0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng Một năm 2024
  •   27/07/2024 10:51

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp tháng 01 năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, thời điểm này bà con nông dân chủ yếu chăm sóc cây vụ Đông và tranh thủ thời tiết nắng ráo đẩy nhanh tiến độ làm đất để gieo cấy lúa vụ Xuân 2024; Hoạt động chăn nuôi có dấu hiệu tăng nhẹ, người dân tích cực chăm sóc cho vật nuôi để kịp thời cung ứng thị trường Tết Nguyên đán năm 2024; Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tranh thủ khai thác những vườn cây đến chu kỳ và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho công tác trồng rừng năm 2024; Hoạt động thủy sản không có nhiều biến động so với cùng kỳ. 1.1 Sản xuất nông nghiệp          *Trồng trọt  Kết quả sản xuất vụ Đông 2023: Tổng diện tích các loại cây trồng vụ đông đạt 13.653,81 ha, bằng 97,47%, giảm 353,57 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích ngô đạt 4.994 ha, bằng 95,36%, giảm 243 ha, diện tích khoai lang đạt 1.238 ha, bằng 95,08%, giảm 64 ha, diện tích rau các loại đạt 4.819 ha, bằng 98,51%, giảm 73 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng vụ Đông giảm do lịch nông vụ bắt đầu từ tháng 10 năm 2023 nhưng do thời tiết các tháng 10, 11 có mưa nhiều khó xuống giống nên các loại cây màu diện tích đều giảm. Sản xuất vụ Xuân 2024: Mục tiêu sản xuất vụ Xuân phấn đấu diện tích gieo trồng cây lúa 59.107 ha, năng suất đạt trên 58,94 tạ/ha, sản lượng phấn đấu đạt 35 vạn tấn; diện tích ngô 6.059 ha, năng suất đạt trên 55,21 tạ/ha, sản lượng phấn đấu đạt trên 33 nghìn tấn; diện tích khoai lang 1.557 ha, năng suất đạt trên 84,81 tạ/ha, sản lượng phấn đấu đạt trên 13,2 nghìn tấn; diện tích lạc 7.599 ha, năng suất dự kiến đạt trên 27,66 tạ/ha, sản lượng phấn đấu đạt 21 nghìn tấn; diện tích đậu 355 ha, năng suất đạt trên 9,87 tạ/ha, sản lượng phấn đấu đạt 350 tấn; diện tích rau 5.784 ha, năng suất đạt khoảng 79,13 tạ/ha, sản lượng phấn đấu đạt trên 45 nghìn tấn. Tính đến ngày 15/01/2024, tiến độ gieo cấy lúa vụ Xuân đạt 9.316 ha, đạt 15,8% kế hoạch, giảm 40,515 so với cùng kỳ năm trước, trong đó, diện tích gieo thẳng là 9.134 ha, diện tích cấy 182 ha. Thiên tai, dịch bệnh: Tháng 01/2024 thời tiết khá ấm áp, cuối tháng có mưa rét, tình hình sâu bệnh trên cây có xuất hiện một số loại như bọ trĩ, đốm lá, rệp muội, sâu keo, sâu cuốn lá, sương mai... nhưng diện tích gây hại nhỏ, hầu như không ảnh hưởng lớn đối với các loại cây trồng.  *Chăn nuôi Hiện nay ngành chuyên môn Hà Tĩnh đang tăng cường kiểm soát hoạt động giết mổ động vật với mục tiêu đảm bảo an toàn dịch bệnh trên đàn vật nuôi và an toàn thực phẩm dịp trước, trong và sau tết. Đẩy mạnh tuyên truyền các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh, buôn bán, giết mổ nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc tuân thủ và thực hiện tốt quy trình giết mổ bảo đảm vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Chăn nuôi trong tháng cơ bản ổn định, kết quả sản xuất chăn nuôi cụ thể: Đàn trâu hiện có 67.010 con, bằng 99,05%; đàn bò hiện có 167.515 con, bằng 99,42% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn hiện có 401.150 con, bằng 101,20%; đàn gia cầm hiện có 10.187 ngàn con, bằng 101,77% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh việc đàn lợn, đàn gia cầm có dấu hiệu tăng nhẹ phục vụ dịp Tết đang cận kề thì đàn trâu, bò có xu hướng giảm vì hiện nay chi phí chăn nuôi tăng trong khi giá bán thấp nên người dân không tăng tổng đàn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 16/01/2024, Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 2 xã của huyện Cẩm Xuyên làm cho 20 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu huỷ, khối lượng: 1.113kg, đến nay dịch bệnh chưa qua 21 ngày. 1.2 Lâm nghiệp Công tác trồng rừng, khai thác và bảo vệ rừng tiếp tục được sự quan tâm của các cấp, các ngành nhằm phát triển rừng trồng gắn với khai thác hiệu quả rừng nguyên liệu để ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân. Ngành chức năng thường xuyên kiểm tra quy trình trồng rừng, khai thác rừng trồng và rừng được giao khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh nhằm đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định, tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, khuyến khích các chủ rừng và người dân đẩy mạnh phát triển trồng rừng nguyên liệu theo hướng tăng diện tích thâm canh. Trồng rừng: Trong tháng 01/2024 chủ yếu tập trung các khâu chuẩn bị cho trồng rừng vụ Xuân năm 2024 với các khâu như: cây giống, cuốc hố, vệ sinh vườn bãi; áp dụng khoa học kỹ thuật từ khâu làm đất, xác định mật độ trồng, bón phân, chăm sóc rừng để nâng cao năng suất, chất lượng rừng. Kết quả sản xuất lâm nghiệp đạt được trong tháng: Diện tích rừng trồng mới ước đạt 467 ha, bằng 102,19% và trồng được 260 nghìn cây phân tán, bằng 98,11% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 20.526 m3, bằng 102,75%, tăng 549 m3 so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi ước đạt 20.372 ste, bằng 95,46%, giảm 969 ste so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại rừng: Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/01/2024, trên địa bàn tỉnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 4 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 0,24 ha (tăng 1 vụ nhưng giảm 2,15 ha) so với cùng kỳ năm 2023. 1.3 Thủy sản Kết quả hoạt động thủy sản trong tháng 01/2024: Tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 4.872 tấn, bằng 101,68%, tăng 81 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy hải sản khai thác ước đạt 3.958 tấn, bằng 102,21%, tăng 86 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 81,2% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01/2024; sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 914 tấn, bằng 99,46%, giảm 5 tấn so với cùng kỳ năm trước, chiếm 18,8% tổng sản lượng thủy hải sản tháng 01 năm 2024. Các sản phẩm thủy sản nuôi trồng đang chuẩn bị xuất bán phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Dịch bệnh: Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn.2. Sản xuất công nghiệp Bước sang năm mới 2024, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh tập trung bắt tay vào sản xuất kinh doanh với kỳ vọng một năm thuận lợi, hoạt động sản xuất hiệu quả, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 01 năm 2024 dự ước tăng 3,32% so với tháng trước và tăng 17,31% so với cùng kỳ năm trước.                                          2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Trong đó: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tháng 01 năm 2024 giảm 15,08% so với tháng trước và tăng 75,51% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 2,71% so với tháng trước và tăng 15,43% so với tháng 01/2023; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,01% so với tháng trước và tăng 25,88% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,45% so với tháng trước và tăng 17,87% so với cùng kỳ năm 2023. Trong 20 nhóm ngành công nghiệp cấp II, có 14 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước, một số ngành tăng đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 86,35%; khai khoáng khác tăng 78,04%; sản xuất đồ uống tăng 53,44%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 137,41%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 37,11%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 35,37%; khai thác quặng kim loại tăng 27,68%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 25,88%; sản xuất trang phục tăng 25,78%; dệt tăng 25,63%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 21,42%; sản xuất kim loại tăng 14,01%; ... Bên cạnh đó có 4 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 16,75%; sản xuất chế biên thực phẩm giảm 7,67%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 6,51%. Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng sản xuất công nghiệp của Hà Tĩnh vẫn duy trì đà tăng trưởng, quy mô sản xuất công nghiệp tiếp tục được mở rộng. Điểm sáng của sản xuất công nghiệp trong tháng đầu tiên của năm 2024 là cả 4/4 ngành công nghiệp cấp 1 đều có chỉ số sản xuất tăng trưởng khá so với cùng kỳ, tạo tiền đề thúc đẩy hoạt động sản xuất công nghiệp trong những tháng tiếp theo của năm 2024 góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 12 nhóm sản phẩm tháng 01/2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp tháng 01/2024 tăng so với năm trước: Quặng inemit và tinh quặng inemit tăng 117,39%; đá xây dựng khác tăng 90,89%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 85,14%; bia đóng lon tăng 53,44%; bê tông tươi tăng 39,48%; điện sản xuất tăng 26,99%; ... Một số sản phẩm công nghiệp tháng 01 năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: mực đông lạnh giảm 65,71%; thức ăn cho gia súc giảm 20,09%; dịch vụ sản xuất dược giảm 16,75%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 10,71%; ... 2.3 Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 01/2024 giảm 0,47% so với tháng trước; tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước. Do hiện nay các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 01 năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 10,91% so với năm trước. Chỉ số sử dụng lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,2%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,54% và ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 3,82% so với cùng kỳ năm 2023.3.  Vốn đầu tư Tháng 01 năm 2024 là tháng đầu năm, nguồn vốn chưa được giao theo các công trình cụ thể, các đơn vị đang tập trung hoàn thành hồ sơ thủ tục về vốn và kỹ thuật để triển khai thực hiện tiếp các công trình chuyển tiếp trong năm 2023, những công trình mới thuộc kế hoạch năm 2024 chủ yếu mới thi công phần mặt bằng. Bên cạnh đó kế hoạch vốn năm 2024 giảm mạnh so với năm trước. Tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 01/2024 giảm 76,51 % so với tháng trước và giảm 17,73% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý dự ước tháng 01/2024 đạt 219,39 tỷ đồng, bằng 23,49% so với tháng trước và bằng 82,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 150,91 tỷ đồng, bằng 19,03% so với tháng trước và bằng 72,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 59,57 tỷ đồng, bằng 51,49% so với tháng trước và bằng 112,51% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 8,91 tỷ đồng, bằng 35,18% so với tháng trước và bằng 182,78% so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch vốn đầu tư ngân sách thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2024 là 4.482,65 tỷ đồng, giảm 27,65% so với năm 2023. Vốn đầu tư ngân sách cấp tỉnh được giao 2.701,22 tỷ đồng, giảm 44,54% so với năm trước, trong đó vốn cân đối ngân sách tỉnh giảm 38,39%, vốn Trung ương hỗ trợ theo mục tiêu giảm 51,88%, vốn vay nước ngoài ODA giảm 29,65%. Kế hoạch vốn ngân sách cấp huyện được giao 1.393,30 tỷ đồng, tăng 46,98%, kế hoạch vốn ngân sách cấp xã được giao là 388,13 tỷ đồng, tăng 2,83%, nguồn vốn cân đối ngân sách cấp huyện, xã chủ yếu là vốn thu từ quỹ sử dụng đất. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 01 năm 2024 là tháng cận kề dịp tết Nguyên đán, nhu cầu mua sắm và giá cả các nhóm hàng hóa đều có xu hướng tăng dần, nhất là về thời điểm giữa và cuối tháng. Thói quen mua sắm tài sản, đồ dùng gia đình vào dịp cuối năm của người dân, giá nhiên liệu cùng với tình hình dịch bệnh là những yếu tố chính tác động đến cung cầu hàng hóa tiêu dùng trong tháng. Với tính hình thời tiết khá thuận lợi, và thời điểm cuối năm nên các nhu cầu về dịch vụ, du lịch, vận tải hành khách, hàng hóa cũng tăng khả quan. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: ước đạt 6.232,72 tỷ đồng, tăng 5,78% so với tháng trước và tăng 18,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 49,90 tỷ đồng, tăng 26,56% so với tháng trước và tăng 21,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong tất cả các nhóm hàng hóa chỉ có 4 nhóm hàng có doanh thu giảm so với tháng trước là vật phẩm văn hóa giáo dục, gỗ và vật liệu xây dựng, xăng, dầu các loại và phương tiện đi lại trừ ô tô con có doanh thu giảm so với tháng trước. Còn lại các nhóm hàng đểu có doanh thu tăng so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ, trong đó, nhóm hàng thiết yếu và chiếm tỷ trọng lớn là lương thực, thực phẩm tăng 9,80% so với tháng trước, tăng 14,97% so với cùng kỳ năm trước và khả năng sẽ tiếp tục tăng mạnh về cuối tháng từ gạo các loại cho đến các loại thịt, bánh kẹo, đồ uống phục vụ nhu cầu mua sắm phục vụ tiêu dùng phục vụ dịp tết Nguyên đán. Nhóm hàng xăng, dầu đã hạ nhiệt khi giá đã giảm sau mấy kỳ điều chỉnh gần đây, tình hình thị tường ô tô con đã có nhiều khởi sắc ở những tháng cuối năm 2023 và đầu năm 2024 khi các nhà kinh doanh thực hiện các chương trình khuyến mãi sau 1 năm khá trầm lắng của thị trường. Các nhóm hàng bán lẻ khác cũng tăng khả quan khi nhu cầu về cuối năm bắt đầu tăng dần. Nhìn chung, các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, tháng cận tết Nguyên đán nên càng về cuối tháng, nhu cầu tiêu dùng và giá hàng hóa tăng; Thứ hai, tình hình kinh tế, chính trị trong nước cũng như thế giới tiếp tục bất ổn ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, tác động đến nhiều nhóm hàng hóa như xăng, dầu, khí đốt, vàng, đồ dùng gia đình giá trị cao; Thứ ba, do thói quen mua sắm của người dân thay đổi trong dịp cuối năm. Cùng với ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về thuế, giá nhiên liệu xăng, dầu các loại. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Những tháng đầu năm là thời điểm các lễ hội văn hóa bước vào mùa sôi động, nhu cầu tham quan du lịch có xu hướng tăng lên. Hoạt động kinh doanh dịch vụ, du lịch, ăn uống tháng 01/2024 tăng nhẹ so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 01/2024 dự tính đạt 664,37 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước, tăng 28,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động lưu trú ước đạt 11,93 tỷ đồng, giảm 10,71% so với tháng trước, giảm 38,95% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 649,41 tỷ đồng, tăng 2,42% so với tháng trước, tăng 31,42% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 3,03 tỷ đồng, tăng 8,62% so với tháng trước và tăng 47,56% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ ăn uống tăng mạnh do trong tháng trùng vào mùa cưới hỏi và có nhiều ngày nghỉ lễ, Tết Dương lịch, tổng kết cuối năm nên nhu cầu ăn uống, đặt tiệc vẫn được duy trì ổn định. Tuy nhiên, về dịch vụ lưu trú do từ đầu quý 4 năm 2023 tới nay, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú lớn trên địa bàn tiến hành sữa chữa nên lượng khách lưu trú giảm mạnh so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch mặc dù không lớn nhưng về cuối năm vẫn tăng khá đáng kể do lượng đặt tour du lịch trong và ngoài trong dịp Tết Dương lịch, đặc biệt là loại hình du lịch tâm linh tăng. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ tháng 01/2024 dự tính đạt 416,03 tỷ đồng, tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 10,79% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung tình hình kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng có những thay đổi tùy theo từng nhóm ngành hàng do tính chất thời vụ dịp tết Nguyên đán, ngành dịch vụ hành chính hỗ trợ, giáo dục, đào tạo giảm trong khi tăng mạnh ở nhóm ngành dịch vụ khác như vui chơi giải trí, dịch vụ cho thuê đồ dùng cá nhân, các dịch vụ chăm sóc, làm đẹp.... Bên cạnh đó, ảnh hưởng thời tiết và giá cả thị trường cũng tác động nhiều đến các loại hình kinh doanh dịch vụ. 4.2. Hoạt động vận tải Trong tháng là cao điểm về nhu cầu vận tải hành khách trong năm, lượng hành khách vận chuyển thời điểm trước Tết Nguyên đán thường tăng cao nhưng trên địa bàn tỉnh không xảy ra hiện tượng thiếu phương tiện đưa đón người dân đi lại. Vận tải hàng hóa trong tháng này giảm với biên độ đáng kể, đối với vận tải đường bộ, mặc dù nhu cầu vận tải thời điểm cận Tết tăng cao nhằm phục vụ vận chuyển lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình. Tuy nhiên, do đặc thù các phương tiện vận tải hàng vật liệu xây dựng và cơ sở bán buôn nghỉ Tết sớm dẫn đến doanh thu chung cả tháng dự kiến giảm mạnh. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 01/2024 ước đạt 640,47 tỷ đồng, giảm 2,23% so tháng trước và tăng 27,26% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 128,30 tỷ đồng, tăng 15,79% so với tháng trước và tăng 48,86% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.237,32 nghìn HK, tăng 6,14% so với tháng trước và tăng 13,73% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 231,02 triệu HK.km, tăng 6,26% so với tháng trước, tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ, thời điểm đầu tháng trùng với dịp nghỉ lễ Tết dương lịch nên lượng người đi lại về quê thăm thân, vui chơi tăng hơn tháng trước. Bên cạnh đó, là tháng cận kề dịp tết Nguyên đán, thời điểm trước Tết lượng khách đi lại ở mức cao, tình trạng cháy vé các tuyến xe đường dài xảy ra, cùng với việc tăng giá để bù chiều chạy rỗng. Bên cạnh đó, lượng khách di chuyển nội tỉnh qua hình thức xe bus, xe taxi cũng tăng mạnh. Vận tải hàng hóa ước đạt 392,49 tỷ đồng, giảm 8,37% so với tháng trước và tăng 23,42% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 4.128,56 nghìn tấn, giảm 6,52% so với tháng trước và tăng 18,28% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 129,84 triệu tấn.km, giảm 3,21% so với tháng trước và tăng 20,12% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa giảm doanh thu do càng về cuối tháng, nhu cầu vận chuyển một số nhóm hàng hóa như vật liệu xây dựng cũng như hoạt động của các cơ sở kinh doanh bán buôn hàng hóa giảm. Mặc dù nhu cầu vận chuyển hàng tiêu dùng có tăng nhằm phục vụ dịp Tết nhưng tổng chung doanh thu vận tải hàng hoá giảm mạnh so tháng trước. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 114,53 tỷ đồng, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 30,18% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng do tăng lượng hàng hóa thông qua các cảng biển trên địa bàn tỉnh. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình nhập khẩu trong tháng giảm nhẹ so với tháng trước do đơn vị gần như hạn chế nhập hàng để tập trung bán hàng chuẩn bị nghỉ Tết, Formosa vẫn cầm chừng việc nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất. Bên cạnh đó xuất khẩu đã có dầu hiệu tăng trở lại, cho thấy sự phục hồi của các nhóm hàng xuất khẩu như dệt và may mặc, chè, dăm gỗ.... Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tính chung tháng 01/2024 đạt 547 triệu USD giảm 3,96% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 23,80% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 01/2024 ước đạt 196,50 triệu USD, tăng 3,44% so với tháng trước nhưng giảm 3,28% so với cùng cùng kỳ. Có 2 nhóm hàng xuất khẩu tăng mạnh so với tháng trước và cùng kỳ là chè, dệt và may mặc cho thấy thị trường các mặt hàng này đang có nhiều khởi sắc, mặt hàng khó khăn như xơ, sợi giảm 44,44% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ tăng 316,67%. Tính riêng, mặt hàng thép, phôi thép ước đạt 175,40 triệu USD (chiếm 89,26% kim ngạch xuất khẩu chung toàn tỉnh) tăng 0,65% so với tháng trước nhưng giảm 3,59% so với cùng kỳ. Nhìn chung kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đều ở mức cầm chưng do tháng này các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nghỉ 2 dịp Tết khá dài ngày. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 01/2024 ước đạt 350,50 triệu USD, giảm so với tháng trước (giảm 7,66%) nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng khá (tăng 46,86%). Nguyên nhân chủ yếu do công ty Formosa cắt giảm bớt việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào (ước đạt 190,80 triệu USD, giảm 4,48% so với tháng trước và giảm 10,92% so với cùng kỳ) do giảm sản lượng sản xuất khi ngày nghỉ trong tháng khá nhiều. Dự báo hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng 2 sẽ giảm hơn do trùng dịp nghỉ Tết Nguyên đán dài ngày. Thời gian tới của năm 2024 xuất nhập khẩu của tỉnh sẽ ưu tiên phát triển theo hướng đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu với chính sách đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép trong bối cảnh tình hình thế giới còn khá nhiều biến động. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 01 là tháng trùng với dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn, giá cả nhiều mặt hàng tăng, nhất là các nhóm lương thực thực phẩm, đồ dùng gia đình. Thị trường hàng hoá đa dạng, nhiều mẫu mã, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, không xảy ra hiện tượng khan hiếm. Nhiều chương trình khuyến mãi cũng liên tục được các nhà sản xuất, điểm kinh doanh đưa ra nhằm thu hút người tiêu dùng. Các cơ quan quản lý nhà nước tập trung chỉ đạo các doanh nghiệp chủ động đảm bảo nguồn hàng hóa, không để xẩy ra tình trạng thiếu, khan hiếm hàng hóa trên thị trường Hà Tĩnh. Chỉ số CPI chung tăng 0,39% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: Có 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,64% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 3,22%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,11% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,73%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,6% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,5%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,47% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 2,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,32%; giao thông tăng 0,36% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,12%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,84% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,55%. Có 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17% so tháng trước, tăng 4,66% so cùng tháng năm trước. Có 03 nhóm ổn định về chỉ số so với tháng trước là Bưu chính viễn thông; thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 01/2024 chủ yếu do các nguyên nhân chính như: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ là tháng trùng dịp Tết Nguyên đán rơi vào cuối tháng 01 năm 2024, nhu cầu tiêu dùng và giá cả đa số các nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng, nhất là về cuối tháng; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về thuế, giá nhiên liệu xăng, dầu các loại; Thứ ba, tình hình dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, ảnh hưởng đến giá thịt lợn và các mặt hàng chế biến từ thịt lợn giảm. Thị trường vàng và ngoại tệ trong tháng bình quân tăng mạnh theo xu hướng của thị trường thế giới. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 6.330 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.470.993 đồng/100 USD. Dự kiến CPI tháng 02/2024 tiếp tục tăng mạnh, do Tết Nguyên đán rơi vào thời điểm giữa tháng. Do đó, chỉ số giá cả hàng hóa dự kiến tăng mạnh thời điểm đầu và giữa tháng, sau đó giảm dần về cuối tháng. Mức tăng chủ yếu tập trung các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, hàng may mặc, cước vận tải hành khách, vật phẩm trang trí nhà ở. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 01 năm 2024 là tháng cận kề dịp Tết Nguyên đán, nhu cầu mua sắm và giá cả các nhóm hàng hóa đều có xu hướng tăng dần. Thị trường tiêu dùng hàng hoá Tết trên địa bàn Hà Tĩnh diễn ra khá sôi động với lượng hàng hóa phong phú, đa dạng về mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của Nhân dân. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh tăng cường tuyển dụng lao động nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Tất cả điều đó đã góp phần làm cho đời sống người dân ổn định. Đến thời điểm 14/01/2024 toàn tỉnh đang triển khai các hoạt động đảm bảo an sinh xã hội, tri ân, thăm hỏi, tặng quà cho các đối tượng chính sách, bảo trợ xã hội vì vậy số liệu phát sinh sẽ được cập nhật vào tháng tiếp theo.2. Hoạt động y tế - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, Hà Tĩnh đang tập trung tăng cường các hoạt động truyền thông và dự phòng chống lây nhiễm HIV, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân, nhất là đối tượng thanh niên. Trong tháng, phát hiện 2 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS, 1 người chết vì AIDS. So tháng trước: tăng 2 người nhiểm mới HIV (tháng trước không xẩy ra); tăng 1 người chuyển thành AIDS (tăng 100%) và giảm 1 người chết vì AIDS (giảm 50%). So cùng kỳ năm trước: giảm 1 người nhiểm mới HIV (giảm 33,33%); tăng 1 người chuyển thành AIDS (tăng100%); tăng 1 người chết vì AIDS (tăng 100%).- Công tác an toàn thực phẩm: Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết và nguy cơ ngộ độc do mất vệ sinh an toàn thực phẩm có thể xảy ra, cơ quan chuyên ngành (Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm) đã chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai công tác bảo đảm an toàn thực phẩm nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm dẫn đến các ngộ độc thực phẩm có thể xẩy ra trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán và mùa lễ hội đầu xuân năm 2024. Trong tháng, không xảy ra các vụ ngộ độc tập thể (tháng trước và cùng kỳ năm trước đều không xẩy ra các vụ ngộ độc tập thể nào); chỉ có 51 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, so với tháng trước giảm 9 ca (giảm 15%) và giảm 2 ca so với cùng kỳ năm trước (giảm 3,8%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (tháng trước và cùng kỳ năm trước đều không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ). Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, gồm: 1 ca sốt xuất huyết (giảm 4 ca so với cùng kỳ), 1 ca sốt rét (cùng kỳ năm trước không xẩy ra), 47 ca quai bị (tăng 36 ca so với cùng kỳ), 2 ca lỵ trực trùng (giảm 15 ca so với cùng kỳ), 10 ca lỵ amip (giảm 13 ca so với cùng kỳ), 47 ca thủy đậu (tăng 28 ca so với cùng kỳ), 1.649 ca mắc bệnh cúm (tăng 422 ca so với cùng kỳ), 144 ca tiêu chảy đơn lẻ (tăng 1 ca so với cùng kỳ). Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết do các bệnh trên.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Trong tháng, nhiều hoạt động văn hóa diễn ra khá sôi nổi. Đặc biệt vào dịp Tết Dương lịch, Hà Tĩnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật đặc sắc “Hà Tĩnh chào năm mới 2024”; đã tổ chức chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa tầm cao. Chương trình đã mang lại nhiều cảm xúc hứng khởi, truyền đến nhiều thông điệp ý nghĩa về một năm mới với nhiều khát vọng tươi sáng. Đây cũng là lần đầu tiên, tỉnh Hà Tĩnh tổ chức chương trình nghệ thuật đón năm mới với quy mô lớn. Bên cạnh đó, tập trung chuẩn bị tuyên truyền mừng Đảng mừng Xuân, Tết Nguyên đán Giáp Thìn và tháng lễ hội Xuân sắp tới với nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng và linh hoạt như: làm mới và treo pa nô, băng rôn, ma két, lắp mới hệ thống đèn led trang trí tại khu vực công viên và các trục đường chính,... Về thể dục thể thao: Trong tháng, đoàn thể thao tỉnh Hà Tĩnh đã giành được 1 HCV và 3 HCĐ bộ môn điền kinh, trong đó: 1 HCV giải bán Marathon Quốc tế; 2 HCĐ giải Việt dã chào năm mới BTV 2024 và 1 HCĐ giải VĐQG Leo Núi.Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Trong tháng, đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra văn hóa trên địa bàn, nhất là các dịch vụ vui chơi giải trí karaoke, dịch vụ kinh doanh văn hóa tranh ảnh, băng đĩa nhạc,… nhằm đảm bảo việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân nhất là trong dịp tết được tốt hơn, loại trừ các văn hóa phẩm đi lệch với các thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước.4. Tình hình trật tự và toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân vui đón Tết Dương lịch, chuẩn bị cho Tết Nguyên đán Giáp Thìn và Lễ hội xuân 2024, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Tính từ ngày 15/12/2023-14/01/2024 xảy ra 40 vụ tai nạn đường bộ, làm 16 người chết, 41 người bị thương; 1 vụ tai nạn đường sắt, không làm thiệt hại về người; tai nạn đường thủy không xẩy ra. Tổng giá trị thiệt hại ước tính của 41 vụ (gồm cả tai nạn đường bộ và đường sắt) là 310 triệu đồng. So với tháng trước: Số vụ tai nạn đường bộ giảm 2 vụ (giảm 4,76%), giảm 1 người chết (giảm 5,88%) và tăng 14 người bị thương (tăng 51,85%); số vụ tai nạn đường sắt tăng 01 vụ (tháng trước không xẩy ra); số vụ tai nạn đường thủy không thay đổi (không xẩy ra). So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 15 vụ (tăng 60%), giảm 4 người chết (giảm 20%) và tăng 32 người bị thương (tăng 355,56%); số vụ tai nạn đường sắt tăng 1 vụ.5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổTình hình cháy: Từ ngày 15/12/2023-14/01/2024 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 1 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 1 triệu đồng; so với tháng trước: giảm 1 vụ cháy (giảm 50%), thiệt hại về người không thay đồi (không xẩy ra); so với cùng kỳ năm trước giảm 8 vụ cháy (giảm 88,88%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). Tình hình nổ: Trong tháng không xẩy ra vụ nổ. Vi phạm môi trường: Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo các địa phương đấy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân trong việc phát triển kinh tế phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, nên người dân ngày càng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, do đó tình hình vi phạm môi trường tháng 01/2024 có chiều hướng giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 64 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 21 vụ, với tổng số tiền xử phạt 35,60 triệu đồng; tăng 58 vụ phát hiện (tăng 10,67 lần), tăng 17 vụ đã xử lý (tăng 5,25 lần), giảm 242,90 triệu đồng (giảm 87,22%) tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 86 vụ phát hiện (giảm 57,33%), giảm 150 vụ đã xử lý (giảm 87,72%), giảm 303,10 triệu đồng (giảm 89,49%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước không thay đổi. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh quý IV và cả năm 2023
  •   27/07/2024 22:56

Năm 2023 là năm giữa nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, các nghị quyết, chính sách giai đoạn 2021-2025, năm có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm 2021-2025. Trong quý IV cũng như năm vừa qua, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn thách thức. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi; tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, Nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào hoạt động, giải phóng mặt bằng và xây dựng đường cao tốc phía Đông … sẽ là hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh nhà.vv. Tuy nhiên, lạm phát toàn cầu mặc dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao; hầu hết các nước vẫn thắt chặt chính sách tiền tệ; sự phục hồi chậm và suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Trong đó, đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2023 có mức tăng trưởng khá, an sinh xã hội được đảm bảo, quốc phòng an ninh được giữ vững. I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1.  Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)     Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2023 ước tính tăng 8,05%, cao hơn so với mức tăng trưởng năm 2022 (tăng 2,54%) xếp thứ 15 cả nước, cao nhất khu vực Bắc Trung bộ. Trong đó, quý I tăng 4,11%; Quý II tăng 7,33%; quý III tăng 10,11%; quý IV ước tăng 9,76%; kinh tế tăng trưởng dần qua các quý thể hiện xu hướng phục hồi tích cực của nền kinh tế.Trong tăng trưởng chung của nền kinh tế năm 2023, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,71%, đóng góp 4,62%; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 11,43%, đóng góp 59,14 %; khu vực Dịch vụ tăng 6,5% đóng góp 27,81%; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 6,66%, đóng góp 8,43%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục đà tăng trưởng khá. Sản xuất nông nghiệp được mùa; vụ Xuân đạt năng suất, sản lượng cao nhất từ trước tới nay; giá bán cao hơn các năm trước; chăn nuôi duy trì ổn định, tổng đàn và sản lượng thịt xuất chuồng tăng nhẹ; Sản xuất lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định. Năm 2023, ngành nông nghiệp tăng 2,33%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 5,31% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,07 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,36%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. Trong khu vực công nghiệp-xây dựng, ngành công nghiệp lấy lại đà tăng trưởng khi đạt mức tăng trưởng 10%, đóng góp 3,63 điểm % vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Trong đó, đầu tàu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,14%, đóng góp 2,54 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 16,62%, đóng góp 1,67 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh, đây là mức tăng trưởng cao nhất của ngành này kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Nguyên nhân hiện nay trên địa bàn tỉnh đang triển khai xây dựng nhiều công trình, dự án lớn như: Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2, đường Cao tốc Bắc -Nam; nhà máy sản xuất Pin Lithium... Khu vực dịch vụ năm 2023 nhìn chung đã ổn định trở lại. Do các hoạt động tiêu dùng cơ bản đã trở về trạng thái bình thường mới. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 7,63% so với năm trước, đóng góp 0,53 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành vận tải kho bãi tăng 13,92%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,09%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,14%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm. Về cơ cấu kinh tế năm 2023, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 14,71%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,78% (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 30,18%; ngành xây dựng chiếm 9,60%); khu vực Dịch vụ chiếm 35,58%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,93% (năm 2022 cơ cấu các khu vực tương ứng: 15,27%; 39,66%; 35,05%; 10,02%). 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Năm 2023, sản xuất nông nghiệp đạt và vượt kế hoạch đề ra, vụ Đông - Xuân thắng lợi cả về năng suất và sản lượng, tuy nhiên sản xuất vụ Hè Thu và vụ Mùa gặp nhiều khó khăn do biến đổi thất thường của thời tiết. Hoạt động chăn nuôi từ đầu năm đến nay giá thịt hơi không ổn định cùng với việc chi phí chăn nuôi đang còn ở mức cao đang là những rào cản đối với hoạt động chăn nuôi, dịch tả lợn Châu Phi hiện nay cũng đang diễn biến khá phức tạp. Hoạt động trồng, chăm sóc, khoanh nuôi rừng đạt kết quả ổn định và tăng nhẹ so với năm trước; công tácquản lý, bảo vệ rừng mặc dù rất được quan tâm, tuy nhiên nạn chặt phá và vụ cháy rừng trong năm vẫn còn xảy ra khá nhiều. Sản xuất thủy sản có nhiều khởi sắc khi thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng, bên cạnh đó nhu cầu về thủy hải sản tăng caokhuyến khích người dân ra khơi bám biển. 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt *Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 158.555 ha bằng 99,60% (giảm 629 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm sơ bộ đạt 646.088 tấn, so với thực hiện năm trước bằng 104,76% (tăng 29.372 tấn). Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau. Cây lúa: Diện tích gieo trồng cây lúa cả năm sơ bộ đạt 104.293 ha, bằng 99,55%, giảm 473 ha so với năm trước, trong đó, diện tích gieo cấy vụ Đông Xuân đạt 59.407 ha, bằng 99,32% (giảm 406 ha); vụ Hè Thu đạt 44.568 ha, bằng 100,09% (tăng 29 ha) và vụ Mùa đạt 318 ha, bằng 76,74% (giảm 97 ha). Diện tích gieo trồng giảm chủ yếu do ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Bắc Nam nên nhiều diện tích đất bị thu hồi. Năng suất gieo trồng lúa cả năm sơ bộ đạt 55,48 tạ/ha, bằng 104,09% (tăng 2,18 tạ/ha) so với năm 2022. Vụ Đông Xuân năng suất lúa chính thức đánh giá đạt cao(59,59 tạ/ha, bằng 106,86%) và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh; vụ Hè Thu năng suất lúa giảm là do nắng nóng kéo dài một số xã ở cuối nguồn nước chưa chủ động được nước tưới để cho cây sinh trưởng và phát triển nên đã ảnh hưởng đến năng suất, mặt khác, trong giai đoạn lúa trổ đòng có một số trà lúa gặp gió nam nên có tỷ lệ hạt lép cao.Lúa Mùa năng suất, chất lượng kém nên người dân ít quan tâm, đầu tư, chủ yếu mục đích sản xuất để lấy giống phục vụ mùa vụ sau. Tổng sản lượng lúa năm 2023 sơ bộ đạt 578.618 tấn, bằng 103,62% (tăng 20.217 tấn) so với năm 2022. Trong đó: sản lượng lúa Đông Xuân chiếm tỷ trọng 61,18%, tăng 6,13% (tăng 20.455 tấn); sản lượng lúa vụ Hè Thu chiếm tỷ trọng 38,73%, giảm 0,02% (giảm 39 tấn) và sản lượng lúa Mùa chiếm tỷ trọng 0,09% tổng sản lượng lúa cả năm, giảm 28,04% (giảm 203 tấn) so với cùng kỳ năm 2022. Diện tích gieo trỉa các loại cây hàng năm chủ lực khác như khoai lang, sắn, lạc đều giảm, chỉ có diện tích ngô và rau tăng hơn so với năm 2022. Nguyên nhân do năm nay thời tiết đầu vụ Đông xấu gây khó khăn cho việc xuống cây khoai và lạc nên người dân chuyển sang trồng ngô, cộng với việc giá thức ăn chăn nuôi cao người dân tận dụng diện tích trồng ngô để phục vụ hoạt động chăn nuôi. Mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng với việc ít sâu bệnh và điều kiện thời tiết thuận lợi thì năng suất các loại cây trồng chủ lực khác năm 2023 như ngô, khoai lang, sắn, rau đều tăng hơn so với năm 2022, chỉ có các loại cây rau, đậu năng suất không đạt kỳ vọng như năm trước. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Năm nay các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại đối với các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại là không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân có 3.850 ha nhiễm bệnh khô vằn; có 431ha bị chuột gây hại, bệnhđạo ôn cổ bông xuất hiện trên diện tích 4ha, diện tích phòng trừ 37.000ha...Vụ Hè Thu năm nay có diện tích 1.950ha nhiễm bệnh khô vằn, trong đó 20ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương, có nạn chuột phá hoại trên diện tích 200ha. Ngoài ra trên cây lúa còn phát sinh một số loại sâu bệnh nhưng với mật độ thấp và không gây ảnh hưởng đến năng suất lúa. Đối với các loại cây trồng khác tuy sâu bệnh có phát sinh gây hại nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng *Cây lâu năm Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện, tổng diện tích hiện có cây lâu nămsơ bộ đạt 31.642 ha, bằng 99,52%, giảm 154 ha so với năm 2022. Hiện nay diện tích cây ăn quả có múi giảm do đến thời kỳ thoái hóa, do ảnh hưởng thời tiết, đất đai, kỹ thuật thâm canh, sâu bệnh, chi phí đầu tư cao và việc lạm dụng phân bón hóa học đã làm cho một số diện tích bị thoái hóa sớm. Sản lượng cây ăn quả sơ bộ đạt 176.445 tấn, bằng 101,01%, tăng 1.767 tấn so với năm 2022. Cây bưởi, cam là đặc sản nổi tiếng của địa phương được trồng tập trung ở các xã vùng đồi bãi phù sa, tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao thông qua các mô hình sản xuất với quy mô lớn, liên kết theo chuỗi giá trị bền vững, tổ chức sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ nhằm tạo ra sản phẩm có thương hiệu, giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống và tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất. Kết quả năm 2023 diện tích cây cao su hiện có 8.439ha, trong đó: diện tích cho sản phẩm là 4.879 ha, tăng 635ha so với năm 2022 với sản lượng thu hoạch đạt 3.991 tấn, tăng 9,58%; Chè búp diện tích hiện có là 1.269ha tăng 52ha với sản lượng thu hoạch 14.215 tấn, tăng 2,05% so với năm 2022, những mô hình trồng chè đã cho thấy những kết quả khả quan, hiệu quả cao hơn so với trồng các loại cây công nghiệp khác, vì vậy những năm gần đây diện tích tăng lên khá đáng kể. Tình hình sâu bệnh trên cây lâu năm chủ yếu xuất hiện trên cây ăn quả có múi, có khoảng 70ha nhiễm sâu vẽ bùa, nhện nhỏ 60ha, ruồi đục quả 55ha phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…các đối tượng như rệp muội, bọ xít, gây hại rải rác trên những vườn hộ lâu năm. b. Chăn nuôi Năm 2023, hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh ở mức ổn định, có dấu hiệu khởi sắc so với năm 2022. Dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xảy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tổng đàn lợn và gia cầm có mức tăng so với năm trước. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay giá bán thịt hơi không ổn định cùng với việc chi phí chăn nuôi đang còn ở mức cao, thời điểm cuối năm tình hình dịch tả lợn Châu Phi đang diễn ra khá phức tạp là những rào cản khá lớn cho hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua cũng như thời gian sắp tới, ảnh hưởng tới việc đảm bảo cung cầu trong dịp cuối năm 2022 và Tết Nguyên Đán. Kết quả về số lượng và sản lượng đàn vật nuôi năm 2023 cụ thể như sau: Đàn trâu hiện có 67.510 con, giảm 0,70% (giảm 476 con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 3.580 tấn, giảm 0,56%so với năm 2022; Đàn bò hiện có 168.915 con, tăng 0,66% (tăng 1.100 con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước tính đạt 9.800 tấn, giảm 1,55%; Đàn hươu hiện có 46.100 con, tăng 15,06% (tăng 6.033 con); Đàn lợn hiện có 400.150 con, tăng 1,02% (tăng 4.054 con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 70.099 tấn, tăng 2,71% (tăng 1.849 tấn); Đàn gà hiện có là 8.370 ngàn con, tăng 1,45% (tăng 120 ngàn con), sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng đạt 20.610 tấn, tăng 2,13% (tăng 430 tấn). Sản lượng trứng năm 2023 ước tính đạt 183.950 ngàn quả, tăng 0,55% so với năm 2022. Chăn nuôi lợn ổn định và sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng hơn so với năm 2022, nguyên nhân tăng do tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, những hộ nuôi nhỏ lẻ bắt đầu tái đàn trở lại, những hộ nuôi quy mô gia trại, trang trại tiếp tục sản xuất, tái đàn và mở rộng quy mô chuồng trại. Về gia cầm do làm tốt công tác phòng dịch cũng như kiểm soát dịch bệnh nên số lượng đàn gia cầm tuy có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không lớn. Bên cạnh các đàn vật nuôi lớn thì đàn hươu trong hai năm gần đây cũng phát triển mạnh do tỉnh có chính sách hỗ trợ khuyến khích người dân chăn nuôi hươu và vì hiệu quả kinh tế cao, ổn định nên người dân vẫn duy trì và phát triển đàn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ ngày 10/11/2023 đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh, dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại 53 hộ/25 thôn/11 xãcủa 5 huyện (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, TX Hồng Lĩnh, Nghi Xuân, Thạch Hà). Tổng số lợn mắc bệnh, buộc phải tiêu hủy 202 con; trọng lượng 14.905 kg. Hiện nay dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp do thời gian tới có không khí lạnh và nhiều đợt mưa, thời tiết ẩm, vật nuôi giảm sức đề kháng, lưu lượng vận chuyển, buôn bán động vật, sản phẩm động vật tăng cao, tình hình dịch bệnh tại một số tỉnh trong khu vực diễn biến phức tạp... Do đó, nguy cơ phát sinh, lây lan DTLCP là rất lớn. Vì vậy, cần tập trung cao cho công tác phòng, chống dịch; đồng loạt triển khai công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi, hạn chế lây lan dịch bệnh. 2.2. Lâm nghiệp - Trồng rừng và khai thác rừng: Năm 2023, diện tích rừng tập trung và sản lượng gỗ khai thác đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng rừng tập trung sơ bộ đạt 9.816 ha, bằng 102,04%, tăng 196 ha so với năm 2022. Công tác trồng rừng hiện nay vẫn được các cấp, các ngành quan tâm, khuyến khích phát triển, sản xuất theo hướng thâm canh chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang trồng gỗ lớn. Việc trồng rừng hàng năm thường tập trung vào quý cuối năm, nếu chỉ tính riêng quý IV diện tích trồng rừng tập trung đạt 5.014ha (chiếm đến 51,08% diện tích rừng trồng mới) tăng 115,10% (tăng 2.683ha) so với quý III/2023 và tăng 2,43% so với cùng quý năm trước. Số lượng cây trồng phân tán bộ đạt 2.892 nghìn cây, bằng 99,31%, giảm 20 nghìn cây so với năm 2022, do quỹ đất ngày càng giảm nên lượng cây trồng phân tán cũng ngày càng có xu hướng giảm. Về khai thác rừng, tổng số gỗ tròn khai thác năm 2023 đạt 583.065 m3, bằng 105,93%, tăng 32.631 m3 so với năm 2022, nếu chỉ tính riêng quý IV sản lượng khai thác đạt 267.581 m3 (chiếm đến 45,89% sản lượng khai thác) tăng 98,06% so với quý III/2023 và tăng 7,29% so với cùng quý năm trước. Nguyên nhân do rừng đến tuổi khai thác, nhu cầu gỗ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến cuối năm được khôi phục trở lại. Việc hạn chế thu nhặt gỗ khi rừng chưa đến tuổi khai thác nên sản lượng củi khai thác giảm hơn so với năm 2022 (giảm 2,22%), mức độ khai thác các quý trong năm cũng khá tương đồng nhau. Ngành lâm nghiệp trong năm đã từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia bảo vệ và phát triển rừng, thích ứng với biển đổi khí hậu nâng cao tỷ lệ đất có rừng, trồng các loại cây lâm nghiệp phù hợp với điều kiện của địa phương. - Thiệt hại rừng: Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, các vụ chặt phá rừng và cháy rừng hàng năm vẫn không thể tránh khỏi. Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ cháy rừng (tăng 9 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 10,27 ha (tăng 9,87 ha) và 104 vụ phá rừng (tăng 28 vụ), với diện tích rừng bị phá là 68,18 ha (tăng 26,44 ha) so với năm 2022. 2.3. Thủy sản Những năm gần đây kết quả sản xuất thủy sản phát triển khá ổn định. Năm 2023 sản lượng khai thác và nuôi trồng đều tăng, tổng sản lượng thủy hải sản đạt 56.424 tấn, tăng 2,23%, tăng 1.231 tấn so với năm 2022, trong đó: Sản phẩm thủy sản khai thác: Sản lượng sơ bộ đạt 39.585 tấn, tăng 1,74% (tăng 677 tấn) so với năm 2022, chiếm đến 70,16% tổng sản lượng thủy sản năm 2023. Trong đó: Sản lượng khai thác biển sơ bộ đạt 34.935 tấn, tăng 2,25% (tăng 769 tấn) so với năm 2022. Thời tiết trên ngư trường khá thuận lợi để tàu thuyền tăng cường bám biển đánh bắt hải sản, đặc biệt là đội tàu đánh bắt xa bờ đạt sản lượng cao, đánh bắt được nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Sản lượng khai thác nội địa sơ bộ đạt 4.650 tấn, giảm 1,94% (giảm 92 tấn) so với năm 2022, sản lượng giảm do chủ yếu khai thác tôm, hến, trai, ốc... tự nhiên ở cửa sông, cửa lạch ngày càng có xu hướng giảm. Sản lượng thủy sản khai thác thủy sản chủ yếu tập trung ở các quý I,II,III đến quý IV do thời tiết chuyển lạnh, mưa nhiều không thuận lợi cho việc ra khơi cộng với việc chất lượng thủy sản biển và nhu cầu của người dân giảm hơn nhiều ở các quý trước nên sản lượng khai thác chỉ ở mức cầm chừng. Tính riêng quý IV sản lượng chỉ đạt 7.258 tấn, giảm 38,12% (giảm 4.472 tấn) so với quý trước và giảm 2,12% so với cùng quý năm trước.  Sản phẩm thủy sản nuôi trồng: Sản lượng sơ bộ đạt 16.839 tấn, tăng 3,40% (tăng 554 tấn) so với năm 2022, trong đó: Nuôi trồng cá đạt 7.326 tấn, tăng 1,54% (tăng 111 tấn); Tôm nuôi đạt 5.889 tấn, tăng 3,55% (tăng 202 tấn); Thủy sản khác đạt 3.624 tấn, tăng 7,12% (tăng 241 tấn) so với năm 2022. Mùa vụ nuôi trồng chủ yếu tập trung ở quý II và III của năm 2022, nhất là ở quý III sau khi thu hoạch chính, thì quý IV là gia đoạn thả giống nuôi trồng. Vì vậy, tính riêng quý IV sản lượng nuôi trồng đạt 3.144 tấn, giảm 56,78% (giảm 4.129 tấn) so với quý trước nhưng so với cùng quý năm trước vẫn tăng 17,44%. Nếu như năm 2022 đánh dấu sự tăng trưởng của sản lượng khai thác, thì năm 2023 là những tín hiệu tích cực từ thủy sản nuôi trồng. Với việc thời tiết thuận lợi ảnh hưởng của thiên tai ít và đặc biệt là áp dụng mô hình nuôi tôm công nghiệp, an toàn sinh học theo hướng tập trung và quy mô hàng hóa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Mô hình này cũng góp phần khai thác tốt tiềm năng diện tích, phát triển bền vững tại địa phương. Sản xuất giống thủy sản: Số lượng ước đạt 945 triệu con, giảm 2,88% (giảm 28 triệu con) so với năm 2022. Các cơ sở sản xuất có quy hoạch vùng sản xuất giống tập trung với quy mô lớn, tăng cường quản lý, kiểm soát về điều kiện sản xuất, kiểm định chất lượng tôm giống thường xuyên các cơ sở sản xuất trên địa bàn nhằm đảm bảo được chất lượng giống, đáp ứng nhu cầu cung cấp ngày một tăng. Ngành thủy sản đã từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quảthu hút nhiều thành phần kinh tế xã hội tham gia bảo vệ và phát triển bền vững nguồn thủy hải sản, thích ứng với biến đổi khí hậu, sản phẩm chủ lực như tôm thẻ chân trắng đang có xu hướng tăng dần do nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng. Sự quan tâm các cấp, các ngành liên quan cần quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích đất quy hoạch nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng suất, sản lượng các loại thủy sản phù hợp với điều kiện của địa phương. 3. Sản xuất công nghiệp Nhờ nỗ lực vượt khó, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, hoạt động sản xuất công nghiệp năm 2023 lấy lại đà tăng trưởng. Tăng trưởng toàn ngành ước đạt 10%, đóng góp 3,63 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh, cả 4/4 ngành công nghiệp cấp 1 đều có chỉ số tăng trưởng dương. Trong mức tăng trưởng chung của toàn ngành:Ngành khai khoáng ước tăng 5,52%, đóng góp 0,03 điểm % vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,14%, đóng góp 2,55 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 13,85%; đóng góp 1,03 điểm %; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,14%, đóng góp 0,02% điểm phần trăm. 3.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh quý IV năm 2023 tăng 12,9% cao hơn mức tăng của quý I và quý II; tuy nhiên thấp hơn mức tăng của quý III/2023 (tăng 24,08%). Tính chung cả năm 2023 chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 7,41% so với năm 2022. Phân theo ngành kinh tế cấp 1: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,41% đóng góp 0,17 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,4% làm tăng 5,4 điểm % (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14% đóng góp 1,75 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,87% đóng góp 0,09 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Hoạt động sản xuất công nghiệp năm 2023 tăng trưởng khá là do: (1) Trong quý III, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 đã đi vào hoạt động sau gần 2 năm tạm ngừng do sự cố, cùng với đó là nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào hoạt động đã tạo hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh nhà. (2) Nhờ thị trường tiêu thụ ổn định đã tạo thuận lợi cho ngành sản xuất thép, sợi, bia..vv đã tăng lượng sản xuất trở lại. (3) Năm 2023 hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh sôi động hơn với nhiều dự án lớn được triển khai nên các mỏ đất, đá, cát tăng công suất và một số mỏ mới được cấp phép hoạt động phục vụ các công trình xây dựng kéo theo tăng trưởng ngành công nghiệp khai khoáng. 3.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 10 nhóm sản phẩm cộng dồn 12 tháng tăng so cùng kỳ và có 9 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp năm 2023 tăng so với năm trước: Vỏ bào, dăm gỗ tăng 27,01%; Bê tông trộn sẵn tăng 23,75%; điện sản xuất tăng 14,31%; điện thương phẩm tăng 12,19%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 10,14%; ... Một số sản phẩm công nghiệp năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước: Quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 55,94%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 39,18%; thức ăn cho gia súc giảm 16,91%; dịch vụ sản xuất dược giảm 13,49%;...   3.3. Chỉ số ngành công nghiệp - Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước năm 2023 tăng 8,59% so với năm trước. Như vậy trong năm 2023 nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh dần phục hồi sau nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong năm 2022. - Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tính đến thời điểm cuối năm 2023 ước tăng 30,49% so với năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao do một số ngành như: Sản xuất trang phục tăng 479,5%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 103,51%; sản xuất đồ uống tăng 53,81%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 48,83%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 37,26%; … - Tình hình sử dụng lao động: Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 12/2023 tăng 4,08% so với năm 2022. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động năm 2023 của ngành khai khoáng giảm 0,17% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động năm 2023 đối với ngành này tăng 5,35%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,65%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,73% so với năm 2022. 4. Tình hình hoạt động doanh nghiệp. Năm 2023 tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá có chuyển biến tích cực hơn trước. Tuy nhiên bên cạnh những yếu tố thuận lợi, thì hiện nay nhiều doanh nghiệp đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Theo các doanh nghiệp, khó khăn nhất hiện nay vẫn là nhu cầu thị trường sụt giảm và chi phí sản xuất cao. Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng và rút lui khỏi thị trường tăng 21,01% so với năm trước. 4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 21/12/2023, toàn tỉnh thành lập mới 1.179 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc (ĐVTT), giảm 14,87% so với cùng kỳ năm 2022. Tổng vốn đăng ký đạt 5.580 tỷ đồng, giảm 44,74%, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 4,73 tỷ đồng, giảm 35,08% so cùng kỳ năm trước.Trong năm có 370 doanh nghiệp, ĐVTT hoạt động trở lại (giảm 3,39%); Bên cạnh các Doanh nghiệp thành lập mới, trong năm qua có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm ngừng và giải thể, cụ thể: có 569 doanh nghiệp, ĐVTT tạm ngừng hoạt động (tăng 19,79%); 243 doanh nghiệp, ĐVTT giải thể (tăng 23,98%); tỷ lệ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế kê khai phát sinh thuế đạt trên 41% (năm 2022 là 47%). Hiện nay để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, phát triển, tháo gỡ khó khăn về thị trường tiêu thụ. Khi có thêm những giải pháp thúc đẩy đầu ra thì doanh nghiệp mới cải thiện được khả năng trả nợ, tăng khả năng hấp thụ vốn. 4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Đánh giá tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2023 so với quý III/2023, có 68,75% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó các doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên chiếm 27,08%; có 41,67% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ vẫn giữ nguyên như quý III/2023). Bên cạnh đó, số doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD của họ khó khăn hơn chiếm đến 31,25% trong tổng số các doanh nghiệp toàn tỉnh. Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2024 so quý IV/2023 khi có tới 37,5% doanh nghiệp nhận định SXKD quý I/2024 sẽ tốt hơn và 37,5% giữ ổn định. Số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước giảm xuống còn 25% tổng số các doanh nghiệp trong toàn tỉnh. Theo hình thức sở hữu có 45,45% số doanh nghiệp ngoài nhà nước nhận định SXKD quý I/2024 tốt hơn quý IV/2023; tỷ lệ này của các doanh nghiệp Nhà nước là 33,33%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhận định răng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn giữ nguyên và khó khăn hơn so với quý IV/2023.  Nhìn chung đa số các doanh nghiệp đánh giá quý IV/2023 và dự báo quý I/2024 về tình hình sản xuất kinh doanh, biến động về khối lượng sản xuất, số lượng đơn đặt hàng có xu hướng tăng lên và giữ nguyên. Bên cạnh đó, tỷ lệ các doanh nghiệp dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh năm tiếp theo có xu hướng tăng lên so với năm hiện tại chiếm tỷ lệ cao hơn. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực và thuận lợi hơn trước. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Năm 2023, ngành dịch vụ được đánh giá là một điểm sáng trong phục hồi nền kinh tế tỉnh nhà, có tác động lan tỏa tới nhiều lĩnh vực, góp phần cải thiện ba động lực tăng trưởng của nền kinh tế là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng. Với việc chuẩn bị chu đáo thông qua tổ chức nhiều lễ hội ngay từ đầu năm, tình hình hoạt động ngành dịch vụ đang trên đà phục hồi và phát triển. Trái với không khí khá trầm lắng trong thời gian đầu năm trước do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, mùa hè năm nay, các khu du lịch trên địa bàn tỉnh luôn trong không khí tấp nập du khách. Ước tính năm 2023, tổng doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt trên 7,5 nghìn tỷ đồng, tăng 25,97% so với năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt dự tính đạt 59.776,21 tỷ đồng, tăng 13,03% so với năm trước, tăng ở các nhóm ngành hàng chủ yếu sau: Lương thực, thực phẩm tăng 17,97%; hàng may mặc ước tăng 16,03%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 27,29%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 38,35%; xăng, dầu các loại tăng 20,02%... Nguyên nhân chính của việc tăng doanh thu chủ yếu do việc tăng giá của các mặt hàng trên trong khoảng thời gian từ đầu năm đến nay. Bên cạnh những mặt hàng có mức tăng cao thì các nhóm hàng ô tô và phương tiện đi lại có doanh thu giảm sâu so với cùng kỳ nhưng vì các nhóm hàng doanh thu bán lẻ không cao, nên không ảnh hưởng quá lớn tới mức tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa. Dịch vụ bán lẻ trên địa bàn tăng ở tất cả các tháng và quý trong năm, nhưng tăng mạnh nhất trong quý cuối năm, uớc tính quý IV/2023 doanh thu đạt 16426,48 tỷ đồng, tăng 10,38% so với quý trước và tăng 10,54% so với cùng quý năm trước. Như đã phân tích ở trên do yếu tố mùa vụ những tháng cuối năm cận Tết khiến doanh thu quý IV tăng khá hơn những quý khác trong năm, nhu cầu tăng mạnh cộng với việc giá cả các nhóm hàng hóa thiết yếu đang mở mức cao khiến doanh thu trong quý đạt mức tăng cao so với cùng kỳ. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Năm 2023, nhìn chung hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch đạt được nhiều thành tựu, tăng trưởng ổn định nhờ những chính sách phát triển đúng đắn của chính quyền địa phương với những hoạt động kích cầu du lịch như tổ chức các lễ hội, các hoạt động khai trương mùa du lịch biển tại hầu hết các địa phương có biển. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 7.650,42 tỷ đồng, tăng 25,97% so với năm 2022, trong đó: dịch vụ lưu trú đạt 268,60 tỷ đồng, tăng 9,35%; dịch vụ ăn uống đạt 7.337,71 tỷ đồng, tăng 26,27%; dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch đạt 44,10 tỷ đồng, tăng 168,66%. Mức doanh thu các quý trong năm khá tương đồng nhau, biến động không ở mức quá chênh lệch. Tính riêng quý IV doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 2.009,87 tỷ đồng, giảm 4,42% so với quý trước nhưng vẫn tăng đến 24,08% so với cùng quý năm trước, trong đó giảm mạnh nhất ở dịch vụ lưu trú (giảm 52,74% so với quý trước và giảm 23,71% so với cùng quý năm trước). Năm 2023, tình hình hoạt động ngành dịch vụ, ăn uống đang trên đà phục hồi và phát triển. Với việc chuẩn bị chu đáo thông qua tổ chức nhiều lễ hội từ đầu năm, ngành dịch vụ đã quảng bá và thu hút được lượng khách lớn. Bên cạnh đó, về du lịch việc kinh doanh năm nay gặp nhiều thuận lợi, nắng kéo dài cộng với hạ tầng khu du lịch ngày càng khang trang, nhiều điểm mới hấp dẫn đã thu hút đông đảo du khách. Du khách nhộn nhịp, doanh thu kèm lợi nhuận tăng cao không chỉ mang lại niềm phấn khởi cho người kinh doanh ngành dịch vụ mà còn là động lực để đầu tư cơ sở nhằm phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Dịch vụ khác:Trong tháng các hoạt động dịch vụ như chăm sóc da, làm đẹp, cắt tóc, gội đầu; dịch vụ dọn vệ sinh nhà cửa tăng hơn so với tháng trước do nhu cầu cuối năm, cùng với đó gia tăng các hoạt động san lấp mặt bằng, cho thuê máy móc, vệ sinh công trình… Năm 2023, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.338,67 tỷ đồng, tăng 8,19% so với năm trước. Trong đó mức tăng chủ yếu ở 6 tháng đầu năm (Quý I và II) còn 6 tháng cuối năm hoạt động dịch vụ khác đều giảm nhẹ so với cùng kỳ (Quý III giảm 1,17%, quý IV giảm 1,55%) 5.2. Hoạt động vận tải Kết quả hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, số lượng vận chuyển, lưu chuyển cũng như giá vé nhìn chung đều tăng. Hạ tầng giao thông hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải tập trung đầu tư mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Năm 2023 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 7.228,45 tỷ đồng, tăng 20,34% so với năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 1.093,16 tỷ đồng, tăng 41,81%; vận tải hàng hóa ước đạt 4.671,10 tỷ đồng, tăng 16,58%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.310,22 tỷ đồng, tăng 7,66% so với năm trước. Xét trong quý IV, doanh thu vận tải tăng nhẹ 1,09% so với quý trước, nhưng tăng đến 29,88% so với cùng quý năm trước, trong đó: doanh thu vận tải hành khách tăng 7,03% so với quý trước và tăng 48,29% so với cùng quý, doanh thu vận tải hàng hóa, tăng 2,91% so với quý trước và tăng 24,93% so với cùng quý; chỉ có doanh thu hỗ trợ vận tải là giảm nhẹ so với quý trước. Hoạt động vận tải trong năm bên cạnh sức hút từ sự phát triển của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. Thì với sự thuận lợi của thời tiết việc hoạt động xây dựng phục vụ các dự án lớn trên địa bàn tăng mạnh khiến nhu cầu về vận chuyển vật liệu xây dựng tăng, cộng với việc hoạt động bán buôn, bán lẻ tăng trưởng tốt cũng là yếu tố tác động đến doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa. Thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa cũng có tín hiệu tăng trưởng tích cực nhu cầu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2023 đạt thấp so với năm trước do tình hình sản xuất kinh doanh còn khó khăn, thị trường bất động sản phục hồi chậm, đồng thời ảnh hưởngmột số chính sách miễn giảm thuế, phí cho doanh nghiệp. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn:Tổng thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/12/2023 đạt 16.875,32 tỷ đồng, (giảm 2,63% so với cùng kỳ). Trong đó: thu nội địa ước đạt 8.508,67 tỷ tăng 5,82% so với cùng kỳ năm trước. Một số khoản thu chính như: thu thuế, phí đạt 5.702,28 tỷ đồng tăng 19,31% so với cùng kỳ 2022, thu thuế phí tăng so với năm 2022 nhờ đóng góp từ khoản thu 1.098 tỷ đồng sau thanh tra của Formosa. Thu tiền sử dụng đất đạt 2.272,83 tỷ đồng giảm 23,24% do sự chững lại của thị trường mua bán, chuyển nhượng bất động sản. Nhìn chung sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn là nguyên nhân chính dẫn đến thu nội địa chưa đạt yêu cầu. Ngoài ra tỉnh đang áp dụng chính sách miễn giảm thuế, trong đó thuế bảo vệ môi trường giảm 50% so với kế hoạch. Bên cạnh thu nội địa thì thu xuất nhập khẩu đạt 8.183,34 tỷ đồng, giảm 9,56% so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa giảm nhập nguyên liệu đầu vào có thuế, trong khi các sản phẩm thép xuất khẩu được miễn thuế. Ngoài ra xuất nhập khẩu qua Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo cũng bị tác động một phần do tuyến đường lên cửa khẩu phía Lào bị sạt lở trong tháng 8 và tháng 9 năm 2023. Tổng chi ngân sách nhà nước:Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/12/2023 đạt 22.371,64 tỷ đồng, tăng 17,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 10.8154,51 tỷ đồng, chiếm 48,34% tăng 26,94% so với cùng kỳ năm trước.Chi thường xuyên đạt 11.445,71 tỷ đồng, chiếm 51,16% tổng chi, tăng 9,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề ước thực hiện cả năm đạt 3675,83 tỷ đồng, tăng 7,32% so với năm trước; Chi sự nghiệp y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình đạt 932,93 tỷ đồng; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể ước thực hiện cả năm đạt 2.520,14 tỷ đồng, tăng 4,18%; Chi sự nghiệp kinh tế ước thực hiện cả năm đạt 782,51 tỷ đồng tăng 18,36%. Nhìn chung hoạt động chi ngân sách ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, cấp bách gắn với việc thực hiện các mục tiêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 6.2. Hoạt động ngân hàng Năm 2023 ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ, người dân và doanh nghiệp, tiếp cận vốn tín dụng tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế ước tăng9,12% so với cuối năm 2022.Bên cạnh đó nhờ triển khai tốt các chính sách ưu đãi nên nguồn vốn huy động của ngành ngân hàng Hà Tĩnh có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Hà Tĩnh ước đến thời điểm 31/12/2023, đạt 99.950 tỷ đồng, tăng 18,61% so với cuối năm 2022. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.910 tỷ đồng, chiếm 12,92% tổng nguồn vốn huy động, tăng 8,67% so với cuối năm 2022. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 74.483 tỷ đồng, tăng 19,80%; tiền gửi thanh toán đạt 24.762 tỷ đồng, tăng 16,52% so với cuối năm 2022.Mặc dù lãi suất huy động trong năm 2023 có xu hướng giảm dần nhưng với việc triển khai nhiều chương trình ưu đãi, tổng nguồn vốn huy động toàn địa bàn đạt mức tăng trưởng tốt. Dư nợ cho vay ước đến 31/12/2023 đạt 95.150 tỷ đồng, tăng 9,12% so với cuối năm 2022. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 67.575 tỷ đồng (chiếm 71,02 % tổng dư nợ), tăng 14,85% so với cuối năm 2022; dư nợ trung dài hạn đạt 27.575 tỷ đồng (chiếm 28,98% tổng dư nợ), giảm 2,78% so với cuối năm 2022.Hoạt động tín dụng chủ yếu hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn tín dụng; đơn giản hóa thủ tục cho vay, niêm yết công khai, minh bạch các thủ tục, quy trình vay vốn; đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả.. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,0-4,55% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0-6,3%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,3-6,5%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 6-10%/năm, trung dài hạn phổ biến 7,5-12,5%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 3,7-4,5%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 6-6,1%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Tính đến 31/12/2023 nợ xấu ước tính 895 tỷ đồng, chiếm 0,94% tổng dư nợ. Nợ xấu nội bảng của các TCTD trên địa bàn có xu hướng tăng nhanh trong các tháng cuối năm 2023. Những tác động của dịch Covid-19 và diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. 7. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2023, tăng 26,47% so với cùng kỳ nhờ giải ngân tăng cao của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh đó, nhờ nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh đồng thời tỉnh luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp trong và ngoài nước tìm hiểu cơ hội đầu tư. Năm 2023 Hà Tĩnh trở thành một trong những tỉnh, thành dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý IV/2023 ước đạt 15.954,02 tỷ đồng, tăng 17,64% so với quý trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.492,97 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý trước và tăng 9,25% so với cùng kỳ năm trước. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.768,08 tỷ đồng, giảm 17,94% so với quý trước và giảm 25,25% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 6.692,97 tỷ đồng, tăng 60,73% so với quý trước và tăng 125,95% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội của quý IV/2023 so với cùng kỳ đạt 21,44%. Điều này phản ánh kết quả nỗ lực của địa phương trong việc quyết liệt đẩy mạnh thực hiện vốn đầu tư nhằm tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong những tháng cuối năm. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2023 ước đạt 51.124,17 tỷ đồng, tăng 26,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn đạt 12.315,62tỷ đồng, tăng 31,94% so với năm trước. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 19.845,92tỷ đồng, giảm 7,99% so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 18.962,63tỷ đồng, tăng 99,17% so với năm trước. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2023 tăng so với năm trước chủ yếu nhờ khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong đó, một số dự án đóng góp vốn đầu tư đáng kể như: Dự án Nhiệt điện Vũng Áng II đã hoàn thành 70% kế hoạch, đảm bảo tiến độ đề ra, dự kiến vốn đầu tư thực hiện trong năm 2023 là 16.000 tỷ đồng, trong đó xây dựng ước đạt 5.900 tỷ đồng, tăng 86,05% so với năm trước. Nhà máy CellPin tăng vốn đầu tư dự án phục vụ mua sắm máy móc, thiết bị nhà máy. Đến cuối tháng 9 đã hoàn thành và đi vào sản xuất kinh doanh. Đặc biệt dự án nhà máy sản xuất Lithium đã hoàn thành mặt bằng đi vào xây dựng đồng thời nhập khẩu máy móc thiết bị, đây là dự án lớn với tổng mức đầu tư 6.500 tỷ đồng, vốn đầu tư thực hiện năm 2023 dự kiến đạt 2.497 tỷ đồng, chủ yếu là vốn mua sắm máy móc. Bên cạnh đó, các dự án đang đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh cũng thi công theo tiến độ đề ra ban đầu. Đây là nguồn lực lớn đóng góp vào phát triển xã hội tỉnh Hà Tĩnh trong năm 2023. Năm 2023, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 18 dự án đầu tư trong nước tổng vốn đăng ký 1.727 tỷ đồng và 02 dự án đầu tư nước ngoài tổng vốn 70 triệu đô la Mỹ. 8.Xuất nhập khẩu hàng hóa Năm 2023 đánh dấu sự khởi sắc trong hoạt động xuất nhập khẩu.Mặc dù thị trường xuất khẩu các loại hàng như xơ, sợi, thủy sản và dăm gỗ còn nhiều khó khăn. Nhưng việc mặt hàng chủ lực thép, phôi thép tăng trưởng mạnh và có giá trị cao khiến kim ngạch xuất khẩu trong năm tăng khá. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2023 đạt gần 6.608,1 triệu USD tăng 16,03% so với năm trước. Kim ngạch xuất khẩu: Năm 2023 ước đạt 2.444,6 triệu USD, tăngmạnh trong nhưng năm gần đây (tăng 35,81%) so với năm trước. Với những khó khăn ở năm 2022, năm 2023 Hà Tĩnh đã có những bước vươn mình trong hoạt động xuất khẩu. Chỉ tính riêng xuất khẩu thép và phôi thép đạt hơn 2.223 triệu USD, chiếm 90,94% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu, tăng 42,86% so với năm 2022 (trong đó xuất khẩu từ Formosa đạt gần 2.296,9 triệu USD, tăng 42,42%), cùng với mặt hàng thép còn có những mặt hàng mặc dù giá trị không lớn nhưng tốc độ tăng trưởng cũng rất đáng ghi nhận (Chè đạt hơn 4,9 triệu USD, tăng 20,05%; Dệt và may mặc 26,94 triệu USD, tăng 3,54%). Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng trưởng trong kim ngạch xuất khẩu thì vẫn còn nhưng khó khăn trong thị trường thế giới, các sản phẩm có tỷ trọng xuất khẩu giảm khá sâu so với năm 2022 như dăm gỗ (giảm 16,82%), xơ sợi (giảm 12,21%) cho thấy đang còn nhiều vướng mắc cần tìm hướng giải quyết. Vì vậy, cần sự đồng lòng của doanh nghiệp và các nhà quản lý tìm hướng giải pháp để thúc đẩy tiêu thụ, ngoài ra, cũng đặt ra mục tiêu đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, tránh sự phụ thuộc quá lớn vào 1 mặt hàng cố định. - Kim ngạch nhập khẩu: Năm 2023 ước đạt hơn3.623,4 triệu USD, tăng 5,65% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù kim ngạch nhập khẩu chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa (đạt gần 2.661 triệu USD và giảm 9,92% so với năm 2022) nhưng việc kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng 5,65%, nguyên nhân do nhu cầu nhập khẩu các loại hàng ngoại phục vụ dịp Tết lớn và việc thị trường ô tô có sự phục hồi trong những tháng cuối năm. Việc một số mặt hàng xuất khẩu gặp khó khăn do nhu cầu từ thị trường đối tác giảm, dẫn đến đơn hàng sụt giảm, hoạt động xuất khẩu xơ, sợi dệt đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đơn hàng từ năm 2022 tới nay, các doanh nghiệp cần tập trung hơn nữa vào việc nắm bắt tình hình thị trường để chủ động kế hoạch sản xuất, sẵn sàng đón cơ hội khi thị trường phục hồi và tìm những hướng đi mới phù hợp. Để kim ngạch xuất nhập khẩu đạt con số tăng trưởng cao nhất, cơ quan chức năng đang tích cực hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghệp khai thác hiệu quả các lợi thế từ FTA (Hiệp định thương mại tự do) đặc biệt là các Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKVFTA để đẩy mạnh xuất khẩu, thông qua tuyên truyền về quy tắc xuất xứ và cấp Giấy chứng nhận xuất xứ, các cơ hội và cách thức tận dụng cơ hội từ các Hiệp định; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường xúc tiến thương mại để gia tăng sản phẩm xuất khẩu và thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo đề án đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021 - 2025 9.Giá cả, lạm phát Tình hình giá cả năm 2023 cơ bản nằm ở mức kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng1,63%. Từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Mức tăng tập trung ở các tháng đầu năm, chịu ảnh hưởng bởi nhóm nhiên liệu xăng, dầu các loại tăng mạnh. Về cuối năm, do những khó khăn của nền kinh tế khiến xu hướng các loại đồ dùng giá trị cao giảm giá. Tình hình giá cả tháng 12/2023, chỉ số CPI chung tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 1,97% so với cùng kỳ năm trước do các nguyên nhân chủ yếu như giá nhiên liệu xăng, dầu qua các kỳ điều chỉnh trong tháng giảm dẫn tới giá bình quân giảm so với tháng trước; ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ khi thời tiết chuyển rét đậm từ đầu tháng, cùng với tháng cuối năm cận Tết khiến nhu cầu và giá nhiều nhóm hàng hóa có sự thay đổi; giá các mặt hàng như dịch vụ y tế, khám chữa bệnh được điều chỉnh tăng theo Thông tư 22/2023/TT-VYT ngày 17/11/2023; bên cạnh đó dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, ảnh hưởng đến giá thịt lợn và các mặt hàng chế biến từ thịt lợn giảm. Chỉ số giá vàng tăng 4,01% so với tháng trước, tăng 14,48% so với cùng tháng năm trước, giá vàng bình quân trong tháng ở mức 6.188 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 1,05% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân 2.456.995 đồng/100 USD. Tính chung cả năm 2023, CPI bình quân năm tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,42%; nông thôn tăng 1,72%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,40%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,38%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,44%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,57%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,99%; giao thông giảm 1,88%; bưu chính viễn thông giảm 0,85%; giáo dục tăng 2,32%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,61%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình giá cả trên thị trường năm 2023 cơ bản được kiểm soát, có một số mặt biến động tăng giá mạnh, cũng có nhóm biến động giảm khá sâu. Nguyên nhân chính do ảnh hưởng từ thị trường thế giới, yếu tố mùa vụ, thời tiết bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu, điện sinh hoạt, bên cạnh đó, việc các trường học công lập trên địa bàn tỉnh chưa áp dụng thu mức học phí mới, vốn tăng rất cao so với mức hiện tại và mặt hàng nước sinh hoạt trong năm vẫn chưa có sự điều chỉnh về giá cơ sở như các vùng khác. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 01/2024sẽ tăng mạnh, xu hướng tăng dần vào cuối tháng, khi thời điểm dịp Tết Nguyên đán đến gần. Mức tăng chủ yếu tập trung các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, hàng may mặc, nội thất gia đình, cước vận tải hành khách, vật phẩm trang trí nhà ở, điện và khí đốt.Cùng với đó, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm Quý IV năm 2023, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đã tăng cường tuyển dụng lao động với mức lương hấp dẫn, song vẫn không tuyển đủ lao động, do chế độ, chính sách làm việc cho người lao động của doanh nghiệp ở Hà Tĩnh vẫn chưa đủ sức thu hút và giữ chân người lao động; mức lương vùng tại khu vực Hà Tĩnh khá thấp nên người lao động có xu hướng đi các doanh nghiệp ngoại tỉnh như: Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh… để tìm kiếm cơ hội việc làm. Vì vậy, tình hình lao động việc làm ở Hà Tĩnh có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động:Theo kết quả điều tra lao động việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh, ước quý IV năm 2023 là 506.027 người, giảm 0,38% so với quý trước và giảm 5,81% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lực lượng lao động nam 258.217 người (chiếm 51,03% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 123.835 người (chiếm 24,47% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên). Quý IV năm 2023, có đến 52,64% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, giảm 0,2 điểm phần trăm so với quý III năm 2023 và giảm 2,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ (lần lượt là 54,01% và 51,29%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 57,22%, cao hơn nông thôn là 5,9 điểm phần trăm. Tính chung năm 2023, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 506.534 người, giảm 4,07% so với cùng kỳ năm 2022; trong đó lực lượng lao động nam là 259.523 người, chiếm 51,24% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 123.974 người, chiếm 24,47%. Lực lượng lao động là nam giới chiếm tỷ trọng cao hơn nữ giới, cao hơn 2,48 điểm phần trăm; còn ở thành thị, những năm gần đây tỷ trọng lực lượng lao động ngày càng có chiều hướng tăng, tuy nhiên chủ yếu vẫn đang tập trung ở khu vực nông thôn (chiếm 75,53%). Có đến 52,7% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, giảm 1,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022. So sánh giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ cho thấy cũng có sự chênh lệch: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam là 54,28%, cao hơn 3,15 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 57,28%, cao hơn 5,92 điểm phần trăm so với ở nông thôn. Lao động có việc làm:Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý IV năm 2023 là 496.809 người, chiếm 98,18% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; giảm 0,27% so với quý trước và giảm 3,16% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 122.385 người, chiếm 24,63% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 253.906 người, chiếm 51,11%. Phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động chuyển dần theo chiều hướng tích cực: Tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 30,17% trong tổng số (tương ứng 149.862 người), giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý trước; Công nghiệp – Xây dựng chiếm 29,05% (tương ứng 144.343 người), tăng 0,15 điểm phần trăm; Thương mại – Dịch vụ chiếm 40,78% (tương ứng 202.604 người), giảm 0,02 điểm phần trăm. Tính chung năm 2023, lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 492.027 người, chiếm 97,14% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 2,18% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 122.632 người, chiếm 24,92%; ở nam giới là 252.541 người, chiếm 51,33%. Phân theo khu vực kinh tế, số lao động làm việc trong lĩnh vực ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2023 chiếm 30,29% (tương ứng 149.033 người), tăng 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,07% (tương ứng 143.027 người), tăng 1,26 điểm phần trăm; còn khu vực dịch vụ chiếm 40,64% (tương ứng 199.967 người), giảm 1,48 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm:Quý IV năm 2023 số người không có việc làm (thất nghiệp) là 9.218 người, chiếm 1,82% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,1 điểm phần trăm so quý trước. Trong đó, có đến 84,27% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 7.758 người). Còn theo giới tính, lao động nữ chiếm nhiều hơn nam, chiếm 53,23% (tương đương 4.907 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,47%, giảm 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2023, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 14.507 người, chiếm 2,86% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 1,88 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động thất nghiệp chủ yếu là khu vực nông thôn chiếm đến 90,75% (tương đương 13.165 người); còn ở nam giới là 48,13% (tương đương 6.982 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2023 ước tính là 5,55%, tăng 0,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động: Ước tính quý IV năm 2023 là 2,53%, tăng 0,14 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,05 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022. Tính chung năm 2023, ước tính tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,54%, giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình giải quyết việc làm:Ngoài tổ chức các sàn giao dịch định kỳ, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh đã kết nối với một số doanh nghiệp tổ chức các phiên giao dịch việc làm, sàn giao dịch việc làm; đồng thời triển khai chương trình hợp tác xuất khẩu lao động, mở thêm nhiều lớp đào tạo tay nghề cho lao động Hà Tĩnh. Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý IV năm 2023 là 23.125 người, tăng 0,57% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 6.924 người, chiếm 29,94% trong tổng số, giảm 5,06% so với cùng kỳ năm trước; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.996 người, chiếm 17,28%, giảm 4,52%; xuất khẩu lao động 12.205 người, chiếm 52,78%, tăng 5,97%. Như vậy, số người được giải quyết việc làm năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do số người đi xuất khẩu lao động tăng. Thị trường xuất khẩu lao động, năm 2023 ở Hà Tĩnh chủ yếu làm việc tại Đài Loan là 5.349 người, chiếm 43,83% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; tiếp đến là Nhật Bản 4.519 người, chiếm 37,03%; Hàn Quốc 1.408 người, chiếm 11,54%; còn lại các nước khác là 929 người, chiếm 7,6%. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Đời sống dân cư: Quý IVvà cả năm 2023 tình hình dịch Covid-19 tiếp tục được kiểm soát tốt, các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ đi vào hoạt động ổn định. Tuy nhiên, trong năm 2023, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 4 vụ thiên tai; lãi suất tín dụng cao ở thời điểm đầu năm; thời tiết không thuận lợi cho các hoạt động sản xuất; lượng vốn lớn mắc kẹt tại thị trường bất động sản ảnh hưởng đến khâu huy động vốn và luân chuyển hàng hóa; chỉ số giá nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu như điện, lương thực, rau củ quả tăng mạnh; trong khi đó, dòng tiền lao động ngoại tỉnh gửi về giảm; tất cả điều đó đã làm ảnh hưởng đến cho đời sống của người dân.Trước tình hình đó, trong năm tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo, tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn; tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh; tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm nên quý IV và cả năm 2023 đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư.Tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội :Nhìn chung công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo.Hỗ trợ đối với người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Năm 2023, toàn tỉnh đã trao tặng 239.412 suất quà đến các đối tượng người có công, trị giá 63,140 tỷ đồng. Riêng dịp Tết Nguyên đán trao tặng 104.628 suất quà, trị giá 27,866 tỷ đồng và kỷ niệm 76 năm ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 trao tặng 54.839 suất quà với giá trị là 16,717 tỷ đồng.Hỗ trợ đối với các đối tượng bảo trợ xã hội: Năm 2023, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 222.643 suất quà đến các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP, trị giá 56,951 tỷ đồng. Trong đó, trao tặng 151.380 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trị giá 32,752 tỷ đồng; 48.117 suất quà đối với người cao tuổi, người già cô đơn, trị giá 15,070 tỷ đồng và 23.146 suất quà đối với các đối tượng xã hội khác, trị giá 9,129 tỷ đồng.Hỗ trợ đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Năm 2023, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 39.599 suất quà cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, trị giá 22,269 tỷ đồng.Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm ytế: Năm 2023, đã cấp phát miễn phí khoảng 416.809 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó, cấp 17.487 thẻ bảo hiểmhộ nghèo; 33.550 thẻ hộ cận nghèo; 145.756 thẻ trẻ em dưới 6 tuổi; 44.139 thẻ người có công và 175.877 thẻ các đối tượng khác.Tình hình hỗ trợ gạo: Năm 2023, UBND tỉnh Hà Tĩnh và UBND huyện Hương Khê đã hỗ trợ 15,885 tấn gạo đối với hai bản dân tộc ít người trên địa bàn là bản Rào Tre, xã Hương Liên và bản Giàng, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê, với tổng giá trị là 239,1 triệu đồng. Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh: Năm 2023, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 4 vụ thiên tai, làm 4 người chết, 2 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại ước tính 175,919 tỷ đồng. Sau khi thiên tai xảy ra, các địa phương đã huy động lực lượng hỗ trợ khắc phục kịp thời các thiệt hại để đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người dân, đồng thời chia sẻ, hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng với số tiền là: 32,4 triệu đồng.Ngoài hỗ trợ về thiên tai, còn nhận được một số hỗ trợ nổi bật khác: hỗ trợ 1 gia đình bị cháy, 2 gia đình có con bị đuối nước với số tiền là 20 triệu đồng (ở huyện Nghi Xuân); hỗ trợ các em thi tốt nghiệp THPT đạt từ 27 điểm trở lên với số tiền 173,8 triệu đồng (ở huyện Can Lộc); hỗ trợ sữa cho các em mầm non với số tiền 25,94 triệu đồng (ở huyện Vũ Quang).3. Tình hình giáo dụcNăm 2023, ngành Giáo dục Hà Tĩnh đã tổ chức an toàn, nghiêm túc các kỳ thi, hội thi, nhất là Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023 với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,81%. Bên cạnh đó, ở kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Hà Tĩnh lớp 12 năm học 2023-2024, toàn tỉnh có 619/929 thí sinh đạt giải, bao gồm 53 giải nhất, 173 giải nhì, 240 giải ba và 153 giải khuyến khích.4. Tình hình y tếCông tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng 12/2023, không có người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và 2 người chết vì AIDS; Tính chung cả năm 2023, có 42 người nhiễm mới HIV, 36 người chuyển thành AIDS và 9 người chết vì AIDS; tăng 14 người nhiễm HIV, 23 người chuyển thành AIDS và 6 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng, trên địa bàn không xẩy ra xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào; số ca ngộc độc đơn lẻ 60 ca, giảm 16 ca so với cùng kỳ năm trước, không có người chết vì ngộ độc. Tính chung cả năm 2023, có 6 vụ ngộ độc tập thể (làm 76 người bị ngộ độc), 940 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; tăng 5 vụ ngộ độc tập thể (tăng 72 người bị ngộ độc), tăng 53 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 5,97%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.Dịch bệnh khác: Trong tháng do thời tiết đổi mùa, mưa rét thất thường dẫn đến một số dịch khác ở người xuất hiện: 1.282 người bị cúm, 75 người bị sốt huyết; 152 người bị tiêu chảy; không có người chết do các bệnh trên. Tính chung cả năm 2023, trên địa bàn tỉnh có một số ca bệnh đơn lẻ, gồm: 230 ca sốt xuất huyết, 4 ca sốt rét (cùng kỳ năm trước không xẩy ra), 2 ca viêm não vi rút (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 113 ca mắc bệnh quai bị, 187 ca mắc lỵ trực trùng, 204 ca mắc lỵ a míp, 237 ca mắc bệnh thủy đậu, 14.721 ca mắc bệnh cúm, 9 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 234 ca chân tay miệng, 2.406 ca tiêu chảy, 62 ca viêm gan vi rút khác; tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. 5. Hoạt động văn hóa, thể thao Về văn hóa: Trong năm 2023 các địa phương trên địa bàn tỉnh kịp thời triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước, đặc biệt là tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 93 Ngày năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Quý Mão; Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2050 và xúc tiến đầu tư vào Hà Tĩnh năm 2023. Về thể dục thể thao: Trong năm 2023, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 46 giải thi đấu thành tích cao đã giành được 216 huy chương các loại (94 HCV – 62 HCB – 60 HVĐ), trong đó có 13 giải thi đấu quốc tế, giành được 30 huy chương các loại (16 HCV – 5 HCB – 9 HVĐ).6. Tình hình an toàn giao thông Trước tình hình tai nạn giao thông diễn biến phức tạp và đang có dấu hiệu gia tăng, Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, kéo giảm tai nạn giao thông (TNGT) từ 5-10% trên cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết và người bị thương). Để thực hiện được mục tiêu đề ra, Công an tỉnh chỉ đạo Cảnh sát giao thông, công an cấp huyện, cấp xã, xây dựng kế hoạch, tập trung tuần tra, xử lý các hành vi vi phạm như: phóng nhanh vượt ẩu, chở quá số người quy định, không đội mũ bảo hiểm, say rượu bia điều khiển phương tiện; siết chặt công tác quản lý, phương tiện, người lái và đào tạo sát hạch, cấp giấy phép lái xe; tăng cường công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang ATGT, kịp thời khắc phục sửa chữa hư hỏng kết cấu, tổ chức giao thông; tăng cường phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm về tải trọng xe, kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.Tháng 12 năm 2023 (từ ngày 15/11-14/12/2023)xảy ra 42 vụ tai nạn đường bộ, làm 17 người chết, 27 người bị thương, thiệt hại 175 triệu đồng; tăng4 vụ, giảm 1 người chết, tăng 5 người bị thương so với tháng trước. Trong tháng, tai nạn đường sắt, đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.Năm 2023 (từ ngày 15/12/2022 - 14/12/2023) trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 357 vụ tai nạn giao thông, tăng 8 vụ; làm 190 người chết, giảm 71 người; 221 người bị thương, tăng 28 người so với cùng kỳ năm trước; thiệt hại tài sản 2.515 triệu đồng. Trong đó tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 03 vụ, làm 02 người chết, không có người bị thương; tăng 2 vụ, người chết, số người bị thương không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Tai nạn đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổTình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/11-14/12/2023 đã xảy 2 vụ cháy, không làm thiệt hại về người. Từ ngày 15/11-14/12/2023 xảy ra 1 nổ, so với tháng trước và cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ. Tính chung năm 2023 (từ ngày 15/12/2022 – 14/12/2023) xảy ra 110 vụ cháy, nổ (trong đó 108 vụ cháy và 2 vụ nổ), làm 1 người chết, 3 người bị thương, thiệt hại ước tính 4.411 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 39 vụ, số người chết không thay đổi, tăng 2 người bị thương, tăng 614,6 triệu đồng giá trị thiệt hại.Công tác bảo vệ môi trường: Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững. Vì vậy, người dân ngày càng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, nên số vụ vi phạm môi trường trong tháng 12 và cả năm 2023 giảm hơn so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, cụ thể:Trong tháng 12 năm 2023, Hà Tĩnh đã phát hiện 6 vụ và xử lý 4 vụ, với tổng số tiền xử phạt 278,5 triệu đồng; giảm 8 vụ (giảm 57,14%) đã phát hiện, giảm 6 vụ (giảm 60,0%) đã xử lý; tăng 254,25 triệu đồng (tăng 11,48 lần) số tiền xử phạt so với tháng trước; giảm 91 vụ (giảm 93,81%) đã phát hiện, giảm 55 vụ (giảm 93,22%) đã xử lý, tăng 67,80 triệu đồng (tăng 32,18%) số tiền xử phạt so với tháng 12 năm trước. Tính chung năm 2023, đã phát hiện 434 vụ, đã xử lý 467 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.759,96 triệu đồng: giảm 539 vụ (giảm 55,40%) đã phát hiện, giảm 175 vụ (giảm 27,26%) đã xử lý, số tiền xử phạt giảm 1.149,16 triệu đồng (giảm 39,50%) so với cùng kỳ năm trước.8. Thiệt hại thiên tai Trong tháng không xảy ra thiên tai, tính chung từ đầu năm 2023 đến nay, xảy ra 4 đợt thiên tai (1 vụ sét đánh, 3 vụ mưa lớn) làm 4 người chết; 2 người bị thương; làm 3.957 nhà bị hư hại; 106,6 ha lúa; 403,7 ha hoa màu bị hư hại; 19 con gia súc bị chết, cuốn trôi; 3.776 con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Ước tổng giá trị thiệt hại 175.919,67 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ thiên tai, số người chết và số người bị thương không đổi, tổng thiệt hại giảm 133.422,67 triệu đồng.  III. DỰ BÁO, ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚINăm 2024 là năm bứt phá để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2021-2025. Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụtrong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động, diễn biến phức tạp, khó lường, xung đột tại Ukraine, Trung Đông có thể còn kéo dài; kinh tế trong nước nước dự báo còn chịu sức ép lạm phát, tỷ giá; giá nhiều yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất kinh doanh tiếp tục xu hướng tăng; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thị trường lao động việc làm dự báo còn gặp nhiều khó khăn; biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục diễn biến bất thường, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của ngành nông nghiệp.Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế xã hội theo Nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây:Một là, Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn, trọng điểm: Tạo mọi điều kiện để Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II vận hành thử vào cuối năm; nhà máy Pin Lithium hoàn thành và đi vào sản xuất; các dự án đầu tư hạ tầng khu/cụm công nghiệp được đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ thủ tục; tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Thứ hai, Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò; tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết 51/2021/NQ-HĐND; phát huy hiệu quả phong trào tập trung, tích tụ ruộng đất theo Nghị quyết 06-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tập trung triển khai đề án, chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ, nhất là chuỗi liên kết sản xuất gắn với Tập đoàn Quế Lâm. Ba là: Triển khai quyết liệt nhiệm vụ thu ngân sách ngay từ đầu năm; tăng cường công tác hậu kiểm, chống thất thu, thu hồi nợ thuế. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh khung cơ chế chính sách giai đoạn 2021-2025. Thực hiện đồng bộ các giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, nhất là các dự án ODA, 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; đảm bảo cơ cấu đầu tư hợp lý, hiệu quả giữa các địa phương, lĩnh vực. Bốn là, Tập trung nguồn lực cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với đào tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, nhân rộng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là các sản phẩm chủ lực của tỉnh; chú trọng hỗ trợ, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; phát triển tài sản trí tuệ; truy xuất nguồn gốc sản phẩm; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, hàng hóa.Năm là, Tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 11 và 11 tháng năm 2023
  •   27/07/2024 22:38

I.  LĨNH VỰC KINH TẾ 1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Sản xuất trồng trọt trong tháng mười một chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2023, tranh thủ thời tiết nắng ráo chủ yếu tập trung vào các loại rau ngắn ngày. Hoạt động chăn nuôi trong những tháng đầu quý IV năm 2023 vẫn tiếp tục gặp khó khăn mặc dù vậy, để bảo đảm nguồn cung thực phẩm cho dịp Tết sắp tới thì các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục duy trì ổn định tổng đàn vật nuôi và thực hiện các biện pháp phòng chống dịch để không làm sụt giảm tổng đàn chăn nuôi. Hoạt động lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung phát triển khá ổn định. 1.1 Sản xuất nông nghiệp - Trồng trọt Sản xuất vụ Mùa 2023 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy. Tuy người dân đã chủ động gieo trồng đúng lịch thời vụ nhưng do ảnh hưởng của thời tiết nên một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2023 đạt 1.120 ha, bằng 90,89% (giảm 112 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lúa sơ bộ 318 ha, bằng 76,74% (giảm 97 ha), cây lấy củ có chất bột sơ bộ đạt 247 ha, bằng 98,73% (giảm 3 ha), diện tích gieo trồng rau các loại sơ bộ đạt 201 ha, bằng 103,5% (tăng 7 ha). Nhìn chung, tình hình sản xuất vụ Mùa hàng năm trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn người dân không chú trọng trong việc đầu tư vào sản xuất mà chủ yếu để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân nên năng suất các loại cây đạt thấp. Sản xuất vụ Đông 2023 hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2023 cơ bản đã kết thúc. Tuy nhiên, do cùng thời điểm phải xuống giống gieo trỉa nhiều loại cây trồng nên một số loại cây chưa đạt kế hoạch đặt ra. Nay tranh thủ thời tiết những hôm nắng ráo bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng cây vụ Đông mà chủ yếu là các loại rau ngắn ngày. Ước tính đến ngày 15/11/2023, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2023 là 7.319 ha/11.890 ha, đạt 61,56% kế hoạch, cụ thể: Diện tích ngô lấy hạt 2.559 ha/4.259 ha, đạt 60,08% kế hoạch; diện tích ngô sinh khối 510 ha/1.649 ha, đạt 30,9% kế hoạch; diện tích khoai lang 1.011 ha/1.458 ha, đạt 69,34% kế hoạch và diện tích rau các loại 3.239 ha/4.524 ha, đạt 71,6% kế hoạch. Cây lâu năm: Trong tháng 11/2023, người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Cùng với đó, thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam…đang thu hoạch chính vụ. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 176.265 tấn, bằng 100,91%, tăng 1.587 tấn so với năm 2022. Trong đó, sản lượng cam ước đạt 67.752 tấn, bằng 101,54%, tăng 1.027 tấn; sản lượng bưởi ước đạt 36.273 tấn, bằng 99,01%, giảm 364 tấn. Năm nay, các nhà vườn đã tích cực bón phân, tỉa cành, chăm sóc bài bản ngay từ đầu vụ nên chất lượng quả ngày càng được nâng cao. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống và tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Tuy nhiên, để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã đưa ra khuyến cáo về một số loại sâu bệnh gây hại đối với cây ngô như: Sâu keo mùa thu, sâu xám, sâu đục thân, đục bắp, rệp cờ, bệnh khô vằn, bệnh lùn sọc đen Phương Nam...Đối với cây rau: Sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy, rệp muội, bệnh lở cổ rễ (thối gốc), bệnh giả sương mai, bệnh héo xanh vi khuẩn…Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân các biện pháp phòng ngừa các loại sâu bệnh trên để tránh thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng. - Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng vẫn chưa có nhiều thay đổi khi tổng đàn trâu, bò vẫn đang có xu hướng giảm, đàn lợn và gia cầm phát triển ổn định và có mức tăng nhẹ. Đàn trâu hiện có 67.300 con, bằng 99,78%; đàn bò có 168.350 con, bằng 99,44%; đàn lợn có 398.150 con, bằng 100,23%, đàn gia cầm có 10.065 ngàn con, bằng 100,15% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang là thời điểm người chăn nuôi tập trung tái đàn, tăng đàn gia súc, gia cầm để cung ứng ra thị trường vào dịp lễ, tết cuối năm và đầu năm mới, tuy nhiên do giá cả không ổn định và có xu hướng giảm, trong khi giá thức ăn và các chi phí khác vẫn đang ở mức cao, nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất hạn chế nên việc tái đàn vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn, nhất là đàn lợn Tình hình dịch bệnh, thiệt hại và công tác phòng dịch: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, hiện nay tình hình dịch bệnh trên đàn chăn nuôi đã xuất hiện tại một số địa phương, cụ thể: Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 04 xã thuộc 03 huyện (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Nghi Xuân) làm cho 38 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu hủy; Dịch Lở mồm long móng xảy ra tại xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân làm cho 27 con trâu bò mắc bệnh. Tuy dịch bệnh cơ bản đang nhỏ lẻ và được khống chế nhưng nguy cơ bùng phát dịch vẫn còn rất cao. Vì vậy, cần phải thường xuyên thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi để tránh thiệt hại đảm báo nguồn cung khi dịp Tết đang đến gần.1.2 Lâm nghiệp Trong tháng 11 năm 2023, hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn được thực hiện với kết quả tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 11/2023 ước đạt 1.614 ha, bằng 96,94%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 68.147 m3, bằng 108,74%; sản lượng củi khai thác ước đạt 48.923 ste, bằng 98,87%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 209 ngàn cây, bằng 106,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2023, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 8.311 ha, bằng 101,95%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 444.788 m3, bằng 105,19%; sản lượng củi khai thác ước đạt 284.884 ste, bằng 97,76%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 2.462 ngàn cây, bằng 98,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng mà chỉ xảy ra 5 vụ phá rừng, nhưng diện tích rừng bị phá là 13,56 ha, bằng 331,54% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2023, toàn tỉnh 10 vụ cháy rừng (tăng 9 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 10,27 ha (tăng 9,87 ha) và 100 vụ phá rừng (tăng 28 vụ), với diện tích rừng bị phá là 67,64 ha (tăng 27,22 ha) so với cùng kỳ năm 2022. 1.3 Thủy sản Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng 11/2023 ước đạt 3.673 tấn, bằng 101,89%, tăng 68 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2.699 tấn, bằng 101,54%, tăng 41 tấn, sản lượng nuôi trồng ước đạt 974 tấn, bằng 102,85%, tăng 27 tấn. Mặc dù các chuyến biển của ngư dân khai thác ở vùng lộng khá thuận lợi. Tuy nhiên, do giá nhiên liệu xăng, dầu và các chi phí khai thác hải sản vẫn đang ở mức cao nên các tàu công suất lớn đánh bắt xa bờ hoạt động kém hiệu quả, vì vậy tần suất ra khơi của một số tàu không đạt như kỳ vọng. Tính chung 11 tháng năm 2023, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 54.210 tấn, bằng 102,48%, tăng 1.312 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 38.051 tấn, bằng 102,18%, tăng 813 tấn, sản lượng nuôi trồng ước đạt 16.159 tấn, bằng 103,19%, tăng 499 tấn. Năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua không có nhiều sự thay đổi tích cực, cùng với giá nhiên liệu và các chi phí khác tăng cao nên nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản 11 tháng năm 2023 cũng chỉ giữ được mức tăng nhẹ so với năm 2022. Những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. Tình hình dịch bệnh thủy sản chủ yếu xảy ra trên tôm nuôi, các ổ dịch tương đối nhỏ lẻ và cơ bản được khống chế kịp thời. Ngoài ra, theo báo cáo của các địa phương có 63,85 ha tôm bị chết không rõ nguyên nhân (chiếm 2,9% diện tích nuôi) thuộc huyện Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân (do địa phương không lấy được mẫu tôm xét nghiệm) 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 11/2023 tiếp tục đà tăng trưởng. Những tháng còn lại của năm 2023, các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh đang nỗ lực, dồn sức tăng tốc hoạt động sản xuất nhằm đạt cao nhất các mục tiêu kế hoạch đề ra. Tính chung 11 tháng năm 2023, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Tháng 11/2023 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 10/2023 ước tính tăng 2,84%, so với cùng kỳ năm trước tăng 17,07%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,2% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 28,74%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 16,22% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 19,07% so với tháng trước và tăng 20,57% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 6,76% so với tháng 10/2023 và tăng 19% so với cùng kỳ năm 2022. Nhìn chung, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính đến cuối tháng 11 năm 2023 ước tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng quan chung của ngành công nghiệp, hiện nay có nhiều yếu tố được đánh giá khả quan như Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 đã hoạt động ổn định (sản lượng điện ước đạt 4.326 triệu Kwh tăng 26,09% so với cùng kỳ), sản xuất bia tăng trưởng khá (sản lượng ước đạt 62,78 triệu lít tăng 6,1%), Nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào vận hành thương mại (sản lượng Ắc quy bằng ion lithi ước đạt 66.000 Kwh), hoạt động xây dựng tăng trưởng khá kéo theo tăng trưởng ngành công nghiệp khai khoáng trên địa bản tỉnh... 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm cộng dồn 11 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 55% trong tổng số sản phẩm) và có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 45%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước: Vỏ bào, dăm gỗ tăng 22,89%; Bê tông trộn sẵn tăng 21,37%; điện sản xuất tăng 14,94%; điện thương phẩm tăng 12,76%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 10,7%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước: Quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 59,12%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 38,93%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 24,42%; thức ăn cho gia súc giảm 17,44%; dịch vụ sản xuất dược giảm 12,86%;... 2.3 Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2023 giảm 0,12% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,55%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 11/2023 tăng 3,06% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 0,98% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 4,06%. Hiện nay, một số doanh nghiệp ngành này đang mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,67%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,45% so với cùng kỳ năm 2022. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 2023 ước giảm 13,56% so với cùng kỳ năm trước, đạt 81,46% kế hoạch năm. Đây là giai đoạn “nước rút”, toàn tỉnh đang tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong công tác bàn giao mặt bằng phục vụ triển khai dự án trên địa bàn. Đồng thời khẩn trương hoàn thành thủ tục đầu tư, đấu thầu, khởi công các công trình, dự án khởi công mới; đặc biệt là các dự án đã được giao kế hoạch vốn từ đầu năm và các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đạt kết quả cao nhất trong triển khai, giải ngân vốn đầu tư công năm 2023. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2023 ước đạt 744,83 tỷ đồng, tăng 36,78% so với tháng trước và giảm 16,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 624,48 tỷ đồng, tăng 43,81% so với tháng trước và giảm 16,94% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 89,47 tỷ đồng, tăng 8,37% so với tháng trước và giảm 21,47% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 30,88 tỷ đồng, tăng 11,32% so với tháng trước và tăng 26,24% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn ngân sách nhà nước tháng 11/2023 tăng mạnh so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước là do trong tháng 10 vừa qua thời tiết không thuận lợi, mưa nhiều, một số huyện trên địa bàn Hà Tĩnh ngập lụt trên diện rộng, do đó công trình thi công trên địa bàn tạm dừng thi công, vốn đầu tư thực hiện giảm. Bên cạnh đó hiện nay toàn tỉnh đang tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Tính chung 11 tháng năm 2023, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước đạt 5.047,56 tỷ đồng, giảm 13,56% so với cùng kỳ năm trước, đạt 81,46% kế hoạch năm. Trong đó, tiến độ giải ngân vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ODA trên địa bàn đạt thấp nhất (46,32%) so với kế hoạch. Nguyên nhân do ngoài việc thực hiện các quy trình, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật, còn phải hoàn thiện thêm các hồ sơ theo quy định của nhà tài trợ dẫn đến quá trình hoàn thiện thủ tục đầu tư, rút vốn, giải ngân mất nhiều thời gian. Do đó giá trị thực hiện nguồn vốn ODA đạt thấp so với kế hoạch đề ra. 4. Thương mại, dịch vụ Tháng 11, tình hình thị trường nhìn chung ổn định, giao thương thuận lợi. Bước vào giai đoạn cuối năm, nhu cầu mua sắm, tích trữ hàng hóa phục vụ cho dịp Tết làm cho các hoạt động thương mại, dịch vụ trở nên sôi động hơn. Cùng với đó là các dự án xây dựng cơ bản đẩy nhanh tiến độ thi công khiến doanh thu các hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ, kho bãi vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao. Tuy nhiên, những ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố thời tiết, mùa vụ và biến động của giá cả nhiều nhóm hàng hóa cũng gây nhiều khó khăn, bất lợi cho các hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa trên địa bàn. 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 11/2023 doanh thu ước đạt ước đạt 5.498,34 tỷ đồng, tăng 7,66% so với tháng trước và tăng 11,60% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng doanh thu lớn tăng so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm tăng 6,87%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,37%, xăng dầu các loại tăng 7,82%. Bên cạnh đó, chỉ có nhóm hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 10,49%; và vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 3,73%. Nhìn chung tình hình bán lẻ trong tháng chịu tác động của yếu tố mùa vụ khi các hộ gia đình có xu hướng tăng mua sắm đồ dùng gia đình vào dịp cuối năm cộng với thời tiết chuyển lạnh tác động đến nhu cầu nhiều nhóm hàng hóa như thực phẩm, hàng may mặc, hàng điện tử, đồ dùng gia đình. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục bất ổn ảnh hưởng đến kinh tế trong nước, tác động đến nhiều nhóm hàng hóa như xăng dầu, gạo, kim loại quý, vật liệu xây dựng và đồ dùng công nghệ cao. Tính chung 11 tháng năm 2023 tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 53.955,21 tỷ đồng, tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 12,90%) và tăng ở các nhóm ngành hàng chủ yếu sau: Lương thực, thực phẩm tăng 18,54%; hàng may mặc ước tăng 16,36%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 24,92%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 38,05%; xăng, dầu các loại tăng 23,59%... Nguyên nhân chính của việc tăng doanh thu chủ yếu do việc tăng giá của các mặt hàng trên trong khoảng thời gian từ đầu năm đến nay. Bên cạnh những mặt hàng có mức tăng cao thì các nhóm hàng ô tô và phương tiện đi lại có doanh thu giảm sâu so với cùng kỳ nhưng vì các nhóm hàng doanh thu bán lẻ không cao, nên không ảnh hưởng quá lớn tới mức tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa. Dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác: Tháng 11/2023 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 679,37 tỷ đồng giảm nhẹ (1,52%) so với tháng trước nhưng tăng 26,05% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành ước đạt 2,55 tỷ đồng, giảm 1,16% so với tháng trước và tăng 188,14% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ khác ước đạt 375,78 tỷ đồng, tăng 5,06% so với tháng trước nhưng giảm 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng tính chất thời vụ khi trong tháng thời tiết chuyển lạnh nhưng vẫn nắng ráo, vì vậy các hoạt động dịch vụ hỗ trợ khác tăng mạnh, ăn uống ngoài gia đình trong tháng ít hơn so với tháng trước, lượng khách đến tham quan, du lịch gần như rất ít. Tính chung 11 tháng năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.973,71 tỷ đồng tăng 26,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 258,75 tỷ đồng, tăng 14,81%; Ăn uống ước đạt 6.714,96 tỷ đồng, tăng 26,96% so với cùng kỳ năm trước. Có thể nói đời sống người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình chiếm tỷ trọng lớn trong nhóm ngành dịch vụ và tăng ổn định khi tình hình dịch bệnh Covid gần như đã bão hòa. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành sau khoảng thời gian phát triển mạnh mẽ trong mùa du lịch biển cao điểm trong quý II và III thì đến quý IV các hoạt động du lịch dường như chỉ cầm chừng, tính chung 11 tháng doanh thu thu du lịch đạt 41,22 tỷ đồng, tăng 181,63% so với cùng kỳ năm trước, việc khai thác tiềm năng du lịch còn hạn chế vẫn luôn là một hạn chế cần thiết các giải pháp thiết thực để phát triển kinh tế tại địa phương. Ngành dịch vụ hỗ trợ khác vẫn đảm bảo tăng trưởng ổn định khi doanh thu ước đạt 3.903,79 tỷ đồng, tăng 8,72% so với cùng kỳ năm trước. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tháng 11 tăng trở lại sau sự chững lại ở 2 tháng trước, tăng ở cả vận tải hành khách và vận tải hàng hóa, nhưng tăng mạnh hơn ở vận tải hàng hóa do thời tiết nắng ráo nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ Tết và nhu cầu vận chuyển vật liệu cho các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công ở thời điểm cuối năm. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 11 năm 2023 ước đạt 633,14 tỷ đồng, tăng 2,25% so tháng trước và tăng 31,51% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 99,70 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước và tăng 42,55% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa ước đạt 422,60 tỷ đồng, tăng 5,37% so với tháng trước và tăng 31,0% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 104,02 tỷ đồng, giảm 8,26% so với tháng trước và tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước. Kinh doanh vận tải có sự khởi sắc hơn so với tháng trước do những nguyên nhân chủ yếu như trong vận tải hành khách do thời tiết bắt đầu chuyển lạnh nên nhu cầu sử dụng các phương tiện vận tải công cộng cao hơn. Về vận tải hàng hóa do trong tháng không còn xảy ra hiện tượng ngập úng, thuận lợi hơn cho hoạt động khai thác, vận chuyển vật liệu xây dựng. Các hoạt động vận chuyển, phân phối hàng tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất đang tăng dần phục vụ cho kỳ mua sắm cuối năm. Tính chung 11 tháng năm 2023, hoạt động vận tải dự tính đạt 6.551,43 tỷ đồng, tăng 18,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 978,15 tỷ đồng, tăng 39,82%; vận tải hàng hóa ước đạt 4.243,79 tỷ đồng, tăng 15,54%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.178,46 tỷ đồng, tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù hoạt động vận tải có chững lại và dự ước quý IV/2023 sẽ giảm hơn so với các quý trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng cao. Kết quả hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, các tuyến xe liên tỉnh, xe buýt hoạt động ổn định. Số lượt hành khách, hàng hóa lưu chuyển cũng như giá vé nhìn chung đều tăng. Hạ tầng giao thông hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải tập trung đầu tư mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 11 việc nhập khẩu hàng hóa vẫn tiếp tục tăng mạnh tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu có dấu hiệu chững lại và giảm khá sâu so với tháng trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 11 ước đạt 443 triệu USD tăng 1,59% so với tháng trước và tăng 29,46% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2023 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt gần 5.658 triệu USD tăng 883,3 triệu USD so với cùng kỳ năm 2022. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 11/2023 ước đạt 150,5 triệu USD, giảm 11,41% so với tháng trước nhưng vẫn tăng đến 2,12% so với cùng kỳ năm trước. Việc xuất khẩu thép, phôi thép chỉ đạt 133,9 triệu USD giảm 12,44% so với tháng trước là nguyên nhân chính tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu trong tháng. Do việc giá than luyện cốc đang ở mức cao trong khi người mua vẫn đang đặt giá thầu phôi thép đường biển ở mức thấp nên dẫn đến hạn chế trong việc xuất khẩu. Cộng với việc hoạt động xuất nhập khẩu tại Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, huyện Hương Sơn đang chịu nhiều ảnh hưởng, tác động do tuyến Quốc lộ 8 phía nước bạn Lào bị sạt lở nghiêm trọng từ đầu tháng 8 đến nay vẫn chưa khắc phục hoàn thành. Tuy nhiên, trong tháng vẫn ghi nhận những tín hiệu tích cực từ mặt hàng dăm gỗ và những tín hiệu phục hồi của ngành xơ, sợi, hàng dệt và may mặc. Tính chung 11 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2.345,8 triệu USD, tăng 49,17% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu ngành thép và phôi thép chung toàn tỉnh 11 tháng tăng 58,08% so với cùng kỳ, xuất khẩu chè tăng 19,39%. Mặc dù trong tháng 11 đã có những tín hiệu phục hồi từ các nhóm dăm gỗ và hàng sợi dệt, may mặc tuy nhiên tính chung 11 tháng nhóm hàng xơ, sợi dệt (giảm 19,56%); dăm gỗ (giảm 13,30%); dệt và may mặc (giảm 5,27%). Nguyên nhân do nhu cầu từ thị trường đối tác giảm, dẫn đến đơn hàng sụt giảm, hoạt động xuất khẩu xơ, sợi dệt đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đơn hàng từ năm 2022 tới nay. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cần tập trung hơn nữa vào việc nắm bắt tình hình thị trường để chủ động kế hoạch sản xuất, sẵn sàng đón cơ hội khi thị trường phục hồi và tìm những hướng đi mới phù hợp. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 11 ước đạt 292,5 triệu USD, tăng 9,89% so với tháng trước và tăng 50,14% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa trong tháng bắt đầu trở lại tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất (tăng 41,16% so với tháng trước và tăng 24,35% so với cùng kỳ) nhưng tính chung 11 tháng mức nhập khẩu nguyên liệu giảm 14,33% so với cùng kỳ. Cộng với việc nhu cầu nhập khẩu các loại hàng ngoại phục vụ dịp Tết và việc thị trường ô tô có sự phục hồi trong những tháng cuối năm. Tính chung 11 tháng ước đạt 3.312,2 triệu USD tăng 3,44% so với cùng kỳ. Dự báo hoạt động nhập khẩu sẽ tiếp tục tăng mạnh trong tháng tới do nhu cầu chuẩn bị hàng hóa cho dịp Tết. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Tình hình giá cả tháng 11 cơ bản diễn biến ổn định, chỉ số giá giảm 0,59% so với tháng trước khi giá cả xăng, dầu đang có dấu hiệu giảm nhiệt dần, bên cạnh đó giá gạo lại tiếp tục tăng mạnh trở lại. Thời tiết trong tháng cũng dần chuyển lạnh tác động trực tiếp đến giá cả các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc. Tháng tới là những tháng cuối năm nhu cầu mua sắm hàng hóa phục vụ cho Tết dương lịch và Tết âm lịch, vì vậy giá cả sẽ tiếp tục tăng. Chỉ số CPI tháng 11 giảm 0,59% so với tháng trước và tăng 0,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng nhẹ so với tháng trước, trong đó: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,13%, hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,28%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%, hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,62%. Nhưng có đến 05 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước, trong đó có các nhóm hàng giảm giá khá sâu như nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,31%, giao thông giảm 1,09%, bưu chính viễn thông giảm 0,22% nguyên nhân chính do việc giảm giá các loại nguyên liệu xăng dầu, điện.. và như cầu sử dụng điện, nước giảm trong tháng. Có 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục. Chỉ số giá vàng tháng 11/2023 tăng 3,85% so với tháng trước, tăng 11,21% so với cùng tháng năm trước, giá vàng bình quân trong tháng đang ở mức 5.729 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ ổn định so với tháng trước và giảm 2,16% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân ở mức 2.452.497 đồng/100 USD. Tính chung 11 tháng năm 2023, CPI tăng 1,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,42%; nông thôn tăng 1,68%. Diễn biến tăng giảm các nhóm hàng 11 tháng được thể hiện như trên hình vẽ, Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay mức tăng giá cả cơ bản được kiểm soát, các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt và tăng tập trung ở các tháng đầu năm, về những tháng cuối năm mức giá các loại mặt hàng này đang dần ổn định lại. Những khó khăn chung của nền kinh tế khiến nhu cầu các loại đồ dùng xa xỉ, đắt tiền, giá trị cao hạn chế, vì vậy xu hướng các nhà thương mại, sản xuất sẽ giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 12/2023 tăng mạnh khi những mặt hàng thiết yếu có thể tăng giá trong tháng. Giá dầu thô trên thị trường thế giới ở mức cao khiến giá xăng dầu có thể tiếp tục tăng, giá gạo cũng tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm đạt thấp. Giá điện sinh hoạt được điều chỉnh tăng cùng với đó, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1.  Tình hình đời sống dân cư Tình hình đời sống dân cư Hà Tĩnh tháng 11 năm 2023 nhìn chung chưa được cải thiện so với tháng trước. Do chỉ số giá mặt hàng thiết yếu như điện, khí đốt tăng cao. Giá cả hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng tăng, đã ảnh hưởng đến sức tiêu dùng của người dân… Tháng 11 dương lịch hằng năm, trên các vườn đồi ở các địa phương như huyện Vũ Quang, Hương khê…người làm vườn lại bước vào mùa thu hoạch sản phẩm cây ăn quả có múi (cam), năm nay cam bán được giá nên bà con nông dân rất phấn khởi. Bên cạnh đó, nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, thị trường hoa tươi, quà tặng trên các tuyến phố ở Hà Tĩnh trở nên sôi động, nhộn nhịp với các sản phẩm đa dạng về mẫu mã và giá cả.2. Hoạt động y tế Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng, có 3 người nhiễm mới HIV, 4 người chuyển thành AIDS, có 2 người chết vì AIDS; so cùng kỳ năm trước giảm 3 người nhiểm mới HIV, tăng 2 người chuyển thành AIDS và số người chết vì AIDS tăng 2 người. Tính chung 11 tháng năm 2023, có 42 người nhiễm mới HIV, 33 người chuyển thành AIDS và 7 người chết vì AIDS; tăng 17 người nhiễm HIV, 21 người chuyển thành AIDS và 4 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước.Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng, trên địa bàn không xẩy ra xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào; số ca ngộc độc đơn lẻ 76 ca, tăng 21 ca so với cùng kỳ năm trước, không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 11 tháng năm 2023, có 03 vụ ngộ độc tập thể (làm 36 người bị ngộ độc), 880 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; tăng 1 vụ ngộ độc tập thể (tăng 32 người bị ngộ độc), tăng 66 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 8,11%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Dịch bệnh khác: Trong tháng do thời tiết đổi mùa, mưa nắng thất thường dẫn đến một số dịch khác ở người xuất hiện: 1.221 người bị cúm, 58 người bị sốt huyết; không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 11 tháng năm 2023, trên địa bàn tỉnh có một số ca bệnh đơn lẻ, gồm: 112 ca sốt xuất huyết, 4 ca sốt rét (cùng kỳ năm trước không xẩy ra), 2 ca viêm não vi rút (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 108 ca mắc bệnh quai bị, 180 ca mắc lỵ trực trùng, 184 ca mắc lỵ a míp, 196 ca mắc bệnh thủy đậu, 13.439 ca mắc bệnh cúm, 09 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 192 ca chân tay miệng, 2.159 ca tiêu chảy, 62 ca viêm gan vi rút khác; tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao  Văn hóa: Nhân dịp kỷ niệm 93 năm Ngày Truyền thống MTTQ Việt Nam (18/11/1930- 18/11/2023), trong những ngày qua, các khu dân cư trên địa bàn toàn tỉnh đồng loạt tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2023”. Thể dục thể thao: Nhiều hoạt động thể thao trên địa bàn diễn ra sôi nổi như: Giải chạy “Vì sức khỏe cộng đồng UpRace 2023” do Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi tỉnh tổ chức; Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoành Sơn đã tổ chức Lễ tổng kết mùa giải bóng đá 2023 và lễ xuất quân CLB Bóng đá Hồng Lĩnh Hà Tĩnh cho mùa giải mới. Ngoài ra, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia và giành 01 HCV – 02 HCB - 03 HCĐ tại giải Vô địch Karatedo Quốc gia 2023. Công tác quản lý nhà nước: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. 4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/10-14/11/2023 xảy ra 38 vụ tai nạn đường bộ, làm 18 người chết, 22 người bị thương, thiệt hại 250 triệu đồng. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường. Trong tháng không xảy ra tai nạn đường sắt và đường thủy. Tính chung 11 tháng năm 2023 (15/12/2022-14/11/2023) đã xẩy ra 229 vụ tai nạn đường bộ, làm 143 người chết, 126 người bị thương, thiệt hại 2.340 triệu đồng; tăng 137 vụ, 65 người chết, 87 người vị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường. Tính từ ngày 15/12/2022-14/11/2023 xảy ra 03 vụ tai nạn đường sắt, làm 02 người chết, không có người bị thương; tăng 2 vụ, người chết, số người bị thương không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Tính từ ngày 15/12/2022-14/11/2023, tai nạn đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Môi trườngVụ cháy: Từ ngày 15/10-14/11/2023 đã xảy 26 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 823,2 triệu đồng. Tính từ 15/12/2022-14/11/2023 xảy ra 106 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 4.396 triệu đồng; tăng 52 vụ, giảm 1 người chết, giảm 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước.Vụ nổ: Từ ngày 15/10-14/11/2023 không xảy ra nổ, so với tháng trước và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2023 (từ ngày 15/12/2022-14/11/2023) chỉ xảy ra 1 vụ nổ, 1 người bị thương; tăng 1 vụ, tăng 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh đã phát hiện 14 vụ và xử lý 10 vụ, với tổng số tiền xử phạt 24,25 triệu đồng; giảm 25 vụ (giảm 64,10%) đã phát hiện, giảm 9 vụ (giảm 47,37%) đã xử lý; giảm 30,35 triệu đồng (giảm 55,59%) số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 75 vụ (giảm 84,27%) đã phát hiện, giảm 45 vụ (giảm 81,82%) đã xử lý, giảm 153,55 triệu đồng (giảm 86,36%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm môi trường trong tháng chủ yếu là khai thác, tàng trữ, vận chuyển đất, cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép… Tính chung 11 tháng năm 2023, đã phát hiện 532 vụ, đã xử lý 411 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.481,46 triệu đồng; giảm 344 vụ (giảm 39,27%) đã phát hiện, giảm 172 vụ (giảm 29,50%) đã xử lý, số tiền xử phạt giảm 1.216,96 triệu đồng (giảm 45,10%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng xảy ra 2 đợt thiên tai (2 đợt mưa lớn) làm 3 người chết và 2 người bị thương làm 3.819 nhà bị hư hại; 289,5 ha hoa màu bị thiệt hại, 19 gia súc bị chết, cuốn trôi; 3.776 con gia cầm bị chết, cuốn trôi gây thiệt hại 163.989,67 triệu đồng (đợt 1 từ ngày 28-31/10 mưa lớn gây ngập lụt làm 3 người chết, 2 người bị thương, 3.802 nhà bị hư hại; 113 ha hoa màu bị hư hại; 19 con gia súc bị chết; 3.671 con gia cầm bị chết, cuốn trôi ước tính thiệt hại 153.934,7 triệu đồng; đợt 2 diễn ra từ ngày 12-14/11 làm 17 nhà bị hư hại; 176,5 ha hoa màu bị thiệt hại; 105 con gia cầm bị chết, cuốn trôi ước tính thiệt hại 10.054,97 triệu đồng), hỗ trợ mai táng phí cho người chết là 7,2 triệu đồng/ người, 2 người là 14,4 triệu. Từ đầu năm 2023 đến nay, xảy ra 4 đợt thiên tai (1 vụ sét đánh, 3 đợt mưa lớn) làm 4 người chết; 2 người bị thương; làm 3.957 nhà bị hư hại; 106,6 ha lúa; 403,7 ha hoa màu bị hư hại; 19 con gia súc bị chết, cuốn trôi; 3.776 con gia cầm bị chết, cuốn trôi với tổng giá trị thiệt hại ước tính 175.919,67 triệu đồng . Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 10 và 10 tháng năm 2023
  •   27/07/2024 22:30

I.  LĨNH VỰC KINH TẾ 1.  Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 1.1 Sản xuất nông nghiệp Sản xuất trồng trọt trong tháng 10/2023 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2023, cũng vào thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam…đang thu hoạch chính vụ. Giá bán thịt hơi giảm mạnh đã làm giảm tổng đàn, trong khi giá thức ăn chăn nuôi và chi phí phòng dịch vẫn ở mức cao, với mức giá này người chăn nuôi xác định thua lỗ nên việc tăng đàn, tái đàn phục vụ Tết Nguyên Đán đối với người dân gặp rất nhiều khó khăn... * Trồng trọt Sản xuất vụ Mùa 2023 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy. Mặc dù người dân đã chủ động gieo trồng đúng lịch thời vụ nhưng do ảnh hưởng của thời tiết nên một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Diện tích gieo trồng các loại cây trồng hàng năm vụ Mùa 2023 đạt 1.120 ha, bằng 90,89% (giảm 112 ha) so với cùng kỳ năm trước chủ yếu giảm ở diện tích cây lúa: Cây lúa: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 318 ha, bằng 76,74% (giảm 97 ha) so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết nắng nóng trên diện rộng từ đầu vụ đã ảnh hưởng đến quá trình gieo trồng và phát triển của cây lúa. Năng suất thu hoạch lúa vụ Mùa cả tỉnh ước tính đạt 15,88 tạ/ha, bằng 90,17% (giảm 1,73 tạ/ha). Sản lượng ước tính đạt 505 tấn, bằng 71,29% (giảm 203 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số cây trồng khác: Cây khoai lang diện tích gieo trồng ước tính đạt 49 ha, bằng 106,25% (tăng 3 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước tính đạt 40,39 tạ/ha, bằng 100,26% (tăng 0,11 tạ/ha). Sản lượng ước tính đạt 199 tấn, bằng 106,53% (tăng 12 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại diện tích gieo trồng rau các loại vụ Mùa ước tính đạt 201 ha, bằng 103,5% (tăng 7 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước tính đạt 51,06 tạ/ha, bằng 98,55% (giảm 0,75 tạ/ha). Nguyên nhân năng suất giảm do đầu vụ nắng nóng kéo dài. Sản lượng ước tính đạt 1.026 tấn, bằng 102% (tăng 20 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình sản xuất vụ Mùa hàng năm trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết diễn biến thất thường. Chính vì thế nên người dân chưa quan tâm nhiều trong việc đầu từ vào sản xuất. Vụ Mùa hàng năm chủ yếu với mục đích sản xuất để làm sạch đất, tránh tình trạng mầm bệnh ủ trong đất gây ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân nên kết quả thường đạt thấp. Sản xuất vụ Đông 2023 quan điểm chủ động, quyết liệt và linh hoạt trong chỉ đạo điều hành, nhất là thời vụ nhằm giảm thiểu thấp nhất rủi ro do thiên tai; đa dạng hóa các loại cây trồng, đẩy mạnh thâm canh ứng dụng khoa học công nghệ. Phấn đấu tổng diện tích gieo trồng vụ Đông 2023 đạt 11.890 ha, trong đó: Ngô lấy hạt: 4.259 ha, năng suất 42,11 tạ/ha, sản lượng 17.935 tấn; Ngô sinh khối: 1.649 ha, năng suất 32 tấn/ha, sản lượng 52.782 tấn; Rau các loại: 4.524 ha, năng suất 65,45 tạ/ha, sản lượng 29.610 tấn; Cây khoai lang: 1.458 ha, năng suất 66,57 tạ/ha, sản lượng 9.705 tấn. Cây lâu năm: Trong tháng 10/2023, người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Cùng với đó, thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam…đang thu hoạch chính vụ. Năm nay thời tiết thuận lợi cùng với quá trình chăm sóc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật nên năng suất và chất lượng cam, bưởi được nâng lên. Tuy nhiên hiện nay đang bước vào mùa mưa bão nên các hộ gia đình chủ động các biện pháp phòng ngừa như bọc quả, giằng néo cây để hạn chế tối đa thiệt hại do mưa lớn gây ra. Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống và tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Theo dự báo của Đài khí tượng thủy văn Hà Tĩnh, vụ Đông năm 2023 nhìn chung nền nhiệt độ từ tháng 10-11/2023 tiếp tục cao hơn so với thời kỳ chuẩn khí hậu từ 0,5 - 1,00C; mùa mưa năm nay khả năng xuất hiện muộn và kết thúc sớm hơn so với trung bình nhiều năm, tổng lượng mưa có khả năng thấp hơn so với năm 2022 cùng kỳ. Nhìn chung nền nhiệt độ mùa Đông 2023 khá cao, số đợt rét đậm, rét hại không nhiều; đợt rét đậm đầu tiên có khả năng nửa đầu tháng 12/2023 (sớm hơn so với trung bình nhiều năm). Vì vậy ngành chức năng đưa ra dự báo về tình hình sâu bệnh có thể xuất hiện gây hại trên các cây trồng vụ Đông năm 2023 như: Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu, sâu xám, sâu đục thân, đục bắp, rệp cờ, bệnh khô vằn, bệnh lùn sọc đen Phương Nam... Trên cây rau: Sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy, rệp muội, bệnh lở cổ rễ (thối gốc), bệnh giả sương mai, bệnh héo xanh vi khuẩn… Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã kịp thời hướng dẫn bà con nông dân các biện pháp phòng ngừa các loại sâu bệnh trên để tránh thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với các loại cây trồng. * Chăn nuôi Kết quả chăn nuôi, đàn lợn hiện có 395.360 con, bằng 103,46%; đàn gia cầm ước đạt 9.890 nghìn con, bằng 101,85%; đàn trâu ước đạt 67.350 con, bằng 99,70%; đàn bò ước đạt 168.660 con, bằng 99,65% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, việc tái đàn trong chăn nuôi lợn và gia cầm từ đầu năm khá tích cực và cần duy trì vì đây là nguồn thịt chính đảm bảo ổn định thị trường. Tuy nhiên, thời gian tới bên cạnh diễn biến thất thường của thị trường giá cả, nguy cơ dịch bệnh và diễn biến phức tạp của thiên tai, lũ lụt cũng luôn là những khó khăn thách thức đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn. Vì vậy, các cấp, các ngành cũng như người chăn nuôi luôn phải có các giải pháp thích hợp để chủ động ứng phó với dịch bệnh và thiên tai nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại để phát triển đàn vật nuôi, đáp ứng nguồn cung thực phẩm có thể tăng cao trong thời gian tới, nhất là dịp Tết. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại và công tác phòng dịch: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, hiện nay trên địa bàn tỉnh không có ổ dịch phát sinh. Hiện thời tiết đang bước vào thời điểm giao mùa, thuận lợi cho các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phát sinh, gây bệnh trên đàn gia súc gia cầm nên công tác tiêm phòng đợt 2 đang được các cấp ngành từ tỉnh đến địa phương Hà Tĩnh quan tâm, tập trung triển khai, với mục tiêu là đến hết tháng 10 sẽ hoàn thành cơ bản yêu cầu đề ra. 1.2 Lâm nghiệp Trong tháng 10/2023, hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Đây là tháng có thời tiết mát mẻ, mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng, chăm sóc rừng và cũng là thời điểm các chủ rừng tranh thủ thu hoạch các diện tích đến tuổi khai thác để tránh thiệt hại do mưa bão gây ra nên sản lượng đạt khá cao so với các tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng trồng mới tháng 10 ước đạt 1.895 ha, bằng 107,55% (tăng 133 ha), sản lượng gỗ khai thác ước đạt 61.157 m3 bằng 103,37% (tăng 1.991 m3), sản lượng củi khai thác ước đạt 33.094 ste, bằng 98,25% (giảm 588 ste), số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 208 ngàn cây, bằng 91,23% (giảm 20 ngàn cây). Tính chung 10 tháng diện tích rừng trồng mới ước đạt 6.697 ha, bằng 103,24% (tăng 210 ha), sản lượng gỗ khai thác ước đạt 376.641 m3 bằng 104,57% (tăng 16.452 m3), sản lượng củi khai thác ước đạt 230.961 ste, bằng 95,47% (giảm 10.970 ste), số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.973 ngàn cây, bằng 85,89% (giảm 342 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, do ý thức của người dân trong việc khai thác và làm sạch đất chuẩn bị trồng cây mới còn nhiều bất cẩn, mặc dù trong tháng không xảy ra cháy rừng nhưng vẫn có đến 13 vụ phá rừng, với diện tích diện tích rừng bị phá 21,6 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 10 vụ cháy rừng (tăng 9 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 10,27 ha (tăng 9,87 ha) và 95 vụ phá rừng (tăng 26 vụ), với diện tích rừng bị phá là 54,08 ha (tăng 17,754 ha) so với cùng kỳ năm 2022. 1.3 Thủy sản Kết quả sản xuất thủy sản tháng 10/2023 tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng lại giảm so với tháng trước. Sản lượng chỉ đạt hơn 50% so với tháng trước do hiện nay bước vào mùa mưa bão, thời tiết không mấy thuận lợi cho việc đánh bắt cộng với nguồn thủy hải sản sinh sôi ít hơn, bên cạnh đó hoạt động nuôi trồng do mới thu hoạch xong vụ Xuân Hè người dân tiếp tục thả nuôi vụ mới phục vụ Tết nên sản lượng nuôi trồng đạt thấp. Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng 10/2023 ước đạt 4.236 tấn, bằng 101,05% (tăng 44 tấn), trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.109 tấn, bằng 100,72% (tăng 22 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.127 tấn, bằng 101,95% (tăng 22 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2023, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 50.258 tấn, bằng 101,96% (tăng 965 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 35.436 tấn, bằng 102,48% (tăng 856 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 14.822 tấn, bằng 100,74% (tăng 109 tấn). Như vậy, sản lượng khai thác chiếm hơn 70% tổng sản lượng thủy hải sản, trong khi chi phí nhiên liệu, nhân công tăng mạnh nhưng năng lực sản xuất không tăng là những hạn chế trong phát triển sản xuất thủy sản. Những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản dự kiến sẽ đạt thấp hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. Cùng với sản lượng của hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản thì trong tháng 10/2023 ước tính đã sản xuất được 30 triệu con giống tôm thẻ, tăng 2 triệu con so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2023, ước tính sản xuất được 525 triệu con tôm giống, tăng 31 triệu con so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 16 triệu con giống tôm sú và 509 triệu con giống tôm thẻ. Về tình hình dịch bệnh, tính từ ngày 15/9 đến ngày 15/10/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra các loại dịch bệnh đối với nuôi trồng thủy sản. 2. Sản xuất công nghiệp Nhờ nỗ lực vượt khó, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 10/2023 tiếp tục đà tăng trưởng. Tính chung 10 tháng năm 2023, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 7,26% so với cùng kỳ năm trước, có 11/20 nhóm sản phẩm có chỉ số tăng so với cùng kỳ, đặc biệt một số nhóm sản phẩm công nghiệp trọng yếu của tỉnh tăng trưởng như: điện sản xuất, thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm; ắc qui bằng ion lithi (sản phẩm mới).... Nhìn chung sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi tốt. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Tháng 10/2023 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 9/2023 ước tính tăng 9,19%, so với cùng kỳ năm trước tăng 22,74%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,37% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,81% so với tháng trước và tăng 21,15% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,15% so với tháng trước và tăng 40,49% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 12,16% so với tháng 9/2023 và tăng 12,43% so với cùng kỳ năm 2022. Nhìn chung, tính từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 2023, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh duy trì được đà tăng trưởng. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 10 tháng năm 2023 ước tăng 7,26% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,34%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,56% (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,15%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,82% so với cùng kỳ năm 2022. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm cộng dồn 10 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 55% trong tổng số sản phẩm) và có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 45%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước: Bê tông trộn sẵn tăng 17,78%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 17,45%; điện sản xuất tăng 13,41%; mực đông lạnh tăng 11,62%; điện thương phẩm tăng 11,74%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 10,84%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 57,83%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 36,49%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 37,76%; dịch vụ sản xuất dược giảm 14,89%; thức ăn cho gia súc giảm 13,12%; ... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2023 tăng 0,1% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 10,98%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 10/2023 tăng 1,73% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động 10 tháng năm 2023 của ngành khai khoáng giảm 2,84% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm do nguồn tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, sản lượng khai khoáng gảm nên cắt giảm số lượng lao động. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động tính đến tháng 10/2023 đối với ngành này tăng 2,44%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,62%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,29% so với cùng kỳ năm 2022. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2023, giảm 18,08% so với tháng trước, trong tháng diễn ra nhiều đợt mưa lớn ảnh hưởng tới khối lượng thi công các công trình. Tính chung 10 tháng năm 2023 tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước giảm 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu do kế hoạch vốn năm 2023 giảm mạnh so với năm trước. Bên cạnh đó một số dự án còn gặp khó khắn, vướng mắc trong bàn giao mặt bằng và tiến độ thi công còn chậm. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2023 ước đạt 488,41 tỷ đồng, giảm 18,08% so với tháng trước và giảm 31,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 373,96 tỷ đồng, giảm 17,45% so với tháng trước và giảm 34,67% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 81,43 tỷ, giảm 17,01% so với tháng trước và giảm 22,07% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 33,02 tỷ đồng, giảm 26,69% so với tháng trước và giảm 13,68% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 10 tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh có nhiều đợt mưa lớn, ảnh hưởng tới khối lượng thi công các công trình, do đó nguồn vốn đầu tư công thực hiện giảm so với tháng trước. Các nguồn vốn thuộc ngân sách tỉnh, xã và nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đều giảm so với tháng trước. Các dự án đường, trường thuộc tiêu chí mục tiêu nông thôn mới giảm tiến độ do đó nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện, xã giảm mạnh. Tính chung 10 tháng năm 2023, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước đạt 4.246,61 tỷ đồng, giảm 14,19% so với cùng kỳ năm trước, đạt 68,54% kế hoạch năm. Mặc dù nguồn vốn đã được bổ sung thêm và bàn giao tới từng công trình nhưng nhìn chung nguồn ngân sách năm 2023 giảm mạnh so với năm trước. Bên cạnh đó, quá trình triển khai thực hiện, một số dự án do công tác GPMB triển khai chậm, còn nhiều vướng mắc kéo dài nên đã làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công và kết quả giải ngân vốn đầu tư. Một số dự án còn gặp khó khắn, vướng mắc như: Dự án cải tạo, nâng cấp đường tỉnh ĐT.553 đoạn từ Lộc Yên - đường Hồ Chí Minh (Km39+030 ÷ Km47+830). Hiện nay còn 4,19/8,8km mặt bằng chưa được bàn giao cho dự án để thi công; Dự án xây dựng đường Hàm Nghi kéo dài; Cải tạo, nâng cấp QL 8C đoạn từ Thiên Cầm - Quốc lộ 1 và đoạn từ QL 8 đến đường Hồ Chí Minh tỉnh Hà Tĩnh thực hiện còn chậm… 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tình hình thương mại dịch vụ tháng 10 và 10 tháng năm 2023 tăng trưởng khá ổn định. Các yếu tố thời tiết, mùa vụ và biến động của giá cả nhiều nhóm hàng hóa đặc biệt nhóm giá nguyên, nhiên liệu như điện và xăng dầu cũng gây nhiều khó khăn, bất lợi cho các hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa. Tuy vậy, môi trường kinh doanh ổn định và các chính sách kích cầu, phát triển kinh tế khiến hoạt động thương mại dịch vụ vẫn cơ bản ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 10/2023 doanh thu ước đạt 5.173 tỷ đồng, tăng 2,64% so với tháng trước và tăng 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 32,27 tỷ đồng, tăng 4,51% so với tháng trước và tăng 120,43% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng hóa đều có doanh thu tăng so với tháng trước tăng mạnh nhất ở nhóm hàng đá quý và kim loại quý do giá vàng và các loại trang sức đáng ở mwusc cáo và tiếp tục tăng theo giá vàng thế giới. Trong 4 nhóm hàng có doanh thu giảm so với tháng trước thì giảm doanh thu đáng kể nhất ở nhóm hàng xăng, dầu các loại do giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm khá mạnh trong thời gian gần đây, tuy nhiên việc nhu cầu sử dụng nguyên liệu tăng mạnh nên so với cùng kỳ doanh thu vẫn tăng 3,85% so với cùng kỳ. Nhìn chung tình hình ban lẻ trong tháng chịu tác động bởi những nguyên nhân chính sau: Thứ nhất, yếu tố mùa vụ kinh doanh khi thời tiết chuyển mùa tác động đến nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, phương tiện đi lại. Thời tiết mưa kéo dài ảnh hưởng đến các nhóm lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, hàng hóa khác. Thứ hai, nhu cầu mua sắm và sửa chữa các thiết bị đồ dùng, phương tiện bị thiệt hại do mưa lớn và hoàn thiện nhà thời điểm cuối năm. Bên cạnh đó, trong thời gian qua, nhiều mẫu mã ô tô đồng loạt giảm giá, các mẫu xe mới ra mắt cũng có mặt bằng giá cả thấp hơn so với các model đời cũ nhằm kích cầu tiêu dùng. Thứ ba, tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục bất ổn ảnh hưởng đến kinh tế trong nước, tác động đến nhiều nhóm hàng hóa như xăng, dầu, khí đốt, vàng, sắt thép, đồ dùng công nghệ cao. Tính chung 10 tháng năm 2023 tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 48.522,69 tỷ đồng, tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 2 nhóm hàng mặc dù doanh thu trong tháng đã có tăng so với tháng trước do có các chính sách kích cầu tiêu dùng tuy nhiên tính chung 10 tháng giảm sâu so với cùng kỳ là nhóm ô tô con dưới 9 chỗ ngồi giảm 31,0%; phương tiện đi lại giảm 41,11%, nhưng vì các nhóm hàng doanh thu bán lẻ không cao, nên không ảnh hưởng quá lớn tới mức tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa. Còn lại tất cả các nhóm hàng khác đều có mức doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ một phần nguyên nhân do giá cả các các mặt hàng đang ở mức cao.  Trong năm qua, tình hình hoạt động thương mại của tỉnh đạt được sự tăng trưởng cao so các năm gần đây. Tuy nhiên, việc sản xuất kinh doanh của cơ sở cá thể, doanh nghiệp của tỉnh ngày càng gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của các hệ thống bán lẻ toàn quốc, các cửa hàng nhượng quyền thương hiệu. Đặc biệt là hình thức thương mại điện tử do các tính ưu việt về giá cả, chất lượng và sự tiện lợi. Cùng với đó, loại hình chợ truyền thống cũng đang gặp nhiều khó khăn khi người tiêu dùng có xu hướng chuyển việc mua sắm từ các chợ, trung tâm thương mại truyền thống sang các điểm bán lẻ trên đường phố, ngõ, xóm, các cửa hàng tiện ích và mua sắm online. Hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 10/2023 doanh thu ước đạt 700,95 tỷ đồng, tăng 1,52% so với tháng trước, tăng 30,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 15,0 tỷ đồng, giảm 18,75% so với tháng trước và giảm 6,51% so với cùng kỳ năm trước, với lượt khách phục vụ hơn 94,38 nghìn lượt, giảm 29,3% so với tháng trước và giảm 1,36% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ 82.056 ngày, giảm 24,05% so với tháng trước, giảm 0,99% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 683,44 tỷ đồng, tăng 2,16% so với tháng trước, tăng 31,72% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 2,51 tỷ đồng, giảm 16,75% so với tháng trước tăng 259,66% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân của tác động trực tiếp đến nhóm dịch vụ này chủ yếu ảnh hưởng tính chất thời vụ, trong tháng trùng với các ngày lễ như ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10)… nên việc các công ty, foanh nghiệp trên địa bàn tổ chức các sự kiện giao lưu, các hoạt động dân vũ, thể thao của chị em phụ nữ được tổ chức khá rầm rộ trên địa bàn Hà Tĩnh nên doanh thu ăn uống tăng khá mạnh so với cùng kỳ. Bên canh đó, doanh thu du lịch chủ yếu là du lịch biển nên tháng 10 và những tháng cuối năm nhu cầu du lịch giảm, thời tiết bước qua giai đoạn mưa nhiều, lũ lụt nên người dân khi tổ chức các sự kiện chỉ tổ chức ăn uống và không ở lại vì vậy doanh thu du lịch, lưu trú cũng giảm khá sâu. Tính chung 10 tháng năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 6.341,51 tỷ đồng tăng 27,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 241,81 tỷ đồng, tăng 16,88%; Ăn uống ước đạt 6.061,09 tỷ đồng, tăng 27,11% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 38,61 tỷ đồng, tăng 180,77% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành sau khoảng thời gian phát triển mạnh mẽ trong mùa du lịch biển cao điểm nhất từ cuối tháng 4 đến tháng 8 thì tháng 10 và dự báo những tháng cuối năm do ảnh hưởng thời tiết cũng như tính chất thời vụ du lịch, lượng khách đến tham quan nghỉ dưỡng sẽ bắt đầu giảm mạnh. Vì vậy, nhóm hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống lữ hành vẫn đảm bảo chủ yếu phát triển ở dịch vụ ăn uống ngoài gia đình, dịch vụ du lịch sẽ đạt doanh thu rất thấp. Đây cũng là những khó khăn cần tìm ra hướng phát triển du lịch mới, đáp ứng nhu cầu người dân cùng với sự đảm bảo phát triển cũng như khai thác nguồn tài nguyên du lịch đa dạng của tỉnh nhà. Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2023 ước tính đạt 356,45 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và giảm 3,96% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu các nhóm ngành dịch vụ khác trong tháng 10 thì nhóm ngành y tế trợ giúp xã hội và nhóm hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm so với tháng trước và so cùng kỳ do thời tiết mưa nhiều, công trình khởi công mới ít nên nhu cầu sử dụng máy móc san lấp mặt bằng giảm, còn hoạt động y tế do tháng trước dịch đau mắt đỏ lây lan diện rộng, sang tháng 10 các ca nhiễm đã giảm hẳn, vì vậy doanh thu nhóm dịch vụ y tế giảm. Còn lại các nhóm dịch vụ khác tăng khá nhất là nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi giải trí khi trong tháng có các ngày lễ 13/10 hay 20/10… Dịch vụ kinh doanh bất động sản trong tháng đã có chút khởi sắc sau thời gian gần 1 năm thị trường trầm lắng, có nhiều nhận định rằng thị trường bất động sản sẽ có những chuyển biến tích cực vào cuối quý 4/2023 hoặc chậm nhất là vào nửa đầu năm 2024, đưa đến các kỳ vọng doanh thu trong năm 2024 sau 1 năm khó khăn đối với nhóm ngành dịch vụ này. Tính chung 10 tháng năm 2023, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.526,78 tỷ đồng, tăng 10,40% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát, công tác điều hành kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có các ngành dịch vụ y tế, hành chính hỗ trợ... Mặc dù vẫn còn những khó khăn khi thị trường bất động sản còn trầm lắng, lãi suất tín dụng đang ở mức cao. Tuy nhiên, các đơn vị kinh doanh trên địa bàn cũng có những động thái thích nghi, điều chỉnh, đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. 4.2. Hoạt động vận tải Kết quả hoạt động vận tải tháng 10 tiếp tục giảm sau sự chững lại từ tháng 9, chủ yếu giảm mạnh ở vận tải hàng hóa do ảnh hưởng của thời tiết khi mưa lớn kéo dài các công trình phải tạm dừng thi công. Nhưng doanh thu vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 10 năm 2023 ước đạt 606,66 tỷ đồng, giảm 5,22% so tháng trước và tăng 18,81 % so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 97,34 tỷ đồng, giảm 5,15% so với tháng trước và tăng 41,07% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.082,92 nghìn HK, giảm 1,49% so với tháng trước và tăng 17,72% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 202,18 triệu HK.km, giảm 3,48% so với tháng trước, tăng 22,86% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt ước đạt 392,15 tỷ đồng, giảm 2,68% so với tháng trước và tăng 13,72% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 4.288,48 nghìn tấn, giảm 0,21% so với tháng trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 129,31 triệu tấn.km, giảm 2,85% so với tháng trước và tăng 7,09% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ hỗ trợ vận tải doanh thu ước đạt 105,86 tỷ đồng, giảm 13,91% so với tháng trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải tháng 10/2023 giảm so với tháng trước, chủ yếu do những nguyên nhân sau: Thứ nhất, Trong tháng, thời tiết mưa nhiều hơn, xuất hiện tình trạng ngập lụt cục bộ xảy ra một số nơi trên địa bàn tỉnh nên gây khó khăn cho các phương tiện vận tải không thuận lợi cho hoạt động khai thác, vận chuyển vật liệu xây dựng. Thời tiết mưa nhiều và khí hậu trở lạnh khiến người tham quan đi lại không còn nhiều như những tháng trước đây; Thứ hai, Ảnh hưởng của các đợt áp thấp trên biển, thời tiết xấu khiến hoạt động vận tải biển gặp khó khăn, công tác xếp dỡ hàng hóa cũng như đón tàu cập cảng biển hạn chế. Qua đó, doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải giảm mạnh so tháng trước. Tính chung 10 tháng năm 2023, hoạt động vận tải dự tính đạt 5.905,74 tỷ đồng, tăng 17,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 878,75 tỷ đồng, tăng 39,56%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.812,28 tỷ đồng, tăng 13,78%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.066,91 tỷ đồng, tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù 2 tháng gần đây hoạt động vận tải có chững lại và dự ước quý 4/2023 sẽ giảm mạnh so với các quý trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng cao. Các phương tiện vận tải được chú trọng đầu tư chất lượng xe và bảo đảm chứa đựng hàng hóa. Hạ tầng đường bộ được đầu tư nâng cấp mở rộng góp phần hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động, xuất, nhập khẩu tháng 10 tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực kim ngạch xuất khẩu tăng khá so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 10 ước đạt 456,1 triệu USD giảm 32,2 triệu USD so với tháng trước nhưng tăng 169,7 triệu USD so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt hơn 5.310,02 triệu USD tăng 19,79% so với cùng kỳ tương ứng tăng 877,3 triệu USD, nhập siêu ở mức 744 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 10/2023 ước đạt 182,6 triệu USD, tăng 4,44% so với tháng trước và tăng đến 44,89% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ tính riêng xuất khẩu từ Formosa đạt hơn 172,7 triệu USD (chiếm 94,59% kim ngạch xuất khẩu) tăng 6,15% so với tháng trước và tăng đến 60,77% so với cùng kỳ. Đây cũng là nguyên nhân chính tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu trong tháng, thể hiện các doanh nghiệp đã nỗ lực trong phát triển thị trường, tận dụng tốt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và sự phục hồi kinh tế của nhiều quốc gia. Tuy nhiên việc Ấn Độ khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với ống thép hàn không gỉ có xuất xứ hoặc nhập khẩu từ Thái Lan và Việt Nam sẽ khiến việc xuất khẩu thép gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới. Vì vậy các doanh nghiệp cần các giải pháp giải quyết khó khăn, đạt các mục tiêu với những tháng cuối năm 2023. Tính chung 10 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2.283 triệu USD, tăng 60,19% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu ngành thép và phôi thép chung toàn tỉnh 10 tháng tăng 70,46% so với cùng kỳ, xuất khẩu chè tăng nhẹ 1,91%. Bên cạnh những nhóm hàng tăng trưởng tích cực thì vẫn có những nhóm hàng xuất khẩu đang hết sức khó khăn. Trong đó, nhóm hàng xơ, sợi dệt (giảm 19,32%); dăm gỗ (giảm 14,67%); thủy sản (giảm 10,8%). Nguyên nhân do nhu cầu từ thị trường đối tác giảm, dẫn đến đơn hàng sụt giảm, hoạt động xuất khẩu xơ, sợi dệt đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đơn hàng từ năm 2022 tới nay. Riêng với ngành thủy sản, không chỉ tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu khắt khe hơn, đơn hàng giảm mà còn chịu ảnh hưởng của nguồn nguyên liệu tăng giá và tiêu thụ trong nước chủ yếu. Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này cần tập trung hơn nữa vào việc nắm bắt tình hình thị trường để chủ động kế hoạch sản xuất, sẵn sàng đón cơ hội khi thị trường phục hồi và tìm những hướng đi mới phù hợp. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 10 ước đạt 273,5 triệu USD, giảm 12,76% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 70,6% (tăng gần 113,2 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, công với việc thị trường trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, tính bấp bênh trong giá các loại nhiên liệu xăng, dầu cũng khiến các nhà đầu tư hạn chế nhập khẩu mặt hàng này. Tính chung 10 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 3.027 triệu USD, tăng 0,65% so với cùng kỳ năm trước. Khi nhu cầu hàng ngoại phục vụ dịp Tết và việc thị trường ô tô có khởi sắc, dự báo kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng trở lại trong nhưng tháng cuối năm. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2023 giảm nhẹ so với tháng trước (giảm 0,56%) nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ (tăng 1,68%) một số mặt hàng có mức giảm giá đáng kể so với tháng trước có thể kể đến như vật liệu xây dựng,giao thông... tuy nhiên, mặt bằng giá thị trường đang ở mức khá cao, so với kỳ gốc 2019 đã tăng ở mức 9,62%. Bình quân 10 tháng 2023 chỉ số giá vẫn ở mức kiểm soát được khi tăng 1,67% so với cùng kỳ. Xét trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 01 nhóm hàng ổn định giá là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế ; 6 nhóm hàng biến động giảm so với tháng trước trong đó nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3%, bưu chính viễn thông giảm 1,52%, giao thông giảm 1,08%, còn lại 03 nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép, thiết bị và đồ dùng gia đình, văn hóa, giải trí và du lịch giảm không đáng kể. Các nhóm hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,3%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%, giáo dục tăng 0,1%, hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 10/2023 chịu ảnh hưởng từ của các yếu tố thứ nhất, giá nhiên liệu xăng, dầu qua các kỳ điều chỉnh trong tháng giảm dẫn tới giá bình quân giảm so với tháng trước. Thứ hai, giá vật liệu xây dựng, đặc biệt là thép tiếp tục giảm do chịu ảnh hưởng từ thị trường bất động sản gặp khó khăn cùng với đó, do thời tiết mưa nhiều trong thời gian qua dẫn tới hoạt động xây dựng giảm, nhu cầu và giá vật liệu giảm theo. Thứ ba, nhóm thịt gia súc giảm giá trong khi giá gạo tiếp tục tăng ảnh hưởng đến nhóm lương thực, thực phẩm và yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh, mưa nhiều đã tác động đến các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc. Tính chung 10 tháng năm 2023 chỉ số giá bình quân tăng 1,67% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị tăng 1,5%; nông thôn tăng 1,74%. Tăng mạnh nhất ở nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 4,29%) mặc dù giá vật liệu xây dựng lượng tiêu thụ điện, nước tháng 10 đã có dấu hiệu hạ nhiệt nhưng tính chung 10 tháng mức giá của các loại vật liệu xây dựng, điện, nước vẫn đang ở mức cao. Đối với nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,33% do nguồn cung lương thực trên thị trường thế giới gián đoạn, nhu cầu tại thị trường các nước châu Á, châu Phi đối với nguồn gạo Việt Nam tăng mạnh, qua đó ảnh hưởng đến giá gạo trong nước, bên cạnh đó thời tiết thất thường đã ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của các loại rau, củ quả mùa vụ, nguồn rau củ nhập khẩu Trung Quốc cũng gặp khó khăn do tình hình thiên tai vì vậy giá rau củ tăng mạnh (tính riêng nhóm rau củ quả trong tháng tăng 3,16% so tháng trước). Chỉ có 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ là nhóm giao thông (giảm 2,38%) còn nhóm bưu chính chuyển phát giảm nhẹ 0,65% nguyên nhân chủ yếu do giá xăng, dầu nhiện liệu đang ở mức khá cao nhưng so với cùng kỳ năm trước đã hạ nhiệt hơn. Thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ trong tháng 10 và 10 tháng năm 2023 diễn ra khá sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng, chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Thị trường hoa phục vụ ngày lễ 13/10 và ngày 20/10 được đảm bảo, giá giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt, mức tăng tập trung ở các tháng đầu năm, còn ở những tháng cuối năm mức giá đang dần ổn định lại. Chỉ số giá vàng tháng 10/2023 tăng 0,23% so với tháng trước, tăng 8,53% so với cùng tháng năm trước, giá vàng bình quân trong tháng đang ở mức 5.729 nghìn đồng /chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,51% so với tháng trước và tăng 0,62% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân ở mức 2.452.497 đồng/100 USD. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dự kiến trong tháng 11/2023 giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn. Giá dầu thô trên thị trường thế giới ở mức cao khiến giá xăng dầu có thể tiếp tục tăng. Giá lương thực sẽ tiếp tục tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm đạt thấp. Sang tháng có thể xuất hiện tình trạng không khí lạnh, rét đậm khiến các loại hàng may mặc, đồ dùng gia đình tăng cao. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Tình hình đời sống dân cư Tình hình đời sống dân cư Hà Tĩnh tháng 10 năm 2023 nhìn chung chưa được cải thiện so với tháng trước. Do mặt bằng giá cả một số mặt hàng, dịch vụ thiết yếu, đặc biệt là lương thực tăng cao trong thời gian qua. Mưa lớn kéo dài những ngày qua khiến nguồn cung rau xanh thiếu hụt nên giá mặt hàng này tại nhiều chợ dân sinh ở Hà Tĩnh tăng đột biến. Bên cạnh đó, giá lợn hơi lại tiếp tục giảm mạnh làm cho hoạt động chăn nuôi trở nên trầm lặng. Tuy nhiên, cận kề ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, các cửa hàng hoa tươi, hoa quả, mỹ phẩm, trang sức…trên các tuyến phố ở Hà Tĩnh trở nên sôi động, nhộn nhịp hơn với nhiều sắc màu rực rỡ.2. Hoạt động y tế - Tình hình dịch bệnh Covid-19: Tiếp tục tăng cường triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về phòng, chống dịch bệnh; đặc biệt tiếp tục đẩy mạnh thông tin về tiêm vắc xin phòng COVID-19. Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến nay là 59.840 ca mắc. Tính từ ngày 01/01/2022 đến nay là 59.840 ca mắc.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng, có 01 người nhiễm mới HIV, 01 người chuyển thành AIDS, không có người chết vì AIDS; so cùng kỳ năm trước giảm 04 người nhiểm mới HIV, giảm 02 người chuyển thành AIDS. Tính chung 10 tháng năm 2023, có 39 người nhiễm mới HIV, 29 người chuyển thành AIDS và 05 người chết vì AIDS; tăng 20 người nhiễm HIV, 19 người chuyển thành AIDS và 02 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước.Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng, trên địa bàn xẩy ra xảy ra 01 vụ ngộ độc tập thể vào ngày 23/9/2023 tại Trường Mần non Ban Mai ( Phường Bắc Hà, TP Hà Tĩnh) 17 người bị ngộ độc, không có người chết vì ngộ độc, so cùng kỳ năm trước tăng 01 vụ ngộ độc; số ca ngộc độc đơn lẻ 90 ca, không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 10 tháng năm 2023, có 03 vụ ngộ độc tập thể (làm 36 người bị ngộ độc), 804 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; tăng 02 vụ ngộ độc tập thể (tăng 32 người bị ngộ độc), tăng 45 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 5,93%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Dịch bệnh khác: Trong tháng do thời tiết đổi mùa, mưa nắng thất thường dẫn đến một số dịch khác ở người xuất hiện: 1.321 người bị cúm, 197 người bị tiêu chảy, 42 người bị tay chân miệng, 09 người bị thủy đậu, 02 người bị sốt huyết, 06 người bị lỵ trực trùng, 08 người bị lỵ a míp, 03 người bị quai bị; không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 10 tháng năm 2023, trên địa bàn tỉnh có một số ca bệnh đơn lẻ, gồm: 54 ca sốt xuất huyết (giảm 410 ca so với cùng kỳ năm trước), 04 ca sốt rét (tăng 01 ca), 02 ca viêm não vi rút (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 108 ca mắc bệnh quai bị (tăng 19 ca), 180 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 16 ca), 184 ca mắc lỵ a míp (giảm 11 ca),196 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 47 ca), 12.218 ca mắc bệnh cúm (tăng 649 ca), 09 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 192 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước có 31 ca), 2.083 ca tiêu chảy (giảm 449 ca), 62 ca viêm gan vi rút khác (tăng 23 ca, tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch và không có ca bệnh nào bị tử vong vì các bệnh nói trên. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao - Văn hóa: Sáng 29/9, tại Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh Hà Tĩnh diễn ra lễ khai mạc Liên hoan Tiếng hát người cao tuổi (NCT) các tỉnh, thành phía Bắc năm 2023. Từ ngày 14-15/10, huyện Thạch Hà tổ chức Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2023, các tiết mục gửi gắm nhiều thông điệp ý nghĩa như những câu chuyện đời sống sinh hoạt thường ngày của Nhân dân cũng như các chủ trương, phong trào ở địa phương đã được sân khấu hóa một cách tinh tế, sâu sắc, dí dỏm, phản ánh nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. - Thể dục thể thao: Chào mừng Đại hội Công đoàn Hà Tĩnh, ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10 và ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, nhiều hoạt động thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi như Giải bóng chuyền hơi nữ doanh nghiệp; Giải Bóng chuyền đệm nam; Giải Bóng đá Doanh nghiệp - Doanh nhân Hà Tĩnh lần thứ II năm 2023... 4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/9-14/10/2023 xảy ra 25 vụ tai nạn đường bộ, làm 13 người chết, 13 người bị thương, thiệt hại 160 triệu đồng. Vào hồi 17h50 ngày 12/10/2023 xảy ra 1 vụ tai nạn đường sắt, thuộc địa phận thôn Tiến Lạng, xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ, làm 1 người chết, không có người bị thương. Tính chung 10 tháng năm 2023 (15/12/2022-14/10/2023) đã xẩy ra 194 vụ tai nạn đường bộ, làm 127 người chết, 104 người bị thương, thiệt hại 2.090 triệu đồng; tăng 114 vụ, 59 người chết, 71 người vị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường. Tính từ ngày 15/12/2022-14/10/2023 xảy ra 03 vụ tai nạn đường sắt, làm 02 người chết, không có người bị thương; tăng 03 vụ, 02 người chết, số người bị thươgn không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Tính từ ngày 15/12/2022-14/10/2023, tai nạn đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Môi trường - Vụ cháy: Từ ngày 15/9-14/10/2023 đã xảy 03 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 0,8 triệu đồng. Tính từ 15/12/2022-14/10/2023 xảy ra 80 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 3.572,8 triệu đồng; tăng 30 vụ, giảm 01 người chết, giảm 01 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. - Vụ nổ: Từ ngày 15/9-14/10/2023 không xảy ra nổ, so với tháng trước và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng từ ngày 15/12/2022-14/10/2023 chỉ xảy ra 01 vụ nổ, 01 người bị thương; tăng 01 vụ, tăng 01 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. - Vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh đã phát hiện 39 vụ vi phạm và xử lý 19 vụ, với tổng số tiền xử phạt 54,6 triệu đồng; tăng 21 vụ (tăng 116,67%) đã phát hiện, tăng 5 vụ (tăng 35,71%) đã xử lý; tăng 27,34 triệu đồng (tăng 100,29%) số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 55 vụ (giảm 58,51%) đã phát hiện, giảm 45 vụ (giảm 70,31%) đã xử lý, giảm 674,10 triệu đồng (giảm 92,51%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm môi trường trong tháng chủ yếu là khai thác, tàng trữ, vận chuyển đất, cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép… Tính chung 10 tháng năm 2023, đã phát hiện 518 vụ, đã xử lý 401 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.457,21 triệu đồng; giảm 269 vụ (giảm 34,18%) đã phát hiện, giảm 127 vụ (giảm 24,05%) đã xử lý, số tiền xử phạt giảm 1.063,41 triệu đồng (giảm 42,19%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng xảy ra 01 vụ thiên tai (từ ngày 24-27/9/2023 xảy ra mưa lớn làm 138 nhà bị hư hại; 106,6 ha lúa; 114,2 ha hoa màu bị hư hại) gây thiệt hại 11.930 triệu đồng. Từ đầu năm 2023 đến nay, xảy ra 02 đợt thiên tai (01 vụ sét đánh, 01 vụ mưa lớn) làm 1 người chết, làm 138 nhà bị hư hại; 106,6 ha lúa; 114,2 ha hoa màu bị hư hại với giá trị thiệt hại 11.930 triệu đồng .                                        Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh quý III và 9 tháng năm 2023
  •   29/07/2024 21:23

Năm 2023 là năm giữa nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, các nghị quyết, chính sách giai đoạn 2021-2025, năm có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm 2021-2025. Trong quý III cũng như 9 tháng vừa qua, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn thách thức. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi; tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, Nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào hoạt động, giải phóng mặt bằng và xây dựng đường cao tốc phía Đông … sẽ là hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh nhà.vv. Tuy nhiên, lạm phát toàn cầu mặc dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao; hầu hết các nước vẫn thắt chặt chính sách tiền tệ; sự phục hồi chậm và suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Trong đó, đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh 9 tháng năm 2023 có mức tăng trưởng khá, an sinh xã hội được đảm bảo, quốc phòng an ninh được giữ vững. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng năm 2023 như sau: I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong 9 tháng năm 2023, tình hình thời tiết có nhiều diễn biến bất thường nhưng không ảnh hưởng quá nhiều đến sản xuất nông nghiệp, người dân làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh và gieo cấy đúng lịch thời vụ nên các loại cây hàng năm phát triển tốt, kết quả sản xuất cơ bản đạt và vượt kế hoạch đề ra. Cây lâu năm trọng điểm tăng so với cùng kỳ năm trước, nhất là cây ăn quả có múi; chăn nuôi cơ bản ổn định tổng đàn trâu bò có xu hướng ngày càng giảm và tăng chăn nuôi lợn, gia cầm; hoạt động khai thác gỗ triển khai tích cực; nuôi trồng và khai thác thủy sản có nhiều khởi sắc. 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1.Trồng trọt a. Cây hàng năm: Hiện nay việc phá ô thửa nhỏ tạo ra những cánh đồng lớn cùng với việc đưa các loại giống ngắn ngày, năng suất, đáp ứng tốt với khí hậu thời tiết đã mang lại hiệu quả cao, sản xuất vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi cả về năng suất và sản lượng, vụ Hè Thu năm 2023 năng suất lúa giảm hơn so với năm trước, sản xuất vụ Mùa 2023 diễn ra trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy, một số diện tích cây trồng không đạt kế hoạch ban đầu. Kết quả sản xuất năm 2023, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh ước tính đạt 158.554 ha, giảm 0,40% (giảm 630 ha) so với năm trước nhưng tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước tính đạt 645.397 tấn, tăng 4,65% (tăng 28.681 tấn) so với thực hiện năm trước. Nhìn chung, kết quả sản xuất lương thực năm 2023 tăng hơn so với năm trước, kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: - Cây lúa: Diện tích gieo trồng cây lúa cả năm ước tính đạt 104.293 ha, bằng 99,55% (giảm 473 ha) so với năm trước. Trong đó vụ Đông Xuân diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh đạt đạt 59.407 ha, bằng 99,32% (giảm 406 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu gieo trồng đạt 44.568 ha, bằng 100,09% (tăng 29 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích gieo trồng vụ Mùa đạt 318 ha, bằng 76,74% (giảm 97 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lúa năm giảm nhiều chủ yếu do ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Bắc Nam nên nhiều diện tích đất bị thu hồi. Năng suất gieo trồng lúa cả năm ước tính đạt 55,43 tạ/ha, bằng 103,99% (tăng 2,13 tạ/ha) so với năm 2022. Cụ thể: Năng suất gieo trồng lúa vụ Đông Xuân chính thức đạt 59,59 tạ/ha, bằng 106,86% (tăng 3,82 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; năng suất gieo trồng lúa vụ Hè Thu năm 2023 sơ bộ đạt 50,16 tạ/ha, bằng 99,67% (giảm 0,16 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước và năng suất lúa vụ Mùa ước tính đạt 15,88 tạ/ha, bằng 92,88% (giảm 1,22 tạ/ha) so với vụ Mùa năm trước. Tổng sản lượng lúa năm 2023 ước tính đạt 578.069 tấn, bằng 103,52% (tăng 19.668 tấn) so với năm 2022. Trong đó: Sản lượng lúa Đông Xuân chính thức đạt 354.021 tấn, bằng 106,13% (tăng 20.455 tấn) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng lúa vụ Hè Thu sơ bộ đạt 223.543 tấn, bằng 99,74% (giảm 584 tấn) so với cùng kỳ năm trước, và sản lượng lúa vụ Mùa ước tính đạt 505 tấn, bằng 71,29% (giảm 203 tấn) so với cùng kỳ năm trước. - Cây hàng năm chủ lực khác: Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô ước tính đạt 14.373 ha, bằng 110,98% (tăng 1.422 ha) so với năm trước. Trong đó diện tích gieo trồng ngô Đông Xuân chính thức đạt 11.934 ha, bằng 111,41% (tăng 1.222 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích gieo trồng ngô Hè Thu sơ bộ đạt 2.439 ha, bằng 108,95% (tăng 200 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích ngô tăng so với cùng kỳ do năm nay giá thức ăn chăn nuôi cao người dân tận dụng diện tích trồng ngô để phục vụ mục đích chăn nuôi, ngoài ra năm nay thời tiết đầu vụ Đông xấu gây khó khăn cho việc xuống cây khoai và lạc nên người dân chuyển sang trồng ngô. Năng suất gieo trồng ngô cả năm ước tính đạt 46,84 tạ/ha, bằng 104,03% (tăng 1,82 tạ/ha) so với năm trước. Trong đó: Năng suất ngô vụ Đông Xuân chính thức đạt 48,03 tạ/ha, bằng 103,5% (tăng 1,62 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; năng suất ngô vụ Hè Thu sơ bộ 41,03 tạ/ha, bằng 99,12% (giảm 0,36 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước tính đạt 67.327 tấn, bằng 115,46% (tăng 9.013 tấn) so với năm 2022. Do cả diện tích tăng và năng suất tăng khiến sản lượng ngô tăng hơn so với năm 2022. Cây khoai lang: Năm 2023, diện tích gieo trồng khoai lang ước tính đạt 3.450 ha, bằng 91,70% (giảm 312 ha) so với năm trước. Trong đó: Diện tích gieo trồng khoai lang vụ Đông Xuân chính thức đạt 2.829 ha, bằng 90,67% (giảm 292 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích gieo trồng khoai lang vụ Hè Thu sơ bộ đạt đạt 572 ha, bằng 96,09% (giảm 23 ha) so với cùng kỳ năm trước; diện tích gieo trồng khoai lang vụ Mùa ước tính đạt 49 ha, bằng 106,25% (tăng 3 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu là do một số xã chuyển từ một số đất trồng khoai không hiệu quả sang trồng ngô, nggoài ra một số huyện diện tích đất giảm do nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án. Năng suất khoai lang cả năm ước tính đạt 74,51 tạ/ha, bằng 100,73% (tăng 0,54 tạ/ha) so với năm 2022. Trong đó: Năng suất vụ Đông Xuân chính thức 77,77 tạ/ha, bằng 102,98% (tăng 2,25 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; năng suất vụ Hè Thu sơ bộ đạt 61,24 tạ/ha, bằng 102,3% (tăng 1,38 tạ/ha); năng suất vụ Mùa ước tính đạt 40,39 tạ/ha, bằng 100,26% (tăng 0,11 tạ/ha). Sản lượng khoai lang cả năm ước tính đạt 25.704 tấn, bằng 92,38% (giảm 2.121 tấn) so với năm 2022. Tuy năng suất tăng nhưng do diện tích giảm nên sản lượng khoai giảm so với năm 2022. Cây sắn: Diện tích sắn ước tính đạt 2.526 ha, bằng 96,21% (giảm 99 ha) so với năm trước. Năng suất ước tính đạt 155,12 tạ/ha, bằng 101,75% (tăng 2,67 tạ/ha), với sản lượng ước tính đạt 39.182 tấn, bằng 97,89% (giảm 842 tấn) so với năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu do chuyển đổi sang trồng cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Cây lạc: Năm 2023, diện tích gieo trồng lạc ước tính đạt 7.915 ha, bằng 86,09% (giảm 1.279 ha) so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng chính thức đạt 7.588 ha, bằng 85,97% (giảm 1.238 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu sơ bộ đạt 327 ha, bằng 88,94% (giảm 41 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn, ngoài ra, do chi phí đầu vào tăng cao (giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) nên người nông dân không mặn mà trong sản xuất lạc mà chuyển sang cây trồng khác. Năng suất gieo trồng lạc cả năm ước tính đạt 28,17 tạ/ha, bằng 116,31% (tăng 3,95 tạ/ha) so với năm trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu do ở vụ Đông Xuân, huyện Nghi Xuân người dân đã đưa giống lạc L14, V79, L29 và các giống lạc địa phương như lạc cúc, lạc sen, lạc mỡ vào gieo trỉa phổ biến. Các loại giống này chống sâu bệnh, bên cạnh đó trong giai đoạn lạc ra hoa thời tiết thuận lợi đã cho năng suất cao. Ngoài ra, vụ Đông Xuân năm ngoái ở huyện Nghi Xuân có 176 ha diện tích lạc mất trắng do thời tiết diễn biến thất thường ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng cây lạc. Sản lượng lạc cả năm ước tính đạt 22.297 tấn, bằng 100,13% (tăng 29 tấn) so với năm 2022. Cây rau các loại: Năm 2023, diện tích gieo trồng rau ước tính đạt 14.256 ha, bằng 100,68% (tăng 96 ha) so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng rau các loại chính thức đạt 11.092 ha, bằng 99,95% (giảm 6 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu diện tích gieo trồng đạt 2.963 ha, bằng 103,32% (tăng 95 ha) so với cùng kỳ năm trước và diện tích rau vụ Mùa ước tính đạt 201 ha, bằng 103,5% (tăng 7 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau cả năm ước tính đạt 70,36 tạ/ha, bằng 99,91% (giảm 0,06 tạ/ha) so với năm 2022. Sản lượng rau cả năm ước tính đạt 100.309 tấn, bằng 100,59% (tăng 590 tấn) so với năm 2022. Đậu các loại: Diện tích gieo trồng đạt 2.449 ha, bằng 81,34% (giảm 562 ha) so với năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân đạt 337 ha, bằng 89,88% (giảm 38 ha) so với cùng kỳ năm trước; vụ Hè Thu đạt đạt 2.112 ha, bằng 80,13% (giảm 524 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất đậu các loại ước tính đạt 10,07 tạ/ha, bằng 95,67% (giảm 0,46 tạ/ha) so với năm 2022. Sản lượng đậu các loại ước tính đạt 2.466 tấn, bằng 77,82% (giảm 703 tấn) so với năm 2022. b. Cây lâu năm Những năm gần đây do thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp vùng đồi núi, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển được triển khai, trong đó có chính sách hỗ trợ giống và vật tư trồng cây ăn quả nên người dân đã phá bỏ vườn tạp đầu tư trồng các loại cây ăn quả như cam, bưởi nên diện tích các loại này tăng mạnh. Nhưng đến nay do đầu tư ồ ạt, năng suất, hiệu quả không cao, đặc biệt là giá cả không ổn định, chi phí vật tư phân bón lại tăng cao, cây già cỗi nên năng suất, hiệu quả thấp vì vậy một số địa phương đã có chủ trương rà soát lại diện tích cam bưởi già cỗi, thoái hóa, kém hiệu quả để phá bỏ nên diện tích cam, bưởi có xu hướng giảm. Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 9 tháng năm 2023 ước đạt 31.565 ha, bằng 98,67%, giảm 424 ha so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.352 ha, bằng 98,27%, giảm 340 ha so với cùng kỳ năm 2022. Biến động diện tích một số loại cây chủ lực cụ thể: Diện tích cam ước đạt 7.310 ha, bằng 95,46%, giảm 348 ha. Diện tích cam giảm do cây đến thời kỳ thoái hóa, ảnh hưởng thời tiết, khí hậu, đất đai, kỹ thuật thâm canh, giống, sâu bệnh, do lạm dụng phân bón hóa học đã làm cho một số diện tích bị thoái hóa sớm chủ yếu giảm ở huyện Vũ Quang giảm 439 ha, Can Lộc giảm 10 ha, huyện Kỳ Anh giảm 10 ha....; Diện tích bưởi ước đạt 4.421 ha, bằng 100,71%, tăng 31 ha, để khai thác tiềm năng, lợi thế và phát triển sản phẩm cây ăn quả có múi trở thành một trong những sản phẩm hàng hóa chủ lực của địa phương thì cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm; Nhãn, vải, chôm chôm ước đạt 506 ha, bằng 106,53%, tăng 31 ha so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó: nhãn tăng 6 ha, vải tăng 25 ha, mặc dù cây nhãn, vải không phải là cây trọng điểm, nhưng diện tích cây trên địa bàn tỉnh hiện cũng chiếm tỷ lệ khá trong tổng diện tích cây ăn quả và chủ yếu trồng phân tán đến kỳ cho thu hoạch sản phẩm. Bên cạnh các loại cây ăn quả, biến động một số cây công nghiệp lâu năm được trồng ở địa phương như sau: Diện tích cây cao su ước đạt 8.461 ha, bằng 99,96%, giảm 3 ha so với cùng kỳ năm 2022. Khí hậu khắc nghiệt nắng nóng, mưa bão triền miên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến diện tích cây cao su bị sụt giảm, cây phát triển kém; Diện tích chè búp ước đạt 1.262 ha, bằng 99,61%, giảm 5 ha; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.762 ha, bằng 96,60%, giảm 62 ha so với cùng kỳ năm 2022. Nguyên nhân giảm là do diện tích đất trồng bị thu hồi để phụ vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đường giao thông... Một số diện tích tại vườn nhà không hiệu quả, cây trồng lâu năm già cỗi, không đem lại hiệu qủa kinh tế, người dân phá bỏ trồng giống cây khác cho hiệu quả kinh tế cao và có thời gian sinh trưởng ngắn ngày. Sản lượng thu hoạch cây lâu năm 9 tháng năm 2023 đạt khá so với cùng kỳ năm trước do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cùng với điều kiện thời tiết năm nay đến thời điểm hiện nay không xẩy ra hạn hán và chưa bước vào mùa mưa lũ: Cây ăn quả ước đạt 78.699 tấn, bằng 103,31%, tăng 2.522 tấn so với cùng kỳ năm 2022. Một số cây có sản lượng tăng khá như bưởi tăng 1.648 tấn; chuối tăng 596 tấn; mít tăng 146 tấn; ổi tăng 142 tấn... Với mục tiêu xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân. Cây bưởi, cam là đặc sản nổi tiếng của địa phương được trồng tập trung ở các xã vùng đồi bãi phù sa cùng với phong trào xóa vườn tạp trồng cây ăn quả được phát động mạnh mẽ.Bưởi Phúc Trạch và cây cam được xác định là những giống cây trồng chủ lực, nhờ áp dụng thành công kỹ thuật thụ phấn bổ sung nên tỷ lệ đậu quả trên cây bưởi Phúc Trạch dần hồi phục và tăng nhanh, chất lượng quả ngày càng được nâng cao. Một số huyện có sản lượng bưởi tăng như: Hương Khê tăng 408 tấn; Hương Sơn tăng 366 tấn; Thạch Hà tăng 291 tấn... Sản lượng cao su ước đạt 3.367 tấn, bằng 108,68%, tăng 269 tấn so với cùng kỳ năm 2022. Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ cũng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. Sản lượng chè búp ước đạt 7.944 tấn, bằng 103,94%, tăng 301 tấn; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 15.668 tấn, bằng 100,52%, tăng 81 tấn so với cùng kỳ năm 2022. Nhờ chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm nên diện tích chè đều sinh trưởng, phát triển tốt. Mô hình trồng chè đã đạt những kết quả khả quan, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho bà con nông dân mà còn tạo điều kiện giúp bà con nông dân liên kết có hiệu quả với các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, cũng như được giao lưu, học tập, trao đổi thông tin, kinh nghiệm sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật. Tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật từ khâu sản xuất tới chế biến, đã tạo ra sản phẩm chè sạch, thơm ngon để xuất khẩu. c. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, tình hình sâu bệnh xẩy ra đối với các loại cây trồng như sau: - Vụ Đông Xuân 2022 - 2023: Trên cây lúa:Ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên những chân ruộng trũng, ngập nước ở hầu hết các đia phương trong tỉnh, mật độ trung bình 3-5con/m2, nơi cao 7-10con/m2, diện tích 197ha; bọ trĩ, ruồi đục nõn gây hại trên lúa gieo thẳng; Bệnh đạo ôn lá bắt đầu xuất hiện từ trung tuần tháng 2, gây hại cục bộ trên các giống VRN20, Thái Xuyên 111...; cao điểm gây hại từ 20-30/3, tập trung trên các giống Thái xuyên 111, VNR20, P6, XT28, nếp 98,…. tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ 20-30%, diện tích nhiễm 30 ha, không có diện tích nhiễm nặng, diện tích phòng trừ 1.785 ha; Bệnh đạo ôn cổ bông: Xuất hiện trên giống N24, XT28, P6, Thái Xuyên 111, Lai Thơm 6, BT09, Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Cẩm Xuyên tỉ lệ trung bình 5-7%, cục bộ 15-20%, diện tích 4ha, diện tích phòng trừ 37.000ha; Chuột gây hại trên lúa gieo thẳng ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tỉ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, cục bộ 15-20%, diện tích 431ha; Bệnh khô vằn: Phát sinh gây hại trên những chân ruộng sâu trũng, gieo cấy giày, bón thừa đạm, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh, tỉ lệ trung bình 3-7%, nơi cao 10-15%, cục bộ 25-35% diện tích 3.850ha; Bệnh bạc lá: xuất hiện trên một số giống ở Nghi Xuân, tỉ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích 9ha; bệnh vàng lụi gây hại rải rác ở Thạch Hà, Nghi Xuân, diện tích 9ha; Rầy nâu, rầy lưng trắng chỉ phát sinh gây hại cục bộ tại 3 xã huyện Cẩm Xuyên. Trên cây lạc: Bệnh lỡ cổ rễ, nấm mốc đen, mốc trắng gây hại ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Nghi Xuân, diện tích 25ha; Sâu ăn lá diện tích 35ha. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu, sâu cắn lá diện tích nhiễm 17ha, bệnh đốm lá lớn, đốm lá nhỏ gây hại trên trà ngô sớm, diện tích 40ha tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên… Trên cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt 70ha; Sâu đục thân, đục cành 25ha; nhện nhỏ 35ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…các đối tượng như rệp muội, bọ xít, gây hại rải rác trên những vườn hộ lâu năm. - Vụ Hè thu năm 2023: Trên cây lúa: Sâu cuốn lá nhỏ: mật độ trưởng thành 5-7con/m2, , nơi cao 10-15%, diện tích 88ha, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4 tập trung chủ yếu ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Đức Thọ,…; Chuột phát sinh gây hại hầu hết các địa phương trong tỉnh tỉ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích 200ha; Bệnh khô vằn: tập trung gây hại trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón thừa đạm, tỉ lệ 5-7%, nơi cao 15-20%, cục bộ 30-40%, diện tích 1950ha, trong đó 20ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương; Rầy nâu, rầy lưng trắng: xuất hiện ở một số địa phương (Hương Sơn, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) cục bộ dạng ổ 700-1.000con/m2 (xã Tân Dân huyện Đức Thọ), diện tích 1ha, rầy chủ yếu tuổi 3, tuổi 4; Hiện tượng thiếu dinh dưỡng, chăm sóc kém trên một số giống chất lượng, thâm canh cao ở Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, diện tích 350ha. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu, sâu cắn lá diện tích nhiễm 14ha, bệnh đốm lá lớn, bệnh khô vằn 25ha, sâu đục thân, đục bắp 15ha. Trên cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành 15ha; nhện nhỏ 60ha, ruồi đục quả 55ha, bệnh nứt thân xì mủ 10ha, bệnh vàng lá thối rễ 1ha phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…các đối tượng như rệp muội, bọ xít, gây hại rải rác trên những vườn hộ lâu năm. 1.1.2. Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi 9 tháng năm 2023 cơ bản ổn định và chưa có nhiều khởi sắc khi tổng đàn trâu bò có xu hướng ngày càng giảm do đầu tư không hiệu quả, chăn nuôi lợn và gia cầm vẫn đang phát triển cầm chừng, chưa có bước đột phá nên tổng đàn và sản lượng xuất chuồng mới ở mức tăng nhẹ. Dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xẩy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện. Theo kết quả chăn nuôi như hình ảnh, nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn vẫn đảm bảo nhu cầu thị trường, tuy nhiên việc chi phí chăn nuôi vẫn ở mức cao trong khi giá cả tăng không đáng kể, cùng với đó việc tiếp cận nguồn vốn có lãi suất ưu đãi đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gặp nhiều khó khăn là những rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua cũng như thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2023 các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi, Dịch Lở mồm long móng gia súc phát sinh với mức độ cục bộ, nhỏ lẻ, được khoanh vùng, khống chế ở diện hẹp. Hiện nay xảy ra dịch tả lợn Châu Phi tại 1 hộ ở TP Hà Tĩnh đã tiêu hủy 160 kg (dịch bệnh chưa qua 21 ngày) còn lại các dịch bệnh khác đã qua thời kỳ lây nhiễm. Về công tác tiêm phòng đợt 1/2023: Ở đàn Trâu bò: Vắc xin Lở mồm long móng đạt 57,7% kế hoạch; Tụ huyết trùng đạt 52,8% kế hoạch; Viêm da nổi cục đạt 61,8% kế hoạch. Đàn lợn: vắc xin Tụ huyết trùng đạt 82,46% và vắc xin DTL đạt 82.3 % kế hoạch. Tiêm phòng cúm trên đàn gia cầm đạt 28,2% kế hoạch, tiêm Dại chó đạt 79,2% kế hoạch. Tỷ lệ tiêm phòng một số loại vắc xin đạt thấp so với kế hoạch (Vắc xin Viêm da nổi cục: thị xã Kỳ Anh 9,4% KH; Kỳ Anh đạt 18,4% KH; Nghi Xuân 45,5% KH. Vắc xin Cúm gia cầm: Vũ Quang 0% KH; Kỳ Anh 2,1% KH; Nghi Xuân 7% KH; Hương Sơn 7% KH…) 1.2. Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp quý III/2023 có nhiều thuận lợi cho việc trồng và chăm sóc rừng; hoạt động khai thác gỗ được đẩy mạnh do nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng. Diện tích rừng trồng mới tập trung quý III/2023 ước đạt 2.131 ha, tăng 54,20% so với quý trước nhưng so cùng kỳ năm trước giảm 6,45%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 160 nghìn cây, giảm 22,71% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác đạt 135,09 nghìn m3, tăng 13,18% so với quý II/2023 và tăng 3,62% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng do rừng đến tuổi khai thác, nhu cầu gỗ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến được khôi phục trở lại. Diện tích trồng rừng tập trung chủ yếu ở các địa phương: huyện Kỳ Anh, huyện Hương Khê, huyện Hương sơn, huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà...Tuy nhiên hiện nay do quỹ đất trồng cây phân tán bị hạn chế nên số lượng cây trồng phân tán cả quý II và quý III đều giảm mạnh so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2023, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 4.802 ha, bằng 101,63%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 315.484 m3, bằng 104,80%; sản lượng củi khai thác ước đạt 197.867 ste, bằng 95,01%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.765 ngàn cây, bằng 85,31% so với cùng kỳ năm trước.Trồng rừng, bảo vệ rừng là một trong những việc làm hết sức thiết thực để phát triển bền vững, phát triển rừng vừa tạo ra thu nhập từ rừng, vừa để bảo vệ môi trường vì vậy các cấp, các ngành và người dân đặc biệt quan tâm. Trong tháng 9 đã xảy ra 4 vụ cháy rừng, ước tính diện tích rừng bị cháy là 5,39 ha và có 6 vụ phá rừng, ước tính diện tích rừng bị phá là 3 ha khiến diện tích rừng bị thiệt hại tính riêng quý III/2023 là 26,84 ha, tăng 115,20% so với quý trước, và tăng 140,80% cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là rừng bị chặt, phá với 17,36 ha, tăng 61,55% so với cùng kỳ.Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/9/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 10 vụ cháy rừng (tăng 9 vụ so với cùng kỳ), với diện tích rừng bị cháy là 10,27 ha (tăng 9,87 ha) và 82 vụ phá rừng (tăng 16 vụ), với diện tích rừng bị phá là 32,48 ha (giảm 2,64 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Tổng sản lượng thủy sản quý III/2023 ước đạt 19.003 tấn, bằng 135,25% so với sản lượng quý II và bằng 100,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng khai thác ước đạt 11.730 tấn, bằng 108,14% so với quý trước và bằng 101,66% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng nuôi trồng ước đạt 7.273 tấn, bằng 227,07% so với quý trước và bằng 98,07% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác và nuôi trồng quý III đạt cao nhất trong 3 quý do đây là mùa thu hoạch các loại hải sản biển đa dạng và đối với nuôi trồng vẫn đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè. Chỉ tính riêng sản lượng tôm nuôi trồng trong quý đạt 3.329 tấn, tăng 356,65% so với quý II và tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước, Hà Tĩnh đang tiếp tục phát triển ngành nuôi tôm theo hình thức thâm canh công nghệ cao tại nhiều địa phương nhằm tận dụng lợi thế sẵn có, hướng đến phát triển bền vững. Tính chung 9 tháng năm 2023 sản lượng thủy sản ước đạt 46.022 tấn, bằng 102,04% so với cùng kỳ. Trong đó sản lượng khai thác ước đạt 32.327 tấn, bằng 102,65%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 13.695 tấn, bằng 100,64% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp nói đà tăng trưởng thủy sản từ năm trước, sản xuất thủy sản trên địa bàn cơ bản vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng nhẹ với mức tăng là 921 tấn so với cùng kỳ năm 2022, và tăng đều ở các loại hình hải sản, trong đó sản lượng cá tăng 466 tấn, tôm tăng 225 tấn. Mặc dù giá bán sản phẩm tương đối ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác vẫn ở mức cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế đạt thấp, điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Những tháng cuối năm (quý IV) điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển và nuôi trồng sẽ gặp khó khăn hơn nên sẽ có sự giảm mạnh về sản lượng. Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, xảy ra các ổ dịch nhỏ lẻ, cơ bản được khống chế kịp thời, diện tích bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính giảm 54% so với cùng kỳ năm 2022; cụ thể: Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 3 xã thuộc 3 huyện (Kỳ Anh, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) với diện tích 3,6 ha; Dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 12 xã thuộc 06 huyện (Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh, Thạch Hà, Nghi Xuân, Lộc Hà) với tổng diện tích 35,35 ha; Bệnh Vi bào tử trùng (EHP) xảy ra với diện tích 4,73 ha thuộc 06 xã của 03 huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Lộc Hà, đến thời điểm hiện nay, các loại dịch bệnh đã qua 15 ngày. Ngoài ra, theo báo cáo của các địa phương có 63,85 ha tôm bị chết không rõ nguyên nhân (chiếm 2,9% diện tích nuôi) thuộc huyện Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân (do địa phương không lấy được mẫu tôm xét nghiệm). 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong quý III củng như 9 năm 2023 đã có nhiều khởi sắc, ngành sản xuất điện đón nhận sự trở lại của tổ máy số I sau gần 2 năm tạm ngừng do sự cố; các ngành sản xuất thép, sợi có tốc độ tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước; ngành khai khoáng tiếp tục tăng công suất khai thác nhằm cung cấp vật liệu thi công các công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Tính chung 9 tháng năm 2023 chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 5,6% so cùng kỳ năm trước. Với những yếu tố thuận lợi nói trên sẽ tạo đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp Hà Tĩnh trong những tháng còn lại của năm 2023. 2.1.Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước  tháng 9/2023, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 8/2023 tăng 17,02%, so với cùng kỳ năm trước tăng 28,1%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,17% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước ngành này tăng 7,13%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,64% so với tháng trước và tăng 28,76% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,59% so với tháng trước và tăng 24,02% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,17% so với tháng 8/2023 và tăng 43,31% so với cùng kỳ năm 2022. Quí III năm 2023 hoạt động sản xuất công nghiệp lấy lại được đà tăng trưởng khi chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 23,76% so với cùng kỳ năm trước. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy nền kinh tế Hà Tĩnh đang dần phục hồi sau những thời gian khó khăn do giá cả nguyên vật liệu đầu vào, thị trường tiêu thụ và sự cố hỏng hóc trong thời gian qua. Tính chung 9 tháng năm 2023, Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 5,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,50%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,83% (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,51%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,25% so với cùng kỳ năm 2022. Nguyên nhân dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp chung trong 9 tháng năm 2023 tăng khá là do: (1) Trong quý III vừa qua, tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 đã đi vào hoạt động sau gần 2 năm tạm ngừng do sự cố, cùng với đó là nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào hoạt động sẽ là hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh nhà. (2) Nhờ thị trường tiêu thụ ổn định đã tạo thuận lợi cho ngành sản xuất thép, sợi, bia..vv đã tăng lượng sản xuất trở lại. (3) Một số ngành sản xuất khai khoáng, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao) đã được cấp phép đi vào hoạt động phục vụ đường cao tốc Bắc - Nam là những động lực không nhỏ cho tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp. 2.2.Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 11 nhóm sản phẩm cộng dồn 9 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 57,89% trong tổng số sản phẩm), trong đó, có một sản phẩm có tăng cao như: Vỏ bào, dăm gỗ tăng 20,23%; mực đông lạnh tăng 16,92%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 16,77%; điện thương phẩm tăng 13,05%..vv. Có 8 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 42,11%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu như: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 55,68%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 45,2%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 35,57%; thức ăn cho gia súc giảm 13,44%.  Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Hiện nay cùng với các chính sách tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ phục hồi như chính sách giảm thuế, giảm lãi suất cho vay, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp cùng với sự nỗ lực, linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới, hy vọng các tháng cuối năm tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn sẽ có mức tăng trưởng khá.       2.3. Chỉ số ngành công nghiệp - Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chính thức tháng 8/2023 tăng 60,93% so với cùng kỳ. Ước tính tháng 9/2023 tăng 26,8% so với tháng trước và tăng 88,47% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn 9 tháng năm 2023 ước tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 9 tháng năm 2023, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng nhẹ so với cùng kỳ, cho thấy các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn hiện nay so với 9 tháng năm 2022.  Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chính thức tháng 8/2023 giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính tháng 9/2023 tăng 29,19% so với tháng trước và tăng 30,49% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho từ ngành sản xuất trang phục tăng 479,5%; ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 103,51%; ngành sản xuất đồ uống tăng 53,81%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 48,83%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 37,26%. - Tình hình sử dụng lao động: Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2023 tăng 0,45% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 8,12%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 9/2023 tăng 0,76% so với cùng kỳ năm 2022. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng năm 2023 tăng so với cùng kỳ chủ yếu là do tăng số lượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ sốsử dụng lao động của ngành này tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước.Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động tính đến tháng 9/2023 đối với ngành khai khoáng giảm 5,32%, chỉ số sử dụng lao động của ngành này giảm do nguồn tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, sản lượng khai khoáng gảm nên cắt giảm số lượng lao động. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,52%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,49% so với cùng kỳ năm 2022. 3. Tình hình hoạt động doanh nghiệp Quí III năm 2023 tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá có nhiều khởi sắc hơn so với các quý trước. Tuy nhiên tính chung 9 tháng năm 2023 vẫn đang còn tồn tại nhiều khó khăn.UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương luôn đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh triển khai kịp thời, đồng bộ các cơ chế, chính sách của Trung ương; địa phương nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. 3.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 18/9/2023, toàn tỉnh thành lập mới 875 doanh nghiệp, giảm 16,98% so cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký đạt 3.573 tỷ đồng, giảm 48,58% so cùng kỳ năm trước, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 4,08 tỷ đồng, giảm 38,06% so cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại sau khi tạm ngừng 282 doanh nghiệp (giảm 9,03% so với cùng kỳ). Song song với số lượng Doanh nghiệp thành lập mới, trong 9 tháng vừa qua, tình hình biến động của thị trường trong và ngoài nước, cùng với đó là lãi suất ngân hàng tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, cụ thể toàn tỉnh có 157 doanh nghiệp giải thể (tăng 28,69% so với cùng kỳ năm 2022), 471 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động (tăng 22,98% so với cùng kỳ).  Nhìn chung, từ kết quả đăng ký thành lập mới, tự giải thể, tạm ngừng hoạt động của các doanh nghiệp cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian vừa qua vẫn đang còn gặp khó khăn nhất là thiếu nguồn vốn đã ảnh hưởng đến phát triển của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển chung của toàn nền kinh tế tỉnh nhà. 3.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Đánh giá tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2023 so với quý II/2023, có 82,98% DN đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó có 40,43% khẳng định SXKD tốt lên; 42,55% khẳng định giữ ổn định), bên cạnh đó có 17,02% DN đánh giá tình hình sản xuất khó khăn hơn quý trước. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những diễn biến tích cực và thuận lợi hơn. Cụ thể về các yếu tố liên quan tới tình hình sản xuất: Đánh giá quý III/2023 so quý II/2023 có 85,11% doanh nghiệp tăng hoặc ổn định khối lượng sản xuất; có 14,89% doanh nghiệp giảm khối lượng sản xuất. Theo hình thức sở hữu thì loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dự báo giảm khối lượng sản xuất lớn nhất (33,33%) tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước 16,67% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 9,38%.  Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2023 có 76,6% DN đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước và 23,4% DN cho rằng tình hình sản xuất quý tiếp theo khó khăn hơn so với hiện tại. Cụ thể về các yếu tố liên quan tới tình hình sản xuất: Có 37,78% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 17,78% giảm đi. Các doanh nghiệp dự báo quý IV/2023 số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và doanh nghiệp cố gắng duy trì số lượng đơn đặt hàng như quý trước (55,56% nhận định giữ nguyên như quý III; 22,22% DN dự định tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu và có 22,22% DN nhận định lượng hàng xuất khẩu giảm đi). Có 34,04% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm; 27,66% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 2,13% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm giảm và 12,77% DN có giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm giảm. 4. Hoạt động thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng: Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng Chín phát triển tích cực với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 3,38% so với tháng trước và tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 15,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý I tăng 24,17%, quý II tăng 13,68% và quý III tăng 9,31% (Quý I, II tăng mạnh chủ yếu do cùng kỳ năm 2022 bùng phát dịch covid, các hoạt động hương mại chủ yếu ở dịch vụ thiết yếu) Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tháng 9/2023 ước đạt 5.088,25 tỷ đồng, tăng 4,0% so với tháng trước và tăng 7,61% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý III/2023 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.930,47 tỷ đồng tăng 4,0% so với quý II/2023 và tăng 7,83% so với cùng kỳ. Trong 3quý thì mức tăng quý III so với cùng kỳ đạt mức khá cao nhưng không tăng mạnh bằng 2 quý trước. Nguyên nhân do tình hình kinh tế, chính trị thế giới bất ổn ảnh hưởng đến kinh tế trong nước, tác động đến giá nhiều nhóm hàng hóa như xăng, dầu, khí đốt, vàng, sắt thép, đồ dùng công nghệ cao...., giá xăng dầu nhiên liệu trong quý tăng ở các kỳ điều chỉnh gần đây. Bên cạnh việc giá cả tăng cao thì các yếu tố mùa vụ trong quý cũng ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu các nhóm hàng như vật phẩm giáo dục, may mặc... trong quý III khi như cầu mua sắm bước vào năm học mới. Tính chung 9 tháng năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 43.398,22 tỷ đồng, tăng 14,13% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có mức tăng mạnh so với cùng kỳ cụ thể như: Lương thực, thực phẩm tăng 21,26% trong đó quý I tăng 28,61%; quý II tăng 20,81%; quý III tăng 15,40%; Nhóm hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 36,09% trong đó quý I tăng 26,11%; quý II tăng 58,60%; quý III tăng 29,33%; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 36,89% trong đó quý I tăng 29,70%; quý II tăng 40,73%; quý III tăng 39,12%; Xăng dầu các loại tăng 29,06% trong đó quý I tăng 39,02%; quý II tăng 33,58%; quý III tăng 16,45%. Các nhóm hàng khác cũng có mức tăng doanh thu khá so với cùng kỳ, chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu là nhóm ô tô (giảm 30,67%) và phương tiện đi lại (giảm 42,76%) do đây là các mặt hàng xa xỉ có giá trị cao, khi thu nhập người đang phải gồng gánh các chi phí hàng hóa do giá ở mức cao thì việc mua sắm các mặt hàng có giá trị lớn dường như cũng hạn chế cộng với việc một lượng vốn lớn đang mắc tại thị trường bất động sản. Nhìn chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa của tỉnh 9 tháng năm 2023 chịu nhiều tác động bởi tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Những lo ngại về lạm phát và tình hình suy giảm kinh tế tác động đến cung cầu, giá cả nhiều nhóm hàng hóa trong nước. Việc giá xăng dầu và điện tăng cũng gây nhiều khó khăn, bất lợi cho các hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa, tuy vậy, môi trường kinh doanh ổn định và các chính sách kích cầu, phát triển kinh tế khiến hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng mạnh. Mặc dù vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển nên đã ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Thu nhập của người dân bị ảnh hưởng bởi nguồn thu người dân chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp lạikhông cao và tiền gửi từ người thân làm ăn xa đang gặp khó khăn. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh tháng 9/2023 ước đạt 709,89 tỷ đồng, giảm 0,17% so với tháng trước, tăng 31,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 19,82 tỷ đồng, giảm 28,20% so với tháng trước, giảm 12,79% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ hơn 140 nghìn lượt, giảm 27,22% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu lưu trú về những tháng cuối năm nhìn chung giảm, mức giảm cả ở số lượng khách lưu trú cũng như giá phòng do gần như đã hết mùa du lịch biển; Dịch vụ ăn uống ước đạt 687,05 tỷ đồng, tăng 1,07% so với tháng trước, tăng 32,73% so với cùng kỳ năm trước do trong tháng trùng với kỳ nghỉ Lễ Quốc Khánh 02/9 khá dài ngày; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 3,02 tỷ đồng, giảm 18,71% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 226,49% so cùng kỳ. Tính chung 9 năm 2023, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 5.659,98 tỷ đồng, tăng 27,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 228,16 tỷ đồng, tăng 19,55%, chỉ tính riêng quý III đạt 89,81 tỷ đồng đạt doanh thu cao nhất trong 3 quý và tăng 14,31% so với cùng kỳ; Ăn uống ước đạt 5.395,73 tỷ đồng,tăng 26,97% so với cùng kỳ năm trước trong đó quý III/2023 đạt 2.019,95 tỷ đồng tăng 9,14% so với quý trước và tăng đến 31,27% so với cùng kỳ; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 36,09 tỷ đồng, tăng 176,54% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 3 quý, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ này. Vì vậy, mặc dù đã gần như kết thúc mùa du lịch nhưng hoạt động dịch vụ vẫn tăng trưởng khá. Bên cạnh đó từ đầu năm đến nay, các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, các địa điểm du lịch cũng được đầu tư và đa dạng hóa các loại hình du lịch trải nghiệm. Vì vậy đóng góp của ngành dịch vụ cũng đang là hướng tăng trưởng xanh của kinh tế tỉnh nhà. Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 9/2023 ước đạt 336,43 tỷ đồng, tăng 1,86% so với tháng trước và giảm 7,34% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong tháng các hoạt động dịch vụ khác có tăng nhẹ so vói tháng trước nhưng tính chung 3 tháng trong quý III doanh thu dịch vụ khác chỉ đạt 1.009,46 tỷ đồng, giảm 4,2% so với quý trước và giảm 4,34% so với cùng kỳ. Do trong quý có nguyên tháng là tháng 7 âm lịch nên theo quan niệm người dân ít thực hiện các hoạt động cưới hỏi, chăm sóc cá nhân, thi công công trình... Tính chung 9 tháng năm 2023 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.136,91 tỷ đồng, tăng 11,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 8,29%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 19,21%; giáo dục đào tạo tăng 6,37%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 2,07%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 90,96%; dịch vụ khác tăng 1,66%. Với tình hình khó khăn chung của kinh tế trong nước và thế giới nhưng nhờ dịch bệnh Covid đã được bão hòa, công tác điều hành kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nên nhìn chung hoạt động dịch vụ khác 9 tháng năm 2023 ngoại trừ quý 3 do có 1 tháng trùng tháng 7 âm lịch nên có doanh thu giảm nhẹ, còn lại quý I và quý II vẫn đảm bảo tăng ở mức khá. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi 9 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, các tuyến xe liên tỉnh, xe buýt hoạt động ổn định, số lượt hành khách lưu chuyển cũng như giá vé nhìn chung đều tăng. Các loại hình vận tải hành khách chất lượng cao như xe giường nằm limousine, xe di chuyển sân bay đang tăng dần thị phần. Hạ tầng giao thông hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải tập trung đầu tư mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, sức hút từ sự phát triển của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải trên địa bàn. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 9/2023 doanh thu ước đạt 640,41 tỷ đồng, giảm 0,06% so tháng trước nhưng tăng 28,96% so cùng kỳ năm trước. Tính cả quý III/2023 doanh thu ước đạt 1.908,99 tỷ đồng, tăng 6,13% so quý II/2023 và tăng 26,40% so cùng quý năm trước, trong đó: Vận tải hành khách doanh thu ước đạt 291,28 tỷ đồng, tăng 16,91% so với quý II/2023 và tăng 36,81% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 1.215,19 tỷ đồng, tăng 3,99% so với quýII/2023 và tăng 18,19% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 358,36 tỷ đồng, tăng 8,07% so với quý II/2023 và tăng 34,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III/2023 các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu vận tải chủ yếu do tác động của yếu tố mùa vụ khi vào năm học mới, nhu cầu đi lại của đối tượng học sinh, sinh viên và người nhà đi kèm tiến hành nhập học tăng cao. Bên cạnh đó, thời tiết khá thuận lợi cho các công trình xây dựng, san lấp mặt bằng thực hiện thi công, nhất là thi công tuyến cao tốc Bắc - Nam đang được đẩy nhanh tiến độ thi công nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải hàng hóa tăng. Tính chung 9 tháng năm 2023 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 5.299,43 tỷ đồng, tăng 17,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 781,41 tỷ đồng, tăng 39,38%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 9.352,1 nghìn HK, tăng 34,65% và luân chuyển đạt 1.784,43 triệu HK.km, tăng 47,8%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.419,68 tỷ đồng, tăng 13,78%; khối lượng vận chuyển ước đạt 37.449,3 nghìn tấn, tăng 15,3% và luân chuyển ước đạt 1.154,41 triệu tấn.km, tăng 9,43%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 961,05 tỷ đồng, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả hoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi trong quý III và 9 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, các tuyến xe liên tỉnh, xe buýt hoạt động ổn định. Số lượt hành khách lưu chuyển cũng như giá vé nhìn chung đều tăng. Các loại hình vận tải hành khách chất lượng cao như xe giường nằm limousine, xe di chuyển sân bay đang tăng dần thị phần. Hạ tầng giao thông hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải tập trung đầu tư mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, sức hút từ sự phát triển của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. Nhu cầu đi lại, tham quan du lịch của người dân trong các dịp lễ tăng cao. Các doanh nghiệp vận tải đã tăng công suất vận chuyển để phục vụ nhu cầu đi lại của khách hàng. Cùng với đó, hoạt động xây dựng trên địa bàn tăng mạnh, nhu cầu về vận chuyển vật liệu xây dựng tăng. 5. Tài chính, ngân hàng 5.1. Hoạt động tài chính Tổng thu ngân sách đến địa bàn tỉnh 9 tháng  năm 2023 đạt thấp so với cùng kỳ (giảm 14,81%). Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn; thị trường bất động sản chậm phục hồi, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động kinh doanh, rút lui khỏi thị trường tăng cao. Cùng với đó, việc thực hiện chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất cũng làm giảm thu ngân sách. Chi ngân sách Nhà nước tiếp tục tập trung ưu tiên cho công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế xã hội. Thu ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/9/2023 đạt 12.050,54 tỷ đồng (giảm 14,81% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 6.126,56 tỷ đồng (chiếm 75,92 % trong tổng thu) giảm 3,41% so với cùng kỳ. Nếu loại trừ khoản thu đột biến 1.098 tỷ đồng từ khu vực đầu tư nước ngoài (cụ thể là truy thu sau thanh tra, thuế nhà thầu, thuế GTGT của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh), thu nội địa đạt 5.028,56 tỷ đồng bằng 79,27% cùng kỳ. Cụ thể một số sắc thuế giảm mạnh so với cùng kỳ như: Các khoản thu về nhà đất đạt 1325,16 tỷ đồng (giảm 43,76%); thuế thu nhập cá nhân đạt 249,16% giảm 37,83%; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 56,74 tỷ đồng (giảm 18,28%)… Bên cạnh thu nội địa, thu hoạt động xuất nhập khẩu tính đến ngày 15/9/2023 đạt 5.836,59 tỷ đồng (chiếm 48,43% tổng thu) giảm 22,89% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới nên Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong SXKD những tháng đầu năm dẫn đến nguồn thu ngân sách của Hà Tĩnh bị ảnh hưởng. Hiện nay với việc Tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 hoạt động trở lại sau gần 2 năm gặp sự cố; Nhà máy sản xuất Pin VinES Hà Tĩnh đã chính thức sản xuất... đây được kỳ vọng là một trong những nhân tố giúp Hà Tĩnh bứt phá trong chặng đua thu ngân sách những tháng còn lại năm 2023. Chi ngân sách Nhà nước: Mặc dù thu ngân sách đang gặp nhiều khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/9/2023 đạt 15.927,81 tỷ đồng tăng 20,11% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 7.595,26 tỷ đồng chiếm 47,69% tổng chi, tăng 41,80% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 8.226,39 tỷ đồng chiếm 51,65% tổng chi, tăng 4,91% so với cùng kỳ năm 2022. 5.2. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2023 tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ chế, chính sách của ngành đã được triển khai đến người dân, doanh nghiệp trên địa bàn nhằm giúp khách hàng biết đến và sớm tiếp cận được các chính sách, qua đó góp phần hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nguồn vốn huy động trên địa bàn 9 tháng năm 2023 có sự tăng trưởng tốt (tăng 11,22% so với cuối năm 2022). Tuy nhiên hiện nay việc cấp tín dụng vẫn khó khăn, bởi doanh nghiệp không hấp thụ được vốn. Tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm 2022 chỉ đạt 2,56% so với cùng kỳ năm 2022 thấp hơn so với cùng kỳ các năm trước. Công tác huy động vốn trên địa bàn tiếp tục được đẩy mạnh. Mặc dù lãi suất huy động trong năm 2023 có xu hướng giảm dần nhưng với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nhờ đó, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động ước đến 30/9/2023 đạt 93.725 tỷ đồng, tăng 11,22% so với cuối năm 2022, tăng 13,71% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 12.205 tỷ đồng chiếm 12,7% tổng nguồn vốn huy động, giảm 0,2% so với cuối năm 2022; nguồn tiền gửi tiết kiệm đạt 70.970 tỷ đồng, tăng 14,15% so với cuối năm 2022. Dư nợ cho vay ước đến 30/9/2023 đạt 90.800 tỷ đồng, tăng 4,13% so với cuối năm 2022 và tăng 2,56% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, dư nợ ngắn hạn ước đạt 62.910 tỷ đồng (chiếm 69,28% tổng dư nợ), tăng 6,92% so với cuối năm 2022; dư nợ trung dài hạn ước đạt 27.890 tỷ đồng (chiếm 30,72% tổng dư nợ), giảm 1,67% so với đầu năm. Dư nợ đối với các lĩnh vực ưu tiên đạt 43.412 tỷ đồng, chiếm 47,81% tổng dư nợ , giảm 18,47% so với cuối năm 2022. Trong 9 tháng năm 2023, tăng trưởng tín dụng trên địa bàn tăng thấp hơn so với cùng kỳ các năm trước, nguyên nhân chủ yếu do các yếu tố khách quan như: do tác động của đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng; một số khách hàng có nhu cầu nhưng chưa đáp ứng yêu cầu vay vốn; tác động từ khả năng hấp thụ vốn của nhóm bất động sản… Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần.   Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3-4,75% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,7-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,8-6,8%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4-10%/năm, trung dài hạn phổ biến 9-13%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 3,7-4,5%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 6-6,1%/năm. Công tác quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng được triển khai thực hiện nghiêm túc tại địa bàn. Nợ xấu nội bảng của các TCTD trên địa bàn có xu hướng tăng nhanh trong các tháng đầu năm 2023. Đến cuối tháng 9, nợ xấu trên địa bàn là 1300 tỷ đồng, tăng 137,56% so với cuối năm 2022. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 1,43%, tăng nhanh so với mức 0,66% cuối năm 2022. Những tác động tiêu cực của hậu đại dịch Covid-19 và diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. 6. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng năm 2023 đạt 81% kế hoạch, tăng 33% so với cùng kỳ nhờ giải ngân tăng cao của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (chủ yếu từ dự án cao tốc Bắc Nam, dự án Nhiệt điện Vũng Áng II). Đây là yếu tố quan trọng góp phần tăng sức cầu của nền kinh tế, tạo động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh, tạo đà tích cực cho thời gian tới. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý III/2023 dự ước đạt 14.744,45 tỷ đồng, tăng 19,85% so với quý trước, tăng 24,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước 4.255,80 triệu đồng, tăng 73,91% so với quý trước và tăng 24,42% so với cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn Hà Tĩnh đang có 4 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam phía Đông với tổng chiều dài 107,22km đang được tiến hành thi công. Tranh thủ thời tiết thuận lợi, các nhà thầu đang huy động tối đa nhân lực, máy móc, chia làm nhiều mũi thi công đẩy nhanh dự án cao tốc Bắc - Nam qua Hà Tĩnh. Tổng vốn đầu tư dự án này thực hiện trong quý III/2023 ước đạt 2.310 tỷ đồng, tăng 120,84% so với quý trước. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến vốn nhà nước tăng mạnh trong quý III.2023. Ngoài ra, các công trình giao thông đường bộ trên địa bàn tận dụng tối đa nguồn lực để thi công kịp kế hoạch vốn năm 2023. Vốn thực hiện do địa phương quản lý đạt 1.741 tỷ đồng, tăng 43,24% so với quý trước. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 5.870,38 tỷ đồng, tăng 20,83% so với quý trước và tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước. Dự án nhà máy sản xuất Pin VinEs do tập đoàn Vingroup đầu tư tăng tổng mức đầu tư từ 3.784 tỷ đồng lên 5.010 tỷ đồng. Vốn thực hiện trong quý dự ước là 1.169 tỷ đồng, tăng 3 lần so với quý trước, chủ yếu là mua sắm máy móc thiết bị lắp đặt trong nhà máy. Dự án này đã hoàn thành và đi vào sản xuất kinh doanh từ tháng 9.2023. Ngoài ra vốn đầu tư hộ dân cư ước đạt 3.282.958 triệu đồng, tăng 6,55% so với quý trước, giảm 5,73% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 4.618,27 tỷ đồng, giảm 7,57% so với quý trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý các dự án trọng điểm tiếp tục được triển khai như: Các hạng mục phụ trợ thuộc nhà máy gang thép Formosa (202 tỷ đồng). Dự án xây dựng nhà máy sản xuất Pin Lithium đã hoàn thành các thủ tục pháp lý liên quan và mặt bằng dự án, vốn đầu tư xây dựng trong quý III.2023 ước đạt 1.259 tỷ đồng; nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành theo đúng tiến độ đề ra vốn đầu tư xây dựng ước đạt 3.028 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng năm 2023, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh ước đạt 36.352,56 tỷ đồng, tăng 33,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tăng chủ yếu ở nguồn vốn đầu trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 12.723,80 tỷ đồng, chiếm 35% tổng vốn tăng 5.848,91 tỷ đồng (tăng 85,08%) so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu, dự án nhiệt điện Vũng Áng 2 đẩy nhanh tiến độ so với cùng kỳ năm trước, giá trị thực hiện ước đạt 10.864 tỷ đồng. Bên cạnh đó nguồn vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 8.491,27 tỷ đồng, chiếm 23,36% tổng vốn, tăng 3.269,28 tỷ đồng (tăng 62,61%) so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư các thành phần thuộc dự án đường cao tốc Bắc - Nam qua Hà Tĩnh ước đạt 4.108 tỷ đồng. 7. Hoạt động xuất nhập khẩu Tình hình xuất, nhập khẩu tỉnh Hà Tĩnh trong tháng 9 và quý III/2023 chuyển dịch theo hướng hợp lý khi tăng xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu. Tính chung 9 tháng năm 2023, tổng kim ngạch vẫn đạt 4.784 triệu USD tăng 15,40% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: xuất khẩu tăng 58,11% trong khi nhập khẩu giảm 4,09%. Việc thực hiện tốt Nghị quyết số 11-NQ/TU và Quyết định số 1681/QĐ-UBND về đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đang mang lại những hiệu quả tích cực trong hoạt động xuất động xuất khẩu của tỉnh nhà. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 9 ước đạt 190,5 triệu USD, tăng 2,70% so với tháng trước và tăng 42,41% so với cùng kỳ năm trước. Nhưng khó khăn tại các thị trường nhập khẩu dăm gỗ lớn và xơ sợi khiến kim ngạch xuất khẩu 2 nhóm hàng này giảm khá sâu so với tháng trước (Dăm gỗ giảm 29,41%; xơ, sợi dệt các loại giảm 13,98%) còn lại các mặt hàng khác đều tăng khá khả quan so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng vẫn ở mức tăng cao. Riêng xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 172,5 triệu USD, tăng 5,70% so với tháng trước và tăng 47,95% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 90,55% giá trị xuất khẩu trong tháng. Tính chung 9 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt hơn 2.054 triệu USD, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều có kim ngạch tăng đóng góp vào mức tăng chung 58,11% của xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 1.894,7 triệu USD tăng 67,19%, theo dự báo của Hiệp hội Thép thế giới (WSA) Nhu cầu thép sản xuất ngoại trừ các lĩnh vực liên quan đến bất động sản được cho là sẽ “tăng trưởng tốt” trong thời gian còn lại của năm 2023. Nhu cầu thép từ ngành đóng tàu sẽ vẫn mạnh trong thời gian còn lại của năm 2023 do lượng lớn đơn đặt hàng đóng tàu đã nhận được trong vài năm qua. Nhưng bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các loại tiếp tục gặp khó khăn từ tình hình thế giới, khiến kim ngạch xuất khẩu giảm 17,38% (tương ứng giảm hơn 1,6 triệu USD) mặc dù đã có những giải pháp được triển khai nhưng việc giảm nhu cầu tại các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản không nhỏ tới việc phát triển nhóm hàng này trong tương lai. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 9/2023 ước đạt 290,6 triệu USD, giảm 3,46% so với tháng trước nhưng tăng 93,41% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất (Nhập khẩu từ FHS ước đạt 205,5 triệu USD, tăng 95,71% tương ứng tăng 140,3 triệu USD so với cùng kỳ năm trước) chứng tỏ việc ổn định sản xuất của nhà máy thép Formosa. Tính chung 9 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.730,6 triệu USD, giảm 4,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 2.044,4 triệu USD (chiếm 74,87%) giảm 17,31% so với cùng kỳ năm trước. Những tháng cuối năm việc sản xuất phục vụ những đơn hàng cuối năm tăng khiến nhu cầu nguyên liệu đầu vào tăng theo, tuy nhiên sự biến động giá quặng sắt đang có dấu hiệu tăng khiến mức nhập khẩu nguyên liệu đầu vào của Formosa những tháng trong quý IV/2023 sẽ tăng nhưng ở mức tăng không cao. 8. Giá cả, lạm phát Việc giá các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu đang ở mức cao và vẫn tiếp tục tăng trong thời gian gần đây cộng với việc sách giao khoa và các vật phẩm giáo dục tăng phục vụ năm học mới là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2023 tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 2,18% so với tháng 12/2022 và tăng ở mức 1,95 % so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng năm 2023, CPI chung tăng ở mức 1,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 0,46% của CPI tháng 9/2023 so với tháng trước có 08 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước, 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước và 01 nhóm ổn định về chỉ số: 08 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,76% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,33%. Trong đó: Lương thực tăng 2,85% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng tháng năm trước do ảnh hưởng thị trường thế giới khi nguồn cung bị gián đoạn sau khi lệnh cấm xuất khẩu gạo của Ấn Độ và một số nước đã đẩy giá gạo tăng mạnh so với thời điểm trước; Thực phẩm tăng 0,57% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,26%. (tính riêng thịt gia súc tăng 1,01%; thịt gia cầm tăng 0,32%; thủy hải sản tươi sống tăng 0,81%). Giá thịt lợn tiếp tục tăng trong thời gian qua, bên cạnh đó thời tiết nắng nóng kéo dài cả trong quý II và quý III đã ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của các loại rau, củ quả mùa vụ, nguồn rau củ nhập khẩu Trung Quốc cũng gặp khó khăn là những yếu tố khiến nhóm rau củ quả tăng 0,24% so tháng trước. Đồ uống và thuốc lá tăng 0,28% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,87% nguyên nhân chủ yếu do các nguyên liệu đầu vào như đường mía tăng mạnh công với chi phí vận chuyển lên khiến giá cả các loại đồ uống giải khát tăng. Hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,28% do ảnh hưởng nhu cầu đầu năm học mới. Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,31%, trong tháng, nhóm dù giá thép đã có phần hạ nhiệt nhưng giá vật liệu gạch, đá, xi măng... các loại tăng do chi phí vận chuyển tăng. Giá khí đốt gas hóa lỏng và dầu hỏa tăng theo xu thế thị trường thế giới; Các vật phẩm giáo dục, đồ dùng học tập tăng giá khi nhu cầu mua sắm đầu tháng ở mức cao nhằm phục vụ năm học mới, giá học phí tại các trường tư thục các cấp cũng được điều chỉnh tăng giá theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP áp dụng từ năm học 2023-2024 điều này khiến chỉ số giá nhóm Giáo dục tăng 1,73% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,1%. Bên cạnh đó nhóm giao thôngcũng tăng 0,88% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,45% do giá xăng, dầu liên tục tăng mạnh trong tháng qua các lần điều chỉnh. Trong khi đó, giá cước vận tải đường sắt và đường hàng không ổn định; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% so tháng trước, tăng 5,44% so cùng tháng năm trước, các mặt hàng trong tháng nhìn chung ổn định, ngoại trừ giá các loại hoa tươi tăng giá mạnh do nhu cầu tiêu dùng trong dịp lễ rằm tháng bảy âm lịch; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,07% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 4,42%, trong nhóm hàng này chỉ số giá cơ bản ổn định chỉ tăng nhẹ ở một số dịch vụ chăm sóc cá nhân do sự tăng giá của các điện, gas, xăng dầu... 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước gồm: Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,01% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,7%; bưu chính viễn thông giảm 0,02% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 0,11%, yếu tố tác động chủ yếu do tháng 9 trùng tháng 7 âm lịch khiến nhu cầu mua sắm đồ dùng gia đình, nhất là đồ nội thất, đồ dùng đắt tiền giảm. Thời tiết giao mùa cũng khiến giá một số thiết bị điện lạnh như điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh giảm giá, bên cạnh đó giá một số thiết bị di động thông minh ra mắt từ lâu giảm giá do sức ép từ loạt thiết bị mới ra mắt và được mở bán, đặc biệt là dòng Iphone mới sắp ra mắt. Chỉ có 01 nhóm hàng không có biến động về chỉ số so với tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế. Giá vàng bình quân trong tháng 9 ở mức 5.660 nghìn đồng/chỉ 9999, tăng 2,98% so với tháng trước, tăng 11,76% so với cùng tháng năm trước; giá đô la mỹ bình quân 2.377.491 đồng/100 USD tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 1,47% so với cùng tháng năm trước. CPI bình quân quý III/2023 tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,63%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,99%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,49%; giáo dục tăng 2,97%;may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,59%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,06%; Có 2 nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là bưu chính viễn thông giảm 0,37%; giao thông giảm 1,73%. Tính chung 9 tháng năm 2023, tăng 1,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,53%; nông thôn tăng 1,73%. Nhìn chung, tình hình giá cả trên thị trường 9 tháng năm 2023cơ bản được kiểm soát, có một số mặt biến động tăng giá mạnh, cũng có nhóm biến động giảm khá sâu. Mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Các nhóm nguyên nhân ảnh hương đến chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng năm 2023 có thể kể đến như sau: (1) Ảnh hưởng của thị trường thế giới trong việc điều chỉnh giá xăng, dầu, nhiên liệu gas, khí hóa lỏng... trực tiếp tác động đến đến giá các loại xăng, dầu, nhiện liệu khác ở trong nước. (2) Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,53% so với cùng kỳ năm trước do giá điện, gas và các loại vật liệu xây dựng như xi măng, gạch, đá, cát...tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, mặc dù giá thép thời gian gần đây đã có dấu hiệu hạ nhiệt nhưng vẫn đang ở mức giá khá cao. (3) Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,43% do dịch Covid-19 được kiểm soát và gần như đã bảo hòa nên nhu cầu giải trí và du lịch của người dân tăng, bên cạnh đó chi phí xăng dầu ở mức cao nên các nhà kinh doanh vận tải đã tăng giá cước, phí vận tải lên đáng kể. (4) Giá các mặt hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,42% (trong đó lương thực tăng đến 5,55% và thực phẩm tăng 2,46%) do nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết.. bên cạnh đó giá gạo đang ở mức cao do ảnh hưởng nguồn cung lương thực trên thị trường thế giới gián đoạn sau khi lệnh cấm xuất khẩu gạo của Ấn Độ và một số nước; giá các loại thịt hơi, nhất là thịt lợn và thịt gà tăng trở lại và vẫn ở mức cao. (5) Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước do ở các trường tư thục đã tăng học phí theo Nghị định 81/NĐ-CP từ tháng 9/2023 sau khi đã miễn, giảm học phí trong năm học 2023-2024 theo hỗ trợ của Hội đồng nhân dân tỉnh. Bên cạnh đó yếu tố tác dộng trực tiếp nhất đến giá cả là nhu cầu thì trường, biến động theo yếu tố mùa vụ nên các loại hàng hóa cũng biến động theo các biến động của thời tiết, các dịp ngày Lễ, rằm tháng 7... Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2023 nhìn chung sẽ giảm hơn so với tháng 9. Các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn, thời tiết chuyển dần sang mùa lạnh cũng khiến nhu cầu các nhóm mặt hàng như may mặc, thực phẩm, đồ dùng gia đình, điện, nước sinh hoạt có sự thay đổi. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Quý III năm 2023, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đã tăng cường tuyển dụng lao động với mức lương hấp dẫn, song vẫn không tuyển đủ lao động, do chế độ, chính sách làm việc cho người lao động của doanh nghiệp ở Hà Tĩnh vẫn chưa đủ sức thu hút và giữ chân người lao động; mức lương vùng tại khu vực Hà Tĩnh khá thấp nên người lao động có xu hướng tìm kiếm các doanh nghiệp ngoại tỉnh như: Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh… để tìm kiếm cơ hội việc làm. Vì vậy, tình hình lao động việc làm ở Hà Tĩnh có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động: Kết quả điều tra lao động việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh ước quý III năm 2023 là 529.361 người, tăng 7,15% so với quý trước và giảm 3,09% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lực lượng lao động nam 274.912 người (chiếm 51,93% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 129.789 người (chiếm 24,52% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên). Quý III năm 2023, có đến 55,07% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, tăng 3,15 điểm phần trăm so với quý II/2023 và giảm 0,61 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ (lần lượt là 57,5% và 52,67%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 59,97%, cao hơn nông thôn là 6,32 điểm phần trăm. Tính chung 9 tháng năm 2023, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 513.845 người, giảm 2,11% so với cùng kỳ năm 2022; trong đó lực lượng lao động nam là 265.087 người, chiếm 51,59% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 125.910 người, chiếm 24,5%. Lao động có việc làm: Theo kết điều tra lao động việc làm, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý III năm 2023 là 513.893 người, chiếm 97,08% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 7,03% so với quý trước và giảm 1,21% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 125.529 người, chiếm 24,43% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 268.166 người, chiếm 52,18%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động chuyển dần theo chiều hướng tích cực: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 30,25% trong tổng số (tương ứng 155.463 người), giảm 0,44 điểm phần trăm so với quý trước; Công nghiệp – Xây dựng chiếm 28,02% (tương ứng 143.986 người), giảm 1,65 điểm phần trăm; Thương mại – Dịch vụ chiếm 41,73% (tương ứng 214.444 người), tăng 2,08 điểm phần trăm. Tính chung 9 tháng năm 2023, lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 495.672 người, chiếm 96,46% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,79% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 123.848 người, chiếm 24,99%; ở nam giới là 256.560 người, chiếm 51,76%. Phân theo khu vực kinh tế, số lao động làm việc trong lĩnh vực ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2023 chiếm 30,31% (tương ứng 150.272 người), giảm 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,78% (tương ứng 142.588 người), tăng 0,87 điểm phần trăm; còn khu vực dịch vụ chiếm 40,91% (tương ứng 202.812 người), giảm 0,81 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm:Theo kết quả điều tra lao động việc làm, quý III/2023 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 15.468 người, chiếm 2,92% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 0,11 điểm phần trăm so quý trước. Trong đó, có đến 72,46% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 11.208 người). Còn theo giới tính, lao động nữ chiếm nhiều hơn nam, chiếm 56,39% (tương đương 8.722 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,64%, tăng 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2023, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 18.173 người, chiếm 3,54% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 1,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động thất nghiệp chủ yếu là khu vực nông thôn chiếm đến 88,65% (tương đương 16.111 người); còn ở nam giới là 46,92% (tương đương 8.527 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2023 ước tính là 5,58%, tăng 0,24 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình giải quyết việc làm:Để giúp người lao động có việc làm ổn định, ngoài tổ chức các sàn giao dịch định kỳ, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh đã kết nối với một số doanh nghiệp tổ chức các phiên giao dịch việc làm, sàn giao dịch việc làm; đồng thời triển khai chương trình hợp tác xuất khẩu lao động, mở thêm nhiều lớp đào tạo tay nghề cho lao động Hà Tĩnh. Tình hình giải quyết việc làm ở Hà Tĩnh có sự biến động, quý II tăng 43,82% so với quý I; sang quý III lại giảm so với quý II (giảm 16,07%), nhưng vẫn tăng so với quý I (tăng 20,71%). Trong quý III/2023, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh và đi làm ngoài tỉnh đều giảm mạnh so với quý I và quý II: làm việc trong tỉnh giảm lần lượt là 71,13% và 68,55%, lao động đi làm việc ngoại tỉnh giảm lần lượt là 74,93% và 83,66%; còn xuất khẩu lao động tăng mạnh, lần lượt tăng gấp 5 lần so với quý I và tăng 82,33% so với quý II. Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động 9 tháng năm 2023 là 19.083 người, tăng 0,87% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 6.382 người, chiếm 33,44% trong tổng số, giảm 9,11% so với cùng kỳ năm trước; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.721 người, chiếm 19,5%, giảm 15,95%; xuất khẩu lao động 8.980 người, chiếm 47,06%, tăng 20,23%. Số người người xuất khẩu lao động chủ yếu làm việc tại Đài Loan là 4.166 người, chiếm 46,39% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; tiếp đến là Nhật Bản 3.158 người, chiếm 35,17%; Hàn Quốc 988 người, chiếm 11%; còn lại các nước khác là 668 người, chiếm 7,44%. Như vậy, số người được giải quyết việc làm 9 tháng năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do số người đi xuất khẩu lao động tăng. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Đời sống dân cư: Quý III và trong 9 tháng năm 2023 tình hình dịch Covid-19 tiếp tục được kiểm soát tốt, các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ hoạt động ổn định, tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc; nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đã tăng cường tuyển dụng lao động với mức lương hấp dẫn. Trong 9 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh chỉ xảy ra 01 vụ thiên tai, giảm 05 vụ so với cùng kỳ năm trước; các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện; sản xuất và thu hoạch lúa Dông Xuân và Hè Thu được mùa; nuôi trồng và khai thác thủy sản thuận lợi. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn; tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh; tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm nên quý III và 9 tháng năm 2023 đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác an sinh xã hội:9 tháng năm 2023, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 283.993 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 99.181 triệu đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 159.467 suất quà trị giá 44,583 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 39.599 suất quà trị giá 22,269 tỷ đồng; Tặng quà cho người cao tuổi khoảng 31.865 suất quà trị giá 12,310 tỷ đồng; Tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 29.916 suất quà trị giá 10,889 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 23.146 suất quà trị giá 9,129 tỷ đồng. Cấp khoảng 17.260 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 33.129 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 146.766 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi, 44.755 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công và 177.381 các loại thẻ khác. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 584 nhà, kinh phí khoảng 40.555 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 21 nhà, kinh phí khoảng 1.743 triệu đồng. Trao tặng 2 sổ tiết kiệm với trị giá 60 triệu đồng cho các gia đình chính sách khó khăn. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. 3. Giáo dục Sáng ngày 5/9, hơn 362 ngàn giáo viên và học sinh ở 668 trường học (255 trường mầm non, 221 trường tiểu học, 147 trường THCS và 45 trường THPT) với 10.695 lớp (mẫu giáo 2.916 lớp, tiểu học 4.182 lớp, THCS 2.407 lớp, THPT 1.190 lớp) trên địa bàn Hà Tĩnh náo nức khai trường. Lễ khai giảng năm học mới 2023 - 2024 được các trường học ở Hà Tĩnh tổ chức trực tiếp, trang trọng, ngắn gọn, ý nghĩa, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh ở khắp các vùng miền. Công tác giáo dục ngày càng được các cấp, các ngành và tổ chức cá nhân quan tâm, hỗ trợ như: Doanh nhân Nguyễn Thái Huy - Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty JANUS HOLDING đã tài trợ 100 tivi 65 inch, trị giá gần 2 tỷ đồng cho ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Hương Sơn; Công ty TNHH XD-TM-DV Sao Vàng đất Việt trao tặng các Trường THPT của huyện Hương Khê 10 bộ máy vi tính và 01 tivi 65 inch phục vụ nhiệm vụ dạy học; Trường THCS Phan Đình Phùng 10 bộ máy vi tính và 01 tivi 65 inch phục vụ hoạt động dạy học; tặng 50 triệu đồng cho quỹ khuyến học của nhà trường THPT Cù Huy Cận. 4. Hoạt động y tế Tình hình dịch Covid-19 (Số liệu theo Sở Y tế Hà Tĩnh cập nhật đến 15h00’ ngày 17/9/2023): Hiện nay tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục khuyến cáo người dân không chủ quan, lơ là, cần chủ động tiêm vắc-xin phòng COVID-19; ngành cũng tiếp tục chỉ đạo các địa phương thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau: Tiếp tục tăng cường triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 và rà soát đối tượng tiêm chủng trên địa bàn, chỉ đạo việc triển khai tiêm vắc xin phòng COVID-19 đảm bảo an toàn, hiệu quả. Chuẩn bị sẵn sàng kế hoạch, phương án đáp ứng khi chuyển bệnh COVID-19 từ bệnh truyền nhiễm nhóm A sang bệnh truyền nhiễm nhóm B. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về phòng, chống dịch bệnh; đặc biệt tiếp tục đẩy mạnh thông tin về tiêm vắc xin phòng COVID-19; tổ chức triển khai hiệu quả các chiến dịch truyền thông phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới với thông điệp “2K (khẩu trang, khử khuẩn) + vắc xin + thuốc + điều trị + công nghệ + ý thức người dân và các biện pháp khác”. Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến nay là 59.830 ca mắc. Tính từ ngày 01/01/2022 đến nay là 58.871 ca mắc. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng, có 2 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; giảm 01 người chết vì AIDS, còn số người nhiễm mới HIV, số người chuyển thành AIDS không thay đổi so với tháng trước và tăng 01 người nhiễm mới HIV, tăng 01 người chuyển thành AIDS và giảm 01 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2023, có 38 người nhiễm mới HIV, 30 người chuyển thành AIDS và 05 người chết vì AIDS; tăng 24 người nhiễm HIV, 23 người chuyển thành AIDS và tăng 02 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác an toàn thực phẩm: Chủ động đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là vào các dịp lễ, tết. Các cấp, các ngành thường xuyên phối hợp, tăng cường công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm như: Các đoàn kiểm tra liên ngành an toàn thực phẩm dịp Tết Trung thu năm 2023 do ngành Y tế chủ trì phối hợp với Công an tỉnh, Sở Công thương và Sở Nông nghiệp & PTNT thực hiện từ ngày 13/9 đến hết ngày 28/9/2023. Đoàn kiểm tra có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm trên địa bàn tỉnh; lấy mẫu kiểm nghiệm để đánh giá chất lượng sản phẩm (khi thấy có nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm); xử lý nghiêm, kịp thời hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm (nếu có và vượt quá thẩm quyền) theo đúng quy định của pháp luật hiện hành... Trong tháng, xảy ra 01 vụ ngộ độc tập thể vào ngày 24/8/2023 tại thôn 2 xã Sơn Lĩnh, huyện Hương Sơn làm 12 người bị ngộ độc, không có người chết vì ngộ độc, bên cạnh đó có 73 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; tăng 01 vụ ngộ độc tập thể (tăng 12 người ngộ độc), giảm 14 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 16,09%) so với tháng trước và tăng 01 vụ ngộ độc (tăng 12 người ngộ độc), giảm 06 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 7,59%) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2023, có 02 vụ ngộ độc tập thể (làm 19 người bị ngộ độc), 714 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; tăng 01 vụ ngộ độc tập thể (tăng 15 người bị ngộ độc), tăng 55 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 8,35%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh khác: Trong thời gian gần đây bệnh đau mắt đỏ (viêm kết mạc cấp) đã bùng phát thành dịch ở một số địa phương. Tại huyện Hương Khê, Hà Tĩnh đã ghi nhận hơn 5.600 trường hợp mắc bệnh, chủ yếu là học sinh ở 21/21 xã, thị trấn. Để thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để bệnh gia tăng, lan rộng, đặc biệt là tại các trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, cơ sở y tế. Sở Y tế đã ban hành Công văn số 3156/SYT-NVY ngày 14/9/2023 về việc tăng cường phòng, chống bệnh đau mắt đỏ (bệnh viêm kết mạc cấp) đến các cơ quan đơn vị trong toàn tỉnh. Ngoài ra dịch đau mắt đỏ, trong tháng trên địa bàn Hà Tĩnh còn có một số ca bệnh đơn lẻ khác như: 07 ca sốt xuất huyết, 01 ca mắc bệnh quai bị, 02 ca mắc lỵ trực trùng, 06 ca mắc lỵ a míp, 08 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.192 ca mắc bệnh cúm, 22 ca mắc tay chân miệng, 168 ca tiêu chảy, 04 ca viêm gan vi rút khác; không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 9 tháng năm 2023, trên địa bàn tỉnh có một số ca bệnh đơn lẻ, gồm: 52 ca sốt xuất huyết (giảm 215 ca so với cùng kỳ năm trước), 04 ca sốt rét (tăng 02 ca), 02 ca viêm não vi rút (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 105 ca mắc bệnh quai bị (tăng 37 ca), 174 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 21 ca), 176 ca mắc lỵ a míp (giảm 35 ca), 187 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 42 ca), 10.897 ca mắc bệnh cúm (tăng 587 ca), 09 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 150 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước có 19 ca), 1.886 ca tiêu chảy (giảm 155 ca), 62 ca viêm gan vi rút khác (tăng 32 ca); không có người chết do các bệnh trên. 5. Hoạt động văn hoá, thể thao 5.1. Hoạt động văn hóa 9 tháng năm 2023, đã triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước, đặc biệt là tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 93 Ngày năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Quý Mão; Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 và xúc tiến đầu tư vào Hà Tĩnh năm 2023. Toàn tỉnh thay mới hơn 5.000m2 tranh cổ động tấm lớn, pano, áp phích các loại và hàng trăm lượt khẩu hiệu, băng rôn, cờ Tổ quốc. Trong đó, Trung tâm Văn hóa điện ảnh tỉnh thực hiện 830 m2 tranh tuyên truyền trực quan tại các cụm cổ động Bến Thủy, Đèo Ngang và thành phố Hà Tĩnh; thực hiện 44 buổi tuyên truyền cải cách hành chính tại cơ sở; tổ chức 05 đợt phim mừng Đảng, mừng Xuân năm 2023; 23 buổi chiếu phim phục vụ học sinh và nhân dân tại Rạp 26-3 chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn. Tham gia trình diễn nghệ thuật và trưng bày “Hành trình sắc màu di sản văn hóa phi vật thể đại diện các vùng miền” tại Festival “Về miền Quan họ - 2023” tại Bắc Ninh; tổ chức Lễ khai hội chùa Hương Tích, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2023; tham gia Liên hoan trình diễn di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh của Việt Nam lần thứ Nhất vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2023 tại tỉnh Phú Thọ; tổ chức tốt tuần phim phục vụ nhân dân; chương trình văn nghệ tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2023 tại các địa phương, đặc biệt ưu tiên biểu diễn phục vụ các chiến sỹ, đồng bào vùng sâu, vùng xa. Tổ chức chương trình nghệ thuật sử thi phục vụ “Lễ Tưởng niệm 55 năm Ngày hy sinh của 53 Liệt sĩ và Khánh thành Khu Di tích Lịch sử Cầu Nhe”; chương trình biểu diễn tại Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 và xúc tiến đầu tư vào Hà Tĩnh năm 2023;Công diễn vở ca kịch Dân ca Nghệ Tĩnh “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” nhân kỷ niệm 133 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2023) thu hút sự quan tâm, theo dõi của đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh tham gia Hội thi tuyên truyền lưu động “Biển và Hải đảo Việt Nam” tại thành phố Hải Phòng đạt 05 chương (02 HCV, 03 HCB và 1 Giấy khen cá nhân). Tổ chức liên hoan dân ca ví, giặm toàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2023 với sự tham gia của hơn 400 nghệ nhân, diễn viên của 13 câu lạc bộ đến từ các địa phương trên toàn tỉnh; được thể hiện dưới nhiều hình thức diễn xướng, tái hiện không gian làng quê, làng nghề, tập quán sinh hoạt các địa phương, vùng miền... Nhân Kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Đồng Lộc; tưởng niệm 55 năm Ngày hy sinh của 10 nữ Anh hùng liệt sĩ Thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc và kỷ niệm 55 năm Chiến tích làng K130 (13/8/1968 - 13/8/2023), Hà Tĩnh đã tổ chức Chương trình nghệ thuật “Cõi thiêng Đồng Lộc - nối mạch ngàn năm” diễn ra tại Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc - Hà Tĩnh), đây cũng là dịp góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa cho các tầng lớp nhân dân. Chào mừng Quốc khánh 2/9 và 63 năm ngày Âm nhạc Việt Nam, ngày 31/8/2023, Sở Văn hoá - Thể thao & Du lịch phối hợp UBND TP Hà Tĩnh và Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh tổ chức chương trình nghệ thuật “Giai điệu mùa thu”. 5.2. Công tác quản lý nhà nước Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theokế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Từ đầu năm đến nay đã thực hiện 05 cuộc kiểm tra (04 cuộc theo kế hoạch, 01 cuộc đột xuất), tiến hành kiểm tra tại 147 cơ sở kinh doanh, lập 110 biên bản kiểm tra, nhắc nhở 05 doanh nghiệp; đình chỉ 02 công ty Lữ hành, 03 điểm du lịch tự phát, 03 cơ sở bơi lặn, 12 cơ sở kinh doanh Billiards & Snooker, 01 cơ sở kinh doanh mô tô nước trên biển, 01 cơ sở kinh doanh Yoga. Ban hành 08 quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với 05 tổ chức và 03 cá nhân với tổng số tiền xử phạt là 55.500.000 đồng. 5.3. Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao:Trong 9 tháng, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 34 giải quốc gia và quốc tế, giành 178 huy chương các loại (78HCV–53HCB–47HCĐ), trong đó có 9 giải quốc tế đạt 23 huy chương các loại (13 HCV- 4 HCB -6 HCĐ).Đặc biệt, tại Đại hội thể thao Đông Nam Á - Sea Games 32 được tổ chức tại Campuchia, Hà Tĩnh vinh dự góp mặt 6 vận động viên ở các bộ môn Điền kinh, Karate, Bóng đá và giành được 8 Huy chương các loại (05HCV – 01HCB – 02HCĐ).Hà Tĩnh vinh dự có 07 VĐV tham gia ASIAD 19. Thể thao quần chúng: 9 tháng năm 2023 hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức nhiều giải thể thao, trò chơi dân gian mừng Đảng, mừng Xuân Quý Mão 2023, các hoạt động thể thao nhân khai trương du lịch biển; trung bình mỗi xã tổ chức được 1-2 giải; mỗi huyện tổ chức 2 - 3 giải; hội thao cụm các công ty điện lực phía Nam diễn ra tại Hà Tĩnh; giải Bóng chuyền nam Công an Hà Tĩnh năm 2023; giải Bóng đá nam thị xã Kỳ Anh năm 2023; Giải bóng chuyền nam, bóng chuyền hơi nữ các khối Kinh tế, văn hóa, kỹ thuật Hà Tĩnh năm 2023; giải bóng chuyền Công đoàn Hà Tĩnh năm 2023; giải Bóng chuyền hơi nam - nữ phối hợp Khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 2023… Chào mừng ngày Quốc khánh 2/9, trên sông Rào Cái (Sông Phủ) ở phường Đại Nài, TP Hà Tĩnh đã diễn ra lễ hội đua thuyền nam, lễ hội đã thu hút hàng ngàn người dân và du khách đến xem và cổ vũ. 6. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/8-14/9/2023 xảy ra 27 vụ tai nạn đường bộ, làm 09 người chết, 29 người bị thương, thiệt hại 180 triệu đồng; giảm 05 vụ, giảm 08 người chết, tăng 06 người bị thương so với tháng trước và tăng 20 vụ, tăng 01 người chết, tăng 29 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính từ ngày 15/12/2022-14/9/2023 đã xảy ra 166 vụ tai nạn đường bộ, làm 112 người chết, 91 người bị thương, thiệt hại 1.930 triệu đồng; tăng 97 vụ, 52 người chết, 63 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường. Tính từ ngày 15/12/2022-14/9/2023 xảy ra 02 vụ tai nạn đường sắt, làm 01 người chết, không có người bị thương. Tăng 02 vụ (tăng 01 người chết) so với cùng kỳ năm trước. Không có tai nạn đường thủy và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 7. Tình hình nổi bật khác về xã hội 7.1. Tình hình cháy, nổ Để phòng cháy nổ, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Công văn số 4866/UBND-NC ngày 12 tháng 9 năm 2023 về việc “Tiếp tục tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy” nhằm ngăn chặn triệt để xảy ra cháy gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm chết người do nguyên nhân chủ quan; thường xuyên kiểm tra, rà soát các cơ sở có nguy cơ cao về cháy, nổ thuộc phạm vi, địa bàn quản lý, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của pháp luật. Tình hình cháy: từ ngày 15/8-14/9/2023 đã xảy 18 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 1.835 triệu đồng; tăng 03 vụ cháy so với tháng trước và tăng 14 vụ so với cùng kỳ năm trước. Tính từ 15/12/2022-14/9/2023 xảy ra 77 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 3.572 triệu đồng; tăng 39 vụ, giảm 01 người chết, số người bị thương không đổi so với cùng kỳ năm trước. Tình hình vụ nổ: Từ ngày 15/8-14/9/2023 không xảy ra nổ, giảm 01 vụ nổ (giảm 01 người bị thương) so với tháng trước và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, 9 tháng từ ngày 15/12/2022-14/9/2023 chỉ xảy ra 01 vụ nổ, tăng 01 vụ (tăng 01 người bị thương) so với cùng kỳ năm trước. 7.2. Vi phạm môi trường Tính từ ngày 15/8-14/9/2023 phát hiện 18 vụ và đã xử lý 14 vụ, với tổng số tiền xử phạt 27,26 triệu đồng; giảm 07 vụ đã phát hiện, số vụ đã xử lý không đổi, tăng 12,86 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 67 vụ đã phát hiện, giảm 30 vụ đã xử lý, giảm 207,67 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép. Tính chung 9 tháng năm 2023 (từ 15/12/2022-14/9/2023) đã phát hiện 479 vụ, xử lý 382 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.402,61 triệu đồng; giảm 214 vụ đã phát hiện (giảm 30,88%), giảm 82 vụ đã xử lý (giảm 17,67%), số tiền xử phạt giảm 389,31 triệu đồng (giảm 21,73%) so với cùng kỳ năm trước. 8. Tình hình thiên tai Trong tháng (tính từ 19/8-18/9/2023) không xảy ra vụ thiên tai nào, không thay đổi so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2023, xảy ra 01 vụ thiên tai (sét đánh ở huyện Cẩm Xuyên), làm 01 người chết; giảm 05 vụ, giảm 03 người chết, giảm 512 ha lúa, 153 ha hoa màu bị thiệt hại, giảm 17 ngôi nhà bị hư hỏng, giá trị thiệt giảm 7.968 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 8 và 8 tháng năm 2023
  •   29/07/2024 21:08

I.  LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 1.1 Sản xuất nông nghiệp Tháng 8 năm 2023, bà con nông dân tập trung chăm sóc các loại cây trồng vụ Hè Thu. Hiện nay toàn tỉnh đã có gần 30.000 ha lúa trổ bông chiếm hơn 65% tổng diện tích gieo cấy. Đây là giai đoạn quan trọng quyết định năng suất, chất lượng của lúa hè thu. Tuy nhiên, một số loại sâu bệnh chủ yếu gây hại vào cuối vụ cũng đã xuất hiện trên nhiều chân ruộng như sâu cuốn lá, khô vằn, rầy nâu...vì vậy bà con nông dân phải thường xuyên thăm đồng kiểm tra để có biện pháp xử lý khi dịch bệnh xẩy ra. Hoạt động chăn nuôi trong tháng duy trì ở mức ổn định và có bước phát triển ở đàn lợn và gia cầm nhưng bên cạnh đó đàn trâu, bò lại có xu hướng giảm do giá trâu, bò hơi giảm mạnh trong khi giá bò giống mua vào cao cộng với chi phí thức ăn chăn nuôi và vật tư tăng cao nên chăn nuôi kém hiệu quả. * Trồng trọt Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2023: Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu 2023 toàn tỉnh ước tính đạt 58.528 ha, bằng 99,74% (giảm 153 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 234.131 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 100,34% (tăng 804 tấn). Kết quả sản xuất vụ Hè Thu đối với một số cây trồng chủ lực như sau: Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh ước tính đạt 44.568 ha, bằng 100,09% (tăng 42 ha) so với cùng kỳ năm trước, một số huyện có diện tích do nhà nước thu hồi đường cao tốc Bắc Nam đi qua. Năng suất lúa vụ Hè Thu năm 2023 ước tính đạt 50,28 tạ/ha, bằng 99,92% (giảm 0,04 tạ/ha). Sản lượng lúa ước tính đạt 224.093 tấn, bằng 100,01% (tăng 31 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2023 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2023. Hiện đang trong giai đoạn trổ bông, là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến năng suất cuối vụ. Vì vậy phải tập trung xử lý triệt để các diện tích đã xuất hiện sâu bệnh để hạn chế nguồn phát tán, lây lan trên diện rộng. Cây ngô: Diện tích ngô Hè Thu ước tính đạt 2.439 ha, bằng 108,95% (tăng 200 ha) so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích tăng như: Hương Khê tăng 129 ha; Hương Sơn tăng 51 ha; Đức Thọ tăng 64 ha;... Nguyên nhân diện tích ngô tăng do năm nay thức ăn chăn nuôi tăng người dân trồng ngô với mục đích lấy sản phẩm làm thức ăn chăn nuôi. Năng suất ngô vụ Hè Thu năm nay ước tính đạt 41,16 tạ/ha, bằng 99,44% (giảm 0,23 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng ngô ước tính đạt 10.038 tấn, bằng 108,34% (tăng 773 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cây khoai lang: Diện tích ước tính đạt 572 ha, bằng 96,09% (giảm 23 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang ước tính đạt 60,66 tạ/ha, bằng 101,34% (tăng 0,8 tạ/ha), với sản lượng ước tính đạt 3.469 tấn, bằng 97,38% (giảm 93 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cây sắn: Diện tích ước tính đạt 2.526 ha, bằng 96,21% (giảm 100 ha) so với cùng kỳ năm trước. Một số huyện có diện tích giảm như: Hương Sơn giảm 49 ha, Đức Thọ giảm 24 ha, Can Lộc giảm 33 ha…Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu do chuyển đổi sang trồng cây khác. Năng suất ước tính đạt 155,18 tạ/ha, bằng 101,79% (tăng 2,73 tạ/ha), với sản lượng ước tính đạt 39.196 tấn, bằng 97,93% (giảm 823 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ước tính tăng tuy nhiên diện tích giảm nên sản lượng ước tính giảm. Rau các loại: Diện tích ước tính đạt 2.954 ha, bằng 103,07% (tăng 88 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau ước tính đạt 74,15 tạ/ha, bằng 100,23% (tăng 0,17 tạ/ha), với sản lượng rau ước tính đạt 21.902 tấn, bằng 103,30% (tăng 701 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Đậu các loại: Diện tích đậu các loại ước tính đạt 2.112 ha, bằng 80,13% (giảm 524 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích gieo trồng giảm do đầu vụ thời tiết thất thường gây khó khăn cho việc gieo trỉa. Ngoài ra có một số diện tích chuyển đổi từ gieo trồng cây đậu sang gieo trồng cây vừng; rau lấy lá khác. Năng suất đậu các loại ước tính đạt 10,09 tạ/ha, bằng 94,7% (giảm 0,57 tạ/ha), với sản lượng đậu các loại đạt 2.131 tấn, bằng 75,88% (giảm 677 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Do cả diện tích và năng suất đều giảm nên sản lượng đậu các loại giảm. Sản xuất vụ Mùa 2023, diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa 2023 ước đạt 282 ha, bằng 68,13% so với cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh hiện còn có huyện Nghi Xuân và huyện Lộc Hà đang triển khai gieo cấy lúa vụ Mùa trên những chân rộng pha cát. Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, đầu vụ thường xẩy ra khô hạn và cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Do hiệu quả sản xuất vụ Mùa thấp nên không được xác định là vụ sản xuất chính của địa phương cho nên xu thế sản xuất lúa vụ Mùa đang ngày càng giảm. Cây lâu năm: Hiện nay, bên cạnh các loại cây ăn quả như mít, ổi, nhãn, chanh…đang thu hoạch chính vụ thì cây bưởi là một loại cây ăn quả chủ lực của địa phương đang chuẩn bị bước vào thu hoạch chính vụ. Năm nay, tuy điều kiện thời tiết diễn biến bất thường nhưng không có rét đậm, rét hại nên cây ăn quả vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, sản lượng cây ăn quả ước tính đạt khá nhưng giá bán nhìn chung vẫn thấp, chưa có nhiều biến động. Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch các loại cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được quan tâm chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa, hiện nay Sâu cuốn lá nhỏ mật độ trưởng thành 5-7con/m2, nơi cao 10-15%, diện tích 88ha, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4 tập trung chủ yếu ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Đức Thọ,...; Chuột phát sinh gây hại hầu hết các địa phương trong tỉnh tỉ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích 200ha. Bệnh khô vằn tập trung gây hại trên những chân ruộng gieo cấy dày, bón thừa đạm, tỉ lệ 5-7%, nơi cao 15-20%, cục bộ 30-40%, diện tích 1.950ha, trong đó 20ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương; Rầy nâu, rầy lưng trắng xuất hiện ở một số địa phương (Hương Sơn, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) cục bộ dạng ổ 700-1000 con/m2 (xã Tân Dân huyện Đức Thọ), diện tích 1ha, rầy chủ yếu tuổi 3, tuổi 4; Hiện tượng thiếu dinh dưỡng, chăm sóc kém trên một số giống chất lượng, thâm canh cao ở Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, diện tích 350ha. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu, sâu cắn lá diện tích nhiễm 14ha, bệnh đốm lá lớn, bệnh khô vằn 25ha, sâu đục thân, đục bắp 15ha. Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành 15ha; nhện nhỏ 60ha, ruồi đục quả 55ha, bệnh nứt thân xì mủ 10ha, bệnh vàng lá thối rễ 1ha phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…các đối tượng như rệp muội, bọ xít, gây hại rải rác trên những vườn hộ lâu năm. Trước tình hình diễn biến của sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức phòng trừ sâu, bệnh đạt hiệu quả, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu và cây ăn quả. * Chăn nuôi Chăn nuôi tháng 8 năm 2023 vẫn ghi nhận sự tăng trưởng đàn ổn định ở đàn lợn và đàn gia cầm. Tuy nhiên, việc giá trâu, bò xuống thấp kéo dài đã khiến nông dân gặp không ít khó khăn cộng với giá trâu, bò giống mua vào cao và chi phí thức ăn, vật tư tăng cao nên phải giảm đàn vật nuôi. Kết quả chăn nuôi, đàn lợn hiện có 395.100 con, bằng 103,94%; đàn gia cầm ước đạt 9.910 nghìn con, bằng 102,75%; đàn trâu ước đạt 67.300 con, bằng 98,73%; đàn bò ước đạt 167.720 con, bằng 99,94% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, việc tái đàn trong chăn nuôi lợn và gia cầm từ đầu năm khá tích cực và cần duy trì vì đây là nguồn thịt chính đảm bảo ổn định thị trường. Cùng với đó, trong chăn nuôi trâu, bò để giảm chi phí đầu tư, giảm giá thành sản xuất trong giai đoạn khó khăn này, người chăn nuôi cần tận dụng nguồn thức ăn từ tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp. Ngoài ra, bà con cần tính toán, cân đối đàn nuôi phù hợp để duy trì hoạt động chăn nuôi. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra Dịch tả lợn Châu Phi tại 7 hộ, 5 thôn thuộc 2 xã Cẩm Thạch và Cẩm Dương của huyện Cẩm Xuyên làm cho 44 con lợn, ốm, chết, buộc phải tiêu hủy (trọng lượng 2.774 kg).       Tiêm phòng đợt 2 năm 2023, theo kế hoạch của UBND tỉnh thực hiện từ ngày 01/9/2023. 1.2 Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp trong tháng 8/2023 nhìn chung ổn định, hoạt động trồng rừng vẫn được triển khai, nhờ điều kiện thời tiết trong tháng có mưa nên kết quả trồng rừng tập trung tăng hơn cả so với tháng trước và cùng kỳ. Đến tháng 8 trong năm đã xảy ra nhiều hơn các vụ cháy và phá rừng so với năm trước, vì vậy nâng cao ý thức toàn dân luôn là mục tiêu lâu dài trong phát triển lâm nghiệp. Kết quả trồng rừng tập trung tháng 8 ước đạt 392 ha, tăng hơn nhiều so với tháng trước (tăng 116,57% tương ứng tăng 211 ha), so với cùng kỳ tăng 4,81% tương ứng tăng 18ha. Sản lượng gỗ khai thác tháng 8/2023 ước tính đạt 34.980 m3 tăng khá so với tháng trước (tăng 10,80% tương ứng tăng 3.410 m3) cũng như so với cùng kỳ năm trước (tăng 5,71% tương ứng tăng 1.890 m3). Hoạt động trồng rừng mùa nắng nóng phụ thuộc vào các đợt mưa, còn khai thác gỗ chủ yếu từ rừng trồng nên phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng trồng. Vì vậy, kết quả sản xuất lâm nghiệp giữa các tháng và các năm thường có sự chênh lệch khá lớn. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện tuy nhiên do ý thức của người dân trong việc khai thác và làm sạch đất chuẩn bị trồng cây mới còn nhiều bất cẩn, mặc dù trong tháng không xảy ra cháy rừng nhưng có đến 12 vụ phá rừng, ước tính diện tích rừng bị phá là 3,56 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 6 vụ cháy rừng (tăng 5 vụ so với cùng kỳ), với diện tích rừng bị cháy là 4,88 ha (tăng 4,48 ha) và 76 vụ phá rừng (tăng 14 vụ), với diện tích rừng bị phá là 29,48 ha (tăng 2,8 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang là mùa nắng nóng, tháng cao điểm cuối nên cần hết sức cẩn trọng, tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Tháng 8 nằm trong mùa phát triển sinh sôi nhiều loại thủy hải sản, cũng là mùa thủy sản ngon trong năm nên mỗi chuyến ra khơi người dân đánh bắt được nhiều thủy hải sản có giá trị, cộng với đó là nhu cầu tiêu dùng mùa du lịch tăng cao, giá cả tương đối ổn định nên khuyến khích ngư dân vươn khơi bám biển. Các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm vụ tôm Xuân Hè nên làm cho sản lượng nuôi trồng tăng. Sản lượng thủy sản tháng 8 đạt khá tăng 1.257 tấn so với tháng trước và tăng 218 tấn so với cùng kỳ năm trước (chiếm 16,33% tổng sản lượng khai thác từ đầu năm) tính chung 8 tháng năm 2023 sản lượng thủy sản ước đạt 38.410 tấn, tăng 3,99% so với cùng kỳ. Ngoài sản lượng khai thác hải sản mấy năm nay đảm bảo sự tăng trưởng ổn định do người dân tích cực ra khơi bám biển, thì tháng 8/2023 ghi nhận vụ nuôi trồng Hè Thu đạt thắng lợi, sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.471 tấn, chiếm 24,3% tổng sản lượng nuôi trồng 8 tháng. Nguyên nhân chủ yếu do điều kiện thời tiết thuận lợi, dịch bệnh ít xuất hiện và được kiểm soát tốt nên một số vùng người dân đầu tư mới các mô hình nuôi tôm chất lượng cao như nuôi tôm trong bể xi măng có mái che với công nghệ đảm bảo an toàn vệ sinh tuyệt đối nên sản lượng ban đầu cho thu hoạch khá cao, mỗi ha cho thu hoạch từ 25-30 tấn tôm. Nuôi tôm vẫn đang là hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ lực của tỉnh, hiện nay Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang triển khai chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản với quy mô 15.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn để “tiếp sức” cho lĩnh vực này tiếp tục có những bước tăng trưởng đáng kể. Về tình hình dịch bệnh trên thủy sản, trong tháng 8 năm 2023 phát sinh 0,26 ha tôm bị bệnh đốm trắng, vi bào tử trùng tại xã Thạch Long, huyện Thạch Hà, đến nay chưa qua 15 ngày. Tính chung từ đầu năm đến ngày 15/8/2023 trên toàn tỉnh, bệnh đốm trắng xảy ra với diện tích 34,49 ha) tại 09 xã thuộc 5 huyện, thành phố, thị xã (Lộc Hà, TP Hà Tĩnh, Thạch Hà, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh); Bệnh Vi bào tử trùng (EHP) xảy ra với diện tích 4,73 ha thuộc 06 xã của 03 huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Lộc Hà; Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra với diện tích 3,6 ha tại 03 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Thạch Hà. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 8/2023 có nhiều khởi sắc, ngành sản xuất điện đón nhận sự trở lại của tổ máy số I sau gần 2 năm tạm ngừng do sự cố; ngành sản xuất thép có tốc độ tăng sản lượng so với cùng kỳ năm trước đạt mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay, bên cạnh đó ngành khai khoáng tiếp tục tăng công suất khai thác nhằm cung cấp vật liệu thi công các công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Tính chung 8 tháng năm 2023 chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 4,37% so cùng kỳ năm trước. Với những yếu tố thuận lợi nói trên sẽ tạo đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp Hà Tĩnh trong những tháng còn lại năm 2023. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Tháng 8/2023 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng trước tăng 6,6% và tăng 49,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,09% so với tháng trước và tăng 24,54% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,07% so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 52,57%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,58% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 42,12%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,23% so với tháng trước và tăng 17,17% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2023, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,93%, làm tăng 0,03 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,35% làm tăng 2,79 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,25%, làm tăng 1,63 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,97%, làm giảm 0,08 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 06 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: khai khoáng khác tăng 10,08%, sản xuất đồ uống tăng 1,09%, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 2,95%, sản xuất kim loại tăng 5,3%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 8,84%, sản xuất và phân phối điện tăng 12,25%. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 9 nhóm sản phẩm cộng dồn 8 tháng tăng so cùng kỳ năm trước: mực đông lạnh tăng 12,02%, chè (trà) nguyên chất tăng 10,5%, vỏ bào, dăm gỗ tăng 10,25%, thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 6,25%, điện sản xuất tăng 12,25%, điện thương phẩm tăng 15,17%… Bên cạnh đó, có 10 nhóm sản phẩm cộng dồn 8 tháng giảm so cùng kỳ năm trước: quặng inemit và tinh quặng inemit giảm 59,36%; quặng zicon và tinh quặng zicon giảm 49,83%, thức ăn gia súc giảm 17,36%, than cốc giảm 6,85%, gạch xây dựng giảm 46,83%, bê tông trộn sẵn giảm 3,82%... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2023 tăng 0,22% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 7,23%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 8/2023 giảm 7,67% so với cùng kỳ năm 2022. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 8 tháng năm 2023 giảm so ở tất cả các ngành. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 17,42%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,77%, ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,13%, ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,11% so với cùng kỳ năm 2022. Nguyên nhân do ảnh hưởng chung của nền kinh tế thế giới, khi nhu cầu tiêu cùng chưa phục hồi, số lượng các đơn hàng xuất khẩu giảm mạnh kéo theo đó sản xuất trong nước giảm nên các doanh nghiệp đã phải giảm chi phí sản xuất để duy trì hoạt động của đơn vị. Cùng với đó, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất cũng đã tiết giảm được nguồn nhân lực. 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2023, tăng 12,72% so với tháng trước, trong đó nguồn vốn tăng ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã. Mặc dù nguồn vốn thực hiện trong tháng cao hơn so với các tháng trước. Tuy nhiên tính chung 8 tháng năm 2023 con số này chưa đạt được như kỳ vọng. Để giải ngân hết 100% kế hoạch vốn được giao, thời gian tới các cấp, các ngành, địa phương cần tiếp tục tổ chức kiểm tra, và trực tiếp chỉ đạo giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch; đặc biệt là việc đôn đốc triển khai các dự án đầu tư lớn, trọng điểm trên địa bàn.       Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2023 ước đạt 595,41 tỷ đồng, tăng 12,72% so với tháng trước, giảm 4,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 438,77 tỷ đồng, tăng 12,68% so với tháng trước và giảm 6,79% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 99,29 tỷ đồng, tăng 7,55% so với tháng trước và giảm 19,03% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 57,35 tỷ đồng, tăng 23,26% so với tháng trước và tăng 77,93% so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện cho các công trình dự án trọng điểm tiếp tục được gấp rút đẩy nhanh tiến độ thi công trước khi bước vào mùa mưa bão. Bên cạnh đó, một số công trình được khởi công mới góp phần làm tăng kết quả thực hiện vốn đầu tư trong tháng. Ngày 11/8/2023, UBND tỉnh đã ra quyết định số 1916/QĐ-UBND về việc giao bổ sung kế hoạch đầu tư vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2021-2025 và năm 2023. Theo đó kế hoạch vốn được giao bổ sung cả năm 6.196,09 tỷ đồng (tăng 1.120,89 tỷ đồng so với đầu năm). Tính chung 8 tháng năm 2023, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước đạt 3.177,20 tỷ đồng, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt 51,28% kế hoạch năm. Tính từ đầu năm cho đến nay một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối quốc lộ 1 đoạn tránh Thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương (ước đạt 101 tỷ đồng); đường từ Quốc Lộ 12C đi khu liên hợp Gang thép Fomosa tỉnh Hà Tĩnh (ước đạt 227 tỷ đồng); đường vành đai phía nam Khu kinh tế Vũng Áng (ước đạt 91 tỷ đồng); hạ tầng trung tâm khu du lịch biển Kỳ Ninh (ước đạt 53 tỷ đồng) … 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tình hình thương mại dịch vụ tháng 8 và 8 tháng năm 2023 tăng trưởng khá ổn định. Sự suy giảm chung của nền kinh tế thế giới tác động trực tiếp đến thu nhập và cung cầu người dân. Biến động của giá cả nhiều nhóm hàng hóa đặc biệt nhóm giá nguyên, nhiên liệu như điện và xăng tăng cũng gây nhiều khó khăn, bất lợi cho các hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa. Tuy vậy, môi trường kinh doanh ổn định và các chính sách kích cầu, phát triển kinh tế khiến hoạt động thương mại dịch vụ vẫn cơ bản ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 8/2023 doanh thu ước đạt 5.073,54 tỷ đồng, tăng 2,50% so với tháng trước và tăng 10,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị đạt gần 30,75 tỷ đồng, giảm 9,17% so với tháng trước nhưng vẫn ở mức tăng 69,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong các nhóm hàng hóa đều có mức tăng nhẹ so với tháng trước, chỉ có nhóm hàng vật phẩm văn hóa, giáo dục và ô tô con có doanh thu giảm so với tháng trước nguyên nhân chủ yếu do: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ khi việc bắt đầu năm học mới tác động đến các hoạt động bán lẻ hàng may mặc và văn phòng phẩm tăng trong 2 tháng gần đây, mặt bằng giá sách giáo khoa cũng có sự thay đổi khi xuất hiện nhiều loại bộ sách giáo khoa khác nhau. Thứ hai, xu thế hoạt động xây dựng tăng khi thời tiết thuận lợi, giá vật liệu giảm khiến nhu cầu vật liệu xây dựng tăng mạnh. Thứ ba, sự điều chỉnh tăng giá xăng, dầu các kỳ gần đây khiến giá xăng đang ở mức 24.610 đồng tác động trực tiếp đến doanh thu nhóm hàng này và gián tiếp đến chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác. Thứ tư, yếu tố tâm lý người dân truyền thống ít mua sắm tài sản giá trị trong tháng 7 âm lịch, do đó, nhu cầu mua sắm đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, nhất là các đồ dùng đắt tiền giảm mạnh. Tính chung 8 tháng năm 2023 tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 38.490,97 tỷ đồng, tăng 15,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm khá sâu so với cùng kỳ đó là nhóm ô tô con dưới 9 chỗ ngồi giảm 25,32%; phương tiện đi lại giảm 39,06%, nhưng vì các nhóm hàng doanh thu bán lẻ không cao, nên không ảnh hưởng quá lớn tới mức tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa mà chủ yếu phục thuộc vào các nhóm hàng thiết yếu tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao như: Lương thực, thực phẩm đạt 17.591,46 tỷ đồng, tăng 22,21%; xăng dầu các loại đạt 4.796,10 tỷ đồng, tăng 33,20%; đồ dùng, thiết bị gia đình ước đạt 4.168,29 tỷ đồng, tăng 24,26%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 2.265,28 tỷ đồng, tăng 36,29%;.... Nhìn chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa của tỉnh 8 tháng năm 2023 chịu nhiều tác động bởi tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Những lo ngại về lạm phát và tình hình suy giảm kinh tế tác động đến cung cầu, giá cả nhiều nhóm hàng hóa trong nước. Việc giá điện tăng cũng gây nhiều khó khăn, bất lợi cho các hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa. Tuy vậy, môi trường kinh doanh ổn định và các chính sách kích cầu, phát triển kinh tế khiến hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng mạnh. Mặc dù vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển nên đã ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Thu nhập của người dân bị ảnh hưởng bởi nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng bởi giá bán thấp và tiền gửi từ người thân làm ăn xa khó khăn. Hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 8/2023 doanh thu ước đạt 710,26 tỷ đồng, tăng 1,30% so với tháng trước, tăng 39,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 35,84 tỷ đồng, giảm 15,45% so với tháng trước nhưng tăng 40,85% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 192.765 lượt, giảm 5,21% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 155.370 ngày, giảm 4,7% so với tháng trước, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 670,71 tỷ đồng, tăng 2,70% so với tháng trước và tăng 38,73% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 3,72 tỷ đồng, giảm 34,60% so với tháng trước tăng 313,7% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động ăn uống, lưu trú và du lịch tháng 8 do trùng với tháng 7 âm lịch, theo quan niệm tâm linh nên người dân e ngại đi du lịch trong tháng, doanh thu giảm mạnh so với tháng trước. Bên cạnh đó, sang tháng 8 sau thời gian nghỉ hè, các trường học, học sinh sinh viên cũng đã bắt đầu đi học trở lại nên lượng khách đến tham quan nghỉ mát du lịch trong tháng giảm. Để cạnh tranh, thu hút khách hàng thì hiện nay các cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ tại các bãi biển giá các phòng cũng đã bắt đầu giảm hơn so với các tháng trước. Những điều này đã tác động đến doanh thu hoạt động lưu trú trong tháng giảm. Tính chung 8 tháng năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.949,23 tỷ đồng tăng 26,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 216,57 tỷ đồng, tăng 28,82%; lượt khách phục vụ 1.242.002 lượt, tăng 16,75% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 1.018.761 ngày, tăng 15,13% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 4.699,58 tỷ đồng, tăng 25,93% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 33,07 tỷ đồng, tăng 172,73% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách du lịch theo tour ước đạt 10.192 lượt tăng 133,65% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách du lịch theo tour ước đạt 28.374 ngày tăng 156,73% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành sau khoảng thời gian phát triển mạnh mẽ trong mùa du lịch biển cao điểm nhất từ cuối tháng 4 đến tháng 7 thì sang tháng 8 và dự báo những tháng cuối năm do ảnh hưởng thời tiết cũng như tính chất thời vụ du lịch, lượng khách đến tham quan nghỉ dưỡng sẽ bắt đầu giảm mạnh. Vì vậy, mặc dù trong tháng 8 hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống lữ hành vẫn diễn ra khá nhưng so với các tháng trước lượng khách đến tham quan nghỉ dưỡng trên địa bàn giảm đáng kể. Đây cũng là những khó khăn cần tìm ra hướng phát triển du lịch mới, đáp ứng nhu cầu người dân cùng với sự đảm bảo phát triển cũng như khai thác nguồn tài nguyên du lịch đa dạng của tỉnh nhà. Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 8/2023 ước tính đạt 339,34 tỷ đồng, giảm 0,99% so với tháng trước và giảm 0,68% so với cùng kỳ năm trước, trong các nhóm ngành dịch vụ khác trong tháng 8 thì nhóm ngành y tế, giáo dục, văn hóa…tăng so với tháng trước do yếu tố mùa vụ bước váo năm học mới cũng như dịch vụ tâm linh theo quan niệm người dân nên các nhóm ngành trên có tăng nhưng tác động ngược lại các nhóm ngành khác như công trình khởi công mới ít nên nhu cầu sử dụng máy móc san lấp mặt bằng giảm, nhu cầu sử dụng các dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, thuê xe, dịch vụ thuê đồ dùng cá nhân và gia đình cũng giảm do trùng tháng 7 âm lịch nên các hoạt động cưới hỏi, vui chơi giải trí giảm. Tính chung 8 tháng năm 2023, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.809,52 tỷ đồng, tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản ước tăng 10,23%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 29,55%; giáo dục đào tạo tăng 6,8%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 3,02%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 94,67%; dịch vụ khác tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát, công tác điều hành kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có các ngành dịch vụ. Mặc dù vẫn còn những khó khắn khi thị trường bất động sản còn trầm lắm, lãi suất tín dụng đang ở mức cao và tình hình khó khăn chung của kinh tế trong nước và thế giới. Tuy nhiên, các đơn vị kinh doanh trên địa bàn cũng có những động thái thích nghi, điều chỉnh, đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. 4.2. Hoạt động vận tải Kết quả hoạt động vận tải trong tháng cơ bản ổn định và tăng nhẹ so vơi tháng trước, các phương tiện vận tải được chú trọng việc đầu tư chất lượng, hạ tầng đường bộ được nâng cấp mở rộng góp phần hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. Tuy vậy, những khó khăn của nền kinh tế, giá xăng, dầu tiếp tục tăng trở lại ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận tải trong thời gian qua. Dịch vụ bốc xếp hàng hóa thông qua cảng trong tháng giảm so với những tháng đầu năm do ảnh hưởng bởi lượng hàng hóa thông qua cảng giảm. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 8 năm 2023 ước đạt 636,62 tỷ đồng, tăng 1,41% so tháng trước và tăng 27,90% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 99,39 tỷ đồng, tăng 6,57% so với tháng trước và tăng 39,91% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.081 nghìn HK, tăng 1,18% so với tháng trước và tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 207,35 triệu HK.km, tăng 1,64% so với tháng trước, tăng 21,10% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt ước đạt 407.89 tỷ đồng, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 21,29% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 4.465,1 nghìn tấn, tăng 0,31% so với tháng trước và tăng 22,93% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 138,67 triệu tấn.km, tăng 1,11% so với tháng trước và tăng 16,98% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ hỗ trợ vận tải doanh thu ước đạt 113,16 tỷ đồng, giảm 2,11% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải tháng 8/2023 tăng so với tháng trước, chủ yếu do những nguyên nhân sau: Thứ nhất, trong tháng trùng lễ Rằm tháng 7 âm lịch nên nhu cầu đi lại, cũng như vận chuyển hàng hóa tăng so với tháng trước. Là thời điểm nhập học của Tân sinh viên, nhu cầu đi lại nhiều. Điều kiện thời tiết nắng nóng là lý do người dân chủ yếu sử dụng phương tiện công cộng để đi lại, đó là những yếu tố góp phần làm cho hoạt động vận tải hành khách tăng hơn so với tháng trước; Thứ hai, các dự án công trình xây dựng trên địa bàn đang chú trọng đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng cũng tăng và một số doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hóa nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng, thời tiết nắng hạn kéo dài trong thời gian qua khiến mực nước các con sông, hồ đập giảm mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động vận tải đường thủy nội địa; Thứ ba, doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tiếp tục giảm so với tháng trước, lý do giảm chủ yếu ở ngành đường biển, lượng hàng hóa thông qua Cảng Sơn Dương và cảng Vũng Áng. Tính chung 8 tháng năm 2023, hoạt động vận tải dự tính đạt 4.654,82 tỷ đồng, tăng 15,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 682,78 tỷ đồng, tăng 39,71%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 8.252,77 nghìn HK, tăng 38,14% và luân chuyển đạt 1.574,97 triệu HK.km, tăng 52,24% so với cũng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 3.014,42 tỷ đồng, tăng 13,23%; khối lượng vận chuyển ước đạt 33.151,51 nghìn tấn, tăng 15,15% và luân chuyển ước đạt 1.021,31 triệu tấn.km, tăng 9,24% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 831,44 tỷ đồng, giảm 4,03% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung tình hình kinh doanh vận tải, kho bãi 8 tháng năm 2023 hoạt động ổn định và tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, các phương tiện vận tải được chú trọng đầu tư chất lượng xe và bảo đảm chứa đựng hàng hóa. Hạ tầng đường bộ được đầu tư nâng cấp mở rộng góp phần hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, công tác thi công tuyến đường cao tốc Bắc - Nam cũng đang được đẩy nhanh tiến độ thi công. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động, xuất, nhập khẩu  tháng 8 năm 2023 chuyển dịch theo hướng tích cực khi kim ngạch nhập khẩu giảm dần và kim ngạch xuất khẩu tăng nhẹ so với tháng trước và đạt ở mức cao so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 8 ước đạt 533,9 triệu USD giảm 27,7 triệu USD so với tháng trước nhưng tăng 108,4 triệu USD so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 4.337,9 triệu USD tăng 12,32% so với cùng kỳ tương ứng tăng 475,9 triệu USD, nhập siêu ở mức 537,1 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 8/2023 ước đạt 235,4 triệu USD, tăng 3,81% so với tháng trước và tăng đến 138,40% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ tính riêng xuất khẩu tư Formosa trong tháng ước đạt 223,5 triệu USD (chiếm 94,94% kim ngạch xuất khẩu) tăng 1,05% so với tháng trước và tăng đến 188,28% so với cùng kỳ. Đây cũng là nguyên nhân chính tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu trong tháng, thể hiện các doanh nghiệp đã nỗ lực trong phát triển thị trường, tận dụng tốt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và sự phục hồi kinh tế của nhiều quốc gia. Tính chung 8 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1.900,44 triệu USD, tăng 63,08% so với cùng kỳ năm trước. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh là sản phẩm thép và phôi thép của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đạt mức tăng cao trong 8 tháng với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1.810,3 triệu USD. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu ngành thép và phôi thép chung toàn tỉnh 8 tháng tăng 73,06% so với cùng kỳ năm 2022. Ngoài ra, một số mặt hàng xuất khẩu khác cũng tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước như chè tăng 14,34%, hàng dệt và may mặc tăng 13,99%. Bên cạnh những nhóm hàng tăng trưởng tích cực thì vẫn có những nhóm hàng xuất khẩu đang hết sức khó khăn. Trong đó, 3 ngành hàng xuất khẩu chủ lực giảm khá sâu trong 8 tháng năm 2023 là xơ, sợi dệt (giảm 23,24%); thủy sản (giảm 8,61%); dăm gỗ (giảm 6,05%). Nguyên nhân do nhu cầu từ thị trường đối tác giảm, dẫn đến đơn hàng sụt giảm. Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu xơ, sợi dệt đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đơn hàng từ năm 2022 tới nay. Riêng với ngành thủy sản, không chỉ tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu khắt khe hơn, đơn hàng giảm mà còn chịu ảnh hưởng của nguồn nguyên liệu tăng giá và tiêu thụ trong nước chủ yếu. Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này cần tập trung hơn nữa vào việc nắm bắt tình hình thị trường để chủ động kế hoạch sản xuất, sẵn sàng đón cơ hội khi thị trường phục hồi và tìm những hướng đi mới phù hợp. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 8 ước đạt 298,5 triệu USD, giảm 10,87% so với tháng trước tương ứng giảm gần 36,4 triệu USD và so với cùng kỳ giảm 8,65%  (giảm gần 28,3 triệu USD). Cho thấy việc giảm kim ngạch nhập khẩu ở các loại hàng hóa, khi thị trường trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, nhất là nhập khẩu các loại hàng xa xỉ như ô tô các loại khi nhu cầu tiêu dùng trong năm giảm mạnh, tính bấp bênh trong giá các loại nhiên liệu xăng, dầu cũng khiến các nhà đầu tư hạn chế nhập khẩu mặt hàng này. Mặc dù nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất của Formosa vẫn tăng nhẹ so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ thì lượng nhập khẩu nguyên liệu ở mức rất thấp (khoảng 60%). Tính chung 8 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.437,51 triệu USD, giảm 9,61% so với cùng kỳ năm trước. Với những dự báo trong Hội thảo trực tuyến dự báo nhu cầu thép ASEAN 2023 do Ủy ban Kinh tế và Thống kê SEAISI tổ chức vào ngày 24/8 hi vọng sẽ tìm ra các giải pháp và hướng đi mới, phù hợp cho xuất khẩu thép của tỉnh nhà. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 năm 2023 biến động tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước, mức tăng của chỉ số giá chủ yếu do biến động giá tăng mạnh ở các nhóm hàng giao thông và lương thực. Mặt bằng giá thị trường đang ở mức khá cao, so với kỳ gốc 2019 đã tăng ở mức 9,73%. Bình quân 8 tháng 2023 chỉ số giá vẫn ở mức kiểm soát được khi tăng 1,63% so với cùng kỳ. Tháng 8 năm 2023, chỉ số CPI chung tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 7 nhóm hàng biến động tăng so với tháng trước, trong đó tăng mạnh nhất ở nhóm hàng giao thông (tăng 3,12%) do giá nhiên liệu xăng, dầu qua các kỳ điều chỉnh tăng cao trong tháng dẫn tới giá bình quân tăng mạnh so với tháng trước, hiện nay giá xăng E95 đang ở mức 24.610 đồng/lít, tuy chưa ở mức đỉnh giá nhưng đây cũng là mức giá nhiên liệu khá cao ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí trung gian của các loại hàng hóa khác, bên cạnh đó, giá cước vận tải đường sắt và đường hàng không tăng giá mạn; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống dù chỉ tăng 0,92% so với với tháng trước nhưng tính riêng nhóm lương thực đã tăng đến 2,77% nguyên nhân do một số loại lương thực chưa vào vụ thu hoạch, và tăng trong dịp lễ Vu lan và chuẩn bị Rằm tháng 7. Còn lại có 5 nhóm hàng tăng không đáng kể so với tháng trước,  một số mặt hàng sách giáo khoa, hàng dệt may, đồ dùng học tập tăng do nhu cầu phục vụ năm học mới. Bên cạnh các nhóm hàng tăng, trong tháng có 3 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,05% so tháng trước nhưng so cùng tháng năm trước tăng 3,68%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,17% so tháng trước và so cùng tháng năm trước giảm 0,25%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,31% so tháng trước nhưng vẫn tăng 5,25% so cùng tháng năm trước. Nguyên nhân do tiết trời đã bớt oi bức nên lượng điện, nước tiêu thụ giảm xuống đáng kể, bên cạnh đó trong tháng trùng với tháng 7 âm lịch với quan niệm hạn chế máu sắm và đi lại của người dân vì vậy các hoạt động văn, hóa, giải trí du lịch, mua sắm giảm. Nhóm hàng bưu chính viễn thông có chỉ số giá ổn định và không biến động. Tính chung 8 tháng năm 2023 chỉ số giá bình quân tăng 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,50%; nông thôn tăng 1,69%. Tăng rõ nét nhất là nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 4,56%) do thị trường xây dựng hoạt động mạnh trong thời gian qua, giá vật liệu xây dựng tháng 8 tăng trở lại dù mức tăng không cao và chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn do các yếu tố chi phí vận chuyển và khai thác cát sỏi tác động đến giá thành sản xuất và bán lẻ, mức tiêu thụ điện, nước trong tháng có giảm hơn so tháng trước nhưng tính chung 8 tháng vẫn ở mức cao. Đối với nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,56% do nguồn cung lương thực trên thị trường thế giới gián đoạn đã ảnh hưởng đến nhu cầu và giá gạo xuất khẩu của Việt Nam, qua đó tác động đến giá gạo trong nước tăng, các loại thịt chủ yếu như lợn và gà cũng ở mức cao do chi phí chăn nuôi cao, bên cạnh đó thời tiết thất thường đã ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của các loại rau, củ quả mùa vụ, nguồn rau củ nhập khẩu Trung Quốc cũng gặp khó khăn do tình hình thiên tai vì vậy giá rau củ tăng mạnh. Chỉ có 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ là nhóm giao thông (giảm 3,64%) còn nhóm bưu chính chuyển phát giảm nhẹ 0,60% nguyên nhân chủ yếu do giá xăng, dầu nhiện liệu đang ở mức khá cáo nhưng so với cùng kỳ đã hạ nhiệt hơn. Thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ trong tháng 8 và 8 tháng năm 2023 diễn ra khá sôi động, lượng hàng hoá phong phú, đa dạng, chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Tháng 8 trùng với dịp lễ Vu lan và Rằm tháng 7 nên nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng mạnh dẫn tới giá cả thực phẩm tươi sống gà thịt, thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm vịt, ngan tăng. Mặc dù tính chung chỉ số giá vẫn được kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới. Chỉ số giá vàng tháng 8/2023 tăng 1,98% so với tháng trước, tăng 5,95% so với cùng tháng năm trước, giá vàng bình quân trong tháng đang ở mức 5.660 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,72% so với tháng trước nhưng đã giảm 1,06% so với cùng tháng năm trước, giá đô la Mỹ bình quân ở mức 2.377.491 đồng/100 USD. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dự kiến trong tháng 9/2023 giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 khá dài ngày. Bên cạnh đó, giá các loại gạo nếp, đậu hạt các loại tăng do nhu cầu nguyên liệu sản xuất nhân bánh phục vụ Tết Trung thu. Nhu cầu tiêu thụ đồ dùng gia đình những tháng cuối năm xu hướng tăng và hàng may mặc, văn phòng phẩm, sách vở tăng mạnh là tháng bước vào năm học mới 2022-2023. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Giáo dục Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023, Hà Tĩnh có 16.748 thí sinh tham gia, trong đó: THPT có 13.693 thí sinh, giáo dục thường xuyên có 3.055 thí sinh. Năm nay, điểm tốt nghiệp của thí sinh tiếp tục được tính theo tỷ lệ 70/30 (70% điểm thi tốt nghiệp và 30% điểm học bạ). Theo đó, năm nay, số thí sinh được công nhận tốt nghiệp là 16.717/16.748 em, đạt tỷ lệ 99,81%. Cụ thể: số thí sinh THPT được công nhận tốt nghiệp là 13.684/13.693 em, đạt tỷ lệ 99,93%; số thí sinh giáo dục thường xuyên được công nhận tốt nghiệp là 3.033/3.055 em, đạt tỷ lệ 99,28%. Với điểm trung bình 9 môn tốt nghiệp là 6,798 điểm, Hà Tĩnh trở thành tỉnh nằm trong tốp 10 các tỉnh thành có điểm trung bình cao trong cả nước. Ngoài ra, theo số liệu tra cứu, Hà Tĩnh có 403 bài thi đạt điểm 10, tăng 218 điểm 10 so với năm 2022 và 9.470 bài thi đạt điểm 9 trở lên, tăng 1.568 bài thi, đây là kết quả đáng tự hào, ghi dấu những nỗ lực vượt bậc của giáo viên, học sinh Hà Tĩnh. 2. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19: Hiện nay tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, ngành Y tế Hà Tĩnh tiếp tục khuyến cáo người dân không chủ quan, lơ là, cần chủ động tiêm vắc-xin phòng COVID-19; ngành cũng tiếp tục chỉ đạo các địa phương thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau: Tiếp tục tăng cường triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 và rà soát đối tượng tiêm chủng trên địa bàn, chỉ đạo việc triển khai tiêm vắc xin phòng COVID-19 đảm bảo an toàn, hiệu quả. Chuẩn bị sẵn sàng kế hoạch, phương án đáp ứng khi chuyển bệnh COVID-19 từ bệnh truyền nhiễm nhóm A sang bệnh truyền nhiễm nhóm B. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về phòng, chống dịch bệnh; đặc biệt tiếp tục đẩy mạnh thông tin về tiêm vắc xin phòng COVID-19; tổ chức triển khai hiệu quả các chiến dịch truyền thông phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới với thông điệp “2K (khẩu trang, khử khuẩn) + vắc xin + thuốc + điều trị + công nghệ + ý thức người dân và các biện pháp khác”. Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến nay là 59.795 ca mắc. Tính từ ngày 01/01/2022 đến nay là 58.836 ca mắc. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Nhằm hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng, có 02 người nhiễm mới HIV, 02 người chuyển thành AIDS và 01 người chết vì AIDS; tăng 01 người chuyển thành AIDS, còn số người nhiễm HIV mới, số người chết vì AIDS không thay đổi so với tháng trước và tăng 01 người nhiễm HIV, 02 người chyển thành AIDS, 01 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2023, có 36 người nhiễm mới HIV, 28 người chuyển thành AIDS và 05 người chết vì AIDS; tăng 23 người nhiễm HIV, 22 người chuyển thành AIDS và 03 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác an toàn thực phẩm: Để chủ động bảo đảm an toàn thực phẩm, sự phối hợp liên ngành đã được tăng cường và có hiệu quả; các văn bản chỉ đạo điều hành phải được ban hành kịp thời, sát thực tế; các hoạt động cần được triển khai đồng bộ. Đồng thời, Công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn phải được triển khai đồng bộ và quyết liệt; công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Trong tháng, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 87 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; giảm 27 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 23,68%) so với tháng trước và giảm 12 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 12,12%) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2023, có 01 vụ ngộ độc tập thể (làm 07 người bị ngộ độc), 641 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (nhưng tăng 03 người bị ngộ độc), tăng 61 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 10,52%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 14 ca sốt xuất huyết, 02 ca mắc bệnh quai bị, 03 ca mắc lỵ trực trùng, 06 ca mắc lỵ a míp, 15 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.183 ca mắc bệnh cúm, 04 ca mắc tay chân miệng, 176 ca tiêu chảy, 04 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 8 tháng năm 2023, trên địa bàn cũng chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 45 ca sốt xuất huyết (tăng 25 ca so với cùng kỳ năm trước), 04 ca sốt rét (tăng 03 ca), 02 ca viêm não vi rút (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 104 ca mắc bệnh quai bị (tăng 23 ca), 172 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 21 ca), 170 ca mắc lỵ a míp (giảm 35 ca), 179 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 49 ca), 9.705 ca mắc bệnh cúm (giảm 273 ca), 09 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 128 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước có 114 ca), 1.718 ca tiêu chảy (giảm 212 ca), 58 ca viêm gan vi rút khác (tăng 12 ca) và không có người chết do các bệnh trên. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Nhân Kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Đồng Lộc; tưởng niệm 55 năm Ngày hy sinh của 10 nữ Anh hùng liệt sĩ Thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc và kỷ niệm 55 năm Chiến tích làng K130 (13/8/1968 - 13/8/2023), Hà Tĩnh đã tổ chức Chương trình nghệ thuật “Cõi thiêng Đồng Lộc - nối mạch ngàn năm” diễn ra tại Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc - Hà Tĩnh). Chương trình nghệ thuật gồm 3 chương: “Xe chưa qua nhà không tiếc”, “Máu có thể đổ, đường không thể tắc”, “Thênh thang đường mới” và đã để lại trong lòng khán giả nhiều xúc cảm, ấn tượng sâu sắc; đây cũng là dịp góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa cho các tầng lớp nhân dân. Tham gia Festival Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2023 với chủ đề "Ví, giặm - Tinh hoa tỏa sáng” do tỉnh Nghệ An chủ trì phối hợp với Bộ VH-TT&DL và tỉnh Hà Tĩnh tổ chức diễn ra tại TP Vinh. Đoàn nghệ thuật quần chúng Hà Tĩnh giành 01 huy chương vàng, 02 huy chương bạc cho các tiết mục và 01 huy chương bạc toàn đoàn. Công tác quản lý nhà nước: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Đã tổ chức 01 cuộc thanh, kiểm tra tại 50 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao. Qua kiểm tra, đoàn đã đình chỉ hoạt động đối với 03 cở sở bơi, lặn, 05 cơ sở kinh doanh Billiards & Snooker. Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Trong tháng, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 04 giải, giành 30 huy chương các loại (gồm: 13 HCV, 08 HCB, 09 HCĐ). Cụ thể: tại giải vô địch điền kinh trẻ quốc gia năm 2023 ở Đà Nẵng, giành được 07 huy chương (gồm 02 HCV, 02 HCB, 03 HCĐ); giải vô địch điền kinh quốc gia các nội dung tiếp sức năm 2023 tại Đà Nẵng, giành được 04 huy chương (gồm 01 HCV, 01 HCB, 02 HCĐ); giải Nghĩa Dũng karatedo quốc tế lần thức IV năm 2023 tại thành phố Huế, giành được 13 huy chương (gồm 06 HCV, 03 HCB, 04 HCĐ); giải đua thuyền rowing, canoeing trẻ quốc gia năm 2023 tại Hà Nội, giành được 06 huy chương (gồm 04 HCV, 02 HCB). Thể thao quần chúng: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao, ở Hà Tĩnh hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ và diễn ra sôi nổi như: Hội thao cụm các công ty điện lực phía Nam diễn ra tại Hà Tĩnh; Giải Bóng chuyền nam Công an Hà Tĩnh năm 2023; Giải Bóng đá nam thị xã Kỳ Anh năm 2023; Giải bóng chuyền nam, bóng chuyền hơi nữ Khối Kinh tế - Kỹ thuật Hà Tĩnh năm 2023. 4. Tình hình an toàn giao thông  Tính từ ngày 15/7-14/8/2023 xảy ra 32 vụ tai nạn đường bộ, làm 17 người chết, 23 người bị thương, thiệt hại 290 triệu đồng; tăng 12 vụ, giảm 01 người chết, tăng 18 người bị thương so với tháng trước và tăng 23 vụ, 11 người chết, 17 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính từ ngày 15/12/2022-14/8/2023 đã xảy ra 139 vụ tai nạn đường bộ, làm 103 người chết, 62 người bị thương, thiệt hại 1.750 triệu đồng; tăng 77 vụ, 51 người chết, 34 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Trong tháng, tai nạn đường sắt, đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Môi trường Tình hình cháy, nổ: Tình hình cháy: từ ngày 15/7-14/8/2023 đã xảy 15 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 1.257 triệu đồng; tăng 11 vụ cháy so với tháng trước và tăng 06 vụ so với cùng kỳ năm trước. Tính từ 15/12/2022-14/8/2023 xảy ra 59 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 1.737 triệu đồng; tăng 25 vụ, giảm 01 người chết, giảm 01 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Vụ nổ: Từ ngày 15/7-14/8/2023 xảy ra 01 vụ nổ vào ngày 01/08/2023 tại thôn 3, xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê làm 01 người bị thương, nguyên nhân đang được điều tra. Tính chung 8 tháng từ ngày 15/12/2022-14/8/2023 xảy ra 01 vụ nổ và tăng 01 vụ, tăng 01 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/7-14/8/2023 phát hiện 25 vụ và đã xử lý 14 vụ, với tổng số tiền xử phạt 14,4 triệu đồng; tăng 7 vụ đã phát hiện, giảm 1 vụ đã xử lý, giảm 136,84 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 41 vụ đã phát hiện, 30 vụ đã xử lý, 67,08 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép. Tính chung 8 tháng năm 2023 (từ 15/12/2022-14/8/2023) đã phát hiện 461 vụ, xử lý 368 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.375,35 triệu đồng; giảm 147 vụ đã phát hiện (giảm 24,18%), giảm 52 vụ đã xử lý (giảm 12,38%), số tiền xử phạt giảm 181,64 triệu đồng (giảm 11,67%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng (tính từ 19/7-18/8/2023) không xảy ra vụ thiên tai nào, không thay đổi so với tháng trước và giảm 01 vụ, 01 người chết so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2023, xảy ra 01 vụ thiên tai, làm 1 người chết; giảm 05 vụ, giảm 03 người chết, giảm 512 ha lúa, 153 ha hoa màu bị thiệt hại, giảm 17 ngôi nhà bị hư hỏng, giá trị thiệt giảm 7.968 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2023
  •   26/07/2024 16:47

I.  LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 1.1 Sản xuất nông nghiệp        Tháng 7 năm 2023, bà con nông dân đang tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu 2023, đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đẻ nhánh phát triển thân lá mạnh việc cần thiết lúc này là tuân thủ quy trình kỷ thuật chăm sóc lúa và thường xuyên thăm đồng để phát hiện và kịp thời phòng trừ các loại dịch bệnh gây hại. Hoạt động chăn nuôi trong tháng vẫn tiếp tục duy trì ở mức ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, việc chi phí chăn nuôi ngày càng tăng gây khó khăn không nhỏ đối với các hộ chăn nuôi, nhưng do giá lợn hơi tăng trở lại khiến tổng đàn lợn tăng lên khá đáng kể so với cùng kỳ. *Trồng trọt Công tác chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2023: Căn cứ Quyết định số 2309/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về Kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2023 và đề xuất của các huyện, thành phố, thị xã. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh đã xây dựng Đề án số 152/ĐA-SNN ngày 26/4/2023 về sản xuất vụ Hè Thu năm 2023. Chỉ tiêu định hướng sản xuất vụ Hè Thu năm 2023 như sau: Lúa Hè thu: Diện tích 44.891 ha; năng suất 51 tạ/ha; sản lượng 228.763 tấn. Lúa Mùa: Diện tích 430 ha, năng suất 23,5 tạ/ha, sản lượng 1010 tấn. Đậu: Diện tích 2.640 ha, năng suất 10,8 tạ/ha, sản lượng 2.850 tấn. Ngô lấy hạt: Diện tích 2.240 ha, năng suất 43,9 tạ/ha, sản lượng 9.840 tấn. Ngô sinh khối: Diện tích 750 ha, năng suất 29,3 tấn/ha, sản lượng 22.000 tấn. Lạc: Diện tích 397 ha, năng suất 21,91 tạ/ha, sản lượng 870 tấn. Khoai lang: Diện tích 556 ha, năng suất 63,92 tạ/ha, sản lượng 3.554 tấn. Rau: Diện tích 2.975ha, năng suất 75,6 tạ/ha, sản lượng 22.479 tấn. Vừng: Diện tích 737 ha, năng suất 7,7 tạ/ha, sản lượng 567 tấn. Để chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và bà con nông dân tập trung sản xuất vụ Hè Thu năm 2023 dành được kết quả thắng lợi. UBND tỉnh đã ban hành 04/CĐ-UBND ngày 22/5/2023 về việc đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ Hè thu 2023. Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu năm 2023, tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2023 toàn tỉnh ước đạt 44.468 ha bằng 99,78% (giảm 58 ha) so với cùng kỳ năm trước và bằng 99,06% (giảm 423 ha) so với kế hoạch. Nguyên nhân diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu 2023 giảm so với kế hoạch cũng như cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng một số hộ vẫn đang chịu ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để triển khai thực hiện các dự án và xây dựng đường cao tốc Bắc Nam nên diện tích lúa Hè Thu của một số địa phương bị giảm so với cùng kỳ năm trước. Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2023 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 20/7/2023, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 2.388 ha, đạt 106,6% kế hoạch; khoai lang 510 ha, đạt 91,7% kế hoạch; lạc 238 ha, đạt 60,0% kế hoạch; rau các loại 3.043 ha, đạt 102,3% kế hoạch, vừng 714 ha, đạt 96,9% kế hoạch; đậu các loại 2.040 ha, đạt 77,3% kế hoạch. Nhìn chung so với tiến độ gieo trồng cùng kỳ năm trước, năm nay kết quả gieo trồng các loại cây trồng đạt kế hoạch cao hơn so với cùng kỳ và đảm bảo kế hoạch đề ra. Với nhiệm vụ, giải pháp chống hạn cho các loại cây trồng vụ Hè Thu trong điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn xảy ra: huy động tối đa mọi nguồn lực để tổ chức rà soát nguồn nước tại các hồ đập, bằng các giải pháp tập trung cấp đủ nước tưới cho lúa, cây trồng cạn kịp thời với phương châm tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến của các dịch bệnh gây hại trên cây trồng. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa, hiện nay sâu cuốn lá nhỏ tuổi 1, tuổi 2 đã xuất hiện ở các địa phương, mật độ trung bình 3-5con/m2, nơi cao 10-15con/m2, cục bộ ở xã Lâm Trung Thuỷ (Đức Thọ) mật độ 50-100con/m2, diện tích 2ha; Chuột gây hại tỉ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 45ha. Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu, sâu cắn lá diện tích nhiễm 14ha, bệnh đốm lá lớn, bệnh khô vằn 12ha, sâu đục thân, đục bắp 7ha. Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành 15ha; nhện nhỏ 50ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…các đối tượng như rệp muội, bọ xít, gây hại rải rác trên những vườn hộ lâu năm. Trước tình hình diễn biến của sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, dự báo chính xác các đối tượng sâu, bệnh. Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức phòng trừ sâu, bệnh đạt hiệu quả, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với sản xuất vụ Hè Thu và cây ăn quả năm 2023. *Chăn nuôi Nhìn chung hoạt động chăn nuôi tháng 7 năm 2023 vẫn tiếp tục duy trì ở mức ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được thực hiện, mặc dù gặp khó khăn do giá thức ăn chăn nuôi ngày càng tăng lên nhưng việc giá lợn hơi tăng trở lại khiến tống đàn lợn tăng khá đáng kể so với cùng kỳ. Kết quả chăn nuôi, đàn trâu hiện có 67.790 con, bằng 99,43% (giảm 390 con); đàn bò hiện có 167.750 con, bằng 100,04% (tăng 70 con); đàn lợn hiện có 393.600 con, bằng 105,36% (tăng 20.040 con); đàn gia cầm hiện có 9.880 nghìn con, bằng 101,25% (tăng 122 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi, Dịch Lở mồm long móng gia súc phát sinh với mức độ cục bộ, nhỏ lẻ, được khoanh vùng, khống chế ở diện hẹp. (Viêm da nổi cụcxảy ra tại 30 hộ chăn nuôi của 06 xã, phường thuộc huyện Thạch Hà, Thị xã Hồng Lĩnh và Thành phố Hà Tĩnh, làm cho 35 con bò mắc bệnh, trong đó có 04 con bị chết, tiêu hủy, khối lượng 324 kg; Lở mồm long móng: xảy ra tại 09 hộ chăn nuôi của 02 xã, phường thuộc huyện Kỳ Anh và Thị xã Kỳ Anh, làm cho 22 con trâu bò mắc bệnh; Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 13 hộ chăn nuôi của 02 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên và Đức Thọ, làm cho 65 con lợn mắc bệnh, tiêu hủy với khối lượng 1.789 kg. Đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc, gia cầm. 1.2 Lâm nghiệp Diện tích rừng trồng mới tháng 7 đạt thấp 181 ha (chiếm 6,8% so với tổng diện tích rừng trồng từ đầu năm đến nay) do thời tiết nắng nóng kéo dài không thuận lợi cho việc trồng rừng. Tuy nhiên thời điểm này thuận lợi cho việc khai thác rừng trồng nên nhiều hộ dân tranh thủ thu hoạch gỗ để chuẩn bị trồng rừng trong các tháng tới khi nhiệt độ giảm dần. Mặc dù diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 7 đạt thấp so với những tháng trước do diều kiện thời tiết, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 4,62%, tính chung 7 tháng đạt 2.652 ha, tăng 1,22%. Sản lượng gỗ khai thác tháng 7 ước đạt 31.570 m3 bằng 105,93% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2023, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 211.956 m3 bằng 105,74% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác có xu hướng giảm dần khi nhu cầu về tiêu dùng củi giảm, sản lượng tháng 7 ước đạt 20.098 ste, bằng 95,56%; tính chung 7 tháng năm 2023 ước đạt 161.386 ste, bằng 93,71%. Số cây trồng phân tán đạt thấp (đạt 7 nghìn cây, chiếm 0,43% so với tổng số cây phân tán từ đầu năm đến nay), tính chung 7 tháng đạt 1.612 nghìn cây giảm 13,66% so với cùng kỳ. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện tuy nhiên do ý thức của người dân trong việc khai thác và làm sạch đất chuẩn bị trồng cây mới còn nhiều bất cẩn, cộng với thời tiết nắng nóng kèo dài trong tháng đã xẩy ra 5 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy 4,09 ha, cộng dồn từ đầu năm đến ngày 15/7/2023, số vụ cháy rừng là 6 vụ, diện tích rừng bị cháy là 4,88 ha (cùng kỳ năm trước không xảy ra cháy rừng); số vụ phá rừng trong tháng 7 là 19 vụ (tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước) với diện tích rừng bị phá là 10,8 ha, cộng dồn từ đầu năm đến ngày 15/7/2023, số vụ phá rừng là 64 vụ (tăng 6 vụ so với cùng kỳ năm trước) với tổng diện tích rừng bị phá là 25,92 ha). Với việc thời tiết vẫn còn trong cao điểm nắng nóng kéo dài, các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Hoạt động thủy sản tháng 7 và 7 tháng vẫn giứ được sự ổn định và tăng trưởng khá, điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc khai thác hải sản cộng với vào mùa du lịch, thủy hải sản đang ở giai đoạn ngon nhất nhu cầu thị trường tăng, cũng vào mùa thu hoạch khiến sản lượng thủy hải sản tăng ở cả nuôi trồng và khai thác. Sản lượng thủy sản tháng 7 đạt khá khi có mức tăng 6,02% so với cùng kỳ (chiếm 15,7% tổng sản lượng khai thác từ đầu năm) tính chung 7 tháng năm 2023 sản lượng thủy sản ước đạt 32.036 tấn, tăng 3,75% so với cùng kỳ. Những tháng này điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, thủy hải sản sinh sôi phát triển đa dạng, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, giá cả tương đối ổn định nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Tuy nhiên hiện nay chi phí nhiên liệu, nhân công cao, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi, số lượng tàu nằm bờ do khai thác không hiệu quả vẫn ở mức cao nên hoạt động khai thác thủy hải sản vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.      Về tình hình dịch bệnh trên thủy sản, tính chung từ đầu năm đến nay, đối với nuôi trồng thủy sản thì dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 5 xã thuộc 3 huyện (Nghi Xuân, Thạch Hà, Kỳ Anh) với diện tích 6,83 ha; dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 9 xã thuộc 6 huyện (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Nghi Xuân) với tổng diện tích 86,8 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, dùng hóa chất Chlorine dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan và gây thiệt hại cho các hộ nuôi tôm. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực khi các ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương vẫn đang sản xuất cầm chừng, sản xuất điện có mức tăng khá (8,34%) nhưng sản lượng vẫn đạt thấp do tổ máy số 1 của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1đến thời điểm hiện nay vẫn chưa hoạt động trở lại; ngành khai khoáng khác có xu hướng tăng do nhu cầu về vật liệu xây dựng phục vụ thi công đường cao tốc Bắc- Nam. Bên cạnh đó, các ngành sản xuất khác vẫn còn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới khi nhu cầu thị trường chưa phục hồi dẫn đến các đơn hàng xuất khẩu giảm kéo theo sản xuất trong nước giảm. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Tháng 7/2023 ước chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 6/2023 giảm 24,22% và tăng 9,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 35,46% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 27,60% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sản xuất của ngành này tăng 7,73%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,20% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,12%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,36% so với tháng 6/2023 và tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2023, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp dự ước tăng nhẹ (0,3%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,89%, làm tăng 0,01 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,76% làm giảm 0,64 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,34%, làm tăng 1,08 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,36%, làm giảm 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, chỉ có 5 ngành có chỉ số sản xuất tăng là ngành khai khoáng khác tăng 6,97%, chế biến gỗ tăng 1,83%, sản xuất kim loại tăng 0,23%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 8,52%, sản xuất và phân phối điện tăng 8,34%, các nhóm còn lại đều có chỉ số sản xuất giảm. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, chỉ có 8 nhóm sản phẩm cộng dồn 7 tháng tăng so cùng kỳ (chiếm 36,8% trong tổng số sản phẩm) còn lại 11 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 63,2%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước: mực đông lạnh tăng 27,25%; chè xanh tăng 15,87%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 11,67%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 0,91%; điện sản xuất tăng 8,22%; điện thương phẩm tăng 13,87%; nước uống được tăng 4,03%; rác thải không độc hại đã thu gom không tái chế tăng 5,49%. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2023 giảm so với cùng kỳ năm trước: quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 61,67%; quặng zicon và tinh quặng zicon giảm 49,38%; thức ăn gia súc giảm 13,69%; than cốc giảm 8,63%; gạch xây dựng giảm 44,15%; bê tông trộn sẵn giảm 3,44%... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2023 giảm 0,33% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 7,87%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 7/2023 giảm 7,76% so với cùng kỳ năm 2022. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 7 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành khai khoáng và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ sốsử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 18,77%, chỉ sốsử dụng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước.Nguyên nhân chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng giảm do hiện nay nguồn tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt nên sản lượng khai khoáng giảm. Chỉ số sử dụng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm do khó khăn chung của nền kinh tế nên một số doanh nghiệp có quy mô sản xuất vừa và nhỏ thu hẹp sản xuất, giảm lao động. Cùng với đó, việc đưa các máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất cũng đã tiết giảm được nguồn nhân lực. Chỉ số sử dụng lao động tính đến tháng 7/2023 đối vớingành sản xuất và phân phối điện giảm 0,6%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,41% so với cùng kỳ năm 2022. 3. Vốn đầu tư Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2023 tăng khá so với tháng trước. Hiện nay các công trình lớn đang được triển khai trên toàn tỉnh, công tác giải phóng mặt bằng đang được UBND các cấp và các đơn vị liên quan tập trung rà soát, đôn đốc. Nguồn vốn thực thực hiện bổ sung vốn kịp thời, đẩy nhanh công tác thanh quyết toán vốn đầu tư các dự án lớn trên địa bàn, tạo nguồn lực cho đơn vị thi công. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2023 ước đạt 521,78 tỷ đồng, tăng 17,53% so với tháng trước, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 381,01 tỷ đồng, tăng 16,68% so với tháng trước và giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 92,73 tỷ đồng, tăng 24,61% so với tháng trước và giảm 14,64% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 48,04 tỷ đồng, tăng 11,73% so với tháng trước và tăng 63,27% so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện cho các công trình tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ thi công. Bên cạnh đó, một số công trình được khởi công mới góp phần vào kết quả thực hiện được cao hơn (tăng 17,53% so với tháng trước). Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi thì tình hình thực hiện vốn đầu tư trong tháng 7 vẫn còn một số khó khăn như một số công trình thuộc nguồn vốn ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh có tổng vốn đầu tư lớn chưa khởi công xây dựng hoặc tiến độ còn chậm. Nguyên nhân do vướng công tác giải phóng mặt bằng chưa bàn giao ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình hoặc do thủ tục hồ sơ liên quan đến dự án chưa hoàn tất. Do đó vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý 7 tháng năm 2023 ước đạt 2.575,33 tỷ đồng, giảm 10,74% so với cùng kỳ năm trước, đạt 43,04% kế hoạch năm. Mặc dù nguồn vốn đã được bàn giao tới từng công trình hơn 90% kế hoạch vốn, tuy nhiên do nguồn ngân sách năm 2023 giảm mạnh so với năm trước (giảm 20,12%). Do đó, vốn đầu tư thực hiện 7 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tình hình thương mại dịch vụ tháng 7 và 7 tháng năm 2023 hoạt động ổn định và có mức tăng trưởng khá. Mặc dù với tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trong nước khiến thu nhập của người dân nhìn chung gặp hạn chế, tác động đến nhu cầu tiêu dùng. Nhưng với việc chính sách thuế VAT được giảm từ ngày 01/7/2023 và các mặt hàng thiết yếu gồm điện tăng giá và xăng dầu giảm giá, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng doanh thu nhóm ngành này trong thời gian tới. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 7/2023 doanh thu ước đạt 4.973,75 tỷ đồng, tăng 1,62% so với tháng trước và tăng 10,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 32,15 tỷ đồng, tăng 0,31% so với tháng trước và tăng 93,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong các nhóm hàng hóa đều có mức tăng nhẹ so với tháng trước, chỉ có nhóm đồ dùng, trang thiết bị gia đình, xăng, dầu các loại và ô tô con có doanh thu giảm so với tháng trước nguyên nhân chủ yếu do: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ khi thời tiết nắng nóng kéo dài, các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, thực phẩm, đồ uống tăng cầu tiêu dùng cùng với đó là nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các công trình đang thi công. Thứ hai, tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trong nước khiến thu nhập của người dân nhìn chung gặp hạn chế, tác động đến nhu cầu tiêu dùng nhiều nhóm thực phẩm, đồ dùng gia đình. Thứ ba, chính sách của Nhà nước về chính sách thuế VAT, giá điện và xăng dầu tác động trực tiếp đến giá cả các loại hàng hóa và giá cả quyết định nhu cầu người tiêu dùng và tổng mức doanh thu của nhóm bán lẻ. Tính chung 7 tháng năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 33.441,49 tỷ đồng, tăng 16,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm so với cùng kỳ đó là nhóm ô tô giảm 25,08%; phương tiện đi lại giảm 38,02%, nhưng 2 nhóm hàng này chiếm tỷ trọng doanh thu bán lẻ không cao, nên không ảnh hưởng quá lớn tới mức tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa mà chủ yếu phục thuộc vào các nhóm hàng thiết yếu tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao như: Lương thực, thực phẩm đạt 15.314,08 tỷ đồng, tăng 23,47%; xăng dầu các loại đạt 4.203,65 tỷ đồng, tăng 35,23%; đồ dùng, thiết bị gia đình ước đạt 3.585,69 tỷ đồng, tăng 24,57%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.943,4 tỷ đồng, tăng 36,27%;.... Có thể thấy tổng mức bán lẻ hàng hóa 7 tháng năm 2023 tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa có nhiều thuận lợi, tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Giá cả hàng hóa, dịch vụ đang có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng bởi chi phí sản xuất và vận chuyển nên đã ảnh hưởng đến sức mua của người dân. Trong khi đó, một lượng lớn vốn tín dụng đang bị mắc kẹt tại thị trường bất động sản, lượng tiền trong dân không nhiều cộng với những khó khăn trong đợt dịch khiến tâm lý người dân tích lũy nhiều hơn, hạn chế chi tiêu cho những hàng hóa dịch vụ không thiết yếu cũng là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng. Bên cạnh đó, hoạt động bán lẻ truyền thống của các đơn vị trong tỉnh đang phải cạnh tranh khốc liệt với các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện tích, hệ thống siêu thị mini và hình thức bán lẻ hàng trực tuyến; chuỗi cung ứng hàng hóa còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc dẫn đến nguồn cung một số hàng hóa hạn chế do tình hình nhập khẩu gặp khó khăn khiến giá bán lẻ tăng cao Hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2023 doanh thu ước đạt 729,58 tỷ đồng, tăng 5,95% so với tháng trước, tăng 27,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 37,89 tỷ đồng, tăng 14,51% so với tháng trước, tăng 24,65% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 212.808 lượt, tăng 13,73% so với tháng trước và tăng 15,81% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ 173.344 ngày, tăng 10,29% so với tháng trước, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 686,01 tỷ đồng, tăng 5,53% so với tháng trước, tăng 27,58% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước đạt 5,68 tỷ đồng, tăng 3,93% so với tháng trước tăng 81,99% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 7, là thời điểm nghỉ hè của các cấp học sinh, sinh viên và cũng là thời điểm kết thúc mùa thi cử cộng với thời tiết nắng nóng nên nhu cầu du lịch biển, các khu sinh thái nghỉ dưỡng tăng cao. Các điểm du lịch thu hút lượng lớn khách du lịch, các dịch vụ vui chơi, giải trí đạt được kết quả kinh doanh tăng trưởng khá. Lượng khách đến tham quan nghỉ mát tại các khu du lịch biển tăng mạnh. Với vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu tiềm năng, lợi thế về phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển những năm gần đây có nhiều bãi tắm đẹp đang được đầu tư khai thác như Biển Thiên Cầm, Hoành Sơn, Xuân Hải, Xuân Thành, Thạch Bằng, Kỳ Xuân, Kỳ Ninh, các resort, điểm cắm trại, homestay đã thu hút được lượng du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan, nghỉ mát. Tính chung 7 tháng năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.267,39 tỷ đồng tăng 25,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 176,24 tỷ đồng, tăng 23,53%; lượt khách phục vụ hơn 1.058 nghìn lượt, tăng 16,21% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 873.696 ngày, tăng 15,73% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 4.061,79 tỷ đồng, tăng 25,04% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước đạt 29,36 tỷ đồng, tăng 161,46% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách du lịch theo tour ước đạt 8.477 lượt tăng 110,14% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách du lịch theo tour ước đạt 23.659 ngày tăng 130,41% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành vẫn đảm bảo sự tăng trưởng cao tiếp nói sự tăng trưởng của 6 tháng đầu năm, do tác động của yếu tố mùa vụ và thời tiết thuận lợi cho hoạt động tham quan, nghỉ mát và du lịch. Không chỉ lượng khách nội tỉnh mà cả lương khách ngoại tỉnh đến tham quan du lịch nghỉ mát trên địa bàn tỉnh tăng lên. Hà Tĩnh có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh trung tâm của Bắc Trung Bộ, khoảng cách nối với các tỉnh như Hà Nội, Thanh Hóa, Đà Nẵng… không quá dài, cung đường phù hợp để có những tour du lịch từ 2 đến 3 ngày (trùng kỳ nghỉ làm việc cuối tuần). Cùng với đó là sự thuận lợi về đường giao thông, phương tiện đi lại; Chất lượng của các cơ sở lưu trú ngày càng được chú trọng, nên du lịch đã lựa chọn các tour du lịch đến tham quan, nghỉ mát trên địa bàn tỉnh, theo đó các hoạt động ăn uống ngoài gia đình cũng sôi động hơn. Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 7/2023 ước tính đạt 364,87 tỷ đồng, tăng 2,95% so với tháng trước và tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước, nhìn chung, ngoại trừ nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản vẫn đang trong giai đoạn trầm lắng theo nhu cầu thị trường thì các nhóm ngành đều có xu hướng tăng hơn so với các tháng trước. Tính chung 7 tháng năm 2023, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.499,32 tỷ đồng, tăng 17,96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 15,25%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 34,83%; giáo dục đào tạo tăng 8,35%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 6,13%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 105,77%; dịch vụ khác tăng 6,82% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung các nhóm dịch vụ đều được các thành phần kinh tế tập trung đầu tư phát triển, nhất là các hoạt động dịch vụ du lịch, lưu trú, ăn uống, nghỉ dưỡng, nghệ thuật vui chơi giải trí, dịch vụ chăm sóc cá nhân. Thu nhập của người dân ngày càng tăng cũng đòi hỏi các dịch vụ y tế, giáo dục phải nâng cao chất lượng. Mặt khác, khi các hoạt động sản xuất ngành chế biến công nghiệp, xây dựng tăng trưởng trở lại, thúc đẩy các dịch vụ hành chính, hỗ trợ cho thuê máy móc thiết bị tăng mạnh. 4.2. Hoạt động vận tải Kết quả hoạt động kinh doanh vận tải tháng 7/2023 tăng hơn so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ. Nguyên nhân do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu lượt người sử dụng các phương tiện vận tải công cộng như xe buýt, taxi và nhu cầu sử dụng xe khách tăng mạnh, các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển mạnh, nhiều dự án mới được triển khai thi công, công trình xây dựng trong dân nhiều hơn. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 7 năm 2023 ước đạt 630,66 tỷ đồng, tăng 2,22% so tháng trước và tăng 22,24% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 88,41 tỷ đồng, tăng 3,20% so với tháng trước và tăng 26,41% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.056,7 nghìn HK, tăng 1,26% so với tháng trước và tăng 11,92% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 204,01 triệu HK.km, tăng 2,11% so với tháng trước, tăng 19,98% so với cùng kỳ năm trước. Điều kiện thời tiết nắng nóng là lý do người dân chủ yếu sử dụng phương tiện công cộng để đi lại, khiến cho nhu cầu về vận tải hành khách tăng; đây cũng là giai đoạn cao điểm của mùa du lịch nên nhu cầu về vận tải hành khách tăng. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt ước đạt 402,67 tỷ đồng, tăng 2,07% so với tháng trước và tăng 15,55% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 4.452,73 nghìn tấn, tăng 1,91% so với tháng trước và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 136,98 triệu tấn.km, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 11,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng là thời điểm hoàn thiện các công trình xây dựng, các dự án thi công công trình xây dựng trên địa bàn đang tiếp tục phát triển mạnh, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, công trình xây dựng trong dân nhiều hơn, các công trình chú trọng đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa vật liệu xây dựng cũng tăng hơn. Ngoài ra thời tiết nắng nóng cũng là lúc nhu cầu mua sắm mặt hàng điện tử, điện lạnh tăng cao, điều này làm cho vận tải hàng hóa tăng, cũng như vận chuyển mặt hàng thực phẩm phục vụ cho ngành ăn uống cũng tăng lên theo mùa vụ du lịch. Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 122,70 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và tăng 27,11% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đang chuyển biến tích cực nên các tàu cập cảng chở hàng hóa sẽ nhiều hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hỗ trợ vận tải ổn định và có doanh thu cao hơn. Tính chung 7 tháng năm 2023, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 725,39 tỷ đồng, giảm 6,64% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, Tình hình kinh doanh vận tải, kho bãi trên địa bàn từ đầu năm đến nay có sự tăng trưởng mạnh mẽ so với các năm gần đây. Các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, chất lượng cao đối với loại phương tiện hành khách, mở thêm các tuyến vận chuyển; đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa, đúng tiêu chuẩn. Hạ tầng đường bộ giao thông hóa, nâng cấp mở rộng các tuyến đường góp phần hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. Bên cạnh đó, dự kiến các tàu cập cảng chở hàng hóa sẽ nhiều hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hỗ trợ vận tải ổn định và có doanh thu cao hơn. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 7 năm 2023 có dấu hiệu chững lại so với tháng trước, nhưng so với cùng tháng năm trước vẫn tăng khá cao. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 7 ước đạt 566 triệu USD giảm 9,21% so với tháng trước nhưng tăng 40,88% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 3.807,4 triệu USD tăng 10,79% so với cùng kỳ, nhập siêu ở mức 401,8 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 7/2023 ước đạt 265,5 triệu USD, giảm 13,97% so với tháng trước nhưng tăng đến 145,99% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do mặt hàng chủ lực thép, phôi thép ước đạt 245,5 triệu USD giảm khá sâu 14,35% so với tháng trước nhưng cùng thời điểm này năm trước thì xuất khẩu thép vẫn tăng 183,68% so với cùng kỳ, mặt hàng dăm gỗ cũng đang gặp khó khăn trong việc xuất khẩu khi giảm sâu 34,73% (tương ứng giảm gần 2,7 triệu USD) so với tháng trước. Nhưng bù lại đó, các mặt hàng khác lại tăng khá khả quan như mặt hàng chè và thủy sản… có kim ngạch xuất khẩu tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ do đang vào vụ thu hoạch và cũng là thời điểm mặt hàng thủy sản ngon trong năm, nhưng do giá trị xuất khẩu mang lại không cao nên không thể kéo lại tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, việc tăng các mặt hàng xuất khẩu chứng tỏ hướng đi phù hợp, đáng khích lệ trong hoạt động xuất khẩu, giảm bớt sự phụ thuộc vào sản phẩm thép. Tính chung 7 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1.702,8 triệu USD, tăng 59,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, mặt hàng thép và phôi thép ước đạt 1.580,2 triệu USD và là mặt hàng có kim ngạch tăng lớn nhất 67,64% so với cùng kỳ năm 2022. Nếu chỉ tính riêng kim ngạch xuất khẩu của công ty Formosa đạt gần 1.617,9 triệu USD (chiếm 95,01% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh) tăng 63,93% so với cùng kỳ. Theo dự báo Hiệp hội Thép thế giới (WSA) nhu cầu thép toàn sẽ tiếp tục tăng, mặc dù tốc độ tăng sẽ chậm lại thì vẫn là tín hiệu tích cực trong hoạt động xuất nhập khẩu thép và phôi thép trong thời gian sắp tới. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 7 ước đạt 300,5 triệu USD, giảm 4,55% so với tháng trước nhưng vẫn tăng nhẹ 2,27% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất khi việc tiêu thụ đầu ra thép gặp khó khăn. Tính chung 7 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.557,47 triệu USD, giảm 2,75% so với cùng kỳ năm trước, dự ước kim ngạch nhập khẩu sẽ tiếp tục giảm khi trước đây nhập khẩu thép hưởng thuế 0% và không phải chịu bất kỳ biện pháp phòng vệ thương mại nào thì hiện nay Hiệp hội thép Việt Nam VSA kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét xây dựng quy trình, thủ tục kiểm tra chất lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam. 5. Chỉ số giá tiêu dùngChỉ số giá tiêu dùng trong tháng 7 năm 2023 tăng nhẹ so với tháng trước mức tăng của chỉ số giá chủ yếu nằm ở mặt hàng lương thực và hàng hóa khác. Nhưng nhìn chung mặt bằng giá thị trường vẫn ở mức khá cao, so với kỳ gốc 2019 đã tăng ở mức 9,04%. Bình quân 7 tháng 2023 chỉ số giá vẫn ở mức kiểm soát được khi tăng 1,69% so với cùng kỳ. Tháng 7 năm 2023, chỉ số CPI chung tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 0,73% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 7 nhóm hàng biến động tăng so với tháng trước, trong đó tăng mạnh nhất ở nhóm hàng hóa khác (tăng 2,31%) do trong tháng áp dụng hệ số lương cơ bản mới trong việc tính lương khiến giá bảo hiểm y tế tăng theo; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống dù chỉ tăng 0,72% so với với tháng trước nhưng tính riêng nhóm lương thực đã tăng đến 1,01% nguyên nhân do giá gạo Việt Nam đang tiếp tục duy trì đà tăng trong bối cảnh nhu cầu Thế giới đối với gạo Việt Nam ở mức cao. Nhiều quốc gia trên thế giới đang tích cực thu mua gạo nhằm đảm bảo an ninh lương thực khi hiện tượng El Nino được dự báo sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động canh tác nông nghiệp toàn cầu, kéo theo giá gạo trong nước cũng ở mức cao. Còn lại có 5 nhóm hàng tăng không đáng kể so với tháng trước, giá xăng dầu cũng không biến động quá lớn khi ở kỳ điều chỉnh tháng trước giảm thì tháng này điều chỉnh tăng. Hai nhóm hàng hóa ổn định giá không thay đổi so với tháng trước là Bưu chính viễn thông và Thuốc, dịch vụ y tế. Bên cạnh các nhóm hàng tăng, trong tháng có 2 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước là nhóm hàng văn hóa, giải trí và du lịch có biến động giảm so tháng trước do giá một số mẫu mã tivi được các điểm bán lẻ giảm giá nhằm giảm hàng tồn kho do nhu cầu tiêu dùng tiếp tục đạt thấp; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm nhẹ so tháng trước, nhưng so cùng tháng năm trước đang ở mức tăng 3,22%. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 7/2023: Thứ nhất, yếu tố mùa vụ với thời tiết nắng nóng tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng. Thứ hai, giá nhiên liệu xăng dầu bình quân chung trong tháng qua các kỳ điều chỉnh đang có xu hướng giảm nhưng mức giảm mới chỉ tác động trực tiếp đến nhóm nhiên liệu, chưa có nhiều ảnh hưởng đến các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác. Thứ ba, mức lương cơ bản được điều chỉnh tăng, tác động đến giá dịch vụ bảo hiểm y tế. Tính chung 7 tháng năm 2023 chỉ số giá bình quân tăng 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,5%; nông thôn tăng 1,77%. Tăng rõ nét nhất là nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 4,69%) do thị trường xây dựng hoạt động mạnh trong thời gian qua, mặc dù giá vật liệu đang có dấu hiệu hạ nhiệt nhưng tính chung bình quân 7 tháng vẫn đang ở mức giá cao, giá điện, nước sinh hoạt ở mức cao do lượng tiêu thụ trong mùa nắng nóng lớn. Đối với nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,89% do hiện tại giá gạo vẫn đang ở mức cao khi nhu cầu của thị trường xuất khẩu đang lớn và mặt hàng văn hóa, giải trí và du lịch cũng tăng ở mức cao do nhu cầu và giá các loại dịch vụ giải trí, du lịch tăng trong mùa cao điểm du lịch. Chỉ có 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm, giảm mạnh nhất ở nhóm giao thông (giảm 4,11%) còn nhóm bưu chính chuyển phát giảm nhẹ 0,67% nguyên nhân chủ yếu do giá xăng, dầu nhiện liệu đã có xu hướng hạ nhiệt hơn. Thị trường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay các mặt hàng, dịch vụ có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện, nước sinh hoạt, dịch vụ cho thuê nhà ở. Những yếu tố mùa vụ, tình hình khó khăn tại các khu kinh tế lớn trong nước và thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu, điện sinh hoạt. Việc điều chỉnh lương tối thiểu trước mắt chỉ tác động đến nhóm bảo hiểm y tế, chưa tác động đến các nhóm hàng hóa dịch vụ khác. Chỉ số giá vàng tháng 7/2023 hạ nhiệt hơn khi giảm 1,08% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng 4,36%; giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.550 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,51% so với tháng trước và giảm 2,08% so với cùng tháng năm trước; giá đô la Mỹ bình quân 2.360.485 đồng/100 USD. Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dự kiến trong tháng 8/2023 dự kiến tiếp tục tăng. Giá thịt lợn đang tăng trở lại và dự báo tiếp tục tăng trong tháng tới. Giá đồ dùng học tập, văn phòng phẩm, hàng may mặc tăng trong thời điểm cận kề năm học mới. Trong khi thói quen hạn chế mua sắm tài sản lớn trong tháng 7 âm lịch có thể khiến nhu cầu và giá cả nhóm đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, điện, nước vật liệu xây dựng cũng sẽ hạ nhiệt hơn. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Giáo dục Trong tháng này, chủ yếu tập trung cho kỳ thi THPT năm 2023. Trong tổng số thí sinh đăng ký dự thi năm nay, có 14.175 thí sinh hệ THPT và 3.074 thí sinh hệ giáo dục thường xuyên. Số thí sinh đăng ký dự thi chỉ để xét tốt nghiệp là 2.608; thí sinh đăng ký dự thi để xét tốt nghiệp và lấy kết quả tuyển sinh đại học, cao đẳng là 14.146; có 495 thí sinh đăng ký dự thi chỉ để xét tuyển sinh đại học, cao đẳng. Toàn tỉnh có 35 điểm thi, với 751 phòng thi chính thức, 106 phòng chờ; mỗi điểm thi bố trí ít nhất 01 phòng thi dự phòng để tổ chức thi cho đối tượng thí sinh sốt, ho… cùng với hơn 2.700 cán bộ giáo viên, nhân viên, các lực lượng công an, y tế, bảo vệ… làm nhiệm vụ tại các điểm thi. Các trường THPT nơi được lựa chọn làm hội đồng thi đã chủ động chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, phương án đảm bảo an ninh trật tự, an toàn và nghiêm túc, vấn đề đảm bảo sức khỏe cho thí sinh được chuẩn bị chu đáo. Vì vậy kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023 đảm bảo mục tiêu: an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, không có giám thị coi thi, thí sinh vi phạm quy chế. 2. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19: Mặc dù hiện nay tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, nhưng ngành Y tế Hà Tĩnh luôn khuyến cáo người dân không chủ quan, lơ là, cần chủ động tiêm vắc-xin phòng COVID-19. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về phòng, chống dịch bệnh; đặc biệt tiếp tục đẩy mạnh thông tin về tiêm vắc xin phòng COVID-19; tổ chức triển khai hiệu quả các chiến dịch truyền thông phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới với thông điệp “2K (khẩu trang, khử khuẩn) + vắc xin + thuốc + điều trị + công nghệ + ý thức người dân và các biện pháp khác”. Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến nay là 59.762 ca mắc, còn tính từ ngày 01/01/2022 đến nay là 58.803 ca mắc. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng 7, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 05 ca sốt xuất huyết, 01 ca sốt rét, 02 ca viêm não vi rút, 01 ca mắc bệnh quai bị, 03 ca mắc lỵ trực trùng, 07 ca mắc lỵ a míp, 14 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.270 ca mắc bệnh cúm, 203 ca tiêu chảy, 07 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 7 tháng năm 2023, trên địa bàn cũng chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 31 ca sốt xuất huyết (tăng 11 ca so với cùng kỳ năm trước), 4 ca sốt rét (tăng 3 ca), 2 ca viêm não vi rút (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 102 ca mắc bệnh quai bị (tăng 29 ca), 169 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 37 ca), 164 ca mắc lỵ a míp (giảm 25 ca), 164 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 42 ca), 8.522 ca mắc bệnh cúm (giảm 411 ca), 9 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 124 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước có 11 ca), 1.542 ca tiêu chảy (tăng 73 ca), 54 ca viêm gan vi rút khác (tăng 11 ca) và không có người chết do các bệnh trên. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng 7, có 02 người nhiễm mới HIV, 01 người chuyển thành AIDS và 01 người chết vì AIDS; giảm 02 người nhiễm HIV, tăng 01 người chết vì AIDS, số người chuyển thành AIDS không thay đổi so với tháng trước và tăng 02 người nhiễm HIV, 01 người chyển thành AIDS, 01 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2023, có 34 người nhiễm mới HIV, 26 người chuyển thành AIDS và 04 người chết vì AIDS; tăng 22 người nhiễm HIV, 20 người chuyển thành AIDS và 02 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác an toàn thực phẩm: Bảo đảm an toàn thực phẩm, sự phối hợp liên ngành đã được tăng cường và có hiệu quả; các văn bản chỉ đạo điều hành đã được ban hành kịp thời, sát thực tế; các hoạt động được triển khai đồng bộ. Công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn được triển khai đồng bộ và quyết liệt; công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Trong tháng 7, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 114 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc thực phẩm; chỉ tăng 12 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 11,76%) so với tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 22 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 16,18%). Tính chung 7 tháng năm 2023, có 01 vụ ngộ độc tập thể (làm 07 người bị ngộ độc), 554 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (nhưng tăng 03 người bị ngộ độc), tăng 73 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 15,18%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Tổ chức liên hoan dân ca ví, giặm toàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2023 với sự tham gia của hơn 400 nghệ nhân, diễn viên của 13 câu lạc bộ đến từ các địa phương trên toàn tỉnh; được thể hiện dưới nhiều hình thức diễn xướng, tái hiện không gian làng quê, làng nghề, tập quán sinh hoạt các địa phương, vùng miền... Trong đó, tập trung vào chủ đề ca ngợi Đảng, Bác Hồ, tinh thần lao động, tình yêu cuộc sống; ca ngợi truyền thống đấu tranh bảo vệ đất nước; tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua xây dựng quê hương, đất nước, xây dựng nông thôn mới; phản ánh những đặc trưng văn hoá tiêu biểu của quê hương. Tập trung chuẩn bị tốt cho việc tổ chức các hoạt động Kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Đồng Lộc; tưởng niệm 55 năm Ngày hy sinh của 10 nữ Anh hùng liệt sĩ Thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc và kỷ niệm 55 năm Chiến tích làng K130 (13/8/1968 - 13/8/2023), bao gồm 2 nội dung chính: Tuần văn hóa “Linh thiêng Đồng Lộc” và các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Công tác kiểm tra, thanh tra nhằm tập trung quản lý, chấn chỉnh các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, các hoạt động thuộc lĩnh vực Thông tin - truyền thông trên địa bàn tỉnh như chấn chỉnh bảng hiệu, quảng cáo tại các khu du lịch bãi biển....nhằm tạo môi trường cảnh quang văn minh, lịch sự tạo thiện cảm cho du khách khi đến với du lịch Hà Tĩnh. Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Trong tháng 7, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 03 giải, giành 34 huy chương các loại (gồm: 16 HCV, 07 HCB, 11 HCĐ). Cụ thể: tại giải Pencak silat trẻ quốc gia năm 2023 ở Tuyên Quang, giành được 09 huy chương (gồm 02 HCV, 03 HCB, 04 HCĐ); giải vô địch điền kinh các nhóm tuổi trẻ quốc gia năm 2023 tại Bến Tre, giành được 12 huy chương (gồm 06 HCV, 02 HCB, 04 HCĐ); giải vô địch karate quốc gia năm 2023 tại thành phố Nha Trang - Khánh Hòa, giành được 13 huy chương (gồm 08 HCV, 02 HCB, 03 HCĐ). Thể thao quần chúng: Phối hợp tổ chức thành công các giải thể thao quần chúng như: giải Bóng bàn các Câu lạc bộ mở rộng Báo Hà Tĩnh lần thứ IV năm 2023; giải Bóng đá Thiếu niên - Nhi đồng toàn tỉnh năm 2023. 4. Tình hình an toàn giao thông Tình hình tai nạn giao thông (TNGT): Công an trên địa bàn tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, ATGT đường bộ, đường sắt, đường thủy, như: người điều khiển phương tiện vi phạm quy định nồng độ cồn, ma túy, chở quá tải trọng, quá số người quy định; phương tiện kinh doanh vận tải vi phạm quy định về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tụ tập gây rối trật tự công cộng, đua xe trái phép; cương quyết xử lý, trấn áp những đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ. Tính từ ngày 15/6-14/7/2023 xảy ra 20 vụ tai nạn đường bộ, làm 18 người chết, 05 người bị thương, thiệt hại 280 triệu đồng; tăng 01 vụ, 04 người chết, giảm 04 người bị thương so với tháng trước và tăng 13 vụ, 11 người chết, 02 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Tính từ ngày 15/12/2022-14/7/2023 đã xảy ra 107 vụ tai nạn đường bộ, làm 86 người chết, 39 người bị thương, thiệt hại 1.460 triệu đồng; tăng 54 vụ, 40 người chết, 17 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Trong tháng 7, tai nạn đường sắt, đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Môi trường Tình hình cháy, nổ: Tình hình cháy: Từ ngày 15/6-14/7/2023 đã xảy 04 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 95 triệu đồng; số vụ không thay đổi so với tháng trước và giảm 04 vụ so với cùng kỳ năm trước. Tính từ 15/12/2022-14/7/2023 xảy ra 44 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 480 triệu đồng; tăng 19 vụ, giảm 01 người chết, số người bị thương không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Vụ nổ: Từ ngày 15/12/2022-14/7/2023 không xảy ra vụ nổ nào và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/6-14/7/2023 đã phát hiện 18 vụ và đã xử lý 15 vụ, với tổng số tiền xử phạt 151,24 triệu đồng; giảm 10 vụ đã phát hiện, 06 vụ đã xử lý, tăng 103,19 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 16 vụ đã phát hiện, 08 vụ đã xử lý, 11,41 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... phát hiện 18 vụ (chiếm 100%), đã xử lý 12 vụ với số tiền xử phạt 17,99 triệu đồng. Trong 15 vụ vi phạm đã xử lý, có 02 vụ vi phạm về vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải chất rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, có mức xử phạt cao 120,5 triệu đồng, chiếm 79,67% tổng số tiền xử phạt. Tính chung 7 tháng năm 2023 (từ 15/12/2022-14/7/2023) đã phát hiện 436 vụ, xử lý 354 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.360,95 triệu đồng; giảm 106 vụ đã phát hiện (giảm 19,56%), giảm 22 vụ đã xử lý (giảm 5,85%), số tiền xử phạt giảm 114,56 triệu đồng (giảm 7,76%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng (tính từ 19/6-18/7/2023) không xảy ra vụ thiên tai nào, so với tháng trước giảm 01 vụ, 01 người chết và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2023, xảy ra 01 vụ thiên tai, làm 01 người chết; giảm 04 vụ, giảm 01 người chết, giảm 512 ha lúa, 153 ha hoa màu bị thiệt hại, giảm 17 ngôi nhà bị hư hỏng, giá trị thiệt giảm 7.968 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh quý II và 6 tháng đầu năm 2023
  •   26/07/2024 15:59

Năm 2023 là năm giữa nhiệm kỳ, năm bản lề triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, các nghị quyết, chính sách giai đoạn 2021-2025, năm có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm 2021-2025. Trong quý II cũng như 6 tháng vừa qua, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn thách thức. Dịch Covid-19 được kiểm soát, hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi ...tuy nhiên lạm phát toàn cầu mặc dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao; hầu hết các nước vẫn thắt chặt chính sách tiền tệ; sự phục hồi chậm và suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Trong đó, đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tháng 6  và 6 tháng đầu năm 2023 mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng nhìn chung tiếp tục xu hướng phục hồi và đạt những kết quả khả quan. I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1.  Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2023 ước đạt 44.952 tỷ đồng (trong đó tính riêng quí II ước đạt 23.592 tỷ đồng) tăng 3.116 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước, xếp thứ 3/6 tỉnh Bắc trung bộ và xếp thứ 33/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh quí II năm 2023 ước tăng 6,01% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn so với mức tăng trưởng quí I (tăng 3,95%). Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,28%, đóng góp 9,99 % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 6,52%, đóng góp 39,19 %; khu vực Dịch vụ tăng 6,88% đóng góp 41,77 %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 5,98%, đóng góp 9,05 %. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 2023 theo giá so sánh ước tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,81%, đóng góp 8,14 % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 4,19%, đóng góp 32,46 %; khu vực Dịch vụ tăng 6,82% đóng góp 49,59 %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 4,87%, đóng góp 9,81 %. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi cả về năng suất và sản lượng ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Hoạt động chăn nuôi phục hồi, sản xuất lâm nghiệp, thủy sản vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 6 tháng đầu năm 2023, ngành nông nghiệp tăng 2,45%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 4,86% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,44%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm. Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2023, hoạt động sản xuất tiếp tục gặp khó khăn, sản xuất một số doanh nghiệp chủ lực sụt giảm. Tăng trưởng toàn ngành ước đạt 1,41%, đóng góp 0,44 điểm % vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,13%, làm giảm 0,03 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 8,61%, làm giảm 0,02% điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 24,64%, làm giảm 0,14%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,11%, đóng góp 0,64 điểm phần trăm. Riêng ngành xây dựng tăng 15,64%, đóng góp 1,19 điểm phần trăm, đây là mức tăng trưởng cao nhất của ngành này kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Nguyên nhân hiện nay trên địa bàn tỉnh nhiều công trình, dự án lớn đang được đây nhanh tiến độ thi công. Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2023 thể hiện rõ sự phục hồi so với cùng kỳ năm trướcnhờ hiệu quả của các chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa, chính sách mở cửa nền kinh tế sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn tỉnh như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 9,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,68 điểm phần trăm; ngành vận tải kho bãi tăng 11,18%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 14,77%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,46%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; riêng ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 5,37%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm do dịch Covid-19 đã được kiểm soát nên chi cho phòng, chống dịch bệnh giảm so với cùng kỳ năm 2022. Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2023 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 15,64%, giảm 0,1 điểm % so với cùng kỳ năm 2022; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 36,58%, giảm 1,37 điểm % (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 28,35%, giảm 2,18 điểm %; ngành xây dựng chiếm 8,23%, tăng 0,81 điểm %); khu vực Dịch vụ chiếm 37,89%; tăng 1,42 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,89%, tăng 0,05 điểm % so với cùng kỳ năm trước.\ 2.Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2023 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, kết quả thu hoạch vụ Đông - Xuân thắng lợi cả về năng suất và sản lượng, cây lúa đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hoạt động lâm nghiệp vẫn tiếp tục triển khai trồng rừng tập trung và khai thác gỗ từ rừng trồng, tuy nhiên, thời điểm tháng 5,6 cuối vụ điều kiện thời tiết nắng nóng nên diện tích trồng rừng tập trung giảm hơn so với tháng trước nhưng vẫn ở mức tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động thủy sản có nhiều khởi sắc khi ngành du lịch hoạt động sôi động trở lại, nhu cầu về thủy hải sản tăng cao nên khuyến khích người dân ra khơi bám biển. 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt *Cây hàng năm Tháng 6/2023, toàn tỉnh đang tập trung sản xuất gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2023. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, hoạt động trồng trọt chủ yếu là chăm sóc và thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông Xuân 2022-2023 với kết quả toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm sơ bộ đạt 98.853 ha, bằng 99,59% (giảm 404 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 412.768 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 107,69% (tăng 29.488 tấn). Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: Diện tích lúa sơ bộ đạt 59.394 ha, giảm 419 ha, năng suất lúa sơ bộ đạt 59,85 tạ/ha, tăng 3,98 tạ/ha, sản lượng lúa 355.467 tấn, tăng 21.901 tấn so với cùng kỳ năm trước; diện tích lạc sơ bộ đạt 7.585 ha, giảm 1.241 ha, sản lượng lạc sơ bộ đạt 20.886 tấn giảm 631 tấn so với cùng kỳ; diện tích ngô sơ bộ đạt 11.934 ha, tăng 1.222 ha, sản lượng ngô sơ bộ đạt 57.300 tấn, tăng 7.586 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm này dù có một số loại cây trồng giảm sản lượng do giảm diện tích gieo trồng như lạc, khoai lang... bù lại là năm cây lúa thắng lợi về năng suất và sản lượng, đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay. Đạt được kết quả đó là nhờ sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch sản xuất sát đúng với tình hình thực tiễn, cùng với việc bà con tuân thủ theo lịch thời vụ; quá trình sinh trưởng, phát triển trong điều kiện thời tiết thuận ngay từ đầu vụ đến giai đoạn lúa trỗ, mặc dù gặp thời tiết mưa nắng đan xen, chênh lệch nhiệt độ lớn thuận lợi cho bệnh đạo ôn cổ bông gây hại, song nhờ quyết liệt trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn phun phòng nên đồng ruộng không phát sinh ổ dịch. Bên cạnh đó, vụ Đông Xuân năm nay nhiều giống lúa mới năng suất, chất lượng được đưa vào sản xuất (Năm nay, một số giống lúa chất lượng gạo ngon như giống BT09, BQ, Thiên ưu 8, ADI, Bắc Hương 9 đã được một số huyện đưa vào cơ cấu giống chủ lực cho người dân gieo cấy) cùng với hiệu quả của các cánh đồng mẫu lớn cũng đã góp phần vào nâng cao năng suất, chất lượng lúa. Tiến độ sản xuất vụ Hè Thu năm 2023: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2023 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2023. Tính đến ngày 14/6/2023, ước tính toàn tỉnh gieo cấy được 44.429 ha lúa vụ Hè Thu bằng 99,78% (giảm 97 ha) so với cùng kỳ năm trước, đạt 98,97% kế hoạch, có 9/13 huyện, thị xã đã hoàn thành kế hoạch gieo cấy. Với nhiệm vụ, giải pháp chống hạn cho các loại cây trồng vụ Hè Thu trong điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hạn xảy ra: huy động tối đa mọi nguồn lực để tổ chức rà soát nguồn nước tại các hồ đập, bằng các giải pháp tập trung cấp đủ nước tưới cho lúa, cây trồng cạn kịp thời với phương châm tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến của các dịch bệnh gây hại trên cây trồng. *Cây lâu năm Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2023 ước đạt 31.545 ha, bằng 99,44% giảm 179 ha so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.347 ha, bằng 99,35%, giảm 127 ha. Diện tích một số loại cây có biến động mạnh như cây cam giảm 301 ha, bưởi tăng 198 ha, còn lại các cây khác biến động không đáng kể. Nguyên nhân do thời gian qua thực hiện chủ trương chuyển đổi lại cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả kinh tế, xác định cây ăn quả có múi (cam, bưởi) là cây trồng chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao cho những vùng miền núi phía tây tỉnh Hà Tĩnh, nên người dân đầu tư phát triển ồ ạt. Nhưng hiện nay cho chi phí đầu tư quá lớn, giá cả phân bón, ngày công tăng mạnh, thiên tai, sâu bệnh, trong khi đó sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ, bị tư thương ép giá (nhất là ở cây cam) nên nhiều hộ dân đã dần chuyển hướng sang trồng các loại cây khác. Các loại cây công nghiệp lâu năm khác có biến động không đáng kể, cụ thể: diện tích cây cao su ước đạt 8.461 ha, bằng 99,96%, giảm 3 ha so với cùng kỳ năm 2022. Diện tích chè búp ước đạt 1.258 ha, tăng 16 ha, diện tích trồng chè búp đang ngày một tăng lên, mở rộng thêm do cây trồng này phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, sản phẩm dễ tiêu thụ, có lợi nhuận. 6 tháng đầu năm 2023, sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.668 tấn, bằng 100,66% tăng 228 tấn so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: sản lượng các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới ước đạt 20.335 tấn, bằng 101,20%, tăng 241 tấn, do điều kiện thời tiết thuận lợi, mặt khác không ngừng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, công tác chọn giống từng bước được coi trọng nên các loại cây ăn quả cho năng suất cao, đặc biệt sản lượng tăng chuối tăng 115 tấn, ổi tăng 113 tấn, mít tăng 68 tấn...; sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.847 tấn, bằng 99,84%, giảm 22 tấn do giảm diện tích trồng cây. Sản lượng cao su ước đạt 1.291tấn, bằng 103,53%, tăng 44 tấn; sản lượng chè búp ước đạt 5.684 tấn, tăng 98 tấn…. Nguyên nhân do thời tiết khá thuận lợi sản lượng tăng khá, giá bán ổn định hơn so với những năm trước. *Tình hình sâu bệnh, thiên tai: Hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2023 mới được gieo trồng, chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Đối với cây ăn quả thì Sâu vẽ bùa, sâu nhớt 70 ha; Sâu đục thân, đục cành 25 ha; nhện nhỏ 35 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…các đối tượng như rệp muội, bọ xít, gây hại rải rác trên những vườn hộ lâu năm. b. Chăn nuôi Sản xuất chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2023 ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn lợn và đàn gia cầm tăng nhẹ, sản lượng xuất chuồng các loại gia súc và gia cầm đều tăng. Tuy nhiên, do giá bán thịt hơi trâu, bò giảm mạnh nên người dân không mở rộng quy mô chăn nuôi đã làm cho tổng đàn trâu, bò đang có xu thế giảm so với cùng kỳ năm trước. Việc cung ứng các sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, nhất là nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào, giá cả ổn định, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, trong khi giá bán sản phẩm không tăng nhưng giá thức ăn và các chi phí chăn nuôi đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian qua cũng như thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi, Dịch Lở mồm long móng gia súc phát sinh với mức độ cục bộ, nhỏ lẻ, được khoanh vùng, khống chế ở diện hẹp. (Viêm da nổi cụcxảy ra tại 30 hộ chăn nuôi của 06 xã, phường thuộc huyện Thạch Hà, Thị xã Hồng Lĩnh và Thành phố Hà Tĩnh, làm cho 35 con bò mắc bệnh, trong đó có 04 con bị chết, tiêu hủy, khối lượng 324 kg; Lở mồm long móng: xảy ra tại 09 hộ chăn nuôi của 02 xã, phường thuộc huyện Kỳ Anh và Thị xã Kỳ Anh, làm cho 22 con trâu bò mắc bệnh; Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 13 hộ chăn nuôi của 02 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên và Đức Thọ, làm cho 65 con lợn mắc bệnh, tiêu hủy với khối lượng 1.789 kg. Đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc, gia cầm.  Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đạt tỷ lệ thấp so với kế hoạch đề ra, nhất là công tác tiêm phòng cho đàn trâu, bò, cụ thể kết quả tiêm phòng đợt I năm 2023 tính đến ngày 12/6/2023: Tiêm phòng lở mồm long móng cho đàn trâu, bò 3.783 liều và chỉ đạt 2,9% kế hoạch; bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đạt 3.015 liều, chỉ đạt 2,3% kế hoạch; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò đạt 70.428 liều, đạt 61,0% kế hoạch; dịch tả lợn 231.830 liều, đạt gần 82% kế hoạch; tụ huyết trùng lợn 231.539 liều, đạt 81,9% kế hoạch; tiêm phòng dại cho chó 80.062 con, đạt 76% kế hoạch. Đến ngày 19/6/2023 Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh đã cung ứng 60.575 liều vắc xin lở mồm long móng và 35.475 liều vắc xin tụ huyết trùng để tiêm phòng bổ sung cho đàn trâu, bò. Nhưng việc triển khai tiêm phòng chậm một phần cũng do kinh phí mua vắc xin lở mồm long móng trên trâu, bò do ngân sách Nhà nước hỗ trợ, phải trải qua quá trình đấu thầu nên thời gian phân bổ, tổ chức tiêm phòng bổ sung muộn hơn so với kế hoạch; vắc-xin phòng dại trên chó thiếu nguồn cung thương mại trên toàn quốc nên làm chậm tiến độ theo kế hoạch đề ra. Nhiều địa phương có tâm lý chờ vắc xin lở mồm long móng rồi mới tổ chức tiêm cho tất cả các loại bệnh một lần. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi toàn tỉnh trong thời gian tới. 2.2. Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng 6/2023 vẫn tiếp tục triển khai trồng rừng tập trung và khai thác gỗ từ rừng trồng. Tuy nhiên, do cuối vụ và điều kiện thời tiết nắng nóng nên diện tích trồng rừng tập trung giảm mạnh so với tháng trước (giảm 250 ha), nhưng vẫn tăng hơn so với cùng kỳ năm trước (tăng 36 ha); sản lượng gỗ khai thác trong tháng 6/2023 tăng 8.008 m3 so với tháng trước và tăng 1.408 m3 so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, diện tích rừng tập trung và sản lượng gỗ khai thác đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do sản lượng gỗ phụ thuộc vào chu kỳ khai thác rừng trồng và hoạt động trồng rừng tập trung cũng chủ yếu là rừng sản xuất nên sau khi khai thác sẽ có quỹ đất để tiếp tục trồng mới. Còn đối với trồng cây phân tán và khai thác củi thì do quỹ đất trồng cây ngày càng thu hẹp và nhu cầu sử dụng củi làm chất đốt giảm nên số lượng cây trồng phân tán và sản lượng củi khai thác giảm. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra một vụ cháy rừng ở huyện Lộc Hà với diện tích bị cháy là hơn 0,79 ha. Bên cạnh đó đã có xảy ra 45 vụ phá rừng (giảm 7 vụ), với diện tích rừng bị phá là 15,12 ha (giảm 9,26 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 2.3. Thủy sản Tháng 6 cũng như 6 tháng đầu năm 2023, hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định, sản lượng khai thác và nuôi trồng đều tăng. Nghề khai thác thủy sản ngày càng khẳng định được vai trò trong việc tạo làm cho ngư dân, tạo sản phẩm hàng hóa lớn có giá trị xuất khẩu và góp phần giữ vững an ninh trật tự chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Nghề khai thác chủ yếu của các đội tàu là lưới rê, câu, vó, mành, vây, lồng bẫy, chụp mực… tại các vùng biển đăng ký hoạt động. Nhiều tàu thuyền đánh bắt ở ngư trường vùng lộng, gần bờ đều cho thu nhập khá, mỗi chuyến biển có thể thu hàng chục triệu đồng. Ngoài ra, rất nhiều tàu thuyền trúng đậm sò lông và các loại nhuyễn thể, mang lại nguồn lợi kinh tế lớn cho ngư dân. Đây là những tín hiệu tích cực để khuyến khích ngư dân tăng cường khai thác hải sản trong thời gian tới. Đồng thời, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản.Thực hiện tốt công tác đăng ký, đăng kiểm tàu cá và các phương án đảm bảo an toàn cho người, tàu cá hoạt động trên biển để ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.  Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, đối với tôm nuôi bệnh đốm trắng xảy ra với diện tích 32,19 ha tại 07 xã, thuộc 05 huyện; Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xẩy ra tại xã Yên Hòa, huyện Cẩm Xuyên với diện tích 2,5 ha và bệnh Vi bào tử trùng (EHP) xẩy ra tại xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà với diện tích 0,32 ha. Khi bệnh xảy ra, các ngành chức năng đã cùng với người nuôi tôm xác định tác nhân gây bệnh, tiến hành dập dịch nhằm không để dịch bệnh lây lan, đến nay các loại dịch bệnh trên thủy sản đã qua 15 ngày. 3. Sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2023 tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới, nhu cầu thị trường chưa phục hồi nên đã ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Đặc biệt một số ngành mũi nhọn của địa phương vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do giá cả nguyên liệu đầu vào, thị trường tiêu thụ và sự cố hỏng tua bin máy phát của Tổ máy số 1 của nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I từ năm 2021 đến nay vẫn chưa được khắc phục. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2023 dự ước giảm 0,61% so với cùng kỳ năm trước. 3.1 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP). Ước tính tháng 6/2023, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 5/2023 tăng 0,88%, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,79%. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,36% so với tháng trước và tăng 18,17% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,83% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,47%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,64% so tháng trước và tăng 7,26% so cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,43% so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước ngành này giảm 7,83%. Quí II năm 2023 hoạt động sản xuất công nghiệp lấy lại được đà tăng trưởng so với quí trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp quí II ước tăng 0,21%, cao hơn so với quí I/2023 (giảm 1,49%). Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,9%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,47%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,98%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn đang gặp khó khăn khi có 3/4 nhóm ngành công nghiệp cấp 1 có chỉ số giảm so với cùng kỳ, lượng thép tồn kho vẫn ở mức cao (trên 300 ngàn tấn) do thị trường tiêu thụ thiếu ổn định; tổ máy số 1 của nhà máy nhiệt điện I đến nay vẫn chưa hoạt động trở lại, lượng Bia SX vẫn chưa đạt công suất thiết kế đã làm giảm điểm % tăng trưởng chung toàn ngành. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính giảm 0,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,74%, làm giảm 0,04 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,72% làm giảm 1,17 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,38%, làm tăng 1,06 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,83%, làm giảm 0,16 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. 3.2 Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớn Trong 18 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 03 nhóm ngành có chỉ số sản xuất cộng dồn 6 tháng đầu năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước: ngành khai khoáng khác tăng 1,12%, ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 7,04%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,38%. Bên cạnh một số ngành có chỉ số sản xuất (IIP) tăng thì vẫn còn nhiều ngành có chỉ số giảm như: Ngành khai khoáng quặng kim loại giảm 51,28%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 2,92%; sản xuất đồ uống giảm 1,27%; ngành dệt giảm 2,99%; sản xuất trang phục giảm 9,07%; chế biến gỗ giảm 9,34%; sản xuất giấy giảm 3,84%; in ấn giảm 5,62%; sản xuất than cốc giảm 9,43%, sản xuất thuốc, hóa dược liệu giảm 9,2%; sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 7,33%, cung cấp nước giảm 7,83%. 3.3 Chỉ số tiêu thụ, tồn kho, tình hình sử dụng lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 6/2023 tăng 2,82% so với tháng trước và tăng 32,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu 2023, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,1% so với cùng kỳ. Như vậy, tính chung 6 tháng đầu năm 2023, nhu cầu tiêu thu sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gặp khó khăn hơn so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Ước tính tháng 6/2023 tăng 30,22% so với tháng trước và tăng 35,77% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho từ ngành sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm tăng 160,89%, sản xuất bia tồn kho tăng 149,05%, cưa xẻ gỗ tăng 56,77%, than cốc tăng 38,12%, kim loại đúc sẵn tăng 32,35%...do nguồn tiêu thụ giảm nên chỉ số hàng tồn kho tăng so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, một số sản phẩm có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ như: chế biến thủy sản giảm 9,99%, sản xuất giấy giảm 55,64%, sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 65,41%... Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng 6/2023 tương đối ổn định, không có sự thay đổi nhiều so với tháng trước. Lao động của toàn ngành công nghiệp tháng 6/2023 tăng 0,12% so với tháng 5/2023, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước giảm 7,55% và cộng dồn 6 tháng đầu năm giảm 7,74%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 6 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do lao động ngành khai khoáng, lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất phân phối điện. 4. Tình hình thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp 4.1 Thu hút đầu tư Tính từ đầu năm đến nay Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 10 dự án đầu tư trong nước với tổng mức gần 1.254 tỷ đồng, số dự án tương đương nhưng số vốn bằng 42% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt trong tháng 5/2023 vừa qua, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh và xúc tiến đầu tư với sự tham gia của gần 800 đại biểu, doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước; trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho 15 dự án với tổng vốn hơn 9.600 tỷ đồng, ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư 36 dự án với quy mô gần 220.000 tỷ đồng. Tiếp tục kết nối, làm việc, xúc tiến đầu tư với các tập đoàn lớn trong phát triển hạ tầng khu công nghiệp, du lịch, thể thao, giáo dục, chuyển đổi số như VSIP, Silk Path, FPT, Sun Group. 4.2. Tình hình đăng ký kinh doanh Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 22/11/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đến năm 2025 và những năm tiếp theo. Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Tuy nhiên do hệ lủy tác động từ dịch Covitd-19 cùng với đó là sự tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, lãi suất ngân hàng tăng cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp..vv. Vì vậy số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn không đạt như kỳ vọng. Cụ thể, tính đến ngày 15/6/2023 toàn tỉnh có 554 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký gần 2.200 tỷ đồng, giảm 14% số lượng và 57% số vốn; 223 doanh nghiệp hoạt động trở lại, giảm 9%; 101 doanh nghiệp giải thể, tăng 51%; 379 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 23%; doanh nghiệp kê khai phát sinh thuế đạt dưới 40%. 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Qua khảo sát các doanh nghiệp cho thấy bước sang quý III củng như 6 tháng cuối năm 2023, các doanh nghiệp nhận định sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng lên và ổn định sản xuất hơn. Cụ thể: *Nhận định quý III so với quý II Các doanh nghiệp dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2023 tăng hơn so quý II/2023 khi có 34,88% doanh nghiệp nhận định SXKD quý III sẽ tốt hơn và 37,21% giữ ổn định so với quý II; 27,91% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. Quý III/2023 có tới 41,86% doanh nghiệp dự báo tăng khối lượng sản xuất, 32,56% dự báo giữ nguyên và chỉ có 16,28% số doanh nghiệp nhận định giảm khối lượng sản xuất. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ thuận lợi và doanh nghiệp cố gắng duy trì số lượng đơn đặt hàng như quý trước (75% nhận định tăng lên và giữ nguyên như quý II); chỉ có 25% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu giảm hơn so với quý II/2023. Tỷ trọng số doanh nghiệp nhận định lượng tồn kho thành phẩm tăng lên đã giảm xuống còn 16,28%. Trong khi có 51,16% doanh nghiệp dự báo vẫn giữ nguyên như cũ và 32,56% doanh nghiệp nhận định số lượng tồn kho thành phẩm sẽ giảm đi so với quý II/2023. Dự báo có 83,72% doanh nghiệp khẳng định giữ ổn định số lao động, bên cạnh đó có 9,3% số doanh nghiệp dự kiến tăng số lao động và 6,98% doanh nghiệp dự kiến giảm số lao động. *Dự báo 6 tháng cuối năm 2023 Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo 6 tháng tiếp theo có xu hướng tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (41,86% doanh nghiệp); tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên là 34,88% và có 23,26% doanh nghiệp cho rằng 6 tháng tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo 6 tháng tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (41,46%). Trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 24,39%. Tương tự số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và giữ nguyên trong 6 tháng tiếp theo chiếm tỷ lệ cao (76,47%). Với tình hình thực tế hiện nay, các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động 6 tháng tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong 6 tháng tiếp theo chiếm đến 69,77%, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 20,93% và có 9,3% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động. 5. Thương mại, dịch vụ 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Nửa đầu năm 2023, tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới tiếp tục gặp khó khăn, bên cạnh yếu tố thất thường của thời tiết thì giá các mặt hàng thiết yếu như điện, xăng dầu đều đang có xu hướng tăng. Tuy nhiên, nhờ những giải pháp kích cầu du lịch cũng như thực hiện chính sách thuế, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất hợp lý của địa phương. Vì vậy, các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn tỉnh vẫn hoạt động ổn định và đạt doanh thu cao, đảm bảo bảo phục hồi phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Dự ước tháng 6/2023 đạt 4.969,13 tỷ đồng, tăng 3,18% so với tháng trước và tăng 11,71% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành có doanh thu biến động tăng mạnh so với cùng kỳ như: Vật phẩm văn hóa giáo dục dù giảm hơn so với tháng trước 8,77% nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng 86,78%, nguyên nhân do đang trong thời gian nghỉ hè nên nhu cầu nhóm hàng này giảm xuống, tuy nhiên do giá mặt hàng nhóm này đang ở mức cao nên so cùng kỳ vẫn tăng mạnh; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,05% so với tháng trước, tăng 39,27% so với cùng kỳ năm trước do việc các gói vay ưu đãi dành cho hoạt động xây dựng nhà ở, cộng với việc thời tiết phù hợp cho việc xây dựng. Bên cạnh đó, giá vật liệu xây dựng đang ở mức cao khiến tổng doanh thu nhóm vật liệu xây dựng tăng; Xăng, dầu các loại tăng 1,73% so với tháng trước, tăng 35,17% so với cùng kỳ năm trước, việc giá xăng, dầu ở mức cao và được điều chỉnh tăng qua các kỳ điều chỉnh gần nhất là yếu tố chính tác động khiến doanh thu bán lẻ nhóm hàng này tăng. Bên cạnh những nhóm hàng có doanh thu tăng mạnh, thì có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm khá sâu đó là nhóm ô tô con và nhóm phương tiện đi lại khác, do đây là các mặt hàng có giá trị lớn người tiêu dùng hạn chế việc tiêu dùng ở các nhóm hàng này. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 28.542,29 tỷ đồng, tăng 18,04% so với cùng kỳ năm trước. Việc tổng mức bán lẽ tăng cao trong 6 tháng qua là do dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát, ảnh hưởng của dịch đến nền kinh tế hạn chế. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Sự suy thoái chung của tình hình kinh tế thế giới và kinh tế trong nước khó khăn. Lãi suất tín dụng ở mức cao, một lượng lớn vốn tín dụng đang bị mắc kẹt tại thị trường bất động sản trong khi vốn sản xuất kinh doanh gặp khó khăn. Bên cạnh đó, hoạt động bán lẻ truyền thống của các đơn vị trong tỉnh đang phải cạnh tranh khốc liệt với các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện tích, hệ thống siêu thị mini và hình thức bán lẻ hàng trực tuyến; chuỗi cung ứng hàng hóa còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc dẫn đến nguồn cung một số hàng hóa hạn chế do tình hình nhập khẩu gặp khó khăn khiến giá bán lẻ tăng cao. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Hoạt động lưu trú, ăn uống, du lịch đạt được nhiều thành tựu, tăng trưởng ổn định nhờ những chính sách phát triển đúng đắn của chính quyền địa phương với những hoạt động kích cầu du lịch như tổ chức các lễ hội, các hoạt động khai trương mùa du lịch biển tại hầu hết các địa phương có biển. Ước tháng 6/2023 doanh thu dự tính đạt 718,08 tỷ đồng, tăng 8,94% so với tháng trước, tăng 29,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 42,68 tỷ đồng, tăng 63,63% so với tháng trước, tăng 58,28% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 669,95 tỷ đồng, tăng 6,67% so với tháng trước, tăng 28,32% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 5,46 tỷ đồng, tăng 8,36% so với tháng trước tăng 34,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.567,25 tỷ đồng, tăng 26,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: L­ưu trú ước đạt 147,93 tỷ đồng, tăng 31,76% với lượt khách phục vụ 884.511 lượt, tăng 21,62%; ngày khách phục vụ 736.021 ngày, tăng 23,70% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 3.395,65 tỷ đồng, tăng 25,26%; du lịch lữ hành ước đạt 23,67 tỷ đồng, tăng 191,93% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh, các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Hiện nay đang là thời điểm mùa du lịch Hà Tĩnh đặc biệt là du lịch biển với những bãi biển đẹp như Thiên Cầm, Thạch Hải, Xuân Hải, Xuân Thành…, lượng khách đến các bãi biển, khu nghỉ dưỡng bắt đầu tăng mạnh so với các tháng đầu năm. Ngoài số lượng khách nội tỉnh, khách du lịch ngoại tỉnh đến với Hà Tĩnh cũng bắt đầu tăng lại như thời điểm trước dịch. Cùng với đó là sự thuận lợi về đường giao thông, phương tiện đi lại; chất lượng của các cơ sở lưu trú ngày càng được chú trọng, đó là những yếu tố khiến cho doanh thu lưu trú trong tháng tăng cao so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước Dịch vụ khác: Các hoạt động dịch vụ như chăm sóc da, làm đẹp, cắt tóc, gội đầu; dịch vụ dọn vệ sinh nhà cửa đã khôi phục và trở lại trạng thái bình thường như thời điểm trước dịch, chưa kể việc chi phí tăng khiến giá các mặt hàng khác tăng kéo theo doanh thu nhóm này tăng. Cùng với đó là hoạt động xây dựng đang có nhiều khởi sắc, kéo theo là sự phát triển của dịch vụ san lấp mặt bằng, cho thuê máy móc, vệ sinh công trình…Doanh thu dịch vụ khác tháng 6/2023 ước đạt 348,53 tỷ đồng tăng 1,51% so với tháng trước và tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 2.128,56 tỷ đồng, tăng 20,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ có nhóm Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội là giảm so với cùng kỳ và giảm 5,81%. Còn lại các nhóm hàng khác đều có doanh thu tăng, cụ thể: Kinh doanh bất động sản tăng 18,50%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 38,66%; giáo dục đào tạo tăng 10,17%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 20,55%; dịch vụ khác tăng 7,95% so với cùng kỳ năm trước. 5.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm 2023 có doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông công cộng và taxi để đi lại của người dân tăng lên, cùng với nhu cầu và lượng khách du lịch tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị từ hoạt động vận tải hành khách. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa cũng tăng mạnh do trên địa bàn tỉnh đang đẩy nhanh thi công những công trình trọng điểm như cao tốc Bắc Nam, nhà máy Nhiệt điện 2,… nên các doanh nghiệp, cơ sở vận tải hàng hóa, cho thuê máy móc đạt doanh thu cao. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 6/2023 doanh thu ước đạt 615,24 tỷ đồng, tăng 1,30% so tháng trước và tăng 15,15% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách doanh thu ước đạt 88,20 tỷ đồng, tăng 4,64% so với tháng trước và tăng 26,45% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 396,27 tỷ đồng, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 13,93% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 113,89 tỷ đồng, giảm 1,34% so với tháng trước và giảm 1,58% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu do những nguyên nhân sau: (1) Do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng phương tiện công cộng tăng, cùng với đó địa phương đang thực hiện gắt gao việc giám sát nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông nên nhu cầu sử dụng dịch vụ taxi, cho thuê xe có người lái tăng. Cũng là tháng trùng với thời điểm nghỉ hè và mùa du lịch nên lượng khách đi lại nội, ngoại tỉnh tăng cao. (2)Do thời tiết thuận lợi cho các công trình xây dựng, san lấp mặt bằng thực hiện thi công nên nhu cầu sử dụng phương tiện vận tải hàng hóa tăng. Nhu cầu xây dựng, sửa sang nhà cửa trong nhân dân tăng cùng với việc đẩy mạnh công tác chỉnh trang đô thị, nhiều dự án đang được triển khai đầu tư nên nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 3.388,7 tỷ đồng, tăng 12,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 492,65 tỷ đồng, tăng 41,67%; số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6.103,4 nghìn HK, tăng 49,90% và luân chuyển đạt 1.163,6 triệu HK.km, tăng 67,85% so với cũng kỳ năm trước; Vận tải hàng hóa ước đạt 2.206,25 tỷ đồng, tăng 11,57%; khối lượng vận chuyển ước đạt 24.244,4 nghìn tấn, tăng 13,33% và luân chuyển ước đạt 745,5 triệu tấn.km, tăng 7,48% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 596,49 tỷ đồng, giảm 12,34% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm 2023 có sự phát triển ổn định, các cơ sở vận tải tuân thủ tải trọng và lượng hành khách trên xe, hạ tầng giao thông cũng được đầu tư xây dựng, rất nhiều tuyến đường được nâng cấp sửa chữa phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa trên địa bàn. Đường cao tốc Bắc Nam cũng đang được tỉnh quan tâm chú trọng thúc đẩy tiến độ. Hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương cùng với hoạt động sản xuất ổn định trở lại của nhà máy Gang thép Formosa là một trong những động lực và là điều kiện lớn thúc đẩy sự phát triển cho dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải, trở thành đầu mối trung chuyển hàng hóa và dịch vụ vận tải, kho bãi của tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên so với cùng kỳ doanh thu vận tải kho bãi giảm mạnh do ảnh hưởng của lượng hàng hóa thông qua cảng Sơn Dương 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2023 gặp nhiều khó khăn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực sụt giảm so với cùng kỳ, thị trường bất động sản chững lại, một số chính sách miễn giảm thuế của Nhà nước làm giảm thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) tính đến ngày 15/6/2023 đạt 6.575,54 tỷ đồng (giảm 35,64% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 4.112,48 tỷ đồng (chiếm 62,54 % trong tổng thu) giảm 8,7% so với cùng kỳ. Một số sắc thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu về nhà đất đạt 611,12 tỷ đồng giảm 60,89%; thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 373,25 tỉ đồng, giảm 26,44%; thu phí, lệ phí đạt 248,65 tỉ đồng giảm 32,04%; thuế thu nhập cá nhân giảm 182,29 tỉ đồng giảm 40,55 %; thuế bảo vệ môi trường đạt 216,62 tỉ đồng giảm 36,06% … Nguyên nhân đạt thấp hơn so với cùng kỳ chủ yếu do thuế bảo vệ môi trường giảm do áp dụng chính sách giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường theo Nghị quyết 30/2022/UBTVQH15 ngày 30/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; sự chững lại của thị trường mua bán, chuyển nhượng bất động sản đã làm cho nguồn thu tiền sử dụng đất, thuế thu nhập cá nhân cũng đạt thấp. Bên cạnh đó từ đầu năm đến nay, ngành Thuế Hà Tĩnh tập trung thực hiện chính sách thuế, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất phục hồi phát triển kinh tế xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ. Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp 6 tháng đầu năm 2023 thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.806,73 tỉ đồng tăng 103,37% so với cùng kỳ năm trước nhờ có khoản thu thêm từ thuế thu nhập doanh nghiệp sau thanh tra. Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu đạt 2.408,31 tỷ đồng (chiếm 50,96% tổng thu) giảm 54,27% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nên hạn chế việc nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào. Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/6/2023 đạt 10.089,49 tỷ đồng tăng 10,47% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 4.683,25 tỷ đồng chiếm 46,42% tổng chi, tăng 18,34% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 5.355,40 tỷ đồng chiếm 53,08% tổng chi, tăng 4,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 1.734,55 tỷ đồng tăng 4,53%; Chi sự nghiệp y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình đạt 406,66 tỉ đồng tăng 0,89%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 1.109,70 tỷ đồng tăng 1,92%. 6.2. Hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2023 tăng trưởng tín dụng trên địa bàn tỉnh ước đạt 6,88% so với cuối năm 2022, mặc dù tăng trưởng tín dụng chưa đạt so với kỳ vọng nhưng đã thể hiện được sự nỗ lực của ngành Ngân hàng Hà Tĩnh trong việc đáp ứng nhu cầu vốn trên địa bàn và góp phần phục hồi kinh tế xã hội, trong bối cảnh trong sức hấp thụ vốn của nền kinh tế thấp. Công tác huy động vốn được các tổ chức tín dụng trên địa bàn đẩy mạnh ngay từ đầu năm. Với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động ước đến đến 30/6/2023 đạt 91.600 tỷ đồng, tăng 8,70% so với cuối năm 2022. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.752 tỷ đồng, chiếm 13,92% tổng nguồn vốn huy động, tăng 8,7% so với cuối năm 2022; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 78.848 tỷ đồng, chiếm 86,08%, tăng 7,27% so với cuối năm 2022. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 68.350 tỷ đồng, tăng 9,93% so với cuối năm 2022; tiền gửi thanh toán đạt 22.205 tỷ đồng, tăng 4,49% so với cuối năm 2022. Dư nợ cho vay ước đến 30/6/2023 đạt 93.200 tỷ đồng, tăng 6,88% so với cuối năm 2022 (cùng kỳ năm trước tăng 13,52%). Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 63.835 tỷ đồng (chiếm 68,49 % tổng dư nợ), tăng 8,5% so với cuối năm 2022; dư nợ trung dài hạn đạt 29.365 tỷ đồng (chiếm 31,51% tổng dư nợ), tăng 3,53% so với cuối năm 2022. Nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn, hiện nay các TCTD trên địa bàn triển khai thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư số 02/2023/TT-NHNN của NHNN Việt Nam. Đây là một chính sách kịp thời, có tác dụng hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp trong thời điểm hiện nay còn đang gặp nhiều khó khăn do tác động của nền kinh tế, cung ứng nguồn hàng, việc tiêu thụ sản phẩm đình trệ. Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên 6 tháng đầu năm 2023 giảm so với cuối năm 2022, trong đó tín dụng đối với cho vay nông nghiệp nông thôn giảm 0,94%; cho vay thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu giảm 12,4%, cho vay công nghiệp hỗ trợ giảm 17,87%. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định điều hành lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,1-5% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,2-7,2%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 5,7-8%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 4,5-10,1%/năm, trung dài hạn phổ biến 10-13,5%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 3,7-4,5%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 6-6,1%/năm. Tính đến 30/6/2023 nợ xấu ước tính 740 tỷ đồng, chiếm 0,79% tổng dư nợ. Hiện nay ngành ngân hàng đang tập trung các giải pháp tháo gỡ nợ xấu đặc biệt đối với 11 chủ tàu cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP. 7. Vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2023, Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 21.310 tỷ đồng, tăng 37,97% so với cùng kỳ năm trước đã phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh trong tỉnh có xu hướng phục hồi mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội sau tác động tiêu cực của nhiều yếu tố trong và ngoài nước, trong đó sự trợ lại lớn của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Những tháng đầu năm 2023, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quí II/2023, ước đạt 12.004,32 tỷ đồng, tăng 28,99% so với quý trước và tăng 38,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 21.310 tỷ đồng, tăng 37,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.087 tỷ đồng, tăng 38,87%; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 9.039 tỷ đồng, giảm 6,14%; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 8.184 tỷ đồng, tăng 184,88%. Thời điểm hiện tại, các hạng mục quan trọng của dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang được tiến hành khẩn trương theo đúng tiến độ đề ra. Ngoài ra, các dự án lớn khác trong quá trình xây dựng như: Nhà máy Sản xuất Pin Lithium (TX Kỳ Anh) đã triển khai mặt bằng; Dự án xây dựng đường cao tốc Đức Thọ - Hàm nghi, Hàm Nghi - Vũng Áng, Vũng Áng - Bùng đã gần hoàn tất công tác kiểm đếm mặt bằng, đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn cũng đang được các nhà thầu tập trung triển khai thực hiện. 8.Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất, nhập khẩu Hà Tĩnh tháng 6 có dấu hiệu chững lại, giảm cả so với tháng trước và so với cùng kỳ. Tuy nhiên tính chung 6 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch vẫn đạt gần 3.123 triệu USD tăng 2,90% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: xuất khẩu tăng 39,07% trong khi nhập khẩu giảm 13,79%. Mặc dù cán cân xuất, nhập khẩu vẫn nhập siêu 456,6 triệu USD nhưng việc chuyển dịch cán cân hợp lý khi tăng xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu, tạo ra nhiều hi vọng thời gian tới Hà Tĩnh sẽ trở thành 1 trong những tỉnh xuất siêu. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 6 ước đạt 258,5 triệu USD, giảm 15,36% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 27,55% so với cùng kỳ năm trước. Duy nhất chỉ có nhóm hàng dệt và may mặc có kim ngạch xuất khẩu tăng so với tháng trước (tăng 22,45%), tuy nhiên do mặt hàng này chiếm tỷ trọng không cao nên không ảnh hưởng nhiều tới tốc độ tăng xuất khẩu. Còn lại tất cả các nhóm hàng đều giảm khá sâu so với tháng trước, trong đó mặt hàng chủ đạo thép, phôi thép đạt gần 242,4 triệu USD giảm 16,62% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ mặt hàng này đã tăng đến 34,05%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt gần 1.333,2 triệu USD, hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều có kim ngạch tăng đóng góp vào mức tăng chung 39,07% của xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 1.235,49 triệu USD (chiếm 92,67%) tăng 44,31%, theo dự báo của Hiệp hội Thép thế giới (WSA) vào cuối tháng 5/2023, nhu cầu thép toàn cầu sẽ bắt đầu phục hồi trong năm 2023 sau khi giảm 3,2% năm 2022. Đông Á và Đông Nam Á sẽ đóng góp phần lớn tăng trưởng nhu cầu năm 2023, bù đắp cho sự suy yếu ở Châu Âu và Hoa Kỳ, đây tiếp tục sẽ là tín hiệu khả quan cho việc xuất khẩu thép trong thời gian tới. Nhưng bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các loại tiếp tục gặp khó khăn từ tình hình thế giới, khiến kim ngạch xuất khẩu giảm 33,55% (tương ứng giảm 2,6 triệu USD) ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển nhóm hàng này trong tương lai. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 6/2023 ước đạt 300,5 triệu USD, giảm 3,79% so với tháng trước và giảm đến 36,70% (tương ứng giảm 174,24 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất (Nhập khẩu từ FHS ước đạt 248,30 triệu USD, giảm 7,65% so với tháng trước và giảm 38,24% tương ứng giảm 153,8 triệu USD so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.789,8 triệu USD, giảm 13,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 1.476,4 triệu USD (chiếm 82,49%) giảm 20,39% so với cùng kỳ năm trước, những tháng tới khả năng Formosa sẽ tăng nhập khẩu nguyên liệu vì theo công bố Hiệp hội Thép thế giới (WSA) giá quặng sắt châu Á, thép phế, cuộn thép.. đều giảm, trong khi nhu cầu thép và giá thép Trung Quốc có thể tăng trở lại khiến việc xuất khẩu có dấu hiệu khả quan hơn. 9.Giá cả, lạm phát Tháng 6 cũng như 6 tháng đầu năm 2023, tình hình giá cả trên thị trường khá ổn định, mức tăng ở mức không đáng kể. Các mặt hàng, dịch vụ có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện nước. Trong khi giá các mặt hàng thiết yếu như điện, xăng dầu đều đang có xu hướng tăng, thì mặt hàng thép xây dựng tiếp tục đà giảm do nhu cầu thép và giá thép thế giới giảm sâu, các mặt hàng lương thực sau khi thu hoạch vụ đông xuân thì giá cả cũng đã ổn định trở lại. Tháng 6 năm 2023, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 0,20% so với tháng trước và tăng 0,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 1,12% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 0,56% so với cùng kỳ năm trước.Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có sự biến động như sau: 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,41% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,63%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,08% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,10%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,45% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 3,40%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,52%; giao thông tăng 0,14% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước giảm 9,96%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 2,11%). 03 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trướcgồm (Hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,52% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 0,06%; thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,03% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,44%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,07% so tháng trước, tăng 5,68% so cùng tháng năm trước) và có 02 nhóm không có biến động về chỉ số so với tháng trước gồm (Giáo dục; bưu chính viễn thông). Một số yếu tố chính tác động đến thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 6/2023 đó là:(1) Ảnh hưởng thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, đồ dùng gia đình, hàng điện máy tăng mạnh. (2) Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng qua các kỳ điều chỉnh gần nhất ảnh hưởng trực tiếp đến giá nhóm hàng này đồng thời cũng gián tiếp tác động vào chí phí trung gian và giá bán lẻ của các mặt hàng khác. (3) Nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán điện, nước càng cao. Bên cạnh đó, giá điện cơ bản được điều chỉnh tăng thêm 3% tác động gộp làm giá điện sinh hoạt biến động mạnh. Giá vàng bình quân trong tháng 6 ở mức 5.610 nghìn đồng/chỉ 9999, giảm 1,59% so với tháng trước, tăng 3,48% so với cùng tháng năm trước; giá đô la mỹ bình quân 2.348.495 đồng/100 USD tăng 0,19% so với tháng trước và giảm 1,50% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực thành thị tăng 1,59%; nông thôn tăng 1,97% so với cùng kỳ năm trước. Nếu phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,11%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,9%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,93%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,52%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,46%; giao thông giảm 3,51%; bưu chính viễn thông giảm 0,76%; giáo dục tăng 2,35%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,92%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tình hình giá cả trên thị trường 6 tháng đầu năm cơ bản được kiểm soát, có một số mặt biến động tăng giá mạnh, cũng có nhóm biến động giảm khá sâu. Nguyên nhân chính do ảnh hưởng từ thị trường thế giới, yếu tố mùa vụ, thời tiết bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu, điện sinh hoạt. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 7/2023 dự kiến tiếp tục tăng. Giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tiếp tục tăng do tính chất thời vụ mùa du lịch biển. Giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài, một số mặt hàng khác có thể tiếp tục tăng như hàng điện lạnh, xăng dầu các loại. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm  6 tháng đầu năm 2023, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh đã tăng cường tuyển dụng lao động với mức lương hấp dẫn. Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh, có 157 doanh nghiệp đăng ký tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng hơn 8.000 lao động. Mặc dù nhu cầu tuyển dụng lớn song các doanh nghiệp vẫn không tuyển dụng đủ số lượng lao động, do chế độ, chính sách làm việc cho người lao động của doanh nghiệp ở Hà Tĩnh vẫn chưa đủ sức thu hút và giữ chân người lao động; mức lương vùng tại khu vực Hà Tĩnh khá thấp nên người lao động có xu hướng tìm kiếm các doanh nghiệp ngoại tỉnh như: Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh. Điều này đã làm cho tình hình lao động việc làm ở Hà Tĩnh có xu hướng quý II giảm so với quý trước. Lực lượng lao động: Kết quả điều tra lao động việc làm, quý II năm 2023 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính là 512.717 người, giảm 1,05% so với quý trước và tăng 0,65% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lực lượng lao động nam 262.417 người (chiếm 51,18% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 125.283 người (chiếm 24,44% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên).Quý II năm 2023, có đến 53,88% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, giảm 0,6 điểm phần trăm so với quý I/2023 và tăng 0,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ (lần lượt là 58,62% và 49,67%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 60,13%, cao hơn nông thôn là 8 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng năm 2023, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 515.427 người, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm 2022; trong đó lực lượng lao động nam là 263.817 người, chiếm 51,18% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 125.901 người, chiếm 24,43%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng năm 2023 là 54,16%, tăng 0,05 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022. So sánh giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ cho thấy cũng có sự chênh lệch đáng kể: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam là 58,93%, cao hơn 9 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 60,42%, cao hơn 8,01 điểm phần trăm so với ở nông thôn. Lao động có việc làm: Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2023 là 490.748 người, chiếm 95,72% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; giảm 0,45% so với quý trước và tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 124.332 người, chiếm 25,34% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 248.380 người, chiếm 50,61%. Tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 30,02% trong tổng số (tương ứng 147.332 người), giảm 0,35 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 29,03% (tương ứng 142.440 người), tăng 0,58 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 40,95% (tương ứng 200.976 người), giảm 0,23 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng năm 2023, lao động 15 tuổi trở lên có việc làm là 491.867 người, chiếm 95,43% tổng số lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và tăng 0,52% so với cùng kỳ năm 2022. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 124.589 người, chiếm 25,33%; ở nam giới là 250.619 người, chiếm 50,95%.Tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng năm 2023 chiếm 30,02% (tương ứng 147.677 người), giảm 0,69 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,85% (tương ứng 141.889 người), tăng 0,63 điểm phần trăm; còn khu vực dịch vụ chiếm 41,13% (tương ứng 202.301 người), tăng 0,06 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Quý II/2023 số người không có việc làm (thất nghiệp) là 21.969 người, chiếm 4,28% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,57 điểm phần trăm so quý trước. Trong đó, có đến 95,67% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 21.018 người). Còn theo giới tính, lao động nam chiếm nhiều hơn nữ, chiếm 63,89 % (tương đương 14.037 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 5,57%, tăng 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và 0,18 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng năm 2023, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 23.561 người, chiếm 4,57% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động thất nghiệp chủ yếu là khu vực nông thôn chiếm đến 94,43% (tương đương 22.248 người); còn ở nam giới là 56,02% (tương đương 13.199 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 6 tháng năm 2023 ước tính là 5,55%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý II/2023 là 2,58%, giảm 0,09 điểm phần trăm so với quý trước và 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2022. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động 6 tháng năm 2023, ước tính là 2,62%, giảm 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình giải quyết việc làm:Ngoài việc tổ chức các sàn giao dịch định kỳ, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh đã kết nối với một số doanh nghiệp tổ chức các phiên giao dịch việc làm, sàn giao dịch việc làm; đồng thời triển khai chương trình hợp tác xuất khẩu lao động, mở thêm nhiều lớp đào tạo tay nghề cho lao động Hà Tĩnh đã tạo điều kiện cho hàng nghìn người đi làm việc tại các tỉnh bạn và nước ngoài. Quý II/2023, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 7.529 người, tăng 43,82% so với quý I/2023 và tăng 22,62% so với cùng kỳ năm 2022. Trong quý II/2023, lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giảm 8,2% (tương ứng giảm 237 người) so với quý I/2023, lao động đi làm việc ngoại tỉnh tăng 53,44% (tăng 714 người), xuất khẩu lao động tăng 180,44% (tăng 1.817 người). 6 tháng đầu năm 2023, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động  là 12.764 người, tăng 1,18% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 5.547 người, chiếm 43,46% trong tổng số, giảm 4,15% so với cùng kỳ năm trước; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.386 người, chiếm 26,53%, giảm 14,24% so cùng kỳ năm trước; xuất khẩu lao động 3.831 người, chiếm 30,01%, tăng 33,02% so cùng kỳ năm trước.Thị trường xuất khẩu lao độngchủ yếu làm việc tại Đài Loan là 1.823 người, chiếm 47,59% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; tiếp đến là Nhật Bản 1.222 người, chiếm 31,9%; Hàn Quốc 468 người, chiếm 12,22%; còn lại các nước khác là 318 người, chiếm 8,29%.ở Hà Tĩnh chủ yếu tập trung làm việc tại Đài Loan là 1.823 người, chiếm 47,59% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; tiếp đến là Nhật Bản 1.222 người, chiếm 31,9%; Hàn Quốc 468 người, chiếm 12,22%; còn lại các nước khác là 318 người, chiếm 8,29%. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Đời sống dân cư: Quý II và trong 6 tháng năm 2023 tình hình dịch Covid-19 tiếp tục được kiểm soát tốt, các cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ đi vào hoạt động ổn định,tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc. Trong 6 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh chỉ xảy ra 01 vụ thiên tai, giảm 04 vụ so với cùng kỳ năm trước; các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện; sản xuất và thu hoạch lúa Vụ Đông Xuân được; nuôi trồng và khai thác thủy sản thuận lợi. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn; tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh; tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm nên 6 tháng năm 2023 đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội: 6 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 218.554 suất quà cho các đối tượng người có công, hộ nghèo, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 79,265 tỷ đồng. Cụ thể: Tặng quà cho người có công khoảng 104.628 suất quà trị giá 27,866 tỷ đồng; Tặng quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khoảng 39.599 suất quà trị giá 22,269 tỷ đồng; Tặng quà cho người cao tuổi khoảng 31.865 suất quà trị giá 12,310 tỷ đồng; Tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khoảng 19.316 suất quà trị giá 7,689 tỷ đồng; tặng quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội và đối tượng khác khoảng 23.146 suất quà trị giá 9,129 tỷ đồng. Cấp khoảng 18.003 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 34.716 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 159.939 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi, 47.491 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công và 184.116 các loại thẻ khác. Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 198 nhà, kinh phí khoảng 14.152 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 14 nhà, kinh phí khoảng 395 triệu đồng. Nhìn chung công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. 3. Giáo dục đào tạo Năm học 2022-2023 với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự nỗ lực của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, ngành Giáo dục Hà Tĩnh đã gặt hái được nhiều kết quả cao trong thời gian qua. Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái thành công về số lượng và chất lượng giải. Trong số 69/84 học sinh dự thi đoạt giải (đạt tỷ lệ 82,14%), có 08 giải nhất, 25 giải nhì, 19 giải ba và 17 giải khuyến khích, với kết quả đó Hà Tĩnh là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về số lượng học sinh đoạt giải nhất (sau Hà Nội) và thứ 5 về số học sinh đạt giải; đặc biệt có 02 em đạt điểm số thủ khoa, gồm: 01 em môn Toán với điểm số 32 và 01 em môn Hóa với tổng điểm 32,375. Trong kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế, Hà Tĩnh có 19 học sinh được tham gia vòng 2 và có 02 em được trúng tuyến: em Đinh Cao Sơn (lớp 12 Hóa) vào đội tuyển dự thi Olympic Hóa học quốc tế (diễn ra vào tháng 7/2023 tại Thụy Sỹ) và em Trần Hoài Nam (lớp 12 Toán 2) vào đội tuyển dự thi Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương. Về Kỳ thi học sinh giỏi tỉnh, Hà Tĩnh có 2.837 em đạt giải các môn văn hóa, trong đó có 263 giải nhất, 762 giải nhì, 988 giải ba và 824 giải khuyến khích. Ngoài ra, có 207 học sinh các khối lớp 9, 10, 11, 12 được đặc cách học sinh giỏi cấp tỉnh vì đạt chứng chỉ IELTS, trong đó có 45 em giải nhất, 77 giải nhì và 85 học sinh đạt giải ba. Cũng trong thời gian này, Hà Tĩnh đã tổ chức thành công kỳ thi vào lớp 10 trung học phổ thông (THPT) năm học 2023-2024, với chỉ tiêu phân luồng 70% học sinh vào THPT (giảm 2% so với năm trước). Trong tổng số thí sinh dự thi vào lớp 10 năm nay, có 15.824 thí sinh có nguyện vọng thi vào các trường THPT công lập không chuyên, 1.094 thí sinh có nguyện vọng thi vào trường THPT Chuyên Hà Tĩnh. Ban Chỉ đạo kỳ thi đã bố trí 36 điểm thi, với 722 phòng thi với đầy đủ cơ sở vật chất, các trang thiết bị, đồng thời triển khai các phương án đảm bảo an ninh trật tự trong và ngoài khu vực thi. Các ngành liên quan và các địa phương đã phát huy tối đa tinh thần trách nhiệm, bố trí lực lượng, tập trung mọi điều kiện tốt nhất đảm bảo kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc. 4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Tháng 6 là thời gian nắng nóng gay gắt trên diện rộng đã ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân, đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ.Cơ quan chức năng đã khuyến cáo người dân dân nên có kế hoạch sinh hoạt, làm việc hợp lý; áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe để đề phòng sốc nhiệt. Chủ động lựa chọn, sử dụng,bảo quản thực phẩm đúng cách, tránh nguy cơ gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm.Đồng thời, Công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn luôn được triển khai đồng bộ và quyết liệt; công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Trong tháng 6/2023, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 102 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; chỉ tăng 36 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 54,55%) so với tháng trước và tăng 04 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 4,08%) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, có 01 vụ ngộ độc tập thể (làm 07 người bị ngộ độc) và 440 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (nhưng tăng 03 người bị ngộ độc), tăng 95 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 27,54%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh Covid-19: Mặc dù tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát, tuy nhiên cần cảnh giác với các yếu tố nguy cơ sau: thời tiết nắng nóng gay gắt; tình trạng tập trung đông người nhất là bắt đầu mùa lễ hội, du lịch, tắm biển; một số bộ phận người dân, chủ quan, coi nhẹ dịch bệnh, không thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định; phát sinh tình trạng một số ca mắc COVID-19 tự phát hiện, không khai báo nên cơ quan chuyên môn khó quản lý, kiểm soát. Tổng số ca mắc COVID-19, tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 16/6/2023 là 58.765ca, lũy kế từ 04/6/2021 đến ngày 16/6/2023 là 59.715 ca mắc. Tình hình dịch bệnh khác: Tháng 6/2023, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 01 ca sốt xuất huyết, 01 ca sốt rét, 21 ca mắc bệnh quai bị, 45 ca mắc lỵ trực trùng, 27 ca mắc lỵ a míp, 41 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.037 ca mắc bệnh cúm, 01 ca mắc bệnh do adeno, 22 ca chân tay miệng, 177 ca tiêu chảy, 11 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, trên địa bàn cũng chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 26 ca sốt xuất huyết (tăng 10 ca so với cùng kỳ năm trước), 3 ca sốt rét (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 101 ca mắc bệnh quai bị (tăng 35 ca), 166 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 43 ca), 157 ca mắc lỵ a míp (giảm 20 ca), 150 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 43 ca), 7.252 ca mắc bệnh cúm (giảm 593 ca), 09 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 124 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước có 04 ca), 1.339 ca tiêu chảy (tăng 73 ca), 47 ca viêm gan vi rút khác (tăng 07 ca) và không có người chết do các bệnh trên Công tác phòng chống HIV/AIDS:Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng 6/2023, có 04 người nhiễm mới HIV, 01 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; giảm 03 người nhiễm HIV, 07 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không thay đổi so với tháng trước và tăng 03 người nhiễm HIV, giảm 02 người chết vì AIDS, còn số người chuyển thành AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, có 32 người nhiễm mới HIV, 25 người chuyển thành AIDS và 03 người chết vì AIDS; tăng 20 người nhiễm HIV, 19 người chuyển thành AIDS và 01 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để chủ động bảo đảm an toàn thực phẩm, sự phối hợp liên ngành phải được tăng cường và có hiệu quả; các văn bản chỉ đạo điều hành phải được ban hành kịp thời, sát thực tế; các hoạt động cần được triển khai đồng bộ. Đồng thời, Công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn phải được triển khai đồng bộ và quyết liệt; công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Trong tháng 6/2023, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 102 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; chỉ tăng 36 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 54,55%) so với tháng trước và tăng 4 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 4,08%) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, có 01 vụ ngộ độc tập thể (làm 07 người bị ngộ độc) và 440 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (nhưng tăng 3 người bị ngộ độc), tăng 95 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 27,54%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động văn hóa - thể thao Hoạt động văn hóa: 6 tháng đầu năm 2023, các địa phương đã triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước, đặc biệt là tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 93 Ngày năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Quý Mão; Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 và xúc tiến đầu tư vào Hà Tĩnh năm 2023. Toàn tỉnh thay mới hơn 5.000m2 tranh cổ động tấm lớn, pano, áp phích các loại và hàng trăm lượt khẩu hiệu, băng rôn, cờ Tổ quốc. Trong đó, Trung tâm Văn hóa điện ảnh tỉnh thực hiện 830 m2 tranh tuyên truyền trực quan tại các cụm cổ động Bến Thủy, Đèo Ngang và thành phố Hà Tĩnh; thực hiện 44 buổi tuyên truyền cải cách hành chính tại cơ sở; tổ chức 05 đợt phim mừng Đảng, mừng Xuân năm 2023; 23 buổi chiếu phim phục vụ học sinh và nhân dân tại Rạp 26-3 chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn. Tham gia trình diễn nghệ thuật và trưng bày “Hành trình sắc màu di sản văn hóa phi vật thể đại diện các vùng miền” tại Festival “Về miền Quan họ - 2023” tại Bắc Ninh; tổ chức Lễ khai hội chùa Hương Tích, mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2023; tham gia Liên hoan trình diễn di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh của Việt Nam lần thứ Nhất vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2023 tại tỉnh Phú Thọ; tổ chức tốt tuần phim phục vụ nhân dân; chương trình văn nghệ tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2023 tại các địa phương, đặc biệt ưu tiên biểu diễn phục vụ các chiến sỹ, đồng bào vùng sâu, vùng xa. Tổ chức chương trình nghệ thuật sử thi phục vụ “Lễ Tưởng niệm 55 năm Ngày hy sinh của 53 Liệt sĩ và Khánh thành Khu Di tích Lịch sử Cầu Nhe”; chương trình biểu diễn tại Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 và xúc tiến đầu tư vào Hà Tĩnh năm 2023; Công diễn vở ca kịch Dân ca Nghệ Tĩnh “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” nhân kỷ niệm 133 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2023) thu hút sự quan tâm, theo dõi của đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh tham gia Hội thi tuyên truyền lưu động “Biển và Hải đảo Việt Nam” tại thành phố Hải Phòng đạt 05 chương (02 HCV, 03 HCB và 01 Giấy khen cá nhân). Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. 6 tháng đầu năm 2023, đã thực hiện 03 cuộc kiểm tra theo kế hoạch tại 87 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch; lập 60 biên bản kiểm tra, nhắc nhở 05 doanh nghiệp có hành vi không tự tháo dỡ bảng quảng cáo thương mại tấm lớn đã hết hạn ghi trong thông báo sản phẩm quảng cáo; đình chỉ 02 công ty lữ hành, 03 điểm du lịch tự phát. Ban hành 08 quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với 05 tổ chức và 03 cá nhân với tổng số tiền xử phạt là 55,50 triệu đồng Hoạt động thể thao: + Thể thao thành tích cao: 6 tháng đầu năm 2023, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 12 giải, giành 73 huy chương các loại (gồm: 32 HCV-24 HCB-17 HCĐ). Đặc biệt, tại đại hội thể thao Đông Nam Á - Seagames 32 tổ chức tại Campuchia, Hà Tĩnh có 06 vận động viên tham gia, giành được 08 huy chương (gồm 05 HCV, 01 HCB, 02 HCĐ). Cũng trong thời gian này, đội bóng chuyền nam Hà Tĩnh thi đấu đạt giải Ba tại giải Bóng chuyền Cúp Hoa Lư, hiện đang xếp thứ 3 bảng A sau lượt đi tại giải Bóng chuyền Vô địch Quốc gia. Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Hồng Lĩnh Hà Tĩnh tham gia thi đấu ở giải Vô địch Quốc gia sau 9 vòng đấu tạm thời xếp thứ 6 tại giải Vô địch Quốc gia; Đội bóng đá U17 Hồng Lĩnh Hà Tĩnh thi đấu Vòng Chung kết U17 Quốc gia năm 2023 tại Hưng Yên, giành được Huy chương Bạc. + Thể thao quần chúng: Các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức nhiều giải thể thao, trò chơi dân gian mừng Đảng, mừng Xuân Quý Mão 2023, các hoạt động thể thao nhân khai trương du lịch biển; trung bình mỗi xã tổ chức được 1-2 giải; mỗi huyện tổ chức 2 - 3 giải. Đặc biệt hướng dẫn, chỉ đạo huyện Can Lộc tổ chức các hoạt động thể thao tại Lễ Khai hội Chùa Hương Tích "Mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2023”; huyện Hương Sơn tổ chức giải Đua thuyền nam và nữ. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh còn tuyên truyền về “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân”. Chỉ đạo tổ chức điểm “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân” ở 02 đơn vị địa phương (huyện Lộc Hà, thị xã Kỳ Anh) thu hút hàng nghìn người dân tham gia. Phối hợp với các Sở, ngành, địa phương tổ chức thành công các giải: Bóng chuyền nữ, Việt dã và Bóng chuyền Nam thanh niên toàn tỉnh năm 2023, Đua thuyền và giải Quần vợt Cúp Truyền hình toàn tỉnh năm 2023. Tham gia giành 09 huy chương (01 HCV- 06 HCB – 02 HCĐ) tại giải thể thao khuyết tật toàn quốc, xếp thứ 10/19 đoàn tham gia. 6. Tai nạn giao thông Trước tình hình tai nạn giao thông diễn biến phức tạp và đang có dấu hiệu gia tăng, Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, kéo giảm tai nạn giao thông (TNGT) từ 5-10% trên cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết và người bị thương). Để thực hiện được mục tiêu đề ra, Công an tỉnh chỉ đạo Cảnh sát giao thông, công an cấp huyện, cấp xã, xây dựng kế hoạch, tập trung tuần tra, xử lý các hành vi vi phạm như: phóng nhanh vượt ẩu, chở quá số người quy định, không đội mũ bảo hiểm, say rượu bia điều khiển phương tiện; siết chặt công tác quản lý, phương tiện, người lái và đào tạo sát hạch, cấp giấy phép lái xe; tăng cường công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang ATGT, kịp thời khắc phục sửa chữa hư hỏng kết cấu, tổ chức giao thông; tăng cường phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm về tải trọng xe, kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Tháng 6 năm 2023 (từ ngày 15/5-14/6/2023) xảy ra 19 vụ tai nạn đường bộ, làm 14 người chết, 08 người bị thương, thiệt hại 250 triệu đồng; giảm 03 vụ, 01 người chết, 04 người bị thương so với tháng trước và tăng 09 vụ, 06 người chết, 06 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023 (từ ngày 15/12/2022-14/6/2023) đã xảy ra 87 vụ tai nạn đường bộ, làm 68 người chết, 34 người bị thương, thiệt hại 1.180 triệu đồng; tăng 41 vụ, 29 người chết, 15 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. Trong tháng, tai nạn đường sắt, đường thủy không xảy ra và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ Tình hình cháy, nổ: + Tình hình cháy: từ ngày 15/5-14/6/2023 đã xảy 04 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 100 triệu đồng; giảm 04 vụ so với tháng trước và giảm 02 vụ so với cùng kỳ năm trước. Tính từ 15/12/2022-14/6/2023 xảy ra 40 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 385 triệu đồng; tăng 23 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. + Nổ: từ ngày 15/12/2022 - 14/6/2023 không xảy ra vụ nổ nào và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ môi trường: Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững. Tuy vậy, nhận thức về bảo vệ môi trường của nhiều cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp còn hạn chế, chưa tự giác tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. Cụ thể: Tháng 6/2023 (tính từ ngày 15/5-14/6/2023) đã phát hiện 28 vụ và đã xử lý 21 vụ, với tổng số tiền xử phạt 48,05 triệu đồng; số vụ đã phát hiện không thay đổi, tăng 05 vụ đã xử lý, giảm 214,89 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 06 vụ đã phát hiện, tăng 8 vụ đã xử lý, tăng 4,16 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... phát hiện 23 vụ (chiếm 82,14%), đã xử lý 17 vụ với số tiền xử phạt 31,80 triệu đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023 (từ 15/12/2022-14/6/2023) đã phát hiện 418 vụ, xử lý 339 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.209,71 triệu đồng; giảm 90 vụ đã phát hiện (giảm 17,72%), giảm 14 vụ đã xử lý (giảm 3,97%), số tiền xử phạt giảm 103,15 triệu đồng (giảm 7,86%) so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiệt hại thiên tai Trong tháng xảy ra 01 vụ thiên tai (sét đánh ở huyện Cẩm Xuyên), làm 01 người chết; tăng 01 vụ, tăng 01 người chết so với tháng trước và giảm 02 vụ, giảm 01 người chết, giảm 17 nhà hư hỏng, giá trị thiệt hại giảm 100 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, xảy ra 01 vụ thiên tai, làm 01 người chết; giảm 04 vụ, giảm 01 người chết, giảm 512 ha lúa, 153 ha hoa màu bị thiệt hại, giảm 17 ngôi nhà bị hư hỏng, giá trị thiệt giảm 7.968 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2023
  •   26/07/2024 15:13

I.  LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Tháng 5 năm 2023, toàn tỉnh tập trung thu hoạch lúa vụ Đông Xuân năm 2022- 2023, mặc dù đầu vụ sản xuất gặp thời tiết không thuận lợi do rét đậm rét hại ảnh hưởng đến tình hình gieo cấy song vào thời kỳ sinh trưởng thời tiết thuận lợi, công tác phòng trừ sâu bệnh được thực hiện tốt và gieo cấy đúng lịch thời vụ, theo đánh giá của các nhà chuyên môn sẽ là một năm được mùa toàn diện. Hoạt động chăn nuôi trong tháng vẫn tiếp tục duy trì ở mức ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên, việc giá thức ăn chăn nuôi tăng trong khi giá bán thịt hơi giảm khiến người chăn nuôi không mở rộng quy mô chăn nuôi. Hoạt động Lâm nghiệp, Thủy sản cũng đảm bảo sự ổn định khi sản lượng khai thác vẫn tăng đều so với cùng kỳ. 1.1 Sản xuất nông nghiệp        * Trồng trọt Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2022-2023, toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 98.834 ha, bằng 99,57% (giảm 422 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 404.792 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 105,61% (tăng 21.512 tấn). Trong đó: Diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 59.384 ha, bằng 99,28% (giảm 429 ha) so với cùng kỳ năm trước với năng suất gieo trồng ước đạt 58,64 tạ/ha, bằng 105,15% (tăng 2,87 tạ/ha); sản lượng lúa ước tính đạt 348.232 tấn, bằng 104,4% (tăng 14.666 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi cả về năng suất và sản lượng ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Diện tích ngô đạt 11.934 ha, bằng 111,41% (tăng 1.222 ha) so với cùng kỳ năm trước, với năng suất ước đạt 47,39 tạ/ha, bằng 102,12% (tăng 0,98 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân năng suất, sản lượng ngô cao tăng do năm nay giữa vụ thời tiết tốt cây ngô phát triển, bắp to, hạt đều, ít bị sâu bệnh, giá bán ra ổn định nên người dân có đầu tư nhiều hơn. Sản lượng ngô ước tính đạt 56.560 tấn, bằng 113,77% (tăng 6.846 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Về cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân năm 2023 vẫn chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng sử dụng giống ngắn ngày, năng suất, chất lượng để né tránh thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hiện nay ngành nông nghiệp đang chỉ đạo bà con nông dân tập trung thu hoạch để tránh mưa, dông lốc xẩy ra gây ngập úng hư hại đồng thời chỉ đạo bà con nông dân chuẩn bị làm đất để gieo trồng lúa vụ Hè Thu đúng thời vụ. Tính đến thời điểm 24/5/2023 diện tích thu hoạch đạt hơn 87,2% tổng diện tích. Về tình hình dịch bệnh, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, vụ Xuân 2022 các đối tượng dịch hại phát sinh gây hại đối với cây trồng, cụ thể như sau: Trên cây lúa, nạn Ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên những chân ruộng trũng, ngập nước ở hầu hết các đia phương trong tỉnh, mật độ trung bình 3-5con/m2, nơi cao 7-10 con/m2; Bệnh đạo ôn lá: Bắt đầu xuất hiện từ trung tuần tháng 2, gây hại cục bộ trên các giống VRN20, Thái Xuyên 111...; cao điểm gây hại từ 20-30/3, tập trung trên các giống Thái xuyên 111, VNR20, P6, XT28, nếp 98,…. tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ 20-30% diện tích nhiễm 30 ha, không có diện tích nhiễm nặng, diện tích phòng trừ 1.785 ha; Bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng sâu trũng, gieo cấy giày, bón thừa đạm, phân bố hầu hết các địa phương trong tỉnh, tỉ lệ trung bình 3-7%, nơi cao 10-15%, cục bộ 25-35% diện tích 3.850 ha, ngoài ra còn các bệnh bạc lá, rầy nâu, rầy lưng trắng...nhưng ảnh hưởng không đáng kể. Trên cây ngô bệnh lỡ cổ rễ, nấm mốc đen, mốc trắng phát sinh ở một số huyện diện tích 25ha; sâu ăn lá diện tích 35ha. Cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt 70ha; Sâu đục thân, đục cành 25ha; nhện nhỏ 35ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…các đối tượng như rệp muội, bọ xít, gây hại rải rác trên những vườn hộ lâu năm. * Chăn nuôi Nhìn chung hoạt động chăn nuôi trong tháng 5 năm 2023 vẫn tiếp tục duy trì ở mức ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được thực hiện trên đàn lợn và gia cầm, tuy nhiên với chăn nuôi trâu, bò lại có xu hướng giảm do giá thức ăn chăn nuôi tăng trong khi giá bán thịt hơi trâu, bò giảm mạnh nên người dân không mở rộng quy mô chăn nuôi. Kết quả chăn nuôi, đàn trâu hiện có 66.990 con, bằng 99,72% (giảm 190 con); đàn bò hiện có 167.100 con, bằng 99,38% (giảm 1.050 con); đàn lợn hiện có 392.500 con, bằng 102,60% (tăng 9.940 con); đàn gia cầm hiện có 9.580 nghìn con, bằng 101,14% (tăng 108 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trên địa bàn tỉnh xảy ra một số ca bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như Lở mồm long móng gia súc, Viêm da nổi cục trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể: Viêm da nổi cục: xảy ra tại 30 hộ chăn nuôi của 06 xã, phường thuộc huyện Thạch Hà, Thị xã Hồng Lĩnh và Thành phố Hà Tĩnh, làm cho 35 con bò mắc bệnh, trong đó có 04 con bị chết, tiêu hủy, khối lượng 324 kg. Đến nay ổ dịch tại xã Thạch Ngọc chưa qua 21 ngày. Lở mồm long móng: xảy ra tại 02 xã, phường thuộc huyện Kỳ Anh (08 hộ có gia súc mắc bệnh tại xã Lâm Hợp) và Thị xã Kỳ Anh (01 hộ có gia súc mắc bệnh tại phường Kỳ Phương), làm cho 22 con trâu bò mắc bệnh. Đến nay, đã qua 21 ngày. Dịch tả lợn Châu Phi: xảy ra tại 13 hộ chăn nuôi của 02 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên và Đức Thọ, làm cho 65 con lợn mắc bệnh, tiêu hủy với khối lượng 1.789 kg. Công tác tiêm phòng: Đàn Trâu, bò: Viêm da nổi cục tiêm được 67.499 con, đạt 55,6%KH. Đàn lợn: vắc xin THT lợn và vắc xin DTL lợn tiêm được 200.254 con, đạt 83% KH. Đàn gia cầm: cúm gia cầm tiêm được 724.280 con, đạt 25,2% KH. Dại chó tiêm được 76.356 con, đạt 72% KH. 1.2  Lâm nghiệp Tháng 5/2023, trên địa bàn điều kiện thời tiết có mưa nên thuận lợi cho hoạt động sản xuất lâm nghiệp. Bên cạnh việc khai thác, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng thì người dân vẫn tiến hành trồng cây lâm nghiệp. Diện tích rừng trồng mới ước đạt 449 ha, bằng 121,68% (tăng 80 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.272 ha, bằng 99,47% (giảm 12 ha) so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán có xu hướng giảm do diện tích ngày càng bị thu hẹp để thực hiện các công trình, dự án lớn trên địa bàn, tính chung 5 tháng đầu năm 2023, số cây trồng phân tán ước đạt 1.517 nghìn cây, bằng 86,19% so với cùng kỳ. Cùng việc trồng rừng, các hộ sản xuất lâm nghiệp đã tiến hành thu hoạch diện tích rừng sản xuất đã đến tuổi khai thác để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dăm gỗ và sản xuất ván ép. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 40.230 m3, bằng 104,05% (tăng 1.567 m3) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 132.148 m3, bằng 106,73%, tăng 8.336 m3 so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi tháng 5 năm 2023 ước đạt 29.060 ste, bằng 95,92% (giảm 1.236 ste), tính chung 5 tháng ước đạt 104.133 ste, bằng 93,29% (giảm 7.494 ste).  Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 31 vụ phá rừng (giảm 4 vụ) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3    Thủy sản  Tháng 5 năm 2023, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 4.942 tấn, bằng 105,95% (tăng 276 tấn), tính chung 5 tháng đầu năm 2023, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 22.021 tấn, bằng 103,07% (tăng 656 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2023 đã có những tín hiệu tích cực khi tổng sản lượng tăng so với cùng kỳ do các tháng đầu năm thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng và đánh bắt, dịch bệnh ít xảy ra, mặt khác chi phí về nhiên liệu có phần hạ nhiệt và hoạt động du lịch sôi động trở lại khi bước vào mùa hè, nhu cầu tiêu dùng tăng cao cộng với giá cả ổn định, một số mặt hàng hải sản có phần tăng hơn so nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển.      Về tình hình dịch bệnh trên thủy sản, từ đầu năm đến ngày 15/5/2023 Bệnh đốm trắng gây hại khoảng 20 ha, trong đó có 12,42 ha trên tôm đã qua 15 ngày tại 5 huyện Kỳ Anh và thị xã Kỳ Anh, Thạch Hà, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh. Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xẩy ra trên tôm đã qua 15 ngày với diện tích 2,5ha. Bệnh vi bào tử trùng cơ xảy ra trên tôm với diện tích 0,32 ha. 2. Sản xuất công nghiệp. Hoạt động sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn, khi có 3/4 nhóm ngành công nghiệp cấp 1 có chỉ số giảm so với cùng kỳ. Do kinh tế thế giới phục hồi chậm với chính sách thắt chặt tiền tệ ở nhiều quốc gia làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn dẫn đến đơn hàng sản xuất giảm. Bên cạnh đó thị trường tiêu thụ trong nước của một số mặt hàng chủ lực khác như bia, sợi... gặp khó khăn. Riêng ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số tăng so với cùng kỳ, tạo điểm sáng cho hoạt động sản xuất công nghiệp, tuy nhiên sản lượng vẫn còn thấp do tổ máy số 1 nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I đến nay vẫn chưa khắc phục xong sự cố. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 5/2023 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 4/2023 giảm 0,59 % và giảm 0,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,52% so với tháng trước và giảm 17,88% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,17% so với tháng trước và giảm 4,49% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,57% so với tháng trước và tăng 29,10% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 3,33% so với tháng 4/2023 và giảm 6,7% so với tháng 5/2022. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 5 tháng đầu năm 2023 vẫn giảm 0,78% so cùng kỳ năm 2022. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 14,78%, làm giảm 0,14 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,75% làm giảm 1,49 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,77%, làm tăng 1,1 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,33%, làm giảm 0,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Nhìn chung, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính đến cuối tháng 5 năm 2023 ước tính vẫn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước, điều đó thể hiện vẫn còn nhiều khó khăn đối với hoạt động sản xuất công nghiệp trong thời gian qua, nhất là khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Dự báo trong thời gian tới chi phí sản xuất tiếp tục gia tăng, thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn do tổng cầu từ nước ngoài suy giảm khiến đơn hàng sụt giảm...vẫn đang là những rào cản trong phát triển sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 6 nhóm sản phẩm cộng dồn 5 tháng đầu năm 2023 tăng so cùng kỳ năm trước (chiếm 31,6% trong tổng số sản phẩm) và có 13 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 68,4%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng bao gồm: Mực đông lạnh tăng 37,88%; điện thương phẩm tăng 13,73%; điện sản xuất tăng 8,75%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 4,78%; Chè (trà) nguyên chất tăng 2,03%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 0,47%. Số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm bao gồm: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 64,56%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 51,22%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 45,36%; thức ăn gia súc giảm 28,41%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 17,32%; nước không uống được giảm 13,4%; vỏ bảo, dăm gỗ giảm 14,75%; đá xây dựng giảm 11,81%... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2023 ước tính tăng 0,33% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 8,7%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 5/2023 ước tính giảm 7,84% so với cùng kỳ năm 2022. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 5 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 17,82% và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,14% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động tính đến tháng 5/2024 đối với ngành ngành sản xuất và phân phối điện nhìn chung ổn định, chỉ giảm 0,54% . Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 2,44% so với cùng kỳ năm 2022. Bên cạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật đưa máy móc thiết bị vào quá trình sản xuất để tiết giảm lao động thì cũng có những doanh nghiệp do khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên đã giảm quy mô sản xuất và giảm lao động. 3. Vốn đầu tư Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2023 đạt thấp (ước giảm 13,63% so với cùng kỳ năm trước, bằng 26,79% so với kế hoạch năm). Theo đánh giá, Hà Tĩnh là một trong những địa phương có tốc độ giải ngân vốn đầu tư công chậm. Hiện nay UBND tỉnh đã ban hành quyết định thành lập 3 tổ công tác tại một số sở, ban, ngành, địa phương nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy giải ngân vồn đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn năm 2023. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2023 ước đạt 408,59 tỷ đồng, tăng 14,64% so với tháng trước, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 307,42 tỷ đồng, tăng 16,16% so với tháng trước và giảm 3,76% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 66,12 tỷ đồng, tăng 3,04% so với tháng trước và giảm 24,33% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 35,05 tỷ đồng, tăng 27,02% so với tháng trước và tăng 51,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, mặc dù điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài tuy nhiên các công trình xây dựng tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ thi công. Bên cạnh đó, một số công trình được khởi công mới góp phần vào kết quả thực hiện vốn đầu tư cao hơn so với tháng trước (tăng 14,64%). Một số công trình thi công với tiến độ lớn như Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương, tỉnh Hà Tĩnh đạt khoảng 19.700 triệu đồng; Hệ thống thu gom nước thải (bao gồm trạm bơm trên tuyến và đấu nối hộ gia đình, KA-PW-07) đạt khoảng 14.800 triệu đồng; Dự án Đường vành đai phía Nam Khu kinh tế Vũng Áng đạt khoảng 10.500 triệu đồng; Đường nối quốc lộ 1A vào Khu đô thị trung tâm Khu kinh tế Vũng Áng (giai đoạn 2) đạt khoảng 12.000 triệu đồng;… Nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 1.603,09 tỷ đồng, giảm 13,63% so với cùng kỳ năm 2022 bằng 26,79% so với kế hoạch vốn năm 2023. Nhìn chung tình hình thực hiện vốn đầu tư 5 tháng đầu năm 2023 vẫn còn nhiều “điểm nghẽn”. Trong thời gian tới để thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2023 các đơn vị liên quan cần tiếp tục rà soát, tổng hợp khó khăn, vướng mắc; phân tích nguyên nhân của những khó khăn,vướng mắc từ khâu lập chủ trương đầu tư, thiết kế thi công, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, tổ chức thi công … từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 5 và 5 tháng đầu năm tình hình kinh tế tỉnh Hà Tĩnh chịu một số bất lợi thời tiết thất thường, nắng nóng xuất hiện sớm với nền nhiệt độ cao, giá các mặt hàng thiết yếu như điện được điều chỉnh tăng và lãi suất tín dụng đang ở mức cao đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các đơn vị trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động kích cầu du lịch diễn ra khá sôi động đã thu hút được lượng khách lớn đổ về trên địa bàn giúp cho ngành dịch vụ ăn uống, lữ hành, lưu trú có thêm điều kiện để phục hồi, phát triển. Các sự kiện chào mừng ngày lễ và hoạt động chào mừng lễ khai trương du lịch biển Hà Tĩnh năm 2023 diễn ra tại Khu du lịch Xuân Thành (Nghi Xuân) vào ngày 22/4, được truyền hình trực tiếp đã lan tỏa mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của du khách bốn phương. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 5/2023 doanh thu ước đạt 4.790,29 tỷ đồng, tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 12,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị đạt gần 30,31 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 75,17% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong các nhóm hàng chỉ có 1 nhóm hàng có doanh thu giảm nhẹ so với tháng trước là nhóm xăng, dầu các loại (giảm 2,75%) nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn ở mức tăng 26,27%. Còn lại các nhóm hàng đều có tốc độ tăng khá, đặc biệt các nhóm hàng chủ yếu và tăng khá như: Lương thực, thực phẩm tăng 3,08% so với tháng trước, tăng 21,17% so với cùng kỳ năm trước; Hàng may mặc tăng 12,55% so với tháng trước, tăng 11,22% so với cùng kỳ năm trước; Đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 7,14% so với tháng trước, tăng 12,28% so với cùng kỳ năm trước; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,35% so với tháng trước, tăng 35,18% so với cùng kỳ năm trước.... Nguyên nhân chủ yếu do các nguyên nhân: Thứ nhất, việc giá xăng, dầu đều được điều chỉnh giảm qua hai kỳ điều chỉnh gần nhất là yếu tố chính tác động khiến doanh thu bán lẻ nhóm xăng dầu giảm. Thứ hai, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời tiết chuyển sang mùa nắng tác động đến các mặt hàng điện lạnh, hàng may mặc, đồ uống, thực phẩm tăng cầu tiêu dùng. Thứ ba, do yếu tố mùa vụ kinh doanh, đang trong thời gian cao điểm mùa du lịch biển tỉnh Hà Tĩnh, qua đó tác động đến các nhóm mặt hàng thực phẩm hải sản, đồ uống, hàng may mặc, hàng lưu niệm các loại tăng mạnh. Tính chung, 5 tháng đầu năm 2023 tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 23.547,46 tỷ đồng, tăng 19,34% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm so với cùng kỳ đó là nhóm ô tô con giảm 17,29%; phương tiện đi lại khác giảm 36,63%, nguyên nhân chủ yếu do đây là các mặt hàng xa xỉ, nguồn vốn huy động hạn chế do lãi suất tín dụng đang ở mức cao cũng như lượng vốn đang mắc tại thị trường bất động sản. Tuy nhiên, 2 nhóm hàng này tỷ trọng doanh thu bán lẻ không cao, nên không ảnh hưởng quá lớn tới mức tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa mà chủ yếu phục thuộc vào các nhóm hàng thiết yếu tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao như: Lương thực, thực phẩm đạt 10.848,0 tỷ đồng, tăng 26,74%; xăng dầu các loại đạt 2.921,0 tỷ đồng, tăng 34,67%; đồ dùng, thiết bị gia đình ước đạt 2.422,6 tỷ đồng, tăng 27,57%; may mặc ước đạt 1.236,8 tỷ đồng, tăng 35,99%;.... Có thể thấy tổng mức bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm 2023 tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, do dịch bệnh Covid-19 cơ bản được kiểm soát, không còn ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh, lưu chuyển hàng hóa. Tuy vậy, hoạt động của các cơ sở bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như: Quy mô vốn kinh doanh bình quân thấp, trong khi lãi suất tín dụng ở mức cao. Bên cạnh đó, hoạt động bán lẻ truyền thống của các đơn vị trong tỉnh đang phải cạnh tranh khốc liệt với các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện tích, hệ thống siêu thị mini và hình thức bán lẻ hàng trực tuyến; chuỗi cung ứng hàng hóa còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc dẫn đến nguồn cung một số hàng hóa hạn chế ảnh hưởng đến nguồn cung và giá bán lẻ. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2023 đạt khoảng 28.661,68 tỷ đồng, tăng 18,54% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 05/2023 doanh thu ước đạt 662,3 tỷ đồng, tăng 10,39% so với tháng trước, tăng 20,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 27,42 tỷ đồng, tăng 19,95% so với tháng trước, tăng 9,48% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ hơn 168 nghìn lượt, tăng 9,47% so với tháng trước và tăng 18,35% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ ước đạt 141.849 ngày khách tăng 18,91% so với tháng trước và tăng 8,10% so với cùng kỳ; Dịch vụ ăn uống ước đạt 629,74 tỷ đồng, tăng 9,97% so với tháng trước, tăng 20,82% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước đạt 5,13 tỷ đồng tăng 15,29% so với tháng trước và tăng 33,72% so với cùng kỳ. Trong tháng, tình hình thời tiết thuận lợi, các hoạt động kích cầu du lịch mạnh mẽ của chính quyền, tiêu biểu đó là việc khởi động mùa du lịch biển Hà Tĩnh năm 2023, với các chuỗi hoạt động nghệ thuật, văn hóa, ẩm thực đặc sắc như khai trương du lịch biển Hà Tĩnh năm 2023 diễn ra tại Khu du lịch (KDL) Xuân Thành (Nghi Xuân), bắn pháo hoa, phiên chợ đêm, Khu phố Ẩm thực... Các cơ sở kinh doanh du lịch, đặc biệt các cơ sở lưu trú tại các điểm du lịch như Thiên Cầm, Xuân Thành… công suất phòng luôn đạt ở mức cao, các nhà hàng cũng đón nhiều du khách thưởng thức đặc sản vùng miền. Hoạt động du lịch sôi nổi cũng khiến cho doanh thu ăn uống tại các nhà hàng tăng lên. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.852,3 tỷ đồng tăng 25,21% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 106,60 tỷ đồng, tăng 24,95%; lượt khách phục vụ 665,8 nghìn lượt, tăng 18,35%; ngày khách phục vụ 550.178 ngày, tăng 21,39% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 2.727,39 tỷ đồng, tăng 24,61%. Du lịch lữ hành ước đạt 18,51 tỷ đồng tăng 351,31%, nguyên nhân khiến doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng cao so với cùng kỳ là do tháng 3 đến tháng 5 năm 2022, Hà Tĩnh bắt đầu bùng dịch với nhiều ca nhiễm trong cộng đồng, nên các hoạt động dịch vụ không thiết yếu gần như tạm ngừng. Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 5/2023 ước tính đạt 376,10 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 16,99% so với cùng kỳ năm trước, nhìn chung, các nhóm ngành đều có xu hướng tăng hơn so với các tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, doanh thu ước đạt 1.812,77 tỷ đồng, tăng 25,69% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phải kể đến các nhóm doanh thu cao và tăng mạnh như: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 22,60%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ Đây là thời gian mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, do vậy nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng tăng 44,70%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 149,78%...nguyên nhân do đây là thời gian mùa cao điểm thi công xây dựng các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh, do vậy nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hành chính, dịch vụ thuê máy móc công trình có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, trong tháng trùng với các ngày lễ lớn, nhu cầu vui chơi giải trí tăng, các hoạt động thể thao ngoài trời, các khu bơi lội như Hào Quang, Nguyễn Gia cũng bắt đầu hoạt động mạnh do thời tiết chuyển sang mùa nắng, học sinh bước vào kỳ nghỉ hè, tham gia các lớp học bơi nhiều. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động vận tải, kho bãi Hà Tĩnh những tháng 5 tiếp tục tăng trưởng ổn định về nhóm ngành vận tải hành khách và vận tải hàng hóa nhờ việc đầu tư vào số lượng cũng như chất lượng phương tiện của các cơ sở kinh doanh, cùng với công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về kinh doanh vận tải của các cơ quan chức năng. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 5 năm 2023 ước đạt 599,68 tỷ đồng, tăng 4,58% so với tháng trước, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 84,08 tỷ đồng, tăng 6,19% so với tháng trước và tăng 22,41% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.040,85 nghìn HK, tăng 4,81% so với tháng trước và tăng 25,25% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 202,15 triệu HK.km, tăng 6,76% so với tháng trước, tăng 845,68% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng doanh thu vận tải hành khách do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu lượt người sử dụng các phương tiện vận tải công cộng như xe buýt, taxi tăng mạnh. Mặt khác, tháng 5 cũng bước vào mùa du lịch, các hoạt động mùa du lịch đặc biệt du lịch biển diễn ra rầm rộ tại nhiều địa phương trên toàn tỉnh. Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt ước đạt 393,41 triệu đồng, tăng 3,05% so với tháng trước và tăng 13,72% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước tính đạt 4.317,02 nghìn tấn, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 15,69% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển hàng hóa ước đạt 131,68 triệu tấn.km, tăng 2,28% so với tháng trước và tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển mạnh, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, công trình xây dựng trong dân nhiều hơn. Mặt khác, là thời điểm thu hoạch vụ Đông xuân kéo theo nhu cầu vận chuyển sản phẩm trong kỳ thu hoạch cũng như nhu cầu vận chuyển vật tư nông nghiệp phân bón, giống để chuẩn bị cho vụ mùa tiếp theo tăng. Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 105,82 tỷ đồng, tăng 10,14% so với tháng trước và giảm 9,90% so với cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và xuất khẩu hàng hóa trong tháng tăng, lượng hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty cổ phần cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng, làm tăng doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải. Tuy nhiên lại giảm so với cùng kỳ do ảnh hưởng của nhu cầu xuất nhập khẩu nguyên vật liệu như thép, dăm gỗ, than... Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, doanh thu vận tải dự tính đạt 2.764,73 tỷ đồng, tăng 11,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 404,25 tỷ đồng, tăng 45,42%; hàng hoá ước đạt 1.811,08 tỷ đồng, tăng 11,13%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 472,99 tỷ đồng, giảm 16,25% so với cùng kỳ năm trước. Sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt kinh tế Hà Tĩnh đang trên đà tăng trưởng, hạ tầng giao thông phát triển thuận lợi, việc hoàn thiện, mở rộng các tuyến Quốc lộ trong tỉnh, các tuyến giao thông đường bộ nội tỉnh, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Đó cũng chính là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của hoạt động giao thông vận tải, tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện vận tải lưu thông. Nhìn chung, vận tải hành khách các đơn vị kinh doanh với sự cạnh tranh, nâng cao chất lượng phục vụ cũng như đầu tư chất lượng dịch vụ, chất lượng phương tiện đến thái độ phục vụ. Trong những năm gần đây, cùng với các tuyến vận tải đường bộ nội địa ổn định như các tuyến Hà Tĩnh - Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh - Đà Nẵng, Hà Tĩnh - Hà Nội, cùng với đó sau dịch Covid-19, các tuyến sang các nước như Thái Lan, Lào đã mở trở lại, để phục vụ nhu cầu đi lại liên kết phục vụ kịp thời lực lượng lao động tăng cao. Đối với hoạt động vận tải hàng hóa, nhu cầu phục vụ vận chuyển khối lượng hàng hóa vật liệu xây dựng cho các công trình xây dựng, công trình giao thông như cao tốc, công trình nhà ở trong dân tăng cao. Với kết quả hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải, sản lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tốc độ tăng mạnh, dẫn đến doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường biển tăng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 5 năm có dấu hiệu chững lại so với tháng trước, nhưng so với cùng tháng năm trước vẫn ở mức cao. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 2.684,19 triệu USD tăng 13,86% so với cùng kỳ. Chỉ tính riêng tháng 5/2023 thì tổng kim ngạch ước đạt 607,95 triệu USD giảm 4,46% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 33,90%. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 5/2023 ước đạt 227,45 triệu USD, giảm 3,46% so với tháng trước nhưng tăng đến 95,47% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do mặt hàng chủ lực thép, phôi thép ước đạt 211,23 triệu USD giảm 3,86% so với tháng trước nhưng tăng 106,82% so với cùng kỳ và dệt và hàng may mặc ước đạt 2,0 triệu USD giảm 7,83% so với tháng trước và tăng 11,11% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ có những mặt hàng như chè, thủy sản, dăm gỗ… có kim ngạch xuất khẩu tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ, nhưng do giá trị xuất khẩu mang lại không cao nên không thể kéo lại tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, việc tăng các mặt hàng xuất khẩu chứng tỏ hướng đi phù hợp, đáng khích lệ trong hoạt động xuất khẩu, giảm bớt sự phụ thuộc vào sản phẩm thép. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.126,72 triệu USD, tăng 49,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, mặt hàng thép và phôi thép ước đạt 1.043,67 triệu USD và là mặt hàng có kim ngạch tăng lớn nhất tăng 54,55% so với cùng kỳ năm 2022 (Riêng lượng xuất khẩu của Formosa ước đạt 1.070,37 triệu USD, tăng 51,88% so với cùng kỳ), tiếp đến là mặt hàng Dăm gỗ ước đạt 29,80 triệu USD tăng 21,98%, dệt và may mặc ước đạt 7,56 triệu USD tăng 2,72%. Xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại tiếp tục gặp khó khăn khi giảm sâu 29,40% so với cùng kỳ năm trước, do tình hình chung nhiều nhà máy dệt may trên thế giới phải thu hẹp sản xuất vì đầu ra giảm mạnh, do đó, các nhà máy giảm nhập khẩu nguyên liệu từ Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó cũng phải kể đến việc cùng kỳ năm trước là năm sản phẩm xơ, sợi đạt mức xuất khẩu kỷ lục trong các năm qua. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 5 ước đạt 380,5 triệu USD, giảm 5,05% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 12,68% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất khi việc tiêu thụ đầu ra thép gặp khó khăn, nhưng giá trị nhập khẩu vẫn được cầm chừng và đạt khá hơn so với cùng tháng năm trước do giá nguyên liệu thép đang ở mức hợp lý (Nhập khẩu Formosa ước đạt 302,40 triệu USD giảm 6,74% so với tháng trước và tăng 4,29% so với cùng kỳ). Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.557,47 triệu USD, giảm 2,75% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 năm 2023 giảm nhẹ so với tháng trước, mức giảm của chỉ số giá chủ yếu nằm ở mặt hàng giao thông do giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn cả nước giảm sâu sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua. Tháng 5 năm 2023, chỉ số CPI chung giảm 0,08% so với tháng trước và tăng 1,11% so với cùng tháng năm trước. Xét trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng biến động giảm so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất ở nhóm hàng giao thông như đã nói ở trên, còn lại có 5 nhóm hàng giảm không đáng kể so với tháng trước. Có 01 nhóm hàng hóa ổn định giá không thay đổi so với tháng trước là Giáo dục. Bên cạnh đó trong tháng cũng phát sinh nhóm hàng văn hóa, giải trí và du lịch có biến động chỉ số tăng cao so với tháng trước (tăng 5,36%), nguyên nhân do nhu cầu du lịch tăng ảnh hưởng đến giá dịch vụ lưu trú, trong khi đó, giá điện tăng và thời tiết nắng nóng khiến các cơ sở kinh doanh dịch vụ trò chơi điện tử tăng giá. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 5/2023: Thứ nhất, ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ: Thời tiết nắng nóng khắc kéo dài tác động đến nhu cầu thực phẩm, đồ uống, hàng dệt may, hàng điện máy, điện và nước sinh hoạt. Thứ hai, giá xăng dầu bình quân giảm so tháng trước. Thứ ba, giá vật liệu xây dựng giảm mạnh, tình hình thị trường tiêu dùng thịt gia súc, gia cầm tiếp tục gặp khó khăn. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023 chỉ số giá bình quân tăng 2,08% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khu vực thành thị tăng 1,68%; nông thôn tăng 2,25%. Tăng rõ nét nhất là nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 5,24%) do thị trường xây dựng hoạt động mạnh trong thời gian qua, mặc dù giá vật liệu tháng 5 đã có dấu hiệu hạ nhiệt hơn tháng trước nhưng tính chung bình quân 5 tháng vẫn đang ở mức giá cao, giá điện sinh hoạt tăng nhất là khu vực nông thôn có xu hướng tăng nhanh hơn do đời sống người dân được cải thiện. Đối với mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng 3,21% hiện tại giá gạo vẫn đang ở mức cao do đang thu hoạch lúa vụ Đông Xuân, và mặt hàng văn hóa, giải trí và du lịch cũng tăng ở mức cao do nhu cầu và giá các loại dịch vụ giải trí, du lịch tăng trong mùa cao điểm du lịch. Chỉ có 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm, trong đó giảm mạnh nhất ở nhóm giao thông (giảm 2,17%) chủ yếu do giá xăng, dầu nhiện liệu đã có xu hướng hạ nhiệt hơn. Thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, tình hình khó khăn tại các khu kinh tế lớn trong nước và thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu, điện sinh hoạt. Chỉ số giá vàng tháng 05/2023 tăng 2,36% so với tháng trước, tăng 3,65% so với cùng tháng năm trước; giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.701 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,47% so với tháng trước và giảm 1,45% so với cùng tháng năm trước; giá đô la Mỹ bình quân 2.343.999 đồng/100 USD. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dự kiến trong tháng 6/2023 tiếp tục tăng các nhóm hàng hóa, dịch vụ, du lịch, ăn uống, thuỷ hải sản, giá phòng lưu trú, dịch vụ lữ hành. Giá điện và nước sinh hoạt tăng cao khi lượng tiêu thụ khả năng đạt ở mức cao khi tình hình thời tiết nắng nóng trên 40oC trên địa bàn tỉnh và giá điện cơ bản sau điều chỉnh tăng có tác động hoàn toàn đến chu kỳ tính giá điện tiếp theo. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Giáo dục Năm học 2022-2023 tiếp tục ghi nhận thành quả nổi bật của ngành GD&ĐT Hà Tĩnh trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp. Trong kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế, Hà Tĩnh tự hào ghi nhận 2 học sinh trúng tuyến vào đội tuyển dự thi Olympic Hóa học quốc tế và đội tuyển dự thi Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương. Cũng trong thời gian này, các trường học ở Hà Tĩnh đang tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng ôn tập, chuẩn bị kiến thức cho học sinh trước khi bước vào kỳ thi cuối cấp, đồng thời sẽ hoàn thành kế hoạch giáo dục trước ngày 25/5/2023. Kỳ thi vào lớp 10 THPT ở Hà Tĩnh sẽ bắt đầu vào ngày 6-7/6/2023, với chỉ tiêu phân luồng 70% học sinh vào THPT (giảm 2% so với năm trước). 2. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19: Dịch COVID-19 vẫn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, nhất là đối với nhóm có nguy cơ cao. Ngành y tế Hà Tĩnh khuyến cáo người dân tuyệt đối không chủ quan, cần tuân thủ việc tiêm phòng và đeo khẩu trang nơi công cộng. Để phòng, chống hiệu quả với dịch bệnh COVID-19, Hà Tĩnh vẫn đang tập trung cao cho công tác tiêm vắc-xin phòng COVID-19, nhất là các mũi tăng cường cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao và trẻ em. Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến ngày 22/5/2023 là 59.482 ca mắc, còn tính từ ngày 01/01/2022 đến nay là 58.523 ca mắc. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 01 ca sốt xuất huyết, 17 ca mắc bệnh quai bị, 33 ca mắc lỵ trực trùng, 24 ca mắc lỵ a míp, 31 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.308 ca mắc bệnh cúm, 03 ca mắc bệnh do adeno, 37 ca chân tay miệng, 294 ca tiêu chảy, 7 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 5 tháng năm 2023, trên địa bàn cũng chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 25 ca sốt xuất huyết (tăng 21 ca so với cùng kỳ năm trước), 2 ca sốt rét (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 80 ca mắc bệnh quai bị (tăng 39 ca), 121 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 41 ca), 130 ca mắc lỵ a míp (tăng 17 ca), 109 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 36 ca), 6.215 ca mắc bệnh cúm (tăng 750 ca), 8 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 102 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước có 1 ca), 1.162 ca tiêu chảy (tăng 212 ca), 36 ca viêm gan vi rút khác (tăng 17 ca) và không có người chết do các bệnh trên. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng, có 7 người nhiễm mới HIV, 8 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS; tăng 2 người nhiễm HIV, 4 người chuyển thành AIDS, giảm 1 người chết vì AIDS so với tháng trước và tăng 7 người nhiễm AIDS, 8 người chết vì AIDS, còn số người nhiễm mới HIV không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng năm 2023, có 28 người nhiễm mới HIV, 24 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS; tăng 17 người nhiễm HIV, 19 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác an toàn thực phẩm: Nhằm đảm bảo công tác an toàn thực phẩm trong mùa du lịch, đặc biệt trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng kéo dài với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi để vi khuẩn sinh sôi. Các đơn vị cơ quan chức năng liên ngành tăng cường công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn; công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Đồng thời khuyến cáo người dân cần nắm được những kiến thức cơ bản, trong bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh ăn uống. Trong tháng, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 66 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; đều giảm 7 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 9,59%) so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng năm 2023, có 1 vụ ngộ độc tập thể (làm 7 người bị ngộ độc), 338 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (nhưng tăng 3 người bị ngộ độc), tăng 91 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 36,84%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh đã triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 133 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2023) và 66 năm Ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (15/6/1957 - 15/6/2023), Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh đã tổ chức biểu diễn vở ca kịch “Lời Bác dặn trước lúc đi xa” phục vụ người dân địa phương.Vở kịch cũng đã thu hút hàng trăm khán giả địa phương đến theo dõi, để lại nhiều cảm xúc và ấn tượng sâu sắc cho người xem. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Đã kiểm tra ở 5 khu, điểm du lịch tại biển Kỳ Nam, Thị xã Kỳ Anh; biển Kỳ Xuân, huyện Kỳ Anh; biển Thiên Cầm, huyện Cẩm Xuyên; biển Thạch Hải, huyện Thạch Hà; biển Xuân Hải, huyện Lộc Hà; biển Xuân Thành, huyện Nghi Xuân; Chùa Hang, Thị xã Hồng Lĩnh và 06 công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh. Qua kiểm tra, Đoàn đã chỉ ra các tồn tại, hạn chế, thiểu sót; lập biên bản nhắc nhở, yêu cầu chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật đồng thời yêu cầu khắc phục tồn tại, hạn chế, thiếu sót; lập biên bản xử phạt 01 cơ sở với số tiền 2 triệu đồng. Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Tháng 5 năm 2023, đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia giải vô địch karate Miền trung, Tây Nguyên giành được 21 huy chương (gồm 14 HCV, 5 HCB, 2 HCĐ); Giải đua thuyền Rowing và Canoeing vô địch các CLB toàn quốc năm 2023 tại thành phố Đà Nẵng giành 9 huy chương (gồm 5 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ). Cũng trong thời gian này, tham gia tại SEA Games 32, điền kinh Hà Tĩnh có 4 vận động viên, giành được 5 huy chương (3 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ); tham gia thi đấu Giải thể thao khuyết tật quốc gia năm 2023, Hà Tĩnh đã giành được 9 huy chương (gồm 1 HCV, 6 HCB, 2 HCĐ). Thể thao quần chúng: Phối hợp tổ chức thành công các giải thể thao quần chúng như: giải Đua thuyền toàn tỉnh, giải Bóng chuyền hơi Công đoàn Viên chức tỉnh, giải Quần vợt Cúp Truyền hình Hà Tĩnh lần thứ VII năm 2023. Ngoài ra, Công đoàn cơ quan UBND TP Hà Tĩnh phối hợp với Công đoàn Ngân hàng BIDV Hà Tĩnh tổ chức giải chạy “Vì thành phố xanh năm 2023”, thu hút Gần 300 VĐV hưởng ứng. Đây là hoạt động nhằm gắn kết an sinh xã hội với việc rèn luyện thể thao, nâng cao sức khỏe; kết nối cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, lan tỏa thông điệp nhân văn của hoạt động thể thao cộng đồng; thiết thực chào mừng kỷ niệm Chiến thắng 30/4, Ngày Quốc tế lao động 1/5 và chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp nhiệm kỳ 2023-2028. 4. Tình hình an toàn giao thông Để đảm bảo an toàn giao thông trong thời gian tới, Công an tỉnh chỉ đạo tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, ATGT đường bộ, đường sắt, đường thủy, như: người điều khiển phương tiện vi phạm quy định nồng độ cồn, ma túy, chở quá tải trọng, quá số người quy định; phương tiện kinh doanh vận tải vi phạm quy định về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tụ tập gây rối trật tự công cộng, đua xe trái phép; cương quyết xử lý, trấn áp những đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ. Tính từ ngày 15/4-14/5/2023 xảy ra 22 vụ tai nạn đường bộ, làm 15 người chết, 12 người bị thương, thiệt hại 320 triệu đồng; tăng 2 vụ, giảm 1 người chết, tăng 3 người bị thương so với tháng trước và tăng 15 vụ, tăng 10 người chết, tăng 10 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính từ ngày 15/12/2022-14/5/2023 đã xảy ra 68 vụ tai nạn đường bộ, làm 54 người chết, 26 người bị thương, thiệt hại 930 triệu đồng; tăng 32 vụ, tăng 23 người chết, giảm 9 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định. 5. Môi trường Tình hình cháy, nổ: Tình hình cháy: từ ngày 15/3-14/5/2023 đã xảy 9 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 195 triệu đồng; không thay đổi so với tháng trước và tăng 6 vụ, thiệt hại về người không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính từ 15/12/2022-14/5/2023 xảy ra 36 vụ, không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 885 triệu đồng; tăng 25 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Nổ: từ ngày 15/12/2022 - 14/5/2023 không xảy ra vụ nổ nào và không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/4-14/5/2023 đã phát hiện 28 vụ và đã xử lý 16 vụ, với tổng số tiền xử phạt 262,89 triệu đồng; giảm 15 vụ đã phát hiện, giảm 19 vụ đã xử lý, tăng 123,62 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 36 vụ đã phát hiện, giảm 33 vụ đã xử lý, giảm 27,2 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường đã phát hiện trong tháng chủ yếu là vận chuyển cát trái phép, sử dụng xung kích điện đánh bắt thủy sản trái phép... phát hiện 25 vụ (chiếm 89,29%), đã xử lý 16 vụ với số tiền xử phạt 262,89 triệu đồng. Tính chung 5 tháng năm 2023 (từ 15/12/2022-14/5/2023) đã phát hiện 390 vụ, xử lý 318 vụ, tổng số tiền xử phạt 1.161,66 triệu đồng; giảm 84 vụ đã phát hiện (giảm 17,72%), giảm 22 vụ đã xử lý (giảm 6,47%), số tiền xử phạt giảm 107,31 triệu đồng (giảm 8,46%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng không xảy ra thiên tai, không thay đổi so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay không xảy ra thiên tai và không thay đổi so cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2023
  •   26/07/2024 14:44

I. LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sảnVụ Xuân 2023 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho các loại cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là cây lúa. Hiện nay lúa đang trong thời kỳ trổ bông và dự kiến lúa sẽ trổ tập trung vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2023; Tổng đàn vật nuôi cơ bản ổn định và tăng nhẹ, tuy vậy, hoạt động chăn nuôi vẫn tiếp tục gặp khó khăn do chi phí chăn nuôi tiếp tục tăng cao trong khi giá sản phẩm lại giảm; tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2023 khai thác gỗ vẫn đạt mức tăng khá, điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc chăm sóc, trồng rừng và khai thác rừng; Khai thác thủy sản tiếp tục duy trì mức tăng ổn định, hiện nay vào mùa du lịch nên nhu cầu tăng, giá cả ổn định nên khuyến khích người dân ra khơi bám biển.1.1 Sản xuất nông nghiệp       * Trồng trọt Thời gian này khi lúa đang vào kỳ trổ bông, nhưng thời tiết diễn biến bất thường là điều kiện để sâu bệnh phát sinh gây hại, nhất là bệnh đạo ôn cổ bông nên cần phải thường xuyên thăm đồng để phát hiện và phòng, trừ sâu bệnh. Cùng với cây lúa thì các loại cây trồng vụ Xuân khác cũng đang được chăm sóc và sinh trưởng, phát triển tốt. Cây lạc đang trong giai đoạn đâm tia, phát triển củ; cây ăn quả như cam, bưởi…đang giai đoạn phát triển quả non.       Hiện nay, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, trên các loại cây trồng vụ đang có các loại sâu bệnh phát sinh gây hại như sau: Trên cây lúa thì bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên những chân ruộng sâu trũng, gieo cấy dày, bón thừa đạm. Chủ yếu tập trung ở Can Lộc, Cẩm Xuyên, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà,…tỷ lệ trung bình 3-7%, nơi cao 10-15%, diện tích 190 ha; chuột gây hại trên lúa gieo thẳng ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, với tỷ lệ trung bình 3-5%, nơi cao 7-10%, cục bộ 15-20%, diện tích 230 ha, trong đó 3 ha bị nặng. Trên cây ngô thì sâu keo mùa thu, sâu cắn lá phát sinh gây hại trên trà ngô 3-7 lá, diện tích nhiễm 12 ha, bệnh đốm lá lớn, đốm lá nhỏ gây hại trên trà ngô sớm, diện tích 22 ha tập trung tại Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Cẩm Xuyên…Cây lạc thì bệnh lỡ cổ rễ, nấm mốc đen, trắng phát sinh gây hại rải rác ở Thạch Hà, Hương Sơn, Vũ Quang, tỷ lệ trung bình 1-3%, diện tích 4 ha và nhóm sâu ăn lá (sâu xanh, sâu cuốn lá) diện tích 32 ha. Trên cây ăn quả có múi có sâu đục thân, đục cành 17 ha; sâu vẽ bùa, sâu nhớt 25 ha; rệp muội 25 ha; rầy chổng cánh 10 ha; nhện nhỏ 12 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,…Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang trong quá trình đơm hoa, kết trái nên cần tập trung phòng, trừ sâu bệnh để tránh thiệt hại, nhất là bệnh đạo ôn gây hại đối với cây lúa. * Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng 4/2023 tiếp tục gặp khó khăn khi giá thức ăn chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán sản phẩm giảm mạnh. Nhìn chung số lượng đàn đại gia súc ổn định, đàn lợn và đàn gia cầm tuy có tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng với mức tăng không lớn và vẫn còn thiếu ổn định. Riêng đối với hoạt động chăn nuôi lợn, hiện nay giá lợn hơi đang ở mức thấp, trong khi giá thức ăn tăng quá cao nên tiếp tục gặp khó khăn trong việc thực hiện phát triển đàn lợn. Hoạt động chăn nuôi trong thời gian tới vẫn tiếp tục gặp khó khăn khi mà các khó khăn về giá bán sản phẩm, chi phí sản xuất chưa được tháo gỡ.Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, tính đến ngày 10/4/2023, bệnh viêm da nổi cục đang xẩy ra và chưa qua 21 ngày trên địa bàn 5 phường, xã thuộc 3 huyện, thành phố, thị xã gồm: Phường Thạch Linh (thành phố Hà Tĩnh); phường Đậu Liêu (thị xã Hồng Lĩnh); xã Ngọc Sơn, xã Thạch Xuân và xã Thạch Ngọc (huyện Thạch Hà). Tổng số bò mắc bệnh 28 con, số chết tiêu hủy là 2 con với trọng lượng 146 kg. Thời gian tới, để phát triển chăn nuôi bên cạnh các chính sách nhằm phát triển đàn thì công tác phòng, chống dịch bệnh phải tiếp tục được quan tâm thực hiện để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi phát triển.       1.2 Lâm nghiệp         Trong tháng 4/2023, cùng với hoạt động khai thác thì với điều kiện thời tiết mát mẻ, nhiệt độ thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào chu kỳ khai thác nên kết quả diện tích rừng trồng tập trung tháng 4 cũng như tính chung 4 tháng đầu năm 2023 ước tính giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tiếp tục tăng hơn so với cùng kỳ năm trước do diện tích rừng đến tuổi khai thác trên địa bàn vẫn còn khá lớn. Bên cạnh đó, do nhu cầu ngày càng giảm nên sản lượng củi khai thác tiếp tục giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất lâm chủ yếu tập trung ở các địa phương như Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh...        Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2023, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 23 vụ phá rừng (giảm 6 vụ), với diện tích rừng bị phá là 8,64 ha (giảm 0,73 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.          1.3 Thủy sảnKết quả sản xuất thủy sản tháng 4/2023 tiếp tục duy trì được mức tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với tháng trước lại giảm cả về sản lượng khai thác cũng như nuôi trồng. Trong khi sản lượng nuôi trồng giảm do sản phẩm chưa đến kỳ thu hoạch thì hoạt động khai thác biển cũng đang gặp rất nhiều khó khăn khi các chi phí đều tăng cao, nhất là giá xăng, dầu. Mặt khác, năm nay các loại hải sản ở vùng lộng xuất hiện ít hơn nên kết quả khai thác hải sản tăng không đáng kể. Thời gian tới, với điều kiện thời tiết thuận lợi cho hoạt động đánh bắt và nhu cầu tiêu dùng hải sản tăng trong mùa du lịch biển thì hy vọng hoạt động khai thác hải sản sẽ đạt được kết quả khá hơn.      Trong tháng 4/2023, các hộ nuôi trồng đã tập trung xuống giống thả nuôi vụ tôm Xuân Hè năm 2023. Theo khung lịch thời vụ năm 2023 của Sở NN&PTNT, vụ nuôi tôm Xuân Hè sẽ xuống giống trong tháng 3 và tháng 4 dương lịch. Toàn tỉnh dự kiến sẽ sản xuất trên diện tích hơn 2.230 ha với hơn 900 triệu con giống. Nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh. Tình hình dịch bệnh: Trong tháng không xẩy ra dịch bệnh đối với các loại thủy sản nuôi trồng trên địa bàn. 2. Sản xuất công nghiệp Bốn tháng đầu năm 2023 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn gặp khó khăn, chưa có sự bứt phá nào đáng kể so với năm 2022. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cộng dồn 4 tháng đầu năm 2023 vẫn giảm nhẹ 0,83% so cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tháng 4/2023 chỉ số sản xuất ngành công nghiệp so với tháng 3/2023 giảm 3,17% và tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,65% so với tháng trước và giảm 11,98% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,77% so với tháng trước và giảm 0,05% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,03% so với tháng trước và tăng 11,48% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,17% so với tháng 3/2023 và giảm 10,26% so với tháng 4/2022.       Tính chung 4 tháng đầu năm 2023 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm 0,83% so cùng kỳ năm 2022. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 11,42%, làm giảm 0,01 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,14% làm giảm 1,29 điểm phần trăm (là ngành đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,46%, làm tăng 0,74 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 15,49%, làm giảm 0,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Tính từ đầu năm 2023 đến nay, do biến động của giá thị trường, giá nguyên liệu nhập khẩu vẫn ở mức cao, mặc dù giá thép thành phẩm có tăng nhưng vẫn ở mức thấp so với chi phí nên Công ty Formosa chưa tăng sản lượng sản xuất. Bên cạnh đó hiện nay, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 vận hành theo thị trường điện, tuy nhiên do tổ máy số 1 chưa khắc phục xong sự cố và giá than đang ở mức cao nên thường phải điều chỉnh công suất phát điện.       2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, trong số 19 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 6 nhóm sản phẩm tăng so cùng kỳ năm trước (chiếm 31,6% trong tổng số sản phẩm) và có 13 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm (chiếm 68,4%) trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Cụ thể: Nhóm sản phẩm có chỉ số tăng bao gồm: Mực đông lạnh tăng 51,7%; điện thương phẩm tăng 15,06%; rác thải không độc hại đã thu gom không thể tái chế tăng 5,46%; điện sản xuất tăng 4,19%; bia đóng lon tăng 4,3%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm tăng 1,15%. Ngoài ra một số nhóm sản phẩm có chỉ số giảm bao gồm: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit giảm 69,7%; quặng zircon và tinh quặng zircon giảm 50,4%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 42,73%; thức ăn gia súc giảm 28,24%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 27,21%; chè (trà) nguyên chất giảm 23,05%; nước không uống được giảm 16,76%; vỏ bảo, dăm gỗ giảm 14,62%... 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động tháng 4/2023 ước tính tăng 0,13% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 7,61%. Chỉ số sử dụng lao động cộng dồn đến cuối tháng 4/2023 ước tính giảm 7,39% so với cùng kỳ năm 2022. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 4 tháng đầu năm 2023 giảm so với cùng kỳ chủ yếu là do giảm số lượng lao động của ngành công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo. Cụ thể chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 16% và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,73% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động tính đến tháng 4/2024 đối với ngành ngành sản xuất và phân phối điện nhìn chung ổn định. Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 2,96% so với cùng kỳ năm 2022. Bên cạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật đưa máy móc thiết bị vào quá trình sản xuất để tiết giảm lao động thì cũng có những doanh nghiệp do khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên đã giảm quy mô sản xuất và giảm lao động. 3. Vốn đầu tư Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý dự ước tháng 4/2023 mặc dù có cao hơn so với tháng trước (tăng 11,35%) tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước đạt thấp (giảm 13,11%). Tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4 tháng đầu năm 2023 ước giảm 18,08% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2023 ước đạt 330,22 tỷ đồng, tăng 11,35% so với tháng trước, giảm 13,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 240,33 tỷ đồng, tăng 12,24% so với tháng trước và giảm 17,45% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 63,67 tỷ đồng, tăng 8,69% so với tháng trước và giảm 9,17% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 26,22 tỷ đồng, tăng 9,92% so với tháng trước và tăng 39,34% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý dự ước tháng 4/2023 tăng cao hơn so với tháng trước do thời tiết trong tháng thuận lợi, nguồn vốn đảm bảo, thúc đẩy các nhà thầu tập trung thi công. Bên cạnh đó, công tác giải phóng mặt bằng được UBND các cấp và các đơn vị liên quan tập trung rà soát, đôn đốc. Tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý giảm mạnh chủ yếu giảm ở nguồn vốn cấp tỉnh (giảm 17,45%), cấp huyện giảm (9,17%). Đây là 2 nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 92,06%) trong tổng tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý Nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý 4 tháng đầu năm ước đạt 1.168,30 tỷ đồng, giảm 18,08% so với cùng kỳ năm 2022. Nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch năm giảm mạnh so với năm trước. Nhìn chung những tháng đầu năm 2023 khó khắn trong tiến độ giải phóng mặt bằng, bồi thường, vướng mắc trong công tác bàn giao ảnh hưởng tới tiến độ triển khai dự án lớn trên địa bàn. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả       4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng       Trong tháng 4/2023, hoạt động thương mại và dịch vụ đạt mức tăng trưởng khá so với tháng trước do tác động nhiều yếu tố, ngoài ra, trong tháng trùng vào nhiều dịp nghỉ các lễ lớn như: Giỗ tổ Hùng Vương, Giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 1/5 cũng là một trong những yếu tố kích cầu tiêu dùng. Du lịch tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả đáng kể, bứt phá so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt đã vào mùa du lịch biển cũng là cơ hội để tỉnh nhà khai thác tiềm năng du lịch địa phương. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 4/2023 doanh thu ước đạt 4.685,89 tỷ đồng, tăng 4,63% so với tháng trước và tăng 17,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Bán lẻ tại các trung tâm thương mại, siêu thị ước đạt 29,40 tỷ đồng, tăng 4,62% so với tháng trước và tăng 73,19% so với cùng kỳ năm trước. Xét trong các nhóm hàng chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm nhẹ so với tháng trước là nhóm hàng hóa khác và nhóm Đá quý, kim loại quý. Còn lại các nhóm hàng đều có tốc độ tăng khá, đặc biệt các nhóm hàng chủ yếu và tăng khá như Lương thực, thực phẩm tăng 5,0% so với tháng trước, tăng 27,49% so với cùng kỳ. Hàng may mặc tăng 7,19% so với tháng trước, tăng 11,86% so với cùng kỳ. Đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 7,02% so với tháng trước, tăng 17,31% so với cùng kỳ; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 18,09% so với tháng trước, tăng 36,91% so cùng kỳ; Gỗ và vật liệu xây dựng tăng 7,69% so với tháng trước, tăng 40,73% so với cùng kỳ; Xăng, dầu các loại tăng 1,93% so với tháng trước, tăng 31,54% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do các nguyên nhân: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời tiết chuyển sang mùa nắng tác động đến các nhóm hàng hóa thực phẩm, đồ uống, điện lạnh, vật liệu xây dựng, hàng may mặc. Thứ hai, Tình hình kinh tế khó khăn tại nhiều khu vực lớn trong nước ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Dư nợ cao trong khi lãi suất tín dụng tăng mạnh trong thời gian qua khiến người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu. Thứ ba, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại. Tính chung, 04 tháng đầu năm 2023 tổng mức bán lẻ hàng hóa dự tính đạt 18.797,57 tỷ đồng, tăng 21,55% so với cùng kỳ năm trước. Biến động rõ nét nhất so với cùng kỳ ở các nhóm mặt hàng thiết yếu và chiếm tỷ trọng doanh thu cao như: Lương thực, thực phẩm tăng 28,34%; may mặc tăng 35,99%; đồ dùng, thiết bị gia đình tăng 33,81%; xăng dầu các loại tăng 37,02%;... Chỉ có 2 nhóm hàng có doanh thu giảm so với cùng kỳ đó là nhóm ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 16,01%; phương tiện đi lại khác giảm 36,02%, nguyên nhân chủ yếu do đây là các mặt hàng xa xỉ, nguồn vốn huy động hạn chế do lãi suất tín dụng đang ở mức cao cũng như lượng vốn đang mắc tại thị trường bất động sản. Nhưng nhìn chung, tổng mức doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm tăng mạnh so cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả tăng mạnh ngoài ra, do sức mua tăng do tính chất mùa vụ: thời tiết đã chuyển mùa nhu cầu mua sắm quần áo, các đồ dùng dụng cụ gia đình như điều hòa, quạt điện…thiết bị làm mát tăng. Đặc biệt nhóm vật liệu xây dựng do thời tiết thuận lợi cho khởi công các công trình xây dựng giao thông, nên sản lượng hàng hóa bán lẻ vật liệu xây dựng sắt, thép, xi măng tăng. Hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 04/2023 doanh thu ước đạt 601,65 tỷ đồng, tăng 8,27% so với tháng trước, tăng 16,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 24,02 tỷ đồng, tăng 27,52% so với tháng trước, tăng 6,35% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách phục vụ 129.764 lượt, tăng 9,51% so với tháng trước và tăng 16,13% so với cùng kỳ năm trước. Ngày khách phục vụ ước đạt 125.793 ngày khách tăng 12,67% so với tháng trước tăng 35,76% so với cùng kỳ; Dịch vụ ăn uống ước đạt 572,78 tỷ đồng, tăng 7,39% so với tháng trước, tăng 16,07% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước đạt 4,85 tỷ đồng tăng 37,7% so với tháng trước và tăng 21 lần so với cùng kỳ. Trong tháng, tình hình thời tiết thuận lợi, Hà Tĩnh đang vào mùa du lịch, lượng khách du lịch tăng, công suất phòng lưu trú cũng tăng hơn, các cơ sở kinh doanh nhà hàng ăn uống hoạt động ổn định hơn. Mặt khác, trong tháng trùng các dịp lễ như: Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch), ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 1/5, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình tăng cao so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.191,7 tỷ đồng tăng 26,84% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành l­ưu trú ước đạt 80,34 tỷ đồng, tăng 33,31%; lượt khách phục vụ 478.155 lượt, tăng 47,30%; ngày khách phục vụ 442.229 ngày, tăng 58,04% so với cùng kỳ năm trước; Ăn uống ước đạt 2.097,78 tỷ đồng, tăng 25,81%. Hoạt động du lịch trở lại hoạt động so với cùng kỳ năm trước đang bị tạm dừng, doanh thu ước đạt 13,58 tỷ đồng. Hà Tĩnh được xác định là một trong những điểm dừng chân lý tưởng để tham quan, thưởng thức các thắng cảnh thiên nhiên đặc sắc, các di tích lịch sử và thưởng thức nét ẩm thực riêng của tỉnh. Đặc biệt, trong quý I đã tổ chức nhiều lễ hội văn hóa hấp dẫn như: lễ hội chùa Hương Tích (Can Lộc) gắn với khai trương năm du lịch Hà Tĩnh 2023; lễ hội Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (Hương Sơn); lễ hội Đền Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu (TX Kỳ Anh); lễ hội đền Củi (Nghi Xuân), lễ hội Văn Miếu (TP Hà Tĩnh)... Cùng với đó, dịp nghỉ các lễ lớn như Quốc tế phụ nữ 8/3; Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch), ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 1/5 năm nay với thời gian nghỉ dài ngày và cũng là tháng bắt đầu mùa du lịch biển nên nhu cầu tham quan nghỉ mát tăng mạnh, lượng khách đến thuê phòng nghỉ tại các điểm du lịch biển dự kiến tăng dẫn đến doanh thu nhóm hàng này tăng cao trong quý. Hoạt động dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 04/2023 ước tính đạt 363,03 tỷ đồng, tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 21,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 1.436,81 tỷ đồng, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 20,73%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 52,01%; giáo dục đào tạo tăng 33,17%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 2,36%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 193,15%; Dịch vụ khác tăng 14,12%. Hoạt động dịch vụ 4 tháng đầu năm 2023 phát triển mạnh so với cùng kỳ năm trước. Người dân đã tích giải tỏa được tâm lý sau 1 năm dịch bệnh để hưởng ứng các dịp lễ lớn góp phần kích cầu tiêu dùng giúp cho tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ khác phát triển mạnh hơn. Bên cạnh đó, các công trình xây dựng lớn trên địa bàn tiếp tục thi công, nhu cầu thuê máy móc phục vụ san lấp mặt bằng tăng, các hoạt động nghệ thuật vui chơi giải trí cũng ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân. 4.2. Hoạt động vận tải Kết quả hoạt động kinh doanh vận tải tháng 4/2023 ước tính tăng hơn so với tháng trước. Do nhu cầu đi lại của người dân trong dịp nghỉ lễ 10/3 âm lịch và 30/4-1/5 gần nhau và kỳ nghỉ kéo dài khá dài ngày, cùng với đó là các đơn vị kinh doanh vận tải điều chỉnh giá cước do ảnh hưởng của giá xăng dầu khiến cho doanh thu vận tải hành khách tăng. Đối với vận tải hàng hóa, thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng, các công trình xây dựng cơ bản, nhu cầu vận tải hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nguyên liệu sản xuất... nhất là hàng phục vụ giải khát tăng mạnh.       Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 04 năm 2023 ước đạt 574,54 tỷ đồng, tăng 4,99% so tháng trước và tăng 15,55% so cùng kỳ năm trước. Trong đó:       Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 89,32 tỷ đồng, tăng 12,99% so với tháng trước và tăng 49,79% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.110,5 nghìn HK, tăng 12,51% so với tháng trước và tăng 63,77% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 212.650,5 nghìn HK, tăng 12,4% so với tháng trước, tăng 84,01% so với cùng kỳ năm trước.       Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 385,39 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính đạt 4.203,3 nghìn tấn, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 14,06% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước đạt 131,49 triệu tấn.km, tăng 4,18% so với tháng trước và tăng 10,64% so với cùng kỳ năm trước.       Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 98,16 tỷ đồng, tăng 3,63% so với tháng trước và giảm 11,34% so với cùng kỳ năm trước.       Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, doanh thu vận tải dự tính đạt 2.126,37 tỷ đồng, tăng 10,25% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 330,30 tỷ đồng, tăng 57,82% với số lượng vận chuyển ước đạt 4.150,6 nghìn HK, tăng 75,02% và luân chuyển ước đạt 791,43 triệu HK.km, tăng 98,73% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước tính đạt 1.421,28 tỷ đồng, tăng 10,72% với khối lượng vận chuyển đạt 15.538,1 nghìn tấn, tăng 11,74% và luân chuyển đạt 482,93 triệu tấn.km, tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 369,24 tỷ đồng, giảm 17,45% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 4 tháng đầu năm 2023 có sự phát triển mạnh, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Nguyên nhân chủ yếu Thứ nhất, do thời tiết chuyển sang mùa nắng, nhu cầu đi lại bằng các phương tiện vận tải hành khách công cộng xe buýt, taxi tăng. Bên cạnh đó, lượng người du lịch, về thăm quê ở mức cao và việc các nhà xe cũng tăng giá vé xe do sự tăng giá nguyên, nhiên liệu; Thứ hai, thời tiết thuận lợi cho thi công xây dựng nên nhu cầu lớn về vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng, bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng, dụng cụ gia đình, nước giải khát, đồ uống có cồn, hàng may mặc tăng, sản phẩm chế biến phục vụ chăn nuôi đã làm khối lượng hàng hóa vận chuyển, luân chuyển tăng; Thứ ba, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng nên lượng hàng hóa thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng của Công ty TNHH Hưng nghiệp Gang thép Formosa và Công ty Cổ phần Cảng Vũng Áng Lào - Việt tăng làm cho doanh thu kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất, nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2023 đã có dấu hiệu khả quan hơn cùng kỳ năm trước và chuyển dịch cán cân hợp lý hơn khi tăng ở kim ngạch xuất khẩu và giảm dần kim ngạch nhập khẩu. Tính chung 4 tháng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 1.969,09 triệu USD tăng 3,45% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, chỉ tính riêng tháng 4/2023 thì tổng kim ngạch ước đạt 529,20 triệu USD giảm so với tháng trước (giảm nhẹ 0,60%) và cả so với cùng kỳ (giảm 8,20%). Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 4/2023 ước đạt 218,70 triệu USD, giảm 7,08% so với tháng trước nhưng tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép đạt 191,37 triệu USD giảm tới 13,49% so với tháng trước và tăng nhẹ 0,94% so với cùng kỳ; dệt và hàng may mặc ước đạt 1,60 triệu USD tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 11,11% so với cùng kỳ năm trước; dăm gỗ đạt 5,0 triệu USD tăng 2,67% so với tháng trước nhưng tăng 28,87% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 882,36 triệu USD, tăng 37,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính trong các mặt hàng xuất khẩu, thép và phôi thép ước đạt 140,29 triệu USD và là mặt hàng có kim ngạch tăng lớn nhất tăng 40,29%, tiếp đến là mặt hàng Dăm gỗ ước đạt 22,79 triệu USD tăng 21,68% còn lại tất cả các mặt hàng khác đều giảm so với cùng kỳ. Mặt hàng Chè và xơ, sợi dệt các loại giảm sâu nhất (lần lượt giảm 22,88% và 21,64%), tiếp đến là dệt và hàng may mặc giảm 10,25%. Chứng tỏ sự khó khăn trong việc sản xuất và xuất khẩu chè, hàng may, sản phẩm vải cũng như các mặt hàng thủy sản...nhưng từ những tín hiệu tích cực trong xuất khẩu mặt hàng trọng điểm thép do giá thành thép cuộn tăng và việc Trung Quốc hạn chế xuất khẩu do có những hỗ trợ từ tiêu dùng trong nước, tạo cơ hội có các nước khác xuất khẩu thép như Viện Nam nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, điều đó đã góp phần giúp cân bằng lại kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh và đạt mức tăng trưởng xuất khẩu khá cao. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 4 ước đạt 310,50 triệu USD, tăng 4,53% so với tháng trước và giảm 16,05% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất tăng sản lượng phục vụ xuất khẩu (Nhập khẩu Formosa ước đạt 260,50 triệu USD tăng 8,52% so với tháng trước và giảm 25,08% so với cùng kỳ). Cộng dồn 4 tháng đầu năm 2023, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.086,73 triệu USD, giảm 14,01% so với cùng kỳ năm trước.       5. Chỉ số giá tiêu dùng       Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 năm 2023 giảm nhẹ so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng 1,45%. Mức giảm của chỉ số giá chủ yếu nằm ở mặt hàng thiết yếu lương thực, thực phẩm cụ thể ở mặt hàng thực phẩm do thời tiết nắng nóng nhu cầu tiêu thụ thịt lợn ở mức thấp trong khi nguồn thịt đông lạnh nhập khẩu giá rẻ số lượng lớn. Tháng 04 năm 2023, chỉ số CPI chung giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 1,65% so với cùng tháng năm trước. Xét trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 4 nhóm hàng biến động giảm nhẹ so với tháng trước trong sso giảm mạnh nhất ở nhóm hàng lương thực, thực phẩm, cụ thế là giảm ở nhóm hàng thực phẩm do nguyên nhân nhử đã nói ở trên. Còn lại có 5 nhóm hàng tăng không đáng kể so với tháng trước đều ở mức tăng dưới 0,85% và có 2 nhómChỉ có 02 nhóm hàng hóa ổn định giá không thay đổi so với tháng trước là Giáo dục và Đồ uống thuốc lá. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 04/2023: Thứ nhất, ảnh hưởng thời tiết đầu mùa hè khắc nghiệt khi thời tiết nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy, giá và khối lượng tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng. Thứ hai, giá xăng dầu bình quân tăng so tháng trước. Thứ ba, Giá vật liệu xây dựng tăng trở lại, tình hình thị trường tiêu dùng thịt gia súc tiếp tục gặp khó khăn, tuy nhiên dần cải thiện tốt hơn về cuối tháng Tính chung 4 tháng đầu năm 2023 chỉ số giá bình quân tăng 2,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực thành thị tăng 1,83%; nông thôn tăng 2,54%. Rõ nét nhất là nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng 4 tháng đã tăng bình quân 5,62%. Do thị trường xây dựng hoạt động mạnh trong thời gian qua khiến nhu cầu vật liệu xây dựng tăng cao, giá thép xây dựng cũng có xu hướng tăng trở lại sau thời gian dài neo ở mức thấp. Giá điện sinh hoạt tăng nhất là khu vực nông thôn có xu hướng tăng nhanh hơn do đời sống người dân được cải thiện. Mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng 3,40% do giá gạo tiếp tục tăng bởi nguồn cung ứng gạo nội tỉnh gặp khó khăn do hiện tại chưa đến thời điểm thu hoạch lúa vụ Đông Xuân trên địa bàn tỉnh. Còn lại các nhóm hàng mặt hàng khác có chỉ số gái cụ thể như sau: đồ uống và thuốc lá tăng 0,82%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,52%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,45%; giao thông giảm 0,92%; bưu chính viễn thông giảm 0,76%; giáo dục tăng 2,35%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, tình hình khó khăn tại các khu kinh tế lớn trong nước và thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu.       Chỉ số giá vàng tháng 04/2023 tăng 2,06% so với tháng trước, tăng 0,15% so với cùng tháng năm trước; giá vàng bình quân trong tháng ở mức 5.564 nghìn đồng/chỉ 9999. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,55% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng tháng năm trước; giá đô la Mỹ bình quân 2.354.995 đồng/100 USD.       Dự báo chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 5/2023 dự kiến tăng các nhóm hàng hóa, dịch vụ, du lịch, ăn uống, thuỷ hải sản, giá phòng lưu trú, dịch vụ lữ hành. Giá điện và nước sinh hoạt tăng cao khi lượng tiêu thụ khả năng đạt ở mức cao khi tình hình thời tiết nắng nóng trên 40oC trên địa bàn tỉnh. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Giáo dục Tiếp nối những kết quả đã đạt được trong năm học 2022-2023, ngành giáo dục Hà Tĩnh tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích. Tại kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 10, với 1.207 em dự thi, có 797 em đạt giải (gồm 75 giải Nhất, 201 giải Nhì, 275 giải Ba và 246 giải Khuyến khích); ngoài số thí sinh tham gia đạt giải, còn có 17 em được đặc cách công nhận học sinh giỏi tỉnh môn Tiếng Anh. Bên cạnh đó, tham gia cuộc thi “An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai” năm học 2022 -2023 do Bộ Giáo dục-Đào tạo phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an) tổ chức, Hà Tĩnh đã giành được 2 giải nhì toàn quốc. Với 2 giải nhì của giáo viên và học sinh, Hà Tĩnh giữ vững thành tích là một trong những đơn vị dẫn đầu toàn quốc tại cuộc thi “An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai”. Cũng trong thời gian này, để chuẩn bị tốt cho kỳ thi THPT năm 2023, ngành giáo dục Hà Tĩnh đã tổ chức kỳ thi thử tốt nghiệp THPT cho học sinh lớp 12 với gần 17.000 học sinh tham gia. Kỳ thi này là cơ hội cho học sinh lớp 12 tự kiểm tra kiến thức, kỹ năng, chuẩn bị tốt tâm lý, phương pháp làm bài, đồng thời tập dượt cho việc tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023. Kết quả của kỳ thi cũng là cơ sở để các trường THPT điều chỉnh kế hoạch dạy học, ôn tập cho học sinh lớp 12 trong thời gian tới.. 2. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19: Trước tình hình số lượng ca mắc COVID-19 gia tăng tại nhiều tỉnh thành, ngành y tế khuyến cáo người dân không chủ quan, lơ là, cần chủ động tiêm vắc-xin phòng COVID-19. Tại Hà Tĩnh, nhờ thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống dịch nên hiện nay, tình hình dịch bệnh trên địa bàn vẫn được kiểm soát hiệu quả. Các cơ sở y tế không ghi nhận sự gia tăng đột biến các ca bệnh COVID-19. Tổng số ca mắc từ ngày 04/6/2021 đến nay là 58.259 ca mắc, còn tính từ ngày 01/01/2022 đến nay là 57.300 ca mắc. Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 14 ca sốt xuất huyết, 01 ca sốt rét, 22 ca mắc bệnh quai bị, 27 ca mắc lỵ trực trùng, 29 ca mắc lỵ a míp, 17 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.145 ca mắc bệnh cúm, 01 ca mắc bệnh do adeno, 21 ca chân tay miệng, 312 ca tiêu chảy, 7 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, trên địa bàn cũng chỉ có một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 24 ca sốt xuất huyết (tăng 20 ca so với cùng kỳ năm trước), 2 ca sốt rét (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 63 ca mắc bệnh quai bị (tăng 23 ca), 88 ca mắc lỵ trực trùng (tăng 16 ca), 106 ca mắc lỵ a míp (tăng 4 ca), 78 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 16 ca), 4.907 ca mắc bệnh cúm (tăng 801 ca), 5 ca mắc bệnh do adeno (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 65 ca chân tay miệng (cùng kỳ năm trước không xảy ra), 868 ca tiêu chảy (tăng 120 ca), 29 ca viêm gan vi rút khác (tăng 12 ca) và không có người chết do các bệnh trên. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, có 5 người nhiễm mới HIV, 4 người chuyển thành AIDS và có 01 người chết vì AIDS; giảm 5 người nhiễm HIV, 6 người chuyển thành AIDS, còn số người chết vì AIDS không thay đổi so với tháng trước và giảm 2 người nhiễm AIDS, tăng 01 người chết vì AIDS, còn số người nhiễm mới HIV không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2023, có 21 người nhiễm mới HIV, 16 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS; tăng 10 người nhiễm HIV, 11 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước. Công tác an toàn thực phẩm: Thực hiện “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2023, Hà Tĩnh đã triển khai mạnh mẽ chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cho các hộ sản xuất kinh doanh, xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, phổ biến các mô hình sản xuất, kinh doanh, các sản phẩm, chuỗi thực phẩm an toàn, sản phẩm truyền thống của địa phương nhằm quảng bá, khích lệ sản xuất đảm bảo an toàn, mang đậm nét truyền thống, đặc sản địa phương; công khai các cơ sở, cá nhân bị phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm nhằm cảnh cáo, răn đe, ngăn chặn các hành vi sản xuất, kinh doanh, quảng cáo thực phẩm trái pháp luật. Trong tháng, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 73 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; tăng 5 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 7,35%) so với tháng trước và tăng 19 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 35,19%) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2023, có 1 vụ ngộ độc tập thể (làm 7 người bị ngộ độc), 272 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (nhưng tăng 4 người bị ngộ độc), tăng 98 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 56,32%) và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng, Hà Tĩnh đã khai mạc Tuần Văn hóa Nguyễn Du năm 2023 nhằm lan tỏa những giá trị di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều, đồng thời là dịp để huyện Nghi Xuân quảng bá hình ảnh con người, văn hóa địa phương đến du khách; tổ chức lễ hội khai trương du lịch biển năm 2023 với chủ đề “Hà Tĩnh trtrang thơ hòa cánh sóng” là dịp để huyện Nghi Xuân giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa, tiềm năng và sản phẩm du lịch của địa phương tới bạn bè, du khách trong và ngoài nước. Ngoài ra, Hà Tĩnh còn tham gia Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch “Một hành trình - Bốn địa phương - Nhiều trải nghiệm” tại Hà Nội, với thông điệp mà Hà Tĩnh mang đến hội nghị lần này là “Hà Tĩnh - Về Hà Tĩnh người ơi!”. Trong đó giới thiệu du lịch Hà Tĩnh qua các ấn phẩm, tài liệu, tờ rơi, tập gấp, sản phẩm quà tặng du lịch, đặc sản vùng miền của các địa phương trong tỉnh. Trình chiếu video clip giới thiệu tiềm năng, sản phẩm du lịch của tỉnh. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theo kế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Công tác kiểm tra, thanh tra nhằm tập trung quản lý, chấn chỉnh các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, các hoạt động thuộc lĩnh vực Thông tin - truyền thông trên địa bàn tỉnh như chấn chỉnh bảng hiệu, quảng cáo tại các khu du lịch bãi biển....nhằm tạo môi trường cảnh quang văn minh, lịch sự tạo thiện cảm cho du khách khi đến với du lịch Hà Tĩnh. Hoạt động thể thao: Thể thao thành tích cao: Tháng 4 năm 2023, đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia 2 giải giành 21 huy chương (gồm 6 HCV, 9 HCB, 6 HCĐ), cụ thể: Giải điền kinh Cúp tốc độ Thống nhất thành phố Hồ Chí Minh năm 2023 từ 01-02/4 giành được 16 huy chương (gồm 5 HCV, 7 HCB, 4 HCĐ); Giải vô địch các câu lạc bộ Muay quốc gia năm 2023 từ 22-29/3 tại thành phố Pleiku giành 5 huy chương (gồm 1 HCV, 2 HCB, 2 HCĐ). Cũng trong thời gian này, đội bóng đá U17 Hồng Lĩnh Hà Tĩnh đã giành được HCB U17 Quốc gia năm 2023 tại Hưng Yên. Thể thao quần chúng: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao, ở Hà Tĩnh hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ và diễn ra sôi nổi như: Giải Bóng chuyền nữ huyện Cẩm Xuyên, với sự tham gia của gần 200 vận động viên đã mở màn cho chuỗi hoạt động du lịch biển Thiên Cầm năm 2023; Giải Bóng đá nam thị xã Hồng Lĩnh năm 2023; Giải Quần vợt TX Hồng Lĩnh mở rộng năm 2023; Giải bóng chuyền “phủi” gây quỹ ủng hộ trẻ mồ côi Hà Tĩnh; Giải Bóng chuyền hơi nam nữ Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh chào mừng kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Tổng Công ty… 4. Tình hình an toàn giao thông Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT) dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4, 1/5 và Kỳ tốt nghiệp THPT năm 2023; Hà Tĩnh đã đổi mới công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ATGT tới mọi tầng lớp nhân dân; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm; tăng cường công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, hành lang ATGT, kịp thời khắc phục sửa chữa hư hỏng kết cấu, tổ chức giao thông... Tính từ ngày 15/3-14/4/2023 xảy ra 20 vụ tai nạn đường bộ, làm 16 người chết, 9 người bị thương, thiệt hại 300 triệu đồng; tăng 9 vụ, tăng 5 người chết, tăng 8 người bị thương so với tháng trước và tăng 11 vụ, tăng 8 người chết, tăng 5 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính từ ngày 15/12/2022-14/4/2023 đã xảy ra 46 vụ tai nạn đường bộ, làm 39 người chết, 14 người bị thương, thiệt hại 610 triệu đồng; tăng 17 vụ, tăng 3 người chết, giảm 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. 5. Môi trường Tình hình cháy, nổ: Tính từ ngày 15/3-14/4/2023 trên địa bàn tỉnh đã xảy 9 vụ cháy không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 520 triệu đồng; tăng 6 vụ, thiệt hại về người không đổi so với tháng trước và tăng 7 vụ, thiệt hại về người không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng đã xảy ra 01 vụ cháy phương tiện giao thông ở thị xã Kỳ Anh, gây thiệt hại lớn về tài sản với giá trị ước là 500 triệu đồng. Như vậy, tính từ 15/12/2022-14/4/2023 xảy ra 27 vụ không làm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 690 triệu đồng; tăng 19 vụ, giảm 1 người chết, số người bị thương không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Vi phạm môi trường: Tính từ ngày 15/3-14/4/2023 đã phát hiện 43 vụ và đã xử lý 35 vụ, với tổng số tiền xử phạt 139,27 triệu đồng; tăng 14 vụ đã phát hiện, giảm 16 vụ đã xử lý, tăng 44,67 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước và tăng 4 vụ đã phát hiện, tăng 10 vụ đã xử lý, tăng 39,27 triệu đồng số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2023 (từ 15/12/2022-14/4/2023) đã phát hiện 362 vụ, xử lý 302 vụ, tổng số tiền xử phạt 898,77 triệu đồng; giảm 48 vụ đã phát hiện (giảm 11,71%), tăng 11 vụ đã xử lý (tăng 3,78%), số tiền xử phạt giảm 80,11 triệu đồng (giảm 8,18%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng không xảy ra thiên tai, không thay đổi so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay không xảy ra thiên tai và không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2023 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.