên nhân khiến nhu cầu vận tải hàng vật liệu xây dựng tăng so tháng trước. Các đơn vị bán buôn đẩy mạnh việc thu mua, tích trữ hàng hóa chuẩn bị cung ứng ra thị trường dịp Tết nên đã làm tăng nhu cầu vận tải hàng hóa. Dự báo hoạt động thương mại dịch vụ tháng 02/2021: Hoạt động thương mại dịch vụ sẽ sôi động hơn do là tháng trùng vào dịp Tết Nguyên Đán Tân Sửu, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cũng như sử dụng các dịch vụ của người dân sẽ tăng.5. Chỉ số giá tiêu dùng - CPI chung tháng 01 năm 2021 tăng nhẹ 0,28% so với tháng trước, giảm 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 0,31% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 0,93%; Khu vực nông thôn tăng 0,27% so với tháng trước và giảm 1,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính gồm có 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,59% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,97%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,7% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,59%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,04% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 3,05%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,92%; Giao thông tăng 1,63% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 11,08%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 1,4%; Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,89% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,6%; 01 nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,75% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 4,13% và có 03 nhóm không biến động so với tháng trước gồm: Thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông.* Những yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 01/2021 đó là: (1) Yếu tố mùa vụ, thời tiết thay đổi đã tác động khiến nhu cầu và giá cả nhiều nhóm hàng hóa tăng dần vào dịp cuối năm như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, nước sinh hoạt. (2) Giá gas, xăng, dầu các loại được điều chỉnh theo xu hướng thị trường thế giới. (3) Thực hiện Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 17/12/2020 của Chính phủ về phương án hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện (đợt 2) và Công văn số 9764/BCT-ĐTĐL ngày 18/12/2020 của Bộ Công thương về việc hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng bị ảnh hưởng của dịch COVID-19 đợt 2. Điện lực Hà Tĩnh tiến hành giảm giá điện sinh hoạt trong tháng 01/2021 khiến mức giá bình quân giảm mạnh.- Chỉ số giá vàng tăng 2,61% so với tháng trước, tăng 26,32% so với cùng tháng năm trước; thị trường giá vàng 9999 trong tháng nhìn chung có xu hướng tăng trở lại vào cuối tháng do giá vàng thế giới tăng cùng với việc giá USD tăng. Giá bán lẻ vàng giảm nhẹ vào giữa tháng và tăng trở lại về cuối tháng. Bình quân tháng 01 giá vàng 9999 khu vực thành thị mức giá 5.546.000 đồng/chỉ; Khu vực nông thôn 5.573.000 đồng/chỉ.- Giá bán lẻ đô la Mỹ tại thời điểm ngày 21/01/2021 ở mức 23.420 đồng/USD. Do đó chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,65% so với tháng trước, tăng 0,84% so với cùng tháng năm trước.Dự kiến CPI tháng 02/2021: Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 02/2021 dự kiến sẽ tăng mạnh so tháng 01/2021. Mức giá diễn biến theo hướng tăng mạnh vào thời điểm trước Tết Nguyên đán và giảm dần về cuối tháng. Giá cả nhiều nhóm hàng hóa như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, cước giao thông, vật phẩm văn hóa dự kiến đều tăng giá. Giá điện và nước sinh hoạt cũng dự kiến tăng mạnh khi không còn nhận được hỗ trợ về giá của Chính phủ.6. Một số vấn đề xã hội6.1. Tình hình thiếu đói Tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và thời tiết rét đậm, rét hại, nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự nổ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch và thiên tai, cũng như công tác hỗ trợ kịp thời đến người dân; ngoài ra, trong tháng cùng với việc chăm sóc, thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông và làm thêm các công việc khác để tăng thu nhập, nên đời sống dân cư vẫn giữ vững ổn định so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra thiếu đói. Dự kiến trong tháng tới thiếu đói trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra.6.2. Hoạt động y tếĐể đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần và mùa lễ hội xuân 2022 với mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch COVID-19 trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thực phẩm. Theo đó, huy động mọi nguồn lực, mọi hình thức, phương tiện, các cơ quan thông tấn truyền hình, báo chí để phổ biến, tuyên truyền các nội dung của Luật An toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn liên quan, các quy định về ATTP, kiến thức về bảo đảm ATTP; tuyên truyền Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” và các hướng dẫn, quy định về phòng, chống dịch COVID-19 cho các cấp quản lý, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.- Tình hình dịch bệnh:  Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, cộng dồn tổng số bệnh nhân nhiễm Covid -19 là 4 người, tất cả các ca trên đã điều trị khỏi, bệnh nhân cuối cùng được điều trị khỏi bệnh là ngày 7/5/2020. Ngoài ra, còn có 1 người cách ly tại cơ sở y tế (Bệnh viên đa khoa tỉnh Hà Tĩnh); 1443 người cách ly tại địa điểm tập trung (677 người ở Khu ký túc xá Mitraco; 114 người ở Khu nhà F, công ty FSH; 326 người ở cổng B, Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; 326 người ở KTX Trường đại học Hà Tĩnh), cộng dồn cách ly tập trung toàn tỉnh là 17.510 người, số hoàn thành cách ly là 15.945 người; hiện có 74 người cách ly và theo dõi tại nhà, cộng dồn toàn tỉnh có 19.825 người.Tính từ ngày 16/12/2020 đến 15/01/2021 trên địa bàn Hà Tỉnh, có 33 ca mắc bệnh sốt rét, không thay đổi so với cùng kỳ năm 2020; 3 ca mắc bệnh quai bị, giảm 2 ca; 12 ca mắc lỵ trực trùng, giảm 10 ca; 16 ca mắc lỵ a míp, tăng 1 ca; 52 ca mắc bệnh thủy đậu, tăng 38 ca; 2.303 ca mắc bệnh cúm, giảm 701 ca. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030. Nhờ vậy, tính từ 16-15/01/2021 Hà Tĩnh chỉ có 1 người nhiễm mới HIV (giảm 4 người so với cùng kỳ năm 2020), 1 người chuyển thành AIDS (giảm 4 người) và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh ban hành kế hoạch số 01/KH-BCĐ ngày 04/01/2021 triển khai công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Tân Sửu và mùa Lễ hội Xuân 2021 với mục tiêu đảo đảm ATTP trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thực phẩm; tăng cường kiểm soát, xử lý việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, phòng chống ngộ độc thực phẩm. Tính từ ngày 16/12/2020 đến 15/01/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra vụ ngộ độc thực phẩm, chỉ có 97 người bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2020) và không có trường hợp nào tử vong vì ngộ độc thực phẩm.6.3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh chủ yếu tập trung vào công tác bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa như: phát hiện Ấn đồng cổ có niên đại thời kỳ Hậu Lê; tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh Đền thờ Lê Huy Tích ở Thị xã Kỳ Anh; tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia mộ và đền thờ Trần Tịnh ở huyện Can Lộc. Ngoài ra, các địa phương trên địa bàn Hà Tĩnh còn tổ chức một số hoạt động văn hóa sôi nổi như: tổ chức lễ hội đua thuyền truyền thống lần thứ I nhân ngày giỗ Thành Hoàng Làng và chào đón Xuân Tân Sửu ở thôn Quyết Tiến, xã Đồng Môn, thành phố Hà Tĩnh; tổ chức chương trình nghệ thuật chào mừng năm mới 2021 tại Trung tâm Văn hoá - Điện ảnh tỉnh; chương trình “Noel san sẻ yêu thương, giao lưu các câu lạc bộ thanh niên tôn giáo” do Hội liên hiệp thanh niên huyện Can Lộc tổ chức.- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa : Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Thanh tra công tác phòng chống tham nhũng và thực hiện nhiệm vụ công vụ tại Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh và BQL di tích Nguyễn Du. Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cấp 32 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch, 03 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, 27 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.- Hoạt động thể thao: Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng với nhiều hoạt động như: ngày hội chạy bộ “Tiếp sức cùng đồng đội” với 150 người dân, vận động viên cùng tham gia; giải Quần vợt thành phố Hà Tĩnh mở rộng lần thứ nhất quy tụ 88 đôi vận động viên đến nhiều cơ quan, đơn vị; giải bóng đá nam mở rộng lần thứ 2 ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) với mục đích ủng hộ giúp đỡ học sinh mồ côi, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện… Cùng với đó, trong tháng thể thao thành tích cao Hà Tĩnh giành được 01 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 7 huy chương đồng.6.4. Tình hình an toàn giao thôngĐể đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ góp phần đảm bảo ANTT, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đặc biệt là phục vụ nhân dân vui Tết, đón Xuân và các lễ hội đầu năm 2021, Công an Hà Tĩnh đã triển khai đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông; tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.Tính từ 15/12/2020 đến 14/01/2021 đã xẩy ra 6 vụ tai nạn giao thông (giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm 2020), tất cả đều là tai nạn giao thông đường bộ làm chết 4 người (giảm 6 người) và làm bị thương 4 người (giảm 2 người). Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.6.5. Môi trường- Tình hình cháy nổ: Nhằm hạn chế các vụ cháy, nổ, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 12/01/2021 về việc tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; giảm thiểu số vụ cháy, nổ, sự cố, tai nạn xảy ra mùa hanh khô năm 2021, trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021 và các sự kiện chính trị quan trọng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.Từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/01/2021 đã xảy ra 3 vụ cháy, làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 150 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết; bao gồm: 2 vụ ở huyện Can Lộc; 1 vụ ở huyện Hương Khê. Nguyên nhân, chủ yếu là do chập điện và sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn nhiệt. Trong các vụ cháy, vụ xảy ra vào ngày 16/12/2020 thuộc thôn Đất Đỏ, xã Thường Nga, huyện Can Lộc đã làm 1 người chết. Trong tháng không xảy ra vụ nổ.- Về vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh đã phát hiện 14 vụ vi phạm môi trường, tăng 13 vụ so với cùng kỳ 2020. Trong đó: huyện Can Lộc 7 vụ, huyện Thạch Hà 2 vụ, huyện Vũ Quang 5 vụ. Các hình thức vi phạm: Khai thác, vận chuyển đất cát trái phép 12 vụ, không có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn kỹ thuật 1 vụ, khai thác khoáng sản trái phép 1 vụ. Hình thức nộp phạt chủ yếu là xử lý hành chính.Trong đó có 2 vụ đã xử lý nộp phạt tổng 95 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế -xã hội năm 2020
  •   23/07/2024 16:19

Năm 2020 là năm cuối của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng quyết định kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm 2016-2020 trong phát trển kinh tế xã mà Đại hội đảng các cấp đề ra; một năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị, văn hoá lớn trong cả nước, tùng vùng và từng địa phương, đặc biệt là năm tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tuy nhiên nhìn lại trong năm vừa qua, việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn như nguồn lực đầu tư hạn chế, thời tiết mưa lũ kéo dài, dịch bệnh diễn biến phức tạp, đặc biệt là đại dịch Covid-19 xẩy ra trong quý I vừa qua đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt của người dân, doanh thu các ngành dịch vụ bị ảnh hưởng; trong sản xuất nông nghiệp chịu sự tác động của thời tiết mưa lũ, dịch tả lợn Châu Phi..vv đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cũng như đời sống nhân dân. Trong bối cảnh đó, tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai kịp thời Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm tính chủ động, kịp thời, linh hoạt, lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm để tập trung chỉ đạo, phù hợp với diễn biến tình hình và các vấn đề mới phát sinh, phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu, kế hoạch đề ra. Tuy vậy, quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, đã ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cụ thể như sau: 1. Tăng trưởng kinh tế         1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)         - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành: Quy mô GRDP năm 2020 theo giá hiện hành ước đạt 81.818,42 tỷ đồng. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 12.940,29 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 15,81%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 34.322,17 tỷ đồng chiếm 41,95%; khu vực dịch vụ ước đạt 27.612,81 tỷ đồng chiếm 33,75% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 6.943,16 tỷ đồng chiếm 8,49% trong tổng chung          - Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh 2010: GRDP năm 2020 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 47.740,93 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước tăng 0,53% so với cùng kỳ năm 2019. Đây là năm có tốc độ tăng trưởng GRDP thấp nhất kể từ sau sự cố môi trường biển năm 2016. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76% đóng góp 0,5 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,48%, đóng góp 0,21 điểm %; khu vực dịch vụ tăng 0,69%, đóng góp 0,23 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 4,57%, đóng góp -0,41 điểm %.         1.2. Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế.          - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Năm 2020 đạt mức tăng trưởng khá. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,59% đóng góp 0,38 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành lâm nghiệp tăng 2,81% đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Điểm sáng của khu vực này là ngành thủy sản đạt kết quả khá với mức tăng 5,46%, nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ đóng góp 0,09 điểm phần trăm. Năm 2020 do diện tích gieo trồng vụ Hè Thu tăng so với năm trước. Bên cạnh đó đồng ruộng Hà Tĩnh được ghi nhận rất ít sâu bệnh, nông dân tuân thủ lịch thời vụ nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt đem lại sản lượng cao (sản lượng lúa năm 2020 tăng 5,41% (tăng 27.389 tấn) so với năm 2019). Cùng với cây lúa các loại cây trồng cạn (ngô, rau, khoai lang đậu các loại) và cây ăn quả năng suất và sản lượng cao hơn năm 2019. Chăn nuôi từ đầu năm đã tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp kiểm soát dịch và đạt được những kết quả bước đầu về tăng đàn, tái đàn và tăng sản lượng. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tăng so với cùng kỳ do một số diện tích rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác tăng nhẹ. Đối với hoạt động sản xuất thủy năm 2020 vẫn duy trì được mức tăng khá, sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác đều tăng so với năm 2019. Mặc dù duy trì được mức tăng khá nhưng ngành thủy sản chiếm tỷ trọng nhỏ nên đóng góp không nhiều vào tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng như tăng trưởng chung. - Khu vực Công nghiệp và xây dựng: Ngành công nghiệp năm 2020 tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ các năm 2011-2020, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,5 %, đóng góp -0,64 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 5,08%, làm giảm 0,03 điểm phần trăm; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước là điểm sáng trong tăng trưởng của khu vực này với mức tăng 12,52%, đóng góp 1,10 điểm phần trăm. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,27% so với cùng kỳ đóng góp -0,03 điểm %. Ngành xây dựng năm 2020 giảm -2,24% đóng góp -0,19 điểm phần trăm. Năm 2020 sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phôi thép, thép thành phẩm của Công ty Formosa giảm mạnh do hiện nay giá thép thành phẩm liên tục giảm, giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao. Cùng với đó là ảnh hưởng của dịch Covid-19 và chiến tranh thương mại Mỹ-Trung kéo dài từ năm 2019 đến nay đồng thời Công ty Formosa ngừng hoạt động để bảo dưỡng sửa chữa máy móc dây chuyền cán nóng nên dự ước sản lượng phôi thép đạt 5,8 triệu tấn (giảm 4,06%) và sản lượng thép là 4,4 triệu tấn (giảm 9,17%) so với cùng kỳ năm 2019. Cùng với sự sụt giảm của Công ty Formosa thì các ngành công nghiệp chế biến chế tạo khác cũng đều sụt giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19 và Nghị định 100 về cấm sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông.Tăng trưởng của ngành điện sản xuất được duy trì ổn định do có sự đóng góp của dự án điện mặt trời Cẩm Hòa, từ tháng 7/2019 đi vào hoạt động và Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh vận hành ổn định các tổ máy, sản lượng tăng so với cùng kỳ (đầu năm 2019 có 2 tháng thiếu nhiên liệu và các tổ máy ngừng hoạt động để sửa chữa). Hoạt động xây dựng năm 2020 tiếp tục gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 diễn ra trong thời gian dài các hoạt động xây dựng tạm ngừng hoặc giãn thi công, tháng 10 mưa lớn ngập úng trên diện rộng nên hoạt động xây dựng tiếp tục sụt giảm.          - Khu vực dịch vụ: Năm 2020 tăng 0,69%, đây là năm thứ hai tăng trưởng khu vực này đạt thấp kể từ khi xảy ra sự cố môi trường biển năm 2016. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn như: Bán buôn và bán lẻ tăng 3,22% so với năm 2019, đóng góp 0,19 điểm phần trăm vào mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có mức tăng khá 7,7%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 23,39%, đóng góp -0,55 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 7,36%, đóng góp -0,27 điểm phần trăm. Do là ngành chịu tác động lớn của tình hình dịch bệnh Covid-19 và chính sách pháp luật với việc thực hiện Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ, những tháng cuối năm lại chịu ảnh hưởng bởi thời tiết không thuận lợi, mưa bão xảy ra liên tiếp.           - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm: Hiện nay, thực hiện tính chỉ tiêu GRDP theo giá cơ bản thì thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP. Năm 2020, thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm theo giá so sánh giảm 4,57% so với năm 2019 đã làm giảm 0,41 điểm phần trăm trong tổng mức tăng trưởng chung. Nguyên nhân chính do số thu từ công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa giảm và hoàn thuế VAT tăng cao so với cùng kỳ. Nhìn chung, giai đoạn 5 năm từ 2016 đến 2020 Hà Tĩnh đã có nhiều thay đổi trong tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2016-2020 chỉ đạt 4,42%/năm, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1,53%/năm; khu vực công nghiệp-xây dựng đạt 8,8%/năm; khu vực dịch vụ đạt 3,46%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt -3,91%/năm. Như vậy, hoạt động sản xuất ổn định của Công ty Fomosa đóng vai trò rất lớn cho sự phát triển của ngành sản xuất công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước tạo tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế cho những năm tiếp theo và tạo tiền đề cho bước đột phá mới.         1.2. Cơ cấu nền kinh tế Cơ cấu kinh tế Hà Tĩnh trong những năm qua đã chuyển dịch theo hướng tích cực tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, giảm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19; thiên tai, lũ lụt và chiến tranh thương mại Mỹ-Trung kéo dài từ năm 2019 đến nay đã làm thay đổi tỷ trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế, cụ thể đến nay khu vực công nghiêp- xây dựng chiếm 41,95% giảm 1,03 điểm % so với năm 2019; khu vực dịch vụ chiếm 33,75%, giảm 0,83 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,49% giảm 0,23 điểm % so với năm 2019 và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,81%, tăng 2,09 điểm %. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế không chỉ diễn ra ở các khu vực kinh tế mà xu hướng chuyển đổi trong nội ngành cũng diễn ra tích cực trong những năm gần đây. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu nội ngành, năm 2020 chiếm 80,77%; trong khi đó ngành thủy sản chỉ chiếm 6,92%; ngành lâm nghiệp chiếm 12,31%. Trong sản xuất nông nghiệp cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là giống, biện pháp thâm canh mới…góp phần tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm đang có sự thay đổi để phù hợp hơn với nhu cầu thị trường. Trong những năm gần đây tỷ trong của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất và phân phối điện có xu hướng tăng, năm 2020 chiêm 97,5% trong cơ cấu nội ngành (tăng 0,2 điểm % so với năm 2019); tỷ trọng của ngành khai khoáng chiếm 1,39% (giảm 0,12 điểm % so với năm 2019). Điều này cho thấy chính sách phát triển kinh tế đã hướng vào tăng trưởng bền vững, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên.   Khu vực dịch vụ được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ. Tuy nhiên hiện nay tỷ trọng giá trị dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế tăng với tốc độ chậm. Điểm yếu của khu vực dịch vụ chính là tỷ trọng các phân ngành còn có sự chênh lệch lớn. Năm 2020 tỷ trọng ngành khách sạn, nhà hàng trong cơ cấu nội ngành nhiều năm vẫn giữ ở mức thấp 5,07% (giảm 1,67 điểm %) so với năm 2019, ngành tài chính-ngân hàng và bảo hiểm chiếm 6,92% (tăng 0,24 điểm %); Ngành vận tải và thông tin truyền thông là hai ngành tác động trực tiếp và không thể thiếu đối với các ngành sản xuất cũng chỉ chiếm tỷ lệ 16,92% (giảm 1,1 điểm %); trong khi đó phân ngành bán buôn bán lẻ chiếm tỷ trọng 22,44% (tăng 0,85 điểm %).          2. Tài chính, ngân hàng         2.1. Thu - Chi ngân sách Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2020 đạt 10.126 tỷ đồng, bằng 80% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó: thu nội địa chiếm 69,81%; thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 20,66% và thu khác chiếm 9,53%, tăng 27,75%. Trong điều kiện khó khăn chung do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, bên cạnh đó hậu quả do lũ lụt, cháy rừng và dịch bệnh trong sản xuất đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị thu nội địa tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước góp phần ổn định cân đối ngân sách địa phương trong điều kiện khó khăn chung. Tuy nhiên, do sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phôi thép, thép thành phẩm giảm mạnh do giá thép thành phẩm giảm, giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao, cùng với ảnh hưởng của dịch Covid-19 và Formosa phải bảo dưỡng sửa chữa lớn đã ảnh hưởng đến hoạt động xuất, nhập khẩu nên tổng thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu chỉ bằng 73,88% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, việc hoàn thuế VAT tăng 3,92 lần so với cùng kỳ dẫn đến thu cân đối hoạt động xuất, nhập khẩu giảm 63,02% so với cùng kỳ năm 2019. Với các giải pháp điều hành linh hoạt, bố trí sắp xếp hợp lý các nhiệm vụ chi nên chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo tiến độ theo dự toán đầu năm và triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/202 đạt 18.917,1 tỷ đồng bằng 111,36% so với cùng kỳ năm 2019. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 44,32% tổng chi, tăng 20,66% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 55,60% tổng chi, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm 2019.          2.2. Hoạt động ngân hàng  Năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung vào các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của Ngành và UBND tỉnh có liên quan đến hoạt động ngân hàng năm 2020 và các văn bản chỉ đạo liên quan đến phòng chống, khắc phục hậu quả dịch Covid -19 và lũ lụt năm 2020. Vì vậy, trong thời gian qua hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên địa bàn khá ổn định. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2020 đạt 69,7 nghìn tỷ đồng, tăng 23% so với cuối năm 2019, đạt 143,75% so với kế hoạch. Nguồn vốn trung, dài hạn tăng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn (tăng 26,28% so với đầu năm, chiếm 52,09% trong tổng nguồn vốn) đã tạo điều kiện cho các TCTD chủ động nguồn vốn để cho vay tạo điều kiện cho khách hàng tháo gỡ khó khăn và mở rộng sản xuất kinh doanh trong điều kiện phòng chống dịch Covid-19, lũ lụt.. . Dư nợ cho vay ước đến cuối năm 2020 đạt 59,3 nghìn tỷ, tăng 14,25% so với cuối năm. Cơ cấu tín dụng diễn biến tích cực theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng. Dư nợ tín dụng bằng đồng Việt Nam tăng 16,45% trong khi tín dụng ngoại tệ giảm 50,57% phù hợp với chủ trương chống đô la hóa của nhà nước. Chất lượng tín dụng được cải thiện rõ rệt. Tín dụng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 67/NĐ-CP.... Nợ xấu được kiểm soát và dưới mức cho phép (1,17%). Các dịch vụ ngân quỹ, thanh toán tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn. Công tác quản lý ngoại hối, vàng của NHNN được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động của các TCTD được đẩy mạnh, phát hiện và chỉnh sửa kịp thời các sai sót trong hoạt động nghiệp vụ. Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch Covid-19, NHNN đã tập trung chỉ đạo thực hiện các hoạt động ứng phó và khắc phục khó khăn liên quan đến dịch. Cụ thể, tính đến ngày 30/11/2020 dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN là 442,05 tỷ đồng, với 548 khách hàng được cơ cấu. Dư nợ miễn giảm lãi theo Thông tư 01 là 127,87 tỷ đồng cho 234 khách hàng với số lãi giảm 564 triệu đồng; hạ lãi suất dư nợ hiện hữu với dư nợ 8.369 tỷ đồng cho 3.760 khách hàng với số lãi được hạ 18.286 triệu đồng (giảm từ 0,05% đến 3,2%/năm). Các TCTD đã cho vay mới nhằm hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất kinh doanh với doanh số cho vay là 24.561 tỷ đồng, đối với 7.174 khách hàng (với lãi suất thấp hơn so với trước khi có dịch từ 0.05-0.3%/năm). Bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động ngân hàng trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại đó là mặc dù nợ xấu đã giảm so với cuối năm 2019 (nợ xấu cuối năm 2019 chiếm 1,42% tổng dư nợ), tuy nhiên nguồn nợ này chủ yếu tập trung vào các khách hàng có dư nợ lớn, khó xử lý và chưa tìm ra hướng giải quyết.   3. Sản xuất Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản Thực hiện Kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2020 gặp rất nhiều khó khăn, thách thức đó là: đại dịch Covid-19 tác động sâu rộng đến mọi mặt kinh tế xã hội, trong đó có xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản; dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn ảnh hưởng đến tái đàn, tăng đàn; mưa lớn gây ngập lụt trên diện rộng, lốc xoáy, hạn hán kéo dài đã ảnh hưởng đến diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng…Mặc dù vậy, phát huy thuận lợi, vượt qua khó khăn, kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2020 vẫn đạt được kết quả khá cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. 3.1. Sản xuất nông nghiệp       a. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh năm 2020 sơ bộ đạt 155.714 ha, bằng 99,28% (giảm 1.130 ha) so với năm 2019. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm sơ bộ đạt 580.398 tấn, bằng 105,32% (tăng 29.363 tấn) so với năm 2019. - Cây lúa: Sản xuất vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu 2020 nhìn chung đều được mùa, được giá. Tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm 2020 sơ bộ tăng 0,31% (tăng 322 ha) so với năm 2019. Vụ lúa Hè Thu diện tích gieo trồng tăng 1,1% (tăng 481 ha). Nguyên nhân tăng diện tích gieo trồng vụ Hè Thu là do sự vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong việc vận động, tuyên truyền người dân hạn chế tình trạng bỏ hoang ruộng đất. Vụ lúa Đông Xuân diện tích gieo trồng giảm 0,22% (giảm 133 ha) do chuyển đổi mục đích sử dụng và vụ Mùa diện tích gieo trồng giảm 4,82% (giảm 26 ha) do năng suất thấp nên người dân bỏ ruộng nhiều. - Năng suất thu hoạch lúa cả năm 2020 sơ bộ tăng 3,12% (tăng 1,56 tạ/ha) so với năm 2019. Vụ Hè Thu năng suất tăng do ít sâu bệnh, nông dân tuân thủ lịch thời vụ nên lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Năng suất lúa vụ Đông Xuân và vụ Mùa giảm do một số diện tích thời kỳ lúa trổ gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi. Đặc biệt, vụ Đông Xuân do ảnh hưởng một một số loại sâu bệnh đạo ôn lá, bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh bạc lá đã làm cho năng suất giảm. Tổng sản lượng lúa năm 2020 sơ bộ tăng 5,41% (tăng 27.389 tấn) so với năm 2019. Trong đó: sản lượng lúa Đông Xuân chiếm tỷ trọng 60,92%, giảm 1,75% (giảm 5.793 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu chiếm tỷ trọng 38,92%, tăng 19,27% (tăng 33.588 tấn) và sản lượng lúa Mùa chiếm tỷ trọng 0,16% tổng sản lượng lúa cả năm, giảm 32,97% (giảm 406 tấn) so với cùng kỳ năm 2019.          Diện tích gieo trỉa các loại cây hàng năm chủ lực khác như ngô, khoai lang, sắn, lạc đều giảm, chỉ có diện tích rau tăng hơn so với năm 2019. Nguyên nhân do đầu vụ Đông mưa kéo dài làm cho đất ướt khó sản xuất đối với một số loại cây, nhiều diện tích chậm tiến độ so với lịch thời vụ nên phải chuyển sang trồng các loại rau và một số cây trồng khác. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc ít sâu bệnh và điều kiện thời tiết thuận lợi thì năng suất các loại cây trồng chủ lực khác năm 2020 như ngô, khoai lang, sắn, rau đều tăng hơn so với năm 2019.         - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại là không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân có 796 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá, phân bố ở các địa phương như Nghi Xuân, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh; có 1.580 ha nhiễm bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng (nhiễm nặng 122 ha), tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên và có 347 ha nhiễm bệnh bạc lá, phân bố tại các địa phương như Lộc Hà, Thạch Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên...Vụ Hè Thu năm nay có phát sinh một số loại sâu bệnh nhưng với mật độ thấp và không gây ảnh hưởng đến năng suất lúa. Đối với các loại cây trồng khác tuy sâu bệnh có phát sinh gây hại nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng. - Tiến độ sản xuất vụ Đông 2020: với quan điểm chỉ đạo là bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý, né tránh thiên tai nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tiến độ gieo trồng các loại cây trồng vụ Đông năm 2020 tính đến ngày 15/12/2020 đạt được như sau: Ngô lấy hạt 3.310 ha/3.036 ha, đạt 109,03% kế hoạch; Ngô sinh khối 2.056 ha/2.046 ha, đạt 100,5% kế hoạch; Rau các loại 3.361 ha/4.328, đạt 77,7% kế hoạch; Khoai lang 821 ha/1.422, đạt 57,7% kế hoạch. Hiện nay bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng vụ Đông, tuy nhiên do điều kiện thời tiết diễn biến bất thường, nhất là đợt lũ lụt xẩy ra vào trung tuần tháng 10 nên sản xuất vụ Đông gặp nhiều khó khăn. - Kế hoạch sản xuất vụ Xuân 2021: mục tiêu sản xuất phấn đấu tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 35 vạn tấn và diện tích gieo trỉa một số loại cây trồng như sau: diện tích lúa 59.050 ha; Diện tích cây rau đậu thực phẩm 5.277 ha; Diện tích lạc 11.111 ha; Diện tích ngô 4.210 ha; Diện tích khoai lang 1.651 ha; Diện tích đậu các loại 419 ha. Cơ cấu giống lúa chú trọng tăng tỷ lệ các giống năng suất, chất lượng để tăng giá trị hàng hóa góp phần nâng cao chỉ số tăng trưởng, không cơ cấu 01 giống quá 30% diện tích gieo, cấy. - Về lịch thời vụ: bắc mạ lúa từ 20/12/2020-5/02/2021, thời gian gieo cấy lúa từ 20/01/2021-25/02/2021. Cây lạc phấn đấu kết thúc trong tháng 2/2021; Cây ngô kết thúc trước 20/2/2021; Cây đậu trồng thuần hoặc trồng xen lạc, thời vụ sau 25/2 và kết thúc trước 10/3/2021; Rau các loại phải tranh thủ tối đa thời tiết thuận lợi để triển khai gieo trồng, khuyến khích trồng xen, luân canh, gối vụ để tăng hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích.          b. Cây lâu năm Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện, tổng diện tích cây lâu năm sơ bộ đạt 31.449 ha, bằng 101,28%, tăng 396 ha so với năm 2019. Diện tích trồng mới trong năm đạt 973 ha, chiếm tỷ trọng 3,1% tổng diện tích cây lâu năm hiện có. - Tổng diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 18.797 ha, chiếm 59,8% tổng diện tích cây lâu năm, bằng 105,37%, tăng 958 ha so với năm 2019. Trong đó, diện tích trồng mới đạt 854 ha, chiếm 4,5% tổng diện tích cây ăn quả hiện có. Sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 127.588 tấn, bằng 102,02%, tăng 2.521 tấn so với năm 2019. Hiện nay cây cam, bưởi đang được coi là cây ăn quả chủ lực và đang được các địa phương phát động các hộ dân trồng, trong đó tập trung mở rộng diện tích các loại cam bù, cam chanh, cam xã đoài. - Diện tích cây cao su sơ bộ đạt 8.739 ha, giảm 601 ha so với năm 2019. Do các Công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả, chuyển đổi một phần diện tích cao su, đất rừng trồng của các công ty sang cây trồng khác cho hiệu quả cao hơn và chuyển đổi mục đích sử dụng một số diện tích đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Sản lượng mũ cao su ước đạt 3.108 tấn, bằng 116,14%, tăng 432 tấn so với năm 2019. Chất lượng mủ cao su khá tốt, chất lượng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. - Chè búp sơ bộ đạt 1.260 ha, tăng 57 ha so với năm 2019. Chè xanh sơ bộ đạt 1.811 ha, tăng 46 ha so với năm 2019. Năng suất chè búp sơ bộ đạt 82,28 tạ/ha, tăng 5,99 tạ/ha với sản lượng chè búp đạt 7.775 tấn, tăng 307 tấn, bằng 104,11%. Năng suất cây chè xanh sơ bộ đạt 106,47 tạ/ha, giảm 1,67 tạ/ha với sản lượng chè xanh đạt 18207 tấn, tăng 460 tấn. Mô hình trồng chè đã đạt những kết quả khả quan, hiệu quả cao hơn so với trồng các loại cây công nghiệp khác. c. Chăn nuôi Đối với chăn nuôi trâu nguồn con giống hạn chế, chi phí đầu tư ban đầu cao hơn các loại vật nuôi khác và điều kiện chăn thả cũng đang ngày càng bị thu hẹp. Chăn nuôi bò nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Đã hình thành 846 mô hình chăn nuôi bò thâm canh với quy mô trên 10 con theo hướng hàng hóa; chất lượng đàn tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ bò lai Zêbu, bò thịt chất lượng cao chiếm 53% tổng đàn.    Chăn nuôi lợn, từ đầu năm đã tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp kiểm soát dịch và đạt được những kết quả bước đầu về tăng đàn, tái đàn và tăng sản lượng. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2020 ước đạt 72,39 nghìn tấn tăng 1,34% so với năm trước. Tuy vậy, những tháng cuối năm, đặc biệt là thời gian sau đợt lũ lụt tháng 10/2020, tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp, bùng phát ở các địa phương trong tỉnh, gây rủi ro lớn đến chính sách hỗ trợ chăn nuôi lợn của tỉnh; vì vậy, trong giai đoạn hiện nay không khuyến khích tái đàn, đặc biệt tại các hộ chăn nuôi không đảm bảo tốt các điều kiện an toàn sinh học. Trong khi chăn nuôi lợn gặp khó khăn thì người dân đã chuyển hướng đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm nên tổng đàn và sản lượng gia cầm trong thời gian qua phát triển tương đối khá. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: tính từ đầu năm đến ngày 20/12/2020, dịch lở mồm long móng đã xảy ra tại 10 xã thuộc 7 huyện, thị xã (Can Lộc, Hương Sơn, huyện Kỳ Anh, thị xã Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Nghi Xuân, Hương Khê), làm cho 132 con gia súc mắc bệnh, hiện còn ổ dịch tại các xã Gia Phố, Hương Vĩnh (huyện Hương Khê) chưa qua 21 ngày. Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 34 hộ/20 xã của 10 huyện, thành phố, thị xã, buộc phải tiêu hủy là 234 con với trọng lượng 13,5 tấn. Các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác không xẩy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đã được các địa phương triển khai thực hiện nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với kế hoạch, cụ thể: tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 253.524 liều, đạt 81,2% kế hoạch; Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 243.868 liều, đạt 79,6% kế hoạch; Dịch tả lợn 300.263 liều, đạt 79,4% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 300.186 liều, đạt 80,9% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 120.847 liều, đạt 75,9% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,97 triệu liều, đạt 39,8% kế hoạch.          3.2. Lâm nghiệp - Trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng: diện tích trồng rừng tập trung sơ bộ năm 2020 tăng 3,43% (tăng 295 ha) do điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng, diện tích rừng được chăm sóc sơ bộ đạt 33.236 ha, bằng 84,81% (giảm 5.952 ha); diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh năm sơ bộ đạt 2.013 ha, bằng 109,7% (tăng 178 ha), diện tích rừng được giao khoán bảo vệ sơ bộ đạt 169.020 ha, bằng 108,55% (tăng 13.310 ha) so với năm trước. Công tác trồng, chăm sóc, nuôi dư­ỡng rừng tiếp tục đư­ợc chú trọng và đầu tư hợp lý, nhằm khôi phục diện tích rừng bị nghèo kiệt. Tuy nhiên, một số diện tích rừng hết thời hạn cần được chăm sóc nên diện tích giảm. - Trồng cây phân tán: số lượng cây trồng phân tán sơ bộ 2020 giảm 19,46% (giảm 795 ngàn cây) so với năm trước. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, do quỹ đất ngày càng giảm nên lượng cây trồng phân tán cũng ngày càng có xu hướng giảm. - Ươm giống cây lâm nghiệp: sơ bộ năm 2020 số lượng cây giống ươm đạt 4.638 ngàn cây, bằng 102,63% (tăng 119 ngàn cây) so với năm 2019. Năm 2020, thời tiết thuận lợi cho công tác ươm giống, cây giống chủ yếu là keo, tràm...Hiện nay, người dân đang tập trung ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân năm 2021. - Khai thác, thu nhặt gỗ và lâm sản khác: sản lư­ợng gỗ khai thác sơ bộ tăng 6,71% (tăng 22.805 m3) so với năm trước. Sản lượng gỗ tăng so với năm trước do một số huyện không bị ảnh hưởng nhiều bởi cơn bão số 10 năm 2017, đến nay đã đủ tuổi để khai thác, tập trung chủ yếu ở các huyện như: huyện Kỳ Anh sơ bộ đạt 115.138 m3, Hương Khê sản lượng gỗ sơ bộ đạt 80.500 m3, Vũ Quang sản lượng gỗ sơ bộ đạt 55.686 m3, Hương Sơn sản lượng gỗ sơ bộ đạt 80.940 m3.. Sản lượng củi khai thác sơ bộ đạt 427.798 Ste, bằng 82,41% (giảm 91.282 Ste) so với năm trước do nhu cầu tiêu dùng giảm. Một số huyện có sản lượng khai thác củi lớn như: huyện Thạch Hà sơ bộ đạt 85.230 ste, huyện Kỳ Anh sơ bộ đạt 105.452 ste, Can Lộc sơ bộ đạt 30.000 ste, Nghi Xuân sơ bộ đạt 18.000 ste... - Thiệt hại rừng: công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng được tăng cường, từ đầu năm đến nay đã phát hiện và xử lý 189 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, tịch thu tang vật 164,287 m3 gỗ các loại, 164,4 kg động vật rừng, 3752,7kg lâm sản khác và 24 phương tiện. Năm 2020, toàn tỉnh xảy ra 51 điểm phát lửa, trong đó có 14 điểm gây cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 85,67ha, diện tích rừng thiệt hại không có khả năng phục hồi ước tính khoảng 59,7ha (so với năm 2019 giảm 49 điểm phát lửa, giảm 7 vụ cháy, diện tích rừng bị cháy giảm 377,23 ha, diện tích rừng thiệt hại không có khả năng phục hồi giảm 243,25 ha). 3.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản năm 2020 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển khá với sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng sơ bộ tăng 2,7%, tăng 1.440 tấn so với năm 2019, trong đó: - Sản phẩm thủy sản khai thác: sơ bộ đạt tăng 2,93%, tăng 1.125 tấn so với năm 2019, chiếm 72,07% tổng sản lượng thủy hải sản năm 2020. Sản lượng khai thác cá tăng 1.008 tấn; tôm giảm 93 tấn; thủy sản khác tăng 210 tấn. Ngư dân mạnh dạn đầu tư nâng cấp, cải hoán tàu thuyền, phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ, góp phần mở rộng ngư trường khai thác. Các loài cá nổi xuất hiện nhiều ở vùng biển gần bờ nên sản lượng khai thác tăng. Những tháng cuối năm do mưa bão nên ngư trường khai thác gặp khó khăn hơn - Sản phẩm thủy sản nuôi trồng: sơ bộ tăng 2,1%, tăng 315 tấn so với năm 2019, chiếm 27,93% tổng sản lượng thủy hải sản năm 2020. Trong đó, sản lượng cá giảm 128 tấn; tôm tăng 173 tấn; thuỷ sản khác tăng 270 tấn. Đợt lũ lụt vào trung tuần tháng 10 cũng đã gây thiệt hại đối với nuôi trồng. - Số lượng giống thủy sản: sơ bộ đạt 759 triệu con, giảm 31 triệu con so với năm 2019. Trong đó, số lượng cá giống giảm 11 triệu con; tôm giống giảm 20 triệu con. Tuy con giống chưa đáp ứng hết nhu cầu người nuôi nên phải nhập từ tỉnh khác về Thanh Hóa; Nam Định; Thái Bình; Bến Tre... - Tình hình dịch bệnh: bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy trên tôm với diện tích 73,1 ha/16 xã/5 huyện. Trong đó: bệnh đốm trắng diện tích 62,25 ha/13 xã/5 huyện; hoại tử gan tụy cấp tính diện tích 10,85 ha/7 xã/3 huyện. Nguyên nhân là do thời tiết thay đổi thất thường, nắng nóng làm cho nhiệt độ chênh lệch, gây biến động các yếu tố môi trường, giảm sức đề kháng của tôm, sinh ra dịch bệnh.         4. Sản xuất công nghiệp Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 bùng phát đã gây ra tác động xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các ngành, các doanh nghiệp, cơ sơ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đều gặp phải khó khăn, nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp phải giảm sản xuất do không tiêu thụ được sản phẩm. Đặc biệt, Công ty Formosa do giá nguyên liệu vẫn tăng cao, giá thép thành phẩm thấp và nhiều ngày phải ngừng sữa chữa lớn dây chuyền cán nóng nên đã tác động lớn tới hoạt động công nghiệp toàn tỉnh. Cụ thể: - Ngành công nghiệp năm 2020 có tốc độ tăng giá trị tăng thêm so với cùng kỳ năm trước đạt 1,13% thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt trong tăng trưởng kinh tế giảm 2,5% - Chỉ số sản xuất công nghiệp: Tính chung 12 tháng năm 2020, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính giảm 4,83% so với năm 2019. Ngành khai khoáng giảm 6,49%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,62%, làm giảm 6,06 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện tăng 8,43%, đóng góp 1,42 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 4,63%, làm giảm 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.      - Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính giảm 9,3%, trong đó chỉ có 2 ngành có chỉ số tiêu thụ cộng dồn 12 tháng tăng: sản xuất trang phục tăng 134,32%; in, sao chép các bản ghi tăng 6,39%. Còn lại 12 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tiêu thụ giảm. Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 46,54%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 40,07%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 39,6%; … - Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12 ước tính tăng 37,37% so với tháng trước và tăng 25,76% so cùng kỳ năm trước, trong đó 5 ngành có chỉ số tồn kho tăng, 7 ngành giảm so cùng kỳ năm trước, cụ thể: ngành dệt giảm 86,69%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 63,03%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 61,91%;... - Về Một số sản phẩm chủ yếu: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2020 chỉ có 7 sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng cao nhất là Quặng Zircon và tinh quặng Zircon tăng 43,79%; thu gom rác thải tăng 15,27%; điện sản xuất tăng 8,18%; Nước uống được tăng 5,22%; song song với việc một số sản phẩm công nghiệp tăng thì trong năm vừa qua đã có đến 14 sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số sản phẩm cộng dồn giảm mạnh như: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 61,05%; quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 43,2%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) giảm 39,83%.         5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp - Phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã: Đã tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Ước đến 20/12/2020 toàn tỉnh thành lập mới 943 doanh nghiệp (giảm 7,73% ) và 38 hợp tác xã (tăng 15,15%) so với cùng kỳ năm trước, với tổng số vốn đăng ký đạt 7.393 tỷ đồng, giảm 39,02% so với cùng kỳ năm trước; bình quân doanh nghiệp đăng ký vốn đạt 7,84 tỷ đồng/doanh nghiệp, giảm 6,16 tỷ đồng/doanh nghiệp so với năm 2019. Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua do tình hình dịch bệnh hết sức phức tạp, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể đã có 401 doanh nghiệp phải giải thể và tạm ngừng kinh doanh, tăng 18,28% so với cùng kỳ, thể hiện các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. - Thu hút đầu tư: Chấp thuận chủ trương 62 dự án, trong đó 61 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 10.500 tỷ đồng và 01 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,5 triệu USD; ngoài ra, điều chỉnh vốn đầu tư 01 dự án FDI từ 1,2 triệu USD lên 32 triệu USD. Mặc dù tổng số dự án chấp thuận chủ trương đầu tư giảm mạnh so với năm 2019 nhưng số vốn đăng ký tăng cao hơn; vốn đầu tư trong nước tăng 2,7%, vốn đầu tư FDI tăng gấp 2,6 lần. Đối với các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, trong điều kiện dịch covid 19 diễn biến phức tạp, gặp nhiều khó khăn, nhưng một số dự án lớn vẫn có tiến độ triển khai tốt như bệnh viện TTH Hà Tĩnh, nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát, nhà máy điện mặt trời Cẩm Hưng, nhà máy may Hanvina, nhà máy may Apatech Đức Thọ.  Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong năm 2020 tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. - Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh năm 2021: Năm 2021, các doanh nghiệp nhận định sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng lên. Trong đó: + Về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo năm tiếp theo có xu hướng tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (75% doanh nghiệp). Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo vẫn giữ nguyên là 18,18% và chỉ có 6,82% doanh nghiệp cho rằng năm tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại. + Về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo năm tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,91%), trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 6,82%. Tuy nhiên, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ chững lại và giữ nguyên trong năm tiếp theo. Các doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao (58,33%). Điều này cho thấy trước tình hình dịch bệnh đang diễn ra trên thế giới, số lượng hàng hóa sản xuất cho tiêu thụ trong nước tăng nhưng xuất khẩu ra nước ngoài giảm do các nước vẫn đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh nên hạn chế số lượng đặt hàng xuất khẩu mới ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. + Về dự báo số lượng lao động năm tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong năm tiếp theo chiếm đến 68,18% doanh nghiệp, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 25% và chỉ có 6,82% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động. 6. Đầu tư và xây dựng         6.1. Đầu tư phát triển         Dự ước tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2020 trên địa bàn toàn tỉnh đạt 26.075,4 tỷ đồng, bằng 100,5% so với năm 2019. Trong đó: vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.867,4 tỷ đồng, tăng 32,72% so với năm trước, chiếm 30,17% tổng vốn; vốn ngoài Nhà nước ước đạt 14.664,7 tỷ đồng, bằng 99,03% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 56,24% tổng vốn; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.543,3 tỷ đồng, bằng 68,01% so với năm trước, chiếm 13,59% tổng vốn. Mặc dù nguồn vốn nhà nước trên địa bàn có tăng mạnh trên (32,72%) so với năm trước, song do cơ cấu nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và dòng nguồn vốn này tiếp tục giảm trong năm 2020 khi các dự án lớn giai đoạn II tại Formosa chưa được triển khai do đó ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng tổng vốn nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Về thực hiện vốn đầu tư công, tổng giá trị giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công dự ước tăng 32,72% so với năm trước. Để thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, UBND tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 296/CTr-UBND ngày 31/7/2020 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công năm 2020. Bên cạnh đó nguồn vốn ngân sách cũng như các chương trình mục tiêu của Chính phủ tăng mạnh so với năm trước (tăng 46%).  Đối với các dự án ngoài Nhà nước đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, trong điều kiện dịch Covid 19 diễn biến phức tạp, gặp nhiều khó khăn nhưng một số dự án lớn vẫn có tiến độ triển khai tốt như: Bệnh viện TTH Hà Tĩnh; nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát; nhà máy điện mặt trời Cẩm Hưng; nhà máy may Hanvina; nhà máy may Apatech Đức Thọ. Tuy nhiên, cũng do dịch bệnh ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn xã hội, các doanh nghiệp đầu tư sửa chữa cũng như mua sắm cơ sở vật chất giảm mạnh. Do đó, nguồn vốn khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 15,29% so với năm 2019. Nguồn vốn khu vực hộ dân cư dự ước đạt 10.312,5 tỷ đồng, tăng 6,93% so với năm trước. Nguyên nhân do nguồn vốn đầu tư hộ dân cư chủ yếu là xây dựng nhà cửa, năm nay lực lượng lao động cá thể tăng mạnh do đó khối lượng thi công đạt cao.         6.2. Xây dựng         Năm 2020, mặc dù nguồn vốn ngân sách tỉnh đầu tư trên địa bàn tăng 46% so với năm trước. Một số dự án lớn do doanh nghiệp ngoài nhà nước, nước ngoài đầu tư trên địa bàn như Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh (gần 1.200 tỷ), dự án nhà máy sản xuất lâm sản An Việt Phát (380 tỷ); Dự án nhà máy gỗ Thanh Thành Đạt tăng nguồn vốn từ 1.485 tỷ lên 1.785 tỷ; Dự án nhà máy điện mặt trời Cẩm Xuyên (550 tỷ)... Tuy nhiên, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 diễn ra trong thời gian dài. Tháng 4, các hoạt động xây dựng tạm ngừng hoặc giãn thi công do giãn cách xã hội, tháng 10 mưa lớn ngập úng trên diện rộng. Do vậy Giá trị tăng thêm theo giá so sánh của ngành xây dựng năm 2020 ước đạt 3.895,6 tỷ đồng, giảm 2,24% so với năm 2019, đóng góp -0,19 điểm phần trăm trong mức tăng chung của toàn ngành.  7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ         - Tổng mức bán lẻ hàng hoá tháng 12/2020 tăng khá so với tháng trước (tăng 4,57%) và so với cùng kỳ năm trước (tăng 5,44%). Ước cả năm 2020 tăng 3,7% so năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng 9% của năm 2019. Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định, không có sự đột biến xẩy ra. Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và tiêu dùng, nguy cơ tăng giá rất cao. Để góp phần đảm bảo cung cầu trong dịp cuối năm 2020 và Tết Nguyên Đán, Sở Công thương đã yêu cầu các doanh nghiệp, địa phương báo cáo tình hình dự trữ hàng hóa; nắm bắt nhu cầu tiêu dùng của người dân để triển khai kế hoạch cụ thể dự trữ hàng hóa thiết yếu, phục vụ người dân trong dịp Tết; kiểm soát chặt chẽ về chất lượng hàng hóa, bình ổn giá cả thị trường, tránh tình trạng khan hàng, sốt giá, nhất là nhóm mặt hàng thực phẩm tươi sống (thịt bò, thịt lợn và thịt gà). - Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Năm 2020 dự tính đạt 4.284,13 tỷ đồng, giảm 20,9% so năm trước. Trong đó: Dịch vụ Lưu trú dự tính đạt 201,76 tỷ đồng (chiếm 4,71%) tổng doanh thu, giảm 37,72%; Dịch vụ ăn uống dự tính 4.082,37 tỷ đồng (chiếm 95,29%) tổng doanh thu, giảm 19,86% so với năm trước. - Doanh thu Dịch vụ Lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 11,56 tỷ đồng, (chiếm 0,27%) tổng doanh thu, giảm 55,33% so với năm trước. Mặc dù trong năm vừa số doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh cá thể tham gia trong linh vực dịch vụ này có tăng về số lượng, quy mô, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng lên, song do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp làm hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, nhất là ngành dịch vụ du lịch, lưu trú đã làm giảm sâu so với năm trước.         - Hoạt động dịch vụ khác: Ước cả năm 2020, doanh thu hoạt động dịch vụ khác đạt 1.501,16 tỷ đồng, giảm 9,06% so với năm 2019, đây là năm giảm lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong đó: doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 197,96 tỷ đồng (giảm 3,51%); hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 345,84 tỷ đồng (giảm 5,54%); giáo dục đào tạo ước đạt 31,15 tỷ đồng (giảm 3,83%); Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 177,36 tỷ đồng (tăng 4,11%); nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 155,02 tỷ đồng (giảm 27,16%); sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 174,33 tỷ đồng (giảm 4,05%); dịch vụ khác ước đạt 419,50 tỷ đồng (giảm 10,71%) so với năm trước.         - Hoạt động dịch vụ Vận tải, kho bãi năm 2020 ước đạt 5.169,07 tỷ đồng, giảm 7,7% so với năm trước. Trong đó:                    + Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.698,84 tỷ đồng, giảm 13,69% so với năm trước. Sản lượng vận chuyển hành khách ước đạt 21.174,2 nghìn HK, giảm 15,85% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 3.799.661,5 nghìn HK.km, giảm 14,55% so với năm trước.          + Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.872,19 tỷ đồng, giảm 8,22% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 32.710,6 nghìn tấn, giảm 8,8% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 874.663,7 nghìn tấn.km, giảm 6,99% so với năm trước.+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 598,04 tỷ đồng, tăng 19,01% so với năm trước. Nhìn chung, kết quả hoạt động bán lẽ, kinh doanh các ngành dịch vụ, dịch vụ khác trong năm 2020 giảm mạnh so với năm 2019. Nguyên nhân do từ đầu năm 2020 đến nay, sự bùng phát của đại dịch Covid -19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng và tiếp tục có diễn biến phức tạp, khó lường, tình hình kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, sự biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt, mưa bão, ngập úng diễn ra liên tiếp trong thời gian qua, làm cho các hoạt động sản xuất phát triển kinh tế đều bị ngừng trệ, các thành phần kinh tế gặp vô vàn khó khăn, lực lượng lao động mất việc làm tăng, nguyên liệu sản xuất đầu vào thiếu, một số doanh nghiệp phải cắt giảm lao động, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa giảm mạnh, đời sống của Nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Chính phủ cũng đã đưa ra các phương án, giải pháp, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Thực hiện các chính sách, giải pháp phát triển bền vững, tạo cơ sở phát triển mô hình, tổ chức sản xuất kinh doanh mới. Triển khai thực hiện các định hướng, nhiệm vụ, giải pháp mà tỉnh đưa ra, tập trung khắc phục những khó khăn do đại dịch Covid -19 và mưa bão, lũ lụt gây ra, nhằm thực hiện được mục tiêu kép là vừa phòng chống được dịch bệnh Covid-19 vừa phát triển kinh tế - xã hội. 8. Chỉ số giá tiêu dùng Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung kéo dài, cùng với đó là tình hình thiên tai diễn biến phức tạp. Giá các loại lương thực, thực phẩm tăng cao đã ảnh hưởng đến đời sống người dân. Tháng 12 năm 2020, chỉ số CPI chung tăng nhẹ 0,02% so với tháng trước, tăng 0,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực thành thị tăng 0,01% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,07%; Khu vực nông thôn tăng 0,03% so với tháng trước và giảm 0,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 4 nhóm có chỉ số giá ổn định so với tháng trước gồm: Đồ dùng gia đình; May mặc, mũ nón, dày dép; Bưu chính viễn thông và nhóm hàng hóa dịch vụ khác. Có 02 nhóm hàng giảm so với tháng trước đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (giảm 1,32%) và Chỉ số giá vàng (giảm 0,49%). Còn lại 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước là: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 1,25%); Giao thông tăng 1,82% *Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 12/2020. - Giá thịt lợn hơi tiếp tục giảm do ảnh hưởng bởi dịch bệnh tả châu Phi bùng phát trở lại trên địa bàn, ảnh hưởng đến tâm lý người chăn nuôi và người tiêu dùng. - Do yếu tố thời tiết chuyển rét đậm, tác động đến nhu cầu và giá cả nhóm hàng may mặc, đồ dùng gia đình, điện và nước sinh hoạt. - Giá gas, xăng, dầu các loại được điều chỉnh theo xu hướng biến động thị trường thế giới. - Ảnh hưởng của thị trường thế giới cùng với nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng tăng nhằm để sửa chữa, khắc phục những thiệt hại sau các đợt mưa lũ đầu quý 4 cũng như các công trình được đẩy nhanh tiến độ thi công vào dịp cuối năm nên đã tác động làm cho giá cả các loại sắt, thép bán ra trên địa bàn tỉnh tăng. *Tính chung CPI cả năm 2020, chỉ số giá bình quân năm 2020 bằng 103,45% (tăng 3,45%) so với bình quân năm 2019. Trong đó: khu vực thành thị tăng 4,18%; Nông thôn tăng 3,01%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,40%; Đồ uống và thuốc lá tăng 2,67%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,85%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,19%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,9%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,51%; Giao thông giảm 11,28%; Bưu chính viễn thông giảm 0,95%; Giáo dục tăng 5,12%; Văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,01%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,39% so với bình quân năm 2019. *Dự kiến CPI tháng 01/2021 Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 01/2021 dự kiến có khả năng tăng mạnh so tháng 12. Giá cả nhiều nhóm hàng hóa như lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật liệu xây dựng, hàng may mặc có thể tăng giá vào thời điểm cuối tháng, khi mà dịp Tết Nguyên đán đến gần. Giá thịt gia súc, gia cầm có thể tăng trở lại khi dịch bệnh được kiểm soát và nguồn cung bị ảnh hưởng do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ hạn chế xuất bán, chờ dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Trong khi đó, giá điện, nước sinh hoạt dự kiến giảm trong tháng tới khi nhu cầu tiêu dùng dự kiến giảm và chính sách giảm giá điện của Chính phủ được áp dụng. Công tác kiểm tra quản lý giá, bình ổn thị trường thương mại trong những tháng cuối năm được các cấp các ngành quan tâm hơn. Để bảo đảm nguồn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, các siêu thị lớn, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đang có sự chuẩn bị về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu, bình ổn giá…Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống cũng như sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.        9. Các vấn đề xã hội        9.1. Dân số, lao động và việc làm         Dân số trung bình năm 2020 ước tính 1.296.622 người, tăng 0,49% so với năm 2019 (tăng 6.359 người). Trong đó: Dân số thành thị 287.766 người, chiếm 22,19%; dân số nông thôn 1.008.856 người, chiếm 77,81%; dân số nam 642.159 người, chiếm 49,53% và dân số nữ 654.463 người, chiếm 50,47%.        Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2020 ước khoảng 715.476 người, chiếm 55,18% dân số toàn tỉnh, tăng 1,17% so với năm 2019; trong đó lực lượng lao động nam 349.750 người (chiếm 48,88% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị 158.262 người (chiếm 22,12% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên).        Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2020 ước tính 694.050 người, chiếm 97,01% trong tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, trong đó: lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 50,63% trong tổng số (tương ứng 351.376 người), giảm 0,44 điểm phần trăm so năm trước; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 18,77% (tương ứng 130.246 người), tăng 0,62 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 30,61% (tương ứng 212.428 người), giảm 0,18 điểm phần trăm.        Ước tính năm 2020, Hà Tĩnh đã giải quyết việc làm cho 19.893 lao động, giảm 19,73% so với năm 2019, trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh t ế - xã hội trên địa bàn tỉnh 12.240 người, tăng 3,2%; xuất khẩu lao động 4.803 người, giảm 49,89%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 2.850 người, giảm 14,67%.        9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội         - Đời sống dân cư: Thời gian qua, tuy ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nhưng nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự nỗ lực phấn đấu của Nhân dân trong phòng chống dịch, cũng như công tác hỗ trợ người dân, nên đời sống dân cư năm 2020 vẫn giữ vững ổn định so với năm trước. Ngoài ra, tính đến 15/12/2020 Hà Tĩnh đã thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ cho 177.349 đối tượng với kinh phí 238,43 tỷ đồng (đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo; đối tượng là hộ kinh doanh và lao động bị mất việc làm). Vì vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra thiếu đói và dự kiến trong tháng tới tình hình thiếu đói cũng không xảy ra.        - Công tác giảm nghèo: Với sự quyết tâm chính trị nhằm hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững, đảm bản an sinh xã hội, Hà Tĩnh đã hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo (tỷ lệ tái nghèo bình quân hàng năm xấp xỉ 1,5% so với tổng số hộ nghèo); tạo điều kiện hỗ trợ những hộ nghèo có khả năng vươn lên thoát nghèo bền vững; hỗ trợ về thu nhập cho cho hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội để họ có mức sống trên chuẩn nghèo. Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2020 của tỉnh, tỷ lệ giảm nghèo Hà Tĩnh đã đạt được kết quả đáng ghi nhận, đến nay tỷ lệ hộ nghèo là 3,51% (gồm 13.412 hộ, với 26.990 khẩu), giảm 1,02 điểm phần trăm so với năm 2019; tỷ lệ hộ cận nghèo là 4,31% (gồm 16.462 hộ, với 50.219 khẩu), giảm 0,75 điểm phần trăm.         - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: đến nay, toàn tỉnh trao tặng khoảng 475.242 suất quà trị giá khoảng 144,42 tỷ đồng, trong đó: tặng quà cho người có công khoảng 287.580 suất trị giá 61,055 tỷ đồng; quà cho hộ nghèo 75.097 suất, kinh phí 34,766 tỷ đồng; quà cho người cao tuổi 54.767 suất, kinh phí 16,051 tỷ đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn 13.198 suất, kinh phí 6,299 tỷ đồng; quà đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác 44.600 suất, kinh phí 26,249 tỷ đồng. Cấp khoảng 28.570 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 49.048 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 144.358 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 59.798 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo.        9.3. Giáo dục, đào tạo        - Giáo dục phổ thông: Trên cơ sở những kết quả đạt được, năm học 2020-2021 ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tập trung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hoàn thành các điều kiện để triển khai chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Năm học 2020-2021, toàn tỉnh có 667 trường, giảm 35 trường so với năm học 2019-2020 (gồm 254 trường mầm non, giảm 11 trường; 221 trường tiểu học, giảm 20 trường; 147 trường THCS, giảm 4 trường; 45 trường THPT, không thay đổi) với 10.400 lớp (mẫu giáo 2.804 lớp, tiểu học 4.030 lớp, THCS 2.366 lớp, THPT 1.200 lớp) và 18.005 giáo viên (mầm non 5.254 người, tiểu học 5.375 người, THCS 4.599 người, THPT 2.777 người) và 322.636 học sinh (nhà trẻ, mẫu giáo 79.237 em, tiểu học 121.205 em, THCS 78.464 em và THPT 43.730 em).         - Giáo dục đào tạo: Năm học 2020-2021, chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy là 1.430 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.380 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Năm 2020, Hà Tĩnh có 23 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 4 trường cao đẳng, 1 phân hiệu của trường cao đẳng, 4 trường trung cấp, 10 trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện, 4 cơ sở dạy nghề khác. Tính đến ngày 10/12/2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 4.313 người, trong đó: trình độ cao đẳng 35 người, trình độ trung cấp 806 người; trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên 3.472 người.         9.4. Hoạt động Y tế        Năm 2020, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến. Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân.        - Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19, cộng dồn tổng số bệnh nhân nhiễm Covid -19 là 4 người, tất cả các ca trên đã điều trị khỏi, bệnh nhân cuối cùng được điều trị khỏi bệnh là ngày 7/5/2020. Ngoài ra, còn có 5 người cách ly tại cơ sở y tế (Bệnh viện đa khoa huyện Cẩm Xuyên và Bệnh viên đa khoa tỉnh Hà Tĩnh); 413 người cách ly tại địa điểm tập trung (392 người tại Khu ký túc xá Mitraco; 17 người tại Khu nhà F – Công ty FHS; 04 người tại Khu cách ly Khách sạn Hữu Tình, huyện Cẩm Xuyên), cộng dồn cách ly tập trung toàn tỉnh là 15.261 người; 105 người cách ly và theo dõi tại nhà, cộng dồn toàn tỉnh có 19.739 người.         Ngoài dịch bệnh Covid-19, năm 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 3 ổ dịch xuất huyết Dengue (gồm 25 ca) và 2 ổ dịch thủy đậu (gồm 17 ca); tất cả các ổ dịch đều không có bệnh nhân tử vong. Ngoài các ổ dịch trên còn có 64 trường hợp sốt xuất huyết, 266 trường hợp sốt rét, 175 trường hợp mắc lỵ trực trùng, 258 trường hợp mắc lỵ a míp, 126 trường hợp mắc quai bị, 636 trường hợp mắc thủy đậu, 108 trường hợp mắc bệnh chân tay miệng và 45 trường hợp mắc bệnh viêm gan siêu vi trùng. Tất cả đều là ca mắc đơn lẻ và không có trường hợp nào tử vong.                      - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Hà Tĩnh đã khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư ở mức 0,14% (dưới 0,15% theo nghị quyết) và đạt mục tiêu 3 giảm: "Giảm số người nhiễm mới HIV, giảm số người chuyển sang giai đoạn AIDS và giảm số người tử vong do AIDS”, qua đó giảm tác động của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Nghị quyết đã cung cấp nguồn lực để đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức truyền thông trong Nhân dân, nhất là những nhóm đối tượng có nguy cơ cao dễ lây nhiễm HIV. Hiện mỗi năm ngành y tế tổ chức tư vấn, xét nghiệm HIV từ 3.500 - 6.000 mẫu. Có 87% bệnh nhân được điều trị ARV.         Năm 2020, Hà Tĩnh có 75 trường hợp nhiễm mới HIV (giảm 3 trường hợp so với năm trước), 70 trường hợp chuyển thành AIDS (giảm 2 trường hợp so với năm trước) và có 9 trường hợp chết vì AIDS (giảm 1 trường hợp so với năm trước).         - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: An toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Năm 2020, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm với 1.173 ca ngộ độc (24 ca ngộ độc tập thể, 1.149 ca đơn lẻ), không có người chết vì ngộ độc. 3 vụ ngộ độc tập thể đó là: 1 vụ xẩy ra xã Cẩm Dương, huyện Cẩm Xuyên làm 9 người bị ngộ độc, nghi ngờ do vi sinh vật; 1 vụ ở xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh làm 6 người bị ngộ độc do ăn canh nấm, 1 vụ ngộ độc xảy ra tại bếp ăn bán trú thuộc xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ với 9 ca ngộ độc do nghi ngờ vi sinh vật. So với năm 2019 giảm 1 vụ ngộ độc, giảm 507 ca ngộ độc (giảm 62 ca ngộ độc tập thể, giảm 445 ca ngộ độc đơn lẻ).        9.5. Hoạt động văn hóa - thể thao         - Hoạt động văn hóa: do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh phải đóng cửa, tạm ngừng hoạt động, nên hoạt động văn hóa năm 2020 không sôi động và rất trầm lắng. Năm 2020, Hà Tĩnh chủ yếu tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hoạt động văn hóa ở Hà Tĩnh nổi bật với hoạt động như “ Mừng Đảng- mừng Xuân Kỷ Hợi” năm 2020, kỷ niệm ngày Giải phóng Miền Nam (30/4), ngày Quốc tế lao động, kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh, ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2020) hay lễ kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh Liệt sỹ như lễ thắp nến, dâng hoa, tri ân các anh hùng liệt sỹ tại nghĩa trang và đài tưởng niệm tại tất cả các huyện, thị trong toàn tỉnh như tại nghĩa trang Liệt sỹ Núi Nài (thành phố Hà Tĩnh) với hơn 1.500 đoàn viên thanh niên, thân nhân gia đình liệt sỹ và người dân...        - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Năm 2020, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện 06 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm tra trên 100 cơ sở kinh doanh. Cấp 192 giấy phép, trong đó có 31 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 7 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 141 giấy phép thuộc lĩnh vực Văn hóa cơ sở; 07 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao, 06 cái thuộc lĩnh vực còn lại.        -  Hoạt động thể thao: Hoạt động thể thao quần chúng ngày càng sôi nổi, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; đồng thời gắn với các phong trào thi đua yêu nước thường xuyên được duy trì và tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. Cùng với đó, thể thao thành tích cao năm 2020, Hà Tĩnh Tham gia 31 giải thành tích cao, kết quả đạt: 147 HC (67V-32B-48Đ ), trong đó môn điên kinh tham gia 5 giả đạt 44 HC (24HCV, 8HCB, 12HCĐ), Muay tham gia 2 giải đạt 3 huy chương (1HCB, 2HCĐ), Đua Thuyền tham gia 4 giải đạt 21 huy chương (13V, 4B, 4Đ)…        9.6. Tình hình an toàn giao thông        Tính từ ngày 15/11/2020 đến ngày 14/12/2020, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11 người, bị thương 18 người, trong đó có 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 10 người chết, 18 người bị thương, 1 vụ tai nạn đường sắt, 1 người chết tại huyện Đức Thọ. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.           Như vậy, tính từ 15/12/2019 đến 14/12/2020 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xẩy ra 124 vụ tai nạn giao thông, 103 người chết, 64 người bị thương so với năm 2019 số vụ tai nạn giao thông đã giảm 2 vụ (giảm 1,58%), giảm 7 người chết (giảm 3,74%), giảm 15 người bị thương (giảm 18,98%), trong đó: tai nạn giao thông đường bộ 123 vụ, 102 người chết, 64 người bị thương; tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ ,1 người chết.        9.7. Tình hình thiên tai        Năm 2020, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 11 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 11/5/2020; đợt 2 vào ngày 17/5/2020; đợt 3 vào ngày 13/6/2020; đợt 4 vào ngày 02/8/2020; đợt 5 vào ngày 26/8/2020; đợt 6 vào ngày 13/9/2020; đợt 7 vào ngày 17-19/9/2020; đợt 8 vào ngày 07-11/10/2020; đợt 9 vào ngày 16-20/10/2020; đợt 10 vào ngày 28-31/10/2020; đợt 11 vào ngày 14-16/11/2020). Thiên tai đã gây thiệt hại làm 7 người chết, 51 người bị thương; 8 nhà bị sập, 4.565 nhà bị hư hỏng; 1520,4 ha lúa, 4.598,4 ha hoa màu, 2.154 ha cây trồng hằng năm, 836,05 ha cây trồng hằng năm, 480,9 ha rừng, 2.304 ha cây ăn quả bị đổ gãy và hư hỏng; 826,6 nghìn con gia cầm, 339 con trâu, bò, 9.281 con lợn, 397 gia súc khác bị cuốn trôi và chết; 643 cột điện, 3 ăng ten bị gãy đổ; 970 nhà cơ quan và 141 trường học bị hư hại... Ngoài ra, còn có một cây cối bị đổ gãy và nhiều thiệt hại khác. Tổng thiệt hại ước tính là 5.456,07 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại đồng thời kêu gọi hỗ trợ 4079 tấn gạo và hàng ngàn suất quà có trị giá 246 tỷ đồng để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người dân.        9.8. Môi trường        - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 12/2020, tình hình cháy, nổ không xẩy ra. Tính cả năm 2020, trên địa bàn xảy ra 67 vụ cháy, nổ (trong đó có 67 vụ cháy và 0 vụ nổ), làm chết 3 người, bị thương 4 người, thiệt hại ước tính 12.363,8 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 9 vụ cháy nổ (giảm 4 vụ cháy, 5 vụ nổ), tăng 1 người chết, tăng 4 người bị thương.        - Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 12/2020, đã phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 6 vụ với số tiền 71,9 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ. Tính chung cả năm 2020, phát hiện 48 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 43 vụ với số tiền xử phạt là 329,4 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: giảm 55 vụ (giảm 53,39%), số vụ xử lý giảm 47 vụ, số tiền nộp phạt tăng 27,9 triệu. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cái trái phép. Các cơ quan chức năng đã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính.        10. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2021        Kỳ họp thứ 18 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đã đề ra một số chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2021 như sau:        a. Các chỉ tiêu kinh tế        - Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%; GRDP bình quân đầu người trên 69 triệu đồng.        - Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đạt trên 93 triệu đồng/ha.        - Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 31.000 tỷ đồng.- Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD.        -Tổng thu ngân sách đạt trên 12.000 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa 7.000 tỷ đồng; thu xuất nhập khẩu: 5.000 tỷ đồng.        - Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 1,5%.        - Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 91%.        - Tỷ lệ lao động qua đào tạo 72%.        - Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia 88%.        - Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi xuống còn 14,7%.        - Duy trì độ che phủ rừng trên 52%.        - Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom đạt 97%.        - Có thêm ít nhất 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 2 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn; ít nhất 120 Khu dân cư NTM kiểu mẫu đạt chuẩn, 1.200 vườn mẫu đạt chuẩn; có tối thiểu 50 sản phẩm được chứng nhận đạt chuẩn OCOP, trong đó có sản phẩm OCOP 4 sao, 5 sao.        - 100% đơn vị đạt tiêu chuẩn cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, 100% xã, phường ổn định chính trị.        b. Giải pháp        Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 cần phải chú trọng thực hiện các giải pháp để tạo sự ổn định cũng như bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, đó là:         - Tập trung xây dựng ban hành các đề án, chính sách phát triển Khu kinh tế Vũng Áng, cảng biển - logistics, công nghiệp hỗ trợ, huy động nguồn lực phát triển đô thị, triển khai đầu tư các trục giao thông chiến lược.         - Có các chính sách hỗ trợ để sớm khôi phục sản xuất, bảo đảm an sinh cho người dân; trước mắt tập trung thực hiện chính sách hỗ trợ giống cây trồng phục vụ sản xuất vụ Đông năm 2020. Rà soát, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu.        - Triển khai phong trào xây dựng mô hình sản xuất cánh đồng mẫu ở các huyện, thị xã, thành phố; tiếp tục rà soát, chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng, mùa vụ, phát triển các cây trồng cạn, rau màu có giá trị cao. Tập trung tháo gỡ khó khăn về đất đai, hỗ trợ, khuyến khích thu hút các doanh nghiệp đầu tư, phát triển bền vững các chuỗi, dự án chăn nuôi lợn, bò, hươu, gia cầm trang trại, gia trại quy mô lớn.         - Phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu; tập trung thực hiện tốt chính sách phát triển công nghiệp, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp đảm bảo đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhà đầu tư thứ cấp vào đầu tư; đặc biệt thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép tại Khu kinh tế Vũng Áng; đồng thời tập trung phát triển công nghiệp nông thôn, tạo ra sản phẩm có thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.        - Tập trung hỗ trợ, khôi phục sản xuất tại các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ; ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để ổn định sản xuất sau thiên tai.         - Chủ động theo dõi, dự báo tình hình thị trường, biến động cung - cầu hàng hóa trên địa bàn. Xây dựng và thực hiện hiệu quả chính sách phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch giai đoạn 2021 - 2025. Đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.         - Tập trung đẩy mạnh huy động vốn và tăng trưởng tín dụng đáp ứng tốt nhất các nhu cầu vốn vay. Triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, ngăn chặn tình trạng nợ xấu gia tăng.        - Phát triển toàn diện lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội. Quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biên pháp luật. Đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại.         Để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, cần phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy chính quyền và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương./.