Tình hình KTXH tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
- 17/07/2024 10:46
I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Vụ Xuân năm nay, nhìn chung năng suất các loại cây trồng đều giảm do điều kiện thời tiết bất thường xẩy ra ở những thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng như giai đoạn thụ phấn của ngô, lạc, giai đoạn phơi màu của lúa...tạo điều kiện cho các loại dịch bệnh phát triển, mặt khác cuối vụ xuất hiện đợt mưa lớn kèm theo gió thổi mạnh đã làm nhiều diện tích bị thiệt hại, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất các loại cây trồng; chăn nuôi vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết mát mẻ có mưa nên hoạt động trồng rừng tập trung tăng khá. Hoạt động thủy sản có nhiều khởi sắc khi ngành du lịch hoạt động trở lại, nhu cầu về thủy hải sản tăng cao nên khuyến khích người dân ra khơi đánh bắt.1.1 Sản xuất nông nghiệp *Trồng trọt Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2021-2022: Tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân 2021-2022 ước tính tăng 133 ha so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 380.210 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 96,16% (giảm 15.189 tấn). Kết quả một số loại cây trồng chủ lực đạt được như sau: - Diện tích gieo trồng: Ước tính vụ Đông Xuân 2021-2022 so với cùng kỳ năm trước, tổng diện tích gieo cấy lúa tăng 335 ha; diện tích ngô tăng 532 ha; diện tích khoai lang tăng 176 ha; diện tích lạc giảm 1.196 ha và diện tích rau các loại tăng 343 ha. Như vậy, ngoại trừ cây lạc có diện tích giảm thì diện tích các loại cây trồng chủ lực khác vụ Đông Xuân đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng lạc giảm chủ yếu do chi phí sản xuất tăng cao (giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật); bên cạnh đó sản xuất lạc thường mất nhiều công lao động, trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm bấp bênh nên người dân giảm sản xuất lạc. Diện tích các loại cây trồng khác tăng hơn so với cùng kỳ năm trước là do một số địa phương có chính sách hỗ trợ 50% tiền công làm đất; hỗ trợ giống cây trồng; ngoài ra hệ thống kênh mương được kiên cố hóa đã tạo thuận lợi và chủ động được nguồn nước tưới tiêu cho người dân. - Năng suất gieo trồng: So với cùng kỳ năm trước thì năng suất gieo trồng các loại cây trồng chủ lực vụ Đông Xuân năm nay ước tính đều giảm, chỉ có năng suất rau các loại tăng nhẹ, trong đó: Năng suất lúa ước tính giảm 3,33 tạ/ha; năng suất ngô giảm 0,46 tạ/ha; năng suất khoai lang giảm 1,93 tạ/ha; năng suất lạc giảm 2,24 tạ/ha và năng suất rau các loại ước tính tăng 0,51 tạ/ha. Nguyên nhân chính làm cho năng suất các loại cây trồng giảm hơn so với cùng kỳ năm trước là do thời tiết năm nay diễn biến bất thường vào các thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng như quá trình thụ phấn ở ngô, quá trình phơi màu ở lúa nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cuối vụ. Đặc biệt, trận mưa từ đêm 30/4/2022 đến hết ngày 1/5/2022 kèm theo gió giật mạnh đã khiến hơn 900 ha lúa Đông Xuân trên toàn tỉnh bị đổ ngã, tập trung nhiều nhất ở Cẩm Xuyên với 328 ha, Can Lộc 167,5 ha, Nghi Xuân 74 ha, huyện Kỳ Anh 60 ha... - Về sản lượng cây trồng: So với cùng kỳ năm trước: Sản lượng lúa vụ Đông Xuân 2021-2022 ước tính giảm 17.086 tấn, do giảm cả diện tích và năng suất; sản lượng ngô ước tính tăng 1.896 tấn, mặc dù năng suất ngô giảm nhưng do diện tích tăng nên sản lượng ngô vẫn tăng; sản lượng khoai lang ước tính tăng 743 tấn, do diện tích tăng nên sản lượng vẫn tăng trong khi năng suất giảm; sản lượng lạc ước tính giảm 5.340 tấn, do giảm cả diện tích và năng suất; sản lượng rau ước tính tăng 2.945 tấn, do cả diện tích và năng suất rau đều tăng nên sản lượng rau các loại tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. - Tình hình sâu bệnh: Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, vụ Xuân 2022 các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại đối với cây trồng, cụ thể như sau: Trên cây lúa: Ốc bươu vàng phát sinh gây hại giai đoạn mạ, diện tích nhiễm 75 ha, gây hại chủ yếu vùng sâu trũng tại Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên; bệnh đạo ôn lá bắt đầu xuất hiện từ trung tuần tháng 2, cao điểm gây hại từ 10 đến 20/3 tại hầu hết các địa phương, diện tích nhiễm 356 ha, trong đó nhiễm nặng 36,2 ha, diện tích phòng trừ 6.956 ha; bệnh đạo ôn cổ bông gây hại ở hầu hết các địa phương, diện tích nhiễm 400 ha trong đó 30,2 ha nhiễm nặng; bệnh khô vằn gây hại trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 1.978 ha, trong đó 5 ha nhiễm nặng, phân bố trên toàn tỉnh; bệnh bạc lá diện tích nhiễm 200 ha, phân bố tại Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương khê, Lộc Hà; Rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, Hồng Lĩnh; chuột gây hại trên toàn tỉnh, tỉ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiễm 280 ha. Trên cây lạc: Bệnh héo rũ gốc mốc đen, mốc trắng phát sinh gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, diện tích nhiễm 35 ha, nhiễm nặng 1,3 ha phân bố tại Lộc Hà, Thạch Hà, Hương Khê, Vũ Quang,.... Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 3-5con/m2, diện tích 5,3 ha, phân bố tại Vũ Quang, Hương Khê,..; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 22,5 ha tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn,.. Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc xuân, diện tích nhiễm 68 ha; Sâu xanh bướm phượng mật độ 1-3 con/cành, diện tích nhiễm 15 ha, sâu đục thân, đục cành 5 ha; bệnh loét sẹo, diện tích nhiễm 7 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,… *Chăn nuôi Mặc dù trên địa bàn một số dịa phương trong tỉnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn chưa qua 21 ngày. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất chăn nuôi trong tháng 5/2022 vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động chăn nuôi vẫn còn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh và đặc biệt là chi phí sản xuất từ con giống, thức ăn đều tăng cao trong khi giá lợn hơi không tăng vẫn là rào cản trong việc tái đàn. Với những diễn biến phức tạp, khó lường của dịch bệnh, cùng với giá thức ăn và các chi phí khác đang tăng cao như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới vẫn chưa có nhiều tín hiệu tích cực. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/5/2022, dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 14 xã, thị trấn thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã gồm: xã Thạch Hạ (thành phố Hà Tĩnh); xã Sơn Long (huyện Hương Sơn); xã Đức Lĩnh (huyện Vũ Quang); xã Đức Đồng (huyện Đức Thọ); xã Cẩm Thành, xã Cẩm Mỹ, xã Cẩm Trung, Cẩm Hưng, xã Yên Hòa, xã Nam Phúc Thăng và thị trấn Cẩm Xuyên (huyện Cẩm Xuyên); xã Tân Lộc và xã Thịnh Lộc (huyện Lộc Hà); xã Kỳ Hoa (thị xã Kỳ Anh). Tổng số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy ở các địa phương mà dịch chưa qua 21 ngày là 206 con, trọng lượng 12.830 kg. Từ ngày 15/4/2022 đến ngày 15/5/2022, các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi.1.2 Lâm nghiệp Tháng 5/2022, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên hoạt động trồng rừng tập trung so với cùng kỳ năm trước tăng khá (tăng 17,53%), cùng với hoạt động trồng rừng thì hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng cũng được chú trọng. Cùng với đó, tiến hành thu hoạch các diện tích rừng sản xuất đã đến tuổi khai thác. Ước tính diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 5/2022 giảm 370 ha (giảm 50,07%) so với tháng trước và tăng 55 ha (tăng 17,53%) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác tăng 10.263 m3 so với tháng trước và tăng 3.113 m3 so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính tăng 161 ha và sản lượng gỗ khai thác tăng 5.948 m3 so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Kết quả sản xuất lâm nghiệp chủ yếu vẫn tập trung ở các địa phương như: huyện Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Cẩm Xuyên. Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 34 vụ phá rừng (tăng 21 vụ) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.1.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 5/2022 có những tín hiệu tích cực, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển tuy gặp khó khăn do chi phí xăng, dầu, nhân công...ngày càng tăng nhưng do các hoạt động du lịch hồi phục trở lại, nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao với giá cả ổn định nên ngư dân vẫn vươn khơi đánh bắt. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, tổng sản lượng thủy hải sản có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không cao (tăng 2,85%). Nguyên nhân do tổng sản lượng khai thác chiếm đến 77,2% tổng sản lượng thủy hải nhưng năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, chi phí tăng cao, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Từ đầu năm đến ngày 15/5/2022, đã xẩy ra các dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản: Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã ở 2 huyện (Nghi Xuân và Thạch Hà) với diện tích 5, 63 ha; dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 9 xã ở 6 huyện, thành phố (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân) với diện tích 73,25 ha. Hiện nay, còn 24,31 ha tôm nuôi bị bệnh đốm trắng tại 7 xã của 4 huyện, thành phố, thị xã (huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh) chưa qua 15 ngày.2. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Trong đó, ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,36% so với cùng kỳ) do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin của nhà máy nhiệt điện I bị hư hỏng đến nay chưa khắc phục được. Ngoài ra do giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao nên sản lượng phôi thép sản xuất của công ty Formosa Hà Tĩnh chỉ đạt 2.543 nghìn tấn, giảm 6,01% (giảm 163 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước. Điều này dẫn đến chỉ số sản xuất của toàn ngành công nghiệp tính tới tháng 5/2022 dự ước giảm 7,54% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 5/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 4/2022 tăng 6,89% và giảm 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,85% so với tháng trước và giảm 15,67% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,38% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này tăng 4,79%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,88% so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước giảm 27,61%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,23% so với tháng 4/2022 và giảm 14,2% so với tháng 5/2021. Nhìn chung 5 tháng đầu năm 2022 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn, giảm sản lượng sản xuất so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 5 tháng đầu năm 2022 giảm 7,54% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,58%, làm giảm 0,11 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,15% làm giảm 0,5 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,36%, làm giảm 6,69 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 10,69%, làm giảm 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm sản phẩm cộng dồn 5 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 70% trong tổng số sản phẩm) và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm so với cùng (chiếm 30%). Cụ thể, nhóm sản phẩm cộng dồn 5 tháng có tăng gồm: Bao bì và túi bằng giấy (trừ giấy nhăn) tăng 93,23%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 92,96%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 34,82%; dịch vụ sản xuất dược phẩm tăng 26,5%; chè, trà nguyên chất tăng 26,11%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 22,47%. Nhóm sản phẩm có giảm so với cùng kỳ năm trước gồm: Điện sản xuất giảm 38,78%; mực đông lạnh giảm 27,25%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 20,41%; nước không uống được giảm 11,11%; đá xây dựng khác giảm 7,44%; than cốc và bán cốc luyện từ than non hay than bùn giảm 2,76%2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2022 tăng 0,43% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 5,99%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 5/2022 giảm 6,78% so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân giảm là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 9,03%). Ngoài ra, do hậu quả của dịch Covid-19 nên một số doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ thu hẹp sản xuất, giảm lao động. Ngoài ra, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào quy trình sản xuất cũng đã tiết giảm được nguồn nhân lực từ con người. 3. Vốn đầu tư Tháng 5/2022 công tác giải ngân vốn tiếp tục tăng so với tháng trước. Nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh và vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu tăng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh (chiếm 99,65%); Các công trình nông thôn mới như rải thảm đường, xây dựng kiên cố hóa kênh mương, xây dựng hạ tầng tiếp tục thi công theo tiến độ đề ra. Tuy nhiên, các công trình thuộc nguồn vốn ODA chưa được giao vốn cũng như thi công. Do đó, so với cùng kỳ năm trước, vốn ngân sách cấp tỉnh trong tháng 5/2022 vẫn giảm 7,11%. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2022 ước đạt 424,5 tỷ đồng, tăng 11,71% so với tháng trước và giảm 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 318,5 tỷ đồng, tăng 9,41% (tăng 27,4 tỷ đồng) so với tháng trước, giảm 7,11% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 83.781 triệu đồng, tăng 19,53% so với tháng trước và tăng 21,92% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 22.237 triệu đồng, tăng 18,16% so với tháng trước và giảm 32,04% so với tháng 5/2021. Nguyên nhân giảm do vốn kế hoạch ngân sách nhà nước cấp xã năm 2022 giảm mạnh so với năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.850,67 tỷ đồng, giảm 2,56% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.432,91 tỷ đồng, tăng 3,38%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 345,8 tỷ đồng, tăng 12,67%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 71,96 tỷ đồng, giảm 65,12%. Nguồn vốn giảm là do các dự án chuyển tiếp triển khai chậm, dự án mới đang chờ giao vốn, hoàn thiện hồ sơ đáp ứng để thi công. 5 tháng đầu năm mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch đạt thấp (đạt 24,70%). Nguyên ngân do thời gian đầu năm, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Mặt khác, nguồn vốn giao chậm, giá trị nghiệm thu giải ngân thấp, đặc biệt vốn ODA tính đến thời điểm cuối tháng 4 chưa được giao vốn đến từng công trình. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm.4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 5 đã đi vào hoạt động ổn định sau thời gian bị gián đoạn bởi dịch Covid-19. Đạt tốc độ tăng khá so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng Năm khá sôi động với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đều tăng hơn so với tháng trước và cùng kỳ năm trước - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 5/2022 ước đạt 4.266,35 tỷ đồng, tăng 6,99% so với tháng trước và tăng 25,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chỉ có 2/12 nhóm ngành hàng có chỉ số giảm so với tháng trước: Vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 15,65%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phương tiện) giảm 5,04%, còn lại các nhóm hàng hóa đều tăng so với tháng trước. Nếu so với cùng kỳ năm trước các nhóm hàng hóa đều đạt doanh thu tăng, trong đó, các nhóm hàng tăng mạnh nhất là: Xăng, dầu các loại tăng 39,36%; nhiên liệu khác tăng 38,64%; lương thực, thực phẩm tăng 35,56%; hàng may mặc tăng 32,29%; đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 15,94%. Doanh thu tăng chủ yếu do yếu tố giá xăng dầu, gas nhiên liệu đang ở mức cao đã tác động trực tiếp đến doanh thu nhóm hàng này và chi phí sản xuất, vận chuyển qua đó tác động đến giá bán lẻ nhiều nhóm hàng hóa tiêu dùng, công với việc thời tiết chuyển sang mùa nắng tác động đến các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống tăng cầu tiêu dùng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, doanh thu tổng mức bán lẻ dự tính đạt 19.731,30 tỷ đồng, tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 3/12 nhóm ngành hàng có chỉ số giảm: Hàng may mặc giảm 10,35%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 7,85%; hàng hóa khác giảm 7,71%. Còn lại 9/12 nhóm hàng có chỉ dố doanh thu tăng lần lượt là: Xăng, dầu các loại tăng 35,54%; nhiên liệu khác tăng 34,89%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,12%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 11,98%; phương tiện đi lại tăng 8,67%; lương thực, thực phẩm tăng 5,64%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 3,05%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 2,84%; ô tô tăng 1,55%. Dự ước 6 tháng đầu năm 2022 doanh thu bán lẻ sẽ tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nhưng do áp dụng các biện pháp chống dịch linh hoạt trong tình hình mới và tỷ lệ tiêm chủng vaccine cao khiến ảnh hưởng của dịch đến nền kinh tế hạn chế, không còn nặng nề so cùng kỳ hai năm gần đây. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Hoạt động bán lẻ truyền thống của các đơn vị trong tỉnh đang phải cạnh tranh khốc liệt với các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện tích, hệ thống siêu thị mini và hình thức bán lẻ hàng trực tuyến; chuỗi cung ứng hàng hóa còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc dẫn đến nguồn cung một số hàng hóa hạn chế do tình hình nhập khẩu gặp khó khăn khiến giá bán lẻ tăng cao. Bên cạnh đó, giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển. Cần sớm có các giải pháp thích ứng, hạn chế những tiêu cực đến cầu tiêu dùng hàng hóa trong bối cảnh nền kinh tế đang trong giai đoạn phục hồi và thu nhập của người dân năm trước bị ảnh hưởng. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống: Doanh thu tháng 5 tăng khá cả so với tháng trước và so với cùng kỳ. Riêng ngành du lịch vẫn chưa đạt kỳ vọng so với cùng kỳ năm trước nên việc cần thiết là kích cầu du lịch mạnh mẽ, cụ thể việc chính quyền bắt đầu khởi động mùa du lịch biển Hà Tĩnh năm 2022 với các chuỗi hoạt động nghệ thuật, văn hóa, ẩm thực đặc sắc như sự kiện “ Hà Tĩnh - Âm vang biển”, bắn pháo hoa, phiên chợ đêm, lễ hội cầu Ngư... Các cơ sở kinh doanh du lịch đã bắt đầu hoạt động ổn định trở lại, đặc biệt các cơ sở lưu trú tại các điểm du lịch như Thiên Cầm, Xuân Thành… công suất phòng luôn đạt ở mức cao, các nhà hàng cũng đón nhiều du khách thưởng thức đặc sản vùng miền. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 532,32 tỷ đồng, tăng 3,11% so với tháng trước, tăng 28,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 26,74 tỷ đồng, tăng 18,37% so với tháng trước, tăng 86,99% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 131.699 lượt, tăng 18,10% và tăng 32,46% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ 107.928 ngày, tăng 17,95% so với tháng trước, tăng 15,46% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ ăn uống ước đạt 505,09 tỷ đồng, tăng 2,35% so với tháng trước, tăng 26,99% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 490 triệu đồng, tăng 124,77% so với tháng trước, giảm 41,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.260,28 tỷ đồng, tăng 0,25% so với cùng kỳ, trong đó: Lưu trú ước đạt 87,0 tỷ đồng, tăng 5,03%; lượt khách phục vụ 455.647 lượt, giảm 9,19%; ngày khách phục vụ 384.982 ngày, giảm 16,71% so với cùng kỳ năm trước. Ăn uống ước đạt 2.172,58 tỷ đồng, tăng 0,37% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 0,71 tỷ đồng, giảm 90,37% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, dù tháng 5 du lịch Hà Tĩnh đã khả quan hơn tháng trước nhưng vẫn còn cần nhiều biện pháp hơn nữa để kích cầu du lịch tại địa phương. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 5 ước tính đạt 209.162,2 triệu đồng, tăng 8,42% so với tháng trước và tăng 46,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, các nhóm ngành đều có xu hướng tăng hơn so với các tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Đây là thời gian mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, do vậy nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng, nhu cầu y tế, văn hóa, giải trí và sử dụng các dịch vụ thuê xe, thuê đồ dùng cá nhân và gia đình cũng tăng, tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt đạt 920,45 tỷ đồng, tăng 10,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 18,12%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 24,56%; giáo dục đào tạo tăng 29,86%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 5,19%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 49,35%; dịch vụ khác tăng 15,94% so với cùng kỳ năm trước.4.2. Hoạt động vận tải Nhìn chung tình hình hoạt động vận tải đường bộ và kho bãi tháng 5 năm 2022 đi vào ổn định và có doanh thu cao hơn so với tháng trước. Điều kiện thời tiết thuận lợi cho các công trình xây dựng, san lấp mặt bằng thực hiện thi công nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải hàng hóa tăng cộng với dịch bệnh đã dần bão hòa nhu cầu đi lại người dân nhiều hơn. Bên cạnh đó, lượng hàng xuất khẩu dự kiến tăng, các tàu cập cảng chở hàng hóa sẽ nhiều hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hỗ trợ vận tải ổn định và có doanh thu cao hơn. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 5/2022 ước đạt 460,76 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước, tăng 26,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách tăng 3,05% so với tháng trước và tăng 28,22% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa tăng 1,32% so với tháng trước và tăng 39,38% so với cùng kỳ; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 7,92% so với tháng trước và giảm 8,80% so với cùng kỳ. Phân theo ngành đường: Đường bộ ước đạt 386,99 tỷ đồng, tăng 1,75% so với tháng trước và tăng 36,52% so cùng kỳ do việc giao thông hóa đường bộ được quan tâm, các tuyến đường liên thông, thuận lợi cho việc đi lại nên tăng cao; đường thủy 0,79 tỷ đồng, giảm 2,81% so với tháng trước và tăng 10,89% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiện nay việc quản lý khai thác cát, sỏi trên các tuyến sông được quán triệt, nghiêm cấm khai thác trái phép dẫn đến trong tháng doanh thu vận tải hàng hóa đường thủy giảm. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trong tháng tăng, lượng hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty cổ phần cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng làm cho doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng. Tính chung kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 5 tháng đầu năm 2022, dự tính đạt 2.184,39 tỷ đồng, giảm 2,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 421,07 tỷ đồng, giảm 34,46%; vận tải hàng hoá ước đạt 1.380,56 tỷ đồng, tăng 12,93%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 382,43 tỷ đồng, giảm 0,01% so với cùng kỳ năm trước. Sau thời gian dài ảnh hưởng của dịch Covid -19, các hoạt động kinh tế xã hội đang có sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt, các tuyến xe liên tỉnh đã bắt đầu hoạt động lại bình thường, cùng với đó hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh, các tuyến giao thông đường bộ nội tỉnh, thôn xóm cũng ngày càng hoàn thiện, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Cùng với sự phát triển của hạ tầng giao thông, việc hồi phục của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 5 năm 2022 ước đạt 580,5 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng trước (0,70%) và tăng 16,23% so với cùng kỳ năm trước. Với việc Formosa đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất dẫn đến tăng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu thép lại không tăng so với kỳ vọng. Trong tháng, ghi nhận việc tăng xuất khẩu mặt hàng thủy sản cũng như xơ sợi các loại. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 5 ước đạt 200,50 triệu USD, giảm 2,95% so với tháng trước nhưng tăng 5,79% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu do biến động của mặt hàng thép, phôi thép (ước đạt 183,50 triệu USD giảm 3,21% so với tháng trước) còn lại các mặt hàng khác đều tăng so với tháng trước. Trong đó, tăng mạnh nhất ở nhóm hàng thủy sản do yếu tố mùa vụ thì đây là thời gian thủy, hải sản ngon nhất trong năm, tiếp đến mặt hàng xơ, sợi dệt các loại cũng tăng rất cao so với tháng trước (86,99%). So với cùng kỳ có 3 nhóm hàng tăng so với cùng kỳ: Hàng dệt và may mặc (tăng 183,02%); xơ, sợi dệt các loại (tăng 53,33%); thép, phôi thép (5,09%). Bên cạnh đó có 3 nhóm hàng có kim ngạch giảm mạnh so với cùng kỳ: Chè (giảm 52,38%); dăm gỗ (giảm 15,25%); thủy sản (giảm 12,28%) Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 840,14 triệu USD, tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, chỉ có mặt hàng thủy sản có kim ngạch xuất khẩu cộng dồn 5 tháng giảm so với cùng kỳ (giảm 4,28%). Còn lại tất cả các mặt hàng đều tăng, trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 756,67 triệu USD (chiếm 90,06%) tăng 8,44%; tăng cao nhất là mặt hàng dệt và may mặc 84,33%; tiếp đến là các mặt hàng xơ,sợi dệt các loại tăng 63,66%; dăm gỗ tăng 19,13%; chè tăng 8,66%. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 5/2022 ước đạt 380,0 triệu USD, tăng 2,74% so với tháng trước và tăng 22,61% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.643,80 triệu USD, tăng 23,43% so với cùng kỳ năm trước. Với việc triển khai Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển logistics giai đoạn 2021-2025, định hướng đến 2030; Quyết định của UBND tỉnh về ban hành đề án đẩy mạnh hoạt động XNK gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025, định hướng đến 2030. Hi vọng xuất nhập khẩu tỉnh nhà sẽ có những thay đổi khả quan hơn nữa trong thời gian tới. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 cơ bản ổn định và tăng nhẹ so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng ở mức 1,45%, tuy nhiên sự tăng giảm lại biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm mặt hàng, dịch vụ như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện nước. Tháng 5 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 2,06% so với cùng kỳ; khu vực nông thôn tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 2,11% so với cùng kỳ. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 08 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (Giao thông tăng 2,23%; Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và VLXD tăng 1,24%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,17%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,08%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,02%). Có 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (Đồ uống và thuốc lá, giảm 0,11%) và 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước (Giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế). CPI tháng 5 năm 2022 tăng so với tháng trước do các nguyên nhân chủ yếu: (1) Yếu tố mùa vụ: Thời tiết chuyển dần nắng nóng, nhu cầu về thực phẩm, sinh hoạt và đồ dùng gia đình (2) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh đang tăng so tháng trước, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng do nhu cầu xây dựng trong nước tăng cao cũng như giá nguyên liệu sản xuất tăng trên phạm vi toàn cầu; (4) Dịch Covid-19 diễn biến tốt hơn so tháng trước, số ca nhiễm mỗi ngày càng thấp. Các hoạt động ăn uống ngoài gia đình, du lịch lữ hành hoạt động ổn định trở lại sau thời gian dài suy giảm do dịch Covid-19. Chỉ số giá vàng giảm 1,09% so với tháng trước, tăng 3,34% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,86% so với tháng trước, tăng 1,8% so với cùng tháng năm trước. Tính chung CPI 5 tháng đầu năm 2022 tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,64%; nông thôn tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,59%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,36%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,11%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,84%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; giao thông tăng 13,03%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,73%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,85%. Dự kiến CPI tháng 6/2022 tăng hơn so tháng 5/2022. Giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình do nhu cầu tính chất thời vụ mùa du lịch biển. Bên cạnh, giá gạo dự kiến giảm nhẹ, sau khi thu hoạch lúa Đông Xuân, việc cung ứng lúa gạo nhập khẩu ổn định trở lại. Giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài. Một số mặt hàng khác dự kiến có thể tiếp tục tăng giá gồm hàng điện lạnh, xăng dầu các loại.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Thực hiện có hiệu quả chiến lược tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19 cho người dân nên đã góp phần giúp Hà Tĩnh phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-1, mọi hoạt động đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh đã trở lại trạng thái bình thường mới. Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP và Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg góp phần đảm bảo an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm cho người lao động. Ngày 11/5/2022, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành kế hoạch số 168/KH-UBND về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Theo đó, tổng số đối tượng dự kiến được hỗ trợ là 6.000 người với kinh phí 10,5 tỷ đồng, Nhìn chung tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.2. Giáo dục Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh phối hợp với Hiệp hội Thân thiện quốc tế Nhật Bản (JIFA) tổ chức lễ trao học bổng cho 120 em học sinh nghèo Hà Tĩnh. Chương trình học bổng này được thực hiện hằng năm cho các em học sinh nghèo vượt khó học giỏi. Từ năm 2014 đến nay, tổ chức JIFA đã trao hơn 400 suất học bổng cho các em học sinh Hà Tĩnh. Đây là nguồn động viên lớn giúp các em khắc phục khó khăn, vươn lên học tập và rèn luyện tốt. Cùng với hoạt động trao tặng học bổng cho các em học sinh, thời gian qua, JIFA cũng đã lắp đặt và trao tặng 13 dự án hệ thống nước sạch cho các trường học ở Hà Tĩnh với hơn 15.000 học sinh, giáo viên được thụ hưởng. Ngoài ra, để chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT hơn 17.300 học sinh lớp 12 ở Hà Tĩnh đã hoàn thành việc đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT bằng hình thức trực tuyến. 3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 22/5/2022 là 50.153 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 52.102 ca mắc. Cộng dồn từ đầu năm đến nay tổng mẫu PCR là 48.090 mẫu; số test nhanh là 571.381 mẫu. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 45.648 ca, trong đó đã có 44.668 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 124 BN. Điều trị khỏi 51.038 BN, trong đó có 118 BN tuyến trên, 50.920 BN tại Hà Tĩnh, 52 BN tử vong. Đánh giá tình hình dịch Hà Tĩnh, toàn tỉnh hiện có 216 xã, phường, thị trấn cấp độ 1, mọi hoạt động đời sống xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Công tác tiêm chủng tiếp tục được đẩy mạnh, theo cập nhật từ Sở Y tế Hà Tĩnh, so với số lượng vắc-xin được phân bổ về, đến nay, đối với người trên 18 tuổi, toàn tỉnh tiêm mũi 1 đạt trên 105%, mũi 2 đạt trên 99,6% và mũi 3 đạt trên 81,5%. Trong độ tuổi từ 12 đến dưới 18 tuổi, đã có trên 99,8% được tiêm mũi 1 và trên 98% được tiêm mũi 2. Đối với trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi, toàn tỉnh đã tiêm được 41.879 mũi 1, đạt tỷ lệ 25%. Hà Tĩnh xếp thứ 3 trong 10 địa phương có tỷ lệ tiêm chủng cao nhất cả nước. - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca mắc bệnh quai bị, 8 ca mắc lỵ trực trùng, 11 ca mắc lỵ a míp, 11 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.359 ca mắc bệnh cúm,1 ca chân tay miệng, 157 ca mắc bệnh tiêu chảy, 2 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Hiện nay ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao kiến thức phòng lây truyền HIV cho người bệnh; tư vấn xét nghiệm cho các đối tượng nguy cơ; thực hiện có hiệu quả dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; duy trì hiệu quả 3 cơ sở điều trị và 3 cơ sở cấp phát thuốc Methadone. Từ ngày 16/4/2022 đến ngày 15/5/2022 toàn tỉnh có không có người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước số người nhiễm mới HIV giảm 3 người, số người chuyển thành AIDS giảm 4 người, số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung năm tháng đầu năm có 11 người nhiễm mới HIV, 5 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước: giảm 16 ca HIV (giảm 59,26%), giảm 18 ca chuyển thành AIDS (giảm 78,26%), số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ngày 28/4/2022, Đoàn liên ngành an toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh theo Quyết định số 267/QĐ-SYT ngày 13/4/2022 của Sở Y tế tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Đoàn liên ngành ATVSTP huyện Cẩm Xuyên đã kiểm tra các nhà hàng, khách sạn cùng các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống xung quanh khu vực biển Thiên Cầm nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cho mùa du lịch biển năm 2022. Tính từ ngày 16/4/2022 đến ngày 15/5/2022, toàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 73 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người tử vong vì ngộ độc thực phẩm. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 15 ca ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 30 ca (giảm 29,13%). Tính chung 5 tháng đầu năm xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc, ngoài ra có 247 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể giảm 1 vụ, giảm 23 ca ngộ độc tập thể (giảm 85,19 %), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 317 ca (giảm 56,21%), số ca tử vong không đổi.4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi. Ngày 21/4 Hà Tĩnh đã tổ chức kỷ niệm “ Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2022” với chủ đề "Chấn hưng và phát triển văn hóa đọc” nhằm đưa văn hóa đọc lan tỏa mạnh mẽ, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Tĩnh; ngày 5/5 diễn ra Liên hoan các câu lạc bộ (CLB) dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2022 của huyện Cẩm Xuyên, với 11 CLB dân ca ví, giặm của các xã về tham gia, liên hoan nhằm tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, đây cũng là dịp để các CLB giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phong trào hát dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn toàn huyện; ngày 18/5, Hà Tĩnh tổ chức công diễn chương trình nghệ thuật “Lời Người, lời của nước non” nhân kỷ niệm 132 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2022) và 65 năm Ngày Bác về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957-15/6/2022). - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã thực hiện cấp 20 giấy phép, trong đó có 05 giấy phép lĩnh vực du lịch, 13 giấy phép lĩnh vực văn hóa cơ sở và 2 giấy phép lĩnh vực di sản văn hóa. - Hoạt động thể thao: + Thể thao thành tích cao: Trong tháng, đoàn thể thao Hà Tĩnh vừa xuất sắc hoàn thành các nội dung thi đấu tại SEA Games 31 với 12 huy chương các loại (5 huy chương vàng, 5 huy chương bạc và 2 huy chương đồng). Trong đó, bộ môn Karatedo giành 02 HCV và 01 HCĐ; bộ môn điền kinh, giành 01 HCV và 03 HCB; bộ môn đua thuyền, giành 02 HCV, 02 HCB. + Thể thao quần chúng: Trong tháng, các hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi như: Giải Quần vợt Cúp Truyền hình Hà Tĩnh lần thứ VI năm 2022 với chủ đề “ Kết nối yêu thương, chia sẻ giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn” diễn ra từ ngày 6/5-8/5 đã thu hút 260 vận động viên trong, ngoài tỉnh đến từ hơn 30 câu lạc bộ quần vợt đăng ký tham dự; sáng 11/5, thị xã Kỳ Anh tổ chức lễ khai mạc Giải Bóng chuyền nam thanh niên tranh Cúp Viết Hải năm 2022, giải đấu nhằm hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thị xã Kỳ Anh lần thứ II và Đại hội TDTT thị xã Kỳ Anh lần thứ nhất - năm 2022 thu hút gần 250 vận động viên của 16 đội đến từ 11 xã, phường, ban, ngành, lực lượng vũ trang thị xã và một số trường học trên địa bàn; chào mừng kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957 - 15/6/2022) và hưởng ứng hoạt động Tháng Công nhân; ngày 7/5, Công đoàn Khối các cơ quan Đảng phối hợp với Chi đoàn Cơ quan Tỉnh ủy tổ chức Giải Bóng chuyền toàn khối lần thứ IV năm 2022...5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/4 - 14/5/2022 toàn tỉnh xảy ra 7 vụ tai nạn đường bộ, 5 người chết, 2 người bị thương, thiệt hại 130 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ tai nạn (giảm 22,22%), giảm 3 người chết (giảm 37,50%), giảm 2 người bị thương (giảm 50%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường, ngoài ra do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vậy, tính chung 5 tháng đầu năm 2022, Hà Tĩnh xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 31 người và bị thương 17 người, tổng thiệt hại ước tính 510 triệu đồng. So cùng kỳ năm 2021 giảm 8 vụ (giảm 18,18%), giảm 1 người chết (giảm 3,13%) và giảm 2 người bị thương (giảm 10,53%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. 6. Môi trường - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/4/2022 đến ngày 14/5/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 3 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại về tài sản 240 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ tăng 3 vụ, tăng thiệt hại 240 triệu đồng. Tính chung năm tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 11 vụ cháy, nổ làm 1 người chết và không có người bị thương so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ tăng 4 vụ; giảm 1 người chết; tăng 1 người bị thương. - Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/4 đến ngày 14/5/2022 đã phát hiện 64 vụ, đã xử lý 49 vụ, với tổng số tiền xử phạt 290,09 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện tăng 25 vụ đã phát hiện (tăng 64,10 %), số vụ đã xử lý tăng 24 vụ (tăng 96,0%), tăng số tiền nộp phạt 190,09 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2021 tăng 43 vụ đã phát hiện (tăng 2,05 lần), tăng 36 vụ đã xử lý (tăng 2,77 lần), số tiền xử phạt tăng 36,09 triệu đồng (tăng 14,21%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 58 vụ (chiếm 90,63%); Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 4 vụ (chiếm 6,25%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 2 vụ (chiếm 3,12%). Tính chung 5 tháng đầu năm 2022 (từ ngày 15/12/2021 - 14/5/2022) đã phát hiện 474 vụ, đã xử lý 340 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.268,97 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ phát hiện tăng 368 vụ (tăng 8,76 lần), số vụ xử lý tăng 267 vụ (tăng 11,13 lần), tăng số tiền nộp phạt 790,43 triệu đồng (tăng 4,19 lần).7. Tình hình thiên tai Trong tháng, xảy ra 1 vụ thiên tai do mưa lớn kéo dài từ ngày 30/4-1/5 ở các huyện Nghi Xuân, Hương Sơn, Thạch Hà làm thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.768 triệu đồng; so với tháng trước số vụ thiên tai không đổi, thiệt hại về người giảm 1 người chết, thiệt hại về tài sản tăng 7.668 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ thiên tai, giảm 1 người chết, giảm 1 người bị thương, thiệt thiệt về tài sản giảm 22.696,8 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay xảy ra 2 vụ thiên tai, làm 1 người chết, làm hư hỏng 1 chiếc tàu, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.868 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 4 vụ thiên tai, số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 22.596,8 triệu đồng Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tháng 4 và 4 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
- 17/07/2024 10:13
I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông , lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 4 năm 2022 tương đối ổn định: các cây trồng vụ Xuân đang được chăm sóc tốt và có diện tích tăng so với cùng kỳ, đặc biệt lúa Xuân đang trong thời kỳ trổ bông, tuy nhiên do gặp đợt mưa rét một số ngày đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trổ bông, phơi màu của lúa; chăn nuôi vẫn gặp khó khăn do chi phí thức ăn chăn nuôi tăng quá cao ảnh hưởng đến việc tái đàn; hoạt động lâm nghiệp khá thuận lợi cho việc trồng và chăm sóc rừng; sản xuất thủy sản tiếp tục được duy trì và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ, lượng cầu hàng hóa tăng do du lịch hoạt động trở lại nên khuyến khích người dân ra khơi đánh bắt. 1.1 Sản xuất nông nghiệp - Trồng trọt Sản xuất trồng trọt trong tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân. Đến thời điểm ngày 19.4 có 2.236 ha lúa xuân đã trổ bông, trong đó, nhiều nhất là tại các huyện: Đức Thọ (970 ha); Nghi Xuân (400 ha); Thạch Hà (347 ha); Kỳ Anh (139 ha); Lộc Hà (120 ha); Can Lộc, Vũ Quang (100 ha/huyện)… Một số xã có diện tích lúa trổ bông lớn do không chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên bà con làm trước lịch thời vụ để tranh thủ nguồn nước tự nhiên. Trong tháng có đợt mưa kéo dài ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trổ bông và phơi màu của lúa. Từ ngày 16 đến 18 tháng 4 mưa rét khiến nhiều diện tích lúa trổ bông bị ảnh hưởng và nguy cơ sâu bệnh rình rập tấn công, những diện tích lúa trổ bông giai đoạn này sẽ không phơi màu được, lúa dễ bị lép. Thời tiết ẩm ướt sẽ là môi trường có các loại nấm, vi rút gây bệnh, nhất là bệnh đạo ôn cổ lá, cổ bông đang rình rập phát sinh, mưa ẩm nhiều ngày liền sẽ “kích hoạt” nguồn bệnh sẵn có trên đồng ruộng, tiếp tục phát sinh và lan rộng. Bên cạnh đó, rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh khô vằn sẽ tiếp tục “đột kích”, gây hại lúa ở kỳ sinh trưởng quan trọng nhất vụ sản xuất này. Đợt mưa vừa qua đã cung cấp một lượng đạm tự nhiên cho những diện tích lúa chuẩn bị bước vào kỳ trổ bông, đồng thời cấp nước ở những vùng cao cạn như: vùng cao ở Hương Khê, vùng bãi ngang Thạch Hà, vùng không chủ động tưới ở Lộc Hà, Nghi Xuân…Tuy nhiên, đối với những diện tích đang vào kỳ trổ bông thì có bị ảnh hưởng đến kết quả cuối vụ, nguy cơ bùng phát nhiều loại sâu bệnh, đặc biệt là đạo ôn cổ bông, khô vằn, rầy nâu và rầy lưng trắng. Ngành chức năng khuyến cáo tiếp tục theo dõi và gấp rút tổ chức phun phòng sâu bệnh tại các vùng bị nhiễm, tại các vùng bị ngập úng, cần tập trung tiêu thoát sớm, tránh để lúa bị ngâm quá lâu trong nước. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Hiện nay, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, trên các loại cây trồng vụ đang có các loại sâu bệnh phát sinh gây hại như sau: Trên cây lúa thì bệnh đạo ôn lá gây hại trên cổ lá ở Lộc Hà, Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc,...Bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng gieo cấy giày, bón thừa đạm, tỷ lệ trung bình 3-7%, nơi cao 10-15%, cục bộ 20-30%, diện tích 1.233 ha, phân bố trên toàn tỉnh; bệnh bạc lá xuất hiện và gây hại ở Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương khê, tỷ lệ trung bình 5-7%, cục bộ 20 -30%, diện tích 47 ha; rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, mật độ 700-1500con/m2, rầy chủ yếu tuổi 4, tuổi 5, trưởng thành diện tích 1 ha; chuột gây hại vùng gần gò đồi, ven làng, tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích bị phá hoại 280 ha, phân bố trên toàn tỉnh. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 9 ha; bệnh đốm lá gây hại trên trà ngô 7-9 lá, tỉ lệ 5-7%, diện tích 13 ha; bệnh khô vằn 12 ha, tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Cây lạc thì bệnh đốm lá gây hại với diện tích 8 ha; bệnh lở cổ rễ diện tích 18 ha, tập trung ở Nghi Xuân, Hương Khê, Vũ Quang. Trên cây ăn quả có múi có sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc xuân, diện tích nhiễm 32 ha; sâu xanh bướm phượng mật độ 1-3 con/cành, diện tích 15 ha; nhện nhỏ 9 ha; câu cấu 7 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,.. Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang trong quá trình đơm hoa, kết trái nên cần tập trung phòng, trừ sâu bệnh để tránh thiệt hại, nhất là bệnh đạo ôn gây hại đối với cây lúa. - Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 4/2022 không có nhiều biến động. Số lượng đàn gia súc ổn định, đàn lợn và đàn gia cầm tuy có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không lớn và vẫn còn thiếu ổn định. Riêng đối với hoạt động chăn nuôi lợn, hiện nay dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn xuất hiện trên địa bàn chưa qua 21 ngày, cùng với việc giá thức ăn tăng quá cao trong khi giá bán không tăng nên tiếp tục gặp khó khăn trong việc thực hiện phát triển đàn lợn. Hoạt động chăn nuôi gia cầm tương đối ổn định, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, hiện nay nhiều hộ dân tự chăn nuôi gia cầm để phục vụ nhu cầu thực phẩm cho gia đình nên lượng cầu hàng hóa đối với gia cầm trên thị trường đang có xu hướng giảm. Với những diễn biến phức tạp, khó lường của dịch bệnh đối với đàn vật nuôi, cùng với giá thức ăn và các chi phí khác đang tăng cao như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2022, dịch tả lợn Châu Phi đã xẩy ra trên địa bàn 32 xã, phường của 9 huyện, thành phố (Thành phố Hà Tĩnh 3 phường, xã; Hương Sơn 4 xã; Vũ Quang 4 xã, Đức Thọ 5 xã; Thạch Hà 4 xã; Cẩm Xuyên 7 xã; Lộc Hà 3 xã, huyện Kỳ Anh 1 xã và thị xã Kỳ Anh 1 xã). Tổng số lợn mắc bệnh, chết phải tiêu hủy là 416 con với trọng lượng 25.901 kg/85 hộ/53 thôn. Đến ngày 15/4/2022, dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 14 phường, xã thuộc 5 huyện, thành phố, thị xã (Thành phố Hà Tĩnh 3 phường, xã; Đức Thọ 4 xã; Cẩm Xuyên 4 xã; Lộc Hà 2 xã và thị xã Kỳ Anh 1 xã). Tổng số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy ở các địa phương mà dịch chưa qua 21 ngày là 176 con, trọng lượng 12.538 kg. Từ ngày 15/3/2022 đến ngày 15/4/2022, các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi. Thời gian tới, để phát triển chăn nuôi bên cạnh các chính sách nhằm phát triển đàn thì công tác phòng, chống dịch bệnh phải tiếp tục được quan tâm thực hiện để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi. 1.2 Lâm nghiệp Trong tháng 4/2022, cùng với hoạt động khai thác thì với điều kiện thời tiết mát mẽ, nhiệt độ thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng sản xuất. Kết quả diện tích rừng trồng tập trung và sản lượng gỗ khai thác tháng 4/2022 ước tính đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 4 tháng đầu năm 2022 chủ yếu tập trung ở các địa phương như: Huyện Hương Sơn trồng mới 483 ha rừng và khai thác 31.550 m3 gỗ; huyện Vũ Quang trồng mới 132 ha rừng và khai thác 7.770 m3 gỗ; huyện Kỳ Anh trồng mới 488 ha rừng và khai thác 10.250 m3 gỗ; huyện Hương Khê trồng mới 422 ha rừng và khai thác 4.395 m3 gỗ; huyện Cẩm Xuyên trồng mới 108 ha rừng và khai thác 4.284 m3 gỗ... Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 29 vụ phá rừng (tăng 19 vụ), với diện tích rừng bị phá là 9,367 ha (tăng 6,326 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 4/2022 tiếp tục duy trì được mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với tháng trước lại giảm cả về sản lượng khai thác cũng như nuôi trồng. Trong khi sản lượng nuôi trồng giảm do sản phẩm chưa đến kỳ thu hoạch thì hoạt động khai thác biển cũng đang gặp rất nhiều khó khăn do các chi phí đều tăng cao, nhất là giá xăng, dầu; việc đầu tư nâng cấp phương tiện đánh bắt hải sản còn hạn chế, chi phí tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến việc đánh bắt xa bờ của ngư dân. Vì vậy, hoạt động khai thác hải sản hiện nay chủ yếu đánh bắt ở vùng lộng với các phương tiện có công suất nhỏ nên hiệu quả không cao. Hiện nay, các hoạt động dịch vụ du lịch, ăn uống trên địa bàn đang dần được phục hồi, nhất là ở các khu du lịch biển nên nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao, với giá cả tương đối ổn định. Cùng với đó, thời gian này cũng đang là mùa khai thác một số loại hải sản ở vùng lộng nên hy vọng hoạt động khai thác hải sản trong thời gian tới sẽ đạt được kết quả khá hơn. Về tình hình dịch bênh: Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn. 2. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2022 tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Trong đó, ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,39% so với cùng kỳ) do nhà máy nhiệt điện I đang tạm ngừng hoạt động để tiến hành sửa chữa. Ngoài ra do giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao nên sản lượng phôi thép sản xuất của công ty Formosa Hà Tĩnh giảm 6,9% (giảm 150 ngàn tấn) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm ước đến cuối tháng 4/2022 giảm 4 ngàn tấn (giảm 0,2%) so với cùng kỳ năm 2021 - Ước tháng 4/2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 3/2022 giảm 0,21% và giảm 1,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,36% so với tháng trước và giảm 20,33% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,67% so với tháng trước và tăng 6% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,82% so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước giảm 30,81%, ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 2,34% so với tháng 3/2022 và giảm 13,44% so với tháng 4/2021. - Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn, giảm sản lượng sản xuất so với năm 2021. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 4 tháng đầu năm 2022 giảm 7,94% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,87%, làm giảm 0,08 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,64% làm giảm 1 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,39%, làm giảm 6,64 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,94%, làm giảm 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 10 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 4 nhóm ngành có mức tăng cao như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 124,65%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 36,24%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 27,31%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 17,53% … Ngoài ra có một số ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 4 tháng đầu năm 2022 tăng nhẹ so với cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống; dệt; sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế. Có 8 nhóm ngành giảm, làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất và phân phối điện giảm 37,39%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 27,11%; khai thác quặng kim loại giảm 23,47%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 10,47%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 9,89%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 2,56%; khai khoáng khác giảm 1,5%; sản xuất kim loại giảm 0,89%. 3. Vốn đầu tư Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính từ Trung ương, tỉnh và chính quyền địa phương các cấp, sự chủ động của các doanh nghiệp, người dân. 4 tháng đầu năm 2022 các công trình dự án trên địa bàn đã được triển khai đồng bộ, đặc biệt là những dự án trong điểm như: Dự án nhà máy sản xuất pin VinES, dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2…) cùng với thời tiết thuận lợi nên đẩy nhanh tiến độ thi công, việc giải ngân vốn được thực hiện tốt. Vì vậy, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trên đà xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 4/2022 đạt 359,5 tỷ đồng, tăng 10,39% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 269,57 tỷ đồng, tăng 10,44% (tăng 25,49 tỷ đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 71,73 tỷ đồng, tăng 10,55%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 18,21 tỷ đồng, tăng 9,06% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng: Các nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã, cộng với các nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đã phân bổ theo kế hoạch vốn đề ra; hồ sơ, thủ tục triển khai nhanh chóng, công tác giải ngân kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các công trình nên tiến độ thi công được đảm bảo. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.405,6 tỷ đồng, giảm 3,39% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.092,82 tỷ đồng, tăng 4,76%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 263,65 tỷ đồng, tăng 10,68%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 49,11 tỷ đồng, giảm 71,71%. Nguồn vốn giảm là do các dự án chuyển tiếp triển khai chậm, dự án mới đang chờ giao vốn, hoàn thiện hồ sơ đáp ứng để thi công. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong thời gian qua, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp cộng với giá cả nhiên liệu tăng cao, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa. Bước sang đầu quý 2, dự kiến tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng trưởng tốt hơn so với những tháng quý trước và cùng kỳ năm trước do dịch bệnh Covid-19 đang dần được kiểm soát, số ca lây nhiễm giảm dần, các hoạt động dịch vụ giải trí và du lịch lữ hành hoạt động trở lại. Giá nhiên liệu xăng dầu giảm qua hai kỳ điều chỉnh gần đây nhất. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Hoạt động bán lẻ vẫn là ngành đóng góp quan trọng trong nhóm ngành thương mại dịch vụ, doanh thu đạt mức tăng cao và ổn định so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Tháng 4/2022 dự tính ước đạt 3.824,80 tỷ đồng, tăng 4,70% so với tháng trước do doanh thu bán lẻ tất cả các nhóm hàng hóa tháng 4 đều tăng so với tháng trước, một số nhóm hàng tăng mạnh do nhu cầu thị trường trong tháng tăng cao như: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,73%, ô tô con tăng 6,81%, may mặc tăng 6,36%; nhóm xăng dầu các loại mặc dù giá nhiên liệu xăng dầu có giảm nhưng không đáng kể, nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa trong tháng lại tăng nên doanh thu tăng 6,22% so với tháng trước. So với cùng kỳ doanh thu bán lẻ đạt mức tăng rất cao 11,39%, tăng chủ yếu ở các nhóm mặt hàng như: Xăng, dầu các loại 39,63%, nhiên liệu khác 26,24%; đá quý và kim loại 19,29%; lương thực, thực phẩm 16,41%; gỗ và vật liệu xây dựng 8,14%. Nguyên nhân chủ yếu do sự tăng cao về giá chung các loại hàng hóa cộng với trong tháng nhu cầu về vật liệu xây dựng nhà ở tăng mạnh, ảnh hưởng của tình hình thế giới khiến giá nguyên, nhiên liệu, vàng và đô la Mỹ liên tục tăng giá trong thời gian qua. Tính chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2022, dự tính đạt 15.301,95 tỷ đồng, tăng 1,66% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tháng 4 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ nhưng việc doanh thu cả quý 1 giảm khiến tổng mức doanh thu bán lẻ hàng hóa tính chung 4 tháng đầu năm đạt mức tăng chưa cao. Mức tăng chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả tăng mạnh so cùng kỳ như xăng, dầu, khí đốt, vật liệu xây dựng, đá quý và kim loại quý. Trong khi đó, một số nhóm hàng hóa tiếp tục gặp khó khăn, có mức doanh thu giảm, cụ thể như: Nhóm bán lẻ hàng may mặc giảm do tình hình cạnh tranh với các đơn vị kinh doanh nhượng quyền thương mại, các chuỗi hệ thống toàn quốc và các cửa hàng kinh doanh trực tuyến dẫn tới số cơ sở bán lẻ hàng may mặc trên địa bàn tỉnh đang giảm mạnh so với cùng kỳ; nhóm bán lẻ hàng hóa khác giảm do tình hình kinh tế, thu nhập của người tiêu dùng gặp khó khăn và nhu cầu thiết bị học trực tuyến giảm dẫn tới doanh thu nhóm bán lẻ thiết bị vi tính giảm. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống: Hoạt động dịch vụ lưu trú ăn uống tháng 4/2022 có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm, tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh đang dần ổn định, số ca nhiễm trong ngày giảm cộng với thời tiết đang trong mùa thuận lợi cho các loại hình ăn uống như quán hàng, quán ăn từ sang trọng đến bình dân. Trong tháng, có hai dịp nghỉ lễ khá dài ngày là Giỗ Tổ Hùng Vương (3 ngày) và kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 1/5 (4 ngày), là thời điểm thuận lợi cho du lịch Hà Tĩnh tăng tốc khôi phục các hoạt động trong tình hình mới. Đây cũng là thời điểm khởi động mùa du lịch biển 2022 trên toàn tỉnh, các khu, điểm du lịch hiện đã hoàn thành việc chỉnh trang cơ sở vật chất, nâng cấp dịch vụ sẵn sàng đón khách tham quan, nghỉ dưỡng. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 489,16 tỷ đồng, tăng 10,87% so với tháng trước và giảm 7,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 18,62 tỷ đồng, tăng 18,63% so với tháng trước, giảm 6,42% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 470,24 tỷ đồng, tăng 10,51% so với tháng trước, giảm 6,76% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 0,3 tỷ đồng, giảm 86,11% so với cùng kỳ. Sau thời gian dài ngừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến nay hoạt động du lịch, lữ hành mới được khởi động lại nên doanh thu chỉ đạt mức rất thấp so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.700,84 tỷ đồng, giảm 7,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 56,30 tỷ đồng, giảm 17,86%; dịch vụ ăn uống ước đạt 1.644,24 tỷ đồng, giảm 6,93%; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 0,3 tỷ đồng, giảm 95,40% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Tháng 4 là thời gian mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, do vậy nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ tăng hơn so với tháng trước. Các dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, dịch vụ cho thuê đồ dùng cá nhân và gia đình cũng tăng. Doanh thu dịch vụ khác tháng 4/2022 ước tính ước tính đạt 187,99 tỷ đồng, tăng 9,02% so với tháng trước và tăng 9,32% so với cùng kỳ năm trước. Ước 4 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 706,34 tỷ đồng, tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 13,82%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 16,76%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 10,35%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 60,58%; dịch vụ khác ước tăng 9,84%. Nhóm giáo dục đào tạo không biến động so với cùng kỳ. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách đã bắt đầu hoạt động nhộn nhịp trở lại, các tuyến liên tỉnh, nội tỉnh ngày càng đông khách hơn. Bên cạnh đó, hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương cùng với việc nhà máy Gang thép Formosa hoạt động ổn định tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất là một trong những động lực và là điều kiện lớn thúc đẩy đầu mối trung chuyển hàng hóa và dịch vụ vận tải, kho bãi của tỉnh Hà Tĩnh. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 4 năm 2022 ước đạt 466,55 tỷ đồng, tăng 4,26% so tháng trước và giảm 0,5% so cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 92,91 tỷ đồng, tăng 7,03% so với tháng trước và giảm 31,70% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.088,75 nghìn HK, tăng 8,20% so với tháng trước và giảm 40,10% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 186,34 triệu HK, tăng 9,63% so với tháng trước, giảm 39,89% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 288,60 tỷ đồng, tăng 3,25% so với tháng trước và tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 3.233,18 nghìn tấn, tăng 2,81% so với tháng trước và tăng 14,17% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 82,16 triệu tấn.km, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 12,64% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Ước đạt 84,97 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022 doanh thu vận tải ước tính đạt 1.741,42 tỷ đồng, giảm 7,53% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 325,71 tỷ đồng, giảm 42,65% với số lượng vận chuyển ước đạt 3.769,99 nghìn HK, giảm 50,77% và luân chuyển ước đạt 632,30 triệu HK.km, giảm 51,49% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 1.088,50 tỷ đồng, tăng 7,48% với khối lượng vận chuyển đạt 12.257,41 nghìn tấn, tăng 8,93% và luân chuyển đạt 311,23 triệu tấn.km, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 326,95 tỷ đồng, tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vận tải tháng 4 cơ bản trở lại bình thường, nhu cầu đi lại bằng các phương tiện vận tải hành khách công cộng xe buýt, taxi tăng so với tháng trước vộng với việc các công ty vân tải nâng giá vé do ảnh hưởng của giá xăng, dầu nên doanh thu đạt mức cao. Tuy nhiên vẫn không đạt mức và giảm khá sâu so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 4 năm 2022 ước đạt 543,3 triệu USD, giảm 8,95% so với tháng trước và tăng 15,05% so với cùng kỳ năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu chủ yếu vẫn từ Công ty Formosa, nên mặc dù việc xuất khẩu tháng 4 của công ty giảm mạnh so với tháng trước nhưng với việc tăng cường nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất kỳ vọng tháng tới kim ngạch xuất khẩu thép sẽ tăng cao kéo theo việc tăng xuất khẩu của toàn tỉnh. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 4 ước đạt 153,30 triệu USD, giảm 30,94% so với tháng trước và giảm 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép đạt 138,10 triệu USD giảm 32,39% so với tháng trước và giảm 3,99% so với cùng kỳ. Các mặt hàng khác dù chiếm tỷ trọng không cao nhưng đang trở thành thế mạnh và có đà tăng trưởng tốt so với năm trước như: Dăm gỗ đạt 4,0 triệu USD dù giảm 16,14% so với tháng trước nhưng so cùng kỳ tăng 72,41%; Hàng may mặc đạt 1,50 triệu USD giảm 6,25% so tháng trước nhưng tăng 114,29% so với cùng kỳ; Xơ và sợi dệt các loại đạt 1,30 triệu USD tăng 6,56% so tháng trước và tăng 5,69 so cùng kỳ. Cộng dồn 4 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 586,35 triệu USD, giảm 0,56% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng đến 92,80% trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 521,68 triệu USD và là mặt hàng duy nhất có kim ngạch giảm và giảm nhẹ 0,28%, còn lại tất cả các mặt hàng khác đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Thủy sản tăng 3,08%; chè tăng 15,29%; Dăm gỗ tăng 31,27%; Hàng dệt, may mặc tăng 70,30% và xơ,sợi dệt các loại tăng 71,05%. - Kim ngạch nhập khẩu: Trong tháng 4 năm 2022 ước đạt 390,0 triệu USD, tăng 4,08% so với tháng trước và tăng 154,80% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.283,94 triệu USD, tăng 25,65% so với cùng kỳ năm trước. Với việc tăng mạnh việc nhập khẩu, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa sẽ kỳ vọng sức tăng sản xuất chung của nền công nghiệp cũng như hoạt động xuất khẩu trong tháng tới của tỉnh Hà Tĩnh. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, dịch bệnh, thời tiết và sự điều hành của Nhà nước về nhiên liệu là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ trong thời gian qua. Ước tháng 4/2022, chỉ số giá tiêu dùng chung CPI tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá CPI chung tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 4 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Khu vực thành thị tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 1,71% so với cùng kỳ năm trước; Khu vực nông thôn tăng 0,25% so với tháng trước, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; nhóm thiết bị và đồ dùng gia; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác. Có 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước bao gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giao thông. Có 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng bình quân giảm so tháng trước do ảnh hưởng bởi các diễn biến từ thị trường thế giới. Hiện nay giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.560 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.312.400 đồng/100 USD. Chỉ số giá vàng giảm 0,42% so với tháng trước, tăng 6,17% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,36% so với tháng trước, giảm 2,57% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,52%; khu vực nông thôn tăng 1,19%. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,82%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,39%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,08%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,95%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,88%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; giao thông tăng 12,57%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến CPI tháng 5/2022 sẽ tăng hơn so tháng 4/2022 do yếu tố thời tiết thay đổi khiến các loại hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng mùa hè như thực phẩm hoa quả, đồ uống, điện, nước sinh hoạt, hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng tăng giá. Bên cạnh đó, việc kiểm soát dịch bệnh Covid-19 được điều hành linh hoạt hơn, các hoạt động kinh doanh ăn uống và du lịch, nhất là trong đợt nghỉ lễ 30/4-01/5 sắp tới có thể tăng cao, kéo theo giá các loại lương thực, thực phẩm, đồ uống, dịch vụ lưu trú, ăn uống ngoài gia đình tăng cao. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Hà Tĩnh triển khai thực hiện áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ theo quy định tại Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15. Đây được xem là một trong những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ phục hồi phát triển sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trong bối cảnh giá dầu thô có xu hướng tăng cao, góp phần hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội sau dịch COVID-19. Đồng thời triển khai một số chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo Nghị quyết số 11/NQ-CP và Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg góp phần đảm bảo an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm cho người lao động. Trong tháng, Hà Tĩnh cũng đã tổ chức phát động “Tháng công nhân năm 2022” với chủ đề “Vượt khó, sáng tạo, an toàn, thích ứng”, nhằm tôn vinh những người lao động tiêu biểu; khuyến khích đoàn viên, người lao động tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, phát huy tinh thần “chủ động, sáng tạo, trách nhiệm, hiệu quả, thiết thực” đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn. Nhìn chung tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. 2. Giáo dục Mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tuy nhiên phong trào thi đua dạy tốt - học tốt, học đi đôi với hành vẫn được lan tỏa trong các nhà trường, địa phương và gặt hái được nhiều thành quả, cụ thể: Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2021-2022, Hà Tĩnh có với 74 học sinh đạt giải trong đó có 1 giải nhất, 25 giải nhì, 28 giải ba và 20 giải khuyến khích; Hà Tĩnh là một trong 5 tỉnh dẫn đầu cả nước về số lượng học sinh đạt giải quốc gia (sau Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Nghệ An). Bên cạnh đó toàn tỉnh có hơn 2.400 em đạt giải tại các kỳ thi chọn học sinh giỏi tỉnh lớp 9, 10, 11 và 12. Trên sân chơi sáng tạo khoa học kĩ thuật cấp quốc gia, học sinh Hà Tĩnh đã đạt 2 giải nhì với 2 dự án: “Máy lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 tự động” và “Hành vi so sánh xã hội trong học tập của học sinh THPT tỉnh Hà Tĩnh”. Đây là kết quả từ sự hướng dẫn sát sao của giáo viên, niềm say mê, miệt mài nghiên cứu của học sinh Hà Tĩnh với nhiều sáng kiến, công trình khoa học được ra đời và ứng dụng trong thực tiễn. 3. Hoạt động y tế Ngành y tế Hà Tĩnh đề nghị các địa phương tiếp tục đẩy nhanh chiến dịch tiêm chủng mùa xuân, nâng cao tỷ lệ tiêm vắc-xin phòng COVID-19 mũi 3; chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện để tiêm vắc-xin cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi. - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/4/2022 là 48.147 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 50.096 ca mắc. Cộng dồn từ đầu năm đến nay tổng mẫu PCR là 45.775 mẫu; số test nhanh là 554.177 mẫu.Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 44.140 ca, trong đó đã có 38.980 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 123. Điều trị khỏi 44.742 BN, trong đó có 112 BN tuyến trên, 44.630 BN tại Hà Tĩnh, 48 BN tử vong. Đánh giá tình hình dịch Hà Tĩnh, toàn tỉnh hiện có 201 xã, phường, thị trấn cấp độ 1; 15 xã, phường, thị trấn cấp độ 2. Công tác tiêm chủng tiếp tục được đẩy mạnh, Hà Tĩnh được phân bổ 18.200 liều vắc xin phòng COVID-19 để tiêm cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi. Ngành Y tế Hà Tĩnh đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho công tác tiêm chủng cho trẻ, trước mắt đã phân bổ số vắc xin phòng COVID-19 Moderna (tính theo liều 0,25 ml mỗi trẻ) cho các địa phương để ưu tiên tiêm mũi 1 cho trẻ 11 tuổi- dưới 12 tuổi trên địa bàn và hạ dần theo độ tuổi. - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca sốt xuất huyết, 15 ca mắc bệnh quai bị, 27 ca mắc lỵ trực trùng; 33 ca mắc lỵ a míp; 12 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.475 ca mắc bệnh cúm, 348 ca mắc bệnh tiêu chảy và không có người chết vì do các bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Tĩnh đã hướng dẫn cho bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Từ ngày 16/3/2022 đến ngày 15/4/2022 toàn tỉnh có 5 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: số người nhiễm mới HIV giảm 5 người (giảm 50%), số người chuyển thành AIDS giảm 7 người (giảm 77,78%), số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung bốn tháng đầu năm có 11 người nhiễm mới HIV, 5 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước: giảm 13 ca HIV (giảm 57,17%), giảm 14 ca chuyển thành AIDS (giảm 73,68 %), số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh ATTP tỉnh tổ chức lễ phát động “Tháng hành động vì vệ sinh an toàn thực phẩm” năm 2022 với chủ đề “Tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nông sản, thực phẩm trong tình hình mới” theo đó, các ngành, địa phương sẽ tăng cường công tác thông tin, truyền thông chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến ATTP. Tính từ ngày 16/3/2022 đến ngày 15/4/2022, toàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 54 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người tử vong vì ngộ độc thực phẩm. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 85 ca (giảm 61,15%). Tính chung 4 tháng đầu năm xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc, ngoài ra có 174 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, giảm 8 ca ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 287 ca (giảm 62,26%), số ca tử vong không đổi. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, trùng vào dịp Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Lễ Giỗ Quốc tổ Hùng Vương năm 2022 được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh tại Khu di tích Lịch sử - Văn hóa Đại Hùng (phường Đậu Liêu, Thị xã Hồng Lĩnh) từ ngày 7-10/4/2022 (tức ngày 7-10/3 âm lịch) với nhiều hoạt động văn hóa, thể dục thể thao. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Công tác kiểm tra, thanh tra nhằm tập trung quản lý, chấn chỉnh các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, các hoạt động thuộc lĩnh vực Thông tin - truyền thông trên địa bàn tỉnh như chấn chỉnh bảng hiệu, quảng cáo tại các khu du lịch bãi biển....nhằm tạo môi trường cảnh quang văn minh, lịch sự tạo thiện cảm cho du khách khi đến với du lịch Hà Tĩnh. - Hoạt động thể thao: + Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 5 giải đấu, đạt 31 huy chương các loại (12 huy chương vàng, 9 huy chương bạc, 10 huy chương đồng), trong đó 01 giải quốc tế (Giải vô địch Đông Nam Á) giành 3 huy chương (02 huy chương vàng và 01 huy chương đồng). + Thể thao quần chúng: Trong khuôn khổ Đại hội Thể dục Thể thao toàn tỉnh lần thứ IX, các địa phương ở Hà Tĩnh đã và đang tổ chức nhiều giải đấu sôi nổi, gắn với chuỗi hoạt động hướng tới khai trương mùa du lịch biển như Giải Bóng chuyền bãi biển toàn tỉnh và Giải Bóng chuyền nữ huyện Nghi Xuân; huyện Kỳ Anh tổ chức giải đấu bóng chuyền nam văn phòng các xã, cơ quan, đơn vị trên địa bàn và giải đi cà kheo nam đá bóng trên bãi biển; Huyện Lộc Hà tổ chức giải cờ thẻ, bóng chuyền nữ, bóng chuyền bãi biển, đi cà kheo, kéo co... Huyện Cẩm Xuyên tổ chức Giải Bóng chuyền nữ trong khuôn khổ Đại hội TDTT lần thứ IX toàn huyện; hội đua thuyền truyền thống Nhượng Bạn với sự tham gia của các đội đua thuyền Yên Hòa, Cẩm Dương, Thiên Cầm, Cẩm Nhượng, Cẩm Lĩnh, Cẩm Lộc, Nam Phúc Thăng. 5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/3 - 14/4/2022 toàn tỉnh xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ, 8 người chết, 4 người bị thương, thiệt hại 120 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ tai nạn (giảm 10%), tăng 2 người chết (tăng 33,33%), tăng 2 người bị thương (tăng 100%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường, ngoài ra do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vậy, tính từ 15/12/2021 đến 14/4/2022, Hà Tĩnh xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 26 người và bị thương 15 người. So cùng kỳ năm 2021 giảm 5 vụ (giảm 14,71%), tăng 2 người chết (tăng 8,33%) và tăng 2 người bị thương (tăng 15,38%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. 6. Môi trường - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/3/2022 đến ngày 14/4/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 2 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản đang thống kê. Trong đó có 1 vụ cháy thực bì rừng xảy ra vào ngày 26/3 tại huyện Hương Sơn, diện tích bị cháy khoảng 2 ha. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ tăng 2 vụ, số người chết và số người bị thương không thay đổi. Tính chung bốn tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 8 vụ cháy, nổ làm 1 người chết và không có người bị thương so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ tăng 1 vụ; giảm 1 người chết; tăng 1 người bị thương. - Vi phạm môi trường: Nhằm tăng cường tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về ô nhiễm môi trường đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, Hà Tĩnh thiết lập đường dây nóng cấp tỉnh và cấp huyện để tiếp nhận phản ánh về ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh. Tính từ ngày 15/3 đến ngày 14/4/2022 đã phát hiện 39 vụ, đã xử lý 25 vụ, tổng số tiền xử phạt 100 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện tăng 25 vụ (tăng 178,57 %), số vụ đã xử lý tăng 22 vụ (tăng 7,33 lần), tăng số tiền nộp phạt 99,20 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2021 tăng 31 vụ đã phát hiện (tăng 387,50%), tăng 18 vụ đã xử lý (tăng 257,14%), số tiền xử phạt tăng 59,50 triệu đồng (tăng 146,91%). Tính chung 4 tháng đầu năm 2022 (từ ngày 15/12/2021 - 14/4/2022) đã phát hiện 410 vụ, đã xử lý 291 vụ, tổng số tiền xử phạt 978,88 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ phát hiện tăng 368 vụ (tăng 8,76 lần), số vụ xử lý tăng 267 vụ (tăng 11,13 lần), tăng số tiền nộp phạt 790,43 triệu đồng (tăng 4,19 lần). 7. Tình hình thiên tai Trong tháng trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1 vụ sóng to, gió lớn trên vùng biển xã Thịnh Lộc huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh làm 1 người chết, hư hỏng tàu thuyền giá trị 100 triệu. Tính chung từ đầu năm đến nay số vụ thiên tai 1 vụ, so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết, tăng thiệt hại 100 triệu. Sau khi nhận được tin báo, UBND huyện Lộc Hà và UBND xã Thịnh Lộc đã đến thăm hỏi và động viên gia đình với mức hỗ trợ là 6 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tháng 3 và quý I năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
- 17/07/2024 09:04
Quý I năm 2022, thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH, QPAN trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục gặp không ít khó khăn, thách thức; dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, số ca nhiệm mới tăng đột biến so với cùng kỳ; giá cả các mặt hàng như xăng, dầu, vật liệu xây dựng tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp..vv. Trước những thuận lợi và khó khăn đan xen, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ngay từ đầu năm đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, với nỗ lực phấn đấu cao nhất. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong quý I năm nay như sau: 1. Tài chính, ngân hàng 1.1. Hoạt động tài chính 3 tháng đầu năm 2022, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2021. Tăng trưởng trong thu ngân sách cho thấy KT-XH toàn tỉnh đang ổn định và có nhiều khởi sắc dù dịch bệnh COVID-19, Chi ngân sách Nhà nước tiếp tục tập trung ưu tiên cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh. - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Những tháng đầu năm, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp giữ ổn định góp phần đóng nộp NSNN cho địa phương. Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/3/2022 đạt 5.017,41 tỷ đồng (tăng 73,65% so với cùng kỳ). Trong đó,thu nội địa đạt 2.128,21 tỷ đồng (chiếm 42,42 % trong tổng thu) tăng 36,14% so với cùng kỳ.Một số sắc thuế thu vượt cao như: thu tiền sử dụng đất 947 tỷ đồng (tăng 69,78% so với cùng kỳ); thu thuế thu nhập cá nhân 96,2 tỷ đồng (tăng 66,44% so với cùng kỳ); thu thuế bảo vệ môi trường 180,89 tỷ đồng (tăng 30,73% so với cùng kỳ); thu lệ phí trước bạ 125,64 tỷ đồng (tăng 43,88% so với cùng kỳ); thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 33,85 tỷ đồng (tăng 210,55 % so với cùng kỳ)…Bên cạnh thu nội địa, thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.195,41 tỷ đồng (chiếm 43,76% tổng thu) tăng 73% so với cùng kỳ, nguyên nhân do kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu hải quan Hà Tĩnh trong quý có tăng nhẹ so với cùng kỳ 2021. Ngoài ra, sau tết Nguyên Đán, cùng với việc các doanh nghiệp quay trở lại hoạt động bình thường, Việt Nam và Lào đã gỡ bỏ nhiều biện pháp phòng chống Covid-19, có nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đẩy nhanh hoạt động thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu nên lượng phương tiện lưu thông qua cửa khẩu Cầu Treo cũng tăng lên. Mặc dù thu ngân sách đang còn tiềm ẩn nhiều khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/3/2022 sơ bộ đạt 3.380,50 tỷ đồng giảm 17,38% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 1.189,28 tỷ đồng chiếm 35,18% tổng chi, giảm 41% so với cùng kỳ; chi thường xuyên sơ bộ đạt 2.191,21 tỷ đồng chiếm 64,82% tổng chi, tăng 5,69% so với cùng kỳ năm 2021. 1.2. Hoạt động ngân hàng Trong những tháng đầu năm 2022, với sự lãnh đạo quyết liệt, kịp thời của NHNN tỉnh và sự nỗ lực của tất cả các TCTD, tình hình hoạt động ngân hàng trên địa bàn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Các cơ chế, chính sách của Chính phủ, của NHNN VN, của UBND tỉnh đã được NHNN tỉnh kịp thời triển khai và chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc. Các TCTD trên địa bàn chấp hành nghiêm túc các quy định về lãi suất, phí, niêm yết tỷ giá và không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh. Ngay từ đầu năm, các TCTD đã đẩy mạnh hoạt động huy động vốn và cho vay để sớm hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng đã đề ra. Kết quả 3 tháng đầu năm 2022, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.Tổng nguồn vốn huy động ước đến 31/03/2022 đạt 92.285 tỷ đồng, tăng 5,56% so với đầu năm.Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng đạt 12.385 tỷ đồng chiếm 13,42% tổng nguồn vốn huy động, tăng 7,46% so với đầu năm. Nguồn vốn tăng trưởng cả ở tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của tổ chức kinh tế. Nguồn tiền gửi tiết kiệm đạt 60.300 tỷ đồng, tăng 3,89%; tiền gửi thanh toán đạt 31.520 tỷ đồng, tăng 8,93%. Dư nợ cho vay ước đến 31/03/2022 đạt 74.368 tỷ đồng, tăng 3,61% so với đầu năm. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 50.553 tỷ đồng (chiếm 67,98% tổng dư nợ), tăng 3,62% so với đầu năm; dư nợ trung dài hạn đạt 23.815 tỷ đồng (chiếm 32,02 % tổng dư nợ), tăng 3,6% so với đầu năm. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 32.037 tỷ đồng, chiếm 43,08% dư nợ toàn địa bàn, tăng 3,62% so với đầu năm. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 24.780 tỷ đồng, tăng 4,31% so với cuối năm 2021; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu đạt 289 tỷ đồng, tăng 15,88%; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt 6.968 tỷ đồng, tăng 0,82%. Nhìn chung, các TCTD trên địa bàn luôn đảm bảo nguồn vốn cho vay đối với các dự án trọng điểm của tỉnh, tập trung nguồn vốn cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 2,55-3,8% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0-6,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,3-6,85%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4,5-9%/năm, trung dài hạn phổ biến 8,5-12%/năm; lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,0-7%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, tính đến 31/03/2022 nợ xấu ước tính 545 tỷ đồng, chiếm 0,73% tổng dư nợ. Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp, giảm so với các năm trước và nằm trong giới hạn cho phép. 2. Giá cả, lạm phát Trong tháng 3 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa có: 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng (may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,67% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,22%; giao thông tăng 3,73% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 14,37 %; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,03% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,98%); 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,4% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 3,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,08% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,78%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,1% so tháng trước, tăng 0,36% so cùng tháng năm trước); 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước (đồ uống và thuốc lá; bưu chính viễn thông; giáo dục). Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng: Tháng 3 là tháng sau Tết nên nhu cầu về tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ đều có xu hướng giảm mạnh; giá nhiên liệu xăng dầu tăng ảnh hưởng đến nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác; chi phí vận chuyển tăng cộng với nhu cầu về xây dựng lớn kéo theo giá vật liệu xây dựng tăng. Tính chung CPI quý 1 năm 2022 tăng 1,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,45%; nông thôn tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tác động lớn đến chỉ số giá đó là: Mức giảm 4,06% của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; mức tăng giá cao của nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 6,04%) và nhóm giao thông (tăng 12,39%). Nguyên nhân bởi các yếu tố: (1) Dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp tác động đến mọi mặt kinh tế - xã hội, trong đó có tác động làm giảm lượng cầu đối với các hoạt động dịch vụ ăn uống ngoài gia đình nên làm cho giá các sản phẩm làm nguyên liệu chế biến hàng ăn uống giảm; (2) Giá xăng, dầu điều chỉnh tăng cao do biến động chung của giá xăng dầu thế giới (nhóm nhiên liệu có chỉ số giá bình quân quý I/2022) tăng 47,3% so với cùng kỳ năm trước); (3) Giá vật liệu xây dựng tăng do các chi phí đầu vào cũng như cước phí vận tải tăng. 3. Đầu tư và xây dựng 3.1. Đầu tư phát triển Năm 2022 là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; là năm tập trung triển khai các Nghị quyết, chính sách giai đoạn 2021-2025. Từ những tháng đầu năm, các công trình, dự án đã được quan tâm (dự án nhà máy sản xuất pin VinES, Dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2…) cùng với thời tiết thuận lợi nên đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân vốn. Vì vậy, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trên đà xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý I/2022 ước đạt 6.150,49 tỷ đồng, tăng 23,06% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 1.496,06 tỷ đồng, tăng 20,52% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 3.629,59 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 1.024,83 tỷ đồng, bằng 372,14% so với cùng kỳ năm trước. Các tháng đầu năm, nguồn vốn chưa được giao kịp thời, các công trình mới đang trong quá trình hoàn tất hồ sơ, thủ tục triển khai, ngoài ra cũng là quý trùng với các ngày lễ kéo dài nên nguồn vốn Nhà nước quý I/2022 thực hiện giảm 53,36% so với quý trước. So với cùng kỳ năm trước, quý I/2022 thời tiết thuận lợi hơn do đó giá trị thực hiện vốn ngân sách do địa phương quản lý tăng mạnh, do đó vốn nhà nước trên địa bàn tăng 23,06% so với quý I/2021. Nguồn vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước giảm 28,58% so với quý trước, nguyên nhân trực tiếp do quý đầu năm các doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm đầu tư máy móc, cơ sở vật chất so với quý trước. Một số dự án lớn trên địa bàn chưa thi công trở lại sau kỳ nghỉ tết cũng như ảnh hưởng bởi dịch bệnh như dự án D’. Metropole Hà Tĩnh do Tập đoàn Tân Hoàng Minh làm chủ đầu tư; dự án nhà máy bia Hồng Lĩnh đã đi vào giai đoạn hoàn thành, vốn đầu tư giảm mạnh trong quý I/2022 (bằng 17% quý IV/2021). Trong quý, Nhà máy Sản xuất Pin VinES tại khu kinh tế Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh) đang hoàn thành thi công phần nền, giá trị vốn thực hiện dự kiến đạt 53 tỷ đồng. Đây là dự án lớn với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 là 4.000 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành trong quý III/2022. Vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước và dự kiến tiếp tục tăng mạnh trong các quý tiếp theo. Dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 khởi công là nguyên nhân chính dẫn tới vốn đầu tư thực hiện khu vực FDI tăng mạnh so với quý trước cũng như cùng kỳ năm trước. Dự kiến vốn đầu tư thực hiện quý I/2022 dự án này đạt 1.014 tỷ đồng, dự án này có tổng mức đầu đạt 52.000 tỷ đồng và dự kiến thực hiện, đi vào hoạt động sau 5 năm thi công. 3.2. Xây dựng Năm 2022, Hà Tĩnh đang tiếp tục thu hút các nguồn đầu tư từ nước ngoài và trong nước, các dự án lớn đã triển khai gồm: Dự án nhiệt điện Vũng Áng 2 khởi công vào quý IV/2021; dự án nhà máy sản xuất pin VinES (4.000 tỷ đồng); dự án nhà ở phức hợp Tân Hoàng Minh (1.500 tỷ đồng).... Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh đầu tư các dự án đang được đầu tư trên địa bàn tỉnh như nhà máy bia Hà Nội Nghệ Tĩnh; Khu đô thị TNR stars Hồng Lĩnh; Khu công nghiệp cổng khánh 1, 2 Hồng Lĩnh.... Đây sẽ là nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy hoạt động xây dựng trên địa bàn trong thời gian tới. Vì vậy, dự ước giá trị xây dựng trên toàn tỉnh có dấu hiệu khởi sắc. Dự ước giá trị xây dựng quý I/2022 đạt 4.284,1 tỷ đồng tăng 7,26% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chính do một số công trình lớn trong quý triển khai xây dựng như nhà máy sản xuất Pin VinES, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II. Trong đó: khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thi công các công trình trên địa bàn tỉnh dự ước giá trị quý I/2022 đạt 1.955,45 tỷ đồng tăng 14,53% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 14,99 tỷ đồng giảm 69,58% với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do công trình được thực hiện bởi doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn giảm mạnh; loại hình khác đạt 2.313,67 tỷ đồng, tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn đạt 52,81 tỷ đồng, bằng 62,72% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm mạnh do công trình xã, phường, thị trấn quản lý đầu năm đang chờ giao vốn nên chưa triển khai thi công, ngoài ra các công trình lớn đòi hỏi kỹ thuật cao, cũng như tiến độ thi công nhanh, nhà thầu thi công chủ yếu là doanh nghiệp ngoài nhà nước. Khu vực hộ dân cư đạt 2.260,86 tỷ đồng, bằng 105,26% so cùng kỳ năm trước. 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động hiệu quả, thời gian qua Hà Tĩnh tập trung rà soát, đánh giá, đơn giản hóa quy trình, thủ tục hành chính theo hướng chủ động phục vụ doanh nghiệp, đảm bảo nhanh gọn và thuận lợi cho nhà đầu tư. Tính từ đầu năm đến ngày 21/3/2022, toàn tỉnh thành lập mới 290 doanh nghiệp, tăng 26,64% so cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký đạt 2.156 tỷ đồng, tăng 110,75 so cùng kỳ năm trước, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 7,44 tỷ đồng, tăng 66,45% so cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại sau khi tạm ngừng 170 doanh nghiệp (tăng 28,79% so với cùng kỳ). Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 36 doanh nghiệp giải thể (tăng 6 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2021), 191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động (giảm 4 doạnh nghiệp so với cùng kỳ). Nhìn chung, tổng số DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng so với cùng kỳ năm trước và cao hơn hẳn mức tăng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, bên cạnh đó số vốn bình quân trên một doanh nghiệp cao hơn so với cùng kỳ. Đây là những tín hiệu tích cực phản ánh sự chủ động và năng lực thích ứng linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp với dịch bệnh trong thời gian vừa qua. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2022 so với quý IV/2021, có 51,43% DN đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó có 20% khẳng định SXKD tốt lên; 31,43% khẳng định giữ ổn định), bên cạnh đó có tới 48,57% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Điều đó cho thấy rất nhiều doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý 1/2022 gặp khó khăn trong sản xuất, hoạt động kém hiệu quả hơn so với quý trước. Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2022 khả quan hơn so quý I/2022 khi có 82,86% DN nhận định SXKD quý II sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý I (trong đó 54,29% số DN dự báo tốt lên và 28,57% số DN dự báo giữ ổn định), chỉ có 17,14% số DN dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. Các ngành dự báo SXKD quý II/2022 tốt hơn và giữ ổn định so quý I/2022 gồm: Sản xuất đồ uống 100%; dệt 100%; sản xuất trang phục 100%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 100%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 100%. Trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 5 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là: "nhu cầu thị trường trong nước thấp" chiếm 65,7%, "tính cạnh tranh của hàng trong nước cao" chiếm 57,1%, “khó khăn về tài chính” chiếm 42,9%, “Thiếu nguyên, nhiên vật liệu” và “lý do khác” chiếm 37,1%. Các doanh nghiệp gặp khó khăn chủ yếu do ảnh hưởng của dịch bệnh và chiến tranh tại các nước tiêu thụ sản phẩm. 5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý I năm 2022, sản xuất nông nghiệp tập trung sản xuất vụ Xuân là vụ chính của cả năm. Sau giai đoạn ẩm ướt kéo dài, nguy cơ sâu bệnh và nấm tăng cao, tranh thủ thời tiết nắng ấm bà con nông dân tăng cường thăm đồng, chăm sóc, theo dõi để phòng ngừa sâu bệnh gây hại. Hiện cây lúa và cây lạc đang thời kỳ sinh trưởng mạnh nên bà con tập trung làm cỏ, điều tiết nước, phân bón và phòng trừ sâu bệnh, các loại rau quả và cây trồng cạn khác bà con cũng đang tập trung chăm sóc, vun xới và bón phân nhằm đảm bảo năng suất và sản lượng; Chăn nuôi tiếp tục ổn định và tăng nhẹ khi dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, tuy nhiên do giá thức ăn và chi phí tăng cao đang là khó khăn và rào cản cho ngành chăn nuôi; trồng rừng và sản xuất lâm nghiệp tiếp tục ổn định khi thời tiết thuận lợi; đánh bắt thủy sản tăng nhẹ, hiện nay chi phí về nhiên liệu tăng cao nên khó khăn cho ngư dân vươi khơi đánh bắt, hoạt động nuôi trồng vẫn cơ bản ổn định. 5.1. Trồng trọt 5.1.1. Kết quả sản xuất vụ Đông 2021-2022 - Cây ngô: Diện tích ngô lấy hạt vụ Đông 2021-2022 sơ bộ tăng 205 ha so với cùng kỳ, đạt 126,8% kế hoạch. Nguyên nhân diện tích ngô tăng so với cùng kỳ do vụ Đông năm 2020-2021 bị ảnh hưởng bởi lũ lụt vào trung tuần tháng 10/2020 nên diện tích giao trồng giảm. Bên cạnh việc sản xuất ngô lấy hạt thì diện tích ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi vụ Đông 2021-2022 sơ bộ đạt 946 ha, giảm 221 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô tăng 0,5 tạ/ha và sản lượng ngô tăng 1.016 tấn so với thực hiện cùng kỳ. Do cả diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô tăng so với cùng kỳ năm trước. - Cây khoai lang: Tổng diện tích sơ bộ đạt 1.545 ha, bằng 105,15% (tăng 76 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là cây khoai lang chiếm 98,3% tổng diện tích cây lấy củ có chất bột. Năng suất khoai lang giảm nhẹ 1,29 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất giảm nhưng do diện tích tăng khá nên sản lượng khoai lang vẫn tăng 289 tấn so với cùng kỳ năm trước. - Cây lạc: Diện tích lạc sơ bộ đạt 24 ha, giảm 1 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời tiết đầu vụ Đông ở Hà Tĩnh mưa nhiều làm cho việc gieo trồng lạc gặp khó khăn nên người dân ít gieo trỉa mà chủ yếu sản xuất lạc vụ Xuân. Năng suất lạc tăng 3,43 tạ/ha, với sản lượng lạc tăng 6 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây lạc chủ yếu được tập trung sản xuất vào vụ Xuân nên kết quả vụ Đông là không đáng kể. - Cây rau các loại: Diện tích nhóm rau, đậu, hoa và cây cảnh sơ bộ đạt 4.924 ha, bằng 104,67% (tăng 220 ha), trong đó: Diện tích rau các loại tăng 219 ha và chiếm đến 99,9% diện tích gieo trồng của nhóm cây trồng này. Nguyên nhân diện tích rau tăng là do vụ Đông năm trước nhiều diện tích rau ở các huyện đã gieo trỉa trước ngày 15/10/2020 bị ngập lụt gây hư hỏng, sau đó người dân không gieo trỉa lại nên diện tích đạt thấp. Năng suất các loại rau chỉ giảm nhẹ 0,11 tạ/ha nhưng do diện tích tăng nên sản lượng rau tăng 1.307 tấn so với cùng kỳ năm trước. 5.1.2. Kết quả sản xuất vụ Xuân 2022 Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân 2022 ước tính đạt 100,5% kế hoạch (tăng 302 ha), so với cùng kỳ năm trước tăng 0,66% (tăng 394 ha). Diện tích lúa gieo thẳng ước đạt 51.444 ha, chiếm 85,9% tổng diện tích lúa; diện tích ngô ước tính giảm 3,7% (giảm 209 ha) so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,8% (tăng 146 ha) so với kế hoạch; diện tích khoai lang ước tính đạt 1.499 ha, giảm 1 ha so với cùng kỳ năm trước và giảm 18,4% (giảm 337 ha) so với kế hoạch; diện tích lạc ước tính giảm 17,3% (giảm 1.729 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 20,4% (giảm 2.116 ha) so với kế hoạch; diện tích rau các loại ước tính tăng 8% (tăng 402 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,8% (giảm 157 ha) so với kế hoạch. Như vậy, chỉ có diện tích lúa và ngô là đạt còn các loại cây trồng chủ lực khác vụ Xuân 2022 đều không đạt kế hoạch đặt ra và giảm hơn so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó giảm mạnh nhất là diện tích lạc. Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng, đặc biệt là thăm đồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại cây trồng vụ Xuân. 5.1.3. Cây lâu năm Cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Diện tích cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh có đến cuối năm 2021 là 31.499 ha, tăng 50 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích cây ăn quả là 19.101 ha, chiếm 60,6% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 670 ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích cao su là 8.491 ha, chiếm 27% tổng diện tích cây lâu năm, giảm 605 ha so với cùng kỳ năm trước và diện tích chè là 3.133 ha, chiếm 9,9% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 76 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh, hiện nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Hiện nay cây ăn quả trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định. 5.1.4. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại Hiện nay, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, trên cây lúa, bệnh đạo ôn phát sinh gây hại trên các giống Thiên ưu 8, BT09, VNR20, ADI168, Thái xuyên 111, Xi23…Tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 15-25%. Hiện nay, chỉ còn lúa của các địa phương là Hương Khê, Lộc Hà và thị xã Kỳ Anh là chưa bị nhiễm đạo ôn, còn lại tất cả các địa phương đều bị nhiểm bệnh, trong đó huyện Đức Thọ và huyện Hương Sơn nhiễm bệnh trên địa bàn toàn huyện. Diện tích lúa bị nhiểm bệnh đạo ôn tính đến ngày 16/3/2022 là 129,1 ha, trong đó nhiễm nặng là 13,15 ha, diện tích lúa được phòng trừ bệnh đạo ôn là 1.158 ha. Trên các loại cây trồng vụ Xuân khác chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng. Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang trong quá trình sinh trưởng mạnh nên cần tập trung phòng, trừ sâu bệnh để tránh thiệt hại, nhất là bệnh đạo ôn gây hại đối với cây lúa. 5.2. Chăn nuôi Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2022 ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Trong quý I/2022, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Sau khi tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu dịp Tết thì hiện nay người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, do giá thức ăn và các chi phí đang tăng cao đang là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra một số dịch bệnh truyền nhiễm đối với đàn vật nuôi, cụ thể: Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 18 xã/7 huyện (Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, Lộc Hà); số con mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 248 con, với trọng lượng 14,5 tấn. Tính đến ngày 16/3/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 2 xã của huyện Cẩm Xuyên (xã Cẩm Hà và xã Yên Hòa) và 1 xã của huyện Đức Thọ (xã Quang Vĩnh) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày. Dịch lở mồm long móng xẩy ra trong tháng 2/2022 tại thị trấn Đức Thọ và xã Kỳ Bắc với số lượng chỉ có 2 con trâu, 2 con bò mắc bệnh và đã được điều trị khỏi bệnh. 5.3.Lâm nghiệp Thời gian qua, điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho việc trồng cây nên các chủ rừng đã tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2022. Vì vậy, kết quả trồng rừng tập trung trong tháng 3 và cả quý I/2022 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng đầu năm 2022 tăng 39 ha so với cùng kỳ năm trước. Việc trồng cây xanh phân tán để tạo môi trường sống trong lành luôn được các địa phương quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây xanh ở các đô thị và khu dân cư ngày càng thu hẹp nên kết quả trồng cây phân tán quý I/2022 giảm 79 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng sản xuất nên thường thiếu ổn định giữa các tháng. Kết quả sản lượng gỗ khai thác trong quý I/2022 tăng 1.894 m3 so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 11 vụ phá rừng (tăng 6 vụ), với diện tích rừng bị phá là 3,66 ha (tăng 2,14 ha) so với cùng kỳ năm trước. 5.4. Thủy sản Sản lượng thủy sản tháng 3 năm 2022 ước đạt 4.750 tấn, tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.492 tấn, tăng 4,21%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.258 tấn, tăng 1,37%; Quý I năm 2022, sản lượng thủy sản ước đạt 12.688 tấn, tăng 2,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 9.537 tấn, tăng 2,53%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.151 tấn, tăng 1,78%. Tháng 3 cũng như 3 tháng đầu năm 2022, hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định, sản lượng có tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không cao. Trong quý I/2022,sản lượng hải sản khai thác biển chiếm 75% tổng sản lượng thủy, hải sản trong khi điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển không có nhiều thay đổi nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Thời gian qua, do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, việc sử dụng dịch vụ ăn uống ngoài gia đình giảm mạnh nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản cũng giảm đáng kể. Mặt khác, tuy giá bán sản phẩm ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác tăng cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn khi vươn khơi đánh bắt hải sản. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng cũng chưa có bước đột phá gì đáng kể, cơ bản duy trì diện tích nuôi trồng hiện có ở các địa phương có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản. Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến ngày 16/3/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra dịch bệnh đối với tôm nuôi. Bệnh đốm trắng với diện tích nhiễm bệnh là 1,41 ha và bệnh hoại tử với diện tích nhiễm bệnh là 0,27 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, tiến hành dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm. 6. Sản xuất công nghiệp Ngành công nghiệp quý I/2022 nhìn chung giảm so với cùng kỳ. Nguyên nhân do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng trong những tháng đầu năm 2022 gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng hoạt động để tiến hành sửa chữa nên sản lượng sản xuất giảm mạnh. Ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,18% so với cùng kỳ). Sản xuất thép của công ty Formosa là ngành chiếm tỷ trọng cao (trên 70%) trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp nhưng do các tháng đầu năm có sự biến động về giá ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu đầu vào nên công ty này đã giảm sản lượng sản xuất, sản lượng thép giảm 3,74% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 3/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự ước tăng do sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán, các doanh nghiệp trở lại hoạt động bình thường. So với tháng 2/2022 ước tính tăng 14,73% và giảm 1,46% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước quý 1/2022, chỉ số sản xuất giảm 8,74% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,56%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,95% làm giảm 1,02 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,1%, làm giảm 6,34 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,86%, làm giảm 1,43 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Tính chung 3 tháng đầu năm 2022, trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 14 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng và 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 7 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 33,23%; ngành sản xuất sản phẩm từ giấy tăng 22,38%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 16,82%... Bên cạnh đó có,6 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm mạnh làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 52,48%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 43,15%.... Một số sản phẩm chủ yếu: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu quý 1 năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước: Bao bì và túi bằng giấy (trừ giấy nhăn) tăng 265,22%; Chè (trà) nguyên chất tăng 121,18%; quặng inmenit và tinh quặng inemit tăng 304 tấn (tăng 78,68%); bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 65,65%; nước uống được tăng 18,36%; …Một số sản phẩm giảm: Điện sản xuất giảm 38,04%; mực đông lạnh giảm 20,31%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 12,77%; nước không uống được giảm 9,79%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,58%... Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước quý 1/2022 giảm 3,82% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 3 tháng đầu năm 2022, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp gặp khó khăn hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm do ảnh hưởng của dịch bệnh cũng như biến động thị trường, giá cả trong thời gian qua. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm là do mức tiêu thụ của một số ngành giảm mạnh so với cùng kỳ, đặc biệt là 5 nhóm ngành: sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 77,17%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 69,91%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 64,49%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 39,96%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 37,93%; …Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng: sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 146,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 32,72%; sản xuất trang phục tăng 6,56%; sản xuất đồ uống tăng 5,37%; … Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2022 tăng 42,11% so với tháng trước và tăng 31,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm sợi của Công ty Vinatex Hà Tĩnh (tăng 388,12%) và sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 181,97% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. Ngoài ra chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ do một số ngành như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 52,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 39,31%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng 3/2022 tương đối ổn định, không có sự thay đổi nhiều so với tháng 2/2022. Lao động của toàn ngành công nghiệp tháng 3/2022 tăng 1,69% so với tháng 2/2021. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước giảm 4,83% và cộng dồn 3 tháng đầu năm giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 3 tháng đầu năm 2022 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm 8,43% so với cùng kỳ năm trước. 7. Thương mại, dịch vụ Hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 3 năm 2022 có phần sôi động hơn so với những tháng trước khi Chính phủ ban hành Nghị định 15/2022/NĐ-CP quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị định 43/2022/QH15, trong đó điểm nhấn là chính sách giảm 2% thuế suất GTGT trong năm 2022, cùng với chương trình phục hồi và phát triển kinh tế với quy mô 350 nghìn tỷ của Chính phủ đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển trở lại. Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 trên diện rộng, số ca lây nhiễm tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng. Giá cả nguyên nhiên vật liệu và hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao nên quý I năm 2022 hoạt động kinh doanh hàng hóa, vận tải và dịch vụ đều giảm so với cùng kỳ năm trước. 7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa - Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2022 ước đạt 3.481,81 tỷ đồng, giảm 3,81% so với tháng trước và tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như sau: gỗ và vật liệu xây dựng tăng 8,17%, ô tô con tăng 18,62%; xăng dầu các loại tăng 35,38%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 40,05%; đá quý, kim loại tăng 13,7%. Tháng 3 thị trường hàng hóa có xu hướng sôi động hơn khi có mức tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện một số chính sách phục hồi và phát triển kinh tế của Chính phủ, tuy nhiên vẫn còn nhiều gặp khó khăn do diễn biến phức tạp của dịch Covid- 19 cộng với sự điều chỉnh tăng giá xăng dầu, nhiên liệu. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý 1 năm 2022 ước đạt 11.305,81 tỷ đồng, giảm 2,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 5.004,33 tỷ đồng, giảm 3,84%; hàng may mặc ước đạt 504,09 tỷ đồng, giảm 26,7%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.004,66 tỷ đồng, giảm 22,42%; vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 68,62 tỷ đồng, tăng 2,78%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 538,70 tỷ đồng, tăng 10,9%; ô tô ước đạt 1.019,28 tỷ đồng, giảm 1,53%; phương tiện đi lại ước đạt 623,61 tỷ đồng, tăng 7,34%; xăng dầu các loại ước đạt 1.244,29 tỷ đồng, tăng 32,24%; nhiên liệu khác ước đạt 239,13 tỷ đồng, tăng 36,82%; đá quý, kim loại quý các loại ước đạt 198,91 tỷ đồng, tăng 6,62%; hàng hóa khác ước đạt 556,48 tỷ đồng, giảm 16,34%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt 303,7 tỷ đồng, tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong quý I năm 2022 vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn so với cùng kỳ năm trước. Quý 1/2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh chưa bùng phát, điều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn đầu năm nay. Cùng với đó, việc giá xăng dầu tăng liên tục 7 lần kể từ cuối tháng 12/2021 đến nay khiến chi phí sản xuất, vận chuyển và thu nhập của người dân đều bị ảnh hưởng. Những yếu tố này đã làm cho tổng doanh thu bán lẻ trong quý 1/2022 giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Dự báo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn trong thời gian tới có xu hướng tăng nhờ độ phủ vaccine Covid-19 và các chính sách kích cầu kinh tế, dịch bệnh dần kiểm soát và thích ứng với trạng thái bình thường mới. Lượng cung hàng hóa vẫn dồi dào về số lượng, đa dạng về chủng loại, đảm bảo về chất lượng và sẽ đáp ứng được đầy đủ sức mua của người tiêu dùng. Một số nhóm hàng hóa có thể sẽ tăng cao như: Hàng lương thực, thực phẩm; hàng may mặc; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình; vật liệu xây dựng... 7.2. Hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác 7.2.1. Hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 3/2022 dự tính đạt 229,01 tỷ đồng, tăng 8,93% so với tháng trước, giảm 48,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: dịch vụ lưu trú ước đạt 8,5 tỷ đồng, tăng 14,84% so với tháng trước, giảm 48,52%; dịch vụ ăn uống ước đạt 220,51 tỷ đồng, tăng 8,72% so với tháng trước, giảm 48,2% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước do tháng trước trùng vào dịp Tết Nguyên Đán và rằm tháng Giêng nên nhu cầu về lưu trú và ăn uống ngoài gia đình giảm. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm do cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 bùng phát trên diện rộng, mức độ dịch bao phủ khắp nơi ảnh hưởng đến mọi hoạt động của đời sống kinh tế xã hội. Tính chung quý 1 năm 2022, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 698,58 tỷ đồng, giảm 46,72% so với cùng kỳ, trong đó: lưu trú đạt ước 24,57 tỷ đồng, giảm 49,47%; ăn uống ước đạt 674 tỷ đồng, giảm 46,61%. Nguyên nhân như đã nói ở trên do ảnh hưởng dịch Covid- 19 nên người dân e ngại trong việc đi du lịch và ăn uống bên ngoài. 7.2.2. Doanh thu hoạt động dịch vụ khác Doanh thu dịch vụ khác tháng 3 năm 2022 ước tính đạt 170,05 tỷ đồng, tăng 9,11% so với tháng trước và giảm 2,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giảm mạnh nhất ở nhóm dịch vụ vui chơi giải trí giảm 66,54% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó một số nhóm dịch vụ lại có chỉ số tăng như nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 13,92% do thị trường về bất động sản từ cuối năm 2021 đến nay rất sôi động do hoạt động mua đi bán lại của các “cò đất”; nhóm có doanh thu tăng mạnh thứ hai là nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,58% do nhu cầu về xây dựng tăng tăng cao nên dịch vụ cho thuê máy móc công trình và các thiết bị hỗ trợ tăng; dịch vụ khác tăng 7,1%. Quý 1 năm 2022, doanh thu dịch vụ khác thực hiện ước đạt 515,98 tỷ đồng, giảm 0,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm dịch vụ vui chơi giải trí giảm 72,67% là nhóm có chỉ số giảm mạnh nhất do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid- 19 nên một số dịch vụ vui chơi giải trí phải đóng cửa. Nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 18,54%, nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 13,86%. Bên cạnh đó một số nhóm có chỉ số tăng như: nhóm kinh doanh bất động sản tăng 13,92%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,25%; dịch vụ khác tăng 11,61%. Nhìn chung, trong quý I/2022, dịch vụ vui chơi giải trí giảm mạnh nhưng bên cạnh đó thị trường bất động sản tiếp tục sôi động, nhu cầu về dịch vụ cho thuê máy móc công trình tăng để phục vụ nhu cầu san lấp mặt bằng cho các công trình lớn như công trình Nhà máy sản xuất Pin VinES, nhà máy nhiệt điện…nên làm cho doanh thu dịch vụ chỉ giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 7.3. Hoạt động kinh doanh vận tải - Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 3 năm 2022 ước đạt 318,97 tỷ đồng, tăng 3,6% so tháng trước và giảm 30,92% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 50,80 tỷ đồng, giảm 2,3% so với tháng trước và giảm 62,59% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 204,41 tỷ đồng, tăng 3,18% so với tháng trước và giảm 17,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 63,7 đồng, tăng 10,37% so với tháng trước và giảm 18,27% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 3/2022 ước tính tăng so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do những nguyên nhân sau: Vận tải hành khách: Doanh thu trong tháng giảm do yếu tố thời vụ. Sau dịp tết Nguyên đán cổ truyền, nhu cầu đi lại giảm hơn so với tháng trước, cùng với đó là các đơn vị kinh doanh vận tải điều chỉnh giảm giá cước khiến cho doanh thu vận tải hành khách giảm. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu vận tải hành khách giảm mạnh do ảnh hưởng dịch Covid-19 trên diện rộng nên nhu cầu đi lại của người dân rất hạn chế. Vận tải hàng hóa: Thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng, các công trình xây dựng cơ bản tiếp tục thi công sau dịp nghỉ Tết. Các hoạt động kinh doanh trở lại bình thường, nhu cầu vận tải hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất, hàng hóa xuất nhập khẩu như thủy sản, dăm gỗ, thép... tăng mạnh. Đó là những nguyên nhân chính khiến cho doanh thu vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước. Tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước lại giảm do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 nên việc lưu thông hàng hóa và mức tiêu thụ hàng hóa giảm hơn. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trong tháng tăng, lượng hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty Cổ phần Cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng, đó là nguyên nhân chính khiến cho doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng. - Tính chung quý I năm 2022, hoạt động vận tải dự tính đạt 985,45 triệu đồng, giảm 30,32% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: vận tải hành khách ước tính đạt 151,90 đồng, giảm 64,83%; vận tải hàng hóa ước tính đạt 640,80 tỷ đồng, giảm 15,36%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 192,57 tỷ đồng, giảm 14,52% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải quý I năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước do năm nay dịch Covid- 19 bùng phát trên diện rộng nên nhu cầu đi lại của người dân giảm mạnh, cùng với đó việc lưu thông hàng hóa gặp khó khăn và mức tiêu thụ hàng hóa giảm. Chịu ảnh hưởng nặng nề là vận tải hành khách khi doanh thu giảm hơn 60%, lượng khách vận chuyển giảm hơn 70% so với cùng kỳ năm trước. Các công ty vận tải đường dài chỉ hoạt động cầm chừng, cắt giảm quy mô từ 10 xe xuống còn 2 đến 3 xe hoạt động vì chi phí tăng cao trong khi lượng khách mỗi chuyến giảm đáng kể. Không chỉ các công ty vận tải đường dài gặp khó khăn, các hãng taxi trên địa bàn cũng trải qua giai đoạn “lao đao” nhất trong nhiều năm trở lại đây, số đầu xe hoạt động chỉ chiếm khoảng 60% trên tổng số xe, số còn lại hiện đang nằm bãi, nhiều tài xế taxi phải xin nghỉ việc. Hiện nay các công ty vận tải đang đề xuất lên cơ quan chức năng xem xét cho tăng giá cước. 7.4. Hoạt động xuất nhập khẩu: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 3 năm 2022 ước đạt 327,5 triệu USD, giảm 11,5% so với tháng trước và giảm 31,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 1057,8 triệu USD, giảm 7,15% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất nhập khẩu chủ yếu của Công ty Formosa chiếm trên 90% tổng kim ngạch nhưng do các tháng đầu năm ảnh hưởng biến động giá, nguồn nguyên liệu đầu vào tăng cao nên công ty này đã giảm sản lượng sản xuất nên kim ngạch xuất nhập khẩu giảm đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 năm 2022 ước đạt 117,5 triệu USD, tăng 12,87% so với tháng trước, giảm 36,16% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2022 ước đạt 328,57 triệu USD, giảm 23,5% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực đạt 282,41 triệu USD, giảm 25,55%; các mặt hàng khác như: xơ, sợi dệt các loại đạt 3,68 triệu USD, dăm gỗ đạt 14,08 triệu USD, hàng may mặc 3,32 triệu USD… đều tăng nhưng lại chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 năm 2022 ước đạt 210 triệu USD, giảm 21,05% so với tháng trước, giảm 28,56% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2022 ước đạt 729,22 triệu USD, tăng 2,75% so với cùng kỳ; nhập khẩu của Formosa chiếm tỷ trọng 87,14%, chủ yếu nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thép. 8. Các vấn đề xã hội 8.1. Dân số, lao động và việc làm Nhìn chung quý I năm 2022, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với năm trước. Từ những tháng cuối năm 2021, nhiều doanh nghiệp đã khởi động các kế hoạch đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao nhu cầu sử dụng lao động. Bên cạnh đó, mặc dù dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào đầu năm 2022, nhưng với sự quan tâm và chỉ đạo của chính quyền các cấp nên các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại và dịch vụ vẫn hoạt động bình thường với phương châm vừa sản xuất vừa chống dịch. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I năm 2022 ước tính 523.204 người, so với quý trước tăng 0,82% và tăng 1,06% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động là nam 274.691 người (chiếm 52,5% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 130.806 người (chiếm 25% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 496.815 người, chiếm 94,96% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; so với quý trước tăng 0,22% và tăng 0,61% so với cùng kỳ năm 2021. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 127.630 người, chiếm 25,69% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 261.798 người, chiếm 52,7%; số người không có việc làm (thất nghiệp) là 26.389 người (chiếm 5,04% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,4%; tăng 0,18 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 4%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 31,74% trong tổng số (tương ứng 157.680 người), giảm 0,32 điểm phần trăm so với quý trước và 0,33 điểm phần trăm so cùng kỳ năm 2021; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 28,81% ( tương ứng 143.109 người), lần lượt tăng 0,05 điểm phần trăm và 0,92 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 39,46% (tương ứng 196.026 người), lần lượt tăng 0,27 điểm phần trăm và giảm 0,6 điểm phần trăm. Ước tính quý I/2021 số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 6.498 người, tăng 9,17% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 6.279 người, chiếm 96,63% tổng số; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 23 người, chiếm 0,35%; xuất khẩu lao động 196 người, chiếm 3,02%. 8.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh quý I năm 2022 vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù thời tiết tương đối thuận lợi, trên địa bàn tỉnh không xảy ra đợt thiên tai góp phần ổn định tình hình sản xuất kinh doanh của người dân.Tuy nhiên, trong tháng 2 xảy ra một đợt rét kéo dài, UBND tỉnh đã chủ động hỗ trợ mua 16 tấn gạo cứu đói cho 204 hộ (667 khẩu) đồng bào dân tộc Chứt tại địa bàn xã Hương Liên và Hương Vĩnh, huyện Hương Khê. Ngoài ra trong bối cảnh dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, các cấp chính quyền đã đặc biệt quan tâm, hỗ trợ các đối tượng yếu thế kịp thời. Tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Quý I năm 2022 Hà Tĩnh đã trao tặng khoảng 242.220 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 88,158 tỷ đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 100.668 suất quà trị giá 28,583 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ nghèo khoảng 32.285 suất quà trị giá 16,594 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ cận nghèo khoảng 18.291 suất quà trị giá 8,753 tỷ đồng; Tặng quà cho người cao tuổi khoảng 37.207 suất quà trị giá 10,656 tỷ đồng; Tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 10.203 suất quà trị giá 4,141 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 43.566 suất quà trị giá 19,431 tỷ đồng. Bên cạnh đó cấp khoảng 19.035 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo,37.115 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 83.855 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 40.500 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Bên cạnh đó, đã cấp khoảng 19.416 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 29.789 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 124.254 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 37.101 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Nhìn chung công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. 8.3. Giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông:Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 244 và 245/QĐ-SGDĐT ngày 14/3/2022 về việc đặc cách công nhận học sinh giỏi tỉnh năm học 2021-2022 cho 91 em có chứng chỉ IELTS môn tiếng Anh lớp 10 và 11, việc đặc cách công nhận học sinh giỏi tỉnh cho những học sinh có chứng chỉ quốc tế nhằm động viên, khuyến khích phong trào học tập và nâng cao chất lượng dạy, học tiếng Anh trong các nhà trường. Chủ trương này được Hà Tĩnh thực hiện từ năm 2018 và đến nay đã có nhiều tỉnh, thành áp dụng. Ngày 15/3/2022, Hà Tĩnh đã tổ chức Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 10 năm học 2021-2022 với sự tham gia 975 học sinh lớp 10 và 1.147 học sinh lớp 11 đến từ các trường trung học phổ thông trên toàn tỉnh tham gia. - Giáo dục đào tạo: Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Trong đó chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghềcập nhật thông tin thị trường lao động. Với những nỗ lực đó, trong quý I năm 2022 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề và cấp chứng chỉ cho 3.599 người. Trong đó: cao đẳng nghề 42 người (chiếm 1,17%); trình độ trung cấp 1.802 người (chiếm 50,07%); trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng 1.755 người (chiếm 48,76%). 8.4. Hoạt động Y tế Trong Quý I năm 2022 tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, số ca nhiễm mới trong cộng đồng tăng cao. Trước tình hình đó, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các biện pháp chống dịch; phát huy vai trò của Tổ giám sát, tuyên truyền phòng, chống Covid-19 dựa vào cộng đồng (Tổ Covid-19 cộng đồng); tiếp tục kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc phòng chống dịch: ngăn chặn, truy vết, xét nghiệm, cách ly, khoanh vùng dập dịch với quy mô phù hợp; vừa đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19 vừa thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài. Tổng số ca mắc từ ngày 1/01/2022 đến ngày 21/03/2022 là 32.206 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 33.830 ca mắc. Cộng dồn tổng F1 đã truy vết (từ 4/6 đến nay) 113.535 ca số đã hoàn thành cách ly 75.134, số còn cách ly: 38.401.. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 29.399 ca, trong đó đã có 24.024 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh Covid chuyển các Bệnh viện tuyến trên 87 ca. Điều trị khỏi 28.012 BN, trong đó có 80 BN tuyến trên, 27.932 BN tại Hà Tĩnh, 30 BN tử vong. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, số xã phường đánh giá cấp độ dịch ở cấp 1 là 87 xã, phường; ở cấp độ 2 là 108 xã phường, còn lại 21 xã, phường đánh giá cấp 3. - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca sốt xuất huyết, 17 ca mắc bệnh quai bị, 23 ca mắc lỵ trực trùng; 31 ca mắc lỵ a míp; 19 ca mắc bệnh thủy đậu, 816 ca mắc bệnh cúm, 139 ca tiêu chảy, viêm gan vi rút khác 8 ca và không có người chết vì do các bệnh trên. Tính chung Quý I năm 2022, toàn tỉnh có 3 ca mắc sốt xuất huyết (năm trước không xảy ra), 0 ca mắc sốt rét (giảm 1 ca so với năm trước), 0 ca viêm não do vi rút (không đổi), 25 ca mắc bệnh quai bị (tăng 127,27%), 45 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 45,16%); 69 ca mắc lỵ a míp (tăng 53,33%); 50 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 72,53%), 2.631 ca mắc bệnh cúm (giảm 55,25%), tiêu chảy 400 ca (giảm 46,02%), viêm gan vi rút khác 17 ca (giảm 39,28%) tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, ngành Y tế Hà Tĩnh đã hướng dẫn cho bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Kết quả, trong thời gian qua, công tác phòng chống dịch HIV/AIDS của Hà Tĩnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trong tháng, có 3 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: số người nhiễm mới HIV giảm 7 ca (giảm 70,0%), số người chuyển thành AIDS giảm 5 ca (giảm 83,33%), số người chết vì AIDS không đổi. Quý I năm 2022, có 6 người nhiễm mới HIV, 3 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước: giảm 8 ca (giảm 57,14%), giảm 7 ca (giảm 70%), số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hưởng ứng ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam (15/3) năm 2022, tại Hà Tĩnh đã tổ chức các hoạt động với chủ đề “Tiêu dùng an toàn trong thời kỳ mới” nhằm mục đích đưa luật và các văn bản liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đến với mọi người. Trong tháng, không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Quý I năm 2022, xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 ca bị ngộ độc, ngoài ra có 120 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, giảm 8 ca ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 202 ca (giảm 62,73%), số ca tử vong không đổi. 8.5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn, qua quá trình khảo sát, đánh giá, ngày 18/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 613/QĐ-UBND về việc xếp hạng 6 di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh. Các di tích được công nhận sẽ là cơ sở để chính quyền và Nhân dân các địa phương quan tâm bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị của các di sản. Như vậy, tính đến tháng 3 năm 2022, tỉnh Hà Tĩnh đã có 623 di tích được xếp hạng di tích trong đó 2 di tích quốc gia đặc biệt, 86 di tích cấp quốc gia và 535 di tích cấp tỉnh. Nhìn chung, những tháng đầu năm 2022, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên Hà Tĩnh đã tạm dừng tổ chức các loại hình lễ hội, các hoạt động được triển khai với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước, đặc biệt là tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 92 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 92 năm thành lập Đảng bộ tỉnh; mừng Xuân Nhâm Dần... Toàn tỉnh thay mới hơn 2.000m2 tranh cổ động tấm lớn, pano, áp phích các loại và hàng trăm lượt khẩu hiệu, băng rôn, cờ tổ quốc; tổ chức 50 buổi tuyên truyền lưu động. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Quý I năm 2022, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức kiểm tra 105 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo, treo biển hiệu và tổ chức kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các di tích dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. Qua kiểm tra, đã lập biên bản kiểm tra nhắc nhở 70 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 4 trường hợp với số tiền 23 triệu, yêu cầu ký cam kết khắc phục cải tạo, sửa chữa biển hiệu đối với 5 cơ sở kinh doanh. Bên cạnh đó, đã cấp 47 giấy phép, trong đó có 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa, 16 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, 1 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch... - Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Quý I năm 2022, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 3 giải đấu, đạt 44 huy chương các loại (15 huy chương vàng, 11 huy chương bạc, 18 huy chương đồng), trong đó tại Giải Vô địch các câu lạc bộ Pencak Silat quốc gia năm 2022 diễn ra từ ngày 4-11/3 ở Cao Bằng, đoàn Hà Tĩnh giành được 9 huy chương các loại (1 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, 5 huy chương đồng); tại Giải Vô địch Karate miền Trung – Tây Nguyên diễn ra từ 11-14/3, Hà Tĩnh giành vị trí nhất toàn đoàn với 35 huy chương các loại (14 huy chương vàng, 8 huy chương bạc, 13 huy chương đồng). Thể thao quần chúng: Hoạt động thể thao tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phù hợp và thích ứng với diễn biễn mới của dịch Covid -19. Một số hoạt động thể thao nổi bật như: giải bóng chuyền bãi biển toàn tỉnh (từ ngày 4-12/3) trong khuôn khổ Đại hội Thể dục Thể thao (TDTT) lần thứ IX tỉnh Hà Tĩnh năm 2022; huyện Nghi Xuân tổ chức giải bóng chuyền nữ toàn huyện trong thời gian tới sẽ tổ chức giải kéo co toàn huyện... 8.6. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội - Về an toàn giao thông:Tính từ ngày 15/02/2022 - 14/3/2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 3 vụ tai nạn đường bộ so với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ, làm 1 người chết (giảm 5 người), 1 người bị thương (giảm 5 người), thiệt hại 70 triệu đồng. Tính chung quý I năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/3/2022) đã xẩy ra 20 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 18 người chết, 11 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 260 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2021 giảm 4 vụ (giảm 16,67%), số người chết và người bị thương không đổi. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. 8.7. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/02/2022 đến ngày 14/3/2022 trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ cháy làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ cháy không đổi, tăng người chết và số người bị thương không thay đổi; trong tháng không xảy ra vụ nổ. Tính chung quý I/2022 (từ ngày 15/12/2021-14/3/2022) đã xảy ra 6 vụ cháy,nổ làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 235 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ (giảm 33,33%), giảm 1 người chết (giảm 50%), số người bị thương không đổi. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/02/2022 đến ngày 14/3/2022 đã phát hiện 14 vụ, đã xử lý 3 vụ, tổng số tiền xử phạt 0,8 triệu đồng; so với tháng trước: giảm 292 vụ đã phát hiện (giảm 95,42 %), giảm 240 vụ đã xử lý (giảm 98,77%), giảm số tiền nộp phạt 650,28 triệu đồng (giảm 99,88%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 4 vụ đã phát hiện (tăng 40,0%), giảm 5 vụ đã xử lý (giảm 62,50%), số tiền xử phạt giảm 34,20 triệu đồng (giảm 97,71%). Quý I năm 2022 (ngày 15/12/2021 - 14/3/2022) đã phát hiện 371 vụ, đã xử lý 266 vụ, tổng số tiền xử phạt 878,88 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước: tăng 337 vụ (tăng 9,91 lần), tăng 249 vụ đã xử lý (tăng 14,65 lần), tăng số tiền nộp phạt 730,93 triệu đồng (tăng 4,94 lần).Vi phạm môi trường đã phát hiện trong quý I chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 335 vụ (chiếm 91,28%);vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 21 vụ (chiếm 5,72%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 11 vụ (3%).Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
- 16/07/2024 17:05
I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông , lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện thời thiết tương đối thuận lợi nên diện tích lúa xuân sinh trưởng và phát triển tốt. Các địa phương cơ bản tuân thủ lịch thời vụ và cơ cấu giống nên lúa sinh trưởng đồng đều, đảm bảo thời vụ sinh trưởng; hầu như không xảy ra hiện tượng lúa bị chết do rét đậm, rét hại một số ngày qua. Hiện nay người dân đang tổ chức ra quân giặm tỉa, phòng trừ một số loại sâu bệnh và chuẩn bị bón thúc đẻ nhánh; Hoạt động chăn nuôi cơ bản ổn định và từng bước phát triển trong việc tái đàn ở đàn lợn, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát; Trồng rừng và khai thác gỗ tăng nhẹ, cây trồng phân tán đạt khá so với tháng trước do thực hiện Tết trồng cây Xuân Nhâm Dần; Sản xuất thủy sản được duy trì và có mức tăng nhẹ. 1. Sản xuất nông nghiệp 1.1. Trồng trọt Trong tháng 02, sản xuất trồng trọt chủ yếu tập trung gieo trồng các loại cây vụ Xuân năm 2022. Tính đến ngày 14/02/2022, tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2022 đạt được như sau: Toàn tỉnh đã gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 99,8% kế hoạch, trong đó: Diện tích lúa cấy là 7.897 ha (chiếm 13,3% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 51.565 ha (chiếm 86,7% tổng diện tích gieo cấy). Cơ cấu giống lúa chủ yếu là nhóm giống P6, Nếp, HT1, Bắc Thịnh, ADI168, KDĐB, KD18, LP5,.vv. chiếm trên 95% tổng diện tích gieo cấy. Một số địa phương đã có diện tích gieo cấy vượt kế hoạch như: Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà và huyện Kỳ Anh. Cùng với gieo trồng lúa thì trong tháng 02/2022 bà con nông dân cũng đã xuống giống sản xuất các loại cây trồng vụ Xuân. Tuy nhiên, do thời gian qua bà con nông dân đang tập trung gieo cấy lúa và điều kiện thời tiết mưa rét nên tiến độ sản xuất các loại cây trồng cạn vụ Xuân tính đến ngày 14/02/2022 vẫn đạt thấp so với kế hoạch. Tháng 02/2022, trùng vào dịp tết Nguyên đán nên sau Tết cùng với việc chăm sóc diện tích cây đã gieo trồng thì bà con nông dân tiếp tục sản xuất gieo trỉa các loại cây trồng cạn vụ Xuân 2022 theo kế hoạch và đảm bảo khung lịch thời vụ. Nhìn chung, tuy điều kiện thời tiết có rét đậm nhưng hiện nay các loại cây trồng vụ Xuân 2022 đã sản xuất đang phát triển tốt. - Thiên tai, dịch bệnh: Trong tháng 02/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh tuy có mưa rét nhưng không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng vụ Xuân 2022. Sâu bệnh chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng. 1.2. Chăn nuôi Tháng 02/2022, các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát nên hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Đầu tháng 02/2022, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh dịp Tết vừa qua tương đối dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp Tết, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Sau khi tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu dịp Tết thì hiện nay người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, do giá thức ăn và các chi phí đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 16/02/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 5 xã trên địa bàn 4 huyện (Vũ Quang 2 xã, Thạch Hà 1 xã, Cẩm Xuyên 1 xã và huyện Kỳ Anh 1 xã) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày và hiện đang còn có 7 hộ ở 6 thôn đang có dịch. Tổng số lợn bị ốm chết, buộc tiêu hủy ở các địa bàn chưa qua 21 ngày là 35 con với trọng lượng 2.600 kg. 2. Lâm nghiệp Trong tháng 02 trùng vào dịp Tết trồng cây Xuân Nhâm Dần nên số lượng cây trồng phân tán tăng hơn so với tháng trước. Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây của các địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng thu hẹp nên số lượng cây trồng phân tán giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Cùng với trồng cây phân tán thì hoạt động trồng rừng sản xuất vụ Xuân năm 2022 và khai thác gỗ cũng đang được các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện và có kết quả tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/02/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 6 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 2,42 ha. 3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 02 cũng như 2 tháng đầu năm 2022 vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân do thu hoạch sản lượng nuôi trồng phục vụ nhu cầu dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần. Mặt khác, từ tháng 12 năm trước kéo dài đến tháng 3 năm sau là mùa cá trích, ruốc…xuất hiện nhiều nhất. Những chuyến biển của ngư dân thường bắt đầu từ buổi tối đến rạng sáng ngày hôm sau và chủ yếu đánh bắt vùng lộng gần bờ bằng tàu thuyền cỡ nhỏ nên cũng ít tốn kém chi phí hơn, trong khi những chuyến biển đầu năm đạt khá nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác. Thời gian tới, khi giá nhiên liệu tăng cao sẽ là khó khăn rất lớn đối với hoạt động khai thác hải sản. - Dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh. 2. Sản xuất công nghiệp (IIP) Tháng 2 năm 2022 là thời điểm nằm trong dịp tết nguyên đán, thời gian nghỉ kéo dài; bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, số ca nhiễm tăng nhanh sau đợt nghỉ Tết đã tác động xấu đến sản xuất ngành công nghiệp. Chỉ số sản xuất tháng 02 năm 2022 dự ước giảm 4,81% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 giảm 17,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,47%; công nghiệp chế biến chế tạo giảm 15,16%; sản xuất và phân phối điện giảm 31,38%; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 5,1%. Chỉ số sản xuất tháng 01 giảm là do trùng vào dịp lễ Nguyên Đán các doanh nghiệp hoạt động sản xuất ít ngày hơn, bên cạnh đó nhu cầu một số mặt hàng giảm làm cho sản lượng khai thác giảm xuống. Chỉ số sản xuất tháng 02 năm 2022 dự ước tăng 9,02% so với tháng trước và giảm 4,81% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 vẫn ngừng hoạt động do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin máy phát không làm việc vì mất nguồn điện chính và dự phòng sản lượng điện sản xuất giảm. Tính chung 2 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 11,5% so với cùng kỳ năm trước. trong đó, ngành sản xuất phân phối điện khí đốt có mức giảm sâu (giảm 34,18%). Nguyên nhân do giá thép đang có xu hướng giảm, đặc biệt giá nguyên liệu, nhân công tăng cao nên Công ty Formosa giảm sản lượng sản xuất so cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022 trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có 12 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 51,18%; ngành in, sao chép bản ghi các loại tăng 20,59%; ngành sản xuất đồ uống tăng 16,18%; ngành khai khoáng khác tăng 14,86%... Bên cạnh đó có 6 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 34,18%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 28,1%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 14,89%.... Nhìn chung chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính đến cuối tháng 02 năm 2022 ước giảm so với cùng kỳ năm trước do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng trong tháng giảm sản lượng, gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng sữa chữa thiết bị, máy móc. Dự báo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 3/2022: Sản xuất công nghiệp có sự ổn định trở lại do các doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 02/2022 đạt 293.813 triệu đồng, bằng 64,77% so với tháng trước, bằng 116,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 230.541 triệu đồng, giảm 37,45% (giảm 138.027 triệu đồng) so với tháng trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 59.134 triệu đồng, giảm 20,86% (giảm 15.591 triệu đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 4.138 triệu đồng, giảm 60,06% (giảm 6.222 triệu đồng) so với tháng trước. Tháng 2/2022 trùng dịp tết Nguyên đán, thời gian nghỉ lễ kéo dài, các công trình xây dựng tạm thời ngừng thi công. Dự án khởi công mới, dự án chuyển tiếp chờ giao vốn năm 2022 đang hoàn thiện hồ sơ đáp ứng để tiếp tục thi công, các dự án công trình mới chưa triển khai thực hiện. Do đó tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 02/2022 giảm mạnh so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước đạt 747.466 triệu đồng, tăng 17,54% so với cùng kỳ năm 2021. Như vậy, tổng vốn đầu tư thực hiện 2 tháng đầu năm 2022 vẫn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chủ yếu nguồn vốn cấp tỉnh tăng 37,24% và cấp huyện tăng 13,42%, nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã giảm 82,18% so với năm 2021 do năm nay kế hoạch vốn cấp xã giao giảm 57,05% so với năm 2021. Dự báo tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 3/2022 sẽ tăng trưởng ổn định. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 02 năm 2022 trùng vào dịp nghỉ tết Nguyên đán Nhâm Dần thời gian thực sự bắt đầu kinh doanh của đa số cơ sở là sau thời điểm rằm tháng giêng. Bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, số ca nhiễm tăng nhanh sau đợt nghỉ Tết đã tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội. Tính chung ngành thương mại và dịch vụ tiêu dùng tháng 2 năm 2022 giảm mạnh so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa những tháng đầu năm 2022 có mức tăng khá hơn so với dịp cuối năm 2021. Tuy nhiên, chưa đạt mức so cùng kỳ năm 2021. Với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15, trong đó, điểm nhấn là chính sách giảm 2% thuế suất thuế GTGT trong năm 2022 hứa hẹn là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, giá cả hàng hóa bán ra tốt hơn. Tháng 2/2022 doanh thu bán lẻ ước đạt 3.719,57 tỷ đồng, giảm 11,53% so với tháng trước và giảm 6,14% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng, một số nhóm ngành hàng có doanh thu giảm mạnh so với tháng trước và so với cùng kỳ như: Hàng lương thực, thực phẩm 12,94% so với tháng trước, giảm 12,88% so với cùng kỳ; hàng may mặc giảm 7,71% so với tháng trước, giảm 24,75% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 7,16% so với tháng trước, giảm 27,11% so với cùng kỳ. Do nhu cầu và giá các loại hàng hóa này sau Tết đều giảm mạnh, nhất là hàng may mặc với việc đồng loạt giảm giá các loại quần áo mùa đông cho đợ chuyển mùa Các nhóm hàng tăng mạnh so với cùng kỳ chủ yếu ở các nhóm: Xăng, dầu các loại giảm 3,8% so với tháng trước, tăng 28,21% so với cùng kỳ; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 1,99% so với tháng trước, tăng 43,67% so với cùng kỳ; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 11,82% so với tháng trước, tăng 27,9% so với cùng kỳ. Do giá xăng dầu, khí đốt hóa lỏng và vật liệu xây dựng các loại đang ở mức cao lại tiếp tục được điều chỉnh tăng mạnh, dẫn đến dù sức mua giảm so với tháng trước nhưng doanh thu ở các mặt hàng này cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, 02 tháng đầu năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.923,99 tỷ đồng, giảm 4,38% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù là tháng 2 tháng Tết, tuy nhiên do sự sụt giảm doanh thu trong tháng 2 khiến doanh thu 2 tháng sụt giảm so với cùng kỳ năm trước. Biến động rõ nét nhất so với cùng kỳ ở các nhóm mặt hàng: xăng dầu các loại tăng 30,67%; nhiên liệu khác tăng 35,23%; gỗ và vật liệu xây dựng các loại tăng 12,26%; nhóm hàng may mặc giảm 31,95% và nhóm đồ dùng thiết bị gia đình giảm 27,42%. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời gian nghỉ Tết kéo dài khiến số ngày sản xuất kinh doanh trong tháng giảm, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, số ca mắc bệnh trên địa bàn tỉnh tăng nhanh ảnh hưởng đến tâm lý của người dân và các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong tháng giá xăng dầu, gas nhiên liệu được điều chỉnh tăng tác động đến trực tiếp đến doanh thu nhóm hàng này và chi phí sản xuất, trung gian các nhóm hàng hóa khác. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Nhìn chung, hoạt động dịch vụ ăn uống và du lịch lữ hành trong tháng 02/2022 gặp rất nhiều khó khăn. Du lịch lữ hành vẫn đang tạm ngừng chưa có dấu hiệu phục hồi. Nguyên nhân là do thời tiết đang trong mùa mưa rét, cùng với là thời gian sau khi đón Tết Nguyên đán nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống còn thấp. Mặt khác, hiện nay trên địa bàn tỉnh dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến rất phức tạp, các ca nhiễm trong cộng đồng đã xuất hiện hầu hết tại các địa phương đã ảnh hưởng đến tâm lý chung của người dân, do đó các doanh nghiệp, cơ sở hoạt động dịch vụ gặp nhiều khó khăn. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 02/2022 ước đạt 220,81 tỷ đồng, giảm 14,86% so với tháng trước, giảm 47,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 6,71 tỷ đồng, giảm 22,66% so với tháng trước, giảm 57,84% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 214,10 tỷ đồng, giảm 14,59% so với tháng trước, giảm 47,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do trong tháng là dịp Tết âm lịch, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình giảm. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 480,14 tỷ đồng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 44,74%). Trong đó, ngành lưu trú ước đạt 15,38 tỷ đồng, giảm 52,12% và dịch vụ ăn uống ước đạt 464,76 tỷ đồng, giảm 44,45% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 02/2022 ước tính đạt 151,23 tỷ đồng, giảm 20,02% so với tháng trước và giảm 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do hoạt động xây dựng tạm nghỉ Tết nên dịch vụ thuê máy móc thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng giảm. Nhu cầu thuê ốt kinh doanh, giáo dục, dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, thuê xe, dịch vụ thuê và sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình, nhu cầu chăm sóc, làm đẹp sau Tết giảm mạnh. Chỉ có dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng nhẹ phục vụ khám chữa bệnh, xét nghiệm covid do dịch bùng phát mạnh tại địa phương. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 340,31 tỷ đồng, tăng 7,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản đạt tăng 60,33%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 21,72%; giáo dục đào tạo giảm 5,8%; các hoạt động hỗ trợ y tế trong đợt dịch và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 2,77%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 84,06%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 34,31%; dịch vụ khác tăng 5,15%. Nhìn chung, trước tình hình đang diễn biến hết sức phức tạp của dịch Covid-19 và yếu tố thời vụ sau dịp Tết, kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và các dịch vụ khác sẽ chưa có gì khởi sắc và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, doanh thu đang có xu thế sụt giảm 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 2 tháng đầu năm hoạt động trở lại sau những tháng tạm ngừng từ thời điểm giữa năm 2021 tuy nhiên mức hoạt động không đạt như kỳ vọng. Doanh thu vận tải tháng 2 và 2 tháng đầu năm giảm cả so với tháng trước và so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 02 năm 2022 ước đạt ước đạt 327,40 tỷ đồng, giảm 8,7% so tháng trước và giảm 29,03% so cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 2 ước đạt 54,23 tỷ đồng, tăng 10,43% so với tháng trước và giảm 64,26% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng vận chuyển hành khách ước đạt 632,29 nghìn HK, tăng 13,75% so với tháng trước và giảm 69,47% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 104,74 triệu HK.km tăng 11,49% so với tháng trước, giảm 70,18% so với cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng tăng do rơi vào kỳ nghỉ tết Nguyên đán, lượng khách di chuyển tham dự cưới hỏi và đi lại dịp nghỉ Tết, cùng với trạng thái thời tiết rét đậm và mưa nên nhu cầu sử dụng các phương tiện công cộng như taxi, xe buýt tăng so với tháng trước. Sau nghỉ Tết sau thời gian học trực tuyến do ảnh hưởng của dịch, sinh viên các trường đại học đã quay trở lại trường, nhu cầu đi lại bằng các tuyến xe liên tỉnh tăng hơn nhưng nhìn chung vẫn giảm sâu so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 2 ước đạt 205,57 tỷ đồng, giảm 13,73% so với tháng trước và giảm 16,77% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 2.448,16 nghìn tấn, giảm 10,42% so với tháng trước và giảm 9,05% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 62,02 triệu tấn.km, giảm 12,59% so với tháng trước và giảm 6,54% so với cùng kỳ. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa giảm do trùng dịp nghỉ Tết Nguyên đán, nhiều cơ sở vận tải bắt đầu trở lại hoạt động sau ngày 15/02. - Dịch vụ hỗ trợ vận tải: Trong tháng đơn vị kinh doanh nghỉ Tết thời gian dài, hàng hóa thông qua Cảng Vũng Áng và Sơn Dương giảm, doanh thu ước đạt 67,54 tỷ đồng, giảm 5,08% và tăng 7,84% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, doanh thu vận tải dự tính đạt 686,0 tỷ đồng, giảm 27,98% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 103,34 tỷ đồng, giảm 65,10% với số lượng vận chuyển đạt 1.188,13 nghìn HK, giảm 70,57% và luân chuyển đạt 198,69 triệu HK.km, giảm 71,19%; vận tải hàng hóa ước đạt 443,84 tỷ đồng, giảm 12,82% với khối lượng vận chuyển ước đạt 5.181,18 nghìn tấn, giảm 8,53% và luân chuyển ước đạt 132,97 triệu tấn.km, giảm 6,20%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 138,69 tỷ đồng, giảm 5,87% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 trong và ngoài nước đang diễn biến hết sức phức tạp, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa gặp rất nhiều khó khăn. Cộng với tháng 2 trùng dịp nghỉ Tết nên kim ngạch xuất nhập khẩu giảm mạnh cả so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 02 ước đạt 112 triệu USD, giảm 9,74% so với tháng trước và giảm 13,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép đạt 75 triệu USD giảm 14,96% so với tháng trước và giảm 35,67% so với cùng kỳ; sợi, dệt và hàng may mặc đạt 1,2 triệu USD giảm 21,05% so với tháng trước và tăng 287,10% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 4,5 triệu USD giảm 14,29% so với tháng trước. Cộng dồn 2 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 236,09 triệu USD, giảm 3,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 74,90%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 163,19 triệu USD và là mặt hàng duy nhất có kim ngạch giảm 25,01% còn lại tất cả các mặt hàng khác đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Thủy sản tăng 45,90%; chè tăng 135,90%; dăm gỗ tăng 52,82%; hàng dệt, may mặc tăng 128,33% và sợi, dệt và hàng may mặc tăng 209,09% so với cùng kỳ. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 2 ước đạt 205,5 triệu USD, giảm 18,85% so với tháng trước và tăng 8,67% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Cộng dồn 2 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 458,73 triệu USD, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 năm 2022 tăng nhẹ so với tháng trước, tăng chủ yếu ở nhóm giao thông. Nguyên nhân chủ yếu do giá nguyên nhiên liệu các loại tăng mạnh theo tình hình chung của thị trường thế giới, ảnh hưởng đến chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá tiêu dùng bình quân chung toàn tỉnh. Tháng 02 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 1,44% so với tháng trước, tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,38% so với tháng trước và tăng 1,24% so với cùng kỳ; khu vực nông thôn tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính tháng 2 cơ bản ổn định so với tháng trước, chỉ có 2 nhóm hàng biến động tăng so với tháng trước và so cùng kỳ là nhóm giao thông tăng 2,99% so với tháng trước và tăng 11,42% so với cùng kỳ, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,35% so với tháng trước và tăng 5,33% so với cùng kỳ. Dẫn đến chỉ số giá bình quân 2 nhóm này cũng tăng ở mức cao so với cùng kỳ (nhóm giao thông tăng 11,41%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,14%), kéo theo chỉ số giá bình quân 2 tháng tăng 1,0% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do việc tăng mạnh của các loại nguyên liệu khí hóa lỏng, xăng dầu các loại cộng với tháng 2 trùng dịp nghỉ Tết Nguyên đán khối lượng tiêu thụ điện, gas, nước sinh hoạt tiêu thụ đều tăng. Bên cạnh đó, thời tiết rét đậm kéo dài khiến nhu cầu sử dụng thiết bị giữ ấm cao Chỉ số giá vàng tháng 02/2021 tăng 1,72% so với tháng trước và giảm 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng so tháng trước, đặc biệt tăng mạnh vào ngày thần tài 10/01 âm lịch vừa qua. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.382 nghìn đồng/chỉ 9999, Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 2 năm 2022 tăng 0,08% so với tháng trước, giảm 0,40% so với cùng kỳ năm trước. Giá đô la mỹ bình quân 2.353.993 đồng/100 USD. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ tháng 3/2022 sẽ giảm hơn so tháng 02/2022 do nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều giảm. Ngoại trừ nhóm giao thông và vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi giá dầu thế giới vẫn đang ở mức cao và việc thời tiết bắt đầu chuyển nắng nóng lượng điện sinh hoạt tăng mạnh II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội Sau dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, số ca nhiễm mới tăng cao bên cạnh đó thời tiết chuyển rét đậm đã gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, khai thác của người dân. Trước tình hình đó Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai các giải pháp, giám sát chặt chẽ công tác phòng dịch tại địa bàn, tăng cường việc xét nghiệm sàng lọc, đồng thời tiến hành từng bước thu hẹp phạm vi phong tỏa nhằm hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân theo tinh thần Nghị quyết 128 của Chính phủ. Đồng thời thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống đói rét và dịch bệnh trên đàn gia súc. Nhìn chung tình hình đời sống dân cư ổn định. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói. 2. Giáo dục Học kỳ 1 năm học 2021-2022 ngành Giáo dục Hà Tĩnh triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 800/CT-BGDĐT ngày 24/8/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thực hiện nhiệm vụ năm học 2021- 2022 ứng phó với dịch COVID-19, tiếp tục thực hiện đổi mới, kiên trì mục tiêu chất lượng giáo dục và đào tạo. Kết quả cụ thể như sau: Giáo dục mầm non: Hà Tĩnh đã thực hiện kịp thời chương trình Giáo dục mầm non (GDMN) sau sửa đổi bổ sung, chỉ đạo phát triển chương trình GDMN theo quan điểm “giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm” phù hợp với tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, có những điều chỉnh phù hợp tùy vào tình hình thực tế của địa phương. Giáo dục tiểu học: chất lượng đại trà của học sinh tiểu học môn Toán: tỷ lệ học sinh “Hoàn thành tốt” là 48,93%, tỷ lệ học sinh “Hoàn thành” là 48,81 % và “Chưa hoàn thành” là 2,26%; môn Tiếng Việt: tỷ lệ học sinh “Hoàn thành tốt” là 50,28 %, tỷ lệ học sinh “Hoàn thành” là 47,33% và “Chưa hoàn thành” là 2,39%. Trung học cơ sở: có 10.416 em xếp học lực giỏi (chiếm 13,31%); 31.532 em xếp loại khá (chiếm 40,29%); 32.256 em xếp học lực trung bình (chiếm 41,22%), và 4.058 em xếp loại yếu, kém (chiếm 5,18%). Trung học phổ thông: Có 8.835 em xếp học lực giỏi (chiếm 20,9%); 22.596 em xếp loại khá (chiểm 53,46%); 10.590 em xếp học lực trung bình (chiếm 25,05%), và 247 em xếp loại yếu, kém (chiếm 0,59%). 3. Hoạt động y tế Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 272/UBND-VX1 ngày 16/01/2022 về việc giảm số lượng người tham gia các hoạt động tập trung trong nhà để phòng chống dịch COVID-19, theo đó từ ngày 20/01/2022 cho đến khi có văn bản chỉ đạo tiếp theo, các hoạt động tập trung trong nhà không quá 50 người tham gia và Công văn số 274/UBND-VX ngày 17/01/2022 về tăng cường các biện pháp đảm bảo an toàn hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. - Tình hình dịch bệnh Covid: Tổng số ca mắc từ ngày 1/01/2022 đến ngày 21/02/2022 là 8.976 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 10.590 ca mắc. Cộng dồn tổng F1 đã truy vết (từ 4/6 đến nay) 40.397 ca số đã hoàn thành cách ly 23.485 ca, số còn cách ly 16.912 ca. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 7.848 ca, trong đó đã có 5.114 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh hiện nay còn 299 bệnh nhân đang được điều trị tại các cơ sở y tế và 2.734 bệnh nhân được cách ly, điều trị tại nhà. Đánh giá tình hình dịch Hà Tĩnh, đang ở nguy cơ dịch cấp độ 2 - nguy cơ trung bình. Toàn tỉnh hiện có 16 xã, phường, thị trấn cấp độ 4; 41 xã, phường, thị trấn cấp độ 3. - Tình hình dịch bệnh khác: Tính từ ngày 16/1/2022 đến ngày 15/02/2022, trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca sốt xuất huyết, 7 ca mắc bệnh quai bị, 17 ca mắc lỵ trực trùng; 25 ca mắc lỵ a míp; 12 ca mắc bệnh thủy đậu, 796 ca mắc bệnh cúm, 101 ca tiêu chảyvà không có người chết vì do các bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm thực hiện tốt công tác phòng chống và điều trị cho người nhiễm HIV⁄AIDS Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao kiến thức phòng lây truyền HIV cho người bệnh; tư vấn xét nghiệm cho các đối tượng nguy cơ; thực hiện có hiệu quả dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; duy trì hiệu quả 3 cơ sở điều trị và 3 cơ sở cấp phát thuốc Methadone. Từ ngày 16/1/2022 đến ngày 15/2/2022 toàn tỉnh có 2 người nhiễm mới HIV,1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: số người nhiễm mới HIV giảm 8 ca (giảm 80,0%), số người chuyển thành AIDS giảm 5 ca (giảm 83,30%), số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung hai tháng đầu năm có 3 người nhiễm mới HIV (tăng 2 người so với cùng kỳ năm 2021), 2 người chuyển thành AIDS (tăng 1 người) và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng, xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 ca bị ngộ độc chưa xác định được nguyên nhân; ngoài ra còn có 61 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, tăng 1 vụ ngộ độc tập thể, tăng 4 ca ngộ độc tập thể, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 49 ca (giảm 44,50%), số ca tử vong không đổi. Trong thời điểm Tết Nguyên Đán Nhâm Dần năm 2022, toàn tỉnh không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu tạm dừng tổ chức các loại hình lễ hội và hoạt động bắn pháo hoa theo tinh thần Chỉ thị 35/CT-TTG ngày 31/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Các di tích, danh thắng, bảo tàng, thư viện, được mở cửa đón khách nhưng phải tuyệt đối đảm bảo các điều kiện an toàn về phòng, chống dịch được quy định, hướng dẫn tại Văn bản số 3862/HD-BVHTTDL ngày 18/10/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp17 giấy phép, trong đó có 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa, 15 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm. Tổ chức kiểm tra 25 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch, lập biên bản kiểm tra 20 cơ sở, yêu cầu ký cam kết khắc phục sửa chữa biển hiệu, biển quảng cáo đối với 10 cơ sở; xử phạt vi phạm hành chính 01 trường hợp với số tiền 5 triệu đồng. - Hoạt động thể thao: Trong tháng diễn ra giải Việt dã Đại hội thể dục thể thao lần thứ IX và ngày chạy Olympic do huyện Kỳ Anh tổ chức. Đây là hoạt động thi đấu thể thao và phát động ngày chạy Olympic đầu tiên của tỉnh góp phần động viên nhân dân tích cực rèn luyện thể dục thể thao để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Trong tháng không diễn ra hoạt động thể thao thành tích cao. 5. Tình hình an toàn giao thông Ban An toàn giao thông tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 18/KH-BATGT ngày 11/02/2022 về kiểm tra, đôn đốc tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh năm 2022 trên cơ sở thực hiện Kế hoạch số 06/KH-BATGT ngày 12/01/2022 về triển khai công tác đảm bảo trật tự An toàn giao thông năm 2022 với chủ đề “Xây dựng văn hóa giao thông an toàn gắn với kiểm soát hiệu quả dịch covid-19" với tinh thần "Vì sức khỏe, sinh mạng của người tham gia giao thông”. Tính từ ngày 15/01 - 14/02/2022 xảy ra 8 vụ tai nạn đường bộ, 7 người chết, 6 người bị thương, thiệt hại 70 triệu đồng; riêng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 (từ ngày 29/01 đến ngày 06/02/2022) xảy ra 5 vụ, làm chết 3 người, bị thương 5 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn không đổi, giảm 1 người chết (giảm 12,50%), tăng 5 người bị thương . Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Như vậy, tính từ 15/12/2021 đến 14/02/2022, Hà Tĩnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 17 người và bị thương 10 người. So cùng kỳ năm 2021 tăng 3 vụ, tăng 5 người chết và tăng 5 người bị thương. 6. Môi trường - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/01/2022 đến ngày 14/02/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 3 vụ cháy, nổ với tổng thiệt hại tài sản 200 triệu đồng, tất cả các vụ cháy đều không có thiệt hại về người; nguyên nhân các vụ cháy là do chập điện. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ cháy, nổ; giảm 1 người chết; giảm 1 người bị thương. Tính chung hai tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 7 vụ cháy, nổ không có người chết và bị thương so với cùng kỳ năm trước số vụ không đổi; giảm 2 người chết; giảm 1 người bị thương. - Về vi phạm môi trường: Từ ngày 15/01 - 14/02/2022 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 306 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 243 vụ, tổng số tiền xử phạt 651,08 triệu đồng; so với tháng trước tăng 255 vụ vi phạm (tăng 5 lần), tăng 223 vụ đã xử lý (tăng 11,15 lần), tăng số tiền xử phạt 424,08 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ đã phát hiện tăng 296 vụ (tăng 29,60 lần), số vụ đã phát hiện tăng 236 vụ (tăng 33,71 lần), số tiền xử phạt tăng 633,13 triệu đồng. Vi phạm môi trường trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 298 vụ (chiếm 97,39%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 6 vụ (chiếm 1,96%); Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 2 vụ (0,65%). Tính chung từ 15/12/2021 - 14/02/2022 đã phát hiện 357 vụ, xử lý 263 vụ, tổng số tiền xử phạt 878,08 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ đã phát hiện tăng 333 vụ (tăng 13,88 lần), số vụ đã xử lý tăng 254 vụ (tăng 28,22 lần), số tiền xử phạt tăng 765,13 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình KTXH tháng 01 năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
- 16/07/2024 16:38
I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông , lâm nghiệp và thủy sản 1.1 Nông nghiệp - Trồng trọt Trong tháng 01/2022, hoạt động trồng trọt chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2021 và gieo trồng cây vụ Xuân 2022. + Kết quả sản xuất vụ Đông 2021: Đầu vụ mưa kéo dài đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất vụ Đông năm 2021. Tuy nhiên, do vụ Đông năm 2020 bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt lũ tháng 10/2020 nên dự ước kết quả một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2021 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. + Sản xuất vụ Xuân 2022: Mục tiêu sản xuất vụ Xuân năm nay là phấn đấu tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 36,7 vạn tấn; diện tích gieo cấy lúa 59.570 ha, năng suất trên 57 tạ/ha, sản lượng trên 34 vạn tấn; diện tích lạc 10.384 ha, năng suất trên 27 tạ/ha, sản lượng 29 vạn tấn; diện tích ngô 5.305 ha, năng suất 52 tạ/ha, sản lượng trên 2.7 vạn tấn; diện tích khoai lang 1.836 ha, năng suất 77 tạ/ha, sản lượng trên 14 vạn tấn; diện tích đậu các loại 334 ha, năng suất 9,7 tạ/ha, sản lượng 324 tấn; diện tích rau các loại 5.592 ha, năng suất 72 tạ/ha, sản lượng trên 40 vạn tấn. Tiến độ sản xuất tính đến ngày 17/01/2022, tổng diện tích mạ toàn tỉnh là 545 ha, tương ứng với 7.845 ha diện tích lúa cấy, chủ yếu là các giống lúa P6, nếp, HT1 và nhóm giống X. Tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đã tiến hành gieo cấy lúa vụ Xuân 2022, với diện tích ước đạt 28.567 ha, bằng 48% kế hoạch, trong đó diện tích lúa gieo thẳng là 26.885 ha (chiếm 94,1% và diện tích lúa cấy là 1.682 ha (chiếm 5,9%). Các địa phương có diện tích gieo cấy lúa đạt cao là Hương Sơn 3.100 ha, Can Lộc 4.684 ha, Thạch Hà 4.669 ha, Cẩm Xuyên 4.389 ha, huyện Kỳ Anh 3.990 ha. Kết quả gieo trồng các loại cây trồng khác đạt được như sau: Diện tích ngô ước đạt 1.680 ha, bằng 31,7% kế hoạch; khoai lang ước đạt 172 ha, bằng 9,4% kế hoạch; lạc ước đạt 80 ha, bằng 0,8% kế hoạch; rau các loại ước đạt 1.222 ha, bằng 21,9% kế hoạch. Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang tiếp tục tập trung gieo cấy lúa và hoa màu vụ Xuân 2022. + Thiên tai, dịch bệnh: Trong tháng 01/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh tuy có mưa rét nhưng không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng vụ Đông 2021. Sâu bệnh chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi Tháng 01/2022, các dịch bệnh trong chăn nuôi cơ bản được kiểm soát nên hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Tổng đàn trâu, bò tiếp tục tăng lên, riêng đối với đàn bò sửa giảm nhẹ do không bổ sung tăng đàn trong khi phải tiến hành thải loại các con kém hiệu quả. Đối với chăn nuôi lợn thì việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang có những tín hiệu tích cực, tổng đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm 2021. Đàn lợn chủ yếu phát triển ở các trang trại, gia trại. Đàn gia cầm vẫn phát triển khá, nhất là đàn gà. Hiện nay, người chăn nuôi đang tích cực chăm sóc các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng phục vụ dịp Tết sắp tới. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh giá các sản phẩm chăn nuôi nhìn chung ổn định và nguồn cung tương đối dồi dào để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp tết Nhâm Dần. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 16/01/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 10 xã trên địa bàn 4 huyện (Hương Sơn 4 xã, Thạch Hà 3 xã, Cẩm Xuyên 2 xã và Vũ Quang 1 xã) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày và hiện đang còn có 21 hộ ở 17 thôn đang có dịch. Tổng số lợn bị ốm chết, buộc tiêu hủy ở các địa bàn chưa qua 21 ngày là 110 con với trọng lượng 6.139 kg. 1.2 Lâm nghiệp - Trồng rừng: Do trong tháng 01/2022, người dân đang tập trung sản xuất lúa vụ Xuân 2022 và chuẩn bị đón Tết Nguyên đán nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp nhìn chung không có nhiều biến động. Diện tích trồng rừng tập trung tháng 01/2022 ước tính tăng nhẹ, trong đó chủ yếu là diện tích rừng sản xuất trồng mới. Sản lượng gỗ khai thác tháng 01/2022 ước tăng 649 m3 so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Can Lộc, huyện Kỳ Anh...Hiện nay, người dân đang tập trung ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân năm 2022. - Thiệt hại rừng: Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/01/2022, trên địa bàn tỉnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 01/2022 nhìn chung ổn định và có sự tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước tăng 85 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy hải sản khai thác ước tính tăng 67 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 77,2% tổng sản lượng; Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính tăng 18 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 22,8% tổng sản lượng. Hiện nay, các sản phẩm thủy sản nuôi trồng đang được chăm sóc để xuất bán phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn. 2. Sản xuất công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 dự ước giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin máy phát không làm việc vì mất nguồn điện chính và dự phòng sản lượng điện sản xuất giảm. Hiện nay, sau những khó khăn do dịch bệnh Covid 19, ngành công nghiệp dần đi vào ổn định, duy trì mức tăng trưởng khá. Ước tính chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 tăng 3,31% so với tháng 12 năm 2021 và giảm 6,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 4,24%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,36%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 36,98%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,17% so với cùng kỳ năm 2021. Ước tháng 01/2022 trong 19 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có 8 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Ngành khai thác quặng kim loại tăng 11,19%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7,86%; dệt tăng 7,75%; … Trong bối cảnh chung của các nhóm ngành công nghiệp có tăng trưởng thì vẫn có 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 42,31%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 36,98%; sản xuất sản phẩm từ caosu và plastic giảm 33,83%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 30,87%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 22,77%; … Nhìn chung tháng 1 năm 2022, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi hơn. Các doanh nghiệp hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn nhưng vẫn chưa có sự tăng trưởng đột phá. Dự báo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 2/2022: Sản xuất công nghiệp không có sự tăng trưởng lớn do trùng vào một số ngày nghỉ Tết Nguyên Đán. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2022 ước đạt 449.539 triệu đồng tăng 17,19% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do tăng nguốn vốn ngân sách cấp tỉnh. Tháng 1/2022 là tháng đầu năm, nguồn vốn chưa được giao theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỷ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2021, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2022 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng nên giá trị vốn đầu tư dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2021 đạt 6.699.368 triệu đồng, tăng 44,48% so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch vốn ngân sách Nhà nước tăng mạnh (tăng 41,43%), trong đó vốn chương trình mục tiêu quốc gia gấp 4,67 lần so với năm 2020. Nguồn vốn bảo đảm, thời tiết thuận lợi, nguồn lực lao động dồi dào, các chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng nguồn vốn Trung ương hỗ trợ được đẩy nhanh tiến độ thi công trong các tháng cuối năm đảm bảo kế hoạch đề ra. Nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh được giao từ đầu năm và được bổ sung hàng tháng năm 2021 là 1.155.803 triệu đồng và thực hiện đạt 97,81% kế hoạch năm; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu được giao là 3.279.927 triệu đồng và thực hiện đạt 98,91% kế hoạch năm. Dự báo tổng vốn đầu tư do ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 2/2022: Vốn đầu tư thực hiện ước giảm so với tháng trước do các công trình tạm ngừng thi công để nghỉ Tết. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 01, là tháng cận Tết, cho nên mặc dù tình hình dịch bệnh vẫn diễn ra rất phức tạp cũng không hạn chế được nhu cầu mua sắm và tiêu dùng của người dân. Tính chung ngoài ngành du lịch, lữ hành không hoạt động và phát sinh doanh thu còn lại các ngành thương mại dịch vụ tiêu dùng đều tăng so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ, doanh thu tất cả các nhóm ngành dịch vụ đều vẫn đang còn giảm mạnh. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Nhu cầu mua sắm và giá cả các nhóm hàng hóa đều có xu hướng tăng dần, nhất là về thời điểm cuối tháng, nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn còn giảm khá sâu. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 01 đạt 4.204,42 tỷ đồng, tăng 9,56% so với tháng trước và giảm 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng, trong tháng 01/2022 hầu hết doanh thu các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, một số nhóm ngành có biến động tăng cao như: Lương thực, thực phẩm tăng 9,51%; Vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 8,87%; Phương tiện đi lại (trừ ô tô con) tăng 9,41%; Đá quý, kim loại quý tăng 9,22%; Hàng hóa khác tăng đột biến 50,93% so với tháng trước. Nguyên nhân, do hoạt động bán lẻ cây cảnh, hoa tươi phụ vụ Tết tăng đột biến là yếu tố dẫn tới doanh thu nhóm hàng hóa khác tăng mạnh. Giá xăng dầu, khí đốt hóa lỏng tiếp tục điều chỉnh tăng giá sau một thời gian giảm nhẹ. Doanh thu bán lẻ tháng 01/2022 giảm so với cùng kỳ chủ yếu do sự giảm sâu 3 nhóm hàng, cụ thể: Hàng may mặc giảm 37,47%; đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 27,71% và Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 25,61%. Do yếu tố thời vụ, dịp gần Tết nhu cầu người dân chủ yếu tập trung vào các mặt hàng thiết yếu phục vụ Tết, các mặt hàng xa xỉ như ô tô, và đồ dùng gia đình có phần hạn chế hơn. Cộng với đó thời điểm này năm trước ghi nhận việc tăng đột biến của các nhóm hàng may mặc, đồ dùng gia đình và ô tô, do thời tiết đột ngột chuyển rét đậm khiến nhu cầu và giá cả các loại trang phục giữ nhiệt, thiết bị sưởi ấm đều tăng với biên độ lớn và việc chính sách giảm lệ phí trước bạ của Chính phủ gần hết hạn nên thị trường xe ô tô rất sôi động, doanh số bán lẻ tại các đại lý ủy quyền trên địa bàn tỉnh đều tăng mạnh. Nhìn chung thị trường tiêu dùng hàng hoá trên địa bàn Hà Tĩnh diễn ra khá sôi động với lượng hàng hóa phong phú, đa dạng về mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của Nhân dân. Nhiều chương trình khuyến mãi cũng liên tục được các nhà sản xuất, điểm kinh doanh tung ra nhằm thu hút người tiêu dùng. Các cơ quan quản lý nhà nước tập trung chỉ đạo các doanh nghiệp chủ động đảm bảo nguồn hàng hóa, không để xảy ra tình trạng thiếu, khan hiếm hàng hóa trên thị trường Hà Tĩnh. Việc phân phối hàng hóa bán lẻ thiết yếu rộng rãi, chương trình đưa hàng hóa đến các vùng sâu, vùng xa được quan tâm. Phối hợp cơ quan Cục Quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đối cới các tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Tháng cuối năm âm lịch, giáp Tết Nguyên Đán, hoạt động dịch vụ cũng nhộn nhịp hơn, đây cũng là thời điểm tổ chức các cuộc gặp mặt cuối năm, tiệc tất niên, do đó nhu cầu lưu trú cũng như ăn uống ngoài gia đình tăng. Một số ngành dịch vụ do ảnh hưởng tính chất thời vụ, ví dụ như nhu cầu nhóm dịch vụ cắt tóc gội đầu, làm đẹp, thời điểm mùa cưới và thời tiết ít mưa thuận lợi cho hoạt động dịch vụ trang trí; nhu cầu về thuê đồ dùng cá nhân, gia đình, nhu cầu thuê xe và dịch vụ thuê máy móc thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng...cũng tăng lên. Tuy nhiên, so với cùng kỳ, doanh thu tất cả các nhóm ngành dịch vụ đều vẫn đang còn giảm mạnh. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2022 ước đạt 277,70 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước, giảm 38,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 5,10 tỷ đồng, tăng 2,34% so với tháng trước, giảm 68,53% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 272,60 tỷ đồng, tăng 5,75% so với tháng trước, giảm 36,92% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ lữ hành tháng này vẫn tạm ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu. Doanh thu dịch vụ khác tháng 01/2022 ước tính đạt 115,05 tỷ đồng, tăng 13,75% so với tháng trước và giảm 26,74% so với cùng kỳ năm trước. 4.2. Hoạt động vận tải Kinh doanh vận tải đã bắt đầu hoạt động trở lại, trong đó có các tuyến xe liên tỉnh, liên huyện. Tuy nhiên, với tâm lý e ngại thì số lượt khách vận chuyển cũng có tăng nhưng không đáng kể. Nhìn chung, tình hình kinh doanh vận tải tăng hơn so với tháng trước nhưng chưa đạt mức cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 01 năm 2022 ước đạt 373,77 tỷ đồng, tăng 6,24% so tháng trước và giảm 23,91% so cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 1 ước đạt 52,18 tỷ đồng, tăng 10,41% so với tháng trước và giảm 63,86% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng vận chuyển hành khách ước đạt 574,77 nghìn HK, tăng 10,02% so với tháng trước và giảm 70,75% so với cùng kỳ; Luân chuyển ước đạt 99,04 triệu HK, tăng 10,0% so với tháng trước và giảm 70,73% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do, thời điểm đầu tháng trùng với dịp nghỉ lễ Tết dương lịch nên lượng người đi lại về quê thăm thân, vui chơi. Trong tháng, hình thái thời tiết rét đậm rét hại tiếp tục diễn ra nên nhu cầu sử dụng các loại phương tiện công cộng như taxi, xe buýt tăg. Tuy nhiên, so với cùng kỳ thì lại giảm mạnh, nguyên nhân do cùng kỳ năm trước loại hình vận tải hành khách vẫn đang hoạt động bình thường, chưa bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Dự kiến tháng tới mặc dù trùng với tháng giáp Tết âm lịch nhưng dự kiến số lượng hành khách sẽ không tăng đột biến vì năm nay đối tượng khách là sinh viên vẫn chưa nhập học do ảnh hưởng của dịch bệnh, số lượng người trở về quê dịp Tết dự kiến không cao do đã đổ về quê trong đợt nghỉ dịch mấy tháng trước. - Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 1 ước đạt 240,64 tỷ đồng, tăng 6,94% so với tháng trước và giảm 8,20% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận tải ước đạt 2.733,38 nghìn tấn, tăng 5,47% so với tháng trước và giảm 8,06% so với cùng kỳ; Luân chuyển ước đạt 69,67 triệu tấn.km, tăng 5,79% so với tháng trước và giảm 7,61% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa tăng doanh thu do các đơn vị bán buôn đẩy mạnh việc thu mua, tích trữ hàng hóa chuẩn bị cung ứng ra thị trường dịp Tết âm lịch...Bên cạnh đó, cuối năm, mặc dù rét đậm nhưng ít mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu xây dựng cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công; và nhu cầu sửa chữa các công trình trong người dân để đón Tết. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Các hoạt động kinh tế đang từng bước phục hồi sau ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên lượng hàng hóa thông qua cảng Sơn Dương và Vũng Áng có xu hướng gia tăng. Doanh thu tháng 01 ước đạt 80,96 tỷ đồng, tăng 1,77% so với tháng trước và giảm 4,44 % so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Cán cân xuất nhập khẩu tỉnh nhà mặc dù vẫn nhập siêu 82,8 triệu USD, nhưng tiếp tục đà tăng trưởng của những tháng cuối năm, tháng 01 đạt tốc độ tăng trưởng cao tuy không đạt mức như kỳ vọng tháng trước nhưng vẫn vượt bậc so với cùng kỳ năm trước - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 1/2022 ước đạt 188,0 triệu USD, giảm 14,47% so với tháng trước và tăng 61,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 94,41%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, xuất khẩu thép, phôi thép mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 171,5 triệu USD và là mặt hàng duy nhất có kim ngạch giảm 15,43% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 69,75% so với cùng kỳ. Còn lại tất cả các mặt hàng khác đều tăng so với tháng trước, đặc biệt 2 nhóm hàng: sợi, dệt và hàng may mặc đạt 4,0 triệu USD tăng 2,30% so với tháng trước và tăng 214,96% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 4,0 triệu USD tăng 21,95% so với tháng trước và giảm 37,30% so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 1/2022 ước đạt 270,8 triệu USD, giảm 28,88% so với tháng trước và tăng 19,48% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Nguyên nhân do Formosa chủ yếu nhập khẩu phôi thép từ Trung Quốc nhưng giá phôi thép đang ở mức cao do xu thế sản xuất thép Trung Quốc đang chậm lại vì định hướng giảm thiểu khí thải carbon của chính phủ nước. Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong tháng tới, do chính sách đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép. Trong bối cảnh khó khăn do dịch Covid-19, xuất, nhập khẩu vẫn là điểm sáng và là tiền đề quan trọng để nền kinh tế tỉnh Hà Tĩnh vững bước trong năm 2022. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Đây là tháng trùng với dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần, nhu cầu tiêu dùng đa số các nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng, bên cạnh đó giá xăng, dầu tiếp tục được điều chỉnh tăng theo tình hình chung của thị trường thế giới đã tác động làm chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 năm 2022 tăng so với tháng trước. Chỉ số CPI tháng 1 năm 2022 tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 1,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 0,46% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,46%; khu vực nông thôn tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 0,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,86%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,43%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giao thông tăng 0,95%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%; 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,11%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,36%; 01 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước đó là nhóm giáo dục. Chỉ số giá vàng tăng 0,94% so với tháng trước, giảm 4,81% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,27% so với tháng trước, tăng 0,62% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.292 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.351.995 đồng/100 USD. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 2/2022 sẽ giảm mạnh so tháng 01/2022 do tháng sau Tết, nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều giảm. Ngoại trừ nhóm vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi thời tiết bắt đầu chuyển nắng nóng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1 Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội Nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần, phát huy truyền thống đại đoàn kết, tinh thần “tương thân, tương ái”, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã trích ngân sách 8.859,2 triệu đồng từ nguồn kinh phí chi sự nghiệp đảm bảo xã hội năm 2022 cho các đơn vị, địa phương để tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết cổ truyền cho 4.619 đối tượng người có công với cách mạng (ngoài đối tượng được Chủ tịch nước tặng quà), thắp hương thờ cúng liệt sỹ (bằng hiện vật, mức 300.000 đồng/suất) cho 23.705 liệt sĩ với số tiền 7.111,5 triệu đồng; tặng quà người có công tiêu biểu tại 13 huyện, thành phố, thị xã, mỗi địa phương 03 suất, mức 2 triệu đồng/suất, với tổng số tiền là 78 triệu đồng….theo Quyết định 4206/QĐ-UBND ngày 28/12/2021. Đồng thời, trích ngân sách 7.499,0 triệu đồng để bố trí kinh phí mừng thọ người cao tuổi và tặng quà tết cho đối tượng bảo trợ xã hội (BTXH) có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó kinh phí mừng thọ người cao tuổi 7.260,6 triệu đồng cho 28.215 người cao tuổi; tặng quà tết cho 7.157 đối tượng BTXH có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với mức quà bằng tiền mặt 250.000 đồng theo Quyết định số 41/QĐ-UBND tỉnh ngày 7/01/2022. Ngoài ra, Ủy ban mặt trận tổ quốc tỉnh hỗ trợ 3.667 suất quà cho hộ nghèo với giá trị 1.833,5 triệu đồng được trích từ quỹ “Vì người nghèo” cho 13 huyện, thành phố, thị xã. Bên cạnh đó trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra thiếu đói. Đời sống của người dân nhìn chung ổn định. 2. Giáo dục Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh đã bàn giao 500 máy tính bảng cho 20 trường học (5 trường trung học phổ thông và 15 trường tiểu học) đặc biệt khó khăn trong toàn tỉnh. Số máy tính từ Chương trình “Sóng và máy tính cho em” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tài trợ cho các trường học ở Hà Tĩnh. Đây là chương trình mang ý nghĩa xã hội và nhân văn rất sâu sắc, do Thủ tướng Chính phủ phát động ngày 12/9/2021. Chương trình nhằm hướng tới mục tiêu 100% học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo trên toàn quốc được trang bị máy tính để có thể thực hiện học trực tuyến. Đồng thời, phủ sóng internet ở những vùng còn chưa có sóng, nâng cao chất lượng sóng, góp phần thực hiện mục tiêu ứng dụng khoa học trong giáo dục, nâng cao dân trí, mở mang tri thức xã hội, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số. 3. Hoạt động y tế Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần và mùa lễ hội xuân 2022 với mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch COVID-19 trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thực phẩm. Theo đó, đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Hà Tĩnh, các sở, ngành, địa phương tăng cường kiểm soát, xử lý việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng; đồng thời huy động mọi nguồn lực, mọi hình thức, phương tiện, các cơ quan thông tấn truyền hình, báo chí phổ biến, tuyên truyền các nội dung của Luật An toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn liên quan, các quy định về ATTP, kiến thức về bảo đảm ATTP; tuyên truyền Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” và các hướng dẫn, quy định về phòng, chống dịch COVID-19 cho các cấp quản lý, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng. - Tình hình dịch bệnh Covid: Tổng số ca mắc từ ngày 1/01/2022 đến ngày 19/01/2022 là 665 ca. Lũy kế từ 04/6/2021 đến nay là 2.279 ca mắc, trong đó Thành phố Hà Tĩnh 177 ca, TX Hồng Lĩnh 63 ca, Hương Sơn 128 ca, Đức Thọ 223 ca, Vũ Quang 46 ca, Nghi Xuân 150 ca, Can Lộc 212 ca, Hương Khê 125 ca, Thạch Hà 256 ca, Cẩm Xuyên 211 ca, huyện Kỳ Anh 241 ca, Lộc Hà 166 ca, TX Kỳ Anh 120 ca, nhập cảnh, ngoại tỉnh 105 ca. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 520 người, trong đó đã có 202 ca khỏi bệnh. - Tình hình dịch bệnh khác: Tính từ ngày 16/12/2021 đến ngày 15/01/2022, trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca mắc bệnh quai bị, 5 ca mắc lỵ trực trùng; 13 ca mắc lỵ a míp; 19 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.019 ca mắc bệnh cúm và không có người chết vì các ca bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030. Nhờ vậy, tính từ 16/12/2021-15/01/2022 Hà Tĩnh, chỉ có 1 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước số người nhiễm mới HIV, số người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tính từ ngày 16/12/2021 đến 15/01/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, chỉ có 59 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 39,18 % so với cùng kỳ năm 2021) và không có trường hợp nào tử vong vì ngộ độc thực phẩm. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp nên Hà Tĩnh tạm dừng tổ chức các loại hình lễ hội và hoạt động bắn pháo hoa theo Chỉ thị 35/CT-TTG ngày 31/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời triển khai các cụm pano, áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn toàn tỉnh hoặc các chương trình nghệ thuật được ghi hình để phát sóng mừng xuân Nhâm Dần 2022. Ngoài ra, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Hà Tĩnh luôn được quan tâm hỗ trợ đặc biệt các câu lạc bộ dân ca ví, giặm, ca trù, trò Kiều, các nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú và công tác bảo tồn Truyện Kiều, Hoàng Hoa sứ trình đồ, Mộc bản Trường học Phúc Giang. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 30 giấy phép, trong đó có 01 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. Tổ chức kiểm tra 65 cơ sở kinh doanh có thực hiện việc viết, đặt biển hiệu quảng cáo. Qua kiểm tra đã lập biên bản kiểm tra nhắc nhở 60 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 4 trường hợp với số tiền 23 triệu đồng. - Hoạt động thể thao: Hà Tĩnh đã tham gia 2 giải thành tích cao, đạt 6 huy chương các loại ((4 huy chương vàng (HCV), 1 huy chương bạc (HCB), 1 huy chương đồng (HCĐ)), trong đó: 01 giải Karate Vô địch Châu Á diễn ra từ 18-22/12/2021 đạt 4 HCV, 1 HCĐ; 01 giải Bóng đá thiếu niên U13 diễn ra từ 22-31/12/2021 giành huy chương bạc. Bên cạnh thể thao thành tích cao hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động. Phong trào tập luyện thể dục thể thao gắn với cuộc vận động “ Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” diễn ra sôi nổi phù hợp và thích ứng với diễn biến của dịch Covid-19, thu hút nhiều người tham gia. 5. Tình hình an toàn giao thông Để bảo đảm trật tự an toàn giao thông (TTATGT) và kiểm soát tốt dịch COVID-19 trong hoạt động giao thông vận tải trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần và lễ hội xuân 2022, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã tăng cường tổ chức đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm quy định pháp luật về TTATGT từ ngày 15/12/2021 đến hết ngày 14/02/2022. Tính từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/01/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ, làm 10 người chết, 4 người bị thương, thiệt hại 120 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ (tăng 50%), tăng 6 người chết (tăng 150%), số người bị thương không đổi. 6. Môi trường - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/01/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 1 vụ cháy xe container, với tổng thiệt hại 30 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ cháy (giảm 66,67%), giảm 1 người chết, số người bị thương không đổi. Trong tháng không xảy ra vụ nổ. - Về vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/12 đến ngày 14/01/2022 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 51 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 20 vụ, tổng số tiền xử phạt 227 triệu đồng; so với tháng trước tăng 30 vụ vi phạm (tăng 142,86%), giảm 1 vụ đã xử lý (giảm 4,76%), giảm số tiền nộp phạt 1.243,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2021 tăng 37 vụ vi phạm (tăng 264,29%), tăng 18 vụ đã xử lý, số tiền xử phạt tăng 132 triệu đồng (tăng 138,95%). Số vụ phát hiện tăng cao, do đây là tháng cận kề Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 nhu cầu sản xuất kinh doanh tăng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường ngày tết, vì vậy khối lượng chất thải trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng tăng lên, trong khi các chủ cơ sở chưa quan tâm đến vấn để xử lý chất thải. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Thông cáo báo chí về tình hình Kinh tế -Xã hội năm 2021.
- 26/07/2024 16:18
Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại trong năm vừa qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ; một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản lượng và việc tái đàn gặp khó khăn. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội…vv. Đồng thời, đã tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. I.TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Tốc độ tăng trưởng GDRP năm 2021 của Hà Tĩnh ước tăng 5,02% so với năm 2020, xếp thứ 4 trong 6 tỉnh Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung[1]. GRDP bình quân đầu người ước tính đạt 67,03 triệu đồng/người/năm (tăng 4,91 triệu đồng/người/năm so với năm 2020). Mặc dù tăng trưởng chưa đạt so với kế hoạch đề ra[2] tuy nhiên trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, kết quả đạt được cũng đã khẳng định sự nỗ lực của các cấp, các ngành, tổ chức doanh nghiệp và người dân trong thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế năm 2021 thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78% đóng góp 0,53 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,6%, đóng góp 4,16 điểm %; khu vực dịch vụ giảm 0,7%, làm giảm 0,24 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,46%, đóng góp 0,57 điểm %. Về cơ cấu kinh tế: Năm 2021 khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,52%, giảm 0,79 điểm % so với năm 2020; khu vực công nghiêp - xây dựng chiếm 43,95% tăng 3,47 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 31,76%, giảm 2,82 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,77% tăng 0,16 điểm %. 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 58,95 tạ/ha; hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn, cùng với đó là dịch viêm gia, nổi cục xuất hiện đã gây khó khăn cho tái đàn, tăng đàn; sản lượng gỗ khai thác tăng so với cùng kỳ; sản xuất thủy sản đang nỗ lực ổn định trong trạng thái bình thường mới và tuân thủ các biện pháp phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp. a) Nông nghiệp - Trồng cây hàng năm: Diện tích lúa năm 2021 sơ bộ đạt 104.923 ha, tăng 1.028 ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 55,33 tạ/ha, tăng 3,92 tạ/ha, sản lượng lúa ước tính đạt 580.512 tấn, tăng 46.446 tấn. Vụ đông xuân năm nay toàn tỉnh gieo cấy sơ bộ đạt 59.478 ha, tăng 151 ha so với năm 2020; năng suất 58,95 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha; sản lượng đạt 349.794 triệu tấn, tăng 24.427 tấn. Diện tích gieo trồng lúa hè thu toàn tỉnh sơ bộ đạt 44.955 ha, tăng 905 ha; năng suất đạt 51,12 tạ/ha, tăng 3,49 tạ/ha; sản lượng đạt 229.803 tấn, tăng 21.930 tấn. Diện tích gieo cấy lúa mùa toàn tỉnh đạt 490 ha, giảm 28 ha; năng suất đạt 18,67 tạ/ha, tăng 2,72 tạ/ha; sản lượng sơ bộ đạt 915 tấn, tăng 89 tấn. Kết quả sản xuất một số cây hằng năm khác: sản lượng ngô cả năm sơ bộ đạt 52.828 tấn, bằng 114,02% (tăng 6.497 tấn) so với năm trước; sản lượng khoai lang cả năm sơ bộ đạt 25.943 tấn, bằng 106,32% (tăng 1.542 tấn) so với năm trước; sản lượng lạc cả năm sơ bộ đạt 29.130 tấn, bằng 105,18% ( tăng 1.435 tấn) so với năm trước; sản lượng rau cả năm sơ bộ đạt 95.395 tấn, bằng 105,88% (tăng 5.302 tấn) so với năm trước. - Trồng cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.510 ha, bằng 100,2% (tăng 61 ha) so với năm 2020, trong đó diện tích cây ăn quả là 19.103 ha, bằng 103,7% (tăng 672 ha), chiếm 60,6% tổng diện tích cây lâu năm, (diện tích cây cam sơ bộ đạt 7.476 ha, (tăng 263 ha); diện tích cam cho sản phẩm 6.061 ha, (tăng 602 ha); diện tích cây bưởi sơ bộ đạt 3.949 ha, (tăng 274 ha); diện tích bưởi cho sản phẩm 2.860 ha, (tăng 398 ha)). Năm nay, điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao, sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 152.067 tấn, bằng 112,2% (tăng 16.519 tấn) so với năm 2020, trong đó: sản lượng cam sơ bộ đạt 58.026 tấn, (tăng 10.361 tấn); sản lượng bưởi sơ bộ đạt 31.629 tấn, (tăng 5.827 tấn) so với năm 2020. - Về chăn nuôi: Ước năm 2021, tổng đàn trâu có 67.150 con, bằng 99,87% (giảm 89 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò có 168.550 con, bằng 99,74% (giảm 437 con), đàn lợn có 408.721 con, bằng 100,82% (tăng 3.308 con); tổng số gia cầm có 10,1 triệu con tăng 0,15%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2021 ước đạt 67.916 tấn, bằng 100,04% (tăng 26 tấn) so với năm 2020. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 9.815 tấn, bằng 97,37% (giảm 265 tấn) so với năm 2020. Sản lượng thịt trâu hơi đạt 3.564 tấn giảm 2,62%; sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng ước đạt 25.038 tấn, bằng 105,53% (tăng 1.312 tấn) so với năm 2020. Sản lượng trứng năm 2021 ước đạt 351.502 ngàn quả, bằng 103,57% (tăng 12.116 ngàn quả) so với năm 2020. b) Lâm nghiệp Năm 2021, diện tích rừng trồng mới sơ bộ toàn tỉnh ước tính đạt 8.857 ha, tăng 3,75% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 3.001 nghìn cây, giảm 8,87%; sản lượng gỗ khai thác đạt 471.089 m3, tăng 18,33%; sản lượng củi khai thác đạt 471.868 ste, giảm 1,66%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 13,8 ha, giảm 83,80% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha, giảm 97,91%; diện tích rừng bị chặt phá là 12,57 ha, giảm 52,38%. c) Thủy sản Tổng sản lượng thủy sản năm 2021 sơ bộ đạt 54.485 tấn, giảm 1,78% so với năm trước, bao gồm: Cá đạt 32.737 tấn, giảm 1,11%; tôm đạt 6.420 tấn, tăng 1,39%; thủy sản khác đạt 15.328 tấn, giảm 4,4%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay sơ bộ đạt 15.797 tấn, giảm 1,15% so với năm trước, bao gồm cá đạt 7.137 tấn, giảm 1,45%; tôm đạt 5.334 tấn, tăng 1,93%; thủy sản khác đạt 3.326 tấn, giảm 5,13%. Sản lượng thủy sản khai thác năm 2021 sơ bộ đạt 38.688 tấn, giảm 2,03% so với năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 25.600 tấn, giảm 1,02%; tôm đạt 1.086 tấn, giảm 1,18%; thủy sản khác đạt 12.002 tấn giảm 4,19%. 3. Sản xuất công nghiệp: Diễn ra trong điều kiện khó khăn do dịch Covid-19, tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã linh hoạt triển khai các giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh. Đặc biệt, Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh vẫn giữ vững vai trò hạt nhân trong việc thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Hà Tĩnh. Ước tính năm 2021, Formosa Hà Tĩnh sản xuất đạt 5,4 triệu tấn thép tăng 23,21% so với năm 2020. Việc Formosa đi vào hoạt động sản xuất ổn định, hiệu quả đã tác động lớn tới hoạt động công nghiệp toàn tỉnh. + Tính chung cả năm 2021, Chỉ số sản xuất toàn ngành Công nghiệp tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,03%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,93%, đóng góp 14,61 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,09%, làm giảm 0,57 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 5,77%, làm giảm 0,18 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. + Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2021 ước tính tăng 12,64% so với năm trước đóng góp 4,46 điểm % vào mức tăng chung .Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh với mức tăng 18,68 %, đóng góp 4,62 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng tăng 11,95%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 1,54%, làm giảm 0,15 điểm phần trăm. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 20,10% so với cùng kỳ làm giảm 0,08 điểm %. + Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2021 tăng 22,71% so với năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 51,3% so với năm trước. 4. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong năm tăng 15,6% so với cùng kỳ; số vốn đăng ký tăng 80% là tín hiệu tích cực cho sự phục hồi của nền kinh tế. Năm 2021 vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Tính đến ngày 15/12/2021, toàn tỉnh thành lập mới 1.086 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 13.259 tỷ đồng (tăng 15,6% về số lượng và 80% về số vốn đăng ký). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,2 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 7,8 tỷ đồng). Một số doanh nghiệp thành lập mới có số vốn đăng ký lớn như CTCP Tập đoàn D&N (2.600 tỷ đồng), CTCP Giải pháp năng lượng VINES Hà Tĩnh (1.800 tỷ đồng); Công ty TNHH T&T Land Thạch Bình (900 tỷ đồng). Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 417 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 27% so với cùng kỳ năm 2020), 136 doanh nghiệp giải thể (tăng 17% so với cùng kỳ năm 2020); doanh nghiệp có phát sinh thuế chỉ chiếm 47%. 5. Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2021 khá ảm đạm. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và cả nước vào những ngày cuối tháng 4 đến nay nên UBND tỉnh nhiều lần đã có các văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động dịch vụ để phòng chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc thực hiện cách ly y tế nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh qua các tháng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2021 ước tính đạt 46.778,58 tỷ đồng, giảm 0,42% so với năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2021 ước tính đạt 41.939,38 tỷ đồng, chiếm 89,65% tổng mức và tăng 1,99% so với năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 3.491,20 tỷ đồng, giảm 18,51%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 7,35 tỷ đồng, giảm 36,37%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.339,65 tỷ đồng, giảm 13,87%. Doanh thu vận tải, kho bãi năm 2021 ước đạt 4.341,47 tỷ đồng, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 839,80 tỷ đồng, giảm 42,82% so với năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.623,56 tỷ đồng, giảm 8,60% so với năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 878,11 tỷ đồng, tăng 12,47% so với năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11.584,97 nghìn HK, giảm 42,83% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 1.927,50 triệu HK.km, giảm 46,40% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 29.179,13 nghìn tấn, giảm 9,1% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 744,17 triệu tấn.km, giảm 10,57% so với năm trước. Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 ước đạt 2 tỷ USD, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do giá thép tăng cao nên Formosa đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 1,9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh). Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,3 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa (gần 2,9 tỷ USD). 6. Thu - Chi ngân sách: Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid -19, đã làm ảnh hưởng hầu hết đến các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội và ảnh hưởng lớn đến công tác thực hiện nhiệm vụ NSNN. Song với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự cố gắng, nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân, cùng với sự phối hợp của các sở, ngành đã tích cực thực hiện nhiều giải pháp tăng cường quản lý thu, phân bổ, sử dụng NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết... góp phần quan trọng trong khống chế, kiểm soát dịch bệnh, từng bước phục hồi và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân. - Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 15.302,89 tỷ đồng, bằng 151,12% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.881,28 tỷ đồng tăng 11,49% so với năm 2020, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh ước đạt 2.732,68 tỷ đổng giảm 20,64% so với năm 2020; các khoản thu về nhà đất ước đạt 3.043,80 tỉ đổng tăng 59,60%; thu phí,lệ phí ước đạt 735,47 tỷ đồng tăng 55,41% .... Bên cạnh các khoản thu nội địa thì thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 6.668,98 tỷ đồng, tăng 218,71% so với năm trước. - Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 19.975,13 tỷ đồng bằng 105,59% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 9.662,41 tỷ đồng chiếm 48,37% tổng chi, tăng 15,25% so với năm trước; chi thường xuyên đạt 10.296,48 tỷ đồng chiếm 51,55% tổng chi, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2020. 7. Hoạt động ngân hàng: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh triển khai quyết liệt các biện pháp ứng phó với tác động của dịch; hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn do covid-19, để sớm phục hồi sản xuất kinh doanh; tiếp tục triển khai quyết liệt công tác cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu. Nhờ đó, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh nhưng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực trên các mặt hoạt động. Trong năm 2021 vừa qua mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2021 đạt 87.699 tỷ đồng, tăng 25,3%, so với cuối năm 2020. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 11.402 tỷ đồng, tăng (tăng 28,56% so với cuối năm 2020). Dư nợ cho vay đến 30/12/2021 ước đạt 70.465 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2020, đạt 96,3% so với kế hoạch đề ra. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 46.767 tỷ đồng (chiếm 26,93% tổng dư nợ), tăng 26,93% so với cuối năm 2020; dư nợ trung dài hạn đạt 23.698 tỷ đồng (chiếm 33,95% tổng dư nợ), giảm 0,84% so với cuối năm 2020. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 35,91% so với đầu năm; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 175,96 % so với đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp và nằm trong giới hạn cho phép, nợ xấu chiếm 0,7% dư nợ toàn địa bàn. 8. Hoạt động Vốn đầu tư - Xây dựng: Năm 2021, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, một số địa bàn tại các huyện, thành phố, thị xã phải thực hiện giãn cách xã hội và phong tỏa đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự án trên địa bàn. Song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sử chủ động của các Sở, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp trong triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ, công tác giải phóng mặt bằng…và đăc biệt trong công tác phòng chống dịch. Vì vậy một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ và khởi công mới. - Hoạt động đầu tư: Năm 2021, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 27.314 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch giao và tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 31% GRDP, trong đó: Nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.039 tỷ đồng, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch vốn ngân sách Nhà nước tăng mạnh (tăng 51,05%), trong đó vốn chương trình mục tiêu quốc gia gấp 4,67 lần so với năm 2020; nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 17.898 tỷ đồng, tăng 18,02% so với cùng kỳ. Ở khu vực này, một số dự án ngoài nhà nước hiện đang xây dựng trên địa bàn tỉnh như: Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn tiếp tục triển khai sau khi nhập được máy móc thiết bị, Dự án nhà máy thủy điện Ngàn trươi - Cẩm trang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công. Bên cạnh đó năm 2021 xúc tiến khới công nhà máy sản xuất Cell Pin, khởi công dự án nhà máy thủy điện Hương Sơn 2, dự án nhà ở phức hợp Tân Hoàng Minh; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1377 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 61,58%) do dự án Gang thép Formosa đã hoàn thành nên giảm dần đầu tư; dự án khu bến cảng Phonix, điện mặt trời Sơn Quang tạm ngừng thi công. - Hoạt động Xây dựng: Kết quả hoạt động ngành xây dựng năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng năm 2021 ước tính giảm -3,63% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như tình hình dịch bệnh Covid- 19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp một số khó khăn, vướng mắc thủ tục ở các bộ ngành làm chậm tiến độ khởi công các dự án như: Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2, Nhà máy điện gió HBRE, Khu đô thị Nam Cầu Phủ... 9. Chỉ số giá tiêu dùng: Tình hình giá cả trên thị trường năm 2021 có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so với năm trước như: Nhóm hàng đồ uống, may mặc, vật liệu xây dựng, giáo dục, giao thông; tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến một số dịch vụ giải trí tiếp tục phải tạm ngừng hoạt động. Xuất khẩu hàng hóa gặp khó khăn, ảnh hưởng đến cung cầu tiêu dùng trong tỉnh. Tính chung cả năm 2021, chỉ số giá CPI tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,96%; nông thôn tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,68%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,97%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giao thông tăng 7,54%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; giáo dục tăng 9,93%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng tăng 6,95% so với năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,59% II. MỘT SỐ LĨNH VỰC XÃ HỘI 1. Tình hình lao động, việc làm năm 2021 mặc dù chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, tuy nhiên, lao động đang làm việc trong nền kinh tế vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm so với năm trước. Dân số trung bình năm 2021 ước tính 1.314.056 người, tăng 1,34% so với năm 2020 (tăng 17.434 người). Trong đó: Dân số thành thị 293.012 người, chiếm 22,29%; dân số nông thôn 1.021.044 người, chiếm 77,71%; dân số nam 650.793 người, chiếm 49,52% và dân số nữ 663.263 người, chiếm 50,48%. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 692.514 người, chiếm 52,7% dân số toàn tỉnh và tăng 3,08% so với năm 2020. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 675.634 người, chiếm 97,56% so với lực lượng lao động và tăng 3,25% so với năm 2020. Trong đó, lao động có việc làm ở thành thị là 139.552 người, chiếm 20,65%; ở nam giới là 322.108 người, chiếm 47,67%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 349.247 người, chiếm 51,69% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 120.169 người, chiếm 17,79%; ngành dịch vụ là 206.219 người, chiếm 30,52%. Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2021 là 22.568 người, đạt 102,58% kế hoạch năm 2021, tăng 13,45% so với năm 2020. Số người không có việc làm (thất nghiệp) là 16.880 người, chiếm 2,44% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2021 ước tính là 3,07%, giảm 0,11 điểm phần trăm so với năm 2020. 2. Công tác bảo đảm an sinh xã hội: Năm 2021 thời tiết tương đối thuận lợi tạo điều kiện cho bà con nông dân tập trung sản xuất. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid, các cấp , các ngành đặc biệt quan tâm, hỗ trợ các đối tượng kịp thời. Đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Theo kết quả rà soát, năm 2021 tỷ lệ hộ nghèo là 4,68% (17.848 hộ, tương ứng 38.876 khẩu) tăng 1,17 điểm phần trăm so với năm 2020; tỷ lệ hộ cận nghèo là 5,09% (19.426 hộ, tướng ứng 60.896) tăng 0,78 điểm phần trăm so với năm 2020. Theo báo cáo sơ bộ năm 2021 toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 419.350 suất quà với tổng số tiền khoảng 112.486 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cấp khoảng 13.605 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.558 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 163.470 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 98.917 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Năm 2021 tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công khoảng 224.304 suất quà trị giá khoảng 51.500 triệu đồng. Trao tặng 82 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 646 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 1.876 nhà kinh phí khoảng 119.185 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 49 nhà kinh phí khoảng 1.793 triệu đồng. 3. Giáo dục, đào tạo: Năm học 2021 - 2022, Hà Tĩnh phấn đấu triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ với mục tiêu: đảm bảo an toàn cho học sinh và cán bộ, giáo viên trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, giữ vững chất lượng, hiệu quả giáo dục. Trong năm học vừa qua, toàn tỉnh có 667 trường mầm non và phổ thông, 10.636 lớp, 18.172 giáo viên và 329.333 học sinh. Trong đó: Giáo dục mầm non: 254 trường, 2.846 lớp, 4.819 giáo viên và 76.567 học sinh; Tiểu học: 221 trường (220 trường công lập, 01 trường tư thục), 4.229 lớp học, 5.775 giáo viên và 131.971 học sinh; Trung học cơ sở: 147 trường (147 trường công lập), 2.369 lớp học, 4.806 giáo viên và 78.310 học sinh; Trung học phổ thông: 45 trường (39 trường công lập, 1 trường dân lập, 5 trường tư thục), 1.192 lớp, 2.772 giáo viên và 42.485 học sinh. Chỉ tiêu tuyển sinh vào trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy năm 2021 là 1.691 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.641 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 17.100 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 1.200 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 4.700 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 11.200 người. 4. Công tác Y tế: Quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, năm 2021, ngành Y tế đã phối hợp với chính quyền địa phương triển khai quyết liệt giải pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc khoanh vùng rộng, phong tỏa hẹp, xét nghiệm nhanh, truy vết thần tốc để xử lý triệt để ổ dịch. Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tốc độ tiêm vắc-xin và tiếp tục linh hoạt trong việc cách ly, điều trị cho bệnh nhân COVID-19. Tổng số ca mắc Covid-19 từ ngày 04/6/2021 đến ngày 26/12/2021 là 1.558 ca mắc, toàn tỉnh đã có 11/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 280 người. Tính đến ngày 25/12: đối với người từ 18 tuổi trở lên đã tiêm ít nhất 01 mũi đạt 98%; số đã tiêm mũi 2 đạt 85%; 97% trẻ em từ 12 đến dưới 18 tuổi đã được tiêm mũi 1. Ngành Y tế đang triển khai tiêm vắc xin đợt 20, 21, 22 cho người từ 18 tuổi trở lên và tiêm vắc xin đợt 3, 4 cho trẻ em. Qua đánh giá, xác định mức độ dịch và tình hình diễn biến dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Sở Y tế ra thông báo Số 5166/TB- SYT ngày 27/12/2021 theo đó cấp độ dịch trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh theo cấp độ 2 - nguy cơ trung bình. Năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 33 ca mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp nào tử vong vì dịch. Ngoài ra, còn có 9 ca mắc sốt xuất huyết (giảm 85,93% so với cùng kỳ năm trước), 1 ca mắc sốt rét (giảm 99,62%), 93 ca viêm não do vi rút (tăng 106,66%), 39 ca mắc bệnh quai bị (giảm 69,04%), 133 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 24,0%); 287 ca mắc lỵ a míp (tăng 11,24%); 723 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 13,68%), 16.237 ca mắc bệnh cúm (giảm 26,56%), tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. Tổng số người nhiễm mới HIV có 55 người, 50 người chuyển thành AIDS và 02 người chết vì AIDS, so năm 2020 số người nhiễm mới HIV giảm 20 người (giảm 26,67%), số người chuyển thành AIDS giảm 20 người (giảm 28,57%), số người chết vì AIDS giảm 7 người (giảm 77,77%). Số vụ ngộ độc tập thể năm 2021 có 3 vụ, với 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 1.244 ca ngộ độc đơn lẻ; So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc không đổi, số ca ngộ độc tập thể tăng 29 người (tăng 120,83%), số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 95 ca (tăng 8,26%). 5. Công tác đảm bảo trật tự ATGT, gắn với phòng chống dịch COVID-19 đã được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và sự vào cuộc của các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, chính quyền địa phương các cấp, tình hình TNGT giảm trên cả 3 tiêu chí. Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/12/2021 xảy ra 115 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 96 người, bị thương 50 người, thiệt hại tài sản 844 triệu đồng. So với với năm trước: giảm 9 vụ (giảm 6,50%), giảm 7 người chết (giảm 6,8%), giảm 14 người bị thương (giảm 21,87%). Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. 6. Các hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm từ các cấp, các ngành cùng toàn thể người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ với tinh thần “Tuổi trẻ Hà Tĩnh tình nguyện, sáng tạo vì cộng đồng”. Năm 2021 đã phát hiện 164 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 123 vụ, tổng số tiền xử phạt 2.867,85 triệu đồng; so với năm 2020 tăng 116 vụ (tăng 241,67%) đã phát hiện, tăng 80 vụ (tăng 186,05%) đã xử lý, tăng 2.538,45 triệu đồng (tăng 770,63%). Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 đợt thiên tai trong năm đã làm 3 người chết, 4 người bị thương; 666 nhà bị hư hỏng; 12.025,8 ha lúa; 1.452,7 ha hoa màu; 900 con gia cầm, 3 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 187.280 triệu đồng. Năm 2021 xẩy ra 63 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 6.355 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 4 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. III. GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Năm 2022 tiếp tục là một năm khó khăn đối với tỉnh nhà trong thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH khi mà tình hình Dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp; mặc dù tỷ lệ tiêm chủng ở trong nước, trong tỉnh dần được phủ kín nhưng chưa đồng đều; các chuỗi cung ứng và các liên kết sản xuất có thể bị gián đoạn cùng với tình trạng thiếu hụt lao động; giá năng lượng, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng sẽ gây áp lực lớn đến lạm phát. Việc bảo vệ sức khoẻ và ổn định sản xuất, giữ vững an ninh và an sinh xã hội là thách thức đòi hỏi nỗ lực rất lớn của Chính quyền cùng doanh nghiệp và người dân. Đứng trước những khó khăn nêu trên, để hoàn thành đồng thời 02 nhiệm vụ: Vừa chiến thắng dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho người dân, vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây: Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh. Không chủ quan, lơ là; cách ly có chọn lọc, linh hoạt, thích ứng với trạng thái bình thường mới; nâng cao năng lực xét nghiệm tại các cửa khẩu, bến cảng cùng với năng lực điều trị bệnh Covid-19, năng lực tiêm chủng tại các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân. Hai là, huy động sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, khơi dậy sức mạnh văn hoá của người Việt Nam để mỗi người dân là một chiến sĩ trong việc tự bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân và gia đình, bảo vệ doanh nghiệp, cơ quan, trường học không bị nhiễm virus. Ba là, triển khai thực hiện kịp thời các chính sách giảm, giãn thuế; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo việc làm và thu nhập tối thiểu cho người lao động. Bốn là, chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất các vụ trong năm; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. Năm là, tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong tất cả các hoạt động hành chính của cơ quan Nhà nước, nhất là những nơi thực hiện dịch vụ hành chính công - xem đây là nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng chính quyền điện tử phục vụ người dân, từ đó thay đổi tư duy quản lý, phương pháp quản trị điều hành trong toàn xã hội. Tranh thủ thời cơ đẩy nhanh việc số hoá dữ liệu ở tất cả cơ quan, nhất là dữ liệu dân cư, dữ liệu doanh nghiệp. Khuyến khích thành lập doanh nghiệp mới trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin, tài chính, giáo dục, y tế./. CỤC THỐNG KÊ HÀ TĨNH [1] Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 tỉnh Thanh Hóa: 8,85%; Nghệ An: 6,2%; Quảng Bình: 4,83%; Quảng Trị 6,5%; Thừa Thiên Huế: 4,36%. [2] Kỳ họp thứ 18 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 12 và 12 tháng năm 2021
- 26/07/2024 17:27
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại trong năm vừa qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ; một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản lượng và việc tái đàn gặp khó khăn. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội…vv. Đồng thời, đã tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. 1. Tốc độ tăng, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) - Về tăng trưởng: Là chỉ tiêu kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ tạo nên nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế vĩ mô mà còn bảo đảm việc làm, thu nhập, tạo nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Tốc độ tăng trưởng GDRP năm 2021 của Hà Tĩnh ước tăng 5,02% so với năm 2020, xếp thứ 4 trong 6 tỉnh Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung[1]. GRDP bình quân đầu người ước tính đạt 67,03 triệu đồng/người/năm (tăng 4,91 triệu đồng/người/năm so với năm 2020). Mặc dù tăng trưởng chưa đạt so với kế hoạch đề ra[2] tuy nhiên trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, kết quả đạt được cũng đã khẳng định sự nỗ lực của các cấp, các ngành, tổ chức doanh nghiệp và người dân trong thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế năm 2021 thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78% đóng góp 0,53 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,6%, đóng góp 4,16 điểm %; khu vực dịch vụ giảm 0,7%, làm giảm 0,24 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,46%, đóng góp 0,57 điểm %. Nhìn chung, giai đoạn 5 năm trở lại đây từ 2017 đến 2021 Hà Tĩnh đã có nhiều thay đổi trong tăng trưởng kinh tế[3]. Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2017-2021 đạt 8,74%/năm, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,48%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 17,39%/năm; khu vực dịch vụ đạt 3,52%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 5,88%/năm. - Về cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế năm 2021 tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Năm 2021 khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,52%, giảm 0,79 điểm % so với năm 2020; khu vực công nghiêp - xây dựng chiếm 43,95% tăng 3,47 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 31,76%, giảm 2,82 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,77% tăng 0,16 điểm %. * Đánh giá đối với một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế - Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Năm 2021 ngành sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng khá tăng 3,78% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,88% đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành thủy sản tăng 1,95% đóng góp 0,26 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp đạt kết quả khá với mức tăng 5,81%, nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ đóng góp 0,47 điểm phần trăm trong tổng mức tăng chung của toàn ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Sản xuất nông nghiệp năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 58,95 tạ/ha. Hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi và viêm da nổi cục ở trâu, bò; chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. Sản xuất lâm nghiệp tăng so với cùng kỳ do diện tích rừng đã đến tuổi khai thác, sản phẩm chủ yếu cây keo, tràm thời gian và chi phí chăm sóc không nhiều trong khi lợi nhuận đạt khá. Sản xuất thủy sản nỗ lực ổn định trong trạng thái bình thường mới và tuân thủ các biện pháp phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp. - Trong khu vực công nghiệp và xây dựng: Ngành công nghiệp năm 2021 tăng 12,64% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 4,46 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2021 thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ các năm 2017-2019, tuy nhiên có dấu hiệu phục hồi tích cực so với năm 2020 (tăng 0,63%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh với mức tăng 18,68 %, đóng góp 4,62 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 11,95%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 1,54%, làm giảm 0,15 điểm phần trăm; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 20,10% so với cùng kỳ làm giảm 0,08 điểm phần trăm. Ngành xây dựng năm 2021 giảm 3,63% đóng góp -0,29 điểm phần trăm. Năm 2021, Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa sản xuất ổn định, sản lượng phôi thép ước đạt 6,5 triệu tấn,[4] tăng 11,62%; sản xuất thép ước đạt 5,4 triệu tấn tăng 23,21% so với năm 2020. Tình hình sản xuất của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác tăng so với năm trước do khai thác ở vùng mỏ có trữ lượng quặng inmenit và tinh quặng inmenit lớn. Bên cạnh sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo; khai khoáng thì hoạt động ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí năm 2021 gặp khó khăn. Sản lượng điện sản xuất ước đạt 10.896 triệu kwh (giảm 7,44%) so với năm 2021. Nguyên nhân do Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 triển khai thực hiện đại tu tổ máy số 2 trong 75 ngày từ ngày 20/8/2021. Đồng thời ngày 19/9/2021, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động đến cuối năm vẫn đang trong quá trình kiểm tra, sữa chữa. Năm 2021, hoạt động xây dựng trên địa bàn tiếp tục gặp khó khăn. Một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công do thiếu nguyên vật liệu cũng như chưa kí hợp đồng đầu ra như: Dự án nhà máy sản xuất gỗ MDF; Dự án nhà máy gỗ An Việt Phát đã hoàn thành giai đoạn 1, chưa thi công giai đoạn 2; Bên cạnh đó, nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh, nhiệt điện Vũng Áng 2, Khu đô thị Nam Cầu Phủ dời thời gian khởi công xây dựng do vướng mắc thủ tục. - Khu vực dịch vụ: Năm 2021 khu vực dịch vụ giảm 0,7%, đây là năm thứ hai khu vực này có mức tăng trưởng âm kể từ khi xảy ra sự cố môi trường biển năm 2016[5]. Trong khu vực dịch vụ, ngành bán buôn và bán lẻ giảm 2,27% so với năm 2020, làm giảm 0,14 điểm phần trăm trong mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có mức tăng khá 12,09%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm. Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 23,32%, làm giảm 0,41 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 9,55%, làm giảm 0,34 điểm phần trăm. Do tâm lý lo ngại về dịch bệnh, người tiêu dùng vẫn ưu tiên mua sắm các nhóm hàng hóa thiết yếu và hạn chế các nhóm hàng hóa chưa thật sự cần thiết. Hoạt động vận tải hành khách, lưu trú ăn uống tiếp tục là những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề do thực hiện các biện pháp giãn cách. - Thực hiện tính chỉ tiêu GRDP theo giá cơ bản thì thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP. Năm 2021, thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 6,46% so với cùng kỳ năm 2020, đóng góp 0,57 điểm phần trăm trong tổng mức tăng trưởng chung. Nguyên nhân chính là do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất. Ngoài ra, kim ngạch một số mặt hàng như nước giải khát, tinh bột sắn, gỗ xẻ các loại, máy móc thiết bị, hàng điện tử… năm 2021 cũng tăng khá bên cạnh đó hoàn thuế VAT giảm mạnh so với năm trước. 2. Tài chính, ngân hàng 2.1 Thu, chi ngân sách Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid -19, đã làm ảnh hưởng hầu hết đến các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội và ảnh hưởng lớn đến công tác thực hiện nhiệm vụ NSNN. Song với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự cố gắng, nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân, cùng với sự phối hợp của các sở, ngành đã tích cực thực hiện nhiều giải pháp tăng cường quản lý thu, phân bổ, sử dụng NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết... góp phần quan trọng trong khống chế, kiểm soát dịch bệnh, từng bước phục hồi và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân. - Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 15.302,89 tỷ đồng, bằng 151,12% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.881,28 tỷ đồng tăng 11,49% so với năm 2020, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh ước đạt 2.732,68 tỷ đổng giảm 20,64% so với năm 2020; các khoản thu về nhà đất ước đạt 3.043,80 tỉ đổng tăng 59,60%; thu phí,lệ phí ước đạt 735,47 tỷ đồng tăng 55,41% .... Bên cạnh các khoản thu nội địa thì thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 6.668,98 tỷ đồng, tăng 218,71% so với năm trước nguyên nhân chủ yếu là do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất. Ngoài ra, kim ngạch một số mặt hàng như nước giải khát, tinh bột sắn, gỗ xẻ các loại, máy móc thiết bị, hàng điện tử… năm 2021 cũng tăng khá; đồng thời năm 2021 hoàn thuế VAT bằng 41,75% so với năm trước. - Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 19.975,13 tỷ đồng bằng 105,59% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 9.662,41 tỷ đồng chiếm 48,37% tổng chi, tăng 15,25% so với năm trước; chi thường xuyên đạt 10.296,48 tỷ đồng chiếm 51,55% tổng chi, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2020. Về cơ bản chi thường xuyên đáp ứng đủ nguồn kinh phí cho các hoạt động hành chính, sự nghiệp các cấp, các ngành; các chế độ an sinh xã hội; tiếp tục khắc phục hậu quả thiên tai, các nhiệm vụ phòng chống dịch; đảm bảo an ninh quốc phòng và các nhiệm vụ chi trên các lĩnh vực. 2.2 Hoạt động ngân hàng Năm 2021 các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh triển khai quyết liệt các biện pháp ứng phó với tác động của dịch; hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn do covid-19, để sớm phục hồi sản xuất kinh doanh; tiếp tục triển khai quyết liệt công tác cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu. Nhờ đó, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh nhưng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực trên các mặt hoạt động. Trong năm 2021 vừa qua mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,1-3,7% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0-5,9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,5-6,7%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4,5-8,4%/năm, trung dài hạn phổ biến 8,4-11%/năm; lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5%/năm. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2021 đạt 87.699 tỷ đồng, tăng 25,3%, so với cuối năm 2020. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 11.402 tỷ đồng, tăng (tăng 28,56% so với cuối năm 2020). Dư nợ cho vay đến 30/12/2021 ước đạt 70.465 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2020, đạt 96,3% so với kế hoạch đề ra. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 46.767 tỷ đồng (chiếm 26,93% tổng dư nợ), tăng 26,93% so với cuối năm 2020; dư nợ trung dài hạn đạt 23.698 tỷ đồng (chiếm 33,95% tổng dư nợ), giảm 0,84% so với cuối năm 2020. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 35,91% so với đầu năm; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 175,96 % so với đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp và nằm trong giới hạn cho phép, nợ xấu chiếm 0,7% dư nợ toàn địa bàn. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Các dịch vụ ngân quỹ tiếp tục thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn trong giao dịch. Công tác thanh toán tiếp tục được đẩy mạnh đảm bảo kịp thời, chính xác; chú trọng và tăng cường công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD được thực hiện thường xuyên, đảm bảo hoạt động của các TCTD an toàn, hiệu quả. Bên cạnh những kết quả đạt được, thì hoạt động ngân hàng trong thời gian tới vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Tình hình sản xuất kinh doanh và việc làm đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, khiến các rủi ro về nợ xấu có chiều hướng gia tăng trở lại. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 58,95 tạ/ha; hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn, cùng với đó là dịch viêm gia, nổi cục xuất hiện đã gây khó khăn cho tái đàn, tăng đàn; sản lượng gỗ khai thác tăng so với cùng kỳ; sản xuất thủy sản nỗ lực ổn định trong trạng thái bình thường mới và tuân thủ các biện pháp phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp. 3.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt: - Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh sơ bộ đạt 158.893 ha, bằng 102,04% (tăng 3.179 ha) so với năm trước; với tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 633.340 tấn, so với thực hiện năm trước, bằng 109,12% (tăng 52.946 tấn). Sản lượng lúa sơ bộ đạt 580.512 tấn, bằng 108,7% (tăng 46.449 tấn) so với năm trước, trong đó : Sản lượng lúa vụ Đông Xuân chính thức đạt 349.794 tấn, bằng 107,51% (tăng 24.425 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu chính thức đạt 229.803 tấn, bằng 110,55% (tăng 21.930 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa sơ bộ đạt 915 tấn, bằng 110,71% (tăng 88 tấn) ; sản lượng ngô cả năm sơ bộ đạt 52.828 tấn, bằng 114,02% (tăng 6.497 tấn) so với năm trước; sản lượng khoai lang cả năm sơ bộ đạt 25.943 tấn, bằng 106,32% (tăng 1.542 tấn) so với năm trước; sản lượng lạc cả năm sơ bộ đạt 29.130 tấn, bằng 105,18% ( tăng 1.434 tấn) so với năm trước; sản lượng rau cả năm sơ bộ đạt 95.395 tấn, bằng 105,88% (tăng 5.302 tấn) so với năm trước. Trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, sâu bệnh phát triển dưới mức bình quân nhiều năm, cùng với tập trung cao chỉ đạo tái cơ cấu giống, thời vụ, quy trình canh tác theo hướng năng suất, chất lượng cao, áp dụng đồng bộ cơ giới hóa, gắn với chế biến và liên kết tiêu thụ sản phẩm; nhân rộng phong trào cải tạo đồng ruộng, phá bờ thửa nhỏ để xây dựng cánh đồng lớn đã góp phần đưa năng suất, sản lượng lúa đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu đều được mùa toàn diện (là năm thứ 2 liên tiếp được mùa); tổng sản lượng lúa cả năm lần đầu tiên đạt trên 58 vạn tấn, tăng hơn 4,6 vạn tấn so với năm 2020. Kết quả sản xuất các loại cây trồng hàng năm khác cũng đều tăng hơn so với năm 2020. Hiện nay, bà con nông dân đang tập trung sản xuất cây rau màu vụ Đông 2021. Tiến độ gieo trồng các loại cây trồng vụ Đông tính đến ngày 15/12/2021 đạt 11.524 ha, đạt 101,7% kế hoạch, trong đó: Ngô lấy hạt 3.924 ha, đạt 105,3% kế hoạch; ngô sinh khối 1.540 ha, đạt 98,2% kế hoạch; khoai lang 1.470 ha, đạt 99,3% kế hoạch; rau các loại 4.590 ha, đạt 100,7% kế hoạch. Hiện nay bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng vụ Đông, tuy nhiên do điều kiện thời tiết diễn biến bất thường nên sản xuất vụ Đông vẫn gặp khó khăn. - Cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.510 ha, bằng 100,2% (tăng 61 ha) so với năm 2020, trong đó diện tích cây ăn quả là 19.103 ha, bằng 103,7% (tăng 672 ha), chiếm 60,6% tổng diện tích cây lâu năm, trong đó: diện tích cây cam sơ bộ đạt 7.476 ha, (tăng 263 ha) với diện tích trồng mới 263 ha; diện tích cam cho sản phẩm 6.061 ha, (tăng 602 ha); diện tích cây bưởi sơ bộ đạt 3.949 ha, (tăng 274 ha) với diện tích trồng mới 274 ha; diện tích bưởi cho sản phẩm 2.860 ha, (tăng 398 ha). Năm nay điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao, sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 152.067 tấn, bằng 112,2% (tăng 16.519 tấn) so với năm 2020, trong đó: sản lượng cam sơ bộ đạt 58.026 tấn, (tăng 10.361 tấn); sản lượng bưởi sơ bộ đạt 31.629 tấn, (tăng 5.827 tấn) so với năm 2020.Mặc dù sản lượng tăng nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, giá bán sản phẩm giảm mạnh so với năm trước nên hiệu quả kinh tế mang lại cho các chủ vườn là không cao. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân.- Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại là không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân: Có 232 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá, 94,5 ha nhiễm đạo ôn cổ bông; rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại nhẹ, diện tích nhiễm 3 ha; có 2.511 ha nhiễm bệnh khô vằn và 168 ha bị chuột hại. Trên cây ngô, sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 47 ha; bệnh đốm lá, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. Vụ Hè Thu: Trên cây lúa có sâu cuốn lá nhỏ diện tích nhiễm 34 ha; ốc bươu vàng diện tích nhiễm 180 ha; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 1.163 ha; chuột hại 170 ha. Trên cây ngô đậu thì sâu keo mùa thu, sâu cắn nõn diện tích nhiễm 15 ha; sâu đục quả đậu diện tích nhiễm 10 ha. Trên cây lâu năm thì các loại sâu bệnh như: sâu đục thân, bệnh xì mũ...cũng phát sinh nhưng không gây ảnh hưởng đáng kể. b. Chăn nuôi - Chăn nuôi gia súc: Hoạt động sản xuất chăn nuôi gia súc trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh xẩy ra đối với đàn gia súc; tổng đàn trâu, bò và sản lượng đều giảm so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Ước đến 15/12/2021, tổng đàn trâu có 67.150 con, bằng 99,87% (giảm 89 con); tổng đàn bò có 168.550 con, bằng 99,74% (giảm 437 con), đàn lợn có 408.721 con, bằng 100,82% (tăng 3.308 con). Nguyên nhân giảm về số đầu con là do từ tháng 12/2020 đến tháng 8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát sinh dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò gây thiệt hại nặng về kinh tế và ảnh hưởng đến số lượng đàn gia súc. Chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn, cuối năm 2020 khi dịch tả lợn Châu Phi dần ổn định, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, gia trại, trang trại bắt đầu thực hiện tái đàn trở lại thì dịch lại tiếp tục bùng phát trở lại vào đầu tháng 3/2021 ở nhiều địa phương trong tỉnh gây thiệt hại cho người chăn nuôi và khó khăn trong việc thực hiện tái đàn - Chăn nuôi gia cầm: Điểm sáng trong hoạt động chăn nuôi đó là đàn gia cầm phát triển khá, đến nay tổng đàn gia cầm ước đạt 8.403 ngàn con, bằng 100,39% (tăng 33 ngàn con so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do khó khăn trong chăn nuôi lợn, cùng với việc sản phẩm thịt trâu, bò, lợn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nên người tiêu dùng hạn chế sử dụng. Vì vậy, sản phẩm gia cầm dễ tiêu thụ nên người dân đã mở rộng quy mô phát triển chăn nuôi gia cầm. Thời gian tới, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn cũng chỉ ở mức duy trì ổn định đàn vật nuôi, chưa thể có bước phát triển đột phá. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2021, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 134 xã, thị trấn, thuộc 13 huyện, thành phố, thị xã với tổng số lợn mắc bệnh là 16.324 con, trong đó số buộc phải tiêu hủy là 16.260 con, với trọng lượng 1.199 tấn. Đến nay trên địa bàn tỉnh còn 15 xã có dịch chưa qua 21 ngày kể từ con gia súc bị tiêu hủy cuối cùng, với đàn lợn mắc bệnh là 560 con; dịch LMLM gia súc đã xảy ra tại 05 xã, thuộc 03 huyện (Lộc Hà, Hương Khê, Đức Thọ), làm cho 396 con gia súc mắc bệnh. Đến nay, các ổ dịch LMLM gia súc đã qua 21 ngày; dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò đã xẩy ra tại 208 xã, phường, thị trấn của 13 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh làm 17.686 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó có 2.949 con bị chết. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được khống chế thành công; dịch Cúm gia cầm (H5N6) xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà làm 9.720 con gia cầm mắc bệnh bị tiêu hủy và dịch cúm gia cầm H5N8 xảy ra tại 01 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên làm 3.147 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy. Hiện nay, các ổ dịch cúm gia cầm đã qua 21 ngày. 3.2 Lâm nghiệp - Trồng rừng và chăm sóc rừng: Năm 2021, mặc dù trong điều kiện khó khăn chung do dịch bệnh nhưng sản xuất lâm nghiệp vẫn đạt được kết quả khá. Diện tích rừng trồng mới sơ bộ đạt 8.857 ha, bằng 103,75%, (tăng 320 ha) so với năm 2020, trong đó rừng sản xuất chiếm đến 97,2% tổng diện tích rừng trồng mới. Nhờ thực hiện giao rừng cho hộ gia đình quản lý đã nâng cao ý thức bảo vệ rừng, tạo thu nhập ổn định cho người dân ven rừng. Từ đó, tập trung cho công tác trồng rừng, giảm thiểu tác động tiêu cực vào rừng, góp phần hạn chế thiên tai, bão lũ do phá rừng gây ra. Hoạt động trồng cây lâm nghiệp phân tán cũng được quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do quỹ đất ngày càng thu hẹp nên kết quả trồng cây phân tán đang có xu thế ngày càng giảm. Cuối tháng 11/2021, thực hiện chương trình 1 tỉ cây xanh của Chính phủ, Hà Tĩnh đã ra quân Chương trình trồng 100.000 cây xanh đô thị trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh, quyết phủ xanh thành phố, gây rừng trong lòng thành phố, tạo cảnh quan và môi trường xanh - sạch - đẹp. Cùng với hoạt động trồng rừng thì các chủ rừng cũng đã thực hiện khai thác rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch, chủ yếu cây keo, tràm để phục vụ các nhà máy chế biến dăm gỗ và gỗ ván ép đóng trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, sản lượng gỗ khai thác năm 2021 sơ bộ đạt 471.089 m3, bằng 118,33%, (tăng 72.970 m3) so với năm 2020. Khi trên địa bàn tỉnh đang có các nhà máy lớn về chế biến lâm sản là điều kiện thuận lợi để người trồng rừng tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, cũng cần phải có những chính sách và chiến lược phù hợp để phát triển sản xuất lâm nghiệp có tính bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. - Thiệt hại rừng: Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha); Đã xảy ra 41 vụ phá rừng (giảm 13 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,576 ha (giảm 13,829 ha) so với cùng kỳ năm trước. 3.3 Thủy sản Sản xuất ngành thủy sản năm 2021 gặp nhiều khó khăn, tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng đều giảm so với cùng kỳ, cụ thể: Tổng sản lượng thủy sản sơ bộ năm 2021 ước đạt 54.485 tấn, bằng 98,22%, (giảm 986 tấn) so với năm 2020. Trong đó: Sản lượng khai thác sơ bộ đạt 38.688 tấn, chiếm đến 71% tổng sản lượng thủy hải sản nhưng lại giảm 2,03% (giảm 853 tấn) so với năm 2020; sản lượng nuôi trồng ước đạt 15.797 tấn, bằng 98,85% so với cùng kỳ. Như vậy, cùng với sự sụt giảm nhẹ của sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản biển giảm đã làm cho tổng sản lượng thủy sản năm 2021 giảm so với năm trước. Nguyên nhân chính đó là: (1) Mức độ đầu tư để nâng cao điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển còn hạn chế, trong khi ngư trường và nguồn lợi thủy sản ngày càng giảm; (2) Chi phí khai thác biển tăng mạnh, nhất là chi phí nhiên liệu xăng dầu, nhân công tăng liên tục trong nhiều kỳ điều chỉnh giá với mức tăng cao; (3) Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp làm cho lượng cầu hàng hải sản giảm mạnh, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn và giá bán sụt giảm nên nhiều chuyến biển của ngư dân bị lỗ nặng nên phần nào cũng đã hạn chế ra khơi đánh bắt. Thời gian tới, khi dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, giá chi phí sản xuất còn ở mức cao và thị trường đầu ra sản phẩm không có nhiều chuyển biến tích cực vẫn sẽ là những rào cản đối với hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh. - Dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản: Tính từ ngày 15/11 đến ngày 15/12/2021, trên địa bàn không xẩy ra dịch bệnh đối với thủy sản nuôi trồng. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2021, trên tôm nuôi đã xuất hiện bệnh đốm trắng xảy ra tại 16 xã thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 45,94 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,22 ha. Ngành chức năng và các hộ nuôi đã tập trung xử lý và kiểm soát không để lây lan dịch bệnh. 4. Sản xuất công nghiệp Năm 2021, trong điều kiện khó khăn do dịch Covid-19, cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã linh hoạt triển khai các giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh. Đặc biệt, Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh vẫn giữ vững vai trò hạt nhân trong việc thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Hà Tĩnh. Ước tính năm 2021, Formosa Hà Tĩnh sản xuất đạt 5,4 triệu tấn thép tăng 23,21% so với năm 2020. Việc Formosa đi vào hoạt động sản xuất ổn định, hiệu quả đã tác động lớn tới hoạt động công nghiệp toàn tỉnh. - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP): + Ước tính tháng 12/2021, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thuận lợi hơn so với tháng 11, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng 4,81%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,58%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 1,49%; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 30,71%; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải giảm 2,35%. + Tính chung cả năm 2021, Chỉ số sản xuất toàn ngành Công nghiệp tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,03%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,93%, đóng góp 14,61 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,09%, làm giảm 0,57 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 5,77%, làm giảm 0,18 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. + Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có đến 18 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn cả năm tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 53,23%; khai thác quặng kim loại tăng 49,97%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 26,73%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,55%; sản xuất kim loại tăng 22,04%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 17,6%; + Bên cạnh những ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng thì vẫn còn 7 nhóm ngành có chỉ số sản xuất ngành công nghiệp cộng dồn đến tháng 12 năm 2021 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 26,85%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 8,45%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 7,09%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 6,78%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 3,47%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 0,41%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 0,29%. - Chỉ số tiêu thụ: Năm 2021, nhờ sự đóng góp tích cực của 4 nhóm ngành: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 282,09%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 27,95%; sản xuất kim loại tăng 23,57%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 17,9%. Vì vậy chỉ số tiêu thụ tăng 22,71% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy trong năm 2021 nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. - Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2021 tăng 51,3% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chỉ số tồn kho tăng là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 96,28% so với cùng kỳ), nguyên liệu sản xuất ra chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao như: Sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 153,14%; dệt tăng 121,23%; sản xuất sản phẩm từ cao su và platstic tăng 72,91%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 36,26%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 29,86%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 20,26%; … Với kết quả này cho thấy, việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. 5. Đầu tư và xây dựng 5.1 Vốn đầu tư phát triển Năm 2021, bên cạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục giảm, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, một số địa bàn tại các huyện, thành phố, thị xã phải thực hiện giãn cách xã hội và phong tỏa đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự án trên địa bàn. Song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sử chủ động của các Sở, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp trong triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ, công tác giải phóng mặt bằng..vv. Vì vậy tình hình dịch vẫn nằm trong kiểm soát và được khống chế, đảm bảo an toàn cho sản xuất, kinh doanh; một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ và khởi công mới. Năm 2021, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 27.314 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch giao và tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 31% GRDP, trong đó: - Nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.039 tỷ đồng, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân của nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng là do kế hoạch ban đầu đưa ra tăng (51,05%), trong đó phải kể đến vốn chương trình mục tiêu quốc gia tăng gấp 4,6 lần so với cùng kỳ; Việc giải ngân vốn đầu tư công nằm trong nhóm đầu cả nước, đến ngày 30/11/2021 đạt 7.773 tỷ đồng, đạt 80% kế hoạch giao đã làm thức đầy tăng về nguồn vốn đầu tư trên địa bàn. - Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 17.898 tỷ đồng, tăng 18,02% so với cùng kỳ. Ở khu vực này, một số dự án ngoài nhà nước hiện đang xây dựng trên địa bàn tỉnh như: Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn tiếp tục triển khai sau khi nhập được máy móc thiết bị, Dự án nhà máy thủy điện Ngàn trươi - Cẩm trang đẩy nhanh tiến độ thi công. Ngoài ra, doanh nghiệp ngoài nhà trên địa bàn đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị trên địa bàn cũng tăng mạnh. Bên cạnh đó, đã xúc tiến khởi công dự án Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy sản xuất Cell Pin, khởi công dự án nhà máy thủy điện Hương Sơn 2, dự án nhà ở phức hợp Tân Hoàng Minh. Vì vậy, vốn đầu tư của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nước tăng mạnh so với năm trước (tăng 23,25%). - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1377 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 61,58%). Nguyên nhân do Dự án Gang thép Formosa chiếm phần lớn tỷ trọng vốn nước ngoài, tuy nhiên dự án này đang giảm dần đầu tư do dự án đã hoàn thành. Ngoài ra dự án khu bến cảng Phonix, Dự án điện mặt trời Sơn Quang tạm ngừng thi công, Dự án điện mặt trời Cẩm Xuyên đã hoàn thành và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh cuối năm 2020. 5.2 Hoạt động Xây dựng Năm 2021, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, chính quyền địa phương các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; xử lý kịp thời các khó khăn vướng mắc, thực hiện nhanh công tác bàn giao mặt bằng phục vụ triển khai các dự án trên địa bàn, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình xây dựng. Song tình hình thực hiện và giải ngân vốn nhà nước vẫn chưa đạt kế hoạch đề ra “đạt 93,87% kế hoạch năm”. Nguyên nhân do thời gian đầu năm, chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước; những dự án mới chỉ đang mới tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Bên cạnh đó, trong quý III/2021, dịch bệnh diễn biến phức tạp và lan rộng hơn trong nước cũng như trên địa bàn tỉnh, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội, nguồn cung ứng vật tư cũng chậm trễ. Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2021 theo giá hiện hành đạt 18.986 tỷ đồng, bằng 100,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực vốn doanh nghiệp nhà nước ước đạt 7,5 tỷ đồng, bằng 4,4 lần so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thi công các công trình trên địa bàn tỉnh ước đạt 7.194 tỷ đồng, bằng 90,31% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 147 tỷ đồng, bằng 56,65% với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm của khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vỗn đầu từ nước ngoài là do một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công do thiếu nguyên vật liệu cũng như chưa kí hợp đồng đầu ra như: Dự án nhà máy sản xuất gỗ MDF; Dự án nhà máy gỗ An Việt Phát đã hoàn thành giai đoạn 1, chưa thi công giai đoạn 2; Dự án điện mặt trời Sơn Quang, nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh, nhiệt điện Vũng Áng 2, thành phố giáo dục quốc tế Hà Tĩnh dời thời gian khởi công xây dựng; bên cạnh đó số lượng doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn giảm về số lượng cũng như giá trị thực hiện. Nhìn chung kết quả hoạt động ngành xây dựng năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như: Tình hình dịch bệnh Covid- 19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp khó khăn trong bố trí nguồn ngân sách phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là nguồn vốn ODA. Mặt khác, mặc dù đã có nhiều công trình, dự án đăng ký đầu tư trên địa bàn nhưng chỉ mới ở giai đoạn lập hồ sơ, chưa đầu tư nên không có các công trình lớn đầu tư xây dựng mới trong thời gian qua; một số dự án lớn triển khai không đảm bảo theo đúng tiến độ như dự án nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án thành phố giáo dục Nguyễn Hoàng, các khu đô thị..vv 6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 6.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Năm 2021 vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Ước đến 15/12/2021, toàn tỉnh thành lập mới 1.086 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 13.259 tỷ đồng (tăng 15,6% về số lượng và 80% về số vốn đăng ký). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,2 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 7,8 tỷ đồng). Một số doanh nghiệp thành lập mới có số vốn đăng ký lớn như CTCP Tập đoàn D&N (2.600 tỷ đồng), CTCP Giải pháp năng lượng VINES Hà Tĩnh (1.800 tỷ đồng); Công ty TNHH T&T Land Thạch Bình (900 tỷ đồng). Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 417 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 27% so với cùng kỳ năm 2020), 136 doanh nghiệp giải thể (tăng 17% so với cùng kỳ năm 2020); doanh nghiệp có phát sinh thuế chỉ chiếm 47%. Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp trong năm qua là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 6.2 Thu hút đầu tư Tiếp tục kêu gọi, kết nối, làm việc, xúc tiến dự án đầu tư với các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu trong sản xuất linh kiện ô tô, đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp, hạ tầng đô thị, du lịch, dịch vụ tại khu kinh tế và các khu du lịch biển. Trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết về phát triển Khu kinh tế Vũng Áng giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Tính đến ngày 15/11/2021, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 52 dự án đầu tư, trong đó: 51 dự án trong nước với tổng số vốn đăng ký trên 14.600 tỷ đồng và 01 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với tổng số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD (riêng trong quý IV chấp thuận chủ trương đầu tư 02 dự án lớn là Nhà máy sản xuất Cell Pin của tập đoàn Vingroup (8.800 tỷ đồng), Nhà máy luyện gang thép của Công ty cổ phần gang thép Vũng Áng (2.268 tỷ đồng). Xúc tiến đầu tư chuỗi du lịch dịch vụ ven biển; triển khai lập quy hoạch các Tổ hợp dự án nghỉ dưỡng và sân golf tại huyện Lộc Hà (xã Thịnh Lộc), huyện Cẩm Xuyên (xã Cẩm Dương), thị xã Kỳ Anh (xã Kỳ Ninh). Khánh thành đưa vào hoạt động giai đoạn 1 Nhà máy sản xuất, chế biến lâm sản tiêu thụ nội địa và xuất khẩu An Việt Phát với tổng mức gần 1.300 tỷ đồng tại Khu kinh tế Vũng Áng. Xúc tiến khởi công dự án Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy Nhà máy sản xuất Cell Pin. Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong năm 2021 vừa qua tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh nhà. 6.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả điều tra các doanh nghiệp về xu hướng sản xuất kinh doanh trong năm 2022 thì các doanh nghiệp đã có một số nhận định như sau: *Đối với Doanh nghiệp hoạt động xây dựng Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng tiếp tục gặp khó khăn trong năm 2022, có 59,44% ý kiến cho rằng khó khăn hơn, 25,17% ý kiến cho rằng không thay đổi và 10,49% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Trong đó: Doanh nghiệp ngoài nhà nước có 59,42% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 60% ý kiến cho rằng khó khăn hơn. Quý đầu năm chủ yếu thi công các công trình chuyển tiếp, công trình mới chưa được giao vốn và triển khai thi công, do đó các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động xây dựng. *Đối với Doanh nghiệp hoạt động công nghiệp Năm 2022, các doanh nghiệp nhận định sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng lên và giữ nguyên so với năm 2021. Cụ thể: - Doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo năm tiếp theo vẫn giữ nguyên chiếm tỷ trọng lớn (52,27% doanh nghiệp); tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng tăng lên là 31,82% và chỉ có 15,91% doanh nghiệp cho rằng năm tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại. - Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo năm tiếp theo vẫn giữ nguyên chiếm tỷ trọng lớn nhất (50%); Trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 18,18%. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ chững lại và giữ nguyên trong năm tiếp theo. Các doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao (61,11%). Điều này cho thấy trước tình hình dịch bệnh đang diễn ra trên thế giới, số lượng hàng hóa sản xuất cho tiêu thụ trong và xuất khẩu ra nước ngoài vẫn tiếp tục giữ ổn định trong năm 2022. - Với tình hình thực tế hiện nay, đa số các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động năm tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong năm tiếp theo chiếm đến 72,73% doanh nghiệp, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 15,91% và chỉ có 11,36% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động. 7. Giá cả, lạm phát Tháng 12 củng như 12 tháng năm 2021, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ như: Nhóm hàng lương thực, may mặc, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, lương thực, nhiên liệu xăng dầu, hàng điện tử, đồ uống; Tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến một số dịch vụ giải trí tiếp tục phải tạm ngừng hoạt động. Xuất khẩu hàng hóa gặp khó khăn, ảnh hưởng đến cung cầu tiêu dùng trong tỉnh - Tháng 12 năm 2021, chỉ số giá CPI chung giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,22% (so cùng kỳ tăng 2,46%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% (so cùng kỳ tăng 3,82%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19% (so cùng kỳ tăng 1,51%); thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% (so cùng kỳ tăng 0,19%); bưu chính viễn thông tăng 0,01% (so cùng kỳ trước tăng 0,07%); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,21% (so cùng kỳ tăng 0,66%); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,09% (so cùng kỳ tăng 1,97%); 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,35% (so cùng kỳ giảm 3,91%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,51% (nhưng so cùng kỳ tăng 3,06%); giao thông giảm 1,36% (nhưng so cùng kỳ tăng 12,14%). - Tính chung cả năm 2021, chỉ số giá CPI tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,96%; nông thôn tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,68%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,97%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giao thông tăng 7,54%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; giáo dục tăng 9,93%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng năm 2021 tăng là do giá cả nhóm vật liệu xây dựng, xăng dầu và khí đốt hóa lỏng có mức tăng cao hơn nhiều so cùng kỳ năm trước theo xu hướng của thị trường thế giới. Bên cạnh đó tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động cung ứng hàng hóa từ các tỉnh khác và nhập khẩu từ nước ngoài gặp khó khăn; các mặt hàng nông sản sản xuất trong nước cũng gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ. Đặc biệt, nguồn tiền của các nhóm đối tượng làm việc tại ngoại tỉnh và nước ngoài gửi về giảm, thu nhập của người dân nhìn chung giảm mạnh khiến nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ giảm sút. Cùng với đó là dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp, kéo dài đã ảnh hưởng đến nguồn cung ứng ra thị trường và nhu cầu tiêu dùng của người dân. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 01/2022 sẽ tăng mạnh so tháng 12/2021. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ, Tết Nguyên đán rơi vào thời điểm cuối tháng, dẫn tới nhu cầu và giá cả hầu hết các nhóm hàng hóa dịch vụ đều tăng mạnh. Để bảo đảm nguồn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, các siêu thị lớn, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đang có sự chuẩn bị về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu…Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống cũng như sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.8. Hoạt động thương mại, dịch vụ 8.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2021 khá ảm đạm. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và cả nước vào những ngày cuối tháng 4 đến nay nên UBND tỉnh nhiều lần đã có các văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động dịch vụ để phòng chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc thực hiện cách ly y tế nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh qua các tháng. - Tổng mức bán lẻ hàng hoá: Tháng 12/2021 ước đạt 3.837,58 tỷ đồng, tăng khá so với tháng trước (tăng 6,84%) nhưng lại giảm sâu so với cùng kỳ năm trước (giảm 11,62%) chủ yếu do sự suy giảm của thu nhập dân cư do dịch bệnh giảm sức mua ở các mặt hàng xa xỉ như ô tô các loại; các mặt hàng thiết bị gia đình, may mặc cũng giảm mạnh. Ước cả năm 2021 đạt 41.939,38 tỷ đồng tăng 1,99% so với năm trước, nhưng thấp hơn mức tăng của năm 2020. Trong mức tăng của tổng mức bán lẻ 5 nhóm mặt hàng tăng mạnh so với năm 2020 do sự tăng mạnh về giá như: Xăng, dầu các loại (23,40%); nhiên liệu khác (35,77%); đá quý, kim loại quý (27,05%); gỗ và vật liệu xây dựng (24,90%); vật phẩm văn hóa giáo dục (13,24%). Bên cạnh đó cũng có 3 nhóm mặt hàng giảm so với năm 2020 gổm nhóm hàng lương thực, thực phẩm (giảm 1,88%); đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (giảm 7,75%); ô tô con (giảm 6,10%). Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong cả năm 2021 gặp nhiều hạn chế hơn so với năm 2020. Luân chuyển hàng hóa gặp khó khăn, nhất là giữa các địa phương xuất hiện dịch bệnh Covid-19. Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân có xu hướng giảm, trong khi một nguồn thu quan trọng khác là nguồn tiền từ các công dân xuất khẩu lao động nước ngoài, làm công nhân tại các khu công nghiệp gửi về giảm mạnh. Trong khi đó, mặt bằng giá cả chung đều tăng, đặc biệt là các mặt hàng, dịch vụ thiết yếu như lương thực, xăng dầu, khí đốt hóa lỏng đã ảnh hưởng đến nhu cầu hàng hóa. Nhưng tính chung bán lẻ là ngành ít chịu ảnh hưởng nhất từ dịch bệnh và tăng trong khu vực dịch vụ.- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống: Tháng 12/2021 dự tính đạt 260,75 tỷ đồng, tăng 23,08% so với tháng trước, giảm 37,34% so với cùng kỳ năm trước. Ước cả năm 2021 đạt 3.491,20 tỷ đồng, giảm 18,51% so năm trước. Trong đó: Dịch vụ Lưu trú dự tính đạt 110,56 tỷ đồng, giảm 45,20%; Dịch vụ ăn uống dự tính 3.380,64 tỷ đồng, giảm 17,19% so với năm trước. Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và cả nước vào những ngày cuối tháng 4 đến nay UBND tỉnh nhiều lần đã có các văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động dịch vụ để phòng chống dịch. Các hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà hàng ăn uống tạm ngừng hoạt động liên tục hoặc sắp xếp giãn cách chỗ ngồi dưới 50%, các quán điểm ăn uống vỉa hè; quán cà phê, dịch vụ giải khát chỉ được bán đưa về. Có rất nhiều doanh nghiệp, cá thể đã phải giải thể, chuyển hướng kinh doanh. Vì vậy, dù đã trở lại hoạt động nhưng để khôi phục ngành Lưu trú ăn uống vẫn cần thêm thời gian cũng như hi vọng những tín hiệu khả quan từ công tác phòng chống dịch. - Doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch: Các đơn vị kinh doanh lữ hành vẫn đang ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu từ tháng 6 đến nay. Năm 2021 ước đạt 7,35 tỷ đồng, giảm 36,37% so với năm trước. Ngành du lịch chịu ảnh hưởng rất lớn từ dịch, cùng với những khuyến cáo hạn chế đi lại. Hoạt động kinh doanh tại địa điểm du lịch như biển Thiên Cầm, Thạch Bằng, Xuân Hải dừng hoạt động kể cả trong những mùa du lịch, dẫn đến ngành du lịch tiếp tục đà giảm sâu từ năm 2020 qua đến năm nay. - Hoạt động dịch vụ khác: Tháng 12/2021 ước tính đạt 99,59 tỷ đồng, tăng 19,35% so với tháng trước và giảm 35,99% so với cùng kỳ năm trước. Ước cả năm 2021, doanh thu hoạt động dịch vụ khác đạt 1.339,65 triệu đồng, giảm 13,87% so với cùng kỳ năm trước, đây là năm giảm lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 160,74 tỷ đồng, giảm 18,78%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 378,92 tỷ đồng, tăng 9,42%; giáo dục đào tạo ước đạt 54,56 tỷ đồng, giảm 36,65%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 197,57 tỷ đồng, tăng 11,41%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 98,75 tỷ đồng, giảm 36,31%; dịch vụ khác ước đạt 449,10 tỷ đồng, giảm 24,41%.8.2. Hoạt động vận tải Những tháng cuối năm đánh dấu sự trở lại của các hoạt động vận tải, kho bãi nhưng tính chung cả năm hoạt động vận tải vẫn khó phục hồi. Hi vọng với những chính sách mới trong việc thực hiện mục tiêu kép phòng chống dịch và phát triển kinh tế, hoạt động vận tải, kho bãi sẽ sớm khôi phục lại. Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 12/2021 ước đạt 351,94 tỷ đồng, tăng 6,25% so tháng trước và giảm 27,76% so cùng kỳ năm trước. Do các loại hình vận tải vừa trở lại hoạt động vào những tháng cuối năm nhưng về vận tải hành khách công cộng như xe buýt, taxi cũng chỉ hoạt động được thời gian ít và chỉ được chở tối đa 50% lượng khách. Trong khi đó, vận tải hàng hoá không ảnh hưởng nhiều bởi dịch nên có giảm nhẹ so với cùng kỳ, hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng nhẹ do số lượng tàu cập cảng ổn định, lượng hàng hóa thông qua cảng không giảm nhiều do hàng thông qua cảng chủ yếu là nguyên vật liệu và thép qua cảng Sơn Dương của Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa. Tính chung 12 tháng năm 2021 doanh thu vận tải, kho bãi đạt 4.341,47 tỷ đồng, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: + Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 839,80 tỷ đồng, giảm 42,82% so với năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11.584,97 nghìn HK, giảm 42,83% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 1.927,50 triệu HK.km, giảm 46,40% so với năm trước. + Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.623,56 tỷ đồng, giảm 8,60% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 29.179,13 nghìn tấn, giảm 9,1% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 744,17 triệu tấn.km, giảm 10,57% so với năm trước. + Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 878,11 tỷ đồng, tăng 12,47% so với năm trước. Hiện nay, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân tích cực triển khai thực hiện nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, dần đưa các hoạt động kinh doanh dịch vụ trở về trạng thái “bình thường mới”. Có thể thấy, tình hình hoạt động thương mại của tỉnh trong những năm qua sự chuyển biến cơ bản về phương thức hoạt động, chủng loại hàng hoá kinh doanh. Trong những năm gần đây, người tiêu dùng có xu hướng chuyển việc mua sắm từ các chợ, trung tâm thương mại truyền thống sang các điểm bán lẻ trên đường phố, ngõ, xóm, các cửa hàng tiện ích. Ngoài ra chú trọng công tác phát triển hạ tầng thương mại, phát triển dịch vụ chất lượng cao, dịch vụ logistics. Cùng với đó, nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực phòng vệ, gian lận thương mại, chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh là động lực để khu vực thương mại dịch vụ tăng trưởng trong thời gian tới. 8. 3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mặc dù ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong năm 2021 của Hà Tĩnh ước đạt 5,3 tỷ USD, tăng 55,88% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra. Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 ước đạt 2 tỷ USD, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do giá thép tăng cao nên Formosa đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 1,9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh). Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,3 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa (gần 2,9 tỷ USD). Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia hoạt động xuất khẩu, xuất nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị phục vụ sản xuất, hàng hóa; hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường… Hà Tĩnh xây dựng Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025. Đồng thời ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyên container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Dân số, lao động và việc làm Dân số trung bình năm 2021 ước tính 1.314.056 người, tăng 1,34% so với năm 2020 (tăng 17.434 người). Trong đó: Dân số thành thị 293.012 người, chiếm 22,29%; dân số nông thôn 1.021.044 người, chiếm 77,71%; dân số nam 650.793 người, chiếm 49,52% và dân số nữ 663.263 người, chiếm 50,48%. Ước năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 692.514 người, chiếm 52,7% dân số toàn tỉnh và tăng 3,08% so với năm 2020. Trong đó lực lượng lao động nam là 332.653 người, chiếm 48,03% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lưc lượng lao động nữ là 359.861 người, chiếm 51,97%; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 145.019 người, chiếm 20,94%; nông thôn là 547.495 người chiếm 79,06%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2021 là 71,06%, trong đó: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 71,97%, cao hơn 1,86 điểm phần trăm so với nam; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 70,07%, thấp hơn 1,26 điểm phần trăm so với ở nông thôn. Ước năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 675.634 người, chiếm 97,56% so với lực lượng lao động và tăng 3,25% so với năm 2020. Trong đó, lao động có việc làm ở thành thị là 139.552 người, chiếm 20,65%; ở nam giới là 322.108 người, chiếm 47,67%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 349.247 người, chiếm 51,69% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 120.169 người, chiếm 17,79%; ngành dịch vụ là 206.219 người, chiếm 30,52%. Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2021 là 22.568 người, đạt 102,58% kế hoạch năm 2021, tăng 13,45% so với năm 2020. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 11.539 người, chiếm 51,13% trong tổng số, giảm 5,73%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 5.442 người, chiếm 24,11%, tăng 90,95%; xuất khẩu lao động 5.587 người, chiếm 24,76%, tăng 16,32%. Ước năm 2021, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 16.880 người, chiếm 2,44% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2021 ước tính là 3,07%, giảm 0,11 điểm phần trăm so với năm 2020. 2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Năm 2021 thời tiết tương đối thuận lợi tạo điều kiện cho bà con nông dân tập trung sản xuất. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid, các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm, hỗ trợ các đối tượng kịp thời. Tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. - Công tác giảm nghèo: Hà Tĩnh tập trung triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Hiện nay tỉnh không còn huyện nghèo, còn 3/8 xã biên giới, 13 thôn đặc biệt khó khăn được hưởng chương trình 135. Năm 2021 tiến hành tổng rà soát hộ nghèo, cận nghèo nhằm xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2022 -2025 để phân loại và lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021 và các năm tiếp theo. Làm cơ sở thực hiện các chính sách giảm nghèo, chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2022 - 2025. Ngoài ra, xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025 làm căn cứ thực hiện các chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế. Theo kết quả rà soát, tỷ lệ hộ nghèo là 3,03% (11.566 hộ, tương ứng 23.615 khẩu) giảm 0,48 điểm phần trăm so với năm 2020; tỷ lệ hộ cận nghèo là 4.11% (15.675 hộ, tướng ứng 47.315 khẩu) giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm 2020. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: đến nay, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 419.350 suất quà với tổng số tiền khoảng 112.486 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể: quà cho người có công: 224.304 suất quà trị giá khoảng 51.500 triệu đồng; quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất quà trị giá khoảng 10.636 triệu đồng; quà người cao tuổi: 29.627 suất quà trị giá khoảng 9.557 triệu đồng; quà trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: 90.500 suất quà trị giá khoảng 16.500 triệu đồng; quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội: 54.225 suất quà trị giá khoảng 24.293 triệu đồng. Cấp khoảng 13.605 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.558 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 163.470 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 98.917 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Năm 2021 tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công khoảng 224.304 suất quà trị giá khoảng 51.500 triệu đồng. Trao tặng 82 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 646 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 1.876 nhà kinh phí khoảng 119.185 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 49 nhà kinh phí khoảng 1.793 triệu đồng. Nhìn chung, công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo. 3. Giáo dục, đào tạo - Giáo dục phổ thông: trên cơ sở những kết quả đạt được của năm học trước, năm học mới 2021-2022 ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, toàn tỉnh có 667 trường mầm non và phổ thông, 10.636 lớp, 18.172 giáo viên và 329.333 học sinh. Trong đó: Giáo dục mầm non: 254 trường, 2.846 lớp, 4.819 giáo viên và 76.567 học sinh; Tiểu học: 221 trường (220 trường công lập, 01 trường tư thục), 4.229 lớp học, 5.775 giáo viên và 131.971 học sinh; Trung học cơ sở: 147 trường (147 trường công lập), 2.369 lớp học, 4.806 giáo viên và 78.310 học sinh; Trung học phổ thông: 45 trường (39 trường công lập, 1 trường dân lập, 5 trường tư thục), 1.192 lớp, 2.772 giáo viên và 42.485 học sinh. - Giáo dục đào tạo: Chỉ tiêu tuyển sinh vào trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy năm 2021 là 1.691 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.641 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 17.100 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 1.200 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 4.700 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 11.200 người. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. 4. Hoạt động Y tế Quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, năm 2021, ngành Y tế đã phối hợp với chính quyền địa phương triển khai quyết liệt giải pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc khoanh vùng rộng, phong tỏa hẹp, xét nghiệm nhanh, truy vết thần tốc để xử lý triệt để ổ dịch. Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tốc độ tiêm vắc-xin và tiếp tục linh hoạt trong việc cách ly, điều trị cho bệnh nhân COVID-19. - Tình hình dịch Covid 19: Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến nay là 1.436 ca mắc, trong đó Thành phố Hà Tĩnh 86 ca, TX Hồng Lĩnh 30 ca, Hương Sơn 77 ca, Đức Thọ 178 ca, Vũ Quang 25 ca, Nghi Xuân 106 ca, Can Lộc 163 ca, Hương Khê 92 ca, Thạch Hà 166 ca, Cẩm Xuyên 128 ca, huyện Kỳ Anh 201 ca, Lộc Hà 89 ca, TX Kỳ Anh 43 ca, nhập cảnh, ngoại tỉnh 52 ca. Toàn tỉnh đã có 11/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 207 người, trong đó đã có 70 ca khỏi bệnh. Đến nay, Hà Tĩnh đã có 99,7% người dân từ 18 tuổi trở lên đã tiêm ít nhất 1 mũi và 70% đã tiêm 2 mũi vắc-xin phòng COVID-19; 97% trẻ em từ 12 đến dưới 18 tuổi đã được tiêm mũi 1. Ngành y tế đang triển khai tiêm vắc-xin đợt 2 cho người từ 18 tuổi trở lên và tiêm đợt 4 cho trẻ em. - Tình hình dịch bệnh khác: trong tháng trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca sốt xuất huyết, 1 ca mắc bệnh quai bị, 8 ca mắc lỵ trực trùng; 11 ca mắc lỵ a míp; 14 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.127 ca mắc bệnh cúm, tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết vì do các bệnh trên trên. Năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 33 ca mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp nào tử vong vì dịch. Ngoài ra, còn có 9 ca mắc sốt xuất huyết (giảm 85,93% so với cùng kỳ năm trước), 1 ca mắc sốt rét (giảm 99,62%), 93 ca viêm não do vi rút (tăng 106,66%), 39 ca mắc bệnh quai bị (giảm 69,04%), 133 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 24,0%); 287 ca mắc lỵ a míp (tăng 11,24%); 723 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 13,68%), 16.237 ca mắc bệnh cúm (giảm 26,56%), tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Thực hiện chương trình mục tiêu y tế, trong năm 2021, ngành Y tế phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể triển khai có hiệu quả công tác phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh có 4 người nhiễm mới HIV, 3 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. Năm 2021 toàn tỉnh có 55 người nhiễm mới HIV, 50 người chuyển thành AIDS và 02 người chết vì AIDS, so năm 2020 số người nhiễm mới HIV giảm 20 người (giảm 26,67%), số người chuyển thành AIDS giảm 20 người (giảm 28,57%), số người chết vì AIDS giảm 7 người (giảm 77,77%). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: An toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 172 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 9 ca ngộ độc tập thể, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 61 ca (tăng 54,95%), số ca tử vong không thay đổi. Năm 2021 đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 1.244 ca ngộ độc đơn lẻ; So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc không đổi, số ca ngộ độc tập thể tăng 29 người (tăng 120,83%), số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 95 ca (tăng 8,26%).5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Năm 2021, hoạt động văn hóa có phần trầm lắng do chịu tác động của dịch Covid – 19 kéo dài. Vì vậy, trong thời gian này, chủ yếu tập trung công tác tuyên truyền về phòng chống dịch Covid-19 thông qua các phương tiện truyền thông như: đài truyền hình, báo chí, đặc biệt là loa đài tại các tổ dân phố, thôn, xóm liên tục và thường xuyên đưa tin về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống dịch để người dân nắm rõ và yên tâm. Tổ khúc dân ca ví giặm “Can Lộc chung tay đẩy lùi COVID-19” ra đời và tạo được hiệu ứng tích cực trong cộng đồng, trở thành bài tuyên truyền phòng chống dịch tại các địa phương trên toàn tỉnh. Ngoài ra, còn tập trung chỉ đạo triển khai các cụm pano, áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước: Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), ngày Giải phóng Miền Nam (ngày 30 tháng 4), ngày Quốc tế lao động (ngày 01 tháng 5), ngày Quốc khánh 02/9; tuyên truyền, xây dựng tin bài, phóng sự về cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Năm 2021, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 14 cuộc thanh, kiểm tra. Qua kiểm tra 268 cơ sở (105 tổ chức, 163 cá nhân) lập 248 biên bản kiểm tra, xử lý vi phạm 7 trường hợp, nộp 35 triệu đồng vào ngân sách nhà nước. - Hoạt động thể thao: Tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động. Phong trào tập luyện thể dục thể thao gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” diễn ra sôi nổi phù hợp và thích ứng với diễn biến của dịch Covid-19, thu hút nhiều người tham gia. Đến nay có 74/216 đơn vị cấp xã tiến hành khai mạc và tổ chức các môn thi đấu trong khuôn khổ Đại hội Thể dục – Thể thao (đạt 34,25%). Trước khi dịch bùng phát, đã tổ chức thành công một số giải thể thao cấp tỉnh như Giải Việt dã và Giải Bóng chuyền nam Đại hội Thể dục thể thao toàn tỉnh lần 11 hay Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh lần thứ XIII năm 2021. Năm 2021 Hà Tĩnh tham gia 18 giải thành tích cao đạt 103 huy chương các loại ((37 huy chương vàng (HCV), 22 huy chương bạc (HCB), 44 huy chương đồng (HCĐ)), trong đó 01 giải quốc tế với 3 loại huy chương (1 huy chương vàng, 2 huy chương đồng. Dưới đây là một số môn đạt thành tích cao: Điền kinh 03 giải đạt 30HC (11V-6B-13Đ, giải Điền kinh cúp tốc độ TP HCM xếp nhì toàn đoàn; Môn Pencak Silat 02 giải đạt 13HC (4V-3B-6Đ); Môn Karate 02 giải đạt 33HC (13V-6B-14Đ), Giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên xếp thứ nhì toàn đoàn; Môn Đua thuyền 04 giải đạt 21HC (8V-5B-8Đ); Môn Muay 01 giải đạt 4HC (1V-1B-2Đ); Vovinam 01 giải đạt 2HC (1B-1Đ); Bóng chuyền thi đấu vòng I Giải vô địch quốc gia xếp thứ 2 bảng A (xếp thứ 4 vòng I) được tham gia Giải bóng chuyền vô địch quốc gia Cup Hùng Vương năm 2021. 6. Tình hình an toàn giao thông Từ ngày 15/11 - 14/12/2021 xảy ra 17 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 13 người, bị thương 7 người, thiệt hại tài sản 196 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: giảm 1 vụ, tăng 2 người chết, giảm 11 người bị thương. Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra, so với cùng kỳ năm trước ổn định. Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/12/2021 xảy ra 115 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 96 người, bị thương 50 người, thiệt hại tài sản 844 triệu đồng. So với với năm trước: giảm 9 vụ (giảm 6,50%), giảm 7 người chết (giảm 6,8%), giảm 14 người bị thương (giảm 21,87%). Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông. 7. Tình hình thiên tai Năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 12 đợt thiên tai đã làm 3 người chết, 4 người bị thương; 666 nhà bị hư hỏng; 12.025,8 ha lúa; 1.452,7 ha hoa màu; 900 con gia cầm, 3 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 187.280 triệu đồng. So với năm trước tăng 1 vụ, giảm 3 người chết, giảm 42 người bị thương. Trong đó, vụ gây ảnh hưởng nặng nề nhất là vụ mưa lũ do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 8 và của không khí lạnh, kết hợp với rìa bắc dải hội tụ nhiệt đới nên từ ngày 15/10 - 18/10/2021 đã làm 199 nhà bị hư hại, 60 ha lúa, 552,4 ha hoa màu, 500 con gia cầm bị cuốn trôi và chết…tổng thiệt hại ước tính 140.113 triệu đồng. 8. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/11/2021 đến ngày 14/12/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ cháy, không có người chết và bị thương với tổng giá trị thiệt hại ước tính 14 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 số vụ, không đổi; tăng 1 người chết; giảm 1 người bị thương. Tính chung cả năm 2021, xẩy ra 63 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 6.355 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 4 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/11 đến ngày 14/12/2021 đã phát hiện 21 vụ, đã xử lý 21 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.470,5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2020 tăng 14 vụ (tăng 200%) đã phát hiện, tăng 15 vụ (tăng 250%) đã xử lý, số tiền xử phạt tăng 1.398,60 triệu đồng (tăng 1.945,20%). Năm 2021 đã phát hiện 164 vụ, đã xử lý 123 vụ, tổng số tiền xử phạt 2.867,85 triệu đồng; so với năm 2020 tăng 116 vụ (tăng 241,67%) đã phát hiện, tăng 80 vụ (tăng 186,05%) đã xử lý, tăng 2.538,45 triệu đồng (tăng 770,63%). III. DỰ BÁO, ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Năm 2022 tiếp tục là một năm khó khăn đối với tỉnh nhà trong thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH khi mà tình hình Dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp; mặc dù tỷ lệ tiêm chủng ở trong nước, trong tỉnh dần được phủ kín nhưng chưa đồng đều; các chuỗi cung ứng và các liên kết sản xuất có thể bị gián đoạn cùng với tình trạng thiếu hụt lao động; giá năng lượng, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng sẽ gây áp lực lớn đến lạm phát. Việc bảo vệ sức khoẻ và ổn định sản xuất, giữ vững an ninh và an sinh xã hội là thách thức đòi hỏi nỗ lực rất lớn của Chính quyền cùng doanh nghiệp và người dân. Đứng trước những khó khăn nêu trên, để hoàn thành đồng thời 02 nhiệm vụ: Vừa chiến thắng dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho người dân, vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây: Một là, Tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh. Không chủ quan, lơ là; cách ly có chọn lọc, linh hoạt, thích ứng với trạng thái bình thường mới; nâng cao năng lực xét nghiệm tại các cửa khẩu, bến cảng cùng với năng lực điều trị bệnh Covid-19, năng lực tiêm chủng tại các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân. Hai là, Huy động sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, khơi dậy sức mạnh văn hoá của người Việt Nam để mỗi người dân là một chiến sĩ trong việc tự bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân và gia đình, bảo vệ doanh nghiệp, cơ quan, trường học không bị nhiễm virus. Ba là: Triển khai thực hiện kịp thời các chính sách giảm, giãn thuế; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo việc làm và thu nhập tối thiểu cho người lao động. Bốn là: Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất các vụ trong năm; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. Năm là: Tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.Sáu là: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong tất cả các hoạt động hành chính của cơ quan Nhà nước, nhất là những nơi thực hiện dịch vụ hành chính công - xem đây là nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng chính quyền điện tử phục vụ người dân, từ đó thay đổi tư duy quản lý, phương pháp quản trị điều hành trong toàn xã hội. Tranh thủ thời cơ đẩy nhanh việc số hoá dữ liệu ở tất cả cơ quan, nhất là dữ liệu dân cư, dữ liệu doanh nghiệp. Khuyến khích thành lập doanh nghiệp mới trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin, tài chính, giáo dục, y tế./.[1] Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 tỉnh Thanh Hóa: 8,85%; Nghệ An: 6,2%; Quảng Bình: 4,83%; Quảng Trị 6,5%; Thừa Thiên Huế: 4,36%. [2] Kỳ họp thứ 18 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%[3] Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hà Tĩnh năm 2017: 9,9%; năm 2018: 20,85%; năm 2019: 9,27%; năm 2020: 0,77%; năm 2021: 5,02%.[4] Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa tiêu thụ nội bộ 5,5 triệu tấn phôi thép.[5] Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ năm 2016:-0,9%; năm 2017: 6,85%; năm 2018: 5,74%; năm 2019: 6,28%; năm 2020: 0,45%; năm 2021: -0,7% .
Báo cáo tình hình kinh tế -xã hội tháng 11 và 11 năm 2021
- 26/07/2024 16:06
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng mười một diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi cho cây trồng; nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất đã không chủ động được nước tưới, một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Các địa phương trong tỉnh tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2021; trong chăn nuôi tuy đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn còn chậm; tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất - chế biến - tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản. 1.1. Sản xuất nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 11/2021 chủ yếu tập trung thu hoạch một số loại rau màu vụ Mùa và tiếp tục sản xuất cây trồng vụ Đông 2021. + Sản xuất vụ Mùa 2021: Diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới. Tuy người dân đã chủ động gieo trồng đúng lịch thời vụ nhưng do ảnh hưởng của thời tiết nên một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2021 sơ bộ đạt 1.308 ha, bằng 98,13% (giảm 25 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lúa sơ bộ đạt 490 ha, bằng 94,58% (giảm 28 ha), cây lấy củ có chất bột sơ bộ đạt 253 ha, bằng 89,6% (giảm 29 ha), diện tích gieo trồng rau các loại sơ bộ đạt 211 ha, bằng 140,09% (tăng 60 ha), diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm khác sơ bộ đạt 209 ha, bằng 93,87% (giảm 14 ha). Nhìn chung, sản xuất vụ Mùa hàng năm trên địa bàn Hà Tĩnh thường gặp bất lợi của điều kiện thời tiết. Chính vì thế nên người dân chưa mặn mà trong việc đầu từ vào sản xuất nên hiệu quả kinh tế mang lại từ vụ sản xuất này rất hạn chế. + Tiến độ sản xuất vụ Đông 2021: Hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2021 đã kết thúc. Tuy nhiên, do đầu vụ thời tiết trên địa bàn có nhiều đợt mưa làm cho đất ướt không gieo trỉa được cho nên kết quả đạt được thấp so với kế hoạch đặt ra. Hiện nay, bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng các loại cây vụ Đông. Ước tính đến ngày 15/11/2021, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2021 là 7.081 ha/11.332 ha, đạt 62,5% kế hoạch, cụ thể: Diện tích ngô lấy hạt 2.405 ha/3.726 ha, đạt 64,5% kế hoạch; diện tích ngô sinh khối 880 ha/1.568 ha, đạt 56,1% kế hoạch; diện tích khoai lang 891 ha/1.480 ha, đạt 60,2% kế hoạch và diện tích rau các loại 2.905 ha/4.558 ha, đạt 63,7% kế hoạch. + Cây lâu năm: Tháng 11 năm 2021, người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Thời điểm này cũng đang là chính vụ thu hoạch các loại cây ăn quả chủ lực của địa phương như cam, chanh..vv. Năm nay, điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao, sản lượng cây ăn quả ước tính đạt 149.310 tấn, bằng 110,17% (tăng 13.782 tấn) so với năm 2020. Mặc dù sản lượng tăng nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, giá bán sản phẩm giảm mạnh so với năm trước nên hiệu quả kinh tế mang lại cho các chủ vườn là không cao. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân. - Tình hình sâu bệnh và thiệt hại: Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Tuy nhiên, để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã đưa ra khuyến cáo về một số loại sâu bệnh gây hại đối với cây ngô như: Sâu keo mùa thu, sâu xám, sâu đục thân, đục bắp, rệp cờ, bệnh khô vằn, bệnh lùn sọc đen Phương Nam...Đối với cây rau là các loại sâu bệnh như: Sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy, rệp muội, bệnh lở cổ rễ (thối gốc), bệnh sương mai…Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ các loại sâu bệnh trên nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi: Hoạt động chăn nuôi trong những tháng đầu quý IV năm 2021 vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Đàn đại gia súc giảm nhẹ, đàn lợn và đàn gia cầm ổn định so với cùng kỳ năm trước. Sau dịch bệnh viêm da nổi cục thì đàn trâu, bò dần phục hồi để tăng đàn nhưng vẫn còn chậm do chi phí đầu tư con giống cao; tổng đàn lợn tuy có tăng nhưng không đáng kể so với cùng kỳ năm trước vì giá lợn hơi bán ra giảm mạnh từ trung tuần tháng 8/2021. Mức giá lợn hơi trên địa bàn Hà Tĩnh bình quân quý II/2021 đạt 69,1 ngàn đồng/kg nhưng sang quý III/2021 đã giảm xuống còn 60,1 ngàn đồng/kg (giảm 13,04%) so với quý trước, trong khi giá thức ăn và các chi phí khác vẫn đang ở mức cao là những rào cản đối với chăn nuôi lợn. Mặc dù dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra trên địa bàn tỉnh, chăn nuôi lợn còn khó khăn nhưng khi giá lợn hơi ổn định trở lại và để bảo đảm nguồn cung lợn thịt phục vụ nhu cầu tăng cao của người tiêu dùng trong dịp Tết sắp tới thì các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn vẫn tiếp tục thả nuôi nhưng với quy mô không có nhiều biến động lớn. Do dịch bệnh trong thời gian qua ít xẩy ra, trong khi giá bán và thị trường tiêu thụ sản phẩm khá ổn định nên đàn gia cầm tiếp tục phát triển. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/11/2021 trên địa bàn tỉnh đang còn có 30 ổ dịch tả lợn Châu phi chưa qua 21 ngày kể từ con gia súc bị tiêu hủy cuối cùng, với đàn lợn mắc bệnh là 693 con, trọng lượng 43.912 kg của 138 hộ ở 74 thôn trên địa bàn 11/13 huyện, thành phố, thị xã (trừ huyện Vũ Quang, Nghi Xuân). Các loại dịch bệnh khác đối với đàn vật nuôi đều đã qua 21 ngày. Tuy dịch bệnh cơ bản được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn rất cao. Vì vậy, cần phải thường xuyên thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi để tránh thiệt hại do dịch bệnh gây ra. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 11 năm 2021, hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn được thực hiện với kết quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Diện tích rừng trồng tập trung tăng 162 ha và sản lượng gỗ khai thác tăng 10.185m3; nếu so với tháng trước thì diện tích rừng trồng tập trung tăng 10,27% (tăng 173 ha) và sản lượng gỗ khai thác cũng tăng 12,53% (tăng 7.151 m3). Nguyên nhân do hiện nay bên cạnh việc trồng rừng thì người trồng rừng cũng đang tập trung khai thác các diện tích đến kỳ thu hoạch trước mùa mưa bão nên cả diện tích và sản lượng khai thác đều tăng. Trong tháng không xẩy ra cháy rừng mà chỉ xẩy ra 5 vụ phá rừng, với diện tích diện tích rừng bị phá 1,14 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 39 vụ phá rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,41 ha (giảm 9,80 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh tháng 11/2021 nhìn chung ổn định, tuy có tăng hơn so với tháng trước nhưng lại giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Tổng sản lượng thủy hải sản ước tăng 193 tấn so với tháng trước, trong đó sản lượng khai thác tăng 534 tấn và sản lượng nuôi trồng giảm 341 tấn. Nguyên nhân do trong tháng 10/2021 bị ảnh hưởng bởi bão số 7 và số 8 trên biển nên tàu thuyền hạn chế ra khơi đánh bắt hải sản hơn so với tháng 11/2021. Mặt khác, sản phẩm nuôi trồng cũng đã được thu hoạch từ những tháng trước để tránh thiệt hại do mưa lũ gây ra nên sản lượng nuôi trồng tiếp tục giảm. Tính chung 11 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước tính chỉ tăng nhẹ 1,1% (tăng 566 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua không có nhiều sự thay đổi nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản cũng chỉ giữ được ở mức ổn định, không có nhiều biến động lớn. Những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. - Dịch bệnh trên tôm nuôi: Tính từ ngày 15/10 đến ngày 15/11/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà, với diện tích nhiễm bệnh là 0,9 ha và 0,2 ha bệnh hoại tử gan tụy cấp. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại 16 xã thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 45,94 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,22 ha. Đến nay, dịch bệnh đốm trắng trên tôm tại xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà vẫn chưa qua 15 ngày. Ngành chức năng và các hộ nuôi đang tập trung xử lý để kiểm soát không để lây lan dịch bệnh. 2. Sản xuất công nghiệp Trong bối cảnh dịch Covid-19 tái bùng phát trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp công nghiệp Hà Tĩnh đã đã linh hoạt triển khai nhiều giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 11 tháng năm 2021 ước tăng 14,35% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế đóng góp lớn điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của ngành. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) chính thức tháng 10 năm 2021 tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,20%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,65%; sản xuất và phân phối điện giảm 29,35%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,12%. Ước tính tháng 11/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 10/2021 tăng 1,97% và tăng 7,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,39% so với tháng trước và giảm 1,98% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,73% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 11,74%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 55,42% so với tháng trước và giảm 15,24% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,99% so với tháng trước và giảm 1,26% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 14,35% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,41%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,55%, đóng góp 15,8 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,03%, làm giảm 1,37 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,21%, làm giảm 0,19 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 11 tháng năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai thác quặng kim loại tăng 47,06%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 28,56%; sản xuất kim loại tăng 22,87%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 22,36%. Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có tới 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 11 tháng năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai thác quặng kim loại tăng 47,06%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,98%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 28,56%; sản xuất kim loại tăng 22,87%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 22,36%. Bên cạnh đó có 9 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 11 tháng năm 2021 giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 27,96%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 10,11%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 9,08%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí giảm 7,03%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 3,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 1,93%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 1,49%; sản xuất trang phục giảm 1,07%; sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất giảm 0,85%. 3. Đầu tư Trong tháng 11 vừa qua tình hình thời tiết khá thuận lợi, mặc dù dich Covid-19 diễn biến khá phức tạp, số ca trong cộng đồng ngày một tăng; song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, tình hình dịch vẫn nằm trong kiểm soát và được khống chế, đảm bảo an toàn cho sản xuất, kinh doanh; một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ; các Sở, ban ngành, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ. Bên cạnh đó, bám sát dự án, quyết liệt trong công tác giải phóng mặt bằng để đảm bảo đúng tiến độ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Vì vậy tổng vốn đầu tư thực hiện tháng 11/2021 tăng 6,85% so với tháng trước và tăng 113,95% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2021 ước đạt 875,72 tỷ đồng, tăng 6,85% so với tháng trước và tăng 113,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 729,47 tỷ đồng, tăng 11,74% so với tháng trước và tăng 215,4% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 93,25 tỷ đồng, giảm 8,46% so với tháng trước và giảm 32,59% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 53 tỷ đồng, giảm 18,36% so với tháng trước và tăng 87,96% lần so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nguồn vốn, bao gồm các nguồn vốn chính là nguồn cân đối ngân sách tỉnh và nguồn vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu. Nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh được giao từ đầu năm và được bổ sung hàng tháng đến thời điểm tháng 11 là 1.155,8 tỷ đồng và thực hiện đạt 87,21% kế hoạch năm; vốn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu được giao là 3.279,93 tỷ đồng và thực hiện đạt 80,85% kế hoạch năm. Tính đến tháng 11, các công trình xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã đã vào giai đoạn hoàn thành và hoàn tất thủ tục thanh toán giải ngân vốn cuối năm, vì vậy giá trị thực hiện đầu tư công trình thuộc nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã giảm dần trong các tháng cuối năm. Nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ theo mục tiêu đấy mạnh thi công trong các tháng cuối năm để kịp tiến độ đề ra, đặc biệt là chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới “xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu”, phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021 các địa bàn đăng ký ban đầu. Do đó, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 11/2021 tăng 6,85% so với tháng trước. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 11, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp; từ đầu tháng xuất hiện nhiều ca F0 trong cộng đồng, tuy nhiên các cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn được phép hoạt động theo Nghị quyết số 128/NQ-CP quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” nhưng không vượt quá 50% công suất, không quá 30 người trong cùng thời điểm và chỉ được hoạt động đến 21 giờ đêm, cộng với tâm lý e ngại của người dân dẫn đến hoạt động thương mại, dịch vụ toàn tỉnh chưa có nhiều biến chuyển. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn thời gian qua tiếp tục có những tín hiệu khả quan, nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn còn giảm khá sâu. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2021 đạt 3.482,11 tỷ đồng, tăng 2,41% so với tháng trước và giảm 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng doanh thu lớn tăng so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm tăng 3,36%; xăng dầu các loại tăng 2,22%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 4,97%. Bên cạnh đó, có 4/12 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước, trong đó giảm mạnh ở 2 nhóm hàng là phương tiện đi lại giảm 10,49%; và vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 5,73%. Tính chung 11 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 37.992,14 tỷ đồng, mặc dù có tăng nhưng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước (tăng 3,29%) và chủ yếu tăng ở các nhóm ngành hàng sau: Nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 37,26%; đá quý, kim loại quý tăng 28,30%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 26,57%; xăng, dầu các loại tăng 21,47%. Nguyên nhân chính của việc tăng doanh thu chủ yếu do việc tăng giá cao của các mặt hàng trên trong khoảng thời gian từ đầu năm đến nay. Bên cạnh những mặt hàng có mức tăng cao thì nhóm hàng lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng cao trong doanh thu giảm 2,19% so với cùng kỳ. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11/2021 ước đạt 210,90 tỷ đồng, giảm 12,18% so với tháng trước, giảm 46,78% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác tháng 11/2021 ước đạt 83,13 tỷ đồng, giảm 1,74% so với tháng trước và giảm 43,80% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ lữ hành đến tháng 11 vẫn tạm ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu. Tính chung 11 tháng năm 2021, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống ước đạt 3.229,52 tỷ đồng, giảm 46,65%; du lịch lữ hành ước đạt 7,35 tỷ đồng, giảm 29,65%; hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.239,75 tỷ đồng, giảm 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động dịch đến nay đạt mức thấp nhất trong mấy năm gần đây, việc xuất hiện những ca F0 trong cộng đồng càng khiến hoạt động của dịch vụ này vừa có tín hiệu khả quan nay lại càng khó khăn hơn. 4.2. Hoạt động vận tải Kinh doanh vận tải vẫn được hoạt động với điều kiện đảm bảo phòng chống dịch nên tình hình kinh doanh vận tải tháng 11 khả quan hơn so với tháng 10 năm 2021. Kinh doanh vận tải hành khách vẫn hoạt động tối đa 50% công suất, so với vận tải hành khách thì hoạt động vận tải hàng hóa ít bị ảnh hưởng hơn bởi dịch Covid-19. Tuy nhiên, tính chung 11 tháng hoạt động vận tải vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 11/2021 ước đạt 34,34 tỷ đồng, tăng 5,94% so với tháng trước và giảm 74,87% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 402,89 nghìn HK, tăng 5,2% so với tháng trước và giảm 78,34% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 62.892,91 nghìn HK.km, tăng 5,71% so với tháng trước, giảm 80,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng ước đạt 784,22 tỷ đồng, giảm 40,91%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10.987,4 nghìn HK, giảm 40,16% và luân chuyển đạt 1.181.606,4 nghìn HK.km, giảm 44,37%. - Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 11/2021 ước đạt 225,54 tỷ đồng, tăng 6,07% so với tháng trước và giảm 8,27% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 2.537,4 nghìn tấn, tăng 5,35% so với tháng trước và giảm 8,43% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 67.207,2 nghìn tấn.km, tăng 5,5% so với tháng trước và giảm 8,44% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng ước đạt đạt 2.411,86 tỷ đồng, giảm 7,86%; khối lượng vận chuyển ước đạt 26.747,3 nghìn tấn, giảm 8,49% và luân chuyển ước đạt 681.378,1 nghìn tấn.km, giảm 10,09%. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Ước tính tháng 11/2021 đạt 74,66 tỷ đồng, giảm 4,11% so với tháng trước và giảm 14,42% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng ước đạt 796,72 tỷ đồng, tăng 15,84% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, bằng các giải pháp linh hoạt vừa phòng dịch, vừa ổn định sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tháng 11 và 11 tháng năm 2021 duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 11/2021 ước đạt 178,5 triệu USD, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 37,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 163,05 triệu USD tăng 6,17% so với tháng trước và tăng 26,36% so với cùng kỳ; sợi, dệt và hàng may mặc đạt 1,5 triệu USD giảm 4,46% so với tháng trước và tăng 1.053,85% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 4,0 triệu USD giảm 16,49% so với tháng trước. Cộng dồn 11 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.877,16 triệu USD, tăng 75,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 92,22%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Bên cạnh các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng như: Thép, may, sợi dệt, dăm gỗ…thì gạo là mặt hàng xuất khẩu duy nhất có kim ngạch giảm 59,30% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu từ các nước nhập khẩu gạo truyền thống bắt đầu có xu hướng tăng trở lại so với tháng trước tuy nhiên vẫn đang ở mức thấp so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 11/2021 ước đạt 270 triệu USD, tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 103,07% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Cộng dồn 11 tháng năm 2021, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.090,57 triệu USD, tăng 71,51% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong tháng tới, do chính sách đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép giai đoạn sau Covid-19. Cùng với đó tỉnh sẽ tiến hành tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu của tỉnh như hàng nông, lâm, thủy sản phù hợp với tình hình diễn biến của dịch bệnh trên địa bàn, đặc biệt là qua kênh thương mại điện tử. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2021 tăng nhẹ so với tháng trước, tăng chủ yếu ở nhóm giao thông từ việc trở lại hoạt động của loại hình kinh doanh vận tải cộng với việc giá nhiên liệu xăng dầu tiếp tục tăng theo sự điều chỉnh của các cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. - CPI tháng 11 năm 2021 tăng 0,48% so với tháng trước, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,69% so với tháng trước, tăng 1,56% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,39% so với tháng trước và tăng 1,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó tăng mạnh nhất ở các nhóm hàng: Giao thông tăng 2,81%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,80%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,55%. 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm không đáng kể so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,07%. 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Thuốc và dịch vụ y tế va nhóm giáo dục. - Tính chung CPI 11 tháng năm 2021, chỉ số chung 101,49% (tăng 1,49%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,02%; nông thôn tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến, chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 12/2021 tăng hơn so tháng 11/2021. Giá gạo và thịt gia súc có thể tăng cao trong thời gian tới, khi sức ép từ việc chi phí vận chuyển tăng ảnh hưởng đến giá thành hàng hóa. Bên cạnh đó, giá các nhóm hàng may mặc, hàng điện tử, đồ dùng gia đình tiếp tục tăng khi nhiệt độ thời tiết dự kiến giảm mạnh, trong thời gian tới giá điện, nước sinh hoạt xu hướng tiếp tục giảm. - Chỉ số giá vàng tăng 4,2% so với tháng trước, giảm 1,14% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,97% so với tháng trước, tăng 0,89% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng so tháng trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.382 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.341.039 đồng/100 USD. 6. Các vấn đề xã hội Hà Tĩnh đang ở dịch cấp độ 2 - nguy cơ trung bình. Theo đó, Sở VH-TT&DL Hà Tĩnh hướng dẫn tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh kể từ ngày 23/10 cho đến khi có quy định mới. 6.1. Giáo dục Năm học này, ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục hướng đến học sinh phát triển toàn diện. Các cuộc thi được tổ chức để hướng đến mục tiêu trên, cụ thể, ngày 04/11/2021, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Công thương và Công ty Điện lực Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức hội thi “Tìm hiểu kiến thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong trường học năm 2021”, hội thi đã tạo sân chơi bổ ích, giúp nâng cao kiến thức, hiểu biết cho các em học sinh về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Ngày 13/11/2021, Tỉnh đoàn phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức lễ tuyên dương “Nhà giáo trẻ tiêu biểu”, “Sinh viên 5 tốt”, “Học sinh 3 tốt”, “Học sinh 3 rèn luyện” năm 2021. Để đảm bảo an toàn phòng dịch, ban tổ chức đã trao chứng nhận và giải thưởng cho 16 đại biểu (tới từ TP Hà Tĩnh, các huyện Lộc Hà, Can Lộc, Cẩm Xuyên) đại diện cho 68 gương mặt tiêu biểu (20 gương “Nhà giáo trẻ”, 30 gương “Học sinh 3 tốt”, 14 gương “Sinh viên 5 tốt” và 4 gương “Học sinh 3 rèn luyện”). Các cá nhân còn lại sẽ được các huyện, thị, thành Đoàn và Đoàn trực thuộc trao tuyên dương trong các chương trình cấp cơ sở, đảm bảo trang trọng, ý nghĩa. Cũng trong dịp này, Quỹ Học bổng VAS - Vươn cao tinh thần Việt thuộc Công ty Giang thép Nghi Sơn phối hợp Tỉnh đoàn trao tặng 10 máy tính xách tay trị giá 120 triệu đồng, hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn học tập trực tuyến. 6.2. Hoạt động Y tế - Tình hình dịch Covid-19: Hà Tĩnh đánh giá cấp độ dịch ở cấp 2 - nguy cơ trung bình. Cấp huyện, có 9/13 đơn vị cấp độ 1, có 4/13 đơn vị cấp độ 2 (thành phố Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh, TX Kỳ Anh, TX Hồng Lĩnh). Cấp xã có 195/216 đơn vị cấp độ 1, có 18/216 đơn vị cấp độ 2, có 2/216 đơn vị cấp độ 3 (phường Hưng Trí - thị xã Kỳ Anh và xã Lâm Hợp - huyện Kỳ Anh), có 1/216 cấp độ 4 (xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh). Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến 18h ngày 22/11/2021 là 875 ca mắc, đặc biệt từ ngày 04/11/2021 đến 22/11/2021 phát hiện 275 ca, trong đó 96 ca cộng đồng, 52 ca trong các khu vực phong tỏa và 127 ca F0 từ các tỉnh miền Nam về trên địa bàn tỉnh được cách ly ngay. Để chủ động đối phó với tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, ngăn chặn có hiệu quả, không để dịch bệnh lây lan rộng, bảo đảm an toàn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh, Vì vậy, ngày 14/11/2021 Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 7649 /UBND-VX1 về việc tạm dừng một số dịch vụ, hoạt động để phòng, chống dịch COVID-19, theo đó tạm dừng các hoạt động, dịch vụ: Karaoke, xông hơi, massage, bi-a, các điểm cung cấp trò chơi điện tử, điểm truy cập internet công cộng trên địa bàn toàn tỉnh (các cơ sở kinh doanh dịch vụ quán bar, vũ trường vẫn tiếp tục dừng hoạt động). Dự báo tình hình dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh có thể có diễn biến phức tạp do xuất hiện một số ca bệnh cộng đồng chưa rõ nguồn lây, liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều địa điểm, nhiều lĩnh vực phức tạp như các cơ sở kinh doanh, trường học,...; đặc biệt cần cảnh giác với các yếu tố nguy cơ như: Số lượng người dân về từ các tỉnh, thành phía nam về và đi qua địa bàn tỉnh sẽ tăng lên với số lượng rất lớn; một số người đã tiêm 2 mũi vắc xin vẫn có khả năng mắc bệnh, có nguy cơ lây lan; tình hình dịch ở một số tỉnh lân cận có diễn biến phức tạp, vẫn còn xuất hiện các ca cộng đồng. - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều ca mắc bệnh đơn lẻ, cụ thể: 01 ca sốt xuất huyết, 7 ca mắc bệnh quai bị, 15 ca mắc lỵ trực trùng; 67 ca mắc lỵ a míp; 15 ca mắc bệnh thủy đậu, 859 ca mắc bệnh cúm. Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết vì do các bệnh trên trên. So với cùng kỳ năm trước: Giảm 6 ca sốt xuất huyết, giảm 2 ca mắc bệnh quai bị, tăng 15 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, tăng 33 ca mắc bệnh lỵ amíp, giảm 51 ca mắc bệnh thủy đậu, giảm 849 ca mắc cúm. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh phong trào phòng chống các bệnh tệ nạn xã hội, đặc biệt là công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng chống cũng như tác hại của HIV/AIDS đối với cá nhân và cộng đồng. Tính từ ngày 16/10-15/11/2021, Hà Tĩnh có 8 người nhiễm mới HIV (tăng 5 người so với cùng kỳ năm 2020), 6 người chuyển thành AIDS (tăng 3 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 66 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: giảm 2 vụ ngộ độc tập thể, giảm 15 ca ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 29 ca (giảm 30,53%), số ca tử vong không thay đổi. 6.3. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Dân ca ví giặm Nghệ - Tĩnh là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Với mong muốn phát huy vai trò của ngành văn hóa trong cuộc chiến này, đặc biệt là vai trò của dân ca ví giặm. Vì vậy, tổ khúc dân ca ví giặm “Can Lộc chung tay đẩy lùi COVID-19” ra đời và tạo được hiệu ứng tích cực trong cộng đồng, trở thành bài tuyên truyền phòng chống dịch tại các địa phương trên toàn tỉnh. “Nhiều cụ già, em nhỏ, khi nghe ca khúc đã bày tỏ mong muốn được học lời bài hát, được học hát dân ca ví giặm”. Từ tổ khúc dân ca ví, giặm về phòng chống dịch đầu tiên ấy, phong trào sáng tác lời mới cho làn điệu dân ca truyền thống để phục vụ công tác tuyên truyền đã lan tỏa ở nhiều trường học trên địa bàn Can Lộc như: THCS Xuân Diệu, Mầm non Hoa Hồng, Mầm non Trung Lộc…. - Công tác quản lý nhà nước: Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 02 cuộc kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Công ty Cổ phần Golf Xuân Thành. Đã cấp 22 giấy phép, trong đó có 17 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 05 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. - Hoạt động thể thao: Do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên các giải thể thao thành tích cao không diễn ra theo kế hoạch. Các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ. Người tham gia hoạt động tập luyện thể dục thể thao ngoài trời, trong nhà đáp ứng điều kiện đã tiêm ít nhất 01 liều vắc-xin ngừa COVID-19 thời gian đủ 14 ngày trở lên, hoặc đã khỏi bệnh COVID-19 trong vòng 6 tháng, hoặc có giấy xét nghiệm âm tính với COVID-19 theo quy định của Sở Y tế. 6.4. Tai nạn giao thông Tính từ ngày 15/10 - 14/11/2021, Hà Tĩnh xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 7 người, bị thương 8 người, thiệt hại tài sản trên 50 triệu đồng. Giảm 1 vụ tai nạn và tăng 3 người bị thương, nguyên nhân chủ yếu do người tham gia giao thông không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép. Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra. Cộng dồn từ đầu năm đến ngày 14/11/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 98 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 8 vụ so với cùng kỳ), làm chết 83 người (giảm 9 người) và bị thương 42 người (giảm 4 người). Như vậy tính chung 11 tháng năm 2021 tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, vẫn rất cần tuyên truyền nâng cao ý thức người dân nhất là vào những tháng cuối năm. 6.5. Thiệt hại thiên tai Từ ngày 18/10 - 18/11/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 01 vụ thiên tai (gió mạnh trên biển) tuy không có thiệt hại về người nhưng thuyền, máy móc, ngư lưới cụ bị chìm trên biển chưa tìm kiếm được, tổng thiệt hại dự kiến 92 triệu đồng. So với cùng kỳ tháng trước giảm 2 vụ, 6 người chết và 41 người bị thương. Tính chung 11 tháng năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 12 đợt thiên tai đã làm 3 người chết, 4 người bị thương; 666 nhà bị hư hỏng; 12.025,8 ha lúa; 1.452,7 ha hoa màu; 900 con gia cầm, 3 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 187.280 triệu đồng. Trong đó, vụ gây ảnh hưởng nặng nề nhất là vụ mưa lũ do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 8 và của không khí lạnh, kết hợp với rìa bắc dải hội tụ nhiệt đới nên từ ngày 15/10 - 18/10/2021 đã làm 199 nhà bị hư hại, 60 ha lúa, 552,4 ha hoa màu, 500 con gia cầm bị cuốn trôi và chết…tổng thiệt hại ước tính 140.113 triệu đồng. 6.6. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/10/2021 đến ngày 14/11/2021 đã xảy ra 9 vụ cháy (tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm trước), không có thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại ước tính là 88 triệu đồng, các vụ cháy chủ yếu là do chập điện. Trong tháng không xảy ra vụ nổ nào. Tính chung 11 tháng năm 2021, xảy ra 62 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2.741 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 5 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/10 đến ngày 14/11/2021 đã phát hiện 14 vụ, đã xử lý 6 vụ, tổng số tiền xử phạt 97,5 triệu đồng, so với cùng kỳ năm 2020 tăng 7 vụ đã phát hiện, tăng 1 vụ đã xử lý, số tiền xử phạt tăng 55 triệu đồng. Các vụ vi phạm trong tháng chủ yếu là việc xử lý chất thải của dự án, xả nước thải có chứa thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật; việc đánh bắt thủy sản bằng xung điện là một cách khai thác phản khoa học, có tác hại lâu dài phá hủy sinh cảnh, gây ô nhiễm môi trường sống của các loài thủy sản. Vì vậy, Hà Tĩnh đã tăng cường truy quét đấu tranh các đối tượng sử dụng hình thức nói trên. Tính chung 11 tháng năm 2021, đã phát hiện 143 vụ, đã xử lý 102 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.397,35 triệu đồng, so với cùng kỳ năm 2020 tăng 102 vụ đã phát hiện, tăng 65 vụ đã xử lý, tăng 1.139,85 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Báo cáo Kinh tế-Xã hôi tháng 10 và 10 tháng năm 2021
- 26/07/2024 11:37
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng mười diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi cho cây trồng; nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất đã không chủ động được nước tưới, một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Các địa phương trong tỉnh tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2021; trong chăn nuôi tuy đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn còn chậm; tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng sản xuất - chế biến - tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản. 1.1. Sản xuất nông nghiệp - Trồng trọt: Sản xuất trồng trọt trong tháng 10/2021 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2021. + Kết quả sản xuất vụ Mùa: Sản xuất vụ Mùa 2021 diễn ra trong tình hình thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới. Tuy người dân đã chủ động gieo trồng đúng lịch thời vụ nhưng do ảnh hưởng của thời tiết nên một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2021 ước tính đạt 1.308 ha, bằng 98,08% (giảm 25 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình sản xuất vụ Mùa hàng năm trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết diễn biến thất thường, Bên cạnh đó, vụ Mùa hàng năm không phải là vụ sản xuất chính mà chủ yếu với mục đích sản xuất để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân. Vì vậy người dân chưa mặn mà trong việc đầu từ vào sản xuất + Tiến độ sản xuất vụ Đông 2021: Hiện nay, bà con nông dân đang tích cực gieo trồng các loại cây vụ Đông 2021. Ước tính đến ngày 15/10/2021, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm đạt được như sau: Diện tích ngô lấy hạt 655 ha/3.726 ha, đạt 17,6%; khoai lang 326 ha/1.480 ha, đạt 22%; rau các loại 1.788 ha/4.558 ha, đạt 39,2%. Thời gian này trên địa bàn Hà Tĩnh đang có mưa lớn do ảnh hưởng của bão số 8 nên cũng đã ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất các loại cây trồng vụ Đông 2021. + Tình hình sâu bệnh và thiệt hại: Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Nhận định tình hình thời tiết năm nay, theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn Hà Tĩnh từ nay đến hết năm 2021 có khoảng 2-4 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta; tháng 11-12 nhiệt độ khu vực Bắc Trung bộ thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,50C; không khí lạnh có xu hướng hoạt động sớm gia tăng tần suất và cường độ trong tháng 11, hoạt động mạnh hơn trong tháng 12/2021 và tháng 01/2022; mùa mưa có khả năng kết thúc muộn, tổng lượng mưa tháng 10/2021 phổ biến cao hơn so với trung bình nhiều năm từ 30-50%. Vì vậy, sản xuất vụ Đông 2021 đang đứng trước nguy cơ rủi ro lớn do các yếu tố thời tiết bất thuận và diễn biến phức tạp của các đối tượng dịch hại cây trồng. - Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 10 năm 2021 vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Đàn bò, lợn tuy đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn còn chậm. Tổng đàn bò hiện có ước giảm 2,5% và đàn lợn giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên việc tiêu thụ lợn hơi ra địa bàn ngoài tỉnh gặp khó khăn, trong khi giá lợn hơi lại đang xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm đến nay với mức giao động từ 40-43 ngàn đồng/kg, giảm hơn 10 ngàn đồng/kg so với tháng trước, trong khi các chi phí chăn nuôi không giảm nên các trang trại chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, để chuẩn bị đáp ứng nguồn cung thực phẩm cho dịp tết Nguyên đán sắp tới nên các hộ vẫn duy trì và phát triển đàn vật nuôi. Thời gian tới, bên cạnh nguy cơ dịch bệnh thì diễn biến phức tạp của thiên tai, lũ lụt cũng luôn là những khó khăn thách thức đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 17/10/2021, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 128 xã, thuộc 13 huyện, thành phố, thị xã với tổng số lợn mắc bệnh là 15.212 con, trong đó có 14.145 con chết, tiêu hủy với trọng lượng 1.136,9 tấn. Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn 16 xã thuộc 7 huyện, thành phố (Hương Khê, Lộc Hà, huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ và thành phố Hà Tĩnh) đang có các ổ dịch chưa qua 21 ngày kể từ con lợn bị tiêu hủy cuối cùng; dịch LMLM gia súc đã xảy ra tại 05 xã, thuộc 03 huyện (Lộc Hà, Hương Khê, Đức Thọ), làm cho 396 con gia súc mắc bệnh, hiện nay dịch đã qua 21 ngày; dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò đã xẩy ra tại 208 xã, phường, thị trấn của 13 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh làm 17.686 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó có 2.949 con bị chết, hiện nay dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được dập tắt; dịch Cúm gia cầm (H5N6) xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà làm 9.720 con gia cầm mắc bệnh bị tiêu hủy và dịch cúm gia cầm H5N8 xảy ra tại 01 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên làm 3.147 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy. Hiện nay, các ổ dịch cúm gia cầm đã qua 21 ngày. Tuy dịch bệnh cơ bản được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao và luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho người chăn nuôi. Kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/10/2021: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 129.536 liều, đạt 83,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 125.700 liều, đạt 83,6% kế hoạch; dịch tả lợn 145.111 liều, đạt 68,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 144.0853 liều, đạt 69,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 136.733 liều, đạt 98,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,056 triệu liều, đạt 35,5% kế hoạch. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 10/2021, kết quả sản xuất lâm nghiệp giảm hơn so với tháng trước. So với cùng kỳ năm 2020 thì diện tích rừng trồng tập trung tháng 10/2021 giảm 4,05% (giảm 71 ha) và sản lượng gỗ khai thác tăng 4,25% (tăng 2.326 m3); so với tháng trước thì diện tích rừng trồng tập trung giảm 6,81% (giảm 123 ha) và sản lượng gỗ khai thác cũng giảm 4,46% (giảm 3.299 m3). Nguyên nhân do trong tháng 10/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh có mưa lớn bởi ảnh hưởng của bão số 8 nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp gặp khó khăn hơn. Thời gian tới, khi bước vào mùa bão lũ thì cũng là thời điểm mà các chủ rừng sản xuất sẽ thu hoạch các sản phẩm để tránh thiệt hại. Cùng với đó, các chính sách phòng chống dịch Covid-19 được thực hiện một cách linh hoạt hơn, các doanh nghiệp chế biến lâm sản tăng lượng cầu nguyên liệu nên sản lượng gỗ khai thác dự kiến sẽ tăng hơn.Trong tháng không xẩy ra cháy rừng mà chỉ xẩy ra 3 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 0,793 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 34 vụ phá rừng (giảm 12 vụ), với diện tích rừng bị phá là 11,266 ha (giảm 10,938 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 10/2021 giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng 10/2021 giảm 86 tấn, trong đó sản lượng khai thác giảm 33 tấn và sản lượng nuôi trồng giảm 53 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trong tháng 10/2021 bị ảnh hưởng bởi bão số 7 và số 8 trên biển nên tàu thuyền hạn chế ra khơi đánh bắt hải sản. Mặt khác, sản phẩm nuôi trồng cũng đã được thu hoạch từ những tháng trước để tránh thiệt hại do mưa lũ gây ra nên sản lượng nuôi trồng cũng giảm mạnh. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước tính chỉ tăng nhẹ 1,51% (tăng 702 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cũng như các hoạt động kinh tế khác, năm 2021 do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 làm cho giá bán sản phẩm thủy sản giảm mạnh, nhất là đối với sản phẩm tôm nuôi nên người nuôi tôm gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, chi phí nhiên liệu, nhân công tăng trong khi năng lực sản xuất không tăng là những hạn chế trong phát triển sản xuất thủy sản. Những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên hoạt động sản xuất thủy sản sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. Dịch bệnh trên tôm nuôi: Tính từ ngày 15/9 đến ngày 15/10/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại 3 xã ở thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Thạch Hà, với diện tích nhiễm bệnh là 3,89 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2021, bệnh đốm trắng đã xảy ra tại 16 xã, thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 45,04 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,02 ha. Đến nay, tình hình dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát không để lây lan. 2. Sản xuất công nghiệp Tính đến tháng 10 năm 2021, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh ghi nhận mức tăng khá. Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã linh hoạt triển khai nhiều giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 10 tháng năm 2021 ước tăng 15,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế đóng góp lớn điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của ngành. - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) chính thức tháng 9 năm 2021 tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,18%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,03%; sản xuất và phân phối điện giảm 44,33%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,39%. - Ước tháng 10/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 9/2021 tăng 8,08% và tăng 6,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,77% so với tháng trước và tăng 5,39% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,07% so với tháng trước và tăng 9,87% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 25,08% so với tháng trước và giảm 17,21% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,28% so với tháng trước và tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 10 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 15,28% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,53%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,55%, đóng góp 16,48 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,61%, làm giảm 1,12 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,4%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Là doanh nghiệp đóng góp quan trọng cho kinh tế Hà Tĩnh, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) cũng đã siết chặt công tác phòng dịch, thực hiện phương án “3 tại chỗ” để ổn định sản xuất. Trong 10 tháng, sản lượng thép ước đạt 4,5 triệu tấn, tăng 25,2% so với cùng kỳ năm 2020. Hiện tại, FHS đang hoàn tất thủ tục pháp lý để triển khai đầu tư xây dựng khu gia công phụ trợ với số vốn 80 triệu USD. 3. Đầu tư Trong tháng 10 vừa qua tình hình thời tiết khá thuận lợi, Dich Covid-19 được khống chế, đảm bảo an toàn cho sản xuất, kinh doanh; một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ; các Sở, ban ngành, chính quyền địa phương các cấp tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ. Bên cạnh đó, bám sát dự án, quyết liệt trong công tác giải phóng mặt bằng để đảm bảo đúng tiến độ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Mặt khác, cùng kỳ năm trước, thời tiết không thuận lợi, mưa nhiều, địa bàn Hà Tĩnh ngập úng trên diện rộng. Một số huyện ngập sâu trong nhiều ngày, do đó các công trình thi công trên địa bàn tạm dừng thi công. Vì vậy tổng vốn đầu tư thực hiện tháng 10/2021 tăng 22,01% so với tháng trước và tăng 140,32% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2021 ước đạt 861,57 tỷ đồng, tăng 22,01% so với tháng trước và tăng 140,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 675,3 tỷ đồng, tăng 24,46% so với tháng trước và tăng 178,37% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 111,6 tỷ đồng, tăng 14,21% so với tháng trước và tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 74,66 tỷ đồng, tăng 13,44% so với tháng trước và tăng 9,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2021, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.875,49 tỷ đồng, tăng 30,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh 3.691,85 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 75,72% trong tổng vốn, tăng 53,21% so với cùng kỳ; nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã chiếm 24,28% chủ yếu là nguồn vốn thu từ quỹ sử dụng đất, so với cùng kỳ năm trước nguồn vốn ngân sách huyện và ngân sách xã lần lượt tăng 77,37% và 16,29%. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 10 năm 2021, tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ đang có những dấu hiệu khởi sắc sau thời gian dài gặp khó khăn bởi dịch Covid-19. Ngày 22/9/2021, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 6255/UBND-VX1 về việc cho phép hoạt động trở lại một số dịch vụ như: Dạy học và ăn bán trú đối với bậc mầm non; dịch vụ nhà hàng, quán ăn, quán cà phê, các tuyến xe buýt nội tỉnh và dịch vụ cắt tóc gội đầu bắt đầu được hoạt động trở lại từ 0 giờ ngày 23/9/2021. Cùng với đó, Quyết định tạm dừng Chỉ thị 15, Chỉ thị 16, và Chỉ thị 19 trên toàn quốc cũng ảnh hưởng tích cực đến hoạt động thương mại, dịch vụ toàn tỉnh. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: nhìn chung, thị trường cung cầu hàng hóa trên địa bàn thời gian qua tiếp tục có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10/2021 đạt 3.162,37 tỷ đồng, tăng 1,48% so với tháng trước và giảm 16,35% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng doanh thu lớn tăng mạnh so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm chiếm 46,71% tăng 3,47%; xăng dầu các loại chiếm 9,94% tăng 4,62%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình chiếm 9,01% tăng 3,60%, nhóm hàng may mặc tuy chiếm tỷ trọng không cao 4,2% nhưng có mức tăng cao nhất 10,76% trong các nhóm mặt hàng. Nguyên nhân do tháng vừa qua các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống ngoài gia đình hoạt động trở lại mạnh mẽ, và sự tăng giá nhiên liệu như xăng, dầu, khí đốt các loại. Bên cạnh đó, có 4/12 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước, giảm sâu nhất ở nhóm ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) với 13,04%, do chưa có nhiều mẫu xe mới mở bán và tâm lý người dân có xu hướng chờ đợi dịp cận Tết mới mua sắm các loại phương tiện giao thông. Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 34.272,39 tỷ đồng, tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, một số nhóm có mức tăng khá như: hàng may mặc tăng 16,49%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 13,32%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 27,01%; xăng dầu các loại tăng 20,27%; nhiên liệu khác tăng 38,59%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 29,45%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 12,36% so với cùng kỳ năm trước. Ben cạnh những mặt hàng có mức tăng cao thì một số mặt hàng hóa bán lẽ trong 10 tháng vẫn chưa có nhiều khởi sắc; luân chuyển hàng hóa gặp khó khăn, nhất là giữa các địa phương xuất hiện dịch bệnh Covid-19; nhóm hàng lương thực thực phẩm chiếm vị trị chủ đạo giảm 1,78% so với cùng kỳ. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 10/2021 ước đạt 229,67 tỷ đồng, tăng 142,86% so với tháng trước, giảm 40,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2021 ước tính đạt 81,89 tỷ đồng, tăng 8,15% so với tháng trước và giảm 43,39% so với cùng kỳ năm trước. Với những quy định nới lỏng hơn trong quy định phòng chống dịch Covid-19, các cơ sở kinh doanh nhà hàng, ăn uống, lưu trú cũng hoạt động dần ổn định, cùng với dịp kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 tăng nhu cầu ăn uống ngoài gia đình. Mặc dù nới lỏng các hoạt động nhưng chính quyền vẫn khuyến cáo người dân hạn chế đi lại và chấp hành 5K, đó là lý do khiến cho hoạt động của các đơn vị kinh doanh lữ hành vẫn tạm ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu. Tính chung 10 tháng năm 2021, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 3.015,49 tỷ đồng, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ khác dự ước đạt 1.153,90 tỷ đồng, giảm 7,83%. Mặc dù hoạt động dịch vụ tháng 10 hoạt động trở lại nhưng nhìn chung 10 tháng cũng như cả năm 2021 sẽ khó phục hồi doanh thu so với năm trước. 4.2. Hoạt động vận tải - Vận tải hành khách: tháng 10/2021, UBND tỉnh đã cho hoạt động thí điểm các tuyến xe khách, xe buýt liên tỉnh, nhu cầu đi lại tăng hơn. Vận tải hành khách tháng 10/2021 ước đạt 32,18 tỷ đồng, tăng 274,84% so với tháng trước và giảm 75,83% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 474,2 nghìn HK, tăng 353,49% so với tháng trước; luân chuyển ước đạt 70.367,1 nghìn HK.km, tăng 480,7% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng ước đạt 749,64 tỷ đồng, giảm 37,03%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10.675,6 nghìn HK, giảm 35,3% và luân chuyển đạt 1.766.585,8 nghìn HK.km, giảm 40,1%. - Vận tải hàng hóa: Do ít bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 so với vận tải hành khách, cùng với nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu sản xuất hàng hóa phục vụ dịp Tết đã bắt đầu. Tháng 10/2021 ước đạt 217,13 tỷ đồng, tăng 9,07% so với tháng trước và giảm 10,32% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2.446,3 nghìn tấn, tăng 7,44% so với tháng trước; luân chuyển ước đạt 58.858,4 nghìn tấn.km, tăng 4,98% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng ước đạt 2.190,82 tỷ đồng, giảm 7,63%; khối lượng vận chuyển ước đạt 24.247,7 nghìn tấn, giảm 8,34% và luân chuyển ước đạt 609.327,8 nghìn tấn.km, giảm 10,97%. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Ước tính tháng 10/2021 đạt 54,64 tỷ đồng, tăng 8,68% so với tháng trước và giảm 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Chung 10 tháng ước đạt 698,86 tỷ đồng, tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, bằng các giải pháp linh hoạt vừa phòng dịch, vừa ổn định sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tháng 10 và 10 tháng năm 2021 duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch xuất khẩu: tháng 10/2021 ước đạt 213,5 triệu USD, giảm 3,74% so với tháng trước và tăng 68,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như: thép, phôi thép ước đạt 193,4 triệu USD giảm 4,17% so với tháng trước, tăng 146,72 so với cùng kỳ năm trước; sợi, dệt và hàng may mặc đạt 1,5 triệu USD tăng 3,45 % so với tháng trước, tăng 219,15% so với cùng kỳ; dăm gỗ đạt 3 triệu USD giảm 2,91% so với tháng trước, giảm 13,04% so với cùng kỳ. Cộng dồn 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.740,5 triệu USD, tăng 84,49 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 92,2%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Bên cạnh các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng như: thép, may, sợi dệt, dăm gỗ…thì gạo là mặt hàng xuất khẩu duy nhất có kim ngạch giảm 59,37% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do thời gian vừa qua thị trường truyền thống giảm tiêu thụ, khâu vận chuyển hàng hóa gặp khó khăn, chi phí logistics tăng cao… bên cạnh đó giá gạo của Việt Nam cao hơn so với các nước xuất khẩu khác. Tuy nhiên trong thời gian tới vơi việc nới lỏng các quy định giãn cách, cùng với nhu cầu từ các nước nhập khẩu gạo truyền thống bắt đầu có xu hướng tăng trở lại. Đây sẽ là một trong những tín hiệu tích cực giúp cho kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này có triển vọng tốt. - Kim ngạch nhập khẩu: tháng 10/2021 ước đạt 298 triệu USD, tăng 10,13% so với trước và tăng 76,61% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Cộng dồn 10 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.883 triệu USD, tăng 76,5 % so với cùng kỳ năm trước. Dự báo hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong những tháng cuối năm khi mà Hiệp định tự do thương mại (FTA) đang dần được thực thi hiệu quả hơn…tạo điều kiện để hàng hóa của Hà Tĩnh thâm nhập vào các thị trường các nước với thuế quan ưu đãi, qua đó thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, giá hàng hóa xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng, nhất là các mặt hàng thế mạnh của Hà Tĩnh sẽ là động lực quan trọng để gia tăng giá trị xuất khẩu. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua đã làm sức sản xuất hàng hóa giảm khiến nguồn cung ứng một số nhóm hàng hóa bị ảnh hưởng đã tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng mười và 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó giá thịt lợn hơi và giá mặt hàng thủy sản giảm mạnh so với tháng trước là nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng trong tháng giảm so với tháng trước. CPI tháng 10 năm 2021 giảm 0,83% so với tháng trước, tăng 0,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị giảm 0,5% so với tháng trước, tăng 0,77% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn giảm 0,97% so với tháng trước, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước: may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,49%; giao thông tăng 1,63%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,1%. 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,8%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,68%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%. 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 10 năm 2021 là: (1) yếu tố thời tiết chuyển mùa, nền nhiệt giảm mạnh khiến nhu cầu các nhóm hàng may mặc, đồ dùng gia đình, điện, nước sinh hoạt có sự thay đổi; (2) giá nhiên liệu xăng dầu tăng theo sự điều chỉnh của các cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (3) dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua đã làm sức sản xuất hàng hóa giảm khiến nguồn cung ứng một số nhóm hàng hóa bị ảnh hưởng.Chỉ số giá vàng giảm 0,8% so với tháng trước, giảm 3,07% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,26% so với tháng trước, giảm 0,11% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng nhẹ so tháng trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.165 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.318.549 đồng/100 USD. Tính chung CPI 10 tháng đầu năm 2021, chỉ số chung 101,51% (tăng 1,51%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,07%; nông thôn tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 11/2021 tăng hơn so tháng 10/2021. Giá gạo và thịt gia súc có thể tăng trở lại, khi nguồn cung ứng được điều tiết ổn định hơn. Bên cạnh đó, giá các nhóm hàng may mặc, hàng điện tử, đồ dùng gia đình tiếp tục tăng khi nhiệt độ thời tiết dự kiến giảm mạnh trong thời gian tới. Trong khi giá điện, nước sinh hoạt tiếp tục giảm. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Công tác an sinh xã hội Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, cùng sự nỗ lực của người dân, công tác an sinh xã hội, giảm nghèo được đảm bảo; các chế độ, chính sách cho đối tượng Bảo trợ xã hội, trẻ em, hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh được giải quyết kịp thời. Bên cạnh đó, nhằm góp phần hỗ trợ người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, hỗ trợ người sử dụng lao động thích ứng với trạng thái bình thường mới duy trì sản xuất, kinh doanh, ngày 1/7/2021 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp và Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 8/10/2021 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 68/NQ-CP. Theo đó, tính đến ngày 20/10/2021, Hà Tĩnh có 50.514 lượt đối tượng của 9/12 nhóm chính sách đã phát sinh hồ sơ đề nghị hỗ trợ với tổng số tiền 22.964 triệu đồng, gồm: giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (47.719 đối tượng, tổng số tiền 14.552 triệu đồng); tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất (26 đối tượng, 142 triệu đồng); hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương (677 đối tượng, 2.649 triệu đồng); hỗ trợ người lao động ngừng việc (499 đối tượng, 829 triệu đồng); hỗ trợ bổ sung và trẻ em (483 đối tượng; tổng số tiền 483 triệu đồng); hỗ trợ tiền ăn đối với F0, F1 (875 đối tượng, 882 triệu đồng); hỗ trợ viên chức hoạt động nghệ thuật và hướng dẫn viên du lịch (31 đối tượng, 115 triệu đồng); hỗ trợ hộ kinh doanh (198 đối tượng, 594 triệu đồng); hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất (6 đối tượng, 2.719 triệu đồng). Trong đó, số đã được chi trả hỗ trợ 48.374 lượt đối tượng với số tiền 18.215 triệu đồng. 6.2. Giáo dục Để đảm bảo an toàn cho học sinh trong mùa mưa bão, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh trao quyền chủ động cho các phòng GD&ĐT, các nhà trường, địa phương. Theo đó, các đơn vị căn cứ tình hình mưa bão trên địa bàn chủ động cho học sinh nghỉ học, đảm bảo an toàn cho các em; tuyên truyền các bậc phụ huynh quan tâm nhắc nhở, quản lý con em trong thời gian nghỉ học. Tùy vào tình hình thực tế, các trường học chủ động kế hoạch và thời gian để đón học sinh trở lại đồng thời linh hoạt chương trình, kế hoạch dạy bù. Trong tháng do ảnh hưởng của cơn bão số 8 ngày 14/10/2021 hơn 42 ngàn học sinh tại 107 trường học từ mầm non đến THCS thuộc 2 huyện Hương Sơn và Nghi Xuân đã phải nghỉ học. Ngày 18/10/2021 dự báo tình hình thời tiết phức tạp, các hồ đập xả tràn gần 22.500 học sinh tại 53 trường học ở Hà Tĩnh đã nghỉ học. 6.3. Hoạt động Y tế- Tình hình dịch Covid-19: Thực hiện Nghị quyết số 128/NQCP ngày 11/10/2021 của Chính phủ quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19” và Quyết định số 4800/QĐ-BYT ngày 12/10/2021 của Bộ y tế về hướng dẫn tạm thời về chuyên môn y tế thực hiện Nghị quyết số 128/NQCP ngày 11/10/2021 của Chính phủ, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã đánh giá và xác định cấp độ dịch trên địa bàn tỉnh ở cấp độ 2- nguy cơ trung bình và ban hành Công văn số 6993/UBND-VX1 về việc quy định áp dụng tạm thời các biện pháp kiểm soát dịch trên phạm vi toàn tỉnh từ ngày 20/10/2021 theo đó các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ được mở cửa hoạt động trở lại (trừ quán bar, vũ trường) và phải tuân thủ đảm bảo các quy định phòng, chống dịch Covid-19. Tính từ 10/7/2021 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 41 ca cộng đồng, 325 ca F0 từ TP Hồ Chí Minh, Bình Dương,...về đã được cách ly ngay. Tổng số ca mắc cộng dồn từ 04/6/2021 đến 18h ngày 20/10/2021 là 508 ca (trong đó có 8 trường hợp nhập cảnh, ngoại tỉnh); 13 địa phương có ca dương tính gồm: Thành phố: 51, Hương Sơn: 42, Thạch Hà: 64, Lộc Hà: 52, Hồng Lĩnh: 21, Nghi Xuân: 13; Huyện Kỳ Anh: 33; Hương Khê: 42, Đức Thọ: 28, Can Lộc 89, Cẩm Xuyên 44, Vũ Quang 9, TX Kỳ Anh 12. Tình hình điều trị ca bệnh dương tính: Tính đến ngày 20/10/2021 điều trị khỏi 460 bệnh nhân (BN) trong đó tại Hà Tĩnh 397 BN, Chuyển Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương 63 BN; có 5 BN tử vong. Kết quả truy vết xét nghiệm: cộng dồn F1 từ 4/6 đến ngày 20/10/2021 là 4.763 trường hợp, đã hoàn thành cách ly: 4.624 trường hợp; F2 là 27.292 trường hợp. Rà soát, quản lý người đến/về từ vùng dịch tính đến ngày 20/10/2021: Người đến/về từ các vùng dịch đang cách ly, theo dõi là 24.859 người: TPHCM 6.937 người, Bình Dương 9.917 người, Đồng Nai 4.874 người, Hà Nội 2.115 người, từ một số các tỉnh khác là 1.016 người. Trong đó, số hiện đang cách ly tập trung 2.262 người。 -Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xuất hiện các ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca mắc bệnh quai bị, 12 ca mắc lỵ trực trùng; 72 ca mắc lỵ a míp; 7 ca mắc bệnh thủy đậu, 974 ca mắc bệnh cúm, 185 ca tiêu chảy, 11 ca viêm gan vi rút khác, các ca bệnh khác không phát sinh. So với cùng kỳ năm trước: Sốt xuất huyết giảm 14 ca, giảm 6 ca viêm gan siêu vi trùng, số ca mắc bệnh quai bị không đổi, giảm 2 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, tăng 40 ca mắc bệnh lỵ amíp, tăng 7 ca mắc bệnh thủy đậu, giảm 1.134 ca mắc cúm và giảm 5 ca bệnh chân tay miệng. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để đạt được mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030 theo Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS. Trong thời gian qua, Hà Tĩnh đã đẩy mạnh công tác phòng chống dịch HIV/AIDS bằng nhiều hình thức. Đến nay, đã khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư ở mức thấp. Tính từ 16/9-15/10/2021 Hà Tĩnh có 8 người nhiễm mới HIV (tăng 3 người so với cùng kỳ năm 2020), 9 người chuyển thành AIDS (tăng 2 người so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (giảm 2 ca so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 10 tháng, có 43 trường hợp nhiễm HIV (giảm 23 trường hợp so với cùng kỳ năm trước), 41 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (giảm 24 trường hợp) và có 2 trường hợp chết vì AIDS (giảm 4 trường hợp). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được tỉnh quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 16/9- 15/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 83 ca độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước: số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 22 ca (giảm 20,95%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/10/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 1006 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 63 ca. 6.4. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh tổ chức lễ Dâng hương tưởng niệm 201 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du nhằm tưởng nhớ, tôn vinh những giá trị mà Danh nhân văn hóa thế giới để lại cho dân tộc, cho nhân loại. Lễ dâng hương diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn còn phức tạp nên nghi lễ được tổ chức gọn nhẹ, đảm bảo theo đúng phong tục truyền thống văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, UBND thành phố Hà Tĩnh phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo khai mạc tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2021 với chủ đề “Chuyển đổi số để xây dựng thành công một xã hội học tập mới”. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 6 cuộc thanh tra, kiểm tra văn hóa. Thực hiện cấp 43 giấy phép, trong đó có 36 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 7 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. - Hoạt động thể thao: Để phòng chống dịch Covid -19 cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng trong thời gian vừa qua đang tạm dừng tổ chức các giải đấu thể thao có tập trung đông người. Các hoạt động thể thao trong tháng chủ yếu là các hoạt động thể dục, thể thao với quy mô nhỏ nhằm nâng cao sức khỏe nhân dân, và tuân thủ đúng và đầy đủ các biện pháp khuyến cáo 5K của Bộ Y tế. Dự kiến trong thời gian tới với quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” của Chính phủ, hoạt động thể thao trong cộng đồng và các giải thi đấu thành tích cao trở lại hoạt động hiệu quả trong điều kiện "bình thường mới". 6.5. Tai nạn giao thông Tính từ ngày 15/9/2021 đến ngày 14/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 11 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 8 người, bị thương 9 người, thiệt hại tài sản 70 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ, tăng 01 người chết, tăng 04 người bị thương. Cộng dồn từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 89 vụ tai nạn giao thông đường bộ (giảm 7 vụ so với cùng kỳ), làm chết 76 người (giảm 9 người) và bị thương 35 người (giảm 7 người). Như vậy tính chung 10 tháng đầu năm 2021 tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ năm 2020. 6.6. Thiệt hại thiên tai Để chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại trong mùa mưa bão, tỉnh Hà Tĩnh với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là chủ động phòng, tránh, ứng phó kịp thời và thực hiện nghiêm túc phương châm "4 tại chỗ". Công tác khắc phục, tái thiết sau bão, lũ luôn được tỉnh chú trọng và tập trung cao với phương châm "không để người dân nào bị thiếu lương thực, thực phẩm, nước sinh hoạt, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và Nhân dân”. Tính từ ngày 18/9/2021 đến ngày 18/10/2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 3 vụ thiên tai (ngày 21/9 xảy ra sét đánh huyện Nghi Xuân; ngày 26-26/9/2021 xẩy ra mưa lớn huyện Hương Sơn; ngày 15-18/9/2021 xảy ra 1 đợt mưa lớn kéo dài) làm 1 người chết, 1 người bị thương, 01 con trâu chết, 75 nhà dân bị hư hại, một số tuyến đường giao thông bị ngập từ 0,5-0,8m, có 288 ha rau củ quả; 77,7 ha ngô, khoai vụ Đông; 60 ha lúa mùa; 4.200m2 dưa lưới và hoa cúc; 6 ha sắn bị ngập; 2 ha nuôi tôm; 4 ha cá nước ngọt bị ngập với tổng thiệt hại ước tính 395 triệu đồng. 6.7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ - Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/9/2021 đến ngày 14/10/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 13 vụ cháy, không có người chết và bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 117 triệu đồng; So với cùng kỳ năm trước, tăng 5 vụ cháy, số người chết và bị người không đổi. Tính chung 10 tháng năm 2021, xẩy ra 53 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 2.653 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 7 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 14 vụ, xử lý 9 vụ, tổng số tiền xử phạt 78 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: Số vụ đã phát hiện tăng 9 vụ, số vụ đã xử lý tăng 5 vụ, số tiền xử phạt tăng 41,5 triệu đồng. Các lĩnh vực vi phạm trong tháng bao gồm: Vận chuyển, chôn, đổ, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường phát hiện 8 vụ, xử lý 4 vụ với tổng số tiền xử phạt 61,5 triệu; Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường phát hiện 4 vụ và xử lý 2 vụ, với tổng số tiền xử phạt 2 triệu đồng; còn lại là vi phạm khác 2 vụ về sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản, phát hiện 2 vụ, xử lý 3 vụ (trong đó có 01 vụ phát hiện tháng trước), với tổng số tiền là 14,5 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2021, đã phát hiện 129 vụ (tăng 95 vụ so với cùng kỳ) và xử lý 96 vụ (tăng 64 vụ) vi phạm môi trường, với số tiền 1299,85 triệu đồng. Các vụ vi phạm chủ yếu là hoạt động khai thác đất, cát trái phép; xử lý các trang trại chăn nuôi lợn, gà không đảm bảo vệ sinh môi trường và sử dụng kích điện để đánh bắt thủy sản.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng mười và 10 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.
Tình hình Kinh tế -Xã hội tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng năm 2021
- 26/07/2024 11:28
Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế xã hội nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại 9 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ, thu hẹp sản xuất; một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi hồi đầu quý I, quý II đã gây thiệt hại không nhỏ đến số lượng, doanh thu của doanh nghiệp, người nông dân..vv Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội… Đồng thời, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. 1. Tài chính, ngân hàng 1.1 Hoạt động tài chính Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 9 tháng năm 2021 gặp nhiều khó khăn do đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư đang gây sức ép nặng nề lên mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Chi ngân sách Nhà nước tập trung ưu tiên hỗ trợ kịp thời để mua sắm vật phẩm, trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh, quốc phòng. Tổng thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) sơ bộ tính đến ngày 15/9/2021 đạt 10.688,80 tỷ đồng (tăng 53,27% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 5.237,27 tỷ đồng (chiếm 49 % trong tổng thu) giảm 1,03% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh đạt 2.060,63 tỷ đổng giảm 29,62%; các khoản thu về nhà đất đạt 1.693,87 tỷ đổng tăng 57,33% so với cùng kỳ năm 2020. Bên cạnh thu nội địa thì thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng khá so với cùng kỳ sơ bộ đạt 4.701,44 tỷ đồng (chiếm 43,98% tổng thu) tăng 533,12% so với cùng kỳ. Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/9/2021 đạt 15.300,51 tỷ đồng tăng 8,7% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 7.644,49 tỷ đồng chiếm 49,94% tổng chi, tăng 20,30% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 7.649,63 tỷ đồng chiếm 50% tổng chi, giảm 0,85% so với cùng kỳ năm 2020. 1.2 Hoạt động ngân hàng Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở một số địa phương, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã thực hiện hiệu quả đồng bộ các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán tiền mặt cho doanh nghiệp và người dân trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Nhìn chung hoạt động ngân hàng Hà Tĩnh trong 9 tháng năm 2021 tiếp tục ổn định và có bước tăng trưởng. Kết quả 9 tháng năm 2021, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn có hiệu quả cho nền kinh tế. Ước nguồn vốn huy động đến 30/9/2021 đạt 85.262 tỷ đồng, tăng 21,77% so với đầu năm. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt qua các tháng. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 10.126 tỷ đồng, chiếm 11,88% tổng nguồn vốn huy động, tăng 14,29% so với đầu năm; tiền gửi tiết kiệm ước đạt 57.016 tỷ đồng tăng 6,37%, tiền gửi thanh toán ước đạt 27.798 tỷ đồng tăng 74,54%. Dư nợ cho vay đến 31/9/2021 đạt 67.697 tỷ đồng, tăng 12,35% so với so với đầu năm. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 44.135 tỷ đồng (chiếm 53,39% tổng dư nợ), tăng 19,78% so với đầu năm; dư nợ trung dài hạn đạt 23,562 tỷ đồng (chiếm 46,61% tổng dư nợ) tăng 0,66%. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 29.952 tỷ đồng, tăng 9,56% so với đầu năm. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 9,18% so với đầu năm, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 222,13% so với đầu năm, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 7,22% so với đầu năm. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biển ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 3,1-3,7%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 4- 5,9%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên là từ 5,5-6,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 4,5-8,4%/năm, từ 8,4-11%/năm đối với khoản vay trung, dài hạn. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Tính đến 31/9/2021 nợ xấu ước tính 516 tỷ đồng, chiếm 0,76% tổng dư nợ (giảm 0,29% so với 6 tháng). Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp, giảm so với các năm trước và nằm trong giới hạn cho phép. 2. Giá cả, lạm phát Tháng 9 củng như 9 tháng năm 2021, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ như: Nhóm hàng lương thực, may mặc, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, lương thực, nhiên liệu xăng dầu, hàng điện tử, đồ uống; Tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động nhập khẩu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hàng điện tử, hàng nông sản, đồ uống từ thị trường nước ngoài như Thái Lan và Trung Quốc gặp khó khăn - CPI tháng 9 giảm 0,64% so với tháng trước và tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 4,1%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,25%; giáo dục tăng 0,02% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,17%; có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,68% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 3,67%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 2,42% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,58%; giao thông giảm 0,32% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 10,32%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,04% so tháng trước, tăng 0,15% so cùng tháng năm trước; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,19% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,61%); có 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông) Một số yếu tố tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 9/2021, đó là: (1) Dịch bệnh Covid-19 diễn biến trong thời gian dài đã ảnh hưởng lớn đến các khâu cung ứng hàng hóa, dịch vụ và thu nhập chung của người dân; (2) Yếu tố mùa vụ: Gạo và hoa quả giảm giá sau khi lúa vụ Hè Thu và bưởi địa phương cho thu hoạch. Cùng với đó là việc các cơ sở giáo dục, dịch vụ được hoạt động trở lại ảnh hưởng đến các mặt hàng phục vụ các hoạt động trên; (3) Giá nhiên liệu xăng dầu giảm theo sự điều chỉnh của các cơ quan quản lý, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. Giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn tỉnh giảm sau các kỳ điều chỉnh. Trong khi đó, do dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nhiều tuyến xe vận tải hành khách, xe buýt vận tải nội tỉnh phải tạm ngừng hoạt động đến ngày 23/9/2021 mới được phép hoạt động trở lại. Hoạt động vận tải hàng hóa cũng gặp nhiều khó khăn; Chỉ số giá vàng tăng 0,22% so với tháng trước, giảm 3,91% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,26% so với tháng trước, giảm 0,29% so với cùng tháng năm trước. - Tính chung CPI 9 tháng năm 2021 tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,2%; khu vực nông thôn tăng 1,34% so với cùng kỳ năm trước.Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,29%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,76%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,93%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; giao thông tăng 5,61%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; giáo dục tăng 13,39%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,34%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước.Một số yếu tố chính ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm như sau: (1) Giá cả nhóm vật liệu xây dựng và xăng dầu ở mức cao hơn nhiều so cùng kỳ năm trước theo xu hướng của thị trường thế giới; (2) Tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp khiến hoạt động cung ứng hàng hóa từ các tỉnh khác và nhập khẩu từ nước ngoài gặp khó khăn. Đặc biệt, nguồn tiền của các nhóm đối tượng làm việc tại các khu công nghiệp trong nước và nước ngoài gửi về giảm, thu nhập của người dân chịu ảnh hưởng khiến nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ giảm sút; (3) Dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp, kéo dài đã ảnh hưởng đến nguồn cung ứng ra thị trường và nhu cầu tiêu dùng của người dân. Dự kiến tháng 10/2021, Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dự kiến tăng hơn so tháng 9/2021. Giá gạo và thịt gia súc có thể tăng trở lại, khi vấn đề đầu ra ổn định hơn sau khi các tỉnh khu vực phía bắc ổn định, kiểm soát được dịch bệnh Covid-19. Các nhóm đồ dùng gia đình giá trị cao, hàng điện tử, dịch vụ lữ hành, lưu trú tiếp tục gặp khó khăn. 3. Đầu tư và xây dựng 3.1 Vốn đầu tư phát triển Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện giai đoạn 2016-2021 liên tục giảm qua các năm. Sở dĩ vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm mạnh là do những năm qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư, nhưng nay nguồn vốn khu vực này giảm mạnh. Trong 9 tháng năm 2021 kinh tế Hà Tĩnh vẫn gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc thực hiện giãn cách xã hội tại thành phố Hà Tĩnh và phong tỏa 1 số địa bàn các huyện Hương Sơn, Thạch Hà vào đầu tháng 6 vừa qua củng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự án. Dự ước nguồn vốn 9 tháng năm 2021 đạt 18.263 tỷ đồng, bằng 100,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: - Nguồn vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.896,8 tỷ đồng, giảm 3,75% so với cùng kỳ năm trước. mặc dù vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng 20,02% so với cùng kỳ năm trước, song do nguồn vốn trái phiếu Chính phủ chuyển đổi đầu tư công, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh do đó vốn đầu tư khu vực Nhà nước giảm 3,75% so với cùng kỳ. - Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 12.870,4 tỷ đồng, tăng 22,43% so với cùng kỳ. Một dự án ngoài nhà nước hiện đang xây dựng trên địa bàn tỉnh như dự án Nhà máy chế biến gỗ An Việt Phát với nguồn vốn đầu tư, Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn tiếp tục triển khai sau khi nhập được máy móc thiết bị, Dự án nhà máy thủy điện Ngàn trươi - Cẩm trang đẩy nhanh tiến độ thi công. Ngoài ra, doanh nghiệp ngoài nhà trên địa bàn đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư hệ thống điện mặt trời trên địa bàn cũng tăng mạnh. Bên cạnh đó, dự ước vốn đầu tư hộ dân cư đạt 8.678,8 tỷ đồng tăng 12,07%, nguyên nhân tăng do nguồn lực thi công hộ dân cư chủ yếu là cá thể, nguồn lực lao động tăng do các công nhân nước ngoài về nước, mặt khác giá vật liệu thi công tăng mạnh do đó giá trị xây dựng nhà ở cũng tăng theo. - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 495,7 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (bằng 19,72%). Nguyên nhân do Dự án Gang thép Formosa chiếm phần lớn tỷ trọng vốn nước ngoài, tuy nhiên dự án này đang giảm dần đầu tư do dự án đã hoàn thành. Ngoài ra dự án khu bến cảng Phonix, Dự án điện mặt trời Sơn Quang tạm ngừng thi công, Dự án điện mặt trời Cẩm Xuyên đã hoàn thành và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh cuối năm 2020. 3.2 Hoạt động Xây dựng 9 tháng năm 2021, Hà Tĩnh cũng như cả nước đang chịu ảnh hưởng của dịch Covid- 19 bùng phát lần thứ 4, một số dự án lớn trên địa bàn tạm ngừng thi công do thiếu nguyên vật liệu đầu vào; việc giải phóng mặt bằng chậm, năng lực nhà thầu yếu, giá cả nguyên vật liệu (đặc biệt là thép) tăng cao củng đã ảnh hưởng lớn đến công tác triển khai thi công xây dựng các công trình; trong giải ngân vốn nhà nước vẫn đạt mức độ thấp so với cùng ký năm trước đã làm giảm giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn toàn tỉnh Trong 9 tháng vửa qua, mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công; tuy nhiên tình hình thực hiện và giải ngân vốn nhà nước vẫn đạt mức độ thấp so với cùng ký năm trước. Nguyên nhân do thời gian đầu năm, chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật;… dẫn đến việc thi công công trình chậm; việc giải phóng mặt bằng chậm, năng lực nhà thầu yếu, giá cả nguyên vật liệu (đặc biệt là thép) tăng cao củng đã ảnh hưởng lớn đến công tác triển khai thi công xây dựng các công trình…Bên cạnh đó, trong quý III/2021, dịch bệnh diễn biến phức tạp và lan rộng trong nước cũng như trên địa bàn tỉnh, nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội, nguồn cung ứng vật tư cũng chậm trễ, do đó dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng 9 tháng năm 2021 giảm mạnh so với cùng kỳ. Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng đầu năm 2021 theo giá hiện hành đạt 13.514 tỷ đồng, bằng 92,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực vốn doanh nghiệp nhà nước ước đạt 7,49 tỷ đồng, bằng 4,4 lần so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.905 tỷ đồng, bằng 79,97% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 133,98 tỷ đồng, bằng 55,64% với cùng kỳ năm trước; loại hình khác ước đạt 8.467 tỷ đồng, bằng 103,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn ước đạt 543 tỷ đồng, bằng 61,07% so với cùng kỳ năm trước; giá trị xây dựng hộ ước đạt 7.924,4 tỷ đồng, bằng 108,57% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung kết quả hoạt động ngành xây dựng 9 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như tình hình dịch bệnh Covid-19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp khó khăn trong bố trí nguồn ngân sách phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là nguồn vốn trung ương hỗ trợ mục tiêu và nguồn vốn ODA. Mặt khác, mặc dù đã có nhiều công trình, dự án đăng ký đầu tư trên địa bàn nhưng chỉ mới ở giai đoạn lập hồ sơ, chưa đầu tư nên không có các công trình lớn đầu tư xây dựng mới trong thời gian qua. Để hoạt động xây dựng 3 tháng cuối năm đạt kết quả khả quan hơn cần phải triển khai thực hiện các công trình dự án trên địa bàn tỉnh đảm bảo theo đúng tiến độ như dự án nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án thành phố giáo dục Nguyễn Hoàng, các khu đô thị…. 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Đến ngày 17/9/2021, toàn tỉnh có 765 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 8.341 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 6.180 lao động (tăng 11,84% về số doanh nghiệp, tăng 67,18% về vốn đăng ký, tăng 18,7% về số lao động so với cùng kỳ năm trước). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt gần 11 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 7,3 tỷ đồng). Tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử tăng cao, chiếm gần 60% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Song song với số lượng doanh nghiệp thành lập mới, trong 9 tháng vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 344 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 26% so với cùng kỳ năm 2020), 93 doanh nghiệp giải thể (tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2020). Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp những tháng cuối năm tăng khá trong khi doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm ngoái là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 4.2 Thu hút đầu tư Tính đến ngày 20/9/2021, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 37 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 2.922 tỷ đồng và 01 dự án đầu tư nước ngoài gần 2,5 tỷ USD (dự án Nhiệt điện Vũng Áng II). Khởi công 03 dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp (tại Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh và huyện Đức Thọ) tổng mức đầu tư 700 tỷ đồng; khánh thành, đưa vào hoạt động giai đoạn 1 của Nhà máy sản xuất, chế biến lâm sản tiêu thụ nội địa và xuất khẩu An Việt Phát tổng mức đầu tư gần 1.300 tỷ đồng tại Khu kinh tế Vũng Áng. Ký kết với Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn về việc thiết lập tuyến container Vũng Áng, đến nay đã có 12 chuyến cập bến. Ban hành chính sách hỗ trợ các hãng tàu và doanh nghiệp vận chuyển hàng bằng container qua Cảng Vũng Áng, tạo sự hấp dẫn trong thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Vũng Áng, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho người lao động. Đã và đang kêu gọi, kết nối, làm việc, xúc tiến dự án đầu tư với các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu trong xây dựng phát triển tổ hợp công nghiệp ô tô, đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp, hạ tầng đô thị, du lịch dịch vụ tại khu kinh tế và các khu du lịch biển. Tổ chức làm việc với một số nhà đầu tư lớn tìm hiểu đầu tư vào địa bàn tỉnh: Công ty Cổ phần Tập đoàn TH khảo sát, nghiên cứu đầu tư các dự án tại Vũ Quang và Hồ Kẻ Gỗ; Tập đoàn VSIP nghiên cứu, khảo sát đầu tư dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ tại huyện Can Lộc và Thị xã Hồng Lĩnh; Tập đoàn Vingroup nghiên cứu, khảo sát đầu tư Dự án Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast tại Khu kinh tế Vũng Áng và nghiên cứu đầu tư Khu du lịch nghĩ dưỡng Kỳ Ninh; Công ty cổ phần Vịnh Nha trang khảo sát đầu tư khu đô thị du lịch, sân gôn Kỳ Nam và khu đô thị Xuân Hồng; Tập đoàn Tân Cơ và LNG Centra (Hoa Kỳ) nghiên cứu đầu tư trung tâm nhập khẩu và phân phối khí LNG... Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn trong 9 tháng năm 2021 tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn là thành phần chủ lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Xây dựng 9 tháng đầu năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả điều tra các doanh nghiệp hoạt động ngành xây dựng có 12,59% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn và 25,87% ý kiến cho rằng không thay đổi và 60,84% ý kiến cho rằng khó khăn trong quý IV/2021. Trong đó: Đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước có 25,36% ý kiến cho rằng không thay đổi, 12,33% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn và 61,59% ý kiến cho rằng khó khăn hơn. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 40% ý kiến cho rằng không thay đổi và 40% ý kiến cho rằng khó khăn hơn và 20% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Hoạt động sản xuất kinh doanh quý IV/2021 dự kiến tiếp tục gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh trong nước vẫn chưa được kiểm soát, thiếu hụt vật tư, hàng hóa do giảm nguồn cung. Một số ngành dịch vụ trên địa bàn cũng chưa đi vào hoạt động. Riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn do chủ yếu thực hiện công trình thuộc dự án Formosa, nhưng đến nay cơ bản dự án đã hoàn thiện. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng tiếp tục gặp khó khăn trong quý IV/2021, có 69,93% ý kiến cho rằng khó khăn hơn, 13,99% ý kiến cho rằng không thay đổi và 11,88% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Trong đó: Doanh nghiệp ngoài nhà nước có 70,29% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 60% ý kiến cho rằng khó khăn hơn. - Tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2021 có xu hướng tăng, chiếm 41,26%; yếu tố nguyên vật liệu xây dựng có xu hướng tăng chiếm 41,96%; chi phí nhân công và số lao động thường xuyên và lao động thời vụ có xu hướng không thay đổi trong quý tiếp theo chiếm 40,56%. *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Công nghiệp - Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2021 khả quan hơn so quý III/2021 khi có 68,18% DN nhận định SXKD quý IV sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý III (trong đó 18,18% số DN dự báo tốt lên và 50% số DN dự báo giữ ổn định), có 31,82% số DN dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. - Dự báo xu hướng quý IV/2021 so với quý III/2021: Có 20,46% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 36,36% giảm đi. Các doanh nghiệp dự báo quý IV/2021 số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ gặp khó khăn và doanh nghiệp cố gắng duy trì số lượng đơn đặt hàng như quý trước (54,55% nhận định giữ nguyên như quý III, 45,45% DN dự định giảm số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu và không có DN nào nhận định lượng hàng xuất khẩu tăng lên). Có 31,82% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm (ngành có tỷ lệ tồn kho thành phẩm giảm mạnh là sản xuất đồ uống; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất phương tiện vận tải khác; ...); 31,82% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm và có 4,55% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm và giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. 5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi: Rét đậm, hạn hán không diễn ra gay gắt như cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa và sản lượng cây lâu năm đạt khá; đàn lợn tiếp tục đà hồi phục, đàn gia gia cầm phát triển tốt. Sản xuất lâm nghiệp phát triển, thị trường xuất khẩu các mặt hàng gỗ và lâm sản được mở rộng. Sản xuất thủy sản khả quan hơn so với cùng kỳ năm trước, giá các mặt hàng nông sản có xu hướng tăng. 5.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt *Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 158.893 ha, bằng 102,04% (tăng 3.179 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 632.253 tấn, so với thực hiện năm trước bằng 108,94% (tăng 51.859 tấn). Nhìn chung, kết quả sản xuất cây hàng năm năm 2021 đạt kết quả thắng lợi khá toàn diện, nhất là đối với cây lúa, vượt mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: - Cây lúa: Diện tích gieo trồng lúa cả năm ước tăng 1.028 ha so với năm 2020. Trong đó: Diện tích lúa vụ Đông Xuân tăng 151 ha, vụ Hè Thu ước tăng 905 ha và vụ Mùa ước giảm 28 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng diện tích là do vụ Xuân cây lúa phát triển tốt cho năng suất, sản lượng cao, giá thu mua lúa khá cao so với những năm trước, tạo động lực cho người dân tiến hành gieo cấy vụ Hè Thu. Mặt khác, một số xã do hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên nhiều diện tích những năm trước bỏ hoang năm nay người dân tiến hành gieo cấy. Năng suất gieo trồng lúa cả năm 2021 ước tăng 3,82 tạ/ha so với năm trước, trong đó: Năng suất lúa vụ Đông Xuân tăng 4,11 tạ/ha, vụ Hè Thu ước tăng 3,71 tạ/ha và vụ Mùa ước tăng 1,09 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất lúa tăng cao là do sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năng suất lúa đạt cao nhất kể từ trước đến nay, vụ lúa này cũng được đánh giá được mùa nhất từ trước tới nay và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Tổng sản lượng lúa năm 2021 ước tăng 45.365 tấn so với năm 2020. Trong đó: Sản lượng lúa vụ Đông Xuân tăng 24.425 tấn, vụ Hè Thu ước tăng 20.930 tấn và vụ Mùa ước tăng 10 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do các vụ tăng cả diện tích và năng suất nên tổng sản lượng lúa cả năm tăng hơn so với năm 2020. - Một số cây hàng năm khác + Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô năm 2021 ước tính đạt 12.185 ha, bằng 116,83% (tăng 1.756 ha) so với năm trước. Trong đó: Diện tích ngô vụ Đông Xuân 2020-2021 đạt 10.181 ha, bằng 116,86% (tăng 1.469 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 2.004 ha, bằng 116,69% (tăng 287 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích ngô vụ Đông Xuân tăng so với cùng kỳ do vụ Đông năm 2019-2020 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Năng suất ngô cả năm ước đạt 43,35 tạ/ha, bằng 97,59% (giảm 1,07 tạ/ha) so với năm trước. Trong đó: Năng suất gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 44,80 tạ/ha, bằng 94,36% (giảm 2,67 tạ/ha) và vụ Hè Thu ước đạt 36,02 tạ/ha, bằng 124,41% (tăng 7,07 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước đạt 52.825 tấn, bằng 114,02% (tăng 6.494 tấn) so với năm 2020. +Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng khoai lang năm 2021 ước đạt 3.570 ha, bằng 103,76% (tăng 129 ha) so với năm trước. Trong đó: Diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân đạt 2.944 ha, bằng 101,2% (tăng 35 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 556 ha, bằng 122,22% (tăng 101 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Mùa ước đạt 70 ha, bằng 91,78% (giảm 7 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang cả năm ước đạt 72,59 tạ/ha, bằng 102,37% (tăng 1,68 tạ/ha) so với năm trước. Trong đó: Năng suất gieo trồng vụ Đông Xuân đạt 75,84 tạ/ha, bằng 103,32% (tăng 2,44 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 59,17 tạ/ha, bằng 100,32% (tăng 0,19 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Mùa ước đạt 41,98 tạ/ha, bằng 89,6% (giảm 4,87 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang cả năm ước đạt 25.918 tấn, bằng 106,22% (tăng 1.517 tấn) so với năm 2020. + Cây sắn: Diện tích sắn năm 2021 ước đạt 2.450 ha, bằng 90,35% (giảm 262 ha) so với năm 2020. Năng suất ước đạt 150,80 tạ/ha, bằng 98,22% (giảm 2,76 tạ/ha), với sản lượng ước đạt 36.950 tấn, bằng 88,15% (giảm 4.969 tấn) so với năm trước. Nguyên nhân giảm do sản lượng sắn thu hoạch được chủ yếu để làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, do sắn khó trồng, chế biến thành thức ăn chăn nuôi phải qua nhiều công đoạn nên một số diện tích người nông dân chuyển sang trồng cỏ sinh khối. + Cây lạc: Diện tích gieo trồng lạc năm 2021 ước đạt 10.377 ha, bằng 93,62% (giảm 707 ha) so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng đạt 10.022 ha, bằng 93,33% (giảm 716 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 355 ha, bằng 102,76% (tăng 10 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, trồng lạc mất nhiều công sức và chi phí cao hơn các loại cây trồng khác nên người dân ít canh tác hơn làm cho diện tích lạc giảm. Năng suất lạc cả năm ước đạt 28,06 tạ/ha, bằng 112,31% (tăng 3,08 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng lạc cả năm ước đạt 29.122 tấn, bằng 105,15% (tăng 1.426 tấn) so với năm trước. Nguyên nhân năng suất, sản lượng lạc tăng hơn so với cùng kỳ năm trước là do vụ Xuân điều kiện thời tiết thuận lợi cộng với sự ổn định của bộ giống, quy trình chăm sóc theo hướng thâm canh là những yếu tố căn bản để tạo nên một mùa lạc bội thu. + Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng rau năm 2021 ước đạt 13.675 ha, bằng 104,77% (tăng 623 ha) so với năm 2020. Trong đó: Diện tích rau Vụ Đông Xuân đạt 10.754 ha, bằng 102,8% (tăng 293 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu ước đạt 2.709 ha, bằng 111,06% (tăng 270 ha) so với cùng kỳ năm trước và vụ Mùa ước đạt 211 ha, bằng 140,09% (tăng 60 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân làm diện tích rau năm nay đạt cao là do một số huyện đang tiến hành rộng rãi việc quy hoạch lại vườn tạp, làm vườn mẫu trong công cuộc thực hiện xây dựng nông thôn mới. Người dân đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại vườn hộ theo hướng hiệu quả, cho giá trị kinh tế thông qua việc tăng diện tích rau các loại...Năng suất rau bình quân cả năm ước đạt 69,71 tạ/ha, bằng 100,99% (tăng 0,68tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng rau cả năm ước đạt 95.326 tấn, bằng 105,81% (tăng 5.230 tấn) so với năm trước. *Cây lâu năm - Diện tích: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 31.845 ha, bằng 101,97%, tăng 615 ha so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: + Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.164 ha, bằng 102,72%, tăng 508 ha so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 60,18% tổng diện tích cây lâu năm. Các loại cây ăn quả có múi thuộc họ cam, quýt ước ước đạt 13.020 ha (diện tích cam ước đạt 7.397 ha), bằng 104,33%, tăng 540 ha so với cùng kỳ năm trước. Cây có múi chiếm 67,94% tổng diện tích cây ăn quả. Cây có múi vẫn đang là một trong những sản phẩm cây ăn quả hàng hóa chủ lực của Hà Tĩnh và đang được các địa phương quan tâm đầu tư sản xuất. + Diện tích cây cao su ước đạt 8.895 ha, bằng 99,88%, giảm 11 ha so với cùng kỳ năm 2020. Công ty cao su đã tiến hành thanh lý diện tích kém hiệu quả, chuyển đổi một phần diện tích cao su, đất rừng trồng của các công ty sang cây trồng khác cho hiệu quả cao hơn cũng như để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. + Diện tích chè búp ước đạt 1.243 ha, bằng 102,05%, tăng 25 ha và diện tích chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.854 ha, bằng 100,82%, tăng 15 ha so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích chè trên địa bàn nhìn chung ổn định và tiếp tục được mở rộng thêm do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận.+ Diện tích cây lâu năm khác ước đạt 567 ha, bằng 97,93%, giảm 12 ha so với cùng kỳ năm 2020. - Sản lượng: Do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất, cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi, tỷ lệ đậu quả cao nên dự ước năng suất và sản lượng cây ăn quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hiện nay ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nên thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn và giá bán sản phẩm giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. + Sản lượng cây ăn quả 9 tháng năm 2021 ước đạt 74.074 tấn, bằng 105,83%, tăng 4.078 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 37.431 tấn, bằng 110,62%, tăng 3.595 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng cam tăng 338 tấn, bưởi tăng 2.886 tấn. Thời điểm này, bưởi đang tập trung thu hoạch với giá 20-25 ngàn đồng/quả, giảm hơn so với năm trước. + Sản lượng cao su ước đạt 2.872 tấn, bằng 108,25%, tăng 219 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ cũng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. Sản phẩm gỗ cao su thanh lý ước đạt 965 m3, với giá trị ước tính 427 triệu đồng. + Sản lượng chè búp ước đạt 7.497 tấn, bằng 105,19%, tăng 370 tấn và sản lượng chè xanh (chè hái lá) ước đạt 15.600 tấn, bằng 103,24%, tăng 490 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chè búp tăng chủ yếu ở các địa phương: Hương Sơn tăng 178 tấn, Hương Khê tăng 125 tấn, huyện Kỳ Anh tăng 35 tấn...Các địa phương có sản lượng chè xanh (chè hái lá) tăng là: Can Lộc tăng 150 tấn, Thạch Hà tăng 147 tấn, Hương Sơn tăng 144 tấn, Đức Thọ tăng 98 tấn... *Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, tình hình sâu bệnh xẩy ra đối với các loại cây trồng như sau: - Vụ Đông Xuân: Trên cây lúa vụ Xuân 2021 các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại nhẹ, diễn biến ở mức độ trung bình hoặc thấp hơn vụ Xuân 2020, cụ thể: Có khoảng 232 ha nhiễm bệnh đạo ôn lá, 94,5 ha nhiễm đạo ôn cổ bông; rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại nhẹ, diện tích nhiễm 3 ha; có 2.511 ha nhiễm bệnh khô vằn và 168 ha bị chuột hại. Đối với cây ngô: Sâu keo mùa thu, diện tích nhiễm 47 ha; bệnh đốm lá, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. - Vụ Hè Thu: Trên cây lúa vụ Hè Thu 2021, các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại nhẹ nhìn chung không ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa, cụ thể: Sâu cuốn lá nhỏ diện tích nhiễm 34 ha, không có diện tích nhiễm nặng; ốc bươu vàng diện tích nhiễm 180 ha; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 1.163 ha; chuột hại 170 ha. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu, sâu cắn nõn diện tích nhiễm 15 ha và trên cây đậu sâu đục quả đậu diện tích nhiễm 10 ha.- Cây ăn quả xuất hiện bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, diện tích nhiễm 35 ha; câu cấu, diện tích nhiễm 150 ha; sâu vẽ bùa, diện tích nhiễm 135 ha, phân bố tại Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc.b. Chăn nuôi Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng năm 2021 vẫn bị tác động của dịch bệnh, mà chủ yếu là đối với đàn gia súc. Vì vậy, tổng đàn cũng như sản lượng thịt hơi xuất chuồng có sự biến động với xu hướng đàn trâu, bò giảm, đàn lợn tăng nhẹ và đàn gia cầm tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Dịch tả lợn Châu Phi không dập tắt được triệt để mà vẫn còn xẩy ra ở một số địa phương; giá lợn hơi giảm mạnh trong khi giá thức ăn chăn nuôi tăng cao đã gây khó khăn cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn nên tổng đàn cũng như sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, từ tháng 12/2020 đến tháng 8/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát sinh dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò gây thiệt hại nặng về kinh tế và ảnh hưởng đến số lượng đàn đại gia súc. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được khống chế thành công nhưng vẫn còn có nguy cơ tái phát. Do ảnh hưởng của dịch bệnh đã làm cho số lượng cùng như sản lượng thịt trâu, bò hơi giảm so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia cầm không bị ảnh hưởng của dịch bệnh và giá bán sản phẩm tương đối ổn định nên kết quả chăn nuôi gia cầm tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2021, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 126 xã, thuộc 13 huyện, thành phố, thị xã với tổng số lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy là 14.971 con, với trọng lượng 1.122 tấn. Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn 05 ổ dịch chưa qua 21 ngày kể từ con lợn bị tiêu hủy cuối cùng; dịch LMLM gia súc đã xảy ra tại 05 xã, thuộc 03 huyện (Lộc Hà, Hương Khê, Đức Thọ), làm cho 396 con gia súc mắc bệnh. Đến nay, các ổ dịch LMLM gia súc đã qua 21 ngày; Dịch bệnh viêm da, nổi cục trên đàn trâu, bò đã xẩy ra tại 208 xã, phường, thị trấn của 13 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh làm 17.686 con trâu, bò mắc bệnh, trong đó có 2.949 con bị chết. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò đã được khống chế thành công; dịch Cúm gia cầm (H5N6) xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà làm 9.720 con gia cầm mắc bệnh bị tiêu hủy và dịch cúm gia cầm H5N8 xảy ra tại 01 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên làm 3.147 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy. Kết quả tiêm phòng đợt I năm 2021 tính đến ngày 15/9/2021: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 129.536 liều, đạt 83,4% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 125.700 liều, đạt 83,6% kế hoạch; dịch tả lợn 145.111 liều, đạt 68,2% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 144.0853 liều, đạt 69,6% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 136.733 liều, đạt 98,5% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 1,056 triệu liều, đạt 35,5% kế hoạch. 5.2 Sản xuất Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp 9 tháng năm 2021 duy trì mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng rừng tập trung 9 tháng năm 2021 tăng 54 ha so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác 9 tháng năm 2021 tăng 19.439 m3 so với cùng kỳ năm 2020. Kết quả trồng cây phân tán cũng tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp 9 tháng năm 2021 duy trì mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng rừng tập trung 9 tháng năm 2021 tăng 54 ha so với cùng kỳ năm 2020. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác 9 tháng năm 2021 tăng 19.439 m3 so với cùng kỳ năm 2020. Kết quả trồng cây phân tán cũng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 3 vụ cháy rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha (giảm 57,57 ha) và 31 vụ phá rừng (giảm 13 vụ), với diện tích rừng bị phá là 10,47 ha (giảm 11,14 ha) so với cùng kỳ năm trước. 5.3 Thủy sảnKết quả sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2021 vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng nhẹ với mức ước tăng tổng sản lượng thủy sản là 798 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng khai thác chiếm 69,73% tổng sản lượng thủy hải sản và tăng 609 tấn so với cùng kỳ năm 2020. Với những chuyến biển của ngư dân ra khơi khá thuận lợi và được mùa đã làm cho sản lượng khai thác biển ước tăng so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản thời gian qua cũng được quan tâm thực hiện, với kết quả sản lượng nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 189 tấn so với cùng kỳ năm 2020, trong đó sản lượng tôm ước đạt 3.179 tấn, tăng 44 tấn so với cùng kỳ. Thời gian qua do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 làm cho giá tôm giảm mạnh, người nuôi tôm gặp khó khăn. Những tháng cuối năm, điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển sẽ gặp khó khăn hơn. Dịch bệnh trên tôm nuôi: Tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2021, bệnh đốm trắng xảy ra tại 15 xã thuộc 6 huyện, thành phố, thị xã (Nghi Xuân, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và thành phố Hà Tĩnh), với diện tích nhiễm bệnh là 41,15 ha; bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 2 xã thuộc huyện Thạch Hà và 01 xã thuộc thành phố Hà Tĩnh, với diện tích nhiễm bệnh là 4,02 ha. Đến nay, vẫn còn 0,25 ha diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng do virus tại xã Đan Trường, huyện Nghi Xuân chưa qua 15 ngày. 6. Sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2021, mặc dù chịu tác động bởi dịch Covid-19 song hoạt động Ngành công nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng khá, Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng tăng 16,56% so cùng kỳ năm trước đã đóng góp lớn điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với quy mô lớn và có chỉ số sản xuất mức tăng 22,89% đóng góp 17,26 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của ngành - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP): + Ước tháng 9/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 8/2021 ước tính giảm 7,4%, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự tính tăng 3,81%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,8% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước ngành này giảm 19,98%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,61% so với tháng trước và tăng 8,43% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 29,5% so với tháng trước và giảm 20,26% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,61% so với tháng 8/2021 và tăng 2,86% so với tháng 9/2020. + Tính chung 9 tháng năm 2021, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục tăng, các doanh nghiệp nhìn chung hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn so với năm 2020. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 9 tháng năm 2021 tăng 16,56% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,55%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,89% đóng góp 17,26 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,93%, làm giảm 0,61 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,62%, làm giảm 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt mức tăng khá chủ yếu nhờ đóng góp của ngành sản xuất kim loại cũng như hoạt động sản xuất của Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS). Nếu loại trừ yếu tố ảnh hưởng từ dự án Formosa , chỉ số sản xuất công nghiệp cộng dồn 9 tháng năm 2021 chỉ tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước. + Trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 7 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 47,79%; khai thác quặng kim loại tăng 35,13%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tre nứa tăng 27,39%; sản xuất kim loại tăng 25,83%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 23,91%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 16,45%. + Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng thì trong 9 tháng qua, có 9 nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 27,22%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 13,01%; sản xuất trang phục giảm 8,44%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 4,45%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3,36%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,93%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 2,06%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 0,86%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 0,68%. - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 9/2021 giảm 0,53% so với tháng trước và giảm 8,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021 ước tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 9 tháng năm 2021, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo. - Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 9/2021 tăng 34,78% so với tháng trước và tăng 170,53% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 59,7 lần so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. - Chỉ số sử dụng lao động: Tính chung 9 tháng năm giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Số lượng lao động của ngành khai khoáng giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 2,6% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt tăng 0,3%, so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải có chỉ số sử dụng lao động giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước. 7. Thương mại, dịch vụ 9 tháng năm 2021, tình hình dịch covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh qua các tháng. Hoạt động kinh doanh các mặt hàng không thiết liên tiếp tạm ngừng hoạt động dài ngày. Các hoạt động kinh doanh nhà hàng, ăn uống tạm ngừng hoặc thu hẹp kinh doanh; hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch dừng hoạt động kể cả trong mùa du lịch. Cùng với đó, dịch viêm da nổi cục ở trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi hoành hành cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh nhà hàng, ăn uống. Tuy nhiên, nhìn lại 9 tháng qua nhờ thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới nên hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh vẫn đảm bảo cung, cầu thiết yếu cho người dân và toàn xã hội - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tính tháng 9/2021 đạt 3215,6 tỷ đồng tăng 4% so với tháng trước và giảm 10,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 15 tỷ đồng, tăng 31,59% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 31.209 tỷ đồng, tăng 7,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 13.507,7 tỷ đồng, tăng 0,48%; hàng may mặc ước đạt 1.560 tỷ đồng, tăng 21,32%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 3.291 tỷ đồng, tăng 1,15%; vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 183,6 tỷ đồng, tăng 15,44%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.588 tỷ đồng, tăng 28,05%; ô tô con ước đạt 3.352 tỷ đồng, tăng 12,5%; phương tiện đi lại trừ ô tô con ước đạt 1.5545 tỷ đồng, giảm 1,34%; xăng dầu các loại ước đạt 2.789.055 triệu đồng, tăng 21,38%; nhiên liệu khác ước đạt 552,6 tỷ đồng, tăng 37,95%; đá quý, kim loại quý các loại ước đạt 453 tỷ đồng, tăng 31,88%; hàng hóa khác ước đạt 1.538 tỷ đồng, tăng 10,16%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt 838 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 9 tháng năm 2021 có tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong thời gian gần đây bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 nhưng thời gian giãn cách ngắn hơn và vùng giãn cách thu hẹp hơn so với 9 tháng đầu năm 2020. Cùng với đó, giá cả nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian qua đã tác động làm tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa hơn so với cùng kỳ năm trước. - Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: + Ước tháng 9, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 70,6 tỷ đồng, giảm 13,91% so với tháng trước và giảm 82,37% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, Dịch vụ lưu trú ước đạt 2.597,8 triệu đồng, giảm 9,61% so với tháng trước, giảm 84,87% so với cùng kỳ năm trước. dịch vụ ăn uống ước đạt 68 tỷ đồng, giảm 14,07% so với tháng trước, giảm 82,22% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch: Do tình hình dịch bệnh vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, chính quyền khuyến cáo hạn chế đi lại và tụ tập, cùng với tâm lý e ngại dịch bệnh, đó là lý do khiến cho hoạt động của các đơn vị kinh doanh lữ hành ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu. + Tính chung 9 tháng năm 2021, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 2.761,8 tỷ đồng, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 96.490,8 triệu đồng, giảm 37,29%; lượt khách phục vụ ước đạt 598.112 lượt, giảm 37,2% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 548.129 ngày, giảm 36,89% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 2.658 tỷ đồng, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 7,3 tỷ đồng, giảm 13,78% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu dịch vụ khác: 9 tháng năm 2021, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.073 tỷ đồng, giảm 3,11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 129 tỷ đồng, giảm 10,54%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 284 tỷ triệu đồng, tăng 14,97%; giáo dục đào tạo ước đạt 41 tỷ đồng, giảm 34,81%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 146,8 tỷ đồng, tăng 11,33%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 89,8 tỷ đồng, giảm 18,7%; dịch vụ khác ước đạt 381 tỷ đồng, giảm 7,19%. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 9 tháng năm 2021 đã có mức giảm so với cùng kỳ năm trước và đang còn vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Với tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay thì sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngành dịch vụ trong thời gian tới. - Hoạt động vận tải: + Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 9/2021 ước đạt 270 tỷ đồng, tăng 2,01% so tháng trước và giảm 43,24 % so cùng kỳ năm trước trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 8 tỷ đồng, tăng 9,59% so với tháng trước và giảm 94,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 194 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và giảm 26,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 68,4 tỷ đồng, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 4,98% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 9 tháng năm 2021, doanh thu vận tải ước tính đạt 3.347,8 tỷ đồng, giảm 10,13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 716,9 tỷ đồng, giảm 32,2%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10.179,5 nghìn HK, giảm 30,85% và luân chuyển đạt 1.694.887 nghìn HK.km, giảm 35,69%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.968 tỷ đồng, giảm 7,57%; khối lượng vận chuyển ước đạt 21.669,1 nghìn tấn, giảm 8,61% và luân chuyển ước đạt 550.500,8 nghìn tấn.km, giảm 9,82%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 662, tỷ đồng, tăng 23,05% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 9 tháng đầu năm 2021 giảm so với cùng kỳ. Tình hình dịch Covid - 19 vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp nên đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động vận tải trên địa bàn với kết quả giảm mạnh so với cùng kỳ. Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của tỉnh, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hoạt động vận tải hành khách phải tạm dừng hoạt động vận tải hành khách đi và đến vùng cách ly y tế trong thời gian dài đã làm cho vận tải hành khách giảm mạnh, cùng với đó, nhiều cơ sở kinh doanh thương mại cũng tạm dừng hoạt động nên nhu cầu vận chuyển hàng hoá giảm. Bên cạnh đó, trong một số tháng lượng than bốc qua cảng giảm, kéo theo doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ giảm. Tất cả yếu tố trên đã làm cho hoạt động vận tải 9 tháng năm 2021 giảm so với cùng kỳ năm trước 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng năm 2021 Hà Tĩnh ước đạt 2.564,4 triệu USD, tăng 75,82% so với cùng kỳ. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra. Việc kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia hoạt động xuất khẩu, xuất nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị phục vụ sản xuất, hàng hóa; hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường… Hà Tĩnh xây dựng Đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025. Đồng thời ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyên container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2021 ước đạt 1.490,6 triệu USD, tăng 106,63% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do Formosa đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 1386,1 triệu USD, chiếm tỷ trọng 92,98% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh). 9. Các vấn đề xã hội 9.1. Tình hình lao động và giải quyêt việc làm Tình hình lao động, việc làm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong quý III/2021 có dấu hiệu phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,1 điểm phần trăm so với quý II/2021. - Lực lượng lao động: Ước tính quí III/2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Hà Tĩnh là 690.579 người, chiếm 53,05% dân số toàn tỉnh; tăng 0,48% so với quý II/2021, nhưng so với quý I/2021 giảm 0,67%. Trong tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, lao động nam là 331.903 người, chiếm 48,06%; lao động thuộc khu vực thành thị là 144.796 người, chiếm 20,97%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý III năm 2021 (lực lượng lao động 15 tuổi trở lên so với dân số 15 tuổi trở lên) là 71,48%, tăng 0,34 điểm phần trăm so với quý II/2021 và giảm 0,48 điểm phần trăm so với quý I/2021. Tính chung 9 tháng năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 691.040 người, chiếm 53,08% dân số toàn tỉnh; trong đó lực lượng lao động nam là 331.732 người, chiếm 48% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 144.372 người, chiếm 20,89%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng năm 2021 là 71,53%, trong đó: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 72,48%, cao hơn 1,96 điểm phần trăm so với nam; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 70,36%, thấp hơn 1,48 điểm phần trăm so với ở nông thôn. - Lao động có việc làm: Số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ước tính quý III/2021 là 674.535 người, chiếm 97,68% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,97% so với quý II/2021, nhưng so với quý I/2021 giảm 0,61%. Trong tổng số: khu vực thành thị là 139.487 người, chiếm 20,68%; lao động có việc làm ở nam giới là 322.015 người, chiếm 47,74%. Tính chung 9 tháng năm 2021, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 673.750 người, chiếm 97,50% so với lực lượng lao động. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 139.135 người, chiếm 20,65%; ở nam giới là 321.232 người, chiếm 47,68%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 348.542 người, chiếm 51,73% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 119.623 người, chiếm 17,75%; ngành dịch vụ là 205.585 người, chiếm 30,51%. - Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Ước tính quý III/2021, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 16.044 người (chiếm 2,32% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,04%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với quý II/2021 và 0,04 điểm phần trăm so với quý I/2021. Tính chung 9 tháng năm 2021, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 17.290 người, chiếm 2,5% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2021 ước tính là 3,09%. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý III/2021 là 3,02%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với quý II/2021 và 0,02 điểm phần trăm so với quý I/2021. Tính chung 9 tháng năm 2021, ước tính tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 3,01%. - Tình hình giải quyết việc làm: Quý III/2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 2.086 người, giảm 51,22% so với quý II/2021 và 64,95% so với quý I/2021, lần lượt lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giảm 63,01% và 80,81%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh giảm 70,57% và 54,75%; xuất khẩu lao động giảm 31,78% và 43,55%. Ước tính 9 tháng năm 2021, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 12.314 người, đạt 55,97% kế hoạch năm 2021, tăng 9,05% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 5.589 người, chiếm 45,39% trong tổng số, giảm 9,17%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.513 người, chiếm 12,29%, tăng 27,36%; xuất khẩu lao động 5.212 người, chiếm 42,32%, tăng 29,41%. 9.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Nhằm ổn định tình hình đời sống người dân cũng như đảm bảo công tác phòng chống dịch, Hà Tĩnh đã kịp thời đảm bảo các chế độ, chính sách, cơ sở vật chất cho việc cách ly, điều trị, các trang thiết bị cần thiết. Đến nay, số kinh phí năm 2021 đã bố trí từ nguồn dự phòng ngân sách các cấp địa phương để thực hiện phòng, chống dịch Covid-19 là 91.095 triệu đồng (gồm: dự phòng ngân sách tỉnh 64.236 triệu đồng; dự phòng ngân sách huyện, xã 26.859 triệu đồng). Trong đó: Kinh phí thực hiện Nghị quyết số 16/NQ-CP, Nghị quyết số 17/NQ-CP là 85.325 triệu đồng (Ngân sách tỉnh 58.466 triệu đồng; Ngân sách cấp huyện, xã 26.859 triệu đồng). Ngoài ra, Hà Tĩnh tiến hành thực hiện Nghị Quyết số 68/NQ-CP hỗ trợ cho người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, góp phần phục hồi sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch, đảm bảo đời sống và an toàn cho người lao động theo. Đến nay, toàn tỉnh đã giải ngân hỗ trợ 19,417 tỷ đồng. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. Đến nay, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 251.207 suất quà với tổng số tiền khoảng 76.843 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể: Quà cho người có công: 119.575 suất quà trị giá khoảng 26.657 triệu đồng; Quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất quà trị giá khoảng 10.636 triệu đồng; Quà người cao tuổi: 28.347 suất quà trị giá khoảng 9.237 triệu đồng; Quà trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: 35.000 suất quà trị giá khoảng 8.000 triệu đồng; Quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội: 47.591 suất quà trị giá khoảng 22.313 triệu đồng. Đồng thời, trao tặng 13 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 65 triệu đồng; Số nhà xây mới cho các hộ nghèo và cận nghèo là 1.353 nhà với khinh phí khoảng 79.283 triệu đồng. Hỗ trợ sửa chữa nhà ở đối với hộ nghèo và cận nghèo là 29 nhà với kinh phí khoảng 398 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 397 nhà kinh phí khoảng 26.623 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 23 nhà kinh phí khoảng 1.202 triệu đồng. Cấp khoảng 14.929 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.534 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 165.961 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 50.992 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. 9.3. Tình hình thiên tai Tình hình thiên tai 9 tháng năm 2021, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 8 đợt thiên tai (đợt 1 vào ngày 26/4/2021; đợt 2 vào ngày 28/4/2021; đợt 3 vào ngày 2/5/2021; đợt 4 vào ngày 10/5/2021; đợt 5 vào ngày 15/5/2021; đợt 6 vào ngày 17/5/2021; đợt 7 vào ngày 25/5/2021; đợt 8 vào ngày 12/6/2021). Thiên tai đã gây thiệt hại làm 2 người chết, 1 người bị thương; 466 nhà bị hư hỏng; 11.965,8 ha lúa; 900,3 ha hoa màu; 400 con gia cầm, 2 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 47 tỷ đồng. Sau khi xảy ra thiên tai, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ tổ chức khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt của người dân, tổng số tiền hỗ trợ khắc phục thiệt hại do thiên tai là 8 triệu hỗ trợ cho gia đình có người chết được trích từ quỹ phòng chống thiên tai. 9.4. Hoạt động giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, sáng ngày 05/9/2021, Hà Tĩnh không tổ chức tựu trường tập trung ở tất cả các trường mà chỉ tổ chức khai giảng năm học mới trực tiếp tại duy nhất một cơ sở giáo dục và truyền hình trực tiếp cho hơn 350 ngàn giáo viên, học sinh tại 666 trường học trên địa bàn 13 huyện, thành, thị ở Hà Tĩnh theo dõi. Bắt đầu từ ngày 15/9/2021, có 12/13 huyện, thị xã, thành phố đã đón học sinh từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông trở lại trường (bậc mầm non chưa tổ chức dạy học). Năm học 2021-2022 toàn tỉnh có 667 trường (gồm 254 trường mầm non (tăng 4 trường so với năm học trước), 221 trường tiểu học (không đổi),147 trường THCS (giảm 1 trường do sát nhập xã), 45 trường THPT (không đổi)); với 10.623 lớp (mẩu giáo 2.846 lớp; tiểu học 4.216 lớp; THCS 2.368 lớp; THPT 1.193 lớp); 17.534 giáo viên (mầm non 4.819 người; tiểu học 5.418 người; THCS 4.627 người; THPT 2.670 người) và 329.140 học sinh (mầm non 76.567 người; tiểu học 131.718 người; THCS 78.389 người; THPT 42.466 người). - Giáo dục đào tạo: Tuyển sinh năm học 2021-2022, trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh hệ chính quy là 1.405 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.355 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu; theo 2 phương thức là xét tuyển học sinh tốt nghiệp THPT và xét tuyển học bạ lớp 11 hoặc lớp 12 THPT, điểm trung bình các môn thuộc tổ hợp xét tuyển không nhỏ hơn 5.0. Đăng ký xét tuyển làm 2 đợt, đợt 1 từ ngày 01/4/2021 đến ngày 30/7/2021 và đợt 2 từ ngày 01/8/2021 - 31/12/2021. Bên cạnh đó, giáo dục nghề nghiệp cũng được chú trọng, chất lượng ngày càng nâng cao hơn. 9 tháng đầu năm 2021 , 9 tháng năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 10.348 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 319 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 2.549 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 7.480 người. 9.5 Hoạt động Y tế -Tình hình dịch Covid -19: Dịch Covid-19 đang tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp tại nhiều tỉnh thành trong cả nước. Tính từ ngày 04/6/2021 đến nay, Hà Tĩnh đã ghi nhận 450 ca dương tính tại 13/13 huyện, thực hiện giản cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 tại 8 huyện,thành phố với 40 xã/phường có thôn cách ly. Tính từ ngày 10/7 đến 22/9/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 34 ca trong cộng đồng và 277 ca F0 từ TP Hồ Chí Minh, Bình Dương,...về trên địa bàn tỉnh được cách ly ngay. Kết quả truy vết, xét nghiệm, quản lý người đến/về từ vùng dịch: F1 đã truy vết (từ 4/6 đến 22/9/2021): 4.563 người; F2 đã truy vết (từ 4/6 đến nay): 27.239 người. Tổng số hiện còn cách ly: 3.675 người trong đó: cách ly tập trung 883 người, cách ly tại nhà 2.761 người, cách ly tại cơ sở y tế: 31 người. -Tình hình dịch bệnh khác: 9 tháng năm 2021, Hà Tĩnh đã ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 33 ca mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp nào tử vong vì dịch. So với cùng kỳ năm trước: Số ổ dịch không thay đổi, số lượng người mắc tăng 23 người. Ngoài ra, còn có 7 ca sốt xuất huyết đơn lẻ; 1 ca sốt rét; 93 ca viêm não do vi rút; 29 ca quai bị ; 98 ca lỵ trực trùng; 137 ca lỵ ca lỵ amip; 687 ca thủy đậu; cúm 13.277 ca; 17 ca chân tay miệng. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tính từ 16/8-15/9/2021 Hà Tĩnh có 2 người nhiễm mới HIV (giảm 3 người so với cùng kỳ năm 2020), 2 người chuyển thành AIDS (giảm 5 người so với cùng kỳ năm trước) và không người chết vì AIDS (giảm 2 người so với cùng kỳ năm trước). Quý III năm 2021 có 7 người nhiễm HIV, có 8 trường hợp chuyển thành AIDS, 0 người chết (so với cùng kỳ năm trước: giảm 18 người nhiễm HIV, giảm 21 người chuyển thành AIDS, giảm 2 người chết AIDS). Như vậy, tính từ ngày 16/12/2020-15/9/2021 có 35 người nhiễm mới HIV (giảm 29 người so với cùng kỳ năm 2020), 32 người chuyển thành AIDS (giảm 26 người) và có 2 người chết vì AIDS (giảm 2 người so với cùng kỳ năm trước). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: An toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong thời gian qua, công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Hà Tĩnh đã được chính quyền các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo kịp thời . Tính từ ngày 16/8-15/9/2021, Hà Tĩnh không xẩy ra vụ ngộ độc tập thể, nhưng có 97 ca bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ; không có người chết vì ngộ độc. Quý III/2021 (từ 16/6/2021-15/9/2021) không xẩy ra vụ ngộ độc tập thể, có 360 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 9 tháng đầu năm 2021 (từ 16/12/2020-15/9/2021), toàn tỉnh đã xẩy ra 3 vụ ngộ độc tập thể, làm 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 923 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3 vụ ngộc độc, tăng 53 người ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 85 ca (tăng 10,14%). 9.6 Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Quý III/2021 hoạt động văn hóa có phần trầm lắng do chịu tác động của dịch Covid – 19 kéo dài. Vì vậy, trong thời gian này, chủ yếu tập trung công tác tuyên truyền về phòng chống dịch Covid-19 thông qua các phương tiện truyền thông như: đài truyền hình, báo chí, hay các trang báo mạng chính thống, đặc biệt là loa đài tại các tổ dân phố, thôn, xóm liên tục và thường xuyên đưa tin về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống dịch để người dân nắm rõ và yên tâm. Nhìn chung 9 tháng đầu năm chỉ diễn ra các hoạt động tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước và xây dựng tin bài, phóng sự về cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: 9 tháng năm 2021, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 7 cuộc thanh tra, kiểm tra. Trong đó: 01 cuộc phối hợp với đội kiểm tra liên ngành Văn hóa xã hội tỉnh kiểm tra tại 115 cơ sở kinh doanh dịch vụ do ngành quản lý; 01 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh; 01 cuộc kiểm tra về điều kiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, công tác bảo đảm an toàn phòng chống dịch Covid - 19 tại 15 khu điểm du lịch trong tỉnh; 01 cuộc thanh kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công vụ tại các phòng, ban, đơn vị trực thuộc Sở, 02 cuộc kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid 19 tại doanh nghiệp. Qua kiểm tra đã xử phạt vi phạm hành chính 02 tổ chức, 02 cá nhân với số tiền 17 triệu đồng. Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã cấp 102 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa; 8 giấy phép thuộc lĩnh vực thể dục thể thao; 90 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. - Hoạt động thể thao: Chín tháng năm 2021, Hà Tĩnh tham gia 12 giải thành tích cao đạt được 65 huy chương các loại (25 huy chương vàng (HCV) -13 huy chương bạc (HCB) -27 huy chương đồng (HCĐ), trong đó Môn Điền kinh đạt 23 huy chương (9HCV-4HCB-10HCĐ); Môn Pencak Silat đạt 2 huy chương (1HCV-1HCĐ); Môn Karate đạt 28 Huy chương (11HCV-5HCB-12HCĐ), Giải vô địch Karate miền Trung, Tây Nguyên xếp thứ nhì toàn đoàn; Môn Đua thuyền đạt 6 huy chương (3HCV-2HCB-1HCĐ); Môn Muay đạt 4 huy chương(1HCV-1HCB-2HCĐ); Vovinam đạt 2 huy chương (1HCB-1HCĐ); Bóng chuyền thi đấu vòng I Giải vô địch quốc gia xếp thứ 2 bảng A (xếp thứ 4 vòng I) được tham gia Giải bóng chuyền vô địch quốc gia Cup Hùng Vương năm 2021. 9.7 Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Từ ngày 15/8/2021 đến ngày 14/9/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người, bị thương 1 người, thiệt hại khoảng 60 triệu đồng. Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra. So với cùng kỳ năm trước: giảm 2 vụ, tăng 4 người chết, giảm 4 người bị thương. Tính trong quý III/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông đường bộ với 29 người chết, 7 người bị thương, thiệt hại khoảng 165 triệu đồng; Tai nạn đường sắt và đường thủy không xảy ra. So với cùng kỳ năm trước: giảm 8 vụ, giảm 1 người chết, giảm 12 người bị thương. Như vậy, tính ngày 15/12/2020 đến ngày 14/9/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 78 vụ tai nạn đường bộ với 68 người chết, 26 người bị thương, thiệt hại tài sản 528 triệu. So với cùng kỳ năm trước giảm 11 vụ, giảm 11 người chết, tăng 12 người bị thương. 9.8 Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Trong tháng (từ ngày 15/8/2021 đến ngày 14/9/2021) đã xảy ra 5 vụ cháy, không có vụ nổ không có người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 120 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ, số người chết và bị thương không đổi. Quý III/2021 (từ ngày 15/6/2021-14/9/2021) xảy ra 23 vụ cháy, 01 người chết và không có người bị thương, thiệt hại ước 226 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: giảm 5 vụ, tăng 01 người chết và giảm 1 người bị thương. Từ ngày 15/12/2020-14/9/2021 đã xẩy ra 39 vụ cháy, 1 vụ nổ làm 3 người chết, 02 người bị thương, tổng thiệt hại 2.536 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 13 vụ cháy, tăng 1 vụ nổ, số người chết không đổi, giảm 2 người bị thương. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/8 đến ngày 14/9/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 10 vụ, xử lý 10 vụ, tổng số tiền xử phạt 92,6 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 9 vụ, số vụ đã xử lý tăng 9 vụ, số tiền xử phạt tăng 57,6 triệu đồng. Tính trong quý III/2021 (từ ngày 15/6-14/9/2021) Hà Tĩnh đã phát hiện 40 vụ, đã xử lý 35 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 374,8 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 33 vụ (tăng 471,42%), số vụ đã xử lý tăng 29 vụ (tăng 483,33%), số tiền xử phạt tăng 304,3 triệu đồng. Từ ngày 15/12/2020-14/9/2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 115 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 87 vụ, tổng số tiền thu được là 1.221,85 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020: số vụ đã phát hiện tăng 86 vụ (tăng 296,55%), số vụ đã xử lý tăng 59 vụ (tăng 210,71%), số tiền xử phạt tăng 1.043,35 triệu đồng. 10. Đề xuất, giải pháp trong thời gian tới Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu KT-XH năm 2021, đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần phải thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, đồng thời cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do đại dịch Covid-19. (2) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa, cắt giảm các thủ tục nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân. (3) Tập trung đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công cho những tháng cuối năm; huy động tốt nguồn vốn tư nhân cho đầu tư phát triển. (4) Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất vụ Hè Thu năm 2021; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. (5) Quan tâm phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; xây dựng và thực hiện kế hoạch kích cầu tiêu dùng, chương trình khuyến mại tập trung năm 2021.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2021 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hà Tĩnh. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2021 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của cấp ủy chính quyền các cấp và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong 3 tháng cuối năm./.