0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình hình KTXH tháng 9 và 9 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 16:56

Năm 2022 là năm thứ hai Hà Tĩnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ 5 năm 2021-2025; là năm đầy ý nghĩa khi Hà Tĩnh chúng ta tổ chức kỷ niệm 65 năm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh và 15 năm thành lập thành phố Hà Tĩnh. Tuy nhiên, nhìn lại 9 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Dịch COVID-19 bùng phát mạnh sau Tết Nguyên đán; tác động của xung đột Nga - Ukraine làm giá xăng, dầu, nguyên vật liệu thiếu ổn định; sản xuất ngành công nghiệp bị ảnh hưởng do cung thị trường thép tiêu thụ chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất thép của khu công nghiệp Formosa, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 đến nay vẫn chưa hoạt động trở lại; trong sản xuất nông nghiệp chịu tác động bởi dịch bệnh, thời tiết diễn biến khó lường... đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung cao trong phòng, chống dịch; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm; tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư; tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa nhất định. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng cao (trên 46%); thu ngân sách vượt xa so với cùng kỳ năm trước; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả cụ thể được thể hiện trên các lĩnh vực sau: I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp 9 tháng năm 2022 trong điều kiện thời tiết bất thường trong những giai đoạn sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng nên ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng, đặc biệt là trên cây lúa diện tích, năng suất, sản lượng đều giảm hơn so với năm trước, mặt khác thu hoạch lúa vụ Đông Xuân kết thúc chậm so với kế hoạch đề ra đã gây ảnh hưởng đến việc gieo trồng vụ Hè Thu, các cây trồng chủ lực của địa phương như ngô, khoai, sắn sản lượng tăng, riêng sản lượng lạc giảm do chuyển đổi diện tích trồng lạc sang trồng lúa, sản lượng rau các loại tăng; chăn nuôi vẫn đang gặp khó khăn do chi phí tăng cao; sản xuất lâm nghiệp vẫn tương đối ổn định; Khai thác và nuôi trồng thủy sản có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt         - Cây hàng năm: Kết quả sản xuất năm 2022, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh ước tính tăng 0,17% (tăng 276 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước tính giảm 2,58% (giảm 16.307 tấn) so với thực hiện năm trước. Nhìn chung, kết quả sản xuất lương thực năm 2022 giảm hơn so với năm trước. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: + Cây lúa: Diện tích gieo trồng lúa cả năm ước giảm 169 ha so với năm 2021. Trong đó: Diện tích lúa vụ Đông Xuân đạt 59.813 ha, bằng 100,56% (tăng 335 ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 44.526 ha, bằng 99,05% (giảm 429 ha) và vụ Mùa ước đạt 415 ha, bằng 84,64% (giảm 75 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng lúa cả năm 2022 ước giảm 2,05 tạ/ha so với năm trước, trong đó: Năng suất gieo trồng lúa vụ Đông Xuân đạt 55,77 tạ/ha, bằng 94,83% (giảm 3,04 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 50,27 tạ/ha, bằng 98,33% (giảm 0,85 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 16,86 tạ/ha, bằng 89,2% (giảm 2,04 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa giảm do thời tiết bất thường vào các thời kỳ sinh trưởng và phát triển quan trọng của lúa, đặc biệt là giai đoạn trổ bông đã ảnh hưởng đến năng suất lúa. Tổng sản lượng lúa năm 2022 ước tính giảm 22.446 tấn so với năm 2021. Trong đó: Sản lượng lúa Đông Xuân đạt 333.566 tấn, bằng 95,36% (giảm 16.227 tấn); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 223.812 tấn, bằng 97,39% (giảm 5.991 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa ước đạt 699 tấn, bằng 75,48% (giảm 227 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do vụ Hè Thu, vụ Mùa giảm diện tích và cả ba vụ sản xuất giảm năng suất nên sản lượng lúa năm 2022 ước tính giảm so với năm 2021. + Cây hàng năm chủ lực khác :  Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô năm 2022 ước tính tăng 766 ha so với năm trước. Trong đó diện tích gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 10.712 ha, bằng 105,22% (tăng 532 ha) và diện tích vụ Hè Thu sơ bộ đạt 2.239 ha, bằng 111,71% (tăng 235 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích ngô tăng là do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng cao nên người dân tận dụng tối đa diện tích trồng ngô để phục vụ mục đích chăn nuôi. Năng suất ngô cả năm ước tăng 2,18 tạ/ha so với năm trước. Trong đó: Năng suất gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 46,41 tạ/ha, bằng 103,6% (tăng 1,61 tạ/ha) và vụ Hè Thu sơ bộ đạt 41,33 tạ/ha, bằng 114,69% (tăng 5,29 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô cả năm ước tăng 6.138 tấn so với năm 2021. Cây khoai lang: Diện tích trồng khoai lang năm 2022 ước tăng 191 ha so với năm trước. Trong đó: Diện tích gieo trồng khoai lang vụ Đông Xuân đạt 3.120 ha, bằng 105,97% (tăng 176 ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 595 ha, bằng 106,98% (tăng 39 ha) và vụ Mùa ước đạt 46 ha, bằng 66% (giảm 24 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích tăng do một số huyện người dân được hỗ trợ giống cây khoai lang nên chuyển từ các loại cây khác sang trồng cây khoai lang. Năng suất khoai lang cả năm ước giảm 0,01 tạ/ha so với năm 2021. Trong đó: Năng suất vụ Đông Xuân đạt 75,52 tạ/ha, bằng 99,53% (giảm 0,35 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 60 tạ/ha, bằng 100,62% (tăng 0,37 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 40,21 tạ/ha, bằng 95,75% (giảm 1,79 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang cả năm ước tăng 1.378 tấn so với năm 2021. Do diện tích tăng trong khi năng suất giữ ổn định nên sản lượng khoai lang tăng.  Cây sắn: Diện tích sắn năm 2022 ước đạt 2.625 ha, bằng 107,15% (tăng 175 ha) so với năm trước. Năng suất ước đạt 152,75 tạ/ha, bằng 101,07% (tăng 1,61 tạ/ha), với sản lượng ước đạt 40.105 tấn, bằng 108,29% (tăng 3.072 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng nên bà con nông dân trồng sắn làm thức ăn chăn nuôi để giảm bớt chi phí. Cây lạc: Năm 2022, diện tích gieo trồng lạc ước tính giảm 1.182 ha so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng đạt 8.826 ha, bằng 88,07% (giảm 1.196 ha) và vụ Hè Thu sơ bộ đạt 368 ha, bằng 103,75% (tăng 14 ha) so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, do chi phí đầu vào tăng cao (giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) tăng cao người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà chuyển sang cây trồng khác. Năng suất lạc cả năm ước tính giảm 3,87 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Do giảm cả diện tích và năng suất nên sản lượng lạc cả năm ước tính giảm 6.873 tấn so với năm trước. Cây rau các loại: Năm 2022, diện tích gieo trồng rau ước tính tăng 483 ha so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng rau các loại đạt 11.098 ha, bằng 103,19% (tăng 344 ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 2.866 ha, bằng 105,78% (tăng 157 ha) và vụ Mùa ước đạt 194 ha, bằng 91,94% (giảm 18 ha). Năng suất rau cả năm ước tính tăng 0,67 tạ/ha với sản lượng rau cả năm ước tăng 4.321 tấn so với năm trước. Năm nay do lượng mưa nhiều, ít nắng hạn nên thuận lợi cho việc sản xuất các loại rau. - Cây lâu năm + Về diện tích: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 32.089 ha, bằng 100,77%, tăng 244 ha so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.792 ha, bằng 103,28%, tăng 628 ha so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 61,67% tổng diện tích cây lâu năm, Trong đó, diện tích các loại cây có múi vẫn đang là một trong những sản phẩm cây ăn quả hàng hóa chủ lực của Hà Tĩnh và đang được các địa phương quan tâm đầu tư sản xuất; diện tích cây cao su ước đạt 8.464 ha, bằng 95,15%, giảm 431 ha so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân giảm là do công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả và chuyển đổi mục đích sử dụng một số diện tích đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; diện tích chè búp ước đạt 1.267 ha, bằng 101,93%, tăng 24 ha và diện tích chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.824 ha, bằng 98,38%, giảm 30 ha so với cùng kỳ năm 2021. Diện tích chè trên địa bàn nhìn chung ổn định và tiếp tục được mở rộng thêm do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận; diện tích cây lâu năm khác ước đạt 605 ha, bằng 106,7%, tăng 38 ha so với cùng kỳ năm 2021, chủ yếu là tăng diện tích các loại cây cảnh lâu năm. + Về sản lượng: Do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cùng với điều kiện thời tiết năm nay không xẩy ra hạn hán, ít sâu bệnh, tỷ lệ đậu quả cao nên sản lượng các loại cây ăn quả tăng hơn so với cùng kỳ năm 2021. Sản lượng cây ăn quả: 9 tháng năm 2022 ước đạt 76.177 tấn, bằng 103,11%, tăng 2.300 tấn so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 39.020 tấn, bằng 104,25%, tăng 1.589 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng bưởi tăng 1.466 tấn, chanh tăng 116 tấn. Thời điểm này, bưởi đang tập trung thu hoạch chính vụ. Sản lượng cao su: ước đạt 3.098 tấn, bằng 107,87%, tăng 226 tấn so với cùng kỳ năm 2021. Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ cũng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. Sản lượng chè búp: ước đạt 7.643 tấn, bằng 101,95%, tăng 146 tấn và sản lượng chè xanh (chè hái lá) ước đạt 15.587 tấn, bằng 99,92%, giảm 13 tấn so với cùng kỳ năm trước. Chè chủ yếu tập trung ở các địa phương Hương Sơn, Hương Khê, huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Thạch Hà... - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, tình hình sâu bệnh xẩy ra đối với các loại cây trồng như sau: +Vụ Đông Xuân 2021 - 2022 Trên cây lúa: Ốc bươu vàng phát sinh gây hại giai đoạn mạ, bệnh đạo ôn lá gây hại hầu hết tại các địa phương, bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón thừa đạm, rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh, chuột phát sinh gây hại trên toàn tỉnh. Trên cây lạc: Bệnh héo rũ gốc mốc đen, mốc trắng phát sinh gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, diện tích nhiễm 35 ha, nhiễm nặng 1,3 ha phân bố tại Lộc Hà, Thạch Hà, Hương Khê, Vũ Quang,.... Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, phân bố tại Vũ Quang, Hương Khê..; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 22,5 ha tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn. Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc xuân, diện tích nhiễm 68 ha; sâu xanh bướm phượng, bệnh loét sẹo, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc. + Vụ Hè thu năm 2022 Trên cây lúa: Rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại chủ yếu trên diện tích sâu trũng, gieo cấy dày, phân bố chủ yếu ở Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn,…; bệnh khô vằn gây hại chủ yếu trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón phân không cân đối, thừa đạm, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; bệnh bạc lá, phân bố tại Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên, Lộc Hà,..; chuột phát sinh gây hại, phân bố hầu hết các địa phương. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên. Trên cây ăn quả có múi: Nhện nhỏ, bệnh nứt thân xì mủ phát sinh gây hại chủ yếu trên vườn cây lâu năm, thoát nước kém, phân bố tại Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc. b. Chăn nuôi Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi 9 tháng năm 2022 vẫn chỉ ở mức ổn định, chưa có nhiều khởi sắc. Dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xẩy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện nên tổng đàn các loại vật nuôi ổn định và có tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, nhất là nhu cầu tăng cao trong dịp lễ tết. Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh, nhất là hậu quả của dịch tả lợn Châu Phi thì việc chi phí chăn nuôi tăng cao trong khi giá cả tăng không đáng kể, cùng với đó việc tiếp cận nguồn vốn có lãi suất ưu đãi đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẽ gặp nhiều khó khăn là những rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua cũng như thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2022, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 41 xã thuộc 9 huyện, thành phố, thị xã (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, Thành phố Hà Tĩnh), tổng số lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy 939 con, trọng lượng hơn 50 tấn; dịch lở mồm long móng xẩy ra tại huyện Kỳ Anh và huyện Hương Khê với số lượng 17 con trâu và 48 con bò mắc bệnh và đã được điều trị khỏi bệnh; dịch bệnh viêm da, nổi cục xẩy ra tại huyện Vũ Quang làm 3 con bò mắc bệnh, trong đó có 2 con bị chết tiêu hủy với trọng lượng 108 kg; dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra tại huyện Đức Thọ và huyện Cẩm Xuyên, tổng số gia cầm bị ốm, chết và buộc tiêu hủy 4.913 con. Kết quả tiêm phòng đợt I năm 2022: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 104.894 liều, đạt 72% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 96.507 liều, đạt 67,4% kế hoạch; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò đạt 91.225 liều, đạt 68% kế hoạch; dịch tả lợn 158.328 liều, đạt 76% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 158.170 liều, đạt 75% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 85.595 liều, đạt 78% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 707.044 liều, đạt 28% kế hoạch. 1.2 Sản xuất Lâm nghiệp Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán 9 tháng đầu năm 2022 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện và đạt kết quả khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng rừng tập trung 9 tháng năm 2022 tăng 284 ha so với cùng kỳ năm 2021. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác 9 tháng năm 2022 tăng 26.541 m3 so với cùng kỳ năm 2021. Kết quả trồng cây phân tán cũng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha (giảm 0,83 ha) và 61 vụ phá rừng (tăng 24 vụ), với diện tích rừng bị phá là 31,79 ha (tăng 19,66 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3 Thủy sản Tháng 9 cũng như 9 tháng năm 2022, sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng nhẹ, so với cùng kỳ năm trước tổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2022 tăng 956 tấn hay tăng 2,17%. Trong đó, sản lượng khai thác chiếm 69,8% tổng sản lượng thủy hải sản, tăng 704 tấn và sản lượng nuôi trồng tăng 252 tấn. Mặc dù giá bán sản phẩm tương đối ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác trong thời gian qua tăng quá cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế đạt thấp. Cùng với đó là điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Những tháng cuối năm, điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển sẽ gặp khó khăn hơn.  Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến 15/9/2022, đối với tôm nuôi bệnh đốm trắng với diện tích nhiễm bệnh là 87,3 ha và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính với diện tích nhiễm bệnh là 9,23 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay gặp nhiều khó khăn, các sản phẩm chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất công nghiệp như điện sản xuất, thép giảm đã “kéo” giảm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh nhà. Ước 9 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp giảm 15,61% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 11,51% làm giảm 9,35 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 35,29%, làm giảm 5,85 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 14,11%, làm giảm 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.      - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP):  Ước tháng 9/2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 8/2022 ước tính tăng 28,91%, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự tính giảm 20,45%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,47% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước ngành này tăng 10,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 37,11% so với tháng trước và giảm 25,81% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,53% so với tháng trước và tăng 34,67% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 2,18% so với tháng 8/2022 và giảm 22,29% so với tháng 9/2021. Tính chung 9 tháng năm 2022, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp rất nhiều khó khăn do giá thép thành phẩm liên tục giảm từ tháng 7/2022 đến nay, nguồn cung thép khá dồi dào, áp lực hàng tồn kho lớn do nhu cầu thép trên thị trường suy yếu, buộc doanh nghiệp phải giảm sản lượng sản xuất để đẩy hàng tồn kho; tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 vẫn chưa hoạt động trở lại. Ước 9 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm 15,61% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,73%, làm giảm 0,07 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 11,51% làm giảm 9,35 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 35,29%, làm giảm 5,85 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 14,11%, làm giảm 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.                    Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 193,05%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 67,88%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 20,91%; sản xuất đồ uống tăng 20,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,59%. Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng thì trong 9 tháng qua, có 7 nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành: Sản xuất và phân phối điện giảm 35,29%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 15,52%; sản xuất kim loại giảm 13,8%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 6,85%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 6,58%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 4,37%; khai khoáng khác giảm 2,06%. - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp: Ước tính tháng 9/2022 tăng 10,54% so với tháng trước và giảm 44,89% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn 9 tháng năm 2022 ước giảm 16,47% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 9 tháng năm 2022, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn hiện nay. - Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chính ước tháng 9/2022 tăng 22,33% so với tháng trước và tăng 28,76% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 144,75% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. 3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 3.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai hiệu quả Nghị quyết số 08/NQ-TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, Nghị quyết số 56/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã. Đến ngày 20/9/2022, toàn tỉnh có 1.061 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 38,15% về số lượng so với cùng kỳ, vượt chỉ tiêu cả năm 2022, 15 hợp tác xã được thành lập mới; vốn đăng ký bổ sung của DN, HTX vào nền kinh tế trong 9 tháng là 6.972 tỷ đồng, giảm 16,59% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 6,57 tỷ đồng/DN. Tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử tăng cao, chiếm gần 65% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Song song với số lượng doanh nghiệp thành lập mới, trong 9 tháng vừa qua đã có 508 doanh nghiệp tạm ngừng hoặc giải thể, tăng 14,93% so với cùng kỳ 2021, trong đó số DN tạm dừng 383 DN, số DN đã giải thể là 125 DN. Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp những tháng cuối năm tăng khá trong khi doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm ngoái là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 3.2. Thu hút đầu tư Trong 9 tháng năm 2022, Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 14 dự án, trong đó 13 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn gần 2.910 tỷ đồng, 01 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3 triệu USD; lũy kế đến nay toàn tỉnh có 1.486 dự án, trong đó 1.410 dự án trong nước với tổng mức gần 136.000 tỷ đồng; 76 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn gần 16 tỷ USD. 9 tháng năm 2022, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra, nhà máy bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh đã đi vào hoạt động sản xuất. Ngoài Nhiệt điện Vũng Áng II, các dự án lớn khác trong quá trình xây dựng như: Nhà máy Sản xuất Pin VinES (TX Kỳ Anh) đã triển khai được 62% vốn đầu tư giai đoạn 1; các khu công nghiệp Cổng Khánh 1 và 2, khu đô thị TNR Stars Hồng Lĩnh (TX Hồng Lĩnh); đường bộ cao tốc Bắc - Nam; nâng cấp, mở rộng quốc lộ 8 đoạn Km37 - Km85; đường nối quốc lộ 1 đi khu du lịch biển Kỳ Xuân... cũng đang được các nhà thầu tập trung thực hiện. 3.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Xây dựng - Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động xây dựng trong quý III/2022 cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quý đầu năm. Trong đó: Có 35,62% ý kiến cho rằng khó khăn hơn; 37,67% ý kiến cho rằng không đổi và có 26,71% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Mặc dù giá trị ngành xây dựng trên địa bàn Hà Tĩnh tăng mạnh trong quý III/2022 và các quý tiếp theo, tuy nhiên các công trình, hạng mục lớn thuộc 2 dự án nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 2 và nhà máy Vines chủ yếu do doanh ngoài tình thực hiện, do đó, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tỉnh Hà Tĩnh còn gặp nhiều khó khăn. - Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động xây dựng trong quý IV/2022 cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có 32,19% ý kiến cho rằng không thay đổi, 26,03% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn và 39,73% ý kiến cho rằng khó khăn hơn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng thuận lợi hơn trong quý IV/2022, giá trị xây dựng trên địa bàn tăng mạnh so với cùng kỳ và so với quý trước. Nguồn vốn đảm bảo, công tác giải ngân, nghiệm thu công trình được đẩy mạnh. Do đó, hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong quý tiếp theo. *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Công nghiệp - Tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2022 so với quý II/2022, có 81,4% DN đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó có 44,19% khẳng định SXKD tốt lên; 37,21% khẳng định giữ ổn định), bên cạnh đó có 18,6% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. - Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2022 sẽ gặp khó khăn hơn so quý III/2022 khi có tới 34,88% DN cho rằng tình hình sản xuất quý tiếp theo khó khăn hơn so với hiện tại. - Dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng quý IV/2022 so với quý III/2022: Có 44,19% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 20,93% giảm đi. Các doanh nghiệp dự báo quý IV/2022 số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và doanh nghiệp cố gắng duy trì số lượng đơn đặt hàng như quý trước (57,14% nhận định giữ nguyên như quý III; 35,71% DN dự định tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu và có 7,15% DN nhận định lượng hàng xuất khẩu giảm đi). - Đánh giá về biến động lao động quý III/2022 so với quý II/2022 có 86,05% số DN khẳng định qui mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 4,65% doanh nghiệp tăng số lao động, có 81,4% khẳng định giữ ổn định) và có 13,95% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý IV/2022 so với quý III/2022 có 76,75% DN khẳng định giữ ổn định số lao động. Điều này khẳng định đa số các doanh nghiệp vẫn đang hoạt động ổn định nên không có sự thay đổi nhiều về lao động. 4. Thương mại, dịch vụ: Hoạt động thương mại, dịch vụ 9 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi động. Tổng mức bán lẻ và doanh thu các dịch vụ tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh phục hồi tích cực. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:    - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tháng 9 năm 2022 đạt 4.728,36 tỷ đồng, tăng 2,68% so với tháng trước và tăng 51,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 38.025,31 tỷ đồng, tăng 22,23% so với cùng kỳ năm trước. Tăng ở tất cả nhóm hàng và đặc biệt tăng mạnh ở các nhóm hàng như: Lương thực, thực phẩm tăng 21,99%; may mặc tăng 30,20%; gỗ và vật liệu xây dưng tăng 20,10%; xăng dầu các loại tăng 47,66%; nhiên liệu khác 32,88%; đá quý, kim loại quý tăng 46,88%; hàng hóa khác tăng 28,11%. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 9 tháng năm 2022 chịu nhiều tác động bởi tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới. Những lo ngại về lạm phát, suy giảm kinh tế tác động đến cung cầu, giá cả nhiều nhóm hàng hóa. Đặc biệt là nhóm nhiên liệu xăng, dầu tăng giá mạnh đã tác động xấu đến mặt bằng giá cả chung trong toàn tỉnh. Tuy vậy, từ khi dịch Covid -19 được kiểm soát, môi trường sản xuất, kinh doanh trong 9 tháng qua đã trợ lại hoạt động bình thường, sản xuất lưu thông hàng hóa ổn định khiến hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng mạnh. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 9/2022 ước đạt 545,26 tỷ đồng, tăng 6,96% so với tháng trước, tăng 4,77 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 25,81 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước, tăng 7,54 lần so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 518,42 tỷ đồng, tăng 7,23% so với tháng trước, tăng 4,66 lần so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,03 tỷ đồng, tăng 15,03% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.457,46 tỷ đồng, tăng 60,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 193,92 tỷ đồng, tăng 100,10%; lượt khách phục vụ ước đạt 1.089 nghìn lượt, tăng 81,16% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 878.172 ngày, tăng 59,25% so với cùng kỳ năm trước. Ăn uống ước đạt 4.250,38 tỷ đồng, tăng 58,50% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 13,16 tỷ đồng, tăng 78,96% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh đang trên đà phát triển tích cực sau thời gian dài hạn chế hoạt động và tạm ngừng (từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022). Đặc biệt là khu vực dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng cả trong 2 quý II và III, nhất là tăng mạnh trong quý III tăng 3,39 lần so với cùng kỳ năm trước. Các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Ngoài số lượng khách nội tỉnh, khách du lịch ngoại tỉnh đến với Hà Tĩnh cũng bắt đầu tăng lại như thời điểm trước dịch. Cùng với đó là sự thuận lợi về đường giao thông, phương tiện đi lại; chất lượng của các cơ sở lưu trú ngày càng được chú trọng. Hiện nay xu hướng ăn uống ngoài gia đình ngày càng phát triển đã kéo theo sự gia tăng hàng loạt các loại hình ăn uống như nhà hàng, quán ăn từ sang trọng đến bình dân nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng. - Dịch vụ khác: Tháng 9 năm 2022 ước tính đạt 227,36 tỷ đồng, tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 180,60% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022 ước đạt 1.795,33 tỷ đồng, tăng 52,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng mạnh ở các nhóm như: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 62,87%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 39,58%; giáo dục đào tạo tăng 126,37%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 15,18%. Tuy nhiên, nhóm y tế và hoạt động trợ giúp xã hội là nhóm duy nhất có doanh thu giảm so với cùng kỳ, giảm 3,12% do cơ bản tình hình dịch Covid-19 đã được kiểm soát, ảnh hưởng không còn quá nặng nề. Xét từng quý thì doanh thu dịch vụ tăng ở cả 3 quý nhưng tăng mạnh nhất ở quý III với tốc độ tăng 167,19% so với cùng kỳ. Nhìn chung hoạt động dịch vụ khác đã phục hồi và có đà tăng trưởng khá tốt. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 9 tháng năm 2022 diễn ra khá sôi động, doanh thu của hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa đều tăng do sự thuận lợi về hạ tầng giao thông, chất lượng dịch vụ cũng như đầu tư thêm cơ sở vật chất của các đơn vị kinh doanh vận tải. Dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát số lượng tàu cập cảng ổn định, lượng hàng hóa thông qua cảng chủ yếu là nguyên vật liệu và thép qua cảng Sơn Dương của Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa. - Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 9/2022 ước đạt 486,05 tỷ đồng, tăng 1,33% so tháng trước và tăng 78,41% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 111,03 tỷ đồng, tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 11,93 lần so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 291,21 tỷ đồng, tăng 1,45% so tháng trước và tăng 46,30% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 67,77 tỷ đồng, tăng 1,61% so với tháng trước và tăng 34,79% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 9 tháng năm 2022 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 4.201,07 tỷ đồng, tăng 21,18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 869,61 tỷ đồng, tăng 21,21%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11.000,5 nghìn HK, tăng 14,07% và luân chuyển đạt 1.874,45 triệu HK.km, tăng 15,47%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.546,06 tỷ đồng, tăng 29,0%; khối lượng vận chuyển ước đạt 28.583,14 nghìn tấn, tăng 30,27% và luân chuyển ước đạt 727,89 triệu tấn.km, tăng 28,50%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 645,16 tỷ đồng, tăng 0,15% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 9 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, các tuyến xe liên tỉnh, xe buýt đã hoạt động lại bình thường, hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải tập trung đầu tư mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, việc hồi phục của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. Nhu cầu đi lại, tham quan du lịch của người dân trong các dịp lễ tăng cao, đây là tín hiệu khởi sắc cho hoạt động kinh doanh vận tải. Các doanh nghiệp vận tải đã tăng công suất vận chuyển để phục vụ nhu cầu đi lại của khách hàng. Cùng với đó, hoạt động xây dựng trên địa bàn tăng mạnh, nhu cầu về vận chuyển vật liệu xây dựng tăng. Giá xăng, dầu tăng cao so với cùng kỳ khiến cho giá vé hành khách, đơn giá vận chuyển hàng hóa tăng cũng là một trong nguyên nhân khiến doanh thu hoạt động vận tải kho bãi tăng. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 1. Tài chính, ngân hàng 1.1 Hoạt động tài chính Kết quả thu NSNN 9 tháng năm 2022 đạt khá, điều này cho thấy cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã thích nghi với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất - kinh doanh ổn định. Trong bối cảnh thực hiện nhiều chính sách phục hồi kinh tế như miễn, giảm, giãn các khoản thuế, phí để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, Hà Tĩnh đang làm tốt nhiệm vụ thu ngân sách và cân đối, phát triển nền kinh tế. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng được các nhiệm vụ bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương. Tổng thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) sơ bộ tính đến ngày 15/9/2022 đạt 13.277,39 tỷ đồng (tăng 22,63% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 6.296,17 tỷ đồng (chiếm 47,42% trong tổng thu) tăng 19,29% so với cùng kỳ. Một số sắc thuế thu vượt cao như: Thu tiền sử dụng đất 2.337,41 tỷ đồng (tăng 36,58% so với cùng kỳ); thu thuế thu nhập cá nhân 398,16 tỷ đồng (tăng 69,72% so với cùng kỳ); thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài 1.036,98 tỷ đồng (tăng 56,89%); thu cấp quyền khai thác khoáng sản 63,93 tỷ đồng tăng 117,15%… Bên cạnh thu nội địa thì thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng khá so với cùng kỳ sơ bộ đạt 6.746,41 tỷ đồng (chiếm 50,81% tổng thu) tăng 40,58% so với cùng kỳ. Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/9/2022 sơ bộ đạt 13.181,58 tỷ đồng giảm 14,31% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 5.337,36 tỷ đồng chiếm 40,49% tổng chi, giảm 30,4% so với cùng kỳ; chi thường xuyên sơ bộ đạt 7.781,16 tỷ đồng chiếm 59,03% tổng chi, tăng 1,05% so với cùng kỳ năm 2021. 1.2 Hoạt động ngân hàng Mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng trong tháng 9/2022 có chững lại nhưng tổng thể 9 tháng năm 2022, tín dụng đạt mức tăng trưởng tốt với mức tăng 20,93% so với cuối năm 2021, đồng thời vượt kế hoạch tăng trưởng năm 2022. Nguồn vốn huy động 9 tháng đầu năm giảm 1,86% so với cuối năm 2021. Nguyên nhân giảm chủ yếu do nguồn tiền gửi thanh toán của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn giảm mạnh, cụ thể tiền gửi thanh toán giảm 12,22% trong khi đó nguồn tiền gửi tiết kiệm dân cư tăng 2,87%. Ước nguồn vốn huy động đến 30/9/2022 đạt 85.795 tỷ đồng, giảm 1,86% so với cuối năm 2021.Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.250 tỷ đồng, chiếm 14,28% tổng nguồn vốn huy động, tăng 6,29% so với cuối năm 2021; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 73.545 tỷ đồng, giảm 21,66%. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 59.710 tỷ đồng, tăng 2,87% so với cuối năm 2021; tiền gửi thanh toán ước đạt 25.400 tỷ đồng, giảm 12,22% so với thời điểm cuối năm. Dư nợ cho vay đến 30/9/2022 đạt 86.800 tỷ đồng, tăng 20,93% so với cuối năm 2021. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 59.450 tỷ đồng (chiếm 68,49% tổng dư nợ), tăng 21,85% so với cuối năm; dư nợ trung dài hạn đạt 27.350 tỷ đồng (chiếm 31,51% tổng dư nợ) tăng 18,98%. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 35.968 tỷ đồng, tăng 16,04% so với đầu năm. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 16,27% so với cuối năm 2021, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 66,56%, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 14,77%.         Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 2,9-3,95% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4-6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,3- 6,6%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4,5-9,5%/năm, trung dài hạn phổ biến 7-12%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 1,04-3%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 4,5-5,5%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Tính đến 30/9/2022 nợ xấu ước tính 518 tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng dư nợ (giảm 0,14% so với 6 tháng). Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp, giảm so với các năm trước và nằm trong giới hạn cho phép. 2. Vốn đầu tư phát triển       9 tháng năm 2022, được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, các đơn vị, địa phương đã tham gia tích cực trong công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn; các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước được đẩy nhanh tiến độ thi công cũng như công tác giải ngân nguồn vốn, đặc biệt có những dự án lớn như: Dự án sản xuất Pin do công ty giải pháp năng lượng VinES, dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 là những động lực làm tăng lượng vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2022 ước đạt 27.133 tỷ đồng, tăng 46,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn tập trung chủ yếu từ nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước với 15.158 tỷ đồng chiếm 55,86% trong tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh. Trong 9 tháng vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế đến tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra. Ngoài Nhiệt điện Vũng Áng II, các dự án lớn khác trong quá trình xây dựng như: Nhà máy Sản xuất Pin VinES (TX Kỳ Anh) đã triển khai được 62% vốn đầu tư giai đoạn 1; nhà máy bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh, các khu công nghiệp Cổng Khánh 1 và 2, khu đô thị TNR Stars Hồng Lĩnh (TX Hồng Lĩnh)... cũng đang được các nhà thầu tập trung thực hiện. Dự ước tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng năm 2022 đạt 27.133 tỷ đồng, tăng 46,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 5.216 tỷ đồng, tăng 6.02% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 15.158 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 33,54% và vốn hộ dân cư tăng 7,53%; vốn đầu tư thực hiện trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 6.758 tỷ đồng, tăng 12 lần (tăng 1292,92%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính dẫn đến tổng vốn đầu tư phát triển tăng so với cùng kỳ là do Dự án sản xuất Pin do công ty giải pháp năng lượng VinES đầu tư ước đạt 952 tỷ và dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 dự ước đạt 6.264 tỷ đồng. 3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất khẩu tháng 9 năm 2022 tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng chung của thị trường thế giới, đặc biệt mặt hàng thép. Kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 9 ước đạt 412 triệu USD giảm 3,18% so với tháng trước và giảm 16,51% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2022 kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 4.274,13 triệu USD tăng 5,40% so với cùng kỳ, chủ yếu do việc tăng nhập khẩu. Cụ thể công ty Formosa mặc dù hàng hóa sản xuất gặp khó khăn trong việc tiêu thụ nhưng công ty vẫn tích cực nhập khẩu nguyên liệu đầu vào do các ưu đãi về quyền lợi và giá cả. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 9 ước đạt 114,5 triệu USD, tăng 15,96% so với tháng trước nhưng giảm 48,37% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù mặt hàng thép, phôi thép ước đạt 101,5 triệu USD có tăng so với tháng trước (tăng 37,05%) tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn ở mức giảm khá sâu (giảm 49,71%). Còn lại các mặt hàng chủ lực khác như dăm gỗ, xơ sợi dệt, thủy sản... đều gặp khó khăn trong khâu xuất khẩu tiêu thụ. Cộng dồn 9 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.279,83 triệu USD giảm 14,14% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép đã giảm dần tỷ trọng trong các mặt hàng xuất khẩu nhưng vẫn chiếm 87,37% ước đạt 1.118,21 triệu USD giảm 16,25%, tính chung 9 tháng ghi nhận việc tăng kim ngạch xuất khẩu ở các mặt hàng chủ lực khác như dệt, may mặc, dăm gỗ... dự báo khả năng xuất khẩu của mặt hàng dệt và may mặc sẽ là điểm sáng trong xuất khẩu tỉnh nhà trong thời gian tới. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 9/2022 ước đạt 297,5 triệu USD, tăng 9,51% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 8,96% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.994,3 triệu USD, tăng 16,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 2.610,3 triệu USD (Chiếm 87,18%) tăng 17,82%., mặc dù hàng hóa sản xuất gặp khó khăn trong việc tiêu thụ do tình hình chung của thế giới nhưng công ty vẫn tích cực nhập khẩu nguyên liệu đầu vào do các ưu đãi về quyền lợi và giá cả. Những tháng cuối năm dự báo kim ngạch xuất khẩu vẫn rất khó khăn do tình hình thế giới vẫn chưa có tín hiệu gì khởi sắc. 4. Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 đã có những tín hiệu tích cực và giảm nhẹ so với tháng trước. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định do những bất ổn về chính trị thế giới đã tác động tiêu cực và tình hình diễn biến giá cả khó nắm bắt ảnh hưởng đến tình hình kinh tế trong nước. Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, khí đốt vẫn đang ở mức cao ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế. Chỉ số CPI tháng 9 giảm 0,25% so với tháng trước nhưng tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước; Khu vực nông thôn giảm 0,29% so với tháng trước, tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó, tăng rõ nhất ở nhóm hàng giáo dục tăng 2,30% còn lại chỉ tăng nhẹ, cụ thể: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,17%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% ; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,10%. Bên cạnh đó, có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,57%; giao thông giảm 1,80%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,15%. Có 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (Đồ uống và thuốc lá; bưu chính viễn thông). Thị trường giá vàng 9999 trong tháng bình quân tăng so tháng trước do ảnh hưởng bởi các diễn biến từ thị trường thế giới. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.215 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.405.970 đồng/100 USD. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 9/2022 gồm: (1) Giá nhiên liệu xăng, dầu qua các kỳ điều chỉnh trong tháng tiếp tục giảm dẫn tới giá bình quân giảm so với tháng trước; (2) Giá vật liệu xây dựng, đặc biệt là thép tiếp tục giảm do những yếu tố bất ổn trên thị trường thế giới; (3) Yếu tố mùa vụ khi kết thúc tháng 7 âm lịch, nhu cầu nhiều nhóm mặt hàng có sự thay đổi như hoa tươi, đồ dùng gia đình. Bên cạnh đó, các mặt hàng phục vụ năm học mới như hàng may mặc, văn phòng phẩm cũng có sự biến động mạnh về giá. Ngoài ra, mùa thu hoạch cũng khiến nhóm các loại nông sản có sự biến động giá theo. Tính chung CPI 9 tháng năm 2022 tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,85%; nông thôn tăng 1,89%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,91%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,29%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,15%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,31%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,75%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,18%; giao thông tăng 12,36%; bưu chính viễn thông giảm 0,25%; giáo dục tăng 0,40%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,69%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,75% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Nhưng gần đây, do một số mặt hàng khác như nhiên liệu, vật liệu xây dựng, điện, nước sinh hoạt ở mức cao đã có dấu hiệu ổn định giảm giá khiến chỉ số giá tiêu dùng chung ở mức ổn định. Dự kiến CPI tháng 10/2022 dự kiến tiếp tục tăng, Cụ thể, giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn. Thời tiết chuyển dần sang mùa lạnh cũng khiến nhu cầu các nhóm mặt hàng như may mặc, thực phẩm, đồ dùng gia đình, điện, nước sinh hoạt có sự thay đổi. III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm  Quý III năm 2022 tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước; nhiều doanh nghiệp đã khởi động các kế hoạch đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao nhu cầu sử dụng lao động, tập trung chủ yếu vào các ngành may mặc, kinh doanh, xây dựng, điện tử, sửa chữa máy móc…;so với cùng kỳ năm trước lao động đang làm việc trong nền kinh tế tăng 0,4%, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,48 điểm %. Tính chung 9 tháng đầu năm 2022, lao động đang làm việc trong tỉnh tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,22 điểm phần trăm. - Lực lượng lao động: Ước tính quí III/2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh là 513.748 người, so với quý trước tăng 0,85% và 0,3% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động là nam 272.557 người (chiếm 53,05% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 123.525 người (chiếm 24,04% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý III năm 2022 (lực lượng lao động 15 tuổi trở lên so với dân số 15 tuổi trở lên) là 52,37%, tăng 0,44 điểm phần trăm so với quý II/2022 và giảm 0,57 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 9 tháng năm 2022, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 514.090 người, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động nam là 273.269 người, chiếm 53,16% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 122.942 người, chiếm 23,91%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng năm 2022 là 52,4%, giảm 0,57 điểm % so với năm 2021. Tỷ lệ này cũng có sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ, ở thành thị cao hơn nông thôn là 7,39 điểm phần trăm; nam giới cao hơn nữ giới là 11,14 điểm phần trăm. - Lao động có việc làm: tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý III năm 2022 là 490.761 người, chiếm 95,53% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; so với quý trước tăng 0,3% và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị chiếm 24,1%; lao động có việc làm là nam giới chiếm 52,3%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 152.052 người, chiếm 30,98% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 143.865 người, chiếm 29,31%; ngành dịch vụ là 194.844 người, chiếm 39,7%. Tính chung 9 tháng năm 2022, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 489.812 người, chiếm 95,28% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 0,32% so với cùng kỳ năm 2021. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị chiếm 24,21%; ở nam giới chiếm 52,56%. Số lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 31,25% (tương ứng 153.061 người), giảm 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực Công nghiệp - Xây dựng chiếm 29,14% (tương ứng 142.742 người), tăng 0,82 điểm phần trăm; còn khu vực Dịch vụ chiếm 39,61% (tương ứng 194.009 người), tăng 0,18 điểm phần trăm. - Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Ước tính quý III/2022, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 22.987 người (chiếm 4,47% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý III/2022 ước tính là 4,86%, giảm 0,42 điểm phần trăm so với quý trước và 0,48 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 24.278 người, chiếm 4,72% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,03 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2022 ước tính là 5,19%, giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý III/2022 là 3,51%, giảm 0,32 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 9 tháng năm 2022, ước tính tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 3,79%, tăng 0,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. - Tình hình giải quyết việc làm: Quý III/2022, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 6.303 người, tăng 2,65% so với quý II/2022, tăng chủ yếu do xuất khẩu lao động (tăng 70,98% so với quý II/2022). Ước tính 9 tháng năm 2022, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 18.918 người, đạt 85,99% kế hoạch năm 2022, tăng 53,63% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 7.022 người, chiếm 37,12% trong tổng số, tăng 53,63%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 4.427 người, chiếm 23,4%, tăng 192,6%; xuất khẩu lao động 7.469 người, chiếm 39,48%, tăng 43,3%. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Sau thời gian dài gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã hoạt động bình thường và dần đi vào ổn định góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: 9 tháng đầu năm 2022 toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 459.948 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 151,686 tỷ đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 304.599 suất quà trị giá 83,498 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 50.576 suất quà trị giá 25,376 tỷ đồng; Tặng quà cho người cao tuổi khoảng 37.207 suất quà trị giá 10,656 tỷ đồng; Tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 24.000 suất quà trị giá 12,725 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 43.566 suất quà trị giá 19,431 tỷ đồng. Đồng thời trao tặng 12 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 104 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 459 nhà kinh phí khoảng 32.219 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 31 nhà kinh phí khoảng 1.034 triệu đồng. Cấp khoảng 22.039 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 42.011 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 155.181 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 49.860 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo. Ngoài ra thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-Ttg ngày 28/03/2022 của Chính Phủ về “Quy định việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động”; Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày 11/5/2022 của UBND tỉnh về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đến nay Hà Tĩnh đã hoàn thành việc chi trả hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động. Tổng số lao động được hỗ trợ 1.314 lao động với kinh phí hỗ trợ 1.999,5 triệu đồng, được chia làm 4 đợt. Đợt 1 là 301 lao động, kinh phí hỗ trợ 459 triệu đồng; đợt 2 là 375 lao động, kinh phí hỗ trợ 580 triệu đồng; đợt 3 là 169 lao động, kinh phí hỗ trợ 258 triệu đồng; đợt 4 là 465 lao động, kinh phí hỗ trợ 698,5 triệu đồng. 3. Giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Sáng ngày 5/9, hơn 350 ngàn giáo viên và học sinh ở 668 trường học trên địa bàn Hà Tĩnh náo nức khai trường. Lễ khai giảng năm học mới 2022 - 2023 được các trường học ở Hà Tĩnh tổ chức trực tiếp, gọn nhẹ, trang nghiêm, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh ở khắp các vùng miền.  Năm học 2022-2023 toàn tỉnh có 668 trường, trong đó có 527 trường đạt chuẩn quốc gia (gồm 255 trường mầm non (tăng 186 trường so với năm học trước), 221 trường tiểu học (không đổi), 147 trường THCS (không đổi), 45 trường THPT (không đổi)); với 10.783 lớp (mẩu giáo 2917 lớp (tăng 49 lớp); tiểu học 4250 lớp (tăng 82 lớp); THCS 2.427 lớp (tăng 83 lớp); THPT 1.189 lớp (giảm 3 lớp); 18.778 giáo viên (mầm non 5.621 người (giảm 73 giáo viên); tiểu học 5.605 người (tăng 232 giáo viên); THCS 4.799 người (tăng 361 giáo viên); THPT 2.753 người (tăng 29 người) và 335.175 học sinh (mầm non 74.416 học sinh (giảm 3.182 học sinh); tiểu học 136.500 học sinh (tăng 5886 học sinh); THCS 82.423 học sinh (tăng 4.609 học sinh); THPT 41.836 học sinh (tăng 3715 học sinh). Kết quả tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2022-2023, toàn tỉnh có 13.908 học sinh trúng tuyển, trong đó có 13.490 học sinh lớp không chuyên với 402 lớp và 418 học sinh chuyên với 12 lớp. Hệ bổ túc THPT có 3.724 học sinh trúng truyển. - Giáo dục đào tạo: 9 tháng đầu năm 2022 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 15.583 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 249 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 7.349 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 7.985 người. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Để tiếp tục phòng chống hiệu quả với dịch bệnh, hạn chế các ca chuyển nặng thì việc tăng cường tiêm vắc-xin phòng COVID-19, nhất là các mũi nhắc lại đối với người từ 12 tuổi trở lên và các mũi cơ bản đối với trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi là hết sức cấp thiết. Bên cạnh đó Ngành Y tế Hà Tĩnh cùng các địa phương đang triển khai quyết liệt các giải pháp, khuyến cáo phòng, chống dịch sốt xuất huyết đang có chiều hướng diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh và các dịch bệnh khác trong giai đoạn chuyển mùa. - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/9/2022 là 56.771 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 57.004 ca mắc. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 50.115 ca, trong đó đã có 49.588 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN. Điều trị khỏi 57.128 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 57.004 BN tại Hà Tĩnh, 54 BN tử vong. Nhờ vào cuộc quyết liệt nên nhiều địa phương của Hà Tĩnh đã có kết quả tiêm vắc-xin phòng COVID-19 đạt cao. Trên cơ sở số lượng vắc-xin được Bộ Y tế phân bổ, đến nay, Hà Tĩnh đã triển khai 31 đợt tiêm phòng cho người từ 12 tuổi trở lên và 16 đợt tiêm phòng cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi. - Tình hình dịch bệnh khác: Tính đến ngày 15/9/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 387 ca sốt xuất huyết (gồm 11 ổ dịch với 120 ca mắc và 267 ca đơn lẻ), so với cùng kỳ năm trước: số ổ dịch tăng 9 ổ, tăng 87 ca mắc bệnh ở ổ dịch. Ngoài ra, 9 tháng năm 2022 trên địa bàn Hà Tĩnh còn một số ca bệnh đơn lẻ như: 267 ca mắc sốt xuất huyết (tăng 37,14 lần so với cùng kỳ năm trước), 2 ca mắc sốt rét (tăng 100%), 0 ca viêm não do vi rút (giảm 93 ca), 68 ca mắc bệnh quai bị (tăng 134,48%), 132 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 34,69%); 166 ca mắc lỵ a míp (tăng 23,36%); 114 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 83,41%), 10.310 ca mắc bệnh cúm (giảm 22,35%), 19 ca chân tay miệng (tăng 11,76%), tiêu chảy 2.041 ca, viêm gan vi rút khác 30 ca, tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, có 01 người nhiễm mới HIV, 01 người chuyển thành AIDS và 01 người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: giảm 01 người nhiễm mới HIV, giảm 01 người chuyển thành AIDS, giảm 01 người chết vì AIDS. Tính chung 9 tháng đầu năm 2022 có 14 người nhiễm mới HIV, 7 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước: Giảm 21 người (giảm 60,0%) nhiễm mới HIV, giảm 25 người (giảm 78,12%) chuyển thành AIDS, tăng 1người chết vì AIDS (tăng 50%). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Thực hiện Kế hoạch số 60/KH-BCĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh về việc Kiểm tra liên ngành an toàn thực phẩm Tết Trung thu năm 2022, toàn tỉnh tổ chức thành lập 231 đoàn kiểm tra liên ngành, từ ngày 25/8/2022 cho đến ngày 16/9/2022 đã kiểm tra được 2.722 lượt cơ sở, phát hiện và xử lý vi phạm hành chính 117 cơ sở, tổng số tiền xử phạt gần 300 triệu đồng, tiêu hủy nhiều hàng hóa thực phẩm vi phạm về an toàn thực phẩm. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm, chỉ có 79 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2022 có 01 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 659 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 264 ca (giảm 28,60%), số ca tử vong không đổi. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi. Sáng 24/8, UBND TX Kỳ Anh tổ chức khai mạc Liên hoan Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Nội dung các tiết mục tập trung vào chủ đề: Ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, tình yêu quê hương đất nước, cuộc sống, lao động sản xuất, thi đua yêu nước..Sáng ngày 5/9/2022 (tức ngày 10/8 âm lịch), tại Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du, đoàn cán bộ của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ tỉnh Hà Tĩnh, tổ chức dâng hương nhân ngày giỗ lần thứ 202 của Đại thi hào Nguyễn Du. Lễ giỗ Đại thi hào Nguyễn Du là dịp để tưởng nhớ, tôn vinh những giá trị mà Danh nhân văn hóa thế giới để lại cho dân tộc, cho nhân loại. Nhìn chung 9 tháng năm 2022 nhờ kiểm soát tốt dịch Covid-19, hoạt động văn hóa sôi nổi hơn so với cùng kỳ năm trước. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Tính chung 9 tháng đầu năm 2022, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức 4 cuộc kiểm tra chuyên ngành tại 124 cơ sở kinh doanh các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch; lập biên bản nhắc nhở đối với 95 cơ sở kinh doanh còn hạn chế, thiếu sót; xử phạt hành chính 01 cơ sở với số tiền 05 triệu đồng.  - Hoạt động thể thao: +Thể thao quần chúng: Trong tháng hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng. Ngày 28/8 tại Nhà thi đấu TDTT Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ khai mạc Đại hội Thể dục thể thao lần thứ IX năm 2022 (Đại hội TDTT toàn tỉnh được tổ chức theo chu kỳ 4 năm một lần) thu hút gần 2000 VĐV tham gia ở 15 môn thi đấu: việt dã, bóng đá nam, bóng chuyền nam thanh niên, bóng chuyền hơi, bóng chuyền bãi biển, kéo co, đua thuyền, cầu lông, bóng đá thiếu niên, bóng đá nhi đồng, vovinam, quần vợt (triển khai từ đầu năm). Ngoài ra, chào mừng kỷ niệm 77 năm ngày Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2022) nhiều hoạt động thể dục thể thao đã diễn ra như Giải Đua thuyền thúng năm 2022 tại huyện Lộc Hà; Giải đua thuyền trên hồ Bồng Sơn huyện Hương Khê với sự tham gia của 24 đội, trong đó có 15 đội nam và 9 đội nữ, đặc biệt, giải đua thuyền năm nay còn có sự tham gia của các đội huyện Nakai, tỉnh Khăm Muộn, Nước bạn Lào, đội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và đội huyện Vũ Quang…Nhìn chung 9 tháng năm 2022 nhờ kiểm soát tốt dịch Covid-19 hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi hơn so với cùng kỳ năm trước. + Thể thao thành tích cao: Tính chung 9 tháng năm 2022, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 29 giải đấu, đạt 209 huy chương các loại (81 huy chương vàng, 60 huy chương bạc, 68 huy chương đồng), trong đó 04 giải quốc tế đạt 19 huy chương (8HCV-7HCB-4HCĐ), SEA Games 31 đạt 16 huy chương (6 huy chương vàng, 7 huy chương bạc, 3 huy chương đồng). 6. Tai nạn giao thông Tính từ ngày 15/8-14/92022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ tai nạn đường bộ, làm 8 người chết, không có người bị thương, thiệt hại 140 triệu đồng. So với tháng trước giảm 2 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước số vụ không đổi và giảm 1 người chết và số người bị thương không đổi. Tính chung 9 tháng năm 2022 (tính từ ngày 15/12/2021-14/9/2022) đã xẩy ra 69 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 60 người chết, 28 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 1.140 triệu đồng, so với cùng năm 2021 số vụ tai nạn giảm 9 vụ (giảm 11,54%); giảm 8 người chết (giảm 11,76%) và tăng 2 người bị thương (tăng 7,69%), số tiền nộp phạt tăng 78 triệu đồng. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/8/2022 đến ngày 14/9/2022 đã xảy ra 4 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại ước tính là 2532 triệu đồng. So với tháng trước giảm 5 vụ cháy,nổ; số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ; số người chết và số người bị thương không đổi. Tính chung 9 tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2021-14/9/2022) đã xảy ra 38 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 4.797 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ (giảm 5%), giảm 2 người chết (giảm 66,67%), giảm 1 người bị thương (giảm 50%); thiệt hại ước tính tăng 2.261 triệu đồng. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/8 đến ngày 14/9/2022 đã phát hiện 85 vụ, đã xử lý 44 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 234,93 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện tăng 19 vụ (tăng 28,79%), số vụ đã xử lý không đổi, số tiền nộp phạt tăng 153,45 triệu đồng (tăng 188,33%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 75 vụ đã phát hiện (tăng 750%), tăng 34 vụ đã xử lý (tăng 340%), số tiền xử phạt tăng 142,33 triệu đồng (tăng 153,70%). Tính chung 9 tháng đầu năm (ngày 15/12/2021 - 14/9/2022) đã phát hiện 693 vụ, đã xử lý 464 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1.791,92 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ phát hiện tăng 578 vụ (tăng 502,61%), số vụ xử lý tăng 377 vụ (tăng 433,33%), tsố tiền nộp phạt tăng 570,07 triệu đồng (tăng 46,66%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong 9 tháng chủ yếu là vận chuyển, khai thác cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 630 vụ (chiếm 90,91%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 34 vụ (chiếm 4,91%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 24 vụ (3,46%); thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 5 vụ (chiếm 0,72%). 8. Thiệt hại thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước giảm 1 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không đổi. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 6 vụ thiên tai, cụ thể là 01 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 01 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 3 vụ sét đánh (ngày 26/5 ;14/6 và 21/7 ), 01 vụ lốc xoáy (ngày 14/6). 6 vụ thiên tai đã làm chết 4 người, làm hư hỏng 01 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ thiên tai, số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng./.

Tình hình KTXH tháng 8 và 8 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 16:38

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 8 năm 2022, bà con nông dân tập trung chăm sóc các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2022, đối với cây lúa bà con thăm đồng thường xuyên hơn để kiểm tra tình hình sinh trưởng và phát triển của lúa, đặc biệt kiểm tra các đối tượng sâu bệnh có thể xảy ra để phun trừ kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu; Hoạt động chăn nuôi vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện; Hoạt động sản xuất lâm nghiệp nhìn chung ổn định, trong tháng có mưa nên kết quả trồng rừng tập trung tăng hơn so với tháng trước, công tác phòng cháy chữa cháy bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện; Hoạt động thủy sản có mức tăng khá so với tháng trước do giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm nên ngư dân vươn khơi bám biển khai thác hải sản. 1.1 Sản xuất nông nghiệp                 *Trồng trọt  - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2022  Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu 2022 toàn tỉnh ước đạt 58.681 ha, bằng 100,37% (tăng 219 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 233.127 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 98,35% (giảm 3.899 tấn). Dự kiến, kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm nay ngoài cây lúa giảm thì các loại cây trồng chủ lực khác vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể kết quả đối với một số cây trồng chủ lực như sau:  Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh ước tính giảm 429 ha so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích gieo cấy lúa giảm như: Đức Thọ giảm 414 ha; Thành phố Hà Tĩnh 78 ha; Nghi Xuân 70 ha; Thạch Hà 48 ha …Nguyên nhân chủ yếu diện tích lúa Hè Thu năm nay giảm là do sản xuất vụ Đông Xuân kết thúc chậm hơn so với kế hoạch đề ra gây ảnh hưởng đến việc gieo cấy lúa. Ngoài ra, năm nay được đánh giá là năm thời tiết thất thường mưa nhiều nắng ít nên đã gặp khó khăn trong việc gieo cấy. Năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2022 ước giảm 0,61 tạ/ha. Sản lượng lúa ước giảm 4.901 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên sản lượng ước tính giảm. Hiện nay lúa Hè Thu đang giai đoạn trổ bông đại trà. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến năng suất cuối vụ. Vì vậy phải tập trung xử lý triệt để các diện tích đã xuất hiện sâu bệnh để hạn chế nguồn phát tán, lây lan trên diện rộng. Cây ngô: Diện tích ngô vụ Hè Thu 2022 ước tính tăng 235 ha so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích tăng như: Hương Khê tăng 189 ha; Hương Sơn tăng 44 ha; Vũ Quang tăng 42 ha;... Nguyên nhân diện tích ngô tăng do năm nay thức ăn chăn nuôi tăng người dân trồng ngô với mục đích lấy sản phẩm làm thức ăn chăn nuôi. Năng suất ngô vụ Hè Thu năm nay ước tính tăng 0,7 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất ngô ước tính tăng là do quá trình cây ra hoa phơi mao gặp thời tiết thuận lợi. Sản lượng ngô ước tính tăng 1.003 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô tăng. Cây khoai lang: Diện tích khoai lang ước tính tăng 39 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang ước tăng 0,14 tạ/ha, với sản lượng ước tính tăng 240 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây sắn: Diện tích sắn ước đạt 2.625 ha, bằng 107,15% (tăng 175 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 152,86 tạ/ha, bằng 101,14% (tăng 1,72 tạ/ha), với sản lượng ước đạt 40.133 tấn, bằng 108,37% (tăng 3.100 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng bà con nông dân trồng sắn thay thế nhằm làm thức ăn chăn nuôi để giảm bớt chi phí. Cây lạc: Diện tích trồng lạc ước tính tăng 13 ha với năng suất lạc ước giảm 0,07 tạ/ha so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất giảm nhưng diện tích tăng nên sản lượng lạc ước tính tăng 24 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây vừng: Diện tích trồng vừng ước đạt 612 ha, bằng 103,91% (tăng 23 ha) so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích tăng do một số xã chuyển đổi diện tích trồng lạc, đậu, sắn sang trồng vừng. Năng suất vừng ước đạt 6,21 tạ/ha, bằng 102,77% (tăng 0,17 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng vừng ước đạt 380 tấn, bằng 106,78% (tăng 24 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại: Diện tích rau các loại ước tính tăng 157 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau ước tính tăng 1,15 tạ/ha, với sản lượng rau ước tính tăng 1.468 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân sản lượng rau tăng do cả diện tích và năng suất đều tăng. Cây đậu các loại: Diện tích đậu các loại ước đạt 2.636 ha, bằng 87,5% (giảm 377 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo trồng giảm do đầu vụ thời tiết thất thường gây khó khăn cho việc gieo trỉa. Ngoài ra có một số diện tích chuyển đổi từ trồng đậu sang trồng vừng. Năng suất đậu các loại ước đạt 10,36 tạ/ha, bằng 95,59% (giảm 0,48 tạ/ha), với sản lượng đậu các loại ước đạt 2.731 tấn, bằng 83,64% (giảm 534 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên sản lượng đậu các loại giảm. - Sản xuất vụ Mùa năm 2022 Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, đầu vụ thường xẩy ra khô hạn và cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Cùng với đó, năng suất lúa vụ Mùa thường rất thấp nên người dân ít đầu tư sản xuất. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa 2022 ước đạt 490 ha, bằng cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh hiện còn có huyện Nghi Xuân, huyện Thạch Hà, huyện Lộc Hà đang triển khai gieo cấy lúa vụ Mùa trên những chân rộng pha cát. Do hiệu quả sản xuất vụ Mùa thấp nên không được xác định là vụ sản xuất chính của địa phương cho nên xu thế sản xuất lúa vụ Mùa đang ngày càng giảm. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, trên lúa Hè Thu đang có các loại sâu bệnh phát sinh gây hại, cụ thể: Rầy nâu, rầy lưng trắng với mật độ trung bình 300-500 con/m2, ­nơi cao 1000-1500 con/m2, chủ yếu rầy tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, diện tích nhiễm bệnh 9,5 ha, phân bố chủ yếu ở Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn; bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng gieo cấy giày, bón thừa đạm, tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm bệnh là 492 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; bệnh đốm nâu gây hại với tỷ lệ 10-15%, nơi cao 20-30% trên những diện tích chăm sóc kém, phân bón không đầy đủ với, diện tích 215 ha, phân bố chủ yếu ở Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh,…Bệnh bạc lá xuất hiện rải rác ở Đức Thọ, Hồng Lĩnh với tỷ lệ 5-7%; chuột gây hại trên trà lúa gieo thẳng gần gò đồi, gần làng, tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 237 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 7 ha và bệnh đốm lá 9 ha tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Nhện nhỏ 30 ha; sâu đục thân, đục cành 13 ha; bệnh ghẻ sẹo trên cây cam, diện tích 14 ha; bọ xít xanh 10 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,… *Chăn nuôi Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng 8/2022 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Chăn nuôi trâu, bò sau ảnh hưởng bởi dịch viêm da nổi cục năm 2021 thì hiện nay tổng đàn đã phát triển trở lại; chăn nuôi lợn vẫn còn gặp khó khăn, dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn xuất hiện trên địa bàn chưa qua 21 ngày, cùng với việc giá thức ăn tăng quá cao đã gây khó khăn cho việc thực hiện phát triển đàn lợn; chăn nuôi gia cầm tương đối ổn định, trong tháng đã cung cấp lượng lớn sản phẩm gia cầm phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp rằm tháng 7 âm lịch. Nhìn chung, trước những khó khăn về dịch bệnh và chi phí sản xuất tăng cao thì hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh chưa thể có bước đột phá trong ngắn hạn mà chỉ ở mức ổn định sản xuất.  Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 15/8/2022, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 62 con (15 con trâu và 47 con bò) tại xã Điền Mỹ và xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê đang mắc bệnh lở mồm long móng chưa qua 21 ngày; có 1 hộ nuôi với 11 con lợn có trọng lượng 830 kg, tại xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh mắc dịch tả lợn Châu Phi đã tiêu hủy và ổ dịch này chưa qua 21 ngày; dịch cúm gia cầm H5N1 xẩy ra tại xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên làm 2.826 con gia cầm ốm chết phải tiêu hủy. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi. 1.2 Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 8/2022 nhìn chung ổn định. Hoạt động trồng rừng vẫn được triển khai, nhờ điều kiện thời tiết trong tháng có mưa nên kết quả trồng rừng tập trung tăng hơn so với tháng trước (tăng 201 ha) cũng như cùng kỳ năm trước (tăng 62 ha). Sản lượng gỗ khai thác tháng 8/2022 ước tính tăng khá so với tháng trước (tăng 3.288 m3) cũng như so với cùng kỳ năm trước (tăng 898 m3). Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp giữa các tháng và các năm thường có sự chênh lệch khá lớn. Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 15/7 - 15/8/2022 đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha và 6 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 5,06 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha (giảm 0,83 ha) và 57 vụ phá rừng (tăng 28 vụ), với diện tích rừng bị phá là 28,95 ha (tăng 19,06 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang là mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 8/2022 tăng 1.325 tấn so với tháng trước và tăng 114 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm nên ngư dân vươn khơi bám biển khai thác hải sản, cùng với đó là các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm vụ tôm Xuân Hè nên làm cho sản lượng nuôi trồng tăng. Mặc dù tổng sản lượng thủy hải sản đánh bắt và nuôi trồng 8 tháng đầu năm 2022 vẫn tăng 916 tấn so với cùng kỳ năm trước nhưng các ngư dân khai thác hải sản và người nuôi trồng thủy sản vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân do chi phí xăng, dầu, nhân công và các dịch vụ hậu cần nghề cá, thức ăn thủy sản đều tăng mạnh. Hiện nay, nuôi tôm vẫn đang là hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ lực của tỉnh. Mặc dù đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè và bước vào nuôi tôm vụ Đông 2022, nhưng do giá bán sản phẩm tăng không đáng kể trong khi chí phí sản xuất tăng cao nên các hộ nuôi tôm ở Hà Tĩnh không đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nên sẽ không có sự biến động lớn về sản lượng nuôi trồng trong những tháng cuối năm 2022. Trong tháng, dịch bệnh gan hoại tử trên tôm nuôi đã xuất hiện với diện tích nhiễm bệnh là 2,7 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh đã có 86,8 ha tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng và 9,23 ha tôm bị nhiễm bệnh gan hoại tử. Dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, không gây thiệt hại nhiều cho người nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tính từ đầu năm đến cuối tháng 8 năm 2022 gặp nhiều khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 8 tháng đầu năm 2022 ước giảm 15,06% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao giảm sản lượng, gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng sữa chữa thiết bị, máy móc. Dự kiến trong thời gian tới Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa sẽ tiếp tục giảm mạnh sản lượng thép sản xuất. Ngoài ra, tổ máy số 1 của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 vẫn chưa định thời gian hoạt động trở lại sẽ là những yếu tố tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm 2022. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 8/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 7/2022 giảm 19,9% và giảm 43,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 25,27% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này giảm 48,31%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,27% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 26,2%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,61% so với tháng 7/2022 và giảm 19,85% so với tháng 8/2021. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 8 tháng đầu năm 2022 ước giảm 15,06% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,67%, làm giảm 0,09 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,92% làm giảm 8,01 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,94%, làm giảm 6,67 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,48%, làm giảm 0,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm sản lượng cộng dồn 8 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 57,89% trong tổng số sản phẩm) và có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 42,11%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước: Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 102,98%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 35,2%; chè (trà) nguyên chất tăng 30,29%; dịch vụ sản xuất dược tăng 20,46%; điện thương phẩm tăng 19,93%; bia đóng lon tăng 18,19%; … Sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước: điện sản xuất giảm 39,76%; mực đông lạnh giảm 27,4%; quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 16,1%; nước không uống được giảm 13,5%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 12,32%; … 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2022 tăng 0,18% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,41%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 8/2022 giảm 6,43% so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 8 tháng đầu năm 2022 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm 8,74% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng tăng 8,11%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,33%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,15% so với cùng kỳ năm 2021. 3. Vốn đầu tư Tháng 8/2022 công tác giải ngân vốn tiếp tục tăng so với tháng trước (tăng 12,73%) và tăng so với cùng kỳ năm trước (tăng 8,35%). Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh tăng mạnh so với tháng trước (tăng 15,46%) và tăng so với cùng kỳ năm trước (tăng 6,5%), đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý (chiếm 76,30%). Nguyên nhân do trong tháng các công trình đã được cấp vốn, công tác triển khai hoàn tất các thủ tục do đó đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ để đạt mục tiêu đề ra. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 8/2022 đạt 610,13 tỷ đồng, tăng 12,73% so với tháng trước, tăng 8,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 465,53 tỷ đồng, tăng 15,46% so với tháng trước, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 114,33 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước và tăng 52,41% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 30,27 tỷ đồng, tăng 2,87% so với tháng trước và giảm 40,65% so với tháng 8/2021. Cụ thể, tiến độ một số công trình lớn hiện nay trên địa bàn Hà Tĩnh: Nâng cấp đường tỉnh DDT giai đoạn 2 đạt 33.121 triệu đồng; xử lý cấp bách đê tả nghèn đạt 59.248 triệu đồng; cải tạo mặt đường, chỉnh trang hạ tầng kỹ thuật đường Quang Trung đoạn từ đường Nguyễn Huy Lung đến cầu Hộ Độ và bổ sung 1 đơn nguyên cầu Hộ Độ đạt 68.049 triệu đồng; Dự án hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Hà Tĩnh thuộc dự án BIIG2 đạt 74.814 triệu đồng… Dự ước 8 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.495,42 tỷ đồng, đạt 46,66% kế hoạch năm, tăng 5,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.670,23 tỷ đồng, chiếm 76,39% tổng vốn, tăng 7,93% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 666,32 tỷ đồng, chiếm 19,06% tổng vốn, tăng 31,98% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 158,87 tỷ đồng, chiếm 4,55% tổng vốn, giảm 51,7% so với cùng kỳ. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 giảm nhẹ so với tháng trước (0,42%). Giảm chủ yếu trong nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành, do trong tháng trùng với dịp tháng 7 âm lịch lượng khách đến nghỉ mát tại các bãi biển, các khu sinh thái nghỉ dưỡng giảm mạnh. Nhưng với việc giá cả có dấu hiệu giảm nhẹ đã kích thích tăng cầu tiều dùng các loại hàng hóa, doanh thu hoạt động bán lẻ chiểm tỷ trọng lớn và tăng ổn định đã kéo lại doanh thu nhóm ngành này. Tính chung 8 tháng năm 2022, hoạt động thương mại dịch vụ phục hồi tích cực đạt mức tăng cao. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 8 ước đạt 4.540,12 tỷ đồng, tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 46,84% so với cùng kỳ năm trước. Có 6/12 nhóm hàng có doanh thu giảm so với tháng trước, trước hết ở 2 nhóm hàng xăng dầu (giảm 4,0%) và nhiên liệu khác (giảm 2,47%) do việc giá bán tiếp tục được điều chỉnh giảm theo giá dầu thế giới. Ngoài ra, các nhóm hàng có doanh thu giảm tập trung ở nhóm đồ dùng gia đình (giảm 8,26%),  ô tô con (giảm 1,94%), đá quý, kim loại quý (giảm 1,67%) và bảo dưỡng, sửa chữa ô tô, xe máy (giảm 1,34%) do tâm lý chung của người dân là hạn chế mua sắm tài sản trong tháng 7 âm lịch. Bên cạnh các nhóm hàng có chỉ số giảm thì có 6/12 nhóm hàng có chỉ số tăng so với tháng trước, trong đó, tăng mạnh nhất ở 2 nhóm hàng vật phẩm, văn hóa giáo dục (tăng 68,42%) và may mặc (tăng 9,02%) do đây là thời điểm giao mùa cũng như học sinh đã bắt đầu trở lại trường bước vào năm học mới.   Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 33.231,95 tỷ đồng, tăng 18,71% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở 11/12 nhóm hàng, trong đó tăng mạnh ở các nhóm hàng như: Xăng, dầu các loại tăng 42,96%; đá quý, kim loại quý tăng 41,31%; nhiên liệu khác tăng 36,43%; hàng may mặc tăng 21,64%; hàng hóa khác tăng 21,27%; lương thực, thực phẩm tăng 19,33%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,15%. Nhìn chung 8 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu tăng ổn định hàng tháng so với cùng kỳ. Thu nhập chung của người dân cũng được cải thiện hơn so với năm trước. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển nên đã ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Trong khi đó, một lượng lớn vốn tín dụng đang bị mắc kẹt tại thị trường bất động sản trong khi vốn sản xuất kinh doanh gặp khó khăn là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2022 ước đạt 520,10 tỷ đồng, giảm 8,95% so với tháng trước, tăng 5,3 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động l­ưu trú ước đạt 21,26 tỷ đồng, giảm 30,07% so với tháng trước, tăng 6,3 lần so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 498,46 tỷ đồng, giảm 7,29% so với tháng trước, tăng 5,3 lần so với cùng kỳ; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 0,38 tỷ đồng, giảm 87,89% so với tháng trước. Do tính chất thời vụ tháng 8 thời điểm gần kết thúc kỳ nghỉ hè bước vào năm học mới và bắt đầu vào những tháng cuối năm nhu cầu du lịch giảm, lượng khách đến nghỉ mát tại các bãi biển, các khu sinh thái nghỉ dưỡng giảm mạnh. Cùng với đó, do ảnh hưởng yếu tố tâm linh trong tháng trùng với tháng 7 âm lịch, người dân ít đi lại. Tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành giảm hơn so với các tháng trước. Nhưng so cùng kỳ vẫn tăng mạnh do năm trước thời điểm này đang trong đang trong giai đoạn tạm ngừng kinh doanh, giãn cách xã hội. Tính chung 8 tháng đầu năm 2022 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.922,52 tỷ đồng, tăng 45,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, l­ưu trú ước đạt 163,93 tỷ đồng, tăng 74,59%; lượt khách phục vụ 913.590 lượt, tăng 57,07% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 767.514 ngày, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 3.746,98 tỷ đồng, tăng 44,67%; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 11,61 tỷ đồng, tăng 57,84%. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 8 tháng đầu năm 2022 có mức tăng mạnh so với cùng kỳ (do cùng kỳ năm trước ảnh hưởng bởi dịch Covid -19, mọi hoạt động bị ngưng trệ). Tuy nhiên, vẫn đánh dấu sự hồi phục hoàn toàn của khu vực này khi so với cùng kỳ của năm 2019 (năm chưa chịu ảnh hưởng lớn của dịch bệnh) vẫn đạt mức tăng 8,58%. - Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 8 ước tính đạt 224,63 tỷ đồng, tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 181,31% so với cùng kỳ năm trước. Việc giảm doanh thu 2 nhóm ngành: Dịch vụ kinh doanh bất động sản; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ và tăng ở các nhóm ngành: Dịch vụ giáo dục và đào tạo, y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đã đân đến việc tăng trưởng nhẹ ở chung ngành dịch vụ khác. Nguyên nhân chủ yếu do tháng này thời điểm giao mùa, các ca mắc covid trong cộng đồng có dấu hiệu tăng trở lại nên nhu cầu khám chữa bệnh tăng, cùng với đó chuẩn bị bước vào năm học mới tăng nhu cầu học thêm các trung tâm. Tuy nhiên, việc trùng vào dịp tháng 7 âm lịch nên giảm mạnh nhu cầu về bất động sản và dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, thuê xe, dịch vụ thuê đồ dùng cá nhân và gia đình Tính chung 8 tháng năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.575,47 tỷ đồng, tăng 44,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 51,03%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 36,68%; giáo dục đào tạo tăng 108,57%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 2,92%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 0,38%; dịch vụ khác tăng 71,84%.  4.2. Hoạt động vận tải Tình hình vận tải, kho bãi trong tháng tăng so tháng trước, các phương tiện vận tải được chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, chất lượng cao đối với loại phương tiện hành khách, đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa. Hạ tầng đường bộ được nâng cấp mở rộng góp phần hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. Tuy nhiên, dịch vụ bốc xếp hàng hóa thông qua cảng trong tháng giảm so với những tháng đầu năm do lượng hàng hóa thông qua cảng giảm. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 8/2022 ước đạt 466,17 tỷ đồng, tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 75,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 109,15 tỷ đồng, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 13,89 lần so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 294,73 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 55,84% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 62,21 tỷ đồng, tăng 5,62% so với tháng trước và giảm 9,30% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải trong tháng 8 tăng so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do trong tháng thời điểm nhập học của Tân sinh viên, người dân đi lễ chùa, đền tháng 7 âm lịch nên lượng vận tải hành khách nội tỉnh cũng như liên tỉnh đều tăng. Cùng với đó đây là thời điểm hoàn thiện các công trình xây dựng đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão, nên dẫn đến nhu cầu vận tải hàng hóa vật liệu xây dựng, đất đá, sắt thép tăng hơn. Tính chung, kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 8 tháng năm 2022, ước tính đạt 3.59,64 tỷ đồng, tăng 16,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 757,69 tỷ đồng, tăng 6,89%; hàng hoá ước đạt 2.262,47 tỷ đồng, tăng 27,49%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 572,91 tỷ đồng, giảm 3,54% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 8 năm 2022 ước đạt 454,5 triệu USD, tăng khả quan hơn so với tháng trước (tăng 13,13%) nhưng vẫn chưa đạt mức cùng kỳ năm trước (giảm 7,62%). Nguyên nhân chủ yếu bối cảnh giao dịch không ổn định và lượng tồn kho cao của ngành công nghiệp thép. Với việc tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, và giá phôi thép và thép cây ở châu Á đã tăng vào ngày 16/8 kỳ vọng sẽ mang lại những tín hiệu tích cực trong sản xuất và xuất khẩu thời gian tới. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 8 ước đạt 111,5 triệu USD, tăng so với tháng trước (3,31%) nhưng giảm mạnh với cùng cùng kỳ (giảm 45,48%). Chủ yếu do biến động giảm của mặt hàng thép, phôi thép (ước đạt 109,07 triệu USD tăng 26,03% so với tháng trước và giảm 40,34% so với cùng kỳ) và ở các mặt hàng thủy sản, xơ, sợi dệt và may mặc. Mặt hàng chè và dăm gỗ cũng bắt đầu tiêu thụ mạnh hơn trong tháng, tuy nhiên việc chỉ chiếm quy mô nhỏ không thể cân bằng lại cán cân xuất khẩu. Tính chung 8 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.178,09 triệu USD, giảm 12,80% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, ngoài mặt hàng thép nhóm hàng thủy sản cũng có kim ngạch xuất khẩu cộng dồn 8 tháng giảm so với cùng kỳ (Thép, phôi thép giảm 13,34%; Thủy sản giảm 18,44%). Còn lại các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng: Chè (tăng 175,21%); dệt và may mặc (tăng 160,62%); dăm gỗ (20%); xơ, sợi dệt các loại (tăng 7,04%). Nguyên nhân, chủ yếu do việc mặt hàng chủ lực thép giảm mạnh trong 3 tháng gần đây. Hi vọng với việc dự thảo Nghị định ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện các hiệp định FTA sẽ sớm được ban hành, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu ngành công nghiệp thép. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 8/2022 ước đạt 343,0 triệu USD, tăng 16,74% so với tháng trước và tăng 19,30% so với cùng kỳ. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa với 290,0 triệu USD. Cộng dồn 8 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.713,03 triệu USD, tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ trong tháng, diễn ra sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng là tháng trùng dịp lễ Vu lan nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng mạnh dẫn tới giá cả thực phẩm tươi sống gà thịt, thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm vịt, ngan tăng nhẹ so với tháng trước. Mặc dù tính chung chỉ số giá vẫn được kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới. Tháng 8 chỉ số CPI chung tăng 0,14% so với tháng trước, tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,1% so với tháng trước, tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 06 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 102,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; giáo dục tăng 0,03%; Thuốc và dịch vụ y tế cùng nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số tăng 0,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Giao thông giảm 4,52%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,49%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%. 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giày dép. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 8 năm 2022: (i) Giá thực phẩm, lương thực tăng mạnh trong kỳ rằm tháng 7 (lễ Vu lan), bên cạnh đó thời tiết thất thường ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của các loại rau, củ quả khiến chỉ số chung nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng cao trong tháng ; (ii) Giá một số mặt hàng văn phòng phẩm tăng do nhu cầu của nhóm đối tượng học sinh và phụ huynh phục vụ năm học mới; (iii) Giá nhiên liệu xăng, dầu qua hai kỳ điều chỉnh giảm trong tác động vào chỉ số giá nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác. Chỉ số giá vàng tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 2,82% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,31% so với tháng trước, tăng 3,64% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.342 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.402.994 đồng/100 USD. Tính chung CPI bình quân 8 tháng năm 2022, chỉ số chung tăng 1,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,77%; nông thôn tăng 1,77% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Một số mặt hàng thiết yếu giảm giá khiến chỉ số giá chung vẫn được kiểm soát. Tuy nhiên, những tháng cuối năm dự kiến chỉ số giá tiêu dùng chung sẽ tăng mạnh hơn. Cụ thể, tháng 9/2022 nhóm giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống sẽ tăng do có kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 02/9 khá dài ngày. Bên cạnh đó, giá các loại gạo nếp, đậu hạt các loại tăng do nhu cầu nguyên liệu sản xuất nhân bánh phục vụ Tết Trung thu, thêm vào đó nhu cầu tiêu thụ đồ dùng gia đình những tháng cuối năm xu hướng tăng và hàng may mặc, văn phòng phẩm, sách vở tăng mạnh là tháng bước vào năm học mới 2022-2023. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Thực hiện Quyết định số 08/QĐ-TTg, ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động; Kế hoạch số 168/KH-UBND ngày 11/5/2022 của UBND tỉnh về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đến nay Hà Tĩnh đã hoàn thành việc chi trả hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động. Tổng số lao động được hỗ trợ 1.314 lao động với kinh phí hỗ trợ 1.995,5 triệu đồng, được chia làm 4 đợt. Đợt 1 là 301 lao động, kinh phí hỗ trợ 459 triệu đồng; đợt 2 là 375 lao động, kinh phí hỗ trợ 580 triệu đồng; đợt 3 là 169 lao động, kinh phí hỗ trợ 258 triệu đồng; đợt 4 là 465 lao động; kinh phí hỗ trợ 698,5 triệu đồng. 2. Giáo dục - Giáo dục đào tạo: Vượt qua những khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, ngành giáo dục Hà Tĩnh đã khép lại năm học 2021-2022 với nhiều kết quả đáng ghi nhận. Với tinh thần kiên cường, vượt khó, hiếu học, toàn ngành đã thực hiện tốt mục tiêu linh hoạt, sáng tạo, đảm bảo an toàn, chất lượng. Kết quả Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2022-2023, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2022-2023 là 72,69%, (số lượng 11.538 học sinh), số còn lại vào các trường THPT tư thục, GDTX, học nghề. Kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2022, tỷ lệ tốt nghiệp của học sinh Hà Tĩnh là 99,50%, tăng 0,45% so với năm trước. Trong đó, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp giáo dục THPT là 99,84%; giáo dục thường xuyên là 97,49%. Toàn tỉnh có 32 trường có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp 100%, tăng 15 trường so với năm 2021. Tổng điểm bình quân các môn là 6,720 điểm, xếp thứ 9 cả nước, tăng 9 bậc so với năm trước. Trong đó có 5 môn có điểm bình quân cao, nằm trong tốp 10 cả nước: Vật lý xếp thứ 4 với điểm trung bình 7,290821; Ngữ văn xếp thứ 5 với điểm trung bình 7,3409; Hóa học xếp thứ 5 với điểm trung bình 7,2247; Địa lý xếp thứ 8 với điểm trung bình 7,037601; Lịch sử xếp thứ 9 với điểm trung bình 6,692779. Toàn tỉnh có 185 bài thi đạt điểm 10 ở tất cả các môn. Mặc dù tổng số điểm 10 thấp hơn so với năm ngoái nhưng đây vẫn là kết quả khẳng định thương hiệu của giáo dục Hà Tĩnh. - Giáo dục nghề nghiệp: Theo Sở LĐ-TB&XH, năm học 2022 - 2023, các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh sẽ tuyển sinh mới và đào tạo khoảng hơn 19.000 chỉ tiêu, trong đó hệ cao đẳng 1.450 chỉ tiêu, còn lại là hệ trung cấp, sơ cấp nghề. Đến nay, các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh được 9.596 học sinh, sinh viên tham gia học nghề (cao đẳng: 295, trung cấp: 443, sơ cấp: 6.010; đào tạo dưới 3 tháng: 2.848), đạt 51,9% kế hoạch năm 2022. Dự kiến, năm 2022, các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh sẽ tuyển sinh được hơn 21.000 chỉ tiêu, ước đạt 110% kế hoạch. 3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Hiện nay, số ca mắc COVID-19 và số bệnh nhân phải chuyển điều trị tại các cơ sở y tế đang có xu hướng tăng lên, trong khi theo đánh giá của Bộ Y tế, tỷ lệ tiêm phòng của Hà Tĩnh đối với lứa tuổi trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi hiện đang thấp. Vì vậy, ngành Y tế Hà Tĩnh khuyến cáo người dân cần chủ động đi tiêm vắc-xin để phòng, chống hiệu quả với dịch bệnh. Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/8/2022 là 55.194 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 56.153 ca mắc. Tình hình điều trị các ca bệnh: chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN; điều trị khỏi 55.265 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 55.141 BN tại Hà Tĩnh; 52 BN tử vong. Tính đến ngày 17/8/2022, Hà Tĩnh có tỷ lệ người trờn 18 tuổi tiêm mũi 1 đạt 100,46%, tiêm mũi 2 đạt 98,75%, tiêm mũi nhắc lại lần 1 (mũi 3) đạt 79,23%. Người đã tiêm mũi nhắc lại lần 2 (mũi 4) đạt 140,72% so với số người kế hoạch trong độ tuổi ưu tiên. Người từ 12 đến dưới 18 tuổi, tiêm mũi 1 đạt 104,13%, tiêm mũi 2 đạt 99,76%, tiêm mũi nhắc lại lần 1 (mũi 3) đạt 27,15%. Đối với trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi, tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt 54,42%, mũi 2 đạt 31,81%. - Tình hình dịch bệnh khác: Hiện nay dịch sốt xuất huyết đang bùng phát tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước; và một số quốc gia trong khu vực đã ghi nhận ca bệnh đậu mùa khỉ xâm nhập. Do đó để ngăn chặn dịch bệnh bùng phát, điều then chốt là ý thức chấp hành các giải pháp phòng, chống dịch của chính mỗi người dân và cộng đồng dân cư. Toàn tỉnh từ đầu năm đến nay đã phát hiện 208 ca sốt xuất huyết (gồm 8 ổ dịch với 56 ca mắc và 152 ca đơn lẻ), phân bố rải rác tại: TP Hà Tĩnh, Kỳ Anh, TX Kỳ Anh, Hương Sơn, Hương Khê, Nghi Xuân, Đức Thọ, Lộc Hà… Ngoài sốt xuất huyết trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh có một số ca bệnh đơn lẻ khác: 1 ca mắc sốt rét, 8 ca mắc bệnh quai bị, 19 ca mắc lỵ trực trùng; 16 ca mắc lỵ a míp; 8 ca mắc bệnh thủy đậu; 1.045 ca mắc bệnh cúm; 3 ca chân tay miệng; tiêu chảy 461 ca; viêm gan vi rút khác 3 ca. Ngoại trừ sốt xuất huyết, thì tất cả các ca bệnh còn lại không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tiếp tục được duy trì hiệu quả. Trong tháng, có 01 người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS và đồng thời cũng không có người chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 người nhiễm mới HIV, giảm 3 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung 8 tháng năm 2022 có 13 người nhiễm mới HIV, 6 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 20 người (giảm 60,61%) nhiễm mới HIV, giảm 24 người (giảm 80%) chuyển thành AIDS , số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác an toàn thực phẩm:  Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, chỉ có 99 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, giảm 42 ca (giảm 29,79%) ngộ độc đơn lẻ, số ca tử vong không đổi. Tính chung 8 tháng năm 2022 có 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 580 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 246 ca (giảm 29,78%), số ca tử vong không đổi. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi: Cuộc thi “Đại sứ Văn hóa đọc năm 2022” sau hơn 3 tháng triển khai, đã thu hút 112.806 học sinh các cấp học trên toàn tỉnh tham gia, Ban tổ chức đã trao giải cho 57 bài thi xuất sắc, gồm: 1 giải A, 3 giải B, 6 giải C, 22 giải khuyến khích, 25 giải chuyên đề, đồng thời tuyển chọn 20 bài thi xuất sắc tham gia Vòng chung kết Cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc toàn quốc năm 2022. Kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2022); 54 năm Chiến thắng Đồng Lộc, tưởng niệm 54 năm ngày hy sinh của 10 nữ liệt sỹ TNXP (24/7/1968 - 24/7/2022), tại Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, Báo Nhân Dân, tỉnh Hà Tĩnh, Tạp chí Cộng sản, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức chương trình nghệ thuật “Cõi thiêng Đồng Lộc”. Từ ngày 28/7-30/7, Hà Tĩnh tham gia Hội diễn nghệ thuật quần chúng “Câu hò nối những dòng sông” do Cục Nghệ thuật biểu diễn phối hợp với 6 tỉnh Bắc Trung bộ tổ chức. Hà Tĩnh đã xuất sắc giành huy chương bạc toàn đoàn và 1 huy chương vàng, 3 huy chương bạc các tiết mục… - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức kiểm tra 12 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao, nhắc nhở các cơ sở kinh doanh chấp hành các quy định của pháp luật, bổ sung các trang thiết bị cần thiết, đặc biệt chú trọng vào công tác trực cứu hộ, đảm bảo an toàn trong hoạt động bơi lội. Bên cạnh đó, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã cấp 14 giấy phép: 01 giấy phép lĩnh vực du lịch, 12 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép lĩnh vực di sản văn hóa. - Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Tại Giải vô địch trẻ Karate quốc gia năm 2022 diễn ra tại nhà thi đấu thể dục thể thao tỉnh Quảng Nam, đoàn Hà Tĩnh dành được 15 huy chương các loại, xếp thứ tư toàn đoàn. Cụ thể: 7 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, 5 huy chương đồng. Thể thao quần chúng: Trong tháng, các hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động như: ngày 26/7 diễn ra Giải Bóng chuyền hơi nam - nữ do Công đoàn Khối Nội chính - Chính quyền tổ chức nhân kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929-28/7/2022); ngày 28-29/7 diễn ra Giải Cầu lông trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao Hà Tĩnh lần thứ IX năm 2022 tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể dục thể thao tỉnh thu hút hơn 200 VĐV tham gia. Ngoài ra, trong tháng nhiều huyện tổ chức khai mạc Đại hội thể dục thể thao, đến nay 100% huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức xong Đại hội thể thao cấp cơ sở, Đại hội nhằm thúc đẩy phong trào luyện tập thể dục, thể thao, rèn luyện sức khỏe trong toàn thể cán bộ, công nhân, viên chức và Nhân dân; đồng thời nhằm phát hiện, tuyển chọn những vận động viên xuất sắc cho các giải thể thao thành tích cao. 5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/7-14/8/2022 xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ làm 6 người chết, 6 người bị thương, ước tính thiệt hại 150 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, giảm 5 người chết, tăng 3 người bị thương. Tính chung 8 tháng năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/8/2022) đã xẩy ra 62 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 52 người chết, 28 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 1 tỷ; so với cùng kỳ giảm 9 vụ (giảm 12,68%), giảm 7 người chết (giảm 11,86%), tăng 3 người bị thương (tăng 12,0%), ước tính thiệt hại tăng 532 triệu đồng. 6. Môi trường - Tình hình cháy ,nổ: Từ ngày 15/7/2022 đến ngày 14/8/2022 đã xảy ra 9 vụ cháy, nổ; làm 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 238,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ giảm 2 vụ, giảm 1 người chết; tăng 1 người bị thương, thiệt hại tăng 179,5 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra ra 34 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 2.265,5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ giảm 1 vụ; giảm 2 người chết; giảm 1 người bị thương; thiệt hại ước giảm 150,5 triệu đồng. Nguyên nhân xảy ra tai nạn chủ yếu là đi sai làn đường quy định và không nhường đường dành cho người đi bộ. - Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/7 đến ngày 14/8/2022 đã phát hiện 66 vụ, đã xử lý 44 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 81,48 triệu đồng; so với tháng trước tăng 32 vụ đã phát hiện (tăng 94,12%), tăng 21 vụ đã xử lý (tăng 91,30%), số tiền nộp phạt giảm 81,17 triệu đồng (giảm 49,90%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 44 vụ đã phát hiện (tăng 200%), tăng 29 vụ đã xử lý (tăng 193,33%), số tiền xử phạt giảm 23,22 triệu đồng (giảm 22,18%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 64 vụ (chiếm 96,96%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 1 vụ (1,52%) và xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 1 vụ (1,52%). Tính chung 8 tháng đầu năm (ngày 15/12/2021 - 14/8/2022) đã phát hiện 608 vụ, đã xử lý 420 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1.556,99 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 503 vụ (tăng 4,79 lần), tăng 343 vụ đã xử lý (tăng 4,45 lần), tăng số tiền nộp phạt 427,74 triệu đồng (tăng 37,88%). 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, ngày 21/7 trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ sét đánh, làm 1 người tử vong. So với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết, số người bị thương không đổi. Tính chung từ đầu năm đến nay, ở Hà Tĩnh đã xảy ra 6 vụ thiên tai, cụ thể là 1 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 1 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 3 vụ sét đánh (ngày 26/5; ngày 14/6 và ngày 21/7), 1 vụ lốc xoáy (ngày 14/6); làm chết 4 người; làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ thiên tai, số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 7 và 7 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 16:22

I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong tháng 7 năm 2022, bà con nông dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu 2022. Hiện nay thời tiết diễn biến bất thường, mưa nắng đan xen, nền nhiệt thay đổi đột ngột tạo môi trường cho sinh vật gây hại dễ phát sinh lây lan; hoạt động chăn nuôi vẫn chưa có tín hiệu tích cực, mặc dù dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hậu quả vẫn còn ảnh hưởng nặng nề, cùng với đó là chi phí thức ăn chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán cơ bản ổn định nên người dân rất e ngại trong việc tái đàn; hoạt động lâm nghiệp tiếp tục thực hiện trồng, khai thác và chăm sóc rừng, chú trọng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trong những ngày nắng nóng kéo dài; hoạt động thủy sản vẫn đang gặp khó khăn do chi phí xăng dầu tăng cao, một số tàu không hoạt động hoặc chỉ đánh bắt gần bờ nên sản lượng trong tháng giảm so với cùng kỳ năm trước.1.1 Sản xuất nông nghiệp                *Trồng trọt - Công tác chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2022. Định hướng về diện tích sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 đối với một số loại cây trồng như sau: Diện tích lúa 45.413 ha, năng suất 50,20 tạ/ha, sản lượng 227.967 tấn; diện tích đậu 3.695 ha, năng suất 10,57 tạ/ha, sản lượng 3.904 tấn; diện tích ngô lấy hạt 1.649 ha, năng suất 36,75 tạ/ha, sản lượng 6.060 tấn; diện tích ngô sinh khối 510 ha, năng suất 23,22 tấn/ha, sản lượng 11.840 tấn; diện tích lạc 430 ha, năng suất 21,30 tạ/ha, sản lượng 916 tấn; diện tích khoai lang 644 ha, năng suất 61,66 tạ/ha, sản lượng 3.970 tấn; diện tích rau 2.615 ha, năng suất 67,56 tạ/ha, sản lượng 17.664 tấn; diện tích vừng 604 ha, năng suất 8,39 tạ/ha, sản lượng 507 tấn. - Kết quả gieo trồng cây hàng năm vụ Hè Thu 2022 Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2022 toàn tỉnh ước tính bằng 98,81% (giảm 533 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,2% (giảm 991 ha) so với kế hoạch. Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu 2022 giảm cả so với kế hoạch cũng như cùng kỳ năm trước là do năm nay thu hoạch lúa vụ Xuân kết thúc muộn hơn cùng kỳ nhiều năm từ 7-10 ngày nên đã ảnh hưởng lớn đến việc triển khai sản xuất vụ Hè Thu. Cùng với đó, do ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để triển khai thực hiện các dự án và xây dựng đường cao tốc Bắc Nam nên diện tích lúa Hè Thu của một số địa phương bị giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2021. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa ước tính giảm so với cùng kỳ năm trước như: Huyện Đức Thọ giảm 477 ha, thành phố Hà Tĩnh giảm 82 ha, Nghi Xuân giảm 71 ha, thị xã Hồng Lĩnh giảm 38 ha… Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2022 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 12/7/2022, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 1.822 ha, đạt 114,1% kế hoạch; khoai lang 201 ha, đạt 31,2% kế hoạch; lạc 143 ha, đạt 33,3% kế hoạch; rau các loại 2.470 ha, đạt 94,5% kế hoạch. Nhìn chung, điều kiện thời tiết năm nay diễn biến rất bất thường, giá vật tư và dịch vụ nông nghiệp tăng, thu hoạch vụ Xuân kết thúc muộn nên đã ảnh hưởng đến lịch thời vụ…Đây chính là những nguyên nhân làm cho kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu 2022 đạt thấp so với kế hoạch. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đẻ nhánh phát triển thân lá mạnh. Tuy nhiên thời tiết mưa nắng thất thường, nền nhiệt thay đổi đột ngột tạo điều kiện cho sinh vật gây hại phát sinh nên bà con nông dân cần chú ý và có biện pháp phòng ngừa.- Tình hình sâu bệnh, thiệt hạiHiện nay, trên lúa Hè Thu có sâu bệnh phát sinh gây hại nhưng mức độ ảnh hưởng thấp, cụ thể: Ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên trà gieo cấy muộn, ruộng sâu trũng, ngập nước, mật độ trung bình 3-5con/m2, nơi cao 5-7con/m2, diện tích nhiễm 40 ha; bọ trĩ gây hại trên những chân ruộng khô hạn, không chủ động nước ở Lộc Hà, thị xã Hồng Lĩnh với diện tích nhiễm 6 ha; chuột gây hại trên trà lúa gieo thẳng gần gò đồi, gần làng, tỉ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 9 ha, phân bố ở Thạch Hà, Vũ Quang, thị xã Hồng Lĩnh; bệnh nghẹt rễ sinh lý gây hại rải rác vùng chua phèn, ngập nước ở Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 11 ha và bệnh đốm lá 4 ha, tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Trên cây ăn quả có múi thì nhện nhỏ gây hại tỉ lệ 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiểm bệnh 88 ha; sâu đục thân, đục cành 9 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc...*Chăn nuôiSố lượng đàn vật nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh tháng 7/2022 nhìn chung vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt. Tuy nhiên, hậu quả của dịch bệnh vẫn ảnh hưởng nặng nề đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh. Cùng với đó, chi phí chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán sản phẩm không tăng đã gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 12/7/2022, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 1 con bò tại xã Quang Thọ, huyện Vũ Quang đang mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày (đã có 1 con bò chết và tiêu hủy); có 2 hộ nuôi với 12 con lợn trọng lượng 559 kg, tại thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên mắc dịch tả lợn Châu Phi đã tiêu hủy và ổ dịch này chưa qua 21 ngày; dịch cúm gia cầm H5N1 xẩy ra tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ làm 1.650 con gia cầm ốm chết phải tiêu hủy. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi.1.2 Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 7/2022 nhìn chung ổn định. Tranh thủ các đợt mưa trong tháng thì hoạt động trồng rừng tập trung vẫn tiếp tục được triển khai với kết quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 7/2022 tuy tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 36,4% so với tháng trước. Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng nên thiếu sự ổn định giữa các tháng. Trong tháng không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 11 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 11,4 ha, tăng 6 vụ và tăng 8,9 ha so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng mà đã xẩy ra 51 vụ phá rừng (tăng 28 vụ), với diện tích rừng bị phá là 23,9 ha (tăng 14,9 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.1.3 Thủy sảnHoạt động sản xuất thủy sản tháng 7/2022 không có nhiều biến động, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển gặp khó khăn do chi phí xăng, dầu, nhân công...ngày càng tăng trong khi nguồn lợi hải sản ngày càng giảm. Cùng với đó, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2022. Nhìn chung năm nay do dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, dịch vụ ăn uống phát triển mạnh nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản tăng đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với tôm nuôi tương đối ổn định hơn so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh: Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2022, dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã thuộc 2 huyện (Nghi Xuân, Thạch Hà) với diện tích 6,53 ha; dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 9 xã thuộc 6 huyện (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân) với tổng diện tích 86,8 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, dùng hóa chất Chlorine dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm.2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 7 gặp nhiều khó khăn. Do ảnh hưởng biến động của thị trường thép trong và ngoài nước, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép giảm nên Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh điều chỉnh giảm gần 10% giá bán thép cuộn cán nóng trong nước. Đồng thời sản lượng thép sản xuất giảm mạnh so với tháng trước và cùng kỳ năm trước vì lượng hàng tồn nhiều và gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, tổ máy số 1 của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động từ ngày 19/9/2021 đến nay vẫn chưa hoạt động trở lại. Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 cũng như 7 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước.2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP)Ước tháng 7/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 6/2022 giảm 29,74% và giảm 29,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,85% so với tháng trước và giảm 3,53% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 33,97% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này giảm 29,55%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,2% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 33,52%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,29% so với tháng 6/2022 và giảm 4,12% so với tháng 7/2021.Nhìn chung 7 tháng năm 2022 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn ước giảm 10,78% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,33%, làm giảm 0,1 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,26% làm giảm 3,59 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 38,31%, làm giảm 6,88 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,36%, làm giảm 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm cộng dồn 7 tháng tăng so cùng kỳ và có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 91,19%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 42,62%; chè (trà) nguyên chất tăng 23,67%; dịch vụ sản xuất dược tăng 17,76%; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 17,18%; điện thương phẩm tăng 16,07%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 13,91%; …Sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước: điện sản xuất giảm 39,91%; mực đông lạnh giảm 35,9%; quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 16,89%; nước không uống được giảm 9,92%; đá xây dựng khác giảm 6,42%; thức ăn cho gia súc giảm 5,04%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 4,88%; …2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệpChỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2022 tăng 0,16% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,63%. Tính chung 7 tháng năm 2022 chỉ số sử dụng lao động giảm 6,55% so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 8,94%) so với cùng kỳ năm trước. Do khó khăn trong sản xuất bởi hậu quả của dịch Covid-19 nên một số doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ thu hẹp sản xuất, giảm lao động. Cùng với đó, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất cũng đã giảm được nguồn nhân lực. 3. Vốn đầu tưTháng 7/2022 công tác giải ngân vốn tiếp tục tăng so với tháng trước (tăng 6,29%) và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tăng 17,61%). Trong đó, nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh và vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu tăng mạnh (tăng 43,16%) so với cùng kỳ, đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước (chiếm 74,72%). Bên cạnh đó các công trình nông thôn mới như rải thảm đường, xây dựng kiên cố hóa kênh mương, xây dựng hạ tầng tiếp tục thi công theo tiến độ đề ra; thời tiết thuận lợi, dịch bệnh bão hòa, nguồn vốn được đảm bảo nên nguồn vốn đầu tư ngân sách cấp huyện cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tăng 55,22%). Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 7/2022 đạt 518,77 tỷ đồng, tăng 6,29% so với tháng trước, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 388,70 tỷ đồng, tăng 5,71% so với tháng trước, tăng 15,84% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 99,83 tỷ đồng, tăng 6,23% so với tháng trước và tăng 55,22% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 30,24 tỷ đồng, tăng 14,62% so với tháng trước và giảm 26,64% so với cùng kỳ năm trước.Dự ước 7 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.862,81 tỷ đồng, đạt 38,22% kế hoạch năm, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.190,2 tỷ đồng, chiếm 76,51% tổng vốn, tăng 7,53% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 543,19 tỷ đồng, chiếm 18,97% tổng vốn, tăng 26,37% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 129,42 tỷ đồng, chiếm 4,52% tổng vốn, giảm 53,44% so với cùng kỳ. Nhìn chung 7 tháng năm 2022 mặc dù vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng so với cùng kỳ năm trước tuy nhiên so vốn kế hoạch đạt thấp (đạt 31,29%). Nguyên ngân do thời gian đầu năm, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Đối với những dự án mới, các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật…. Mặt khác, nguồn vốn giao chậm, giá trị nghiệm thu giải ngân thấp, đặc biệt vốn ODA. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công chậm.4. Thương mại, dịch vụNhìn chung tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 7 vẫn giữ được sự ổn định và có doanh thu cao hơn so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá cả hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng tăng cao, trong khi thu nhập của người dân tăng không tương xứng với giá trị, dẫn đến ảnh hưởng sức tiêu dùng của người dân.4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 7/2022 ước đạt 4.434,35 tỷ đồng, giảm 0,31% so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (33,17%). Trong đó, so với tháng trước tăng chủ yếu ở các nhóm hàng thiết yếu như: Lương thực, thực phẩm tăng 1,51%; Hàng may mặc tăng 2,64%; Nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 1,62%; Vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 7,53%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,48%. Và chỉ giảm duy nhất ở nhóm hàng xa xỉ Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 16,06% so với tháng trước.Kết quả kinh doanh bán lẻ hàng hóa tháng chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi thời tiết nắng nóng kéo dài, các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, thực phẩm, đồ uống, nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các công trình đang thi công tăng cầu tiêu dùng cộng với sự điều chỉnh một loạt chính sách về thuế và điều chỉnh mặt hàng xăng, dầu do Nhà nước quản lý giá.Tính chung 7 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 28.613,83 tỷ đồng, tăng 14,91% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong các nhóm hàng hóa có 10/12 nhóm tăng cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 15,99%; hàng may mặc tăng 10,45%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,47%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 18,6%; phương tiện đi lại tăng 10,44%; xăng, dầu các loại tăng 41,24%; nhiên liệu khác tăng 36,36%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 33,66%; hàng hóa khác tăng 12,17%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 8,67%. Bên cạnh các nhóm hàng tăng vẫn có 2 nhóm hàng hóa biến động giảm so với cùng kỳ: Vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 1,4%; ô tô giảm 2,83% so với cùng kỳ năm trước.Nhìn chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa 7 tháng năm 2022 tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh ổn định, hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa có nhiều thuận lợi. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển nên đã ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Trong khi đó, một lượng lớn vốn tín dụng đang bị mắc kẹt tại thị trường bất động sản trong khi vốn sản xuất kinh doanh gặp khó khăn là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 7 tăng tương đối khả quan so với tháng trước. Do trong tháng tập trung các hoạt động cưới hỏi, hội khóa lớp tựu trường dịp nghỉ hè nên các dịch vụ ăn uống, giải khát trong mùa hè doanh thu tăng hơn so với tháng trước, nhất là các quán ăn, nhà hàng, quán giải khát bia hơi, các tiệm trà chanh, các quán chè, nước mía. Các cơ sở kinh doanh giải khát thời vụ mùa hè tại các vỉa hè, lề đường hoạt động mạnh vào dịp này. Hà Tĩnh có vị trí địa lý thuận lợi đó là nằm ở trung tâm dải đất Bắc Trung Bộ, là địa điểm lý tưởng cho các kỳ nghỉ ngắn ngày, với những ưu thế như các bãi biển đẹp, thức ăn ngon...Doanh thu khu vực này dự tính đạt 571,08 tỷ đồng, tăng 3,25% so với tháng trước, tăng 197,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 29,60 tỷ đồng, tăng 9,79% so với tháng trước, tăng 5,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 157.479 lượt, tăng 1,45% so với tháng trước và tăng 3,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ 136.041 ngày (khách quốc tế 932 ngày và khách trong nước 135.109 ngày), tăng 3,56% so với tháng trước, tăng 3,1 lần so với cùng kỳ năm trước.Dịch vụ ăn uống ước đạt 537,37 tỷ đồng, tăng 2,92% so với tháng trước, tăng 185,83% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 4,10 tỷ đồng tăng 1,23% so với tháng trước.Tính chung 7 tháng năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.402,29 tỷ đồng, tăng 30,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 141,88 tỷ đồng, tăng 55,88%; lượt khách phục vụ 788.568 lượt, tăng 40,01% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 673.271 ngày, tăng 28,06% so với cùng kỳ năm trước. Ăn uống ước đạt 3.248,20 tỷ đồng, tăng 29,36% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 12,21 tỷ đồng, tăng 66,01% so với cùng kỳ năm trước. Ngành du lịch Hà Tĩnh 7 tháng năm 2022 đánh dấu sự phục hồi rõ rệt, nhưng biện pháp kích cầu du lịch đã mang lại những tín hiệu khả quan. Tuy nhiên, việc tăng mạnh của doanh thu du lịch chủ yếu do quy mô du lịch còn nhỏ cộng với việc cùng kỳ năm trước hoạt động du lịch bị tạm ngừng, cho nên vẫn rất cần thiết việc đầu tư phát triển du lịch chất lượng cao tương xứng với tiềm lực tỉnh nhà.- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 7 ước tính đạt 219,75 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 146,49% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành dịch vụ khác trong tháng đều tăng so với tháng trước và với cùng kỳ năm trước, do đây là thời điểm giao mùa cao điểm đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng các dự án, công trình nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng, nhu cầu y tế, văn hóa, giải trí và sử dụng các dịch vụ thuê xe, thuê đồ dùng cá nhân và gia đình cũng tăng do vào dịp nghỉ hè các cuộc hội khóa lớp diễn ra khá thường xuyên, tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác.Tính chung 7 tháng năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.347,03 tỷ đồng, có mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước 32,83%, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 36,68%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 33,95%; giáo dục đào tạo tăng 77,68%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 4,19%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 16,13%; dịch vụ khác tăng 48,17%.4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tiếp nối đà phục hồi tích cực khi tháng 7 doanh thu vận tải tăng cả so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, mở thêm các tuyến vận chuyển, đặc biệt chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa khi các xe quá tải đã chủ động việc hạ khung thành xe về đúng tải trọng đảm bảo môi trường giao thông. Tuy nhiên, giá xăng, dầu tăng liên tục trong thời gian gần đây cũng ảnh hưởng đến giá thành vận chuyển.Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 7/2022 ước đạt 478,06 tỷ đồng, tăng 1,28% so tháng trước và tăng 71,21% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách tăng ước đạt 109,94 tỷ đồng, tăng 1,70% so với tháng trước và tăng 306,96% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.486,1 nghìn HK, tăng 5,54% so với tháng trước và tăng 319,62% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 260,64 triệu HK.km, tăng 8,05% so với tháng trước, tăng 348,73% so với cùng kỳ năm trước.Vận tải hàng hóa ước đạt 296,12 tỷ đồng, tăng 0,98% so với tháng trước và tăng 62,89% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 3.299,4 nghìn tấn, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 62,90% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 84,76 triệu tấn.km, tăng 1,00% so với tháng trước và tăng 67,20% so với cùng kỳ năm trướcDoanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 71,90 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 2,10% so với cùng kỳ năm trướcNguyên nhân tăng hoạt động vận tải tháng 7 là do điều kiện thời tiết nắng nóng người dân chủ yếu sử dụng phương tiện công cộng để đi lại và cũng là giai đoạn cao điểm của mùa du lịch nên nhu cầu về vận tải hành khách tăng. Bên cạnh đó, cũng là thời điểm hoàn thiện các công trình xây dựng tăng, nên dẫn đến nhu cầu vận tải hàng hóa vật liệu xây dựng, đất đá, sắt thép tăng hơn. Các dự án thi công công trình xây dựng trên địa bàn đang tiếp tục phát triển mạnh, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, các công trình chú trọng đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão.Tính chung kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 7 tháng năm 2022, ước đạt 3.144,65 tỷ đồng, tăng 11,81% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 650,12 tỷ đồng, giảm 7,33%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 7.934,5 nghìn HK, giảm 15,96% và luân chuyển ước đạt 1.344,58 triệu HK.km, giảm 15,92%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.970,33 tỷ đồng, tăng 24,27%; khối lượng vận chuyển ước đạt 22.105,7 nghìn tấn, tăng 25,59% và luân chuyển ước đạt 563,54 triệu tấn.km, tăng 23,69%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 523,70 tỷ đồng, giảm 0,31% so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên kết quả hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 7 tháng năm 2022 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, các tuyến xe liên tỉnh đã bắt đầu hoạt động lại bình thường, cùng với đó hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh, các tuyến giao thông đường bộ nội tỉnh, thôn xóm cũng ngày càng hoàn thiện, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Cùng với sự phát triển của hạ tầng giao thông, việc hồi phục của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 7 năm 2022 ước đạt 492,5 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước (27,30%) và cùng kỳ năm trước (0,39%). Nguyên nhân việc sụt giảm là do các loại hàng hóa nhập khẩu chịu tác động từ tình hình bất ổn của thế giới và những yếu tố bất lợi đối với hoạt động của doanh nghiệp như: chi phí logistics cao, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng cao...- Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 7 ghi nhận sự khó khăn trong hoạt động xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 130,50 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước (giảm 35,61%) và cả so với cùng cùng kỳ (giảm 32,45%). Chủ yếu do biến động giảm của mặt hàng thép, phôi thép (ước đạt 111,74 triệu USD giảm 38,20% so với tháng trước và giảm 35,83% so với cùng kỳ) và việc sụt giảm ở tất cả các mặt hàng xuất khẩu tăng duy nhất ở mặt hàng chè (tăng 33,33% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 14,89 so với cùng kỳ) nhưng với quy mô nhỏ không thể cân bằng lại cán cân xuất khẩu của tỉnh nhà. Mặc dù, hạn chế trong xuất khẩu nhưng cũng ghi nhận việc doanh nghiệp tìm ra các giải pháp cũng như tăng cường tìm kiếm thị trường tiêu thụ ở trong nước.Tính chung 7 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.101,16 triệu USD, giảm 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, ngoài mặt hàng thép nhóm hàng thủy sản cũng có kim ngạch xuất khẩu cộng dồn 7 tháng giảm so với cùng kỳ (thép, phôi thép giảm 6,11%; thủy sản giảm 22,63%). Còn lại tất cả các mặt hàng đều tăng, cụ thể: Dệt và may mặc tăng 120,33%; dăm gỗ tăng 29,48%; xơ, sợi dệt các loại tăng 21,67%; chè tăng 8,66%. Việc mặt hàng chủ lực thép giảm mạnh trong tháng 6 và 7 ảnh hưởng trực tiếp tới kim ngạch xuất khẩu, vì vậy cần nhiều giải pháp chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển logistics tại địa phương.- Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 7/2022 ước đạt 362,0 triệu USD, giảm 23,75% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 20,17%. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa với 329,5 triệu USD. Cộng dồn 7 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.238,21 triệu USD, tăng 12,08% so với cùng kỳ năm trước.5. Chỉ số giá tiêu dùngChỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,02% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2022 chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng hàng hoá những tháng qua trên địa bàn tỉnh chịu nhiều tác động bởi các chính sách quản lý của cơ quan chức năng. Đặc biệt là việc điều chỉnh tăng mạnh giá nhóm mặt hàng thiết yếu xăng, dầu đã ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến giá cả hàng hoá, dịch vụ chung. Mặc dù tính chung chỉ số giá vẫn đang được kiểm soát nhưng có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới.Tháng 7 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,39% so với tháng trước, tăng 2,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,77%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,07%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%); 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (Đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; giao thông giảm 2,24%; bưu chính viễn thông giảm 0,66%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,28%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%) và 01 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước (giáo dục).CPI tháng 7 năm 2022 chịu tác động bởi một số yếu tố sau: (1) Yếu tố mùa vụ: Ảnh hưởng thời tiết nắng nóng tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh đang có xu hướng giảm. Tuy nhiên, mức giảm mới chỉ tác động trực tiếp đến nhóm nhiên liệu, chưa có nhiều ảnh hưởng đến các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác. (3) Giá thép xây dựng đang giảm mạnh, do hoạt động xuất khẩu thép đang gặp khó khăn trong khi trữ lượng thép tồn kho trong nước đang cao. Cùng với đó là chính sách kiểm soát chặt dòng vốn đổ vào thị trường bất động sản khiến nhu cầu thép xây dựng giảm. (4) Giá điện, nước sinh hoạt tiếp tục tăng cao, do nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán điện, nước càng cao.Chỉ số giá vàng tháng 7/2022 giảm 1,92% so với tháng trước, tăng 1,2% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 3,55% so với cùng tháng năm trước.Tính chung CPI 7 tháng năm 2022 tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,67%; nông thôn tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,14%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,32%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,16%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,68%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,2%; giao thông tăng 13,83%; bưu chính viễn thông giảm 0,12%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,36%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Hướng tới Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2022), UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Kế hoạch cụ thể với nhiều hoạt động thiết thực nhằm thể hiện lòng tri ân sâu sắc với những người có công với cách mạng, đồng thời đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa trên địa bàn. Nằm trong chuỗi hoạt động này đến nay Thành phố Hà Tĩnh đã trao tặng 100 suất quà cho người có công gặp hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách và 10 suất quà cho 10 người có công tiêu biểu, tổng trị giá các suất quà là 77 triệu đồng; Huyện Can Lôc trao 100 suất quà trị giá 180 triệu đồng thuộc chương trình “Nghĩa tình tháng 7” cho các gia đình chính sách và học sinh khó khăn. Cũng trong dịp này Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương hỗ trợ 1 tỷ đồng cho các trường hợp chính sách ở Hà Tĩnh2. Giáo dụcKỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 được tổ chức vào ngày 07, 08/7/2022 với 35 điểm thi, 751 phòng thi chính thức, 92 phòng chờ, 17.371 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó 14.955 thí sinh THPT, 2.416 thí sinh giáo dục thường xuyên). Số thí sinh đăng ký dự thi chỉ để xét tốt nghiệp là 3.455 em, thí sinh đăng ký dự thi để xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, cao đẳng hơn 13.300 em và thí sinh đăng ký dự thi chỉ để xét tuyển sinh đại học, cao đẳng hơn 600 em, điều động gần 2.700 cán bộ, giáo viên, nhân viên và các lực lượng làm nhiệm vụ tại các điểm thi. Với sự chu đáo trong công tác chuẩn bị và thực hiện nghiêm túc tinh thần của Ban Chỉ đạo, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 đã diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Hiện công tác chấm thi đã hoàn thành, dự kiến công bố kết quả trước 24/7/2022. Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh cũng đã công bố điểm chuẩn tuyển sinh vào lớp 10 THPT các trường công lập vào ngày 05/7/2022. Theo đó, điểm sàn tuyển sinh vào các trường THPT không chuyên công lập 22 điểm; đối với trường THPT Chuyên Hà Tĩnh tùy theo môn (môn thấp nhất là Lịch sử với tổng điểm các bài thi đã tính hệ số>=35,25 điểm; môn cao nhất là tổng điểm các bài thi đã tính hệ số Ngữ Văn >=49,5 điểm), đến thời điểm hiện này còn một số trường đang tuyển nguyện vọng 2.3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Để chủ động ứng phó với diễn biến khó lường của dịch bệnh COVID-19 trước các biến chủng mới, nhằm tăng cường miễn dịch phòng bệnh cho người dân, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Công điện số 1075-CĐ/TU ngày 6/7/2022 về tăng cường tiêm chủng vắc xin phòng bệnh COVID-19.Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 17/7/2022 là 51.028 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 52.977 ca mắc. Tình hình điều trị các ca bệnh: chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN; điều trị khỏi 52.326 BN, trong đó có 123 BN tuyến trên, 52.203 BN tại Hà Tĩnh; 52 BN tử vong. Tính đến ngày 15/7/2022 toàn tỉnh đã có 100,61% người được tiêm mũi 1; 98,57% được tiêm mũi 2; 74% được tiêm mũi 3 (mũi nhắc lại lần 1) và 69% người trên 50 tuổi, người trên 18 tuổi bị suy giảm miễn dịch, người trên 18 tuổi thuộc nhóm nguy cơ cao phơi nhiễm được tiêm mũi nhắc lại lần 2 (mũi 4). Đối với trẻ em từ 12 đến dưới 18 tuổi, có 100,15% trẻ được tiêm mũi 1 vắc-xin phòng COVID-19, 98,56% trẻ được tiêm mũi 2 và 12,21% trẻ được tiêm mũi nhắc lại lần 1. Ở độ tuổi từ 5 đến dưới 12 tuổi, đã có 41,76% được tiêm mũi 1 vắc-xin phòng COVID-19, trên 20% trẻ được tiêm mũi 2.- Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xuất hiện 1 ổ dịch sốt xuất huyết Dengue, với 4 người mắc, không có người chết vì dịch. Trong bối cảnh dịch sốt xuất huyết đang bùng phát tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước, ngành y tế Hà Tĩnh đã khuyến cáo người dân tuyệt đối không chủ quan và cần chủ động các giải pháp phòng, chống dịch bệnh. Ngoài ra, trong tháng còn một số ca bệnh đơn lẻ: có 4 ca mắc sốt xuất huyết (giảm 71,43% so với cùng kỳ năm trước), 1 ca mắc sốt rét (giảm 97,67 ca), 7ca mắc bệnh quai bị (giảm 56,25%), 9 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 65,38%); 12 ca mắc lỵ a míp (giảm 61,29%); 15 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 42,31%); 1.088 ca mắc bệnh cúm (giảm 51,47%); 7 ca chân tay miệng (tăng 7 ca); tiêu chảy 203 ca (tăng 203 ca); viêm gan vi rút khác 3 ca (tăng 3 ca). Ngoại trừ sốt xuất huyết, thì tất cả các ca bệnh còn lại không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, không có người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS và đồng thời cũng không có người chết vì AIDS. Tính chung 7 tháng năm 2022 có 12 người nhiễm mới HIV, 6 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 18 người (giảm 60%) nhiễm mới HIV, giảm 21 người (giảm 77,78%) chuyển thành AIDS , số người chết vì AIDS không đổi.- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thời gian qua, Hà Tĩnh đã đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe người dân. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, có 136 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, tăng 14 ca (tăng 11,48%) ngộ độc đơn lẻ, số ca tử vong không đổi. Tính chung 7 tháng năm 2022 có 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 481 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 204 ca (giảm 29,8%), số ca tử vong không đổi.4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, hưởng ứng Ngày Gia đình Việt Nam năm 2022 với chủ đề “Gia đình bình an - xã hội hạnh phúc”, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch phối hợp với huyện Lộc Hà tổ chức lễ phát động tuyên truyền đạo đức, lối sống trong gia đình. Ngoài ra, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Hương Sơn đã tổ chức trao giải Hội thi “Hát ru trực tuyến lần thứ nhất” và “Dân vũ thể thao trực tuyến trong hệ thống hội” năm 2022, nhằm gìn giữ và bảo tồn các làn điệu hát ru, đồng thời góp phần thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại; Chào mừng 15 năm ngày thành lập thành phố Hà Tĩnh và các sự kiện lớn trong năm 2022, ngày 9/7, Câu lạc bộ (CLB) Moning, CLB TLD Hà Tĩnh đã tổ chức đêm Liên hoan khiêu vũ, dân vũ 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với 13 CLB, 260 diễn viên tham gia trình diễn 20 tiết mục khiêu vũ, dân vũ.- Hoạt động thể thao: + Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 10 giải đấu, đạt 73 huy chương các loại (gồm 29 huy chương vàng, 22 huy chương bạc, 22 huy chương đồng). Trong đo, nổi bật giành 6 huy chương tại Giải Vô địch Muay trẻ quốc gia 2022 (2 HCV, 4 HCĐ) diễn ra từ ngày 22-28/6 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.+ Thể thao quần chúng: Trong tháng, các hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động như: Khai mạc Đại hội thể dục thể thao huyện Can Lộc lần thứ IX, Đại hội thể dục thể thao huyện Nghi Xuân lần thứ IX; Đại hội thể dục thể thao huyện Hương Sơn lần thứ VI; Đại hội thể dục thể thao thị xã Hồng Lĩnh lần thứ VII;... Đại hội nhằm thúc đẩy phong trào luyện tập thể dục, thể thao, rèn luyện sức khỏe trong toàn thể cán bộ, công nhân, viên chức và Nhân dân; đồng thời nhằm phát hiện, tuyển chọn những vận động viên xuất sắc cho các giải thể thao thành tích cao...Ngoài ra, còn có các hoạt động thể thao do các Sở, ban, ngành tổ chức.5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/6 - 14/7/2022 toàn tỉnh xảy ra 7 vụ tai nạn đường bộ, làm 7 người chết, 3 người bị thương, thiệt hại 160 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ tai nạn (giảm 22,22%), giảm 2 người chết (giảm 22,22%), số người bị thương không đổi. Như vậy, tính chung 7 tháng  năm 2022, Hà Tĩnh xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 46 người và bị thương 22 người, tổng thiệt hại ước tính 850 triệu đồng. So cùng kỳ năm 2021 giảm 7 vụ (giảm 11,67%), giảm 2 người chết (giảm 4,12%) và số người bị thương không đổi. Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.6. Môi trường- Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/6/2022 đến ngày 14/7/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 8 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại về tài sản 11 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ tăng 1 vụ, giảm thiệt hại 36 triệu đồng. Tính chung 7 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 25 vụ cháy, nổ làm 1 người chết và không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 2.027 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ tăng 1 vụ; giảm 1 người chết; giảm 1 người bị thương; thiệt hại ước giảm 330 triệu đồng.- Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/6 đến ngày 14/7/2022 đã phát hiện 34 vụ, đã xử lý 23 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 162,65 triệu đồng; so với tháng trước số vụ đã phát hiện không đổi, số vụ đã xử lý tăng 10 vụ (tăng 76,92%), tăng số tiền nộp phạt 118,76 triệu đồng (tăng 270,59%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 26 vụ đã phát hiện (tăng 325%), tăng 13 vụ đã xử lý (tăng 130%), số tiền xử phạt giảm 14,85 triệu đồng (giảm 8,37%).Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 32 vụ (chiếm 94,12%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 1 vụ (chiếm 2,94%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 1 vụ (2,94%).Tính chung 7 tháng năm 2022 (ngày 15/12/2021 - 14/7/2022) đã phát hiện 542 vụ, đã xử lý 376 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1475,51 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ phát hiện tăng 459 vụ (tăng 5,53 lần), số vụ xử lý tăng 314 vụ (tăng 5,06 lần), tăng số tiền nộp phạt 450,96 triệu đồng (tăng 44,02%).7. Tình hình thiên taiTrong tháng, không xảy ra thiên tai, so với cùng kỳ năm trước không đổi. Tính chung 7 tháng năm 2022, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ thiên tai, cụ thể là 1 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 1 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 2 vụ sét đánh (ngày 26/5 và 14/6), 1 vụ lốc xoáy (ngày 14/6); làm chết 3 người; làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ thiên tai, tăng 1 người chết, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 11:07

Năm 2022 là năm thứ hai Hà Tĩnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ 5 năm 2021-2025; là năm đầy ý nghĩa khi Hà Tĩnh chúng ta tổ chức kỷ niệm 65 năm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh và 15 năm thành lập thành phố Hà Tĩnh. Tuy nhiên, nhìn lại 6 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Dịch COVID-19 bùng phát mạnh sau Tết Nguyên đán; tác động của xung đột Nga - Ukraine làm giá xăng, dầu tăng cao kéo theo giá nguyên liệu, hàng hóa cơ bản tăng; trong sản xuất nông nghiệp chịu tác động bởi dịch bệnh, thời tiết diễn biến khó lường... đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung cao trong phòng, chống dịch; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm; tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư; tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa nhất định. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng khá (trên 32%); thu ngân sách vượt xa so với cùng kỳ năm trước; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả cụ thể được thể hiện trên các lĩnh vực sau:I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Tốc độ tăng trưởng, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 1.1. Về tăng trưởng: Tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 23.529 tỷ đồng, tăng 0,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 0,22%; khu vực Công nghiệp, xây dựng giảm 8,34%, trong đó ngành Công nghiệp giảm 11,46%; khu vực Dịch vụ tăng 6,97%; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 12,04%.1.2. Về cơ cấu kinh tế: 6 tháng đầu năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 15,97%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,10%, trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 29,61%; khu vực Dịch vụ chiếm 36,86%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,07%. Qua số liệu theo giỏi từng năm cho thấy Hà Tĩnh đang phát triển theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp.Nhìn vào bức tranh kinh tế của Hà Tĩnh cho thấy, đây là kỳ đầu tiên của kế hoạch 5 năm 2021-2025 mà Hà Tĩnh chúng ta có mức tăng trưởng thấp nhất.1.3. Một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế*Đối với Khu vực Nông, LN, Thủy sản, trong 6 tháng vừa qua sản xuất nông nghiệp không đạt như kỳ vọng, chỉ tăng nhẹ 0,22% so với cùng kỳ và đóng góp 0,03 điểm % trong tổng mức tăng chung. Nguyên nhân của khu vực này giảm là do:- Sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện thời tiết bất thường xẩy ra ở những thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng như giai đoạn thụ phấn của ngô, lạc, giai đoạn phơi màu của lúa. Ngoài ra bệnh đạo ôn lá trên cây lúa, bệnh héo rũ gốc mốc đen, trắng trên cây lạc, sâu keo mùa trên cây ngô cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, sản lượng của cây trồng. Vì vậy năng suất, sản lượng các loại cây trồng chủ lực đều giảm so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như: Năng suất lúa ước đạt 55,62 tạ/ha (giảm 3,33 tạ/ha); năng suất ngô ước đạt 44,34 ta/ha (giảm 0,46 ta/ha); năng suất lạc ước đạt 26,14 ta/ha (giảm 2,24 ta/ha)..vv. Trong sản xuất chăn nuôi vẫn còn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh. Ngoài ra, việc chi phí sản xuất từ con giống, thức ăn đều tăng cao trong khi giá lợn hơi không tăng vẫn là rào cản trong việc tái đàn. Vì vậy hoạt động chăn nuôi chỉ tăng nhẹ, cụ thể, Sản lượng thịt trâu xuất chuồng ước đạt 1.901 tấn (tăng 1,12% so với cùng kỳ); sản lượng thịt bò ước đạt 5.150 tấn( tăng 3,41); sản lượng thịt lợn ước đạt 32.209 tấn (tăng 1,32%). Do vậy ngành nông nghiệp đã giảm 0,63% đóng góp -0,08 điểm % trong tổng mức tăng chung và đóng góp -0,53 điểm % trong nội ngành- Ngành lâm nghiệp tăng 7,39% so với cùng kỳ đóng góp 0,07 điểm % trong tổng mức tăng chung. Tuy nhiên do tỷ trọng giá trị của ngành này là không lớn nên chỉ đóng góp 0,45 điểm % trong nội ngành- Ngành thủy sản tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước đóng góp đóng góp 0,04 điểm % trong tổng mức tăng chung, đóng góp 0,3 điểm % trong nội ngành. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển tuy gặp khó khăn do chi phí xăng, dầu, nhân công...ngày càng tăng nhưng do các hoạt động du lịch hồi phục trở lại, nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao với giá cả ổn định nên ngư dân vẫn tiếp tục vươn khơi đánh bắt. Ước tính 6 tháng đầu năm 2022, tổng sản lượng thủy hải sản ước đạt 26,147 nghìn tấn tăng 3,45% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 19,955 nghìn tấn tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước.*Khu vực công nghiệp và xây dựng: Hiện nay trong cơ cấu của nền kinh tế của chúng ta thì khu vực Công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng khá cao (chiếm 37,10%) trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 29,61%, điều này thể hiện đầu tàu phát triển kinh tế của tỉnh hiện nay vẫn là ngành công nghiệp. Tuy nhiên trong 6 tháng vừa qua, hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp tiếp tục bị ảnh hưởng, đặc biệt là ngành sản xuất phân phối điện, cụ thể là Tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 gặp sự cố đang phải ngừng hoạt động đến nay chưa khắc phục được, tổng sản lượng điện chỉ sản xuất được 4.121 triệu KWh giảm 36,34% (giảm 2.362 triệu KWh) so với cùng kỳ. Trong đó, riêng nhà máy nhiệt điện I chỉ sản xuất 1.845 triệu KWh giảm 53,34% (giảm 2.109 triệu KWh) so với cùng kỳ. Ngoài ra trong 6 tháng vừa qua do giá đầu vào tăng trong khi đó giá thành phẩm thép có phần giảm nên sản phẩm phôi thép của Phomosa chỉ sản xuất được 3190 ngàn tấn, giảm 1,67% (giảm 54 ngàn tấn) so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, trong khi các động lực tăng trưởng chính (Formosa, Nhiệt điện Vũng Áng I) sản xuất sụt giảm hoặc tăng trưởng thấp thì sản xuất công nghiệp vẫn chưa có các năng lực mới tăng thêm để đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Với sự sụt giảm lượng điện sản xuất trong 6 tháng vừa qua đã làm cho GRDP ngành Công nghiệp giảm 11,46% so với cùng kỳ và làm giảm 3,94 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP toàn nền kinh tế. Và đây là 2 lý do chính làm cho tổng sản phẩm trong tỉnh không có tăng trưởng.*Đối với khu vực Dịch vụ: Mặc dù trong 6 tháng vừa qua chúng ta đang bình thường mới với tình hình dịch Covid-19, tuy nhiên vào những tháng đầu của quý I/2022 do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 trên diện rộng, số ca lây nhiễm tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng, doanh thu hoạt động kinh doanh hàng hóa, vận tải và dịch vụ đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt một số ngành có GRDP trong quý I giảm như: Dịch vu lưu trú, ăn uống giảm 14,54%; ngành vận tải kho bãi giảm 7,72% so với cùng kỳ năm trước. Bước sang quý II/2022, tình hình dịch Covid -19 dần ổn định trợ lại, song do tình hình giá xăng, dầu tăng đã kéo hàng loạt các mặt hàng tăng theo, đặc biệt là giá nguyên vật liệu và hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, người dân trên địa bàn. Thì đây củng là một trong những những nguyên nhân làm giảm điểm phần trăm của khu vực dịch vụ. Trong 6 tháng 2022 GRDP khu vực dịch vụ chỉ tăng 6,97% là chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của Hà Tĩnh.*Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP, 6 tháng đầu năm 2022 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 12,04%, đóng góp 1,11 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành, và có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng so với cùng kỳ năm trước.2. Tài chính, ngân hàng2.1 Hoạt động tài chínhTiến độ thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2022 đạt khá trên hầu hết các khu vực; các khoản thu, sắc thuế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Dịch bệnh COVID-19 dần được kiểm soát tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phục hồi và tăng trưởng, qua đó góp phần đóng nộp NSNN cho địa phương. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh và công tác phòng chống dịch Covid-19, phục hồi nền kinh tế.Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/6/2022 đạt 9.997,17 tỷ đồng (tăng 41,54% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 4.456,82 tỷ đồng (chiếm 44,58 % trong tổng thu) tăng 23,55% so với cùng kỳ. Một số sắc thuế thu vượt cao như: Thu tiền sử dụng đất 1.541,66 tỷ đồng (tăng 46,41% so với cùng kỳ); thu thuế thu nhập cá nhân 302,61 tỷ đồng (tăng 80,18% so với cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài 888,22 tỷ đồng (tăng 57,54%); thu cấp quyền khai thác khoáng sản 53,77 tỷ đồng tăng 185,54%…Một số nguyên nhân chủ yếu số thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng do số nộp từ thuế nhà thầu của Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II và số nộp của việc bán hàng hóa tồn kho năm 2021 của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Thu tiền sử dụng đất tăng do tiền sử dụng đất thu được từ hồ sơ quy hoạch đấu giá thực hiện hoàn thành cuối năm 2021, số nộp vào đầu năm 2022. Thuế thu nhập cá nhân cũng tăng cao hơn do thị trường mua bán, chuyển nhượng bất động sản trong những tháng đầu năm 2022 sôi động;… Bên cạnh thu nội địa, thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu đạt 5.094,35 tỷ đồng (chiếm 50,96% tổng thu) tăng 87,91% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng trọng điểm có thuế là than, dầu, quặng…Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/6/2022 sơ bộ đạt 7.488,48 tỷ đồng giảm 15,33% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 2.494,60 tỷ đồng chiếm 33,31% tổng chi, giảm 33,76% so với cùng kỳ; chi thường xuyên sơ bộ đạt 4.933,08 tỷ đồng chiếm 65,88% tổng chi, giảm 2,76% so với cùng kỳ năm 2021.2.2 Hoạt động ngân hàngDịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cũng như cả nước đã được kiểm soát tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp dần được phục hồi. Do đó, 6 tháng đầu năm 2022 nhu cầu tín dụng của người dân và doanh nghiệp để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 11,39% so với cuối năm 2021. Tuy nhiên, do nguồn tiền gửi của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn giảm mạnh nên nguồn vốn huy động toàn địa bàn giảm 0,73% so với thời điểm cuối năm trước.Ước nguồn vốn huy động đến 30/6/2022 đạt 86.785 tỷ đồng, giảm 0,73% so với cuối năm 2021.Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 11.956 tỷ đồng, chiếm 13,78% tổng nguồn vốn huy động, tăng 3,73% so với cuối năm 2021; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 74.829 tỷ đồng, giảm 1,4% so với đầu năm. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 60.445 tỷ đồng, tăng 4,14% so với đầu năm; tiền gửi thanh toán đạt 25.890 tỷ đồng, giảm 10,53% so với đầu năm. Ngay từ đầu năm, các TCTD trên địa bàn đã đẩy mạnh các chương trình ưu đãi nhằm thu hút nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư như chương trình tiết kiệm dự thưởng… Nhờ đó, nguồn tiền gửi tiết kiệm dân cư tăng so với cuối năm 2021. Tuy nhiên, nguồn tiền gửi của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn giảm mạnh dẫn đến nguồn vốn huy động toàn địa bàn giảm so với cuối năm 2021.Dư nợ cho vay đến 30/6/2022 đạt 79.950 tỷ đồng, tăng 11,39% so với cuối năm 2021. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 53.865 tỷ đồng (chiếm 67,37% tổng dư nợ), tăng 10,4% so với cuối năm 2021; dư nợ trung dài hạn đạt 26.085 tỷ đồng (chiếm 32,63% tổng dư nợ), tăng 13,47% so với cuối năm 2021. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 10,61% so với cuối năm 2021, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 28,71% so với đầu năm, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 11,49%. 6 tháng đầu năm 2022, nhu cầu tín dụng của người dân và doanh nghiệp để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh tăng cao. Ngoài ra, trong thời gian tới, với việc triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước 40.000 tỷ đồng, sẽ góp phần thúc đẩy tín dụng trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới tiếp tục có mức tăng trưởng tốt.Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 2,9-3,8% đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4-6%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,3-6,6%/năm đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến 4,5-10%/năm, trung dài hạn phổ biến 8,5-12%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 1,04-3%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 2,0-4,5%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Tính đến 30/6/2022 nợ xấu ước tính 595 tỷ đồng, chiếm 0,74% tổng dư nợ. Trong đó, nợ xấu chương trình cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP 132,09 tỷ đồng chiếm 22,22% nợ xấu toàn địa bàn. 3. Giá cả, lạm phát Tháng 6 củng như 6 tháng đầu năm, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ, đặc biệt là giá nhiên liệu xăng, dầu tăng cao đã kéo theo các nhóm mặt hàng như điện, nước sinh hoạt, vật liệu xây dựng tăng theo đã ảnh hưởng đến chi tiêu người tiêu dùng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người dân. Trong tháng 6 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,56% so với tháng trước, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 1,79% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,67% so với tháng trước, tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước.Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,22% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 2,76%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,81% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,59%; giao thông tăng 3,21% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 17,85 %; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18% so tháng trước, tăng 4,09% so cùng tháng năm trước); có 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước đó là (Bưu chính viễn thông giảm 0,04% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,93%); có 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (Đồ uống và thuốc lá; giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế).Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 6/2022 đó là: (1) Yếu tố mùa vụ: Ảnh hưởng thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh tiếp tục tăng mạnh so tháng trước và thời điểm đầu năm, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng giá, do chi phí sản xuất và vận chuyển trong những tháng qua tăng cao. (4) Giá điện, nước sinh hoạt tăng cao, do nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán điện, nước càng cao.Giá vàng bình quân trong tháng 6 ở mức 5.422 nghìn đồng/chỉ 9999, giảm 1,47% so với tháng trước, tăng 1,09% so với cùng tháng năm trước; giá đô la mỹ bình quân 2.384 nghìn đồng/100 USD tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 2,89% so với cùng tháng năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,66%; nông thôn tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,45%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,34%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,96%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,8%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; giao thông tăng 13,85%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,12%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước.Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 7/2022 sẽ tăng hơn so tháng 6/2022. Giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tiếp tục tăng do tính chất thời vụ mùa du lịch biển. Giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài. Một số mặt hàng khác dự kiến có thể tiếp tục tăng giá gồm hàng điện lạnh, xăng dầu các loại. 4. Đầu tư và xây dựng6 tháng đầu năm 2022, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có hiệu quả các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, là điểm sáng của cả nước trong việc thu hút đầu tư. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 15.243 tỷ đồng, tăng 32,61% so với cùng kỳ năm trước. 4.1 Vốn đầu tư phát triển Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 15.243 tỷ đồng, tăng 32,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.892 tỷ đồng, tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 9.637 tỷ đồng, tăng 16,05% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 2.713 tỷ đồng, tăng 6,1 lần so với cùng kỳ năm trước. Với mức tăng này đã phản ánh kết quả của các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cộng đồng doanh nghiệp, cũng như xu thế đón đầu dòng vốn ngoài nhà nước và dòng vốn FDI đang chuyển dịch vào Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 được kiểm soát. Trong đó phải kể đến dự án sản xuất Pin do công ty giải pháp năng lượng VinES đầu tư ước đạt 2.407 tỷ đồng và dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 dự ước đạt 2.305 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2022 là nguyên nhân chính dẫn đến vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2022 tăng 32,61% so với cùng kỳ năm trước.4.2 Hoạt động Xây dựngDự ước giá trị xây dựng 6 tháng đầu năm 2022 theo giá hiện hành đạt 9.769 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thi công các công trình trên địa bàn tỉnh dự ước đạt 4.207 tỷ đồng, tăng 28,95% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 21,7 tỷ đồng, giảm 77,51% với cùng kỳ năm trước; loại hình khác ước đạt 5.539 tỷ đồng, tăng 10,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn ước đạt 118 tỷ đồng, bằng 46,86% so với cùng kỳ năm trước; giá trị xây dựng hộ ước đạt 5.421 tỷ đồng, tăng 13,92% so với cùng kỳ năm trước. Loại hình khác giảm mạnh do công trình xã chủ yếu do doanh nghiệp thực hiện, do đó giá trị khu vực này giảm.Thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra và đã triển khai thực hiện ước đạt 2.305 tỷ đồng, trong đó xây dựng cơ bản ước đạt 1.200 tỷ đồng; dự án nhà máy CellPin ước đạt 2.407 tỷ đồng, trong đó giá trị xây dựng 580 tỷ dồng. Ngoài 2 dự án lớn trên, một số dự án khác đang trong quá trình xây dựng như: Nhà máy bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh, các khu công nghiệp Cổng Khánh 1 và 2, khu đô thị TNR Stars Hồng Lĩnh (TX Hồng Lĩnh)... cũng đang được các nhà thầu tập trung triển khai thực hiện5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp5.1. Tình hình đăng ký kinh doanhThời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Đến ngày 15/6/2022 toàn tỉnh có 657 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 4.907 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 8.035 lao động (tăng 24,96% về số doanh nghiệp, tăng 35,47% về vốn đăng ký, tăng 70,34% về số lao động so với cùng kỳ năm trước). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,6 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2021 là 6,96 tỷ đồng). Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm tăng khá là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế.  Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong 6 tháng vừa qua, do nhiều yếu tố khác nhau như tình hình dịch Covid-19 bùng phát đầu quý I, giá xăng dầu tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nhiệp, cụ thể toàn tỉnh đã có 317 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 15,27% so với cùng kỳ năm 2021), 70 doanh nghiệp giải thể (tăng 34,62% so với cùng kỳ năm 2021).5.2 Thu hút đầu tưTính đến ngày 15/6/2022, Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 10 dự án, trong đó 09 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn hơn 2.600 tỷ đồng, 01 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3 triệu USD. Kêu gọi một số nhà đầu tư lớn vào khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư trên địa bàn tỉnh như: Vingroup đề xuất dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng, khảo sát đầu tư dự án Khu đô thị Vinhomes Kỳ Anh tại phường Kỳ Trinh; Công ty cổ phần Crystal Bay đề xuất dự án Công viên Trung tâm và Khu đô thị Lam Hồng Garden Park City tại thành phố Hà Tĩnh; Công ty Cổ phần Tập đoàn Mặt trời (Sun Group), Công ty cổ phần Tập đoàn Ecopark khảo sát, nghiên cứu đầu tư các dự án đô thị sinh thái và các dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí; Tập đoàn Quế Lâm nghiên cứu, hợp tác đầu tư, phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ.5.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệpQua khảo sát các doanh nghiệp cho thấy, 6 tháng cuối năm, các doanh nghiệp nhận định sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng lên và ổn định sản xuất. Trong đó: Doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo 6 tháng tiếp theo có xu hướng tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (54,76% doanh nghiệp); doanh nghiệp dự báo giữ nguyên là 33,34% và chỉ có 11,9% doanh nghiệp cho rằng 6 tháng tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại.Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo 6 tháng tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (57,14%). Trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 7,15%. Tương tự số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và giữ nguyên trong 6 tháng tiếp theo. Các doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao (64,29%). Về lao động. Với tình hình thực tế hiện nay, các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động 6 tháng tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong 6 tháng tiếp theo chiếm đến 71,43% doanh nghiệp, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 19,05% và có 9,52% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động.6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2022 diễn ra trong điều kiện thời tiết bất thường xẩy ra ở những thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng như: Giai đoạn thụ phấn của ngô, lạc; giai đoạn phơi màu của lúa...tạo điều kiện cho các loại dịch bệnh phát triển, mặt khác cuối vụ xuất hiện đợt mưa lớn kèm theo gió thổi mạnh đã làm nhiều diện tích bị thiệt hại, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất các loại cây trồng; trong chăn nuôi vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Trong hoạt động lâm nghiệp, việc chăm sóc, trồng rừng tập trung tăng khá. Hoạt động thủy sản có nhiều khởi sắc khi ngành du lịch hoạt động trở lại, nhu cầu về thủy hải sản tăng cao nên khuyến khích người dân ra khơi bám biển.6.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọt*Cây hàng năm Vụ Đông Xuân 2021-2022, toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm sơ bộ đạt 99.257 ha, tăng 134 ha so với cùng kỳ năm trước, tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 384.391 giảm 11.008 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích lúa sơ bộ đạt 59.813 ha, tăng 335 ha so với năm trước, năng suất lúa ước tính đạt 55,99 tạ/ha, giảm 2,96 tạ/ha, sản lượng lúa ước tính đạt 334.874 tấn, giảm 14.919 tấn so với cùng kỳ năm trước; diện tích lạc sơ bộ đạt 8826 ha, giảm 1196 ha, sản lượng ước tính đạt 21.445 tấn, giảm 14.919 tấn so với cùng kỳ; diện tích ngô sơ bộ đạt 10.712 ha, tăng 531 ha, sản lượng ước tính đạt 49.517 tấn, tăng 3.911 tấn so với cùng kỳ.Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay vẫn đạt kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, do vụ Đông Xuân 2020-2021 là một năm được mùa toàn diện, trong khi năm nay năng suất lúa giảm nên sản lượng lương thực giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất lúa giảm chủ yếu là do cuối vụ Hà Tĩnh liên tục chịu ảnh hưởng bởi thời tiết xấu. Trong thời gian lúa trổ, chịu ảnh hưởng các đợt không khí lạnh từ 15-22/4; 30/4-3/5 gây mưa ẩm, nền nhiệt độ 21-250C tạo điều kiện thuận lợi cho bào tử nấm đạo ôn phát sinh, phát triển và gây hại trên diện rộng, diện tích nhiễm bệnh trên toàn tỉnh 425 ha cao hơn so với năm 2021 (năm 2021 là 94 ha). Đặc biệt, trận mưa từ đêm 30/4/2022 đến hết ngày 1/5/2022 kèm theo gió giật mạnh đã khiến hơn 900 ha lúa Đông Xuân trên toàn tỉnh bị đổ ngã, tập trung nhiều nhất ở Cẩm Xuyên với 328 ha, Can Lộc 167,5 ha, Nghi Xuân 74 ha, huyện Kỳ Anh 60 ha...Ngoài cây lạc thì sản lượng các loại cây trồng chủ lực khác vụ Đông Xuân năm nay đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.*Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu năm 2022: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2022. Tính đến ngày 13/6/2022, ước tính toàn tỉnh gieo cấy được 43.275 ha lúa vụ Hè Thu, đạt 95,3% kế hoạch (diện tích lúa gieo thẳng 42.648 ha và diện tích lúa cấy là 627 ha). Một số địa phương đã hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2022 là: Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh. Các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2022 hiện nay đang gieo trỉa.*Cây lâu năm: Tổng diện tích hiện có cây lâu năm ước đạt 31.724 ha, bằng 101,19% tăng 373 ha so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.474 ha, bằng 102,94% tăng 556 ha so với cùng kỳ năm 2021. Diện tích một số loại cây tăng như: Cam tăng 212 ha, bưởi tăng 228 ha, chuối tăng 48 ha, ổi tăng 27 ha, mít tăng 21 ha...Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cải tạo vườn tạp, những năm gần đây, nhiều hộ nông dân trên địa bàn tỉnh đã lựa chọn các cây ăn quả có múi để đưa vào sản xuất nên diện tích tăng. Diện tích cây cao su ước đạt 8.464 ha, bằng 97,38%, giảm 228 ha so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân do Công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả, chuyển đổi một phần diện tích cao su, đất rừng trồng của các công ty sang cây trồng khác cho hiệu quả cao hơn và chuyển đổi mục đích sử dụng một số diện tích đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Diện tích chè búp ước đạt 1.242 ha, tăng 24 ha. Chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.769 ha, giảm 70 ha. Diện tích trồng chè búp đang ngày một tăng lên, mở rộng thêm do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận. Diện tích cây lâu năm khác ước đạt 638 ha, bằng 112,52%, tăng 71 ha so với cùng kỳ năm 2021.6 tháng đầu năm 2022, sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.440 tấn, bằng 100,69%, tăng 235 tấn so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Sản lượng các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới ước đạt 20.094 tấn, bằng 100,46%, tăng 92 tấn. Chuối tăng 85 tấn, ổi tăng 60 tấn, thanh long tăng 9 tấn...Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.869 tấn, tăng 185 tấn. Sản lượng cam tăng 111 tấn. Sản lượng cao su ước đạt 1.247 tấn, bằng 115,78%, tăng 170 tấn. Sản lượng chè búp ước đạt 5.586 tấn, bằng 102,44%, tăng 133 tấn. Mô hình trồng chè búp đã đạt những kết quả khả quan, hiệu quả cao hơn so với trồng các loại cây công nghiệp khác. Chè xanh (chè hái lá) ước đạt 11.312 tấn, bằng 99,85%, giảm 17 tấn. Nguyên nhân do diện tích bị thu hẹp nên sản lượng chè xanh giảm.*Tình hình sâu bệnh, thiên tai: Hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2022 mới được gieo trồng, chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Đối với cây ăn quả thì bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, câu cấu, sâu vẽ bùa gây hại, phân bố tại các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc.b. Chăn nuôi    Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2022 ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Trong 6 tháng đầu năm 2022, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, nhất là nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào, giá cả ổn định, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, trong khi giá bán sản phẩm không tăng nhưng giá thức ăn và các chi phí chăn nuôi đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua cũng như thời gian tới.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra một số dịch bệnh truyền nhiễm đối với đàn vật nuôi là dịch tả lợn Châu Phi và dịch lở mồm long móng. Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 40 xã thuộc 9 huyện, thành phố, thị xã (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh); số con mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 904 con, với trọng lượng 49 tấn. Tính đến ngày 13/6/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 3 xã, thị trấn của huyện Cẩm Xuyên (xã Nam Phúc Thăng, xã Cẩm Mỹ và thị trấn Cẩm Xuyên) và 1 xã của huyện Vũ Quang (xã Hương Minh) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày. Dịch lở mồm long móng xẩy ra trong tháng 2/2022 tại thị trấn Đức Thọ và xã Kỳ Bắc với số lượng chỉ có 2 con trâu, 2 con bò mắc bệnh và đã được điều trị khỏi bệnh.  Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm vẫn đạt thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2022 tính đến ngày 05/6/2022: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 71.640 liều, đạt 49% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 66.059 liều, đạt 46% kế hoạch; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò đạt 910.166 liều, đạt 68% kế hoạch; dịch tả lợn 112.985 liều, đạt 76% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 112.835 liều, đạt 70,4% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 83.280 liều, đạt 76% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 341.569 liều, đạt 15% kế hoạch. 6.2. Lăm nghiệpHoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 6/2022 vẫn tiếp tục triển khai trồng rừng tập trung và khai thác gỗ từ rừng trồng. Tuy nhiên, do cuối vụ và điều kiện thời tiết nắng nóng nên diện tích trồng rừng tập trung giảm mạnh so với tháng trước (giảm 206 ha), nhưng vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước (tăng 25 ha); sản lượng gỗ khai thác trong tháng 6/2022 tăng 8.167 m3 so với tháng trước và tăng 12.290 m3 so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, diện tích rừng tập trung ước đạt 2447 ha, tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 170.642 m3, tăng 11,97% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác rừng trồng và hoạt động trồng rừng tập trung cũng chủ yếu là rừng sản xuất nên sau khi khai thác sẽ có quỹ đất để tiếp tục trồng mới. Còn đối với trồng cây phân tán và khai thác củi thì do quỹ đất trồng cây ngày càng thu hẹp và nhu cầu sử dụng củi làm chất đốt giảm nên số lượng cây trồng phân tán và sản lượng củi khai thác giảm. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 40 vụ phá rừng (tăng 22 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,5 ha (tăng 6 ha) so với cùng kỳ năm trước; lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 57 vụ vi phạm; tịch thu 21,794 m3 gỗ các loại, 08 cá thể động vật với trọng lượng 12,8kg, 07 tang vật, phương tiện. Thực hiện tu sửa 141,53 km đường băng cản lửa, 26 chòi canh lửa, 306 biển tường phòng cháy chữa cháy rừng. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.6.3. Thủy sảnSản xuất thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2022 vẫn duy trì mức tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm 2021, tổng sản lượng ước đạt trên 26.147 tấn, tăng 3,45%, trong đó sản lượng khai thác đạt 19.955 tấn, tăng 3,96%; sản lượng nuôi trồng đạt 6.192 tấn, tăng 1,86%. Mặc dù sản lượng hải sản khai thác biển chiếm khoảng trên 75% tổng sản lượng thủy, hải sản. Tuy nhiên hiện nay do điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Mặt khác, mặc dù giá bán sản phẩm ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác trong thời gian qua tăng cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế đạt thấp. Hiện nay UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 07/01/2022 thực hiện Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục thực hiện các giải pháp khắc phục cảnh báo của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác hải sản bất hợp pháp năm 2022. Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến ngày 15/6/2022, đã xẩy ra các dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản: Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã thuộc 2 huyện (Nghi Xuân, Thạch Hà) với diện tích 5,63 ha; dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 9 xã thuộc 6 huyện (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân) với tổng diện tích 86,6 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, dùng hóa chất Chlorine dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm.7. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Trong đó, ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,36% so với cùng kỳ) do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin của nhà máy nhiệt điện I bị hư hỏng đến nay chưa khắc phục được. Ngoài ra do giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao nên sản lượng phôi thép sản xuất của công ty Formosa Hà Tĩnh chỉ đạt 2.543 nghìn tấn, giảm 6,01% (giảm 163 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước. Điều này dẫn đến chỉ số sản xuất của toàn ngành công nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2022 dự ước giảm 7,54% so với cùng kỳ năm trước.*Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) - Ước tính tháng 6/2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 5/2022 tăng 7,07%, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,92%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,99%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 21,57%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,57% so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp nghiệp giảm 1,05%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,18%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,98%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 29,73%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8,74%.- Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2022 ước giảm 7,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,34%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,33%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 38,31%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,79%. Nguyên nhân chính của việc giảm chỉ số sản xuất công nghiệp là do Tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 gặp sự cố đang phải ngừng hoạt động đến nay chưa khắc phục được, tổng sản lượng điện chỉ sản xuất được 4.121 triệu KWh giảm 36,34% (giảm 2.362 triệu KWh) so với cùng kỳ. Trong đó, riêng nhà máy nhiệt điện I chỉ sản xuất 1.845 triệu KWh giảm 53,34% (giảm 2.109 triệu KWh) so với cùng kỳ. Ngoài ra việc giá xăng, dầu tăng cao đã khiến cho giá nguyên vật liệu đầu vào tăng theo đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động công nghiệp nói riêng. Bên cạnh đó, trong khi các động lực tăng trưởng chính (Formosa, Nhiệt điện Vũng Áng I) sản xuất sụt giảm hoặc tăng trưởng thấp thì sản xuất công nghiệp vẫn chưa có các năng lực mới tăng thêm để đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. - Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 12 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 6 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 8 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 89,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 55,82%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,76%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 17,04%; sản xuất trang phục tăng 15,33%; sản xuất đồ uống tăng 11,31%; khai thác quặng kim loại tăng 9,73%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 7,9%. Có 6 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 6 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất và phân phối điện giảm 38,31%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 10,19%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 5,18%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 3,21%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 2,87%; khai khoáng khác giảm 2,35%.- Chỉ số tiêu thụ: Tính chung 6 tháng 2022, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,36% so với cùng kỳ. Trong đó: có một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 32,93%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 19,55%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 8,44%; dệt giảm 8,03%; … Như vậy, tính chung 6 tháng đầu năm 2022, nhu cầu tiêu thu sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn hơn so với cùng kỳ năm trước.- Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2022 tăng 5,01% so với tháng trước và giảm 3,03% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (giảm 71,83%), tồn kho của sản xuất chế biến thực phẩm (giảm 71,37%) so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy mức tiêu thụ sản phẩm gạch xây dựng, thực phẩm tăng cao. Hiện nay các dự án công trình xây dựng trên địa bàn được tập trung thi công đã tác động mạnh đến mức tiêu thụ sản phẩm sản xuất từ khoáng phi kim loại khác. Ngoài ra, một số sản phẩm có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ như: Sản xuất sợi tăng 605,88%, nguyên nhân tồn kho sợi tăng cao do tháng này công ty gom hàng để xuất khẩu một lần nên không phải do không tiêu thụ được sản phẩm; sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh tồn kho tăng 86,24% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được mà do doanh nghiệp giữ lại để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình.8. Thương mại, dịch vụ 8.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:Tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch 6 tháng đầu năm 2022 đã dần ổn định hơn sau những ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng khá so với cùng kỳ, ngành dịch vụ đã dần hồi phục và có nhiều khởi sắc nhất là trong những tháng quý II cao điểm mùa du lịch với những hoạt động kích cầu du lịch đã thu hút được lượng du khách gần xa đến tham quan, nghỉ mát.- Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tháng 6/2022 đạt 4.448,18 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 42,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có chỉ số tăng mạnh so với cùng kỳ như: Đá quý, kim loại quý tăng 143,23%; hàng hóa khác tăng 86,27%; may mặc tăng 85,84%; đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 53,47%; xăng, dầu các loại tăng 66,13%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 52,70%; lương thực, thực phẩm tăng 42,15%. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng giá xăng dầu tiếp tục được điều chỉnh tăng mạnh đã tác động rất lớn đến doanh thu các nhóm hàng, cộng với việc thời tiết nắng nóng tác động đến tiêu dùng các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống, vật liệu xây dựng tăng và việc cùng thời điểm năm trước, Hà Tĩnh bắt đầu triển khai thực hiện giãn cách xã hội, nhu cầu tiêu dùng xã hội bị hạn chế.      Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 24.179,48 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở tất cả các nhóm hàng hóa. Nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng cao các hàng hóa bán lẻ sau tình hình dịch Covid diễn biến phức tạp trong những tháng quý I/2022 và việc tăng giá các mặt hàng do chi phí vận chuyển tăng và tăng phần nữa do quy mô doanh thu quý II năm trước đạt thấp vì trong thời gian giãn cách xã hội.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh đang phục hồi tích cực sau thời gian dài hạn chế hoạt động và tạm ngừng (từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022). Các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Ước tháng 6/2022 doanh thu dự tính đạt 580,26 tỷ đồng, tăng 5,48% so với tháng trước, tăng 257,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 27,98 tỷ đồng, tăng 11,70% so với tháng trước, tăng 6,1 lần% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 547,98 tỷ đồng, tăng 5,13% so với tháng trước, tăng 246,02% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 4,3 tỷ đồng, tăng 11,98% so với tháng trước.Tính chung 6 tháng đầu năm, doanh thu ước đạt 2.858,36 tỷ đồng, tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 113,29 tỷ đồng, tăng 30,54% với lượt khách phục vụ 632.636 lượt, tăng 19,13%; ngày khách phục vụ 538.852 ngày, tăng 9,41%. ăn uống ước đạt 2.736,71 tỷ đồng, tăng 17,82%; du lịch lữ hành ước đạt 8,36 tỷ đồng, tăng 13,66% so với cùng kỳ năm trước. - Dịch vụ khác: Doanh thu 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1.128,66 tỷ đồng, tăng 22,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng mạnh ở các nhóm như: Kinh doanh bất động sản tăng 24,22%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 29,65%; giáo dục đào tạo tăng 49,73%; dịch vụ khác tăng 32,76%. Tuy nhiên vẫn có 2 nhóm dịch vụ giảm doanh thu so cùng kỳ, đặc biệt là nhóm nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm mạnh (giảm 32,74%).8.2. Hoạt động vận tảiHoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi tháng 6 và tính chung 6 tháng đầu năm 2022 đều tăng khá so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do dịch bệnh được kiểm soát, cuộc sống ổn định hơn, các hoạt động vận tải hoạt động ổn định trở lại. Việt Nam chính thức mở cửa lại ngành du lịch, nhu cầu đi lại, tham quan du lịch của người dân trong dịp lễ tăng cao, đây là tín hiệu khởi sắc cho hoạt động kinh doanh vận tải. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 6/2022 Doanh thu ước đạt 477,59 tỷ đồng, tăng 1,41% so tháng trước và tăng 67,09% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách doanh thu ước đạt 103,01 tỷ đồng, giảm 3,32% so với tháng trước và tăng 220,97% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 299,55 tỷ đồng, tăng 2,36% so với tháng trước và tăng 65,26% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 74,95 tỷ đồng, tăng 4,58% so với tháng trước và tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 2.672,14 tỷ đồng, tăng 5,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 535,08 tỷ đồng, giảm 20,67%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.680,51 tỷ đồng, tăng 19,72% với khối lượng vận chuyển ước đạt 18.878,94 nghìn tấn, tăng 21,21%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 456,14 tỷ đồng tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước.8.3. Xuất nhập khẩu hàng hóaKim ngạch xuất, nhập khẩu Hà Tĩnh tháng 6 dự ước tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 3.044 triệu USD, trong đó xuất khẩu tăng 12,05%, nhập khẩu tăng 19,36% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra.- Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 6 ước đạt 184,50 triệu USD, tăng 58,56% so với tháng trước và tăng 5,89% so với cùng kỳ năm trước. Tăng mạnh nhất ở nhóm hàng thủy sản do yếu tố mùa vụ thì đây là thời gian thủy, hải sản ngon nhất trong năm, tuy nhiên do mặt hàng này chiếm tỷ trọng không cao nên không ảnh hưởng lớn tới tốc độ tăng xuất khẩu.Mặt hàng chủ đạo thép, phôi thép vẫn giữ tính ổn định và tăng trưởng cao (ước đạt 169,50 triệu USD) tăng 65,96% so với tháng trước và tăng 6,64% so với cùng kỳ.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.020 triệu USD, tất cả các mặt hàng xuất khẩu đều có kim ngạch tăng đóng góp vào mức tăng chung 12,05% của xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 914,8 triệu USD (chiếm 89,69%) tăng 10,44%; tăng cao nhất là mặt hàng thủy sản 184,26%, tiếp đến là các mặt hàng dệt và may mặc 119,72%; xơ,sợi dệt các loại tăng 37,19%; dăm gỗ tăng 36,38%; chè tăng 2,61%.     - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 6/2022 ước đạt 360,0 triệu USD, tăng 6,61% so với tháng trước nhưng lại giảm 1,07% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù nhập khẩu nguyên liệu đầu vào Formosa vẫn tăng nhẹ so với cùng kỳ (0,31%) nhưng việc sụt giảm mạnh các loại hàng hóa khác do tình hình bất ổn của thế giới khiến kim ngạch xuất khẩu tháng 6 giảm so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.024 triệu USD, tăng 19,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 1.803 triệu USD (Chiếm 89,08%) tăng 46,49%. Với việc Fomosa tăng cường nhập khẩu nguyên liệu đầu vào Formosa, thời gian tới sẽ tăng cường sản xuất và xuất khẩu kỳ vọng sẽ tăng khá khả quan.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, việc làm Bước sang quý II năm 2022 dịch covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản được kiểm soát tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước phục hồi, các hoạt động du lịch mở cửa trở lại trong điều kiện "bình thường mới", nên tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn, so với quí trước lao động đang làm việc trong nền kinh tế tăng 1,88%, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,15 điểm %. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, lao động đang làm việc trong tỉnh tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,53 điểm phần trăm.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước quý II năm 2022 là 526.842 người, so với quý trước tăng 1,48% và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 6 tháng đầu năm lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính 522.997 người, tăng 4,15% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động là nam 280.667 người (chiếm 53,67%) trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 123.936 người, chiếm 23,7%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng năm 2022 là 54,05%, tăng 0,68 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2022 là 498.605 người, chiếm 94,64% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; so với quý trước tăng 1,88% và tăng 3% so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, số lao động đang làm việc là 494.006 người, chiếm 94,46% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 3,91% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, lao động có việc làm ở thành thị là 122.041 người, chiếm 24,7%; ở nam giới là 263.015 người, chiếm 53,24%. Khi phân theo ngành kinh tế thì lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,38% (tương ứng 155.014 người), giảm 1,77 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,06% (tương ứng 143.549 người), tăng 0,02 điểm phần trăm; còn khu vực dịch vụ chiếm 39,56% (tương ứng 195.443 người), tăng 1,75 điểm phần trăm.Tính riêng quý II/2022 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 28.237 người, chiếm 5,36% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,37 điểm phần trăm so quý trước. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,28%, giảm 0,15 điểm phần trăm so với quý trước và 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 6 tháng năm 2022, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 28.992 người, chiếm 5,54% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; tăng 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,35%, giảm 0,53 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý II/2022 là 3,7%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,76 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 6 tháng năm 2022, ước tính tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 3,85%, tăng 0,88 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý II/2022, là 6.140 người, giảm 5,17% so với quý I/2022. Trong đó, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giảm 3.199 người, lao động đi làm việc ngoại tỉnh tăng 376 người, xuất khẩu lao động tăng 2.488 người. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 12.615 người, đạt 57,34% kế hoạch năm 2022, tăng 23,34% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 5.787 người, giảm 16,63% so với cùng kỳ; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.948 người, tăng 207,48%; xuất khẩu lao động 2.880 người, giảm 27,67%. Thị trường xuất khẩu lao động 6 tháng đầu năm 2022 ở Hà Tĩnh chủ yếu làm việc tại Nhật Bản là 1.360 người, chiếm 47,22% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; tiếp đến là Đài Loan 1.175 người, chiếm 40,8%; còn lại các nước khác là 345 người, chiếm 11,98%.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hộiĐời sống dân cư: Trong 6 tháng đầu năm 2022, tình hình dịch bệnh covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản được kiểm soát tốt, các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại và dịch vụ vẫn hoạt động bình thường và dần đi vào ổn định. Bên cạnh đó các dịch bệnh đối với chăn nuôi được kiểm soát tốt hơn so với cùng kỳ năm trước, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Nhìn chung đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo. Đến nay, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 280.830 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 101,684 tỷ đồng. Cụ thể: tặng quà cho người có công khoảng 127.981 suất quà trị giá 34,421 tỷ đồng; tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 50.576 suất quà trị giá 25,376 tỷ đồng; tặng quà cho người cao tuổi khoảng 37.207 suất quà trị giá 10,656 tỷ đồng; tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 21.500 suất quà trị giá 11,800 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 43.566 suất quà trị giá 19,431 tỷ đồng. Cấp khoảng 22.014 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 42.045 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 158.963 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 50.096 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Ngoài ra Hà Tĩnh đã trao tặng 04 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 24 triệu đồng cho người có công. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 149 nhà kinh phí khoảng 9.904 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 05 nhà kinh phí khoảng 145 triệu đồng.3. Giáo dục đào tạoGiáo dục phổ thông: Năm học 2021-2022, ngành Giáo dục Hà Tĩnh triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 800/CT-BGDĐT ngày 24/8/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về thực hiện nhiệm vụ năm học 2021- 2022 ứng phó với dịch COVID-19, tiếp tục thực hiện đổi mới, kiên trì mục tiêu chất lượng giáo dục và đào tạo nên chất lượng giáo dục Hà Tĩnh vẫn được giữ vững và nâng cao, đạt nhiều thành tích nổi bật. Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2022, Hà Tĩnh có 75/99 học sinh đạt giải (chiếm tỷ lệ 75,75%), đứng thứ 5 toàn quốc về số lượng thí sinh đạt giải, đặc biệt năm 2022 Hà Tĩnh có học sinh đạt giải Nhất quốc gia môn Hóa học dự thi Olympic quốc tế. Ngoài ra Cuộc thi KHKT cấp quốc gia học sinh trung học năm học 2021-2022, Hà Tĩnh có 02 dự án được lựa chọn tham dự vòng chung kết cả 2 dự án đều đạt giải Nhì; kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 năm học 2021 -2022 có 715/1134 em đạt giải, trong đó: Giải nhất 59 em, giải nhì 182, giải ba 247, giải khuyến khích 227; thi học sinh giỏi tỉnh lớp 12 năm học 2021 -2022 có 537/858 em đạt giải, trong đó: Giải nhất 45 em, giải nhì 138 em, giải ba 180 em, giải khuyến khích 174 em.Cũng trong thời gian này, tính từ ngày 6-7/6 đã diễn ra Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2022-2023 với hơn 16.000 thí sinh tham gia, tại 36 điểm thi gồm 2.316 cán bộ làm nhiệm vụ tại 686 phòng, kỳ thi đã diễn ra thành công tốt đẹp, đảm bảo các yếu tố an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế.Giáo dục đào tạo: Toàn tỉnh hiện có 7 trường Cao đẳng, Trung cấp thuộc hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, đào tạo các chuyên ngành: Công nghệ, kỹ thuật, văn hóa, du lịch, nghệ thuật, hội họa, chuyên ngành Y và một số trường đào tạo đa ngành nghề. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghề; tập trung công tác tư vấn, giải quyết việc làm, cập nhật thông tin thị trường lao động. Với những nỗ lực đó, 6 tháng đầu năm 2022 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 11.471 người. Trong đó, trình độ cao đẳng nghề khoảng 92 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 5.558 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 5.821 người. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmThực hiện chiến lược tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19 cho người dân đã góp phần giúp Hà Tĩnh phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-19. Hiện tại số lượng bệnh nhân có các triệu chứng vừa và nặng tại các cơ sở y tế giảm sâu; tất cả 216 xã, phường, thị trấn đều có mức nguy cơ dịch cấp 1 (vùng xanh), mọi hoạt động đời sống xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Bên cạnh đó Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường, chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mùa hè năm 2022.Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/6/2022 là 50.475 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 52.424 ca mắc. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 45.837 ca, trong đó đã có 45.402 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN. Điều trị khỏi 51.919 BN, trong đó có 123 BN tuyến trên, 51.796 BN tại Hà Tĩnh, 52 BN tử vong. Trong thời gian tới, Hà Tĩnh tiếp tục rà soát những người trên 12 tuổi đủ điều kiện nhưng chưa tiêm vắc xin và trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi để triển khai tiêm vắc xin đạt tỷ lệ và hiệu quả cao nhất; tiếp tục tuyên truyền, vận động nâng cao tỷ lệ tiêm vắc xin mũi nhắc lại lần 1 (mũi 3); triển khai tiêm liều nhắc lại lần 2 (mũi 4) theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Mặc dù tình hình dịch bệnh hiện nay đang được kiểm soát, nhưng vẫn cảnh giác cao với các biến thể mới của biến chủng Omicron.Tình hình dịch bệnh khác: Tính đến ngày 15/6/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh xuất hiện 2 ổ dịch sốt xuất huyết Dengue với 5 ca bệnh. Ngoài ra, còn một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 9 ca sốt xuất huyết, 1 ca mắc bệnh quai bị, 3 ca mắc lỵ trực trùng; 8 ca mắc lỵ a míp; 3 ca mắc bệnh thủy đậu, 768 ca mắc bệnh cúm, 3 ca chân tay miệng và không có người chết vì do các bệnh trên.Tính chung 6 tháng đầu năm trên địa bàn Hà Tĩnh có 2 ổ dịch sốt xuất huyết và một số ca bệnh đơn lẻ: 16 ca mắc sốt xuất huyết (tăng 433,33% so với cùng kỳ năm trước), 0 ca mắc sốt rét (giảm 1 ca), 0 ca viêm não do vi rút (giảm 93 ca), 66 ca mắc bệnh quai bị (tăng 214,29%), 123 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 78,26%); 177 ca mắc lỵ a míp (tăng 78,79%); 107 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 82,80%), 7.845 ca mắc bệnh cúm (giảm 25,53%), 4 ca chân tay miệng (giảm 63,64%), tiêu chảy 1.266 ca (giảm 16,02%), viêm gan vi rút khác 40 ca (giảm 0,28%) tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, có 1 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước số người nhiễm mới HIV, số người chuyển thành AIDS số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 có 12 người nhiễm mới HIV, 6 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 16 người (giảm 57,14%) nhiễm mới HIV, giảm 18 người (giảm 75%) chuyển thành AIDS , số người chết vì AIDS không đổi.Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm, chỉ có 98 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 có 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 345 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 218 ca (giảm 38,72%), số ca tử vong không đổi.5. Hoạt động văn hóa - thể thaoHoạt động văn hóa: Trong tháng nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi. Ngày 28-29/5, tổ chức trình diễn bay khinh khí cầu “Hà Tĩnh - đón Sao La về nhà” nhằm chào mừng SEA Games 31 thành công rực rỡ, cùng hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957 - 15/6/2022) và 15 năm thành lập TP Hà Tĩnh (28/5/2007 - 28/5/2022); ngày 11/6 tổ chức chương trình lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957 - 15/6/2022) và 15 năm thành lập TP Hà Tĩnh (28/5/2007 - 28/5/2022) tại Quảng trường TP Hà Tĩnh bao gồm các hoạt động: Lễ dâng hoa, dâng hương tại Khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh; lễ kỷ niệm, chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa chào mừng; Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2022), 30 năm thành lập Hội Nhà báo Hà Tĩnh, ngày 12/6, Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Giải Bóng chuyền hơi CLB Nhà báo nữ Hà Tĩnh lần thứ nhất. Nhìn chung trong quí I năm 2022, tình hình dịch Covid đang còn diễn biến phức tạp nên hoạt động văn hóa có phần trầm lắng. Tuy nhiên bước sang quí II năm 2022, tình hình dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát tốt, các hoạt động văn hóa diễn ra sôi động hơn so với thời điểm đầu năm.Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức 3 cuộc kiểm tra trong đó 01 cuộc phối hợp đội Kiểm tra liên ngành văn hóa xã hội tỉnh. Cụ thể: 1 cuộc kiểm tra 65 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch đã xử phạt vi phạm hành chính 01 cá nhân với số tiền 5 triệu đồng; 1 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh, qua kiểm tra cơ bản các di tích chấp hành nghiêm túc các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên, thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 theo quy định; 1 cuộc kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, qua kiểm tra tại 6 cơ sở, cơ bản các cơ sở chấp hành các quy định của pháp luật.Hoạt động thể thao: Trong tháng hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng. Ngày 19-20/5 tại Khu du lịch biển Thiên Cầm, UBND huyện Cẩm Xuyên tổ chức giải đua thuyền năm 2022; chiều 19/5, tại khu vực sông Phủ, UBND TP Hà Tĩnh đã tổ chức khai mạc giải đua thuyền truyền thống. Nhìn chung 6 tháng đầu năm 2022 sau khi dịch COVID-19 dần được kiểm soát, hoạt động thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh đã sôi động trở lại.Thể thao thành tích cao: Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, Hà Tĩnh tham gia 14 giải đấu, đạt 94 huy chương các loại (35 huy chương vàng, 27 huy chương bạc, 32 huy chương đồng), trong đó 04 giải quốc tế đạt 15 huy chương (7HCV-5HCB-3HCĐ), SEA Games 31 đạt 12 huy chương (5 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 2 huy chương đồng).6. Tai nạn giao thôngTính từ ngày 15/5-14/6/2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn đường bộ, làm 8 người chết, 2 người bị thương, thiệt hại 180 triệu đồng. So với tháng trước tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, tăng 3 người chết và số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ và tăng 1 người chết và tăng 2 người bị thương. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/6/2022) đã xẩy ra 46 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 39 người chết, 19 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 690 triệu đồng, riêng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 (từ ngày 29/01 (27 tháng Chạp) đến ngày 06/02/2022 (ngày Mùng 06 Tết)) xảy ra 5 vụ, làm chết 3 người, bị thương 5 người. So với cùng năm 2021 giảm 5 vụ (giảm 9,80%), số người chết và người bị thương không đổi. 7. Thiệt hại thiên taiTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ thiên tai làm 2 người chết, 17 nhà hư hỏng với giá trị ước tính 100 triệu đồng. So với tháng trước tăng 2 vụ thiên tai, tăng 2 người chết, thiệt hại về tài sản giảm 7.568 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ thiên tai, giảm 1 người chết, thiệt hại giảm 17.200 triệu đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ thiên tai, cụ thể là 1 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 1 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 2 vụ sét đánh (ngày 26/5 và 14/6), 1 vụ lốc xoáy (ngày 14/6); làm chết 3 người; làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ thiên tai, tăng 1 người chết, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng.8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ- Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/5/2022 đến ngày 14/6/2022 đã xảy ra 6 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại ước tính là 1.541 triệu đồng. So với tháng trước tăng 3 vụ cháy, nổ; số người chết và số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ; số người chết và số người bị thương không đổi.Sáu tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2021-14/6/2022) đã xảy ra 17 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 2.016 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước: Tăng 1 vụ (tăng 6,25%), giảm 1 người chết (giảm 50%), thiệt hại ước tính giảm 294 triệu đồng.- Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/5 đến ngày 14/6/2022 đã phát hiện 34 vụ, đã xử lý 13 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 43,89 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện giảm 30 vụ (giảm 46,88%), số vụ xử lý giảm 36 vụ (giảm 73,47%), số tiền nộp phạt giảm 246,20 triệu đồng (giảm 84,87%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 22 vụ đã phát hiện (tăng 183,33%), giảm 2 vụ đã xử lý (giảm 13,33%), số tiền xử phạt giảm 360,71 triệu đồng (giảm 89,15%). Tính chung 6 tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2021 - 14/6/2022) đã phát hiện 508 vụ, đã xử lý 353 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1.312,86 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ phát hiện tăng 433 vụ (tăng 5,77 lần), số vụ đã xử lý tăng 301 vụ (tăng 5,79 lần), số tiền nộp phạt tăng 465,81 triệu đồng (tăng 54,99%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong 6 tháng đầu năm chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 458 vụ (chiếm 90,16%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 26 vụ (chiếm 5,12%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 20 vụ (3,94%); thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 4 vụ (chiếm 0,78%).III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚIĐể thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu KT-XH năm 2022 mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra, đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần phải thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, đồng thời cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân theo Kết luận số 38-KL/TU ngày 28/01/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 03/NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.(2) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa, cắt giảm các thủ tục nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân. Hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp cận thụ hưởng các cơ chế, chính sách phục hồi và phát triển kinh tế. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp lớn tìm hiểu, khảo sát đầu tư.(3) Tập trung đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công cho những tháng cuối năm; huy động tốt nguồn vốn tư nhân cho đầu tư phát triển.(4) Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất vụ Hè Thu năm 2022. Tiếp tục tuyên truyền, triển khai quyết liệt các cơ chế, chính sách đã ban hành, nhất là đề án tập trung, tích tụ ruộng đất, thúc đẩy cơ cấu lại sản xuất, xây dựng cánh đồng lớn; phát triển nông nghiệp hữu cơ, trước mắt xây dựng các mô hình, chuỗi sản phẩm lúa gạo, rau màu, cây ăn quả, chăn nuôi lợn…, sơ kết đánh giá trước khi triển khai nhân rộng. Đẩy mạnh chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu sản phẩm cây ăn quả.(5) Quan tâm phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; xây dựng và thực hiện kế hoạch kích cầu tiêu dùng, chương trình khuyến mại tập trung năm 2022.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2022 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hà Tĩnh. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2022 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của cấp ủy chính quyền các cấp và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong 6 tháng cuối năm./.

Tình hình KTXH tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 10:46

I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Vụ Xuân năm nay, nhìn chung năng suất các loại cây trồng đều giảm do điều kiện thời tiết bất thường xẩy ra ở những thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng như giai đoạn thụ phấn của ngô, lạc, giai đoạn phơi màu của lúa...tạo điều kiện cho các loại dịch bệnh phát triển, mặt khác cuối vụ xuất hiện đợt mưa lớn kèm theo gió thổi mạnh đã làm nhiều diện tích bị thiệt hại, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất các loại cây trồng; chăn nuôi vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết mát mẻ có mưa nên hoạt động trồng rừng tập trung tăng khá. Hoạt động thủy sản có nhiều khởi sắc khi ngành du lịch hoạt động trở lại, nhu cầu về thủy hải sản tăng cao nên khuyến khích người dân ra khơi đánh bắt.1.1 Sản xuất nông nghiệp              *Trồng trọt  Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2021-2022: Tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân 2021-2022 ước tính tăng 133 ha so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 380.210 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 96,16% (giảm 15.189 tấn). Kết quả một số loại cây trồng chủ lực đạt được như sau: - Diện tích gieo trồng: Ước tính vụ Đông Xuân 2021-2022 so với cùng kỳ năm trước, tổng diện tích gieo cấy lúa tăng 335 ha; diện tích ngô tăng 532 ha; diện tích khoai lang tăng 176 ha; diện tích lạc giảm 1.196 ha và diện tích rau các loại tăng 343 ha. Như vậy, ngoại trừ cây lạc có diện tích giảm thì diện tích các loại cây trồng chủ lực khác vụ Đông Xuân đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng lạc giảm chủ yếu do chi phí sản xuất tăng cao (giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật); bên cạnh đó sản xuất lạc thường mất nhiều công lao động, trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm bấp bênh nên người dân giảm sản xuất lạc. Diện tích các loại cây trồng khác tăng hơn so với cùng kỳ năm trước là do một số địa phương có chính sách hỗ trợ 50% tiền công làm đất; hỗ trợ giống cây trồng; ngoài ra hệ thống kênh mương được kiên cố hóa đã tạo thuận lợi và chủ động được nguồn nước tưới tiêu cho người dân. - Năng suất gieo trồng: So với cùng kỳ năm trước thì năng suất gieo trồng các loại cây trồng chủ lực vụ Đông Xuân năm nay ước tính đều giảm, chỉ có năng suất rau các loại tăng nhẹ, trong đó: Năng suất lúa ước tính giảm 3,33 tạ/ha; năng suất ngô giảm 0,46 tạ/ha; năng suất khoai lang giảm 1,93 tạ/ha; năng suất lạc giảm 2,24 tạ/ha và năng suất rau các loại ước tính tăng 0,51 tạ/ha. Nguyên nhân chính làm cho năng suất các loại cây trồng giảm hơn so với cùng kỳ năm trước là do thời tiết năm nay diễn biến bất thường vào các thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng như quá trình thụ phấn ở ngô, quá trình phơi màu ở lúa nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cuối vụ. Đặc biệt, trận mưa từ đêm 30/4/2022 đến hết ngày 1/5/2022 kèm theo gió giật mạnh đã khiến hơn 900 ha lúa Đông Xuân trên toàn tỉnh bị đổ ngã, tập trung nhiều nhất ở Cẩm Xuyên với 328 ha, Can Lộc 167,5 ha, Nghi Xuân 74 ha, huyện Kỳ Anh 60 ha... - Về sản lượng cây trồng: So với cùng kỳ năm trước: Sản lượng lúa vụ Đông Xuân 2021-2022 ước tính giảm 17.086 tấn, do giảm cả diện tích và năng suất; sản lượng ngô ước tính tăng 1.896 tấn, mặc dù năng suất ngô giảm nhưng do diện tích tăng nên sản lượng ngô vẫn tăng; sản lượng khoai lang ước tính tăng 743 tấn, do diện tích tăng nên sản lượng vẫn tăng trong khi năng suất giảm; sản lượng lạc ước tính giảm 5.340 tấn, do giảm cả diện tích và năng suất; sản lượng rau ước tính tăng 2.945 tấn, do cả diện tích và năng suất rau đều tăng nên sản lượng rau các loại tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. - Tình hình sâu bệnh: Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, vụ Xuân 2022 các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại đối với cây trồng, cụ thể như sau: Trên cây lúa: Ốc bươu vàng phát sinh gây hại giai đoạn mạ, diện tích nhiễm 75 ha, gây hại chủ yếu vùng sâu trũng tại Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên; bệnh đạo ôn lá bắt đầu xuất hiện từ trung tuần tháng 2, cao điểm gây hại từ 10 đến 20/3 tại hầu hết các địa phương, diện tích nhiễm 356 ha, trong đó nhiễm nặng 36,2 ha, diện tích phòng trừ 6.956 ha; bệnh đạo ôn cổ bông gây hại ở hầu hết các địa phương, diện tích nhiễm 400 ha trong đó 30,2 ha nhiễm nặng; bệnh khô vằn gây hại trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 1.978 ha, trong đó 5 ha nhiễm nặng, phân bố trên toàn tỉnh; bệnh bạc lá diện tích nhiễm 200 ha, phân bố tại Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương khê, Lộc Hà; Rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, Hồng Lĩnh; chuột gây hại trên toàn tỉnh, tỉ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiễm 280 ha. Trên cây lạc: Bệnh héo rũ gốc mốc đen, mốc trắng phát sinh gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, diện tích nhiễm 35 ha, nhiễm nặng 1,3 ha phân bố tại Lộc Hà, Thạch Hà, Hương Khê, Vũ Quang,.... Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 3-5con/m2, diện tích 5,3 ha, phân bố tại Vũ Quang, Hương Khê,..; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 22,5 ha tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn,.. Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc xuân, diện tích nhiễm 68 ha; Sâu xanh bướm phượng mật độ 1-3 con/cành, diện tích nhiễm 15 ha, sâu đục thân, đục cành 5 ha; bệnh loét sẹo, diện tích nhiễm 7 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,… *Chăn nuôi Mặc dù trên địa bàn một số dịa phương trong tỉnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn chưa qua 21 ngày. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất chăn nuôi trong tháng 5/2022 vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động chăn nuôi vẫn còn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh và đặc biệt là chi phí sản xuất từ con giống, thức ăn đều tăng cao trong khi giá lợn hơi không tăng vẫn là rào cản trong việc tái đàn. Với những diễn biến phức tạp, khó lường của dịch bệnh, cùng với giá thức ăn và các chi phí khác đang tăng cao như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới vẫn chưa có nhiều tín hiệu tích cực.          Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/5/2022, dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 14 xã, thị trấn thuộc 7 huyện, thành phố, thị xã gồm: xã Thạch Hạ (thành phố Hà Tĩnh); xã Sơn Long (huyện Hương Sơn); xã Đức Lĩnh (huyện Vũ Quang); xã Đức Đồng (huyện Đức Thọ); xã Cẩm Thành, xã Cẩm Mỹ, xã Cẩm Trung, Cẩm Hưng, xã Yên Hòa, xã Nam Phúc Thăng và thị trấn Cẩm Xuyên (huyện Cẩm Xuyên); xã Tân Lộc và xã Thịnh Lộc (huyện Lộc Hà); xã Kỳ Hoa (thị xã Kỳ Anh). Tổng số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy ở các địa phương mà dịch chưa qua 21 ngày là 206 con, trọng lượng 12.830 kg. Từ ngày 15/4/2022 đến ngày 15/5/2022, các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi.1.2 Lâm nghiệp Tháng 5/2022, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên hoạt động trồng rừng tập trung so với cùng kỳ năm trước tăng khá (tăng 17,53%), cùng với hoạt động trồng rừng thì hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng cũng được chú trọng. Cùng với đó, tiến hành thu hoạch các diện tích rừng sản xuất đã đến tuổi khai thác. Ước tính diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 5/2022 giảm 370 ha (giảm 50,07%) so với tháng trước và tăng 55 ha (tăng 17,53%) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác tăng 10.263 ­m3 so với tháng trước và tăng 3.113 ­m3 so với cùng kỳ năm trước.   Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính tăng 161 ha và sản lượng gỗ khai thác tăng 5.948 ­m3 so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Kết quả sản xuất lâm nghiệp chủ yếu vẫn tập trung ở các địa phương như: huyện Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Cẩm Xuyên. Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 34 vụ phá rừng (tăng 21 vụ) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.1.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 5/2022 có những tín hiệu tích cực, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển tuy gặp khó khăn do chi phí xăng, dầu, nhân công...ngày càng tăng nhưng do các hoạt động du lịch hồi phục trở lại, nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao với giá cả ổn định nên ngư dân vẫn vươn khơi đánh bắt. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, tổng sản lượng thủy hải sản có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không cao (tăng 2,85%). Nguyên nhân do tổng sản lượng khai thác chiếm đến 77,2% tổng sản lượng thủy hải nhưng năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, chi phí tăng cao, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Từ đầu năm đến ngày 15/5/2022, đã xẩy ra các dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản: Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã ở 2 huyện (Nghi Xuân và Thạch Hà) với diện tích 5, 63 ha; dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 9 xã ở 6 huyện, thành phố (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân) với diện tích 73,25 ha. Hiện nay, còn 24,31 ha tôm nuôi bị bệnh đốm trắng tại 7 xã của 4 huyện, thành phố, thị xã (huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh) chưa qua 15 ngày.2. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Trong đó, ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,36% so với cùng kỳ) do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin của nhà máy nhiệt điện I bị hư hỏng đến nay chưa khắc phục được. Ngoài ra do giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao nên sản lượng phôi thép sản xuất của công ty Formosa Hà Tĩnh chỉ đạt 2.543 nghìn tấn, giảm 6,01% (giảm 163 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước. Điều này dẫn đến chỉ số sản xuất của toàn ngành công nghiệp tính tới tháng 5/2022 dự ước giảm 7,54% so với cùng kỳ năm trước.  2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 5/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 4/2022 tăng 6,89% và giảm 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,85% so với tháng trước và giảm 15,67% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,38% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này tăng 4,79%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,88% so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước giảm 27,61%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,23% so với tháng 4/2022 và giảm 14,2% so với tháng 5/2021. Nhìn chung 5 tháng đầu năm 2022 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn, giảm sản lượng sản xuất so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 5 tháng đầu năm 2022 giảm 7,54% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,58%, làm giảm 0,11 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,15% làm giảm 0,5 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,36%, làm giảm 6,69 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 10,69%, làm giảm 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm sản phẩm cộng dồn 5 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 70% trong tổng số sản phẩm) và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm so với cùng (chiếm 30%). Cụ thể, nhóm sản phẩm cộng dồn 5 tháng có tăng gồm: Bao bì và túi bằng giấy (trừ giấy nhăn) tăng 93,23%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 92,96%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 34,82%; dịch vụ sản xuất dược phẩm tăng 26,5%; chè, trà nguyên chất tăng 26,11%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 22,47%. Nhóm sản phẩm có giảm so với cùng kỳ năm trước gồm: Điện sản xuất giảm 38,78%; mực đông lạnh giảm 27,25%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 20,41%; nước không uống được giảm 11,11%; đá xây dựng khác giảm 7,44%; than cốc và bán cốc luyện từ than non hay than bùn giảm 2,76%2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2022 tăng 0,43% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 5,99%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 5/2022 giảm 6,78% so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân giảm là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 9,03%). Ngoài ra, do hậu quả của dịch Covid-19 nên một số doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ thu hẹp sản xuất, giảm lao động. Ngoài ra, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào quy trình sản xuất cũng đã tiết giảm được nguồn nhân lực từ con người. 3. Vốn đầu tư Tháng 5/2022 công tác giải ngân vốn tiếp tục tăng so với tháng trước. Nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh và vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu tăng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh (chiếm 99,65%); Các công trình nông thôn mới như rải thảm đường, xây dựng kiên cố hóa kênh mương, xây dựng hạ tầng tiếp tục thi công theo tiến độ đề ra. Tuy nhiên, các công trình thuộc nguồn vốn ODA chưa được giao vốn cũng như thi công. Do đó, so với cùng kỳ năm trước, vốn ngân sách cấp tỉnh trong tháng 5/2022 vẫn giảm 7,11%. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2022 ước đạt 424,5 tỷ đồng, tăng 11,71% so với tháng trước và giảm 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 318,5 tỷ đồng, tăng 9,41% (tăng 27,4 tỷ đồng) so với tháng trước, giảm 7,11% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 83.781 triệu đồng, tăng 19,53% so với tháng trước và tăng 21,92% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 22.237 triệu đồng, tăng 18,16% so với tháng trước và giảm 32,04% so với tháng 5/2021. Nguyên nhân giảm do vốn kế hoạch ngân sách nhà nước cấp xã năm 2022 giảm mạnh so với năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.850,67 tỷ đồng, giảm 2,56% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.432,91 tỷ đồng, tăng 3,38%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 345,8 tỷ đồng, tăng 12,67%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 71,96 tỷ đồng, giảm 65,12%. Nguồn vốn giảm là do các dự án chuyển tiếp triển khai chậm, dự án mới đang chờ giao vốn, hoàn thiện hồ sơ đáp ứng để thi công. 5 tháng đầu năm mặc dù nguồn vốn được bổ sung kịp thời cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý so vốn kế hoạch đạt thấp (đạt 24,70%). Nguyên ngân do thời gian đầu năm, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Những dự án mới, hiện các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật… dẫn đến việc thi công công trình chậm. Mặt khác, nguồn vốn giao chậm, giá trị nghiệm thu giải ngân thấp, đặc biệt vốn ODA tính đến thời điểm cuối tháng 4 chưa được giao vốn đến từng công trình. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân mang tính cố hữu khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công những tháng đầu năm chậm.4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 5 đã đi vào hoạt động ổn định sau thời gian bị gián đoạn bởi dịch Covid-19. Đạt tốc độ tăng khá so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng Năm khá sôi động với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đều tăng hơn so với tháng trước và cùng kỳ năm trước - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 5/2022 ước đạt 4.266,35 tỷ đồng, tăng 6,99% so với tháng trước và tăng 25,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chỉ có 2/12 nhóm ngành hàng có chỉ số giảm so với tháng trước: Vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 15,65%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phương tiện) giảm 5,04%, còn lại các nhóm hàng hóa đều tăng so với tháng trước. Nếu so với cùng kỳ năm trước các nhóm hàng hóa đều đạt doanh thu tăng, trong đó, các nhóm hàng tăng mạnh nhất là: Xăng, dầu các loại tăng 39,36%; nhiên liệu khác tăng 38,64%; lương thực, thực phẩm tăng 35,56%; hàng may mặc tăng 32,29%; đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 15,94%. Doanh thu tăng chủ yếu do yếu tố giá xăng dầu, gas nhiên liệu đang ở mức cao đã tác động trực tiếp đến doanh thu nhóm hàng này và chi phí sản xuất, vận chuyển qua đó tác động đến giá bán lẻ nhiều nhóm hàng hóa tiêu dùng, công với việc thời tiết chuyển sang mùa nắng tác động đến các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống tăng cầu tiêu dùng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, doanh thu tổng mức bán lẻ dự tính đạt 19.731,30 tỷ đồng, tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 3/12 nhóm ngành hàng có chỉ số giảm: Hàng may mặc giảm 10,35%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 7,85%; hàng hóa khác giảm 7,71%. Còn lại 9/12 nhóm hàng có chỉ dố doanh thu tăng lần lượt là: Xăng, dầu các loại tăng 35,54%; nhiên liệu khác tăng 34,89%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,12%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 11,98%; phương tiện đi lại tăng 8,67%; lương thực, thực phẩm tăng 5,64%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 3,05%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 2,84%; ô tô tăng 1,55%. Dự ước 6 tháng đầu năm 2022 doanh thu bán lẻ sẽ tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nhưng do áp dụng các biện pháp chống dịch linh hoạt trong tình hình mới và tỷ lệ tiêm chủng vaccine cao khiến ảnh hưởng của dịch đến nền kinh tế hạn chế, không còn nặng nề so cùng kỳ hai năm gần đây. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Hoạt động bán lẻ truyền thống của các đơn vị trong tỉnh đang phải cạnh tranh khốc liệt với các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện tích, hệ thống siêu thị mini và hình thức bán lẻ hàng trực tuyến; chuỗi cung ứng hàng hóa còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc dẫn đến nguồn cung một số hàng hóa hạn chế do tình hình nhập khẩu gặp khó khăn khiến giá bán lẻ tăng cao. Bên cạnh đó, giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển. Cần sớm có các giải pháp thích ứng, hạn chế những tiêu cực đến cầu tiêu dùng hàng hóa trong bối cảnh nền kinh tế đang trong giai đoạn phục hồi và thu nhập của người dân năm trước bị ảnh hưởng. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống: Doanh thu tháng 5 tăng khá cả so với tháng trước và so với cùng kỳ. Riêng ngành du lịch vẫn chưa đạt kỳ vọng so với cùng kỳ năm trước nên việc cần thiết là kích cầu du lịch mạnh mẽ, cụ thể việc chính quyền bắt đầu khởi động mùa du lịch biển Hà Tĩnh năm 2022 với các chuỗi hoạt động nghệ thuật, văn hóa, ẩm thực đặc sắc như sự kiện “ Hà Tĩnh - Âm vang biển”, bắn pháo hoa, phiên chợ đêm, lễ hội cầu Ngư... Các cơ sở kinh doanh du lịch đã bắt đầu hoạt động ổn định trở lại, đặc biệt các cơ sở lưu trú tại các điểm du lịch như Thiên Cầm, Xuân Thành… công suất phòng luôn đạt ở mức cao, các nhà hàng cũng đón nhiều du khách thưởng thức đặc sản vùng miền. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 532,32 tỷ đồng, tăng 3,11% so với tháng trước, tăng 28,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 26,74 tỷ đồng, tăng 18,37% so với tháng trước, tăng 86,99% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 131.699 lượt, tăng 18,10% và tăng 32,46% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ 107.928 ngày, tăng 17,95% so với tháng trước, tăng 15,46% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ ăn uống ước đạt 505,09 tỷ đồng, tăng 2,35% so với tháng trước, tăng 26,99% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 490 triệu đồng, tăng 124,77% so với tháng trước, giảm 41,53% so với cùng kỳ năm trước.           Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.260,28 tỷ đồng, tăng 0,25% so với cùng kỳ, trong đó: L­ưu trú ước đạt 87,0 tỷ đồng, tăng 5,03%; lượt khách phục vụ 455.647 lượt, giảm 9,19%; ngày khách phục vụ 384.982 ngày, giảm 16,71% so với cùng kỳ năm trước. Ăn uống ước đạt 2.172,58 tỷ đồng, tăng 0,37% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 0,71 tỷ đồng, giảm 90,37% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, dù tháng 5 du lịch Hà Tĩnh đã khả quan hơn tháng trước nhưng vẫn còn cần nhiều biện pháp hơn nữa để kích cầu du lịch tại địa phương. - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 5 ước tính đạt 209.162,2 triệu đồng, tăng 8,42% so với tháng trước và tăng 46,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, các nhóm ngành đều có xu hướng tăng hơn so với các tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Đây là thời gian mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, do vậy nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng, nhu cầu y tế, văn hóa, giải trí và sử dụng các dịch vụ thuê xe, thuê đồ dùng cá nhân và gia đình cũng tăng, tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác.  Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt đạt 920,45 tỷ đồng, tăng 10,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 18,12%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 24,56%; giáo dục đào tạo tăng 29,86%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 5,19%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 49,35%; dịch vụ khác tăng 15,94% so với cùng kỳ năm trước.4.2. Hoạt động vận tải Nhìn chung tình hình hoạt động vận tải đường bộ và kho bãi tháng 5 năm 2022 đi vào ổn định và có doanh thu cao hơn so với tháng trước. Điều kiện thời tiết thuận lợi cho các công trình xây dựng, san lấp mặt bằng thực hiện thi công nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải hàng hóa tăng cộng với dịch bệnh đã dần bão hòa nhu cầu đi lại người dân nhiều hơn. Bên cạnh đó, lượng hàng xuất khẩu dự kiến tăng, các tàu cập cảng chở hàng hóa sẽ nhiều hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hỗ trợ vận tải ổn định và có doanh thu cao hơn.            Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 5/2022 ước đạt 460,76 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước, tăng 26,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách tăng 3,05% so với tháng trước và tăng 28,22% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa tăng 1,32% so với tháng trước và tăng 39,38% so với cùng kỳ; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 7,92% so với tháng trước và giảm 8,80% so với cùng kỳ.         Phân theo ngành đường: Đường bộ ước đạt 386,99 tỷ đồng, tăng 1,75% so với tháng trước và tăng 36,52% so cùng kỳ do việc giao thông hóa đường bộ được quan tâm, các tuyến đường liên thông, thuận lợi cho việc đi lại nên tăng cao; đường thủy 0,79 tỷ đồng, giảm 2,81% so với tháng trước và tăng 10,89% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiện nay việc quản lý khai thác cát, sỏi trên các tuyến sông được quán triệt, nghiêm cấm khai thác trái phép dẫn đến trong tháng doanh thu vận tải hàng hóa đường thủy giảm. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trong tháng tăng, lượng hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty cổ phần cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng làm cho doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng.         Tính chung kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 5 tháng đầu năm 2022, dự tính đạt 2.184,39 tỷ đồng, giảm 2,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 421,07 tỷ đồng, giảm 34,46%; vận tải hàng hoá ước đạt 1.380,56 tỷ đồng, tăng 12,93%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 382,43 tỷ đồng, giảm 0,01% so với cùng kỳ năm trước.          Sau thời gian dài ảnh hưởng của dịch Covid -19, các hoạt động kinh tế xã hội đang có sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt, các tuyến xe liên tỉnh đã bắt đầu hoạt động lại bình thường, cùng với đó hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh, các tuyến giao thông đường bộ nội tỉnh, thôn xóm cũng ngày càng hoàn thiện, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Cùng với sự phát triển của hạ tầng giao thông, việc hồi phục của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 5 năm 2022 ước đạt 580,5 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng trước (0,70%) và tăng 16,23% so với cùng kỳ năm trước. Với việc Formosa đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất dẫn đến tăng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu thép lại không tăng so với kỳ vọng. Trong tháng, ghi nhận việc tăng xuất khẩu mặt hàng thủy sản cũng như xơ sợi các loại.  - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 5 ước đạt 200,50 triệu USD, giảm 2,95% so với tháng trước nhưng tăng 5,79% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu do biến động của mặt hàng thép, phôi thép (ước đạt 183,50 triệu USD giảm 3,21% so với tháng trước) còn lại các mặt hàng khác đều tăng so với tháng trước. Trong đó, tăng mạnh nhất ở nhóm hàng thủy sản do yếu tố mùa vụ thì đây là thời gian thủy, hải sản ngon nhất trong năm, tiếp đến mặt hàng xơ, sợi dệt các loại cũng tăng rất cao so với tháng trước (86,99%). So với cùng kỳ có 3 nhóm hàng tăng so với cùng kỳ: Hàng dệt và may mặc (tăng 183,02%); xơ, sợi dệt các loại (tăng 53,33%); thép, phôi thép (5,09%). Bên cạnh đó có 3 nhóm hàng có kim ngạch giảm mạnh so với cùng kỳ: Chè (giảm 52,38%); dăm gỗ (giảm 15,25%); thủy sản (giảm 12,28%)  Cộng dồn 5 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 840,14 triệu USD, tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, chỉ có mặt hàng thủy sản có kim ngạch xuất khẩu cộng dồn 5 tháng giảm so với cùng kỳ (giảm 4,28%). Còn lại tất cả các mặt hàng đều tăng, trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 756,67 triệu USD (chiếm 90,06%) tăng 8,44%; tăng cao nhất là mặt hàng dệt và may mặc 84,33%; tiếp đến là các mặt hàng xơ,sợi dệt các loại tăng 63,66%; dăm gỗ tăng 19,13%; chè tăng 8,66%.  - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 5/2022 ước đạt 380,0 triệu USD, tăng 2,74% so với tháng trước và tăng 22,61% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.643,80 triệu USD, tăng 23,43% so với cùng kỳ năm trước.  Với việc triển khai Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển logistics giai đoạn 2021-2025, định hướng đến 2030; Quyết định của UBND tỉnh về ban hành đề án đẩy mạnh hoạt động XNK gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025, định hướng đến 2030. Hi vọng xuất nhập khẩu tỉnh nhà sẽ có những thay đổi khả quan hơn nữa trong thời gian tới. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 cơ bản ổn định và tăng nhẹ so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng ở mức 1,45%, tuy nhiên sự tăng giảm lại biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm mặt hàng, dịch vụ như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện nước.  Tháng 5 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 2,06% so với cùng kỳ; khu vực nông thôn tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 2,11% so với cùng kỳ. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 08 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước (Giao thông tăng 2,23%; Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và VLXD tăng 1,24%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,17%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,08%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,02%). Có 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (Đồ uống và thuốc lá, giảm 0,11%) và 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước (Giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế).  CPI tháng 5 năm 2022 tăng so với tháng trước do các nguyên nhân chủ yếu: (1) Yếu tố mùa vụ: Thời tiết chuyển dần nắng nóng, nhu cầu về thực phẩm, sinh hoạt và đồ dùng gia đình (2) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh đang tăng so tháng trước, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường; (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng do nhu cầu xây dựng trong nước tăng cao cũng như giá nguyên liệu sản xuất tăng trên phạm vi toàn cầu; (4) Dịch Covid-19 diễn biến tốt hơn so tháng trước, số ca nhiễm mỗi ngày càng thấp. Các hoạt động ăn uống ngoài gia đình, du lịch lữ hành hoạt động ổn định trở lại sau thời gian dài suy giảm do dịch Covid-19.  Chỉ số giá vàng giảm 1,09% so với tháng trước, tăng 3,34% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,86% so với tháng trước, tăng 1,8% so với cùng tháng năm trước.   Tính chung CPI 5 tháng đầu năm 2022 tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,64%; nông thôn tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,59%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,36%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,11%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,84%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; giao thông tăng 13,03%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,73%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,85%.  Dự kiến CPI tháng 6/2022 tăng hơn so tháng 5/2022. Giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình do nhu cầu tính chất thời vụ mùa du lịch biển. Bên cạnh, giá gạo dự kiến giảm nhẹ, sau khi thu hoạch lúa Đông Xuân, việc cung ứng lúa gạo nhập khẩu ổn định trở lại. Giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài. Một số mặt hàng khác dự kiến có thể tiếp tục tăng giá gồm hàng điện lạnh, xăng dầu các loại.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội  Thực hiện có hiệu quả chiến lược tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19 cho người dân nên đã góp phần giúp Hà Tĩnh phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-1, mọi hoạt động đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh đã trở lại trạng thái bình thường mới. Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP và Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg góp phần đảm bảo an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm cho người lao động. Ngày 11/5/2022, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành kế hoạch số 168/KH-UBND về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Theo đó, tổng số đối tượng dự kiến được hỗ trợ là 6.000 người với kinh phí 10,5 tỷ đồng, Nhìn chung tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.2. Giáo dục  Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh phối hợp với Hiệp hội Thân thiện quốc tế Nhật Bản (JIFA) tổ chức lễ trao học bổng cho 120 em học sinh nghèo Hà Tĩnh. Chương trình học bổng này được thực hiện hằng năm cho các em học sinh nghèo vượt khó học giỏi. Từ năm 2014 đến nay, tổ chức JIFA đã trao hơn 400 suất học bổng cho các em học sinh Hà Tĩnh. Đây là nguồn động viên lớn giúp các em khắc phục khó khăn, vươn lên học tập và rèn luyện tốt. Cùng với hoạt động trao tặng học bổng cho các em học sinh, thời gian qua, JIFA cũng đã lắp đặt và trao tặng 13 dự án hệ thống nước sạch cho các trường học ở Hà Tĩnh với hơn 15.000 học sinh, giáo viên được thụ hưởng. Ngoài ra, để chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT hơn 17.300 học sinh lớp 12 ở Hà Tĩnh đã hoàn thành việc đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT bằng hình thức trực tuyến. 3. Hoạt động y tế  - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 22/5/2022 là 50.153 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 52.102 ca mắc. Cộng dồn từ đầu năm đến nay tổng mẫu PCR là 48.090 mẫu; số test nhanh là 571.381 mẫu. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 45.648 ca, trong đó đã có 44.668 ca khỏi bệnh.   Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 124 BN. Điều trị khỏi 51.038 BN, trong đó có 118 BN tuyến trên, 50.920 BN tại Hà Tĩnh, 52 BN tử vong. Đánh giá tình hình dịch Hà Tĩnh, toàn tỉnh hiện có 216 xã, phường, thị trấn cấp độ 1, mọi hoạt động đời sống xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Công tác tiêm chủng tiếp tục được đẩy mạnh, theo cập nhật từ Sở Y tế Hà Tĩnh, so với số lượng vắc-xin được phân bổ về, đến nay, đối với người trên 18 tuổi, toàn tỉnh tiêm mũi 1 đạt trên 105%, mũi 2 đạt trên 99,6% và mũi 3 đạt trên 81,5%. Trong độ tuổi từ 12 đến dưới 18 tuổi, đã có trên 99,8% được tiêm mũi 1 và trên 98% được tiêm mũi 2. Đối với trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi, toàn tỉnh đã tiêm được 41.879 mũi 1, đạt tỷ lệ 25%. Hà Tĩnh xếp thứ 3 trong 10 địa phương có tỷ lệ tiêm chủng cao nhất cả nước.  - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca mắc bệnh quai bị, 8 ca mắc lỵ trực trùng, 11 ca mắc lỵ a míp, 11 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.359 ca mắc bệnh cúm,1 ca chân tay miệng, 157 ca mắc bệnh tiêu chảy, 2 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên.  - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Hiện nay ngành y tế Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao kiến thức phòng lây truyền HIV cho người bệnh; tư vấn xét nghiệm cho các đối tượng nguy cơ; thực hiện có hiệu quả dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; duy trì hiệu quả 3 cơ sở điều trị và 3 cơ sở cấp phát thuốc Methadone. Từ ngày 16/4/2022 đến ngày 15/5/2022 toàn tỉnh có không có người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước số người nhiễm mới HIV giảm 3 người, số người chuyển thành AIDS giảm 4 người, số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung năm tháng đầu năm có 11 người nhiễm mới HIV, 5 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước: giảm 16 ca HIV (giảm 59,26%), giảm 18 ca chuyển thành AIDS (giảm 78,26%), số người chết vì AIDS không đổi.  - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ngày 28/4/2022, Đoàn liên ngành an toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh theo Quyết định số 267/QĐ-SYT ngày 13/4/2022 của Sở Y tế tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Đoàn liên ngành ATVSTP huyện Cẩm Xuyên đã kiểm tra các nhà hàng, khách sạn cùng các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống xung quanh khu vực biển Thiên Cầm nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cho mùa du lịch biển năm 2022. Tính từ ngày 16/4/2022 đến ngày 15/5/2022, toàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 73 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người tử vong vì ngộ độc thực phẩm. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 15 ca ngộ độc tập thể; số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 30 ca (giảm 29,13%). Tính chung 5 tháng đầu năm xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc, ngoài ra có 247 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể giảm 1 vụ, giảm 23 ca ngộ độc tập thể (giảm 85,19 %), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 317 ca (giảm 56,21%), số ca tử vong không đổi.4. Hoạt động văn hoá, thể thao  - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi. Ngày 21/4 Hà Tĩnh đã tổ chức kỷ niệm “ Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2022” với chủ đề "Chấn hưng và phát triển văn hóa đọc” nhằm đưa văn hóa đọc lan tỏa mạnh mẽ, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hà Tĩnh; ngày 5/5 diễn ra Liên hoan các câu lạc bộ (CLB) dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2022 của huyện Cẩm Xuyên, với 11 CLB dân ca ví, giặm của các xã về tham gia, liên hoan nhằm tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, đây cũng là dịp để các CLB giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phong trào hát dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn toàn huyện; ngày 18/5, Hà Tĩnh tổ chức công diễn chương trình nghệ thuật “Lời Người, lời của nước non” nhân kỷ niệm 132 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2022) và 65 năm Ngày Bác về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957-15/6/2022).  - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã thực hiện cấp 20 giấy phép, trong đó có 05 giấy phép lĩnh vực du lịch, 13 giấy phép lĩnh vực văn hóa cơ sở và 2 giấy phép lĩnh vực di sản văn hóa.  - Hoạt động thể thao:  + Thể thao thành tích cao: Trong tháng, đoàn thể thao Hà Tĩnh vừa xuất sắc hoàn thành các nội dung thi đấu tại SEA Games 31 với 12 huy chương các loại (5 huy chương vàng, 5 huy chương bạc và 2 huy chương đồng). Trong đó, bộ môn Karatedo giành 02 HCV và 01 HCĐ; bộ môn điền kinh, giành 01 HCV và 03 HCB; bộ môn đua thuyền, giành 02 HCV, 02 HCB.   + Thể thao quần chúng: Trong tháng, các hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi như: Giải Quần vợt Cúp Truyền hình Hà Tĩnh lần thứ VI năm 2022 với chủ đề “ Kết nối yêu thương, chia sẻ giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn” diễn ra từ ngày 6/5-8/5 đã thu hút 260 vận động viên trong, ngoài tỉnh đến từ hơn 30 câu lạc bộ quần vợt đăng ký tham dự; sáng 11/5, thị xã Kỳ Anh tổ chức lễ khai mạc Giải Bóng chuyền nam thanh niên tranh Cúp Viết Hải năm 2022, giải đấu nhằm hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thị xã Kỳ Anh lần thứ II và Đại hội TDTT thị xã Kỳ Anh lần thứ nhất - năm 2022 thu hút gần 250 vận động viên của 16 đội đến từ 11 xã, phường, ban, ngành, lực lượng vũ trang thị xã và một số trường học trên địa bàn; chào mừng kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957 - 15/6/2022) và hưởng ứng hoạt động Tháng Công nhân; ngày 7/5, Công đoàn Khối các cơ quan Đảng phối hợp với Chi đoàn Cơ quan Tỉnh ủy tổ chức Giải Bóng chuyền toàn khối lần thứ IV năm 2022...5. Tình hình an toàn giao thông  Tính từ ngày 15/4 - 14/5/2022 toàn tỉnh xảy ra 7 vụ tai nạn đường bộ, 5 người chết, 2 người bị thương, thiệt hại 130 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ tai nạn (giảm 22,22%), giảm 3 người chết (giảm 37,50%), giảm 2 người bị thương (giảm 50%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường, ngoài ra do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.      Như vậy, tính chung 5 tháng đầu năm 2022, Hà Tĩnh xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 31 người và bị thương 17 người, tổng thiệt hại ước tính 510 triệu đồng. So cùng kỳ năm 2021 giảm 8 vụ (giảm 18,18%), giảm 1 người chết (giảm 3,13%) và giảm 2 người bị thương (giảm 10,53%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.  6. Môi trường  - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/4/2022 đến ngày 14/5/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 3 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại về tài sản 240 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ tăng 3 vụ, tăng thiệt hại 240 triệu đồng. Tính chung năm tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 11 vụ cháy, nổ làm 1 người chết và không có người bị thương so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ tăng 4 vụ; giảm 1 người chết; tăng 1 người bị thương.  - Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/4 đến ngày 14/5/2022 đã phát hiện 64 vụ, đã xử lý 49 vụ, với tổng số tiền xử phạt 290,09 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện tăng 25 vụ đã phát hiện (tăng 64,10 %), số vụ đã xử lý tăng 24 vụ (tăng 96,0%), tăng số tiền nộp phạt 190,09 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2021 tăng 43 vụ đã phát hiện (tăng 2,05 lần), tăng 36 vụ đã xử lý (tăng 2,77 lần), số tiền xử phạt tăng 36,09 triệu đồng (tăng 14,21%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 58 vụ (chiếm 90,63%); Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 4 vụ (chiếm 6,25%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 2 vụ (chiếm 3,12%).  Tính chung 5 tháng đầu năm 2022 (từ ngày 15/12/2021 - 14/5/2022) đã phát hiện 474 vụ, đã xử lý 340 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.268,97 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ phát hiện tăng 368 vụ (tăng 8,76 lần), số vụ xử lý tăng 267 vụ (tăng 11,13 lần), tăng số tiền nộp phạt 790,43 triệu đồng (tăng 4,19 lần).7. Tình hình thiên tai  Trong tháng, xảy ra 1 vụ thiên tai do mưa lớn kéo dài từ ngày 30/4-1/5 ở các huyện Nghi Xuân, Hương Sơn, Thạch Hà làm thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.768 triệu đồng; so với tháng trước số vụ thiên tai không đổi, thiệt hại về người giảm 1 người chết, thiệt hại về tài sản tăng 7.668 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ thiên tai, giảm 1 người chết, giảm 1 người bị thương, thiệt thiệt về tài sản giảm 22.696,8 triệu đồng.  Tính chung từ đầu năm đến nay xảy ra 2 vụ thiên tai, làm 1 người chết, làm hư hỏng 1 chiếc tàu, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.868 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 4 vụ thiên tai, số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 22.596,8 triệu đồng                 Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 4 và 4 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 10:13

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông , lâm nghiệp và thủy sản       Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 4 năm 2022 tương đối ổn định: các cây trồng vụ Xuân đang được chăm sóc tốt và có diện tích tăng so với cùng kỳ, đặc biệt lúa Xuân đang trong thời kỳ trổ bông, tuy nhiên do gặp đợt mưa rét một số ngày đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trổ bông, phơi màu của lúa; chăn nuôi vẫn gặp khó khăn do chi phí thức ăn chăn nuôi tăng quá cao ảnh hưởng đến việc tái đàn; hoạt động lâm nghiệp khá thuận lợi cho việc trồng và chăm sóc rừng; sản xuất thủy sản tiếp tục được duy trì và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ, lượng cầu hàng hóa tăng do du lịch hoạt động trở lại nên khuyến khích người dân ra khơi đánh bắt. 1.1 Sản xuất nông nghiệp                 - Trồng trọt Sản xuất trồng trọt trong tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân. Đến thời điểm ngày 19.4 có 2.236 ha lúa xuân đã trổ bông, trong đó, nhiều nhất là tại các huyện: Đức Thọ (970 ha); Nghi Xuân (400 ha); Thạch Hà (347 ha); Kỳ Anh (139 ha); Lộc Hà (120 ha); Can Lộc, Vũ Quang (100 ha/huyện)… Một số xã có diện tích lúa trổ bông lớn do không chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên bà con làm trước lịch thời vụ để tranh thủ nguồn nước tự nhiên. Trong tháng có đợt mưa kéo dài ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trổ bông và phơi màu của lúa. Từ ngày 16 đến 18 tháng 4 mưa rét khiến nhiều diện tích lúa trổ bông bị ảnh hưởng và nguy cơ sâu bệnh rình rập tấn công, những diện tích lúa trổ bông giai đoạn này sẽ không phơi màu được, lúa dễ bị lép. Thời tiết ẩm ướt sẽ là môi trường có các loại nấm, vi rút gây bệnh, nhất là bệnh đạo ôn cổ lá, cổ bông đang rình rập phát sinh, mưa ẩm nhiều ngày liền sẽ “kích hoạt” nguồn bệnh sẵn có trên đồng ruộng, tiếp tục phát sinh và lan rộng. Bên cạnh đó, rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh khô vằn sẽ tiếp tục “đột kích”, gây hại lúa ở kỳ sinh trưởng quan trọng nhất vụ sản xuất này. Đợt mưa vừa qua đã cung cấp một lượng đạm tự nhiên cho những diện tích lúa chuẩn bị bước vào kỳ trổ bông, đồng thời cấp nước ở những vùng cao cạn như: vùng cao ở Hương Khê, vùng bãi ngang Thạch Hà, vùng không chủ động tưới ở Lộc Hà, Nghi Xuân…Tuy nhiên, đối với những diện tích đang vào kỳ trổ bông thì có bị ảnh hưởng đến kết quả cuối vụ, nguy cơ bùng phát nhiều loại sâu bệnh, đặc biệt là đạo ôn cổ bông, khô vằn, rầy nâu và rầy lưng trắng. Ngành chức năng khuyến cáo tiếp tục theo dõi và gấp rút tổ chức phun phòng sâu bệnh tại các vùng bị nhiễm, tại các vùng bị ngập úng, cần tập trung tiêu thoát sớm, tránh để lúa bị ngâm quá lâu trong nước. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Hiện nay, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, trên các loại cây trồng vụ đang có các loại sâu bệnh phát sinh gây hại như sau: Trên cây lúa thì bệnh đạo ôn lá gây hại trên cổ lá ở Lộc Hà, Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc,...Bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng gieo cấy giày, bón thừa đạm, tỷ lệ trung bình 3-7%, nơi cao 10-15%, cục bộ 20-30%, diện tích 1.233 ha, phân bố trên toàn tỉnh; bệnh bạc lá xuất hiện và gây hại ở Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương khê, tỷ lệ trung bình 5-7%, cục bộ 20 -30%, diện tích 47 ha; rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, mật độ 700-1500con/m2, rầy chủ yếu tuổi 4, tuổi 5, trưởng thành diện tích 1 ha; chuột gây hại vùng gần gò đồi, ven làng, tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích bị phá hoại 280 ha, phân bố trên toàn tỉnh. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 9 ha; bệnh đốm lá gây hại trên trà ngô 7-9 lá, tỉ lệ 5-7%, diện tích 13 ha; bệnh khô vằn 12 ha, tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Cây lạc thì bệnh đốm lá gây hại với diện tích 8 ha; bệnh lở cổ rễ diện tích 18 ha, tập trung ở Nghi Xuân, Hương Khê, Vũ Quang. Trên cây ăn quả có múi có sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc xuân, diện tích nhiễm 32 ha; sâu xanh bướm phượng mật độ 1-3 con/cành, diện tích 15 ha; nhện nhỏ 9 ha; câu cấu 7 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,.. Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang trong quá trình đơm hoa, kết trái nên cần tập trung phòng, trừ sâu bệnh để tránh thiệt hại, nhất là bệnh đạo ôn gây hại đối với cây lúa. - Chăn nuôi  Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 4/2022 không có nhiều biến động. Số lượng đàn gia súc ổn định, đàn lợn và đàn gia cầm tuy có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không lớn và vẫn còn thiếu ổn định. Riêng đối với hoạt động chăn nuôi lợn, hiện nay dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn xuất hiện trên địa bàn chưa qua 21 ngày, cùng với việc giá thức ăn tăng quá cao trong khi giá bán không tăng nên tiếp tục gặp khó khăn trong việc thực hiện phát triển đàn lợn. Hoạt động chăn nuôi gia cầm tương đối ổn định, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, hiện nay nhiều hộ dân tự chăn nuôi gia cầm để phục vụ nhu cầu thực phẩm cho gia đình nên lượng cầu hàng hóa đối với gia cầm trên thị trường đang có xu hướng giảm. Với những diễn biến phức tạp, khó lường của dịch bệnh đối với đàn vật nuôi, cùng với giá thức ăn và các chi phí khác đang tăng cao như hiện nay thì hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới vẫn tiếp tục gặp khó khăn.  Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2022, dịch tả lợn Châu Phi đã xẩy ra trên địa bàn 32 xã, phường của 9 huyện, thành phố (Thành phố Hà Tĩnh 3 phường, xã; Hương Sơn 4 xã; Vũ Quang 4 xã, Đức Thọ 5 xã; Thạch Hà 4 xã; Cẩm Xuyên 7 xã; Lộc Hà 3 xã, huyện Kỳ Anh 1 xã và thị xã Kỳ Anh 1 xã). Tổng số lợn mắc bệnh, chết phải tiêu hủy là 416 con với trọng lượng 25.901 kg/85 hộ/53 thôn. Đến ngày 15/4/2022, dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 14 phường, xã thuộc 5 huyện, thành phố, thị xã (Thành phố Hà Tĩnh 3 phường, xã; Đức Thọ 4 xã; Cẩm Xuyên 4 xã; Lộc Hà 2 xã và thị xã Kỳ Anh 1 xã). Tổng số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy ở các địa phương mà dịch chưa qua 21 ngày là 176 con, trọng lượng 12.538 kg. Từ ngày 15/3/2022 đến ngày 15/4/2022, các loại dịch bệnh khác không xẩy ra đối với đàn vật nuôi. Thời gian tới, để phát triển chăn nuôi bên cạnh các chính sách nhằm phát triển đàn thì công tác phòng, chống dịch bệnh phải tiếp tục được quan tâm thực hiện để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi.  1.2 Lâm nghiệp Trong tháng 4/2022, cùng với hoạt động khai thác thì với điều kiện thời tiết mát mẽ, nhiệt độ thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng sản xuất. Kết quả diện tích rừng trồng tập trung và sản lượng gỗ khai thác tháng 4/2022 ước tính đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp 4 tháng đầu năm 2022 chủ yếu tập trung ở các địa phương như: Huyện Hương Sơn trồng mới 483 ha rừng và khai thác 31.550 m3 gỗ; huyện Vũ Quang trồng mới 132 ha rừng và khai thác 7.770 m3 gỗ; huyện Kỳ Anh trồng mới 488 ha rừng và khai thác 10.250 m3 gỗ; huyện Hương Khê trồng mới 422 ha rừng và khai thác 4.395 m3 gỗ; huyện Cẩm Xuyên trồng mới 108 ha rừng và khai thác 4.284 m3 gỗ... Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 29 vụ phá rừng (tăng 19 vụ), với diện tích rừng bị phá là 9,367 ha (tăng 6,326 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 4/2022 tiếp tục duy trì được mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với tháng trước lại giảm cả về sản lượng khai thác cũng như nuôi trồng. Trong khi sản lượng nuôi trồng giảm do sản phẩm chưa đến kỳ thu hoạch thì hoạt động khai thác biển cũng đang gặp rất nhiều khó khăn do các chi phí đều tăng cao, nhất là giá xăng, dầu; việc đầu tư nâng cấp phương tiện đánh bắt hải sản còn hạn chế, chi phí tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến việc đánh bắt xa bờ của ngư dân. Vì vậy, hoạt động khai thác hải sản hiện nay chủ yếu đánh bắt ở vùng lộng với các phương tiện có công suất nhỏ nên hiệu quả không cao. Hiện nay, các hoạt động dịch vụ du lịch, ăn uống trên địa bàn đang dần được phục hồi, nhất là ở các khu du lịch biển nên nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao, với giá cả tương đối ổn định. Cùng với đó, thời gian này cũng đang là mùa khai thác một số loại hải sản ở vùng lộng nên hy vọng hoạt động khai thác hải sản trong thời gian tới sẽ đạt được kết quả khá hơn.    Về tình hình dịch bênh: Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn. 2. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2022 tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Trong đó, ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,39% so với cùng kỳ) do nhà máy nhiệt điện I đang tạm ngừng hoạt động để tiến hành sửa chữa. Ngoài ra do giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao nên sản lượng phôi thép sản xuất của công ty Formosa Hà Tĩnh giảm 6,9% (giảm 150 ngàn tấn) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm ước đến cuối tháng 4/2022 giảm 4 ngàn tấn (giảm 0,2%) so với cùng kỳ năm 2021 - Ước tháng 4/2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 3/2022 giảm 0,21% và giảm 1,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,36% so với tháng trước và giảm 20,33% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,67% so với tháng trước và tăng 6% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,82% so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước giảm 30,81%, ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 2,34% so với tháng 3/2022 và giảm 13,44% so với tháng 4/2021. - Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn, giảm sản lượng sản xuất so với năm 2021. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 4 tháng đầu năm 2022 giảm 7,94% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,87%, làm giảm 0,08 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,64% làm giảm 1 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,39%, làm giảm 6,64 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,94%, làm giảm 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 10 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 4 nhóm ngành có mức tăng cao như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 124,65%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 36,24%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 27,31%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 17,53% … Ngoài ra có một số ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 4 tháng đầu năm 2022 tăng nhẹ so với cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống; dệt; sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế. Có 8 nhóm ngành giảm, làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất và phân phối điện giảm 37,39%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 27,11%; khai thác quặng kim loại giảm 23,47%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 10,47%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 9,89%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 2,56%; khai khoáng khác giảm 1,5%; sản xuất kim loại giảm 0,89%. 3. Vốn đầu tư Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính từ Trung ương, tỉnh và chính quyền địa phương các cấp, sự chủ động của các doanh nghiệp, người dân. 4 tháng đầu năm 2022 các công trình dự án trên địa bàn đã được triển khai đồng bộ, đặc biệt là những dự án trong điểm như: Dự án nhà máy sản xuất pin VinES, dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2…) cùng với thời tiết thuận lợi nên đẩy nhanh tiến độ thi công, việc giải ngân vốn được thực hiện tốt. Vì vậy, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trên đà xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 4/2022 đạt 359,5 tỷ đồng, tăng 10,39% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 269,57 tỷ đồng, tăng 10,44% (tăng 25,49 tỷ đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 71,73 tỷ đồng, tăng 10,55%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 18,21 tỷ đồng, tăng 9,06% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng: Các nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh, huyện, xã, cộng với các nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đã phân bổ theo kế hoạch vốn đề ra; hồ sơ, thủ tục triển khai nhanh chóng, công tác giải ngân kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các công trình nên tiến độ thi công được đảm bảo. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.405,6 tỷ đồng, giảm 3,39% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.092,82 tỷ đồng, tăng 4,76%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 263,65 tỷ đồng, tăng 10,68%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 49,11 tỷ đồng, giảm 71,71%. Nguồn vốn giảm là do các dự án chuyển tiếp triển khai chậm, dự án mới đang chờ giao vốn, hoàn thiện hồ sơ đáp ứng để thi công. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong thời gian qua, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp cộng với giá cả nhiên liệu tăng cao, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa. Bước sang đầu quý 2, dự kiến tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng trưởng tốt hơn so với những tháng quý trước và cùng kỳ năm trước do dịch bệnh Covid-19 đang dần được kiểm soát, số ca lây nhiễm giảm dần, các hoạt động dịch vụ giải trí và du lịch lữ hành hoạt động trở lại. Giá nhiên liệu xăng dầu giảm qua hai kỳ điều chỉnh gần đây nhất. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Hoạt động bán lẻ vẫn là ngành đóng góp quan trọng trong nhóm ngành thương mại dịch vụ, doanh thu đạt mức tăng cao và ổn định so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Tháng 4/2022 dự tính ước đạt 3.824,80 tỷ đồng, tăng 4,70% so với tháng trước do doanh thu bán lẻ tất cả các nhóm hàng hóa tháng 4 đều tăng so với tháng trước, một số nhóm hàng tăng mạnh do nhu cầu thị trường trong tháng tăng cao như: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,73%, ô tô con tăng 6,81%, may mặc tăng 6,36%; nhóm xăng dầu các loại mặc dù giá nhiên liệu xăng dầu có giảm nhưng không đáng kể, nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa trong tháng lại tăng nên doanh thu tăng 6,22% so với tháng trước. So với cùng kỳ doanh thu bán lẻ đạt mức tăng rất cao 11,39%, tăng chủ yếu ở các nhóm mặt hàng như: Xăng, dầu các loại 39,63%, nhiên liệu khác 26,24%; đá quý và kim loại 19,29%; lương thực, thực phẩm 16,41%; gỗ và vật liệu xây dựng 8,14%. Nguyên nhân chủ yếu do sự tăng cao về giá chung các loại hàng hóa cộng với trong tháng nhu cầu về vật liệu xây dựng nhà ở tăng mạnh, ảnh hưởng của tình hình thế giới khiến giá nguyên, nhiên liệu, vàng và đô la Mỹ liên tục tăng giá trong thời gian qua. Tính chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2022, dự tính đạt 15.301,95 tỷ đồng, tăng 1,66% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tháng 4 đạt mức tăng khá so với cùng kỳ nhưng việc doanh thu cả quý 1 giảm khiến tổng mức doanh thu bán lẻ hàng hóa tính chung 4 tháng đầu năm đạt mức tăng chưa cao. Mức tăng chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả tăng mạnh so cùng kỳ như xăng, dầu, khí đốt, vật liệu xây dựng, đá quý và kim loại quý. Trong khi đó, một số nhóm hàng hóa tiếp tục gặp khó khăn, có mức doanh thu giảm, cụ thể như: Nhóm bán lẻ hàng may mặc giảm do tình hình cạnh tranh với các đơn vị kinh doanh nhượng quyền thương mại, các chuỗi hệ thống toàn quốc và các cửa hàng kinh doanh trực tuyến dẫn tới số cơ sở bán lẻ hàng may mặc trên địa bàn tỉnh đang giảm mạnh so với cùng kỳ; nhóm bán lẻ hàng hóa khác giảm do tình hình kinh tế, thu nhập của người tiêu dùng gặp khó khăn và nhu cầu thiết bị học trực tuyến giảm dẫn tới doanh thu nhóm bán lẻ thiết bị vi tính giảm. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống: Hoạt động dịch vụ lưu trú ăn uống tháng 4/2022 có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm, tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh đang dần ổn định, số ca nhiễm trong ngày giảm cộng với thời tiết đang trong mùa thuận lợi cho các loại hình ăn uống như quán hàng, quán ăn từ sang trọng đến bình dân. Trong tháng, có hai dịp nghỉ lễ khá dài ngày là Giỗ Tổ Hùng Vương (3 ngày) và kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 1/5 (4 ngày), là thời điểm thuận lợi cho du lịch Hà Tĩnh tăng tốc khôi phục các hoạt động trong tình hình mới. Đây cũng là thời điểm khởi động mùa du lịch biển 2022 trên toàn tỉnh, các khu, điểm du lịch hiện đã hoàn thành việc chỉnh trang cơ sở vật chất, nâng cấp dịch vụ sẵn sàng đón khách tham quan, nghỉ dưỡng. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 489,16 tỷ đồng, tăng 10,87% so với tháng trước và giảm 7,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 18,62 tỷ đồng, tăng 18,63% so với tháng trước, giảm 6,42% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 470,24 tỷ đồng, tăng 10,51% so với tháng trước, giảm 6,76% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 0,3 tỷ đồng, giảm 86,11% so với cùng kỳ. Sau thời gian dài ngừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến nay hoạt động du lịch, lữ hành mới được khởi động lại nên doanh thu chỉ đạt mức rất thấp so với cùng kỳ.     Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.700,84 tỷ đồng, giảm 7,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 56,30 tỷ đồng, giảm 17,86%; dịch vụ ăn uống ước đạt 1.644,24 tỷ đồng, giảm 6,93%; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 0,3 tỷ đồng, giảm 95,40% so với cùng kỳ năm trước. - Hoạt động dịch vụ khác: Tháng 4 là thời gian mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, do vậy nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ tăng hơn so với tháng trước. Các dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, dịch vụ cho thuê đồ dùng cá nhân và gia đình cũng tăng. Doanh thu dịch vụ khác tháng 4/2022 ước tính ước tính đạt 187,99 tỷ đồng, tăng 9,02% so với tháng trước và tăng 9,32% so với cùng kỳ năm trước.  Ước 4 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 706,34 tỷ đồng, tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 13,82%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 16,76%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 10,35%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 60,58%; dịch vụ khác ước tăng 9,84%. Nhóm giáo dục đào tạo không biến động so với cùng kỳ. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách đã bắt đầu hoạt động nhộn nhịp trở lại, các tuyến liên tỉnh, nội tỉnh ngày càng đông khách hơn. Bên cạnh đó, hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương cùng với việc nhà máy Gang thép Formosa hoạt động ổn định tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất là một trong những động lực và là điều kiện lớn thúc đẩy đầu mối trung chuyển hàng hóa và dịch vụ vận tải, kho bãi của tỉnh Hà Tĩnh.  Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 4 năm 2022 ước đạt 466,55 tỷ đồng, tăng 4,26% so tháng trước và giảm 0,5% so cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 92,91 tỷ đồng, tăng 7,03% so với tháng trước và giảm 31,70% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.088,75 nghìn HK, tăng 8,20% so với tháng trước và giảm 40,10% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 186,34 triệu HK, tăng 9,63% so với tháng trước, giảm 39,89% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 288,60 tỷ đồng, tăng 3,25% so với tháng trước và tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 3.233,18 nghìn tấn, tăng 2,81% so với tháng trước và tăng 14,17% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 82,16 triệu tấn.km, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 12,64% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Ước đạt 84,97 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022 doanh thu vận tải ước tính đạt 1.741,42 tỷ đồng, giảm 7,53% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 325,71 tỷ đồng, giảm 42,65% với số lượng vận chuyển ước đạt 3.769,99 nghìn HK, giảm 50,77% và luân chuyển ước đạt 632,30 triệu HK.km, giảm 51,49% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 1.088,50 tỷ đồng, tăng 7,48% với khối lượng vận chuyển đạt 12.257,41 nghìn tấn, tăng 8,93% và luân chuyển đạt 311,23 triệu tấn.km, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 326,95 tỷ đồng, tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vận tải tháng 4 cơ bản trở lại bình thường, nhu cầu đi lại bằng các phương tiện vận tải hành khách công cộng xe buýt, taxi tăng so với tháng trước vộng với việc các công ty vân tải nâng giá vé do ảnh hưởng của giá xăng, dầu nên doanh thu đạt mức cao. Tuy nhiên vẫn không đạt mức và giảm khá sâu so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 4 năm 2022 ước đạt 543,3 triệu USD, giảm 8,95% so với tháng trước và tăng 15,05% so với cùng kỳ năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu chủ yếu vẫn từ Công ty Formosa, nên mặc dù việc xuất khẩu tháng 4 của công ty giảm mạnh so với tháng trước nhưng với việc tăng cường nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất kỳ vọng tháng tới kim ngạch xuất khẩu thép sẽ tăng cao kéo theo việc tăng xuất khẩu của toàn tỉnh. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 4 ước đạt 153,30 triệu USD, giảm 30,94% so với tháng trước và giảm 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép đạt 138,10 triệu USD giảm 32,39% so với tháng trước và giảm 3,99% so với cùng kỳ. Các mặt hàng khác dù chiếm tỷ trọng không cao nhưng đang trở thành thế mạnh và có đà tăng trưởng tốt so với năm trước như: Dăm gỗ đạt 4,0 triệu USD dù giảm 16,14% so với tháng trước nhưng so cùng kỳ tăng 72,41%; Hàng may mặc đạt 1,50 triệu USD giảm 6,25% so tháng trước nhưng tăng 114,29% so với cùng kỳ; Xơ và sợi dệt các loại đạt 1,30 triệu USD tăng 6,56% so tháng trước và tăng 5,69 so cùng kỳ. Cộng dồn 4 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 586,35 triệu USD, giảm 0,56% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng đến 92,80% trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 521,68 triệu USD và là mặt hàng duy nhất có kim ngạch giảm và giảm nhẹ 0,28%, còn lại tất cả các mặt hàng khác đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Thủy sản tăng 3,08%; chè tăng 15,29%; Dăm gỗ tăng 31,27%; Hàng dệt, may mặc tăng 70,30% và xơ,sợi dệt các loại tăng 71,05%. - Kim ngạch nhập khẩu: Trong tháng 4 năm 2022 ước đạt 390,0 triệu USD, tăng 4,08% so với tháng trước và tăng 154,80% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.283,94 triệu USD, tăng 25,65% so với cùng kỳ năm trước. Với việc tăng mạnh việc nhập khẩu, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa sẽ kỳ vọng sức tăng sản xuất chung của nền công nghiệp cũng như hoạt động xuất khẩu trong tháng tới của tỉnh Hà Tĩnh. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, dịch bệnh, thời tiết và sự điều hành của Nhà nước về nhiên liệu là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ trong thời gian qua. Ước tháng 4/2022, chỉ số giá tiêu dùng chung CPI tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá CPI chung tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 4 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Khu vực thành thị tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 1,71% so với cùng kỳ năm trước; Khu vực nông thôn tăng 0,25% so với tháng trước, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; nhóm thiết bị và đồ dùng gia; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác. Có 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước bao gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giao thông. Có 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng bình quân giảm so tháng trước do ảnh hưởng bởi các diễn biến từ thị trường thế giới. Hiện nay giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.560 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.312.400 đồng/100 USD. Chỉ số giá vàng giảm 0,42% so với tháng trước, tăng 6,17% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,36% so với tháng trước, giảm 2,57% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,52%; khu vực nông thôn tăng 1,19%. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,82%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,39%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,08%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,95%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,88%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; giao thông tăng 12,57%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước.         Dự kiến CPI tháng 5/2022 sẽ tăng hơn so tháng 4/2022 do yếu tố thời tiết thay đổi khiến các loại hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng mùa hè như thực phẩm hoa quả, đồ uống, điện, nước sinh hoạt, hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng tăng giá. Bên cạnh đó, việc kiểm soát dịch bệnh Covid-19 được điều hành linh hoạt hơn, các hoạt động kinh doanh ăn uống và du lịch, nhất là trong đợt nghỉ lễ 30/4-01/5 sắp tới có thể tăng cao, kéo theo giá các loại lương thực, thực phẩm, đồ uống, dịch vụ lưu trú, ăn uống ngoài gia đình tăng cao. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Hà Tĩnh triển khai thực hiện áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ theo quy định tại Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15. Đây được xem là một trong những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ phục hồi phát triển sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trong bối cảnh giá dầu thô có xu hướng tăng cao, góp phần hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội sau dịch COVID-19. Đồng thời triển khai một số chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo Nghị quyết số 11/NQ-CP và Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg góp phần đảm bảo an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm cho người lao động. Trong tháng, Hà Tĩnh cũng đã tổ chức phát động “Tháng công nhân năm 2022” với chủ đề “Vượt khó, sáng tạo, an toàn, thích ứng”, nhằm tôn vinh những người lao động tiêu biểu; khuyến khích đoàn viên, người lao động tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, phát huy tinh thần “chủ động, sáng tạo, trách nhiệm, hiệu quả, thiết thực” đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn. Nhìn chung tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. 2. Giáo dục Mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tuy nhiên phong trào thi đua dạy tốt - học tốt, học đi đôi với hành vẫn được lan tỏa trong các nhà trường, địa phương và gặt hái được nhiều thành quả, cụ thể: Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2021-2022, Hà Tĩnh có với 74 học sinh đạt giải trong đó có 1 giải nhất, 25 giải nhì, 28 giải ba và 20 giải khuyến khích; Hà Tĩnh là một trong 5 tỉnh dẫn đầu cả nước về số lượng học sinh đạt giải quốc gia (sau Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Nghệ An). Bên cạnh đó toàn tỉnh có hơn 2.400 em đạt giải tại các kỳ thi chọn học sinh giỏi tỉnh lớp 9, 10, 11 và 12. Trên sân chơi sáng tạo khoa học kĩ thuật cấp quốc gia, học sinh Hà Tĩnh đã đạt 2 giải nhì với 2 dự án: “Máy lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 tự động” và “Hành vi so sánh xã hội trong học tập của học sinh THPT tỉnh Hà Tĩnh”. Đây là kết quả từ sự hướng dẫn sát sao của giáo viên, niềm say mê, miệt mài nghiên cứu của học sinh Hà Tĩnh với nhiều sáng kiến, công trình khoa học được ra đời và ứng dụng trong thực tiễn. 3. Hoạt động y tế Ngành y tế Hà Tĩnh đề nghị các địa phương tiếp tục đẩy nhanh chiến dịch tiêm chủng mùa xuân, nâng cao tỷ lệ tiêm vắc-xin phòng COVID-19 mũi 3; chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện để tiêm vắc-xin cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi. - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/4/2022 là 48.147 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 50.096 ca mắc. Cộng dồn từ đầu năm đến nay tổng mẫu PCR là 45.775 mẫu; số test nhanh là 554.177 mẫu.Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 44.140 ca, trong đó đã có 38.980 ca khỏi bệnh.  Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 123. Điều trị khỏi 44.742 BN, trong đó có 112 BN tuyến trên, 44.630 BN tại Hà Tĩnh, 48 BN tử vong. Đánh giá tình hình dịch Hà Tĩnh, toàn tỉnh hiện có 201 xã, phường, thị trấn cấp độ 1; 15 xã, phường, thị trấn cấp độ 2. Công tác tiêm chủng tiếp tục được đẩy mạnh, Hà Tĩnh được phân bổ 18.200 liều vắc xin phòng COVID-19 để tiêm cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi. Ngành Y tế Hà Tĩnh đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho công tác tiêm chủng cho trẻ, trước mắt đã phân bổ số vắc xin phòng COVID-19 Moderna (tính theo liều 0,25 ml mỗi trẻ) cho các địa phương để ưu tiên tiêm mũi 1 cho trẻ 11 tuổi- dưới 12 tuổi trên địa bàn và hạ dần theo độ tuổi.                                    - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca sốt xuất huyết, 15 ca mắc bệnh quai bị, 27 ca mắc lỵ trực trùng; 33 ca mắc lỵ a míp; 12 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.475 ca mắc bệnh cúm, 348 ca mắc bệnh tiêu chảy và không có người chết vì do các bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Tĩnh đã hướng dẫn cho bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Từ ngày 16/3/2022 đến ngày 15/4/2022 toàn tỉnh có 5 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: số người nhiễm mới HIV giảm 5 người (giảm 50%), số người chuyển thành AIDS giảm 7 người (giảm 77,78%), số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung bốn tháng đầu năm có 11 người nhiễm mới HIV, 5 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước: giảm 13 ca HIV (giảm 57,17%), giảm 14 ca chuyển thành AIDS (giảm 73,68 %), số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh ATTP tỉnh tổ chức lễ phát động “Tháng hành động vì vệ sinh an toàn thực phẩm” năm 2022 với chủ đề “Tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nông sản, thực phẩm trong tình hình mới” theo đó, các ngành, địa phương sẽ tăng cường công tác thông tin, truyền thông chính xác, kịp thời, toàn diện, có trách nhiệm, trung thực các vấn đề liên quan đến ATTP. Tính từ ngày 16/3/2022 đến ngày 15/4/2022, toàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, có 54 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người tử vong vì ngộ độc thực phẩm. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 85 ca (giảm 61,15%). Tính chung 4 tháng đầu năm xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc, ngoài ra có 174 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, giảm 8 ca ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 287 ca (giảm 62,26%), số ca tử vong không đổi. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, trùng vào dịp Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Lễ Giỗ Quốc tổ Hùng Vương năm 2022 được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh tại Khu di tích Lịch sử - Văn hóa Đại Hùng (phường Đậu Liêu, Thị xã Hồng Lĩnh) từ ngày 7-10/4/2022 (tức ngày 7-10/3 âm lịch) với nhiều hoạt động văn hóa, thể dục thể thao. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Công tác kiểm tra, thanh tra nhằm tập trung quản lý, chấn chỉnh các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, các hoạt động thuộc lĩnh vực Thông tin - truyền thông trên địa bàn tỉnh như chấn chỉnh bảng hiệu, quảng cáo tại các khu du lịch bãi biển....nhằm tạo môi trường cảnh quang văn minh, lịch sự tạo thiện cảm cho du khách khi đến với du lịch Hà Tĩnh. - Hoạt động thể thao: + Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 5 giải đấu, đạt 31 huy chương các loại (12 huy chương vàng, 9 huy chương bạc, 10 huy chương đồng), trong đó 01 giải quốc tế (Giải vô địch Đông Nam Á) giành 3 huy chương (02 huy chương vàng  và 01 huy chương đồng). + Thể thao quần chúng: Trong khuôn khổ Đại hội Thể dục Thể thao toàn tỉnh lần thứ IX, các địa phương ở Hà Tĩnh đã và đang tổ chức nhiều giải đấu sôi nổi, gắn với chuỗi hoạt động hướng tới khai trương mùa du lịch biển như Giải Bóng chuyền bãi biển toàn tỉnh và Giải Bóng chuyền nữ huyện Nghi Xuân; huyện Kỳ Anh tổ chức giải đấu bóng chuyền nam văn phòng các xã, cơ quan, đơn vị trên địa bàn và giải đi cà kheo nam đá bóng trên bãi biển; Huyện Lộc Hà tổ chức giải cờ thẻ, bóng chuyền nữ, bóng chuyền bãi biển, đi cà kheo, kéo co... Huyện Cẩm Xuyên tổ chức Giải Bóng chuyền nữ trong khuôn khổ Đại hội TDTT lần thứ IX toàn huyện; hội đua thuyền truyền thống Nhượng Bạn với sự tham gia của các đội đua thuyền Yên Hòa, Cẩm Dương, Thiên Cầm, Cẩm Nhượng, Cẩm Lĩnh, Cẩm Lộc, Nam Phúc Thăng. 5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/3 - 14/4/2022 toàn tỉnh xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ, 8 người chết, 4 người bị thương, thiệt hại 120 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ tai nạn (giảm 10%), tăng 2 người chết (tăng 33,33%), tăng 2 người bị thương (tăng 100%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường, ngoài ra do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.     Như vậy, tính từ 15/12/2021 đến 14/4/2022, Hà Tĩnh xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 26 người và bị thương 15 người. So cùng kỳ năm 2021 giảm 5 vụ (giảm 14,71%), tăng 2 người chết (tăng 8,33%) và tăng 2 người bị thương (tăng 15,38%). Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. 6. Môi trường - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/3/2022 đến ngày 14/4/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 2 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản đang thống kê. Trong đó có 1 vụ cháy thực bì rừng xảy ra vào ngày 26/3 tại huyện Hương Sơn, diện tích bị cháy khoảng 2 ha. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ tăng 2 vụ, số người chết và số người bị thương không thay đổi. Tính chung bốn tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 8 vụ cháy, nổ làm 1 người chết và không có người bị thương so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ tăng 1 vụ; giảm 1 người chết; tăng 1 người bị thương. - Vi phạm môi trường: Nhằm tăng cường tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về ô nhiễm môi trường đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, Hà Tĩnh thiết lập đường dây nóng cấp tỉnh và cấp huyện để tiếp nhận phản ánh về ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh. Tính từ ngày 15/3 đến ngày 14/4/2022 đã phát hiện 39 vụ, đã xử lý 25 vụ, tổng số tiền xử phạt 100 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện tăng 25 vụ (tăng 178,57 %), số vụ đã xử lý tăng 22 vụ (tăng 7,33 lần), tăng số tiền nộp phạt 99,20 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2021 tăng 31 vụ đã phát hiện (tăng 387,50%), tăng 18 vụ đã xử lý (tăng 257,14%), số tiền xử phạt tăng 59,50 triệu đồng (tăng 146,91%). Tính chung 4 tháng đầu năm 2022 (từ ngày 15/12/2021 - 14/4/2022) đã phát hiện 410 vụ, đã xử lý 291 vụ, tổng số tiền xử phạt 978,88 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước, số vụ phát hiện tăng 368 vụ (tăng 8,76 lần), số vụ xử lý tăng 267 vụ (tăng 11,13 lần), tăng số tiền nộp phạt 790,43 triệu đồng (tăng 4,19 lần). 7. Tình hình thiên tai Trong tháng trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1 vụ sóng to, gió lớn trên vùng biển xã Thịnh Lộc huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh làm 1 người chết, hư hỏng tàu thuyền giá trị 100 triệu. Tính chung từ đầu năm đến nay số vụ thiên tai 1 vụ, so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết, tăng thiệt hại 100 triệu. Sau khi nhận được tin báo, UBND huyện Lộc Hà và UBND xã Thịnh Lộc đã đến thăm hỏi và động viên gia đình với mức hỗ trợ là 6 triệu đồng.        Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 3 và quý I năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 09:04

Quý I năm 2022, thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH, QPAN trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục gặp không ít khó khăn, thách thức; dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, số ca nhiệm mới tăng đột biến so với cùng kỳ; giá cả các mặt hàng như xăng, dầu, vật liệu xây dựng tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp..vv. Trước những thuận lợi và khó khăn đan xen, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ngay từ đầu năm đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, với nỗ lực phấn đấu cao nhất. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong quý I năm nay như sau: 1. Tài chính, ngân hàng 1.1. Hoạt động tài chính 3 tháng đầu năm 2022, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2021. Tăng trưởng trong thu ngân sách cho thấy KT-XH toàn tỉnh đang ổn định và có nhiều khởi sắc dù dịch bệnh COVID-19, Chi ngân sách Nhà nước tiếp tục tập trung ưu tiên cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh. - Thu - chi ngân sách Nhà nước: Những tháng đầu năm, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp giữ ổn định góp phần đóng nộp NSNN cho địa phương. Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/3/2022 đạt 5.017,41 tỷ đồng (tăng 73,65% so với cùng kỳ). Trong đó,thu nội địa đạt 2.128,21 tỷ đồng (chiếm 42,42 % trong tổng thu) tăng 36,14% so với cùng kỳ.Một số sắc thuế thu vượt cao như: thu tiền sử dụng đất 947 tỷ đồng (tăng 69,78% so với cùng kỳ); thu thuế thu nhập cá nhân 96,2 tỷ đồng (tăng 66,44% so với cùng kỳ); thu thuế bảo vệ môi trường 180,89 tỷ đồng (tăng 30,73% so với cùng kỳ); thu lệ phí trước bạ 125,64 tỷ đồng (tăng 43,88% so với cùng kỳ); thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 33,85 tỷ đồng (tăng 210,55 % so với cùng kỳ)…Bên cạnh thu nội địa, thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.195,41 tỷ đồng (chiếm 43,76% tổng thu) tăng 73% so với cùng kỳ, nguyên nhân do kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu hải quan Hà Tĩnh trong quý có tăng nhẹ so với cùng kỳ 2021. Ngoài ra, sau tết Nguyên Đán, cùng với việc các doanh nghiệp quay trở lại hoạt động bình thường, Việt Nam và Lào đã gỡ bỏ nhiều biện pháp phòng chống Covid-19, có nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đẩy nhanh hoạt động thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu nên lượng phương tiện lưu thông qua cửa khẩu Cầu Treo cũng tăng lên. Mặc dù thu ngân sách đang còn tiềm ẩn nhiều khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/3/2022 sơ bộ đạt 3.380,50 tỷ đồng giảm 17,38% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 1.189,28 tỷ đồng chiếm 35,18% tổng chi, giảm 41% so với cùng kỳ; chi thường xuyên sơ bộ đạt 2.191,21 tỷ đồng chiếm 64,82% tổng chi, tăng 5,69% so với cùng kỳ năm 2021. 1.2. Hoạt động ngân hàng Trong những tháng đầu năm 2022, với sự lãnh đạo quyết liệt, kịp thời của NHNN tỉnh và sự nỗ lực của tất cả các TCTD, tình hình hoạt động ngân hàng trên địa bàn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Các cơ chế, chính sách của Chính phủ, của NHNN VN, của UBND tỉnh đã được NHNN tỉnh kịp thời triển khai và chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc. Các TCTD trên địa bàn chấp hành nghiêm túc các quy định về lãi suất, phí, niêm yết tỷ giá và không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh. Ngay từ đầu năm, các TCTD đã đẩy mạnh hoạt động huy động vốn và cho vay để sớm hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng đã đề ra. Kết quả 3 tháng đầu năm 2022, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng so với đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.Tổng nguồn vốn huy động ước đến 31/03/2022 đạt 92.285 tỷ đồng, tăng 5,56% so với đầu năm.Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng đạt 12.385 tỷ đồng chiếm 13,42% tổng nguồn vốn huy động, tăng 7,46% so với đầu năm. Nguồn vốn tăng trưởng cả ở tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của tổ chức kinh tế. Nguồn tiền gửi tiết kiệm đạt 60.300 tỷ đồng, tăng 3,89%; tiền gửi thanh toán đạt 31.520 tỷ đồng, tăng 8,93%. Dư nợ cho vay ước đến 31/03/2022 đạt 74.368 tỷ đồng, tăng 3,61% so với đầu năm. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 50.553 tỷ đồng (chiếm 67,98% tổng dư nợ), tăng 3,62% so với đầu năm; dư nợ trung dài hạn đạt 23.815 tỷ đồng (chiếm 32,02 % tổng dư nợ), tăng 3,6% so với đầu năm. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 32.037 tỷ đồng, chiếm 43,08% dư nợ toàn địa bàn, tăng 3,62% so với đầu năm. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn đạt 24.780 tỷ đồng, tăng 4,31% so với cuối năm 2021; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu đạt 289 tỷ đồng, tăng 15,88%; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt 6.968 tỷ đồng, tăng 0,82%. Nhìn chung, các TCTD trên địa bàn luôn đảm bảo nguồn vốn cho vay đối với các dự án trọng điểm của tỉnh, tập trung nguồn vốn cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 2,55-3,8% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0-6,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,3-6,85%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4,5-9%/năm, trung dài hạn phổ biến 8,5-12%/năm; lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5%/năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,0-7%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, tính đến 31/03/2022 nợ xấu ước tính 545 tỷ đồng, chiếm 0,73% tổng dư nợ. Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp, giảm so với các năm trước và nằm trong giới hạn cho phép. 2. Giá cả, lạm phát Trong tháng 3 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa có: 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng (may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,67% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,22%; giao thông tăng 3,73% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 14,37 %; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,03% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,98%); 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,4% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 3,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,08% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,78%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,1% so tháng trước, tăng 0,36% so cùng tháng năm trước); 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước (đồ uống và thuốc lá; bưu chính viễn thông; giáo dục). Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng: Tháng 3 là tháng sau Tết nên nhu cầu về tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ đều có xu hướng giảm mạnh; giá nhiên liệu xăng dầu tăng ảnh hưởng đến nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác; chi phí vận chuyển tăng cộng với nhu cầu về xây dựng lớn kéo theo giá vật liệu xây dựng tăng. Tính chung CPI quý 1 năm 2022 tăng 1,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,45%; nông thôn tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tác động lớn đến chỉ số giá đó là: Mức giảm 4,06% của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; mức tăng giá cao của nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 6,04%) và nhóm giao thông (tăng 12,39%). Nguyên nhân bởi các yếu tố: (1) Dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp tác động đến mọi mặt kinh tế - xã hội, trong đó có tác động làm giảm lượng cầu đối với các hoạt động dịch vụ ăn uống ngoài gia đình nên làm cho giá các sản phẩm làm nguyên liệu chế biến hàng ăn uống giảm; (2) Giá xăng, dầu điều chỉnh tăng cao do biến động chung của giá xăng dầu thế giới (nhóm nhiên liệu có chỉ số giá bình quân quý I/2022) tăng 47,3% so với cùng kỳ năm trước); (3) Giá vật liệu xây dựng tăng do các chi phí đầu vào cũng như cước phí vận tải tăng. 3. Đầu tư và xây dựng 3.1. Đầu tư phát triển Năm 2022 là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; là năm tập trung triển khai các Nghị quyết, chính sách giai đoạn 2021-2025. Từ những tháng đầu năm, các công trình, dự án đã được quan tâm (dự án nhà máy sản xuất pin VinES, Dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2…) cùng với thời tiết thuận lợi nên đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân vốn. Vì vậy, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trên đà xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý I/2022 ước đạt 6.150,49 tỷ đồng, tăng 23,06% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 1.496,06 tỷ đồng, tăng 20,52% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 3.629,59 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 1.024,83 tỷ đồng, bằng 372,14% so với cùng kỳ năm trước. Các tháng đầu năm, nguồn vốn chưa được giao kịp thời, các công trình mới đang trong quá trình hoàn tất hồ sơ, thủ tục triển khai, ngoài ra cũng là quý trùng với các ngày lễ kéo dài nên nguồn vốn Nhà nước quý I/2022 thực hiện giảm 53,36% so với quý trước. So với cùng kỳ năm trước, quý I/2022 thời tiết thuận lợi hơn do đó giá trị thực hiện vốn ngân sách do địa phương quản lý tăng mạnh, do đó vốn nhà nước trên địa bàn tăng 23,06% so với quý I/2021. Nguồn vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước giảm 28,58% so với quý trước, nguyên nhân trực tiếp do quý đầu năm các doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm đầu tư máy móc, cơ sở vật chất so với quý trước. Một số dự án lớn trên địa bàn chưa thi công trở lại sau kỳ nghỉ tết cũng như ảnh hưởng bởi dịch bệnh như dự án D’. Metropole Hà Tĩnh do Tập đoàn Tân Hoàng Minh làm chủ đầu tư; dự án nhà máy bia Hồng Lĩnh đã đi vào giai đoạn hoàn thành, vốn đầu tư giảm mạnh trong quý I/2022 (bằng 17% quý IV/2021). Trong quý, Nhà máy Sản xuất Pin VinES tại khu kinh tế Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh) đang hoàn thành thi công phần nền, giá trị vốn thực hiện dự kiến đạt 53 tỷ đồng. Đây là dự án lớn với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 là 4.000 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành trong quý III/2022. Vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước và dự kiến tiếp tục tăng mạnh trong các quý tiếp theo. Dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 khởi công là nguyên nhân chính dẫn tới vốn đầu tư thực hiện khu vực FDI tăng mạnh so với quý trước cũng như cùng kỳ năm trước. Dự kiến vốn đầu tư thực hiện quý I/2022 dự án này đạt 1.014 tỷ đồng, dự án này có tổng mức đầu đạt 52.000 tỷ đồng và dự kiến thực hiện, đi vào hoạt động sau 5 năm thi công. 3.2. Xây dựng Năm 2022, Hà Tĩnh đang tiếp tục thu hút các nguồn đầu tư từ nước ngoài và trong nước, các dự án lớn đã triển khai gồm: Dự án nhiệt điện Vũng Áng 2 khởi công vào quý IV/2021; dự án nhà máy sản xuất pin VinES (4.000 tỷ đồng); dự án nhà ở phức hợp Tân Hoàng Minh (1.500 tỷ đồng).... Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh đầu tư các dự án đang được đầu tư trên địa bàn tỉnh như nhà máy bia Hà Nội Nghệ Tĩnh; Khu đô thị TNR stars Hồng Lĩnh; Khu công nghiệp cổng khánh 1, 2 Hồng Lĩnh.... Đây sẽ là nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy hoạt động xây dựng trên địa bàn trong thời gian tới. Vì vậy, dự ước giá trị xây dựng trên toàn tỉnh có dấu hiệu khởi sắc. Dự ước giá trị xây dựng quý I/2022 đạt 4.284,1 tỷ đồng tăng 7,26% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chính do một số công trình lớn trong quý triển khai xây dựng như nhà máy sản xuất Pin VinES, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II. Trong đó: khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thi công các công trình trên địa bàn tỉnh dự ước giá trị quý I/2022 đạt 1.955,45 tỷ đồng tăng 14,53% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 14,99 tỷ đồng giảm 69,58% với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do công trình được thực hiện bởi doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn giảm mạnh; loại hình khác đạt 2.313,67 tỷ đồng, tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn đạt 52,81 tỷ đồng, bằng 62,72% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm mạnh do công trình xã, phường, thị trấn quản lý đầu năm đang chờ giao vốn nên chưa triển khai thi công, ngoài ra các công trình lớn đòi hỏi kỹ thuật cao, cũng như tiến độ thi công nhanh, nhà thầu thi công chủ yếu là doanh nghiệp ngoài nhà nước. Khu vực hộ dân cư đạt 2.260,86 tỷ đồng, bằng 105,26% so cùng kỳ năm trước. 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động hiệu quả, thời gian qua Hà Tĩnh tập trung rà soát, đánh giá, đơn giản hóa quy trình, thủ tục hành chính theo hướng chủ động phục vụ doanh nghiệp, đảm bảo nhanh gọn và thuận lợi cho nhà đầu tư. Tính từ đầu năm đến ngày 21/3/2022, toàn tỉnh thành lập mới 290 doanh nghiệp, tăng 26,64% so cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký đạt 2.156 tỷ đồng, tăng 110,75 so cùng kỳ năm trước, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 7,44 tỷ đồng, tăng 66,45% so cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại sau khi tạm ngừng 170 doanh nghiệp (tăng 28,79% so với cùng kỳ). Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 36 doanh nghiệp giải thể (tăng 6 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2021), 191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động (giảm 4 doạnh nghiệp so với cùng kỳ). Nhìn chung, tổng số DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng so với cùng kỳ năm trước và cao hơn hẳn mức tăng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, bên cạnh đó số vốn bình quân trên một doanh nghiệp cao hơn so với cùng kỳ. Đây là những tín hiệu tích cực phản ánh sự chủ động và năng lực thích ứng linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp với dịch bệnh trong thời gian vừa qua. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2022 so với quý IV/2021, có 51,43% DN đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó có 20% khẳng định SXKD tốt lên; 31,43% khẳng định giữ ổn định), bên cạnh đó có tới 48,57% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Điều đó cho thấy rất nhiều doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý 1/2022 gặp khó khăn trong sản xuất, hoạt động kém hiệu quả hơn so với quý trước. Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2022 khả quan hơn so quý I/2022 khi có 82,86% DN nhận định SXKD quý II sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý I (trong đó 54,29% số DN dự báo tốt lên và 28,57% số DN dự báo giữ ổn định), chỉ có 17,14% số DN dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. Các ngành dự báo SXKD quý II/2022 tốt hơn và giữ ổn định so quý I/2022 gồm: Sản xuất đồ uống 100%; dệt 100%; sản xuất trang phục 100%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 100%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 100%. Trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 5 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là: "nhu cầu thị trường trong nước thấp" chiếm 65,7%, "tính cạnh tranh của hàng trong nước cao" chiếm 57,1%, “khó khăn về tài chính” chiếm 42,9%, “Thiếu nguyên, nhiên vật liệu” và “lý do khác” chiếm 37,1%. Các doanh nghiệp gặp khó khăn chủ yếu do ảnh hưởng của dịch bệnh và chiến tranh tại các nước tiêu thụ sản phẩm. 5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý I năm 2022, sản xuất nông nghiệp tập trung sản xuất vụ Xuân là vụ chính của cả năm. Sau giai đoạn ẩm ướt kéo dài, nguy cơ sâu bệnh và nấm tăng cao, tranh thủ thời tiết nắng ấm bà con nông dân tăng cường thăm đồng, chăm sóc, theo dõi để phòng ngừa sâu bệnh gây hại. Hiện cây lúa và cây lạc đang thời kỳ sinh trưởng mạnh nên bà con tập trung làm cỏ, điều tiết nước, phân bón và phòng trừ sâu bệnh, các loại rau quả và cây trồng cạn khác bà con cũng đang tập trung chăm sóc, vun xới và bón phân nhằm đảm bảo năng suất và sản lượng; Chăn nuôi tiếp tục ổn định và tăng nhẹ khi dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, tuy nhiên do giá thức ăn và chi phí tăng cao đang là khó khăn và rào cản cho ngành chăn nuôi; trồng rừng và sản xuất lâm nghiệp tiếp tục ổn định khi thời tiết thuận lợi; đánh bắt thủy sản tăng nhẹ, hiện nay chi phí về nhiên liệu tăng cao nên khó khăn cho ngư dân vươi khơi đánh bắt, hoạt động nuôi trồng vẫn cơ bản ổn định.    5.1. Trồng trọt 5.1.1. Kết quả sản xuất vụ Đông 2021-2022 - Cây ngô: Diện tích ngô lấy hạt vụ Đông 2021-2022 sơ bộ tăng 205 ha so với cùng kỳ, đạt 126,8% kế hoạch. Nguyên nhân diện tích ngô tăng so với cùng kỳ do vụ Đông năm 2020-2021 bị ảnh hưởng bởi lũ lụt vào trung tuần tháng 10/2020 nên diện tích giao trồng giảm. Bên cạnh việc sản xuất ngô lấy hạt thì diện tích ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi vụ Đông 2021-2022 sơ bộ đạt 946 ha, giảm 221 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô tăng 0,5 tạ/ha và sản lượng ngô tăng 1.016 tấn so với thực hiện cùng kỳ. Do cả diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô tăng so với cùng kỳ năm trước. - Cây khoai lang: Tổng diện tích sơ bộ đạt 1.545 ha, bằng 105,15% (tăng 76 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là cây khoai lang chiếm 98,3% tổng diện tích cây lấy củ có chất bột. Năng suất khoai lang giảm nhẹ 1,29 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất giảm nhưng do diện tích tăng khá nên sản lượng khoai lang vẫn tăng 289 tấn so với cùng kỳ năm trước. - Cây lạc: Diện tích lạc sơ bộ đạt 24 ha, giảm 1 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời tiết đầu vụ Đông ở Hà Tĩnh mưa nhiều làm cho việc gieo trồng lạc gặp khó khăn nên người dân ít gieo trỉa mà chủ yếu sản xuất lạc vụ Xuân. Năng suất lạc tăng 3,43 tạ/ha, với sản lượng lạc tăng 6 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây lạc chủ yếu được tập trung sản xuất vào vụ Xuân nên kết quả vụ Đông là không đáng kể. - Cây rau các loại: Diện tích nhóm rau, đậu, hoa và cây cảnh sơ bộ đạt 4.924 ha, bằng 104,67% (tăng 220 ha), trong đó: Diện tích rau các loại tăng 219 ha và chiếm đến 99,9% diện tích gieo trồng của nhóm cây trồng này. Nguyên nhân diện tích rau tăng là do vụ Đông năm trước nhiều diện tích rau ở các huyện đã gieo trỉa trước ngày 15/10/2020 bị ngập lụt gây hư hỏng, sau đó người dân không gieo trỉa lại nên diện tích đạt thấp. Năng suất các loại rau chỉ giảm nhẹ 0,11 tạ/ha nhưng do diện tích tăng nên sản lượng rau tăng 1.307 tấn so với cùng kỳ năm trước.  5.1.2. Kết quả sản xuất vụ Xuân 2022  Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Xuân 2022 ước tính đạt 100,5% kế hoạch (tăng 302 ha), so với cùng kỳ năm trước tăng 0,66% (tăng 394 ha). Diện tích lúa gieo thẳng ước đạt 51.444 ha, chiếm 85,9% tổng diện tích lúa; diện tích ngô ước tính giảm 3,7% (giảm 209 ha) so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,8% (tăng 146 ha) so với kế hoạch; diện tích khoai lang ước tính đạt 1.499 ha, giảm 1 ha so với cùng kỳ năm trước và giảm 18,4% (giảm 337 ha) so với kế hoạch; diện tích lạc ước tính giảm 17,3% (giảm 1.729 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 20,4% (giảm 2.116 ha) so với kế hoạch; diện tích rau các loại ước tính tăng 8% (tăng 402 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,8% (giảm 157 ha) so với kế hoạch. Như vậy, chỉ có diện tích lúa và ngô là đạt còn các loại cây trồng chủ lực khác vụ Xuân 2022 đều không đạt kế hoạch đặt ra và giảm hơn so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó giảm mạnh nhất là diện tích lạc.  Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng, đặc biệt là thăm đồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại cây trồng vụ Xuân.  5.1.3. Cây lâu năm  Cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Diện tích cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh có đến cuối năm 2021 là 31.499 ha, tăng 50 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích cây ăn quả là 19.101 ha, chiếm 60,6% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 670 ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích cao su là 8.491 ha, chiếm 27% tổng diện tích cây lâu năm, giảm 605 ha so với cùng kỳ năm trước và diện tích chè là 3.133 ha, chiếm 9,9% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 76 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh, hiện nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Hiện nay cây ăn quả trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định. 5.1.4. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại Hiện nay, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, trên cây lúa, bệnh đạo ôn phát sinh gây hại trên các giống Thiên ưu 8, BT09, VNR20, ADI168, Thái xuyên 111, Xi23…Tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 15-25%. Hiện nay, chỉ còn lúa của các địa phương là Hương Khê, Lộc Hà và thị xã Kỳ Anh là chưa bị nhiễm đạo ôn, còn lại tất cả các địa phương đều bị nhiểm bệnh, trong đó huyện Đức Thọ và huyện Hương Sơn nhiễm bệnh trên địa bàn toàn huyện. Diện tích lúa bị nhiểm bệnh đạo ôn tính đến ngày 16/3/2022 là 129,1 ha, trong đó nhiễm nặng là 13,15 ha, diện tích lúa được phòng trừ bệnh đạo ôn là 1.158 ha. Trên các loại cây trồng vụ Xuân khác chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng. Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang trong quá trình sinh trưởng mạnh nên cần tập trung phòng, trừ sâu bệnh để tránh thiệt hại, nhất là bệnh đạo ôn gây hại đối với cây lúa.  5.2. Chăn nuôi Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2022 ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Trong quý I/2022, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Sau khi tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu dịp Tết thì hiện nay người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, do giá thức ăn và các chi phí đang tăng cao đang là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới.  Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra một số dịch bệnh truyền nhiễm đối với đàn vật nuôi, cụ thể: Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 18 xã/7 huyện (Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, Lộc Hà); số con mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 248 con, với trọng lượng 14,5 tấn. Tính đến ngày 16/3/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 2 xã của huyện Cẩm Xuyên (xã Cẩm Hà và xã Yên Hòa) và 1 xã của huyện Đức Thọ (xã Quang Vĩnh) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày. Dịch lở mồm long móng xẩy ra trong tháng 2/2022 tại thị trấn Đức Thọ và xã Kỳ Bắc với số lượng chỉ có 2 con trâu, 2 con bò mắc bệnh và đã được điều trị khỏi bệnh.  5.3.Lâm nghiệp  Thời gian qua, điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho việc trồng cây nên các chủ rừng đã tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2022. Vì vậy, kết quả trồng rừng tập trung trong tháng 3 và cả quý I/2022 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng đầu năm 2022 tăng 39 ha so với cùng kỳ năm trước. Việc trồng cây xanh phân tán để tạo môi trường sống trong lành luôn được các địa phương quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây xanh ở các đô thị và khu dân cư ngày càng thu hẹp nên kết quả trồng cây phân tán quý I/2022 giảm 79 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng sản xuất nên thường thiếu ổn định giữa các tháng. Kết quả sản lượng gỗ khai thác trong quý I/2022 tăng 1.894 m­3 so với cùng kỳ năm trước.  Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 11 vụ phá rừng (tăng 6 vụ), với diện tích rừng bị phá là 3,66 ha (tăng 2,14 ha) so với cùng kỳ năm trước.  5.4. Thủy sản Sản lượng thủy sản tháng 3 năm 2022 ước đạt 4.750 tấn, tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.492 tấn, tăng 4,21%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.258 tấn, tăng 1,37%; Quý I năm 2022, sản lượng thủy sản ước đạt 12.688 tấn, tăng 2,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 9.537 tấn, tăng 2,53%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.151 tấn, tăng 1,78%. Tháng 3 cũng như 3 tháng đầu năm 2022, hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định, sản lượng có tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không cao. Trong quý I/2022,sản lượng hải sản khai thác biển chiếm 75% tổng sản lượng thủy, hải sản trong khi điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển không có nhiều thay đổi nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Thời gian qua, do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, việc sử dụng dịch vụ ăn uống ngoài gia đình giảm mạnh nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản cũng giảm đáng kể. Mặt khác, tuy giá bán sản phẩm ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác tăng cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn khi vươn khơi đánh bắt hải sản. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng cũng chưa có bước đột phá gì đáng kể, cơ bản duy trì diện tích nuôi trồng hiện có ở các địa phương có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản. Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến ngày 16/3/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra dịch bệnh đối với tôm nuôi. Bệnh đốm trắng với diện tích nhiễm bệnh là 1,41 ha và bệnh hoại tử với diện tích nhiễm bệnh là 0,27 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, tiến hành dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm. 6. Sản xuất công nghiệp Ngành công nghiệp quý I/2022 nhìn chung giảm so với cùng kỳ. Nguyên nhân do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng trong những tháng đầu năm 2022 gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng hoạt động để tiến hành sửa chữa nên sản lượng sản xuất giảm mạnh. Ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,18% so với cùng kỳ). Sản xuất thép của công ty Formosa là ngành chiếm tỷ trọng cao (trên 70%) trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp nhưng do các tháng đầu năm có sự biến động về giá ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu đầu vào nên công ty này đã giảm sản lượng sản xuất, sản lượng thép giảm 3,74% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 3/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự ước tăng do sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán, các doanh nghiệp trở lại hoạt động bình thường. So với tháng 2/2022 ước tính tăng 14,73% và giảm 1,46% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước quý 1/2022, chỉ số sản xuất giảm 8,74% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,56%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,95% làm giảm 1,02 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,1%, làm giảm 6,34 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,86%, làm giảm 1,43 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Tính chung 3 tháng đầu năm 2022, trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 14 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng và 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 7 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 33,23%; ngành sản xuất sản phẩm từ giấy tăng 22,38%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 16,82%... Bên cạnh đó có,6 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm mạnh làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 52,48%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 43,15%.... Một số sản phẩm chủ yếu: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu quý 1 năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước: Bao bì và túi bằng giấy (trừ giấy nhăn) tăng 265,22%; Chè (trà) nguyên chất tăng 121,18%; quặng inmenit và tinh quặng inemit tăng 304 tấn (tăng 78,68%); bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 65,65%; nước uống được tăng 18,36%; …Một số sản phẩm giảm: Điện sản xuất giảm 38,04%; mực đông lạnh giảm 20,31%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 12,77%; nước không uống được giảm 9,79%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 7,58%... Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước quý 1/2022 giảm 3,82% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 3 tháng đầu năm 2022, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp gặp khó khăn hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm do ảnh hưởng của dịch bệnh cũng như biến động thị trường, giá cả trong thời gian qua. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm là do mức tiêu thụ của một số ngành giảm mạnh so với cùng kỳ, đặc biệt là 5 nhóm ngành: sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 77,17%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 69,91%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 64,49%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 39,96%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 37,93%; …Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng: sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 146,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 32,72%; sản xuất trang phục tăng 6,56%; sản xuất đồ uống tăng 5,37%; … Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2022 tăng 42,11% so với tháng trước và tăng 31,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm sợi của Công ty Vinatex Hà Tĩnh (tăng 388,12%) và sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 181,97% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. Ngoài ra chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ do một số ngành như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 52,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 39,31%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng 3/2022 tương đối ổn định, không có sự thay đổi nhiều so với tháng 2/2022. Lao động của toàn ngành công nghiệp tháng 3/2022 tăng 1,69% so với tháng 2/2021. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước giảm 4,83% và cộng dồn 3 tháng đầu năm giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 3 tháng đầu năm 2022 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm 8,43% so với cùng kỳ năm trước. 7. Thương mại, dịch vụ Hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 3 năm 2022 có phần sôi động hơn so với những tháng trước khi Chính phủ ban hành Nghị định 15/2022/NĐ-CP quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị định 43/2022/QH15, trong đó điểm nhấn là chính sách giảm 2% thuế suất GTGT trong năm 2022, cùng với chương trình phục hồi và phát triển kinh tế với quy mô 350 nghìn tỷ của Chính phủ đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển trở lại. Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 trên diện rộng, số ca lây nhiễm tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng. Giá cả nguyên nhiên vật liệu và hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao nên quý I năm 2022 hoạt động kinh doanh hàng hóa, vận tải và dịch vụ đều giảm so với cùng kỳ năm trước. 7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa - Tổng mức bán lẻ hàng hóa  tháng 3 năm 2022 ước đạt 3.481,81 tỷ đồng, giảm 3,81% so với tháng trước và tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như sau: gỗ và vật liệu xây dựng tăng 8,17%, ô tô con tăng 18,62%; xăng dầu các loại tăng 35,38%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 40,05%; đá quý, kim loại tăng 13,7%. Tháng 3 thị trường hàng hóa có xu hướng sôi động hơn khi có mức tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện một số chính sách phục hồi và phát triển kinh tế của Chính phủ, tuy nhiên vẫn còn nhiều gặp khó khăn do diễn biến phức tạp của dịch Covid- 19 cộng với sự điều chỉnh tăng giá xăng dầu, nhiên liệu. -  Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý 1 năm 2022 ước đạt 11.305,81 tỷ đồng, giảm 2,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 5.004,33 tỷ đồng, giảm 3,84%; hàng may mặc ước đạt 504,09 tỷ đồng, giảm 26,7%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.004,66 tỷ đồng, giảm 22,42%; vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 68,62 tỷ đồng, tăng 2,78%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 538,70 tỷ đồng, tăng 10,9%; ô tô ước đạt 1.019,28 tỷ đồng, giảm 1,53%; phương tiện đi lại ước đạt 623,61 tỷ đồng, tăng 7,34%; xăng dầu các loại ước đạt 1.244,29 tỷ đồng, tăng 32,24%; nhiên liệu khác ước đạt 239,13 tỷ đồng, tăng 36,82%; đá quý, kim loại quý các loại ước đạt 198,91 tỷ đồng, tăng 6,62%; hàng hóa khác ước đạt 556,48 tỷ đồng, giảm 16,34%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt 303,7 tỷ đồng, tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong quý I năm 2022 vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn so với cùng kỳ năm trước. Quý 1/2021, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh chưa bùng phát, điều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn đầu năm nay. Cùng với đó, việc giá xăng dầu tăng liên tục 7 lần kể từ cuối tháng 12/2021 đến nay khiến chi phí sản xuất, vận chuyển và thu nhập của người dân đều bị ảnh hưởng. Những yếu tố này đã làm cho tổng doanh thu bán lẻ trong quý 1/2022 giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Dự báo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn trong thời gian tới có xu hướng tăng nhờ độ phủ vaccine Covid-19 và các chính sách kích cầu kinh tế, dịch bệnh dần kiểm soát và thích ứng với trạng thái bình thường mới. Lượng cung hàng hóa vẫn dồi dào về số lượng, đa dạng về chủng loại, đảm bảo về chất lượng và sẽ đáp ứng được đầy đủ sức mua của người tiêu dùng. Một số nhóm hàng hóa có thể sẽ tăng cao như: Hàng lương thực, thực phẩm; hàng may mặc; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình; vật liệu xây dựng...    7.2. Hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác 7.2.1. Hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 3/2022 dự tính đạt 229,01 tỷ đồng, tăng 8,93% so với tháng trước, giảm 48,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: dịch vụ l­ưu trú ước đạt 8,5 tỷ đồng, tăng 14,84% so với tháng trước, giảm 48,52%; dịch vụ ăn uống ước đạt 220,51 tỷ đồng, tăng 8,72% so với tháng trước, giảm 48,2% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước do tháng trước trùng vào dịp Tết Nguyên Đán và rằm tháng Giêng nên nhu cầu về lưu trú và ăn uống ngoài gia đình giảm. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm do cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 bùng phát trên diện rộng, mức độ dịch bao phủ khắp nơi ảnh hưởng đến mọi hoạt động của đời sống kinh tế xã hội. Tính chung quý 1 năm 2022, doanh thu hoạt động l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 698,58 tỷ đồng, giảm 46,72% so với cùng kỳ, trong đó: l­ưu trú đạt ước 24,57 tỷ đồng, giảm 49,47%; ăn uống ước đạt 674 tỷ đồng, giảm 46,61%. Nguyên nhân như đã nói ở trên do ảnh hưởng dịch Covid- 19 nên người dân e ngại trong việc đi du lịch và ăn uống bên ngoài. 7.2.2. Doanh thu hoạt động dịch vụ khác Doanh thu dịch vụ khác tháng 3 năm 2022 ước tính đạt 170,05 tỷ đồng, tăng 9,11% so với tháng trước và giảm 2,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giảm mạnh nhất ở nhóm dịch vụ vui chơi giải trí giảm 66,54% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó một số nhóm dịch vụ lại có chỉ số tăng như nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 13,92% do thị trường về bất động sản từ cuối năm 2021 đến nay rất sôi động do hoạt động mua đi bán lại của các “cò đất”; nhóm có doanh thu tăng mạnh thứ hai là nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,58% do nhu cầu về xây dựng tăng tăng cao nên dịch vụ cho thuê máy móc công trình và các thiết bị hỗ trợ tăng; dịch vụ khác tăng 7,1%. Quý 1 năm 2022, doanh thu dịch vụ khác thực hiện ước đạt 515,98 tỷ đồng, giảm 0,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm dịch vụ vui chơi giải trí giảm 72,67% là nhóm có chỉ số giảm mạnh nhất do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid- 19 nên một số dịch vụ vui chơi giải trí phải đóng cửa. Nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 18,54%, nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 13,86%. Bên cạnh đó một số nhóm có chỉ số tăng như: nhóm kinh doanh bất động sản tăng 13,92%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,25%; dịch vụ khác tăng 11,61%. Nhìn chung, trong quý I/2022, dịch vụ vui chơi giải trí giảm mạnh nhưng bên cạnh đó thị trường bất động sản tiếp tục sôi động, nhu cầu về dịch vụ cho thuê máy móc công trình tăng để phục vụ nhu cầu san lấp mặt bằng cho các công trình lớn như công trình Nhà máy sản xuất Pin VinES, nhà máy nhiệt điện…nên làm cho doanh thu dịch vụ chỉ giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 7.3. Hoạt động kinh doanh vận tải - Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 3 năm 2022 ước đạt 318,97 tỷ đồng, tăng 3,6% so tháng trước và giảm 30,92% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 50,80 tỷ đồng, giảm 2,3% so với tháng trước và giảm 62,59% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 204,41 tỷ đồng, tăng 3,18% so với tháng trước và giảm 17,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 63,7 đồng, tăng 10,37% so với tháng trước và giảm 18,27% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 3/2022 ước tính tăng so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do những nguyên nhân sau: Vận tải hành khách: Doanh thu trong tháng giảm do yếu tố thời vụ. Sau dịp tết Nguyên đán cổ truyền, nhu cầu đi lại giảm hơn so với tháng trước, cùng với đó là các đơn vị kinh doanh vận tải điều chỉnh giảm giá cước khiến cho doanh thu vận tải hành khách giảm. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu vận tải hành khách giảm mạnh do ảnh hưởng dịch Covid-19 trên diện rộng nên nhu cầu đi lại của người dân rất hạn chế. Vận tải hàng hóa: Thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng, các công trình xây dựng cơ bản tiếp tục thi công sau dịp nghỉ Tết. Các hoạt động kinh doanh trở lại bình thường, nhu cầu vận tải hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất, hàng hóa xuất nhập khẩu như thủy sản, dăm gỗ, thép... tăng mạnh. Đó là những nguyên nhân chính khiến cho doanh thu vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước. Tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước lại giảm do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 nên việc lưu thông hàng hóa và mức tiêu thụ hàng hóa giảm hơn. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trong tháng tăng, lượng hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty Cổ phần Cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng, đó là nguyên nhân chính khiến cho doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng. - Tính chung quý I năm 2022, hoạt động vận tải dự tính đạt 985,45 triệu đồng, giảm 30,32% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: vận tải hành khách ước tính đạt 151,90 đồng, giảm 64,83%; vận tải hàng hóa ước tính đạt 640,80 tỷ đồng, giảm 15,36%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 192,57 tỷ đồng, giảm 14,52% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải quý I năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước do năm nay dịch Covid- 19 bùng phát trên diện rộng nên nhu cầu đi lại của người dân giảm mạnh, cùng với đó việc lưu thông hàng hóa gặp khó khăn và mức tiêu thụ hàng hóa giảm. Chịu ảnh hưởng nặng nề là vận tải hành khách khi doanh thu giảm hơn 60%, lượng khách vận chuyển giảm hơn 70% so với cùng kỳ năm trước. Các công ty vận tải đường dài chỉ hoạt động cầm chừng, cắt giảm quy mô từ 10 xe xuống còn 2 đến 3 xe hoạt động vì chi phí tăng cao trong khi lượng khách mỗi chuyến giảm đáng kể. Không chỉ các công ty vận tải đường dài gặp khó khăn, các hãng taxi trên địa bàn cũng trải qua giai đoạn “lao đao” nhất trong nhiều năm trở lại đây, số đầu xe hoạt động chỉ chiếm khoảng 60% trên tổng số xe, số còn lại hiện đang nằm bãi, nhiều tài xế taxi phải xin nghỉ việc. Hiện nay các công ty vận tải đang đề xuất lên cơ quan chức năng xem xét cho tăng giá cước. 7.4. Hoạt động xuất nhập khẩu: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 3 năm 2022 ước đạt 327,5 triệu USD, giảm 11,5% so với tháng trước và giảm 31,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 1057,8 triệu USD, giảm 7,15% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất nhập khẩu chủ yếu của Công ty Formosa chiếm trên 90% tổng kim ngạch nhưng do các tháng đầu năm ảnh hưởng biến động giá, nguồn nguyên liệu đầu vào tăng cao nên công ty này đã giảm sản lượng sản xuất nên kim ngạch xuất nhập khẩu giảm đáng kể.   Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 năm 2022 ước đạt 117,5 triệu USD, tăng 12,87% so với tháng trước, giảm 36,16% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2022 ước đạt 328,57 triệu USD, giảm 23,5% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực đạt 282,41 triệu USD, giảm 25,55%; các mặt hàng khác như: xơ, sợi dệt các loại đạt 3,68 triệu USD, dăm gỗ đạt 14,08 triệu USD, hàng may mặc 3,32 triệu USD… đều tăng nhưng lại chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 năm 2022 ước đạt 210 triệu USD, giảm 21,05% so với tháng trước, giảm 28,56% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2022 ước đạt 729,22 triệu USD, tăng 2,75% so với cùng kỳ; nhập khẩu của Formosa chiếm tỷ trọng 87,14%, chủ yếu nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thép. 8. Các vấn đề xã hội         8.1. Dân số, lao động và việc làm Nhìn chung quý I năm 2022, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với năm trước. Từ những tháng cuối năm 2021, nhiều doanh nghiệp đã khởi động các kế hoạch đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao nhu cầu sử dụng lao động. Bên cạnh đó, mặc dù dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào đầu năm 2022, nhưng với sự quan tâm và chỉ đạo của chính quyền các cấp nên các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại và dịch vụ vẫn hoạt động bình thường với phương châm vừa sản xuất vừa chống dịch. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I năm 2022 ước tính 523.204 người, so với quý trước tăng 0,82% và tăng 1,06% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động là nam 274.691 người (chiếm 52,5% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 130.806 người (chiếm 25% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 496.815 người, chiếm 94,96% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; so với quý trước tăng 0,22% và tăng 0,61% so với cùng kỳ năm 2021. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 127.630 người, chiếm 25,69% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 261.798 người, chiếm 52,7%; số người không có việc làm (thất nghiệp) là 26.389 người (chiếm 5,04% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,4%; tăng 0,18 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 4%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 31,74% trong tổng số (tương ứng 157.680 người), giảm 0,32 điểm phần trăm so với quý trước và 0,33 điểm phần trăm so cùng kỳ năm 2021; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 28,81% ( tương ứng 143.109 người), lần lượt tăng 0,05 điểm phần trăm và 0,92 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 39,46% (tương ứng 196.026 người), lần lượt tăng 0,27 điểm phần trăm và giảm 0,6 điểm phần trăm. Ước tính quý I/2021 số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 6.498 người, tăng 9,17% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 6.279 người, chiếm 96,63% tổng số; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 23 người, chiếm 0,35%; xuất khẩu lao động 196 người, chiếm 3,02%. 8.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh quý I năm 2022 vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù thời tiết tương đối thuận lợi, trên địa bàn tỉnh không xảy ra đợt thiên tai góp phần ổn định tình hình sản xuất kinh doanh của người dân.Tuy nhiên, trong tháng 2 xảy ra một đợt rét kéo dài, UBND tỉnh đã chủ động hỗ trợ mua 16 tấn gạo cứu đói cho 204 hộ (667 khẩu) đồng bào dân tộc Chứt tại địa bàn xã Hương Liên và Hương Vĩnh, huyện Hương Khê. Ngoài ra trong bối cảnh dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, các cấp chính quyền đã đặc biệt quan tâm, hỗ trợ các đối tượng yếu thế kịp thời. Tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Quý I năm 2022 Hà Tĩnh đã trao tặng khoảng 242.220 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 88,158 tỷ đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 100.668 suất quà trị giá 28,583 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ nghèo khoảng 32.285 suất quà trị giá 16,594 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ cận nghèo khoảng 18.291 suất quà trị giá 8,753 tỷ đồng; Tặng quà cho người cao tuổi khoảng 37.207 suất quà trị giá 10,656 tỷ đồng; Tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 10.203 suất quà trị giá 4,141 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 43.566 suất quà trị giá 19,431 tỷ đồng. Bên cạnh đó cấp khoảng 19.035 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo,37.115 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 83.855 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 40.500 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Bên cạnh đó, đã cấp khoảng 19.416 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 29.789 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 124.254 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 37.101 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Nhìn chung công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. 8.3. Giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông:Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 244 và 245/QĐ-SGDĐT ngày 14/3/2022 về việc đặc cách công nhận học sinh giỏi tỉnh năm học 2021-2022 cho 91 em có chứng chỉ IELTS môn tiếng Anh lớp 10 và 11, việc đặc cách công nhận học sinh giỏi tỉnh cho những học sinh có chứng chỉ quốc tế nhằm động viên, khuyến khích phong trào học tập và nâng cao chất lượng dạy, học tiếng Anh trong các nhà trường. Chủ trương này được Hà Tĩnh thực hiện từ năm 2018 và đến nay đã có nhiều tỉnh, thành áp dụng. Ngày 15/3/2022, Hà Tĩnh đã tổ chức Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 10 năm học 2021-2022 với sự tham gia 975 học sinh lớp 10 và 1.147 học sinh lớp 11 đến từ các trường trung học phổ thông trên toàn tỉnh tham gia. - Giáo dục đào tạo: Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Trong đó chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghềcập nhật thông tin thị trường lao động. Với những nỗ lực đó, trong quý I năm 2022 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề và cấp chứng chỉ cho 3.599 người. Trong đó: cao đẳng nghề 42 người (chiếm 1,17%); trình độ trung cấp 1.802 người (chiếm 50,07%); trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng 1.755 người (chiếm 48,76%). 8.4. Hoạt động Y tế Trong Quý I năm 2022 tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, số ca nhiễm mới trong cộng đồng tăng cao. Trước tình hình đó, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các biện pháp chống dịch; phát huy vai trò của Tổ giám sát, tuyên truyền phòng, chống Covid-19 dựa vào cộng đồng (Tổ Covid-19 cộng đồng); tiếp tục kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc phòng chống dịch: ngăn chặn, truy vết, xét nghiệm, cách ly, khoanh vùng dập dịch với quy mô phù hợp; vừa đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19 vừa thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài. Tổng số ca mắc từ ngày 1/01/2022 đến ngày 21/03/2022 là 32.206 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 33.830 ca mắc. Cộng dồn tổng F1 đã truy vết (từ 4/6 đến nay) 113.535 ca số đã hoàn thành cách ly 75.134, số còn cách ly: 38.401.. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 29.399 ca, trong đó đã có 24.024 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh Covid chuyển các Bệnh viện tuyến trên 87 ca. Điều trị khỏi 28.012 BN, trong đó có 80 BN tuyến trên, 27.932 BN tại Hà Tĩnh, 30 BN tử vong. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, số xã phường đánh giá cấp độ dịch ở cấp 1 là 87 xã, phường; ở cấp độ 2 là 108 xã phường, còn lại 21 xã, phường đánh giá cấp 3. - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca sốt xuất huyết, 17 ca mắc bệnh quai bị, 23 ca mắc lỵ trực trùng; 31 ca mắc lỵ a míp; 19 ca mắc bệnh thủy đậu, 816 ca mắc bệnh cúm, 139 ca tiêu chảy, viêm gan vi rút khác 8 ca và không có người chết vì do các bệnh trên. Tính chung Quý I năm 2022, toàn tỉnh có 3 ca mắc sốt xuất huyết (năm trước không xảy ra), 0 ca mắc sốt rét (giảm 1 ca so với năm trước), 0 ca viêm não do vi rút (không đổi), 25 ca mắc bệnh quai bị (tăng 127,27%), 45 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 45,16%); 69 ca mắc lỵ a míp (tăng 53,33%); 50 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 72,53%), 2.631 ca mắc bệnh cúm (giảm 55,25%), tiêu chảy 400 ca (giảm 46,02%), viêm gan vi rút khác 17 ca (giảm 39,28%) tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, ngành Y tế Hà Tĩnh đã hướng dẫn cho bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Kết quả, trong thời gian qua, công tác phòng chống dịch HIV/AIDS của Hà Tĩnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trong tháng, có 3 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: số người nhiễm mới HIV giảm 7 ca (giảm 70,0%), số người chuyển thành AIDS giảm 5 ca (giảm 83,33%), số người chết vì AIDS không đổi. Quý I năm 2022, có 6 người nhiễm mới HIV, 3 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước: giảm 8 ca (giảm 57,14%), giảm 7 ca (giảm 70%), số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Hưởng ứng ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam (15/3) năm 2022, tại Hà Tĩnh đã tổ chức các hoạt động với chủ đề “Tiêu dùng an toàn trong thời kỳ mới” nhằm mục đích đưa luật và các văn bản liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đến với mọi người. Trong tháng, không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Quý I năm 2022, xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 ca bị ngộ độc, ngoài ra có 120 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, giảm 8 ca ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 202 ca (giảm 62,73%), số ca tử vong không đổi. 8.5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn, qua quá trình khảo sát, đánh giá, ngày 18/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 613/QĐ-UBND về việc xếp hạng 6 di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh. Các di tích được công nhận sẽ là cơ sở để chính quyền và Nhân dân các địa phương quan tâm bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị của các di sản. Như vậy, tính đến tháng 3 năm 2022, tỉnh Hà Tĩnh đã có 623 di tích được xếp hạng di tích trong đó 2 di tích quốc gia đặc biệt, 86 di tích cấp quốc gia và 535 di tích cấp tỉnh. Nhìn chung, những tháng đầu năm 2022, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên Hà Tĩnh đã tạm dừng tổ chức các loại hình lễ hội, các hoạt động được triển khai với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước, đặc biệt là tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 92 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 92 năm thành lập Đảng bộ tỉnh; mừng Xuân Nhâm Dần... Toàn tỉnh thay mới hơn 2.000m2 tranh cổ động tấm lớn, pano, áp phích các loại và hàng trăm lượt khẩu hiệu, băng rôn, cờ tổ quốc; tổ chức 50 buổi tuyên truyền lưu động. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Quý I năm 2022, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức kiểm tra 105 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo, treo biển hiệu và tổ chức kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các di tích dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. Qua kiểm tra, đã lập biên bản kiểm tra nhắc nhở 70 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 4 trường hợp với số tiền 23 triệu, yêu cầu ký cam kết khắc phục cải tạo, sửa chữa biển hiệu đối với 5 cơ sở kinh doanh. Bên cạnh đó, đã cấp 47 giấy phép, trong đó có 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa, 16 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, 1 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch... - Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Quý I năm 2022, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 3 giải đấu, đạt 44 huy chương các loại (15 huy chương vàng, 11 huy chương bạc, 18 huy chương đồng), trong đó tại Giải Vô địch các câu lạc bộ Pencak Silat quốc gia năm 2022 diễn ra từ ngày 4-11/3 ở Cao Bằng, đoàn Hà Tĩnh giành được 9 huy chương các loại (1 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, 5 huy chương đồng); tại Giải Vô địch Karate miền Trung – Tây Nguyên diễn ra từ 11-14/3, Hà Tĩnh giành vị trí nhất toàn đoàn với 35 huy chương các loại (14 huy chương vàng, 8 huy chương bạc, 13 huy chương đồng). Thể thao quần chúng: Hoạt động thể thao tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phù hợp và thích ứng với diễn biễn mới của dịch Covid -19. Một số hoạt động thể thao nổi bật như: giải bóng chuyền bãi biển toàn tỉnh (từ ngày 4-12/3) trong khuôn khổ Đại hội Thể dục Thể thao (TDTT) lần thứ IX tỉnh Hà Tĩnh năm 2022; huyện Nghi Xuân tổ chức giải bóng chuyền nữ toàn huyện trong thời gian tới sẽ tổ chức giải kéo co toàn huyện... 8.6. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội - Về an toàn giao thông:Tính từ ngày 15/02/2022 - 14/3/2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 3 vụ tai nạn đường bộ so với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ, làm 1 người chết (giảm 5 người), 1 người bị thương (giảm 5 người), thiệt hại 70 triệu đồng. Tính chung quý I năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/3/2022) đã xẩy ra 20 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 18 người chết, 11 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 260 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2021 giảm 4 vụ (giảm 16,67%), số người chết và người bị thương không đổi. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. 8.7. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/02/2022 đến ngày 14/3/2022 trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ cháy làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ cháy không đổi, tăng người chết và số người bị thương không thay đổi; trong tháng không xảy ra vụ nổ. Tính chung quý I/2022 (từ ngày 15/12/2021-14/3/2022) đã xảy ra 6 vụ cháy,nổ làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 235 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ (giảm 33,33%), giảm 1 người chết (giảm 50%), số người bị thương không đổi. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/02/2022 đến ngày 14/3/2022 đã phát hiện 14 vụ, đã xử lý 3 vụ, tổng số tiền xử phạt 0,8 triệu đồng; so với tháng trước: giảm 292 vụ đã phát hiện (giảm 95,42 %), giảm 240 vụ đã xử lý (giảm 98,77%), giảm số tiền nộp phạt 650,28 triệu đồng (giảm 99,88%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 4 vụ đã phát hiện (tăng 40,0%), giảm 5 vụ đã xử lý (giảm 62,50%), số tiền xử phạt giảm 34,20 triệu đồng (giảm 97,71%). Quý I năm 2022 (ngày 15/12/2021 - 14/3/2022) đã phát hiện 371 vụ, đã xử lý 266 vụ, tổng số tiền xử phạt 878,88 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước: tăng 337 vụ (tăng 9,91 lần), tăng 249 vụ đã xử lý (tăng 14,65 lần), tăng số tiền nộp phạt 730,93 triệu đồng (tăng 4,94 lần).Vi phạm môi trường đã phát hiện trong quý I chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 335 vụ (chiếm 91,28%);vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 21 vụ (chiếm 5,72%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 11 vụ (3%).Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   16/07/2024 17:05

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông , lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện thời thiết tương đối thuận lợi nên diện tích lúa xuân sinh trưởng và phát triển tốt. Các địa phương cơ bản tuân thủ lịch thời vụ và cơ cấu giống nên lúa sinh trưởng đồng đều, đảm bảo thời vụ sinh trưởng; hầu như không xảy ra hiện tượng lúa bị chết do rét đậm, rét hại một số ngày qua. Hiện nay người dân đang tổ chức ra quân giặm tỉa, phòng trừ một số loại sâu bệnh và chuẩn bị bón thúc đẻ nhánh; Hoạt động chăn nuôi cơ bản ổn định và từng bước phát triển trong việc tái đàn ở đàn lợn, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát; Trồng rừng và khai thác gỗ tăng nhẹ, cây trồng phân tán đạt khá so với tháng trước do thực hiện Tết trồng cây Xuân Nhâm Dần; Sản xuất thủy sản được duy trì và có mức tăng nhẹ. 1. Sản xuất nông nghiệp                 1.1. Trồng trọt   Trong tháng 02, sản xuất trồng trọt chủ yếu tập trung gieo trồng các loại cây vụ Xuân năm 2022. Tính đến ngày 14/02/2022, tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2022 đạt được như sau: Toàn tỉnh đã gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 99,8% kế hoạch, trong đó: Diện tích lúa cấy là 7.897 ha (chiếm 13,3% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 51.565 ha (chiếm 86,7% tổng diện tích gieo cấy). Cơ cấu giống lúa chủ yếu là nhóm giống P6, Nếp, HT1, Bắc Thịnh, ADI168, KDĐB, KD18, LP5,.vv. chiếm trên 95% tổng diện tích gieo cấy. Một số địa phương đã có diện tích gieo cấy vượt kế hoạch như: Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà và huyện Kỳ Anh. Cùng với gieo trồng lúa thì trong tháng 02/2022 bà con nông dân cũng đã xuống giống sản xuất các loại cây trồng vụ Xuân. Tuy nhiên, do thời gian qua bà con nông dân đang tập trung gieo cấy lúa và điều kiện thời tiết mưa rét nên tiến độ sản xuất các loại cây trồng cạn vụ Xuân tính đến ngày 14/02/2022 vẫn đạt thấp so với kế hoạch. Tháng 02/2022, trùng vào dịp tết Nguyên đán nên sau Tết cùng với việc chăm sóc diện tích cây đã gieo trồng thì bà con nông dân tiếp tục sản xuất gieo trỉa các loại cây trồng cạn vụ Xuân 2022 theo kế hoạch và đảm bảo khung lịch thời vụ. Nhìn chung, tuy điều kiện thời tiết có rét đậm nhưng hiện nay các loại cây trồng vụ Xuân 2022 đã sản xuất đang phát triển tốt. - Thiên tai, dịch bệnh: Trong tháng 02/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh tuy có mưa rét nhưng không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng vụ Xuân 2022. Sâu bệnh chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng.  1.2. Chăn nuôi  Tháng 02/2022, các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát nên hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Đầu tháng 02/2022, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh dịp Tết vừa qua tương đối dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp Tết, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Sau khi tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu dịp Tết thì hiện nay người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, do giá thức ăn và các chi phí đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 16/02/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 5 xã trên địa bàn 4 huyện (Vũ Quang 2 xã, Thạch Hà 1 xã, Cẩm Xuyên 1 xã và huyện Kỳ Anh 1 xã) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày và hiện đang còn có 7 hộ ở 6 thôn đang có dịch. Tổng số lợn bị ốm chết, buộc tiêu hủy ở các địa bàn chưa qua 21 ngày là 35 con với trọng lượng 2.600 kg.  2. Lâm nghiệp Trong tháng 02 trùng vào dịp Tết trồng cây Xuân Nhâm Dần nên số lượng cây trồng phân tán tăng hơn so với tháng trước. Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây của các địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng thu hẹp nên số lượng cây trồng phân tán giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Cùng với trồng cây phân tán thì hoạt động trồng rừng sản xuất vụ Xuân năm 2022 và khai thác gỗ cũng đang được các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện và có kết quả tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.  Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/02/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 6 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 2,42 ha. 3. Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 02 cũng như 2 tháng đầu năm 2022 vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân do thu hoạch sản lượng nuôi trồng phục vụ nhu cầu dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần. Mặt khác, từ tháng 12 năm trước kéo dài đến tháng 3 năm sau là mùa cá trích, ruốc…xuất hiện nhiều nhất. Những chuyến biển của ngư dân thường bắt đầu từ buổi tối đến rạng sáng ngày hôm sau và chủ yếu đánh bắt vùng lộng gần bờ bằng tàu thuyền cỡ nhỏ nên cũng ít tốn kém chi phí hơn, trong khi những chuyến biển đầu năm đạt khá nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác. Thời gian tới, khi giá nhiên liệu tăng cao sẽ là khó khăn rất lớn đối với hoạt động khai thác hải sản. - Dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh. 2. Sản xuất công nghiệp (IIP) Tháng 2 năm 2022 là thời điểm nằm trong dịp tết nguyên đán, thời gian nghỉ kéo dài; bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, số ca nhiễm tăng nhanh sau đợt nghỉ Tết đã tác động xấu đến sản xuất ngành công nghiệp. Chỉ số sản xuất tháng 02 năm 2022 dự ước giảm 4,81% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 giảm 17,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,47%; công nghiệp chế biến chế tạo giảm 15,16%; sản xuất và phân phối điện giảm 31,38%; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 5,1%. Chỉ số sản xuất tháng 01 giảm là do trùng vào dịp lễ Nguyên Đán các doanh nghiệp hoạt động sản xuất ít ngày hơn, bên cạnh đó nhu cầu một số mặt hàng giảm làm cho sản lượng khai thác giảm xuống. Chỉ số sản xuất tháng 02 năm 2022 dự ước tăng 9,02% so với tháng trước và giảm 4,81% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 vẫn ngừng hoạt động do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin máy phát không làm việc vì mất nguồn điện chính và dự phòng sản lượng điện sản xuất giảm. Tính chung 2 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 11,5% so với cùng kỳ năm trước. trong đó, ngành sản xuất phân phối điện khí đốt có mức giảm sâu (giảm 34,18%). Nguyên nhân do giá thép đang có xu hướng giảm, đặc biệt giá nguyên liệu, nhân công tăng cao nên Công ty Formosa giảm sản lượng sản xuất so cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022 trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có 12 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 51,18%; ngành in, sao chép bản ghi các loại tăng 20,59%; ngành sản xuất đồ uống tăng 16,18%; ngành khai khoáng khác tăng 14,86%... Bên cạnh đó có 6 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 34,18%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 28,1%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 14,89%.... Nhìn chung chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính đến cuối tháng 02 năm 2022 ước giảm so với cùng kỳ năm trước do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng trong tháng giảm sản lượng, gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng sữa chữa thiết bị, máy móc. Dự báo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 3/2022: Sản xuất công nghiệp có sự ổn định trở lại do các doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 02/2022 đạt 293.813 triệu đồng, bằng 64,77% so với tháng trước, bằng 116,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 230.541 triệu đồng, giảm 37,45% (giảm 138.027 triệu đồng) so với tháng trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 59.134 triệu đồng, giảm 20,86% (giảm 15.591 triệu đồng) so với tháng trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 4.138 triệu đồng, giảm 60,06% (giảm 6.222 triệu đồng) so với tháng trước. Tháng 2/2022 trùng dịp tết Nguyên đán, thời gian nghỉ lễ kéo dài, các công trình xây dựng tạm thời ngừng thi công. Dự án khởi công mới, dự án chuyển tiếp chờ giao vốn năm 2022 đang hoàn thiện hồ sơ đáp ứng để tiếp tục thi công, các dự án công trình mới chưa triển khai thực hiện. Do đó tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 02/2022 giảm mạnh so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước đạt 747.466 triệu đồng, tăng 17,54% so với cùng kỳ năm 2021. Như vậy, tổng vốn đầu tư thực hiện 2 tháng đầu năm 2022 vẫn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, chủ yếu nguồn vốn cấp tỉnh tăng 37,24% và cấp huyện tăng 13,42%, nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã giảm 82,18% so với năm 2021 do năm nay kế hoạch vốn cấp xã giao giảm 57,05% so với năm 2021. Dự báo tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 3/2022 sẽ tăng trưởng ổn định. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 02 năm 2022 trùng vào dịp nghỉ tết Nguyên đán Nhâm Dần thời gian thực sự bắt đầu kinh doanh của đa số cơ sở là sau thời điểm rằm tháng giêng. Bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, số ca nhiễm tăng nhanh sau đợt nghỉ Tết đã tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội. Tính chung ngành thương mại và dịch vụ tiêu dùng tháng 2 năm 2022 giảm mạnh so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa những tháng đầu năm 2022 có mức tăng khá hơn so với dịp cuối năm 2021. Tuy nhiên, chưa đạt mức so cùng kỳ năm 2021. Với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15, trong đó, điểm nhấn là chính sách giảm 2% thuế suất thuế GTGT trong năm 2022 hứa hẹn là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, giá cả hàng hóa bán ra tốt hơn. Tháng 2/2022 doanh thu bán lẻ ước đạt 3.719,57 tỷ đồng, giảm 11,53% so với tháng trước và giảm 6,14% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng, một số nhóm ngành hàng có doanh thu giảm mạnh so với tháng trước và so với cùng kỳ như: Hàng lương thực, thực phẩm 12,94% so với tháng trước, giảm 12,88% so với cùng kỳ; hàng may mặc giảm 7,71% so với tháng trước, giảm 24,75% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 7,16% so với tháng trước, giảm 27,11% so với cùng kỳ. Do nhu cầu và giá các loại hàng hóa này sau Tết đều giảm mạnh, nhất là hàng may mặc với việc đồng loạt giảm giá các loại quần áo mùa đông cho đợ chuyển mùa Các nhóm hàng tăng mạnh so với cùng kỳ chủ yếu ở các nhóm: Xăng, dầu các loại giảm 3,8% so với tháng trước, tăng 28,21% so với cùng kỳ; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 1,99% so với tháng trước, tăng 43,67% so với cùng kỳ; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 11,82% so với tháng trước, tăng 27,9% so với cùng kỳ. Do giá xăng dầu, khí đốt hóa lỏng và vật liệu xây dựng các loại đang ở mức cao lại tiếp tục được điều chỉnh tăng mạnh, dẫn đến dù sức mua giảm so với tháng trước nhưng doanh thu ở các mặt hàng này cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, 02 tháng đầu năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.923,99 tỷ đồng, giảm 4,38% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù là tháng 2 tháng Tết, tuy nhiên do sự sụt giảm doanh thu trong tháng 2 khiến doanh thu 2 tháng sụt giảm so với cùng kỳ năm trước. Biến động rõ nét nhất so với cùng kỳ ở các nhóm mặt hàng: xăng dầu các loại tăng 30,67%; nhiên liệu khác tăng 35,23%; gỗ và vật liệu xây dựng các loại tăng 12,26%; nhóm hàng may mặc giảm 31,95% và nhóm đồ dùng thiết bị gia đình giảm 27,42%. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời gian nghỉ Tết kéo dài khiến số ngày sản xuất kinh doanh trong tháng giảm, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, số ca mắc bệnh trên địa bàn tỉnh tăng nhanh ảnh hưởng đến tâm lý của người dân và các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong tháng giá xăng dầu, gas nhiên liệu được điều chỉnh tăng tác động đến trực tiếp đến doanh thu nhóm hàng này và chi phí sản xuất, trung gian các nhóm hàng hóa khác.  - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Nhìn chung, hoạt động dịch vụ ăn uống và du lịch lữ hành trong tháng 02/2022 gặp rất nhiều khó khăn. Du lịch lữ hành vẫn đang tạm ngừng chưa có dấu hiệu phục hồi. Nguyên nhân là do thời tiết đang trong mùa mưa rét, cùng với là thời gian sau khi đón Tết Nguyên đán nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống còn thấp. Mặt khác, hiện nay trên địa bàn tỉnh dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến rất phức tạp, các ca nhiễm trong cộng đồng đã xuất hiện hầu hết tại các địa phương đã ảnh hưởng đến tâm lý chung của người dân, do đó các doanh nghiệp, cơ sở hoạt động dịch vụ gặp nhiều khó khăn. Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống tháng 02/2022 ước đạt 220,81 tỷ đồng, giảm 14,86% so với tháng trước, giảm 47,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 6,71 tỷ đồng, giảm 22,66% so với tháng trước, giảm 57,84% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 214,10 tỷ đồng, giảm 14,59% so với tháng trước, giảm 47,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do trong tháng là dịp Tết âm lịch, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình giảm.  Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 480,14 tỷ đồng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước (giảm 44,74%). Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 15,38 tỷ đồng, giảm 52,12% và dịch vụ ăn uống ước đạt 464,76 tỷ đồng, giảm 44,45% so với cùng kỳ năm trước.    - Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 02/2022 ước tính đạt 151,23 tỷ đồng, giảm 20,02% so với tháng trước và giảm 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do hoạt động xây dựng tạm nghỉ Tết nên dịch vụ thuê máy móc thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng giảm. Nhu cầu thuê ốt kinh doanh, giáo dục, dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, thuê xe, dịch vụ thuê và sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình, nhu cầu chăm sóc, làm đẹp sau Tết giảm mạnh. Chỉ có dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng nhẹ phục vụ khám chữa bệnh, xét nghiệm covid do dịch bùng phát mạnh tại địa phương.  Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 340,31 tỷ đồng, tăng 7,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản đạt tăng 60,33%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 21,72%; giáo dục đào tạo giảm 5,8%; các hoạt động hỗ trợ y tế trong đợt dịch và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 2,77%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 84,06%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 34,31%; dịch vụ khác tăng 5,15%.  Nhìn chung, trước tình hình đang diễn biến hết sức phức tạp của dịch Covid-19 và yếu tố thời vụ sau dịp Tết, kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và các dịch vụ khác sẽ chưa có gì khởi sắc và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, doanh thu đang có xu thế sụt giảm   4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 2 tháng đầu năm hoạt động trở lại sau những tháng tạm ngừng từ thời điểm giữa năm 2021 tuy nhiên mức hoạt động không đạt như kỳ vọng. Doanh thu vận tải tháng 2 và 2 tháng đầu năm giảm cả so với tháng trước và so với cùng kỳ.  Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 02 năm 2022 ước đạt ước đạt 327,40 tỷ đồng, giảm 8,7% so tháng trước và giảm 29,03% so cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 2 ước đạt 54,23 tỷ đồng, tăng 10,43% so với tháng trước và giảm 64,26% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng vận chuyển hành khách ước đạt 632,29 nghìn HK, tăng 13,75% so với tháng trước và giảm 69,47% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 104,74 triệu HK.km tăng 11,49% so với tháng trước, giảm 70,18% so với cùng kỳ. Vận tải hành khách trong tháng tăng do rơi vào kỳ nghỉ tết Nguyên đán, lượng khách di chuyển tham dự cưới hỏi và đi lại dịp nghỉ Tết, cùng với trạng thái thời tiết rét đậm và mưa nên nhu cầu sử dụng các phương tiện công cộng như taxi, xe buýt tăng so với tháng trước. Sau nghỉ Tết sau thời gian học trực tuyến do ảnh hưởng của dịch, sinh viên các trường đại học đã quay trở lại trường, nhu cầu đi lại bằng các tuyến xe liên tỉnh tăng hơn nhưng nhìn chung vẫn giảm sâu so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 2 ước đạt 205,57 tỷ đồng, giảm 13,73% so với tháng trước và giảm 16,77% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 2.448,16 nghìn tấn, giảm 10,42% so với tháng trước và giảm 9,05% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 62,02 triệu tấn.km, giảm 12,59% so với tháng trước và giảm 6,54% so với cùng kỳ. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa giảm do trùng dịp nghỉ Tết Nguyên đán, nhiều cơ sở vận tải bắt đầu trở lại hoạt động sau ngày 15/02. - Dịch vụ hỗ trợ vận tải: Trong tháng đơn vị kinh doanh nghỉ Tết thời gian dài, hàng hóa thông qua Cảng Vũng Áng và Sơn Dương giảm, doanh thu ước đạt 67,54 tỷ đồng, giảm 5,08% và tăng 7,84% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, doanh thu vận tải dự tính đạt 686,0 tỷ đồng, giảm 27,98% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 103,34 tỷ đồng, giảm 65,10% với số lượng vận chuyển đạt 1.188,13 nghìn HK, giảm 70,57% và luân chuyển đạt 198,69 triệu HK.km, giảm 71,19%; vận tải hàng hóa ước đạt 443,84 tỷ đồng, giảm 12,82% với khối lượng vận chuyển ước đạt 5.181,18 nghìn tấn, giảm 8,53% và luân chuyển ước đạt 132,97 triệu tấn.km, giảm 6,20%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 138,69 tỷ đồng, giảm 5,87% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 trong và ngoài nước đang diễn biến hết sức phức tạp, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa gặp rất nhiều khó khăn. Cộng với tháng 2 trùng dịp nghỉ Tết nên kim ngạch xuất nhập khẩu giảm mạnh cả so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 02 ước đạt 112 triệu USD, giảm 9,74% so với tháng trước và giảm 13,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép đạt 75 triệu USD giảm 14,96% so với tháng trước và giảm 35,67% so với cùng kỳ; sợi, dệt và hàng may mặc đạt 1,2 triệu USD giảm 21,05% so với tháng trước và tăng 287,10% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 4,5 triệu USD giảm 14,29% so với tháng trước. Cộng dồn 2 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 236,09 triệu USD, giảm 3,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 74,90%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 163,19 triệu USD và là mặt hàng duy nhất có kim ngạch giảm 25,01% còn lại tất cả các mặt hàng khác đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Thủy sản tăng 45,90%; chè tăng 135,90%; dăm gỗ tăng 52,82%; hàng dệt, may mặc tăng 128,33% và sợi, dệt và hàng may mặc tăng 209,09% so với cùng kỳ. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 2 ước đạt 205,5 triệu USD, giảm 18,85% so với tháng trước và tăng 8,67% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Cộng dồn 2 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 458,73 triệu USD, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 năm 2022 tăng nhẹ so với tháng trước, tăng chủ yếu ở nhóm giao thông. Nguyên nhân chủ yếu do giá nguyên nhiên liệu các loại tăng mạnh theo tình hình chung của thị trường thế giới, ảnh hưởng đến chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá tiêu dùng bình quân chung toàn tỉnh. Tháng 02 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 1,44% so với tháng trước, tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,38% so với tháng trước và tăng 1,24% so với cùng kỳ; khu vực nông thôn tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước.   Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính tháng 2 cơ bản ổn định so với tháng trước, chỉ có 2 nhóm hàng biến động tăng so với tháng trước và so cùng kỳ là nhóm giao thông tăng 2,99% so với tháng trước và tăng 11,42% so với cùng kỳ, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,35% so với tháng trước và tăng 5,33% so với cùng kỳ. Dẫn đến chỉ số giá bình quân 2 nhóm này cũng tăng ở mức cao so với cùng kỳ (nhóm giao thông tăng 11,41%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,14%), kéo theo chỉ số giá bình quân 2 tháng tăng 1,0% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do việc tăng mạnh của các loại nguyên liệu khí hóa lỏng, xăng dầu các loại cộng với tháng 2 trùng dịp nghỉ Tết Nguyên đán khối lượng tiêu thụ điện, gas, nước sinh hoạt tiêu thụ đều tăng. Bên cạnh đó, thời tiết rét đậm kéo dài khiến nhu cầu sử dụng thiết bị giữ ấm cao Chỉ số giá vàng tháng 02/2021 tăng 1,72% so với tháng trước và giảm 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng tăng so tháng trước, đặc biệt tăng mạnh vào ngày thần tài 10/01 âm lịch vừa qua. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.382 nghìn đồng/chỉ 9999, Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 2 năm 2022 tăng 0,08% so với tháng trước, giảm 0,40% so với cùng kỳ năm trước. Giá đô la mỹ bình quân 2.353.993 đồng/100 USD. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ tháng 3/2022 sẽ giảm hơn so tháng 02/2022 do nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều giảm. Ngoại trừ nhóm giao thông và vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi giá dầu thế giới vẫn đang ở mức cao và việc thời tiết bắt đầu chuyển nắng nóng lượng điện sinh hoạt tăng mạnh II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội Sau dịp tết Nguyên đán Nhâm Dần, tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp, số ca nhiễm mới tăng cao bên cạnh đó thời tiết chuyển rét đậm đã gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, khai thác của người dân. Trước tình hình đó Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai các giải pháp, giám sát chặt chẽ công tác phòng dịch tại địa bàn, tăng cường việc xét nghiệm sàng lọc, đồng thời tiến hành từng bước thu hẹp phạm vi phong tỏa nhằm hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân theo tinh thần Nghị quyết 128 của Chính phủ. Đồng thời thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống đói rét và dịch bệnh trên đàn gia súc. Nhìn chung tình hình đời sống dân cư ổn định. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói.  2. Giáo dục Học kỳ 1 năm học 2021-2022 ngành Giáo dục Hà Tĩnh triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 800/CT-BGDĐT ngày 24/8/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thực hiện nhiệm vụ năm học 2021- 2022 ứng phó với dịch COVID-19, tiếp tục thực hiện đổi mới, kiên trì mục tiêu chất lượng giáo dục và đào tạo. Kết quả cụ thể như sau: Giáo dục mầm non: Hà Tĩnh đã thực hiện kịp thời chương trình Giáo dục mầm non (GDMN) sau sửa đổi bổ sung, chỉ đạo phát triển chương trình GDMN theo quan điểm “giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm” phù hợp với tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, có những điều chỉnh phù hợp tùy vào tình hình thực tế của địa phương. Giáo dục tiểu học: chất lượng đại trà của học sinh tiểu học môn Toán: tỷ lệ học sinh “Hoàn thành tốt” là 48,93%, tỷ lệ học sinh “Hoàn thành” là 48,81 % và “Chưa hoàn thành” là 2,26%; môn Tiếng Việt: tỷ lệ học sinh “Hoàn thành tốt” là 50,28 %, tỷ lệ học sinh “Hoàn thành” là 47,33% và “Chưa hoàn thành” là 2,39%. Trung học cơ sở: có 10.416 em xếp học lực giỏi (chiếm 13,31%); 31.532 em xếp loại khá (chiếm 40,29%); 32.256 em xếp học lực trung bình (chiếm 41,22%), và 4.058 em xếp loại yếu, kém (chiếm 5,18%). Trung học phổ thông: Có 8.835 em xếp học lực giỏi (chiếm 20,9%); 22.596 em xếp loại khá (chiểm 53,46%); 10.590 em xếp học lực trung bình (chiếm 25,05%), và 247 em xếp loại yếu, kém (chiếm 0,59%).                                     3. Hoạt động y tế Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 272/UBND-VX1 ngày 16/01/2022 về việc giảm số lượng người tham gia các hoạt động tập trung trong nhà để phòng chống dịch COVID-19, theo đó từ ngày 20/01/2022 cho đến khi có văn bản chỉ đạo tiếp theo, các hoạt động tập trung trong nhà không quá 50 người tham gia và Công văn số 274/UBND-VX ngày 17/01/2022 về tăng cường các biện pháp đảm bảo an toàn hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022. - Tình hình dịch bệnh Covid: Tổng số ca mắc từ ngày 1/01/2022 đến ngày 21/02/2022 là 8.976 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 10.590 ca mắc. Cộng dồn tổng F1 đã truy vết (từ 4/6 đến nay) 40.397 ca số đã hoàn thành cách ly 23.485 ca, số còn cách ly 16.912 ca. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 7.848 ca, trong đó đã có 5.114 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh hiện nay còn 299 bệnh nhân đang được điều trị tại các cơ sở y tế và 2.734 bệnh nhân được cách ly, điều trị tại nhà. Đánh giá tình hình dịch Hà Tĩnh, đang ở nguy cơ dịch cấp độ 2 - nguy cơ trung bình. Toàn tỉnh hiện có 16 xã, phường, thị trấn cấp độ 4; 41 xã, phường, thị trấn cấp độ 3.                 - Tình hình dịch bệnh khác: Tính từ ngày 16/1/2022 đến ngày 15/02/2022, trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca sốt xuất huyết, 7 ca mắc bệnh quai bị, 17 ca mắc lỵ trực trùng; 25 ca mắc lỵ a míp; 12 ca mắc bệnh thủy đậu, 796 ca mắc bệnh cúm, 101 ca tiêu chảyvà không có người chết vì do các bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm thực hiện tốt công tác phòng chống và điều trị cho người nhiễm HIV⁄AIDS Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao kiến thức phòng lây truyền HIV cho người bệnh; tư vấn xét nghiệm cho các đối tượng nguy cơ; thực hiện có hiệu quả dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; duy trì hiệu quả 3 cơ sở điều trị và 3 cơ sở cấp phát thuốc Methadone. Từ ngày 16/1/2022 đến ngày 15/2/2022 toàn tỉnh có 2 người nhiễm mới HIV,1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: số người nhiễm mới HIV giảm 8 ca (giảm 80,0%), số người chuyển thành AIDS giảm 5 ca (giảm 83,30%), số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung hai tháng đầu năm có 3 người nhiễm mới HIV (tăng 2 người so với cùng kỳ năm 2021), 2 người chuyển thành AIDS (tăng 1 người) và không có người chết vì AIDS. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng, xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 ca bị ngộ độc chưa xác định được nguyên nhân; ngoài ra còn có 61 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước, tăng 1 vụ ngộ độc tập thể, tăng 4 ca ngộ độc tập thể, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 49 ca (giảm 44,50%), số ca tử vong không đổi. Trong thời điểm Tết Nguyên Đán Nhâm Dần năm 2022, toàn tỉnh không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu tạm dừng tổ chức các loại hình lễ hội và hoạt động bắn pháo hoa theo tinh thần Chỉ thị 35/CT-TTG ngày 31/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Các di tích, danh thắng, bảo tàng, thư viện, được mở cửa đón khách nhưng phải tuyệt đối đảm bảo các điều kiện an toàn về phòng, chống dịch được quy định, hướng dẫn tại Văn bản số 3862/HD-BVHTTDL ngày 18/10/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp17 giấy phép, trong đó có 01 giấy phép thuộc lĩnh vực di sản văn hóa, 15 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm. Tổ chức kiểm tra 25 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch, lập biên bản kiểm tra 20 cơ sở, yêu cầu ký cam kết khắc phục sửa chữa biển hiệu, biển quảng cáo đối với 10 cơ sở; xử phạt vi phạm hành chính 01 trường hợp với số tiền 5 triệu đồng. - Hoạt động thể thao: Trong tháng diễn ra giải Việt dã Đại hội thể dục thể thao lần thứ IX và ngày chạy Olympic do huyện Kỳ Anh tổ chức. Đây là hoạt động thi đấu thể thao và phát động ngày chạy Olympic đầu tiên của tỉnh góp phần động viên nhân dân tích cực rèn luyện thể dục thể thao để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Trong tháng không diễn ra hoạt động thể thao thành tích cao. 5. Tình hình an toàn giao thông Ban An toàn giao thông tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 18/KH-BATGT ngày 11/02/2022 về kiểm tra, đôn đốc tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh năm 2022 trên cơ sở thực hiện Kế hoạch số 06/KH-BATGT ngày 12/01/2022 về triển khai công tác đảm bảo trật tự An toàn giao thông năm 2022 với chủ đề “Xây dựng văn hóa giao thông an toàn gắn với kiểm soát hiệu quả dịch covid-19" với tinh thần "Vì sức khỏe, sinh mạng của người tham gia giao thông”.    Tính từ ngày 15/01 - 14/02/2022 xảy ra 8 vụ tai nạn đường bộ, 7 người chết, 6 người bị thương, thiệt hại 70 triệu đồng; riêng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 (từ ngày 29/01 đến ngày 06/02/2022) xảy ra 5 vụ, làm chết 3 người, bị thương 5 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn không đổi, giảm 1 người chết (giảm 12,50%), tăng 5 người bị thương . Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.   Như vậy, tính từ 15/12/2021 đến 14/02/2022, Hà Tĩnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 17 người và bị thương 10 người. So cùng kỳ năm 2021 tăng 3 vụ, tăng 5 người chết và tăng 5 người bị thương.  6. Môi trường  - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/01/2022 đến ngày 14/02/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 3 vụ cháy, nổ với tổng thiệt hại tài sản 200 triệu đồng, tất cả các vụ cháy đều không có thiệt hại về người; nguyên nhân các vụ cháy là do chập điện. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ cháy, nổ; giảm 1 người chết; giảm 1 người bị thương.   Tính chung hai tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 7 vụ cháy, nổ không có người chết và bị thương so với cùng kỳ năm trước số vụ không đổi; giảm 2 người chết; giảm 1 người bị thương.    - Về vi phạm môi trường: Từ ngày 15/01 - 14/02/2022 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 306 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 243 vụ, tổng số tiền xử phạt 651,08 triệu đồng; so với tháng trước tăng 255 vụ vi phạm (tăng 5 lần), tăng 223 vụ đã xử lý (tăng 11,15 lần), tăng số tiền xử phạt 424,08 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ đã phát hiện tăng 296 vụ (tăng 29,60 lần), số vụ đã phát hiện tăng 236 vụ (tăng 33,71 lần), số tiền xử phạt tăng 633,13 triệu đồng. Vi phạm môi trường trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 298 vụ (chiếm 97,39%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 6 vụ (chiếm 1,96%); Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 2 vụ (0,65%).        Tính chung từ 15/12/2021 - 14/02/2022 đã phát hiện 357 vụ, xử lý 263 vụ, tổng số tiền xử phạt 878,08 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ đã phát hiện tăng 333 vụ (tăng 13,88 lần), số vụ đã xử lý tăng 254 vụ (tăng 28,22 lần), số tiền xử phạt tăng 765,13 triệu đồng.          Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 01 năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   16/07/2024 16:38

I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông , lâm nghiệp và thủy sản 1.1 Nông nghiệp - Trồng trọt Trong tháng 01/2022, hoạt động trồng trọt chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2021 và gieo trồng cây vụ Xuân 2022. + Kết quả sản xuất vụ Đông 2021: Đầu vụ mưa kéo dài đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất vụ Đông năm 2021. Tuy nhiên, do vụ Đông năm 2020 bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt lũ tháng 10/2020 nên dự ước kết quả một số cây trồng chủ lực vụ Đông 2021 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. + Sản xuất vụ Xuân 2022: Mục tiêu sản xuất vụ Xuân năm nay là phấn đấu tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 36,7 vạn tấn; diện tích gieo cấy lúa 59.570 ha, năng suất trên 57 tạ/ha, sản lượng trên 34 vạn tấn; diện tích lạc 10.384 ha, năng suất trên 27 tạ/ha, sản lượng 29 vạn tấn; diện tích ngô 5.305 ha, năng suất 52 tạ/ha, sản lượng trên 2.7 vạn tấn; diện tích khoai lang 1.836 ha, năng suất 77 tạ/ha, sản lượng trên 14 vạn tấn; diện tích đậu các loại 334 ha, năng suất 9,7 tạ/ha, sản lượng 324 tấn; diện tích rau các loại 5.592 ha, năng suất 72 tạ/ha, sản lượng trên 40 vạn tấn. Tiến độ sản xuất tính đến ngày 17/01/2022, tổng diện tích mạ toàn tỉnh là 545 ha, tương ứng với 7.845 ha diện tích lúa cấy, chủ yếu là các giống lúa P6, nếp, HT1 và nhóm giống X. Tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đã tiến hành gieo cấy lúa vụ Xuân 2022, với diện tích ước đạt 28.567 ha, bằng 48% kế hoạch, trong đó diện tích lúa gieo thẳng là 26.885 ha (chiếm 94,1% và diện tích lúa cấy là 1.682 ha (chiếm 5,9%). Các địa phương có diện tích gieo cấy lúa đạt cao là Hương Sơn 3.100 ha, Can Lộc 4.684 ha, Thạch Hà 4.669 ha, Cẩm Xuyên 4.389 ha, huyện Kỳ Anh 3.990 ha. Kết quả gieo trồng các loại cây trồng khác đạt được như sau: Diện tích ngô ước đạt 1.680 ha, bằng 31,7% kế hoạch; khoai lang ước đạt 172 ha, bằng 9,4% kế hoạch; lạc ước đạt 80 ha, bằng 0,8% kế hoạch; rau các loại ước đạt 1.222 ha, bằng 21,9% kế hoạch. Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang tiếp tục tập trung gieo cấy lúa và hoa màu vụ Xuân 2022. + Thiên tai, dịch bệnh: Trong tháng 01/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh tuy có mưa rét nhưng không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng vụ Đông 2021. Sâu bệnh chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng.  - Chăn nuôi Tháng 01/2022, các dịch bệnh trong chăn nuôi cơ bản được kiểm soát nên hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Tổng đàn trâu, bò tiếp tục tăng lên, riêng đối với đàn bò sửa giảm nhẹ do không bổ sung tăng đàn trong khi phải tiến hành thải loại các con kém hiệu quả. Đối với chăn nuôi lợn thì việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang có những tín hiệu tích cực, tổng đàn lợn tăng khá so với cùng kỳ năm 2021. Đàn lợn chủ yếu phát triển ở các trang trại, gia trại. Đàn gia cầm vẫn phát triển khá, nhất là đàn gà. Hiện nay, người chăn nuôi đang tích cực chăm sóc các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng phục vụ dịp Tết sắp tới. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh giá các sản phẩm chăn nuôi nhìn chung ổn định và nguồn cung tương đối dồi dào để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp tết Nhâm Dần. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 16/01/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 10 xã trên địa bàn 4 huyện (Hương Sơn 4 xã, Thạch Hà 3 xã, Cẩm Xuyên 2 xã và Vũ Quang 1 xã) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày và hiện đang còn có 21 hộ ở 17 thôn đang có dịch. Tổng số lợn bị ốm chết, buộc tiêu hủy ở các địa bàn chưa qua 21 ngày là 110 con với trọng lượng 6.139 kg. 1.2 Lâm nghiệp - Trồng rừng: Do trong tháng 01/2022, người dân đang tập trung sản xuất lúa vụ Xuân 2022 và chuẩn bị đón Tết Nguyên đán nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp nhìn chung không có nhiều biến động. Diện tích trồng rừng tập trung tháng 01/2022 ước tính tăng nhẹ, trong đó chủ yếu là diện tích rừng sản xuất trồng mới. Sản lư­ợng gỗ khai thác tháng 01/2022 ước tăng 649 m3 so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Can Lộc, huyện Kỳ Anh...Hiện nay, người dân đang tập trung ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân năm 2022. - Thiệt hại rừng: Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/01/2022, trên địa bàn tỉnh không xẩy ra thiệt hại về rừng. 1.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 01/2022 nhìn chung ổn định và có sự tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước tăng 85 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy hải sản khai thác ước tính tăng 67 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 77,2% tổng sản lượng; Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính tăng 18 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 22,8% tổng sản lượng. Hiện nay, các sản phẩm thủy sản nuôi trồng đang được chăm sóc để xuất bán phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới.  Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn. 2. Sản xuất công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 dự ước giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin máy phát không làm việc vì mất nguồn điện chính và dự phòng sản lượng điện sản xuất giảm. Hiện nay, sau những khó khăn do dịch bệnh Covid 19, ngành công nghiệp dần đi vào ổn định, duy trì mức tăng trưởng khá. Ước tính chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2022 tăng 3,31% so với tháng 12 năm 2021 và giảm 6,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 4,24%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,36%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 36,98%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,17% so với cùng kỳ năm 2021. Ước tháng 01/2022 trong 19 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có 8 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Ngành khai thác quặng kim loại tăng 11,19%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7,86%; dệt tăng 7,75%; … Trong bối cảnh chung của các nhóm ngành công nghiệp có tăng trưởng thì vẫn có 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 42,31%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 36,98%; sản xuất sản phẩm từ caosu và plastic giảm 33,83%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 30,87%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 22,77%; … Nhìn chung tháng 1 năm 2022, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi hơn. Các doanh nghiệp hoạt động ổn định, sản xuất hiệu quả hơn nhưng vẫn chưa có sự tăng trưởng đột phá. Dự báo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 2/2022: Sản xuất công nghiệp không có sự tăng trưởng lớn do trùng vào một số ngày nghỉ Tết Nguyên Đán. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2022 ước đạt 449.539 triệu đồng tăng 17,19% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do tăng nguốn vốn ngân sách cấp tỉnh. Tháng 1/2022 là tháng đầu năm, nguồn vốn chưa được giao theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỷ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2021, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2022 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng nên giá trị vốn đầu tư dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2021 đạt 6.699.368 triệu đồng, tăng 44,48% so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch vốn ngân sách Nhà nước tăng mạnh (tăng 41,43%), trong đó vốn chương trình mục tiêu quốc gia gấp 4,67 lần so với năm 2020. Nguồn vốn bảo đảm, thời tiết thuận lợi, nguồn lực lao động dồi dào, các chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng nguồn vốn Trung ương hỗ trợ được đẩy nhanh tiến độ thi công trong các tháng cuối năm đảm bảo kế hoạch đề ra. Nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh được giao từ đầu năm và được bổ sung hàng tháng năm 2021 là 1.155.803 triệu đồng và thực hiện đạt 97,81% kế hoạch năm; vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu được giao là 3.279.927 triệu đồng và thực hiện đạt 98,91% kế hoạch năm. Dự báo tổng vốn đầu tư do ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 2/2022: Vốn đầu tư thực hiện ước giảm so với tháng trước do các công trình tạm ngừng thi công để nghỉ Tết. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 01, là tháng cận Tết, cho nên mặc dù tình hình dịch bệnh vẫn diễn ra rất phức tạp cũng không hạn chế được nhu cầu mua sắm và tiêu dùng của người dân. Tính chung ngoài ngành du lịch, lữ hành không hoạt động và phát sinh doanh thu còn lại các ngành thương mại dịch vụ tiêu dùng đều tăng so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ, doanh thu tất cả các nhóm ngành dịch vụ đều vẫn đang còn giảm mạnh. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Nhu cầu mua sắm và giá cả các nhóm hàng hóa đều có xu hướng tăng dần, nhất là về thời điểm cuối tháng, nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn còn giảm khá sâu. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 01 đạt 4.204,42 tỷ đồng, tăng 9,56% so với tháng trước và giảm 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng, trong tháng 01/2022 hầu hết doanh thu các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước, một số nhóm ngành có biến động tăng cao như: Lương thực, thực phẩm tăng 9,51%; Vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 8,87%; Phương tiện đi lại (trừ ô tô con) tăng 9,41%; Đá quý, kim loại quý tăng 9,22%; Hàng hóa khác tăng đột biến 50,93% so với tháng trước. Nguyên nhân, do hoạt động bán lẻ cây cảnh, hoa tươi phụ vụ Tết tăng đột biến là yếu tố dẫn tới doanh thu nhóm hàng hóa khác tăng mạnh. Giá xăng dầu, khí đốt hóa lỏng tiếp tục điều chỉnh tăng giá sau một thời gian giảm nhẹ. Doanh thu bán lẻ tháng 01/2022 giảm so với cùng kỳ chủ yếu do sự giảm sâu 3 nhóm hàng, cụ thể: Hàng may mặc giảm 37,47%; đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 27,71% và Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 25,61%. Do yếu tố thời vụ, dịp gần Tết nhu cầu người dân chủ yếu tập trung vào các mặt hàng thiết yếu phục vụ Tết, các mặt hàng xa xỉ như ô tô, và đồ dùng gia đình có phần hạn chế hơn. Cộng với đó thời điểm này năm trước ghi nhận việc tăng đột biến của các nhóm hàng may mặc, đồ dùng gia đình và ô tô, do thời tiết đột ngột chuyển rét đậm khiến nhu cầu và giá cả các loại trang phục giữ nhiệt, thiết bị sưởi ấm đều tăng với biên độ lớn và việc chính sách giảm lệ phí trước bạ của Chính phủ gần hết hạn nên thị trường xe ô tô rất sôi động, doanh số bán lẻ tại các đại lý ủy quyền trên địa bàn tỉnh đều tăng mạnh. Nhìn chung thị trường tiêu dùng hàng hoá trên địa bàn Hà Tĩnh diễn ra khá sôi động với lượng hàng hóa phong phú, đa dạng về mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của Nhân dân. Nhiều chương trình khuyến mãi cũng liên tục được các nhà sản xuất, điểm kinh doanh tung ra nhằm thu hút người tiêu dùng. Các cơ quan quản lý nhà nước tập trung chỉ đạo các doanh nghiệp chủ động đảm bảo nguồn hàng hóa, không để xảy ra tình trạng thiếu, khan hiếm hàng hóa trên thị trường Hà Tĩnh. Việc phân phối hàng hóa bán lẻ thiết yếu rộng rãi, chương trình đưa hàng hóa đến các vùng sâu, vùng xa được quan tâm. Phối hợp cơ quan Cục Quản lý thị trường tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đối cới các tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Tháng cuối năm âm lịch, giáp Tết Nguyên Đán, hoạt động dịch vụ cũng nhộn nhịp hơn, đây cũng là thời điểm tổ chức các cuộc gặp mặt cuối năm, tiệc tất niên, do đó nhu cầu lưu trú cũng như ăn uống ngoài gia đình tăng. Một số ngành dịch vụ do ảnh hưởng tính chất thời vụ, ví dụ như nhu cầu nhóm dịch vụ cắt tóc gội đầu, làm đẹp, thời điểm mùa cưới và thời tiết ít mưa thuận lợi cho hoạt động dịch vụ trang trí; nhu cầu về thuê đồ dùng cá nhân, gia đình, nhu cầu thuê xe và dịch vụ thuê máy móc thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng...cũng tăng lên. Tuy nhiên, so với cùng kỳ, doanh thu tất cả các nhóm ngành dịch vụ đều vẫn đang còn giảm mạnh. Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2022 ước đạt 277,70 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước, giảm 38,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 5,10 tỷ đồng, tăng 2,34% so với tháng trước, giảm 68,53% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 272,60 tỷ đồng, tăng 5,75% so với tháng trước, giảm 36,92% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ lữ hành tháng này vẫn tạm ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu. Doanh thu dịch vụ khác tháng 01/2022 ước tính đạt 115,05 tỷ đồng, tăng 13,75% so với tháng trước và giảm 26,74% so với cùng kỳ năm trước. 4.2. Hoạt động vận tải Kinh doanh vận tải đã bắt đầu hoạt động trở lại, trong đó có các tuyến xe liên tỉnh, liên huyện. Tuy nhiên, với tâm lý e ngại thì số lượt khách vận chuyển cũng có tăng nhưng không đáng kể. Nhìn chung, tình hình kinh doanh vận tải tăng hơn so với tháng trước nhưng chưa đạt mức cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 01 năm 2022 ước đạt 373,77 tỷ đồng, tăng 6,24% so tháng trước và giảm 23,91% so cùng kỳ năm trước.      - Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 1 ước đạt 52,18 tỷ đồng, tăng 10,41% so với tháng trước và giảm 63,86% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng vận chuyển hành khách ước đạt 574,77 nghìn HK, tăng 10,02% so với tháng trước và giảm 70,75% so với cùng kỳ; Luân chuyển ước đạt 99,04 triệu HK, tăng 10,0% so với tháng trước và giảm 70,73% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do, thời điểm đầu tháng trùng với dịp nghỉ lễ Tết dương lịch nên lượng người đi lại về quê thăm thân, vui chơi. Trong tháng, hình thái thời tiết rét đậm rét hại tiếp tục diễn ra nên nhu cầu sử dụng các loại phương tiện công cộng như taxi, xe buýt tăg. Tuy nhiên, so với cùng kỳ thì lại giảm mạnh, nguyên nhân do cùng kỳ năm trước loại hình vận tải hành khách vẫn đang hoạt động bình thường, chưa bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Dự kiến tháng tới mặc dù trùng với tháng giáp Tết âm lịch nhưng dự kiến số lượng hành khách sẽ không tăng đột biến vì năm nay đối tượng khách là sinh viên vẫn chưa nhập học do ảnh hưởng của dịch bệnh, số lượng người trở về quê dịp Tết dự kiến không cao do đã đổ về quê trong đợt nghỉ dịch mấy tháng trước. - Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 1 ước đạt 240,64 tỷ đồng, tăng 6,94% so với tháng trước và giảm 8,20% so với cùng kỳ. Khối lượng hàng hóa vận tải ước đạt 2.733,38 nghìn tấn, tăng 5,47% so với tháng trước và giảm 8,06% so với cùng kỳ; Luân chuyển ước đạt 69,67 triệu tấn.km, tăng 5,79% so với tháng trước và giảm 7,61% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa tăng doanh thu do các đơn vị bán buôn đẩy mạnh việc thu mua, tích trữ hàng hóa chuẩn bị cung ứng ra thị trường dịp Tết âm lịch...Bên cạnh đó, cuối năm, mặc dù rét đậm nhưng ít mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu xây dựng cố gắng đẩy nhanh tiến độ thi công; và nhu cầu sửa chữa các công trình trong người dân để đón Tết.         - Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Các hoạt động kinh tế đang từng bước phục hồi sau ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên lượng hàng hóa thông qua cảng Sơn Dương và Vũng Áng có xu hướng gia tăng. Doanh thu tháng 01 ước đạt 80,96 tỷ đồng, tăng 1,77% so với tháng trước và giảm 4,44 % so với cùng kỳ năm trước.          4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa         Cán cân xuất nhập khẩu tỉnh nhà mặc dù vẫn nhập siêu 82,8 triệu USD, nhưng tiếp tục đà tăng trưởng của những tháng cuối năm, tháng 01 đạt  tốc độ tăng trưởng cao tuy không đạt mức như kỳ vọng tháng trước nhưng vẫn vượt bậc so với cùng kỳ năm trước - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 1/2022 ước đạt 188,0 triệu USD, giảm 14,47% so với tháng trước và tăng 61,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó xuất khẩu từ Formosa chiếm tỷ trọng cao (chiếm 94,41%) trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, xuất khẩu thép, phôi thép mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 171,5 triệu USD và là mặt hàng duy nhất có kim ngạch giảm 15,43% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 69,75% so với cùng kỳ. Còn lại tất cả các mặt hàng khác đều tăng so với tháng trước, đặc biệt 2 nhóm hàng: sợi, dệt và hàng may mặc đạt 4,0 triệu USD tăng 2,30% so với tháng trước và tăng 214,96% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 4,0 triệu USD tăng 21,95% so với tháng trước và giảm 37,30% so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 1/2022 ước đạt 270,8 triệu USD, giảm 28,88% so với tháng trước và tăng 19,48% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa. Nguyên nhân do Formosa chủ yếu nhập khẩu phôi thép từ Trung Quốc nhưng giá phôi thép đang ở mức cao do xu thế sản xuất thép Trung Quốc đang chậm lại vì định hướng giảm thiểu khí thải carbon của chính phủ nước. Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong tháng tới, do chính sách đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép. Trong bối cảnh khó khăn do dịch Covid-19, xuất, nhập khẩu vẫn là điểm sáng và là tiền đề quan trọng để nền kinh tế tỉnh Hà Tĩnh vững bước trong năm 2022. 5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Đây là tháng trùng với dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần, nhu cầu tiêu dùng đa số các nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng, bên cạnh đó giá xăng, dầu tiếp tục được điều chỉnh tăng theo tình hình chung của thị trường thế giới đã tác động làm chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 năm 2022 tăng so với tháng trước.       Chỉ số CPI tháng 1 năm 2022 tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 1,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 0,46% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,46%; khu vực nông thôn tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 0,92% so với cùng kỳ năm trước.        Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,86%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,43%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giao thông tăng 0,95%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%; 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,11%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,36%; 01 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước đó là nhóm giáo dục.        Chỉ số giá vàng tăng 0,94% so với tháng trước, giảm 4,81% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,27% so với tháng trước, tăng 0,62% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.292 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la mỹ bình quân 2.351.995 đồng/100 USD.        Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 2/2022 sẽ giảm mạnh so tháng 01/2022 do tháng sau Tết, nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều giảm. Ngoại trừ nhóm vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi thời tiết bắt đầu chuyển nắng nóng.       II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI        1 Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội        Nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần, phát huy truyền thống đại đoàn kết, tinh thần “tương thân, tương ái”, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã trích ngân sách 8.859,2 triệu đồng từ nguồn kinh phí chi sự nghiệp đảm bảo xã hội năm 2022 cho các đơn vị, địa phương để tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết cổ truyền cho 4.619 đối tượng người có công với cách mạng (ngoài đối tượng được Chủ tịch nước tặng quà), thắp hương thờ cúng liệt sỹ (bằng hiện vật, mức 300.000 đồng/suất) cho 23.705 liệt sĩ với số tiền 7.111,5 triệu đồng; tặng quà người có công tiêu biểu tại 13 huyện, thành phố, thị xã, mỗi địa phương 03 suất, mức 2 triệu đồng/suất, với tổng số tiền là 78 triệu đồng….theo Quyết định 4206/QĐ-UBND ngày 28/12/2021. Đồng thời, trích ngân sách 7.499,0 triệu đồng để bố trí kinh phí mừng thọ người cao tuổi và tặng quà tết cho đối tượng bảo trợ xã hội (BTXH) có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó kinh phí mừng thọ người cao tuổi 7.260,6 triệu đồng cho 28.215 người cao tuổi; tặng quà tết cho 7.157 đối tượng BTXH có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với mức quà bằng tiền mặt 250.000 đồng theo Quyết định số 41/QĐ-UBND tỉnh ngày 7/01/2022. Ngoài ra, Ủy ban mặt trận tổ quốc tỉnh hỗ trợ 3.667 suất quà cho hộ nghèo với giá trị 1.833,5 triệu đồng được trích từ quỹ “Vì người nghèo” cho 13 huyện, thành phố, thị xã. Bên cạnh đó trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra thiếu đói. Đời sống của người dân nhìn chung ổn định.       2. Giáo dục       Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh đã bàn giao 500 máy tính bảng cho 20 trường học (5 trường trung học phổ thông và 15 trường tiểu học) đặc biệt khó khăn trong toàn tỉnh. Số máy tính từ Chương trình “Sóng và máy tính cho em” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tài trợ cho các trường học ở Hà Tĩnh. Đây là chương trình mang ý nghĩa xã hội và nhân văn rất sâu sắc, do Thủ tướng Chính phủ phát động ngày 12/9/2021. Chương trình nhằm hướng tới mục tiêu 100% học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, cận nghèo trên toàn quốc được trang bị máy tính để có thể thực hiện học trực tuyến. Đồng thời, phủ sóng internet ở những vùng còn chưa có sóng, nâng cao chất lượng sóng, góp phần thực hiện mục tiêu ứng dụng khoa học trong giáo dục, nâng cao dân trí, mở mang tri thức xã hội, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.       3. Hoạt động y tế       Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần và mùa lễ hội xuân 2022 với mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch COVID-19 trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thực phẩm. Theo đó, đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Hà Tĩnh, các sở, ngành, địa phương tăng cường kiểm soát, xử lý việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng; đồng thời huy động mọi nguồn lực, mọi hình thức, phương tiện, các cơ quan thông tấn truyền hình, báo chí phổ biến, tuyên truyền các nội dung của Luật An toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn liên quan, các quy định về ATTP, kiến thức về bảo đảm ATTP; tuyên truyền Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” và các hướng dẫn, quy định về phòng, chống dịch COVID-19 cho các cấp quản lý, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.        - Tình hình dịch bệnh Covid: Tổng số ca mắc từ ngày 1/01/2022 đến ngày 19/01/2022 là 665 ca. Lũy kế từ 04/6/2021 đến nay là 2.279 ca mắc, trong đó Thành phố Hà Tĩnh 177 ca, TX Hồng Lĩnh 63 ca, Hương Sơn 128 ca, Đức Thọ 223 ca, Vũ Quang 46 ca, Nghi Xuân 150 ca, Can Lộc 212 ca, Hương Khê 125 ca, Thạch Hà 256 ca, Cẩm Xuyên 211 ca, huyện Kỳ Anh 241 ca, Lộc Hà 166 ca, TX Kỳ Anh 120 ca, nhập cảnh, ngoại tỉnh 105 ca. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 520 người, trong đó đã có 202 ca khỏi bệnh.         - Tình hình dịch bệnh khác: Tính từ ngày 16/12/2021 đến ngày 15/01/2022, trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 1 ca mắc bệnh quai bị, 5 ca mắc lỵ trực trùng; 13 ca mắc lỵ a míp; 19 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.019 ca mắc bệnh cúm và không có người chết vì các ca bệnh trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 06/7/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030. Nhờ vậy, tính từ 16/12/2021-15/01/2022 Hà Tĩnh, chỉ có 1 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước số người nhiễm mới HIV, số người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tính từ ngày 16/12/2021 đến 15/01/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, chỉ có 59 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 39,18 % so với cùng kỳ năm 2021) và không có trường hợp nào tử vong vì ngộ độc thực phẩm. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp nên Hà Tĩnh tạm dừng tổ chức các loại hình lễ hội và hoạt động bắn pháo hoa theo Chỉ thị 35/CT-TTG ngày 31/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời triển khai các cụm pano, áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn toàn tỉnh hoặc các chương trình nghệ thuật được ghi hình để phát sóng mừng xuân Nhâm Dần 2022. Ngoài ra, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Hà Tĩnh luôn được quan tâm hỗ trợ đặc biệt các câu lạc bộ dân ca ví, giặm, ca trù, trò Kiều, các nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú và công tác bảo tồn Truyện Kiều, Hoàng Hoa sứ trình đồ, Mộc bản Trường học Phúc Giang. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 30 giấy phép, trong đó có 01 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch, 01 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. Tổ chức kiểm tra 65 cơ sở kinh doanh có thực hiện việc viết, đặt biển hiệu quảng cáo. Qua kiểm tra đã lập biên bản kiểm tra nhắc nhở 60 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 4 trường hợp với số tiền 23 triệu đồng. - Hoạt động thể thao:  Hà Tĩnh đã tham gia 2 giải thành tích cao, đạt 6 huy chương các loại ((4 huy chương vàng (HCV), 1 huy chương bạc (HCB), 1 huy chương đồng (HCĐ)), trong đó: 01 giải Karate Vô địch Châu Á diễn ra từ 18-22/12/2021 đạt 4 HCV, 1 HCĐ; 01 giải Bóng đá thiếu niên U13 diễn ra từ 22-31/12/2021 giành huy chương bạc. Bên cạnh thể thao thành tích cao hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động. Phong trào tập luyện thể dục thể thao gắn với cuộc vận động “ Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” diễn ra sôi nổi phù hợp và thích ứng với diễn biến của dịch Covid-19, thu hút nhiều người tham gia. 5. Tình hình an toàn giao thông         Để bảo đảm trật tự an toàn giao thông (TTATGT) và kiểm soát tốt dịch COVID-19 trong hoạt động giao thông vận tải trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần và lễ hội xuân 2022, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã tăng cường tổ chức đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm quy định pháp luật về TTATGT từ ngày 15/12/2021 đến hết ngày 14/02/2022.      Tính từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/01/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ, làm 10 người chết, 4 người bị thương, thiệt hại 120 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ (tăng 50%), tăng 6 người chết (tăng 150%), số người bị thương không đổi.         6. Môi trường        - Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/01/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 1 vụ cháy xe container, với tổng thiệt hại 30 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ cháy (giảm 66,67%), giảm 1 người chết, số người bị thương không đổi. Trong tháng không xảy ra vụ nổ.        - Về vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/12 đến ngày 14/01/2022 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 51 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 20 vụ, tổng số tiền xử phạt 227 triệu đồng; so với tháng trước tăng 30 vụ vi phạm (tăng 142,86%), giảm 1 vụ đã xử lý (giảm 4,76%), giảm số tiền nộp phạt 1.243,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2021 tăng 37 vụ vi phạm (tăng 264,29%), tăng 18 vụ đã xử lý, số tiền xử phạt tăng 132 triệu đồng (tăng 138,95%). Số vụ phát hiện tăng cao, do đây là tháng cận kề Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 nhu cầu sản xuất kinh doanh tăng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường ngày tết, vì vậy khối lượng chất thải trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng tăng lên, trong khi các chủ cơ sở chưa quan tâm đến vấn để xử lý chất thải.         Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Thông cáo báo chí về tình hình Kinh tế -Xã hội năm 2021.
  •   26/07/2024 16:18

Năm 2021 là năm đầu của nhiệm kỳ, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, một năm là điểm tựa, là bản lề cho 5 năm thực hiện kế hoạch phát trển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025. Tuy nhiên, nhìn lại trong năm vừa qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình quốc tế, trong nước tiếp tục có những biến động lớn, nhất là đại dịch Covid -19 vẫn chưa được kiểm soát; giá chi phí đầu vào tăng trong khi thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ thiếu ổn định; một số hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ngưng trệ; một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề; ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thời tiết diễn biến phức tạp cũng gây thiệt hại đến cây màu ở một số vùng, địa phương; trong chăn nuôi dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tả lợn châu phi đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản lượng và việc tái đàn gặp khó khăn. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung phòng, chống dịch trên địa bàn toàn tỉnh; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; Tỉnh tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, gia hạn nộp thuế, bảo hiểm xã hội…vv. Đồng thời, đã tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư, tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp  Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.  I.TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Tốc độ tăng trưởng GDRP năm 2021 của Hà Tĩnh ước tăng 5,02% so với năm 2020, xếp thứ 4 trong 6 tỉnh Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung[1]. GRDP bình quân đầu người ước tính đạt 67,03 triệu đồng/người/năm (tăng 4,91 triệu đồng/người/năm so với năm 2020). Mặc dù tăng trưởng chưa đạt so với kế hoạch đề ra[2] tuy nhiên trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, kết quả đạt được cũng đã khẳng định sự nỗ lực của các cấp, các ngành, tổ chức doanh nghiệp và người dân trong thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế năm 2021 thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78% đóng góp 0,53 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,6%, đóng góp 4,16 điểm %; khu vực dịch vụ giảm 0,7%, làm giảm 0,24 điểm % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,46%, đóng góp 0,57 điểm %. Về cơ cấu kinh tế: Năm 2021 khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 15,52%, giảm 0,79 điểm % so với năm 2020; khu vực công nghiêp - xây dựng chiếm 43,95% tăng 3,47 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 31,76%, giảm 2,82 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,77% tăng 0,16 điểm %.  2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 58,95 tạ/ha; hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn, cùng với đó là dịch viêm gia, nổi cục xuất hiện đã gây khó khăn cho tái đàn, tăng đàn; sản lượng gỗ khai thác tăng so với cùng kỳ; sản xuất thủy sản đang nỗ lực ổn định trong trạng thái bình thường mới và tuân thủ các biện pháp phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp.  a) Nông nghiệp  - Trồng cây hàng năm: Diện tích lúa năm 2021 sơ bộ đạt 104.923 ha, tăng 1.028 ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 55,33 tạ/ha, tăng 3,92 tạ/ha, sản lượng lúa ước tính đạt 580.512 tấn, tăng 46.446 tấn.  Vụ đông xuân năm nay toàn tỉnh gieo cấy sơ bộ đạt 59.478 ha, tăng 151 ha so với năm 2020; năng suất 58,95 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha; sản lượng đạt 349.794 triệu tấn, tăng 24.427 tấn.   Diện tích gieo trồng lúa hè thu toàn tỉnh sơ bộ đạt 44.955 ha, tăng 905 ha; năng suất đạt 51,12 tạ/ha, tăng 3,49 tạ/ha; sản lượng đạt 229.803 tấn, tăng 21.930 tấn.   Diện tích gieo cấy lúa mùa toàn tỉnh đạt 490 ha, giảm 28 ha; năng suất đạt 18,67 tạ/ha, tăng 2,72 tạ/ha; sản lượng sơ bộ đạt 915 tấn, tăng 89 tấn.  Kết quả sản xuất một số cây hằng năm khác: sản lượng ngô cả năm sơ bộ đạt 52.828 tấn, bằng 114,02% (tăng 6.497 tấn) so với năm trước; sản lượng khoai lang cả năm sơ bộ đạt 25.943 tấn, bằng 106,32% (tăng 1.542 tấn) so với năm trước; sản lượng lạc cả năm sơ bộ đạt 29.130 tấn, bằng 105,18% ( tăng 1.435 tấn) so với năm trước; sản lượng rau cả năm sơ bộ đạt 95.395 tấn, bằng 105,88% (tăng 5.302 tấn) so với năm trước.  - Trồng cây lâu năm: Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 31.510 ha, bằng 100,2% (tăng 61 ha) so với năm 2020, trong đó diện tích cây ăn quả là 19.103 ha, bằng 103,7% (tăng 672 ha), chiếm 60,6% tổng diện tích cây lâu năm, (diện tích cây cam sơ bộ đạt 7.476 ha, (tăng 263 ha); diện tích cam cho sản phẩm 6.061 ha, (tăng 602 ha); diện tích cây bưởi sơ bộ đạt 3.949 ha, (tăng 274 ha); diện tích bưởi cho sản phẩm 2.860 ha, (tăng 398 ha)).  Năm nay, điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả cao, sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 152.067 tấn, bằng 112,2% (tăng 16.519 tấn) so với năm 2020, trong đó: sản lượng cam sơ bộ đạt 58.026 tấn, (tăng 10.361 tấn); sản lượng bưởi sơ bộ đạt 31.629 tấn, (tăng 5.827 tấn) so với năm 2020.  - Về chăn nuôi: Ước năm 2021, tổng đàn trâu có 67.150 con, bằng 99,87% (giảm 89 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò có 168.550 con, bằng 99,74% (giảm 437 con), đàn lợn có 408.721 con, bằng 100,82% (tăng 3.308 con); tổng số gia cầm có 10,1 triệu con tăng 0,15%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2021 ước đạt 67.916 tấn, bằng 100,04% (tăng 26 tấn) so với năm 2020. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 9.815 tấn, bằng 97,37% (giảm 265 tấn) so với năm 2020. Sản lượng thịt trâu hơi đạt 3.564 tấn giảm 2,62%; sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng ước đạt 25.038 tấn, bằng 105,53% (tăng 1.312 tấn) so với năm 2020. Sản lượng trứng năm 2021 ước đạt 351.502 ngàn quả, bằng 103,57% (tăng 12.116 ngàn quả) so với năm 2020.  b) Lâm nghiệp  Năm 2021, diện tích rừng trồng mới sơ bộ toàn tỉnh ước tính đạt 8.857 ha, tăng 3,75% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 3.001 nghìn cây, giảm 8,87%; sản lượng gỗ khai thác đạt 471.089 m3, tăng 18,33%; sản lượng củi khai thác đạt 471.868 ste, giảm 1,66%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 13,8 ha, giảm 83,80% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1,23 ha, giảm 97,91%; diện tích rừng bị chặt phá là 12,57 ha, giảm 52,38%.  c) Thủy sản  Tổng sản lượng thủy sản năm 2021 sơ bộ đạt 54.485 tấn, giảm 1,78% so với năm trước, bao gồm: Cá đạt 32.737 tấn, giảm 1,11%; tôm đạt 6.420 tấn, tăng 1,39%; thủy sản khác đạt 15.328 tấn, giảm 4,4%.  Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay sơ bộ đạt 15.797 tấn, giảm 1,15% so với năm trước, bao gồm cá đạt 7.137 tấn, giảm 1,45%; tôm đạt 5.334 tấn, tăng 1,93%; thủy sản khác đạt 3.326 tấn, giảm 5,13%.  Sản lượng thủy sản khai thác năm 2021 sơ bộ đạt 38.688 tấn, giảm 2,03% so với năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 25.600 tấn, giảm 1,02%; tôm đạt 1.086 tấn, giảm 1,18%; thủy sản khác đạt 12.002 tấn giảm 4,19%.  3. Sản xuất công nghiệp: Diễn ra trong điều kiện khó khăn do dịch Covid-19, tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã linh hoạt triển khai các giải pháp, nỗ lực thực hiện mục tiêu kép để tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh. Đặc biệt, Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh vẫn giữ vững vai trò hạt nhân trong việc thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Hà Tĩnh. Ước tính năm 2021, Formosa Hà Tĩnh sản xuất đạt 5,4 triệu tấn thép tăng 23,21% so với năm 2020. Việc Formosa đi vào hoạt động sản xuất ổn định, hiệu quả đã tác động lớn tới hoạt động công nghiệp toàn tỉnh.  + Tính chung cả năm 2021, Chỉ số sản xuất toàn ngành Công nghiệp tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,03%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,93%, đóng góp 14,61 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng giảm toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,09%, làm giảm 0,57 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 5,77%, làm giảm 0,18 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.  + Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2021 ước tính tăng 12,64% so với năm trước đóng góp 4,46 điểm % vào mức tăng chung .Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh với mức tăng 18,68 %, đóng góp 4,62 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng tăng 11,95%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 1,54%, làm giảm 0,15 điểm phần trăm. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 20,10% so với cùng kỳ làm giảm 0,08 điểm %.  + Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2021 tăng 22,71% so với năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 51,3% so với năm trước.  4. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong năm tăng 15,6% so với cùng kỳ; số vốn đăng ký tăng 80% là tín hiệu tích cực cho sự phục hồi của nền kinh tế. Năm 2021 vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.  Tính đến ngày 15/12/2021, toàn tỉnh thành lập mới 1.086 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 13.259 tỷ đồng (tăng 15,6% về số lượng và 80% về số vốn đăng ký). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,2 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2020 là 7,8 tỷ đồng). Một số doanh nghiệp thành lập mới có số vốn đăng ký lớn như CTCP Tập đoàn D&N (2.600 tỷ đồng), CTCP Giải pháp năng lượng VINES Hà Tĩnh (1.800 tỷ đồng); Công ty TNHH T&T Land Thạch Bình (900 tỷ đồng).  Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 417 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 27% so với cùng kỳ năm 2020), 136 doanh nghiệp giải thể (tăng 17% so với cùng kỳ năm 2020); doanh nghiệp có phát sinh thuế chỉ chiếm 47%.  5. Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2021 khá ảm đạm. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bùng phát trên địa bàn tỉnh và cả nước vào những ngày cuối tháng 4 đến nay nên UBND tỉnh nhiều lần đã có các văn bản về việc tạm dừng một số hoạt động dịch vụ để phòng chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc thực hiện cách ly y tế nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh qua các tháng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2021 ước tính đạt 46.778,58 tỷ đồng, giảm 0,42% so với năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2021 ước tính đạt 41.939,38 tỷ đồng, chiếm 89,65% tổng mức và tăng 1,99% so với năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 3.491,20 tỷ đồng, giảm 18,51%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 7,35 tỷ đồng, giảm 36,37%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.339,65 tỷ đồng, giảm 13,87%.         Doanh thu vận tải, kho bãi năm 2021 ước đạt 4.341,47 tỷ đồng, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 839,80 tỷ đồng, giảm 42,82% so với năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.623,56 tỷ đồng, giảm 8,60% so với năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 878,11 tỷ đồng, tăng 12,47% so với năm trước.  Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11.584,97 nghìn HK, giảm 42,83% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 1.927,50 triệu HK.km, giảm 46,40% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận tải dự tính đạt 29.179,13 nghìn tấn, giảm 9,1% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 744,17 triệu tấn.km, giảm 10,57% so với năm trước.  Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 ước đạt 2 tỷ USD, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm 2020; mức tăng chủ yếu do giá thép tăng cao nên Formosa đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thép (xuất khẩu thép từ Formosa ước đạt 1,9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh).   Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,3 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa (gần 2,9 tỷ USD).   6. Thu - Chi ngân sách: Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid -19, đã làm ảnh hưởng hầu hết đến các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội và ảnh hưởng lớn đến công tác thực hiện nhiệm vụ NSNN. Song với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự cố gắng, nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân, cùng với sự phối hợp của các sở, ngành đã tích cực thực hiện nhiều giải pháp tăng cường quản lý thu, phân bổ, sử dụng NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết... góp phần quan trọng trong khống chế, kiểm soát dịch bệnh, từng bước phục hồi và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân. - Tổng thu NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 15.302,89 tỷ đồng, bằng 151,12% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.881,28 tỷ đồng tăng 11,49% so với năm 2020, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh ước đạt 2.732,68 tỷ đổng giảm 20,64% so với năm 2020; các khoản thu về nhà đất ước đạt 3.043,80 tỉ đổng tăng 59,60%; thu phí,lệ phí ước đạt 735,47 tỷ đồng tăng 55,41% .... Bên cạnh các khoản thu nội địa thì thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 6.668,98 tỷ đồng, tăng 218,71% so với năm trước.  - Tổng chi NSNN trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2021 đạt 19.975,13 tỷ đồng bằng 105,59% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 9.662,41 tỷ đồng chiếm 48,37% tổng chi, tăng 15,25% so với năm trước; chi thường xuyên đạt 10.296,48 tỷ đồng chiếm 51,55% tổng chi, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2020.  7. Hoạt động ngân hàng: Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh triển khai quyết liệt các biện pháp ứng phó với tác động của dịch; hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn do covid-19, để sớm phục hồi sản xuất kinh doanh; tiếp tục triển khai quyết liệt công tác cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu. Nhờ đó, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh nhưng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực trên các mặt hoạt động. Trong năm 2021 vừa qua mặt bằng lãi suất huy động trên địa bàn khá ổn định. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Nguồn vốn huy động tăng trưởng tốt ước đến cuối năm 2021 đạt 87.699 tỷ đồng, tăng 25,3%, so với cuối năm 2020. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 11.402 tỷ đồng, tăng (tăng 28,56% so với cuối năm 2020). Dư nợ cho vay đến 30/12/2021 ước đạt 70.465 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cuối năm 2020, đạt 96,3% so với kế hoạch đề ra. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 46.767 tỷ đồng (chiếm 26,93% tổng dư nợ), tăng 26,93% so với cuối năm 2020; dư nợ trung dài hạn đạt 23.698 tỷ đồng (chiếm 33,95% tổng dư nợ), giảm 0,84% so với cuối năm 2020. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 35,91% so với đầu năm; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 175,96 % so với đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp và nằm trong giới hạn cho phép, nợ xấu chiếm 0,7% dư nợ toàn địa bàn.  8. Hoạt động Vốn đầu tư - Xây dựng: Năm 2021, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, một số địa bàn tại các huyện, thành phố, thị xã phải thực hiện giãn cách xã hội và phong tỏa đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công, thực hiện các công trình dự án trên địa bàn. Song nhờ sự chỉ đạo quyết liệt Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sử chủ động của các Sở, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp trong triển khai các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến thủ tục hành chính, thẩm định hồ sơ, công tác giải phóng mặt bằng…và đăc biệt trong công tác phòng chống dịch. Vì vậy một số dự án và công trình được đẩy nhanh tiến độ và khởi công mới.  - Hoạt động đầu tư: Năm 2021, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt 27.314 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch giao và tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 31% GRDP, trong đó: Nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.039 tỷ đồng, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch vốn ngân sách Nhà nước tăng mạnh (tăng 51,05%), trong đó vốn chương trình mục tiêu quốc gia gấp 4,67 lần so với năm 2020; nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 17.898 tỷ đồng, tăng 18,02% so với cùng kỳ. Ở khu vực này, một số dự án ngoài nhà nước hiện đang xây dựng trên địa bàn tỉnh như: Dự án Nhà máy bia Hồng Lĩnh của Tập đoàn Hoành Sơn tiếp tục triển khai sau khi nhập được máy móc thiết bị, Dự án nhà máy thủy điện Ngàn trươi - Cẩm trang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công. Bên cạnh đó năm 2021 xúc tiến khới công nhà máy sản xuất Cell Pin, khởi công dự án nhà máy thủy điện Hương Sơn 2, dự án nhà ở phức hợp Tân Hoàng Minh; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 1377 tỷ đồng, giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm 61,58%) do dự án Gang thép Formosa đã hoàn thành nên giảm dần đầu tư; dự án khu bến cảng Phonix, điện mặt trời Sơn Quang tạm ngừng thi công.  - Hoạt động Xây dựng: Kết quả hoạt động ngành xây dựng năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng năm 2021 ước tính giảm -3,63% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các yếu tố về khó khăn chung của nền kinh tế như tình hình dịch bệnh Covid- 19, giá vật liệu xây dựng tăng cao thì nguyên nhân chủ yếu là do gặp một số khó khăn, vướng mắc thủ tục ở các bộ ngành làm chậm tiến độ  khởi công các dự án như: Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2, Nhà máy điện gió HBRE, Khu đô thị Nam Cầu Phủ...  9. Chỉ số giá tiêu dùng: Tình hình giá cả trên thị trường năm 2021 có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so với năm trước như: Nhóm hàng đồ uống, may mặc, vật liệu xây dựng, giáo dục, giao thông; tình hình dịch bệnh covid-19 diễn biến phức tạp khiến một số dịch vụ giải trí tiếp tục phải tạm ngừng hoạt động. Xuất khẩu hàng hóa gặp khó khăn, ảnh hưởng đến cung cầu tiêu dùng trong tỉnh.  Tính chung cả năm 2021, chỉ số giá CPI tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,96%; nông thôn tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì:  nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,68%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,97%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giao thông tăng 7,54%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; giáo dục tăng 9,93%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng tăng 6,95% so với năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,59%   II. MỘT SỐ LĨNH VỰC XÃ HỘI  1. Tình hình lao động, việc làm năm 2021 mặc dù chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, tuy nhiên, lao động đang làm việc trong nền kinh tế vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm so với năm trước.  Dân số trung bình năm 2021 ước tính 1.314.056 người, tăng 1,34% so với năm 2020 (tăng 17.434 người). Trong đó: Dân số thành thị 293.012 người, chiếm 22,29%; dân số nông thôn 1.021.044 người, chiếm 77,71%; dân số nam 650.793 người, chiếm 49,52% và dân số nữ 663.263 người, chiếm 50,48%.  Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 692.514 người, chiếm 52,7% dân số toàn tỉnh và tăng 3,08% so với năm 2020. Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 675.634 người, chiếm 97,56% so với lực lượng lao động và tăng 3,25% so với năm 2020. Trong đó, lao động có việc làm ở thành thị là 139.552 người, chiếm 20,65%; ở nam giới là 322.108 người, chiếm 47,67%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 349.247 người, chiếm 51,69% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 120.169 người, chiếm 17,79%; ngành dịch vụ là 206.219 người, chiếm 30,52%.  Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2021 là 22.568 người, đạt 102,58% kế hoạch năm 2021, tăng 13,45% so với năm 2020.  Số người không có việc làm (thất nghiệp) là 16.880 người, chiếm 2,44% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2021 ước tính là 3,07%, giảm 0,11 điểm phần trăm so với năm 2020.  2. Công tác bảo đảm an sinh xã hội: Năm 2021 thời tiết tương đối thuận lợi tạo điều kiện cho bà con nông dân tập trung sản xuất. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid, các cấp , các ngành đặc biệt quan tâm, hỗ trợ các đối tượng kịp thời. Đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.  Theo kết quả rà soát, năm 2021 tỷ lệ hộ nghèo là 4,68% (17.848 hộ, tương ứng 38.876 khẩu) tăng 1,17 điểm phần trăm so với năm 2020; tỷ lệ hộ cận nghèo là 5,09% (19.426 hộ, tướng ứng 60.896) tăng 0,78 điểm phần trăm so với năm 2020. Theo báo cáo sơ bộ năm 2021 toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 419.350 suất quà với tổng số tiền khoảng 112.486 triệu đồng cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội. Cấp khoảng 13.605 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.558 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 163.470 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 98.917 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Năm 2021 tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công khoảng 224.304 suất quà trị giá khoảng 51.500 triệu đồng. Trao tặng 82 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 646 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 1.876 nhà kinh phí khoảng 119.185 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 49 nhà kinh phí khoảng 1.793 triệu đồng.  3. Giáo dục, đào tạo: Năm học 2021 - 2022, Hà Tĩnh phấn đấu triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ với mục tiêu: đảm bảo an toàn cho học sinh và cán bộ, giáo viên trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, giữ vững chất lượng, hiệu quả giáo dục.  Trong năm học vừa qua, toàn tỉnh có 667 trường mầm non và phổ thông, 10.636 lớp, 18.172 giáo viên và 329.333 học sinh. Trong đó: Giáo dục mầm non: 254 trường, 2.846 lớp, 4.819 giáo viên và 76.567 học sinh; Tiểu học: 221 trường (220 trường công lập, 01 trường tư thục), 4.229 lớp học, 5.775 giáo viên và 131.971 học sinh; Trung học cơ sở: 147 trường (147 trường công lập), 2.369 lớp học, 4.806 giáo viên và 78.310 học sinh; Trung học phổ thông: 45 trường (39 trường công lập, 1 trường dân lập, 5 trường tư thục), 1.192 lớp, 2.772 giáo viên và 42.485 học sinh.  Chỉ tiêu tuyển sinh vào trường Đại học Hà Tĩnh hệ chính quy năm 2021 là 1.691 học sinh, trong đó: Hệ Đại học 1.641 chỉ tiêu, hệ Cao đẳng 50 chỉ tiêu. Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao.  Năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 17.100 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 1.200 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 4.700 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 11.200 người.          4. Công tác Y tế: Quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, năm 2021, ngành Y tế đã phối hợp với chính quyền địa phương triển khai quyết liệt giải pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc khoanh vùng rộng, phong tỏa hẹp, xét nghiệm nhanh, truy vết thần tốc để xử lý triệt để ổ dịch. Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tốc độ tiêm vắc-xin và tiếp tục linh hoạt trong việc cách ly, điều trị cho bệnh nhân COVID-19.               Tổng số ca mắc Covid-19 từ ngày 04/6/2021 đến ngày 26/12/2021 là 1.558 ca mắc, toàn tỉnh đã có 11/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 280 người. Tính đến ngày 25/12: đối với người từ 18 tuổi trở lên đã tiêm ít nhất 01 mũi đạt 98%; số đã tiêm mũi 2 đạt 85%; 97% trẻ em từ 12 đến dưới 18 tuổi đã được tiêm mũi 1. Ngành Y tế đang triển khai tiêm vắc xin đợt 20, 21, 22 cho người từ 18 tuổi trở lên và tiêm vắc xin đợt 3, 4 cho trẻ em.  Qua đánh giá, xác định mức độ dịch và tình hình diễn biến dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Sở Y tế ra thông báo Số 5166/TB- SYT ngày 27/12/2021 theo đó  cấp độ dịch trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh theo cấp độ 2 - nguy cơ trung bình.  Năm 2021 trên địa bàn Hà Tĩnh đã ghi nhận 2 ổ dịch sốt xuất huyết với 33 ca mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp nào tử vong vì dịch. Ngoài ra, còn có 9 ca mắc sốt xuất huyết (giảm 85,93% so với cùng kỳ năm trước), 1 ca mắc sốt rét (giảm 99,62%), 93 ca viêm não do vi rút (tăng 106,66%), 39 ca mắc bệnh quai bị (giảm 69,04%), 133 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 24,0%); 287 ca mắc lỵ a míp (tăng 11,24%); 723 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 13,68%), 16.237 ca mắc bệnh cúm (giảm 26,56%), tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên.  Tổng số người nhiễm mới HIV có 55 người, 50 người chuyển thành AIDS và 02 người chết vì AIDS, so năm 2020 số người nhiễm mới HIV giảm 20 người (giảm 26,67%), số người chuyển thành AIDS giảm 20 người (giảm 28,57%), số người chết vì AIDS giảm 7 người (giảm 77,77%).  Số vụ ngộ độc tập thể năm 2021 có 3 vụ, với 53 người bị ngộ độc tập thể, không có người chết vì ngộ độc tập thể, ngoài ra còn 1.244 ca ngộ độc đơn lẻ; So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc không đổi, số ca ngộ độc tập thể tăng 29 người (tăng 120,83%), số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 95 ca (tăng 8,26%).  5. Công tác đảm bảo trật tự ATGT, gắn với phòng chống dịch COVID-19 đã được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và sự vào cuộc của các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, chính quyền địa phương các cấp, tình hình TNGT giảm trên cả 3 tiêu chí.  Tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/12/2021 xảy ra 115 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 96 người, bị thương 50 người, thiệt hại tài sản 844 triệu đồng. So với với năm trước: giảm 9 vụ (giảm 6,50%), giảm 7 người chết (giảm 6,8%), giảm 14 người bị thương (giảm 21,87%). Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.   6. Các hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm từ các cấp, các ngành cùng toàn thể người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ với tinh thần “Tuổi trẻ Hà Tĩnh tình nguyện, sáng tạo vì cộng đồng”. Năm 2021 đã phát hiện 164 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 123 vụ, tổng số tiền xử phạt 2.867,85 triệu đồng; so với năm 2020 tăng 116 vụ (tăng 241,67%) đã phát hiện, tăng 80 vụ (tăng 186,05%) đã xử lý, tăng 2.538,45 triệu đồng (tăng 770,63%).  Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 đợt thiên tai trong năm đã làm 3 người chết, 4 người bị thương; 666 nhà bị hư hỏng; 12.025,8 ha lúa; 1.452,7 ha hoa màu; 900 con gia cầm, 3 con gia súc bị cuốn trôi và chết; Tổng thiệt hại ước tính là 187.280 triệu đồng.  Năm 2021 xẩy ra 63 vụ cháy, nổ làm 3 người chết và 2 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 6.355 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 4 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; số người chết không đổi. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. III. GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI Năm 2022 tiếp tục là một năm khó khăn đối với tỉnh nhà trong thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH khi mà tình hình Dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp; mặc dù tỷ lệ tiêm chủng ở trong nước, trong tỉnh dần được phủ kín nhưng chưa đồng đều; các chuỗi cung ứng và các liên kết sản xuất có thể bị gián đoạn cùng với tình trạng thiếu hụt lao động; giá năng lượng, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng sẽ gây áp lực lớn đến lạm phát. Việc bảo vệ sức khoẻ và ổn định sản xuất, giữ vững an ninh và an sinh xã hội là thách thức đòi hỏi nỗ lực rất lớn của Chính quyền cùng doanh nghiệp và người dân. Đứng trước những khó khăn nêu trên, để hoàn thành đồng thời 02 nhiệm vụ: Vừa chiến thắng dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho người dân, vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây:  Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh. Không chủ quan, lơ là; cách ly có chọn lọc, linh hoạt, thích ứng với trạng thái bình thường mới; nâng cao năng lực xét nghiệm tại các cửa khẩu, bến cảng cùng với năng lực điều trị bệnh Covid-19, năng lực tiêm chủng tại các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân. Hai là, huy động sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, khơi dậy sức mạnh văn hoá của người Việt Nam để mỗi người dân là một chiến sĩ trong việc tự bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân và gia đình, bảo vệ doanh nghiệp, cơ quan, trường học không bị nhiễm virus. Ba là, triển khai thực hiện kịp thời các chính sách giảm, giãn thuế; chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo việc làm và thu nhập tối thiểu cho người lao động.   Bốn là, chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất các vụ trong năm; khôi phục sản xuất chăn nuôi sau dịch tả lợn Châu Phi, chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. Năm là, tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong tất cả các hoạt động hành chính của cơ quan Nhà nước, nhất là những nơi thực hiện dịch vụ hành chính công - xem đây là nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng chính quyền điện tử phục vụ người dân, từ đó thay đổi tư duy quản lý, phương pháp quản trị điều hành trong toàn xã hội. Tranh thủ thời cơ đẩy nhanh việc số hoá dữ liệu ở tất cả cơ quan, nhất là dữ liệu dân cư, dữ liệu doanh nghiệp. Khuyến khích thành lập doanh nghiệp mới trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin, tài chính, giáo dục, y tế./.                                                                  CỤC THỐNG KÊ HÀ TĨNH   [1] Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2021 tỉnh Thanh Hóa: 8,85%; Nghệ An: 6,2%; Quảng Bình: 4,83%; Quảng Trị 6,5%; Thừa Thiên Huế: 4,36%. [2] Kỳ họp thứ 18 Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVII đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%