0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 3 và quý I năm 2023
  •   26/07/2024 14:34

Quý I năm 2023, thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH, QPAN trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục gặp không ít khó khăn, thách thức; những tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, lãi suất ngân hàng tăng cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp..vv. Trước những thuận lợi và khó khăn đan xen, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ngay từ đầu năm đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội trên từng ngành, lĩnh vực, địa phương; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm; phục hồi, phát triển công nghiệp; giữ vững ổn định sản xuất nông nghiệp; tiếp tục tập trung cao trong chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; khai thác hiệu quả và phát huy tiềm năng lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong quý I năm 2023 như sau: I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất trồng trọt trong quý I năm 2023 chủ yếu tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông 2022-2023 và tiến hành gieo trồng, chăm sóc cây vụ Xuân 2023. Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt, bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng, đặc biệt là thăm đồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại; Hoạt động chăn nuôi tương đối ổn định, sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát; Sản xuất lâm nghiệp thời tiết khá thuận lợi cho việc trồng rừng nên các chủ rừng tích cực triển khai trồng và chăm sóc rừng, sản lượng gỗ khai thác trong quý tăng khá do đến chu kỳ khai thác; Hoạt động sản xuất thủy sản có nhiều tín hiệu khả quan khi người dân tích cực ra khơi bám biển, sản lượng khai thác và nuôi trồng tăng so với cùng kỳ năm trước. 1.1 Sản xuất nông nghiệp a) Trồng trọt *Cây hằng năm Kết quả chính thức sản xuất vụ Đông 2022-2023: Tổng diện tích gieo trồng các loại cây vụ Đông 2022-2023 tăng 427 ha so với cùng kỳ năm trước và tăng 2.309 ha so với kế hoạch. Cây ngô: Diện tích ngô tăng 510 ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do năm nay bà con tận dụng những ngày nắng ráo để xuống giống gieo trỉa ngô hết diện tích hiện có. Bên cạnh đó, vụ Đông năm 2021-2022 ở huyện Hương Sơn một số xã miền núi gieo trỉa xong bị mưa ngập chậm lịch thời vụ nên chuyển sang trồng ngô sinh khối. Diện tích ngô chủ yếu tăng ở huyện Hương Sơn (tăng 209 ha) và huyện Hương Khê (tăng 419 ha). Năng suất ngô vụ Đông tăng 2,87 tạ/ha, với sản lượng ngô tăng 3.468 tấn so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, do cả diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Cây ngô sinh khối chính thức đạt 1.071 ha, bằng 113,22% (tăng 125 ha) so với cùng kỳ, chiếm 16,97% tổng diện tích ngô. Ngô sinh khối chủ yếu là phục vụ làm thức ăn cho gia súc của người dân. Cây lấy củ có chất bột: Diện tích cây lấy củ có chất bột chính thức đạt 1.323 ha, bằng 85,59% (giảm 223 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là diện tích khoai lang với 1.303 ha, bằng 85,79% (giảm 216 ha) so với cùng kỳ, chiếm 98,48% tổng diện tích cây lấy củ có chất bột. Diện tích khoai lang chủ yếu giảm ở huyện Nghi Xuân (giảm 123 ha). Nguyên nhân giảm là do một số xã có xây dựng khu công nghiệp nên chuyển mục đích sử dụng đất. Bên cạnh đó, năng suất khoai Đông thường thấp mà chi phí cao nên người dân cũng ít sản xuất. Năng suất khoai lang giảm 0,75 tạ/ha, với sản lượng giảm 1.478 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên sản lượng khoai giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Cây có hạt chứa dầu: Diện tích cây có hạt chứa dầu chính thức đạt 9 ha, bằng 39,64% (giảm 14 ha). Đây là diện tích lạc vụ Đông ở các huyện Nghi Xuân, Can Lộc. Do thời tiết đầu vụ Đông ở Hà Tĩnh thường nhiều mưa, việc gieo trồng lạc gặp khó khăn nên người dân ít gieo trỉa mà chủ yếu sản xuất lạc vụ Xuân. Năng suất lạc vụ Đông 2022-2023 đạt 19,13 tạ/ha, bằng 103,04% (tăng 0,56 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước với sản lượng lạc đạt 18 tấn, bằng 40,84% (giảm 26 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tuy năng suất lạc vụ Đông tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng do thời tiết đầu vụ Đông mưa nhiểu đã ảnh hưởng đến việc gieo trỉa làm cho diện tích giảm nên sản lượng giảm. Cây rau các loại: Diện tích rau các loại giảm 19 ha. Nguyên nhân giảm do vụ Đông năm nay thời tiết đầu vụ có nhiều ngày mưa rét nên nhiều hộ không tiến hành sản xuất cây vụ Đông. Năng suất các loại rau tăng 0,89 tạ/ha, với sản lượng rau tăng 322 tấn so với cùng kỳ năm trước. Tuy diện tích gieo trồng rau các loại vụ Đông năm 2022-2023 giảm nhưng do thời tiết thuận lợi hơn ở giữa vụ và cuối vụ nên năng suất và sản lượng rau tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Xuân 2023: Tính đến ngày 13/3/2023, toàn tỉnh đã gieo cấy lúa đạt 99,98% kế hoạch, trong đó: Diện tích lúa cấy là 5.388 ha (chiếm 9,1% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 53.650 ha (chiếm 90,9% tổng diện tích gieo cấy). Cơ cấu giống lúa chủ yếu là nhóm giống Nếp, Nhị ưu 838, Thái Xuyên 111, HT1, KD18, KDDB, BQ, Hà Phát 3, Bắc Thịnh, VNR20,…chiếm trên 95% tổng diện tích gieo cấy. Một số địa phương có diện tích gieo cấy vượt kế hoạch như: Hương Khê, Đức Thọ.   *Cây lâu năm  Cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Diện tích cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh có đến cuối năm 2022 là 31.698 ha, tăng 199 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích cây ăn quả là 19.497 ha, tăng 396 ha so với năm 2021, chiếm 61,51% tổng diện tích cây lâu năm và diện tích chè là 2.973 ha, chiếm 9,4% tổng diện tích cây lâu năm, giảm 160 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh, hiện nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Hiện nay cây ăn quả trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định. *Tình hình dịch bệnh, thiệt hại Trên cây lúa: Bệnh đạo ôn lá phát sinh gây hại ở Đức Thọ, Thạch Hà, Nghi Xuân, tỉ lệ trung bình 1-3%, cục bộ nơi cao 3-5% tập trung chủ yếu trên lúa gieo thẳng, diện tích 1,3 ha; ốc bươu vàng gây hại ở vùng sâu trũng, ngập nước không chủ động nước ở Đức Thọ, Cẩm Xuyên, mật độ trung bình 3-5con/m2, nơi cao 7-15 con/m2, diện tích 197 ha, trong đó 5 ha nhiễm nặng; chuột gây hại trên lúa gieo thẳng ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tỉ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, cục bộ 15-20%, diện tích 431 ha, trong đó 7 ha nhiễm nặng; bọ trĩ, ruồi đục nõn phát sinh gây hại ở Thạch Hà, Đức Thọ, Lộc Hà, Hồng Lĩnh, tỉ lệ 5-7%, nơi cao 7-10%, diện tích 88 ha; tuyến trùng rễ gây hại trên những chân ruộng khô, không chủ động nước, ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Đức Thọ, diện tích 253 ha; bệnh vàng lá, nghẹt rễ sinh lý xuất hiện ở một số địa phương Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm xuyên,…tỷ lệ bệnh 70-90%, chủ yếu trên các giống VRN20, Hòa Phát… Trên cây trồng cạn: Sâu keo mùa thu, sâu cắn lá phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, diện tích nhiễm 7 ha; bệnh đốm lá lớn, đốm lá nhỏ gây hại trên trà ngô sớm, diện tích 25 ha; sâu đục thân, đục bắp gây hại trên trà ngô sớm, diện tích 10 ha tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Tại Nghi Xuân hiện tượng cây thiếu chất (thiếu lân) gây ra bệnh huyết dụ, diện tích 50 ha; nhóm sâu ăn lá (sâu xanh bướm trắng, sâu keo) phát sinh gây hại trên cây rau trong vườn hộ, mật độ trung bình 3-5con/m2, nơi cao 5-7con/m2, diện tích 30 ha; rệp xanh, rệp đen gây hại trên rau họ hoa thập tự, tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 10-12%, diện tích 15 ha; bệnh sương mai tỉ lệ 7-10, nơi cao 10-15%, diện tích 17 ha; bọ nhảy 32 ha tập trung ở Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Hồng Lĩnh. Trên cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành 20 ha; sâu vẽ bùa, sâu nhớt 57 ha; bệnh ghẻ sẹo trên cây cam, diện tích 9 ha; bệnh chảy gôm 10 ha; rệp muội 20 ha; rầy chổng cánh 10 ha; bệnh vàng lá thối rễ 5 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,… b) Chăn nuôi Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2023 ổn định và sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi tăng hơn so với cùng kỳ năm 2022. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn lợn và đàn gia cầm tăng nhẹ. Tuy nhiên, do giá bán thịt hơi trâu, bò giảm mạnh nên người dân không mở rộng quy mô chăn nuôi đã làm cho tổng đàn trâu, bò đang có xu thế giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong quý I/2023, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh dịp Tết vừa qua tương đối dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Sau khi tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu dịp Tết thì hiện nay người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, do giá thức ăn và các chi phí đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, trong tháng 3/2023 không phát sinh dịch bệnh đối với đàn vật nuôi. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2023 trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có 21 con trâu, bò mắc bệnh lở mồm long móng tại xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh.    1.2. Lâm nghiệp Thời gian qua, điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho việc trồng cây nên các chủ rừng đã tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2023. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào quỹ đất rừng sản xuất khai thác nên kết quả trồng rừng tập trung trong tháng 3 và cả quý I/2023 giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng đầu năm 2023 giảm 87 ha so với cùng kỳ năm trước. Việc trồng cây xanh phân tán để tạo môi trường sống trong lành luôn được các địa phương quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây xanh ở các đô thị và khu dân cư ngày càng thu hẹp nên kết quả trồng cây phân tán quý I/2023 giảm 227 ngàn cây so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng sản xuất nên thường thiếu ổn định giữa các tháng. Kết quả sản lượng gỗ khai thác trong quý I/2023 tăng 4.273 m­3 so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 7 vụ phá rừng (giảm 4 vụ), với diện tích rừng bị phá là 3,43 ha (giảm 0,23 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Tháng 3 cũng như 3 tháng đầu năm 2023, hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh có nhiều tín hiệu khả quan khi người dân tích cực ra khơi bám biển, sản lượng khai thác và nuôi trồng đều tăng, đặc biệt là sản lượng khai thác tăng 213 tấn (tăng 2,23%) so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt trong quý là mùa thu hoạch sò lông và các loại nhuyễn thể nên thu nhập mỗi chuyến cho thu nhập hàng chục triệu đồng. Mặc dù phương tiện và tiềm lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, giá cả nhiên liệu và các chi phí khác tăng cao nhưng ngành thủy sản ở các địa phương đã tích cực tuyên truyền, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách khuyến khích ngư dân khai thác tiềm năng và lợi thế kinh tế biển, phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, thực hiện tốt công tác đăng ký, đăng kiểm tàu cá và các phương án đảm bảo an toàn cho ngư dân và tàu cá hoạt động trên biển. Tình hình dịch bệnh: Sau 2 tháng không có dịch bệnh, trong tháng 3/2023 trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra dịch bệnh vi bào tử trùng đối với tôm nuôi tại xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà với diện tích nhiễm bệnh là 0,32 ha. Khi dịch bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, tiến hành dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm.2. Sản xuất công nghiệp Quý I năm 2023 hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn khi một số ngành công nghiệp có quy mô lớn phải chịu những ảnh hưởng bởi tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái kinh tế thế giới cũng như cầu thị trường từ các nước giảm. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong quý I năm 2023 ước giảm 1,09% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 3/2023, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 15,48% so với tháng trước và tăng 0,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,85% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,27% so với tháng trước và giảm 2,09% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 29,72% so với tháng trước và tăng 22,99% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 9,51% so với tháng trước và giảm 16,87% so với tháng 3/2022. Dự ước quý I năm 2023 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh ổn định hơn so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I/2023 giảm nhẹ 1,09% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 14,92%, đóng góp -0,12 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,96%, làm giảm 1,69 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,61%, làm tăng 1,12 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 19,16%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.    Nguyên nhân dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp chung trong I/2023 có giảm nhẹ là do: (1) Tại thời điểm cùng kỳ năm trước hoạt động sản xuất thép, phôi thép là rất ổn định và đảm bảo kế hoạch đề ra. Tuy nhiên hiện nay dó ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, mà “hạt nhân” nền kinh tế tỉnh nhà là Formosa từ đầu đến nay vẫn gặp một số khó khăn nên sản xuất cầm chừng, Cụ thể, trong quý I năm 2023 sản lượng thép sản xuất đạt 1,27 triệu tấn, giảm 18,5 ngàn tấn; phôi thép đạt 1,41 triệu tấn, giảm 6,4 ngàn tấn (giảm 0,45%); sợi 1,59 ngàn tấn, giảm 56 tấn (giảm 3,40%); bia Sài gòn quý 1/2023 đạt 13,47 triệu lít, giảm 1,17 triệu lít và giảm 7,98%); Bia Hà Nội Nghệ Tĩnh đang làm thị trưởng, nên sản lượng chưa đáng kể (quý I khoảng 2 triệu lít). (2) Mặc dù tổ máy số 1 của nhà máy nhiệt điện 1 đã được khắc phục nhưng đến nay vẫn chưa hòa lưới điện quốc gia. (3) Ngành khai khoáng đang gặp khó khăn do chi phí sản xuất tăng cũng như các quy định, thủ tục về khai thác mỏ ngày càng được quản lý nghiêm ngặt hơn nên sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ. 2.2.   Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 7 nhóm sản phẩm cộng dồn 3 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 35% trong tổng số sản phẩm). Trong đó, có một số sản phẩm như: Mực đông lạnh tăng 92,87%; điện thương phẩm tăng 20%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 10,72%; điện sản xuất tăng 8,46%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 7,1%; bia đóng lon tăng 6,37%; nước uống được tăng 5,3%. Có 12 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 65%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Trong đó, có một số sản phẩm như: Chè (trà) nguyên chất giảm 43,01%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 22,32%; nước không uống được giảm 21,06%; đá xây dựng khác giảm 13,24%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 1,44%... 2.3. Chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự ước quý I/2023 giảm 10,98% so với cùng kỳ năm trước. Với mức tiêu thụ sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm do ảnh hưởng của thị trường cả trong và ngoài nước cũng như giá cả trong thời gian qua. Nguyễn nhân chỉ số tiêu thụ giảm là do mức tiêu thụ của một số ngành giảm mạnh so với cùng kỳ, đặc biệt là 5 nhóm ngành: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 55,27%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 27,31%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 27,04%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 14,93%; sản xuất kim loại giảm 10,7%... Chỉ số tồn kho: Ước tính tháng 3/2023 tăng 33,74% so với tháng trước và tăng 39,84% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho sản phẩm bia để chuẩn bị phục vụ nhu cầu tăng cao trong mùa hè của Công ty TNHH MTV Bia Sài Gòn - Hà Tĩnh (tồn kho đến tháng 3/2022 là 262 ngàn lít và tháng 3/2023 là 2.700 ngàn lít). Ngoài ra chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ ở một số ngành như: Chế biến bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản tăng 232,78%; sợi tăng 71,52%; sản xuất giấy và sản phẩm tờ giấy tăng 265,06%... Chỉ số sử dụng lao động: Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng 3/2023 tương đối ổn định, không có sự thay đổi nhiều so với tháng 02/2023. Lao động của toàn ngành công nghiệp tháng 3/2023 tăng 0,59% so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước giảm 8,37% và cộng dồn 3 tháng đầu năm 2023 giảm 7,47% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 3 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp khai khoáng giảm 15,13% và ngành chế biến, chế tạo giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân bên cạnh việc đưa công nghệ, máy móc thiết bị vào sản xuất thay thế sức lao động thì còn có yếu tố do khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên có một số đơn vị sản xuất giảm quy mô lao động.  3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 3.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động hiệu quả, thời gian qua Hà Tĩnh tập trung rà soát, đánh giá, đơn giản hóa quy trình, thủ tục hành chính theo hướng chủ động phục vụ doanh nghiệp, đảm bảo nhanh gọn và thuận lợi cho nhà đầu tư. Tính từ đầu năm đến ngày 22/3/2023, toàn tỉnh thành lập mới 259 doanh nghiệp, giảm 16,98% so cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký đạt 766 tỷ đồng, giảm 65,01% so cùng kỳ năm trước, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 2,9 tỷ đồng, giảm 58,75% so cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại sau khi tạm ngừng 115 doanh nghiệp (giảm 32,75% so với cùng kỳ). Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong quý I vừa qua, tình hình biến động của thị trường trong và ngoài nước, cùng với đó là lãi suất ngân hàng tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 55 doanh nghiệp giải thể (tăng 18 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2022), 262 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động (tăng 71 doạnh nghiệp so với cùng kỳ). Nhìn chung, từ kết quả đăng ký thành lập mới, tự giải thể, tạm ngừng hoạt động của các doanh nghiệp cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I vừa qua vẫn đang còn gặp khó khăn nhất là các nguồn vốn đã ảnh hưởng đến phát triển của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển chung của toàn nền kinh tế tỉnh nhà. 3.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Đánh giá tổng quan tình hình SXKD của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2023 so với quý IV/2022, có 51,16% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó có 13,95% khẳng định SXKD tốt lên; 37,21% khẳng định giữ ổn định). Bên cạnh đó, có tới 48,84% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Điều đó cho thấy rất nhiều doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý I/2023 gặp khó khăn trong sản xuất, hoạt động kém hiệu quả hơn so với quý trước. Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2023 khả quan hơn so quý I/2023 khi có 88,37% doanh nghiệp nhận định SXKD quý II sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý I (trong đó 58,14% dự báo tốt lên và 30,23% dự báo giữ ổn định), chỉ có 11,63% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. Các ngành dự báo SXKD quý II/2023 tốt hơn và giữ ổn định so quý I/2023 gồm: Sản xuất đồ uống; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu; sản xuất kim loại. Đánh giá về số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý I/2023 so với quý IV/2022 chỉ có 7,14% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên, 42,86% giữ nguyên và có 50% giảm đi. Các doanh nghiệp dự báo quý II/2023 số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên. Có 30,77% doanh nghiệp nhận định tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới và 38,46% nhận định giữ nguyên như quý I. Đây là tín hiệu tích cực trong hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu trong thời gian tới. Đánh giá về tồn kho thành phẩm ngành chế biến, chế tạo quý I/2023 có 20,93% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm tăng, 37,21% giữ nguyên và 41,86% đánh giá tồn kho thành phẩm giảm so với quý trước. Dự báo xu hướng thành phẩm tồn kho quý II/2023 sẽ tiếp tục tăng hơn quý I/2023 khi có 25,58% dự báo tăng, 41,86% dự báo không thay đổi và có 32,56% dự báo tồn kho thành phẩm sẽ giảm. Về xu hướng tồn kho nguyên vật liệu quý II/2023 có 18,6% số doanh nghiệp dự báo tăng lên, 44,19% số doanh nghiệp dự báo giữ nguyên và 37,21% số doanh nghiệp dự báo giảm khối lượng tồn kho nguyên vật liệu so với quý I/2023. Với kết quả này thể hiện việc tiêu thụ sản phẩm sản xuất vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Nhìn chung, hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng 3 và quý 1 giữ được sự ổn định và hoạt động khá nhộn nhịp. Sức mua hàng hoá của người dân ngày càng tăng cao, thị trường giá cả hàng hóa ổn định, không có tăng giá đột biến, cũng như tình trạng găm hàng hóa được cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát, chống gian lận thương mại, hàng giả, kiểm soát chặt chẽ. Các nhóm ngành dịch vụ, du lịch lữ hành đạt doanh thu khá, đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ của nhóm khu vực này. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 3 năm 2023 ước đạt 4.580,39 tỷ đồng, tăng 4,80% so với tháng trước và tăng mạnh 25,38% so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có chỉ số doanh thu biến động mạnh so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước như: Ô tô con tăng 20,21% nhưng so với thời điểm này năm trước giảm sâu với mức 32,41%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 10,12% so với tháng trước và tăng 32,73% so với cùng kỳ; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 8,46% so với tháng trước và so với cùng kỳ tăng 19,73% (nhóm xăng dầu các loại tăng đến 35,99%). Nguyên nhân biến động chủ yếu của những nhóm hàng này chủ yếu do yếu tố thời tiết, mùa vụ sau khi tháng trước giảm do dịp vừa ra Tết thì sang tháng 3 nhu cầu các mặt hàng này đã tăng trở lại. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại trực tiếp ảnh hưởng tói nhóm doanh thu này, cùng với đó những ảnh hưởng tiêu cực từ thị trường bất động sản năm nay và lãi suất tín dụng tăng cao trong thời gian qua đã ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm mới phương tiện đi lại, từ đầu năm đến nay trên thị trường không xuất hiện mẫu xe mới, các mẫu cũ đều có doanh số bán ra thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2023, doanh thu bán lẻ ước đạt 14.213,5 tỷ đồng, tăng rất cao 23,84% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu so với cùng kỳ là nhóm ô tô và phương tiên đi lại (lần lượt giảm ở mức 27,86% và 31,85%), nguyên nhân như đã nói ở trên. Còn lại các nhóm hàng khác đều có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 32,08%; hàng may mặc tăng 45,55%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 40,98%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 34,07%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 29,36%; xăng dầu các loại tăng 38,64%; nhiên liệu khác tăng 18,92%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 31,11%; hàng hóa khác tăng 17,57%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 17,74%. Nhìn chung, trong quý I trùng với nhiều ngày lễ nên nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của người dân tăng mạnh, mức tăng trưởng tập trung chủ yếu vào dịp trước, trong và sau Tết. Cho thấy đời sống người dân đang được đảm bảo hơn. Các mặt hàng như: Gạo nếp, bánh kẹo, bia rượu, thực phẩm tươi, thực phẩm chế biến… là những mặt hàng có doanh số bán ra cao và ổn định. Bên cạnh đó, các ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, dịch bệnh Covid-19 được khống chế nên nền kinh tế phát triển ổn định. Hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 3/2023 dự tính đạt 560,32 tỷ đồng, tăng 8,05% so với tháng trước, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: dịch vụ l­ưu trú ước đạt 18,73 tỷ đồng, tăng 4,52% so với tháng trước nhưng tăng 19,30% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 538,07 tỷ đồng, tăng 8,15% so với tháng trước nhưng so với cùng vẫn tăng 26,45%; du lịch lữ hành ước đạt 3,53 tỷ đồng tăng 12,06% so với tháng trước, cùng kỳ hoạt động du lịch đang tạm ngừng. Doanh thu dịch vụ du lịch trong tháng tăng do trong tháng, tình hình thời tiết thuận lợi, các cơ sở kinh doanh nhà hàng ăn uống hoạt động ổn định hơn so với tháng sau Tết hoạt động ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 khiến nhu cầu ăn uống ngoài gia đình tăng khá. Tính chung quý I năm 2023, doanh thu hoạt động l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.594,66 tỷ đồng, tăng 31,61% so với cùng kỳ, trong đó: L­ưu trú đạt ước 56,21 tỷ đồng, tăng 49,19% so với cùng kỳ; lượt khách phục vụ 296,8 nghìn lượt, tăng 39,43%; ngày khách phục vụ 226.027 ngày, tăng 20,76% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 1.529,72 tỷ đồng, tăng 30,30% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 8,73 tỷ đồng. Hoạt động dịch vụ, du lịch trong quý I/2023 nhìn chung giữ được sự ổn định, hoạt động khá nhộn nhịp, doanh thu cao hơn so với quý trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, lượng khách du lịch tăng lên rất nhiều, tăng chủ yếu là khách du lịch tâm linh, vãn cảnh đầu xuân. Đối với hoạt động ăn uống do trùng vào mùa cưới hỏi, các ngày lễ tết Dương lịch, Âm lịch, tổng kết năm, ngày lễ tình nhân 14/02, ngày quốc tế phụ nữ 08/3 nên nhu cầu ăn uống, đặt tiệc tăng. Các dịch vụ du lịch trên địa bàn tiếp tục được đầu tư phát triển nâng cao chất lượng dịch vụ phụ trợ du lịch Hà Tĩnh như tổ hợp giải trí sân golf, khách sạn đẳng cấp ven biển đầu tiên tại Hà Tĩnh của Tập đoàn Mường Thanh; Trường đua chó, đua ngựa Xuân Thành; khu nhà nghỉ container Xuân Thành; Công viên nước Vinpearl Water Park Cửa Sót... Dự tính quý 2 tới, khi Hà Tĩnh bước vào cao điểm mùa nóng các hoạt động du lịch, lưu trú và ăn uống tại các bãi biễn sẽ tăng rất lớn, đây cũng là cơ hội để tỉnh nhà phát huy tiềm năng lợi thế với rất nhiều bãi biển đẹp như: Thiên Cầm, Thạch Hải, Thạch Bằng... Ngoài ra, các khu du lịch sinh thái với cảnh đẹp thu hút khách quan cũng là hình thức du lịch mới phát triển khá nhiều trên địa bàn. Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu tháng 3 năm 2023 ước tính đạt 370,43 tỷ đồng, tăng 5,69% so với tháng trước và tăng 35,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng mạnh nhất ở nhóm 2 nhóm hàng: Dịch vụ vui chơi giải trí tăng 11,26% so với tháng trước, tăng 148,51% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác 7,95% so với tháng trước và tăng 27,73% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu các loại hình các dịch vụ vui chơi giải trí trong tháng tăng cao, nhất là các giải đấu thể thao không chuyên được tổ chức kháp các địa bàn trên toàn tỉnh trong chuỗi hoạt động nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/3... Bên cạnh đó các công trình xây dựng tăng thi công do thời tiết khá thuậ lợi, nhu cầu san lấp mặt bằng, nhóm ngành hành chính và dịch vụ máy móc tăng cao. Quý I năm 2023, doanh thu dịch vụ khác thực hiện ước đạt 1.096,43 tỷ đồng, tăng 33,51% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, doanh thu dịch vụ khác quý I/2023 tăng khá cao, nhất là các nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn tăng mạnh như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 287,05%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 63,43%; dịch vụ khác tăng 21,34%... Hiện nay các công trình như: Nhà máy sản xuất Pin Lithium, Nhà máy nhiệt điện II, Khu đô thị Hà Mỹ Hưng... đang đẩy nhanh tiến độ thi công, do đó doanh thu nhóm ngành hành chính và dịch vụ máy móc vẫn tiếp tục tăng cao mà nhóm ngành này chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu dịch vụ khác nên tính chung ngành vẫn sẽ tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ. 4.2. Hoạt động kinh doanh vận tải Tình hình hoạt động kinh doanh ngành vận tải trên địa bàn tỉnh quý 1/2023 diễn ra khá sôi động và nhộn nhịp, nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa tăng cao. Dịch vụ vận tải đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Tính riêng các tháng trong quý thì tháng 3 doanh thu vận tải hành khách có giảm nhẹ hơn so với tháng trước, nhưng vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng doanh thu cao lại tăng mạnh, nên doanh thu chung ngành vẫn đạt mức tăng trưởng khá so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ. Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi tháng 3 năm 2023 ước đạt 542,90 tỷ đồng, tăng 6,20% so tháng trước và tăng 8,55% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt ước đạt 73,89 tỷ đồng, giảm 2,45% so với tháng trước và tăng 32,41% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển giảm 13,81% so với tháng trước, tăng 31,05% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển giảm 6,95% so với tháng trước và tăng 56,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 376,08 tỷ đồng, tăng 8,68% so với tháng trước và tăng 13,78% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 8,71% so với tháng trước và tăng 14,96% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển tăng 9,17% so với tháng trước và tăng 11,53% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 91,78 tỷ đồng, tăng 3,83% so với tháng trước và giảm 18,74% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải tháng 3/2023 đạt kết quả tăng trưởng tốt chủ yếu là do ngành vận tải hàng hóa, với thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng, các công trình xây dựng cơ bản tiếp tục thi công nhu cầu vận tải nguyên vật liệu xây dựng tăng, cộng với đó nhu cầu vận tải hàng hóa của các đơn vị kinh doanh nước giải khát, hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất, hàng hóa xuất nhập khẩu như thủy sản, dăm gỗ, thép... cũng tăng cao. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng lượng hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty Cổ phần Cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng. Nên việc vận tải hành khách giảm doanh thu do yếu tố mùa vụ dịp sau Tết cũng không kéo giảm doanh thu ngành vận tải chung. Tính chung quý I năm 2023, hoạt động vận tải ước tính đạt 1.547,53 tỷ đồng, tăng 8,11% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 235,82 tỷ đồng, tăng 57,56% so với cùng kỳ năm trước với số lượng vận chuyển ước đạt 2.884,98 nghìn HK, tăng 70,37% và luân chuyển ước đạt 558,67 triệu HK.km, tăng 97,63% so với cùng kỳ năm trước; Vận tải hàng hóa ước tính đạt 1.040,13 tỷ đồng, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm 2022 với khối lượng vận chuyển đạt 11.379,73 nghìn tấn, tăng 11,35% và luân chuyển đạt 353,10 triệu tấn.km, tăng 6,45% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 268,16 tỷ đồng, giảm 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải quý I năm 2023 có doanh thu tăng so với quý trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông công cộng và taxi để đi lại của người dân tăng lên vào dịp tết Nguyên đán. Đồng thời lượng khách du lịch tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị từ hoạt động vận tải, tạo đà cho nhóm ngành này phát triển trở lại sau thời gian dài bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động. Cộng với, thời tiết thuận lợi cho các công trình xây dựng tiếp tục thi công, nhu cầu xây dựng, san lấp mặt bằng và xuất khẩu hàng hóa ổn định nên các doanh nghiệp, cơ sở vận tải hàng hóa và cho thuê máy móc hoạt động thuận lợi và có doanh thu cao hơn. 5. Tài chính, ngân hàng 5.1. Hoạt động tài chính Trong bối cảnh kinh tế cả nước chịu tác động do xung đột Nga - Ukraine và hậu đại dịch COVID-19, một số chính sách miễn giảm thuế của Nhà nước làm “hụt thu” ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước tiếp tục tập trung ưu tiên cho công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế xã hội. Thu ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/3/2023 đạt 2.745,39 tỷ đồng (giảm 45,28% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 1.128,69 tỷ đồng (chiếm 41,11 % trong tổng thu) giảm 46,97% so với cùng kỳ. Thu ngân sách 3 tháng đầu năm đạt thấp so với cùng kỳ do một số nguyên nhân chính hiện nay nhà nước tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh bất động sản trầm lắng kéo theo nhiều khó khăn trong thu tiền sử dụng đất, thuế chuyển nhượng bất động sản. Hiện nay Hà Tĩnh triển khai thực hiện Quyết định số 01/2023/QĐ-TTg giảm 30% tiền thuê đất, thuê mặt nước của năm 2022 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.... Cụ thể một số sắc thuế giảm mạnh so với cùng kỳ như: Các khoản thu về nhà đất đạt 95,7 tỷ đồng (giảm 67,12%); thuế bảo vệ môi trường đạt 72,29 tỷ đồng (giảm 60,04%); thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 95,7 tỷ đồng (giảm 60,22%); thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 5,42 tỷ đồng (giảm 83,98%)… Bên cạnh thu nội địa, thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu tính đến ngày 15/3/2023 đạt 1.403,73 tỷ đồng (chiếm 51,13% tổng thu) giảm 36,06% so với cùng kỳ, nguyên nhân do đầu năm, nhu cầu tiêu dùng chưa nhiều, tâm lý doanh nghiệp đang chủ yếu thăm dò thị trường nên chưa đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Ngoài ra, kinh tế thế giới suy thoái ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ thép nên Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh sụt giảm hoạt động xuất nhập khẩu, dẫn đến nguồn thu ngân sách của Hà Tĩnh bị ảnh hưởng. Chi ngân sách Nhà nước: Mặc dù thu ngân sách đang gặp nhiều khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/3/2023 đạt 5.146,74 tỷ đồng tăng 52,25% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 2.673,96 tỷ đồng chiếm 51,95% tổng chi, tăng 124,84% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 2.471,72 tỷ đồng chiếm 48,03% tổng chi, tăng 12,80% so với cùng kỳ năm 2022. 5.2. Hoạt động ngân hàng Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng Hà Tĩnh luôn có những đóng góp quan trọng tích cực cùng tỉnh nhà thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. Ngay từ đầu năm, ngành Ngân hàng Hà Tĩnh triển khai nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn và cho vay hỗ trợ người dân doanh nghiệp khắc phục khó khăn và phục hồi phát triển kinh tế. Trong 3 tháng đầu năm, tổng nguồn vốn huy động ước tăng 3,36%; dư nợ cho vay ước tăng 2,66 % so với cuối năm 2022. Tổng nguồn vốn huy động ước đến 31/3/2023 đạt 87.100 tỷ đồng, tăng 3,36% so với cuối năm 2022. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 12.205 tỷ đồng chiếm 14,01% tổng nguồn vốn huy động, tăng 2,66 % so với cuối năm 2022. Nguồn vốn tăng trưởng ở nguồn tiền gửi tiết kiệm ước đạt 66.321 tỷ đồng, tăng 6,67% do ngay từ đầu năm ngành ngân hàng đẩy mạnh triển khai các chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng. Dư nợ cho vay ước đến 31/3/2023 đạt 89.520 tỷ đồng, tăng 2,66% so với cuối năm 2022. Trong đó, dư nợ ngắn hạn ước đạt 60.267 tỷ đồng (chiếm 67,32% tổng dư nợ), tăng 2,43% so với cuối năm 2022; dư nợ trung dài hạn ước đạt 29.253 tỷ đồng (chiếm 32,68 % tổng dư nợ), tăng 3,6% so với đầu năm. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 35.672 tỷ đồng, chiếm 39,84% dư nợ toàn địa bàn, giảm 0,37% so với cuối năm 2022. Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,6-6% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4-8,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 6-9,2%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 5-11%/năm, trung dài hạn phổ biến 10,5-13,5%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 2-4,5%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 5,5-6,5%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, đến thời điểm 31/3/2023, nợ xấu ước đạt 618 tỷ đồng chiếm 0,69% tổng dư nợ. Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp, giảm so với thời điểm cuối năm 2022 và nằm trong giới hạn cho phép. Thời gian tới các TCTD tiếp tục thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ và các dự án trọng điểm của tỉnh. Kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. 6. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý I/2023 ước đạt 9.864.509 triệu đồng, giảm 25,14% so với quý trước và tăng 46,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn khu vực nhà nước ước đạt 1.779.403 triệu đồng, chiếm 18,04% tổng vốn đầu tư và tăng 37,66% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 4.288.479 triệu đồng, chiếm 43,48% tổng vốn đầu tư và tăng 27,55% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.796.627 triệu đồng, chiếm 38,48% tổng vốn đầu tư và tăng 171,35% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.288.479 triệu đồng, giảm 31,62% so với quý trước và tăng 27,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.659.578 triệu đồng, tăng 28,01% so với quý trước và tăng 5,06% so với cùng kỳ năm trước. So với các quý cuối năm, các dự án công trình giãn tiến độ thi công do trùng với nhiều ngày lễ kéo dài do đó nguồn vốn đầu tư doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng bởi yếu tố nguồn vốn vay do đó các doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm đầu tư máy móc, cơ sở vật chất so với quý trước. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 3.796.627 triệu đồng, tăng 32,91% so với quý trước và tăng 171,35% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao chủ yếu là do vốn đầu tư từ nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ước thực hiện 3.625 tỷ đồng, trong đó đầu tư xây dựng cơ bản là 1.368 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các hạng mục phụ trợ thuộc nhà máy gang thép Formosa (129 tỷ đồng), dự án xây dựng hạ tầng văn phòng cho thuê Phú Vinh tiếp tục triển khai thi công. 7. Hoạt động xuất nhập khẩu Tháng 3 hoạt động xuất, nhập khẩu có dấu hiệu chững lại so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 3 năm 2023 ước đạt 434,0 triệu USD, giảm 4,54% so với tháng trước và giảm 27,26% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý 1 năm 2023, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 1.330,49 triệu USD, giảm nhẹ 0,27% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 năm 2023 ước đạt 198,8 triệu USD, giảm 11,69% so với tháng trước, giảm 10,44% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, quý 1/2023 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 627,09 triệu USD, tăng 44,81% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do việc xuất khẩu thép, phôi thép mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu, sau 2 tháng đầu năm tăng cao đã có dấu hiệu giảm do tác động từ thị trường thế giới (Tính riêng xuất khẩu sản phẩm thép, phôi thép tháng 3 ước đạt 187,3 triệu USD giảm 12,15% so với tháng trước và giảm 11,16% so với cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu cả quý 1 ước đạt 589,6 triệu USD tăng 47,06%). Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu tháng 3 các mặt hàng khác như: xơ, sợi dệt các loại đạt 1,0 triệu USD, thủy sản đạt 0,5 triệu USD, hàng may mặc 1,2 triệu USD… có tăng so với tháng trước nhưng giá trị xuất khẩu quá nhỏ nếu so với tổng kim ngạch nên không kéo được tăng trưởng xuất khẩu. Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 năm 2023 ước đạt 235,2 triệu USD, tăng 2,47% so với tháng trước, giảm 37,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, quý I năm 2023 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 703,4 triệu USD, giảm 21,31% so với cùng kỳ. Trong đó, chủ yếu nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất cho Formosa (Ước đạt 581,34 triệu USD giảm 28,66% so với cùng kỳ năm trước). Mặc dù, quý I vừa qua sự chuyển dịch đã rất tích cực khi tăng kim ngạch xuất khẩu và giảm kim ngạch nhập khẩu, tuy nhiên cán cân thương mại ở tỉnh nhà vẫn đang nhập siêu 76,31 triệu USD, hi vọng thời gian tới Hà Tĩnh sẽ tiến tới là 1 trong số các tỉnh nhập siêu trong cả nước. 8. Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 3 năm 2023 giảm nhẹ 0,44% so với tháng trước, nhưng so cùng tháng năm trước vẫn tăng ở mức 1,92%. Tính chung chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý 1 tăng 2,55% so với cùng kỳ. Chỉ số CPI tháng 3 tính riêng khu vực thành thị giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước và khu vực nông thôn giảm 0,29% so với tháng trước, tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, cụ thể: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,53% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,71%; giao thông giảm 0,21% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 3,05%; bưu chính viễn thông giảm 0,03% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,77%. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn cả nước giảm sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua, cộng với giá gạo các loại tiếp tục tăng giá nhưng tình hình thị trường tiêu dùng thịt gia súc lại gặp khó khăn do nguồn cung lớn trong khi nhu cầu tiêu dùng thấp khiến giá tiếp tục giảm. Bên cạnh 1 số nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm, thì có đến 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước, bao gồm: Hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,18% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,21%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,37% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,78%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,55%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,09% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,51%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02% so tháng trước, tăng 3,78% so cùng tháng năm trước; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,19% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,48%. Biến động tăng của các nhóm hàng tuy chỉ ở mức tăng nhẹ, tuy nhiên có thể thấy một phần nguyên nhân một số mặt hàng tiêu dùng nhiều như lương thực, thực phẩm, giá cước vận tải, xăng dầu… đang ở mức cao và đỉnh giá so với các năm trước nên biến động giá sẽ không còn mạnh như thời gian trước. Thị trường giá vàng và ngoại tệ trong tháng bình quân tăng giảm theo xu hướng của thị trường thế giới, cụ thể giá vàng tiếp tục đà tăng, còn đồng đo la Mỹ có dấu hiệu hạ nhiệt hơn, cụ thể: Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.457 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.367.999 đồng/100 USD. CPI quý I năm 2023 tăng 2,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,97%; nông thôn tăng 2,8%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,73%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,89%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,24%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,78%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,49%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,44%; giao thông giảm 0,36%; bưu chính viễn thông giảm 0,75%; giáo dục tăng 2,35%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,75%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,25% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ quý 1 năm 2023 tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Do dịp Tết Nguyên đán rơi vào thời điểm giữa quý, các nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hoa, cây cảnh, giao thông, đồ uống, thuốc lá tăng mạnh so với quý trước. Dự kiến CPI tháng 4/2023 dự kiến tăng và sẽ tăng mạnh ở các nhóm thực phẩm thủy sản biển do là tháng bước vào mùa du lịch biển, do đó mặt hàng tươi sống biển như tôm, cá. Ngoài ra các nhóm hàng hóa khác như giá khách sạn, nhà nghỉ và thực phẩm hải sản các loại dự kiến tăng giá. Bên cạnh đó, thời tiết chuyển mùa nắng nóng nên nhu cầu hàng nước giải khát, mua sắm đồ dùng điện lạnh, quạt điện…đều tăng nên giá các mặt hàng này cũng sẽ biến động tăng theo. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm  Quý I năm 2023, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước. Dịch covid-19 cơ bản được kiểm soát tốt so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đang tăng cường tuyển dụng lao động với mức lương hấp dẫn và nhiều chế độ phúc lợi kèm theo để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Tính chung 3 tháng đầu năm 2023, lao động đang làm việc trong tỉnh tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp giảm 1,43 điểm phần trăm. Lực lượng lao động: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước quý I năm 2023 là 521.589 người, giảm 2,92% so với quý trước và tăng 0,47% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, lực lượng lao động là nam 279.357 người (chiếm 53,56%); lực lượng lao động nữ 242.232 người (chiếm 46,44%); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 124.337 người (chiếm 23,84%); thuộc khu vực nông thôn là 397.252 người (chiếm 76,16%). Quý I năm 2023, có đến 53,74% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, giảm 1,02 điểm phần trăm so với quý IV/2022 và tăng 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022 Lao động có việc làm: Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý I năm 2023 là 499.167 người, chiếm 95,7% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; giảm 2,7% so với quý trước và tăng 1,99% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên thì khu vực thành thị là 121.445 người, chiếm 24,33% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 268.997 người, chiếm 53,89%. Số lao động làm việc trong ngành Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 29,89% trong tổng số (tương ứng 149.213 người), giảm 1,85 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 28,96% (tương ứng 144.551 người), tăng 0,15 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 41,15% (tương ứng 205.403 người), tăng 1,7 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Quý I/2023 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 22.422 người, chiếm 4,3% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,21 điểm phần trăm so quý trước và 1,43 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có đến 87,1% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 19.530 người). Còn theo giới tính, lao động nữ chiếm nhiều hơn nam, chiếm 53,8 % (tương đương 12.062 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý I/2023 ước tính là 5,49%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý I/2023 là 3,77%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,23 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình giải quyết việc làm: Để giúp người lao động có việc làm ổn định, ngoài tổ chức các sàn giao dịch định kỳ, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh đã kết nối với một số doanh nghiệp tổ chức các phiên giao dịch việc làm, sàn giao dịch việc làm; đồng thời triển khai chương trình hợp tác xuất khẩu lao động, mở thêm nhiều lớp đào tạo tay nghề cho lao động Hà Tĩnh Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý I năm 2023 là 5.235 người, tăng 28,4% so với quý trước và giảm 19,15% so cùng kỳ năm 2022. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 2.892 người, chiếm 55,24% trong tổng số, giảm 17,49% so với cùng kỳ năm trước; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 1.336 người, chiếm 25,52%, tăng 32,41%; xuất khẩu lao động 1.007 người, chiếm 19,24%, giảm 48,65%. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Đời sống dân cư: Quý I năm 2023 tình hình dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát tốt so với cùng kỳ, đã tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ đi vào hoạt động ổn định nên tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc. Bên cạnh đó, tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Đồng thời, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội: 3 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 214.238 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 77,775 tỷ đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 104.628 suất quà trị giá 27,866 tỷ đồng; tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 39.599 suất quà trị giá 22,269 tỷ đồng; tặng quà cho người cao tuổi khoảng 31.865 suất quà trị giá 12,310 tỷ đồng; tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 15.000 suất quà trị giá 6,2 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 23.146 suất quà trị giá 9,129 tỷ đồng. Cấp khoảng 17.110 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 32.753 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 151.922 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 48.718 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công; 181.317 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng khác. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 59 nhà kinh phí khoảng 3.885 triệu đồng; số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 7 nhà kinh phí khoảng 370 triệu đồng. Trong dịp tết Nguyên đán Quý Mão đã hỗ trợ 8,33 tấn gạo cho các hộ đồng bào dân tộc Chứt. Nhìn chung, công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. 3. Giáo dục đào tạo Năm học 2022-2023 ngành Giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 1112/CT-BGDĐT ngày 19/8/2022 của Bộ Giáo dục & Đào tạo về thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2022 - 2023, mặc dù triển khai thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền các cấp, sự nỗ lực của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn Ngành nên đã gặt hái được nhiều kết quả cao trong thời gian qua. Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái thành công về số lượng và chất lượng giải. Trong số 69/84 học sinh dự thi đoạt giải (đạt tỷ lệ 82,14%), có 8 giải nhất, 25 giải nhì, 19 giải ba và 17 giải khuyến khích, với kết quả đó Hà Tĩnh là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về số lượng học sinh đoạt giải nhất (sau Hà Nội). Trong 8 giải nhất, có 2 em đạt giải là môn Toán, 1 em môn Hóa, 3 em môn Tin học, 1 em môn Văn và 1 em môn Địa lý; có 2 em đạt điểm số thủ khoa, gồm: 1 em môn Toán với điểm số 32 và 1 em môn Hóa với tổng điểm 32,375. Với kết quả đó, Hà Tĩnh đã có 19 học sinh được tham gia vòng 2 Kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế, cụ thể: môn Toán có 8 em; môn Vật lý có 6 em; môn Tin học có 4 em và môn Hóa có 1 em. Đây cũng là năm Hà Tĩnh có nhiều học sinh lọt vào vòng 2 nhất từ trước đến nay. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Trong tháng xuất hiện đợt nắng nóng gay gắt trên diện rộng đầu tiên trong năm đã ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân, đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ. Đây cũng là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của các loại vi khuẩn, nấm mốc, nên cơ quan chức năng khuyến cáo người dân dân nên có kế hoạch sinh hoạt, làm việc hợp lý; áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe để đề phòng sốc nhiệt. Chủ động lựa chọn, sử dụng, bảo quản thực phẩm đúng cách, tránh nguy cơ gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm.  Tình hình dịch bệnh Covid-19: Mặc dù tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, tuy nhiên cần cảnh giác với các yếu tố nguy cơ sau: thời tiết nắng nóng gay gắt; tình trạng tập trung đông người nhất là bắt đầu mùa lễ hội, du lịch; một bộ phận người dân, chủ quan, coi nhẹ dịch bệnh, không thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định; phát sinh tình trạng một số ca mắc COVID-19 tự phát hiện, không khai báo nên cơ quan chuyên môn khó quản lý, kiểm soát. Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 23/3/2023 là 57.253 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 58.212 ca mắc. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca sốt xuất huyết, 1 ca sốt rét, 17 ca mắc bệnh quai bị, 23 ca mắc lỵ trực trùng, 31 ca mắc lỵ a míp, 25 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.396 ca mắc bệnh cúm, 19 ca chân tay miệng, 218 ca tiêu chảy, 7 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 3 tháng năm 2023, trên địa bàn cũng chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 10 ca sốt xuất huyết (tăng 7 ca so với cùng kỳ năm trước), 1 ca sốt rét (tăng 1 ca), 41 ca mắc bệnh quai bị (tăng 16 ca), 61 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 16 ca), 77 ca mắc lỵ a míp (tăng 8 ca), 61 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 11 ca), 3.762 ca mắc bệnh cúm (tăng 1.131 ca), 4 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 44 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 556 ca tiêu chảy (tăng 156 ca), 22 ca viêm gan vi rút khác (tăng 5 ca) và không có người chết do các bệnh trên. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và trách nhiệm của người nhiễm HIVAIDS với gia đình, xã hội; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.  Trong tháng, có 10 người nhiễm mới HIV, 10 người chuyển thành AIDS và có 01 người chết vì AIDS; tăng 7 người nhiễm HIV, 9 người chuyển thành AIDS, còn số người chết vì AIDS không thay đổi so với tháng trước và tăng 7 người nhiễm AIDS, 9 người chuyển thành AIDS, 01 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng năm 2023, có 16 người nhiễm mới HIV, 12 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS; tăng 10 người nhiễm HIV, 9 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Quý I/2023 là thời gian cao điểm của các lễ hội mùa xuân, nhu cầu sử dụng thực phẩm vì thế tăng cao. Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), Chi cục ATVSTP tỉnh và các đoàn kiểm tra liên ngành của các huyện, thị, thành phố đã chủ động xây dựng kế hoạch và phối hợp với các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm ATVSTP cho người tiêu dùng. Trong tháng, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 68 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; giảm 1 vụ ngộ độc tập thể (giảm 7 người), giảm 10 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 12,82%), số người chết vì ngộ độc không thay đổi so với tháng trước và giảm 68 ca ngộ độc đơn lẻ, còn ngộ độc tập thể và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng năm 2023, có 1 vụ ngộ độc tập thể (làm 7 người bị ngộ độc), 199 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (nhưng tăng 4 người bị ngộ độc), tăng 79 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 65,83%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao Hoạt động văn hóa: Quý I năm 2023, trùng với Tết Nguyên đán, Hà Tĩnh đã triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước, đặc biệt là tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 93 Ngày năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Quý Mão. Tổ chức bắn pháo hoa tại 2 địa phương là Thành phố Hà Tĩnh và Thị xã Kỳ Anh vào thời khắc giao thừa. Toàn tỉnh thay mới hơn 2.000m2 tranh cổ động tấm lớn, pano, áp phích các loại và hàng trăm lượt khẩu hiệu, băng rôn, cờ Tổ quốc. Trong đó, Trung tâm Văn hóa điện ảnh tỉnh thực hiện 250 m2 tranh tuyên truyền trực quan tại các cụm cổ động Bến Thủy, Đèo Ngang và thành phố Hà Tĩnh. Tổ chức 04 tuần phim nhân kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930-3/2/2023) và 12 buổi chiếu phim về truyền thống lịch sử cho học sinh THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh. Tham gia trình diễn nghệ thuật và trưng bày “Hành trình sắc màu di sản văn hóa phi vật thể đại diện các vùng miền” tại Festival “Về miền Quan họ - 2023”; tổ chức Lễ khai hội chùa Hương Tích, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2023; tổ chức tốt tuần phim phục vụ nhân dân; chương trình văn nghệ tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2023 tại các địa phương, đặc biệt ưu tiên biểu diễn phục vụ các chiến sỹ, đồng bào vùng sâu, vùng xa. Tổ chức trưng bày báo Xuân Quý Mão năm 2023; tổ chức trưng bày, giới thiệu 02 lượt sách báo, tư liệu về và sách mới nhân kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2023). Bổ sung và biên soạn sách theo định kỳ; xử lý nghiệp vụ 169 tên sách (382 cuốn), biên soạn 03 cuốn thư mục toàn văn “Hà Tĩnh qua báo chí Trung ương”; cấp mới 485 thẻ; phục vụ hàng ngàn lượt bạn đọc Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Thực hiện 02 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, trong đó 01 cuộc kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội Quý Mão năm 2023; 01 cuộc kiểm tra liên ngành Văn hóa - Xã hội với 15 lượt tại 45 cơ sở kinh doanh lĩnh vực quảng cáo, lưu trú du lịch, lễ hội, karaoke. Đã lập biên bản kiểm tra 21 cơ sở; yêu cầu ký cam kết khắc phục sửa chữa biển hiệu, biển quảng cáo đối với 15 cơ sở; xử phạt vi phạm hành chính 05 trường hợp với số tiền 25,5 triệu đồng, chuyển Công an tỉnh xử lý 02 trường hợp với số tiền 15 triệu đồng. Ngoài ra, quý I năm 2023, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh cũng đã cấp 102 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép lĩnh vực du lịch, 02 giấy phép lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, 98 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. Hoạt động thể thao: Thể thao quần chúng: Quý I năm 2023, các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức nhiều giải thể thao, trò chơi dân gian mừng Đảng, mừng Xuân Quý Mão 2023, trung bình mỗi xã tổ chức được 3 - 5 giải, huyện tổ chức 2 - 3 giải. Đặc biệt, trong thời gian này, huyện Can Lộc đã tổ chức được nhiều hoạt động thể thao tại Lễ Khai hội Chùa Hương Tích "Mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2023”; huyện Hương Sơn tổ chức giải Đua thuyền nam và nữ. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh còn tổ chức tuyên truyền về “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân”; tổ chức điểm “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân” ở 02 đơn vị địa phương (Huyện Lộc Hà và thị xã Kỳ Anh) thu hút hàng nghìn người dân tham gia. Ngoài ra, các Sở, ngành trên toàn tỉnh cũng đã tổ chức nhiều hoạt động thể thao như: Bóng chuyền nữ, Việt dã, Bóng chuyền Nam thanh niên toàn tỉnh năm 2023. Thể thao thành tích cao: Quý I năm 2023, đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 3 giải giành 15 huy chương (gồm 7 HCV, 5 HCB, 3 HCĐ), cụ thể: Giải vô địch Rowing máy tại TPHCM từ 18-29/12 giành được 3 huy chương (gồm 1 HCV, 2 HCB); Giải việt dã chào năm mới BTV – Number One giành 4 huy chương (gồm 1 HCV, 2 HCB, 1 HCĐ); Giải Vô địch các CLB Pencak Silat quốc gia năm 2023 (diễn ra từ ngày 7 – 14/3 tại TP. Hồ Chí Minh), giành được 8 huy chương (gồm 5HCV, 1HCB, 2 HCĐ). Cũng trong thời gian này, đội bóng chuyền nam Hà Tĩnh thi đấu đạt giải Ba tại giải Bóng chuyền Cúp Hoa Lư, hiện đang xếp thứ 3 bảng A sau lượt đi tại giải Bóng chuyền Vô địch Quốc gia. Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tham gia thi đấu ở giải Vô địch Quốc gia sau 4 vòng đấu tạm thời xếp thứ 7 tại giải Vô địch Quốc gia; Đội bóng đá U17 Hồng Lĩnh Hà Tĩnh đang thi đấu Vòng Chung kết U17 Quốc gia năm 2023 tại Hưng Yên. 6. Tai nạn giao thông Nhằm đảm bảo an toàn giao thông, ngăn ngừa các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông, Công an các huyện, thành phố, thị xã và các đơn vị liên quan tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vi phạm về trật tự ATGT. Đồng thời xem xét trách nhiệm liên đới của chủ phương tiện, doanh nghiệp vận tải khi để xảy ra sai phạm. Tính từ ngày 15/02-14/3/2023 xảy ra 11 vụ tai nạn đường bộ, làm 11 người chết, 1 người bị thương, thiệt hại 120 triệu đồng; tăng 4 vụ, tăng 6 người chết, giảm 2 người bị thương so với tháng trước và tăng 8 vụ, tăng 10 người chết, số người bị thương không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính từ ngày 15/12/2022-14/3/2023 đã xảy ra 26 vụ tai nạn đường bộ, làm 23 người chết, 5 người bị thương, thiệt hại 310 triệu đồng; tăng 6 vụ, tăng 5 người chết, giảm 6 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2023, tai nạn đường sắt, đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/02-14/3/2023 đã xảy 3 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 20 triệu đồng; giảm 4 vụ, thiệt hại về người không đổi so với tháng trước và tăng 1 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính từ 15/12/2022-14/3/2023 xảy ra 18 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 170 triệu đồng; tăng 12 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Riêng dịp Tết Nguyên đán Quý Mão 2023 từ ngày 20/01/2023 (ngày 29 tháng Chạp) đến ngày 26/01/2023 (ngày Mùng 05 Tết) xảy ra 01 vụ, không có thiệt hại về người, thiệt hại tài sản không đáng kể (không thay đổi so với dịp Tết Nhâm Dần 2022). Công tác bảo vệ môi trường: Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững. Tuy vậy, nhận thức về bảo vệ môi trường của nhiều cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp còn hạn chế, chưa tự giác tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. Cụ thể: Tính từ ngày 15/02-14/3/2023 đã phát hiện 29 vụ và đã xử lý 51 vụ, với tổng số tiền xử phạt 94,6 triệu đồng; giảm 111 vụ đã phát hiện, giảm 54 vụ đã xử lý, giảm 231,6 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và tăng 15 vụ đã phát hiện, tăng 48 vụ đã xử lý, tăng 93,8 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay (từ 15/12/2022-14/3/2023) đã phát hiện 319 vụ, xử lý 267 vụ, tổng số tiền xử phạt 759,5 triệu đồng; giảm 52 vụ đã phát hiện (giảm 14,02%), tăng 1 vụ đã xử lý (tăng 0,38%), số tiền xử phạt giảm 119,38 triệu đồng (giảm 13,58%) so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiệt hại thiên taiTrong tháng không xảy ra, không thay đổi so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay không xảy ra thiên tai và không thay đổi so cùng kỳ năm trước./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 02 năm 2023
  •   26/07/2024 14:21

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp trong tháng 02 năm 2023 chủ yếu tập trung chăm sóc cây vụ Đông 2022 và gieo trồng các loại cây vụ Xuân năm 2023. Nhìn chung, điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không có rét đậm nên hiện nay các loại cây trồng vụ Xuân 2023 đã sản xuất đang phát triển tốt; Hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định, tổng đàn các loại vật nuôi biến động nhẹ so với cùng kỳ, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt; Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung hưởng ứng tết trồng cây nên lượng cây trồng phân tán tăng so với tháng trước, bên cạnh đó thì công tác trồng rừng và khai thác gỗ có phần hạn chế do sau Tết người dân vẫn đang nghỉ ngơi và du xuân; Sản xuất thủy sản thời tiết thuận lợi nên ngư dân tích cực ra khơi bám biển, đặt biệt mùa này cho thu hoạch các loại cá đù, cá cơm, ruốc biển, tôm, cá bạc má, sò và các loại nhuyễn thể…nên các tàu đánh bắt đều cho thu nhập khá. Đây là những tín hiệu tích cực để khuyến khích ngư dân tăng cường khai thác hải sản trong thời gian tới. 1.1 Sản xuất nông nghiệp                 *Trồng trọt   Mục tiêu sản xuất: Phấn đấu diện tích các cây trồng vụ Xuân 2023 đạt 81.062 ha, cụ thể: Diện tích lúa gieo cấy 59.049 ha, năng suất đạt trên 56,7 tạ/ha với sản lượng đạt trên 33,5 vạn tấn; diện tích ngô 5.381 ha, năng suất đạt trên 50 tạ/ha với sản lượng đạt trên 26,9 nghìn tấn; diện tích khoai lang 1.572 ha, năng suất đạt trên 80 tạ/ha với sản lượng đạt trên 12,6 nghìn tấn; diện tích lạc 8.954 ha, năng suất đạt trên 26,8 tạ/ha với sản lượng đạt trên 24 nghìn tấn; diện tích rau các loại 5.728 ha, năng suất đạt trên 72 tạ/ha với sản lượng đạt trên 41 nghìn tấn; diện tích đậu các loại 378 ha, năng suất đạt 9,9 tạ/ha với sản lượng đạt 374 tấn. Tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2023: Tính đến ngày 13/02/2023, toàn tỉnh đã gieo cấy lúa đạt 99,98% kế hoạch, trong đó: Diện tích lúa cấy là 5.388 ha (chiếm 9,1% tổng diện tích gieo cấy) và diện tích lúa gieo thẳng là 53.650 ha (chiếm 90,9% tổng diện tích gieo cấy). Cơ cấu giống lúa chủ yếu là nhóm giống Nếp, Nhị ưu 838, Thái Xuyên 111, HT1, KD18, KDDB, BQ, Hà Phát 3, Bắc Thịnh, VNR20,…chiếm trên 95% tổng diện tích gieo cấy. Một số địa phương có diện tích gieo cấy vượt kế hoạch như: Hương Khê, Đức Thọ.  Cùng với gieo cấy lúa thì trong tháng 02/2023 bà con nông dân cũng đã xuống giống sản xuất các loại cây trồng vụ Xuân. Tuy nhiên, do thời gian qua bà con nông dân đang tập trung gieo cấy lúa và điều kiện thời tiết có mưa, đất ướt nên tiến độ sản xuất các loại cây trồng cạn vụ Xuân tính đến ngày 13/02/2023 vẫn đạt thấp so với kế hoạch. Tháng 02/2023, sau Tết cùng với việc chăm sóc diện tích cây đã gieo trồng thì bà con nông dân tiếp tục sản xuất gieo trỉa các loại cây trồng cạn vụ Xuân 2023 theo kế hoạch và đảm bảo khung lịch thời vụ. Thiên tai, dịch bệnh: Trên cây trồng vụ Đông Xuân 2022-2023 xuất hiện một số dịch bệnh gây hại như sau: (1) Đối với cây lúa thì ốc bươu vàng gây hại ở vùng sâu trũng, ngập nước, không chủ động nước ở Đức Thọ, Cẩm Xuyên, tỷ lệ 7-10%, diện tích 19 ha và chuột gây hại trên lúa gieo thẳng ở Đức Thọ, Lộc Hà, diện tích 15 ha; (2) Cây ngô, sâu keo mùa thu, sâu cắn lá phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, diện tích nhiễm 7ha; bệnh đốm lá lớn, đốm lá nhỏ gây hại trên trà ngô sớm, diện tích 35 ha; bệnh khô vằn gây hại trên trà ngô 7-9 lá, diện tích 12 ha; sâu đục thân, đục bắp gây hại trên trà ngô sớm, diện tích 10 ha, tập trung tại các huyện Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…; (3) Trên cây rau, nhóm sâu ăn lá (sâu xanh bướm trắng, sâu keo) phát sinh gây hại trong vườn hộ, mật độ trung bình 3-5 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2, diện tích 30 ha; rệp xanh, rệp đen gây hại trên rau họ hoa thập tự, tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 10-12%, diện tích 15 ha; bệnh sương mai tỷ lệ 7-10, nơi cao 10-15%, diện tích 17 ha; bọ nhảy 32 ha, tập trung ở các địa phương Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, thị xã Hồng Lĩnh.  *Chăn nuôi Tháng 02/2023, các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát nên hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định, tổng đàn các loại vật nuôi biến động nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Cuối tháng 01/2023, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh dịp Tết vừa qua tương đối dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp Tết, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Sau khi tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu dịp Tết thì hiện nay người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, do giá thức ăn và các chi phí đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 15/02/2023 trên địa bàn xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh có 21 con trâu, bò mắc bệnh lở mồm long móng chưa qua 21 ngày. 1.2 Lâm nghiệp            Trong tháng 02, là dịp Tết trồng cây Xuân Quý Mão nên số lượng cây trồng phân tán tăng hơn so với tháng trước (tăng 111,7%). Tuy nhiên, do quỹ đất trồng cây của các địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng thu hẹp nên số lượng cây trồng phân tán giảm hơn so với cùng kỳ năm trước (giảm 34,77%). Cùng với trồng cây phân tán thì hoạt động trồng rừng sản xuất vụ Xuân năm 2023 và khai thác gỗ cũng đang được các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện. Nhưng do sau Tết người dân vẫn còn nghỉ ngơi, du xuân nên kết quả trồng rừng tập trung giảm 29,76% và sản lượng gỗ khai thác tháng 02/2023 giảm 19,6% so với tháng trước.  Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 2/2023 đã xẩy ra 4 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 1,04 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/02/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 7 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 3,43 ha. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng 02 cũng như 2 tháng đầu năm 2023 nhìn chung vẫn ổn định. Sản lượng nuôi trồng được thu hoạch để phục vụ nhu cầu dịp tết Nguyên đán Quý Mão. Những chuyến biển của ngư dân thường bắt đầu từ buổi tối đến rạng sáng ngày hôm sau và chủ yếu đánh bắt vùng lộng gần bờ bằng tàu thuyền cỡ nhỏ nên cũng ít tốn kém chi phí hơn, trong khi những chuyến biển đầu năm đạt khá nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác. Tuy nhiên, do tháng 02 là thời gian sau Tết nhiều ngư dân đang dành thời gian nghỉ ngơi, du xuân chưa ra khơi khai thác hải sản nên sản lượng khai thác có giảm nhẹ so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh. 2. Sản xuất công nghiệp (IIP) Hai tháng đầu năm 2023 hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn khi một số ngành công nghiệp tiếp tục phải chịu những ảnh hưởng bởi tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái kinh tế thế giới cũng như gặp các sự cố về hỏng hóc, tạm ngừng sửa chữa máy móc thiết bị. Vì vậy, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong 2 tháng đầu năm ước giảm 3,02% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất tháng 02 năm 2023 dự ước tăng 5,59% so với tháng trước và giảm 2,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 65,64% so với tháng trước và tăng 27,24% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,61% so với tháng trước và giảm 5,47% so với tháng 02/2022; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,71% so với tháng trước và tăng 20,04% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,09% so với tháng trước và giảm 19,51% so với cùng kỳ năm 2022. Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 3,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng giảm 6,85%, làm giảm 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,7% làm giảm 2,31 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện giảm 1,63%, làm giảm 0,19 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 20,96%, làm giảm 0,45 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Nguyên nhân dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp chung trong 2 tháng giảm là do: (1) Tại thời điểm cùng kỳ năm trước hoạt động sản xuất thép, phôi thép là rất ổn định và đảm bảo kế hoạch đề ra. Tuy nhiên hiện nay do ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, mà “hạt nhân” nền kinh tế tỉnh nhà là Formosa từ đầu đến nay vẫn gặp một số khó khăn nên sản xuất cầm chừng, sản lượng phôi thép và thép sản xuất có phần giảm xuống so với cùng kỳ năm 2022. (2) Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực như thép, điện sản xuất, sợi tiếp tục xu hướng giảm, là nguyên nhân chính dẫn đến sản xuất công nghiệp 2 tháng giảm, cụ thể như (thép đạt 0,78 triệu tấn, giảm 2%; điện sản xuất đạt 1,27 tỷ kWh, giảm 2,4%; sợi đạt 938 tấn, giảm 11%). (3) Khi sản lượng thép giảm, lượng điện sản xuất giảm thì ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm sẽ giảm theo. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số tăng so cùng kỳ (chiếm 36,84% trong tổng số sản phẩm) và có 12 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 63,16% trong tổng số sản phẩm). Cụ thể: Nhóm sản phẩm có chỉ số tăng bao gồm: Bia đóng lon tăng 49,09%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 27,12%; điện thương phẩm tăng 16,88%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 11,84%; dịch vụ sản xuất dược phẩm tăng 8,23%; nước uống được tăng 2,12% và mực đông lạnh tăng 0,5%. Ngoài ra một số nhóm sản phẩm có chỉ số giảm bao gồm: Chè (trà) nguyên chất giảm 53,03%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 30,81%; nước không uống được giảm 23,07%; bê tông trộn sẵn giảm 19,2%; ... Nhìn chung chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính đến cuối tháng 02 năm 2023 ước giảm so với cùng kỳ năm trước do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng trong tháng giảm sản lượng do gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng sữa chữa thiết bị, máy móc. 3. Vốn đầu tư Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý dự ước tháng 02/2023 mặc dù có cao hơn so với tháng trước (tăng 13%) và so với cùng kỳ năm trước (tăng 12,96%), nhưng vẫn còn khá thấp. Tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 2 tháng đầu năm 2023 ước giảm 21,16% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 02/2023 ước đạt 301,33 tỷ đồng, tăng 13% so với tháng trước và tăng 12,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 240,76 tỷ đồng, tăng 15,28% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 55,47 tỷ đồng, tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 6,02% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 5,10 tỷ đồng, tăng 4,53% so với tháng trước và tăng 32,66% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý dự ước tháng 02/2023 có cao hơn so với tháng trước và cùng kỳ năm trước nhưng vẫn không đạt kỳ vọng đề ra. Nguyên nhân chính là do: (1) Sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán các công trình trở lại thi công hơi chậm. (2) Việc triển khai khởi công các công trình mới vẫn đang gặp nhiều khó khăn do quy trình thủ tục đầu tư cần nhiều thời gian. Bên cạnh đó, một số công trình lại vướng khâu giải phóng mặt bằng. (3) Các công trình thuộc nguồn vốn ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh có tổng vốn đầu tư lớn chưa khởi công xây dựng. Mặt khác, nguồn vốn ODA chưa giao vốn kế hoạch tới công trình, do đó giá trị thực hiện công trình thuộc nguồn vốn ODA trong quý đầu năm đạt thấp. Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 568 tỷ đồng, giảm 21,16% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2023 giảm 20,12% so với năm trước. Bên cạnh đó, các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp, chỉ đạt 9 % kế hoạch năm. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 02, nền kinh tế tỉnh Hà Tĩnh vận hành bình thường trở lại sau thời gian nghỉ Tết dài ngày. Khi nhu cầu và giá cả các mặt hàng tiêu dùng đều giảm mạnh thì nhu cầu tham quan, du lịch, vãn cảnh đầu xuân năm mới Quý Mão 2023 cho du khách và người dân địa phương tăng cao. Là điều kiện để quảng bá hoạt động du lịch tỉnh nhà, nhất là các danh lam thắng cảnh, điểm du lịch tâm linh, di tích văn hóa lịch sử tăng mạnh như: Chùa Hương Tích, Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, Chùa Phổ Độ, Đền ông Hoàng Mười, Đền bà Nguyễn Thị Bích Châu, Khu du lịch Đá bạc Eco, Khu du lịch sinh thái Đồng Nôi, Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ… Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 02/2023 doanh thu bán lẻ ước đạt 4.667,70 tỷ đồng, giảm 11,30% so với tháng trước và tăng 28,96% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng, chỉ có 02 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với tháng trước là: Nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,91% do các hoạt động xây dựng đã trở lại thi công sau kỳ nghỉ Tết và nhóm xăng, dầu các loại tăng 1,535 chủ yếu do sự điều chỉnh về giá nguyên nhiên liệu theo giá xăng, dầu thế giới. Còn lại các nhóm hàng khác đều giảm khá sâu so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ thì tổng mức hàng hóa vẫn đảm bảo ở mức tăng khá cao ở các nhóm mặt hàng. Nguyên nhân cơ bản đã tác động đến kết quả kinh doanh bán lẻ hàng hóa trong tháng có thể kể đến là: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, tháng sau tết Nguyên đán nên nhu cầu và giá cả nhiều nhóm hàng hóa tiêu dùng giảm mạnh. Thứ hai, so sánh cùng kỳ thì dịch bệnh Covid-19 năm nay được kiểm soát, các giải pháp hạn chế đi lại được bãi bỏ, đời sống kinh tế - xã hội có xu hướng ổn định. Nhiều ngành nghề sản xuất, kinh doanh hoạt động ổn định khiến lượng cầu hàng hóa, dịch vụ tăng. Thứ ba, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại. Tính chung, 02 tháng đầu năm 2023 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.930,22 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ năm trước. Biến động rõ nét nhất so với cùng kỳ ở các nhóm mặt hàng thiết yếu và chiếm tỷ trọng doanh thu cao như: Lương thực, thực phẩm tăng 28,61%; may mặc tăng 55,44%; đồ dùng, thiết bị gia đình tăng 53,64%; xăng dầu các loại tăng 40,04%;... Chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm so với cùng kỳ đó là nhóm ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 8,96%; phương tiện đi lại khác giảm 9,12%, nguyên nhân chủ yếu do đây là các mặt hàng xa xỉ, và dường như đang có dấu hiệu bão hòa thị trường, bên cạnh đó việc lãi suất tín dụng đang ở mức cao cũng ảnh hưởng đến sức mua các mặt hàng này. Nhưng nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa những tháng đầu năm 2023 có những tín hiệu tích cực và đạt được mức tăng khá hơn so với cùng kỳ năm 2022. Hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Trong tháng 02/2023 doanh thu ước đạt 547,21 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước, tăng 30,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 19,75 tỷ đồng, tăng 1,03% so với tháng trước, tăng 53,12% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 106.690 lượt, tăng 1,02% so với tháng trước và tăng 51,14% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ 79.135 ngày, tăng 0,61% so với tháng trước, tăng 24,97% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 525,33 tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước, tăng 28,81% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước đạt 2,13 tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước. Trong tháng, các nhóm ngành đều có xu hướng tăng hơn so với tháng trước. Nguyên nhân do nhu cầu của người dân đi tham quan du lịch ngày càng cao. Các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch cũng đầu tư cơ sở vật chất tốt để phục vụ khách tham quan. Trong và sau Tết là thời điểm du lịch tâm linh phát triển mạnh, nhu cầu đi lễ, du xuân của người dân tăng. Tháng 02/2023 cũng là tháng khai hội Chùa Hương mở đầu cho năm du lịch Hà Tĩnh, khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc lượng khách ghé dâng hương tri ân cũng tăng so với tháng trước. Trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Quý Mão khu du lịch Chùa Hương đón khoảng hơn 14 ngàn lượt khách về lễ hội. Từ đầu năm đến thời điểm hiện tại có khoảng 53 nghìn lượt khách đến Chùa Hương Tích. Ngoài ra, trong tháng thời tiết chuyển dần sang mùa nắng nên các bãi biển cũng bắt đầu thu hút được lượng khách so với tháng trước. Những điều này, phần nào tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống trong tháng tăng. Bên cạnh đó, hiện nay xu hướng ăn uống ngoài gia đình phát triển đã kéo theo sự gia tăng hàng loạt các loại hình ăn uống như quán hàng, quán ăn từ sang trọng đến bình dân nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.074,44 tỷ đồng tăng 39,45% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 39,31 tỷ đồng, tăng 78,87%; lượt khách phục vụ 212.300 lượt, tăng 63,6%; ngày khách phục vụ 157.790 ngày, tăng 41,53% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 1.030,95 tỷ đồng, tăng 37,74% so với cùng kỳ năm trước; ngành du lịch lữ hành ước đạt 4,18 tỷ đồng. Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 02/2023 ước tính đạt 264,97 tỷ đồng, giảm 6,96% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 70,02% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 549,78 tỷ đồng, tăng 58,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 25,74%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 114,66%; giáo dục đào tạo tăng 56,01%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 28,37%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 3,8 lần; dịch vụ khác tăng 30,41%. Nhìn chung, kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và các dịch vụ khác 2 tháng đầu năm có nhiều khởi sắc so với cùng kỳ năm trước. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải hành khách tháng 2 trở lại vận hành bình thường sau quãng thời gian nghỉ Tết dài ngày. Hoạt động vận tải hành khách đường bộ biến động giảm mạnh so với tháng trước, nguyên nhân chính do giá vé vận chuyển hành khách bằng phương tiện ô tô đường dài được điều chỉnh giảm về mức trước tết Nguyên đán. Trong khi đó, doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa lại tăng do các thành phần và các ngành kinh tế đều có số ngày hoạt động tăng, thúc đẩy nhu cầu vận chuyển hàng hoá tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất và thi công công trình tăng. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 02 năm 2023 ước đạt 460,24 tỷ đồng, tăng 1,75% so tháng trước và tăng 7,59% so cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 2 ước đạt 117,09 tỷ đồng, giảm 5,06% so với tháng trước và tăng 46,55% so với cùng kỳ năm trước. Do tháng trước trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, lượng khách đi lại trong dịp Tết tăng. Cùng với đó, trong tháng hình thái rét đậm rét hại nên nhu cầu thuê xe đi lại dịp Tết và sử dụng các phương tiện công cộng như taxi, xe buýt ở mức cao. Bước sang tháng 2 nhu cầu đi lại cũng ít hơn, cùng với đó là giá vé xe đã được giảm về giá vé ngày thường nên doanh thu vận tải hành khách trong tháng giảm so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ hoạt động vận tải hành khách vẫn ở mức tăng cao, ghi nhận sự phát triển mạnh trở lại trong loại hình vận tải này, sau 2 năm chịu ảnh hưởng do dịch Covid. Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 2 ước đạt 274,79 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước và tăng 2,49% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa vẫn thể hiện sự ổn định và chiếm tỷ trọng cao trong doanh thu vận tải và tăng trưởng đồng đều qua các tháng. Trong tháng 2 thời tiết tương đối thuận lợi, các hoạt động của các đơn vị xây dựng, công nghiệp chế biến đẩy mạnh sản xuất, nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu như xi măng, sắt thép, gỗ.. tăng, số ngày hoạt động cũng nhiều hơn so với tháng trước là nguyên nhân để doanh thu vận tải hàng hóa đạt tăng trưởng tốt. Dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tháng 2 ước đạt 68,12 tỷ đồng tăng nhẹ 0,49% so với tháng trước nhưng vẫn chưa đạt mức kỳ vọng của năm trước khi giảm 14,55% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2023, doanh thu vận tải dự tính đạt 912,57 tỷ đồng, tăng 10,30% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 240,42 tỷ đồng, tăng 64,67% với số lượng vận chuyển đạt 3.161 nghìn HK, tăng 88,71% và luân chuyển đạt 573,89 triệu HK.km, tăng 107,95%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 535,88 tỷ đồng, tăng 2,98% với khối lượng vận chuyển ước đạt 6.058 nghìn tấn, tăng 3,05% và luân chuyển ước đạt 156,47 triệu tấn.km, tăng 4,36%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 135,90 tỷ đồng, giảm 15,52% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh những tháng đầu năm 2023 khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Năm nay, do không còn ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid - 19 như dịp Tết năm trước nhu cầu đi lại nhiều, người đi làm ăn xa về quê dịp Tết cao nên tình hình kinh doanh vận tải hành khách tăng mạnh so với cùng kỳ. Doanh thu kho bãi hỗ trợ giảm so với cùng kỳ do ảnh hưởng bởi 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 2 các hoạt động xuất, nhập khẩu đã hoạt động trở lại, tuy nhiên so với tháng trước vẫn có mức giảm đáng kể nhưng vẫn tăng cao so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 2 ước đạt 404,7 triệu USD, giảm 8,40% so với tháng trước tăng 9,35 so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 846,5 triệu USD tăng 15,92% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 02 ước đạt 184,2 triệu USD, giảm 9,34% so với tháng trước nhưng tăng 76,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép đạt 165,5 triệu USD giảm 9,03% so với tháng trước nhưng tăng 81,63% so với cùng kỳ; dệt và hàng may mặc ước đạt 1,0 triệu USD tăng 33,33% so với tháng trước và tăng 28,21% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 6,0 triệu USD giảm 13,79% so với tháng trước nhưng tăng 24,22% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 2 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 387,4 triệu USD, tăng 83,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, Thép và phôi thép ước đạt 179,31 triệu USD và là mặt hàng có kim ngạch tăng lớn nhất tăng 93,76%, tiếp đến là mặt hàng Dăm gỗ tăng 28,57% còn lại tất cả các mặt hàng khác đều giảm so với cùng kỳ, trong đó: Xơ, sợi dệt các loại giảm sâu nhất (giảm 86,19%), tiếp đến là dệt và hàng may mặc giảm 30,56%. Chứng tỏ sự khó khăn trong việc xuất khẩu hàng may, sản phẩm vải cũng như các mặt hàng thủy sản...nhưng từ những tín hiệu tích cực trong xuất khẩu mặt hàng trọng điểm thép đã góp phần giúp cân bằng lại kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh và đạt mức tăng cao. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 2 ước đạt 220,5 triệu USD, giảm 7,61% so với tháng trước và giảm 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất (Nhập khẩu Formosa ước đạt 183,4 triệu USD giảm 14,38% so với tháng trước và giảm 24,21% so với cùng kỳ). Cộng dồn 2 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 459,16 triệu USD, giảm 11,57% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 năm 2023 tăng nhẹ so với tháng trước, nhưng so với kỳ gốc năm 2019 thì chỉ số giá đang ở mức tăng khá cao 9,06%. Nhất là chỉ số giá các nhóm hàng giao thông, nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng đang ở mức cao nhưng vẫn đang biến động tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Tháng 02 năm 2023, chỉ số CPI chung 0,57% so với tháng trước và tăng 2,42% so với cùng tháng năm trước. Xét trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng biến động tăng so với tháng trước trong đó tăng mạnh nhất ở 2 nhóm hàng giao thông tăng 1,54% so với tháng trước (so với cùng kỳ năm 2022 tăng 2,86%); nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,98% so với tháng trước (so với cùng kỳ tăng 2,13%). Chỉ có 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm nhẹ so với tháng trước là nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,15%. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 02/2023: Thứ nhất, do là tháng sau Tết, nhu cầu tiêu dùng một số nhóm hàng hóa gồm đồ dùng gia đình, đồ uống, thuốc lá, giá cước vận tải hành khách, cây cảnh có xu hướng giảm mạnh so tháng trước. Thứ hai, do ảnh hưởng của thị trường thế giới tác động đến giá nhiên liệu xăng, dầu, khí đốt các loại tăng cao. Thứ ba, giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng. Cùng với đó, khối lượng tiêu dùng điện sinh hoạt cũng cao hơn tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2023 chỉ số giá bình quân tăng 2,86%. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 2,04% và khu vực nông thôn tăng 3,22%. Rõ nét nhất là nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng 2 tháng đã tăng bình quân 5,77%. Do giá gas nhiên liệu tăng mạnh trở lại do ảnh hưởng của thị trường thế giới. Giá điện sinh hoạt cũng tăng khá cao do nhu cầu sử dụng các thiết bị điện trang trí nhà ở, thiết bị giải trí trong dịp Tết. Trong khi đó, nhu cầu xây dựng trong dân cư tăng đầu năm và ảnh hưởng bởi giá thép nguyên liệu tăng khiến giá thép xây dựng cũng tăng theo. Chỉ số giá vàng tháng 02/2023 tăng 1,88% so với tháng trước, tăng 1,90% so với cùng tháng năm trước; giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.485 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 2 năm 2023 giảm 0,1% so với tháng trước, tăng 0,55% so với cùng tháng năm trước; giá đô la Mỹ bình quân 2.366.933 đồng/100 USD. Dự báo CPI tháng 3/2023 biến động nhẹ với xu thế giảm. Mặt bằng thu nhập của người dân nhìn chung vẫn còn hạn chế, nhất là những tháng sau Tết. Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ sẽ không tăng, ngoại trừ nhóm vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi thời tiết bắt đầu chuyển nắng nóng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Giáo dục Học kỳ I năm học 2022-2023 ngành Giáo dục Hà Tĩnh triển khai thực hiện Chỉ thị số 1112/CT-BGDĐT, ngày 19/8/2022 của Bộ Giáo dục & Đào tạo về thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2022 - 2023, mặc dù triển khai thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền các cấp, sự nỗ lực của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn Ngành nên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ học kỳ 1 năm học 2022 - 2023. Giáo dục mầm non: Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em mẫu giáo vào năm 2030. Trong học kỳ I năm học 2022-2023, toàn tỉnh đã có 250 buổi tập huấn về công tác đảm bảo an toàn trường học và 176/255 trường có hệ thống camera an ninh. 100% cơ sở GDMN tổ chức học bán trú với 2.926/2.930 nhóm lớp, tỉ lệ 99,9% và 76.772/76.864 trẻ, tỉ lệ 99,9%. 100% cơ sở GDMN đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không có trường hợp xẩy ra dịch bệnh, ngộ độc thức ăn tại các nhà trường. Giáo dục phổ thông: Kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 có 1.179 học sinh dự thi, có 867 em đạt giải (tỷ lệ 73,54%), trong đó có 80 giải Nhất, 252 giải Nhì, 297 giải Ba và 238 giải khuyến khích. Học sinh giỏi tính lớp 12 có 913 em dự thi, có 563 em đạt giải (tỷ lệ 61,66%), trong đó có 57 giải Nhất, 159 giải Nhì, 200 giải Ba và 147 giải Khuyến khích. Sở GDĐT tiếp tục đặc cách giải học sinh giỏi tỉnh cho những học sinh có chứng chỉ tiếng Anh Quốc tế đạt mức B2 hoặc tương đương trở lên. Trong đó có 93 học sinh lớp 12 được đặc cách công nhận HSG tỉnh môn tiếng Anh (có 06 giải Nhất; 38 giải Nhì và 49 giải Ba); 15 học sinh lớp 9 được đặc cách công nhận HSG tỉnh môn tiếng Anh (có 10 giải Nhất; 03 giải Nhì và 02 giải Ba). Đã tổ chức thành công cuộc thi Cuộc thi Khoa học, Kĩ thuật học sinh trung học cấp tỉnh năm học 2022- 2023. Có 97 sản phẩm tham gia, trong đó sản phẩm, lĩnh vực Khoa học Xã hội - Hành vi (40), Vật Lí năng lượng (44), Phần mềm hệ thống (04), Sinh – Hóa (09). Sau vòng sơ khảo, có 73 sản phẩm được chọn vào vòng chung khảo. Kết quả có 67 dự án đạt giải (tỉ lệ 69%), trong đó có: 07 giải nhất: 18 giải Nhì, 26 giải Ba, 16 giải Tư. 2. Hoạt động y tế Thời gian qua, mặc dù dịch COVID-19 được kiểm soát hiệu quả song nhiều loại dịch bệnh khác như sốt xuất huyết, cúm mùa...trên địa bàn tỉnh lại diễn biến phức tạp. Ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục triển khai kịp thời các biện pháp phòng, chống dịch nhằm đảm bảo sức khỏe cho người dân. Tình hình dịch bệnh Covid-19: Mặc dù tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, tuy nhiên cần cảnh giác với các yếu tố nguy cơ sau: thời tiết mùa Đông xuân thuận lợi cho sự phát triển của mầm bệnh; tình trạng tập trung đông người nhất là tại các lễ hội, các cơ sở tôn giáo đầu xuân Quý Mão năm 2023; một bộ phận người dân, chủ quan, coi nhẹ dịch bệnh, không thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định; phát sinh tình trạng một số ca mắc COVID-19 tự phát hiện, không khai báo nên cơ quan chuyên môn khó quản lý, kiểm soát. Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 20/02/2023 là 57.248 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 58.207 ca mắc. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 3 ca sốt xuất huyết, 13 ca mắc bệnh quai bị, 21 ca mắc lỵ trực trùng, 23 ca mắc lỵ a míp, 17 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.139 ca mắc bệnh cúm, 11 ca chân tay miệng, 195 ca tiêu chảy và 8 ca viêm gan vi rút, không có người chết vì do các bệnh trên. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Từ ngày 16/01/2023 đến ngày 15/02/2023 toàn tỉnh có 3 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và 1 người chết vì AIDS; so với tháng trước số người nhiễm HIV và chuyển thành AIDS không thay đổi, tăng 1 người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước tăng 1 người nhiễm HIV; tăng 1 người chết vì AIDS; số người chuyển thành AIDS không đổi. Tính chung hai tháng đầu năm có 6 người nhiễm mới HIV (tăng 3 người so với cùng kỳ năm 2022), 2 người chuyển thành AIDS (không đổi) và có 1 người chết vì AIDS (tăng 1 người). Công tác an toàn thực phẩm: Trong dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội Xuân 2023, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh và 13 đoàn cấp huyện, thị, thành phố thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát và tuyên truyền đảm bảo ATVSTP, các đoàn kiểm tra cũng đã nhắc nhở, kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm để răn đe, giữ gìn hình ảnh du lịch Hà Tĩnh an toàn, thân thiện. Trong tháng, ngày 6/02/2023, xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 7 người bị ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi, nhưng tăng 3 người bị ngộ độc (tăng 75%). Ngoài ra, còn có 78 ca bị ngộ độc đơn lẻ (tăng 17 ca, tăng 27,87%), không có người chết vì ngộ độc (không đổi) so với cùng kỳ năm trước. Trong thời điểm Tết Nguyên Đán Quý Mão 2023, toàn tỉnh không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng, nhiều hoạt động văn hóa diễn ra như: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân Quý Mão 2023 trên các địa bàn huyện, thành phố, thị xã, đảm bảo về nội dung và mỹ quan; Tổ chức bắn pháo hoa tại 2 địa phương là Thành phố Hà Tĩnh và Thị xã Kỳ Anh vào thời khắc giao thừa; Ngày 29/1/2023 (tức ngày 8 tháng Giêng) tổ chức Lễ khai Lễ khai hội chùa Hương Tích, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2023; Tối ngày 31/1 (mùng 10 tháng Giêng), Ban Quản lý Khu di tích lịch sử văn hóa Đại Hùng (TX Hồng Lĩnh) tổ chức lễ khai ấn đầu Xuân Quý Mão 2023; Bên cạnh đó, Nhân kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 232 năm ngày mất Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông, ngày 01/02 tại huyện Hương Sơn đã tổ chức lễ hội Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với nhiều hoạt động như cuộc thi gói bánh chưng, thi kéo co, đẩy gậy…; Sáng ngày 5/2, tại đền Đông Hải, ngư dân làng biển Cam Lâm, xã Xuân Liên, Nghi Xuân tổ chức lễ hội cầu ngư, thu hút hàng trăm người tham gia, lễ hội Cầu Ngư là nét văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của ngư dân miền biển, cầu mong một mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè ra khơi an toàn. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa được Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh kiểm tra theo định kỳ, thường xuyên, tính từ đầu năm đến nay tổ chức 02 cuộc kiểm tra: Trong đó, một cuộc kiểm tra tại 40 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch, lập biên bản kiểm tra 21 cơ sở, yêu cầu ký cam kết khắc phục sửa chữa biển hiệu, biển quảng cáo đối với 15 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 05 trường hợp, chuyển Công an tỉnh xử lý 02 trường hợp. Ngoài ra kiểm tra tại 05 di tích trên địa bàn (Chùa Hương tích, Đền Chợ Củi, Ngã ba Đồng Lộc, Đền Truông Bát, Đền Nguyễn Thị Bích Châu). Tính từ đầu năm đến hết tháng 2, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã cấp 102 giấy phép, trong đó có 02 giấy phép lĩnh vực du lịch, 02 giấy phép lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, 98 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở. Hoạt động thể thao: Hòa chung trong không khí hân hoan, rộn ràng của những ngày đầu xuân Quý Mão 2023, nhiều địa phương ở Hà Tĩnh tổ chức các hoạt động thể dục thể thao mừng Đảng, mừng xuân sôi nổi, thu hút đông đảo người dân đến xem và cổ vũ như: Từ ngày 23/1 (tức mùng 2 tết), tại huyện Can Lộc nhiều địa phương tổ chức giải bóng đá nam, bóng chuyền nam mừng Đảng, mừng xuân Quý Mão 2023; Sáng 24/1 (tức mùng 3 tết), UBND phường Trung Lương, TX Hồng Lĩnh tổ chức khai mạc lễ hội đua thuyền truyền thống với 3 giải đua: Giải đua thuyền Đoàn thanh niên; giải đua thuyền nữ; giải đua thuyền của các tổ dân phố. Các giải đều có 5 đội đua tham gia, mỗi đội 15 thành viên; Ngày 29/1, huyện Hương Sơn tổ chức lễ hội đua thuyền trên sông Ngàn Phố lần thứ 4 năm 2023, tham gia đua tài có 30 đội (23 đội nam và 7 đội nữ), chia làm 15 cặp đấu. Trong đó, có 11 cặp nam, 3 cặp nữ và 1 cặp nam nữ thi đấu theo hình thức tính thời gian. Trong tháng không diễn ra hoạt động thể thao thành tích cao. 4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/01 - 14/02/2023 xảy ra 7 vụ tai nạn đường bộ, 5 người chết, 3 người bị thương, thiệt hại 90 triệu đồng, so với tháng trước giảm 01 vụ tai nạn, giảm 2 người chết, giảm 2 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 01 vụ tai nạn, giảm 2 người chết, giảm 3 người bị thương. Trong đó, Tết Nguyên đán Quý Mão 2023 từ ngày 20/01/2023 (ngày 29 tháng Chạp) đến ngày 26/01/2023 (ngày Mùng 05 Tết) xảy ra 3 vụ, làm chết 3 người, bị thương 01 người (bằng số vụ, bằng số người chết, giảm 02 người bị thương so với dịp Tết Nhâm Dần 2022). Như vậy, tính từ 15/12/2022 đến 14/02/2023, Hà Tĩnh xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 12 người và bị thương 4 người. So cùng kỳ năm 2022 giảm 2 vụ, giảm 5 người chết và giảm 6 người bị thương. 5. Môi trường Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/01- 14/02/2023 trên địa bàn tỉnh đã xảy 7 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, thiệt hại tài sản 60 triệu đồng, so với tháng trước giảm 1 vụ cháy, nổ; số người chết và bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước tăng 4 vụ cháy, nổ số người chết, bị thương không đổi. Trong đó, Tết Nguyên đán Quý Mão 2023 từ ngày 20/01/2023 (ngày 29 tháng Chạp) đến ngày 26/01/2023 (ngày Mùng 05 Tết) xảy ra 01 vụ, không có thiệt hại về người, thiệt hại tài sản không đáng kể (bằng số vụ so với dịp Tết Nhâm Dần 2022). Tính chung hai tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 15 vụ cháy, nổ không có người chết và bị thương; tổng thiệt hại 150 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước giảm 11 vụ cháy,nổ; số người chết và bị thương không đổi. Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/01 - 14/02/2023 đã phát hiện 140 vụ, đã xử lý 105 vụ, tổng số tiền xử phạt 326,2 triệu đồng, giảm 10 vụ đã phát hiện (giảm 6,67%), giảm 6 vụ đã xử lý (giảm 5,41%), giảm 12,5 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 166 vụ đã phát hiện (giảm 54,25%), giảm 138 vụ đã xử lý (giảm 56,79%), giảm 324,88 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay (từ 15/12/2022 - 14/02/2023) đã phát hiện 290 vụ, xử lý 216 vụ, tổng số tiền xử phạt 664,9 triệu đồng, giảm 67 vụ đã phát hiện (giảm 18,77%), giảm 47 vụ đã xử lý (giảm 17,87%), số tiền xử phạt giảm 213,18 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng không xảy ra thiên tai, không thay đổi so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay không xảy ra thiên tai và không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 2 tháng đầu năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 01 năm 2023
  •   26/07/2024 10:26

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 01/2023, hoạt động trồng trọt chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch cây vụ Đông 2022 và gieo trồng cây vụ Xuân 2023; Hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển; Sản xuất lâm nghiệp giảm do tập trung sản xuất vụ Xuân năm 2023 và chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán; Hoạt động thủy sản không có nhiều biến động so với cùng kỳ.. 1.1 Sản xuất nông nghiệp                 *Trồng trọt  Kết quả sản xuất vụ Đông 2022: Diện tích ngô ước tính đạt 4.722 ha, đạt 101,05% kế hoạch, bằng 99,92% (giảm 4 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích khoai lang ước tính đạt 1.405 ha, đạt 93,5% kế hoạch, bằng 92,5% (giảm 114 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích rau các loại ước tính đạt 4.560 ha, đạt 100,9% kế hoạch, bằng 92,61% (giảm 364 ha) so với cùng kỳ năm trước. Do năm nay lượng mưa nhiều nên việc gieo trỉa các loại cây vụ Đông gặp khó khăn hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, diện tích ngô và rau các loại vẫn đạt và vượt kế hoạch. Sản xuất vụ Xuân 2023: Mục tiêu sản xuất vụ Xuân năm nay là phấn đấu diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 81.062 ha, cụ thể: Diện tích lúa gieo cấy ước đạt 59.049 ha, năng suất đạt trên 56,7 tạ/ha với sản lượng đạt trên 33,5 vạn tấn; diện tích ngô 5.381 ha, năng suất đạt trên 50 tạ/ha với sản lượng đạt trên 26,9 nghìn tấn; diện tích khoai lang 1.572 ha, năng suất đạt trên 80 tạ/ha với sản lượng đạt trên 12,6 nghìn tấn; diện tích lạc 8.954 ha, năng suất đạt trên 26,8 tạ/ha với sản lượng đạt trên 24 nghìn tấn; diện tích rau các loại 5.728 ha, năng suất đạt trên 72 tạ/ha với sản lượng đạt trên 41 nghìn tấn; diện tích đậu các loại 378 ha, năng suất đạt 9,9 tạ/ha với sản lượng đạt 374 tấn. Tiến độ gieo cấy tính đến ngày 16/01/2023, tổng diện tích mạ toàn tỉnh là 169,49 ha, tương ứng với 1.665 ha diện tích lúa cấy, chủ yếu là trà Xuân trung và Xuân muộn. Tất cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh đã tiến hành gieo cấy lúa vụ Xuân 2023, với diện tích ước đạt 15.659 ha, bằng 26,5% kế hoạch, trong đó diện tích lúa gieo thẳng là 14.904 ha (chiếm 95,2% và diện tích lúa cấy là 755 ha (chiếm 4,8%). Các địa phương có diện tích gieo cấy lúa đạt cao là Can Lộc 6.373 ha, Đức Thọ 2.500 ha, Thị xã Hồng Lĩnh 1.250 ha, Hương Khê 1.002 ha, Cẩm Xuyên 1.000 ha…Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang tục tập trung gieo cấy lúa,còn các loại hoa màu vụ Xuân 2023 chưa tiến hành gieo trồng. Thiên tai, dịch bệnh: Trong tháng 01/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh tuy có mưa rét nhưng không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng vụ Đông 2022. Sâu bệnh chỉ xuất hiện một số sâu cuốn lá, rệp...không gây hại đối với các loại cây trồng.  *Chăn nuôi Tháng 01/2023, các dịch bệnh trong chăn nuôi cơ bản được kiểm soát nên hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Tổng đàn trâu, bò tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên, do năm nay giá bán thịt trâu, bò hơi thấp, hiệu quả kinh tế không cao nên người dân không đẩy mạnh việc tái đàn. Đối với chăn nuôi lợn giá bán tăng không đáng kể trong khi chi phí thức ăn tăng cao nên đàn lợn chủ yếu phát triển ở các trang trại, gia trại, còn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chủ yếu là bỏ chuồng vì vậy số đầu con giảm nhẹ so với cùng kỳ. Đàn gia cầm vẫn phát triển khá, nhất là đàn gà. Hiện nay, người chăn nuôi đang tích cực chăm sóc các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng phục vụ dịp Tết sắp tới. Trên địa bàn tỉnh giá các sản phẩm chăn nuôi nhìn chung ổn định và nguồn cung tương đối dồi dào để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng cao trong dịp tết Quý Mão. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 16/01/2023 trên địa bàn Hà Tĩnh không có dịch bệnh xẩy ra với đàn vật nuôi, các loại dịch bệnh đã qua 21 ngày. 1.2 Lâm nghiệp Trồng rừng: Do trong tháng 01/2023, người dân đang tập trung sản xuất lúa vụ Xuân 2023 và chuẩn bị đón Tết Nguyên đán nên hoạt động sản xuất lâm nghiệp nhìn chung không có nhiều biến động. Diện tích trồng rừng tập trung tháng 01/2023 ước tính giảm, trong đó chủ yếu là giảm diện tích rừng sản xuất trồng mới. Sản lư­ợng gỗ khai thác tháng 01/2023 ước tăng 2.819 m3 so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Can Lộc, huyện Kỳ Anh...Hiện nay, người dân đang tập trung ươm, chăm sóc cây giống để trồng vụ Xuân năm 2023. Thiệt hại rừng: Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/01/2023, trên địa bàn tỉnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 3 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 2,392 ha (giảm 2 vụ nhưng tăng 0,492 ha) so với cùng kỳ năm 2022. 1.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 01/2023 nhìn chung ổn định không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước giảm 59 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy hải sản khai thác ước tính giảm 68 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 76,7% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01/2023; sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính tăng 9 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 23,3% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01 năm 2023. Các sản phẩm thủy sản nuôi trồng đang chuẩn bị xuất bán phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Dịch bệnh: Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 01/2023 vẫn còn gặp khó khăn khi tiếp tục phải chịu ảnh hưởng bởi tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái kinh tế thế giới cũng như gặp các sự cố về hỏng hóc, tạm ngừng sửa chữa thiết bị. Song cũng có nhiều tín hiệu tích cực khi có các dự án lớn đầu tư vào địa bàn. Hà Tĩnh đang kỳ vọng những dự án mới dự kiến hoạt động vào cuối quý I/2023 sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà trong thời gian sắp tới. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất tháng 01 năm 2023 dự ước tăng 3,17% so với tháng trước và giảm 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 34,93% so với tháng trước và giảm 12,39% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,38% so với tháng trước và tăng 4,74% so với tháng 01/2022; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 21,58% so với tháng trước và giảm 27,81% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,77% so với tháng trước và giảm 26,23% so với cùng kỳ năm 2022. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 9 nhóm sản phẩm trong tháng 01 năm 2023 tăng so cùng kỳ (chiếm 47,37% trong tổng số sản phẩm), có 10 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 52,63% trong tổng số sản phẩm). Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng đầu năm 2023 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Bia đóng lon tăng 42,45%; điện thương phẩm tăng 37,68%; mực đông lạnh tăng 27,12%; nước uống được tăng 17,54%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 12,88%; ...Ngoài ra ,một số sản phẩm giảm: Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 65,58%; nước không uống được giảm 30,14%; điện sản xuất giảm 29,95%; chè (trà) nguyên chất giảm 16,67%; than cốc giảm 16,24%; đá xây dựng khác giảm 16,1%; ... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 01/2023 tăng 1,28% so với tháng trước và giảm 3,99% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 01/2023 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành khai khoáng và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 14,39% và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm giảm 4,95% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do khó khăn trong sản xuất nên một số doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ thu hẹp sản xuất, giảm lao động. Cùng với đó, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất cũng đã tiết giảm được nguồn nhân lực. Chỉ số sử dụng lao động tháng 01 năm 2023 đối với ngành ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,23%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 6,99% so với cùng kỳ năm 2022. 3. Vốn đầu tư Tháng 01 năm 2023 là thời điểm nằm trong dịp tết nguyên đán, thời gian nghỉ kéo dài; bên cạnh đó, đây cũng là tháng đầu năm các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỹ thuật để triển khai thực hiện các công trình mới và các công trình chuyển tiếp trong năm 2022, nên giá trị vốn ngân sách do địa phương quản lý dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2023 ước đạt 265,82 tỷ đồng, bằng 26,58% so với tháng trước và bằng 58,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 198,47 tỷ đồng, bằng 22,94% so với tháng trước và bằng 53,85% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 62,25 tỷ đồng, bằng 52,88% so với tháng trước và bằng 83,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 5,10 tỷ đồng, bằng 29,32% so với tháng trước và bằng 49,21% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước tháng 01/2023 giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do đây là tháng đầu năm, nguồn vốn chưa được giao theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành các hồ sơ thủ tục về vốn và kỷ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2022, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2023 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng nên giá trị vốn đầu tư dự tính thực hiện đạt thấp hơn so với tháng trước (giảm 73,42%). Bên cạnh đó đây cũng là tháng trùng với tết Nguyên đán, thời gian nghỉ lễ kéo dài, do đó giá trị thực hiện thuộc nguôn vốn ngân sách do địa phương quản lý giảm mạnh so với tháng trước (giảm 73,42%) cũng như cùng kỳ năm trước (giảm 41,41%).  4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 01, là tháng trùng dịp nghỉ Tết Nguyên đán, nhu cầu mua sắm và giá cả các nhóm hàng hóa đều có xu hướng tăng dần, nhất là về thời điểm giữa và cuối tháng. Cùng với đó, sự điều chỉnh về chính sách thuế VAT tăng từ mức 8% lên 10% từ thời điểm đầu tháng, giá nhiên liệu là những yếu tố chính tác động đến cung cầu hàng hóa tiêu dùng trong tháng. Nhìn chung thị trường tiêu dùng hàng hoá trong tháng diễn ra khá sôi động với lượng hàng hóa phong phú, đa dạng về mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 01/2023 ước đạt 5.277,07 tỷ đồng, tăng 3,57% so với tháng trước và tăng 25,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 31,17 tỷ đồng, tăng 95,85% so với tháng trước và tăng 14,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong tất cả các nhóm hàng hóa chỉ có nhóm hàng ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) có doanh thu giảm so với tháng trước (giảm 13,48%) và cùng kỳ (giảm 7,09%) do đây là mặt hàng xa xỉ, người dân chủ yếu mua sắm trước dịp Tết, cộng với việc vay vốn tín dụng gặp khó khăn lãi suất vay cũng đang ở mức khá cao. Còn lại tất cả các các nhóm hàng đểu có doanh thu tăng so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ, trong đó, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,02% so với tháng trước, tăng 24,35% so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu các loại lương thực, thực phẩm từ gạo, các loại thịt, rau củ, bánh kẹo, đồ uống... mua sắm phục vụ tiêu dùng trong dịp tết Nguyên đán. Cùng với đó, sự điều chỉnh thuế giá trị gia tăng (VAT) tăng trở lại 10% từ mức 8% cũng khiến giá cả tăng lên. Nhìn chung, các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, tết Nguyên đán rơi vào thời điểm cuối tháng, nhu cầu tiêu dùng và giá hàng hóa tăng; Thứ hai, so sánh cùng kỳ thì dịch bệnh Covid-19 năm nay được kiểm soát, các giải pháp hạn chế đi lại được bãi bỏ, đời sống kinh tế - xã hội có xu hướng ổn định. Nhiều ngành nghề sản xuất, kinh doanh hoạt động ổn định khiến lượng cầu hàng hóa, dịch vụ tăng; Thứ ba, do thói quen mua sắm của người dân thay đổi trong dịp cuối năm. Cùng với ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về thuế, giá nhiên liệu xăng, dầu các loại. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2023 ước đạt 548,23 tỷ đồng, tăng 0,71% so với tháng trước, tăng 56,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động lưu trú ước đạt 20,55 tỷ đồng, tăng 1,49% so với tháng trước, tăng 126,5% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách phục vụ 107.820 lượt khách, tăng 1,19% so với tháng trước, tăng 82,21% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ 82.330 ngày, tăng 1,31% so với tháng trước, tăng 70,92% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 525,63 tỷ đồng, tăng 0,63% so với tháng trước, tăng 54,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng này trùng vào mùa cưới hỏi, cùng với đó nhiều ngày lễ, tết Dương lịch, tổng kết cuối năm nên nhu cầu ăn uống, đặt tiệc vẫn được duy trì ổn định, các nhà hàng, khách sạn số lượt khách đặt ăn uống tăng. Tuy nhiên, lại trùng thời điểm tết Âm lịch nên số ngày hoạt động ít hơn nên doanh thu chỉ tăng nhẹ so với tháng trước. Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 2,05 tỷ đồng, tăng 15,82% so với tháng trước, thời điểm này cùng kỳ dịch vụ du lịch đang tạm ngừng hoạt động. Lượt khách du lịch theo tour 550 lượt, tăng 19,57% so với tháng trước; ngày khách du lịch theo tour 1.550 ngày, tăng 20,16% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng là ngay từ những tháng cuối năm 2022, nhiều công ty du lịch đã triển khai các chương trình tour du lịch trong và ngoài nước đón tết Nguyên đán Quý Mão 2023, đặc biệt là loại hình du lịch tâm linh. Bên cạnh đó, xu hướng đi du lịch trong dịp Tết của người dân ngày càng tăng, do đó lượng khách đăng ký các tour du lịch tăng hơn so với tháng trước. Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 01/2023 ước tính đạt 285,06 tỷ đồng, tăng 4,22% so với tháng trước và tăng 49,96% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung tình hình kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng có những thay đổi tùy theo từng nhóm ngành hàng do tính chất thời vụ dịp tết Nguyên đán, ngành dịch vụ hành chính hỗ trợ, giáo dục, đào tạo giảm trong khi tăng mạnh ở nhóm ngành dịch vụ khác như vui chơi giải trí, dịch vụ cho thuê đồ dùng cá nhân, các dịch vụ chăm sóc, làm đẹp.... Bên cạnh đó, ảnh hưởng thời tiết và giá cả thị trường cũng tác động nhiều đến các loại hình kinh doanh dịch vụ. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động kinh doanh vận tải với vị trí địa lý thuận lợi cùng với sự hồi phục khả quan của nền kinh tế sau dịch đã góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh với hệ thống cảng biển nước sâu cũng như có cửa khẩu giao thương với thị trường Lào, Thái Lan là những động lực thuận lợi cho dịch vụ kho bãi trên địa bàn. Trong tháng là thời cao điểm về nhu cầu vận tải hành khách trong năm, lượng hành khách vận chuyển thời điểm trước, trong và sau tết Nguyên đán thường tăng cao nhưng trên địa bàn tỉnh không xảy ra hiện tượng thiếu phương tiện đưa đón người dân đi lại. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 01/2023 ước đạt ước đạt 446,16 tỷ đồng, giảm 3,34% so tháng trước và tăng 11,65% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 122,65 tỷ đồng, tăng 11,24% so với tháng trước và tăng 85,52% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng vận chuyển hành khách ước đạt 1.672,63 nghìn HK, tăng 11,83% so với tháng trước và tăng 120,42% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 289,54 triệu HK.km, tăng 11,01% so với tháng trước và tăng 133,79% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do thời điểm đầu tháng trùng với dịp nghỉ lễ Tết dương lịch 3 - 4 ngày nên lượng người đi lại về quê thăm thân, vui chơi tăng hơn tháng trước. Trong tháng, hình thái thời tiết rét đậm rét hại tiếp tục diễn ra nên nhu cầu sử dụng các loại phương tiện công cộng như taxi, xe buýt tăng, cùng với đó là tháng trùng dịp tết Nguyên đán, thời điểm trước, trong và sau Tết lượng khách đi lại luôn ở mức cao, tình trạng cháy vé các tuyến xe đường dài xảy ra, cùng với việc tăng giá để bù chiều chạy rỗng. Vận tải hàng hóa ước đạt 259,05 tỷ đồng, giảm 8,82% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 2,68% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển dự tính đạt 2.909,26 nghìn tấn, giảm 9,45% so với tháng trước và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 74,61 triệu tấn.km, giảm 9,64% so với tháng trước và tăng 2,83% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa trong tháng này giảm với biên độ đáng kể. Đối với vận tải đường bộ, mặc dù nhu cầu vận tải thời điểm cận Tết tăng cao nhằm phục vụ vận chuyển lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình. Tuy nhiên, do đặc thù các phương tiện vận tải hàng vật liệu xây dựng nghỉ Tết sớm, trong khi thời gian nghỉ sau Tết thường kéo dài dẫn đến doanh thu chung cả tháng dự kiến giảm mạnh. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 64,36 tỷ đồng, giảm 4,14% so với tháng trước và giảm 20,69% so với cùng kỳ năm trước. Thời gian hoạt động giảm do rơi vào dịp nghỉ Tết cũng là nguyên nhân chính khiến các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải, kho bãi giảm doanh thu so tháng trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Cán cân xuất nhập khẩu tỉnh nhà đã chuyển dịch theo hướng tích cực, mặc dù vẫn nhập siêu 37,3 triệu USD nhưng đã giảm rất nhiều so với tháng 01/2022 với mức nhập siêu 129 USD. Mặc dù, tháng 01/2023 hoạt động xuất khẩu không đạt mức như kỳ vọng tháng trước nhưng vẫn tăng vượt bậc so với cùng kỳ năm trước.   Kim ngạch xuất khẩu tháng 01/2023 ước đạt 163,20 triệu USD, giảm 21,15% so với tháng trước nhưng tăng 31,52% so với cùng cùng kỳ. Trong đó: Mặt hàng thép, phôi thép ước đạt 149,08 triệu USD giảm 22,54% so với tháng trước nhưng tăng 69,04% so với cùng kỳ; Thủy sản tăng 42,86% so với tháng trước và tăng 2,56% so với cùng kỳ; Chè tăng mạnh so với tháng trước (tăng 194,12%) nhưng không đạt mức so với cùng kỳ (giảm 19,35%). Còn lại các mặt hàng chủ lực khác của tỉnh đều giảm cả so với tháng trước và cả so với cùng kỳ, do tháng này các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nghỉ 2 dịp Tết khá dài ngày. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 01/2023 ước đạt 200,50 triệu USD, giảm mạnh cả so với tháng trước (giảm 27,74%) và so với cùng kỳ (giảm 20,82%). Nguyên nhân chủ yếu do công ty Formosa cắt giảm bớt việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào (ước đạt 165,50 triệu USD, giảm 13,70% so với tháng trước và giảm 30,05% so với cùng kỳ) do giảm sản lượng sản xuất khi ngày nghỉ trong tháng khá nhiều. Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu sẽ phát triển theo hướng đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu với chính sách đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép trong bối cảnh tình hình thế giới còn khá nhiều biến động. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Đây là tháng trùng với dịp Tết Nguyên đán Quý Mão, giá cả nhiều mặt hàng tăng, nhất là các nhóm lương thực thực phẩm, đồ dùng gia đình. Thị trường hàng hoá đa dạng, nhiều mẫu mã, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, không xảy ra hiện tượng khan hiếm. Nhiều chương trình khuyến mãi cũng liên tục được các nhà sản xuất, điểm kinh doanh đưa ra nhằm thu hút người tiêu dùng. Các doanh nghiệp đã chủ động đảm bảo nguồn hàng hóa, không để xẩy ra tình trạng thiếu, khan hiếm hàng hóa trên thị trường Hà Tĩnh. Chỉ số CPI chung tăng 0,53% so với tháng trước, tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: Có 09 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,79% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,66%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,83% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,47%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,47% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,26%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,14% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,44%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,32% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,52%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,39%; giao thông tăng 1,3% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,24%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13% so tháng trước, tăng 3,81% so cùng tháng năm trước; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,49% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,95%. Có 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Bưu chính viễn thông giảm 0,01% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,74%. Và có 01 nhóm ổn định về chỉ số so với tháng trước là: Giáo dục. Nguyên nhân chủ yếu của sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 01/2023 do yếu tố mùa vụ là nguyên nhân chính, cụ thể do dịp Tết Nguyên đán rơi vào cuối tháng 01 năm 2023, nhu cầu tiêu dùng và giá cả đa số các nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng, nhất là về cuối tháng. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về thuế, giá nhiên liệu xăng, dầu các loại Thị trường giá vàng và ngoại tệ trong tháng bình quân tăng giảm theo xu hướng của thị trường thế giới. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.384 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.369.379 đồng/100 USD. Dự kiến CPI tháng 02/2023 giảm hơn so với tháng 01 do thời điểm sau tháng Tết, nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều giảm. Ngoại trừ nhóm vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi thời tiết bắt đầu chuyển mùa. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Mỗi dịp xuân về, các cấp, ngành, tổ chức công đoàn và doanh nghiệp ở Hà Tĩnh cùng chung tay chăm lo đời sống vật chất, mang niềm vui, sự sẻ chia ấm áp cho người lao động qua chương trình “Tết sum vầy”. Đến nay, 22 công đoàn ngành và cấp trên trực tiếp cơ sở trên toàn tỉnh đã hoàn thành việc tổ chức chương trình “Tết sum vầy - Xuân gắn kết” 2023 đảm bảo ý nghĩa, thiết thực. Hơn 12.000 suất quà trị giá gần 6 tỷ đồng đã được trao cho đoàn viên, người lao động, trong đó, 40 đoàn viên được hỗ trợ làm nhà mái ấm với tổng trị giá trên 1,2 tỷ đồng. Ngoài ra Trong dịp tết Nguyên đán Quý Mão 2023, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ TP Hà Tĩnh đã kêu gọi các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài thành phố chung tay ủng hộ chương trình “Tết vì người nghèo”. Đến nay, Ủy ban MTTQ TP Hà Tĩnh đã vận động được 2.909 suất quà với tổng trị giá hơn 1,6 tỷ đồng. 2. Giáo dục Kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 ở Hà Tĩnh diễn ra vào ngày 10/01/2023 với tổng số 1.179 thí sinh dự thi ở 8 bộ môn. Kết quả, toàn tỉnh có 867 thí sinh đạt giải, trong đó có 80 giải nhất, 252 giải nhì, 297 giải ba và 238 giải khuyến khích. Ngoài ra, Học sinh Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh vừa xuất sắc giành giải á quân 2 cuộc thi hùng biện tiếng Anh Speak to Lead dành cho học sinh THPT chuyên toàn quốc mùa 3. Cuộc thi hùng biện tiếng Anh Speak-to-Lead được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2020 do Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam phối hợp với Trường Đại học Hà Nội và Công ty cổ phần Galaxy Education tổ chức với mục đích kỷ niệm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, đồng thời thúc đẩy việc dạy và học tiếng Anh tại Việt Nam. 3. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19: Hiện nay người dân về quê ăn Tết với số lượng lớn, tình trạng tập trung đông người, nhất là tại các lễ hội, các cơ sở tôn giáo đầu xuân Quý Mão năm 2023; một bộ phận người dân, chủ quan, coi nhẹ dịch bệnh, không thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định; phát sinh tình trạng một số ca mắc COVID-19 tự phát hiện, không khai báo nên cơ quan chuyên môn khó quản lý, kiểm soát; vi rút liên tục biến đổi với các biến chủng mới, biến chủng phụ tiềm ẩn khả năng lây lan nhanh. Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 17/01/2023 là 57.239 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 58.198 ca mắc. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN; điều trị khỏi 57.908 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 57.784 BN tại Hà Tĩnh; 54 BN tử vong. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 5 ca sốt xuất huyết (so với cùng kỳ tăng 5 ca), 11 ca mắc bệnh quai bị (tăng 10 ca), 17 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 12 ca); 23 ca mắc lỵ a míp (tăng 10 ca); 19 ca mắc bệnh thủy đậu (không đổi), 1.227 ca mắc bệnh cúm (tăng 208 ca), 4 ca bệnh adeno (cùng kỳ năm trước không có), 8 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước không có), tiêu chảy 143 ca (giảm 17 ca), 7 ca viêm gan vi rút khác (tăng 3 ca), tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết do các bệnh trên trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Ngành y tế Hà Tĩnh đang tập trung tăng cường các hoạt động truyền thông và dự phòng chống lây nhiễm HIV, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân, nhất là đối tượng thanh niên. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh có 3 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với tháng trước: số người nhiễm HIV và người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi, so với cùng kỳ năm trước: tăng 2 người nhiễm mới HIV (tăng 200%), số người chuyển thành AIDS và người chết vì AIDS không thay đổi. - Công tác an toàn thực phẩm: Trước những diễn biến phức tạp và nguy cơ ngộ độc do mất vệ sinh an toàn thực phẩm có thể xảy ra, Sở Y tế (Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm) đã chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Quý Mão và mùa lễ hội xuân 2023 nhằm hạn chế tối đa các vụ ngộ độc thực phẩm. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, chỉ có 53 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. So với tháng trước giảm 20 ca (giảm 27,40%), số ca tử vong không đổi; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 6 ca (giảm 8,16%), số ca tử vong không thay đổi. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, nhiều hoạt động văn hóa diễn ra khá sôi nổi. Nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023, tại một số địa phương đã diễn ra chương trình văn hóa, văn nghệ diễn ra sôi nổi như tối ngày 31/12/2022, tại Công viên Lý Tự Trọng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “ Chào mừng năm mới 2023” với các tiết mục ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ kính yêu, ca ngợi vẻ đẹp quê hương, đất nước và sự phát triện của thành phố vừa bước qua tuổi 15. Bên cạnh đó, tập trung vào tuyên truyền mừng Đảng mừng Xuân Quý Mão 2023 và tháng lễ hội với nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng và linh hoạt như: làm mới và treo pa nô, băng rôn, ma két, lắp mới hệ thống đèn led trang trí tại khu vực công viên và các trục đường chính. - Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Trong tháng, đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra văn hóa trên địa bàn, nhất là các dịch vụ vui chơi giải trí karaoke, dịch vụ kinh doanh văn hóa tranh ảnh, băng đĩa nhạc,… nhằm đảm bảo việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân nhất là trong dịp tết được tốt hơn, loại trừ các văn hóa phẩm đi lệch với các thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước - Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 3 giải đấu, đạt 9 huy chương các loại (2 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 2 huy chương đồng), trong đó: Giải vô địch Rowing máy tại TPHCM từ 18-29/12 giành được 3 huy chương các loại gồm 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc; Giải việt dã chào năm mới BTV – Number One giành 4 huy chương các loại gồm 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc, 1 huy chương đồng… Thể thao quần chúng: Tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động. Phong trào tập luyện thể dục thể thao gắn với cuộc vận động “ Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” diễn ra sôi nổi, thu hút nhiều người tham gia. 5. Tình hình an toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân vui đón Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Quý Mão và Lễ hội xuân 2023, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra Công điện số 12/CĐ – UBND ngày 27/12/2022 về việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Quý Mão và Lễ hội xuân 2023. Tính từ ngày 15/12/2022-14/01/2023 xảy ra 8 vụ tai nạn đường bộ, làm 7 người chết, 1 người bị thương, thiệt hại 100 triệu đồng. So với tháng trước giảm 8 vụ tai nạn (giảm 50%), giảm 5 người chết (giảm 41,67%), giảm 6 người bị thương (giảm 85,71%); so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ ( giảm 11,11%), giảm 3 người chết (giảm 30,0%), giảm 3 người bị thương (giảm 75,0%). 6. Môi trường Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/12/2022 đến ngày 14/01/2023 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ cháy,nổ không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại ước tính là 90 triệu đồng; so với tháng trước giảm 9 vụ, thiệt hại về người không thay đổi; so với cùng kỳ năm trước tăng 7 vụ, thiệt hại về người không thay đổi. Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/12/2022 đến ngày 14/12/2023 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 150 vụ, đã xử lý 111 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 338,7 triệu đồng; so với tháng trước: tăng 53 vụ đã phát hiện (tăng 54,64 %), tăng 52 vụ đã xử lý (tăng 88,14 %), số tiền nộp phạt tăng 128,0 triệu đồng (tăng 60,75%); so với cùng kỳ năm 2022 tăng 99 vụ đã phát hiện (tăng 194,12%), tăng 91 vụ đã xử lý (tăng 455,0 %), số tiền xử phạt tăng 111,7 triệu đồng (tăng 49,21%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển, khai thác cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 138 vụ (chiếm 92,00%); Vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 7 vụ (chiếm 4,67%); Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 3 vụ (2,0%); thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 2 vụ (chiếm 1,33%); Gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường; xả thải khói, bụi, khí có mùi độc hại vào không khí 1 vụ ( chiếm 0,11%). 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước không thay đổi. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   18/07/2024 15:29

Năm 2022 là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch 5 năm 2021-2025; là năm mà Hà Tĩnh thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Dịch COVID-19 bùng phát mạnh sau Tết Nguyên đán; tác động xung đột dựa Nga - Ukraine làm giá xăng, dầu, nguyên vật liệu biến động thiếu ổn định; sản xuất ngành công nghiệp bị ảnh hưởng do cung thị trường thép tiêu thụ chậm đã kéo theo sự sụt giảm về sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực; lãi suất ngân hàng tăng cao trong những tháng cuối năm; trong sản xuất nông nghiệp chịu tác động bởi dịch bệnh, thời tiết diễn biến khó lường... đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Mặc dù nền kinh tế của tỉnh nhà gặp khó khăn, song với sự tập trung cao của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, Doanh nghiệp. Hà Tĩnh đã đạt được những kết khá tích cực; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.  LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Về quy mô kinh tế: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) của Hà Tĩnh trong năm 2022 ước đạt trên 92.960 tỷ đồng, xếp thứ 30/63 tỉnh, thành phố trong cả nước; GRDP bình quân đầu người ước đạt 70,47 triệu đồng/năm (tăng 3,77 triệu đồng/người/năm so với năm 2021), cao nhất khu vực Bắc Miền Trung và xếp thứ 9/14 các tỉnh Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung. Về tốc độ tăng trưởng: Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ tạo nên nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế vĩ mô mà còn bảo đảm việc làm, thu nhập, tạo nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Ước năm 2022, Tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 0,83%, đóng góp 0,11 điểm %; khu vực Công nghiệp, xây dựng giảm 3,23%, làm giảm 1,46 điểm %, (riêng ngành Công nghiệp giảm 8,66% làm giảm 3,29 điểm %); khu vực Dịch vụ tăng 11,73% đóng góp 3,74 điểm %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 17,97%, đóng góp 1,59 điểm % vào mức tăng trưởng chung. Trong 21 nhóm ngành kinh tế cấp I thì đã có 18 nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng dương, trong đó có những ngành có mức tăng trưởng khá cao như: Ngành xây dựng tăng 24,88%; ngành bán buôn và bán lẻ tăng 14,59%; ngành dịch vụ vận tải kho bãi tăng 14,36%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 61,07%..vv. Tuy nhiên vẫn có 4 nhóm ngành công nghiệp không có tăng trưởng và làm giảm 3,29 điểm % vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Nhìn vào bức tranh kinh tế của Hà Tĩnh cho thấy, đây là năm thứ 2 của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2021-2025 mà Hà Tĩnh chúng ta có mức tăng trưởng không đạt kế hoạch đề ra. Về nguyên nhân chính dẫn đến nền kinh tế Hà Tĩnh có mức tăng trưởng thấp là do: (1) Sản xuất ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, thời tiết cực đoan, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp; cơ cấu lại ngành nông nghiệp chưa thực sự gắn với phát triển kinh tế nông thôn. (2) Sản xuất ngành công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn; tính từ tháng 7/2022, sản lượng sản xuất sản phẩm từ Công ty Formosa tiếp tục giảm. Cụ thể, ước năm 2022 sản lượng than cốc giảm 189 ngàn tấn, phôi thép giảm 650 ngàn tấn, thép giảm 910 ngàn tấn so với cùng kỳ năm 2021; bên cạnh sản lượng giảm điện sản xuất của Công ty Formosa (giảm 932 triệu KWh) thì tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 đến nay vẫn chưa hoạt động trở lại đã làm giảm 2171 triệu KWh. Và đây là 2 nguyên nhân chính dẫn đến Hà Tĩnh đạt tăng trưởng không như kỳ vọng. Nếu tính chung giai đoạn 5 năm trở lại đây từ 2018 đến 2022 Hà Tĩnh có nhiều biến động trong tăng trưởng kinh tế, trong giai đoạn này tăng trưởng của Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng mạnh bởi dịch Covid-19 và sự sụt giảm sản lượng sản xuất của ngành công nghiệp trong năm 2022. Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2018-2022 tăng 8,03%/năm, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,29%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 13,27%/năm; khu vực dịch vụ tăng 4,77%/năm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,31%/năm. Như vậy, việc ổn định hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp nói chung và của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn nói riêng đặc biệt của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa; Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp của địa phương cũng như của cả nước tạo tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế cho những năm tiếp theo và tạo tiền đề cho bước đột phá mới Về cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành nông, LN, thủy sản. Cụ thể, ước năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 15,01%, giảm 0,58 điểm % so với năm 2021; khu vực công nghiêp - xây dựng chiếm 40,24% giảm 3,11 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 34,87%, tăng 2,55 điểm %; khu vực thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,88% tăng 1,14 điểm %.              2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Năm 2022, mặc dù thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực. Kết quả sản xuất vẫn đảm bảo kế hoạch đề ra về cơ cấu giống và thời vụ sản xuất. Sản lượng các cây trồng chủ lực của địa phương vẫn có mức tăng khá như cam, bưởi, ngô, khoai, sắn, rau các loại...Bên cạnh đó, các mô hình tích tụ, tập trung ruộng đất, cánh đồng lớn, chuỗi lên kết sản xuất tiếp tục được phát triển qua đó thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới, cơ giới hóa sản xuất; Chăn nuôi được phát triển theo hướng bền vững gắn với bảo vệ môi trường và kiểm soát dịch bệnh, hoạt động chăn nuôi cơ bản duy trì sản xuất, đạt mức tăng nhẹ cả về tổng đàn và sản lượng, việc tái đàn chưa có bước đột phá nào đáng kể do giá cả thất thường trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao; Hoạt động trồng, chăm sóc, khoanh nuôi rừng đạt kết quả ổn định và tăng nhẹ so với năm trước, công tác phòng cháy chữa cháy rừng, quản lý, bảo vệ rừng được quan tâm, tăng cường chỉ đạo; Sản xuất thủy sản duy trì mức tăng trưởng nhẹ so với năm trước. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a) Trồng trọt Cây hàng năm: Kết quả sản xuất năm 2022, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh sơ bộ tăng 0,17% (tăng 276 ha) so với năm 2021. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm sơ bộ giảm 2,54% (giảm 16.062 tấn) so với thực hiện năm trước. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau:    Cây lúa: Diện tích gieo trồng lúa cả năm sơ bộ giảm 169 ha so với năm 2021. Trong đó: Diện tích lúa vụ Đông Xuân đạt 59.813 ha, bằng 100,56% (tăng 335 ha); vụ Hè Thu đạt 44.526 ha, bằng 99,05% (giảm 429 ha) và vụ Mùa đạt 415 ha, bằng 84,64% (giảm 75 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu diện tích lúa Hè Thu năm nay giảm là do sản xuất vụ Đông Xuân kết thúc chậm hơn so với kế hoạch đề ra gây ảnh hưởng đến việc gieo cấy lúa. Ngoài ra, năm nay được đánh giá là năm thời tiết thất thường mưa nhiều nắng ít nên đã gặp khó khăn trong việc gieo cấy. Năng suất gieo trồng lúa cả năm 2022 sơ bộ giảm 2,03 tạ/ha so với năm trước, trong đó: Năng suất gieo trồng lúa vụ Đông Xuân đạt 55,87 tạ/ha, bằng 94,77% (giảm 3,08 tạ/ha); vụ Hè Thu đạt 50,32 tạ/ha, bằng 98,44% (giảm 0,8 tạ/ha) và vụ Mùa đạt 16,44 tạ/ha, bằng 86,96% (giảm 2,47 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước do gặp điều kiện thời tiết bất thường ở một số giai đoạn sinh trưởng phát triển. Tổng sản lượng lúa năm 2022 sơ bộ giảm 22.213 tấn so với năm 2021. Trong đó: Sản lượng lúa Đông Xuân đạt 333.566 tấn, bằng 95,36% (giảm 16.227 tấn); vụ Hè Thu đạt 224.062 tấn, bằng 97,5% (giảm 5.742 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa đạt 682 tấn, bằng 73,6% (giảm 244 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do vụ Hè Thu, vụ Mùa giảm diện tích và cả ba vụ sản xuất giảm năng suất nên sản lượng lúa năm 2022 giảm so với năm 2021. Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô năm 2022 sơ bộ tăng 767 ha so với năm trước. Trong đó diện tích gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 10.712 ha, bằng 105,22% (tăng 532 ha) và diện tích vụ Hè Thu đạt 2.239 ha, bằng 111,71% (tăng 235 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích ngô tăng là do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng cao nên người dân tận dụng tối đa diện tích trồng ngô để phục vụ mục đích chăn nuôi. Năng suất ngô cả năm sơ bộ tăng 2,19 tạ/ha so với năm trước. Trong đó: Năng suất gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 46,41 tạ/ha, bằng 103,6% (tăng 1,61 tạ/ha) và vụ Hè Thu đạt 41,39 tạ/ha, bằng 114,84% (tăng 5,35 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô cả năm tăng 6.151 tấn so với năm 2021. Cây khoai lang: Diện tích trồng khoai lang năm 2022 sơ bộ tăng 191 ha so với năm trước. Trong đó: Diện tích gieo trồng khoai lang vụ Đông Xuân đạt 3.120 ha, bằng 105,97% (tăng 176 ha); vụ Hè Thu đạt 595 ha, bằng 106,98% (tăng 39 ha) và vụ Mùa đạt 46 ha, bằng 66% (giảm 24 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích tăng do một số huyện người dân được hỗ trợ giống cây khoai lang nên chuyển từ các loại cây khác sang trồng cây khoai lang. Năng suất khoai lang cả năm sơ bộ giảm 0,04 tạ/ha so với năm 2021. Trong đó: Năng suất vụ Đông Xuân đạt 75,52 tạ/ha, bằng 99,53% (giảm 0,35 tạ/ha); vụ Hè Thu đạt 59,86 tạ/ha, bằng 100,39% (tăng 0,23 tạ/ha) và vụ Mùa đạt 40,29 tạ/ha, bằng 95,93% (giảm 1,71 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang cả năm sơ bộ tăng 1.370 tấn so với năm 2021. Do diện tích tăng trong khi năng suất vẫn giữ ổn định nên sản lượng khoai lang tăng. Cây sắn: Diện tích gieo trồng sắn năm 2022 sơ bộ đạt 2.625 ha, bằng 107,15% (tăng 175 ha) so với năm trước. Năng suất sơ bộ đạt 152,45 tạ/ha, bằng 100,86% (tăng 1,31 tạ/ha), với sản lượng sơ bộ đạt 40.025 tấn, bằng 108,08% (tăng 2.992 tấn) so với năm trước. Nguyên nhân tăng do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng nên bà con nông dân trồng sắn làm thức ăn chăn nuôi để giảm bớt chi phí. Cây lạc: Năm 2022, diện tích gieo trồng lạc sơ bộ giảm 1.182 ha so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng đạt 8.826 ha, bằng 88,07% (giảm 1.196 ha) và vụ Hè Thu đạt 368 ha, bằng 103,75% (tăng 14 ha) so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, do chi phí đầu vào tăng cao (giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) nên người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà chuyển sang cây trồng khác. Năng suất lạc cả năm sơ bộ giảm 3,85 tạ/ha so với năm trước. Do giảm cả diện tích và năng suất nên sản lượng lạc cả năm ước tính giảm 6.861 tấn so với năm trước. Cây rau các loại: Năm 2022, diện tích gieo trồng rau sơ bộ tăng 483 ha so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng rau các loại đạt 11.098 ha, bằng 103,19% (tăng 344 ha); vụ Hè Thu diện tích gieo trồng đạt 2.866 ha, bằng 105,79% (tăng 157 ha) so với cùng kỳ năm trước và diện tích rau vụ Mùa đạt 194 ha, bằng 91,94% (giảm 18 ha). Năng suất rau cả năm sơ bộ tăng 0,67 tạ/ha với sản lượng rau cả năm sơ bộ tăng 4.325 tấn so với năm trước. Năm nay do lượng mưa nhiều, ít nắng hạn nên thuận lợi cho việc sản xuất các loại rau. Cây lâu năm: Về diện tích: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có sơ bộ đạt 31.825 ha, bằng 101,03% (tăng 326 ha) so với năm 2021, trong đó: Tổng diện tích cây ăn quả sơ bộ đạt 19.587 ha, bằng 102,54% (tăng 486 ha) so với năm 2021, chiếm 61,55% tổng diện tích cây lâu năm. Trong đó diện tích các loại cây ăn quả có múi thuộc họ cam, quýt sơ bộ đạt 13.456 ha, bằng 103,94% (tăng 510 ha) so với năm 2021, chiếm 68,70% tổng diện tích cây ăn quả. Diện tích cây cam sơ bộ đạt 7.616 ha, tăng 140 ha, trong đó diện tích cam cho sản phẩm 6.494 ha, tăng 432 ha; diện tích bưởi sơ bộ đạt 4.410 ha, tăng 461 ha, diện tích bưởi cho sản phẩm 2.996 ha, tăng 137 ha...Cây có múi vẫn đang là một trong những sản phẩm cây ăn quả hàng hóa chủ lực của Hà Tĩnh và đang được các địa phương quan tâm đầu tư sản xuất. Diện tích cây cao su sơ bộ đạt 8.460 ha, bằng 99,63% (giảm 31 ha) so với năm 2021, trong đó diện tích cho sản phẩm tăng 422 ha. Trong năm 2022, thanh lý 4 ha cao su với sản lượng 100 m3, giá trị 53 triệu đồng. Năm 2022 trên địa bàn không trồng mới cây cao su. Diện tích chè búp sơ bộ đạt 1.266 ha, bằng 102,01% (tăng 25 ha) và diện tích chè xanh (chè hái lá) sơ bộ đạt 1.763 ha, bằng 93,18% (giảm 129 ha) so với năm 2021. Nguyên nhân giảm là do diện tích đất trồng bị thu hồi để phụ vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đường giao thông...Một số diện tích tại vườn nhà không hiệu quả, cây trồng lâu năm già cỗi, người dân phá bỏ trồng các loại cây khác.Về sản lượng:Do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cùng với điều kiện thời tiết năm nay không xẩy ra hạn hán, ít sâu bệnh và diện tích được mở rộng nên sản lượng các loại cây ăn quả tăng hơn so với năm 2021. Sản lượng cây ăn quả năm 2022 sơ bộ đạt 166.340 tấn, bằng 102,29% (tăng 3.727 tấn) so với năm 2021. Trong đó sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt sơ bộ đạt 115.763 tấn, bằng 103,20% (tăng 3.588 tấn) so với năm 2021: Sản lượng bưởi tăng 2.451 tấn; sản lượng cam tăng 1.436 tấn...Thời điểm này, bưởi đang tập trung thu hoạch chính vụ. Vụ cam năm nay do thời điểm khi cây ra hoa, kết trái gặp phải thời tiết mưa lạnh thất thường nên năng suất giảm hơn năm trước. Sản lượng cao su sơ bộ đạt 4.091 tấn, bằng 111,50% (tăng 422 tấn). Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Sản lượng chè búp sơ bộ đạt 10.652 tấn, bằng 108,16% (tăng 804 tấn) và sản lượng chè xanh (chè hái lá) sơ bộ đạt 19.668 tấn, bằng 98,61% (giảm 277 tấn) so với năm 2021. Chè chủ yếu tập trung ở các địa phương Hương Sơn, Hương Khê, huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Thạch Hà... Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Vụ Đông Xuân 2021 – 2022: Trên cây lúa: Ốc bươu vàng phát sinh gây hại giai đoạn mạ, mật độ trung bình 1-3 con/m2, diện tích nhiễm 75 ha, gây hại chủ yếu vùng sâu trũng tại Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên,…; bệnh đạo ôn lá gây hại hầu hết tại các địa phương với tỷ lệ bệnh trung bình 5-7%, diện tích nhiễm 356 ha, trong đó nhiễm nặng 36,2 ha ; bệnh đạo ôn cổ bông phát sinh gây hại ở hầu hết các địa phương, tỷ lệ trung bình 1-3%, diện tích nhiễm 400 ha, trong đó 30,2 ha nhiễm nặng; bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón thừa đạm, tỷ lệ trung bình 3-7%, diện tích nhiễm 1.978 ha, trong đó 5 ha nhiễm nặng, phân bố trên toàn tỉnh; bệnh bạc lá, tỷ lệ trung bình 5-7%, diện tích nhiễm 200 ha, phân bố tại Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương khê, Lộc Hà; rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh mật độ 700-1500con/m2, diện tích 2,7 ha; chuột phát sinh gây hại trên toàn tỉnh, tỷ lệ trung bình 1-3%, diện tích nhiễm 280 ha. Trên cây lạc: Bệnh héo rũ gốc mốc đen, mốc trắng phát sinh gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, diện tích nhiễm 35 ha, nhiễm nặng 1,3 ha phân bố tại Lộc Hà, Thạch Hà, Hương Khê, Vũ Quang,.... Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, mật độ trung bình 1-3 con/m2, diện tích 5,3 ha, phân bố tại Vũ Quang, Hương Khê..; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 22,5 ha tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn,.. Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc xuân, diện tích nhiễm 68 ha; sâu xanh bướm phượng mật độ 1-3 con/cành, diện tích nhiễm 15 ha, sâu đục thân, đục cành 5 ha; bệnh loét sẹo, diện tích nhiễm 7 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,… Vụ Hè thu năm 2022: Trên cây lúa: Rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại chủ yếu trên diện tích sâu trũng, gieo cấy dày, mật độ trung bình 300-500 con/m2, diện tích nhiễm 12 ha, phân bố chủ yếu ở Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn,…; bệnh khô vằn gây hại chủ yếu trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón phân không cân đối, thừa đạm, diện tích nhiễm 1.301 ha, trong đó 41 ha nhiễm nặng phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; bệnh bạc lá với diện tích nhiễm 3 ha, phân bố tại Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên, Lộc Hà,..; chuột phát sinh gây hại với tỷ lệ trung bình 1-3%, diện tích nhiễm 232 ha, phân bố hầu hết các địa phương. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 5 ha, bệnh đốm lá 15 ha, sâu đục thân, đục bắp 7 ha, tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên… Trên cây ăn quả có múi: Nhện nhỏ, diện tích nhiễm 23 ha; rệp muội, diện tích nhiễm 18 ha; ruồi đục quả , diện tích nhiễm 21 ha, bệnh nứt thân xì mủ phát sinh gây hại chủ yếu trên vườn cây lâu năm, thoát nước kém, diện tích nhiễm 13 ha, phân bố tại Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc,… b. Chăn nuôi Năm 2022, kết quả chăn nuôi cơ bản duy trì sản xuất, đạt mức tăng nhẹ cả về tổng đàn và sản lượng, việc tái đàn chưa có bước đột phá nào đáng kể. Dịch bệnh tuy không gây thiệt hại lớn như những năm trước nhưng vẫn còn xuất hiện gây hại đối với đàn vật nuôi. Hậu quả mần bệnh của dịch tả lợn Châu Phi còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, gây tâm lý e ngại trong việc tái đàn của người dân. Cùng với đó, trong thời gian qua chi phí chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán thấp và thiếu ổn định, đặc biệt là giá trâu, bò hơi giảm; các tổ chức tín dụng thắt chặt cho vay nên nguồn vốn đầu tư cho chăn nuôi gặp khó khăn, nhất là đối với các cơ sở chăn nuôi đang còn dư nợ các tổ chức tín dụng. Đây chính là những rào cản đối với sự phát triển chăn nuôi trên địa bàn thời gian qua và tiếp tục sẽ vẫn là những khó khăn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2022, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 41 xã thuộc 9 huyện, thành phố, thị xã (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, Thành phố Hà Tĩnh), tổng số lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy 946 con, khối lượng hơn 51 tấn. Dịch lở mồm long móng xẩy ra tại 9 xã, thị trấn thuộc 5 huyện (huyện Kỳ Anh; Hương Khê; Thạch Hà; Cẩm Xuyên; Nghi Xuân) với số lượng 40 con trâu, 136 con bò và 1 con lợn mắc bệnh và đã được điều trị khỏi bệnh. Dịch bệnh viêm da, nổi cục xẩy ra tại xã Quang Thọ, huyện Vũ Quang và 4 xã (Ích Hậu; Phù Lưu; Hồng Lộc; Thạch Châu) thuộc huyện Thạch Hà làm 8 con trâu và 3 con bò mắc bệnh, trong đó có 2 con bò bị chết tiêu hủy với trọng lượng 108 kg. Hiện nay, dịch bệnh viêm da nổi cục đã được khống chế và qua 21 ngày. Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ và xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tổng số gia cầm bị ốm, chết và buộc tiêu hủy 4.913 con. Thời gian tới, để phát triển chăn nuôi bên cạnh các chính sách nhằm phát triển đàn thì công tác phòng, chống dịch bệnh phải tiếp tục được quan tâm thực hiện để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi phát triển. 1.2 Sản xuất Lâm nghiệp Hoạt động trồng và khai thác rừng năm 2022 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện và đạt kết quả khá hơn so với năm 2021. Kết quả trồng rừng tập trung năm 2022 tăng 101 ha so với năm 2021. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: Huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác năm 2022 ước tính tăng 27.066 m3 so với năm 2021.  Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha (giảm 0,83 ha) và 106 vụ phá rừng (giảm 6 vụ), với diện tích rừng bị phá là 49,483 ha (giảm 0,411 ha) so với năm trước. 1.3 Thủy sản Năm 2022, sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh nhìn chung ổn định và có sự tăng nhẹ (tăng 1,56% tương đương tăng 846 tấn) so với năm 2021. Sản lượng khai thác chiếm 70,5% tổng sản lượng thủy hải sản, tăng 343 tấn và sản lượng nuôi trồng năm 2022 ước tính tăng 503 tấn so với năm 2021. Mặc dù giá bán sản phẩm tương đối ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác trong thời gian qua tăng quá cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế đạt thấp. Cùng với đó là điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến 15/12/2022, đối với tôm nuôi bệnh đốm trắng với diện tích nhiễm bệnh là 87,3 ha và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính với diện tích nhiễm bệnh là 9,23 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, tiến hành dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm. 3. Sản xuất công nghiệp Năm 2022, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, các sản phẩm chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất công nghiệp như điện sản xuất, thép giảm đã “kéo” giảm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh xuống còn 16,53% so với cùng kỳ năm 2021 và đã làm ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế tỉnh nhà Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 12/2022, chỉ số sản xuất toàn ngành giảm 1,41% so với tháng trước và giảm 15,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 5,56% so với tháng trước và giảm 6,5% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 1,33% so với tháng trước và giảm 15,88% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 2,9% so với tháng trước và giảm 10,8% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước tăng 3,03% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 23,46%. Tính chung cả năm 2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính giảm 16,53% so với năm 2021. Trong đó: Ngành khai khoáng giảm 4,98%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,11%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 29,37%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 17,45% so với cùng kỳ năm 2021. Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 9 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn cả năm tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 190,15%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 65,72%; sản xuất đồ uống tăng 20,17%; sản xuất thuốc, hóa dược và dượ liệu tăng 18,22%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 10,63%. Bên cạnh những ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng thì vẫn còn có 9 nhóm ngành giảm, làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 29,37%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 19,33%; sản xuất kim loại giảm 16,5%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 11,11%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 9,84%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 7,79%; khai khoáng khác giảm 5,3%; dệt giảm 1,49%; khai thác quặng kim loại giảm 1,02%. Chỉ số tiêu thụ: Tính chung 12 tháng, chỉ số tiêu thụ giảm 19,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm sâu như: Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 64,16%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 25,13%; sản xuất kim loại giảm 21,05%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 19,88%. Như vậy trong năm 2022 nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn hiện nay. Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12/2022 tăng 26,01% so với tháng trước và tăng 65,51% cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao như: Ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 102,31%; sản xuất đồ uống tăng 82,21%; dệt tăng 55,25% … Với kết quả này cho thấy, việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của một số doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 136,4% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. 4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 4.1 Tình hình đăng ký kinh doanh Năm 2022 vừa qua, Hà Tĩnh đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 08/NQ-TU ngày 22/11/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Ước đến ngày 20/12/2022, toàn tỉnh thành lập mới 1.380 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký gần 10.000 tỷ đồng (tăng 27,07% về số lượng và giảm 24,61% về số vốn đăng ký). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,2 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2021 là 12,21 tỷ đồng); đã hỗ trợ đào tạo trên 1.000 lượt người về quản trị doanh nghiệp và khởi sự doanh nghiệp; có trên 400 doanh nghiệp tái gia nhập thị trường, tăng hơn 18% so với năm trước; 100% doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức đã áp dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định số 123/2020/NĐ-CP của Chính phủ. Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm vừa qua, do nhiều yếu tố tác động khác nhau đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 475 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động (tăng 12,29% so với cùng kỳ năm 2021), 192 doanh nghiệp giải thể (tăng 34,26% so với cùng kỳ năm 2021). Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp trong năm qua là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế.   4.2 Thu hút đầu tư Năm 2022, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có hiệu quả các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, là điểm sáng của cả nước trong việc thu hút đầu tư. Cụ thể, trong năm vừa qua, Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 18 dự án, trong đó 16 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn gần 5.000 tỷ đồng, 02 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn hơn 278 triệu USD. Đã kết nối, xúc tiến dự án với các nhà đầu tư lớn đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, đô thị, du lịch, dịch vụ, phát triển nông nghiệp hữu cơ[1]; tiếp tục đầu tư, phát triển Khu kinh tế Vũng Áng theo Nghị quyết số 09/NQ-TU ngày 22/11/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Tính đến thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra. Ngoài Nhiệt điện Vũng Áng II, các dự án lớn khác trong quá trình xây dựng như: Nhà máy Sản xuất Pin VinES (TX Kỳ Anh) dự kiến chạy thử trong quý I/2023; nhà máy bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh đã đi vào sản xuất kinh doanh, các khu công nghiệp Cổng Khánh 2, khu đô thị TNR tại Thị xã Hồng Lĩnh, huyện Hương Sơn, huyện Đức Thọ, Thị xã Kỳ Anh... cũng đang được các nhà thầu tập trung thực hiện.     4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Qua khảo sát các doanh nghiệp cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh năm tiếp theo có xu hướng tăng lên so với năm hiện tại chiếm tỷ lệ cao. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực và thuận lợi hơn trước. Cụ thể: Doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo năm tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (53,49% doanh nghiệp); doanh nghiệp dự báo xu hướng giữ nguyên là 25,58% và 20,93% doanh nghiệp cho rằng năm tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo năm tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (53,49%); doanh nghiệp dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 20,93%. Các doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao (50%). Điều này cho thấy số lượng hàng hóa sản xuất cho tiêu thụ trong và xuất khẩu ra nước ngoài vẫn tiếp tục giữ ổn định trong năm 2023. Với những điểm mới trong năm 2023, tỷ lệ số các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động năm tiếp theo sẽ vẫn giữ nguyên chiếm 65,12%; tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 20,93%. Trong năm tiếp theo, Hà Tĩnh đang kỳ vọng sự tăng trưởng từ những dự án mới như: Nhà máy Bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh vừa đi vào vận hành; Nhà máy sản xuất Pin VinES dự kiến hoạt động vào cuối quý I/2023. Các dự án sắp sửa hoạt động trong thời gian tới đây sẽ góp phần làm đa dạng sản phẩm, gia tăng GTSX để ngành công nghiệp tiếp tục đóng vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Năm 2022 ghi nhận sự phục hồi và tăng trưởng tích cực từ nhóm ngành thương mại, dịch vụ, mặc dù còn có những khó khăn do biến động khó lường về tình hình giá cả nhất là nhóm nhiên liệu xăng, dầu, khí đốt theo tình hình chung của Thế giới, cũng như ảnh hưởng của thời tiết đến cung các loại hàng hóa nông nghiệp. Tháng 12 tháng giáp Tết Nguyên đán dự báo sẽ là tháng sôi động của thị trường bán buôn, bán lẻ hàng hóa và các loại hình dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Năm 2022 đạt 52.885,7 tỷ đồng, tăng 26,09% so với năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa đều có doanh thu tăng so với năm 2021, trong đó, doanh thu tăng mạnh ở các nhóm hàng như: đá quý, kim loại quý tăng 56,15%; xăng, dầu các loại tăng 47,97%; hàng may mặc tăng 45,62%; hàng hóa khác tăng 39,32%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 29,15%; nhiên liệu khác tăng 26,45%; riêng nhóm ngành lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất ước đạt 22.991,79 tỷ đồng và có mức tăng cao 24,01%. Nguyên nhân doanh thu bán lẻ tăng cao trước hết do thu nhập người dân trong năm đã có bước khởi sắc so với năm 2021 ảnh hưởng dịch Covid 19 nên nhu cầu mua sắm tăng cao, nhất là những tháng cuối năm chuẩn bị Tết Nguyên đán. Bên cạnh đó, do chịu ảnh hưởng của sự tăng lên của giá cả, các nhóm hàng xăng dầu, nhiên liệu, sắt, thép, kim loại quý, đồ dùng công nghệ cao giá ở mức cao do ảnh hưởng từ thị trường thế giới. Tác động của yếu tố mùa vụ khi thời tiết chuyển biến thất thường, nắng nóng kéo dài đến những tháng cuối năm mới chuyển rét lại rét đậm ảnh hưởng năng suất các loại cây trồng, vật nuôi, buộc người dân phải nhập hàng từ vùng khác. Nhìn chung, kinh tế Hà Tĩnh và tình hình hoạt động thương mại của tỉnh trong cả năm chịu nhiều tác động bởi tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Những lo ngại về lạm phát, suy giảm kinh tế tác động đến cung cầu, giá cả nhiều nhóm hàng hóa trong nước. Tỷ giá ngoại tệ tăng, các nền kinh tế lớn điều chỉnh lãi suất và những bất ổn chính trị trên thế giới dẫn tới chuỗi cung ứng toàn cầu mất ổn định. Trong bối cảnh đó, thị trường bán lẻ hàng hoá trong tỉnh vẫn rất sôi động. Cơ cấu doanh thu cũng có sự chuyển dịch từ chợ truyền thống sang các cửa hàng kinh doanh trên đường phố, ngõ xóm; chuyển từ các công ty, cơ sở cá thể trong tỉnh sang các tập đoàn, chuỗi bán lẻ trong nước. Đặc biệt thị phần bán lẻ của một số ngành nghề như bán lẻ điện thoại, đồ điện tử, điện lạnh, gia dụng trên địa bàn tỉnh của các doanh nghiệp ngoài tỉnh chiếm thị phần lớn. Bên cạnh đó, tỷ trọng hàng hoá lưu thông trong các cơ sở, doanh nghiệp bán hàng trực tuyến ngày càng tăng. Những yếu tố này đã tạo ra một thị trường kinh doanh đa dạng, có sức cạnh tranh cao, chất lượng hàng hoá ngày càng đi lên. Công tác kiểm tra, giám sát, chống gian lận thương mại, hàng giả, kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó, các ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân và doanh nghiệp. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành năm 2022 dự tính đạt 6.073,1 tỷ đồng, tăng 74,01% so với năm 2021. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 245,63 tỷ đồng, tăng 123,28%; lượt khách phục vụ 1.352.209 lượt khách, tăng 95%; ngày khách 1.081.562 ngày khách, tăng 76,52% so với năm trước; Dịch vụ ăn uống dự tính 5.811,25 tỷ đồng, tăng 72,3% so với năm trước; Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 16,22 tỷ đồng, tăng 120,51%. Lượt khách theo tour 7.366 lượt khách tăng 40,12%, ngày khách du lịch theo tour 24.499 ngày khách tăng 75,43% so với năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh đang phục hồi tích cực sau năm 2021 bị hạn chế hoạt động. Các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Nguyên nhân tăng của nhóm ngành này có thế kể đến do: Thứ nhất thể hiện đời sống người dân đã được nâng lên rõ rệt so với năm 2021; thứ hai, do yếu tố tâm lý sau 1 năm bị kìm chế đến năm 2022 mọi hoạt động đã được tổ chức có quy mô và đầu tư hơn nhất là trong các dịp lễ, ngày nghỉ...; thứ ba, do yếu tố giá cả thực phẩm tăng, và ảnh hương tăng từ nhóm hàng ga, nhiên liệu kéo theo các chi phí khác tăng. Bên cạnh đó, không thể không kể sự thuận lợi về đường giao thông, phương tiện đi lại cũng như việc chính quyền và các doanh nghiệp đã đầu tư hơn cho chất lượng và hạ tầng các dịch vụ phục vụ lưu trú, ăn uống, các điểm du lịch Hà Tĩnh, đặc biệt là du lịch biển với những bãi biển đẹp như Thiên Cầm, Thạch Hải, Xuân Hải, Xuân Thành…, thu hút lượng khách đến các bãi biển, khu nghỉ dưỡng bắt đầu tăng. Ngoài số lượng khách nội tỉnh, khách du lịch ngoại tỉnh đến với Hà Tĩnh bắt đầu tăng lại khả quan hơn thời điểm trước dịch. Dịch vụ khác năm 2022 ước tính đạt 2.578,04 tỷ đồng, tăng 73,78% so với năm trước. Hầu hết các nhóm ngành dịch vụ khác đều tăng mạnh so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 79,43%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 63,86%; giáo dục đào tạo tăng 131,35%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 56,21%; dịch vụ tăng 109,06%. Chỉ có duy nhất nhóm y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 3,03% do năm 2021 hoạt động y tế đạt doanh thu ở dịch vụ hỗ trợ Covid, bước sang năm 2022 việc dịch bệnh đã được kiểm soát và người dân đã nâng cao nhận thức về tự phòng chống dịch vì vậy nhóm doanh thu này giảm so với năm 2021. Nhìn chung, việc tăng doanh thu ở nhóm dịch vụ khác chủ yếu ở các nguyên nhân cụ thể sau: Thứ nhất, nhờ tác động của các chính sách kinh tế - xã hội từ Trung ương đến địa phương được thực hiện hiệu quả và cũng có những giải pháp kịp thời khắc phục những khó khăn đến sản xuất kinh doanh. Do vậy, tạo thuận lợi cho hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển. Thứ hai, Hà Tĩnh chủ yếu phát triển dịch vụ nên việc các ngành dịch vụ đã hoạt động mạnh trở lại nên thu nhập người dân đảm bảo hơn, nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ y tế, dịch vụ vui chơi giải trí và dịch vụ làm đẹp tăng. Thứ ba, thời tiết nắng nóng kéo dài khá lâu, mùa mưa lạnh đến chậm hơn nên tạo điều kiện cho người dân triển khai các công trình xây dựng cá nhân, các doanh nghiệp xây dựng đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình. Dự ước những năm tới hoạt động dịch vụ khác sẽ tăng trưởng khả quan theo đà tăng trưởng của năm 2022. 5.2. Hoạt động vận tải Cũng như các ngành dịch vụ, năm 2022 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh của hoạt động vận tải. Việc tăng giá nhiên liệu đẩy phí vận tải tăng lên tuy nhiên không ảnh hưởng đến sức tiêu dùng hoạt động của người dân và các tổ chức kinh tế, ngược lại việc giá phục vụ cao cộng với sự can thiệp của các cơ quan chức năng đã nâng cao ý thức của các lái xe tuân thủ về tải trọng cũng như lượng hành khách phục vụ đảm bảo an toàn giao thông, vận tải. Trong năm chỉ có hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm do việc xuất khẩu hàng hóa gặp khó khăn số lượng hàng hóa thông qua cảng giảm. Doanh thu vận tải, kho bãi năm 2022 ước đạt 5.446,13 tỷ đồng, tăng 25,45% so với năm 2021. Trong đó: Vận tải hành khách doanh thu ước đạt 1.195,81 tỷ đồng, tăng 42,38% so với năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 15.424,46 nghìn HK, tăng 39,44% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 2.644,88 triệu HK.km, tăng 42,15% so với năm trước. Việc chú trọng đầu tư của các đơn vị kinh doanh lữ hành, lưu trú, nhà hàng là những yếu tố quan trọng đóng vai trò “kích cầu” tăng nhu cầu du lịch, đi chơi vào các dịp nghỉ lễ, cũng như nhu cầu đi lại hàng ngày đi học và làm việc nội và ngoại tỉnh cộng với việc tăng giá vé phục vụ đã khiến doanh thu vận tải hành khách đạt mức tăng kỷ lục, tuy nhiên việc tỉ trọng doanh thu của vận tải hành khách thấp hơn nhiều so với vận tải hàng hóa nên kết quả tăng chung của ngành vận tải vẫn chỉ đạt trên 25%. Vận tải hàng hóa ước đạt 3.401,34 tỷ đồng, tăng 29,54% so với năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 38.193,31 nghìn tấn, tăng 30,12% so với năm trước; luân chuyển ước đạt 971,99 triệu tấn.km, tăng 27,89% so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết thuận lợi cho các công trình xây dựng, san lấp mặt bằng thực hiện thi công nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải hàng hóa tăng. Nhu cầu xây dựng, sửa sang nhà cửa trong nhân dân tăng cùng với việc đẩy mạnh công tác chỉnh trang đô thị, nhiều dự án đang được triển khai đầu tư nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 848,05 tỷ đồng, giảm 3,16% so với năm trước. Nguyên nhân do khối lượng hàng hóa thông qua cảng giảm cũng như nhu cầu đăng kiểm giảm hơn. Mặc dù các hoạt động sản xuất kinh doanh được phục hồi nên nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa năm 2022 tăng khá cao so với năm 2021. Tuy nhiên, do chi phí xăng, dầu, lãi suất ngân hàng...tăng cao nên các đơn vị hoạt động vận tải trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1 Hoạt động tài chính Kết quả thu NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2022 vượt dự toán Trung ương và HĐND tỉnh giao điều này cho thấy cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã thích nghi với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất, kinh doanh ổn định trong điều kiện dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát. Trong bối cảnh thực hiện nhiều chính sách phục hồi kinh tế như miễn, giảm, giãn các khoản thuế, phí để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, Hà Tĩnh đang làm tốt nhiệm vụ thu ngân sách và cân đối, phát triển nền kinh tế. Chi ngân sách Nhà nước trong năm cơ bản đáp ứng được các nhiệm vụ bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương.  Năm 2022 tổng thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) trên địa bàn tính đến ngày 15/12/2022 sơ bộ đạt 14.606 tỷ đồng giảm 5,44% so với năm 2021. Trong đó, thu nội địa đạt 8.028 tỷ đồng tăng 1,28% so với năm 2021, tập trung chủ yếu vào các nguồn thu lớn như từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, thuế ngoài quốc doanh đạt 3.137 tỷ đổng tăng 14,65% so với năm 2021; các khoản thu về nhà đất đạt 2.953 tỉ đổng giảm 3,67%. Năm 2022 các khoản thu từ thuế, phí giảm chủ yếu do áp dụng nhiều chính sách của Trung ương hỗ trợ thuế để phục hồi phát triển kinh tế, một số dự án mới dự kiến đóng góp lớn vào thu ngân sách trong năm nhưng đến nay chưa triển khai đầu tư. Bên cạnh các khoản thu nội địa thì thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu đạt 6.335 tỉ đồng giảm 6,38% so với năm trước. Trong đó, thu hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 9.047,58 tỷ đồng, tăng 16,10 % so với năm trước nguyên nhân chủ yếu do giá các mặt hàng nhập khẩu như than, dầu, quặng (chủ yếu phục vụ sản xuất của Formosa) tăng cao đem lại nguồn thu lớn; hoàn thuế giá trị gia tăng đạt 2.713 tỉ đồng tăng 164,45% so với cùng kỳ.  Trên cơ sở tiến độ thu ngân sách thực tế, với các giải pháp điều hành linh hoạt, hợp lý nên chi ngân sách cơ bản đáp ứng được các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/12/2022 sơ bộ đạt 19.128 tỷ đồng giảm 4,63% so với năm 2021. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 8.565 tỷ đồng, chiếm 44,78% tổng chi, giảm 11,46% so với cùng kỳ năm 2021; chi thường xuyên đạt 10.476 tỷ đồng chiếm 54,77% tăng 1,07% so với năm 2021. Chi đầu tư giảm so với cùng kỳ nguyên nhân công tác giải ngân vốn đầu tư công một số dự án còn chậm; vướng mắc trong thủ tục và trong công tác đền bù GPMB. 6.2 Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng Hà Tĩnh năm 2022 cơ bản ổn định và có bước tăng trưởng. Các TCTD đã bám sát chỉ đạo điều hành của Nhà nước, tập trung mọi nguồn lực để đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, các dự án, phương án có hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương năm 2022.   Ước nguồn vốn huy động đến 31/12/2022 đạt 83.177 tỷ đồng, giảm 4,86% so với cuối năm 2021.Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn ước đạt 11.925 tỷ đồng, chiếm 14,34% tổng nguồn vốn huy động, tăng 3,47% so với cuối năm 2021; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 71.252 tỷ đồng, chiếm 85,66 % tổng nguồn vốn huy động, giảm 6,12%. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 60.236 tỷ đồng, tăng 3,78%; tiền gửi thanh toán ước đạt 22.026 tỷ đồng, giảm 23,88% so với thời điểm cuối năm 2021. Nguồn vốn huy động giảm so với cuối năm 2021 nguyên nhân chủ yếu do nguồn tiền gửi của tổ chức kinh tế giảm mạnh với mức giảm 25,9% so với cuối năm 2021. Tình hình dịch Covid-19 trong tỉnh và cả nước đã được kiểm soát và các chính sách nhằm phục hồi, phát triển kinh tế của Chính phủ được triển khai đã thúc đẩy các doanh nghiệp trên địa bàn sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Dư nợ cho vay ước đến ngày 31/12/2022 đạt 89.105 tỷ đồng, tăng 24,14% so với cuối năm 2021. Trong đó, dư nợ ngắn hạn ước đạt 60.854 tỷ đồng (chiếm 68,29% tổng dư nợ), tăng 24,73%; dư nợ trung dài hạn đạt 28.251 tỷ đồng (chiếm 31,71% tổng dư nợ) tăng 22,90%. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 37.043 tỷ đồng, tăng 19,51% so với cuối năm 2021. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 21,57% so với cuối năm 2021, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 73,84%, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 11,84%. Sự phục hồi của nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã tác động mạnh vào hoạt động xuất khẩu của cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Chính vì vậy, việc hỗ trợ các DN xuất khẩu phục hồi và duy trì chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cao của các thị trường xuất khẩu lớn trong thời gian tới là một trong những giải pháp quan trọng giúp phát triển kinh tế Hà Tĩnh. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,9-6% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,7-7,7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 6,2-9,2%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 5,5-11%/năm, trung dài hạn phổ biến 10,5-13,5%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 2-4,5%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 5,5-5,6%/năm Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Tính đến 31/12/2022 nợ xấu ước tính 665 tỷ đồng, chiếm 0,75% tổng dư nợ. Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp nằm trong giới hạn cho phép. 7. Đầu tư và xây dựng 7.1 Vốn đầu tư phát triển Năm 2022, nhờ đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, tăng cường quyết toán dự án đầu tư, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng. Do đó tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở 3 khu vực đều tăng cao, tăng 47,74% so với năm 2021. Với việc đang tập trung cao trong triển khai thực hiện các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn. Vì vậy, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn ước đạt 40.355,1 tỷ đồng, tăng 47,74% so với năm 2021. Trong đó, được phân theo các khu vực như sau: Khu vực nhà nước ước đạt 9.314,7 tỷ đồng, tăng 15,86% so với năm 2021. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước 8.264 tỷ đồng (gồm giải ngân đầu tư công, giải phóng mặt bằng dự án Đường cao tốc Bắc Nam); vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước 157 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện nay Hà Tĩnh có 04 dự án được hỗ trợ 810 tỷ đồng từ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội, đến nay đều đã được HĐND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư đảm bảo tiến độ, hiện các đơn vị, địa phương đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để đầu tư theo quy định. Khu vực ngoài nhà nước ước đạt 21.364,5 tỷ đồng, tăng 19,37% so với năm 2021. Trong đó: Vốn của dân cư đạt 12.745,2 tỷ đồng; vốn của doanh nghiệp đạt 8.619,3 tỷ đồng (dự án Pin VINES 3.694 tỷ đồng, Khu dân cư tổ 6,7 phường Đậu Liêu 220 tỷ đồng, Nhà máy bia Hà Nội Nghệ Tĩnh 50 tỷ đồng...). Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 9.675,9 tỷ đồng, tăng gấp 7 lần so với năm 2021. Nguồn vốn khu vực này tăng chủ yếu do dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2, trong năm dự ước vốn thực hiện đạt trên 8.600 tỷ đồng. 7.2 Hoạt động Xây dựng Năm 2022, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự huy động mọi nguồn lực của các đơn vị thi công, cùng với đó là chính quyền địa phương các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, xử lý kịp thời các khó khăn vướng mắc, thực hiện nhanh công tác bàn giao mặt bằng phục vụ triển khai các dự án trên địa bàn, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình xây dựng. Hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều khởi sắc, giá trị tăng thêm ngành xây dựng theo giá so sánh năm 2022 ước đạt 4.688 tỉ đồng, tăng 24,88% so với cùng kỳ năm 2021; đây là năm ngành xây dựng đạt mức tăng trưởng dương trở lại trong vòng 5 năm, kể từ khi nhà máy Gang thép Formosa cơ bản hoàn thành xây dựng và đi vào hoạt động sản xuất. Hiện tại, Hà Tĩnh đang tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất nhập khẩu Hà Tĩnh năm 2022 gặp khá nhiều khó khăn, thách thức do sự bất ổn của tình hình thế giới, nhất là trong xuất khẩu mặt hàng giữ tỷ trọng lớn thép và phôi thép. Tuy nhiên, nhờ sự linh hoạt trong việc ứng phó khó khăn,cũng là cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh khác như dệt, may mặc, chè, thủy sản....Nhưng việc giá trị của các mặt hàng này có khá nhỏ nên dù tăng mạnh cũng không kéo lại tăng trưởng Xuất khẩu chung. Năm 2022 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tỉnh ước đạt 5.200,64 triệu USD giảm 1,87% so với cùng kỳ. - Kim ngạch xuất khẩu: Năm 2022 ước đạt 1.800,2 triệu USD, giảm 9,99% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài mặt hàng thép, phôi thép ước đạt 1.559,13 triệu USD giảm 13,38% so với năm 2021 còn có các nhóm hàng khác giảm như thủy sản giảm 15,92%; xơ, sợi dệt các loại giảm 27,45%. Có 3 nhóm hàng tăng mạnh và nâng dần tỷ trọng xuất khẩu như: Hàng dệt và may mặc đạt 27,49 triệu USD tăng 113,1% so với năm 2021; dăm gỗ đạt 75,44 triệu USD tăng 54,91% so với năm 2021; chè đạt 0,3 triệu USD tăng 25,0% so với năm 2021. Điểm sáng xuất khẩu năm 2022 là mặt hàng dệt và may mặc có sự tăng trưởng tốt là nhờ tình hình dịch COVID-19 cơ bản được kiểm soát nên việc cung ứng nguyên liệu, khâu vận chuyển hàng đảm bảo thông suốt và đơn hàng từ thị trường các nước đối tác thương mại ổn định hơn năm trước. Tính riêng xuất khẩu từ Formosa ước đạt 1.626,47 triệu USD (chiếm 90,35% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh) giảm 12,6% so với năm 2021. - Kim ngạch nhập khẩu: Năm 2022 ước đạt 3.400,44 triệu USD, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 2.927,66 triệu USD (Chiếm 86,1%) tăng 6,04%. Mặc dù hoạt động xuất khẩu chủ yếu là hoạt động của Formosa, nhưng việc giảm dần tỷ trọng đóng góp (Xuất khẩu giảm 2,7 điểm phần trăm) đánh dấu sự chuyển biến trong hoạt động xuất khẩu của tỉnh nhà. Để kim ngạch xuất nhập khẩu đạt con số tăng trưởng cao nhất, cơ quan chức năng đang tích cực hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghệp khai thác hiệu quả các lợi thế từ FTA (Hiệp định thương mại tự do); đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường xúc tiến thương mại để gia tăng sản phẩm xuất khẩu và thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021 - 2025…. 9. Chỉ số giá Tình giá cả các mặt hàng năm 2022 khá khó nắm bắt, sự lên xuống của giá cả thị trường hàng hóa biến động từng ngày. Nhưng nhìn chung, chỉ số giá tiêu dùng chung năm 2022 cơ bản được kiểm soát, nhất là tháng 12 tháng giáp Tết Nguyên đán. Một số nhóm hàng có chỉ số sự bến động tăng mạnh như giao thông, vật liệu xây dựng, đồ uống, hàng may mặc và giải trí... Bên cạnh đó cũng có những nhóm hàng có chỉ số giảm như hàng ăn và dịch vụ ăn uống, bưu chính viễn thông. Tháng 12 năm 2022, chỉ số giá CPI chung giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng 3,2%%. Trong đó, nhóm giao thông đã có dấu hiệu hạ nhiệt khi giảm 2,2% so với tháng trước và tăng nhẹ 0,9% so với cùng kỳ. Do việc giá xăng, dầu bình quân giảm dần qua các lần điều chỉnh trong tháng do ảnh hưởng từ thị trường thế giới. Tại đợt điều chỉnh ngày 21/12 vừa qua, giá xăng E5 RON 92 giảm 370 đồng/lít, còn 19.970 đồng/lít; xăng RON 95 giảm 500 đồng/lít, còn 20.700 đồng/lít. Trong khi đó, giá dầu hỏa giảm 70 đồng/lít xuống còn 21.830 đồng/lít, dầu diesel giảm 70 đồng/lít còn 21.600 đồng/lít, dầu mazut giảm 150 đồng/kg xuống 12.860 đồng/kg. Như vậy, giá xăng đã có lần giảm thứ 4 liên tiếp trong thời gian qua. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giá cả vẫn đang tăng nhẹ 0,87% so với tháng trước và so với cùng kỳ đã giữ mức tăng 5,18%, do việc mặt hàng chăn, ga, gối đệm, bàn là điện, bình nước nóng và đồ nội thất tăng giá theo nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, nhu cầu các vật dụng trang trí nhà ở trong dịp lễ Giáng sinh cũng góp phần làm chỉ số nhóm giá này tăng. Tính chung cả năm 2022, chỉ số giá CPI tăng 2,2% so với năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,95%; nông thôn tăng 2,3% so với năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng thì chỉ có 2 nhóm hàng có chỉ số giảm là nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,37%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm không đáng kể 0,07% so với năm 2021. Xét trong nhóm hàng lương thực, thực phẩm mặc dù giảm rất ít nhưng đây là nhóm hàng thiết yếu lại bao gồm rất nhiều loại hàng hóa và có nhiều biến động. Cụ thể giá gạo và thịt các loại giảm so với năm trước do nguồn cung đã cơ bản ổn định, nhưng nhóm rau củ thì biến động rất thất thường, có lúc ở mức rất cao, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Còn lại tất cả các nhóm hàng đều tăng, cụ thể có một số nhóm hàng tăng cao như: nhóm giao thông tăng 9,62%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,05%, văn hóa giải trí du lịch tăng 2,9%.; đồ uống thuốc lá tăng 2,27%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,92%... Do tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục bất ổn ảnh hưởng đến kinh tế trong nước, tác động đến nhiều nhóm hàng hóa như xăng, dầu, khí đốt, vàng, sắt thép, đồ dùng công nghệ cao. Nền kinh tế khó khăn trên phạm vi toàn cầu, chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng đã dẫn tới hoạt động sản xuất trong nước gặp bất lợi. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Bên cạnh đó, nhờ sự phục hồi của nền kinh tế, thu nhập của người dân tăng hơn năm trước, kích thích nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Mức tăng tập trung ở các tháng đầu năm, chịu ảnh hưởng bởi nhóm nhiên liệu xăng, dầu các loại tăng mạnh. Nguyên nhân chủ yếu do những bất ổn về kinh tế, chính trị trên thế giới đã tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong nước. Năm 2022 chỉ số giá vàng tăng 1,43% so với năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,12% so với năm trước. Dự kiến CPI tháng 01/2023 dự kiến tăng mạnh, mức tăng tăng dần từ thời điểm cuối tháng 12/2022 và giữ hết tháng 1/2023, khi thời điểm dịp Tết Nguyên đán đến gần. Mức tăng chủ yếu tập trung các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, hàng may mặc, nội thất gia đình, cước vận tải hành khách, vật phẩm trang trí nhà ở, điện và khí đốt. Để bảo đảm nguồn hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, các siêu thị lớn, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đang có sự chuẩn bị về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu…Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống cũng như sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Dân số, lao động và việc làm Năm 2022, tình hình dịch bệnh covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản được kiểm soát tốt, các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động ổn định trở lại, nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp ở Hà Tĩnh tăng cao, đặc biệt tập trung một số nhóm ngành may mặc, điện, cơ khí và dịch vụ kinh doanh… vỳ vậy tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với năm trước. Dân số trung bình năm 2022 ước tính 1.319.181 người, tăng 0,39 % so với năm 2021 (tăng 5.125 người). Trong đó, dân số thành thị 294.156 người, chiếm 22,3%; dân số nông thôn 1.025.025 người, chiếm 77,7%; dân số nam 654.053 người, chiếm 49,58% và dân số nữ 665.128 người, chiếm 50,42%. Ước năm 2022, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 530.805 người tăng 3,34% so với năm 2021; trong đó lực lượng lao động nam là 280.673 người, chiếm 52,88%; lực lượng lao động nữ là 250.132 người chiếm 47,12% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 123.132 người, chiếm 23,20%; nông thôn là 407.673 người chiếm 76,80 %. Tính chung năm 2022, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 505.162 người, chiếm 95,17% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 3,18% so với năm 2021. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị chiếm 23,47%; nông thôn chiếm 76,53%; ở nam giới chiếm 52,73%; nữ giới chiếm 47,27%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 155.170 người, chiếm 30,72% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 144.686 người, chiếm 28,64%; ngành dịch vụ là 205.306 người, chiếm 40,64%.  Theo số liệu Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2022 là 22.995 người, đạt 104,52% kế hoạch năm 2022, tăng 1,89% so với năm 2021. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 7.293 người, chiếm 31,72% trong tổng số, giảm 36,8%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 4.185 người, chiếm 18,2%, giảm 23,1%; xuất khẩu lao động 11.517 người, chiếm 50,08%, tăng 106,14%. Ước năm 2022, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 25.643 người, chiếm 4,83% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 0,15 điểm phần trăm so với năm trước. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2022 ước tính là 5,1%, giảm 0,28 điểm phần trăm so với năm trước. 2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội    Đời sống dân cư: Sau thời gian dài gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã hoạt động bình thường và dần đi vào ổn định. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; thu hút các dự án đầu tư mới góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người dân, nhìn chung đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 45,08 triệu đồng/năm tăng 26,03% so với năm 2021 Công tác giảm nghèo: Năm 2022, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Theo kết quả rà soát, hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022, toàn tỉnh còn 14.527 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 3,79% (giảm 3.321 hộ nghèo so với năm 2021, tương ứng giảm 0,89% tỷ lệ hộ nghèo); tổng số hộ cận nghèo 15.486 hộ, chiếm tỷ lệ 4,04% (giảm 3.934 hộ cận nghèo so với năm 2021, tương ứng giảm 1,05% tỷ lệ hộ cận nghèo). Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Năm 2022 toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 502.448 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 158,361 tỷ đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 304.599 suất quà trị giá 83,498 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 50.576 suất quà trị giá 25,376 tỷ đồng; Tặng quà cho người cao tuổi khoảng 37.207 suất quà trị giá 10,656 tỷ đồng; Tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 66.500 suất quà trị giá 19,4 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 43.566 suất quà trị giá 19,431 tỷ đồng. Trao tặng 96 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 589 triệu đồng cho người có công. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 742 nhà kinh phí khoảng 50.895 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 80 nhà kinh phí khoảng 1.342 triệu đồng. Cấp khoảng 22.429 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 42.726 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 151.994 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 49.037 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-Ttg ngày 28/03/2022 của Chính Phủ về “Quy định việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động”; Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày 11/5/2022 của UBND tỉnh về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đến nay Hà Tĩnh đã hoàn thành việc chi trả hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động. Tổng số lao động được hỗ trợ 1.314 lao động với kinh phí hỗ trợ 1.999,5 triệu đồng, được chia làm 4 đợt. Đợt 1 là 301 lao động, kinh phí hỗ trợ 459 triệu đồng; đợt 2 là 375 lao động, kinh phí hỗ trợ 580 triệu đồng; đợt 3 là 169 lao động, kinh phí hỗ trợ 258 triệu đồng; đợt 4 là 465 lao động, kinh phí hỗ trợ 698,5 triệu đồng. Nhìn chung, công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo.         3. Giáo dục, đào tạo Giáo dục phổ thông: Trong tháng đã diễn ra kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 12 năm học 2022 - 2023 vào ngày 13/12 với tổng số 913 thí sinh tham gia ở 10 bộ môn: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, Văn, Sử, Địa, Anh, Pháp. Kết quả toàn tỉnh có 562 thí sinh đạt giải, trong đó có 57 giải nhất, 158 giải nhì, 198 giải ba và 149 giải khuyến khích. Ngoài số thí sinh tham gia dự thi đạt giải, năm nay, toàn tỉnh còn có 91 thí sinh được đặc cách công nhận học sinh giỏi tỉnh môn tiếng Anh theo Quyết định số 1472/QĐ-SGDĐT về việc đặc cách công nhận học sinh giỏi tỉnh năm học 2022 - 2023 của Sở GD&ĐT. Trên cơ sở những kết quả đạt được của năm học trước, năm học mới 2022-2023 ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, toàn tỉnh có 668 trường, trong đó có 527 trường đạt chuẩn quốc gia (gồm 255 trường mầm non (tăng 186 trường so với năm học trước), 221 trường tiểu học (không đổi), 147 trường THCS (không đổi), 45 trường THPT (không đổi)); với 10.783 lớp (mẩu giáo 2917 lớp (tăng 49 lớp); tiểu học 4250 lớp (tăng 82 lớp); THCS 2.427 lớp (tăng 83 lớp); THPT 1.189 lớp (giảm 3 lớp); 18.778 giáo viên (mầm non 5.621 người (giảm 73 giáo viên); tiểu học 5.605 người (tăng 232 giáo viên); THCS 4.799 người (tăng 361 giáo viên); THPT 2.753 người (tăng 29 người) và 335.175 học sinh (mầm non 74.416 học sinh (giảm 3.182 học sinh); tiểu học 136.500 học sinh (tăng 5886 học sinh); THCS 82.423 học sinh (tăng 4.609 học sinh); THPT 41.836 học sinh (tăng 3715 học sinh). Giáo dục đào tạo: Năm 2022 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 19.671 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 662 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 4.190 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 14.819 người. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Tình hình dịch Covid 19: Mặc dù tình hình dịch bệnh hiện nay đang được kiểm soát, nhưng virus liên tục biến đổi với các biến chủng mới; tiềm ẩn khả năng lây lan nhanh. Vì vậy, Hà Tĩnh tiếp tục rà soát những người trên 12 tuổi đủ điều kiện nhưng chưa tiêm vắc xin và trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi để triển khai tiêm vắc xin đạt tỷ lệ và hiệu quả cao nhất; tiếp tục tuyên truyền, vận động nâng cao tỷ lệ tiêm vắc xin mũi nhắc lại theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Đồng thời, đẩy mạnh triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 và tiếp tục thực hiện cập nhật, “làm sạch” dữ liệu tiêm chủng COVID-19 theo Văn bản số 4891/UBND-VX1 ngày 31/8/2022 của UBND tỉnh.  Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 21/12/2022 là 57.216 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 58.175 ca mắc. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 50.326 ca, trong đó đã có 50.053 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN. Điều trị khỏi 57.837 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 57.713 BN tại Hà Tĩnh, 54 BN tử vong. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 142 ca sốt xuất huyết, 21 ca mắc bệnh quai bị, 33 ca mắc lỵ trực trùng; 39 ca mắc lỵ a míp; 19ca mắc bệnh thủy đậu; 1.699 ca mắc bệnh cúm, tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, và không có người chết do các bệnh trên. Từ đầu năm đến nay đã phát hiện 988 ca sốt xuất huyết (gồm 23 ổ dịch với 299 ca mắc và 689 ca đơn lẻ). Ngoài ra, năm 2022 còn có các ca bệnh đơn lẻ như sau: 3 ca mắc sốt rét (tăng 200,0%), 129 ca mắc bệnh quai bị (tăng 230,77%), 228 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 71,43%); 261 ca mắc lỵ a míp (giảm 9,06%); 184 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 74,55%); 14.951 ca mắc bệnh cúm (giảm 7,92%), tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Năm 2022, Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc tỉnh (Ban Chỉ đạo 138 tỉnh) đã ban hành Kế hoạch số 3817/KH-BCĐ ngày 15/11/2022 về Triển khai Tháng hành động Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2022 (từ ngày 15/11/2022 đến ngày 10/12/2022) với chủ đề “Chấm dứt dịch AIDS - Thanh niên sẵn sàng!”. Trong tháng, có 3 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 người nhiễm mới HIV, giảm 2 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi. Năm 2022 có 28 người nhiễm mới HIV, 13 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 27 người nhiễm mới HIV(giảm 49,09%), giảm 37 người chuyển thành AIDS (giảm 74,0%), tăng 1 người chết vì AIDS (tăng 50%). Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm về ATVSTP trên địa bàn tĩnh được tiến hành thường xuyên và có hiệu quả đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành các quy định về ATVSTP của người sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm.  Năm 2022 toàn tỉnh tổ chức thành lập 548 đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành và chuyên ngành đã tiến hành kiểm tra 11.464 lượt cơ sở; phát hiện 1.041 lượt cơ sở có vi phạm về an toàn thực phẩm; xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 734 lượt cơ sở (70,5% số cơ sở vi phạm) với số tiền hơn 1,5 tỷ đồng; tịch thu tiêu hủy nhiều hàng hóa vi phạm có giá trị cao. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, chỉ có 73 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 99 ca (giảm 57,56%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung năm 2022 có 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc, xảy ra tại một nhà hàng thuộc xã Cẩm Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên; ngoài ra có 887 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ (giảm 66,67%) ngộ độc tập thể, giảm 49 ca (giảm 92,45%) ngộ độc tập thể, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 357 ca (giảm 28,75%), số ca tử vong không đổi. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng đã diễn ra một số hoạt động văn hóa sôi nổi như: ngày 27/11, đã diễn ra liên hoan các CLB dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh của huyện Hương Sơn đâylà dịp để trao đổi, học hỏi, giữ gìn và lan toả các làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh; ngày 12/12 Chi hội văn nghệ dân gian Việt Nam tại Hà Tĩnh tổ chức lễ ra mắt câu lạc bộ dân ca – dân vũ Thành Sen và biểu dương một số nghệ nhân dân gian bảo tồn, phát huy các loại hình văn nghệ dân gian trong giai đoạn 2020-2022... Nhìn chung năm 2022 nhờ kiểm soát tốt dịch Covid-19, hoạt động văn hóa sôi nổi hơn so với năm trước. Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa được Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh kiểm tra theo định kỳ, thường xuyên. Năm 2022, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức 6 cuộc thanh, kiểm tra. Qua kiểm tra 154 cơ sở kinh doanh, hoạt động dịch vụ thuộc ngành quản lý đã lập biên bản nhắc nhở đối với 65 cơ sở kinh doanh còn hạn chế, thiếu sót; đình chỉ hoạt động 15 phòng hát karaoke; lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành 03 quyết định xử phạt VPHC đối với 03 trường hợp, nộp 17,5 triệu đồng vào ngân sách nhà nước. Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 11 giải thi đấu đạt 39 huy chương các loại (9 HCV, 15 HCB, 15 HCĐ); trong  đó 3 giải quốc tế gồm giải vô địch Karate châu Á 2022 (1HCV, 2HCB); giải đua thuyền Châu Á (1 HCV), giải vô địch bắn súng Đông Nam Á (1 HCĐ); 8 giải trong nước đạt 7HCV-13HCB-14HCĐ.  Tính chung cả năm 2022, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 39 giải đấu, đạt 246 huy chương các loại (92 huy chương vàng, 72 huy chương bạc, 82 huy chương đồng), trong đó 05 giải quốc tế đạt 20 huy chương (9HCV-7HCB-4HCĐ), SEA Games 31 đạt 16 huy chương (6 huy chương vàng, 7 huy chương bạc, 3 huy chương đồng). Thể thao quần chúng:  Nhìn chung năm 2022 nhờ kiểm soát tốt dịch Covid-19, hoạt động thể thao quần chúng có phần sôi động trở lại. Theo báo cáo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến nay tỷ lệ người dân tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 38 %; tỷ lệ gia đình thể thao đạt 27,9 %; cộng tác viên thể dục thể thao cơ sở là 470 người; số câu lạc bộ thể thao phong trào đạt trên 1.050 câu lạc bộ. 6. Tai nạn giao thông Từ ngày 15/11 - 14/12/2022 xảy ra 16 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 12 người, bị thương 7 người, thiệt hại tài sản 250 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ tai nạn, giảm 1 người chết, số người bị thương không đổi, thiệt hại tăng 54 triệu. Tính từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/12/2022 toàn tỉnh đã xảy ra 108 vụ tai nạn đường bộ, 1 vụ tai nạn đường sắt làm chết 91 người, bị thương 46 người, thiệt hại tài sản 1.770 triệu đồng. So với với năm trước giảm 7 vụ tai nạn đường bộ (giảm 6,09%), tăng 1 vụ tai nạn đường sắt; giảm 5 người chết (giảm 5,21%), giảm 4 người bị thương (giảm 8%). Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ, đi sai phần đường, sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.                  7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/11/2022 đến ngày 14/12/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 17 vụ cháy, nổ không có người chết và bị thương với tổng giá trị thiệt hại ước tính 102,50 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2021 tăng 16 vụ; số người chết và bị thương không đổi. Tính chung cả năm 2022, xẩy ra 71 vụ cháy, nổ làm 1 người chết và 1 người bị thương, với tổng giá trị thiệt hại ước tính 5.025,6 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2021 tăng 8 vụ cháy, nổ; giảm 2 người bị thương; giảm 1 người chết. Nguyên nhân chủ yếu do chập điện và bất cẩn khi sử dụng lửa. Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/11 đến ngày 14/12/2022 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 97 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 59 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 210,7 triệu đồng; so với cùng kỳ năm 2021 tăng 76 vụ đã phát hiện (tăng 361,90%), tăng 38 vụ đã xử lý (tăng 180,95 %), số tiền xử phạt giảm 1.259,80 triệu đồng (giảm 85,67%). Năm 2022 (ngày 15/12/2021 - 14/12/2022) đã phát hiện 973 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 642 vụ, với tổng số tiền xử phạt 2.909,12 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 809 vụ vi phạm (tăng 493,29%), tăng 519 vụ đã xử lý (tăng 421,95%), tăng số tiền nộp phạt 41,27 triệu đồng (tăng 1,44%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong năm vận chuyển, khai thác cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 888 vụ (chiếm 91,26%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 39 vụ (chiếm 4,01%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 33 vụ (3,39%), thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 12 vụ (chiếm 1,23%). Gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường; xả thải khói, bụi, khí có mùi độc hại vào không khí 1 vụ ( chiếm 0,11%). 8. Thiệt hại thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai, so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ thiên tai, số người bị thương và bị chết không đổi, giảm thiệt hại 92 triệu đồng. Năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 7 vụ thiên tai, cụ thể là 01 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 2 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5, ngày 27/9-2/10); 3 vụ sét đánh (ngày 26/5, ngày 14/6 và 21/7 ); 01 vụ lốc xoáy (ngày 14/6) làm chết 4 người, 2 người bị thương, làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 582 nhà hư hỏng, thiệt hại 522 ha diện tích lúa, 421 ha diện tích hoa màu, 2.000 con gia cầm bị chết. Ước tính tổng thiệt hại là 42.497 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ thiên tai, tăng 1 người chết, giảm 2 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 144.783 triệu đồng.  III. DỰ BÁO, ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI        Năm 2023 là năm giữa nhiệm kỳ, năm bản lề đánh giá giữa kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà sẽ gặp khóa khăn và thách thức do tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, xung đột tại Ukraine có thể còn kéo dài; kinh tế trong nước nước dự báo còn chịu sức ép lạm phát, tỷ giá, lãi suất gia tăng; giá nhiều yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất kinh doanh tiếp tục xu hướng tăng; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thị trường lao động việc làm dự báo còn gặp nhiều khó khăn; biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục diễn biến bất thường, ảnh hưởng nặng nề hơn.        Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế xã hội theo Nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây: Một là, Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn, trọng điểm: Tập trung khắc phục sự cố và vận hành trở lại Tổ máy số 1 tại Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1; tạo mọi điều kiện để Nhà máy Pin VinES đi vào vận hành và sản xuất theo kế hoạch. Tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển dịch vụ logictics. Hai là, Thực hiện đồng bộ giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy hiệu quả Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và các địa phương (DDCI), góp phần nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Ba là, Tiếp tục rà soát đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi đối với các nhà đầu tư. Tăng cường các hoạt động thu hút đầu tư, đặc biệt là các dự án lớn, các nhà đầu tư chiến lược như (Vingroup, Sun Group, Ecopark, VSIP, T&T, Quế Lâm...); Bốn là, Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất các vụ trong năm; chú trọng phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Năm là, Tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế./.

Tình hình KTXH tháng 11 và 11 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   18/07/2024 11:13

I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp trong tháng chủ yếu trồng và chăm sóc cây vụ Đông 2022. Theo kế hoạch đặt ra Hà Tĩnh sẽ gieo trồng 11.524 ha rau màu với các loại cây trồng chủ lực như: ngô, rau các loại, khoai lang. Trong đầu vụ sản xuất, từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10, trên địa bàn toàn tỉnh diễn ra nhiều đợt mưa lớn trên diện rộng khiến một số diện tích ở các địa phương phải gieo trồng lại, tiến độ bị ảnh hưởng lớn, hiện nay thời tiết khá thuận lợi nên bà con nông dân các địa phương đã tập trung ra đồng làm đất, gieo trỉa hạt giống, trồng các loại rau màu…Trong tháng bà con nông dân cũng tập trung trồng các loại cây ăn quả và thu hoạch chính vụ các loại cây ăn quả chủ lực của địa phương như cam, chanh. Hoạt động chăn nuôi vẫn đang cầm chừng vì giá cả thất thường trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao. Hoạt động trồng rừng và khai thác giảm hơn so với cùng kỳ do chu kỳ khai thác. Hoạt động thủy sản trong tháng giảm hơn so với cùng kỳ do hoạt động kém hiệu quả nên tần suất đi biển giảm.1.1 Sản xuất nông nghiệp                *Trồng trọt - Cây hàng năm + Sơ bộ vụ Mùa 2022: Sản xuất vụ Mùa 2022 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2022 sơ bộ giảm 76 ha so với cùng kỳ năm trước. + Sản xuất vụ Đông 2022: Hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2022 cơ bản đã kết thúc. Tuy nhiên, do cùng thời điểm phải xuống giống gieo trỉa nhiều loại cây trồng nên một số loại cây chưa đạt kế hoạch đặt ra. Nay tranh thủ thời tiết nắng ráo bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng cây vụ Đông mà chủ yếu là các loại rau ngắn ngày. Ước tính đến ngày 15/11/2022, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2022 là 11.031 ha/11.524 ha, đạt 95,7% kế hoạch, cụ thể: Diện tích ngô lấy hạt 4.722 ha/4.473 ha, đạt 105,6% kế hoạch; diện tích ngô sinh khối 635 ha/1.030 ha, đạt 61,7% kế hoạch; diện tích khoai lang 1.291 ha/1.502 ha, đạt 86% kế hoạch và diện tích rau các loại 4.383 ha/4.519 ha, đạt 97% kế hoạch. - Cây lâu năm Trong tháng 11/2022, người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Thời điểm này cũng đang là chính vụ thu hoạch các loại cây ăn quả chủ lực của địa phương như cam, chanh…Năm nay, thời điểm cây cam ra hoa, đậu quả gặp phải điều kiện thời tiết mưa lạnh thất thường nên tỷ lệ đậu quả đạt thấp làm cho năng suất cam giảm so với năm trước. Tổng sản lượng cây ăn quả năm 2022 ước tính đạt 164.352 tấn, bằng 101,08% (tăng 1.753 tấn) so với năm 2021, trong đó: Sản lượng bưởi ước đạt 35.107 tấn, tăng 2.451 tấn; sản lượng cam ước đạt 65.257 tấn, tăng 1.436 tấn...năm nay chất lượng cam, bưởi đều tăng, giá bán có phần tăng hơn năm trước nên người dân đều phấn khởi. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân. - Tình hình sâu bệnh và thiệt hại Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Tuy nhiên, để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã đưa ra khuyến cáo về một số loại sâu bệnh gây hại đối với cây ngô như: Sâu keo mùa thu, sâu xám, sâu đục thân, đục bắp, rệp cờ, bệnh khô vằn, bệnh lùn sọc đen Phương Nam...Đối với cây rau là các loại sâu bệnh như: Sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy, rệp muội, bệnh lở cổ rễ (thối gốc), bệnh sương mai…Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ các loại sâu bệnh trên nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng.  *Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi những tháng đầu quý IV năm 2022 vẫn chưa có nhiều thay đổi. Nhìn chung, tổng đàn vật nuôi cơ bản ổn định so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn đại gia súc trâu, bò và đàn gia cầm có tăng nhẹ, còn đàn lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian qua, giá thịt trâu, bò hơi không ở mức cao nhưng tương đối ổn định; giá thịt lợn hơi trên địa bàn Hà Tĩnh bình quân quý II/2022 đạt 52,2 ngàn đồng/kg nhưng sang quý III/2022 đã tăng lên 59,6 ngàn đồng/kg (tăng 14,18%) so với quý trước. Mặc dù giá có tăng lên nhưng thiếu ổn định, trong khi giá thức ăn và các chi phí khác vẫn đang ở mức cao, nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất hạn chế nên việc phát triển hoạt động chăn nuôi lợn trong thời gian qua cũng như giai đoạn ngắn hạn sắp tới vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, để bảo đảm nguồn cung thực phẩm phục vụ nhu cầu tăng cao của người tiêu dùng trong dịp Tết sắp tới thì các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục duy trì ổn định tổng đàn vật nuôi và thực hiện các biện pháp phòng chống dịch để không ảnh hưởng làm sụt giảm tổng đàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 9/11/2022 trên địa bàn tỉnh vẫn còn có dịch lỡ mồm long móng chưa qua 21 ngày ở 32 hộ nuôi, thuộc 8 thôn của 4 xã, thị trấn (xã Kỳ Văn, xã Kỳ Tây của huyện Kỳ Anh và thị trấn Cẩm Xuyên, xã Cẩm Duệ của huyện Cẩm Xuyên), đang có 12 con trâu, 44 con bò và 1 con lợn mắc bệnh chưa qua 21 ngày. Các ổ dịch này cơ bản đã được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao nên người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại. 1.2 Lâm nghiệp Trong tháng 11/2022, hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn được thực hiện nhưng với kết quả giảm hơn so với cùng kỳ năm 2021. So với cùng kỳ năm 2021 thì diện tích rừng trồng tập trung tháng 11/2022 giảm 192 ha và sản lượng gỗ khai thác giảm 1.549 m3; so với tháng trước thì diện tích rừng trồng tập trung giảm 97 ha và sản lượng gỗ khai thác tăng 3.503 m3. Nguyên nhân do trong tháng người dân ở các địa phương có thế mạnh về lâm nghiệp như Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh tập trung sản xuất các loại cây trồng vụ Đông và thu hoạch các sản phẩm cây lâu năm chính vụ (cam, chanh...) nên nguồn nhân lực phục vụ sản xuất lâm nghiệp giảm. Tính chung 11 tháng năm 2022, kết quả sản xuất lâm nghiệp vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích rừng trồng tập trung tăng 170 ha và sản lượng gỗ khai thác tăng 27.091 m3. Riêng số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ngày càng có xu hướng giảm do quỹ đất sử dụng cho mục đích trồng cây xanh khu vực công cộng giảm. Trong tháng không xẩy ra cháy rừng mà chỉ xẩy ra 3 vụ phá rừng, với diện tích diện tích rừng bị phá 4,09 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha (giảm 0,83 ha) và 67 vụ phá rừng (tăng 23 vụ), với diện tích rừng bị phá là 37,083 ha (tăng 23,229 ha) so với cùng kỳ năm 2021. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 11/2022 giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng 11/2022 giảm 62 tấn, trong đó sản lượng khai thác giảm 105 tấn và sản lượng nuôi trồng tăng 43 tấn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù các chuyến biển của ngư dân khai thác ở vùng lộng khá thuận lợi. Tuy nhiên, do giá nhiên liệu xăng, dầu và các chi phí khai thác hải sản vẫn đang ở mức cao nên các tàu công suất lớn đánh bắt xa bờ hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, có một số tàu tần suất ra khơi giảm nên đã làm cho sản lượng khai thác giảm hơn so với cùng kỳ. Năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua không có nhiều sự thay đổi tích cực, cùng với giá nhiên liệu và các chi phí khác tăng cao nên nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản 11 tháng năm 2022 cũng chỉ giữ được mức tăng nhẹ. Những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. - Dịch bệnh trên tôm nuôi: Tính từ ngày 15/10 đến ngày 15/11/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra các loại dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 11 tiếp tục gặp khó khăn, các sản phẩm chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất công nghiệp như điện sản xuất, thép giảm đã “kéo” giảm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh xuống còn 16,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian tới ngành công nghiệp Hà Tĩnh đang kỳ vọng sự tăng trưởng từ những dự án mới như: Nhà máy Bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh vừa đi vào vận hành; Nhà máy sản xuất Pin VinES dự kiến hoạt động vào cuối quý IV/2022. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) chính thức tháng 10 năm 2022 giảm 18,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,85%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 20,77%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 24,18% so với cùng kỳ. Ước tháng 11/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 10/2022 tăng 0,79% và giảm 23,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 18,74% so với tháng trước và giảm 3,08% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,56% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này giảm 24,73%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 27,38% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 12,38%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 2,66% so với tháng 10/2022 và giảm 25,44% so với tháng 11/2021. Tính chung 11 tháng năm 2022, Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng ước giảm 16,88% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,01% làm giảm 0,09 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,09% làm giảm 11,35 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 31,75% làm giảm 5,05 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 16,64% làm giảm 0,39 điểm % vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 10 nhóm sản phẩm cộng dồn 11 tháng tăng so cùng kỳ năm 2021 bao gồm: Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 158,81%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 37,25%; chè (trà) nguyên chất tăng 26,89%; dịch vụ sản xuất dược tăng 20,12%; bia đóng lon tăng 19,22%; điện thương phẩm tăng 18,35%..vv. Ngoài ra có một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ như: Điện sản xuất giảm 32,71%; mực đông lạnh giảm 29,5%; nước không uống được giảm 18,58%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 17,26%; quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 13,12%;… 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2022 tăng 0,2% so với tháng trước và giảm 7,94% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 11/2022 giảm 6,8% so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân giảm là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm 8,94% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do khó khăn trong sản xuất nên một số doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ thu hẹp sản xuất, giảm lao động. Cùng với đó, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất cũng đã tiết giảm được nguồn nhân lực. Chỉ số sử dụng lao động tính đến tháng 11/2022 đối với ngành khai khoáng tăng 1,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,1%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,79% so với cùng kỳ năm 2021. 3. Vốn đầu tư Những tháng cuối năm 2022 được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, các đơn vị, địa phương thường xuyên tập trung theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, thực hiện, giải ngân dự án đầu tư công. Nguồn vốn bảo đảm, thời tiết thuận lợi, nguồn lực lao động dồi dào, các chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng nguồn vốn Trung ương hỗ trợ được đẩy nhanh tiến độ thi công trong các tháng cuối năm đảm bảo kế hoạch đề ra. Do đó, công tác thực hiện công trình cũng như giải ngân nguồn vốn đầu tư công trên địa bàn tăng mạnh trong các tháng cuối năm. Tính chung 11 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 77,9% kế hoạch năm, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 11/2022 đạt 886,03 tỷ đồng, tăng 24,28% so với tháng trước và tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 749,25 tỷ đồng, tăng 26,42% so với tháng trước, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 114,45 tỷ đồng, tăng 10,84% so với tháng trước và tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 22,33 tỷ đồng, tăng 31,35% so với tháng trước và giảm 59,85% so với tháng 11/2021. Vốn ngân sách nhà nước tháng 11/2022 tăng mạnh so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do tháng 11 thời tiết tương đối thuận lợi, nhiều công trình dự án tiếp tục được triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, ngày 04/11/2022 UBND tỉnh đã ban hành công văn số 6290/UBND-TH về đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, tăng cường quyết toán dự án đầu tư trên địa bàn. Do đó, các huyện, thành phố, thị xã tập trung lãnh đạo chỉ đạo, tháo gỡ nút thắt quan trọng trong triển khai dự án, xử lý kịp thời các khó khăn vướng mắc, thực hiện nhanh công tác bàn giao mặt bằng phục vụ triển khai dự án trên địa bàn. Đồng thời khẩn trương hoàn thành thủ tục đầu tư, đấu thầu, khởi công các công trình, dự án khởi công mới; đặc biệt là các dự án đã được giao kế hoạch vốn từ đầu năm và các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.   Dự ước 11 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.835,10 tỷ đồng, đạt 77,9% kế hoạch năm, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.591,51 tỷ đồng, chiếm 78,69% tổng vốn, tăng 4,51% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 1.013,07 tỷ đồng, chiếm 17,36% tổng vốn, tăng 26,18% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 230,52 tỷ đồng, chiếm 3,95% tổng vốn, giảm 55,27% so với cùng kỳ.  4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Những tháng cuối năm, nhìn chung thị trường hàng hóa cũng như các hoạt động thương mại dịch vụ xu hướng tăng hơn so với các tháng trước. Hoạt động bán lẻ chủ yếu là tích trữ hàng hóa phục vụ cho dịp Tết; Hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ổn định, trong đó dịch vụ ăn uống có tăng nhẹ do trong tháng có nhiều ngày lễ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xây dựng cuối năm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành công trình, đồng thời, đây cũng là tháng trùng với mùa cưới hỏi nên các dịch vụ hiếu hỷ, dịch vụ cho thuê đồ dùng cá nhân, dịch vụ cho thuê đồ dùng gia đình, làm đẹp và các dịch vụ khác tăng cao. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 11/2022 ước đạt 4.926,78 tỷ đồng, tăng 1,83% so với tháng trước và tăng 37,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 17,66 tỷ đồng, tăng 10,38% so với tháng trước và tăng 39,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong tất cả các nhóm hàng hóa chỉ có nhóm hàng may mặc có doanh thu giảm so với tháng trước (giảm 3,47%) do mặc dù đã bước sang tháng 11, tuy nhiên hình thái thời tiết trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu là nắng ấm, nền nhiệt trung bình cao hơn mọi năm khiến nhu cầu mua sắm trang phục chống lạnh không đáng kể, tuy nhiên so với cùng kỳ doanh thu vẫn tăng 100,85%. Còn lại tất cả các các nhóm hàng đểu có doanh thu tăng so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ, trong đó, nhóm hàng có tỷ trọng doanh thu lớn là lương thực, thực phẩm tăng 2,41% so với tháng trước, tăng 30,03% so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu lương thực phục vụ chăn nuôi tăng trong bối cảnh các hộ dân cư tăng đàn đón đầu nhằm phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới, còn giá cả nhóm mặt hàng này vẫn cơ bản ổn định, không có nhiều yếu tố mang tính chất đột biến. Giá xăng, dầu và giá gas thế giới bình quân trong tháng tăng so tháng trước, tác động đến doanh thu bán lẻ nhóm hàng xăng, dầu tăng 44,09%, nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 47.790,51 tỷ đồng, tăng 25,43% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng đều có doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các nhóm hàng có doanh thu cao và tăng mạnh cụ thể như: Lương thực, thực phẩm ước đạt 20.763,49 tỷ đồng, tăng 24,03%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 4.896,50 tỷ đồng, tăng 26,21%; xăng, dầu các loại ước đạt 5.216,40 tỷ đồng, tăng 48,24% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động thương mại của tỉnh nhà vẫn chịu ảnh hưởng chung từ tác động tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Những lo ngại về lạm phát, suy giảm kinh tế tác động đến cung cầu, giá cả nhiều nhóm hàng hóa trong nước. Đặc biệt là nhóm nhiên liệu xăng, dầu tăng giá mạnh đã tác động xấu đến mặt bằng giá cả chung và thu nhập của người tiêu dùng. Tuy vậy, môi trường kinh doanh và sản xuất lưu thông hàng hóa trong tỉnh vẫn đảm bảo ổn định khiến hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng mạnh. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 11/2022 ước đạt 541,84 tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước, tăng 155,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động l­ưu trú ước đạt 18,49 tỷ đồng, tăng 15,20% so với tháng trước, tăng 3,47 lần so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ ước đạt 98.434 lượt, tăng 15,35% so với tháng trước và tăng 247,48% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ ước đạt 71.812 ngày, tăng 13,31% so với tháng trước, tăng 281,98% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 522,47 tỷ đồng, tăng 0,70% so với tháng trước, tăng 151,55% so với cùng kỳ năm trước. Do trong tháng, trùng với ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 và trùng với mùa cưới hỏi nên các dịch vụ du lịch, lưu trú ăn uống ngoài gia đình tăng lên. Tính chung 11 tháng năm 2022 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 5.530,91 tỷ đồng, tăng 71,38% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 225,38 tỷ đồng, tăng 114,60%; lượt khách phục vụ ước đạt 1.246.646 lượt, tăng 90,52% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 998.295 ngày, tăng 70,01% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 5.290,90 tỷ đồng, tăng 69,85% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 14,63 tỷ đồng, tăng 98,92% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình hoạt động dịch vụ ăn uống, lưu trú, lữ hành tháng cơ bản vẫn giữ được sự ổn định và có tăng trưởng cao, dự ước cả năm hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tăng 73,99% so với cùng kỳ năm trước. Phục hồi và tăng trưởng so với thời điểm trước dịch (cụ thể tăng 11,54% so với năm 2019). - Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 11 ước tính đạt 258,34 tỷ đồng, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 194,61% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ khác trong tháng tăng so với tháng trước, do các nhu cầu dịch vụ giáo dục, dịch vụ làm đẹp, cắt tóc gội đầu, uốn sấy..., đều tăng. Bên cạnh đó, các công trình xây dựng, san lấp mặt bằng tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ thi công ,các dự án đầu tư lớn như Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng, Nhà máy sản xuất Cell pines,... đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công nên nhu cầu sử dụng máy móc tăng lên. Tính chung 11 tháng năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 2.299,66 tỷ đồng, tăng 70,26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 82,46%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt tăng 56,19%; giáo dục đào tạo tăng 150,34%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 3,03%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 42,8%; dịch vụ khác tăng 105,8%. Dự ước cả năm 2022 doanh thu ước đạt 2.524,41 tỷ đồng, tăng 70,17% so với cùng kỳ năm trước. 4.2. Hoạt động vận tải: Hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi của tỉnh trong tháng doanh thu giảm nhẹ so với tháng trước. Chủ yếu giảm ở vận tải hàng hóa do các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng doanh thu lớn là vận tải phục vụ hoạt động xây dựng đẩy nhanh thi công trong tháng 10, tháng 11 dự ước sẽ ổn định lại và không đạt mức cao như tháng trước, nhưng so với cùng kỳ vận tải hàng hóa vẫn tăng khá cao. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 11/2022 ước đạt 471,34 tỷ đồng, giảm 1,3% so tháng trước và tăng 42,29% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 108,35 tỷ đồng, tăng 1,35% so với tháng trước và tăng 153,39% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 287,07 tỷ đồng, giảm 2,66% so với tháng trước và tăng 33,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 75,83 tỷ đồng, tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 2,36% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải tháng 11/2022 ước tính giảm nhẹ ảnh hưởng bởi nguyên nhân chủ yếu docác doanh nghiệp vận tải hàng hóa chiếm tỷ trọng doanh thu lớn đã tạm hết hợp đồng, ví dụ Công ty TNHH vận tải và kinh doanh vật liệu xây dựng Minh Quế bán 3 xe với tổng trọng tải 33 tấn do nhu cầu vận chuyển giảm. Vận tải hành khách do thời tiết thuận lợi và trùng với các dịp lễ, cưới hỏi nên nhu cầu đi lại nội cũng như ngoại tỉnh gia tăng. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng nhẹ so với tháng trước do ảnh hưởng từ doanh thu bốc xếp hàng hóa qua cảng của Công ty cổ phần Cảng Quốc tế Lào - Việt. Tính chung, kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 11 tháng năm 2022, ước tính đạt 5.005,54 tỷ đồng, tăng 25,47% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 1.085,36 tỷ đồng, tăng 36,93%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 13.928,31 nghìn HK, tăng 32,28% và luân chuyển đạt 2.384,06 triệu HK.km, tăng 34,73%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.130,30 tỷ đồng, tăng 30,39%; khối lượng vận chuyển ước đạt 35.070,04 nghìn tấn, tăng 31,0% và luân chuyển ước đạt 891,37 triệu tấn.km, tăng 28,41%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 789,05 tỷ đồng, giảm 0,89% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 11 tháng năm 2022 tăng mạnh so với cùng kỳ do năm 2021 bị ảnh hưởng hưởng nặng nề bởi dịch Covid - 19. Dự ước cả năm doanh thu vận tải tăng 25,72% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất nhập khẩu những tháng cuối năm 2022 đã có những tín hiệu khả quan hơn so với những tháng trước, tuy nhiên vẫn chưa đặt kỳ vọng so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 11 ước đạt 296,35 triệu USD tăng 3,49% so với tháng trước nhưng giảm 36,71% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2022 kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 4.727,45 triệu USD giảm 5,35% so với cùng kỳ. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 11 ước đạt 130,85 triệu USD, tăng 3,82% so với tháng trước nhưng giảm 26,34% so với cùng cùng kỳ. Các mặt hàng chủ lực có dấu hiệu tăng khả quan so với tháng trước cụ thể: Mặt hàng thép, phôi thép ước đạt 103,91 triệu USD tăng 1,52% so với tháng trước nhưng giảm 36,64% so với cùng kỳ; Dệt và may mặc ước đạt 2,5 triệu USD tăng 19,62% so với tháng trước và tăng 25,0% so với cùng kỳ; Xơ, sợi dệt các loại ước đạt 1,0 triệu USD, tăng 7,53% so với tháng trước nhưng giảm 49,24%. Chỉ có 2 nhóm hàng xuất khẩu giảm so với tháng trước, trong đó đáng chú ý là mặt hàng dăm gỗ ước đạt 9,0 triệu USD giảm 5,47% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 196,05%, mặt hàng thủy sản ước giảm 1,05% so với tháng trước và giảm 25,0% so với cùng kỳ do yếu tố mùa vụ của hải sản. Nhìn chung, những tháng cuối năm ghi nhận những tín hiệu tích cực trong hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là nhòm hàng chủ lực thép và phôi thép sau thời gian dài ứ đọng hàng. Tính chung 11 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.554,58 triệu USD, giảm 17,42% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh thì các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ bao gồm: Mặt hàng thép, phôi thép giảm 22,70%; Xơ, sợi dệt các loại giảm 17,64%; Thủy sản giảm 15,49%. Còn lại các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ như: Chè tăng 7,47%; dăm gỗ tăng 63,32%; dệt và may mặc tăng 122,33%. Với sự nỗ lực trong hoạt động xuất khẩu những tháng cuối năm, tuy nhiên, nhìn chung kim ngạch sẽ khó đạt mức như năm trước, đặc biệt là ngành công nghiệp thép, do những khó khăn và bất ổn chung của thị trường thế giới. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 11/2022 ước đạt 165,50 triệu USD, tăng 3,23% so với tháng trước và giảm nhẹ 0,48% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do Formosa cắt giảm bớt việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào (ước đạt 130,25 triệu USD tăng 1,47% so với tháng trước nhưng giảm 55,18% so với cùng kỳ) để tập trung sản xuất cho những đơn hàng cuối năm. Cộng dồn 11 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.172,87 triệu USD, tăng 77,42% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 11 tăng nhẹ so với tháng trước, chủ yếu do biến động giá mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu và khí đốt sau 2 phiên điều chỉnh tăng trong tháng. Bên cạnh đó, ảnh hưởng thị trường vàng, tỷ giá ngoại tệ đồng đô la mỹ biến động tăng do yếu tố tình hình chính trị thế giới, qua đó ảnh hưởng đến giá cả các nhóm mặt hàng nhập khẩu. Tháng 11 chỉ số CPI chung tăng 0,18% so với tháng trước, nhưng so cùng kỳ tăng 3,0%. Trong đó: Khu vực thành thị giảm 0,15% so với tháng trước, tăng 1,90% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,32% so với tháng trước, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 08 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng nhẹ so với tháng trước cụ thể như: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,01%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,62%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; giao thông tăng 1,92%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,09%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%. 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,44%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 11 năm 2022: (i) Giá nhiên liệu xăng, dầu bình quân cũng như một số mặt hàng nhập khẩu khác như khí đốt, hàng may mặc, ô tô trong tháng tăng do việc đồng Đô la Mỹ tăng giá mạnh trong thời gian qua; (ii) Yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh và về những tháng cuối năm đã tác động đến các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc; (iii) Nền kinh tế khó khăn trên phạm vi toàn cầu, chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng đã dẫn tới hoạt động sản xuất trong nước gặp bất lợi. Thu nhập của người lao động nhìn chung bị ảnh hưởng khiến xu hướng thắt chặt chi tiêu tăng lên trong xã hội. Chỉ số giá vàng tăng 1,34% so với tháng trước, giảm 0,62% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,83% so với tháng trước, tăng 7,07% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.340 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.506.533 đồng/100 USD Tính chung CPI bình quân 11 tháng năm 2022, chỉ số chung tăng 2,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,94%; nông thôn tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Mức tăng tập trung ở các tháng đầu năm, chịu ảnh hưởng bởi nhóm nhiên liệu xăng, dầu các loại tăng mạnh. Nguyên nhân chủ yếu do những bất ổn về kinh tế, chính trị trên thế giới đã tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong nước. Dự kiến CPI tháng 12/2022 dự kiến tăng, khi những mặt hàng thiết yếu có thể tăng giá theo sự tăng giá của giá nguyên, nhiên liệu trong tháng. Giá dầu thô trên thị trường thế giới ở mức cao khiến giá xăng dầu có thể tiếp tục tăng. Giá gạo cũng tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm đạt thấp. Cùng với đó, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2022), từ đầu tháng 11/2022 đến nay, các cấp hội chữ thập đỏ ở Hà Tĩnh đã vận động, kêu gọi xã hội hóa và phối hợp với các đơn vị, cơ quan, tổ chức, các nhà hảo tâm trao tặng quà cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng yếu thế và người bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lụt và dịch COVID-19 trên địa bàn. Sau gần 1 tháng kêu gọi, các cấp hội đã trao tặng 1.600 suất quà, trao tặng 190 mô hình sinh kế (hỗ trợ nuôi bò sinh sản), hỗ trợ nguồn lực xây dựng 20 nhà nhân ái. Tổng giá trị các phần hỗ trợ trị giá gần 2 tỷ đồng. Ngoài ra, Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022), nhiều đơn vị công đoàn cấp huyện, thị ở Hà Tĩnh đã đến thăm hỏi, trao quà cho những đoàn viên công tác trong ngành giáo dục có hoàn cảnh khó khăn. 2. Giáo dục Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng, vì vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 8/11/2022 “về việc tăng cường điều kiện bảo đảm thực hiện hiệu quả, chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông, đại học” theo đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu toàn ngành Giáo dục; các sở, ban, ngành có liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung phối hợp, tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm học 2022-2023. 3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục chỉ đạo việc triển khai tiêm vắc xin phòng COVID người từ 12 tuổi trở lên và trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi đảm bảo an toàn, hiệu quả; chỉ đạo các cơ sở tiêm chủng trên địa bàn phối hợp với lực lượng công an địa phương cập nhật, “làm sạch” dữ liệu tiêm vắc xin phòng COVID-19. Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 21/11/2022 là 57.072 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 58.031 ca mắc. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN; điều trị khỏi 57.695 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 57.571 BN tại Hà Tĩnh; 54 BN tử vong. Mặc dù tình hình dịch bệnh hiện nay đang được kiểm soát, tuy nhiên vẫn cần cảnh giác với các yếu tố nguy cơ như sau: một bộ phận người dân chủ quan, coi nhẹ dịch bệnh; Phát sinh tình trạng một số ca F0 tại một số địa phương tự phát hiện, không khai báo nên cơ quan chuyên môn khó quản lý, kiểm soát. - Tình hình dịch bệnh khác: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Tĩnh (CDC) vừa tổ chức tập huấn sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán, điều trị bệnh sốt rét và hướng dẫn sử dụng phần mềm báo cáo bệnh sốt rét ECDS cho cán bộ chuyên trách phòng chống sốt rét tuyến huyện, xã/phường/thị trấn. Tính từ đầu năm đến nay (ngày 16/11/2022) trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 801 ca sốt xuất huyết (trong đó có 206 ca vãng lai) với 21 ổ dịch được phát hiện. Hiện nay còn 3 ổ dịch đang hoạt động. Ngoài ra, trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh còn một số ca bệnh đơn lẻ như: 191 ca mắc sốt xuất huyết, không có ca mắc sốt rét, 19 ca mắc bệnh quai bị, 31 ca mắc lỵ trực trùng, 27 ca mắc lỵ a míp, 16 ca mắc bệnh thủy đậu, 2 ca bệnh do adeno, 1.683 ca mắc bệnh cúm, 2 ca chân tay miệng, 163 ca tiêu chảy, 5 ca viêm gan vi rút khác, tất cả các ca bệnh trên đều không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng phát triển toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc đã ban hành Kế hoạch số 3760/BCĐ- KH ngày 10/11/2022 về Triển khai Tháng hành động Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2022 (từ ngày 10/11/2022 đến ngày 10/12/2022) với chủ đề “Chấm dứt dịch AIDS - Thanh niên sẵn sàng!”. Trong tháng, có 6 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: giảm 2 người nhiễm mới HIV, giảm 4 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung 11 tháng năm 2022 có 25 người nhiễm mới HIV, 12 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 26 người (giảm 50,98%) nhiễm mới HIV, giảm 35 người (giảm 74,47%) chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS tăng 1 người (tăng 50%). - Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, chỉ có 55 ca ngộ độc đơn lẻ. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 11 ca (giảm 16,67%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 11 tháng năm 2022 có 01 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 814 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 258 ca (giảm 24,08 %), số ca tử vong không đổi. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, đã diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi nhân dịp Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11/2022) với nhiều tiết mục như: nhảy dân vũ thể thao, hát ví dặm, hát dân ca hay tổ chức giao lưu ẩm thực, đây là dịp người dân thắt chặt tình làng nghĩa xóm, làm khăng khít hơn khối đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo nên sức mạnh tổng hợp, cùng chung tay góp sức vào quá trình phát triển kinh tế - xã của tỉnh. - Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Được Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh kiểm tra theo định kỳ, thường xuyên. Trong tháng, thành lập đoàn Thanh tra về việc chấp hành quy định pháp luật trong công tác quản lý tài chính, quản lý sử dụng tài sản công và thực hiện quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng tại 2 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở gồm: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh; Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể dục, thể thao tỉnh. - Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh không tham gia giải đấu thể thao thành tích, chủ yếu tập trung luyện tập để tham gia các giải chuẩn bị thi đấu. Tính chung 11 tháng năm 2022, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 32 giải đấu, đạt 215 huy chương các loại (84 huy chương vàng, 61 huy chương bạc, 70 huy chương đồng), trong đó 04 giải quốc tế đạt 19 huy chương (8HCV-7HCB-4HCĐ), SEA Games 31 đạt 16 huy chương (6 huy chương vàng, 7 huy chương bạc, 3 huy chương đồng). Thể thao quần chúng: Trong tháng, nhiều hoạt động thể thao được tổ chức như: chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982-20/11/2022), đã diễn ra các giải bóng chuyền hơi ngành Giáo dục và Đào tạo, các giải đấu cũng là dịp để đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành GD&ĐT huyện có dịp giao lưu, tăng cường tình đoàn kết, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động thể dục thể thao, đồng thời cũng đẩy mạnh hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện sức khỏe theo gương Bác Hồ vĩ đại” trong các trường học trên địa bàn; Ngày 5/11, Ủy ban MTTQ tỉnh và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tổ chức giải bóng chuyền hơi nam nữ tranh cúp Đại đoàn kết lần thứ I để chào mừng kỷ niệm 92 năm ngày truyền thống MTTQ Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2022), ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2022. 5. Tình hình an toàn giao thông Tai nạn đường bộ: Tính từ ngày 15/10-14/11/2022 xảy ra 12 vụ tai nạn đường bộ, 10 người chết, 6 người bị thương, thiệt hại 200 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ tai nạn, tăng 3 người chết, giảm 2 người bị thương, thiệt hại tăng 150 triệu. Tính chung 11 tháng năm 2022 (tính từ ngày 15/12/2021-14/11/2022) đã xẩy ra 92 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 78 người chết, 39 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 1.520 triệu đồng, so với cùng năm 2021 số vụ tai nạn đường bộ giảm 6 vụ (giảm 6,12%), giảm 5 người chết (giảm 6,02%) và giảm 4 người bị thương (giảm 9,30%), số tiền nộp phạt tăng 872 triệu đồng. Tai nạn đường sắt: Trong tháng cũng đã xảy ra 1 vụ tai nạn đường sắt làm chết 1 người. So với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ tai nạn, tăng 1 người chết. Tính chung 11 tháng năm 2022 xảy ra 1 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 1 người. So với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết. 6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/10/2022 đến ngày 14/11/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại ước tính là 30 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ cháy, số người chết và bị thương không đổi. Tính chung 11 tháng năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/10/2022) đã xảy ra 54 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 4.923 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 8 vụ (giảm 12,9 %), giảm 2 người chết (giảm 66,67%), giảm 1 người bị thương (giảm 50%), thiệt hại ước tính tăng 2.182 triệu đồng. Nguyên nhân xảy ra các vụ cháy chủ yếu là do chập điện và sơ suất khi sử dụng lửa. - Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/10 đến ngày 14/11/2022 đã phát hiện 89 vụ, đã xử lý 55 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 177,8 triệu đồng; so với tháng trước giảm 5 vụ đã phát hiện (giảm 5,32%), giảm 9 vụ đã xử lý (giảm 14,06%), số tiền nộp phạt giảm 550,9 triệu đồng (giảm 75,60%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 75 vụ đã phát hiện (tăng 535,71%), tăng 49 vụ đã xử lý (tăng 816,67 %), số tiền xử phạt tăng 80,3 triệu đồng (tăng 82,36%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển, khai thác cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 86 vụ (chiếm 96,63%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 2 vụ (2,25%), thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 1 vụ (chiếm 1,12%). Tính chung 11 tháng năm 2022 (ngày 15/12/2021 - 14/11/2022) đã phát hiện 876 vụ, đã xử lý 583 vụ, với tổng số tiền xử phạt 2.698,42 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ phát hiện tăng 733 vụ (tăng 512,59%), tăng 481 vụ đã xử lý (tăng 471,57%), tăng số tiền nộp phạt 1.301,07 triệu đồng (tăng 93,11%). 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước giảm 1 vụ, giảm 2 người bị thương, thiệt hại giảm 34.529 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước: giảm 1 vụ thiên tai, số người bị thương và bị chết không đổi, giảm thiệt hại 92 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay, ở Hà Tĩnh đã xảy ra 7 vụ thiên tai, cụ thể là 01 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 2 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5, ngày 27/9-2/10); 3 vụ sét đánh (ngày 26/5, ngày 14/6 và 21/7 ); 01 vụ lốc xoáy (ngày 14/6) làm chết 4 người, 2 người bị thương, làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 582 nhà hư hỏng, thiệt hại 522 ha diện tích lúa, 421 ha diện tích hoa màu, 2.000 con gia cầm bị chết. Ước tính tổng thiệt hại là 42.497 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 5 vụ thiên tai, tăng 1 người chết, giảm 2 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 144.783 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 10 và 10 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 17:05

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp trong tháng 10 năm 2022 chủ yếu chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây vụ Đông năm 2022; Hoạt động chăn nuôi đang có dấu hiệu phục hồi dần sau ảnh hưởng của dịch bệnh, tuy nhiên mức độ phục hồi vẫn còn chậm; Hoạt động trồng và chăm sóc rừng trồng tương đối thuận lợi do thời tiết mát mẻ; Hoạt động khai thác thủy sản có dấu hiệu tăng trở lại khi giá nhiên liệu được điều chỉnh giảm trong khi điều kiện thời tiết thuận lợi cho các chuyến vươn khơi đánh bắt, hoạt động nuôi trồng thủy sản vẫn được duy trì tuy nhiên do bước vào mùa mưa bão nên có phần hạn chế trong việc thả nuôi. 1.1 Sản xuất nông nghiệp                 *Trồng trọt  - Cây hàng năm + Kết quả sản xuất vụ Mùa 2022: Nhìn chung, sản lượng các loại cây trồng vụ Mùa 2022 giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên canh yếu tố thời tiết thì vụ Mùa không phải là vụ sản xuất chính trong năm nên người dân ít đầu tư cho sản xuất các loại cây trồng, nhất là trong điều kiện chi phí vật tư sản xuất nông nghiệp đang tăng cao như hiện nay. Mục đích chính vẫn là để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân. + Sản xuất vụ Đông 2022: Hiện nay, bà con nông dân đang tiến hành gieo trồng các loại cây vụ Đông 2022 nhằm đảm bảo kế hoạch và lịch thời vụ. Tiến độ sản xuất tính đến ngày 15/10/2022, tổng diện tích gieo trồng ước đạt 3.375/11.524 ha, đạt 29,3% kế hoạch, trong đó: Diện tích ngô lấy hạt ước đạt 817/4.473 ha, đạt 18,3% kế hoạch; ngô sinh khối ước đạt 150/1.030 ha, đạt 14,6% kế hoạch; khoai lang ước đạt 323/1.502 ha, đạt 21,5% kế hoạch; rau các loại ước đạt 2.085/4.519 ha, đạt 46,1% kế hoạch. Tranh thủ thời tiết nắng ráo bà con nông dân đang tiến hành gieo trồng các loại cây vụ Đông đảm bảo theo lịch thời vụ. - Cây lâu năm Trong tháng 10/2022, người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Cùng với đó, thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam…đang thu hoạch chính vụ. Tuy nhiên, thời gian qua trên địa bàn tỉnh mưa nhiều nên bưởi, cam…bị úng nước phải thu hoạch, trong khi thị trường tiêu thụ chưa được mở rộng, còn bị động trong khi nguồn cung lớn nên giá bán đang ở mức thấp. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân. - Tình hình sâu bệnh và thiệt hại Hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng vụ Mùa nhưng với mức độ ảnh hưởng nhẹ.  *Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 10 năm 2022 nhìn chung ổn định. Đàn vật nuôi tuy đang có dấu hiệu dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng vẫn còn chậm. Do tổng đàn không biến động nhiều nên số con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong kỳ cũng tăng không đáng kể. Bên cạnh nguyên nhân do hậu quả của dịch tả lợn Châu Phi đang để lại mầm bệnh và dễ tái phát nên người dân hạn chế tái đàn thì nguyên nhân chính là trong thời gian qua chi phí chăn nuôi, nhất là giá thức ăn tăng quá cao trong khi giá bán thịt hơi đối với trâu, bò giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, giá lợn hơi có tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng cũng chỉ tăng nhẹ với mức tăng 2,5% và thiếu ổn định. Cùng với đó, hiện nay thị trường tín dụng đang được thắt chặt cho vay nên việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất cũng gặp khó khăn là những rào cản trong việc phát triển hoạt động chăn nuôi. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, hiện nay trên địa bàn tỉnh còn có 2 ổ dịch lỡ mồm long móng chưa qua 21 ngày. Tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh có 9 con trâu, 1 con bò và tại xã Lưu Vĩnh Sơn, huyện Thạch Hà có 2 con trâu, 11 con bò mắc bệnh. Các ổ dịch này cơ bản đã được khống chế nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao nên người chăn nuôi phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi và có phương án chủ động đối phó khi dịch bệnh xẩy ra để hạn chế thiệt hại. 1.2 Lâm nghiệp Trong tháng 10/2022, hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. So với cùng kỳ năm 2021 thì diện tích rừng trồng tập trung tháng 10/2022 tăng 78 ha và tính chung 10 tháng năm 2022 tăng 362 ha; sản lượng gỗ khai thác tháng 10/2022 tăng 2.099 m3 và 10 tháng năm 2022 tăng 28.640 m3 so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân do trong tháng 10/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh thời tiết râm mát nên thuận lợi cho việc trồng rừng và khai thác lâm sản. Diện tích rừng trồng và lâm sản khai thác vẫn chủ yếu tập trung ở các địa phương: Hương sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh...Thời gian tới, khi bước vào mùa bão lũ thì cũng là thời điểm mà các chủ rừng sản xuất sẽ thu hoạch các sản phẩm để tránh thiệt hại nên sản lượng gỗ khai thác dự kiến cũng sẽ tăng lên. Tính từ ngày 15/9/2022 đến 15/10/2022, không xẩy ra cháy rừng mà chỉ xẩy ra 3 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá 1,2 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha (giảm 0,83 ha) và 64 vụ phá rừng (tăng 25 vụ), với diện tích rừng bị phá là 32,993 ha (tăng 20,279 ha) so với cùng kỳ năm 2021. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 10/2022 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng 10/2022 tăng 101 tấn, trong đó sản lượng khai thác tăng 90 tấn và sản lượng nuôi trồng tăng 11 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trong tháng 10/2022 giá nhiên liệu xăng, dầu được điều chỉnh giảm, trong khi các chuyến biển của ngư dân khai thác khá thuận lợi nên ngư dân tiếp tục ra khơi khai thác thủy sản. Bên cạnh đó, sản phẩm nuôi trồng cơ bản đã được thu hoạch từ những tháng trước để tránh thiệt hại do mưa lũ gây ra nên sản lượng nuôi trồng chỉ tăng nhẹ. Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước tính tăng 1.057 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng khai thác ước tính tăng 794 tấn và sản lượng nuôi trồng ước tính tăng 263 tấn. Những khó khăn trong phát triển sản xuất thủy sản hiện nay là chi phí sản xuất tăng mạnh; mức độ dầu tư tăng năng lực sản xuất còn hạn chế; chủ yếu khai thác ở ngư trường vùng lộng. Thời gian tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản dự kiến sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. Về sản xuất giống tôm: Trong tháng 10/222, ước tính đã sản xuất được 28 triệu con giống tôm thẻ, tăng 4 triệu con so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2022, ước tính sản xuất được 565 triệu con tôm giống, tăng 24 triệu con so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 16 triệu con giống tôm sú và 549 triệu con giống tôm thẻ. Tình hình dịch bệnh: Tính từ ngày 15/9/2022 đến ngày 15/10/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra các loại dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản.  2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 10 tiếp tục gặp khó khăn, giảm sản lượng sản xuất một số ngành có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính đến cuối tháng 10 năm 2022 ước giảm 15,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian tới ngành công nghiệp Hà Tĩnh đang kỳ vọng sự tăng trưởng từ những dự án mới như: Nhà máy Bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh vừa đi vào vận hành; Nhà máy sản xuất Pin VinES dự kiến hoạt động vào cuối quý IV/2022. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 10/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 9/2022 tăng 24,24% và giảm 11,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,17% so với tháng trước và giảm 2,35% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,13% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này giảm 14,97%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 6,3% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 25,31%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 2,5% so với tháng 9/2022 và giảm 26,76% so với tháng 10/2021. Nhìn chung, tính từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 2022 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn, giảm sản lượng sản xuất so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 10 tháng đầu năm 2022 ước giảm 15,62% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,84%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 12,34%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 32,18%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 16,07% so với cùng kỳ năm 2021. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm cộng dồn 10 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 57,89% trong tổng số sản phẩm) và có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 42,11%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước: Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 164,57%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 38,25%; chè (trà) nguyên chất tăng 37,6%; bia đóng lon tăng 17,75%; dịch vụ sản xuất dược tăng 17,38%; điện thương phẩm tăng 17,22%; … Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất giảm 33,04%; mực đông lạnh giảm 30,54%; nước không uống được giảm 17,93%; quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 15,32%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 15,18%; … 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2022 tăng 0,04% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 6,16%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 10/2022 giảm 6,43% so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 10 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể, chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm 8,56% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động đối với ngành khai khoáng tăng 3,37%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,17%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,67% so với cùng kỳ năm 2021. 3. Vốn đầu tư Vốn ngân sách nhà nước tháng 10/2022 giảm mạnh so với tháng trước (giảm 9,29%) và so với cùng kỳ năm trước (giảm 19,74%). Nguyên nhân do thời tiết không thuận lợi, mưa nhiều, một số huyện ngập sâu trong nhiều ngày, do đó các công trình trên địa bàn tạm dừng thi công, vốn đầu tư thực hiện giảm. Dự ước 10 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.893,95 tỷ đồng, đạt 65,33% kế hoạch năm, tăng 1,25% so với cùng kỳ năm trước Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 10/2022 đạt 657,83 tỷ đồng, bằng 90,71% so với tháng trước, bằng 80,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 541,04 tỷ đồng, bằng 94,24% so với tháng trước, bằng 82,88% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 100 tỷ đồng, bằng 82,81% so với tháng trước và bằng 98,16% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 16,80 tỷ đồng, bằng 55,35% so với tháng trước và bằng 25,87% so với tháng 10/2021. Vốn ngân sách nhà nước tháng 10/2022 giảm mạnh so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Một số dự án lớn tiến độ thi công chậm như Đường trục chính trung tâm nối quốc lộ 1 đoạn tránh Thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; đường vành đai phía Đông thành phố Hà Tĩnh; sữa chữa nâng cao an toàn đập…. Bên cạnh đó, các dự án sử dụng nguồn vốn ODA triển khai chậm, do đó tổng vốn đầu tư thực hiện ODA cộng dồn 10 tháng năm 2022 giảm 77,36% so với cùng kỳ. Dự ước 10 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.893,95 tỷ đồng, đạt 65,33% kế hoạch năm, tăng 1,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.790,62 tỷ đồng, chiếm 77,45% tổng vốn, tăng 3,30% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 895,37 tỷ đồng, chiếm 18,30% tổng vốn, tăng 27,10% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 207,98 tỷ đồng, chiếm 4,25% tổng vốn, giảm 54,76% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, một số công trình trên địa bàn tỉnh có tỷ lệ giải ngân đạt khá so với kế hoạch vốn phân bổ năm 2022 như: Dự án nâng cấp đường tỉnh ĐT.553 đoạn từ Km49+900 - Km74+680); Dự án cải tạo mặt đường, chỉnh trang hạ tầng kỹ thuật đường Quang Trung đoạn từ đường Nguyễn Huy Lung đến cầu Hộ Độ và bổ sung 1 đơn nguyên cầu Hộ Độ…. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tình hình hoạt động thương mại của tỉnh đạt được sự tăng trưởng khá. Việc kiểm soát được dịch bệnh Covid-19 là yếu tố chính khiến nền kinh tế nói chung và thị trường bán buôn, bán lẻ hàng hóa nói riêng tăng trưởng mạnh. Hoạt động dịch vụ ăn uống, lưu trú, lữ hành và dịch vụ khác cơ bản vẫn giữ được sự ổn định. Tuy nhiên, mặt bằng giá cả một số mặt hàng, dịch vụ thiết yếu còn ở mức cao, việc sản xuất kinh doanh của cơ sở cá thể, doanh nghiệp của tỉnh ngày càng gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của các hệ thống bán lẻ toàn quốc, đặc biệt là hình thức thương mại điện tử do các tính ưu việt về giá cả, chất lượng và sự tiện lợi. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 10/2022 ước đạt 4.838,42 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 42,31% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng doanh thu lớn có biến động tăng so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ như: Lương thực, thực phẩm tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 35,20% so với cùng kỳ; may mặc tăng 5,43% so với tháng trước, tăng 120,03% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 4,48% so với tháng trước, tăng 72,08% so với cùng kỳ; xăng, dầu các loại tăng 3,8% so với tháng trước, tăng 57,58% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời tiết mưa lớn kéo dài ảnh hưởng đến nguồn cung rau, củ quả trong tỉnh, khiến mặt bằng giá ở mức cao, cùng với đó nhu cầu mua sắm quần áo, trang phục giữ ấm, chăn nệm tăng mạnh do thời tiết dần chuyển lạnh. Việc giá xăng, dầu đã tăng trở lại sau nhiều lần điều chỉnh giảm là yếu tố chính ảnh hưởng đến mức tăng doanh thu bán lẻ. Nhưng công tác cung ứng từ các đầu mối bán buôn cho các cửa hàng bán lẻ vẫn được đảm bảo, trong tháng không xảy ra hiện tượng thiếu xăng, dầu, không có điểm bán lẻ nào phải tạm đóng cửa ngừng hoạt động do thiếu hàng. Bên cạnh các nhóm hàng tăng doanh thu, có 5/12 nhóm hàng có doanh thu giảm so với tháng trước, giảm sâu nhất ở nhóm gỗ và vật liệu xây dựng (giảm 3,2%) nhưng so với cùng kỳ doanh thu nhóm này vẫn tăng 15,46%. Nguyên nhân do việc giảm giá các loại vật liệu xây dựng sau một thời gian ở mức cao, bên cạnh đó thời tiết mưa nhiều cũng tác động đến hoạt động xây dựng, qua đó ảnh hưởng đến doanh thu các mặt hàng trong nhóm. Vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 1,32% so với tháng trước, tăng 2,85% so cùng kỳ năm trước do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập giảm dần sau đợt cao điểm trong những tháng trước. Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 42.863,74 tỷ đồng, tăng 24,21% so với cùng kỳ năm trước. Có 12/12 nhóm mặt hàng có chỉ số tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 23,37%; hàng may mặc tăng 37,29%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 22,5%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 1,61%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,57%; ô tô tăng 5,44%; phương tiện đi tăng 11,31%; xăng, dầu các loại tăng 48,75%; nhiên liệu khác tăng 30,22%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 51,08%; hàng hóa khác tăng 32,65%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 14,84% so với cùng kỳ năm trước. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 10/2022 ước đạt 542,51 triệu đồng, tăng 0,23% so với tháng trước, tăng 136,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động l­ưu trú ước đạt 15,95 tỷ đồng, giảm 29,79% so với tháng trước, tăng 3 lần so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết mưa bão trong tháng ảnh hưởng một số địa bàn trong tỉnh, tác động trực tiếp đến doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, lữ hành giảm mạnh; Dịch vụ ăn uống ước đạt 525,90 tỷ đồng, tăng 1,60% so với tháng trước, tăng 133,0% so với cùng kỳ năm trước, do trong tháng trùng nhiều dịp lễ nên lượng khách tổ chức hội họp, ăn uống ngoài gia đình tăng mạnh; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 0,66 tỷ đồng giảm 29,19% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng năm 2022 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.995,99 tỷ đồng, tăng 65,68% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 206,80 tỷ đồng, tăng 104,98%; lượt khách phục vụ 1.212.976 lượt tăng 93,76% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 925.977 ngày, tăng 62,91% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 4.775,48 tỷ đồng, tăng 64,26% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 13,71 tỷ đồng, tăng 86,39% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình hoạt động dịch vụ ăn uống, lưu trú, lữ hành tháng 10 cơ bản vẫn giữ được sự ổn định và có tăng trưởng cao. Mặc dù doanh thu lưu trú và lữ hành có giảm do ảnh hưởng của tính chất thời vụ và thời tiết nhưng doanh thu ăn uống vẫn giữ mức tăng trưởng khá. Sang tháng 11 cũng là thời điểm bước vào mùa cưới nên nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ dự ước tăng. - Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 10 ước tính đạt 246,65 tỷ đồng, tăng 5,76% so với tháng trước và tăng 180,17% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động dịch vụ khác trong tháng xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước, do các nhu cầu dịch vụ giáo dục, dịch vụ làm đẹp, cắt tóc gội đầu, uốn sấy..., đều tăng mạnh, cũng như các dịch vụ vui chơi giải trí có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, ảnh hưởng thời tiết giao mùa, thời tiết thay đổi thất thường tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển, làm cho các dịch bệnh bùng phát nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế tăng. Tháng 10 các công trình xây dựng, san lấp mặt bằng tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ thi công nên nhu cầu sử dụng máy móc tăng lên Tính chung 10 tháng năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 2.047,84 tỷ đồng, tăng 62,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 73,62%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 49,32%; giáo dục đào tạo tăng 138,65%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 3,43%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 29,25%; dịch vụ khác tăng 93,44%.  4.2. Hoạt động vận tải: Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi của tỉnh trong tháng doanh thu tăng nhẹ so với tháng trước, tăng chủ yếu hoạt động vận tải hàng hóa và kho bãi dịch vụ hỗ trợ vận tải. Còn vận tải hành khách giảm nhẹ so với tháng trước do ảnh hưởng thời tiết, ngập lụt một số nơi nên hạn chế lượt người đi lại. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng do số lượng tàu cập cảng ổn định, lượng hàng hóa thông qua cảng tăng hơn so với tháng trước. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 10/2022 ước đạt 472,68 tỷ đồng, tăng 1,59% so với tháng trước và tăng 46,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 106,91 tỷ đồng, giảm 4,14% so với tháng trước và tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 304,63 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 43,27% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 61,05 tỷ đồng, tăng 1,49% so với tháng trước và giảm 21,58% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 10 vẫn đảm bảo doanh thu ổn định. Donh thu vận tải hành khách có giảm nhẹ so với tháng trước do trong tháng tình trạng ngập lụt xảy ra một số nơi trên địa bàn tỉnh nên gây khó khăn cho các phương tiện vận tải. Mặt khác, tháng 10 cũng bước vào mùa mưa bão, người tham quan đi lại không còn nhiều như những tháng trước đây. Tuy nhiên, so với cùng kỳ thì doanh thu vận tải hành khách lại có mức độ tăng trưởng cao do cùng kỳ năm trước bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Về vận tải hàng hóa các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển mạnh, các dự án lớn trên toàn tỉnh vẫn đang tiếp tục thi công. Các công trình đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng cũng tăng hơn. Bên cạnh đó, đây là thời điểm các đơn vị nhập nguyên vật liệu sản xuất hàng hóa phục vụ dịp Tết đã bắt đầu tăng. Tính chung, kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 10 tháng năm 2022, ước tính đạt 4.529,32 tỷ đồng, tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 977,02 tỷ đồng, tăng 30,29%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 12.453,71 nghìn HK, tăng 24,21% và luân chuyển đạt 2.126,66 triệu HK.km, tăng 26,38%. Vận tải hàng hóa ước đạt 2.852,95 tỷ đồng, tăng 30,49%; khối lượng vận chuyển ước đạt 31.959,53 nghìn tấn, tăng 31,31% và luân chuyển ước đạt 813,93 triệu tấn.km, tăng 29,16%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 698,60 tỷ đồng, giảm 3,25% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất khẩu vẫn đang tiếp tục gặp khó khăn và chưa có dấu hiệu khả quan do ảnh hưởng chung của thị trường thế giới, đặc biệt mặt hàng thép. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 10 ước đạt 297,57 triệu USD tăng 4,77% so với tháng trước nhưng giảm 31,01% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2022 kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 4.443,72 triệu USD giảm 2,56% so với cùng kỳ. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 ước đạt 125,07 triệu USD, giảm cả so với tháng trước (6,50%) và giảm mạnh với cùng cùng kỳ (giảm 24,56%). Chủ yếu do lượng xuất khẩu của mặt hàng thép, phôi thép vẫn đang đà giảm khá sâu (ước đạt 101,65 triệu USD giảm 12,81% so với tháng trước và giảm 33,81% so với cùng kỳ). Những đã có tín hiếu tích cực hơn ở các mặt hàng chủ lực khác như: Dăm gỗ (ước đạt 8,50 triệu USD, tăng 84,78% so với tháng trước và tăng 77,45% so với cùng kỳ); Xơ, sợi dệt các loại (ước đạt 0,6 triệu USD, tăng 20,0% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm mạnh 61,78%) nhưng không thể bù đắp khoảng hụt khá lớn của mặt hàng thép, nhưng ghi nhận tập trung vào những mặt hàng có thế mạnh khác của tỉnh nhà giảm việc phụ thuộc vào xuất khẩu thép, phôi thép. Tính chung 10 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.424,2 triệu USD, giảm 18,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh thì các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ bao gồm: Mặt hàng thép, phôi thép giảm 21,29%%; Xơ, sợi dệt các loại giảm 15,14%; Thủy sản giảm 14,08%. Còn lại các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng như: Chè (tăng 5,14%); dăm gỗ (tăng 45,51%); dệt và may mặc (tăng 137,61%). Hi vọng tình hình thế giớ sẽ ổn định hơn trong nhưng tháng cuối năm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là ngành công nghiệp thép. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 10/2022 ước đạt 172,50 triệu USD, tăng 14,81% so với tháng trước nhưng giảm 35,05% so với cùng kỳ. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa với 135,70 triệu USD. Cộng dồn 10 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.019,5 triệu USD, tăng 7,01% so với cùng kỳ năm trước 5. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 10 năm 2022, chỉ số CPI chung giảm 0,3% so với tháng trước, tăng 3,29% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung CPI 10 tháng năm 2022 tăng 2,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Mức tăng tập trung ở các tháng đầu năm, do chịu ảnh hưởng bởi nhóm nhiên liệu xăng, dầu các loại tăng mạnh. Tháng 10 năm 2022, chỉ số CPI chung giảm 0,3% so với tháng trước, tăng 3,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị giảm 0,27% so với tháng trước, tăng 3,53% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn giảm 0,31% so với tháng trước, tăng 3,29% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 04 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,13%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; giáo dục tăng 0,01%. Có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,91%; giao thông giảm 1,83%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%. Có 02 nhóm ổn định về chỉ số so với tháng trước: Thiết bị và đồ dùng gia đình; đồ uống và thuốc lá. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 10/2022 gồm: (1) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng giảm, tuy nhiên có xu hướng tăng dần về cuối tháng. (2) Nhóm thịt gia súc giảm giá do những khó khăn trong hoạt động xuất khẩu và sức ép cạnh tranh từ nguồn thịt nhập khẩu đông lạnh giá rẻ. (3) Giá vật liệu xây dựng tăng nguyên nhân do trong hai tháng 9 và 10 trước đó, thời tiết mưa nhiều khiến việc khai thác cát xây dựng trên các sông nội địa gặp khó khăn. (4) Yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh, tác động đến các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc. Chỉ số giá vàng tăng 1,22% so với tháng trước, tăng 2,19% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,31% so với tháng trước, tăng 5,13% so với cùng tháng năm trước. Thị trường giá vàng 9999 trong tháng bình quân tăng so tháng trước do ảnh hưởng bởi các diễn biến từ thị trường thế giới. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.279 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.437.489 đồng/100 USD. Tính chung CPI 10 tháng năm 2022 tăng 2,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,94%; nông thôn tăng 2,05% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,16%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,29%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,1%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,73%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,18%; giao thông tăng 13,34%; bưu chính viễn thông giảm 0,3%; giáo dục tăng 0,59%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,8%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,73% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến CPI tháng 11/2022 dự kiến tăng mạnh, khi những mặt hàng thiết yếu có thể tăng giá trong tháng. Giá dầu thô trên thị trường thế giới ở mức cao khiến giá xăng dầu có thể tiếp tục tăng. Giá gạo cũng tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm đạt thấp. Sang tháng có thể xuất hiện tình trạng không khí lạnh, rét đậm khiến các loại hàng may mặc, đồ dùng gia đình tăng cao. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Trong tháng do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4, khu vực Hà Tĩnh có mưa to và rất to. Để kịp thời khắc phục hậu quả do mưa, lũ gây ra, ổn định sản xuất và đời sống dân sinh, thực hiện Công điện số 875/CĐ-TTg ngày 30/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh yêu cầu các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra để người dân không đánh bắt cá, vớt củi và các hoạt động nguy hiểm khác ở khu vực đang ngập lụt. Tổ chức thăm hỏi, động viên, hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại nặng, nhất là gia đình có người bị thương, nhà bị tốc mái, hư hỏng và ngập lụt. Huy động nguồn lực tại chỗ hỗ trợ, giúp đỡ Nhân dân sửa chữa nhà cửa, dọn vệ sinh môi trường sau lũ, không để dịch bệnh bùng phát. Tính tới thời điểm này số tiền được hỗ trợ 199,6 triệu đồng. 2. Giáo dục Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng, vì vậy, các cấp, các ngành ở Hà Tĩnh cùng với các tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh luôn quan tâm, hỗ trợ, đầu tư phát triển cho ngành giáo dục tỉnh nhà. Để tạo động lực cho các em học sinh dân tộc thiểu số, miền núi Hà Tĩnh viết tiếp ước mơ tới trường, chiều 16/9, tại Hương Khê, Tỉnh đoàn, Sở GD&ĐT, UBND huyện Hương Khê phối hợp với Quỹ học bổng Vừ A Dính trao học bổng năm học 2021 - 2022 và 2022 - 2023 cho học sinh dân tộc tỉnh Hà Tĩnh (trị giá 1 triệu đồng/học sinh) và phần quà cho 80 học sinh dân tộc thiểu số, miền núi ở Hà Tĩnh vượt khó vươn lên trong học tập. Chiều ngày 23/9, Quỹ Minh Đức (Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh) tổ chức lễ bàn giao phòng học máy tính và sân bóng đá cho các trường học trên địa bàn phường Kỳ Long (TX Kỳ Anh với tổng kinh phí trên 6,3 tỷ đồng). Ngày 21/10, UBND thị xã Kỳ Anh phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Hà Tĩnh và Hiệp hội Thương mại Đài Loan tại Việt Nam Chi nhánh Hà Tĩnh tổ chức lễ trao tặng học phí cho 136 em học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn với tổng kinh phí 273,5 triệu đồng. 3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục chỉ đạo việc triển khai tiêm vắc xin phòng COVID người từ 12 tuổi trở lên và trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi đảm bảo an toàn, hiệu quả; chỉ đạo các cơ sở tiêm chủng trên địa bàn phối hợp với lực lượng công an địa phương cập nhật, “làm sạch” dữ liệu tiêm vắc xin phòng COVID-19. Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 20/10/2022 là 56.974 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 57.933 ca mắc. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN; điều trị khỏi 57.594 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 57.470 BN tại Hà Tĩnh; 54 BN tử vong. Mặc dù tình hình dịch bệnh hiện nay đang được kiểm soát, tuy nhiên vẫn cần cảnh giác với các yếu tố nguy cơ như sau: một bộ phận người dân chủ quan, coi nhẹ dịch bệnh; Phát sinh tình trạng một số ca F0 tại một số địa phương tự phát hiện, không khai báo nên cơ quan chuyên môn khó quản lý, kiểm soát. - Tình hình dịch bệnh khác: Để chủ động phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết và các dịch bệnh khác trong mùa mưa, lũ; CDC Hà Tĩnh đã chủ động cấp 530.000 viên Aquatab, 1.800kg CloraminB, 1.272 chai nước rửa tay, 50.000 khẩu trang y tế cho các trung tâm y tế huyện, thành phố, thị xã. Bên cạnh đó, Ngành Y tế Hà Tĩnh khuyến cáo các cơ sở y tế, các địa phương chủ động rà soát, xây dựng các phương án, kế hoạch để sẵn sàng ứng phó với bệnh Đậu mùa khỉ; tuân thủ chặt chẽ các khuyến cáo phòng, chống dịch của cơ quan chuyên môn. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh còn một số ca bệnh đơn lẻ như: 197 ca mắc sốt xuất huyết, 01 ca mắc sốt rét, 21ca mắc bệnh quai bị, 32 ca mắc lỵ trực trùng, 29 ca mắc lỵ a míp, 35 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.259 ca mắc bệnh cúm, 12 ca chân tay miệng, 491 ca tiêu chảy, 9 ca viêm gan vi rút khác, tất cả các ca bệnh trên đều không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. Từ đầu năm đến nay (đến 17/10/2022) đã phát hiện 587 ca sốt xuất huyết (trong đó có 172 ca vãng lai) với 17 ổ dịch được phát hiện, hiện nay còn 5 ổ dịch đang hoạt động. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tiếp tục được duy trì hiệu quả. Trong tháng, có 5 người nhiễm mới HIV, 3 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước giảm 3 người nhiễm mới HIV, giảm 6 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung 10 tháng năm 2022 có 19 người nhiễm mới HIV, 10 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 24 người (giảm 55,81%) nhiễm mới HIV, giảm 31 người (giảm 75,61%) chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS tăng 1 người (tăng 50%). - Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc tập thể, chỉ có 100 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, số ca ngộ độc đơn lẻ tăng 17 ca (tăng 20,48%), số ca tử vong không thay đổi. Tính chung 10 tháng năm 2022 có 01 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 759 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 247 ca (giảm 24,55%), số ca tử vong không đổi. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, diễn ra ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam - Lào lần thứ III, năm 2022, đoàn Hà Tĩnh đã xuất sắc giành được nhiều giải cao, trong đó có 1 giải A, 2 giải B, 1 giải C về tiết mục; 1 giải B cho phần tái hiện nghi thức tín ngưỡng của dân tộc Chứt; 1 HCĐ môn đẩy gậy. - Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 3 giải thi đấu, đạt 6 huy chương các loại (3 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 2 huy chương đồng). Tính chung 10 tháng năm 2022, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 32 giải đấu, đạt 215 huy chương các loại (84 huy chương vàng, 61 huy chương bạc, 70 huy chương đồng), trong đó: 04 giải quốc tế đạt 19 huy chương (8HCV-7HCB-4HCĐ), SEA Games 31 đạt 16 huy chương (6 huy chương vàng, 7 huy chương bạc, 3 huy chương đồng). Thể thao quần chúng: Trong tháng, nhiều hoạt động thể thao được tổ chức như: nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Người cao tuổi 1/10, kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, sáng 24/9, UBND TX Hồng Lĩnh phối hợp với Hội Người cao tuổi thị xã khai mạc Giải Bóng chuyền hơi người cao tuổi nam - nữ phối hợp toàn thị xã; Chào mừng 18 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), sáng 30/9, Hiệp hội Doanh nghiệp Hà Tĩnh, Hội Doanh nhân trẻ Hà Tĩnh, Hội LHTN Việt Nam tỉnh và Văn phòng Báo Giáo dục và Thời đại khu vực miền Trung - Tây Nguyên tổ chức khai mạc Giải Bóng đá Doanh nghiệp - doanh nhân Hà Tĩnh lần thứ I năm 2022, tranh Cúp Báo GD&TĐ. Giải Bóng đá Nam thanh niên Khối Các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh lần thứ III, năm 2022 chào mừng kỷ niệm 66 năm Ngày truyền thống Hội LHTN Việt Nam (15/10/1956 – 15/10/2022) và kỷ niệm 18 năm ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2004- 13/10/2022, Giải diễn ra từ ngày 23/9 - 2/10, có sự góp mặt của 25 đội bóng, với gần 350 cầu thủ đến từ chi đoàn các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chiều 3/10, Thành đoàn Hà Tĩnh, Hội LHTN Việt Nam thành phố và Liên đoàn Lao động thành phố phối hợp tổ chức Giải Bóng đá nữ TP Hà Tĩnh năm 2022, Giải bóng đá nữ thanh niên TP Hà Tĩnh năm 2022 với sự góp mặt của 12 đội bóng đến từ các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học trên địa bàn. Nhìn chung, Hướng tới kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam, các địa phương trong toàn tỉnh đều tổ chức các giải thể dục thể thao quần chúng với các bộ môn như bóng chuyển hơi, cầu long, dân vũ thể thao… 5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/9-14/10/2022 xảy ra 11 vụ tai nạn đường bộ, 8 người chết, 5 người bị thương, thiệt hại 180 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn và số người chết không thay đổi, số người bị thương giảm 4 người, thiệt hại tăng 110 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2022 (tính từ ngày 15/12/2021-14/10/2022) đã xẩy ra 80 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 68 người chết, 33 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 1.320 triệu đồng, so với cùng năm 2021 số vụ tai nạn giảm 9 vụ (giảm 10,11%), giảm 8 người chết (giảm 10,53%) và giảm 2 người bị thương (giảm 5,71%), số tiền nộp phạt tăng 722 triệu đồng. 6. Môi trường - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/9/2022 đến ngày 14/10/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 6 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại ước tính là 96 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ cháy, số người chết và bị thương không đổi. Tính chung 10 tháng năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/10/2022) đã xảy ra 44 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 4.893,1 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 9 vụ (giảm 16,98%), giảm 2 người chết (giảm 66,67%), giảm 1 người bị thương (giảm 50%), thiệt hại ước tính tăng 2.240,1 triệu đồng. Nguyên nhân xảy ra các vụ cháy chủ yếu là do chập điện và sơ suất khi sử dụng lửa. - Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2022 đã phát hiện 94 vụ, đã xử lý 64 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 728,7 triệu đồng; so với tháng trước tăng 9 vụ đã phát hiện (tăng 10,59%), tăng 20 vụ đã xử lý (tăng 45,45%), số tiền nộp phạt tăng 493,77 triệu đồng (tăng 210,18%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 80 vụ đã phát hiện (tăng 571,43%), tăng 55 vụ đã xử lý (tăng 611,11%), số tiền xử phạt tăng 650,7 triệu đồng (tăng 834,23%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển, khai thác cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép...vv là 82 vụ (chiếm 87,24%); thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 6 vụ (chiếm 6,38%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 5 vụ (5,32%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 1 vụ (chiếm 1,06%). Tính chung 10 tháng năm 2022 (ngày 15/12/2021-14/10/2022) đã phát hiện 787 vụ, đã xử lý 528 vụ với tổng số tiền xử phạt 2.520,62 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 658 vụ (tăng 510,08%), tăng 432 vụ đã xử lý (tăng 450%), tăng số tiền nộp phạt 1.220,77 triệu đồng (tăng 93,92%). 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, xảy ra 01 vụ thiên tai do hoàn lưu bão số 04 gây mưa lớn, ngập lụt làm 02 người bị thương, 565 nhà bị hư hỏng; thiệt hại 10ha lúa, 268 ha hoa màu và 2.000 con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Tổng thiệt hại là: 34.529 triệu đồng. So với tháng trước tăng 01 vụ, tăng 02 người bị thương, tăng thiệt hại 34.529 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ thiên tai, giảm 01 người chết, tăng 01 người bị thương, tăng thiệt hại 34.134 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay, ở Hà Tĩnh đã xảy ra 7 vụ thiên tai, cụ thể là 01 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 2 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5, ngày 27/9-2/10); 3 vụ sét đánh (ngày 26/5, ngày 14/6 và 21/7 ); 01 vụ lốc xoáy (ngày 14/6)  làm chết 4 người, 2 người bị thương, làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 582 nhà hư hỏng, thiệt hại 522 ha diện tích lúa, 421 ha diện tích hoa màu, 2.000 con gia cầm bị chết. Ước tính tổng thiệt hại là 42.497 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 04 vụ thiên tai, tăng 01 người chết, số người bị thương không đổi, tổng thiệt hại về tài sản giảm 4.898 triệu đồng. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 9 và 9 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 16:56

Năm 2022 là năm thứ hai Hà Tĩnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ 5 năm 2021-2025; là năm đầy ý nghĩa khi Hà Tĩnh chúng ta tổ chức kỷ niệm 65 năm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh và 15 năm thành lập thành phố Hà Tĩnh. Tuy nhiên, nhìn lại 9 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Dịch COVID-19 bùng phát mạnh sau Tết Nguyên đán; tác động của xung đột Nga - Ukraine làm giá xăng, dầu, nguyên vật liệu thiếu ổn định; sản xuất ngành công nghiệp bị ảnh hưởng do cung thị trường thép tiêu thụ chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất thép của khu công nghiệp Formosa, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 đến nay vẫn chưa hoạt động trở lại; trong sản xuất nông nghiệp chịu tác động bởi dịch bệnh, thời tiết diễn biến khó lường... đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung cao trong phòng, chống dịch; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm; tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư; tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa nhất định. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng cao (trên 46%); thu ngân sách vượt xa so với cùng kỳ năm trước; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả cụ thể được thể hiện trên các lĩnh vực sau: I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp 9 tháng năm 2022 trong điều kiện thời tiết bất thường trong những giai đoạn sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng nên ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng, đặc biệt là trên cây lúa diện tích, năng suất, sản lượng đều giảm hơn so với năm trước, mặt khác thu hoạch lúa vụ Đông Xuân kết thúc chậm so với kế hoạch đề ra đã gây ảnh hưởng đến việc gieo trồng vụ Hè Thu, các cây trồng chủ lực của địa phương như ngô, khoai, sắn sản lượng tăng, riêng sản lượng lạc giảm do chuyển đổi diện tích trồng lạc sang trồng lúa, sản lượng rau các loại tăng; chăn nuôi vẫn đang gặp khó khăn do chi phí tăng cao; sản xuất lâm nghiệp vẫn tương đối ổn định; Khai thác và nuôi trồng thủy sản có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 1.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt         - Cây hàng năm: Kết quả sản xuất năm 2022, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh ước tính tăng 0,17% (tăng 276 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước tính giảm 2,58% (giảm 16.307 tấn) so với thực hiện năm trước. Nhìn chung, kết quả sản xuất lương thực năm 2022 giảm hơn so với năm trước. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: + Cây lúa: Diện tích gieo trồng lúa cả năm ước giảm 169 ha so với năm 2021. Trong đó: Diện tích lúa vụ Đông Xuân đạt 59.813 ha, bằng 100,56% (tăng 335 ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 44.526 ha, bằng 99,05% (giảm 429 ha) và vụ Mùa ước đạt 415 ha, bằng 84,64% (giảm 75 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng lúa cả năm 2022 ước giảm 2,05 tạ/ha so với năm trước, trong đó: Năng suất gieo trồng lúa vụ Đông Xuân đạt 55,77 tạ/ha, bằng 94,83% (giảm 3,04 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 50,27 tạ/ha, bằng 98,33% (giảm 0,85 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 16,86 tạ/ha, bằng 89,2% (giảm 2,04 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa giảm do thời tiết bất thường vào các thời kỳ sinh trưởng và phát triển quan trọng của lúa, đặc biệt là giai đoạn trổ bông đã ảnh hưởng đến năng suất lúa. Tổng sản lượng lúa năm 2022 ước tính giảm 22.446 tấn so với năm 2021. Trong đó: Sản lượng lúa Đông Xuân đạt 333.566 tấn, bằng 95,36% (giảm 16.227 tấn); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 223.812 tấn, bằng 97,39% (giảm 5.991 tấn) và sản lượng lúa vụ Mùa ước đạt 699 tấn, bằng 75,48% (giảm 227 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do vụ Hè Thu, vụ Mùa giảm diện tích và cả ba vụ sản xuất giảm năng suất nên sản lượng lúa năm 2022 ước tính giảm so với năm 2021. + Cây hàng năm chủ lực khác :  Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô năm 2022 ước tính tăng 766 ha so với năm trước. Trong đó diện tích gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 10.712 ha, bằng 105,22% (tăng 532 ha) và diện tích vụ Hè Thu sơ bộ đạt 2.239 ha, bằng 111,71% (tăng 235 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích ngô tăng là do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng cao nên người dân tận dụng tối đa diện tích trồng ngô để phục vụ mục đích chăn nuôi. Năng suất ngô cả năm ước tăng 2,18 tạ/ha so với năm trước. Trong đó: Năng suất gieo trồng ngô vụ Đông Xuân đạt 46,41 tạ/ha, bằng 103,6% (tăng 1,61 tạ/ha) và vụ Hè Thu sơ bộ đạt 41,33 tạ/ha, bằng 114,69% (tăng 5,29 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô cả năm ước tăng 6.138 tấn so với năm 2021. Cây khoai lang: Diện tích trồng khoai lang năm 2022 ước tăng 191 ha so với năm trước. Trong đó: Diện tích gieo trồng khoai lang vụ Đông Xuân đạt 3.120 ha, bằng 105,97% (tăng 176 ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 595 ha, bằng 106,98% (tăng 39 ha) và vụ Mùa ước đạt 46 ha, bằng 66% (giảm 24 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích tăng do một số huyện người dân được hỗ trợ giống cây khoai lang nên chuyển từ các loại cây khác sang trồng cây khoai lang. Năng suất khoai lang cả năm ước giảm 0,01 tạ/ha so với năm 2021. Trong đó: Năng suất vụ Đông Xuân đạt 75,52 tạ/ha, bằng 99,53% (giảm 0,35 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 60 tạ/ha, bằng 100,62% (tăng 0,37 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 40,21 tạ/ha, bằng 95,75% (giảm 1,79 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang cả năm ước tăng 1.378 tấn so với năm 2021. Do diện tích tăng trong khi năng suất giữ ổn định nên sản lượng khoai lang tăng.  Cây sắn: Diện tích sắn năm 2022 ước đạt 2.625 ha, bằng 107,15% (tăng 175 ha) so với năm trước. Năng suất ước đạt 152,75 tạ/ha, bằng 101,07% (tăng 1,61 tạ/ha), với sản lượng ước đạt 40.105 tấn, bằng 108,29% (tăng 3.072 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng nên bà con nông dân trồng sắn làm thức ăn chăn nuôi để giảm bớt chi phí. Cây lạc: Năm 2022, diện tích gieo trồng lạc ước tính giảm 1.182 ha so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng đạt 8.826 ha, bằng 88,07% (giảm 1.196 ha) và vụ Hè Thu sơ bộ đạt 368 ha, bằng 103,75% (tăng 14 ha) so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Ngoài ra, do chi phí đầu vào tăng cao (giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) tăng cao người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà chuyển sang cây trồng khác. Năng suất lạc cả năm ước tính giảm 3,87 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Do giảm cả diện tích và năng suất nên sản lượng lạc cả năm ước tính giảm 6.873 tấn so với năm trước. Cây rau các loại: Năm 2022, diện tích gieo trồng rau ước tính tăng 483 ha so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng rau các loại đạt 11.098 ha, bằng 103,19% (tăng 344 ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 2.866 ha, bằng 105,78% (tăng 157 ha) và vụ Mùa ước đạt 194 ha, bằng 91,94% (giảm 18 ha). Năng suất rau cả năm ước tính tăng 0,67 tạ/ha với sản lượng rau cả năm ước tăng 4.321 tấn so với năm trước. Năm nay do lượng mưa nhiều, ít nắng hạn nên thuận lợi cho việc sản xuất các loại rau. - Cây lâu năm + Về diện tích: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 32.089 ha, bằng 100,77%, tăng 244 ha so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.792 ha, bằng 103,28%, tăng 628 ha so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 61,67% tổng diện tích cây lâu năm, Trong đó, diện tích các loại cây có múi vẫn đang là một trong những sản phẩm cây ăn quả hàng hóa chủ lực của Hà Tĩnh và đang được các địa phương quan tâm đầu tư sản xuất; diện tích cây cao su ước đạt 8.464 ha, bằng 95,15%, giảm 431 ha so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân giảm là do công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả và chuyển đổi mục đích sử dụng một số diện tích đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; diện tích chè búp ước đạt 1.267 ha, bằng 101,93%, tăng 24 ha và diện tích chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.824 ha, bằng 98,38%, giảm 30 ha so với cùng kỳ năm 2021. Diện tích chè trên địa bàn nhìn chung ổn định và tiếp tục được mở rộng thêm do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận; diện tích cây lâu năm khác ước đạt 605 ha, bằng 106,7%, tăng 38 ha so với cùng kỳ năm 2021, chủ yếu là tăng diện tích các loại cây cảnh lâu năm. + Về sản lượng: Do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cùng với điều kiện thời tiết năm nay không xẩy ra hạn hán, ít sâu bệnh, tỷ lệ đậu quả cao nên sản lượng các loại cây ăn quả tăng hơn so với cùng kỳ năm 2021. Sản lượng cây ăn quả: 9 tháng năm 2022 ước đạt 76.177 tấn, bằng 103,11%, tăng 2.300 tấn so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 39.020 tấn, bằng 104,25%, tăng 1.589 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng bưởi tăng 1.466 tấn, chanh tăng 116 tấn. Thời điểm này, bưởi đang tập trung thu hoạch chính vụ. Sản lượng cao su: ước đạt 3.098 tấn, bằng 107,87%, tăng 226 tấn so với cùng kỳ năm 2021. Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ cũng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. Sản lượng chè búp: ước đạt 7.643 tấn, bằng 101,95%, tăng 146 tấn và sản lượng chè xanh (chè hái lá) ước đạt 15.587 tấn, bằng 99,92%, giảm 13 tấn so với cùng kỳ năm trước. Chè chủ yếu tập trung ở các địa phương Hương Sơn, Hương Khê, huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Thạch Hà... - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, tình hình sâu bệnh xẩy ra đối với các loại cây trồng như sau: +Vụ Đông Xuân 2021 - 2022 Trên cây lúa: Ốc bươu vàng phát sinh gây hại giai đoạn mạ, bệnh đạo ôn lá gây hại hầu hết tại các địa phương, bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón thừa đạm, rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện cục bộ dạng ổ ở Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh, chuột phát sinh gây hại trên toàn tỉnh. Trên cây lạc: Bệnh héo rũ gốc mốc đen, mốc trắng phát sinh gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, diện tích nhiễm 35 ha, nhiễm nặng 1,3 ha phân bố tại Lộc Hà, Thạch Hà, Hương Khê, Vũ Quang,.... Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, phân bố tại Vũ Quang, Hương Khê..; bệnh khô vằn diện tích nhiễm 22,5 ha tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn. Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt gây hại trên lộc xuân, diện tích nhiễm 68 ha; sâu xanh bướm phượng, bệnh loét sẹo, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc. + Vụ Hè thu năm 2022 Trên cây lúa: Rầy nâu, rầy lưng trắng phát sinh gây hại chủ yếu trên diện tích sâu trũng, gieo cấy dày, phân bố chủ yếu ở Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn,…; bệnh khô vằn gây hại chủ yếu trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón phân không cân đối, thừa đạm, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; bệnh bạc lá, phân bố tại Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên, Lộc Hà,..; chuột phát sinh gây hại, phân bố hầu hết các địa phương. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên. Trên cây ăn quả có múi: Nhện nhỏ, bệnh nứt thân xì mủ phát sinh gây hại chủ yếu trên vườn cây lâu năm, thoát nước kém, phân bố tại Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc. b. Chăn nuôi Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi 9 tháng năm 2022 vẫn chỉ ở mức ổn định, chưa có nhiều khởi sắc. Dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xẩy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện nên tổng đàn các loại vật nuôi ổn định và có tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, nhất là nhu cầu tăng cao trong dịp lễ tết. Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh, nhất là hậu quả của dịch tả lợn Châu Phi thì việc chi phí chăn nuôi tăng cao trong khi giá cả tăng không đáng kể, cùng với đó việc tiếp cận nguồn vốn có lãi suất ưu đãi đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẽ gặp nhiều khó khăn là những rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua cũng như thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2022, một số dịch bệnh xuất hiện trên đàn vật nuôi, cụ thể như sau: Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 41 xã thuộc 9 huyện, thành phố, thị xã (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, Thành phố Hà Tĩnh), tổng số lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy 939 con, trọng lượng hơn 50 tấn; dịch lở mồm long móng xẩy ra tại huyện Kỳ Anh và huyện Hương Khê với số lượng 17 con trâu và 48 con bò mắc bệnh và đã được điều trị khỏi bệnh; dịch bệnh viêm da, nổi cục xẩy ra tại huyện Vũ Quang làm 3 con bò mắc bệnh, trong đó có 2 con bị chết tiêu hủy với trọng lượng 108 kg; dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra tại huyện Đức Thọ và huyện Cẩm Xuyên, tổng số gia cầm bị ốm, chết và buộc tiêu hủy 4.913 con. Kết quả tiêm phòng đợt I năm 2022: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 104.894 liều, đạt 72% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 96.507 liều, đạt 67,4% kế hoạch; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò đạt 91.225 liều, đạt 68% kế hoạch; dịch tả lợn 158.328 liều, đạt 76% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 158.170 liều, đạt 75% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 85.595 liều, đạt 78% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 707.044 liều, đạt 28% kế hoạch. 1.2 Sản xuất Lâm nghiệp Hoạt động trồng rừng và trồng cây phân tán 9 tháng đầu năm 2022 vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện và đạt kết quả khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trồng rừng tập trung 9 tháng năm 2022 tăng 284 ha so với cùng kỳ năm 2021. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương: huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Đối với hoạt động khai thác, do rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch nên sản lượng lâm sản khai thác 9 tháng năm 2022 tăng 26.541 m3 so với cùng kỳ năm 2021. Kết quả trồng cây phân tán cũng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha (giảm 0,83 ha) và 61 vụ phá rừng (tăng 24 vụ), với diện tích rừng bị phá là 31,79 ha (tăng 19,66 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3 Thủy sản Tháng 9 cũng như 9 tháng năm 2022, sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng nhẹ, so với cùng kỳ năm trước tổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2022 tăng 956 tấn hay tăng 2,17%. Trong đó, sản lượng khai thác chiếm 69,8% tổng sản lượng thủy hải sản, tăng 704 tấn và sản lượng nuôi trồng tăng 252 tấn. Mặc dù giá bán sản phẩm tương đối ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác trong thời gian qua tăng quá cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế đạt thấp. Cùng với đó là điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Những tháng cuối năm, điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển sẽ gặp khó khăn hơn.  Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến 15/9/2022, đối với tôm nuôi bệnh đốm trắng với diện tích nhiễm bệnh là 87,3 ha và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính với diện tích nhiễm bệnh là 9,23 ha. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay gặp nhiều khó khăn, các sản phẩm chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất công nghiệp như điện sản xuất, thép giảm đã “kéo” giảm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh nhà. Ước 9 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp giảm 15,61% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 11,51% làm giảm 9,35 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 35,29%, làm giảm 5,85 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 14,11%, làm giảm 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.      - Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP):  Ước tháng 9/2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 8/2022 ước tính tăng 28,91%, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự tính giảm 20,45%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,47% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước ngành này tăng 10,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 37,11% so với tháng trước và giảm 25,81% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,53% so với tháng trước và tăng 34,67% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 2,18% so với tháng 8/2022 và giảm 22,29% so với tháng 9/2021. Tính chung 9 tháng năm 2022, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp rất nhiều khó khăn do giá thép thành phẩm liên tục giảm từ tháng 7/2022 đến nay, nguồn cung thép khá dồi dào, áp lực hàng tồn kho lớn do nhu cầu thép trên thị trường suy yếu, buộc doanh nghiệp phải giảm sản lượng sản xuất để đẩy hàng tồn kho; tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 vẫn chưa hoạt động trở lại. Ước 9 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm 15,61% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,73%, làm giảm 0,07 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 11,51% làm giảm 9,35 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 35,29%, làm giảm 5,85 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 14,11%, làm giảm 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.                    Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 5 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 193,05%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 67,88%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 20,91%; sản xuất đồ uống tăng 20,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,59%. Bên cạnh những ngành có chỉ số tăng thì trong 9 tháng qua, có 7 nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành: Sản xuất và phân phối điện giảm 35,29%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 15,52%; sản xuất kim loại giảm 13,8%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 6,85%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 6,58%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 4,37%; khai khoáng khác giảm 2,06%. - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp: Ước tính tháng 9/2022 tăng 10,54% so với tháng trước và giảm 44,89% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn 9 tháng năm 2022 ước giảm 16,47% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 9 tháng năm 2022, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn hiện nay. - Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chính ước tháng 9/2022 tăng 22,33% so với tháng trước và tăng 28,76% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 144,75% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được, mà do doanh nghiệp giữ lại nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động của mình. 3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 3.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai hiệu quả Nghị quyết số 08/NQ-TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, Nghị quyết số 56/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã. Đến ngày 20/9/2022, toàn tỉnh có 1.061 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 38,15% về số lượng so với cùng kỳ, vượt chỉ tiêu cả năm 2022, 15 hợp tác xã được thành lập mới; vốn đăng ký bổ sung của DN, HTX vào nền kinh tế trong 9 tháng là 6.972 tỷ đồng, giảm 16,59% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 6,57 tỷ đồng/DN. Tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử tăng cao, chiếm gần 65% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Song song với số lượng doanh nghiệp thành lập mới, trong 9 tháng vừa qua đã có 508 doanh nghiệp tạm ngừng hoặc giải thể, tăng 14,93% so với cùng kỳ 2021, trong đó số DN tạm dừng 383 DN, số DN đã giải thể là 125 DN. Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp những tháng cuối năm tăng khá trong khi doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm ngoái là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế. 3.2. Thu hút đầu tư Trong 9 tháng năm 2022, Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 14 dự án, trong đó 13 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn gần 2.910 tỷ đồng, 01 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3 triệu USD; lũy kế đến nay toàn tỉnh có 1.486 dự án, trong đó 1.410 dự án trong nước với tổng mức gần 136.000 tỷ đồng; 76 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn gần 16 tỷ USD. 9 tháng năm 2022, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra, nhà máy bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh đã đi vào hoạt động sản xuất. Ngoài Nhiệt điện Vũng Áng II, các dự án lớn khác trong quá trình xây dựng như: Nhà máy Sản xuất Pin VinES (TX Kỳ Anh) đã triển khai được 62% vốn đầu tư giai đoạn 1; các khu công nghiệp Cổng Khánh 1 và 2, khu đô thị TNR Stars Hồng Lĩnh (TX Hồng Lĩnh); đường bộ cao tốc Bắc - Nam; nâng cấp, mở rộng quốc lộ 8 đoạn Km37 - Km85; đường nối quốc lộ 1 đi khu du lịch biển Kỳ Xuân... cũng đang được các nhà thầu tập trung thực hiện. 3.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Xây dựng - Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động xây dựng trong quý III/2022 cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quý đầu năm. Trong đó: Có 35,62% ý kiến cho rằng khó khăn hơn; 37,67% ý kiến cho rằng không đổi và có 26,71% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn. Mặc dù giá trị ngành xây dựng trên địa bàn Hà Tĩnh tăng mạnh trong quý III/2022 và các quý tiếp theo, tuy nhiên các công trình, hạng mục lớn thuộc 2 dự án nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 2 và nhà máy Vines chủ yếu do doanh ngoài tình thực hiện, do đó, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tỉnh Hà Tĩnh còn gặp nhiều khó khăn. - Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động xây dựng trong quý IV/2022 cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có 32,19% ý kiến cho rằng không thay đổi, 26,03% ý kiến cho rằng thuận lợi hơn và 39,73% ý kiến cho rằng khó khăn hơn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng thuận lợi hơn trong quý IV/2022, giá trị xây dựng trên địa bàn tăng mạnh so với cùng kỳ và so với quý trước. Nguồn vốn đảm bảo, công tác giải ngân, nghiệm thu công trình được đẩy mạnh. Do đó, hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong quý tiếp theo. *Đối với Doanh nghiệp hoạt động Công nghiệp - Tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2022 so với quý II/2022, có 81,4% DN đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó có 44,19% khẳng định SXKD tốt lên; 37,21% khẳng định giữ ổn định), bên cạnh đó có 18,6% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. - Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2022 sẽ gặp khó khăn hơn so quý III/2022 khi có tới 34,88% DN cho rằng tình hình sản xuất quý tiếp theo khó khăn hơn so với hiện tại. - Dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng quý IV/2022 so với quý III/2022: Có 44,19% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 20,93% giảm đi. Các doanh nghiệp dự báo quý IV/2022 số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và doanh nghiệp cố gắng duy trì số lượng đơn đặt hàng như quý trước (57,14% nhận định giữ nguyên như quý III; 35,71% DN dự định tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu và có 7,15% DN nhận định lượng hàng xuất khẩu giảm đi). - Đánh giá về biến động lao động quý III/2022 so với quý II/2022 có 86,05% số DN khẳng định qui mô lao động tăng lên và giữ ổn định (trong đó 4,65% doanh nghiệp tăng số lao động, có 81,4% khẳng định giữ ổn định) và có 13,95% khẳng định lao động giảm. Dự báo lao động quý IV/2022 so với quý III/2022 có 76,75% DN khẳng định giữ ổn định số lao động. Điều này khẳng định đa số các doanh nghiệp vẫn đang hoạt động ổn định nên không có sự thay đổi nhiều về lao động. 4. Thương mại, dịch vụ: Hoạt động thương mại, dịch vụ 9 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra sôi động. Tổng mức bán lẻ và doanh thu các dịch vụ tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh phục hồi tích cực. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:    - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Ước tháng 9 năm 2022 đạt 4.728,36 tỷ đồng, tăng 2,68% so với tháng trước và tăng 51,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 38.025,31 tỷ đồng, tăng 22,23% so với cùng kỳ năm trước. Tăng ở tất cả nhóm hàng và đặc biệt tăng mạnh ở các nhóm hàng như: Lương thực, thực phẩm tăng 21,99%; may mặc tăng 30,20%; gỗ và vật liệu xây dưng tăng 20,10%; xăng dầu các loại tăng 47,66%; nhiên liệu khác 32,88%; đá quý, kim loại quý tăng 46,88%; hàng hóa khác tăng 28,11%. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong 9 tháng năm 2022 chịu nhiều tác động bởi tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới. Những lo ngại về lạm phát, suy giảm kinh tế tác động đến cung cầu, giá cả nhiều nhóm hàng hóa. Đặc biệt là nhóm nhiên liệu xăng, dầu tăng giá mạnh đã tác động xấu đến mặt bằng giá cả chung trong toàn tỉnh. Tuy vậy, từ khi dịch Covid -19 được kiểm soát, môi trường sản xuất, kinh doanh trong 9 tháng qua đã trợ lại hoạt động bình thường, sản xuất lưu thông hàng hóa ổn định khiến hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng mạnh. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 9/2022 ước đạt 545,26 tỷ đồng, tăng 6,96% so với tháng trước, tăng 4,77 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 25,81 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước, tăng 7,54 lần so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 518,42 tỷ đồng, tăng 7,23% so với tháng trước, tăng 4,66 lần so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,03 tỷ đồng, tăng 15,03% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.457,46 tỷ đồng, tăng 60,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 193,92 tỷ đồng, tăng 100,10%; lượt khách phục vụ ước đạt 1.089 nghìn lượt, tăng 81,16% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 878.172 ngày, tăng 59,25% so với cùng kỳ năm trước. Ăn uống ước đạt 4.250,38 tỷ đồng, tăng 58,50% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 13,16 tỷ đồng, tăng 78,96% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh đang trên đà phát triển tích cực sau thời gian dài hạn chế hoạt động và tạm ngừng (từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022). Đặc biệt là khu vực dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng cả trong 2 quý II và III, nhất là tăng mạnh trong quý III tăng 3,39 lần so với cùng kỳ năm trước. Các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Ngoài số lượng khách nội tỉnh, khách du lịch ngoại tỉnh đến với Hà Tĩnh cũng bắt đầu tăng lại như thời điểm trước dịch. Cùng với đó là sự thuận lợi về đường giao thông, phương tiện đi lại; chất lượng của các cơ sở lưu trú ngày càng được chú trọng. Hiện nay xu hướng ăn uống ngoài gia đình ngày càng phát triển đã kéo theo sự gia tăng hàng loạt các loại hình ăn uống như nhà hàng, quán ăn từ sang trọng đến bình dân nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng. - Dịch vụ khác: Tháng 9 năm 2022 ước tính đạt 227,36 tỷ đồng, tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 180,60% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022 ước đạt 1.795,33 tỷ đồng, tăng 52,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng mạnh ở các nhóm như: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 62,87%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 39,58%; giáo dục đào tạo tăng 126,37%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 15,18%. Tuy nhiên, nhóm y tế và hoạt động trợ giúp xã hội là nhóm duy nhất có doanh thu giảm so với cùng kỳ, giảm 3,12% do cơ bản tình hình dịch Covid-19 đã được kiểm soát, ảnh hưởng không còn quá nặng nề. Xét từng quý thì doanh thu dịch vụ tăng ở cả 3 quý nhưng tăng mạnh nhất ở quý III với tốc độ tăng 167,19% so với cùng kỳ. Nhìn chung hoạt động dịch vụ khác đã phục hồi và có đà tăng trưởng khá tốt. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 9 tháng năm 2022 diễn ra khá sôi động, doanh thu của hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa đều tăng do sự thuận lợi về hạ tầng giao thông, chất lượng dịch vụ cũng như đầu tư thêm cơ sở vật chất của các đơn vị kinh doanh vận tải. Dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát số lượng tàu cập cảng ổn định, lượng hàng hóa thông qua cảng chủ yếu là nguyên vật liệu và thép qua cảng Sơn Dương của Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa. - Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 9/2022 ước đạt 486,05 tỷ đồng, tăng 1,33% so tháng trước và tăng 78,41% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 111,03 tỷ đồng, tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 11,93 lần so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 291,21 tỷ đồng, tăng 1,45% so tháng trước và tăng 46,30% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 67,77 tỷ đồng, tăng 1,61% so với tháng trước và tăng 34,79% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 9 tháng năm 2022 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 4.201,07 tỷ đồng, tăng 21,18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 869,61 tỷ đồng, tăng 21,21%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11.000,5 nghìn HK, tăng 14,07% và luân chuyển đạt 1.874,45 triệu HK.km, tăng 15,47%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.546,06 tỷ đồng, tăng 29,0%; khối lượng vận chuyển ước đạt 28.583,14 nghìn tấn, tăng 30,27% và luân chuyển ước đạt 727,89 triệu tấn.km, tăng 28,50%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 645,16 tỷ đồng, tăng 0,15% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 9 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, các tuyến xe liên tỉnh, xe buýt đã hoạt động lại bình thường, hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải tập trung đầu tư mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, việc hồi phục của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. Nhu cầu đi lại, tham quan du lịch của người dân trong các dịp lễ tăng cao, đây là tín hiệu khởi sắc cho hoạt động kinh doanh vận tải. Các doanh nghiệp vận tải đã tăng công suất vận chuyển để phục vụ nhu cầu đi lại của khách hàng. Cùng với đó, hoạt động xây dựng trên địa bàn tăng mạnh, nhu cầu về vận chuyển vật liệu xây dựng tăng. Giá xăng, dầu tăng cao so với cùng kỳ khiến cho giá vé hành khách, đơn giá vận chuyển hàng hóa tăng cũng là một trong nguyên nhân khiến doanh thu hoạt động vận tải kho bãi tăng. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 1. Tài chính, ngân hàng 1.1 Hoạt động tài chính Kết quả thu NSNN 9 tháng năm 2022 đạt khá, điều này cho thấy cộng đồng doanh nghiệp Hà Tĩnh đã thích nghi với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất - kinh doanh ổn định. Trong bối cảnh thực hiện nhiều chính sách phục hồi kinh tế như miễn, giảm, giãn các khoản thuế, phí để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, Hà Tĩnh đang làm tốt nhiệm vụ thu ngân sách và cân đối, phát triển nền kinh tế. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng được các nhiệm vụ bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương. Tổng thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) sơ bộ tính đến ngày 15/9/2022 đạt 13.277,39 tỷ đồng (tăng 22,63% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 6.296,17 tỷ đồng (chiếm 47,42% trong tổng thu) tăng 19,29% so với cùng kỳ. Một số sắc thuế thu vượt cao như: Thu tiền sử dụng đất 2.337,41 tỷ đồng (tăng 36,58% so với cùng kỳ); thu thuế thu nhập cá nhân 398,16 tỷ đồng (tăng 69,72% so với cùng kỳ); thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài 1.036,98 tỷ đồng (tăng 56,89%); thu cấp quyền khai thác khoáng sản 63,93 tỷ đồng tăng 117,15%… Bên cạnh thu nội địa thì thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng khá so với cùng kỳ sơ bộ đạt 6.746,41 tỷ đồng (chiếm 50,81% tổng thu) tăng 40,58% so với cùng kỳ. Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/9/2022 sơ bộ đạt 13.181,58 tỷ đồng giảm 14,31% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 5.337,36 tỷ đồng chiếm 40,49% tổng chi, giảm 30,4% so với cùng kỳ; chi thường xuyên sơ bộ đạt 7.781,16 tỷ đồng chiếm 59,03% tổng chi, tăng 1,05% so với cùng kỳ năm 2021. 1.2 Hoạt động ngân hàng Mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng trong tháng 9/2022 có chững lại nhưng tổng thể 9 tháng năm 2022, tín dụng đạt mức tăng trưởng tốt với mức tăng 20,93% so với cuối năm 2021, đồng thời vượt kế hoạch tăng trưởng năm 2022. Nguồn vốn huy động 9 tháng đầu năm giảm 1,86% so với cuối năm 2021. Nguyên nhân giảm chủ yếu do nguồn tiền gửi thanh toán của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn giảm mạnh, cụ thể tiền gửi thanh toán giảm 12,22% trong khi đó nguồn tiền gửi tiết kiệm dân cư tăng 2,87%. Ước nguồn vốn huy động đến 30/9/2022 đạt 85.795 tỷ đồng, giảm 1,86% so với cuối năm 2021.Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.250 tỷ đồng, chiếm 14,28% tổng nguồn vốn huy động, tăng 6,29% so với cuối năm 2021; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 73.545 tỷ đồng, giảm 21,66%. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 59.710 tỷ đồng, tăng 2,87% so với cuối năm 2021; tiền gửi thanh toán ước đạt 25.400 tỷ đồng, giảm 12,22% so với thời điểm cuối năm. Dư nợ cho vay đến 30/9/2022 đạt 86.800 tỷ đồng, tăng 20,93% so với cuối năm 2021. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 59.450 tỷ đồng (chiếm 68,49% tổng dư nợ), tăng 21,85% so với cuối năm; dư nợ trung dài hạn đạt 27.350 tỷ đồng (chiếm 31,51% tổng dư nợ) tăng 18,98%. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 35.968 tỷ đồng, tăng 16,04% so với đầu năm. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 16,27% so với cuối năm 2021, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 66,56%, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 14,77%.         Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 2,9-3,95% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4-6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,3- 6,6%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4,5-9,5%/năm, trung dài hạn phổ biến 7-12%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 1,04-3%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 4,5-5,5%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Tính đến 30/9/2022 nợ xấu ước tính 518 tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng dư nợ (giảm 0,14% so với 6 tháng). Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức thấp, giảm so với các năm trước và nằm trong giới hạn cho phép. 2. Vốn đầu tư phát triển       9 tháng năm 2022, được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, các đơn vị, địa phương đã tham gia tích cực trong công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn; các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước được đẩy nhanh tiến độ thi công cũng như công tác giải ngân nguồn vốn, đặc biệt có những dự án lớn như: Dự án sản xuất Pin do công ty giải pháp năng lượng VinES, dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 là những động lực làm tăng lượng vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2022 ước đạt 27.133 tỷ đồng, tăng 46,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn tập trung chủ yếu từ nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước với 15.158 tỷ đồng chiếm 55,86% trong tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh. Trong 9 tháng vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế đến tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra. Ngoài Nhiệt điện Vũng Áng II, các dự án lớn khác trong quá trình xây dựng như: Nhà máy Sản xuất Pin VinES (TX Kỳ Anh) đã triển khai được 62% vốn đầu tư giai đoạn 1; nhà máy bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh, các khu công nghiệp Cổng Khánh 1 và 2, khu đô thị TNR Stars Hồng Lĩnh (TX Hồng Lĩnh)... cũng đang được các nhà thầu tập trung thực hiện. Dự ước tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng năm 2022 đạt 27.133 tỷ đồng, tăng 46,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 5.216 tỷ đồng, tăng 6.02% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 15.158 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 33,54% và vốn hộ dân cư tăng 7,53%; vốn đầu tư thực hiện trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 6.758 tỷ đồng, tăng 12 lần (tăng 1292,92%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính dẫn đến tổng vốn đầu tư phát triển tăng so với cùng kỳ là do Dự án sản xuất Pin do công ty giải pháp năng lượng VinES đầu tư ước đạt 952 tỷ và dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 dự ước đạt 6.264 tỷ đồng. 3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất khẩu tháng 9 năm 2022 tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng chung của thị trường thế giới, đặc biệt mặt hàng thép. Kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 9 ước đạt 412 triệu USD giảm 3,18% so với tháng trước và giảm 16,51% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2022 kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 4.274,13 triệu USD tăng 5,40% so với cùng kỳ, chủ yếu do việc tăng nhập khẩu. Cụ thể công ty Formosa mặc dù hàng hóa sản xuất gặp khó khăn trong việc tiêu thụ nhưng công ty vẫn tích cực nhập khẩu nguyên liệu đầu vào do các ưu đãi về quyền lợi và giá cả. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 9 ước đạt 114,5 triệu USD, tăng 15,96% so với tháng trước nhưng giảm 48,37% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù mặt hàng thép, phôi thép ước đạt 101,5 triệu USD có tăng so với tháng trước (tăng 37,05%) tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn ở mức giảm khá sâu (giảm 49,71%). Còn lại các mặt hàng chủ lực khác như dăm gỗ, xơ sợi dệt, thủy sản... đều gặp khó khăn trong khâu xuất khẩu tiêu thụ. Cộng dồn 9 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.279,83 triệu USD giảm 14,14% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép đã giảm dần tỷ trọng trong các mặt hàng xuất khẩu nhưng vẫn chiếm 87,37% ước đạt 1.118,21 triệu USD giảm 16,25%, tính chung 9 tháng ghi nhận việc tăng kim ngạch xuất khẩu ở các mặt hàng chủ lực khác như dệt, may mặc, dăm gỗ... dự báo khả năng xuất khẩu của mặt hàng dệt và may mặc sẽ là điểm sáng trong xuất khẩu tỉnh nhà trong thời gian tới. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 9/2022 ước đạt 297,5 triệu USD, tăng 9,51% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 8,96% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.994,3 triệu USD, tăng 16,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 2.610,3 triệu USD (Chiếm 87,18%) tăng 17,82%., mặc dù hàng hóa sản xuất gặp khó khăn trong việc tiêu thụ do tình hình chung của thế giới nhưng công ty vẫn tích cực nhập khẩu nguyên liệu đầu vào do các ưu đãi về quyền lợi và giá cả. Những tháng cuối năm dự báo kim ngạch xuất khẩu vẫn rất khó khăn do tình hình thế giới vẫn chưa có tín hiệu gì khởi sắc. 4. Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 đã có những tín hiệu tích cực và giảm nhẹ so với tháng trước. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định do những bất ổn về chính trị thế giới đã tác động tiêu cực và tình hình diễn biến giá cả khó nắm bắt ảnh hưởng đến tình hình kinh tế trong nước. Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu, khí đốt vẫn đang ở mức cao ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế. Chỉ số CPI tháng 9 giảm 0,25% so với tháng trước nhưng tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 2,53% so với cùng kỳ năm trước; Khu vực nông thôn giảm 0,29% so với tháng trước, tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó, tăng rõ nhất ở nhóm hàng giáo dục tăng 2,30% còn lại chỉ tăng nhẹ, cụ thể: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,17%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% ; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,10%. Bên cạnh đó, có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,57%; giao thông giảm 1,80%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,15%. Có 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (Đồ uống và thuốc lá; bưu chính viễn thông). Thị trường giá vàng 9999 trong tháng bình quân tăng so tháng trước do ảnh hưởng bởi các diễn biến từ thị trường thế giới. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.215 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.405.970 đồng/100 USD. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 9/2022 gồm: (1) Giá nhiên liệu xăng, dầu qua các kỳ điều chỉnh trong tháng tiếp tục giảm dẫn tới giá bình quân giảm so với tháng trước; (2) Giá vật liệu xây dựng, đặc biệt là thép tiếp tục giảm do những yếu tố bất ổn trên thị trường thế giới; (3) Yếu tố mùa vụ khi kết thúc tháng 7 âm lịch, nhu cầu nhiều nhóm mặt hàng có sự thay đổi như hoa tươi, đồ dùng gia đình. Bên cạnh đó, các mặt hàng phục vụ năm học mới như hàng may mặc, văn phòng phẩm cũng có sự biến động mạnh về giá. Ngoài ra, mùa thu hoạch cũng khiến nhóm các loại nông sản có sự biến động giá theo. Tính chung CPI 9 tháng năm 2022 tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,85%; nông thôn tăng 1,89%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,91%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,29%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,15%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,31%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,75%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,18%; giao thông tăng 12,36%; bưu chính viễn thông giảm 0,25%; giáo dục tăng 0,40%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,69%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,75% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Nhưng gần đây, do một số mặt hàng khác như nhiên liệu, vật liệu xây dựng, điện, nước sinh hoạt ở mức cao đã có dấu hiệu ổn định giảm giá khiến chỉ số giá tiêu dùng chung ở mức ổn định. Dự kiến CPI tháng 10/2022 dự kiến tiếp tục tăng, Cụ thể, giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn. Thời tiết chuyển dần sang mùa lạnh cũng khiến nhu cầu các nhóm mặt hàng như may mặc, thực phẩm, đồ dùng gia đình, điện, nước sinh hoạt có sự thay đổi. III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm  Quý III năm 2022 tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước; nhiều doanh nghiệp đã khởi động các kế hoạch đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao nhu cầu sử dụng lao động, tập trung chủ yếu vào các ngành may mặc, kinh doanh, xây dựng, điện tử, sửa chữa máy móc…;so với cùng kỳ năm trước lao động đang làm việc trong nền kinh tế tăng 0,4%, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,48 điểm %. Tính chung 9 tháng đầu năm 2022, lao động đang làm việc trong tỉnh tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,22 điểm phần trăm. - Lực lượng lao động: Ước tính quí III/2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh là 513.748 người, so với quý trước tăng 0,85% và 0,3% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động là nam 272.557 người (chiếm 53,05% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 123.525 người (chiếm 24,04% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý III năm 2022 (lực lượng lao động 15 tuổi trở lên so với dân số 15 tuổi trở lên) là 52,37%, tăng 0,44 điểm phần trăm so với quý II/2022 và giảm 0,57 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 9 tháng năm 2022, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 514.090 người, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động nam là 273.269 người, chiếm 53,16% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 122.942 người, chiếm 23,91%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng năm 2022 là 52,4%, giảm 0,57 điểm % so với năm 2021. Tỷ lệ này cũng có sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ, ở thành thị cao hơn nông thôn là 7,39 điểm phần trăm; nam giới cao hơn nữ giới là 11,14 điểm phần trăm. - Lao động có việc làm: tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý III năm 2022 là 490.761 người, chiếm 95,53% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; so với quý trước tăng 0,3% và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị chiếm 24,1%; lao động có việc làm là nam giới chiếm 52,3%. Số lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 152.052 người, chiếm 30,98% trong tổng số; ngành công nghiệp và xây dựng là 143.865 người, chiếm 29,31%; ngành dịch vụ là 194.844 người, chiếm 39,7%. Tính chung 9 tháng năm 2022, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 489.812 người, chiếm 95,28% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 0,32% so với cùng kỳ năm 2021. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị chiếm 24,21%; ở nam giới chiếm 52,56%. Số lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 31,25% (tương ứng 153.061 người), giảm 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực Công nghiệp - Xây dựng chiếm 29,14% (tương ứng 142.742 người), tăng 0,82 điểm phần trăm; còn khu vực Dịch vụ chiếm 39,61% (tương ứng 194.009 người), tăng 0,18 điểm phần trăm. - Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Ước tính quý III/2022, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 22.987 người (chiếm 4,47% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý III/2022 ước tính là 4,86%, giảm 0,42 điểm phần trăm so với quý trước và 0,48 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 24.278 người, chiếm 4,72% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,03 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2022 ước tính là 5,19%, giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý III/2022 là 3,51%, giảm 0,32 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 9 tháng năm 2022, ước tính tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 3,79%, tăng 0,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. - Tình hình giải quyết việc làm: Quý III/2022, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 6.303 người, tăng 2,65% so với quý II/2022, tăng chủ yếu do xuất khẩu lao động (tăng 70,98% so với quý II/2022). Ước tính 9 tháng năm 2022, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 18.918 người, đạt 85,99% kế hoạch năm 2022, tăng 53,63% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 7.022 người, chiếm 37,12% trong tổng số, tăng 53,63%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 4.427 người, chiếm 23,4%, tăng 192,6%; xuất khẩu lao động 7.469 người, chiếm 39,48%, tăng 43,3%. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội - Đời sống dân cư: Sau thời gian dài gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã hoạt động bình thường và dần đi vào ổn định góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất; xây dựng các mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và làm thêm một số ngành nghề khác để tăng thu nhập, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. - Công tác đảm bảo an sinh xã hội: 9 tháng đầu năm 2022 toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 459.948 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 151,686 tỷ đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 304.599 suất quà trị giá 83,498 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 50.576 suất quà trị giá 25,376 tỷ đồng; Tặng quà cho người cao tuổi khoảng 37.207 suất quà trị giá 10,656 tỷ đồng; Tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 24.000 suất quà trị giá 12,725 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 43.566 suất quà trị giá 19,431 tỷ đồng. Đồng thời trao tặng 12 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 104 triệu đồng. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 459 nhà kinh phí khoảng 32.219 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 31 nhà kinh phí khoảng 1.034 triệu đồng. Cấp khoảng 22.039 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 42.011 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 155.181 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 49.860 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo. Ngoài ra thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-Ttg ngày 28/03/2022 của Chính Phủ về “Quy định việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động”; Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày 11/5/2022 của UBND tỉnh về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đến nay Hà Tĩnh đã hoàn thành việc chi trả hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động. Tổng số lao động được hỗ trợ 1.314 lao động với kinh phí hỗ trợ 1.999,5 triệu đồng, được chia làm 4 đợt. Đợt 1 là 301 lao động, kinh phí hỗ trợ 459 triệu đồng; đợt 2 là 375 lao động, kinh phí hỗ trợ 580 triệu đồng; đợt 3 là 169 lao động, kinh phí hỗ trợ 258 triệu đồng; đợt 4 là 465 lao động, kinh phí hỗ trợ 698,5 triệu đồng. 3. Giáo dục đào tạo - Giáo dục phổ thông: Sáng ngày 5/9, hơn 350 ngàn giáo viên và học sinh ở 668 trường học trên địa bàn Hà Tĩnh náo nức khai trường. Lễ khai giảng năm học mới 2022 - 2023 được các trường học ở Hà Tĩnh tổ chức trực tiếp, gọn nhẹ, trang nghiêm, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh ở khắp các vùng miền.  Năm học 2022-2023 toàn tỉnh có 668 trường, trong đó có 527 trường đạt chuẩn quốc gia (gồm 255 trường mầm non (tăng 186 trường so với năm học trước), 221 trường tiểu học (không đổi), 147 trường THCS (không đổi), 45 trường THPT (không đổi)); với 10.783 lớp (mẩu giáo 2917 lớp (tăng 49 lớp); tiểu học 4250 lớp (tăng 82 lớp); THCS 2.427 lớp (tăng 83 lớp); THPT 1.189 lớp (giảm 3 lớp); 18.778 giáo viên (mầm non 5.621 người (giảm 73 giáo viên); tiểu học 5.605 người (tăng 232 giáo viên); THCS 4.799 người (tăng 361 giáo viên); THPT 2.753 người (tăng 29 người) và 335.175 học sinh (mầm non 74.416 học sinh (giảm 3.182 học sinh); tiểu học 136.500 học sinh (tăng 5886 học sinh); THCS 82.423 học sinh (tăng 4.609 học sinh); THPT 41.836 học sinh (tăng 3715 học sinh). Kết quả tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2022-2023, toàn tỉnh có 13.908 học sinh trúng tuyển, trong đó có 13.490 học sinh lớp không chuyên với 402 lớp và 418 học sinh chuyên với 12 lớp. Hệ bổ túc THPT có 3.724 học sinh trúng truyển. - Giáo dục đào tạo: 9 tháng đầu năm 2022 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 15.583 người. Trong đó: trình độ cao đẳng nghề khoảng 249 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 7.349 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 7.985 người. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Để tiếp tục phòng chống hiệu quả với dịch bệnh, hạn chế các ca chuyển nặng thì việc tăng cường tiêm vắc-xin phòng COVID-19, nhất là các mũi nhắc lại đối với người từ 12 tuổi trở lên và các mũi cơ bản đối với trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi là hết sức cấp thiết. Bên cạnh đó Ngành Y tế Hà Tĩnh cùng các địa phương đang triển khai quyết liệt các giải pháp, khuyến cáo phòng, chống dịch sốt xuất huyết đang có chiều hướng diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh và các dịch bệnh khác trong giai đoạn chuyển mùa. - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/9/2022 là 56.771 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 57.004 ca mắc. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 50.115 ca, trong đó đã có 49.588 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN. Điều trị khỏi 57.128 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 57.004 BN tại Hà Tĩnh, 54 BN tử vong. Nhờ vào cuộc quyết liệt nên nhiều địa phương của Hà Tĩnh đã có kết quả tiêm vắc-xin phòng COVID-19 đạt cao. Trên cơ sở số lượng vắc-xin được Bộ Y tế phân bổ, đến nay, Hà Tĩnh đã triển khai 31 đợt tiêm phòng cho người từ 12 tuổi trở lên và 16 đợt tiêm phòng cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi. - Tình hình dịch bệnh khác: Tính đến ngày 15/9/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 387 ca sốt xuất huyết (gồm 11 ổ dịch với 120 ca mắc và 267 ca đơn lẻ), so với cùng kỳ năm trước: số ổ dịch tăng 9 ổ, tăng 87 ca mắc bệnh ở ổ dịch. Ngoài ra, 9 tháng năm 2022 trên địa bàn Hà Tĩnh còn một số ca bệnh đơn lẻ như: 267 ca mắc sốt xuất huyết (tăng 37,14 lần so với cùng kỳ năm trước), 2 ca mắc sốt rét (tăng 100%), 0 ca viêm não do vi rút (giảm 93 ca), 68 ca mắc bệnh quai bị (tăng 134,48%), 132 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 34,69%); 166 ca mắc lỵ a míp (tăng 23,36%); 114 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 83,41%), 10.310 ca mắc bệnh cúm (giảm 22,35%), 19 ca chân tay miệng (tăng 11,76%), tiêu chảy 2.041 ca, viêm gan vi rút khác 30 ca, tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, có 01 người nhiễm mới HIV, 01 người chuyển thành AIDS và 01 người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: giảm 01 người nhiễm mới HIV, giảm 01 người chuyển thành AIDS, giảm 01 người chết vì AIDS. Tính chung 9 tháng đầu năm 2022 có 14 người nhiễm mới HIV, 7 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước: Giảm 21 người (giảm 60,0%) nhiễm mới HIV, giảm 25 người (giảm 78,12%) chuyển thành AIDS, tăng 1người chết vì AIDS (tăng 50%). - Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Thực hiện Kế hoạch số 60/KH-BCĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh về việc Kiểm tra liên ngành an toàn thực phẩm Tết Trung thu năm 2022, toàn tỉnh tổ chức thành lập 231 đoàn kiểm tra liên ngành, từ ngày 25/8/2022 cho đến ngày 16/9/2022 đã kiểm tra được 2.722 lượt cơ sở, phát hiện và xử lý vi phạm hành chính 117 cơ sở, tổng số tiền xử phạt gần 300 triệu đồng, tiêu hủy nhiều hàng hóa thực phẩm vi phạm về an toàn thực phẩm. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm, chỉ có 79 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2022 có 01 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 659 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 264 ca (giảm 28,60%), số ca tử vong không đổi. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi. Sáng 24/8, UBND TX Kỳ Anh tổ chức khai mạc Liên hoan Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Nội dung các tiết mục tập trung vào chủ đề: Ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, tình yêu quê hương đất nước, cuộc sống, lao động sản xuất, thi đua yêu nước..Sáng ngày 5/9/2022 (tức ngày 10/8 âm lịch), tại Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du, đoàn cán bộ của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ tỉnh Hà Tĩnh, tổ chức dâng hương nhân ngày giỗ lần thứ 202 của Đại thi hào Nguyễn Du. Lễ giỗ Đại thi hào Nguyễn Du là dịp để tưởng nhớ, tôn vinh những giá trị mà Danh nhân văn hóa thế giới để lại cho dân tộc, cho nhân loại. Nhìn chung 9 tháng năm 2022 nhờ kiểm soát tốt dịch Covid-19, hoạt động văn hóa sôi nổi hơn so với cùng kỳ năm trước. - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Tính chung 9 tháng đầu năm 2022, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức 4 cuộc kiểm tra chuyên ngành tại 124 cơ sở kinh doanh các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch; lập biên bản nhắc nhở đối với 95 cơ sở kinh doanh còn hạn chế, thiếu sót; xử phạt hành chính 01 cơ sở với số tiền 05 triệu đồng.  - Hoạt động thể thao: +Thể thao quần chúng: Trong tháng hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng. Ngày 28/8 tại Nhà thi đấu TDTT Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ khai mạc Đại hội Thể dục thể thao lần thứ IX năm 2022 (Đại hội TDTT toàn tỉnh được tổ chức theo chu kỳ 4 năm một lần) thu hút gần 2000 VĐV tham gia ở 15 môn thi đấu: việt dã, bóng đá nam, bóng chuyền nam thanh niên, bóng chuyền hơi, bóng chuyền bãi biển, kéo co, đua thuyền, cầu lông, bóng đá thiếu niên, bóng đá nhi đồng, vovinam, quần vợt (triển khai từ đầu năm). Ngoài ra, chào mừng kỷ niệm 77 năm ngày Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2022) nhiều hoạt động thể dục thể thao đã diễn ra như Giải Đua thuyền thúng năm 2022 tại huyện Lộc Hà; Giải đua thuyền trên hồ Bồng Sơn huyện Hương Khê với sự tham gia của 24 đội, trong đó có 15 đội nam và 9 đội nữ, đặc biệt, giải đua thuyền năm nay còn có sự tham gia của các đội huyện Nakai, tỉnh Khăm Muộn, Nước bạn Lào, đội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và đội huyện Vũ Quang…Nhìn chung 9 tháng năm 2022 nhờ kiểm soát tốt dịch Covid-19 hoạt động thể thao quần chúng sôi nổi hơn so với cùng kỳ năm trước. + Thể thao thành tích cao: Tính chung 9 tháng năm 2022, Đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 29 giải đấu, đạt 209 huy chương các loại (81 huy chương vàng, 60 huy chương bạc, 68 huy chương đồng), trong đó 04 giải quốc tế đạt 19 huy chương (8HCV-7HCB-4HCĐ), SEA Games 31 đạt 16 huy chương (6 huy chương vàng, 7 huy chương bạc, 3 huy chương đồng). 6. Tai nạn giao thông Tính từ ngày 15/8-14/92022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 7 vụ tai nạn đường bộ, làm 8 người chết, không có người bị thương, thiệt hại 140 triệu đồng. So với tháng trước giảm 2 vụ tai nạn đường bộ, tăng 2 người chết và số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước số vụ không đổi và giảm 1 người chết và số người bị thương không đổi. Tính chung 9 tháng năm 2022 (tính từ ngày 15/12/2021-14/9/2022) đã xẩy ra 69 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 60 người chết, 28 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 1.140 triệu đồng, so với cùng năm 2021 số vụ tai nạn giảm 9 vụ (giảm 11,54%); giảm 8 người chết (giảm 11,76%) và tăng 2 người bị thương (tăng 7,69%), số tiền nộp phạt tăng 78 triệu đồng. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ - Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/8/2022 đến ngày 14/9/2022 đã xảy ra 4 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại ước tính là 2532 triệu đồng. So với tháng trước giảm 5 vụ cháy,nổ; số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ; số người chết và số người bị thương không đổi. Tính chung 9 tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2021-14/9/2022) đã xảy ra 38 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 4.797 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ (giảm 5%), giảm 2 người chết (giảm 66,67%), giảm 1 người bị thương (giảm 50%); thiệt hại ước tính tăng 2.261 triệu đồng. - Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/8 đến ngày 14/9/2022 đã phát hiện 85 vụ, đã xử lý 44 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 234,93 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện tăng 19 vụ (tăng 28,79%), số vụ đã xử lý không đổi, số tiền nộp phạt tăng 153,45 triệu đồng (tăng 188,33%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 75 vụ đã phát hiện (tăng 750%), tăng 34 vụ đã xử lý (tăng 340%), số tiền xử phạt tăng 142,33 triệu đồng (tăng 153,70%). Tính chung 9 tháng đầu năm (ngày 15/12/2021 - 14/9/2022) đã phát hiện 693 vụ, đã xử lý 464 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1.791,92 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ phát hiện tăng 578 vụ (tăng 502,61%), số vụ xử lý tăng 377 vụ (tăng 433,33%), tsố tiền nộp phạt tăng 570,07 triệu đồng (tăng 46,66%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong 9 tháng chủ yếu là vận chuyển, khai thác cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 630 vụ (chiếm 90,91%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 34 vụ (chiếm 4,91%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 24 vụ (3,46%); thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 5 vụ (chiếm 0,72%). 8. Thiệt hại thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước giảm 1 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không đổi. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 6 vụ thiên tai, cụ thể là 01 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 01 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 3 vụ sét đánh (ngày 26/5 ;14/6 và 21/7 ), 01 vụ lốc xoáy (ngày 14/6). 6 vụ thiên tai đã làm chết 4 người, làm hư hỏng 01 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ thiên tai, số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng./.

Tình hình KTXH tháng 8 và 8 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 16:38

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 8 năm 2022, bà con nông dân tập trung chăm sóc các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2022, đối với cây lúa bà con thăm đồng thường xuyên hơn để kiểm tra tình hình sinh trưởng và phát triển của lúa, đặc biệt kiểm tra các đối tượng sâu bệnh có thể xảy ra để phun trừ kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu; Hoạt động chăn nuôi vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện; Hoạt động sản xuất lâm nghiệp nhìn chung ổn định, trong tháng có mưa nên kết quả trồng rừng tập trung tăng hơn so với tháng trước, công tác phòng cháy chữa cháy bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện; Hoạt động thủy sản có mức tăng khá so với tháng trước do giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm nên ngư dân vươn khơi bám biển khai thác hải sản. 1.1 Sản xuất nông nghiệp                 *Trồng trọt  - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2022  Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu 2022 toàn tỉnh ước đạt 58.681 ha, bằng 100,37% (tăng 219 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 233.127 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 98,35% (giảm 3.899 tấn). Dự kiến, kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm nay ngoài cây lúa giảm thì các loại cây trồng chủ lực khác vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể kết quả đối với một số cây trồng chủ lực như sau:  Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh ước tính giảm 429 ha so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích gieo cấy lúa giảm như: Đức Thọ giảm 414 ha; Thành phố Hà Tĩnh 78 ha; Nghi Xuân 70 ha; Thạch Hà 48 ha …Nguyên nhân chủ yếu diện tích lúa Hè Thu năm nay giảm là do sản xuất vụ Đông Xuân kết thúc chậm hơn so với kế hoạch đề ra gây ảnh hưởng đến việc gieo cấy lúa. Ngoài ra, năm nay được đánh giá là năm thời tiết thất thường mưa nhiều nắng ít nên đã gặp khó khăn trong việc gieo cấy. Năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2022 ước giảm 0,61 tạ/ha. Sản lượng lúa ước giảm 4.901 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên sản lượng ước tính giảm. Hiện nay lúa Hè Thu đang giai đoạn trổ bông đại trà. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến năng suất cuối vụ. Vì vậy phải tập trung xử lý triệt để các diện tích đã xuất hiện sâu bệnh để hạn chế nguồn phát tán, lây lan trên diện rộng. Cây ngô: Diện tích ngô vụ Hè Thu 2022 ước tính tăng 235 ha so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích tăng như: Hương Khê tăng 189 ha; Hương Sơn tăng 44 ha; Vũ Quang tăng 42 ha;... Nguyên nhân diện tích ngô tăng do năm nay thức ăn chăn nuôi tăng người dân trồng ngô với mục đích lấy sản phẩm làm thức ăn chăn nuôi. Năng suất ngô vụ Hè Thu năm nay ước tính tăng 0,7 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất ngô ước tính tăng là do quá trình cây ra hoa phơi mao gặp thời tiết thuận lợi. Sản lượng ngô ước tính tăng 1.003 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô tăng. Cây khoai lang: Diện tích khoai lang ước tính tăng 39 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang ước tăng 0,14 tạ/ha, với sản lượng ước tính tăng 240 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây sắn: Diện tích sắn ước đạt 2.625 ha, bằng 107,15% (tăng 175 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước đạt 152,86 tạ/ha, bằng 101,14% (tăng 1,72 tạ/ha), với sản lượng ước đạt 40.133 tấn, bằng 108,37% (tăng 3.100 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do năm nay giá thức ăn chăn nuôi tăng bà con nông dân trồng sắn thay thế nhằm làm thức ăn chăn nuôi để giảm bớt chi phí. Cây lạc: Diện tích trồng lạc ước tính tăng 13 ha với năng suất lạc ước giảm 0,07 tạ/ha so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất giảm nhưng diện tích tăng nên sản lượng lạc ước tính tăng 24 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây vừng: Diện tích trồng vừng ước đạt 612 ha, bằng 103,91% (tăng 23 ha) so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích tăng do một số xã chuyển đổi diện tích trồng lạc, đậu, sắn sang trồng vừng. Năng suất vừng ước đạt 6,21 tạ/ha, bằng 102,77% (tăng 0,17 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng vừng ước đạt 380 tấn, bằng 106,78% (tăng 24 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại: Diện tích rau các loại ước tính tăng 157 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau ước tính tăng 1,15 tạ/ha, với sản lượng rau ước tính tăng 1.468 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân sản lượng rau tăng do cả diện tích và năng suất đều tăng. Cây đậu các loại: Diện tích đậu các loại ước đạt 2.636 ha, bằng 87,5% (giảm 377 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo trồng giảm do đầu vụ thời tiết thất thường gây khó khăn cho việc gieo trỉa. Ngoài ra có một số diện tích chuyển đổi từ trồng đậu sang trồng vừng. Năng suất đậu các loại ước đạt 10,36 tạ/ha, bằng 95,59% (giảm 0,48 tạ/ha), với sản lượng đậu các loại ước đạt 2.731 tấn, bằng 83,64% (giảm 534 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên sản lượng đậu các loại giảm. - Sản xuất vụ Mùa năm 2022 Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, đầu vụ thường xẩy ra khô hạn và cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Cùng với đó, năng suất lúa vụ Mùa thường rất thấp nên người dân ít đầu tư sản xuất. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa 2022 ước đạt 490 ha, bằng cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh hiện còn có huyện Nghi Xuân, huyện Thạch Hà, huyện Lộc Hà đang triển khai gieo cấy lúa vụ Mùa trên những chân rộng pha cát. Do hiệu quả sản xuất vụ Mùa thấp nên không được xác định là vụ sản xuất chính của địa phương cho nên xu thế sản xuất lúa vụ Mùa đang ngày càng giảm. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, trên lúa Hè Thu đang có các loại sâu bệnh phát sinh gây hại, cụ thể: Rầy nâu, rầy lưng trắng với mật độ trung bình 300-500 con/m2, ­nơi cao 1000-1500 con/m2, chủ yếu rầy tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, diện tích nhiễm bệnh 9,5 ha, phân bố chủ yếu ở Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn; bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng gieo cấy giày, bón thừa đạm, tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm bệnh là 492 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh; bệnh đốm nâu gây hại với tỷ lệ 10-15%, nơi cao 20-30% trên những diện tích chăm sóc kém, phân bón không đầy đủ với, diện tích 215 ha, phân bố chủ yếu ở Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh,…Bệnh bạc lá xuất hiện rải rác ở Đức Thọ, Hồng Lĩnh với tỷ lệ 5-7%; chuột gây hại trên trà lúa gieo thẳng gần gò đồi, gần làng, tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 237 ha, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 7 ha và bệnh đốm lá 9 ha tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Đối với cây ăn quả có múi, các đối tượng sâu bệnh gây hại chính như: Nhện nhỏ 30 ha; sâu đục thân, đục cành 13 ha; bệnh ghẻ sẹo trên cây cam, diện tích 14 ha; bọ xít xanh 10 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc,… *Chăn nuôi Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng 8/2022 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Chăn nuôi trâu, bò sau ảnh hưởng bởi dịch viêm da nổi cục năm 2021 thì hiện nay tổng đàn đã phát triển trở lại; chăn nuôi lợn vẫn còn gặp khó khăn, dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn xuất hiện trên địa bàn chưa qua 21 ngày, cùng với việc giá thức ăn tăng quá cao đã gây khó khăn cho việc thực hiện phát triển đàn lợn; chăn nuôi gia cầm tương đối ổn định, trong tháng đã cung cấp lượng lớn sản phẩm gia cầm phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp rằm tháng 7 âm lịch. Nhìn chung, trước những khó khăn về dịch bệnh và chi phí sản xuất tăng cao thì hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh chưa thể có bước đột phá trong ngắn hạn mà chỉ ở mức ổn định sản xuất.  Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 15/8/2022, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 62 con (15 con trâu và 47 con bò) tại xã Điền Mỹ và xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê đang mắc bệnh lở mồm long móng chưa qua 21 ngày; có 1 hộ nuôi với 11 con lợn có trọng lượng 830 kg, tại xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh mắc dịch tả lợn Châu Phi đã tiêu hủy và ổ dịch này chưa qua 21 ngày; dịch cúm gia cầm H5N1 xẩy ra tại xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên làm 2.826 con gia cầm ốm chết phải tiêu hủy. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi. 1.2 Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 8/2022 nhìn chung ổn định. Hoạt động trồng rừng vẫn được triển khai, nhờ điều kiện thời tiết trong tháng có mưa nên kết quả trồng rừng tập trung tăng hơn so với tháng trước (tăng 201 ha) cũng như cùng kỳ năm trước (tăng 62 ha). Sản lượng gỗ khai thác tháng 8/2022 ước tính tăng khá so với tháng trước (tăng 3.288 m3) cũng như so với cùng kỳ năm trước (tăng 898 m3). Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp giữa các tháng và các năm thường có sự chênh lệch khá lớn. Bước vào mùa nắng nóng, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ ngày 15/7 - 15/8/2022 đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha và 6 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 5,06 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 1 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 0,4 ha (giảm 0,83 ha) và 57 vụ phá rừng (tăng 28 vụ), với diện tích rừng bị phá là 28,95 ha (tăng 19,06 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang là mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 8/2022 tăng 1.325 tấn so với tháng trước và tăng 114 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm nên ngư dân vươn khơi bám biển khai thác hải sản, cùng với đó là các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm vụ tôm Xuân Hè nên làm cho sản lượng nuôi trồng tăng. Mặc dù tổng sản lượng thủy hải sản đánh bắt và nuôi trồng 8 tháng đầu năm 2022 vẫn tăng 916 tấn so với cùng kỳ năm trước nhưng các ngư dân khai thác hải sản và người nuôi trồng thủy sản vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân do chi phí xăng, dầu, nhân công và các dịch vụ hậu cần nghề cá, thức ăn thủy sản đều tăng mạnh. Hiện nay, nuôi tôm vẫn đang là hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ lực của tỉnh. Mặc dù đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè và bước vào nuôi tôm vụ Đông 2022, nhưng do giá bán sản phẩm tăng không đáng kể trong khi chí phí sản xuất tăng cao nên các hộ nuôi tôm ở Hà Tĩnh không đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nên sẽ không có sự biến động lớn về sản lượng nuôi trồng trong những tháng cuối năm 2022. Trong tháng, dịch bệnh gan hoại tử trên tôm nuôi đã xuất hiện với diện tích nhiễm bệnh là 2,7 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh đã có 86,8 ha tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng và 9,23 ha tôm bị nhiễm bệnh gan hoại tử. Dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, không gây thiệt hại nhiều cho người nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tính từ đầu năm đến cuối tháng 8 năm 2022 gặp nhiều khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 8 tháng đầu năm 2022 ước giảm 15,06% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao giảm sản lượng, gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng sữa chữa thiết bị, máy móc. Dự kiến trong thời gian tới Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa sẽ tiếp tục giảm mạnh sản lượng thép sản xuất. Ngoài ra, tổ máy số 1 của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 vẫn chưa định thời gian hoạt động trở lại sẽ là những yếu tố tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm 2022. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 8/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 7/2022 giảm 19,9% và giảm 43,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 25,27% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này giảm 48,31%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,27% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 26,2%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,61% so với tháng 7/2022 và giảm 19,85% so với tháng 8/2021. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 8 tháng đầu năm 2022 ước giảm 15,06% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,67%, làm giảm 0,09 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,92% làm giảm 8,01 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 37,94%, làm giảm 6,67 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,48%, làm giảm 0,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm sản lượng cộng dồn 8 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 57,89% trong tổng số sản phẩm) và có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 42,11%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước: Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 102,98%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 35,2%; chè (trà) nguyên chất tăng 30,29%; dịch vụ sản xuất dược tăng 20,46%; điện thương phẩm tăng 19,93%; bia đóng lon tăng 18,19%; … Sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước: điện sản xuất giảm 39,76%; mực đông lạnh giảm 27,4%; quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 16,1%; nước không uống được giảm 13,5%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 12,32%; … 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2022 tăng 0,18% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,41%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 8/2022 giảm 6,43% so với cùng kỳ năm 2021. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 8 tháng đầu năm 2022 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm 8,74% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng tăng 8,11%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,33%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,15% so với cùng kỳ năm 2021. 3. Vốn đầu tư Tháng 8/2022 công tác giải ngân vốn tiếp tục tăng so với tháng trước (tăng 12,73%) và tăng so với cùng kỳ năm trước (tăng 8,35%). Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh tăng mạnh so với tháng trước (tăng 15,46%) và tăng so với cùng kỳ năm trước (tăng 6,5%), đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý (chiếm 76,30%). Nguyên nhân do trong tháng các công trình đã được cấp vốn, công tác triển khai hoàn tất các thủ tục do đó đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ để đạt mục tiêu đề ra. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 8/2022 đạt 610,13 tỷ đồng, tăng 12,73% so với tháng trước, tăng 8,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 465,53 tỷ đồng, tăng 15,46% so với tháng trước, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 114,33 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước và tăng 52,41% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 30,27 tỷ đồng, tăng 2,87% so với tháng trước và giảm 40,65% so với tháng 8/2021. Cụ thể, tiến độ một số công trình lớn hiện nay trên địa bàn Hà Tĩnh: Nâng cấp đường tỉnh DDT giai đoạn 2 đạt 33.121 triệu đồng; xử lý cấp bách đê tả nghèn đạt 59.248 triệu đồng; cải tạo mặt đường, chỉnh trang hạ tầng kỹ thuật đường Quang Trung đoạn từ đường Nguyễn Huy Lung đến cầu Hộ Độ và bổ sung 1 đơn nguyên cầu Hộ Độ đạt 68.049 triệu đồng; Dự án hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Hà Tĩnh thuộc dự án BIIG2 đạt 74.814 triệu đồng… Dự ước 8 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.495,42 tỷ đồng, đạt 46,66% kế hoạch năm, tăng 5,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.670,23 tỷ đồng, chiếm 76,39% tổng vốn, tăng 7,93% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 666,32 tỷ đồng, chiếm 19,06% tổng vốn, tăng 31,98% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 158,87 tỷ đồng, chiếm 4,55% tổng vốn, giảm 51,7% so với cùng kỳ. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 giảm nhẹ so với tháng trước (0,42%). Giảm chủ yếu trong nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành, do trong tháng trùng với dịp tháng 7 âm lịch lượng khách đến nghỉ mát tại các bãi biển, các khu sinh thái nghỉ dưỡng giảm mạnh. Nhưng với việc giá cả có dấu hiệu giảm nhẹ đã kích thích tăng cầu tiều dùng các loại hàng hóa, doanh thu hoạt động bán lẻ chiểm tỷ trọng lớn và tăng ổn định đã kéo lại doanh thu nhóm ngành này. Tính chung 8 tháng năm 2022, hoạt động thương mại dịch vụ phục hồi tích cực đạt mức tăng cao. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 8 ước đạt 4.540,12 tỷ đồng, tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 46,84% so với cùng kỳ năm trước. Có 6/12 nhóm hàng có doanh thu giảm so với tháng trước, trước hết ở 2 nhóm hàng xăng dầu (giảm 4,0%) và nhiên liệu khác (giảm 2,47%) do việc giá bán tiếp tục được điều chỉnh giảm theo giá dầu thế giới. Ngoài ra, các nhóm hàng có doanh thu giảm tập trung ở nhóm đồ dùng gia đình (giảm 8,26%),  ô tô con (giảm 1,94%), đá quý, kim loại quý (giảm 1,67%) và bảo dưỡng, sửa chữa ô tô, xe máy (giảm 1,34%) do tâm lý chung của người dân là hạn chế mua sắm tài sản trong tháng 7 âm lịch. Bên cạnh các nhóm hàng có chỉ số giảm thì có 6/12 nhóm hàng có chỉ số tăng so với tháng trước, trong đó, tăng mạnh nhất ở 2 nhóm hàng vật phẩm, văn hóa giáo dục (tăng 68,42%) và may mặc (tăng 9,02%) do đây là thời điểm giao mùa cũng như học sinh đã bắt đầu trở lại trường bước vào năm học mới.   Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 33.231,95 tỷ đồng, tăng 18,71% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở 11/12 nhóm hàng, trong đó tăng mạnh ở các nhóm hàng như: Xăng, dầu các loại tăng 42,96%; đá quý, kim loại quý tăng 41,31%; nhiên liệu khác tăng 36,43%; hàng may mặc tăng 21,64%; hàng hóa khác tăng 21,27%; lương thực, thực phẩm tăng 19,33%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,15%. Nhìn chung 8 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu tăng ổn định hàng tháng so với cùng kỳ. Thu nhập chung của người dân cũng được cải thiện hơn so với năm trước. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển nên đã ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Trong khi đó, một lượng lớn vốn tín dụng đang bị mắc kẹt tại thị trường bất động sản trong khi vốn sản xuất kinh doanh gặp khó khăn là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng. - Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2022 ước đạt 520,10 tỷ đồng, giảm 8,95% so với tháng trước, tăng 5,3 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động l­ưu trú ước đạt 21,26 tỷ đồng, giảm 30,07% so với tháng trước, tăng 6,3 lần so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 498,46 tỷ đồng, giảm 7,29% so với tháng trước, tăng 5,3 lần so với cùng kỳ; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 0,38 tỷ đồng, giảm 87,89% so với tháng trước. Do tính chất thời vụ tháng 8 thời điểm gần kết thúc kỳ nghỉ hè bước vào năm học mới và bắt đầu vào những tháng cuối năm nhu cầu du lịch giảm, lượng khách đến nghỉ mát tại các bãi biển, các khu sinh thái nghỉ dưỡng giảm mạnh. Cùng với đó, do ảnh hưởng yếu tố tâm linh trong tháng trùng với tháng 7 âm lịch, người dân ít đi lại. Tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành giảm hơn so với các tháng trước. Nhưng so cùng kỳ vẫn tăng mạnh do năm trước thời điểm này đang trong đang trong giai đoạn tạm ngừng kinh doanh, giãn cách xã hội. Tính chung 8 tháng đầu năm 2022 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.922,52 tỷ đồng, tăng 45,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, l­ưu trú ước đạt 163,93 tỷ đồng, tăng 74,59%; lượt khách phục vụ 913.590 lượt, tăng 57,07% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 767.514 ngày, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 3.746,98 tỷ đồng, tăng 44,67%; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 11,61 tỷ đồng, tăng 57,84%. Nhìn chung hoạt động dịch vụ 8 tháng đầu năm 2022 có mức tăng mạnh so với cùng kỳ (do cùng kỳ năm trước ảnh hưởng bởi dịch Covid -19, mọi hoạt động bị ngưng trệ). Tuy nhiên, vẫn đánh dấu sự hồi phục hoàn toàn của khu vực này khi so với cùng kỳ của năm 2019 (năm chưa chịu ảnh hưởng lớn của dịch bệnh) vẫn đạt mức tăng 8,58%. - Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 8 ước tính đạt 224,63 tỷ đồng, tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 181,31% so với cùng kỳ năm trước. Việc giảm doanh thu 2 nhóm ngành: Dịch vụ kinh doanh bất động sản; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ và tăng ở các nhóm ngành: Dịch vụ giáo dục và đào tạo, y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đã đân đến việc tăng trưởng nhẹ ở chung ngành dịch vụ khác. Nguyên nhân chủ yếu do tháng này thời điểm giao mùa, các ca mắc covid trong cộng đồng có dấu hiệu tăng trở lại nên nhu cầu khám chữa bệnh tăng, cùng với đó chuẩn bị bước vào năm học mới tăng nhu cầu học thêm các trung tâm. Tuy nhiên, việc trùng vào dịp tháng 7 âm lịch nên giảm mạnh nhu cầu về bất động sản và dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, thuê xe, dịch vụ thuê đồ dùng cá nhân và gia đình Tính chung 8 tháng năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.575,47 tỷ đồng, tăng 44,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 51,03%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 36,68%; giáo dục đào tạo tăng 108,57%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 2,92%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 0,38%; dịch vụ khác tăng 71,84%.  4.2. Hoạt động vận tải Tình hình vận tải, kho bãi trong tháng tăng so tháng trước, các phương tiện vận tải được chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, chất lượng cao đối với loại phương tiện hành khách, đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa. Hạ tầng đường bộ được nâng cấp mở rộng góp phần hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. Tuy nhiên, dịch vụ bốc xếp hàng hóa thông qua cảng trong tháng giảm so với những tháng đầu năm do lượng hàng hóa thông qua cảng giảm. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 8/2022 ước đạt 466,17 tỷ đồng, tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 75,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 109,15 tỷ đồng, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 13,89 lần so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 294,73 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 55,84% so cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 62,21 tỷ đồng, tăng 5,62% so với tháng trước và giảm 9,30% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải trong tháng 8 tăng so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do trong tháng thời điểm nhập học của Tân sinh viên, người dân đi lễ chùa, đền tháng 7 âm lịch nên lượng vận tải hành khách nội tỉnh cũng như liên tỉnh đều tăng. Cùng với đó đây là thời điểm hoàn thiện các công trình xây dựng đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão, nên dẫn đến nhu cầu vận tải hàng hóa vật liệu xây dựng, đất đá, sắt thép tăng hơn. Tính chung, kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 8 tháng năm 2022, ước tính đạt 3.59,64 tỷ đồng, tăng 16,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 757,69 tỷ đồng, tăng 6,89%; hàng hoá ước đạt 2.262,47 tỷ đồng, tăng 27,49%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 572,91 tỷ đồng, giảm 3,54% so với cùng kỳ năm trước. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 8 năm 2022 ước đạt 454,5 triệu USD, tăng khả quan hơn so với tháng trước (tăng 13,13%) nhưng vẫn chưa đạt mức cùng kỳ năm trước (giảm 7,62%). Nguyên nhân chủ yếu bối cảnh giao dịch không ổn định và lượng tồn kho cao của ngành công nghiệp thép. Với việc tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, và giá phôi thép và thép cây ở châu Á đã tăng vào ngày 16/8 kỳ vọng sẽ mang lại những tín hiệu tích cực trong sản xuất và xuất khẩu thời gian tới. - Kim ngạch xuất khẩu tháng 8 ước đạt 111,5 triệu USD, tăng so với tháng trước (3,31%) nhưng giảm mạnh với cùng cùng kỳ (giảm 45,48%). Chủ yếu do biến động giảm của mặt hàng thép, phôi thép (ước đạt 109,07 triệu USD tăng 26,03% so với tháng trước và giảm 40,34% so với cùng kỳ) và ở các mặt hàng thủy sản, xơ, sợi dệt và may mặc. Mặt hàng chè và dăm gỗ cũng bắt đầu tiêu thụ mạnh hơn trong tháng, tuy nhiên việc chỉ chiếm quy mô nhỏ không thể cân bằng lại cán cân xuất khẩu. Tính chung 8 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.178,09 triệu USD, giảm 12,80% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, ngoài mặt hàng thép nhóm hàng thủy sản cũng có kim ngạch xuất khẩu cộng dồn 8 tháng giảm so với cùng kỳ (Thép, phôi thép giảm 13,34%; Thủy sản giảm 18,44%). Còn lại các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng: Chè (tăng 175,21%); dệt và may mặc (tăng 160,62%); dăm gỗ (20%); xơ, sợi dệt các loại (tăng 7,04%). Nguyên nhân, chủ yếu do việc mặt hàng chủ lực thép giảm mạnh trong 3 tháng gần đây. Hi vọng với việc dự thảo Nghị định ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện các hiệp định FTA sẽ sớm được ban hành, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu ngành công nghiệp thép. - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 8/2022 ước đạt 343,0 triệu USD, tăng 16,74% so với tháng trước và tăng 19,30% so với cùng kỳ. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa với 290,0 triệu USD. Cộng dồn 8 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.713,03 triệu USD, tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ trong tháng, diễn ra sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng là tháng trùng dịp lễ Vu lan nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng mạnh dẫn tới giá cả thực phẩm tươi sống gà thịt, thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm vịt, ngan tăng nhẹ so với tháng trước. Mặc dù tính chung chỉ số giá vẫn được kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới. Tháng 8 chỉ số CPI chung tăng 0,14% so với tháng trước, tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,1% so với tháng trước, tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 06 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 102,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; giáo dục tăng 0,03%; Thuốc và dịch vụ y tế cùng nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số tăng 0,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Giao thông giảm 4,52%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,49%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%. 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm: Đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giày dép. Một số yếu tố chính tác động đến sự biến động của chỉ số giá tháng 8 năm 2022: (i) Giá thực phẩm, lương thực tăng mạnh trong kỳ rằm tháng 7 (lễ Vu lan), bên cạnh đó thời tiết thất thường ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của các loại rau, củ quả khiến chỉ số chung nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng cao trong tháng ; (ii) Giá một số mặt hàng văn phòng phẩm tăng do nhu cầu của nhóm đối tượng học sinh và phụ huynh phục vụ năm học mới; (iii) Giá nhiên liệu xăng, dầu qua hai kỳ điều chỉnh giảm trong tác động vào chỉ số giá nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác. Chỉ số giá vàng tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 2,82% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,31% so với tháng trước, tăng 3,64% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.342 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.402.994 đồng/100 USD. Tính chung CPI bình quân 8 tháng năm 2022, chỉ số chung tăng 1,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,77%; nông thôn tăng 1,77% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Một số mặt hàng thiết yếu giảm giá khiến chỉ số giá chung vẫn được kiểm soát. Tuy nhiên, những tháng cuối năm dự kiến chỉ số giá tiêu dùng chung sẽ tăng mạnh hơn. Cụ thể, tháng 9/2022 nhóm giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống sẽ tăng do có kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 02/9 khá dài ngày. Bên cạnh đó, giá các loại gạo nếp, đậu hạt các loại tăng do nhu cầu nguyên liệu sản xuất nhân bánh phục vụ Tết Trung thu, thêm vào đó nhu cầu tiêu thụ đồ dùng gia đình những tháng cuối năm xu hướng tăng và hàng may mặc, văn phòng phẩm, sách vở tăng mạnh là tháng bước vào năm học mới 2022-2023. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Thực hiện Quyết định số 08/QĐ-TTg, ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động; Kế hoạch số 168/KH-UBND ngày 11/5/2022 của UBND tỉnh về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đến nay Hà Tĩnh đã hoàn thành việc chi trả hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động. Tổng số lao động được hỗ trợ 1.314 lao động với kinh phí hỗ trợ 1.995,5 triệu đồng, được chia làm 4 đợt. Đợt 1 là 301 lao động, kinh phí hỗ trợ 459 triệu đồng; đợt 2 là 375 lao động, kinh phí hỗ trợ 580 triệu đồng; đợt 3 là 169 lao động, kinh phí hỗ trợ 258 triệu đồng; đợt 4 là 465 lao động; kinh phí hỗ trợ 698,5 triệu đồng. 2. Giáo dục - Giáo dục đào tạo: Vượt qua những khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, ngành giáo dục Hà Tĩnh đã khép lại năm học 2021-2022 với nhiều kết quả đáng ghi nhận. Với tinh thần kiên cường, vượt khó, hiếu học, toàn ngành đã thực hiện tốt mục tiêu linh hoạt, sáng tạo, đảm bảo an toàn, chất lượng. Kết quả Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2022-2023, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2022-2023 là 72,69%, (số lượng 11.538 học sinh), số còn lại vào các trường THPT tư thục, GDTX, học nghề. Kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2022, tỷ lệ tốt nghiệp của học sinh Hà Tĩnh là 99,50%, tăng 0,45% so với năm trước. Trong đó, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp giáo dục THPT là 99,84%; giáo dục thường xuyên là 97,49%. Toàn tỉnh có 32 trường có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp 100%, tăng 15 trường so với năm 2021. Tổng điểm bình quân các môn là 6,720 điểm, xếp thứ 9 cả nước, tăng 9 bậc so với năm trước. Trong đó có 5 môn có điểm bình quân cao, nằm trong tốp 10 cả nước: Vật lý xếp thứ 4 với điểm trung bình 7,290821; Ngữ văn xếp thứ 5 với điểm trung bình 7,3409; Hóa học xếp thứ 5 với điểm trung bình 7,2247; Địa lý xếp thứ 8 với điểm trung bình 7,037601; Lịch sử xếp thứ 9 với điểm trung bình 6,692779. Toàn tỉnh có 185 bài thi đạt điểm 10 ở tất cả các môn. Mặc dù tổng số điểm 10 thấp hơn so với năm ngoái nhưng đây vẫn là kết quả khẳng định thương hiệu của giáo dục Hà Tĩnh. - Giáo dục nghề nghiệp: Theo Sở LĐ-TB&XH, năm học 2022 - 2023, các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh sẽ tuyển sinh mới và đào tạo khoảng hơn 19.000 chỉ tiêu, trong đó hệ cao đẳng 1.450 chỉ tiêu, còn lại là hệ trung cấp, sơ cấp nghề. Đến nay, các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh được 9.596 học sinh, sinh viên tham gia học nghề (cao đẳng: 295, trung cấp: 443, sơ cấp: 6.010; đào tạo dưới 3 tháng: 2.848), đạt 51,9% kế hoạch năm 2022. Dự kiến, năm 2022, các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh sẽ tuyển sinh được hơn 21.000 chỉ tiêu, ước đạt 110% kế hoạch. 3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Hiện nay, số ca mắc COVID-19 và số bệnh nhân phải chuyển điều trị tại các cơ sở y tế đang có xu hướng tăng lên, trong khi theo đánh giá của Bộ Y tế, tỷ lệ tiêm phòng của Hà Tĩnh đối với lứa tuổi trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi hiện đang thấp. Vì vậy, ngành Y tế Hà Tĩnh khuyến cáo người dân cần chủ động đi tiêm vắc-xin để phòng, chống hiệu quả với dịch bệnh. Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/8/2022 là 55.194 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 56.153 ca mắc. Tình hình điều trị các ca bệnh: chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN; điều trị khỏi 55.265 BN, trong đó có 124 BN tuyến trên, 55.141 BN tại Hà Tĩnh; 52 BN tử vong. Tính đến ngày 17/8/2022, Hà Tĩnh có tỷ lệ người trờn 18 tuổi tiêm mũi 1 đạt 100,46%, tiêm mũi 2 đạt 98,75%, tiêm mũi nhắc lại lần 1 (mũi 3) đạt 79,23%. Người đã tiêm mũi nhắc lại lần 2 (mũi 4) đạt 140,72% so với số người kế hoạch trong độ tuổi ưu tiên. Người từ 12 đến dưới 18 tuổi, tiêm mũi 1 đạt 104,13%, tiêm mũi 2 đạt 99,76%, tiêm mũi nhắc lại lần 1 (mũi 3) đạt 27,15%. Đối với trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi, tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt 54,42%, mũi 2 đạt 31,81%. - Tình hình dịch bệnh khác: Hiện nay dịch sốt xuất huyết đang bùng phát tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước; và một số quốc gia trong khu vực đã ghi nhận ca bệnh đậu mùa khỉ xâm nhập. Do đó để ngăn chặn dịch bệnh bùng phát, điều then chốt là ý thức chấp hành các giải pháp phòng, chống dịch của chính mỗi người dân và cộng đồng dân cư. Toàn tỉnh từ đầu năm đến nay đã phát hiện 208 ca sốt xuất huyết (gồm 8 ổ dịch với 56 ca mắc và 152 ca đơn lẻ), phân bố rải rác tại: TP Hà Tĩnh, Kỳ Anh, TX Kỳ Anh, Hương Sơn, Hương Khê, Nghi Xuân, Đức Thọ, Lộc Hà… Ngoài sốt xuất huyết trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh có một số ca bệnh đơn lẻ khác: 1 ca mắc sốt rét, 8 ca mắc bệnh quai bị, 19 ca mắc lỵ trực trùng; 16 ca mắc lỵ a míp; 8 ca mắc bệnh thủy đậu; 1.045 ca mắc bệnh cúm; 3 ca chân tay miệng; tiêu chảy 461 ca; viêm gan vi rút khác 3 ca. Ngoại trừ sốt xuất huyết, thì tất cả các ca bệnh còn lại không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tiếp tục được duy trì hiệu quả. Trong tháng, có 01 người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS và đồng thời cũng không có người chết vì AIDS. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 người nhiễm mới HIV, giảm 3 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung 8 tháng năm 2022 có 13 người nhiễm mới HIV, 6 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 20 người (giảm 60,61%) nhiễm mới HIV, giảm 24 người (giảm 80%) chuyển thành AIDS , số người chết vì AIDS không đổi. - Công tác an toàn thực phẩm:  Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, chỉ có 99 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, giảm 42 ca (giảm 29,79%) ngộ độc đơn lẻ, số ca tử vong không đổi. Tính chung 8 tháng năm 2022 có 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 580 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 246 ca (giảm 29,78%), số ca tử vong không đổi. 4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi: Cuộc thi “Đại sứ Văn hóa đọc năm 2022” sau hơn 3 tháng triển khai, đã thu hút 112.806 học sinh các cấp học trên toàn tỉnh tham gia, Ban tổ chức đã trao giải cho 57 bài thi xuất sắc, gồm: 1 giải A, 3 giải B, 6 giải C, 22 giải khuyến khích, 25 giải chuyên đề, đồng thời tuyển chọn 20 bài thi xuất sắc tham gia Vòng chung kết Cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc toàn quốc năm 2022. Kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2022); 54 năm Chiến thắng Đồng Lộc, tưởng niệm 54 năm ngày hy sinh của 10 nữ liệt sỹ TNXP (24/7/1968 - 24/7/2022), tại Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, Báo Nhân Dân, tỉnh Hà Tĩnh, Tạp chí Cộng sản, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức chương trình nghệ thuật “Cõi thiêng Đồng Lộc”. Từ ngày 28/7-30/7, Hà Tĩnh tham gia Hội diễn nghệ thuật quần chúng “Câu hò nối những dòng sông” do Cục Nghệ thuật biểu diễn phối hợp với 6 tỉnh Bắc Trung bộ tổ chức. Hà Tĩnh đã xuất sắc giành huy chương bạc toàn đoàn và 1 huy chương vàng, 3 huy chương bạc các tiết mục… - Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong tháng, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức kiểm tra 12 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao, nhắc nhở các cơ sở kinh doanh chấp hành các quy định của pháp luật, bổ sung các trang thiết bị cần thiết, đặc biệt chú trọng vào công tác trực cứu hộ, đảm bảo an toàn trong hoạt động bơi lội. Bên cạnh đó, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã cấp 14 giấy phép: 01 giấy phép lĩnh vực du lịch, 12 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở, 01 giấy phép lĩnh vực di sản văn hóa. - Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Tại Giải vô địch trẻ Karate quốc gia năm 2022 diễn ra tại nhà thi đấu thể dục thể thao tỉnh Quảng Nam, đoàn Hà Tĩnh dành được 15 huy chương các loại, xếp thứ tư toàn đoàn. Cụ thể: 7 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, 5 huy chương đồng. Thể thao quần chúng: Trong tháng, các hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động như: ngày 26/7 diễn ra Giải Bóng chuyền hơi nam - nữ do Công đoàn Khối Nội chính - Chính quyền tổ chức nhân kỷ niệm 93 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929-28/7/2022); ngày 28-29/7 diễn ra Giải Cầu lông trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao Hà Tĩnh lần thứ IX năm 2022 tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể dục thể thao tỉnh thu hút hơn 200 VĐV tham gia. Ngoài ra, trong tháng nhiều huyện tổ chức khai mạc Đại hội thể dục thể thao, đến nay 100% huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức xong Đại hội thể thao cấp cơ sở, Đại hội nhằm thúc đẩy phong trào luyện tập thể dục, thể thao, rèn luyện sức khỏe trong toàn thể cán bộ, công nhân, viên chức và Nhân dân; đồng thời nhằm phát hiện, tuyển chọn những vận động viên xuất sắc cho các giải thể thao thành tích cao. 5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/7-14/8/2022 xảy ra 9 vụ tai nạn đường bộ làm 6 người chết, 6 người bị thương, ước tính thiệt hại 150 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, giảm 5 người chết, tăng 3 người bị thương. Tính chung 8 tháng năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/8/2022) đã xẩy ra 62 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 52 người chết, 28 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 1 tỷ; so với cùng kỳ giảm 9 vụ (giảm 12,68%), giảm 7 người chết (giảm 11,86%), tăng 3 người bị thương (tăng 12,0%), ước tính thiệt hại tăng 532 triệu đồng. 6. Môi trường - Tình hình cháy ,nổ: Từ ngày 15/7/2022 đến ngày 14/8/2022 đã xảy ra 9 vụ cháy, nổ; làm 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 238,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ giảm 2 vụ, giảm 1 người chết; tăng 1 người bị thương, thiệt hại tăng 179,5 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra ra 34 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, 1 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 2.265,5 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ giảm 1 vụ; giảm 2 người chết; giảm 1 người bị thương; thiệt hại ước giảm 150,5 triệu đồng. Nguyên nhân xảy ra tai nạn chủ yếu là đi sai làn đường quy định và không nhường đường dành cho người đi bộ. - Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/7 đến ngày 14/8/2022 đã phát hiện 66 vụ, đã xử lý 44 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 81,48 triệu đồng; so với tháng trước tăng 32 vụ đã phát hiện (tăng 94,12%), tăng 21 vụ đã xử lý (tăng 91,30%), số tiền nộp phạt giảm 81,17 triệu đồng (giảm 49,90%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 44 vụ đã phát hiện (tăng 200%), tăng 29 vụ đã xử lý (tăng 193,33%), số tiền xử phạt giảm 23,22 triệu đồng (giảm 22,18%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 64 vụ (chiếm 96,96%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 1 vụ (1,52%) và xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 1 vụ (1,52%). Tính chung 8 tháng đầu năm (ngày 15/12/2021 - 14/8/2022) đã phát hiện 608 vụ, đã xử lý 420 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1.556,99 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước tăng 503 vụ (tăng 4,79 lần), tăng 343 vụ đã xử lý (tăng 4,45 lần), tăng số tiền nộp phạt 427,74 triệu đồng (tăng 37,88%). 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, ngày 21/7 trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ sét đánh, làm 1 người tử vong. So với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người chết, số người bị thương không đổi. Tính chung từ đầu năm đến nay, ở Hà Tĩnh đã xảy ra 6 vụ thiên tai, cụ thể là 1 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 1 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 3 vụ sét đánh (ngày 26/5; ngày 14/6 và ngày 21/7), 1 vụ lốc xoáy (ngày 14/6); làm chết 4 người; làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ thiên tai, số người chết không đổi, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 7 và 7 tháng năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 16:22

I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong tháng 7 năm 2022, bà con nông dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu 2022. Hiện nay thời tiết diễn biến bất thường, mưa nắng đan xen, nền nhiệt thay đổi đột ngột tạo môi trường cho sinh vật gây hại dễ phát sinh lây lan; hoạt động chăn nuôi vẫn chưa có tín hiệu tích cực, mặc dù dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt nhưng hậu quả vẫn còn ảnh hưởng nặng nề, cùng với đó là chi phí thức ăn chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán cơ bản ổn định nên người dân rất e ngại trong việc tái đàn; hoạt động lâm nghiệp tiếp tục thực hiện trồng, khai thác và chăm sóc rừng, chú trọng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trong những ngày nắng nóng kéo dài; hoạt động thủy sản vẫn đang gặp khó khăn do chi phí xăng dầu tăng cao, một số tàu không hoạt động hoặc chỉ đánh bắt gần bờ nên sản lượng trong tháng giảm so với cùng kỳ năm trước.1.1 Sản xuất nông nghiệp                *Trồng trọt - Công tác chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2022. Định hướng về diện tích sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 đối với một số loại cây trồng như sau: Diện tích lúa 45.413 ha, năng suất 50,20 tạ/ha, sản lượng 227.967 tấn; diện tích đậu 3.695 ha, năng suất 10,57 tạ/ha, sản lượng 3.904 tấn; diện tích ngô lấy hạt 1.649 ha, năng suất 36,75 tạ/ha, sản lượng 6.060 tấn; diện tích ngô sinh khối 510 ha, năng suất 23,22 tấn/ha, sản lượng 11.840 tấn; diện tích lạc 430 ha, năng suất 21,30 tạ/ha, sản lượng 916 tấn; diện tích khoai lang 644 ha, năng suất 61,66 tạ/ha, sản lượng 3.970 tấn; diện tích rau 2.615 ha, năng suất 67,56 tạ/ha, sản lượng 17.664 tấn; diện tích vừng 604 ha, năng suất 8,39 tạ/ha, sản lượng 507 tấn. - Kết quả gieo trồng cây hàng năm vụ Hè Thu 2022 Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2022 toàn tỉnh ước tính bằng 98,81% (giảm 533 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,2% (giảm 991 ha) so với kế hoạch. Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu 2022 giảm cả so với kế hoạch cũng như cùng kỳ năm trước là do năm nay thu hoạch lúa vụ Xuân kết thúc muộn hơn cùng kỳ nhiều năm từ 7-10 ngày nên đã ảnh hưởng lớn đến việc triển khai sản xuất vụ Hè Thu. Cùng với đó, do ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để triển khai thực hiện các dự án và xây dựng đường cao tốc Bắc Nam nên diện tích lúa Hè Thu của một số địa phương bị giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2021. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa ước tính giảm so với cùng kỳ năm trước như: Huyện Đức Thọ giảm 477 ha, thành phố Hà Tĩnh giảm 82 ha, Nghi Xuân giảm 71 ha, thị xã Hồng Lĩnh giảm 38 ha… Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2022 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 12/7/2022, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 1.822 ha, đạt 114,1% kế hoạch; khoai lang 201 ha, đạt 31,2% kế hoạch; lạc 143 ha, đạt 33,3% kế hoạch; rau các loại 2.470 ha, đạt 94,5% kế hoạch. Nhìn chung, điều kiện thời tiết năm nay diễn biến rất bất thường, giá vật tư và dịch vụ nông nghiệp tăng, thu hoạch vụ Xuân kết thúc muộn nên đã ảnh hưởng đến lịch thời vụ…Đây chính là những nguyên nhân làm cho kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu 2022 đạt thấp so với kế hoạch. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đẻ nhánh phát triển thân lá mạnh. Tuy nhiên thời tiết mưa nắng thất thường, nền nhiệt thay đổi đột ngột tạo điều kiện cho sinh vật gây hại phát sinh nên bà con nông dân cần chú ý và có biện pháp phòng ngừa.- Tình hình sâu bệnh, thiệt hạiHiện nay, trên lúa Hè Thu có sâu bệnh phát sinh gây hại nhưng mức độ ảnh hưởng thấp, cụ thể: Ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên trà gieo cấy muộn, ruộng sâu trũng, ngập nước, mật độ trung bình 3-5con/m2, nơi cao 5-7con/m2, diện tích nhiễm 40 ha; bọ trĩ gây hại trên những chân ruộng khô hạn, không chủ động nước ở Lộc Hà, thị xã Hồng Lĩnh với diện tích nhiễm 6 ha; chuột gây hại trên trà lúa gieo thẳng gần gò đồi, gần làng, tỉ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 9 ha, phân bố ở Thạch Hà, Vũ Quang, thị xã Hồng Lĩnh; bệnh nghẹt rễ sinh lý gây hại rải rác vùng chua phèn, ngập nước ở Can Lộc, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu phát sinh gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 11 ha và bệnh đốm lá 4 ha, tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Trên cây ăn quả có múi thì nhện nhỏ gây hại tỉ lệ 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích nhiểm bệnh 88 ha; sâu đục thân, đục cành 9 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc...*Chăn nuôiSố lượng đàn vật nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh tháng 7/2022 nhìn chung vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, mặc dù các loại dịch bệnh cơ bản được khống chế và dập tắt. Tuy nhiên, hậu quả của dịch bệnh vẫn ảnh hưởng nặng nề đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh. Cùng với đó, chi phí chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán sản phẩm không tăng đã gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 12/7/2022, theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, còn có 1 con bò tại xã Quang Thọ, huyện Vũ Quang đang mắc bệnh viêm da, nổi cục chưa qua 21 ngày (đã có 1 con bò chết và tiêu hủy); có 2 hộ nuôi với 12 con lợn trọng lượng 559 kg, tại thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên mắc dịch tả lợn Châu Phi đã tiêu hủy và ổ dịch này chưa qua 21 ngày; dịch cúm gia cầm H5N1 xẩy ra tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ làm 1.650 con gia cầm ốm chết phải tiêu hủy. Các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, khi dịch chưa qua 21 ngày nên vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, trước hết là các hộ chăn nuôi cần phải luôn chủ động, tăng cường công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh xẩy ra, tránh thiệt hại về kinh tế và môi trường chăn nuôi.1.2 Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 7/2022 nhìn chung ổn định. Tranh thủ các đợt mưa trong tháng thì hoạt động trồng rừng tập trung vẫn tiếp tục được triển khai với kết quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 7/2022 tuy tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 36,4% so với tháng trước. Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng nên thiếu sự ổn định giữa các tháng. Trong tháng không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 11 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá là 11,4 ha, tăng 6 vụ và tăng 8,9 ha so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng mà đã xẩy ra 51 vụ phá rừng (tăng 28 vụ), với diện tích rừng bị phá là 23,9 ha (tăng 14,9 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.1.3 Thủy sảnHoạt động sản xuất thủy sản tháng 7/2022 không có nhiều biến động, tổng sản lượng thủy hải sản ước tính giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển gặp khó khăn do chi phí xăng, dầu, nhân công...ngày càng tăng trong khi nguồn lợi hải sản ngày càng giảm. Cùng với đó, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, đa số phương tiện đánh bắt khai thác ở vùng lộng nên sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế đạt được không cao. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè năm 2022. Nhìn chung năm nay do dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, dịch vụ ăn uống phát triển mạnh nên nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy hải sản tăng đã làm cho mức tiêu thụ và giá bán đối với tôm nuôi tương đối ổn định hơn so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh: Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2022, dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã thuộc 2 huyện (Nghi Xuân, Thạch Hà) với diện tích 6,53 ha; dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 9 xã thuộc 6 huyện (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân) với tổng diện tích 86,8 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, dùng hóa chất Chlorine dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm.2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 7 gặp nhiều khó khăn. Do ảnh hưởng biến động của thị trường thép trong và ngoài nước, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép giảm nên Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh điều chỉnh giảm gần 10% giá bán thép cuộn cán nóng trong nước. Đồng thời sản lượng thép sản xuất giảm mạnh so với tháng trước và cùng kỳ năm trước vì lượng hàng tồn nhiều và gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, tổ máy số 1 của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 ngừng hoạt động từ ngày 19/9/2021 đến nay vẫn chưa hoạt động trở lại. Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 cũng như 7 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước.2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP)Ước tháng 7/2022 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 6/2022 giảm 29,74% và giảm 29,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,85% so với tháng trước và giảm 3,53% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 33,97% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này giảm 29,55%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,2% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 33,52%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,29% so với tháng 6/2022 và giảm 4,12% so với tháng 7/2021.Nhìn chung 7 tháng năm 2022 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn ước giảm 10,78% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,33%, làm giảm 0,1 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,26% làm giảm 3,59 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 38,31%, làm giảm 6,88 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,36%, làm giảm 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành.2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm cộng dồn 7 tháng tăng so cùng kỳ và có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 91,19%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 42,62%; chè (trà) nguyên chất tăng 23,67%; dịch vụ sản xuất dược tăng 17,76%; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 17,18%; điện thương phẩm tăng 16,07%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 13,91%; …Sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2022 giảm so với cùng kỳ năm trước: điện sản xuất giảm 39,91%; mực đông lạnh giảm 35,9%; quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 16,89%; nước không uống được giảm 9,92%; đá xây dựng khác giảm 6,42%; thức ăn cho gia súc giảm 5,04%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 4,88%; …2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệpChỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2022 tăng 0,16% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,63%. Tính chung 7 tháng năm 2022 chỉ số sử dụng lao động giảm 6,55% so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 8,94%) so với cùng kỳ năm trước. Do khó khăn trong sản xuất bởi hậu quả của dịch Covid-19 nên một số doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ thu hẹp sản xuất, giảm lao động. Cùng với đó, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất cũng đã giảm được nguồn nhân lực. 3. Vốn đầu tưTháng 7/2022 công tác giải ngân vốn tiếp tục tăng so với tháng trước (tăng 6,29%) và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tăng 17,61%). Trong đó, nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh và vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu tăng mạnh (tăng 43,16%) so với cùng kỳ, đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước (chiếm 74,72%). Bên cạnh đó các công trình nông thôn mới như rải thảm đường, xây dựng kiên cố hóa kênh mương, xây dựng hạ tầng tiếp tục thi công theo tiến độ đề ra; thời tiết thuận lợi, dịch bệnh bão hòa, nguồn vốn được đảm bảo nên nguồn vốn đầu tư ngân sách cấp huyện cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tăng 55,22%). Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 7/2022 đạt 518,77 tỷ đồng, tăng 6,29% so với tháng trước, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 388,70 tỷ đồng, tăng 5,71% so với tháng trước, tăng 15,84% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 99,83 tỷ đồng, tăng 6,23% so với tháng trước và tăng 55,22% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 30,24 tỷ đồng, tăng 14,62% so với tháng trước và giảm 26,64% so với cùng kỳ năm trước.Dự ước 7 tháng năm 2022, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.862,81 tỷ đồng, đạt 38,22% kế hoạch năm, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.190,2 tỷ đồng, chiếm 76,51% tổng vốn, tăng 7,53% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 543,19 tỷ đồng, chiếm 18,97% tổng vốn, tăng 26,37% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 129,42 tỷ đồng, chiếm 4,52% tổng vốn, giảm 53,44% so với cùng kỳ. Nhìn chung 7 tháng năm 2022 mặc dù vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng so với cùng kỳ năm trước tuy nhiên so vốn kế hoạch đạt thấp (đạt 31,29%). Nguyên ngân do thời gian đầu năm, chủ đầu tư chủ yếu đang thực hiện các công trình vốn chuyển tiếp từ các năm trước. Đối với những dự án mới, các đơn vị đang tập trung cho bước chuẩn bị đầu tư như lập dự án, thiết kế, báo cáo kinh tế kỹ thuật…. Mặt khác, nguồn vốn giao chậm, giá trị nghiệm thu giải ngân thấp, đặc biệt vốn ODA. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân khác như ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu… cũng đã phần nào làm cho công tác giải ngân vốn đầu tư công chậm.4. Thương mại, dịch vụNhìn chung tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 7 vẫn giữ được sự ổn định và có doanh thu cao hơn so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá cả hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng tăng cao, trong khi thu nhập của người dân tăng không tương xứng với giá trị, dẫn đến ảnh hưởng sức tiêu dùng của người dân.4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng- Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 7/2022 ước đạt 4.434,35 tỷ đồng, giảm 0,31% so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (33,17%). Trong đó, so với tháng trước tăng chủ yếu ở các nhóm hàng thiết yếu như: Lương thực, thực phẩm tăng 1,51%; Hàng may mặc tăng 2,64%; Nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 1,62%; Vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 7,53%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,48%. Và chỉ giảm duy nhất ở nhóm hàng xa xỉ Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 16,06% so với tháng trước.Kết quả kinh doanh bán lẻ hàng hóa tháng chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi thời tiết nắng nóng kéo dài, các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, thực phẩm, đồ uống, nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các công trình đang thi công tăng cầu tiêu dùng cộng với sự điều chỉnh một loạt chính sách về thuế và điều chỉnh mặt hàng xăng, dầu do Nhà nước quản lý giá.Tính chung 7 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 28.613,83 tỷ đồng, tăng 14,91% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong các nhóm hàng hóa có 10/12 nhóm tăng cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 15,99%; hàng may mặc tăng 10,45%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,47%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 18,6%; phương tiện đi lại tăng 10,44%; xăng, dầu các loại tăng 41,24%; nhiên liệu khác tăng 36,36%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 33,66%; hàng hóa khác tăng 12,17%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 8,67%. Bên cạnh các nhóm hàng tăng vẫn có 2 nhóm hàng hóa biến động giảm so với cùng kỳ: Vật phẩm văn hóa giáo dục giảm 1,4%; ô tô giảm 2,83% so với cùng kỳ năm trước.Nhìn chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa 7 tháng năm 2022 tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh ổn định, hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa có nhiều thuận lợi. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển nên đã ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Trong khi đó, một lượng lớn vốn tín dụng đang bị mắc kẹt tại thị trường bất động sản trong khi vốn sản xuất kinh doanh gặp khó khăn là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 7 tăng tương đối khả quan so với tháng trước. Do trong tháng tập trung các hoạt động cưới hỏi, hội khóa lớp tựu trường dịp nghỉ hè nên các dịch vụ ăn uống, giải khát trong mùa hè doanh thu tăng hơn so với tháng trước, nhất là các quán ăn, nhà hàng, quán giải khát bia hơi, các tiệm trà chanh, các quán chè, nước mía. Các cơ sở kinh doanh giải khát thời vụ mùa hè tại các vỉa hè, lề đường hoạt động mạnh vào dịp này. Hà Tĩnh có vị trí địa lý thuận lợi đó là nằm ở trung tâm dải đất Bắc Trung Bộ, là địa điểm lý tưởng cho các kỳ nghỉ ngắn ngày, với những ưu thế như các bãi biển đẹp, thức ăn ngon...Doanh thu khu vực này dự tính đạt 571,08 tỷ đồng, tăng 3,25% so với tháng trước, tăng 197,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 29,60 tỷ đồng, tăng 9,79% so với tháng trước, tăng 5,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 157.479 lượt, tăng 1,45% so với tháng trước và tăng 3,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ 136.041 ngày (khách quốc tế 932 ngày và khách trong nước 135.109 ngày), tăng 3,56% so với tháng trước, tăng 3,1 lần so với cùng kỳ năm trước.Dịch vụ ăn uống ước đạt 537,37 tỷ đồng, tăng 2,92% so với tháng trước, tăng 185,83% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 4,10 tỷ đồng tăng 1,23% so với tháng trước.Tính chung 7 tháng năm 2022, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.402,29 tỷ đồng, tăng 30,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 141,88 tỷ đồng, tăng 55,88%; lượt khách phục vụ 788.568 lượt, tăng 40,01% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 673.271 ngày, tăng 28,06% so với cùng kỳ năm trước. Ăn uống ước đạt 3.248,20 tỷ đồng, tăng 29,36% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 12,21 tỷ đồng, tăng 66,01% so với cùng kỳ năm trước. Ngành du lịch Hà Tĩnh 7 tháng năm 2022 đánh dấu sự phục hồi rõ rệt, nhưng biện pháp kích cầu du lịch đã mang lại những tín hiệu khả quan. Tuy nhiên, việc tăng mạnh của doanh thu du lịch chủ yếu do quy mô du lịch còn nhỏ cộng với việc cùng kỳ năm trước hoạt động du lịch bị tạm ngừng, cho nên vẫn rất cần thiết việc đầu tư phát triển du lịch chất lượng cao tương xứng với tiềm lực tỉnh nhà.- Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 7 ước tính đạt 219,75 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 146,49% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm ngành dịch vụ khác trong tháng đều tăng so với tháng trước và với cùng kỳ năm trước, do đây là thời điểm giao mùa cao điểm đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng các dự án, công trình nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng, nhu cầu y tế, văn hóa, giải trí và sử dụng các dịch vụ thuê xe, thuê đồ dùng cá nhân và gia đình cũng tăng do vào dịp nghỉ hè các cuộc hội khóa lớp diễn ra khá thường xuyên, tác động đến doanh thu hoạt động dịch vụ khác.Tính chung 7 tháng năm 2022, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.347,03 tỷ đồng, có mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước 32,83%, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 36,68%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 33,95%; giáo dục đào tạo tăng 77,68%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 4,19%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 16,13%; dịch vụ khác tăng 48,17%.4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tiếp nối đà phục hồi tích cực khi tháng 7 doanh thu vận tải tăng cả so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, mở thêm các tuyến vận chuyển, đặc biệt chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa khi các xe quá tải đã chủ động việc hạ khung thành xe về đúng tải trọng đảm bảo môi trường giao thông. Tuy nhiên, giá xăng, dầu tăng liên tục trong thời gian gần đây cũng ảnh hưởng đến giá thành vận chuyển.Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 7/2022 ước đạt 478,06 tỷ đồng, tăng 1,28% so tháng trước và tăng 71,21% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách tăng ước đạt 109,94 tỷ đồng, tăng 1,70% so với tháng trước và tăng 306,96% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.486,1 nghìn HK, tăng 5,54% so với tháng trước và tăng 319,62% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 260,64 triệu HK.km, tăng 8,05% so với tháng trước, tăng 348,73% so với cùng kỳ năm trước.Vận tải hàng hóa ước đạt 296,12 tỷ đồng, tăng 0,98% so với tháng trước và tăng 62,89% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 3.299,4 nghìn tấn, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 62,90% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 84,76 triệu tấn.km, tăng 1,00% so với tháng trước và tăng 67,20% so với cùng kỳ năm trướcDoanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 71,90 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 2,10% so với cùng kỳ năm trướcNguyên nhân tăng hoạt động vận tải tháng 7 là do điều kiện thời tiết nắng nóng người dân chủ yếu sử dụng phương tiện công cộng để đi lại và cũng là giai đoạn cao điểm của mùa du lịch nên nhu cầu về vận tải hành khách tăng. Bên cạnh đó, cũng là thời điểm hoàn thiện các công trình xây dựng tăng, nên dẫn đến nhu cầu vận tải hàng hóa vật liệu xây dựng, đất đá, sắt thép tăng hơn. Các dự án thi công công trình xây dựng trên địa bàn đang tiếp tục phát triển mạnh, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, các công trình chú trọng đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão.Tính chung kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi 7 tháng năm 2022, ước đạt 3.144,65 tỷ đồng, tăng 11,81% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 650,12 tỷ đồng, giảm 7,33%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 7.934,5 nghìn HK, giảm 15,96% và luân chuyển ước đạt 1.344,58 triệu HK.km, giảm 15,92%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.970,33 tỷ đồng, tăng 24,27%; khối lượng vận chuyển ước đạt 22.105,7 nghìn tấn, tăng 25,59% và luân chuyển ước đạt 563,54 triệu tấn.km, tăng 23,69%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 523,70 tỷ đồng, giảm 0,31% so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên kết quả hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 7 tháng năm 2022 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, các tuyến xe liên tỉnh đã bắt đầu hoạt động lại bình thường, cùng với đó hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh, các tuyến giao thông đường bộ nội tỉnh, thôn xóm cũng ngày càng hoàn thiện, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Cùng với sự phát triển của hạ tầng giao thông, việc hồi phục của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 7 năm 2022 ước đạt 492,5 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước (27,30%) và cùng kỳ năm trước (0,39%). Nguyên nhân việc sụt giảm là do các loại hàng hóa nhập khẩu chịu tác động từ tình hình bất ổn của thế giới và những yếu tố bất lợi đối với hoạt động của doanh nghiệp như: chi phí logistics cao, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng cao...- Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 7 ghi nhận sự khó khăn trong hoạt động xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 130,50 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước (giảm 35,61%) và cả so với cùng cùng kỳ (giảm 32,45%). Chủ yếu do biến động giảm của mặt hàng thép, phôi thép (ước đạt 111,74 triệu USD giảm 38,20% so với tháng trước và giảm 35,83% so với cùng kỳ) và việc sụt giảm ở tất cả các mặt hàng xuất khẩu tăng duy nhất ở mặt hàng chè (tăng 33,33% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 14,89 so với cùng kỳ) nhưng với quy mô nhỏ không thể cân bằng lại cán cân xuất khẩu của tỉnh nhà. Mặc dù, hạn chế trong xuất khẩu nhưng cũng ghi nhận việc doanh nghiệp tìm ra các giải pháp cũng như tăng cường tìm kiếm thị trường tiêu thụ ở trong nước.Tính chung 7 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.101,16 triệu USD, giảm 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, ngoài mặt hàng thép nhóm hàng thủy sản cũng có kim ngạch xuất khẩu cộng dồn 7 tháng giảm so với cùng kỳ (thép, phôi thép giảm 6,11%; thủy sản giảm 22,63%). Còn lại tất cả các mặt hàng đều tăng, cụ thể: Dệt và may mặc tăng 120,33%; dăm gỗ tăng 29,48%; xơ, sợi dệt các loại tăng 21,67%; chè tăng 8,66%. Việc mặt hàng chủ lực thép giảm mạnh trong tháng 6 và 7 ảnh hưởng trực tiếp tới kim ngạch xuất khẩu, vì vậy cần nhiều giải pháp chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển logistics tại địa phương.- Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 7/2022 ước đạt 362,0 triệu USD, giảm 23,75% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 20,17%. Trong đó, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa với 329,5 triệu USD. Cộng dồn 7 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.238,21 triệu USD, tăng 12,08% so với cùng kỳ năm trước.5. Chỉ số giá tiêu dùngChỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,02% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2022 chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng hàng hoá những tháng qua trên địa bàn tỉnh chịu nhiều tác động bởi các chính sách quản lý của cơ quan chức năng. Đặc biệt là việc điều chỉnh tăng mạnh giá nhóm mặt hàng thiết yếu xăng, dầu đã ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến giá cả hàng hoá, dịch vụ chung. Mặc dù tính chung chỉ số giá vẫn đang được kiểm soát nhưng có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới.Tháng 7 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 2,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,39% so với tháng trước, tăng 2,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 05 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,77%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,07%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%); 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước (Đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; giao thông giảm 2,24%; bưu chính viễn thông giảm 0,66%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,28%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%) và 01 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước (giáo dục).CPI tháng 7 năm 2022 chịu tác động bởi một số yếu tố sau: (1) Yếu tố mùa vụ: Ảnh hưởng thời tiết nắng nóng tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh đang có xu hướng giảm. Tuy nhiên, mức giảm mới chỉ tác động trực tiếp đến nhóm nhiên liệu, chưa có nhiều ảnh hưởng đến các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác. (3) Giá thép xây dựng đang giảm mạnh, do hoạt động xuất khẩu thép đang gặp khó khăn trong khi trữ lượng thép tồn kho trong nước đang cao. Cùng với đó là chính sách kiểm soát chặt dòng vốn đổ vào thị trường bất động sản khiến nhu cầu thép xây dựng giảm. (4) Giá điện, nước sinh hoạt tiếp tục tăng cao, do nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán điện, nước càng cao.Chỉ số giá vàng tháng 7/2022 giảm 1,92% so với tháng trước, tăng 1,2% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 3,55% so với cùng tháng năm trước.Tính chung CPI 7 tháng năm 2022 tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,67%; nông thôn tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,14%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,32%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,16%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,68%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,2%; giao thông tăng 13,83%; bưu chính viễn thông giảm 0,12%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,36%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Hướng tới Kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2022), UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Kế hoạch cụ thể với nhiều hoạt động thiết thực nhằm thể hiện lòng tri ân sâu sắc với những người có công với cách mạng, đồng thời đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa trên địa bàn. Nằm trong chuỗi hoạt động này đến nay Thành phố Hà Tĩnh đã trao tặng 100 suất quà cho người có công gặp hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách và 10 suất quà cho 10 người có công tiêu biểu, tổng trị giá các suất quà là 77 triệu đồng; Huyện Can Lôc trao 100 suất quà trị giá 180 triệu đồng thuộc chương trình “Nghĩa tình tháng 7” cho các gia đình chính sách và học sinh khó khăn. Cũng trong dịp này Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương hỗ trợ 1 tỷ đồng cho các trường hợp chính sách ở Hà Tĩnh2. Giáo dụcKỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 được tổ chức vào ngày 07, 08/7/2022 với 35 điểm thi, 751 phòng thi chính thức, 92 phòng chờ, 17.371 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó 14.955 thí sinh THPT, 2.416 thí sinh giáo dục thường xuyên). Số thí sinh đăng ký dự thi chỉ để xét tốt nghiệp là 3.455 em, thí sinh đăng ký dự thi để xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, cao đẳng hơn 13.300 em và thí sinh đăng ký dự thi chỉ để xét tuyển sinh đại học, cao đẳng hơn 600 em, điều động gần 2.700 cán bộ, giáo viên, nhân viên và các lực lượng làm nhiệm vụ tại các điểm thi. Với sự chu đáo trong công tác chuẩn bị và thực hiện nghiêm túc tinh thần của Ban Chỉ đạo, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 đã diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Hiện công tác chấm thi đã hoàn thành, dự kiến công bố kết quả trước 24/7/2022. Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh cũng đã công bố điểm chuẩn tuyển sinh vào lớp 10 THPT các trường công lập vào ngày 05/7/2022. Theo đó, điểm sàn tuyển sinh vào các trường THPT không chuyên công lập 22 điểm; đối với trường THPT Chuyên Hà Tĩnh tùy theo môn (môn thấp nhất là Lịch sử với tổng điểm các bài thi đã tính hệ số>=35,25 điểm; môn cao nhất là tổng điểm các bài thi đã tính hệ số Ngữ Văn >=49,5 điểm), đến thời điểm hiện này còn một số trường đang tuyển nguyện vọng 2.3. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Để chủ động ứng phó với diễn biến khó lường của dịch bệnh COVID-19 trước các biến chủng mới, nhằm tăng cường miễn dịch phòng bệnh cho người dân, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Công điện số 1075-CĐ/TU ngày 6/7/2022 về tăng cường tiêm chủng vắc xin phòng bệnh COVID-19.Tổng số ca mắc COVID-19 từ ngày 01/01/2022 đến ngày 17/7/2022 là 51.028 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 52.977 ca mắc. Tình hình điều trị các ca bệnh: chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN; điều trị khỏi 52.326 BN, trong đó có 123 BN tuyến trên, 52.203 BN tại Hà Tĩnh; 52 BN tử vong. Tính đến ngày 15/7/2022 toàn tỉnh đã có 100,61% người được tiêm mũi 1; 98,57% được tiêm mũi 2; 74% được tiêm mũi 3 (mũi nhắc lại lần 1) và 69% người trên 50 tuổi, người trên 18 tuổi bị suy giảm miễn dịch, người trên 18 tuổi thuộc nhóm nguy cơ cao phơi nhiễm được tiêm mũi nhắc lại lần 2 (mũi 4). Đối với trẻ em từ 12 đến dưới 18 tuổi, có 100,15% trẻ được tiêm mũi 1 vắc-xin phòng COVID-19, 98,56% trẻ được tiêm mũi 2 và 12,21% trẻ được tiêm mũi nhắc lại lần 1. Ở độ tuổi từ 5 đến dưới 12 tuổi, đã có 41,76% được tiêm mũi 1 vắc-xin phòng COVID-19, trên 20% trẻ được tiêm mũi 2.- Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xuất hiện 1 ổ dịch sốt xuất huyết Dengue, với 4 người mắc, không có người chết vì dịch. Trong bối cảnh dịch sốt xuất huyết đang bùng phát tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước, ngành y tế Hà Tĩnh đã khuyến cáo người dân tuyệt đối không chủ quan và cần chủ động các giải pháp phòng, chống dịch bệnh. Ngoài ra, trong tháng còn một số ca bệnh đơn lẻ: có 4 ca mắc sốt xuất huyết (giảm 71,43% so với cùng kỳ năm trước), 1 ca mắc sốt rét (giảm 97,67 ca), 7ca mắc bệnh quai bị (giảm 56,25%), 9 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 65,38%); 12 ca mắc lỵ a míp (giảm 61,29%); 15 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 42,31%); 1.088 ca mắc bệnh cúm (giảm 51,47%); 7 ca chân tay miệng (tăng 7 ca); tiêu chảy 203 ca (tăng 203 ca); viêm gan vi rút khác 3 ca (tăng 3 ca). Ngoại trừ sốt xuất huyết, thì tất cả các ca bệnh còn lại không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, không có người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS và đồng thời cũng không có người chết vì AIDS. Tính chung 7 tháng năm 2022 có 12 người nhiễm mới HIV, 6 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 18 người (giảm 60%) nhiễm mới HIV, giảm 21 người (giảm 77,78%) chuyển thành AIDS , số người chết vì AIDS không đổi.- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thời gian qua, Hà Tĩnh đã đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe người dân. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, có 136 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước số vụ ngộ độc tập thể không đổi, tăng 14 ca (tăng 11,48%) ngộ độc đơn lẻ, số ca tử vong không đổi. Tính chung 7 tháng năm 2022 có 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 481 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 204 ca (giảm 29,8%), số ca tử vong không đổi.4. Hoạt động văn hoá, thể thao - Hoạt động văn hóa: Trong tháng, hưởng ứng Ngày Gia đình Việt Nam năm 2022 với chủ đề “Gia đình bình an - xã hội hạnh phúc”, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch phối hợp với huyện Lộc Hà tổ chức lễ phát động tuyên truyền đạo đức, lối sống trong gia đình. Ngoài ra, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Hương Sơn đã tổ chức trao giải Hội thi “Hát ru trực tuyến lần thứ nhất” và “Dân vũ thể thao trực tuyến trong hệ thống hội” năm 2022, nhằm gìn giữ và bảo tồn các làn điệu hát ru, đồng thời góp phần thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại; Chào mừng 15 năm ngày thành lập thành phố Hà Tĩnh và các sự kiện lớn trong năm 2022, ngày 9/7, Câu lạc bộ (CLB) Moning, CLB TLD Hà Tĩnh đã tổ chức đêm Liên hoan khiêu vũ, dân vũ 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với 13 CLB, 260 diễn viên tham gia trình diễn 20 tiết mục khiêu vũ, dân vũ.- Hoạt động thể thao: + Thể thao thành tích cao: Trong tháng, Đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 10 giải đấu, đạt 73 huy chương các loại (gồm 29 huy chương vàng, 22 huy chương bạc, 22 huy chương đồng). Trong đo, nổi bật giành 6 huy chương tại Giải Vô địch Muay trẻ quốc gia 2022 (2 HCV, 4 HCĐ) diễn ra từ ngày 22-28/6 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.+ Thể thao quần chúng: Trong tháng, các hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động như: Khai mạc Đại hội thể dục thể thao huyện Can Lộc lần thứ IX, Đại hội thể dục thể thao huyện Nghi Xuân lần thứ IX; Đại hội thể dục thể thao huyện Hương Sơn lần thứ VI; Đại hội thể dục thể thao thị xã Hồng Lĩnh lần thứ VII;... Đại hội nhằm thúc đẩy phong trào luyện tập thể dục, thể thao, rèn luyện sức khỏe trong toàn thể cán bộ, công nhân, viên chức và Nhân dân; đồng thời nhằm phát hiện, tuyển chọn những vận động viên xuất sắc cho các giải thể thao thành tích cao...Ngoài ra, còn có các hoạt động thể thao do các Sở, ban, ngành tổ chức.5. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/6 - 14/7/2022 toàn tỉnh xảy ra 7 vụ tai nạn đường bộ, làm 7 người chết, 3 người bị thương, thiệt hại 160 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ tai nạn (giảm 22,22%), giảm 2 người chết (giảm 22,22%), số người bị thương không đổi. Như vậy, tính chung 7 tháng  năm 2022, Hà Tĩnh xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 46 người và bị thương 22 người, tổng thiệt hại ước tính 850 triệu đồng. So cùng kỳ năm 2021 giảm 7 vụ (giảm 11,67%), giảm 2 người chết (giảm 4,12%) và số người bị thương không đổi. Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông đường bộ là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định.6. Môi trường- Tình hình cháy nổ: Từ ngày 15/6/2022 đến ngày 14/7/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy 8 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại về tài sản 11 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ cháy, nổ tăng 1 vụ, giảm thiệt hại 36 triệu đồng. Tính chung 7 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh đã xẩy ra 25 vụ cháy, nổ làm 1 người chết và không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 2.027 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước số vụ chảy, nổ tăng 1 vụ; giảm 1 người chết; giảm 1 người bị thương; thiệt hại ước giảm 330 triệu đồng.- Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/6 đến ngày 14/7/2022 đã phát hiện 34 vụ, đã xử lý 23 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 162,65 triệu đồng; so với tháng trước số vụ đã phát hiện không đổi, số vụ đã xử lý tăng 10 vụ (tăng 76,92%), tăng số tiền nộp phạt 118,76 triệu đồng (tăng 270,59%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 26 vụ đã phát hiện (tăng 325%), tăng 13 vụ đã xử lý (tăng 130%), số tiền xử phạt giảm 14,85 triệu đồng (giảm 8,37%).Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 32 vụ (chiếm 94,12%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 1 vụ (chiếm 2,94%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 1 vụ (2,94%).Tính chung 7 tháng năm 2022 (ngày 15/12/2021 - 14/7/2022) đã phát hiện 542 vụ, đã xử lý 376 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1475,51 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ phát hiện tăng 459 vụ (tăng 5,53 lần), số vụ xử lý tăng 314 vụ (tăng 5,06 lần), tăng số tiền nộp phạt 450,96 triệu đồng (tăng 44,02%).7. Tình hình thiên taiTrong tháng, không xảy ra thiên tai, so với cùng kỳ năm trước không đổi. Tính chung 7 tháng năm 2022, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ thiên tai, cụ thể là 1 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 1 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 2 vụ sét đánh (ngày 26/5 và 14/6), 1 vụ lốc xoáy (ngày 14/6); làm chết 3 người; làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ thiên tai, tăng 1 người chết, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2022 tỉnh Hà Tĩnh
  •   17/07/2024 11:07

Năm 2022 là năm thứ hai Hà Tĩnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ 5 năm 2021-2025; là năm đầy ý nghĩa khi Hà Tĩnh chúng ta tổ chức kỷ niệm 65 năm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh và 15 năm thành lập thành phố Hà Tĩnh. Tuy nhiên, nhìn lại 6 tháng qua, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức. Dịch COVID-19 bùng phát mạnh sau Tết Nguyên đán; tác động của xung đột Nga - Ukraine làm giá xăng, dầu tăng cao kéo theo giá nguyên liệu, hàng hóa cơ bản tăng; trong sản xuất nông nghiệp chịu tác động bởi dịch bệnh, thời tiết diễn biến khó lường... đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Trong bối cảnh đó, cả hệ thống chính trị đã tập trung cao trong phòng, chống dịch; các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm; tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đấu tư; tích cực hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của nhân dân, Hà Tĩnh đã đạt được những kết qủa nhất định. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng khá (trên 32%); thu ngân sách vượt xa so với cùng kỳ năm trước; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả cụ thể được thể hiện trên các lĩnh vực sau:I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Tốc độ tăng trưởng, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 1.1. Về tăng trưởng: Tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 23.529 tỷ đồng, tăng 0,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 0,22%; khu vực Công nghiệp, xây dựng giảm 8,34%, trong đó ngành Công nghiệp giảm 11,46%; khu vực Dịch vụ tăng 6,97%; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 12,04%.1.2. Về cơ cấu kinh tế: 6 tháng đầu năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 15,97%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,10%, trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 29,61%; khu vực Dịch vụ chiếm 36,86%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,07%. Qua số liệu theo giỏi từng năm cho thấy Hà Tĩnh đang phát triển theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp - xây dựng và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp.Nhìn vào bức tranh kinh tế của Hà Tĩnh cho thấy, đây là kỳ đầu tiên của kế hoạch 5 năm 2021-2025 mà Hà Tĩnh chúng ta có mức tăng trưởng thấp nhất.1.3. Một số ngành, lĩnh vực tác động đến tăng trưởng kinh tế*Đối với Khu vực Nông, LN, Thủy sản, trong 6 tháng vừa qua sản xuất nông nghiệp không đạt như kỳ vọng, chỉ tăng nhẹ 0,22% so với cùng kỳ và đóng góp 0,03 điểm % trong tổng mức tăng chung. Nguyên nhân của khu vực này giảm là do:- Sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện thời tiết bất thường xẩy ra ở những thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng như giai đoạn thụ phấn của ngô, lạc, giai đoạn phơi màu của lúa. Ngoài ra bệnh đạo ôn lá trên cây lúa, bệnh héo rũ gốc mốc đen, trắng trên cây lạc, sâu keo mùa trên cây ngô cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, sản lượng của cây trồng. Vì vậy năng suất, sản lượng các loại cây trồng chủ lực đều giảm so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như: Năng suất lúa ước đạt 55,62 tạ/ha (giảm 3,33 tạ/ha); năng suất ngô ước đạt 44,34 ta/ha (giảm 0,46 ta/ha); năng suất lạc ước đạt 26,14 ta/ha (giảm 2,24 ta/ha)..vv. Trong sản xuất chăn nuôi vẫn còn gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh. Ngoài ra, việc chi phí sản xuất từ con giống, thức ăn đều tăng cao trong khi giá lợn hơi không tăng vẫn là rào cản trong việc tái đàn. Vì vậy hoạt động chăn nuôi chỉ tăng nhẹ, cụ thể, Sản lượng thịt trâu xuất chuồng ước đạt 1.901 tấn (tăng 1,12% so với cùng kỳ); sản lượng thịt bò ước đạt 5.150 tấn( tăng 3,41); sản lượng thịt lợn ước đạt 32.209 tấn (tăng 1,32%). Do vậy ngành nông nghiệp đã giảm 0,63% đóng góp -0,08 điểm % trong tổng mức tăng chung và đóng góp -0,53 điểm % trong nội ngành- Ngành lâm nghiệp tăng 7,39% so với cùng kỳ đóng góp 0,07 điểm % trong tổng mức tăng chung. Tuy nhiên do tỷ trọng giá trị của ngành này là không lớn nên chỉ đóng góp 0,45 điểm % trong nội ngành- Ngành thủy sản tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước đóng góp đóng góp 0,04 điểm % trong tổng mức tăng chung, đóng góp 0,3 điểm % trong nội ngành. Nhìn chung, hoạt động khai thác hải sản biển tuy gặp khó khăn do chi phí xăng, dầu, nhân công...ngày càng tăng nhưng do các hoạt động du lịch hồi phục trở lại, nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao với giá cả ổn định nên ngư dân vẫn tiếp tục vươn khơi đánh bắt. Ước tính 6 tháng đầu năm 2022, tổng sản lượng thủy hải sản ước đạt 26,147 nghìn tấn tăng 3,45% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 19,955 nghìn tấn tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước.*Khu vực công nghiệp và xây dựng: Hiện nay trong cơ cấu của nền kinh tế của chúng ta thì khu vực Công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng khá cao (chiếm 37,10%) trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 29,61%, điều này thể hiện đầu tàu phát triển kinh tế của tỉnh hiện nay vẫn là ngành công nghiệp. Tuy nhiên trong 6 tháng vừa qua, hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp tiếp tục bị ảnh hưởng, đặc biệt là ngành sản xuất phân phối điện, cụ thể là Tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 gặp sự cố đang phải ngừng hoạt động đến nay chưa khắc phục được, tổng sản lượng điện chỉ sản xuất được 4.121 triệu KWh giảm 36,34% (giảm 2.362 triệu KWh) so với cùng kỳ. Trong đó, riêng nhà máy nhiệt điện I chỉ sản xuất 1.845 triệu KWh giảm 53,34% (giảm 2.109 triệu KWh) so với cùng kỳ. Ngoài ra trong 6 tháng vừa qua do giá đầu vào tăng trong khi đó giá thành phẩm thép có phần giảm nên sản phẩm phôi thép của Phomosa chỉ sản xuất được 3190 ngàn tấn, giảm 1,67% (giảm 54 ngàn tấn) so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, trong khi các động lực tăng trưởng chính (Formosa, Nhiệt điện Vũng Áng I) sản xuất sụt giảm hoặc tăng trưởng thấp thì sản xuất công nghiệp vẫn chưa có các năng lực mới tăng thêm để đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Với sự sụt giảm lượng điện sản xuất trong 6 tháng vừa qua đã làm cho GRDP ngành Công nghiệp giảm 11,46% so với cùng kỳ và làm giảm 3,94 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP toàn nền kinh tế. Và đây là 2 lý do chính làm cho tổng sản phẩm trong tỉnh không có tăng trưởng.*Đối với khu vực Dịch vụ: Mặc dù trong 6 tháng vừa qua chúng ta đang bình thường mới với tình hình dịch Covid-19, tuy nhiên vào những tháng đầu của quý I/2022 do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 trên diện rộng, số ca lây nhiễm tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng, doanh thu hoạt động kinh doanh hàng hóa, vận tải và dịch vụ đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt một số ngành có GRDP trong quý I giảm như: Dịch vu lưu trú, ăn uống giảm 14,54%; ngành vận tải kho bãi giảm 7,72% so với cùng kỳ năm trước. Bước sang quý II/2022, tình hình dịch Covid -19 dần ổn định trợ lại, song do tình hình giá xăng, dầu tăng đã kéo hàng loạt các mặt hàng tăng theo, đặc biệt là giá nguyên vật liệu và hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, người dân trên địa bàn. Thì đây củng là một trong những những nguyên nhân làm giảm điểm phần trăm của khu vực dịch vụ. Trong 6 tháng 2022 GRDP khu vực dịch vụ chỉ tăng 6,97% là chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của Hà Tĩnh.*Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm được tính trực tiếp vào GRDP, 6 tháng đầu năm 2022 thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 12,04%, đóng góp 1,11 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành, và có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng so với cùng kỳ năm trước.2. Tài chính, ngân hàng2.1 Hoạt động tài chínhTiến độ thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2022 đạt khá trên hầu hết các khu vực; các khoản thu, sắc thuế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Dịch bệnh COVID-19 dần được kiểm soát tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phục hồi và tăng trưởng, qua đó góp phần đóng nộp NSNN cho địa phương. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh và công tác phòng chống dịch Covid-19, phục hồi nền kinh tế.Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/6/2022 đạt 9.997,17 tỷ đồng (tăng 41,54% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 4.456,82 tỷ đồng (chiếm 44,58 % trong tổng thu) tăng 23,55% so với cùng kỳ. Một số sắc thuế thu vượt cao như: Thu tiền sử dụng đất 1.541,66 tỷ đồng (tăng 46,41% so với cùng kỳ); thu thuế thu nhập cá nhân 302,61 tỷ đồng (tăng 80,18% so với cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài 888,22 tỷ đồng (tăng 57,54%); thu cấp quyền khai thác khoáng sản 53,77 tỷ đồng tăng 185,54%…Một số nguyên nhân chủ yếu số thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng do số nộp từ thuế nhà thầu của Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II và số nộp của việc bán hàng hóa tồn kho năm 2021 của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Thu tiền sử dụng đất tăng do tiền sử dụng đất thu được từ hồ sơ quy hoạch đấu giá thực hiện hoàn thành cuối năm 2021, số nộp vào đầu năm 2022. Thuế thu nhập cá nhân cũng tăng cao hơn do thị trường mua bán, chuyển nhượng bất động sản trong những tháng đầu năm 2022 sôi động;… Bên cạnh thu nội địa, thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu đạt 5.094,35 tỷ đồng (chiếm 50,96% tổng thu) tăng 87,91% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh tăng mạnh sản lượng nhập khẩu các mặt hàng trọng điểm có thuế là than, dầu, quặng…Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/6/2022 sơ bộ đạt 7.488,48 tỷ đồng giảm 15,33% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển sơ bộ đạt 2.494,60 tỷ đồng chiếm 33,31% tổng chi, giảm 33,76% so với cùng kỳ; chi thường xuyên sơ bộ đạt 4.933,08 tỷ đồng chiếm 65,88% tổng chi, giảm 2,76% so với cùng kỳ năm 2021.2.2 Hoạt động ngân hàngDịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cũng như cả nước đã được kiểm soát tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp dần được phục hồi. Do đó, 6 tháng đầu năm 2022 nhu cầu tín dụng của người dân và doanh nghiệp để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 11,39% so với cuối năm 2021. Tuy nhiên, do nguồn tiền gửi của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn giảm mạnh nên nguồn vốn huy động toàn địa bàn giảm 0,73% so với thời điểm cuối năm trước.Ước nguồn vốn huy động đến 30/6/2022 đạt 86.785 tỷ đồng, giảm 0,73% so với cuối năm 2021.Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 11.956 tỷ đồng, chiếm 13,78% tổng nguồn vốn huy động, tăng 3,73% so với cuối năm 2021; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 74.829 tỷ đồng, giảm 1,4% so với đầu năm. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 60.445 tỷ đồng, tăng 4,14% so với đầu năm; tiền gửi thanh toán đạt 25.890 tỷ đồng, giảm 10,53% so với đầu năm. Ngay từ đầu năm, các TCTD trên địa bàn đã đẩy mạnh các chương trình ưu đãi nhằm thu hút nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư như chương trình tiết kiệm dự thưởng… Nhờ đó, nguồn tiền gửi tiết kiệm dân cư tăng so với cuối năm 2021. Tuy nhiên, nguồn tiền gửi của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn giảm mạnh dẫn đến nguồn vốn huy động toàn địa bàn giảm so với cuối năm 2021.Dư nợ cho vay đến 30/6/2022 đạt 79.950 tỷ đồng, tăng 11,39% so với cuối năm 2021. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 53.865 tỷ đồng (chiếm 67,37% tổng dư nợ), tăng 10,4% so với cuối năm 2021; dư nợ trung dài hạn đạt 26.085 tỷ đồng (chiếm 32,63% tổng dư nợ), tăng 13,47% so với cuối năm 2021. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng khá, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn tăng 10,61% so với cuối năm 2021, cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 28,71% so với đầu năm, cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 11,49%. 6 tháng đầu năm 2022, nhu cầu tín dụng của người dân và doanh nghiệp để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh tăng cao. Ngoài ra, trong thời gian tới, với việc triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước 40.000 tỷ đồng, sẽ góp phần thúc đẩy tín dụng trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới tiếp tục có mức tăng trưởng tốt.Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 2,9-3,8% đối với tiền gửi từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4-6%/năm đối với tiền gửi từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,3-6,6%/năm đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến 4,5-10%/năm, trung dài hạn phổ biến 8,5-12%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 1,04-3%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 2,0-4,5%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Tính đến 30/6/2022 nợ xấu ước tính 595 tỷ đồng, chiếm 0,74% tổng dư nợ. Trong đó, nợ xấu chương trình cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP 132,09 tỷ đồng chiếm 22,22% nợ xấu toàn địa bàn. 3. Giá cả, lạm phát Tháng 6 củng như 6 tháng đầu năm, tình hình giá cả trên thị trường đều có sự biến động lớn. Một số nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so cùng kỳ, đặc biệt là giá nhiên liệu xăng, dầu tăng cao đã kéo theo các nhóm mặt hàng như điện, nước sinh hoạt, vật liệu xây dựng tăng theo đã ảnh hưởng đến chi tiêu người tiêu dùng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người dân. Trong tháng 6 năm 2022, chỉ số CPI chung tăng 0,56% so với tháng trước, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 1,79% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,67% so với tháng trước, tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước.Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm (Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,22% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 2,76%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,81% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,59%; giao thông tăng 3,21% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 17,85 %; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18% so tháng trước, tăng 4,09% so cùng tháng năm trước); có 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước đó là (Bưu chính viễn thông giảm 0,04% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,93%); có 03 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (Đồ uống và thuốc lá; giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế).Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 6/2022 đó là: (1) Yếu tố mùa vụ: Ảnh hưởng thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh. (2) Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh tiếp tục tăng mạnh so tháng trước và thời điểm đầu năm, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. (3) Giá vật liệu xây dựng tiếp tục tăng giá, do chi phí sản xuất và vận chuyển trong những tháng qua tăng cao. (4) Giá điện, nước sinh hoạt tăng cao, do nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán điện, nước càng cao.Giá vàng bình quân trong tháng 6 ở mức 5.422 nghìn đồng/chỉ 9999, giảm 1,47% so với tháng trước, tăng 1,09% so với cùng tháng năm trước; giá đô la mỹ bình quân 2.384 nghìn đồng/100 USD tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 2,89% so với cùng tháng năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,66%; nông thôn tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,45%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,34%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,96%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,8%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,22%; giao thông tăng 13,85%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%; giáo dục tăng 0,17%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,12%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước.Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 7/2022 sẽ tăng hơn so tháng 6/2022. Giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tiếp tục tăng do tính chất thời vụ mùa du lịch biển. Giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài. Một số mặt hàng khác dự kiến có thể tiếp tục tăng giá gồm hàng điện lạnh, xăng dầu các loại. 4. Đầu tư và xây dựng6 tháng đầu năm 2022, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có hiệu quả các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, là điểm sáng của cả nước trong việc thu hút đầu tư. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 15.243 tỷ đồng, tăng 32,61% so với cùng kỳ năm trước. 4.1 Vốn đầu tư phát triển Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 15.243 tỷ đồng, tăng 32,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.892 tỷ đồng, tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 9.637 tỷ đồng, tăng 16,05% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 2.713 tỷ đồng, tăng 6,1 lần so với cùng kỳ năm trước. Với mức tăng này đã phản ánh kết quả của các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cộng đồng doanh nghiệp, cũng như xu thế đón đầu dòng vốn ngoài nhà nước và dòng vốn FDI đang chuyển dịch vào Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 được kiểm soát. Trong đó phải kể đến dự án sản xuất Pin do công ty giải pháp năng lượng VinES đầu tư ước đạt 2.407 tỷ đồng và dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 dự ước đạt 2.305 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2022 là nguyên nhân chính dẫn đến vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2022 tăng 32,61% so với cùng kỳ năm trước.4.2 Hoạt động Xây dựngDự ước giá trị xây dựng 6 tháng đầu năm 2022 theo giá hiện hành đạt 9.769 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia thi công các công trình trên địa bàn tỉnh dự ước đạt 4.207 tỷ đồng, tăng 28,95% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 21,7 tỷ đồng, giảm 77,51% với cùng kỳ năm trước; loại hình khác ước đạt 5.539 tỷ đồng, tăng 10,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình xã, phường, thị trấn ước đạt 118 tỷ đồng, bằng 46,86% so với cùng kỳ năm trước; giá trị xây dựng hộ ước đạt 5.421 tỷ đồng, tăng 13,92% so với cùng kỳ năm trước. Loại hình khác giảm mạnh do công trình xã chủ yếu do doanh nghiệp thực hiện, do đó giá trị khu vực này giảm.Thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra và đã triển khai thực hiện ước đạt 2.305 tỷ đồng, trong đó xây dựng cơ bản ước đạt 1.200 tỷ đồng; dự án nhà máy CellPin ước đạt 2.407 tỷ đồng, trong đó giá trị xây dựng 580 tỷ dồng. Ngoài 2 dự án lớn trên, một số dự án khác đang trong quá trình xây dựng như: Nhà máy bia Hà Nội - Nghệ Tĩnh, các khu công nghiệp Cổng Khánh 1 và 2, khu đô thị TNR Stars Hồng Lĩnh (TX Hồng Lĩnh)... cũng đang được các nhà thầu tập trung triển khai thực hiện5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp5.1. Tình hình đăng ký kinh doanhThời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Đến ngày 15/6/2022 toàn tỉnh có 657 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 4.907 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 8.035 lao động (tăng 24,96% về số doanh nghiệp, tăng 35,47% về vốn đăng ký, tăng 70,34% về số lao động so với cùng kỳ năm trước). Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,6 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2021 là 6,96 tỷ đồng). Việc đăng ký thành lập mới doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm tăng khá là tín hiệu tích cực cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế.  Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong 6 tháng vừa qua, do nhiều yếu tố khác nhau như tình hình dịch Covid-19 bùng phát đầu quý I, giá xăng dầu tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nhiệp, cụ thể toàn tỉnh đã có 317 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 15,27% so với cùng kỳ năm 2021), 70 doanh nghiệp giải thể (tăng 34,62% so với cùng kỳ năm 2021).5.2 Thu hút đầu tưTính đến ngày 15/6/2022, Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 10 dự án, trong đó 09 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn hơn 2.600 tỷ đồng, 01 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3 triệu USD. Kêu gọi một số nhà đầu tư lớn vào khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư trên địa bàn tỉnh như: Vingroup đề xuất dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng, khảo sát đầu tư dự án Khu đô thị Vinhomes Kỳ Anh tại phường Kỳ Trinh; Công ty cổ phần Crystal Bay đề xuất dự án Công viên Trung tâm và Khu đô thị Lam Hồng Garden Park City tại thành phố Hà Tĩnh; Công ty Cổ phần Tập đoàn Mặt trời (Sun Group), Công ty cổ phần Tập đoàn Ecopark khảo sát, nghiên cứu đầu tư các dự án đô thị sinh thái và các dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí; Tập đoàn Quế Lâm nghiên cứu, hợp tác đầu tư, phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ.5.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệpQua khảo sát các doanh nghiệp cho thấy, 6 tháng cuối năm, các doanh nghiệp nhận định sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng lên và ổn định sản xuất. Trong đó: Doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo 6 tháng tiếp theo có xu hướng tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (54,76% doanh nghiệp); doanh nghiệp dự báo giữ nguyên là 33,34% và chỉ có 11,9% doanh nghiệp cho rằng 6 tháng tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại.Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo 6 tháng tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (57,14%). Trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 7,15%. Tương tự số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và giữ nguyên trong 6 tháng tiếp theo. Các doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ cao (64,29%). Về lao động. Với tình hình thực tế hiện nay, các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động 6 tháng tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong 6 tháng tiếp theo chiếm đến 71,43% doanh nghiệp, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 19,05% và có 9,52% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động.6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2022 diễn ra trong điều kiện thời tiết bất thường xẩy ra ở những thời điểm sinh trưởng và phát triển quan trọng của cây trồng như: Giai đoạn thụ phấn của ngô, lạc; giai đoạn phơi màu của lúa...tạo điều kiện cho các loại dịch bệnh phát triển, mặt khác cuối vụ xuất hiện đợt mưa lớn kèm theo gió thổi mạnh đã làm nhiều diện tích bị thiệt hại, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất các loại cây trồng; trong chăn nuôi vẫn duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Trong hoạt động lâm nghiệp, việc chăm sóc, trồng rừng tập trung tăng khá. Hoạt động thủy sản có nhiều khởi sắc khi ngành du lịch hoạt động trở lại, nhu cầu về thủy hải sản tăng cao nên khuyến khích người dân ra khơi bám biển.6.1. Sản xuất nông nghiệpa. Trồng trọt*Cây hàng năm Vụ Đông Xuân 2021-2022, toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm sơ bộ đạt 99.257 ha, tăng 134 ha so với cùng kỳ năm trước, tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 384.391 giảm 11.008 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích lúa sơ bộ đạt 59.813 ha, tăng 335 ha so với năm trước, năng suất lúa ước tính đạt 55,99 tạ/ha, giảm 2,96 tạ/ha, sản lượng lúa ước tính đạt 334.874 tấn, giảm 14.919 tấn so với cùng kỳ năm trước; diện tích lạc sơ bộ đạt 8826 ha, giảm 1196 ha, sản lượng ước tính đạt 21.445 tấn, giảm 14.919 tấn so với cùng kỳ; diện tích ngô sơ bộ đạt 10.712 ha, tăng 531 ha, sản lượng ước tính đạt 49.517 tấn, tăng 3.911 tấn so với cùng kỳ.Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay vẫn đạt kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, do vụ Đông Xuân 2020-2021 là một năm được mùa toàn diện, trong khi năm nay năng suất lúa giảm nên sản lượng lương thực giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất lúa giảm chủ yếu là do cuối vụ Hà Tĩnh liên tục chịu ảnh hưởng bởi thời tiết xấu. Trong thời gian lúa trổ, chịu ảnh hưởng các đợt không khí lạnh từ 15-22/4; 30/4-3/5 gây mưa ẩm, nền nhiệt độ 21-250C tạo điều kiện thuận lợi cho bào tử nấm đạo ôn phát sinh, phát triển và gây hại trên diện rộng, diện tích nhiễm bệnh trên toàn tỉnh 425 ha cao hơn so với năm 2021 (năm 2021 là 94 ha). Đặc biệt, trận mưa từ đêm 30/4/2022 đến hết ngày 1/5/2022 kèm theo gió giật mạnh đã khiến hơn 900 ha lúa Đông Xuân trên toàn tỉnh bị đổ ngã, tập trung nhiều nhất ở Cẩm Xuyên với 328 ha, Can Lộc 167,5 ha, Nghi Xuân 74 ha, huyện Kỳ Anh 60 ha...Ngoài cây lạc thì sản lượng các loại cây trồng chủ lực khác vụ Đông Xuân năm nay đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.*Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu năm 2022: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2022 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2022. Tính đến ngày 13/6/2022, ước tính toàn tỉnh gieo cấy được 43.275 ha lúa vụ Hè Thu, đạt 95,3% kế hoạch (diện tích lúa gieo thẳng 42.648 ha và diện tích lúa cấy là 627 ha). Một số địa phương đã hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2022 là: Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh. Các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu 2022 hiện nay đang gieo trỉa.*Cây lâu năm: Tổng diện tích hiện có cây lâu năm ước đạt 31.724 ha, bằng 101,19% tăng 373 ha so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.474 ha, bằng 102,94% tăng 556 ha so với cùng kỳ năm 2021. Diện tích một số loại cây tăng như: Cam tăng 212 ha, bưởi tăng 228 ha, chuối tăng 48 ha, ổi tăng 27 ha, mít tăng 21 ha...Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cải tạo vườn tạp, những năm gần đây, nhiều hộ nông dân trên địa bàn tỉnh đã lựa chọn các cây ăn quả có múi để đưa vào sản xuất nên diện tích tăng. Diện tích cây cao su ước đạt 8.464 ha, bằng 97,38%, giảm 228 ha so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân do Công ty cao su thanh lý diện tích kém hiệu quả, chuyển đổi một phần diện tích cao su, đất rừng trồng của các công ty sang cây trồng khác cho hiệu quả cao hơn và chuyển đổi mục đích sử dụng một số diện tích đất để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Diện tích chè búp ước đạt 1.242 ha, tăng 24 ha. Chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.769 ha, giảm 70 ha. Diện tích trồng chè búp đang ngày một tăng lên, mở rộng thêm do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận. Diện tích cây lâu năm khác ước đạt 638 ha, bằng 112,52%, tăng 71 ha so với cùng kỳ năm 2021.6 tháng đầu năm 2022, sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.440 tấn, bằng 100,69%, tăng 235 tấn so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Sản lượng các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới ước đạt 20.094 tấn, bằng 100,46%, tăng 92 tấn. Chuối tăng 85 tấn, ổi tăng 60 tấn, thanh long tăng 9 tấn...Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.869 tấn, tăng 185 tấn. Sản lượng cam tăng 111 tấn. Sản lượng cao su ước đạt 1.247 tấn, bằng 115,78%, tăng 170 tấn. Sản lượng chè búp ước đạt 5.586 tấn, bằng 102,44%, tăng 133 tấn. Mô hình trồng chè búp đã đạt những kết quả khả quan, hiệu quả cao hơn so với trồng các loại cây công nghiệp khác. Chè xanh (chè hái lá) ước đạt 11.312 tấn, bằng 99,85%, giảm 17 tấn. Nguyên nhân do diện tích bị thu hẹp nên sản lượng chè xanh giảm.*Tình hình sâu bệnh, thiên tai: Hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2022 mới được gieo trồng, chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Đối với cây ăn quả thì bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, câu cấu, sâu vẽ bùa gây hại, phân bố tại các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc.b. Chăn nuôi    Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2022 ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn các loại vật nuôi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng nhẹ. Trong 6 tháng đầu năm 2022, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, nhất là nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào, giá cả ổn định, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, trong khi giá bán sản phẩm không tăng nhưng giá thức ăn và các chi phí chăn nuôi đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua cũng như thời gian tới.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra một số dịch bệnh truyền nhiễm đối với đàn vật nuôi là dịch tả lợn Châu Phi và dịch lở mồm long móng. Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 40 xã thuộc 9 huyện, thành phố, thị xã (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh); số con mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 904 con, với trọng lượng 49 tấn. Tính đến ngày 13/6/2022 trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn có 3 xã, thị trấn của huyện Cẩm Xuyên (xã Nam Phúc Thăng, xã Cẩm Mỹ và thị trấn Cẩm Xuyên) và 1 xã của huyện Vũ Quang (xã Hương Minh) đang có dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày. Dịch lở mồm long móng xẩy ra trong tháng 2/2022 tại thị trấn Đức Thọ và xã Kỳ Bắc với số lượng chỉ có 2 con trâu, 2 con bò mắc bệnh và đã được điều trị khỏi bệnh.  Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm vẫn đạt thấp so với kế hoạch, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2022 tính đến ngày 05/6/2022: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 71.640 liều, đạt 49% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 66.059 liều, đạt 46% kế hoạch; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò đạt 910.166 liều, đạt 68% kế hoạch; dịch tả lợn 112.985 liều, đạt 76% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 112.835 liều, đạt 70,4% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 83.280 liều, đạt 76% kế hoạch và tiêm phòng dịch cúm gia cầm 341.569 liều, đạt 15% kế hoạch. 6.2. Lăm nghiệpHoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 6/2022 vẫn tiếp tục triển khai trồng rừng tập trung và khai thác gỗ từ rừng trồng. Tuy nhiên, do cuối vụ và điều kiện thời tiết nắng nóng nên diện tích trồng rừng tập trung giảm mạnh so với tháng trước (giảm 206 ha), nhưng vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước (tăng 25 ha); sản lượng gỗ khai thác trong tháng 6/2022 tăng 8.167 m3 so với tháng trước và tăng 12.290 m3 so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, diện tích rừng tập trung ước đạt 2447 ha, tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 170.642 m3, tăng 11,97% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác rừng trồng và hoạt động trồng rừng tập trung cũng chủ yếu là rừng sản xuất nên sau khi khai thác sẽ có quỹ đất để tiếp tục trồng mới. Còn đối với trồng cây phân tán và khai thác củi thì do quỹ đất trồng cây ngày càng thu hẹp và nhu cầu sử dụng củi làm chất đốt giảm nên số lượng cây trồng phân tán và sản lượng củi khai thác giảm. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 40 vụ phá rừng (tăng 22 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,5 ha (tăng 6 ha) so với cùng kỳ năm trước; lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 57 vụ vi phạm; tịch thu 21,794 m3 gỗ các loại, 08 cá thể động vật với trọng lượng 12,8kg, 07 tang vật, phương tiện. Thực hiện tu sửa 141,53 km đường băng cản lửa, 26 chòi canh lửa, 306 biển tường phòng cháy chữa cháy rừng. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.6.3. Thủy sảnSản xuất thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2022 vẫn duy trì mức tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm 2021, tổng sản lượng ước đạt trên 26.147 tấn, tăng 3,45%, trong đó sản lượng khai thác đạt 19.955 tấn, tăng 3,96%; sản lượng nuôi trồng đạt 6.192 tấn, tăng 1,86%. Mặc dù sản lượng hải sản khai thác biển chiếm khoảng trên 75% tổng sản lượng thủy, hải sản. Tuy nhiên hiện nay do điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Mặt khác, mặc dù giá bán sản phẩm ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác trong thời gian qua tăng cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế đạt thấp. Hiện nay UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 07/01/2022 thực hiện Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục thực hiện các giải pháp khắc phục cảnh báo của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác hải sản bất hợp pháp năm 2022. Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến ngày 15/6/2022, đã xẩy ra các dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản: Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã thuộc 2 huyện (Nghi Xuân, Thạch Hà) với diện tích 5,63 ha; dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 9 xã thuộc 6 huyện (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân) với tổng diện tích 86,6 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, dùng hóa chất Chlorine dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm.7. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Trong đó, ngành giảm mạnh nhất là ngành sản xuất và phân phối điện (giảm 37,36% so với cùng kỳ) do sự cố hệ thống dầu bôi trơn tuabin của nhà máy nhiệt điện I bị hư hỏng đến nay chưa khắc phục được. Ngoài ra do giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao nên sản lượng phôi thép sản xuất của công ty Formosa Hà Tĩnh chỉ đạt 2.543 nghìn tấn, giảm 6,01% (giảm 163 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước. Điều này dẫn đến chỉ số sản xuất của toàn ngành công nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2022 dự ước giảm 7,54% so với cùng kỳ năm trước.*Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) - Ước tính tháng 6/2022, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 5/2022 tăng 7,07%, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,92%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,99%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 21,57%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,57% so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp nghiệp giảm 1,05%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,18%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,98%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 29,73%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8,74%.- Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2022 ước giảm 7,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,34%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,33%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 38,31%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,79%. Nguyên nhân chính của việc giảm chỉ số sản xuất công nghiệp là do Tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 gặp sự cố đang phải ngừng hoạt động đến nay chưa khắc phục được, tổng sản lượng điện chỉ sản xuất được 4.121 triệu KWh giảm 36,34% (giảm 2.362 triệu KWh) so với cùng kỳ. Trong đó, riêng nhà máy nhiệt điện I chỉ sản xuất 1.845 triệu KWh giảm 53,34% (giảm 2.109 triệu KWh) so với cùng kỳ. Ngoài ra việc giá xăng, dầu tăng cao đã khiến cho giá nguyên vật liệu đầu vào tăng theo đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động công nghiệp nói riêng. Bên cạnh đó, trong khi các động lực tăng trưởng chính (Formosa, Nhiệt điện Vũng Áng I) sản xuất sụt giảm hoặc tăng trưởng thấp thì sản xuất công nghiệp vẫn chưa có các năng lực mới tăng thêm để đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. - Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 12 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 6 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 8 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 89,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 55,82%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,76%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 17,04%; sản xuất trang phục tăng 15,33%; sản xuất đồ uống tăng 11,31%; khai thác quặng kim loại tăng 9,73%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 7,9%. Có 6 ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 6 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: Sản xuất và phân phối điện giảm 38,31%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 10,19%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 5,18%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 3,21%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 2,87%; khai khoáng khác giảm 2,35%.- Chỉ số tiêu thụ: Tính chung 6 tháng 2022, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,36% so với cùng kỳ. Trong đó: có một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 32,93%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 19,55%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 8,44%; dệt giảm 8,03%; … Như vậy, tính chung 6 tháng đầu năm 2022, nhu cầu tiêu thu sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn hơn so với cùng kỳ năm trước.- Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2022 tăng 5,01% so với tháng trước và giảm 3,03% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (giảm 71,83%), tồn kho của sản xuất chế biến thực phẩm (giảm 71,37%) so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy mức tiêu thụ sản phẩm gạch xây dựng, thực phẩm tăng cao. Hiện nay các dự án công trình xây dựng trên địa bàn được tập trung thi công đã tác động mạnh đến mức tiêu thụ sản phẩm sản xuất từ khoáng phi kim loại khác. Ngoài ra, một số sản phẩm có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ như: Sản xuất sợi tăng 605,88%, nguyên nhân tồn kho sợi tăng cao do tháng này công ty gom hàng để xuất khẩu một lần nên không phải do không tiêu thụ được sản phẩm; sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh tồn kho tăng 86,24% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, tồn kho của Formosa không phải là không tiêu thụ được mà do doanh nghiệp giữ lại để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình.8. Thương mại, dịch vụ 8.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:Tình hình hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch 6 tháng đầu năm 2022 đã dần ổn định hơn sau những ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng khá so với cùng kỳ, ngành dịch vụ đã dần hồi phục và có nhiều khởi sắc nhất là trong những tháng quý II cao điểm mùa du lịch với những hoạt động kích cầu du lịch đã thu hút được lượng du khách gần xa đến tham quan, nghỉ mát.- Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tháng 6/2022 đạt 4.448,18 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 42,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có chỉ số tăng mạnh so với cùng kỳ như: Đá quý, kim loại quý tăng 143,23%; hàng hóa khác tăng 86,27%; may mặc tăng 85,84%; đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 53,47%; xăng, dầu các loại tăng 66,13%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 52,70%; lương thực, thực phẩm tăng 42,15%. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng giá xăng dầu tiếp tục được điều chỉnh tăng mạnh đã tác động rất lớn đến doanh thu các nhóm hàng, cộng với việc thời tiết nắng nóng tác động đến tiêu dùng các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống, vật liệu xây dựng tăng và việc cùng thời điểm năm trước, Hà Tĩnh bắt đầu triển khai thực hiện giãn cách xã hội, nhu cầu tiêu dùng xã hội bị hạn chế.      Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 24.179,48 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở tất cả các nhóm hàng hóa. Nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng cao các hàng hóa bán lẻ sau tình hình dịch Covid diễn biến phức tạp trong những tháng quý I/2022 và việc tăng giá các mặt hàng do chi phí vận chuyển tăng và tăng phần nữa do quy mô doanh thu quý II năm trước đạt thấp vì trong thời gian giãn cách xã hội.- Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh đang phục hồi tích cực sau thời gian dài hạn chế hoạt động và tạm ngừng (từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022). Các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Ước tháng 6/2022 doanh thu dự tính đạt 580,26 tỷ đồng, tăng 5,48% so với tháng trước, tăng 257,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 27,98 tỷ đồng, tăng 11,70% so với tháng trước, tăng 6,1 lần% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 547,98 tỷ đồng, tăng 5,13% so với tháng trước, tăng 246,02% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 4,3 tỷ đồng, tăng 11,98% so với tháng trước.Tính chung 6 tháng đầu năm, doanh thu ước đạt 2.858,36 tỷ đồng, tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 113,29 tỷ đồng, tăng 30,54% với lượt khách phục vụ 632.636 lượt, tăng 19,13%; ngày khách phục vụ 538.852 ngày, tăng 9,41%. ăn uống ước đạt 2.736,71 tỷ đồng, tăng 17,82%; du lịch lữ hành ước đạt 8,36 tỷ đồng, tăng 13,66% so với cùng kỳ năm trước. - Dịch vụ khác: Doanh thu 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1.128,66 tỷ đồng, tăng 22,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng mạnh ở các nhóm như: Kinh doanh bất động sản tăng 24,22%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 29,65%; giáo dục đào tạo tăng 49,73%; dịch vụ khác tăng 32,76%. Tuy nhiên vẫn có 2 nhóm dịch vụ giảm doanh thu so cùng kỳ, đặc biệt là nhóm nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm mạnh (giảm 32,74%).8.2. Hoạt động vận tảiHoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi tháng 6 và tính chung 6 tháng đầu năm 2022 đều tăng khá so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do dịch bệnh được kiểm soát, cuộc sống ổn định hơn, các hoạt động vận tải hoạt động ổn định trở lại. Việt Nam chính thức mở cửa lại ngành du lịch, nhu cầu đi lại, tham quan du lịch của người dân trong dịp lễ tăng cao, đây là tín hiệu khởi sắc cho hoạt động kinh doanh vận tải. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 6/2022 Doanh thu ước đạt 477,59 tỷ đồng, tăng 1,41% so tháng trước và tăng 67,09% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách doanh thu ước đạt 103,01 tỷ đồng, giảm 3,32% so với tháng trước và tăng 220,97% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 299,55 tỷ đồng, tăng 2,36% so với tháng trước và tăng 65,26% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 74,95 tỷ đồng, tăng 4,58% so với tháng trước và tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 2.672,14 tỷ đồng, tăng 5,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 535,08 tỷ đồng, giảm 20,67%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.680,51 tỷ đồng, tăng 19,72% với khối lượng vận chuyển ước đạt 18.878,94 nghìn tấn, tăng 21,21%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 456,14 tỷ đồng tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước.8.3. Xuất nhập khẩu hàng hóaKim ngạch xuất, nhập khẩu Hà Tĩnh tháng 6 dự ước tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 3.044 triệu USD, trong đó xuất khẩu tăng 12,05%, nhập khẩu tăng 19,36% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, cho thấy sự phục hồi rõ rệt sau nhiều thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra.- Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 6 ước đạt 184,50 triệu USD, tăng 58,56% so với tháng trước và tăng 5,89% so với cùng kỳ năm trước. Tăng mạnh nhất ở nhóm hàng thủy sản do yếu tố mùa vụ thì đây là thời gian thủy, hải sản ngon nhất trong năm, tuy nhiên do mặt hàng này chiếm tỷ trọng không cao nên không ảnh hưởng lớn tới tốc độ tăng xuất khẩu.Mặt hàng chủ đạo thép, phôi thép vẫn giữ tính ổn định và tăng trưởng cao (ước đạt 169,50 triệu USD) tăng 65,96% so với tháng trước và tăng 6,64% so với cùng kỳ.Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.020 triệu USD, tất cả các mặt hàng xuất khẩu đều có kim ngạch tăng đóng góp vào mức tăng chung 12,05% của xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép là mặt hàng chủ lực của toàn tỉnh ước đạt 914,8 triệu USD (chiếm 89,69%) tăng 10,44%; tăng cao nhất là mặt hàng thủy sản 184,26%, tiếp đến là các mặt hàng dệt và may mặc 119,72%; xơ,sợi dệt các loại tăng 37,19%; dăm gỗ tăng 36,38%; chè tăng 2,61%.     - Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 6/2022 ước đạt 360,0 triệu USD, tăng 6,61% so với tháng trước nhưng lại giảm 1,07% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù nhập khẩu nguyên liệu đầu vào Formosa vẫn tăng nhẹ so với cùng kỳ (0,31%) nhưng việc sụt giảm mạnh các loại hàng hóa khác do tình hình bất ổn của thế giới khiến kim ngạch xuất khẩu tháng 6 giảm so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.024 triệu USD, tăng 19,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 1.803 triệu USD (Chiếm 89,08%) tăng 46,49%. Với việc Fomosa tăng cường nhập khẩu nguyên liệu đầu vào Formosa, thời gian tới sẽ tăng cường sản xuất và xuất khẩu kỳ vọng sẽ tăng khá khả quan.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Lao động, việc làm Bước sang quý II năm 2022 dịch covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản được kiểm soát tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước phục hồi, các hoạt động du lịch mở cửa trở lại trong điều kiện "bình thường mới", nên tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn, so với quí trước lao động đang làm việc trong nền kinh tế tăng 1,88%, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,15 điểm %. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, lao động đang làm việc trong tỉnh tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,53 điểm phần trăm.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước quý II năm 2022 là 526.842 người, so với quý trước tăng 1,48% và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 6 tháng đầu năm lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính 522.997 người, tăng 4,15% so với cùng kỳ năm 2021; trong đó lực lượng lao động là nam 280.667 người (chiếm 53,67%) trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 123.936 người, chiếm 23,7%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng năm 2022 là 54,05%, tăng 0,68 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2022 là 498.605 người, chiếm 94,64% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; so với quý trước tăng 1,88% và tăng 3% so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, số lao động đang làm việc là 494.006 người, chiếm 94,46% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 3,91% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, lao động có việc làm ở thành thị là 122.041 người, chiếm 24,7%; ở nam giới là 263.015 người, chiếm 53,24%. Khi phân theo ngành kinh tế thì lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 31,38% (tương ứng 155.014 người), giảm 1,77 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,06% (tương ứng 143.549 người), tăng 0,02 điểm phần trăm; còn khu vực dịch vụ chiếm 39,56% (tương ứng 195.443 người), tăng 1,75 điểm phần trăm.Tính riêng quý II/2022 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 28.237 người, chiếm 5,36% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,37 điểm phần trăm so quý trước. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,28%, giảm 0,15 điểm phần trăm so với quý trước và 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 6 tháng năm 2022, số người không có việc làm (thất nghiệp) là 28.992 người, chiếm 5,54% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên; tăng 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,35%, giảm 0,53 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý II/2022 là 3,7%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,76 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung 6 tháng năm 2022, ước tính tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 3,85%, tăng 0,88 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý II/2022, là 6.140 người, giảm 5,17% so với quý I/2022. Trong đó, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giảm 3.199 người, lao động đi làm việc ngoại tỉnh tăng 376 người, xuất khẩu lao động tăng 2.488 người. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 12.615 người, đạt 57,34% kế hoạch năm 2022, tăng 23,34% so cùng kỳ năm 2021. Trong đó, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 5.787 người, giảm 16,63% so với cùng kỳ; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.948 người, tăng 207,48%; xuất khẩu lao động 2.880 người, giảm 27,67%. Thị trường xuất khẩu lao động 6 tháng đầu năm 2022 ở Hà Tĩnh chủ yếu làm việc tại Nhật Bản là 1.360 người, chiếm 47,22% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; tiếp đến là Đài Loan 1.175 người, chiếm 40,8%; còn lại các nước khác là 345 người, chiếm 11,98%.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hộiĐời sống dân cư: Trong 6 tháng đầu năm 2022, tình hình dịch bệnh covid-19 ở Hà Tĩnh cơ bản được kiểm soát tốt, các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại và dịch vụ vẫn hoạt động bình thường và dần đi vào ổn định. Bên cạnh đó các dịch bệnh đối với chăn nuôi được kiểm soát tốt hơn so với cùng kỳ năm trước, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Nhìn chung đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.Công tác đảm bảo an sinh xã hội: Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai kịp thời; các cấp, các ngành làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác kịp thời, chu đáo. Đến nay, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 280.830 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 101,684 tỷ đồng. Cụ thể: tặng quà cho người có công khoảng 127.981 suất quà trị giá 34,421 tỷ đồng; tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 50.576 suất quà trị giá 25,376 tỷ đồng; tặng quà cho người cao tuổi khoảng 37.207 suất quà trị giá 10,656 tỷ đồng; tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 21.500 suất quà trị giá 11,800 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 43.566 suất quà trị giá 19,431 tỷ đồng. Cấp khoảng 22.014 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 42.045 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 158.963 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 50.096 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công. Ngoài ra Hà Tĩnh đã trao tặng 04 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 24 triệu đồng cho người có công. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 149 nhà kinh phí khoảng 9.904 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 05 nhà kinh phí khoảng 145 triệu đồng.3. Giáo dục đào tạoGiáo dục phổ thông: Năm học 2021-2022, ngành Giáo dục Hà Tĩnh triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 800/CT-BGDĐT ngày 24/8/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về thực hiện nhiệm vụ năm học 2021- 2022 ứng phó với dịch COVID-19, tiếp tục thực hiện đổi mới, kiên trì mục tiêu chất lượng giáo dục và đào tạo nên chất lượng giáo dục Hà Tĩnh vẫn được giữ vững và nâng cao, đạt nhiều thành tích nổi bật. Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2022, Hà Tĩnh có 75/99 học sinh đạt giải (chiếm tỷ lệ 75,75%), đứng thứ 5 toàn quốc về số lượng thí sinh đạt giải, đặc biệt năm 2022 Hà Tĩnh có học sinh đạt giải Nhất quốc gia môn Hóa học dự thi Olympic quốc tế. Ngoài ra Cuộc thi KHKT cấp quốc gia học sinh trung học năm học 2021-2022, Hà Tĩnh có 02 dự án được lựa chọn tham dự vòng chung kết cả 2 dự án đều đạt giải Nhì; kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9 năm học 2021 -2022 có 715/1134 em đạt giải, trong đó: Giải nhất 59 em, giải nhì 182, giải ba 247, giải khuyến khích 227; thi học sinh giỏi tỉnh lớp 12 năm học 2021 -2022 có 537/858 em đạt giải, trong đó: Giải nhất 45 em, giải nhì 138 em, giải ba 180 em, giải khuyến khích 174 em.Cũng trong thời gian này, tính từ ngày 6-7/6 đã diễn ra Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2022-2023 với hơn 16.000 thí sinh tham gia, tại 36 điểm thi gồm 2.316 cán bộ làm nhiệm vụ tại 686 phòng, kỳ thi đã diễn ra thành công tốt đẹp, đảm bảo các yếu tố an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế.Giáo dục đào tạo: Toàn tỉnh hiện có 7 trường Cao đẳng, Trung cấp thuộc hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, đào tạo các chuyên ngành: Công nghệ, kỹ thuật, văn hóa, du lịch, nghệ thuật, hội họa, chuyên ngành Y và một số trường đào tạo đa ngành nghề. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghề; tập trung công tác tư vấn, giải quyết việc làm, cập nhật thông tin thị trường lao động. Với những nỗ lực đó, 6 tháng đầu năm 2022 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 11.471 người. Trong đó, trình độ cao đẳng nghề khoảng 92 người; trình độ trung cấp nghề khoảng 5.558 người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 5.821 người. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmThực hiện chiến lược tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19 cho người dân đã góp phần giúp Hà Tĩnh phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-19. Hiện tại số lượng bệnh nhân có các triệu chứng vừa và nặng tại các cơ sở y tế giảm sâu; tất cả 216 xã, phường, thị trấn đều có mức nguy cơ dịch cấp 1 (vùng xanh), mọi hoạt động đời sống xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Bên cạnh đó Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường, chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh mùa hè năm 2022.Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/6/2022 là 50.475 ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến nay 52.424 ca mắc. Toàn tỉnh đã có 13/13 địa phương thực hiện việc cách ly, điều trị các ca bệnh tại nhà với 45.837 ca, trong đó đã có 45.402 ca khỏi bệnh. Tình hình điều trị các ca bệnh: Chuyển các Bệnh viện tuyến trên 128 BN. Điều trị khỏi 51.919 BN, trong đó có 123 BN tuyến trên, 51.796 BN tại Hà Tĩnh, 52 BN tử vong. Trong thời gian tới, Hà Tĩnh tiếp tục rà soát những người trên 12 tuổi đủ điều kiện nhưng chưa tiêm vắc xin và trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi để triển khai tiêm vắc xin đạt tỷ lệ và hiệu quả cao nhất; tiếp tục tuyên truyền, vận động nâng cao tỷ lệ tiêm vắc xin mũi nhắc lại lần 1 (mũi 3); triển khai tiêm liều nhắc lại lần 2 (mũi 4) theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Mặc dù tình hình dịch bệnh hiện nay đang được kiểm soát, nhưng vẫn cảnh giác cao với các biến thể mới của biến chủng Omicron.Tình hình dịch bệnh khác: Tính đến ngày 15/6/2022, trên địa bàn Hà Tĩnh xuất hiện 2 ổ dịch sốt xuất huyết Dengue với 5 ca bệnh. Ngoài ra, còn một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 9 ca sốt xuất huyết, 1 ca mắc bệnh quai bị, 3 ca mắc lỵ trực trùng; 8 ca mắc lỵ a míp; 3 ca mắc bệnh thủy đậu, 768 ca mắc bệnh cúm, 3 ca chân tay miệng và không có người chết vì do các bệnh trên.Tính chung 6 tháng đầu năm trên địa bàn Hà Tĩnh có 2 ổ dịch sốt xuất huyết và một số ca bệnh đơn lẻ: 16 ca mắc sốt xuất huyết (tăng 433,33% so với cùng kỳ năm trước), 0 ca mắc sốt rét (giảm 1 ca), 0 ca viêm não do vi rút (giảm 93 ca), 66 ca mắc bệnh quai bị (tăng 214,29%), 123 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 78,26%); 177 ca mắc lỵ a míp (tăng 78,79%); 107 ca mắc bệnh thủy đậu (giảm 82,80%), 7.845 ca mắc bệnh cúm (giảm 25,53%), 4 ca chân tay miệng (giảm 63,64%), tiêu chảy 1.266 ca (giảm 16,02%), viêm gan vi rút khác 40 ca (giảm 0,28%) tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, có 1 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước số người nhiễm mới HIV, số người chuyển thành AIDS số người chết vì AIDS không đổi. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 có 12 người nhiễm mới HIV, 6 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ năm trước giảm 16 người (giảm 57,14%) nhiễm mới HIV, giảm 18 người (giảm 75%) chuyển thành AIDS , số người chết vì AIDS không đổi.Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm, chỉ có 98 ca ngộ độc đơn lẻ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 có 1 vụ ngộ độc tập thể làm 4 người bị ngộ độc; ngoài ra có 345 ca bị ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ ngộ độc tập thể (giảm 66,67%), giảm 49 ca ngộ độc tập thể (giảm 92,45%), số ca ngộ độc đơn lẻ giảm 218 ca (giảm 38,72%), số ca tử vong không đổi.5. Hoạt động văn hóa - thể thaoHoạt động văn hóa: Trong tháng nhiều hoạt động văn hóa đã diễn ra sôi nổi. Ngày 28-29/5, tổ chức trình diễn bay khinh khí cầu “Hà Tĩnh - đón Sao La về nhà” nhằm chào mừng SEA Games 31 thành công rực rỡ, cùng hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957 - 15/6/2022) và 15 năm thành lập TP Hà Tĩnh (28/5/2007 - 28/5/2022); ngày 11/6 tổ chức chương trình lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957 - 15/6/2022) và 15 năm thành lập TP Hà Tĩnh (28/5/2007 - 28/5/2022) tại Quảng trường TP Hà Tĩnh bao gồm các hoạt động: Lễ dâng hoa, dâng hương tại Khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh; lễ kỷ niệm, chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa chào mừng; Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2022), 30 năm thành lập Hội Nhà báo Hà Tĩnh, ngày 12/6, Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Giải Bóng chuyền hơi CLB Nhà báo nữ Hà Tĩnh lần thứ nhất. Nhìn chung trong quí I năm 2022, tình hình dịch Covid đang còn diễn biến phức tạp nên hoạt động văn hóa có phần trầm lắng. Tuy nhiên bước sang quí II năm 2022, tình hình dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát tốt, các hoạt động văn hóa diễn ra sôi động hơn so với thời điểm đầu năm.Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức 3 cuộc kiểm tra trong đó 01 cuộc phối hợp đội Kiểm tra liên ngành văn hóa xã hội tỉnh. Cụ thể: 1 cuộc kiểm tra 65 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch đã xử phạt vi phạm hành chính 01 cá nhân với số tiền 5 triệu đồng; 1 cuộc kiểm tra công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội và công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19 tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh, qua kiểm tra cơ bản các di tích chấp hành nghiêm túc các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên, thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 theo quy định; 1 cuộc kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, qua kiểm tra tại 6 cơ sở, cơ bản các cơ sở chấp hành các quy định của pháp luật.Hoạt động thể thao: Trong tháng hoạt động thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng. Ngày 19-20/5 tại Khu du lịch biển Thiên Cầm, UBND huyện Cẩm Xuyên tổ chức giải đua thuyền năm 2022; chiều 19/5, tại khu vực sông Phủ, UBND TP Hà Tĩnh đã tổ chức khai mạc giải đua thuyền truyền thống. Nhìn chung 6 tháng đầu năm 2022 sau khi dịch COVID-19 dần được kiểm soát, hoạt động thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh đã sôi động trở lại.Thể thao thành tích cao: Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, Hà Tĩnh tham gia 14 giải đấu, đạt 94 huy chương các loại (35 huy chương vàng, 27 huy chương bạc, 32 huy chương đồng), trong đó 04 giải quốc tế đạt 15 huy chương (7HCV-5HCB-3HCĐ), SEA Games 31 đạt 12 huy chương (5 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 2 huy chương đồng).6. Tai nạn giao thôngTính từ ngày 15/5-14/6/2022 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn đường bộ, làm 8 người chết, 2 người bị thương, thiệt hại 180 triệu đồng. So với tháng trước tăng 3 vụ tai nạn đường bộ, tăng 3 người chết và số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước tăng 3 vụ và tăng 1 người chết và tăng 2 người bị thương. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 (từ ngày 15/12/2021-14/6/2022) đã xẩy ra 46 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 39 người chết, 19 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 690 triệu đồng, riêng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 (từ ngày 29/01 (27 tháng Chạp) đến ngày 06/02/2022 (ngày Mùng 06 Tết)) xảy ra 5 vụ, làm chết 3 người, bị thương 5 người. So với cùng năm 2021 giảm 5 vụ (giảm 9,80%), số người chết và người bị thương không đổi. 7. Thiệt hại thiên taiTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ thiên tai làm 2 người chết, 17 nhà hư hỏng với giá trị ước tính 100 triệu đồng. So với tháng trước tăng 2 vụ thiên tai, tăng 2 người chết, thiệt hại về tài sản giảm 7.568 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ thiên tai, giảm 1 người chết, thiệt hại giảm 17.200 triệu đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ thiên tai, cụ thể là 1 vụ sóng to, gió lớn (ngày 3/4); 1 vụ mưa lớn (ngày 30/4-1/5); 2 vụ sét đánh (ngày 26/5 và 14/6), 1 vụ lốc xoáy (ngày 14/6); làm chết 3 người; làm hư hỏng 1 chiếc tàu, 17 nhà hư hỏng, thiệt hại 512 ha diện tích lúa, 153 ha diện tích hoa màu, ước tính tổng thiệt hại là 7.968 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ thiên tai, tăng 1 người chết, giảm 1 người bị thương, tổng thiệt hại về tài sản giảm 39.032 triệu đồng.8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ- Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/5/2022 đến ngày 14/6/2022 đã xảy ra 6 vụ cháy, nổ không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại ước tính là 1.541 triệu đồng. So với tháng trước tăng 3 vụ cháy, nổ; số người chết và số người bị thương không đổi; so với cùng kỳ năm trước tăng 2 vụ; số người chết và số người bị thương không đổi.Sáu tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2021-14/6/2022) đã xảy ra 17 vụ cháy, nổ làm 1 người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính 2.016 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước: Tăng 1 vụ (tăng 6,25%), giảm 1 người chết (giảm 50%), thiệt hại ước tính giảm 294 triệu đồng.- Công tác bảo vệ môi trường: Tính từ ngày 15/5 đến ngày 14/6/2022 đã phát hiện 34 vụ, đã xử lý 13 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 43,89 triệu đồng; so với tháng trước số vụ phát hiện giảm 30 vụ (giảm 46,88%), số vụ xử lý giảm 36 vụ (giảm 73,47%), số tiền nộp phạt giảm 246,20 triệu đồng (giảm 84,87%); so với cùng kỳ năm 2021 tăng 22 vụ đã phát hiện (tăng 183,33%), giảm 2 vụ đã xử lý (giảm 13,33%), số tiền xử phạt giảm 360,71 triệu đồng (giảm 89,15%). Tính chung 6 tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2021 - 14/6/2022) đã phát hiện 508 vụ, đã xử lý 353 vụ, với tổng số tiền xử phạt 1.312,86 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ phát hiện tăng 433 vụ (tăng 5,77 lần), số vụ đã xử lý tăng 301 vụ (tăng 5,79 lần), số tiền nộp phạt tăng 465,81 triệu đồng (tăng 54,99%). Vi phạm môi trường đã phát hiện trong 6 tháng đầu năm chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... gồm 458 vụ (chiếm 90,16%); vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 26 vụ (chiếm 5,12%); xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường 20 vụ (3,94%); thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 4 vụ (chiếm 0,78%).III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚIĐể thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu KT-XH năm 2022 mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra, đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần phải thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, đồng thời cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: (1) Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân theo Kết luận số 38-KL/TU ngày 28/01/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 03/NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.(2) Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa, cắt giảm các thủ tục nhằm giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân. Hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp cận thụ hưởng các cơ chế, chính sách phục hồi và phát triển kinh tế. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp lớn tìm hiểu, khảo sát đầu tư.(3) Tập trung đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công cho những tháng cuối năm; huy động tốt nguồn vốn tư nhân cho đầu tư phát triển.(4) Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò. Tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản xuất vụ Hè Thu năm 2022. Tiếp tục tuyên truyền, triển khai quyết liệt các cơ chế, chính sách đã ban hành, nhất là đề án tập trung, tích tụ ruộng đất, thúc đẩy cơ cấu lại sản xuất, xây dựng cánh đồng lớn; phát triển nông nghiệp hữu cơ, trước mắt xây dựng các mô hình, chuỗi sản phẩm lúa gạo, rau màu, cây ăn quả, chăn nuôi lợn…, sơ kết đánh giá trước khi triển khai nhân rộng. Đẩy mạnh chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu sản phẩm cây ăn quả.(5) Quan tâm phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; xây dựng và thực hiện kế hoạch kích cầu tiêu dùng, chương trình khuyến mại tập trung năm 2022.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2022 diễn ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hà Tĩnh. Để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2022 cần phải có sự chỉ đạo sát sao hơn nữa của cấp ủy chính quyền các cấp và sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị xã hội trong 6 tháng cuối năm./.