0239 3856 760 | hatinh@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh tháng 11 và 11 tháng năm 2024
  •   04/12/2024 16:41

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp       Tình hình sản xuất nông nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, năng suất, sản lượng các loại cây trồng đều tăng cao so với cùng kỳ; các loại dịnh bệnh trên cây trồng có xuất hiện nhưng đều được phòng ngừa kịp thời không ảnh hưởng quá lớn đến năng suất và sản lượng các loại cây. Hoạt động chăn nuôi đang được người dân đầu tư trở lại khi giá cả các loại thịt hơi đang dần ổn định, đặc biệt là chăn nuôi lợn và gia cầm, tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động chăn nuôi trâu, bò lại đang có dấu hiệu chững lại do đầu tư không hiệu quả. 1.1.1. Trồng trọt * Sản xuất cây hàng năm Tiến độ sản xuất vụ Đông 2024: Hiện nay, khung lịch thời vụ gieo trỉa các loại cây trồng hàng năm vụ Đông năm 2024 cơ bản đã kết thúc. Tuy nhiên, do cùng thời điểm phải xuống giống gieo trỉa nhiều loại cây trồng nên một số loại cây chưa đạt kế hoạch đặt ra. Nay tranh thủ những hôm thời tiết nắng ráo bà con nông dân vẫn đang tiếp tục gieo trồng cây vụ Đông mà chủ yếu là các loại rau ngắn ngày. Tính đến ngày 25/11/2024, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông 2024 ước tính 11.074 ha/12.603 ha (đạt 87,87% kế hoạch). Cụ thể, diện tích ngô lấy hạt 4.302 ha/4.851 ha (đạt 88,7% kế hoạch); diện tích ngô sinh khối 1.126 ha/1.443 ha (đạt 78% kế hoạch); diện tích khoai lang 1.313 ha/1.402 ha (đạt 93,7% kế hoạch) và diện tích rau các loại 4.333 ha/4.907 ha (đạt 88,3% kế hoạch từ đầu năm). Uớc tính cả năm 2024: Sản xuất nông nghiệp năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất thu hoạch đạt cao, đặc biệt trên cây lúa thắng lợi ở cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu. Bên cạnh đó, việc hướng dẫn người dân làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh và gieo cấy đúng lịch thời vụ nên cây lúa và các loại cây hàng năm khác phát triển tốt, kết quả sản xuất cơ bản đạt và vượt kế hoạch đã đề ra. Kết quả sản xuất năm 2024 tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 157.226 ha bằng 99,16% (giảm 1.330 ha) so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 670.660 tấn, so với thực hiện năm trước bằng 103,8% (tăng 24.572 tấn). Chỉ tính riêng cây lúa, diện tích gieo trồng ước tính đạt 104.356 ha, bằng 100,06% (tăng 64 ha) so với năm trước với năng suất gieo trồng ước tính đạt 57,31 tạ/ha, bằng 103,29% (tăng 1,83 tạ/ha) so với năm 2023. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu năm nay thắng lợi về năng suất và sản lượng, năng suất lúa chính thức đánh giá đạt cao và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Tổng sản lượng lúa ước tính đạt 598.018 tấn, bằng 103,35% (tăng 19.400 tấn) so với năm 2023. * Sản xuất cây lâu năm Tháng 11/2024 người dân đang tiến hành trồng các loại cây ăn quả. Cùng với đó, thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực của tỉnh như bưởi, cam,…vv đang vào mùa thu hoạch chính vụ. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có 31.312 ha, bằng 98,83%, (giảm 371 ha) so với năm 2023. Diện tích cây lâu năm giảm là do một số diện tích bị giải phóng làm đường giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 181.627 tấn, bằng 102,91%, (tăng 5.128 tấn) so với năm 2023. Thời gian tới Hà Tĩnh chủ trương tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao, như hình thành vùng sản xuất cam, bưởi an toàn đáp ứng được nhu cầu xuất bán vào các siêu thị, trung tâm thương mại… Cùng với cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống và tiếp tục tái đầu tư phát triển sản xuất. Sản lượng cao su ước đạt 4.767 tấn, bằng 109,84% (tăng 468 tấn); sản lượng chè búp ước đạt 14.301 tấn, bằng 101,16% (tăng 164 tấn); sản lượng chè hái lá ước đạt 19.938 tấn, bằng 101,11% (tăng 219 tấn) so với năm trước. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Mặc dù hiện nay sâu bệnh có xuất hiện gây hại trên diện tích một số loại cây trồng nhưng với mức độ ảnh hưởng còn nhẹ. Để chủ động phòng trừ sâu bệnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã đưa ra khuyến cáo về một số loại sâu bệnh gây hại như sau: Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô 3-7 lá, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 28ha; bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô Hè muộn, Đông sớm, diện tích nhiễm 25ha, phân bố tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê… Trên cây rau: Bọ nhảy gây hại mật độ 8-10 con/m2, nơi cao 12-15 con/m2, diện tích nhiễm 45ha; sâu xanh bướm trắng gây hại mật độ 2-5 con/m2, diện tích nhiễm 45ha, phân bố tại Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thành phố Hà Tĩnh… 1.1.2. Chăn nuôi Kết quả sản xuất: Với kết quả chăn nuôi như hình trên cho thấy hoạt động chăn nuôi tháng 11 và 11 tháng năm 2024 cơ bản ổn định, tổng đàn trâu bò có xu hướng giảm do đầu tư không hiệu quả; chăn nuôi lợn và gia cầm mặc dù đang được đầu tư phát triển nhưng vẫn còn cầm chừng do những lo ngại về tình hình dịch bệnh và giá cả thức ăn chăn nuôi. Dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xẩy ra nhưng cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi tiếp tục được quan tâm thực hiện các sản phẩm chăn nuôi cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân. Hiện nay đang là thời điểm người chăn nuôi tập trung tái đàn, tăng đàn gia súc, gia cầm để cung ứng ra thị trường vào dịp lễ vì vậy các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục duy trì ổn định tổng đàn vật nuôi và thực hiện các biện pháp phòng chống dịch trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm 2024 đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra một số loại dịch bệnh với quy mô nhỏ đã được khống chế, dập tắt như: Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) làm cho 156 con bò mắc bệnh, trong đó có 20 con chết, tiêu hủy, với khối lượng 3.411 kg. Dịch Lở mồm long móng xảy ra tại 04 xã thuộc huyện Kỳ Anh làm cho 56 con trâu bò mắc bệnh, trong đó làm 06 con bò chết, tiêu hủy khối lượng 1.380 kg. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 22 xã thuộc 07 huyện (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, Lộc Hà, thành phố Hà Tĩnh, Tthị xã Kỳ Anh) làm cho 290 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy, khối lượng 18.596,6 kg. 1.2. Hoạt động lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp tháng 11 và 11 tháng năm 2024 nhìn chung khá ổn định, sản lượng khai thác lâm nghiệp trong năm diễn ra thuận lợi và sản lượng tăng khá. Công tác trồng rừng và bảo vệ rừng là một trong những việc làm hết sức thiết thực để phát triển bền vững tại địa phương, vì vậy luôn được các cấp, ngành quan tâm thực hiện. Kết quả sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 11/2024 ước đạt 1.505 ha, bằng 93,25%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 82.303 m3, bằng 101,42%. Tính chung 11 tháng năm 2024, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 8.395 ha, bằng 101,01%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 499.139 m3, bằng 109,03%. Trồng rừng, bảo vệ rừng là hoạt động thiết thực để phát triển bền vững, phát triển rừng vừa tạo ra thu nhập từ rừng, vừa để bảo vệ môi trường. Tính chung 11 tháng năm 2024, diện tích rừng trồng mới, hoạt động khai thác gỗ tăng so với cùng kỳ năm trước. Thiệt hại về rừng: Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng và phá rừng nào. Tính chung 11 tháng năm 2024, toàn tỉnh có 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14 ha) và 51 vụ phá rừng (giảm 65 vụ), với diện tích rừng bị phá là 13,94 ha (giảm 40,09 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Hoạt động thủy sản: Hoạt thuỷ sản tháng 11 và 11 tháng năm 2024 tăng trưởng khá cả trong hoạt động khai thác và nuôi trồng. Việc thời tiết thuận lợi cộng với giá cả các loại thuỷ, hải sản cũng như nhu cầu người dân đang tăng lên cũng là động lực để ngư dân tích cực đầu tư nuôi trồng các loại thủy sản và tích cực ra khơi bám biển. Kết quả sản xuất thủy sản: Tổng sản lượng thủy hải sản tháng 11/2024 ước đạt 3.794 tấn, bằng 102,46%, tăng 91 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 2.775 tấn, bằng 102,82%, tăng 76 tấn; sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.019 tấn, bằng 101,49%, tăng 15 tấn. Tính chung 11 tháng năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 55.770 tấn, bằng 104,12%, tăng 2.209 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng khai thác ước đạt 39.397 tấn, bằng 104,53%, tăng 1.707 tấn; sản lượng nuôi trồng ước đạt 16.373 tấn, bằng 103,16%, tăng 502 tấn. Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh 11 tháng năm 2024 cơ bản ổn định và có mức tăng khá hơn so với cùng kỳ (tăng 2.209 tấn so với cùng kỳ năm). Tuy nhiên năng lực sản xuất thủy sản trên địa bàn trong thời gian qua không có nhiều thay đổi tích cực, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm (nhất là so với các địa phương lân cận) nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng xảy ra dịch bệnh Đốm trắng và Vi bào tử trùng trên tôm tại 02 hộ nuôi của xã Thạch Sơn, Thạch Hà với diện tích 0,65 ha. Tính từ đầu năm đến nay: Bệnh Đốm trắng trên tôm xảy ra với diện tích 17,10 ha tại 8 xã thuộc 5 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, thành phố Hà Tĩnh). Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm xảy ra với diện tích 4,29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà). Bệnh Vi bào tử trùng trên tôm xảy ra với diện tích 0,85 ha tại 2 xã thuộc 2 huyện (Kỳ Anh, Thạch Hà). 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp tính chung 11 tháng năm 2024 giảm 0,79% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp giảm là do chịu ảnh hưởng lớn nhất từ ngành sản xuất kim loại sụt giảm dẫn đến tăng trưởng ngành chế biến chế tạo, cũng như toàn ngành công nghiệp chưa đạt như kỳ vọng. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 11/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 7,18% so với tháng trước và tăng 10,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 46,46% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 4,75% so với tháng trước và giảm 7,26% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 22,02% so với tháng trước và tăng 25,03% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 2,96% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,45%. Ngày 14/10/2024 là dấu mốc quan trọng khi Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 (thuộc Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh) chính thức đưa tổ máy số 2 vào vận hành thương mại trở lại sau 2 tháng ngừng sản xuất điện phục vụ công tác trung tu. Quý IV/2024 là thời điểm cộng đồng doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất – kinh doanh nên nhu cầu phụ tải tăng cao so với giai đoạn trước. Bởi vậy, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 tiếp tục triển khai đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp để đảm bảo dây chuyền sản xuất theo kế hoạch của Trung tâm điều độ Hệ thống điện quốc gia. Trong tháng 11 này, công ty sẽ nhập về khoảng 50.000 tấn than Lào phục vụ chạy thử để tiến tới đốt thử nghiệm 10 triệu tấn than Lào trong toàn Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam vào năm 2025. Dự kiến trong tháng nhà máy sản xuất 600 triệu kWh, tăng 42,87% so với tháng trước và so với cùng kỳ tăng 36,03%. Tính chung 11 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 0,79% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 38,49% đóng góp 0,47 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,84% làm giảm 3,75 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 17,98% đóng góp 2,22 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,71% đóng góp 0,27 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Thời gian tới ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như: Sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ cũng đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực; tổ máy số 2 nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 đã hoàn thành trung tu, đi vào hoạt động từ giữa tháng 10; nhà máy sợi Nghệ Tĩnh đi vào sản xuất thương mại ổn định, sản lượng bình quân dự tính đạt hơn 200 tấn/ 1 tháng. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như: sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc vào thị trường; nhà máy thép Formosa gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu thép ra thị trường ngoài nước. Do đó, thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất nặng nề; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để tạo sức bật cho tăng trưởng GRDP. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm sản phẩm cộng dồn 11 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Một số sản phẩm công nghiệp 11 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 92,92%; Đá xây dựng khác tăng 33,34%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 24,1%; bia đóng lon tăng 31,04%; Sợi xe từ các loại sợi tự nhiên: bông, đay, lanh, xơ dừa, cói... tăng 30,34%; Điện sản xuất tăng 18,48%; bê tông trộn sẵn tăng 12,12%... Ngoài các sản phẩm có sản lượng tăng thì cũng có một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Mực đông lạnh giảm 79,85%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 20,34%; sản xuất dược phẩm giảm 7,95%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,38%; bê tông trộn sẵn giảm 12,12%. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 11/2024 tăng 0,09% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 5,18%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 11 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,92% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 11 tháng năm 2024 của ngành khai khoáng giảm 3,81% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,18%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,53% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Xác định việc đẩy mạnh giải ngân gắn với nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đảm bảo chất lượng công trình là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt, là trách nhiệm của người đứng đầu các Sở, ngành, địa phương, đơn vị cần bám sát tình hình thực tế triển khai của từng dự án để tập trung chỉ đạo, điều hành kịp thời, đúng hướng, khả thi và hiệu quả; chủ động rà soát, đánh giá khả năng giải ngân của từng dự án năm 2024. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2024 ước đạt 929,29 tỷ đồng, giảm 0,63% so với tháng trước và tăng 23,54% so với cùng kỳ năm nước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 757,91 tỷ đồng, tăng 1,59% so với tháng trước và tăng 20,35% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 139,06 tỷ đồng, giảm 8,82% so với tháng trước và tăng 51,12% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 32,32 tỷ đồng, giảm 11,76% so với tháng trước và tăng 6,25% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 11, thời tiết có nhiều ngày mưa, các công trình phải ngừng trệ sản xuất tạm thời nên khối lượng thi công giảm hơn so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do nguồn vốn bổ sung kế hoạch vốn năm 2024 được bổ sung vào cuối tháng 8 năm 2024 nên nguồn vốn thực hiện và giải ngân dồn vào những tháng cuối năm. Trong tháng, một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương, tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 31,53 tỷ đồng; dự án phát triển tổng hợp các đô thị động lực -Tiểu dự án thị xã Kỳ Anh (WB) ước đạt 38,22 tỷ đồng; cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 28,44 tỷ đồng; đường từ Quốc Lộ 12C đi khu liên hợp Gang thép Formosa tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 42,4 tỷ đồng. Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng năm 2024 đạt 5.732,92 tỷ đồng, đạt 84,09% kế hoạch năm, tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.127,76 tỷ đồng, đạt 81,96% kế hoạch vốn, tăng 6,6% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 1.244,71 tỷ đồng, đạt 89,34% kế hoạch vốn, tăng 49,63% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 360,45 tỷ đồng, đạt 92,87% kế hoạch vốn, tăng 2,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân kết quả vốn đầu tư thực hiện đến cuối tháng báo cáo năm 2024 tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước là do năm nay kế hoạch vốn tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm trước, bên cạnh đó tình hình thời tiết từ đầu năm đến nay thuận lợi cho việc thi công các công trình, nguồn vốn giải ngân được đảm bảo nên các chủ đẩu tư đẩy nhanh tiến độ thi công. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại, dịch vụ 11 tháng năm 2024 tăng trưởng khá ổn định, những tháng cuối năm, nhìn chung các hoạt động thương mại dịch vụ xu hướng tăng hơn so với các tháng trước. Mặc dù nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành có sự chững lại do yếu tố mùa vụ, thì tổng mức bản lẻ vẫn là nhóm ngành chính với doanh thu lớn và tăng trưởng khá ổn định. Bên cạnh đó, hoạt động dịch vụ khác như cho thuê máy móc, đồ dùng gia đình, chăm sóc sức khoẻ, làm đẹp… cũng đang vào mùa làm ăn nên nhìn chung nhóm ngành thương mại, dịch vụ vẫn đang là điểm sáng trong kinh tế tỉnh nhà. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 11/2024 doanh thu ước đạt 6.143,89 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 13,21% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng lương thực, thực phẩm là nhóm hàng thiết yếu chiếm 46,64% doanh thu bán lẻ cả tháng và tăng trưởng khá khi các chương trình khuyến mãi đang được diễn ra đã khuyến khích nhu cầu tiêu dùng. Đây là xu hướng chung, khi càng về cuối năm các doanh nghiệp thực hiện các chính sách giảm giá để đẩy hàng tồn kho, chuẩn bị cho sản xuất hàng Tết sắp đến. Ngoài ra các nhóm hàng có mức doanh thu tăng khả quan so với tháng trước có thể kể đến như đồ dùng, trang thiết bị gia đình, ô tô con, may mặc, vật liệu xây dựng… chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi thời tiết chuyển lạnh và nhu cầu mua sắm dịp cuối năm tăng, các chính sách về giảm lệ phí đối với ô tô cũng góp phần kích cầu đối với mặt hàng này sau thời gian dài gặp khó khăn. Bên cạnh đó cũng có các nhóm hàng có mức doanh thu giảm trong tháng như vật phẩm giáo dục do hoạt động giáo dục năm học mới đã bước vào ổn định và nhóm hàng xăng dầu, nhiên liệu do giá giảm sau các kỳ điều chỉnh gần đây. Tính chung 11 tháng năm 2024, doanh thu bán lẻ ước đạt 63.640,06 tỷ đồng, tăng 18,11% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung tình hình thương mại tỉnh nhà vẫn có sự tăng trưởng khá, nhóm hàng lương thực thực, thực phẩm vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu lớn và tăng trưởng ổn định mang tính quyết định trong nhóm hàng này. Những chính sách, khuyến khích đầu tư của cấp, ngành đảm bảo không để xảy ra tình trạng về biến động giá cả hay thiếu hàng dịp cao điểm, tránh găm hàng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng. Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ, những sản phẩm của tỉnh nhà đã được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến thông qua những trang thương mại điện tử. Thời gian tới càng về cuối năm thị trường bán lẻ càng sôi động. Mặc dù đang trong tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế, giá cả các loại hàng hoá đều có biến động tăng nhưng nhu cầu người dân vẫn ưu tiên tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cho nên doanh thu các mặt hàng lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, may mặc, đồ dùng gia đình… chiếm tỷ trọng doanh thu lớn trong tổng mức và tăng trưởng khá ổn định tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế tỉnh nhà. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 11/2024 ước đạt 761,13 tỷ đồng, giảm 2,81% so với tháng trước, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng tính chất thời vụ, hoạt động du lịch biển của tỉnh tăng mạnh chủ yếu ở thời điểm cuối tháng 4 đến tháng 8. Nhưng sang tháng 9 và những tháng cuối năm nhu cầu du lịch biển giảm, thời tiết bước qua giai đoạn mưa nhiều nên các hoạt động ăn uống ngoài gia đình cũng hạn chế hơn. Tính chung 11 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 7.866,27 tỷ đồng, tăng 12,37% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm gần 96% tổng doanh thu) tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy những thay đổi trong cách nghĩ truyền thống và việc đời sống người dân đang được nâng lên. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và đang dần có những tín hiệu tích cực, mặc dù mức doanh thu các tháng cuối năm giảm so với các tháng trước do yếu tố mùa vụ, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng ở mức khá, tính chung 11 tháng doanh thu đã tăng 50,68% so với cùng kỳ. Tuy nhiên vẫn cần thiết các chính sách quy hoạch các khu du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch tỉnh nhà và sự quan tâm chỉ đạo thực hiện từ các cấp, ngành địa phương cũng như sự đồng hành đầu tư của các doanh nghiệp, cá thể hoạt động du lịch trong và ngoài nước. Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 11/2024 ước đạt 396,05 tỷ đồng, tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước, các nhóm ngành dịch vụ khác trong tháng đều có mức doanh thu tăng. Nguyên nhân do ngành xây dựng tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình trong năm, đồng thời đây cũng là tháng trùng với mùa cưới hỏi nên các dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng cá nhân, gia đình…tăng khá. Ngoài ra nhu cầu các dịch vụ làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ đang ngày càng phát triển. Tính chung 11 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt ước đạt 4.188,27 tỷ triệu đồng, tăng 6,73% so với cùng kỳ năm trước trong trong 6 nhóm ngành chỉ có nhóm kinh doanh bất động sản vẫn còn đang gặp khó khăn còn lại các ngành khác đều có mức tăng trưởng dương. Nhìn chung những biến động với tình hình kinh tế thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế trong nước nói chung và kinh tế tỉnh nhà nói riêng, sự gia tăng căng thẳng địa chính trị đã gây ra gián đoạn nguồn cung năng lượng, sự giảm sút của cầu tiêu dùng tại thị trường Trung Quốc, biến đổi khí hậu đã gây ra rủi ro lớn đối với an ninh lương thực và nguồn nước.Tuy nhiên, với sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh đầu tư công; những chính sách sách kích cầu như tăng lương cơ sở, giảm thuế VAT, giảm lệ phí trước bạ đối với xe lắp ráp trong nước, chính sách thị thực đối với khách du lịch quốc tế. Đã tác động lớn đến du lịch của tỉnh nhà, từ đó kéo theo doanh thu ngành bán lẻ, bán buôn, lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác tăng trưởng mạnh. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tháng 11 có sự chững lại so với các tháng trước do ảnh hưởng tình hình thời tiết mưa nhiều ảnh hưởng đến hoạt động vận tải hàng hoá và lưu thông trên các tuyến cảng biển. Tuy nhiên, tính chung 11 tháng vẫn tăng trưởng khá và có nhiều biến chuyển tích cực, nhu cầu vận chuyển, luân chuyển ngày càng tăng cao, hạ tầng giao thông và các phương tiện vận tải đang được chú trọng đầu tư theo hướng hiện đại. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 11/2024 doanh thu ước đạt 708,13 tỷ đồng, giảm 0,14% so với tháng trước, tăng 8,10% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời tiết mưa nhiều khiến nhu cầu sử dụng loại hình vận tải hành khách công cộng tăng nhưng lại gây khó khăn cho các hoạt động vận tải hàng hóa đường bộ cũng như đường biển. Khiến so với tháng trước mặc dù vận tải hành khách doanh thu tăng 3,08%, nhưng vận tải hàng hoá (chiếm gần 64% doanh thu) và dịch vụ hỗ trợ vận tải doanh thu lần lượt giảm 0,43% và 1,87%. Tính chung 11 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu ước đạt 7.787,73 tỷ đồng, tăng 18,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 36,35%; hàng hoá tăng 14,62%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 27,47% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải kho bãi ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua đang có nhiều biến chuyển tích cực. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp vận tải đã và đang đẩy mạnh áp dụng công nghệ số, như hệ thống quản lý kho thông minh và theo dõi lộ trình xe tải qua GPS. Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi, xu hướng sử dụng phương tiện vận tải thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng với nhiều doanh nghiệp chuyển sang sử dụng xe điện hoặc xe hybrid. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như: giá nhiên liệu biến động, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng cao từ khách hàng, để vượt qua khó khăn, các doanh nghiệp cần có chiến lược linh hoạt, đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng suất lao động, và duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu trong tháng ghi nhận những tín hiệu tích cực khi tăng 12,03% so với tháng trước. Khiến tình hình xuất - nhập khẩu có nét khả quan hơn, tổng trị giá xuất - nhập khẩu tháng 11/2024 ước đạt 440,4 triệu USD, tăng 8,03% so với tháng trước nhưng giảm 27,45% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2024 tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 5.629,4 triệu USD giảm 1,19% so với cùng kỳ (giảm 67,58 triệu USD). Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 11/2024 ước đạt 189,9 triệu USD, tăng 12,03% so với tháng trước nhưng giảm 6,80% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các mặt hàng đều có giá trị tăng so với tháng trước, đặc biệt tăng mạnh ở các mặt hàng thép, dăm gỗ, dệt và may mặc, tuy nhiên vẫn chưa đạt mức kỳ vọng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 2.195,66 triệu USD, giảm 3,45% (giảm 78,37 triệu USD) so với cùng kỳ. Nguyên nhân do tình hình kinh tế thế giới có nhiều bất ổn và biến động về chính trị, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, chỉ tính riêng xuất khẩu của Formosa 11 tháng năm 2024 (chiếm 86,93% giá trị xuất khẩu) đã giảm đến 10,89% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù vậy, xuất khẩu các mặt hàng ngoài thép ở địa phương đang có nhiều triển vọng. Dự kiến từ nay đến cuối năm 2024, kinh tế, thương mại toàn cầu đang trên đà hồi phục, các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, trị giá xuất khẩu cả năm 2024 ước đạt 2,4 tỷ USD đạt kế hoạch đã đề ra. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 11/2024 ước đạt 250,5 triệu USD, tăng 5,19% so với tháng trước nhưng giảm đến 37,88% so với cùng kỳ. Mặc dù những tháng cuối năm Formosa bắt đầu đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vù sản xuất, tuy nhiên vẫ chưa đjat mức cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó tình hình thế giới đang có nhiều biến động, cộng với diễn biến thời tiết chưa phù hợp vì vậy các doanh nghiệp chưa tập trung nhập khẩu hàng hoá phục vụ dịp Tết. Tính chung 11 tháng năm 2024 trị giá nhập khẩu ước đạt 3.433,74 triệu USD tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù chỉ tính riêng giá trị nhập khẩu của Formosa ước đạt 2.681,14 triệu USD, chiếm 78,08% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, tăng đến 9,85% so với cùng kỳ năm trước nhưng mức tăng chung toàn tỉnh ở mức thấp cho thấy nhu cầu hàng ngoại đang có xu hướng giảm dần, đây cũng là tín hiệu tích cực đối với thị trường hàng hoá tiêu dùng trong nước. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường giá cả tiêu dùng chung trong tháng 11 cơ bản ổn định và tăng nhẹ so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng tháng năm trước mức giá đã tăng vượt quá 6%, cho thấy mức giá cả các loại đang ở mức cao và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Chỉ số giá chung so với kỳ gốc năm 2019 đã tăng đến 16,19%. Thị trường vàng và ngoại tệ trong tháng có những biến động lên xuống thất thường do chịu ảnh hưởng từ thị trường thế giới. Tháng 11 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 6,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong các nhóm hàng thì biến động lớn nhất ở nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,44% so tháng trước và tăng 18,78% so cùng kỳ năm trước, do giá khí đốt gas hóa lỏng và dầu hỏa biến động tăng so tháng trước theo xu thế thị trường thế giới; còn các nhóm hàng khác cơ bản không biến động nhiều. Nhóm mặt hàng thiết yếu ăn và dịch vụ ăn uống có giảm nhẹ 0,12% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn đang ở mức tăng 7,88% do chịu ảnh hưởng của tình hình thị trường lương thực trên thế giới, nguồn cung các loại rau, củ, hoa quả các loại. Nhìn chung giá cả thị trường tiêu dùng trong tháng trên địa bàn chịu ảnh hưởng từ các nguyên nhân chủ yếu như (1) Giá nhiên liệu xăng, dầu qua các kỳ điều chỉnh trong tháng giảm dẫn tới giá bình quân giảm so với tháng trước (2) Yếu tố mùa vụ khi thời tiết dần chuyển lạnh và về những tháng cuối năm đã tác động đến giá cả các mặt hàng thực phẩm, đồ dùng gia đình và hàng may mặc tăng. Chỉ số giá vàng chung tháng 11/2024 tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 43,83% so với cùng kỳ; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,21% so với tháng trước và tăng 5,5% so với cùng kỳ. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 8.557 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.587.411 đồng/100 USD Tính chung 11 tháng năm 2024, CPI bình quân tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khu vực thành thị tăng 4,75%, nông thôn tăng 3,46%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Trong năm 2024, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức thấp, khoảng 3-4%. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ, dự báo CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Dự kiến CPI tháng 12/2024 trên địa bàn tiếp tục tăng, khi càng gần dịp Tết Nguyên đán, cơ cấu và giá cả các mặt hàng dịch vụ tiêu dùng càng biến động mạnh. Sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng vào các dịp cuối năm thường khiến giá các mặt hàng thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng tăng. Cùng với đó, nhu cầu đồ dùng gia đình, hàng may mặc, điện máy, phương tiện giao thông vào những tháng cuối năm thường ở mức cao, tác động đến thị trường giá các mặt hàng hóa tiêu dùng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 11 là tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới. Sau gần 4 năm triển khai thực hiện Chiến lược về Bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 với sự chung tay của các cấp, các ngành, địa phương, Hà Tĩnh đã hoàn thành nhiều chỉ tiêu đặt ra trong kế hoạch. Nổi bật như: tỉ số giới sinh khi sinh đạt 105,6 bé trai/100 bé gái; tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản giảm; tỷ suất sinh của trẻ vị thành niên đã có chuyển biến tích cực giảm từ 22 ca sinh xuống 1,88 ca sinh/1.000 phụ nữ; tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số (bé trai và bé gái) hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học đạt 98%, trung học cơ sở đạt 96%. Việc tiếp cận và hưởng thụ nhiều hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm của phụ nữ và trẻ em gái ngày càng được tăng cường; các vấn đề về giới được lồng ghép trong triển khai, thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong tháng cũng trùng với ngày Nhà giáo Việt Nam nên thị trường hoa tươi, quà tặng tại Hà Tĩnh sôi động với nhiều mẫu mã, mức giá đa dạng, dễ lựa chọn. Ngoài ra trên toàn tỉnh cũng chú trọng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tệ nạn xã hội hưởng ứng ngày pháp luật Việt Nam năm 2024. Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn Hà Tĩnh 11 tháng năm 2024 vẫn ổn định, công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ và triển khai kịp thời. Việc mức lương cơ sở, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng lên từ tháng 7 đã giúp người thụ hưởng cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội. 2. Giáo dục Hoạt động giáo dục trong tháng có ngày lễ hiến chương nhà giáo 20-11, Hà Tĩnh vinh dự khi có 14 nhà giáo được trao tặng danh hiệu “Nhà giáo Ưu tú” trong số 1.031 cán bộ, nhà giáo trên cả nước, đây là danh hiệu cao quý được Chủ tịch nước phong tặng. Ngành giáo dục Hà Tĩnh hiện nay khi năm học mới 2024-2025 đã cơ bản đã ổn định, các hoạt động được toàn ngành chú trọng là đầu tư về chất lượng giáo viên và chất lượng giáo dục, bên cạnh đó tích cực chuyển đổi số nâng cao chất lượng, tạo đột phá trong giáo dục Hà Tĩnh. Năm học 2024-2025, toàn tỉnh có 668 trường mầm non và phổ thông, trong đó có 28 trường ngoài công lập, so với năm học trước, hệ thống mạng lưới trường học ổn định. Cơ sở vật chất, thiết bị cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học trong năm học mới. Số phòng học kiên cố chiếm tỷ lệ khá cao: mầm non 94,1%, tiểu học 96,8%; THCS 98,7%; THPT 100%. 100% trường học của tỉnh đảm bảo tỷ lệ 1 phòng học/1 lớp. Với nhiều giải pháp đồng bộ, đội ngũ giáo viên các cấp học trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm học 2024-2025 cơ bản đảm bảo số lượng, chất lượng để triển khai chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên. Đội ngũ giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng có chất lượng, nhất là giáo viên dạy lớp 5, lớp 9 và lớp 12. 3. Hoạt động y tế Tính từ thời điểm phát hiện ổ dịch sởi đầu tiên đến nay (tháng 10 và 11/2024), trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện 4 ổ dịch (riêng trong tháng 11/2024 phát hiện 3 ổ dịch tại huyện Lộc Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân), gồm 273 người nhiễm bệnh. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng 11/2024 trên địa bàn trên địa bàn phát hiện 1 ca nhiễm mới HIV, không có ca nào chuyển qua AIDS và chết vì AIDS (tăng 1 ca phát hiện mới, số ca chuyển qua AIDS không đổi, giảm 1 ca chết vì AIDS so với tháng trước). Tính chung 11 tháng năm 2024 đã có 27 người nhiễm mới HIV, 20 người chuyển thành AIDS, 6 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 15 người nhiểm mới HIV, giảm 15 người chuyển thành AIDS và số người chết vì AIDS giảm 1 người. Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào trên địa bàn, nhưng có 68 ca ngộ độc đơn lẻ, các ca ngộ độc được điều trị kịp thời không có ca nào tử vong. Tính chung 11 tháng năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc tập thể khiến 13 người bị ngộ độc và 798 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 29 người ngộ độc tập thể và giảm 82 ca ngộ độc đơn lẻ. Nhằm tăng tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng, chủ động phòng ngừa dịch bệnh, giảm tỷ lệ tử vong do bệnh bạch hầu, uốn ván từ cuối tháng 11/2024, toàn tỉnh sẽ triển khai đợt tiêm vắc-xin phòng uốn ván - bạch hầu, theo chỉ đạo của Sở Y tế Hà Tĩnh số lượng tiêm phòng kế hoạch đặt ra là 27.182 trẻ. 3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hoá, thể thao luôn không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh, trong tháng 11/2024 trong tỉnh đã tổ chức giải leo núi chùa Hương Tích (Can Lộc - Hà Tĩnh) năm 2024 đã thu hút hơn 500 VĐV tham gia để thực hiện thông điệp: “Vượt qua chính mình - mãi mãi vươn xa”Ngoài ra Hà Tĩnh cũng đạt một số thanh tích tiêu biểu như: 01 cá nhân đạt giải nhì tại Cuộc thi trực tuyến toàn quốc tìm hiểu nội dung cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Tại Giải Điền kinh vô địch quốc gia năm 2024 vừa diễn ra ở Đồng Nai, đoàn Hà Tĩnh xuất sắc giành 11 huy chương, xếp thứ 4 toàn đoàn, đây là giải đấu là tiền đề giúp đội tuyển điền kinh Việt Nam chọn lọc lực lượng hướng đến SEA Games 33 diễn ra vào tháng 12-2025 tại Thái Lan. Cũng trong tháng ngay sau khi UBND tỉnh phát động "Tháng hành động vì bình đẳng giới và ngăn ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2024” với chủ đề “Đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái nhằm thực hiện bình đẳng giới và xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới”, các địa phương trong toàn tỉnh đã triển khai hưởng ứng với nhiều hoạt động thiết thực như tổ chức chương trình truyền thông về bình đẳng giới, biểu dương các gia đình sinh hai con một bề là gái tiêu biểu, tổ chức các diễn đàn “Lắng nghe trẻ em nói”… 4. Tình hình an toàn giao thông Công tác an toàn giao thông luôn được các cấp ngành quan tâm thực hiện, nhất là những tháng giáp Tết, tháng 11/2024 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 26 vụ tai nạn đường bộ, làm 15 người chết, 16 người bị thương (giảm 3 vụ và giảm 6 người chết nhưng tăng 3 người bị thương so với tháng trước) ngoài ra, cũng trong tháng đã xảy ra 01 vụ tai nạn đường sắt, làm 01 người chết (tăng 01 vụ, tăng 01 người chết, người bị thương không thay đổi so với tháng trước). Giá trị thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông trong tháng ước tính khoảng 85 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2024, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 373 vụ tai nạn đường bộ, làm 205 người chết và 230 người bị thương, so với cùng kỳ năm trước tăng 61 vụ, tăng 38 người bị thương và tăng 34 người chết. Tai nạn đường sắt xảy ra 4 vụ, làm 02 người chết và 01 người bị thương, không xảy ra tai nạn đường thuỷ. 5. Môi trường Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn: đã xảy 8 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 1462,3 triệu đồng (giảm 01 vụ so với tháng trước), không xảy ra vụ thiên tai nào. Tính chung 11 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/11/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 82 vụ cháy, không để xảy ra vụ nổ nào, không có thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 2.198,4 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 24 vụ cháy và 01 vụ nổ, giảm 01 người bị thương, giá trị thiệt hại giảm hơn 2,1 tỷ đồng. Vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 5 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 5 vụ, với tổng số tiền xử phạt 14,55 triệu đồng; giảm 12 vụ phát hiện, giảm 17 vụ đã xử lý và giảm 321,45 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước. So với cùng kỳ giảm 9 vụ phát hiện, giảm 5 vụ đã xử lý và giảm 9,7 triệu đồng bsố tiền xử phạt. Tính chung 11 tháng năm 2024, toàn tỉnh đã phát hiện 254 vụ vi phạm môi trường, giảm 174 vụ (giảm 40,65%); đã xử phạt 241 vụ, giảm 212 vụ (giảm 45,79%) với tổng số tiền xử phạt là 1.634,05 triệu đồng, giảm 152,59 triệu đồng (giảm 10,30%) so với cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2024
  •   05/11/2024 09:20

I.  LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Sản xuất trồng trọt trong tháng 10/2024 chủ yếu tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và sản xuất cây trồng vụ Đông 2024, cũng vào thời điểm này nhiều loại cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam… đang thu hoạch chính vụ. Đây cũng là thời điểm người dân tích cực tăng đàn chăn nuôi, vỗ béo, phòng trừ dịch bệnh để chuẩn bị nguồn cung vào dịp Tết cuối năm. Năm nay giá lợn hơi tương đối cao nên người dân cũng mạnh dạn đầu tư tăng đàn, hy vọng mức giá này sẽ ổn định vào cuối năm để người chăn nuôi có một mùa tết nguyên đán thắng lợi và từ đó có điều kiện mở rộng chăn nuôi vào những lứa tiếp theo. 1.1. Sản xuất nông nghiệp       1.1.1. Trồng trọt * Sản xuất cây hàng năm Hiện nay, Hà Tĩnh đang tích cực triển khai kế hoạch sản xuất vụ Đông năm 2024 với mục tiêu phủ kín diện tích đất màu, đất vườn. Tuy nhiên, vụ Đông năm nay được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức về thời tiết, đặc biệt là mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại cuối vụ. Kết quả sản xuất vụ Mùa: Sản xuất vụ Mùa 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nắng nóng nên một số diện tích đất không chủ động được nước tưới ảnh hưởng đến việc gieo cấy. Một số cây trồng như: Cây lúa: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 166 ha, bằng 52,20% (giảm 152 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do một số xã gieo trồng cây lúa vụ Mùa không có hiệu quả nên chuyển sang sản xuất vụ Hè Thu. Ngoài ra, do thời tiết nắng nóng đã ảnh hưởng đến quá trình gieo trồng và phát triển của cây lúa. Bên cạnh đó, tiền công thuê cày bừa cao, sản lượng thu hoạch đạt thấp nên người dân cũng không mặn mà sản xuất. Diện tích gieo trồng lúa Mùa huyện Nghi Xuân đạt 55 ha (giảm 25 ha), huyện Thạch Hà đạt 5 ha (giảm 46 ha), huyện Lộc Hà đạt 106 ha (giảm 81 ha). Cây lấy củ có chất bột: Diện tích cây lấy củ có chất bột ước tính đạt 236 ha, bằng 95,54% (giảm 11 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng rau các loại vụ Mùa ước tính đạt 212 ha, bằng 104,47% (tăng 11 ha) so với cùng kỳ năm trước. Kết quả sản xuất vụ Đông: Thời tiết vụ Đông năm nay khả năng chịu ảnh hưởng của mưa lũ đầu vụ và rét đậm, rét hại giai đoạn cuối vụ. Vì vậy, cần chủ động, linh hoạt trong bố trí thời vụ và cơ cấu cây trồng để né tránh thiên tai, hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn, hiệu quả sản xuất. Tổ chức sản xuất, huy động tối đa nguồn lực sản xuất, phấn đấu sản xuất phủ kín diện tích đất màu, đất vườn; chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa ở những vùng có điều kiện thoát nước tốt để mở rộng tối đa diện tích vụ Đông, tăng hệ số sử dụng đất. Trên cơ sở khung thời vụ và thời gian sinh trưởng các giống, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của từng địa phương, từng vùng, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, bố trí thời vụ gieo trồng phù hợp đảm bảo sản xuất an toàn, hiệu quả. Năm nay, diện tích cây dứa liên kết với Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao từ nay đến cuối vụ Đông trồng khoảng 330 ha, nâng tổng diện tích trồng dứa năm nay đạt 400 ha tại các địa phương như huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Vũ Quang. * Sản xuất cây lâu năm Cây lâu năm hiện nay người dân đang tập trung đầu tư thâm canh trên diện tích hiện có; trồng mới và trồng tái canh với quy mô phù hợp kết hợp ứng dụng khoa học kỹ thuật; chú trọng phòng trừ sâu bệnh giai đoạn sau thu hoạch; trồng thay thế, bổ sung các diện tích hư hỏng. Thực hiện các biện pháp bảo vệ các vườn cây trong mùa mưa lũ, chủ động các giải pháp tiêu úng kịp thời khi gặp mưa lũ, phòng trừ hiệu quả các loại sâu, bệnh để đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm. Năm nay thời tiết thuận lợi cùng với quá trình chăm sóc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật nên năng suất và chất lượng cam, bưởi được nâng lên. Sản lượng cam, bưởi dự báo cao hơn so với năm trước. Các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống và tiếp tục tái đầu tư phát triển sản xuất. * Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô 3-7 lá, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 18 ha; sâu đục thân, đục bắp gây hại tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-5%, diện tích nhiễm 15 ha; bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 30 ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê… Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 23 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 37 ha; sâu vẽ bùa 16 ha; ruồi đục quả, ngài chích hút 125 ha; bệnh chảy gôm, diện tích nhiễm 20 ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê. 1.1.2. Sản xuất chăn nuôi Kết quả sản xuất chăn nuôi: So cùng kỳ năm trước, đàn trâu hiện có 66.863 con, bằng 99,28%; đàn bò hiện có 164.562 con, bằng 97,57%; đàn lợn hiện có 410.210 con, bằng 103,76%, đàn gia cầm hiện có 10.285 ngàn con, bằng 103,99%, trong đó đàn gà hiện có 8.524 ngàn con, bằng 102,58% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 10 là thời điểm người dân tích cực tăng đàn chăn nuôi, vỗ béo, phòng trừ dịch bệnh để chuẩn bị nguồn cung vào dịp Tết cuối năm. Năm nay giá lợn hơi tương đối cao nên người dân cũng mạnh dạn đầu tư tăng đàn, hy vọng mức giá này sẽ ổn định vào cuối năm để người chăn nuôi có một mùa tết thắng lợi và từ đó có điều kiện mở rộng chăn nuôi vào những lứa tiếp theo. Tuy nhiên, theo khuyến cáo của ngành chuyên môn, thời điểm này thời tiết diễn biến thất thường tạo cơ hội cho dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm phát triển. Vì thế, người chăn nuôi cần chú trọng tiêm vắc-xin phòng dịch đầy đủ, tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại thường xuyên. Phát hiện dịch bệnh phải thông báo ngay cho cơ quan chức năng kịp thời xử lý, không để dịch bệnh lan ra diện rộng. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm 2024 đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra một số loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc như: Dịch tả lợn Châu Phi, Viêm da nổi cục, lở mồm long móng trên trâu, bò. Nhìn chung, các loại dịch bệnh xảy ra với quy mô nhỏ, được khống chế, dập tắt ở diện hẹp, cụ thể như: - Dịch Viêm da nổi cục trên trâu bò: Xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) làm cho 156 con bò mắc bệnh, trong đó có 20 con chết, tiêu hủy với khối lượng 3.411 kg. - Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện, thị xã (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Kỳ Anh) làm cho 182 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy khối lượng 12.471,6 kg. 1.2. Sản xuất lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tháng 10 ước đạt 1.922 ha, bằng 101,42% (tăng 27 ha), sản lượng gỗ khai thác ước đạt 63.154 m3 bằng 103,27% (tăng 1.997 m3). Hoạt động trồng rừng và khai thác lâm sản vẫn được các cấp chính quyền cũng như người dân quan tâm thực hiện. Đây là tháng có thời tiết mát mẻ, mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng, chăm sóc rừng và cũng là thời điểm các chủ rừng tranh thủ thu hoạch các diện tích đến tuổi khai thác để tránh thiệt hại do mưa bão gây ra nên sản lượng đạt khá cao so với các tháng trước.  Tính chung 10 tháng năm 2024 diện tích rừng trồng mới ước đạt 6.890 ha, bằng 102,88% (tăng 193 ha), sản lượng gỗ khai thác ước đạt 416.836 m3 bằng 110,67% (tăng 40.195 m3) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng và lâm sản khai thác vẫn chủ yếu tập trung ở các địa phương: Huyện Hương sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, huyện Kỳ Anh. Thiệt hại về rừng: Trong tháng 10 không xảy ra cháy rừng, nhưng xảy ra 6 vụ phá rừng, với diện tích diện tích rừng bị phá 1,7 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 25/10/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xảy ra 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ), với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14 ha) và 51 vụ phá rừng (giảm 60 vụ), với diện tích rừng bị phá là 13,94 ha (giảm 26,53 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Tình hình sản xuất và khai thác thủy hải sản Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng tăng hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng lại giảm so với tháng trước. Sản lượng chỉ đạt hơn 50% so với tháng trước, do hiện nay bước vào mùa mưa bão, biển động nên tàu thuyền ít ra khơi đánh bắt cộng với nguồn thủy hải sản sinh sôi ít hơn những tháng trước. Bên cạnh đó hoạt động nuôi trồng do mới thu hoạch xong vụ Xuân Hè người dân tiếp tục thả nuôi vụ mới phục vụ tết nguyên đán nên sản lượng nuôi trồng đạt giảm. Tình hình cụ thể: - Sản xuất và khai thác thủy hải sản: Tổng sản lượng thủy hải sản ước tính tháng ước đạt 4.340 tấn, bằng 102,46% (tăng 104 tấn), trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.192 tấn, bằng 102,67% (tăng 83 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.148 tấn, bằng 101,86% (tăng 21 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2024, tổng sản lượng thủy hải sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 51.978 tấn, bằng 103,42% (tăng 1.720 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 36.624 tấn, bằng 103,35% (tăng 1.188 tấn) và sản lượng nuôi trồng ước đạt 15.354 tấn, bằng 103,59% (tăng 532 tấn) so cùng kỳ năm trước. Trong tháng ước tính đã sản xuất được 27 triệu con giống tôm thẻ, giảm 3 triệu con so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2024, ước tính sản xuất được 537 triệu con tôm giống, tăng 13 triệu con so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 17 triệu con giống tôm sú và 520 triệu con giống tôm thẻ. Dự báo trong những tháng tới, khi điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt có thể xẩy ra bất thường nên kết quả hoạt động sản xuất thủy sản dự kiến sẽ đạt thấp hơn, nhất là đối với hoạt động khai thác biển. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng xảy ra bệnh đốm trắng trên tôm tại 09 hộ nuôi thuộc 04 xã, 3 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, Thạch Hà) với diện tích 8.85 ha. Hiện nay, còn 0.25 ha diện tích nuôi tôm bị bệnh đốm trắng tại xã Thạch Long, huyện Thạch Hà chưa qua 15 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp tính chung 10 tháng năm 2024 giảm 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp giảm là do chịu ảnh hưởng lớn nhất từ ngành sản xuất kim loại sụt giảm dẫn đến tăng trưởng ngành chế biến chế tạo, cũng như toàn ngành công nghiệp chưa đạt như kỳ vọng. Cùng với đó là ngành sản xuất và phân phối điện cũng chững lại khi mà tổ máy số 2 của nhà máy nhiệt nhiệt điện 1 trong tháng 8 và tháng 9/2024 đang tạm ngừng để bảo dưỡng. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 10/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,13% so với tháng trước và giảm 1,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 3,38% so với tháng trước và tăng 29,35% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 4,96% so với tháng trước và giảm 3,98% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 49,75% so với tháng trước và tăng 8,62% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước giảm 10,5% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 5,11%. Ước tính 10 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 1,37% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 32,42% (đóng góp 0,39 điểm vào mức tăng chung toàn ngành); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,25% làm giảm 4,26 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,96% đóng góp 2,2 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,71% đóng góp 0,28 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh.  Thời gian tới ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như: Sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực; tổ máy số 2 nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 đã hoàn thành trùng tu, đi vào hoạt động từ giữa tháng 10; nhà máy sợi Nghệ Tĩnh đi vào sản xuất thương mại ổn định, sản lượng bình quân dự tính đạt gần 400 tấn/1 tháng. Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như: Sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc vào thị trường; nhà máy thép Formosa gặp nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu thép ra thị trường ngoài nước. Do đó, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất khó khăn; đòi hỏi sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 14 nhóm sản phẩm cộng dồn 10 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 100,63%; đá xây dựng khác tăng 31,07%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 20,82%; bia đóng lon tăng 19,86%; điện sản xuất tăng 16,3%; bê tông trộn sẵn tăng 14,03%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Mực đông lạnh giảm 80,11%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 25,06%; sản xuất dược phẩm giảm 8,87%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,55%; chè (trà) nguyên chất, chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 3,2% và sản xuất sợi giảm 1,34%. Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị nhằm đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu trong năm nay. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2024 tăng 0,02% so với tháng trước, giảm 5,41% so với cùng kỳ năm trước. Các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối tháng 10 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 2,32% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng giảm 4,03% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,17% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,15%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,68% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa có Văn bản số 6220-CĐ/UBND, ngày 17/10/2024 yêu cầu các đơn vị thực hiện quyết liệt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, tiếp tục đề cao trách nhiệm, tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 104/CĐ-TTg ngày 08/10/2024 về việc đôn đốc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2024. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10/2024 ước đạt 995,92 tỷ đồng, tăng 8,71% so với tháng trước và tăng 82,89% so với cùng kỳ năm nước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 777,55 tỷ đồng, tăng 7,25% so với tháng trước và tăng 79,06% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 169,57 tỷ đồng, tăng 12,63% so với tháng trước và tăng 105,39% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 48,80 tỷ đồng, tăng 20,3% so với tháng trước và tăng 75,96% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 10, với sự quyết tâm đảm bảo tiến độ thi công các công trình nên các đơn vị thi công vẫn đảm bảo tiến độ đề ra, vốn đầu tư thực hiện tăng hơn so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước do nguồn vốn bổ sung kế hoạch vốn năm 2024 được bổ sung vào cuối tháng 8/2024 nên nguồn vốn thực hiện và giải ngân dồn vào những tháng cuối năm. Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng năm 2024 ước đạt 4.864,40 tỷ đồng, đạt 71,35% kế hoạch năm, tăng 13,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.401,37 tỷ đồng, đạt 67,53% kế hoạch vốn, tăng 4,9% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 1.122,72 tỷ đồng, đạt 80,58% kế hoạch vốn, tăng 51,75% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 340,30 tỷ đồng, đạt 87,68% kế hoạch vốn, tăng 6,17% so với cùng kỳ. Nguyên nhân kết quả vốn đầu tư thực hiện đến cuối tháng báo cáo tăng 13,05% so với cùng kỳ năm trước, do năm nay kế hoạch vốn tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm trước, bên cạnh đó tình hình thời tiết từ đầu năm đến nay thuận lợi cho việc thi công các công trình, nguồn vốn giải ngân được đảm bảo nên các chủ đẩu tư đẩy nhanh tiến độ thi công. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 10 và 10 tháng năm 2024 tăng trưởng khá ổn định. Thị trường hàng hoá, dịch vụ càng về cuối năm càng sôi động, do từ đầu năm 2024 tỉnh đã triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình bình ổn thị trường, tổ chức kết nối doanh nghiệp phân phối của tỉnh với nguồn hàng tại các địa phương nhằm bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu. Dự báo trong thời gian tới, ngành thương mại - dịch vụ tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế tỉnh nhà. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 10/2024 doanh thu ước đạt 5.892,74 tỷ đồng, tăng 2,10% so với tháng trước, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng biến động tăng khá so với tháng trước, như xăng, dầu, may mặc, kim loại quý và hàng hoá khác khi nhu cầu và giá cả các loại hàng hoá tăng. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố mùa vụ như trùng dịp lễ 13/10, 20/10, thời tiết chuyển giao mùa. Bên cạnh đó cũng có các nhóm hàng có doanh thu giảm so với tháng trước như vật phẩm văn hoá, giáo dục, ô tô và phương tiện đi lại… do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập giảm dần sau đợt cao điểm trong những tháng trước, mặc dù thị trường ô tô tháng 9, tháng 10 đã có sự thay đổi đáng kể tuy nhiên vẫn chưa đạt mức so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2024, doanh thu bán lẻ ước đạt 57.404,85 tỷ đồng, tăng 18,47% so với cùng kỳ năm trước. Do các chính sách kích cầu như giảm thuế VAT 2% các mặt hàng thiết yếu, tăng lương cơ bản, dự kiến giảm lãi suất cho vay nhằm đảm bảo mức tiêu dùng cho người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, với Nghị định 1010/2024/NĐ-CP về “việc giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ (LPTB) đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước” có hiệu lực thi hành từ 01/10/2024 đến 30/11/2024 đã có tác động tích cực trung bình 8 tháng năm 2024, nhóm hàng ô tô con đạt hơn 187 tỷ đồng/tháng, riêng 2 tháng (tháng 9 và 10) ước đạt hơn 340 tỷ. Dự báo về cuối năm thị trường bán lẻ càng sôi động, mặc dù đang trong tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế, giá cả các loại hàng hoá đều có biến động tăng nhưng nhu cầu người dân vẫn ưu tiên tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu cho nên doanh thu các mặt hàng lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, may mặc, đồ dùng gia đình… chiếm tỷ trọng doanh thu lớn trong tổng mức và tăng trưởng khá ổn định tiếp tục. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 10/2024 ước ước đạt 798,33 tỷ đồng, tăng 4,64% so với tháng trước, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù trong tháng hoạt động lưu trú, lữ hành giảm mạnh so với tháng trước do thời tiết và tính chất mùa vụ nhưng hoạt động ăn uống vẫn duy trì ổn định, nhu cầu ăn uống ngoài gia đình ngày càng tăng. Tính chung 10 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 7.120,31 tỷ đồng, tăng 12,43% so với cùng kỳ năm trước. Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi doanh thu ăn uống (chiếm 95,76% tổng doanh thu) tăng 12,67% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định chứng tỏ đời sống người dân đang dần cải thiện. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên thời gian tới khi mùa du lịch cao điểm đã qua thì 2 nhóm ngành này dự ước sắp tới sẽ tiếp tục giảm doanh thu. Tỉnh nhà cần có chính sách về du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch. Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 10 ước đạt 384,44 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 7,48% so với cùng kỳ năm trước, trong tháng ảnh hưởng thời tiết giao mùa, thay đổi thất thường tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế. Bên cạnh đó bước vào mùa cưới hỏi cũng như các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công nên như cầu các dịch vụ cho thuê đồ dùng gia đình, máy móc… tăng khá. Tính chung 10 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.792,61 tỷ đồng, tăng 7,50% so với cùng kỳ năm trước, trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng bất động sản là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương. Cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản giảm 11,06% do một phần tiền đang được “ngâm” trong lĩnh vực chứng khoán và vàng; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,86% do ngành cho thuê máy móc, thiết bị …tăng trưởng mạnh (tăng 16,07%); nhóm ngành giáo dục đào tạo tăng 8,55% do tăng chi phí học bằng lái xe; nhóm hàng y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 19,36% do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế từ ngày 19/11/2023; nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 41,52% và dịch vụ khác tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy đời sống người dân tỉnh nhà ngày càng được nâng cao. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải tháng 10 và 10 tháng năm 2024 tăng trưởng khá. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao, các loại phương tiện tải trọng lớn đang được chú trọng đầu tư thay thế các loại phương tiện cũ, trọng tải thấp. Công tác quản lý, đăng kiểm phương tiện, tuần tra kiểm soát giao thông được quản lý chặt chẽ, tăng cao tính an toàn khi lưu thông. Bên cạnh đó, sự có mặt của xe taxi điện với các ứng dụng gọi xe công nghệ cũng góp phần tăng cường hoạt động vận tải hành khách. Doanh thu hoạt động kho bãi, logistics cũng tăng mạnh so năm trước do sự mở rộng của hệ thống cầu cảng tại khu kinh tế Vũng Áng. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 10 doanh thu ước đạt 681,80 tỷ đồng, tăng 3,93% so với tháng trước, tăng 10,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 6,27% so với tháng trước và tăng 20,45% so với cùng kỳ năm trước, do trong tháng tình hình thời tiết mưa nhiều cộng với việc trùng các gày lễ nên nhu cầu phương tiện đi lại tăng. Vận tải hàng hóa chiếm 63,07% tỷ trọng doanh thu, tăng 3,09% so với tháng trước và tăng 7,23% so với cùng kỳ do những tháng cuối năm, tiến độ xây dựng các công trình được đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thiện, nhất là khắc phục hư hỏng sau lũ; bên cạnh đó các đầu mối bán buôn đẩy mạnh thu gom, tích trữ hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm hàng hóa dịp cuối năm. Doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải cũng tăng 4,51% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ do tăng dịch vụ kho bãi đường biển bốc xếp hàng hóa xuất nhập khẩu thông qua Cảng Sơn Dương và Cảng Vũng Áng. Tính chung 10 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu ước đạt 7.052,3 tỷ đồng, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách tăng 39,61%; hàng hoá tăng 14,88% và dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải tăng 28,85%. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp vận tải đã và đang đẩy mạnh áp dụng công nghệ số, như hệ thống quản lý kho thông minh và theo dõi lộ trình xe tải qua GPS. Các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi, xu hướng sử dụng phương tiện vận tải thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng với nhiều doanh nghiệp chuyển sang sử dụng xe điện hoặc xe hybrid. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như giá nhiên liệu biến động, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng cao từ khách hàng. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất - nhập khẩu trong tháng 10 có dấu hiệu khởi sắc hơn sau thời gian dài gặp khó khăn. Trị giá xuất - nhập khẩu trong tháng ước đạt 499,4 triệu USD, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 14,52% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng năm 2024 hoạt động xuất - nhập khẩu đang gặp khó khăn khi trị giá xuất khẩu mặt hàng chủ lực thép vẫn đang giảm khá sâu. Tổng giá trị xuất nhập khẩu 10 tháng đạt 5.069,75 triệu USD giảm 1,94% so với cùng kỳ (giảm 100,24 triệu USD). Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 10/2024 ước đạt 210,8 triệu USD, giảm 0,24% so với tháng trước nhưng tăng đến 24,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng ước đạt 186,2 triệu USD (chiếm 88,33% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), giảm 0,62% so với tháng trước và tăng 21,76% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh mặt hàng thép, phôi thép có giảm nhẹ so với tháng trước thì các mặt hàng chủ lực khác tăng cả so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước, nhất là các mặt hàng dăm gỗ, xơ sợi… Tính chung 10 tháng năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.926,05 triệu USD, giảm 10,43% (giảm 224,22 triệu USD) so với cùng kỳ. Nguyên nhân do tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát và tăng lãi suất, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, nên mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, chỉ tính riêng xuất khẩu của Formosa 10 tháng năm 2024 (chiếm 92,46% giá trị xuất khẩu) đã giảm đến 12,41% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các cũng giảm đến 30,58% so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu của mặt hàng chè, dăm gỗ, dệt và may mặc tăng, tuy nhiên do những mặt hàng này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nên không tác động nhiều đến kết quả xuất khẩu chung. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 10/2024 ước đạt 288,6 triệu USD, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 8,42% so với cùng kỳ năm trước, do như cầu hàng hoá nhập khẩu dịp cuối năm. Tính chung 10 tháng năm 2024 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3.143,7 triệu USD tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá trị nhập khẩu của Formosa ước đạt 2.355,59 triệu USD, chiếm 74,93% trị giá nhập khẩu toàn tỉnh, tăng 8,80% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD, với kết quả đến tháng 10 mới chỉ đạt hơn 1,9 tỷ USD, đặt áp lực rất lớn vào 2 tháng cuối năm, vì vậy, dự ước những tháng tới hoạt động xuất khẩu sẽ khởi sắc hơn nhưng vẫn khó hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 10 có biến động mạnh ở nhóm hàng nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây; giá khí đốt gas hóa lỏng và dầu hỏa biến động tăng theo thị trường thế giới. Chỉ số giá bình quân tháng 10/2024 tăng 1,05% so với tháng trước nhưng so cùng kỳ đã tăng đến 6,01%. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và ngày càng tăng mạnh vào những ngày cuối tháng. Chỉ số CPI chung tháng 10 ngoài nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng biến động mạnh thì các nhóm hàng khác cơ bản không biến động nhiều. So với cùng kỳ năm trước với mức tăng 6,01%, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì chỉ có 2 nhóm hàng có biến động giảm là giao thông và bưu chính viễn thông do mặc dù việc giá xăng, dầu trong tháng điều chỉnh tăng sau các kỳ điều chỉnh gần đây nhưng giá so với cùng tháng năm trước đang ở mức thấp. Còn lại các nhóm hàng khác đều có mức tăng giá cao, đặc biệt các mặt hàng thiết yếu là ăn và dịch vụ ăn uống tăng đến 8,15%, trong đó: Lương thực tăng 10,85%, thực phẩm tăng 6,10% và ăn uống ngoài gia đình tăng đến 15,83%. Tính chung 10 tháng năm 2024, CPI bình quân tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 4,24%, nông thôn tăng 3,31%. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Trong năm 2024, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức thấp, khoảng 3-4%. Dự báo CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Dự kiến CPI sang tháng 11 trong tỉnh dự kiến tiếp tục tăng, cụ thể giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống, may mặc, đồ dùng gia đình… sẽ tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa và việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn; giá dầu thô trên thị trường thế giới ở mức cao khiến giá xăng dầu có thể tiếp tục tăng; giá gạo cũng tăng giá khi nguồn dự trữ lúa sản xuất từ hai vụ trong năm giảm dần. Cùng với đó, việc giá điện cơ sở được điều chỉnh cũng có thể tác động đến giá điện sinh hoạt bình quân tăng theo II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Hiện nay đang là tháng cao điểm “Vì người nghèo” các hoạt động gắn với chào mừng kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2024) và Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X. Trên địa bàn đã tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà; khởi công, bàn giao nhà đại đoàn kết; hỗ trợ mô hình sinh kế, hỗ trợ phát triển sản xuất... Phối hợp hướng dẫn rà soát, lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo đảm bảo chính xác; phân loại hộ nghèo theo nhu cầu cần hỗ trợ (nhà ở, phát triển sản xuất,...); rà soát hộ có nhà tạm, nhà dột nát để xây dựng các phương án hỗ trợ phù hợp, góp phần thực hiện tốt Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong năm 2025”. Đồng thời, đây cũng là tháng trùng với các ngày lễ như ngày Doanh nhân Việt Nam, ngày Phụ nữ Việt Nam… nhằm mang đến cơ hội mua sắm với giá thành khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng dịp cuối năm, nhiều cửa hàng bán lẻ trên địa bàn đang áp dụng các chương trình ưu đãi, sức mua tăng, đẩy mạnh doanh thu trong những tháng cuối năm. Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn 10 tháng năm 2024 ổn định, công tác đảm bảo an sinh xã hội luôn được quan tâm, thực hiện đầy đủ và triển khai kịp thời. Việc điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng giúp người thụ hưởng cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội. 2. Giáo dụcNăm học 2024-2025, toàn tỉnh có 668 trường mầm non và phổ thông, trong đó có 28 trường ngoài công lập, so với năm học trước, hệ thống mạng lưới trường học ổn định. Cơ sở vật chất, thiết bị cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học trong năm học mới. Số phòng học kiên cố chiếm tỷ lệ khá cao: Mầm non 94,1%, tiểu học 96,8%; THCS 98,7%; THPT 100%. Đạt 100% trường học của tỉnh đảm bảo tỷ lệ 1 phòng học/1 lớp. Với nhiều giải pháp đồng bộ, đội ngũ giáo viên các cấp học trên địa bàn tỉnh năm học 2024-2025 cơ bản đảm bảo số lượng, chất lượng để triển khai chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên. Đội ngũ giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng có chất lượng, nhất là giáo viên dạy lớp 5, lớp 9 và lớp 12. Một số khó khăn đầu năm học của tỉnh là việc mua sắm bổ sung thiết bị dạy học thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chưa được thực hiện kịp thời; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhiều nơi xuống cấp, thiếu phòng học bộ môn, phòng chức năng; còn tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ theo bộ môn; chưa có đủ giáo viên được đào tạo để dạy môn tích hợp cấp THCS; phải điều động giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật cấp THCS lên dạy THPT; phát hành tài liệu giáo dục địa phương còn gặp khó khăn do vướng mắc về luật đấu thầu… Đặc biệt, để góp phần khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, thừa thiếu cục bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 2091/QĐ-UBND ngày 28/8/2024 về việc phê duyệt chỉ tiêu, cơ cấu tuyển dụng viên chức giáo dục và điều chuyển, biệt phái giáo viên năm học 2024-2025. 3. Hoạt động y tế Trong tháng trên địa bàn tỉnh ghi nhận 34 trường hợp sốt phát ban dạng sởi (xảy ra tại huyện Hương Khê), theo kết quả xét nghiệm, đã có 14 trường hợp dương tính với bệnh sởi. Mặc dù ngành chức năng và các địa phương đã triển khai công tác tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh và tăng tỷ lệ bao phủ tiêm chủng cho người dân song dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Đến ngày 22/10/2024 toàn tỉnh đã có gần 100 ca mắc sởi với các ổ dịch ở huyện Đức Thọ, Hương Khê, Lộc Hà. Trước diễn biến phức tạp của bệnh sởi, ngành Y tế đang triển khai tiêm vắc-xin tại một số địa phương để gia tăng miễn dịch cộng đồng.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, trên địa bàn trên địa bàn phát hiện 1 ca chết vì AIDS và không có ca phát hiện mới và chuyển qua AIDS. Tính chung 10 tháng năm 2024 đã có 26 người nhiễm mới HIV, 20 người chuyển thành AIDS, 6 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 13 người nhiểm mới HIV, giảm 11 người chuyển thành AIDS nhưng số người chết vì AIDS chỉ tăng 1 người.Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào nhưng có 49 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 1 vụ ngộ độc tập thể và 40 ca ngô độc đơn lẻ so với tháng trước). Các ca ngộ độc được điều trị kịp thời không có ca nào tử vong. Tính chung 10 tháng năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc tập thể khiến 13 người bị ngộ độc và có 730 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ ngộ độc tập thể, giảm 29 người ngộ độc tập thể và giảm 74 ca ngộ độc đơn lẻ. Bên cạnh diễn biến tình hình các dịch bệnh, ngành Y tế trong tháng cũng ghi nhận sự thành công của ca phẫu thuật u tuyến giáp tại Trung tâm Y tế huyện Đức Thọ cùng sự phối hợp với các bác sỹ nội trú Bệnh viện Trung ương Huế tạo cơ hội điều trị cho các bệnh nhân địa phương, giảm thiểu áp lực cho tuyến trên.4. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hoá, thể thao trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh, một số kết quả hoạt động động tiêu biểu có thể kể đến như: Về hoạt động văn hóa: Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Hà Tĩnh đã xuất sắc giành 4 huy chương tại Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc, trong đó có 1 huy chương vàng và 3 huy chương bạc. Sáng 11/10/2024, xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Xuyên tổ chức hội thi gói bánh chưng, góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, khơi dậy tinh thần đoàn kết chung tay xây dựng xã nông thôn mới nâng cao. Cũng trong tháng, tỉnh đã tổ chức chương trình nghệ thuật kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và 110 năm Ngày sinh anh Lý Tự Trọng. Tối ngày 11/10/2024, tại bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê đã diễn ra buổi giao lưu văn hóa giữa đồng bào dân tộc Chứt của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình Hoạt động thể thao: Về Thể thao thành tích cao, tại Giải Đua thuyền Rowing Vô địch châu Á diễn ra từ ngày 10 -13/10 tại Uzbekistan, Hà Tĩnh có VĐV tham gia giải và giành được 02 huy chương (1 HCV, 1 HCB).Từ ngày 16 - 18/10, tại Khu Thể thao K9 huyện Hương Sơn phối hợp với Sở VH-TT&DL tổ chức Giải Bóng chuyền nữ năm 2024, thu hút gần 200 vận động viên đến từ 13 đội của các huyện, thị xã, thành phố tham gia tranh tài.5. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng đã xảy ra 29 vụ tai nạn đường bộ, làm 21 người chết, 13 người bị thương (tăng 7 vụ; tăng 4 người chết; tăng 4 người bị thương so với tháng trước), giá trị thiệt hại ước tính khoảng 85 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2024, đã xảy ra 347 vụ tai nạn đường bộ, làm 190 người chết, 214 người bị thương, thiệt hại 2,17 tỷ đồng, giảm 73 vụ, giảm 37 người bị thương, số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tai nạn đường sắt xảy ra 3 vụ, làm 1 người chết, 1 người bị thương (giảm 1 vụ và 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước), đến hiện nay không xảy ra tai nạn đường thuỷ. 6. Môi trường Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn: Trong tháng đã xảy 9 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 139,27 triệu đồng (giảm 1 vụ so với tháng trước), không xảy ra vụ thiên tai nào. Tính chung 10 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/10/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 74 vụ cháy, không để xảy ra vụ nổ nào, không có thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 736,1 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 29 vụ cháy và 1 vụ nổ, giảm 1 người chết và 1 người bị thương, giá trị thiệt hại giảm hơn 3,6 tỷ đồng.Vi phạm môi trường: Trong tháng, phát hiện 17 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 22 vụ, với tổng số tiền xử phạt 336 triệu đồng; giảm 4 vụ phát hiện, giảm 6 vụ đã xử lý và giảm 176,46 triệu đồng số tiền xử phạt so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước giảm 22 vụ phát hiện, tăng 3 vụ đã xử lý và tăng 281,4 triệu đồng số tiền xử phạt. Tính chung 10 tháng năm 2024, phát hiện 249 vụ vi phạm môi trường, giảm 165 vụ (giảm 39,86%) và đã xử phạt 236 vụ, giảm 217 vụ (giảm 47,9%). Tổng số tiền xử phạt là 1.619,5 triệu đồng, giảm 162,29 triệu đồng (giảm 11,14%) so với cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2024
  •   10/10/2024 08:12

Năm 2024 là năm gần cuối nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, là năm có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm 2021-2025. Trong quý III cũng như 9 tháng vừa qua, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn thách thức. Tuy nhiên, nền kinh tế tỉnh Hà Tĩnh vẫn đạt mức tăng khá. Các dự án công nghiệp lớn trên địa bàn được đảm bảo tiến độ. Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, vụ Xuân, vụ Hè Thu được mùa toàn diện. Du lịch, dịch vụ đạt mức tăng khá, các hoạt động quảng bá du lịch, hoạt động vui chơi giải trí diễn ra sôi nổi. Giải ngân đầu tư công, các dự án hạ tầng đô thị, giao thông chiến lược theo định hướng Quy hoạch tỉnh được đẩy mạnh triển khai. Bên cạnh những điểm nổi trội thì nền kinh tế công nghiệp tỉnh nhà vẫn chưa phục hồi rõ nét, tăng trưởng chưa đạt theo kế hoạch đề ra, tạo áp lực cho những tháng cuối năm 2024. Trong bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1.Trồng trọt a. Cây hàng năm: Trong 9 tháng năm 2024, tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất thu hoạch đạt cao, đặc biệt trên cây lúa thắng lợi ở cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu. Việc thay đổi thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún của người dân, tạo bước đệm cho việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, quy mô lớn. Đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện được 11.609 ha, đạt 77,4% kế hoạch Nghị quyết HĐND tỉnh đưa ra đến năm 2025. Một số huyện có diện tích tập trung, tích tụ lớn đó là huyện Can Lộc 3.866 ha, huyện Thạch Hà 2.718 ha, huyện Cẩm Xuyên 1.528 ha,… Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2024 ước đạt 156.209 ha, bằng 99,22%, giảm 1.226 ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cây lúa: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước tính đạt 104.190 ha, bằng 100,21% (tăng 215 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích lúa tăng chủ yếu tăng ở vụ Hè Thu do năm trước hạn hán, người dân bỏ hoang nhiều, năm nay thời tiết thuận lợi, thu hoạch vụ đông xuân sớm, các điều kiện sản xuất được đảm bảo, đặc biệt giá lúa tăng, thương lái thu mua tại chỗ nên khuyến khích người dân khai hoang sản xuất. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu đều thắng lợi, năng suất bình quân chung đạt cao nhất từ trước đến nay ước đạt 57,21 tạ/ha, bằng 102,89% (tăng 1,61 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lúa 9 tháng năm 2024 ước tính đạt 595.993 tấn, bằng 103,09% (tăng 17.885 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 14.383 ha, bằng 100,07% (tăng 10 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô 9 tháng ước đạt 50,39 tạ/ha, bằng 107,34% (tăng 3,45 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng ngô 9 tháng ước tính đạt 72.474 tấn, bằng 107,42% (tăng 5.005 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước đạt 3.335 ha, bằng 98,06% (giảm 66 ha) so với năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu là do một số xã chuyển từ một số đất trồng khoai không hiệu quả sang trồng ngô, ngoài ra một số huyện diện tích đất do nhà nước thu hồi để thực hiện các dự án. Năng suất khoai lang 9 tháng ước đạt 74,48 tạ/ha, bằng 99,14% (giảm 0,65 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang 9 tháng ước đạt 24.840 tấn, bằng 97,21% (giảm 712 tấn) so với cùng kỳ năm trước.Cây lạc: Diện tích gieo trồng 9 tháng ước đạt 6.981 ha, bằng 88,2% (giảm 934 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng lúa hoặc trồng rau cho kinh tế cao hơn. Năng suất thu hoạch lạc 9 tháng ước đạt 27,81 tạ/ha, bằng 98,53% (giảm 0,41 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lạc 9 tháng ước đạt 19.413 tấn, bằng 86,9% (giảm 2.926 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại: Trong 9 tháng năm 2024, diện tích gieo trồng rau ước đạt 13.854 ha, bằng 98,57% (giảm 201 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau ước tính đạt 72,67 tạ/ha, bằng 102,77% (tăng 1,96 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng rau ước đạt 100.699 tấn, bằng 101,3% (tăng 1.294 tấn) so với cùng kỳ năm trước.. Cây đậu: Diện tích đậu các loại ước đạt 2.472 ha, bằng 100,96% (tăng 23 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất đậu các loại ước đạt 10,18 tạ/ha, bằng 98,10% (giảm 0,2 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng đậu các loại ước đạt 2.516 tấn, bằng 99,04% (giảm 24 tấn) so với cùng kỳ năm trước. b. Cây lâu năm Những năm gần đây, thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tập trung nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích nên các loại cây ăn quả có giá trị cao được đầu tư, chăm sóc để nâng cao chất lượng hướng tới sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung, quy mô lớn, liên kết trong bao tiêu sản phẩm; bên cạnh đó khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, tập trung đầu tư thâm canh trên diện tích hiện có đồng thời rà soát diện tích các cây trông già cỗi, sâu bệnh, thoái hóa để thay thế các loại cây có năng suất, chất lượng cao. Về diện tích: Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 9 tháng năm 2024 ước đạt 31.170 ha, bằng 98,72%, giảm 403 ha so với cùng kỳ năm 2023, diện tích giảm chủ yếu là diện tích cam, chanh, chuối. Diện tích cây ăn quả ước đạt 19.438 ha, bằng 100,40%, tăng 78 ha so với cùng kỳ năm 2023. Cây ăn quả nhiệt đới, cận nhiệt đới ước đạt 5.699 ha, bằng 102,17%, tăng 121 ha. Tăng chủ yếu diện tích dứa tăng 118 ha (thời gian qua, huyện Cẩm Xuyên đã khởi động mô hình sản xuất vùng nguyên liệu dứa). Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 13.118 ha, bằng 99,66%, giảm 45 ha so với cùng kỳ năm 2023. Diện tích cam ước đạt 7.297 ha, bằng 99,82%, giảm 13 ha. Diện tích bưởi ước đạt 4.423 ha, bằng 100,05%, tăng 2 ha. Diện tích trồng bưởi tương đối ổn định người dân tập trung chăm sóc diện tích hiện có tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh, bón phân, tưới nước, giống, quy trình sản xuất, công nghệ bảo quản, chế biến, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Diện tích cây cao su ước đạt 8.030 ha, bằng 94,91%, giảm 431 ha so với cùng kỳ năm 2023. Giảm chủ yếu ở huyện Hương Khê giảm 422 ha. Nguyên nhân giảm là do một số diện tích của các hộ dân không mang lại giá trị kinh tế nên người dân chuyển đổi sang mục đích khác ở xã Hương Đô, Hương Trà, Điền Mỹ và diện tích của Công ty cao su Hà Tĩnh giảm do nhà nước thu hồi đất để xây dựng đường dây 500KW mạch 3. Bên cạnh đó, khí hậu khắc nghiệt nắng nóng, mưa bão triền miên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến diện tích cây cao su bị sụt giảm, cây phát triển kém. Diện tích chè búp ước đạt 1.225 ha, bằng 97,07%, giảm 37 ha; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 1.745 ha, bằng 99,04%, giảm 17 ha so với cùng kỳ năm 2023. Nguyên nhân giảm là do diện tích đất trồng bị thu hồi để phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đường giao thông nông thôn. Về sản lượng: Sản lượng cây ăn quả ước đạt 80.885 tấn, bằng 102,78%, tăng 2.186 tấn so với cùng kỳ năm 2023. Với mục tiêu xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân. Sản lượng các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới ước đạt 37.003 tấn, bằng 101,78%, tăng 648 tấn so với cùng kỳ năm 2023. Do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như phòng trừ sâu bệnh, các biện pháp chăm sóc, bảo vệ, mức độ đầu tư được tăng lên, công tác chọn giống từng bước được coi trọng nên kết quả đạt khá. Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 42.198 tấn, bằng 104,03%, tăng 1.634 tấn so với cùng kỳ năm 2023, trong đó, sản lượng bưởi ước đạt 23.126 tấn, bằng 107,09%, tăng 1.531 tấn (năm nay theo đánh giá của các hộ dân, thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ đậu quả nhiều, quả đều và chất lượng bưởi tốt, giá cả cao hơn từ 15 đến 20% so với những năm trước nên người dân rất phấn khởi). Sản lượng cao su ước đạt 3.550 tấn, bằng 105,44%, tăng 183 tấn so với cùng kỳ năm 2023. Cây đến kỳ khai thác cho mủ khá tốt, chất lượng mủ cũng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật. Sản lượng chè búp ước đạt 8.129 tấn, bằng 102,33%, tăng 185 tấn; chè xanh (chè hái lá) ước đạt 15.828 tấn, bằng 101,02%, tăng 160 tấn so với cùng kỳ năm 2023. c. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại Trong 9 tháng năm 2024 các đối tượng sâu bệnh vẫn phát sinh gây hại trên các loại cây trồng nhưng mức độ thiệt hại không lớn. Đối với lúa vụ Đông Xuân bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 3.385 ha, trong đó có 135 ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương; 328 ha bị chuột gây hại, bên cạnh có nạn ốc bươu vàng, bệnh đao ôn lá, rầy nâu có xuất hiện cục bộ nhưng diện tích gây hại không đáng kể...Vụ Hè Thu bệnh khô vằn gây hại trên 3.340 ha, có nạn chuột gây hại ở các vùng cao cưỡng, gần làng ở các địa phương, diện tích nhiễm 272ha. Đối với các loại cây hàng năm khác tuy sâu bệnh có phát sinh gây hại nhưng không ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng Đối với các cây lâu năm sâu bệnh chủ yếu xuất hiện trên các cây ăn quả có múi trong các vườn hộ lâu năm, ở vụ Đông xuân xuất hiện sâu vẽ bùa, sâu nhớt, diện tích nhiễm 75ha, sâu non bướm phượng 25 ha, nhện nhỏ, rệp muội 50 ha. Ở Vụ He Thu xuất hiện sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 15 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 35 ha; ruồi đục quả diện tích nhiễm 63ha; bệnh chảy gôm diện tích nhiễm 10 ha. Dịch bệnh chủ yếu xuất hiện trên các cây loại cây cam, bưởi ở các huyện trồng tập trung như Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn… 1.1.2. Chăn nuôi Kết quả sản xuất chăn nuôi: Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng 9/2024 duy trì ổn định và tiếp tục có bước phát triển ở đàn lợn và gia cầm, tổng đàn lợn ước đạt 408.000 con, tăng 2,45%; đàn gia cầm ước đạt 10.314 ngàn con, tăng 1,18% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên tổng đàn trâu, bò lại có xu hướng giảm do chăn nuôi kém hiệu quả, đàn trâu ước đạt 66.802 con, giảm 0,30%; đàn bò ước đạt 164.100 con, giảm 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng xuất chuồng 9 tháng năm 2024: Thịt trâu ước đạt 2.730 tấn, giảm 1,66%; thịt bò ước đạt 7.886 tấn, giảm 0,30%; thịt lợn ước đạt 52.765 tấn, tăng 3,32%; thịt gia cầm ước đạt 21.923 tấn, tăng 9,86%, trong đó thịt gà ước đạt 18.356 tấn, tăng 11,93%. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong 9 tháng năm 2024, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, kéo theo đó là giá cả tăng cao. Trong tỉnh dịch bệnh đối với chăn nuôi vẫn xẩy ra nhưng cơ bản được kiểm soát; sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, tuy nhiên tổng đàn chăn nuôi vẫn chưa có chuyển biến tích cực khi người dân vẫn còn e ngại việc tăng đàn và tái đàn. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra một số loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên gia súc, thủy sản như: Dịch tả lợn Châu Phi, viêm da nổi cục, lở mồm long móng trên trâu, bò, bệnh đốm trắng, cụ thể như sau: Dịch Viêm da nổi cục trên trâu bò xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) làm cho 156 con bò mắc bệnh, trong đó có 20 con chết, tiêu hủy, với khối lượng 3.411 kg. Đến nay, các ổ dịch đã qua 21 ngày; Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện, thị xã (Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Kỳ Anh) làm cho 182 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy, khối lượng 12.472 kg. Hiện nay dịch tại xã Thạch Lạc thuộc huyện Thạch Hà chưa qua 21 ngày; Lở mồm long móng xảy ra tại 03 xã (Kỳ Bắc, Kỳ Giang, Kỳ Đồng) thuộc huyện Kỳ Anh làm cho 39 con trâu, bò bị mắc bệnh, trong đó làm 04 con chết với khối lượng 830 kg. Hiện nay dịch tại 03 xã trên chưa qua 21 ngày. 1.2. Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tháng 9 năm 2024 ước đạt 1.783 ha, tăng 1,42%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 75.176 m3, tăng 9,67%; sản lượng củi khai thác ước đạt 6.048 ste, giảm 4,09%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 107 ngàn cây, tăng 1,90% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới 9 tháng năm 2024 ước đạt 4.968 ha, tăng 3,46%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 353.682 m3, tăng 12,11%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 2.045 ngàn cây, tăng 15,86% so với cùng kỳ năm trước. Trồng rừng, bảo vệ rừng là một trong những việc làm hết sức thiết thực để phát triển bền vững. Phát triển rừng vừa tạo ra thu nhập từ rừng, vừa để bảo vệ môi trường vì vậy các cấp, các ngành và người dân đặc biệt quan tâm. 9 tháng năm 2024, diện tích rừng trồng mới, hoạt động khai thác gỗ và cây trồng phân tán tăng so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng rừng chủ yếu tập trung ở các địa phương như huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Hương sơn, Cẩm Xuyên, Thạch Hà. Thiệt hại về rừng: Trong tháng không xảy ra cháy rừng, nhưng xảy ra 11 vụ phá rừng. Tính từ đầu năm đến ngày 25/9/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh đã xẩy ra 4 vụ cháy rừng (giảm 2 vụ so với cùng kỳ), với diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,11 ha) và 45 vụ phá rừng (giảm 61 vụ), với diện tích rừng bị phá là 12,25 ha (giảm 26,87 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Sản xuất thủy sản: Tháng 9, sản lượng khai thác và nuôi trồng đạt sản lượng tăng so với các tháng khác khi đây là mùa thu hoạch các loại hải sản biển đa dạng và đối với nuôi trồng vẫn đang thu hoạch vụ tôm Xuân Hè nên sản lượng đạt khá cao. Tổng sản lượng thủy sản tháng 9 ước đạt 7.710 tấn, bằng 101,29%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 4.142 tấn, bằng 101,03%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.568 tấn, bằng 101,59% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng ước đạt 47.638 tấn, bằng 103,51%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 33.432 tấn, bằng 103,42%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 14.206 tấn, bằng 103,73% so với cùng kỳ năm trước. Khai thác thủy sản trên địa bàn 9 tháng năm 2024 cơ bản vẫn ổn định và tiếp tục có sự tăng nhẹ với mức tăng là 1.616 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chiếm 70% tổng sản lượng thủy hải sản, tăng 1.105 tấn và sản lượng nuôi trồng 9 tháng ước tính tăng 511 tấn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù giá bán sản phẩm tương đối ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác vẫn ở mức cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế có giảm. Cùng với đó là điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển đầu tư phát triển chậm nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Những tháng cuối năm, dự báo điều kiện thời tiết xấu, mưa bão, lũ lụt xẩy ra bất thường nên hoạt động khai thác biển và nuôi trồng sẽ gặp khó khăn hơn. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra với diện tích 4.29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà); Bệnh Vi bào tử trùng xảy ra với diện tích 0,85 ha tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh, xã Thạch Long huyện Thạch Hà. Trong tháng 9 xảy ra bệnh Vi bào tử trùng (EHP) trên tôm tại 01 hộ nuôi xã Thạch Long huyện Thạch Hà với diện tích 0,2 ha; hiện chưa qua 15 ngày; Bệnh Đốm trắng xảy ra với diện tích 8,25 ha tại 5 xã thuộc 4 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và TP Hà Tĩnh); 2. Sản xuất công nghiệp Trong 9 tháng năm 2024 ngành công nghiệp có nhiều điểm thuận lợi như: Bia đóng lon mở rộng thị trường tăng sản lượng sản xuất; vỏ bào, dăm gỗ cũng đang được đẩy mạnh xuất khẩu; ngành may mặc có nhiều tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn còn những khó khăn, thách thức như: Sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc vào thị trường; nhà máy thép Formosa đại tu sửa trong 15 ngày trong tháng 4, sản lượng thép ảnh hưởng bởi thép nhập khẩu. Đặc biệt Tổ máy số 2 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 bảo dưỡng 65 ngày từ 15/8/2024. Do đó, thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất nặng nề; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 9/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 1,73% so với tháng trước và giảm 0,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 2,24% so với tháng trước và tăng 47,39% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 0,41% so với tháng trước và giảm 1,33% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 18,19% so với tháng trước và giảm 2,35% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 1,37% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 11,25%. Tính chung 9 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước giảm 0,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 31,75% đóng góp 0,39 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,91% làm giảm 3,27 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 20,60% đóng góp 2,71 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,94% đóng góp 0,32 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nguyên nhân dẫn đến chỉ số sản xuất công nghiệp chung trong 9 tháng năm 2024 giảm là do: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chịu ảnh hưởng lớn nhất từ ngành sản xuất kim loại, ngoài yếu tố thị trường bất lợi thì sản lượng thép giảm do tạm dừng bảo dưỡng dây chuyền cán nóng của Formosa từ ngày 1/4 - 14/4 dẫn đến tăng trưởng ngành chế biến chế tạo cũng như toàn ngành công nghiệp chưa đạt như kỳ vọng. Cùng với đó là ngành sản xuất và phân phối điện cũng giảm mạnh khi mà tổ máy số 2 của nhà máy nhiệt nhiệt điện 1 trong tháng 8 và tháng 9 đang tạm ngừng để bảo dưỡng. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 9 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị để tăng công suất hoạt động, đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn Hà Tĩnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất - kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu sản xuất - kinh doanh năm nay. Một số sản phẩm công nghiệp 9 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 94,67%; Đá xây dựng khác tăng 30,45%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 22,35%; bia đóng lon tăng 19,98%; điện sản xuất tăng 19,94%; bê tông trộn sẵn tăng 17,06%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 9 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Mực đông lạnh giảm 76,05%; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 6,12%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 39,36%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,37%;... 2.3. Chỉ số ngành công nghiệp Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 9/2024 giảm 5,37% so với tháng trước, so với tháng 9/2023 tăng 19,99%. Tính chung 9 tháng năm 2024 chỉ số tiêu thụ giảm 2,5% so với năm trước. Nhiều mặt hàng trong tổng số các nhóm sản phẩm trên địa bàn có chỉ số tiêu thu tăng cao so với cùng kỳ năm 2023 như: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 65,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 63,55%; sản xuất trang phục tăng 55,09%;… 9 tháng năm 2024, mặc dù chỉ số tiêu thu giảm so với cùng kỳ, tuy nhiên, số nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm tỷ trọng cao, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh dần phục hồi sau nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong những năm qua. Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 9/2024 giảm 1,4% so với tháng trước và giảm 11,69% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho giảm do một số ngành như: Dệt giảm 47,52%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 45,19%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 52,62%.... Hoạt động sản xuất ngành chế biến, chế tạo đang phục hồi, thị trường trong và ngoài nước rộng mở. Bên cạnh sản xuất các sản phẩm mới, các doanh nghiệp cũng ưu tiên tiêu thị hàng tồn kho từ năm trước.  2.4. Tình hình sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 9/2024 tăng 0,67% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 3,99%. Cộng dồn đến cuối năm tháng 9 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,26% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động 9 tháng năm 2024 của ngành khai khoáng giảm 3,29% so với năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,04%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,55% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Tình hình hoạt động doanh nghiệp Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 9 tháng năm 2024 vẫn đang còn tồn tại nhiều khó khăn. UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương luôn đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh triển khai kịp thời, đồng bộ các cơ chế, chính sách của Trung ương; địa phương nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. 3.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 30/9/2024, toàn tỉnh thành lập mới 1.038 doanh nghiệp, tăng 11,25% với số vốn đăng ký hơn 5.341,2 tỷ đồng, tăng 41,18% so cùng kỳ năm trước. Song song với việc các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thì số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 538 doanh nghiệp, tăng 11,85% so cùng kỳ; doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể 173 doanh nghiệp, tăng 613% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, từ kết quả đăng ký thành lập mới, tự giải thể, tạm ngừng hoạt động của các doanh nghiệp cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian vừa qua vẫn đang còn gặp khó khăn nhất là thiếu nguồn vốn đã ảnh hưởng đến phát triển của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển chung của toàn nền kinh tế tỉnh nhà. 3.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Qua tổng hợp kết quả điều tra trên địa bàn tỉnh, nhìn chung đa số các doanh nghiệp đánh giá quý III/2024 và dự báo quý IV/2024 về tình hình sản xuất kinh doanh, biến động về khối lượng sản xuất, số lượng đơn đặt hàng có xu hướng tăng lên và giữ nguyên. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực và thuận lợi hơn trước. Tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2024 có 95,83% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước (trong đó các doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên 39,58%; có 56,25% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ vẫn giữ nguyên như quý II/2024). Bên cạnh đó, số doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD của họ khó khăn chiếm 4,17% trong tổng số các doanh nghiệp toàn tỉnh. Kinh tế thị trường sôi động trở lại, thị trường trong và ngoài nước mở rộng tạo điều điện cho các doanh nghiệp phục hồi sản xuất sau thời gian dài khó khăn. Các doanh nghiệp dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2024 tăng hơn so quý III/2024 khi có tới 41,67% doanh nghiệp nhận định SXKD quý IV/2024 sẽ tốt hơn và 43,75% giữ ổn định so với quý III/2024. Tuy nhiên, số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước là 14,58% tổng số các doanh nghiệp trong toàn tỉnh, tăng hơn so với quý trước. Thời tiết không thuận lợi, thị trường bão hòa ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh một số ngành như sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác... 4. Hoạt động thương mại, dịch vụ 4.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Hoạt động thương mại và dịch vụ 9 tháng năm 2024 nhìn chung phát triển khá với gam màu sáng, tổng doanh thu bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng ước đạt hơn 61,3 nghìn tỷ đồng tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung hàng hóa tại thị trường trong nước, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân, thị trường bán lẻ càng về cuối năm càng sôi động, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành phát triển mạnh, các dịch vụ khác cũng tăng khả quan. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Tháng 9/2024 ước đạt 5.824,66 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước, tăng 15,57% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo quý thì quý III/2024 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 17.394,05 tỷ đồng, tăng 2,57% so với quý trước và tăng đến 16,88% so với cùng kỳ. Trong 3 quý thì mức tăng quý III so với cùng kỳ đạt mức khá cao nhưng không tăng mạnh bằng hai quý trước. Nguyên nhân do tình hình kinh tế, chính trị thế giới và những điều chỉnh về giá của các nhà sản xuất tác động đến giá nhiều nhóm hàng hóa như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, vàng và kim loại quý... Bên cạnh việc giá cả tăng cao thì các yếu tố mùa vụ trong quý cũng ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu các nhóm hàng như vật phẩm giáo dục, may mặc... khi cầu mua sắm bước vào năm học mới. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 51.565,46 tỷ đồng, tăng 18,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm Lương thực, thực phẩm chiếm 48,37% tổng mức, tăng 25,76% trong đó quý I tăng 25,83%; quý II tăng 27,29%; quý III tăng 24,24%, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã làm cho tổng mức bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó các nhóm hàng có doanh thu khá cũng biến động tăng cao như: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 30,99%, trong đó quý I tăng 57,44%; quý II tăng 29,59%; quý III tăng 10,31%; may mặc tăng 35,68%%, trong đó quý I tăng 52,73%; quý II tăng 34,91%; quý III tăng 22,02%. Nhóm xăng dầu các loại do giá cả trong năm ở mức khá ổn định nên mức doanh thu chỉ tăng ở mức 7,06%, trong đó quý I tăng 0,98%; quý II tăng 7,68%; quý III tăng đến 12,47%. Các nhóm hàng khác cũng có mức tăng doanh thu khá so với cùng kỳ, bên cạnh các nhóm hàng tăng doanh thu thì có 3 nhóm hàng có doanh thu giảm sâu là nhóm phương tiện đi lại (giảm 29,99%), ô tô con (giảm 24,90%) và nhóm Gỗ, vật liệu xây dựng (giảm 10,71%) mặc dù đã có Nghị định 109/2024/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 01/9/2024 đến 30/11/2024 về “việc giảm 50% mức thu lệ phí trước bạ (LPTB) đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước” tuy nhiên do đây là các mặt hàng xa xỉ có giá trị cao, khi thu nhập người đang phải gồng gánh các chi phí hàng hóa do giá ở mức cao thì việc mua sắm các mặt hàng có giá trị lớn dường như cũng hạn chế, bên cạnh đó do việc giá vật liệu đang ở mức thấp hơn so với các năm trước. Nhìn chung, tình hình thương mai chịu nhiều tác động bởi tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Bên cạnh chi phí đầu vào như: giá điện, chi phí nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng. Cộng thêm những thị trường xuất khẩu chủ yếu như Trung Quốc, Nhật Bản đang gặp khó khăn về cầu tiêu dùng. Tuy vậy, môi trường kinh doanh trong tỉnh nhìn chung ổn định, lãi suất tín dụng đang giảm dần tác động tích cực đến sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, hoạt động bán lẻ hàng hóa tăng mạnh. Đặc biệt khi sử dụng các chính sách kích cầu như tăng vốn đầu tư công, tăng lương cơ bản cho cán bộ công chức và người nghỉ hưu, giảm thuế VAT 2%, giảm 50% lệ phí trước bạ đối với sản xuất xe trong nước đã là “bệ trụ” để cho Tổng mức bán lẻ tỉnh nhà tăng so với năm trước. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 9/2024 ước đạt 776,88 tỷ đồng, tăng 2,62% so với tháng trước và tăng 12,52% so với cùng kỳ năm trước. Tuy trong 3 ngành chỉ có doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 3,35% (hai ngành lưu trú và du lịch tăng trưởng âm) nhưng với tỷ lệ chiếm 96,73% nên doanh thu lưu trú, ăn uống và du lịch vẫn tăng so với tháng trước. Cụ thể: Dịch vụ lưu trú ước đạt 21,79 tỷ đồng, giảm 10,41% so với tháng trước nhưng tăng 18,02% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 751,47 tỷ đồng, tăng 3,35% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 3,62 tỷ đồng, giảm 12,04% so với tháng trước những vẫn tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 năm 2024, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 6.335,93 tỷ đồng, tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đây ta thấy được sự tăng trưởng vượt bậc của ngành du lịch, lữ hành (tăng 53,56%) tạo nên điểm sáng trong ngành dịch vụ trong thời gian vừa qua. Nếu tính riêng từng ngành cụ thể thì Dịch vụ lưu trú 9 tháng năm 2024 ước đạt 217,83 tỷ đồng, giảm 3,96%, trong đó mức giảm chủ yếu ở quý I/2024 khi các cơ sở tiến hành đầu tư nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng, còn quý II và III vẫn tăng khá so với cùng kỳ. Riêng quý III doanh thu Lưu trú vẫn đạt 93,88 tỷ đồng, cao nhất trong 3 quý và tăng 6,13% so với cùng kỳ; Dịch vụ Ăn uống 9 tháng ước đạt 6.062,68 tỷ đồng, tăng 12,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý III/2024 đạt 2.206,24 tỷ đồng, tăng 10,43% so với quý trước và tăng 10,21% so với cùng kỳ; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 55,42 tỷ đồng, tăng 53,56% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu phát triển mạnh và vượt bậc ở quý I và quý II, bước sang quý III khi hết mùa du lịch mức doanh thu chỉ đạt 13,54 tỷ đồng, giảm đến 46,89% so với quý trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng ở mức 9,04%. Nhìn chung hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 3 quý, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ này. Bên cạnh đó mặc dù đã gần như kết thúc mùa du lịch nhưng hoạt động dịch vụ vẫn tăng trưởng khá. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, các địa điểm du lịch cũng được đầu tư và đa dạng hóa các loại hình du lịch trải nghiệm. Vì vậy đóng góp của ngành dịch vụ cũng đang là hướng tăng trưởng xanh của kinh tế tỉnh nhà. Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 9/2024 ước đạt 387,63 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, tính cả quý III/2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.157,3 tỷ đồng, tăng 3,49% so với quý trước và tăng 10,97% so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở các nhóm ngành dịch vụ hành chính, hỗ trợ, y tế, giáo dục, giải trí...do trong quý các công trình đang cố gắng tận dụng những ngày thời tiết thuận lợi để hoàn thiện công trình trước mùa mưa bão, nhóm thuốc và dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế và nhu cầu dịch vụ giáo dục cho các kỳ thi. Tính chung 9 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.418,32 tỷ đồng, tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước, trong 6 nhóm hàng dịch vụ khác chỉ có nhóm hàng bất động sản là tăng trưởng âm, còn lại 05 nhóm hàng đều có tăng trưởng dương, cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản giảm 10,02%; nhóm ngành hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,61%; nhóm ngành giáo dục đào tạo tăng 11,28%; nhóm hàng y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 20,67%; nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 43,85% và dịch vụ khác tăng 13,39% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tình hình thế giới vẫn đang gặp nhiều khó khăn tác động đến thị trường cũng như giá cả các loại hàng hoá tăng lên, song việc doanh thu dịch vụ khác tăng trưởng khá ở cả 3 quý trong 9 tháng năm 2024 vẫn cho thấy đời sống người dân đang ngày càng được cải thiện, nhu cầu ngày càng cao về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đời sống. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng 9 năm 2024 mặc dù có chững lại so với các tháng trước do yếu tố mùa vụ khi bắt đầu bước vào mùa mưa lũ, nhưng nhìn so với cùng kỳ và tính chung 9 tháng năm 2024 vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng cả về chất lượng lẫn số lượng xe, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, sức hút từ sự phát triển của ngành du lịch lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải trên địa bàn. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 9/2024 doanh thu ước đạt 721,36 tỷ đồng, giảm 4,18% so với tháng trước, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù tháng 9 doanh thu có giảm hơn so với các tháng trước do yếu tố mùa vụ, nhưng tính cả quý III/2024 doanh thu vẫn đạt 2.269,31 tỷ đồng, tăng 1,13% so quý trước và tăng 18,90% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 358,79 tỷ đồng, tăng 1,74% so với quý trước và tăng 23,17% so với cùng kỳ; Vận tải hàng hóa ước đạt 1.476,07 tỷ đồng, tăng 1,93% so với quý trước và tăng 21,42% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 418,76 tỷ đồng, giảm 2,20% so với quý trước và tăng 16,85% so với cùng kỳ năm trước. Các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu vận tải trong tháng và quý III chủ yếu do tác động của yếu tố mùa vụ khi diễn biến thời tiết phức tạp khiến giảm nhu cầu đi lại, vận chuyển, bên cạnh đó do thời tiết trên biển Đông diễn biến xấu kéo dài, gây khó khăn cho các tàu bè cập cảng và di chuyển cũng khiến doanh thu dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải giảm. Tuy nhiên so với cùng kỳ mức doanh thu này vẫn đạt khá so với kỳ vọng khi tăng mạnh so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2024 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 6.435,83 tỷ đồng, tăng 21,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 1.118,53 tỷ đồng, tăng 43,14%; hàng hoá ước đạt 4.010,89 tỷ đồng, tăng 17,27%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.260,42 tỷ đồng, tăng 31,15% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động vận tải kho bãi ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua đang có nhiều biến chuyển tích cực. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tiếp tục tăng cao nhờ vào sự phục hồi kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu; các doanh nghiệp vận tải đang đẩy mạnh áp dụng công nghệ số như hệ thống quản lý kho thông minh và theo dõi lộ trình xe tải qua GPS giúp nâng cao hiệu quả hoạt động; các dự án của Chính phủ đã và đang đầu tư vào nâng cấp đường bộ, cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải và kho bãi; xu hướng sử dụng phương tiện vận tải thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng, với nhiều doanh nghiệp chuyển sang sử dụng xe điện hoặc xe hybrid. Tuy vậy, ngành vận tải, kho bãi tỉnh vẫn còn nhiều thách thức phải đối mặt như giá nhiên liệu biến động, cạnh tranh gay gắt và yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng cao từ khách hàng. 5. Tài chính, ngân hàng 5.1. Hoạt động tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2024 đạt cao hơn so với cùng kỳ (tăng 4,89%). Hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng, thị trường bất động sản có dấu hiệu phục hồi, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 20/9/2024 đạt 13.656,82 tỷ đồng (tăng 4,89% so cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 6.920,77 tỷ đồng (chiếm 50,68 % trong tổng thu) tăng 6,08% so với cùng kỳ. Cụ thể một số sắc thuế tăng mạnh so cùng kỳ như: Các khoản thu về nhà đất đạt 2.186,64 tỷ đồng (tăng 50,38%); thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.128,28 tỷ đồng (tăng 34,25%); ... Tuy nhiên, 9 tháng năm 2024 thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chỉ đạt 759,37 tỷ đổng, giảm 63,02% so với cùng kỳ. Bên cạnh thu nội địa, tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 6.262,64 tỷ đồng, giảm 1,87% so với cùng kỳ.  Nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn trong SXKD những tháng đầu năm dẫn đến nguồn thu ngân sách của Hà Tĩnh bị ảnh hưởng. Chi ngân sách Nhà nước: Việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 20/9/2024 đạt 17.634,28 tỷ đồng tăng 4,49% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 7.634,39 tỷ đồng chiếm 43,29% tổng chi, giảm 5,53% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 9.982,47 tỷ đồng chiếm 56,61% tổng chi, tăng 14,93% so với cùng kỳ năm 2023. 5.2. Hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2024 tiếp tục được đẩy mạnh. Các cơ chế, chính sách của ngành đã được triển khai đến người dân, doanh nghiệp trên địa bàn nhằm giúp khách hàng biết đến và sớm tiếp cận được các chính sách, qua đó góp phần hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt (tăng 11,41% so với cuối năm 2023). Tăng trưởng tín dụng tăng 15,64% so với cùng kỳ năm 2023. Công tác huy động vốn trên địa bàn tiếp tục được đẩy mạnh, với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nhờ đó, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động ước đến 30/9/2024 đạt 112.000 tỷ đồng, tăng 11,41% so với cuối năm 2023 và tăng 19,50% so với cùng kỳ năm 2023. Dư nợ cho vay ước đến 30/9/2024 đạt 105.000 tỷ đồng, tăng 9,32% so với cuối năm 2023 và tăng 15,64% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn ước đạt 78.368 tỷ đồng (chiếm 74,64% tổng dư nợ), tăng 13,3% so với cuối năm 2023; dư nợ trung dài hạn ước đạt 26.632 tỷ đồng (chiếm 25,36% tổng dư nợ), giảm 0,94% so với đầu năm. 6. Vốn đầu tư Trong 9 tháng năm 2024, toàn tỉnh tập trung triển khai kế hoạch đầu tư công, tỉnh đã thành lập các tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các chương trình, dự án. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 40.802 tỷ đồng, tăng 14,36% so với cùng kỳ năm trước, đây là nguồn lực lớn nhất nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho 9 tháng và cả năm 2024.   Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý III/2024 dự ước đạt 15.509 tỷ đồng, tăng 7,3% so với quý trước, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước 6.487 tỷ đồng, tăng 31,74% so với quý trước và tăng 80,55% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.893 tỷ đồng, tăng 14,03% so với quý trước và giảm 11,67% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 4.128 tỷ đồng, giảm 21,20% so với quý trước và tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh 9 tháng năm 2024 ước đạt 40.801,63 tỷ đồng, tăng 14,36% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 14.396,9 tỷ đồng, chiếm 35,28% tổng vốn tăng 84,04%; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 12.293,02 tỷ đồng, chiếm 30,13% tổng vốn, giảm 15,78%; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 14.111,71 tỷ đồng, chiếm 34,59% tổng vốn giảm 0,87% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng năm 2024 tăng so với cùng kỳ năm trước là do:: (1) Dự án đường cao tốc Bắc - Nam qua địa bàn Hà Tĩnh đang đẩy nhanh tiến độ thi công vốn đầu tư thực hiện tăng cao dự ước vốn đầu tư 9 tháng 6.186 tỷ đồng gấp 2,46 lần so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giải phóng mặt bằng. (2) Trên địa bàn tỉnh tiến hành khởi công xây dựng các dự án mới, đặc biệt dự án đường dây 500kV mạch 3 đoạn qua Hà Tĩnh với tổng mức đầu tư 2.109 tỷ đồng hiện nay dự án đã hoàn thành. (3) Hiện nay một số dự án lớn có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng đang gấp rút thi công. Đáng kể như, Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng 2 đẩy nhanh lắp đặt tổ máy và nhiều hạng mục khác, qua đó, giải ngân khoảng 10.939 tỷ đồng tương đương với cùng kỳ năm trước và đang phấn đấu hoàn thành vào năm 2025 để đi vào vận hành; Nhà máy Liên doanh sản xuất Pin Lithium VinES-Gotion đẩy nhanh tiến độ thi công, vốn đầu tư ước đạt 1.143 tỷ đồng, dự kiến cuối năm nay hoàn thành. Bên cạnh đó, các dự án đang đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh cũng thi công theo tiến độ đề ra ban đầu. (4) Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà (VSIP) cơ bản đã hoàn thành giải phóng mặt bằng sẵn sàng khởi công dự án dự ước đạt 230 tỷ đồng, cùng kỳ năm ngoái chưa triển khai dự án. (5) Ngoài ra, thị trường bất động sản trên địa bàn tỉnh ghi nhận những chuyển biến tốt sau những chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn của Chính phủ, tạo điều kiện phục hồi cho hoạt động đầu tư xây dưng. 7. Hoạt động xuất nhập khẩu Tình hình xuất - nhập khẩu tháng 9 ghi nhận những tín hiệu khá tích cực từ thị trường xuất khẩu so với các tháng trước. Trị giá xuất - nhập khẩu trong tháng 9/2024 ước đạt 521,0 triệu USD tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 6,68% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng năm 2024 hoạt động xuất - nhập khẩu đang gặp khó khăn khi trị giá xuất khẩu mặt hàng chủ lực thép vẫn đang giảm khá sâu. Tổng trị giá xuất, nhập khẩu 9 tháng ước đạt 4.593,82 triệu USD giảm 5,36% so với cùng kỳ (giảm 260,10 triệu USD). Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng 9 ước đạt 210,5 triệu USD, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 20,40% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trị giá xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép trong tháng 9/2024 ước đạt 183,6 triệu USD (chiếm 87,22% trị giá xuất khẩu toàn tỉnh), tăng 53,09% so với tháng trước và tăng 15,11% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh mặt hàng thép, phôi thép thì các mặt hàng chủ lực khác cũng tăng so với cùng kỳ năm trước, ngoại trừ mặt hàng xơ, sợi dệt các loại còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường. Tính chung 9 tháng năm 2024, trị giá xuất khẩu ước đạt 1.714,45 triệu USD, giảm 18,38% so với cùng kỳ năm trước (giảm 385,93 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do từ đầu năm đến nay, tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát và tăng lãi suất, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, nên mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu; ngoài ra, trị giá xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt các cũng giảm đến 34,87% so với cùng kỳ. Mặc dù trị giá xuất khẩu của mặt hàng chè, dệt và may mặc tăng, tuy nhiên do tỷ trọng của những mặt hàng này chỉ chiếm 1,53% trong tổng trị giá xuất khẩu của hàng hóa trong tỉnh nên không tác động nhiều đến kết quả xuất khẩu của 9 tháng đầu năm 2024. Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu tháng 9/2024 ước đạt 310,5 triệu USD, tăng 1,29% so với tháng trước nhưng giảm 0,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2024, trị giá nhập khẩu ước đạt 2.879,37 triệu USD triệu USD đạt 77,82% so với kế hoạch cả năm, tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: trị giá nhập khẩu của Formosa Hà Tĩnh ước đạt 2.123,09 triệu USD (chiếm 73,73% tổng trị giá nhập khẩu toàn tỉnh) tăng 4,97%. Dự ước trong quý IV tới những tháng cuối năm việc sản xuất phục vụ những đơn hàng cuối năm tăng khiến nhu cầu nguyên liệu đầu vào tăng theo, nhu cầu tiêu dùng hàng ngoại ngày càng cao khiến trị giá nhập khẩu sẽ tăng mạnh. 8. Giá cả, lạm phát Diễn biến thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 9/2024 không có biến động lớn, chỉ số giá chung tăng nhẹ so với tháng trước. CPI bình quân quý III/2024 tăng 4,53% so với quý III/2024, bình quân chín tháng năm 2024, CPI tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước mức tăng khá cao nhưng vẫn đang phù hợp xu thế và nằm trong tầm kiểm soát. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và ngày càng tăng mạnh vào những ngày cuối tháng. Tháng 9 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,17% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước, hầu hết các nhóm hàng trong tháng đều không biến động quá lớn so với tháng trước, mặc dù trong tháng giá các loại hoa, quả, lương thực, thực phẩm tăng do thời tiết mưa lớn kéo dài ảnh hưởng đến khâu sinh trưởng, chăm sóc, thu hoạch các loại rau, quả…tuy nhiên mức tăng không quá lớn công với việc các mặt hàng khác đang có giá cả bình ổn và hạ nhiệt hơn. Thị trường vàng và ngoại tệ đang có biến động lớn khi chỉ số giá vàng tháng 9 tăng 2,7% so với tháng trước và tăng đến 38,02% so với cùng kỳ do các biến động từ thị trường thế giới. CPI bình quân quý III năm 2024 tăng đến 4,53% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong 3 quý (quý I và quý II năm 2024 lần lượt tăng ở mức 2,31% và 3,15%) trong đó chủ yếu tăng ở các nhóm hàng thiết yếu như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,19%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,04%; may mặc, giày dép và mũ nón tăng 5,26%..., chỉ có 2 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là giao thông giảm 1,90% và bưu chính viễn thông giảm 1,55%. CPI bình quân 9 tháng năm 2024 tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo địa bàn thì khu vực thành thị tăng 3,69%, nông thôn tăng 3,17%. Xét theo các nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,52%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,73%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,59%; giao thông tăng 0,54%; bưu chính viễn thông giảm 1,69%; giáo dục tăng 2,55%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,57%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ uống thuốc lá, điện nước sinh hoạt. Mức tăng mạnh chủ yếu tập trung ở quý III khi chính sách cải cách tiền lương bắt đầu được áp dụng từ tháng 7/2024, các loại phí dịch vụ y tế, giáo dục, giao thông..cũng tăng theo các lộ trình, chính sách trong khi đó giá gạo và các loại lương thực cũng đang ở mức cao nhất từ trước tới nay và chứ có dấu hiệu giảm. Trong năm 2024, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 3-4%. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng đang được theo dõi chặt chẽ. Dự báo CPI có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như giá nguyên liệu toàn cầu, chính sách tiền tệ và tình hình sản xuất trong nước, các biện pháp điều hành giá, quản lý cung cầu và hỗ trợ sản xuất được thực hiện để đảm bảo sự ổn định cho thị trường. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2024 sẽ còn tiếp tục tăng. Giá các loại lương thực thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trở lại về cuối năm khi thời tiết chuyển mùa, việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn hơn. Thời tiết chuyển dần sang mùa lạnh cũng khiến nhu cầu các nhóm mặt hàng như may mặc, thực phẩm, đồ dùng gia đình, điện, nước sinh hoạt có sự thay đổi. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động việc làm Nhìn chung, nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hà Tĩnh đang tăng khá, có dấu hiệu khởi sắc hơn so với những năm trước, tình hình lao động việc làm quý III/2024 trên địa bàn có tăng nhẹ so với quý trước. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của tỉnh vẫn còn khá cao. Để hỗ trợ giải quyết việc làm các cấp, ngành tiếp tục tập trung tăng cường tổ chức phiên, sàn giao dịch việc làm trực tiếp, trực tuyến kết nối cung-cầu lao động; gửi thông tin nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp đến các địa phương để thông tin rộng rãi tới người dân. Đồng thời, tiếp tục khảo sát, thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu của người lao động cần việc làm để tiến hành hoạt động kết nối với doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng lao động. Lực lượng lao động: Theo kết quả điều tra lao động việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh ước quý III năm 2024 là 513.385 người, tăng 0,58% so với quý trước và tăng 1,07% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, lực lượng lao động là nam giới chiếm tỷ trọng 50,1%, cao hơn 0,19 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 49,9%); lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị chỉ chiếm 25,67%, chủ yếu vẫn đang tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 74,33%. Quý III năm 2024, có đến 53,72% dân số 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, tăng 0,28 điểm phần trăm so với quý II/2024 và tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng có sự chênh lệch giữa nam và nữ (lần lượt là 54,64% và 52,83%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 61,75%, cao hơn nông thôn là 10,34 điểm phần trăm. Tính chung 9 tháng năm 2024, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 509.498 người, tăng 0,55% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, lực lượng lao động nam là 256.323 người, chiếm 50,31% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 130.298 người, chiếm 25,57%. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Quý III/2024 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 13.931 người, chiếm 2,71% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, tăng 0,19 điểm phần trăm so quý trước và 0,79 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 89,4% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 12.455 người) và ở nam giới chiếm 51,72% (tương đương 7.205 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý III/2024 ước tính là 5,37%, tăng 0,09 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,23 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2024, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 11.834 người, chiếm 2,32% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,89 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 91,21% (tương đương 10.794 người) và nam giới chiếm 63,64% (tương đương 7.532 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2024 ước tính là 5,32%, giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình giải quyết việc làm: Theo số liệu báo cáo sở ngành số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý III năm 2024 là 7.103 người, tăng 16,65% so với quý trước và 12,41% so cùng kỳ năm 2023; so với tháng trước đều tăng ở cả ba nhóm lĩnh vực, trong đó tập trung chủ yếu ở lĩnh vực giải việc làm trong tỉnh (tăng 38,4%) và đi làm ngoài tỉnh (tăng 26,4%). Tính chung 9 tháng năm 2024, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 18.321 người, đạt 79,66% so với kế hoạch và giảm 3,99% so cùng kỳ năm 2023, chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (giảm 2,12%) và xuất khẩu lao động (giảm 11,64%). Chứng tỏ những nỗ lực của các cơ quan, chức năng cũng như sự đồng hành của các doanh nghiệp trong việc tháo gỡ khó khăn trong tìm kiếm vệc làm nhằm ổn định đời sống người dân. Tình hình Trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý III/2024 là 632 người, giảm 1.073 người so với quý trước; tính từ đầu năm đến tháng 9 năm 2024 có 2.643 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, so với thời điểm tháng 6/2024 đã có 474 người dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hộiĐời sống dân cư: Nhìn chung 9 tháng năm 2024, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn đang ổn định. Quý III/2024 là thời gian trùng vào dịp Tết Trung thu, khác với cảnh tập nập, đông khách của những năm trước, trong ngày chính lễ tết Trung thu với việc chia sẻ nỗi đau cũng các tỉnh phía Bắc nên các hoạt động tổ chức đều hoãn lại vì vậy các quầy bánh và đồ chơi tại Hà Tĩnh khá thưa vắng người mua. Bên cạnh đó, sau những ngày ảnh hưởng của mưa lũ, giá rau xanh tại các chợ dân sinh ở Hà Tĩnh tăng so với các năm. Tuy nhiên, với chính sách tiền lương mới áp dụng từ đầu quý và những việc làm cụ thể, thiết thực của các cấp chính quyền trong chính sách giải quyết việc làm cũng đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, các đối tượng chính sách và người có công ở trên địa bàn.Công tác an sinh xã hội: Về hỗ trợ cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc Nghị định 20/2021/NĐ-CP và các đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn trong quý III/2024 toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền hơn 483,49 tỷ đồng, tăng 22,06% so với quý trước và tăng 15,40% so với cùng kỳ. Trong đó, toàn tỉnh đã tổ chức trao tặng hơn 430 mô hình sinh kế giảm nghèo với giá trị 2,66 tỷ đồng; trao tặng 138.147 suất quà, trị giá gần 36,18 tỷ đồng nhân ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7; hỗ trợ chi phí học đại học cho 29 bạn là con của người có công, hỗ trợ tiền học phí và tiền ăn các khóa học nghề ngắn hạn cho 705 con em hộ nghèo và các trao hơn 740 suất quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Do trùng dịp tết Trung thu khắp mọi nơi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã dành tặng hàng nghìn suất quà đến các trẻ nhỏ với giá trị 2,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, cũng trong quý III/2024 trên địa bàn đã tiến hành hỗ trợ đột xuất 99,6 triệu đồng đến các địa chỉ nhân đạo, hỗ trợ 2 triệu đồng cho 1 hộ ngư dân bị cháy thuyền, hỗ trợ 10 triệu đồng cho 1 gia đình bị cháy xưởng gỗ và tổ chức nấu 210 suất cơm, 1470 suất cháo miễn phí cho các bệnh nhân tại các trung tâm y tế với số tiền 35,7 triệu đồng.Tính chung 9 tháng năm 2024 tổng số tiền toàn tỉnh đã chi trả lên đến hơn 1.382,21 tỷ đồng, tăng 17,26% so với cùng kỳ. Ngoài ra, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 402.898 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 13.783 thẻ bảo hiểm hộ nghèo; 28.347 thẻ hộ cận nghèo; 143.395 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 43.206 thẻ cho người có công và 174.167 thẻ cho các đối tượng khác.3. Giáo dụcTình hình giáo dục trong tháng 9 tập trung cho Khai giảng và bước vào năm học mới 2024-2025, sáng ngày 5/9 cùng với hàng triệu giáo viên, học sinh cả nước, sáng hơn 374.000 cán bộ, giáo viên, học sinh Hà Tĩnh bước vào năm học mới. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã về các địa phương chia sẻ niềm vui với giáo viên, học sinh trong ngày khai trường. Ngoài ra, sở GD&ĐT Hà Tĩnh đã có Văn bản số 5028/SGDĐT-GDPT về việc cho ý kiến dạy học 5 ngày trong tuần, nghỉ ngày thứ 7 cho học sinh bậc THCS của thành phố Hà Tĩnh, nhằm giảm áp lực cho giáo viên và học sinh. Nhìn chung quý III và 9 tháng năm 2024 ngành giáo dục Hà Tĩnh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2023-2024 với nhiều kết quả vượt bậc, thể hiện vị thế của giáo dục tỉnh nhà ở trong khu vực và toàn quốc. Cũng trong quý III/2024 HĐND tỉnh đã ra Nghị quyết số 126/2024/NQ-HĐND về mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập cho năm học 2023-2024 và những năm tiếp theo, mức thu cơ bản giữ mức cũ, không tăng và phân thu theo các vùng cụ thể nên có một số địa bàn mức thu học phí giảm so với các năm học trước. Bên cạnh đó, Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Tĩnh cũng đang tiến hành các lớp tập huấn cho cán bộ, giáo viên chuẩn bị cho các kỳ thi theo chương trình GDPT 2018 khi năm học mới 2024-2025 đã dần đi vào ổn định.4. Hoạt động y tế Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng 9/2024 không phát hiện ca nhiêm mới HIV/AIDS nào nhưng tính cả quý III năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện 2 ca nhiễm mới HIV, 2 ca chuyển sang AIDS và 1 ca chết do AIDS (Giảm 10 ca nhiễm mới, giảm 8 ca chuyển sang AIDS và số chết do AIDS không thay đổi so với quý trước). Tính chung 9 tháng năm 2024, trên địa bàn đã phát hiện 26 ca nhiễm mới HIV/AIDS, 20 ca chuyển sang AIDS và 5 ca chết vì AIDS (giảm 12 ca nhiễm mới, giảm 10 ca chuyển sang AIDS và số ca chết vì AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Công tác an toàn thực phẩm: Tháng 9/2024 trên địa bàn đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 5 người bị ngộ độc, số ca ngộ độc đơn lẻ là 89 ca, khiến chung trong quý III/2024 đã xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 11 người bị ngộ độc (tăng 1 vụ, tăng 9 người bị ngộ độc so với quý trước), 263 người mắc ngô độc ca đơn lẻ . Tính chung 9 tháng năm 2024 đã xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 13 người bị ngộ độc và 681 người bị ngộ độc đơn lẻ (số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi nhưng giảm 12 người bị ngộ độc; Giảm 33 ca ngộ độc đơn lẻ và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước).Tình hình dịch bệnh khác: Trong 9 tháng năm 2024 ghi nhận rải rác 69 ca sốt xuất huyết, 80 ca mắc sởi trên địa bàn. Đặc biệt, khống chế thành công ổ dịch Sốt xuất huyết tại 01 thôn ở TX Kỳ Anh với 35 ca mắc, 01 ổ dịch sởi tại huyện Đức Thọ với 66 ca. Các bệnh truyền nhiễm như ho gà, thuỷ đậu, tay chân miệng, quai bị... diễn ra rải rác không thành dịch. Theo trung tâm CDC Hà Tĩnh, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%; 99% phụ nữ mang thai được khám thai >3 lần trong thời kỳ; 99,7% phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế. Các chỉ số về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được đảm bảo. Triển khai chiến dịch bổ sung Vitamin A liều cao cho trẻ từ 6-59 tháng tuổi đạt 99,5%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 7,8%; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi là 13,7%, công tác quản lý bệnh không lây nhiễm được triển khai hiệu quả.5. Hoạt động văn hoá, thể thaoHoạt động văn hóa: Trong tháng 9/2024, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 1946/QĐ-UBND về việc phân bổ kinh phí chính sách hỗ trợ xây dựng các công trình văn hoá, thể thao cơ sở năm 2024, trong đó trích ngân sách số tiền 3,46 tỷ đồng, từ nguồn kinh phí các đề án, chính sách lĩnh vực văn hoá, thể thao và du lịch cấp cho các địa phương để hỗ trợ kinh phí xây dựng các công trình văn hoá, thể thao cơ sở nhằm góp phần hoàn thiện đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở và khai thác, phát huy hiệu quả các hoạt động của các công trình nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí của các tầng lớp nhân dân. Cũng trong tháng này UBND xã Mai Phụ đã long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh cho nhà thờ Nguyễn Xuân Trùm và Nguyễn Xuân Kiều, thuộc thôn Đồng Sơn; UBND xã Thạch Hải tổ chức lễ đón nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh đền Tam Tòa Tứ Vợi; tổ chức lễ giỗ lần thứ 93 đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú tại khu mộ và Khu lưu niệm cố Tổng Bí thư...Nhìn chung đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Hà Tĩnh 9 tháng năm 2024 luôn được chú trọng, Hà Tĩnh đã, đang và sẽ tiếp tục chỉ đạo các địa phương triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước.Hoạt động thể dục thể thao: Phong trào thể dục thể thao luôn được người dân Hà Tĩnh quan tâm, chú trọng. Về thể thao quần chúng Sở VHTT&DL thường xuyên có những chỉ đạo, hướng dẫn các huyện, thị xã, thành phố tổ chức tốt các giải thể thao, các trò chơi dân gian. Sở cũng đa Tổ chức và phối hợp tổ chức thành công 09 giải thể thao cấp tỉnh và Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh lần thứ XIV như: Giải Việt dã - Marathon toàn tỉnh và Ngày chạy Olimpic vì sức khỏe toàn dân; giải Bóng đá Thiếu niên - Nhi đồng toàn tỉnh; giải Quần vợt Cúp Truyền hình Hà Tĩnh lần thứ VIII; giải Bóng chuyền nam Thanh niên toàn tỉnh lần thứ XXII; giải bóng đá thiếu niên - Nhi đồng; giải Vô địch Karate toàn tỉnh; giải Pickleball tỉnh Hà Tĩnh lần I, năm 2024; giải Vô địch Karate toàn tỉnh; giải Bóng đá nam Vô địch toàn tỉnh. Ngoài ra các giải tự tổ chức của các cấp, ngành địa phương cũng được tổ chức thường xuyên, liên tục.Về thể thao thành tích cao: Tháng 9/2024 đoàn Hà Tĩnh đã tham gia các giải đấu và gặt hái một số thành tích đáng kể như: VĐV Hoàng Thị Mỹ Tâm (Hà Tĩnh) đã xuất sắc giành 2 HCV tại Giải Vô địch Karate châu Á năm 2024, góp sức cùng đội tuyển Việt Nam lần đầu giành vị trí thứ 2 toàn đoàn; tại Giải vô địch Điền kinh quốc gia 2024 - Đội tuyển Điền kinh Hà Tĩnh vừa giành 8 huy chương (5HCV, 3 HCB) các nội dung tiếp sức, qua đó xuất sắc giành vị trí thứ 2 toàn đoàn; tại giải Đua thuyền buồm vô địch quốc gia và vô địch trẻ quốc gia năm 2024 Hà Tĩnh có 3 VĐV tham gia và giành được 8 huy chương (2 HCV, 3 HCB, 3 HCĐ),... Tính chung 9 tháng năm 2024, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 40 giải thi đấu thành tích cao và giành được 208 huy chương các loại (85 HCV – 45 HCB – 78 HVĐ).Công tác quản lý nhà nước: Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa được thực hiện thường xuyên và theokế hoạch, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội. Từ đầu năm đến nay đã thực hiện 05 cuộc kiểm tra tại 98 cơ sở kinh doanh các hoạt động dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch; xử phạt vi phạm hành chính 02 tổ chức, 02 cá nhân. Tiếp nhận 02 đơn thư khiếu nại; đã phối hợp các cơ quan liên quan tiếp nhận và xử lý đúng quy định.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội tại đia phươngTình hình an toàn giao thông: Tháng 9/2024 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 22 vụ tai nạn đường bộ, làm 17 người chết, 9 người bị thương, tính cả quý III năm 2024, đã xảy ra 88 vụ tai nạn đường bộ, làm 56 người chết, 45 người bị thương (giảm 24 vụ, giảm 4 người chết, giảm 17 người bị thương so với quý trước). Trong tháng 9 và cả quý III không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giữ nguyên so với quý trước). Tính chung 9 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 318 vụ tai nạn đường bộ, làm 169 người chết, 201 người bị thương (tăng 66 vụ, tăng 23 người chết, tăng 46 người bị thương so với cùng kỳ năm trước); 3 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 1 người, 1 người bị thương (tăng 1 vụ, tăng 1 người bị thương và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước).Tình hình cháy, nổ: Chỉ tính riêng tháng 9/2024 trên địa bàn đã xảy ra đến 10 vụ cháy, mặc dù không có thiệt hại về người nhưng thiệt hại về tài sản ở mức 84,28 triệu đồng, khiến chung cả quý III xảy ra 29 vụ cháy, không có thiệt hại về người nhưng giá trị thiệt hại ước tính 186,63 triệu đồng (tăng 10 vụ, không làm thiệt hài về người như với quý trước). Tính chung 9 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 65 vụ cháy, giá trị thiệt hại ước tính 596,83 triệu đồng (giảm 12 vụ, không làm thiệt hại về người như cùng kỳ năm trước). Trong cả quý III và 9 tháng năm 2024 trên địa bàn không xảy ra vụ nổ nào (giảm 1 vụ, giảm 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước).Vi phạm môi trường: Trong tháng 9/2024, Hà Tĩnh phát hiện 13 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 16 vụ, với tổng số tiền xử phạt 509,46 triệu đồng; tăng 3 vụ phát hiện (tăng 30,0 %), tăng 9 vụ đã xử lý (tăng 128,57%), tăng 426,89 triệu đồng (tăng 517,0%) số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 5 vụ phát hiện (giảm 27,78 %), tăng 2 vụ đã xử lý (tăng 14,29%), tăng 482,20 triệu đồng (tăng 18,69 lần) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 9 tháng năm 2024, phát hiện 232 vụ vi phạm môi trường, giảm 143 vụ (giảm 38,13%); đã xử phạt 214 vụ, giảm 220 vụ (giảm 50,69%); tổng số tiền xử phạt là 1.283,50 triệu đồng, giảm 119,11 triệu đồng (giảm 8,49%) so với cùng kỳ năm trước.7. Tình hình thiên taiTrong tháng (từ ngày 25/8-24/9/2024) xảy ra 2 vụ thiên tai làm 94 nhà bị hư hại, 17 ha hoa màu bị thiệt hại, 50 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi; gẫy đổ 2 cột điện....tổng ước tính 1.614,5 triệu đồng. Cụ thể: vụ thứ nhất ảnh hưởng của bão số 4 từ ngày 18/9-20/9 đã gây ra giông, lốc xoáy tại huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Can Lộc... làm 59 nhà ở (54 nhà bị tốc mái, 5 nhà bị nước vào) bị tốc mái, gãy đổ 2 cột điện... tổng ước tính thiệt hại 1.083 triệu đồng; vụ thứ 2 do mưa lớn từ tối ngày 22-23/9 gây ngập lụt làm 35 nhà bị ngập, 17 ha hoa màu bị thiệt hại, 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi, chết; 50 con gia cầm bị chết, cuốn trôi gây thiệt hại ước tính 531,5 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay (từ ngày 19/12/2023-24/9/2024), xảy ra 3 vụ thiên tai làm 1 người chết, 94 nhà bị hư hại (54 nhà tốc mái và 5 nhà nước ngập), gãy đổ 2 cột điện,17 ha hoa màu bị thiệt hại, 50 con gia cầm chết, cuốn trôi, 30,2 ha thủy sản bị cuốn trôi... với tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.614,5 triệu đồng (Bao gồm: 1 vụ sét đánh tại thôn 6, xã Cẩm Lĩnh, huyện Cẩm Xuyên làm 01 người chết; 1 vụ do bão số 4 và 1 vụ do mưa lớn).Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 8 và 8 tháng năm 2024
  •   30/08/2024 17:29

Tháng 8 và 8 tháng năm 2024, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh biến động chính trị, cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn leo thang, kinh tế toàn cầu có tín hiệu phục hồi nhưng thiếu vững chắc. Nền kinh tế Hà Tĩnh nhìn chung ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất khó khăn; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để tạo sức bật cho tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh. Vì vậy, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội năm 2024, triển khai Quy hoạch tỉnh, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các dự án trọng điểm, sản xuất và thu hoạch vụ Hè Thu, đẩy mạnh hoạt động thương mại, du lịch, tiếp tục thu hút đầu tư, triển khai tốt các nhiệm vụ văn hóa xã hội, chăm sóc an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, duy trì các hoạt động đối ngoại. I.  LĨNH VỰC KINH TẾ1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Hiện nay, toàn tỉnh đang tập trung thu hoạch lúa vụ Hè Thu, phấn đấu hoàn thành trước ngày 05/9. Đánh giá bước đầu lúa vụ Hè Thu năm nay tiếp tục được mùa, năng suất, giá bán ở mức cao. Bên cạnh đó, cây ăn quả (bưởi Phúc Trạch) bước vào giai đoạn thu hoạch. Chăn nuôi duy trì ổn định, kiểm soát kịp thời dịch bệnh nguy hiểm trên gia súc, gia cầm. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường. Nuôi trồng, khai thác thủy sản duy trì ổn định. 1.1 Sản xuất nông nghiệp        * Trồng trọt Tháng 8 sản xuất trồng trọt chủ yếu thu hoạch lúa Hè Thu và chăm sóc cây hàng năm khác. Hiện nay bà con nông dân một số địa phương trên địa bàn đã bắt đầu bước vào thu hoạch sớm vụ lúa Hè Thu 2024 với phương châm “xanh nhà hơn già đồng” để né tránh những bất lợi của thời tiết. Một số huyện đã thu hoạch lúa như huyện Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên... Tiến độ thu hoạch lúa vụ Hè thu đến nay đạt trên 90% diện tích, phấn đấu hoàn thành thu hoạch cơ bản xong trong tháng 8/2024. Đánh giá bước đầu lúa vụ Hè Thu năm nay tiếp tục được mùa; năng suất, giá bán ở mức cao, người dân phấn khởi. - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2024: Kết quả gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu toàn tỉnh ước tính đạt 58.817 ha, bằng 100,47% (tăng 274 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 241.794 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 103,23% (tăng 7.559 tấn). Một số cây trồng hàng năm chủ yếu như sau: Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh ước tính đạt 44.873 ha, bằng 100,69% (tăng 306 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lúa Hè Thu tăng do năm trước hạn hán, người dân bỏ hoang nhiều, năm nay thời tiết thuận lợi, thu hoạch vụ đông xuân sớm, các điều kiện sản xuất được đảm bảo, đặc biệt giá lúa tăng, thương lái thu mua tại chỗ nên khuyến khích người dân khai hoang sản xuất. Một số huyện có diện tích tăng như Hồng Lĩnh tăng 80 ha, Đức Thọ tăng 80ha, Hương Khê tăng 115 ha, Kỳ Anh tăng 90 ha... bên cạnh đó huyện Lộc Hà lại giảm 42 ha, Thạch Hà giảm 98 ha do thực hiện các dự án lớn của tỉnh như dự án VSPIP. Năng suất ước đạt 51,58 tạ/ha, bằng 102,59% (tăng 1,3 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 231.456 tấn, bằng 103,29% (tăng 7.369 tấn). Do thời tiết thuận lợi, có các đợt mưa xen kẻ nên đảm bảo nguồn nước và cung cấp nguồn dinh dưỡng quý cho giai đoạn lúa trổ bông, làm đòng, mặt khác tình hình sâu bệnh gây hại được kiểm soát tốt nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa được đảm bảo các điều kiện nên năng suất tăng so với năm trước. Cây lạc: Diện tích trồng lạc ước tính đạt 370 ha, bằng 113,10% (tăng 43 ha) so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó huyện Kỳ Anh tăng 64 ha, huyện Cẩm Xuyên giảm 18 ha. Năng suất lạc ước tính đạt 21,43 tạ/ha, bằng 95,20% (giảm 1,08 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lạc ước tính đạt 793 tấn, bằng 107,67% (tăng 57 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Rau các loại: Diện tích rau các loại ước tính đạt 2.991 ha, bằng 100,96% (tăng 28 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất rau ước tính đạt 76,09 tạ/ha, bằng 101,68% (tăng 1,25 tạ/ha), với sản lượng rau ước tính đạt 22.761 tấn, bằng 102,65% (tăng 588 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Mùa: Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa ước đạt 182,65 ha, bằng 67,48% so với cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh hiện còn có huyện Nghi Xuân, Thạch Hà và huyện Lộc Hà đang triển khai gieo cấy lúa vụ Mùa trên những chân rộng pha cát. Sản xuất lúa vụ Mùa thường gặp khó khăn về thời tiết, đầu vụ thường xẩy ra khô hạn và cuối vụ lại thường gặp mưa bão lớn. Cây lâu năm: Hiện nay, bên cạnh các loại cây ăn quả như mít, ổi, nhãn, chanh… đang thu hoạch chính vụ thì cây bưởi là một loại cây ăn quả chủ lực của địa phương đang chuẩn bị bước vào thu hoạch chính vụ. Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch các loại cây ăn quả thì các loại cây công nghiệp như chè, cao su cũng được quan tâm chăm sóc và thu hoạch thường xuyên, tạo thu nhập cho người dân để ổn định cuộc sống. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Cây lúa: Chuột gây hại ở các vùng cao cưỡng, gần làng ở các địa phương tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 272ha. Bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm tỉ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm 3.340 ha, diện tích phòng trừ 4.500 ha. Cây trồng cạn: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 2ha, sâu đục thân, đục bắp gây hại tỷ lệ trung bình 1- 3%, diện tích nhiễm 10ha, rệp ngô gây hại tỷ lệ trung bình 10-15%, diện tích nhiễm 7 ha, bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 10 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, hương Khê,… Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 15 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 35 ha; sâu vẽ bùa diện tích nhiễm 2 ha; ruồi đục quả diện tích nhiễm 63 ha; rệp sáp diện tích nhiễm 7 ha; bướm chích hút diện tích nhiễm 10 ha; bệnh chảy gồm diện tích nhiễm 10 ha, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… * Chăn nuôi - Kết quả sản xuất chăn nuôi: Hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng vẫn ổn định ở đàn lợn và gia cầm, khi tổng đàn lợn ước đạt 401.670 con, bằng 101,66%; đàn gia cầm ước đạt 10.072 ngàn con, bằng 101,63% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên tổng đàn trâu, bò lại có xu hướng giảm do chăn nuôi kém hiệu quả, đàn trâu ước đạt 66.730 con, bằng 99,15%; đàn bò ước đạt 164.350 con, bằng 97,99% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, ở tỉnh ta dịch cơ bản trong tầm kiểm soát nên chưa có ảnh hưởng lớn. Mặc dù giá lợn hơi những tháng gần đây tăng cao do nguồn cung trong nước không đảm bảo nhưng người dân vẫn còn rất e ngại trong việc tăng đàn, tái đàn vì vậy hoạt động chăn nuôi trong tháng chưa có chuyển biến tích cực. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 29/8/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch Viêm da nổi cục trên đàn trâu bò và Dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể: Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Thạch Hà) làm cho 156 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 20 con mắc bệnh chết, tiêu hủy. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 16 xã thuộc 05 huyện (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Thạch Hà, thị xã Kỳ Anh, Nghi Xuân); tổng số lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 164 con. 1.2 Lâm nghiệp - Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước đạt 403 ha, bằng 102,81%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 36.154 m3, bằng 103,36% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới đạt thấp so với bình quân các tháng do thời tiết nắng nóng kéo dài không thuận lợi cho việc trồng rừng. Tuy nhiên trong tháng nắng nóng vẫn dịu hơn, có những ngày mưa nên hoạt động trồng rừng vẫn tăng (213 ha) so với tháng trước. Thời điểm này giá bán ổn định nên người dân tranh thủ khai thác rừng trồng để chuẩn bị trồng rừng trong các tháng tới khi nhiệt độ giảm dần. Tính chung 8 tháng, diện tích rừng trồng mới ước đạt 3.775 ha, bằng 124,01%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 278.506 m3, bằng 112,78% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi trong tháng ước đạt 19.906 ste, bằng 98,67% (giảm 1,33 ste), tính chung 8 tháng ước đạt 175.829 ste, bằng 96,84% (giảm 5.732 ste). Sản lượng củi giảm so với cùng kỳ do người dân sử dụng bếp gas, bếp điện nên việc khai thác củi, sử dụng củi làm chất đốt có phần hạn chế. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng ước đạt 47 nghìn cây, bằng 97,92% so với cùng kỳ, tính chung 8 tháng năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 2.036 nghìn cây, bằng 122,65% so với cùng kỳ.  - Thiệt hại về rừng: Trong tháng không xảy ra cháy rừng nhưng xảy ra 03 điểm phát lửa (01 điểm tại xã Kỳ Ninh thị xã Kỳ Anh, 01 điểm tại xã Trường Sơn huyện Đức Thọ, 01 điểm tại xã Sơn Lễ huyện Hương Sơn); số vụ phá rừng trong tháng là 4 vụ (giảm 8 vụ) với diện tích rừng bị phá là 1,68 ha. Tính từ đầu năm đến ngày 25/8/2024 số vụ cháy rừng là 4 vụ (giảm 2 vụ), diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14ha); số vụ phá rừng là 34 vụ (giảm 56 vụ) với tổng diện tích rừng bị phá là 9,72 ha (giảm 22,18 ha). Hiện nay do tình hình thời tiết vẫn còn nắng nóng, vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất lớn nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản - Sản xuất thủy sản: Kết quả sản xuất thủy sản trong tháng tăng 1.313 tấn so với tháng trước và tăng 271 tấn so với cùng kỳ năm trước. Giai đoạn này là mùa phát triển sinh sôi nhiều loại thủy hải sản nên mỗi chuyến ra khơi người dân đánh bắt được nhiều thủy hải sản có giá trị như cá, mực, tôm... nhu cầu tiêu dùng mùa du lịch tăng cao, giá cả tương đối ổn định nên khuyến khích ngư dân vươn khơi bám biển. Các hộ nuôi trồng thu hoạch sản phẩm vụ tôm Xuân Hè nên làm cho sản lượng nuôi trồng tăng (tháng 8 sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.589 tấn, chiếm 24,3% tổng sản lượng nuôi trồng 8 tháng năm 2024). Vụ Xuân Hè năm nay điều kiện thời tiết thuận lợi, dịch bệnh ít xuất hiện và được kiểm soát tốt nên một số vùng người dân đầu tư mới các mô hình nuôi tôm chất lượng cao như nuôi tôm trong bể xi măng có mái che với công nghệ đảm bảo an toàn vệ sinh tuyệt đối nên sản lượng ban đầu cho thu hoạch khá cao, mỗi héc ta cho thu hoạch từ 25 - 30 tấn tôm.  - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng không xảy ra dịch bệnh trên thủy sản, tính từ đầu năm đến nay, các dịch bệnh xảy ra như sau: Bệnh Đốm trắng xảy ra với diện tích 8,25 ha tại 5 xã thuộc 4 huyện (Lộc Hà, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh). Bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra với diện tích 4.29 ha tại 4 xã thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà). Bệnh Vi bào tử trùng xảy ra với diện tích 0,65 ha tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh.2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tháng 8/2024 có nhiều điểm thuận lợi như: Formosa Hà Tĩnh đang có xu hướng tăng sản lượng; bia đóng lon mở rộng thị trường tăng sản lượng sản xuất; sản phẩm vật liệu xây dựng, vỏ bào, dăm gỗ cũng đang được đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn còn gặp những khó khăn, thách thức như: Sản phẩm mới pack pin còn phụ thuộc nhiều vào biến động thị trường nên sản xuất chưa ổn định; tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 hoạt động trở lại từ tháng 8 năm trước nên quý 4 năm nay sẽ không còn lợi thế về tăng trưởng… Do đó, thách thức, áp lực để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm là rất khó khăn; đòi hỏi sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 8/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 25,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 1,34% so với tháng trước và tăng 58,7% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 9,57% so với tháng trước và tăng 35,08% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do sản lượng thép thành phẩm sản xuất tháng 8/2024 tăng gần 160 ngàn tấn (tăng 56,97% so với cùng kỳ năm trước). Thị trường mở rộng từ đầu quý III/2024, sản lượng thép xuất khẩu tăng mạnh trong các tháng gần đây dẫn đến sản lượng sản xuất tăng mạnh so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 12,79% so với tháng trước và giảm 23,4% so với cùng kỳ, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 thực hiện công tác trùng tu tổ máy số 2 từ 15/8, thời gian dự kiến công tác trùng tu của nhà máy là 65 ngày. Dự ước sản lượng điện sản xuất trong tháng 8/2024 đạt 175 triệu Kwh, giảm 46,11% so với cùng kỳ năm trước. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến chỉ số sản xuất ngành sản xuất, truyền tải và phân phối điện giảm mạnh; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 0,04% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 8,59%. Ước tính 8 tháng năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tăng 0,12% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 30,43% đóng góp 0,38 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,37% làm giảm 3,51 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 22,34% đóng góp 2,93 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,33% đóng góp 0,32 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính đến hết tháng 8/2024 tăng 0,12% so với năm trước. Thị trường trong nước cũng như quốc tế đang thay đổi từng ngày, đây là cơ hội cũng là thách thức lớn đối với doanh nghiệp công nghiệp Hà Tĩnh. Đồng thời các dự án vừa đi vào hoạt động cũng như sắp sửa đi vào sản xuất trong thời gian tới đây sẽ góp phần làm đa dạng sản phẩm, gia tăng giá trị sản xuất để ngành công nghiệp tiếp tục đóng vai trò là trọng yếu tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu  Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 8 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 80%; bê tông trộn sẵn tăng 23,54%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 22,25%; bia đóng lon tăng 24,49%; điện sản xuất tăng 21,8%; điện thương phẩm tăng 12,96%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 8 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Mực đông lạnh giảm 76,87%; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 8,48%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 42,02%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 8,76%; ... Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị... để tăng công suất hoạt động, đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn Hà Tĩnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất - kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu sản xuất - kinh doanh năm nay. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 8/2024 giảm 5,38% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 9,69%. Cộng dồn đến cuối năm tháng 8 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,63% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động ngành khai khoáng giảm 2,01% so với năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,67% do đang phục hồi sau thời gian dài khó khăn, quy mô sản xuất được mở rộng để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 7,86%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,38% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Ngày 02/8/2024 UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 1878/QĐ-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2021-2025 và phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công năm 2024, theo đó giao bổ sung kế hoạch vốn năm 2024 với tổng số vốn 2.091 tỷ đồng. Do đó, kế hoạch vốn đầu tư ngân sách thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2024 là 6.817 tỷ đồng, tăng 10,04% so với năm 2023. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8/2024 ước đạt 593,20 tỷ đồng, tăng 26,17% so với tháng trước, giảm 2,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 404,73 tỷ đồng, tăng 39,43% so với tháng trước và giảm 7,86% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 142,15 tỷ đồng, tăng 4,02% so với tháng trước và tăng 51,47% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46,31 tỷ đồng, tăng 7,17% so với tháng trước và giảm 1,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, một số công trình thi công với tiến độ nhanh như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt 24,50 tỷ đồng; tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Thạch Hà ước đạt 35,28 tỷ đồng; đường từ Quốc Lộ 12C đi khu liên hợp Gang thép Formosa tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 11,50 tỷ đồng; dự án Đường vành đai phía Nam Khu kinh tế Vũng Áng đạt khoảng 7,80 tỷ đồng; … Nguyên nhân kết quả dự ước thực hiện tháng 8 năm 2024 đạt được ở mức khá cao và cao hơn so với các tháng trước do thời tiết tiếp tục thuận lợi để các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công. Bên cạnh đó, tỉnh đã bổ sung thêm nguồn vốn để đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình cũ, khởi công các công trình mới góp phần vào kết quả thực hiện được cao hơn. Đặc biệt là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh tập trung thi công các công trình nhằm đạt được kế hoạch năm.  Tính chung 8 tháng năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý ước đạt 2.924,42 tỷ đồng, giảm 7,51% so với cùng kỳ năm trước, đạt 42,89% kế hoạch năm. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.868,95 tỷ đồng, giảm 20,64% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 803,44 tỷ đồng, tăng 43,69% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 252,04 tỷ đồng, tăng 1,73% so với cùng kỳ. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 8 tháng năm 2024 vẫn còn một số khó khăn trong việc chưa khởi công hay tiến độ giải ngân còn chậm, vướng mắc do thủ tục đầu tư dự án kéo dài, khó khăn trong quá trình triển khai GPMB dự án, tình trạng khan hiếm nguồn cung một số loại vật liệu xây dựng như đất đắp, cát san nền; đối với những dự án lớn (đặc biệt là các dự án ODA), do thời gian thực hiện kéo dài qua nhiều năm nên quá trình triển khai dự án có sự biến động lớn về giá nguyên, nhiên, vật liệu, đơn giá bồi thường GPMB; các dự án khởi công mới những tháng đầu năm chưa có khối lượng thanh toán; các dự án chuyển tiếp hiện đang tập trung thi công hoàn trả khối lượng tạm ứng kế hoạch vốn năm trước; một số địa phương, đơn vị chưa thực sự vào cuộc chỉ đạo quyết liệt trong triển khai thực hiện dự án trên địa bàn. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 8 hoạt động thương mại, dịch vụ có dấu hiệu giảm nhiệt hơn so với các tháng trước, nguyên nhân do trùng tháng Bảy âm lịch theo quan niệm của người dân hạn chế các hoạt động tham quan, nghỉ mát, du lịch cũng như mua sắm các đồ dùng có giá trị, mặc dù vậy, so với cùng kỳ mức doanh thu vẫn đang tăng ở mức khá. Tính chung 8 tháng năm 2024 hoạt động thương mại, dịch vụ đang phát triển khả quan, thị trường hàng hoá phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 8/2024 ước đạt 5.783,30 tỷ đồng, giảm 2,0% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn ở mức tăng 18,21%. Bên cạnh các nhóm hàng giá trị cao và không thiết yếu giảm mạnh so với tháng trước như nhóm ô tô con (giảm 27,06%), phương tiện đi lại (11,01%), đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (giảm 5,83%)…, thì các nhóm mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, may mặc và giáo dục tăng khá so với tháng trước và cả so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng trùng tháng Bảy âm lịch các hoạt động mua sắm hạn chế hơn, nhưng cũng là tháng có ngày Rằm tháng 7 - “Vu Lan báo hiếu” hướng về tổ tiên, cội nguồn các mặt hàng hoa quả, thực phẩm… nắm bắt nhu cầu tăng giá khá cao. Bên cạnh đó, tháng 8 cũng là tháng chuẩn bị bước vào năm học mới nên tăng nhu cầu may mặc, mua sắm đồ dùng học tập, cùng với việc áp dụng bộ sách giáo khoa mới cho các lớp 5, 9, 12 theo chương trình mới được sử dụng bắt đầu cho năm học 2024-2025 cũng là nguyên nhân khiến doanh thu nhóm hàng này tăng. Thị trường bán lẻ tỉnh Hà Tĩnh, càng về cuối năm càng sôi động. Do các chính sách kích cầu như giảm thuế VAT 2% các mặt hàng thiết yếu, tăng lương cơ bản, dự kiến giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Tính chung 8 tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 45.856,02 tỷ đồng, tăng 19,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 22.120,21 tỷ đồng, chiếm 48,24% tổng mức, tăng 25,90%; Đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tổng mức bán lẻ toàn tỉnh. Các nhóm hàng khác đều có tăng trưởng cao, ngoại trừ nhóm ô tô con và phương tiện đi lại đang giảm khá sâu (giảm lần lượt 28,58% và 27,14%). Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 8/2024 ước đạt 781,89 tỷ đồng, tăng 0,28% so với tháng trước, tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước. Ttrong 03 nhóm dịch vụ chính thì có 02 nhóm ngành có doanh thu giảm mạnh là lưu trú và du lịch, chỉ có dịch vụ ăn uống có doanh thu tăng, nhưng chiếm trên 94% tổng doanh thu của cả 3 nhóm ngành, vì vậy tính chung 3 nhóm ngành doanh thu vẫn tăng nhẹ, cụ thể diễn biến các nhóm ngành trong tháng như sau: Dịch vụ lưu trú ước đạt 38,37 tỷ đồng, giảm 17,03% so với tháng trước, tăng 39,01% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 739,50 tỷ đồng, tăng 1,63% so với tháng trước, tăng 8,78% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 4,02 tỷ đồng, giảm 30,61% so với tháng trước, tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành trong tháng giảm do tác động của yếu tố mùa vụ và thời tiết không thuận lợi, tuy nhiên cũng là tháng có thời gian đặc thù để những người con xa quê đã tập trung về tổ tiên, cội nguồn để gặp mặt gia đình, người thân và bạn bè vì vậy hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn tăng. Tính chung 8 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ ước đạt 5.583,87 tỷ đồng, tăng 12,80% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 208,57 tỷ đồng, tăng 0,11%; Doanh thu ăn uống ước đạt 5.323,60 tỷ đồng, tăng 13,06%; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 51,7 tỷ đồng, tăng 56,32% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách du lịch theo tour ước đạt 15.607 lượt, tăng 52,35% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách du lịch theo tour ước đạt 44.485,5 ngày khách, tăng 56,61% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch 8 tháng năm 2024 tăng khá. Hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm ngành chủ đạo và tăng trưởng ổn định chứng tỏ đời sống người dân đang dần cải thiện. Ngành du lịch, lưu trú đang được các cấp, ngành và các đơn vị kinh doanh chú trọng đầu tư và có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên thời gian tới khi mùa du lịch cao điểm đã gần qua thì 2 nhóm ngành này dự ước sắp tới sẽ tiếp tục giảm doanh thu, vì vậy yêu cầu cần thiết các chính sách quy hoạch các khu du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch tỉnh nhà cần được các cơ quan, ban ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện cũng như sự đồng hành đầu tư của các doanh nghiệp hoạt động du lịch trong và ngoài nước. Dịch vụ khác: Tháng 8 năm 2024, trong 06 nhóm ngành của dịch vụ khác, thì có 04 nhóm ngành tăng trưởng âm so với tháng trước, trong đó có ngành dịch vụ khác (ngành S), ngành dịch vụ hành chính và hỗ trợ, chiếm trên 56% tổng dịch vụ khác, điều đó làm doanh thu dịch vụ khác ước đạt 387,12 tỷ đồng, giảm 1,58% so với tháng trước và tăng 10,51% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.041,50 tỷ đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 640,54 tỷ đồng, giảm 9,41% do một phần tiền đang được “ngâm” trong lĩnh vực chứng khoán và vàng; nhóm ngành hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 750,91 tỷ đồng, tăng 4,45% do ngành cho thuê máy móc, thiết bị… có tăng trưởng mạnh (8,4%) nhờ vào yếu tố tăng cường đầu tư công của chính phủ; nhóm ngành giáo dục đào tạo tăng 10,59% do tăng chi phí học bằng lái xe; nhóm hàng y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 20,37% do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế từ ngày 17/11/2023; nhóm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 46,9% và dịch vụ khác tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy đời sống người dân tỉnh nhà ngày càng được nâng cao. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng nhìn chung ổn định, không có biến động lớn, doanh thu so tháng trước có giảm nhưng mức giảm không đáng kể, so vớ cùng kỳ vẫn đang tăng ở mức khá. Tính chung 8 tháng năm 2024, hoạt động vận tải và hỗ trợ vận tải đang trên đà phát triển với sự cải thiện liên tục về cơ sở hạ tầng và dịch vụ giao thông đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 8/2024 doanh thu ước đạt 781,20 tỷ đồng, giảm 1,75% so với tháng trước, tăng 21,91% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 121,39 tỷ đồng, tăng 0,99% so với tháng trước và tăng 27,24% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 516,73 tỷ đồng, giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 25,84% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 137,86 tỷ đồng, giảm 9,65% so với tháng trước và tăng 15,06% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, về vận tải hành khách nhu cầu đi lại về quê dịp Rằm tháng Bảy, cũng như là thời điểm nhập học của tân sinh viên; Thứ hai vận tải hàng hoá giảm nhẹ do nhu cầu vận tải hoàng hoá phục vụ các công trình xây dựng giảm, các công trình không khỏi công trong tháng bảy âm lịch; Thứ ba, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đang gặp khó khăn vì vậy dịch vụ hỗ trợ, vận tải giảm khá sâu, dịch vụ chuyển phát cũng giảm do người dân hạn chế tiêu dùng hàng không thiết yếu. Tính chung 8 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu dự ước đạt 5.742,83 tỷ đồng, tăng 23,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 1.001,34 tỷ đồng, tăng 47,52%; vận tải hàng hoá ước đạt 3.568,71 tỷ đồng, tăng 18,28%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.132,11 tỷ đồng, tăng 35,08% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 8 năm 2024 có sự phát triển và tăng trưởng ổn định. Các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, chất lượng cao đối với loại phương tiện hành khách, mở thêm các tuyến vận chuyển; đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa, đúng tiêu chuẩn. Nhiều dự án nâng cấp và mở rộng các tuyến đường đang được thực hiện để cải thiện điều kiện giao thông. Những năm qua, các dịch vụ xe buýt và taxi có mặt ở các khu vực đô thị, nhưng ở các vùng nông thôn, dịch vụ này còn tồn tại một số hạn chế. Trong khi đó, hoạt động kho bãi ngày càng phát triển mạnh khi hạ tầng cảng Vũng Áng đang được đầu tư mở rộng và nâng cấp để tăng khả năng tiếp nhận tàu lớn hơn và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu kinh tế của khu vực. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất - nhập khẩu trong tháng 8 cũng như 8 tháng năm 2024 đang gặp nhiều khó khăn và vẫn chưa có dấu hiệu khả quan. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 8/2024 ước đạt 455,5 triệu USD, giảm 6,0% so với tháng trước và giảm 6,37% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4.013,01 triệu USD giảm 5,92% so với cùng kỳ (giảm 252,55 triệu USD). Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 8/2024 ước đạt 174,7 triệu USD, giảm 11,63% so với tháng trước và giảm 5,85% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu ở việc mặt hàng Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 152,3 triệu USD, chiếm 87,18% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh, giảm 15,15% so với tháng trước và giảm 6,68% so với cùng kỳ. Mặc dù các mặt hàng Dăm gỗ, Xơ sợi, May mặc… trong những tháng gần đây có sự khởi sắc và giá trị xuất khẩu tăng khá, nhưng do giá trị xuất khẩu quá nhỏ so với mặt hàng thép nên nhìn chũng kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm sâu so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.469,89 triệu USD, giảm 19,48% (giảm 355,65 triệu USD) so với cùng kỳ. Nguyên nhân do tình hình kinh tế toàn cầu chịu tác động tiêu cực từ lạm phát và tăng lãi suất, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thép trên thế giới giảm sút, nên mặt hàng thép và phôi thép của Formosa Hà Tĩnh gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, 8 tháng năm 2024 chỉ tính riêng xuất khẩu của Formosa đã giảm đến 21,9% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8 ước đạt 280,8 triệu USD, giảm 2,12% so với tháng trước và giảm 6,71% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng Formosa hạn chế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, các mặt hàng tiêu dùng cũng giảm nhập khẩu. Tính chung 8 tháng năm 2024 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.543,12 triệu USD vẫn tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá trị nhập khẩu của Formosa ước đạt 1.851,43 triệu USD, chiếm 72,80% kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh, tăng nhẹ 0,68% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Với kết quả đến 8 tháng mới chỉ đạt hơn 1,4 tỷ USD còn cách mục tiêu rất xa, và dấu hiệu thị trường vẫn chưa có động thái khởi sắc rõ rệt, vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: Hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong những tháng cuối năm đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Diễn biến thị trường giá cả các mặt hàng trong tháng 8/2024 không có biến động lớn, chỉ số giá chung tăng nhẹ so với tháng trước. Mặc dù trong tháng giá các loại hoa, quả, thực phẩm có tăng cao trong những ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, nhưng chỉ diễn ra ít ngày không ảnh hưởng lớn đến mức giá bình quân chung cả tháng. Tính chung 8 tháng năm 2024 đã tăng khá cao nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát ở mức 3,21%. Thị trường vàng và ngoại tệ giá vẫn đang ở mức cao và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Tháng 8 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 4,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì có 2 nhóm hàng có chỉ số giảm so với tháng trước là giao thông và văn hóa, giải trí và du lịch do yếu tố mùa vụ trùng tháng Bảy âm lịch các hoạt động giải trí nhu cầu giảm cộng với việc giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn cả nước giảm sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua; 2 nhóm hàng hoá ổn định về giá là y tế và bưu chính, viễn thông còn các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó, các mặt hàng thiết yếu ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,91% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 8,29%, cụ thể mặt hàng lương thực tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 14,14% so với cùng tháng năm trước khi giá gạo trong tháng tiếp tục tăng nhẹ do thời điểm đầu tháng chưa đến dịp thu hoạch vụ lúa Hè Thu; nhóm thực phẩm tăng 0,59% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 6,23%. Tính chung 8 tháng năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khu vực thành thị tăng 3,33%, nông thôn tăng 3,15%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,34%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,58%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,95%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,55%; giao thông tăng 1,36%; bưu chính viễn thông giảm 1,71%; giáo dục tăng 2,71%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,62%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước sinh hoạt. Những tháng đầu năm, do một số mặt hàng thiết yếu giảm giá khiến chỉ số giá chung đạt thấp. Tuy nhiên những tháng cuối năm, do giá học phí có thể được điều chỉnh trong tháng 9, dự kiến CPI tháng 9/2024 tiếp tục tăng, giá các loại lương thực, thực phẩm, đồ uống dự kiến tăng trong địp nghỉ lễ Quốc khánh 02/9. Bên cạnh đó, giá các loại gạo nếp, đậu hạt các loại tăng do nhu cầu nguyên liệu sản xuất nhân bánh phục vụ Tết Trung thu. Nhu cầu tiêu thụ đồ dùng gia đình những tháng cuối năm xu hướng tăng và hàng may mặc, văn phòng phẩm, sách vở tăng mạnh là tháng bước vào năm học mới 2024-2025. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 8/2024 trùng với lễ Vu Lan báo hiếu, các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng được bày bán đa dạng, sức mua tăng, giá cả ổn định. Cũng trong tháng này, bà con nông dân một số địa phương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã bắt đầu bước vào thu hoạch sớm vụ lúa hè thu năm 2024 với niềm vui thắng lợi. Ngoài ra, dịp kỷ niệm 77 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2024), Hà Tĩnh đã trao tặng 74.597 phần quà tri ân người có công và thân nhân người có công, với tổng giá trị khoảng 24 tỷ đồng. Nhìn chung 8 tháng năm 2024 tình hình đời sống các tầng lớp dân cư ổn định. Các văn bản được triển khai đồng bộ có hiệu quả, ban hành kế hoạch triển khai Chương trình hành động số 36-CTr/TU ngày 03/4/2024 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; xây dựng kế hoạch triển khai Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Giải quyết việc làm cho hơn 16.000 người, đạt 70% kế hoạch. Trợ cấp cho 65.773 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng kinh phí hơn 48 tỷ đồng. Giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHTN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2024-2025. Việc điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng giúp người thụ hưởng cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội.2. Giáo dục Nhiệm vụ trọng tâm Ngành giáo dục đào tạo Hà Tĩnh trong tháng là tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2023-2024 và triển khai nhiệm vụ năm học mới 2024-2025 các cấp học Tiểu học, THCS và THPT. Ghi nhận những kết quả đã đạt được trong năm học 2023-2024 với nhiều con số ấn tượng khi xếp thứ 7 toàn quốc về điểm thi bình quân tốt nghiệp THPT; thứ 10 toàn quốc về số lượng học sinh đạt giải quốc gia, đạt Huy chương bạc Olympic Toán học quốc tế; thứ 4/12 tại Hội khỏe Phù Đổng khu vực III tại tỉnh Quảng Nam. Quỹ hỗ trợ học sinh khó khăn vào đại học đang hỗ trợ cho 319 em với kinh phí gần 50 tỷ đồng. Hoàn thiện Đề án chuyển Trường Đại học Hà Tĩnh thành trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở góp ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với những kết quả đã đạt được ghi dấu ấn những bước tiến mới của giáo dục phổ thông Hà Tĩnh. Bên cạnh đó ngành giáo dục tiếp tục tham mưu Lãnh đạo tỉnh, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông 2018, hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng việc biên soạn và thẩm định Tài liệu giáo dục địa phương lớp 5, lớp 9 và lớp 12. Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức ôn thi đối với học sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2025-2026, thi học sinh giỏi tỉnh lớp 9, 10, 11, 12 năm học 2024-2025, tiếp cận ôn thi đánh giá năng lực cho học sinh; tổ chức thi giáo viên giỏi cấp tỉnh Tiểu học, cấp THPT đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Tiếp tục làm tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng “nghiên cứu bài học”; đổi mới kiểm tra đánh giá, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; ứng dụng giáo dục STEM trong dạy học… 3. Hoạt động y tế Trong tháng 8, tính từ ngày 21/7 đến nay, trên địa bàn thị xã Kỳ Anh xuất hiện 35 trường hợp mắc sốt xuất huyết Dengue (SXHD), đây được xác định là ổ dịch sốt xuất huyết Dengue đầu tiên trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay. Ngoài ra, do tình hình thời tiết nắng nóng khó chịu là nguyên nhân khiến các bệnh như ngộ độc, tiêu chảy xảy ra khá nhiều. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 1 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS, 1 người chết vì bệnh AIDS. Tính chung 8 tháng năm 2024, có 26 người nhiễm mới HIV, 20 người chuyển thành AIDS, 5 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 10 người nhiểm mới HIV (giảm 27,78%); giảm 8 người chuyển thành AIDS (giảm 28,57%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 5 người). Công tác an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào, nhưng có 77 ca ngộ độc đơn lẻ, các ca ngộ độc được điều trị kịp thời không có ca nào tử vong, do trong tháng trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi khiến vi khuẩn phát triển, xâm nhập vào thực phẩm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Hiện nay các lực lượng đang tập trung tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm Tết Trung thu sắp tới. Tính chung 8 tháng năm 2024 đã xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 8 người bị ngộ độc, và có 592 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước số vụ không thay đổi, giảm 5 người ngộ độc tập thể và giảm 49 ca ngộ độc đơn lẻ. Tình hình dịch bệnh khác: Ngoài ổ dịch sốt xuất huyết với 35 người nhiễm, các ca bệnh khác vẫn xuất hiện trên địa bàn, cụ thể: 01 ca sốt rét, 01 ca mắc bệnh quai bị, 02 ca mắc lỵ trực trùng, 07 ca mắc lỵ a míp, 5 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.246 ca mắc bệnh cúm, 05 ca tay chân miệng, 151 ca tiêu chảy và 06 ca viêm gan vi rút khác. Tính chung 8 tháng năm 2024, toàn tỉnh xảy ra 44 ca sốt xuất huyết (giảm 1 ca so với cùng kỳ năm trước), 9 ca sốt rét (tăng 5 ca), 56 ca mắc bệnh quai bị (giảm 48 ca), 19 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 153 ca), 62 ca mắc lỵ a míp (giảm 108 ca), 246 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 67 ca), 6 ca rubella (tăng 6 ca), 10.737 ca mắc bệnh cúm (tăng 1.032 ca), 16 ca chân tay miệng (giảm 112 ca), 1.132 ca tiêu chảy (giảm 586 ca), 34 ca viêm gan vi rút khác (giảm 24 ca) và không có người chết do các bệnh trên không thay đổi so với năm trước.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng các hoạt dộng văn hoá diễn ra khá sôi nôi, ngày 10/8/2024, tết Lấp Lỗ của đồng bào dân tộc Chứt (Hương Khê, Hà Tĩnh) được tổ chức trong không khí vui tươi, mang nét đặc trưng riêng và tạo ấn tượng với đại biểu tham dự, du khách; ngày 15/8, UBND xã Thạch Kênh (Thạch Hà) long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp cấp tỉnh nhà thờ Nguyễn Kiểu; ngày 16/8, huyện Lộc Hà cùng Nhân dân trang trọng tổ chức lễ đón nhận 3 bằng di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh là nhà thờ họ Trần Văn, nhà thờ họ Đặng Phương và nhà thờ Nguyễn Đức Khuê. Hoạt động thể thao: Từ ngày 1 - 4/8, tại Nhà thi đấu TDTT Hà Tĩnh và sân bóng Công an tỉnh, diễn ra giải Bóng chuyền nam Công an Hà Tĩnh năm 2024 gồm 17 đội tham gia với gần 300 VĐV. Cũng trong tháng 8 này, hội thao BIDV khu vực Bắc Trung Bộ được tổ chức tại tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 8 - 11/8/2024 với sự tham gia của 600 vận động viên đến từ 15 chi nhánh BIDV thuộc 6 tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ. 4. Tình hình an toàn giao thông Tính từ ngày 15/7/2024 - 14/8/2024 xảy ra 28 vụ tai nạn đường bộ, làm 15 người chết, 15 người bị thương (giảm 10 vụ; giảm 9 người chết; giảm 6 người bị thương so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 165 triệu đồng. Tính chung 8 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/8/2024) đã xảy ra 296 vụ tai nạn đường bộ, làm 149 người chết, 195 người bị thương, thiệt hại 2.055 triệu đồng; tăng 77 vụ, tăng 21 người chết và tăng 63 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông; Tai nạn đường sắt xảy ra 3 vụ, làm 1 người chết, 1 người bị thương (giảm 1 vụ và 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước), đến hiện nay không xảy ra tai nạn đường thuỷ. 5. Môi trường Tình hình bất thường về thiên tai và hỏa hoạn: Tính từ ngày 15/7/2024-14/8/2024 đã xảy 5 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 38,85 triệu đồng (giảm 9 vụ so với tháng trước); trong tháng xảy không xảy ra vụ thiên tai nào. Tính chung 8 tháng năm 2024 (từ ngày 15/12/2023-14/8/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 55 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 512,55 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 27 vụ cháy, giảm 1 người chết và giảm 1 người bị thương, giá trị thiệt hại giảm 1.261,5 triệu đồng. Về tình hình vụ nổ, tháng 8 và 8 tháng 2024 không xảy ra.Vi phạm môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 7 vụ, với tổng số tiền xử phạt 82,57 triệu đồng; giảm 11 vụ phát hiện (giảm 52,38%), giảm 14 vụ đã xử lý (giảm 66,67%), tăng 36,51 triệu đồng (tăng 79,27%) số tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 15 vụ phát hiện (giảm 60,0 %), giảm 7 vụ đã xử lý (giảm 50,0%), tăng 68,17 triệu đồng (tăng 473,40%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2024, phát hiện 219 vụ vi phạm môi trường, giảm 138 vụ (giảm 38,66%); đã xử phạt 198 vụ, giảm 222 vụ (giảm 52,86%); tổng số tiền xử phạt là 774,04 triệu đồng, giảm 601,31 triệu đồng (giảm 43,72%) so với cùng kỳ năm trước.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 7 và 7 tháng năm 2024
  •   27/07/2024 22:07

Trong 7 tháng vừa qua, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng từ xung đột chính trị, thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế khó xuất khẩu đã ảnh hưởng trực tiếp đến lượng thép sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Bên cạnh đó việc sản xuất điện của các nhà máy nhiệt điện đang còn phụ thuộc vào sự điều hành của Tập đoàn điện lực EVN..vv điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế tỉnh nhà nói chung. Mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, doanh nghiệp thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. KT-XH của tỉnh trong 7 tháng qua tiếp tục giành được những kết quả khá tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi; hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải diễn ra sôi động, tăng cao so với cùng kỳ năm trước; lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục đạt kết quả ấn tượng, toàn diện; an sinh xã hội được chăm lo; quốc phòng, an ninh được giữ vững. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 7 năm 2024, nhân dân tập trung chăm sóc lúa và gieo trồng một số cây hoa màu vụ Hè Thu 2024. Thời điểm này xuất hiện các cơn mưa dông, không chỉ giải nhiệt, cung cấp nguồn nước tưới mà còn cung cấp nguồn dưỡng chất tốt để lúa làm đòng nên bà con nông dân rất phấn khởi, tranh thủ bón phân chăm sóc lúa, hy vọng một vụ mùa bội thu. Hoạt động chăn nuôi trâu, bò trong tháng có giảm nhẹ nhẹ so với cùng kỳ. Hoạt động thủy sản cũng đảm bảo sự ổn định khi sản lượng nuôi trồng và khai thác vẫn tăng đều so với cùng kỳ. Về hoạt động lâm nghiệp, diện tích rừng bị cháy và số vụ phá rừng đều giảm so với cùng kỳ năm trước. 1.1 Sản xuất nông nghiệp          * Trồng trọt:  - Kết quả sản xuất vụ Hè Thu năm 2024: Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu năm 2024 toàn tỉnh ước đạt 44.572 ha bằng 100,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 100% kế hoạch. Mặc dù diện tích đất phục vụ các dự án lớn của tỉnh đã được thu hồi từ những nhưng diện tích lúa Hè Thu cơ bản vẫn ổn định so với cùng kỳ năm trước. Cùng với cây lúa, các loại cây trồng cạn vụ Hè Thu năm 2024 cũng được các địa phương tích cực gieo trồng. Tính đến ngày 15/7/2024, diện tích gieo trồng các loại cây trồng cạn đạt được như sau: Ngô lấy hạt 2.347 ha, đạt 96,4% kế hoạch; khoai lang 551 ha, đạt 96,2% kế hoạch; lạc 231 ha, đạt 72,4% kế hoạch; rau các loại 3.030 ha, đạt 100% kế hoạch, vừng 845 ha, đạt 104,5% kế hoạch; đậu các loại 2.167 ha, đạt 93,4% kế hoạch. Nhìn chung, năm nay kết quả gieo trồng các loại cây trồng đạt kế hoạch cao hơn so với cùng kỳ năm trước và đảm bảo kế hoạch đề ra. Đến thời điểm hiện nay, các loại cây trồng đang phát triển tốt, cây lúa đang trong thời kỳ đẻ nhánh phát triển thân lá mạnh. Để có một vụ Hè Thu thắng lợi toàn diện, ngoài yếu tố thiên nhiên thì bà con nông dân cần phải tuân thủ quy trình kỹ thuật chăm sóc lúa và thường xuyên thăm đồng để phát hiện và kịp thời phòng trừ các loại dịch bệnh gây hại. - Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Cây lúa: Chuột: Gây hại ở các vùng cao cưỡng, gần làng ở các địa phương tỉ lệ trung bình 5-7%, nơi cao 7-10%, diện tích nhiễm 88ha. Sâu cuốn lá nhỏ: mật độ trung bình 7-10 con/m2, nơi cao 25-30con/m2, diện tích nhiễm 20ha, tập trung ở hầu hết các địa phương. Rầy nâu, rầy lưng trắng: Xuất hiện và gây hại ở huyện Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Đức Thọ, mật độ trung bình 700-1.000con/m2, tuổi 4, tuổi 5, tuổi trưởng thành, diện tích nhiễm 2ha. Bệnh khô vằn: Gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm tỉ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 15-20%, diện tích nhiễm 21ha. Ngộ độc hữu cơ, ngộ độc phèn xuất hiện tại huyện Can Lộc, diện tích nhiễm 32ha. Cây trồng cạn: Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại trên các trà ngô, mật độ 2-4 con/m2, diện tích nhiễm 15ha, bệnh khô vằn, đốm lá gây hại trên trà ngô sớm, diện tích nhiễm 12ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, hương Khê… Cây ăn quả có múi: Sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 12ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 36ha; sâu nhớt diện tích nhiễm 10ha; sâu vẽ bùa diện tích nhiễm 10ha; ruồi đục quả, diện tích nhiễm 10ha, phân bố tại huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… * Chăn nuôi: - Kết quả sản xuất chăn nuôi: Tổng đàn trâu hiện có 66.500 con, bằng 98,10%; đàn bò hiện có 164.200 con, bằng 97,88%; đàn lợn hiện có 398.800 con, bằng 101,32%; đàn gia cầm hiện có 10.164 ngàn con, bằng 102,87%, trong đó đàn gà hiện có 8.530 ngàn con, bằng 103,02% so với cùng kỳ năm trước. Từ kết quả trên cho thấy hoạt động chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua chưa có tín hiệu tích cực khi số lượng đàn vật nuôi như trâu, bò đều có chiều hướng giảm so với cùng kỳ. Ở tỉnh ta mặc dù các loại dịch bệnh dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được khống chế và dập tắt. Tuy nhiên, nguy cơ tiềm ẩn về các loại dịch bệnh còn cao nên người dân chưa mạnh dạn tái đàn, nhất là đàn lợn. Đàn trâu, bò vẫn đang có xu hướng giảm dần do chăn nuôi không hiệu quả, đàn gia cầm đang có xu hướng tăng trong các tháng gần đây để tạo nguồn cung ra thị trường trong những tháng sắp tới khi chuẩn bị bước vào năm học mới. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm đến nay, cả nước đã xuất hiện trên 660 ổ dịch bệnh dịch tả lợn Châu Phi tại 44 tỉnh, thành phố, buộc tiêu hủy trên 42.400 con gây thiệt hại cho người chăn nuôi. Dịch bệnh đang có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lây lan diện rộng là rất cao, có thể ảnh hưởng đến nguồn cung thực phẩm, chỉ số giá tiêu dùng và môi trường. Vì vậy Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch tả lợn châu Phi.  Hiện nay trên địa bàn tỉnh xảy ra bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tại 02 xã (Cẩm Thành, Cẩm Thạch) của huyện Cẩm Xuyên làm 05 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu huỷ.  Từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi phát sinh với mức độ cục bộ, nhỏ lẻ, được khoanh vùng, khống chế ở diện hẹp. Dịch Viêm da nổi cục xảy ra tại 17 xã thuộc 05 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Thạch Hà) làm cho 156 con gia súc mắc bệnh, trong đó có 20 con mắc bệnh chết, tiêu hủy. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 11 xã thuộc 03 huyện (Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Thạch Hà); tổng số lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 92 con. 1.2 Lâm nghiệp: - Sản xuất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tháng 7/2024 ước đạt 190 ha, bằng 104,97%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 33,17 nghìn m3, bằng 105,06% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới đạt thấp (chiếm 5,6% so với tổng diện tích rừng trồng từ đầu năm đến nay) do thời tiết nắng nóng kéo dài không thuận lợi cho việc trồng rừng. Tuy nhiên thời điểm này thuận lợi cho việc khai thác rừng trồng nên nhiều hộ dân tranh thủ thu hoạch gỗ để chuẩn bị trồng rừng trong các tháng tới khi nhiệt độ giảm dần. Tính chung 7 tháng, diện tích rừng trồng mới ước đạt 3.372 ha, bằng 127,15%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 242,35 nghìn m3, bằng 114,34% so với cùng kỳ năm trước. Các tháng đầu năm thời tiết thuận lợi cho việc trồng và khai thác gỗ, mặt khác diện tích rừng đến thời kỳ thu hoạch nhiều nên người dân tập trung lực lượng để khai thác. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 7 ước đạt 8 nghìn cây, bằng 114,29%; tính chung 7 tháng năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 1.989 nghìn cây, bằng 123,39% so với cùng kỳ. Số cây phân tán tăng mạnh so với cùng kỳ do thực hiện Đề án “Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025” trên địa bàn tỉnh và kế hoạch trồng 100.000 cây xanh đô thị thành phố trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025. Vì vậy các địa phương, nhất là trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh đã thực hiện phong trào phủ kín cây xanh nhằm tạo cảnh quan, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học. - Thiệt hại về rừng:Hoạt động sản xuất lâm nghiệp 7 tháng năm 2024 đạt mức tăng trưởng khá khi diện tích rừng trồng và sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh. Tuy nhiên hiện nay do tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài không những ảnh hưởng đến hoạt động trồng rừng mà còn tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất lớn nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng.  Trong tháng xảy ra 2 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy 0,97 ha; cộng dồn từ đầu năm đến ngày 15/7/2024, số vụ cháy rừng là 4 vụ (giảm 2 vụ), diện tích rừng bị cháy là 1,74 ha (giảm 3,14ha); số vụ phá rừng trong tháng là 7 vụ (giảm 12 vụ) với diện tích rừng bị phá là 1,46 ha, cộng dồn từ đầu năm đến ngày 15/7/2024, số vụ phá rừng là 30 vụ (giảm 48 vụ) với tổng diện tích rừng bị phá là 8,04 ha (giảm 20,3 ha). 1.3 Thủy sản: - Sản xuất thủy sản: Sản lượng thủy sản trong tháng 7 năm 2024 ước đạt 5.232 tấn, bằng 104,29%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.911 tấn, bằng 104,94%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.321 tấn, bằng 102,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2024, sản lượng thủy sản ước đạt 33.055 tấn, bằng 103,18%, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 25.006 tấn, bằng 102,8%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 8.049 tấn, bằng 104,37% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản tháng 7 đạt khá khi có mức tăng 4,29% so với cùng kỳ và chiếm 15,8% tổng sản lượng khai thác 7 tháng năm 2024. Những tháng này điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, thủy hải sản sinh sôi phát triển đa dạng, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, giá cả tương đối ổn định nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Tuy nhiên hiện nay chi phí nhiên liệu, nhân công cao, năng lực khai thác biển không có nhiều thay đổi nên hoạt động khai thác thủy hải sản vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực. - Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính chung toàn tỉnh từ đầu năm đến ngày 15/7/2024, tổng diện tích dịch bệnh là 11,99 ha (trong tháng 7 là 2,29 ha); trong đó: Dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 4 xã (Hộ Độ, Kỳ Ninh, Kỳ Thọ, Mai Phụ) thuộc 3 huyện (Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà) với tổng diện tích 7.05 ha. Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại 4 xã (Nam Phúc Thăng, Hộ Độ, Tượng Sơn, Thạch Long) thuộc 3 huyện (Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà) với diện tích 4,29 ha (trong tháng 7 là 2,29 ha). Bệnh Vi bào tử trùng (EHP) xảy ra tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh với diện tích 0.65 ha. Đến nay có diện tích 3,84 ha (trong tháng 7 là 1,84 ha) bị bệnh hoại tử gan tụy tại xã Nam Phúc Thăng, huyện Cẩm Xuyên; xã Hộ Độ huyện Lộc Hà; xã Tượng Sơn, Thạch Long huyện Thạch Hà chưa qua 15 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tính chung 7 tháng năm 2024 giảm 2,11% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu chịu ảnh hưởng trực tiếp từ ngành sản xuất chế biến, chế tạo giảm mạnh so với cùng kỳ. Thị trường trong nước cũng như quốc tế một số ngành lớn như sản xuất kim loại, chế biến sản phẩm, dệt,... đang gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất của doanh nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP): - Ước tính tháng 7/2024: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,18% so với tháng trước và tăng 18,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 6,72% so với tháng trước và tăng 37,19% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 14,87% so với tháng trước và tăng 25,07% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 37,05% so với tháng trước và giảm 12,88% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 1,17% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 12,01%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2024 tăng là do nhập khẩu thép của Ấn Độ từ Việt Nam đã được nối lại sau khi Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ trao chứng nhận cho Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy sản lượng thép thành phẩm sản xuất tháng 7/2024 tăng hơn 70.000 tấn, tăng 36,38% so với tháng 6/2023. Ngoài ra, Sau đợt khủng hoảng của năm 2023, dệt may Hà Tĩnh đã vượt qua khó khăn và lấy lại được đà tăng trưởng, ngành sản xuất trang phục tăng 49,16% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh một số ngành tác động làm tăng chỉ số sản xuất thì ngành sản xuất điện giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Nhiệt điện than Hà Tĩnh tháng 7/2024 giảm mạnh so với tháng trước do phụ thuộc vào thị trường thủy điện, trong tháng EVN ưu tiên thủy điện tăng dẫn đến nhiệt điện than giảm. Sản lượng điện sản xuất của nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 dự ước trong tháng 7/2024 giảm 260 triệu Kwh, giảm 58,14% so với tháng tháng trước. - Tính chung 7 tháng năm 2024: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 2,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,11% đóng góp 0,36 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,03% làm giảm 6,59 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 28,96% đóng góp 3,79 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 15,56% đóng góp 0,33 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, chịu tác động từ sụt giảm sản lượng thép do yếu tố thị trường cũng như tạm dừng bảo dưỡng dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy, Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 7 tháng đầu năm 2024 đã không đạt được như kỳ vọng. 2.2. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 7 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. - Một số sản phẩm công nghiệp 7 tháng năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit tăng 70,97%; bê tông trộn sẵn tăng 36,65%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 31,06%; bia đóng lon tăng 26,03%; điện sản xuất tăng 28,32%; điện thương phẩm tăng 15,55%; ... - Một số sản phẩm công nghiệp 7 tháng năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Mực đông lạnh giảm 80,72%, nguyên nhân do khách hàng Nhật bản ngừng đơn hàng, hiện tại doanh nghiệp chưa tìm kiếm được khách hàng mới, thị trường trong nước cũng hạn hẹp; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 12,24%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 43,35%; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 13,82%; ... Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị... để tăng công suất hoạt động, đáp ứng nhu cầu của các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn Hà Tĩnh. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, mở rộng mạng lưới khách hàng để tăng tốc sản xuất - kinh doanh trong chặng giữa năm, sớm hoàn thành mục tiêu sản xuất - kinh doanh năm nay. 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 7/2024 tăng 0,7% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,1%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 7 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 5,86% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 7 tháng năm 2024 của ngành khai khoáng 1,02% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động 7 tháng năm 2024 đối với ngành này tăng 7,54%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,12%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,52% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 7 tháng năm 2024 đạt thấp (ước giảm 10,83% so với cùng kỳ năm trước, bằng 48,71% so với kế hoạch năm). Xác định việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT-XH, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương vào cuộc triển khai quyết liệt, linh hoạt tháo gỡ vướng mắc nhằm đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt kết quả cao nhất trong việc triển khai, giải ngân vốn đầu tư công năm 2024. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2024 ước đạt 441,01 tỷ đồng, tăng 8,86% so với tháng trước, giảm 16,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 261,14 tỷ đồng, tăng 9,69% so với tháng trước và giảm 32,93% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 135,15 tỷ đồng, tăng 8,02% so với tháng trước và tăng 46,39% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 44,71 tỷ đồng, tăng 6,66% so với tháng trước và giảm 3,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, một số công trình thi công với tiến độ lớn như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương ước đạt 25.300 triệu đồng; tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Thạch Hà đạt ước đạt 42.541 triệu đồng; Đường từ Quốc Lộ 12C đi khu liên hợp Gang thép Formosa tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 15.000 triệu đồng; Dự án Đường vành đai phía Nam Khu kinh tế Vũng Áng ước đạt 7.400 triệu đồng… Tính chung 7 tháng năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.302,09 tỷ đồng, giảm 10,83% so với cùng kỳ năm trước, đạt 48,71% kế hoạch năm. Mặc dù nguồn vốn đã được bàn giao tới từng công trình hơn 50% kế hoạch vốn, tuy nhiên do nguồn ngân sách năm 2024 giảm mạnh so với năm trước (giảm 23,72%). Do đó, vốn đầu tư thực hiện 7 tháng năm 2024 giảm mạnh so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.435,08 tỷ đồng, chiếm 62,34% tổng vốn, giảm 25,09% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 659,79 tỷ đồng, chiếm 28,66% tổng vốn, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 207,22 tỷ đồng, chiếm 9% tổng vốn, tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện 7 tháng năm 2024 giảm mạnh so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2024 giảm 23,72% so với kế hoạch vốn được giao năm trước. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công 7 tháng đầu năm còn chậm so với kế hoạch giao, vốn ngân sách cấp tỉnh quản lý giải ngân chỉ đạt 31,54% kế hoạch vốn đã phân bổ, trong đó nguồn vốn ODA giải ngân chỉ đạt 7,76% kế hoạch vốn giao. Các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp. Mặc dù trải qua nửa chặng đường năm 2024 tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ mới đạt 30,6% kế hoạch năm. Do đó, cần nỗ lực huy động tối đa và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, thu hút và đẩy nhanh các dự án trọng điểm, Tiếp tục thực hiện hiệu quả kế hoạch đầu tư công; thực hiện tốt các cơ chế, chính sách tạo nguồn đầu tư phát triển hạ tầng; xúc tiến triển khai các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án lớn của các nhà đầu tư chiến lược (Vingroup, Sungroup, Ecopark, VSIP, Hoàng Thịnh Đạt, Silk Path, T&T, Quế Lâm...); đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án giao thông trọng điểm (đường cao tốc Bắc - Nam; cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 8C; đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài về phía đông...). 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong tháng 7 và 7 tháng năm 2024 hoạt động bán lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn và tăng trưởng khá ổn định. Các hoạt động kích cầu du lịch diễn ra sôi động đã thu hút được lượng khách lớn về trên địa bàn giúp cho ngành dịch vụ ăn uống, lữ hành, lưu trú có thêm điều kiện để phục hồi, phát triển. Các sự kiện chào mừng ngày lễ và hoạt động chào mừng lễ khai trương du lịch biển tại Thiên Cầm, Xuân Thành, Thạch hải, … đã lan tỏa mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của du khách bốn phương, đã thu hút hàng ngàn lượt khách, hầu hết các phòng nghỉ của các khách sạn và nhà nghỉ đã được khách du lịch đặt chỗ hết từ trước đó. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 7/2024 ước đạt 5.700,25 tỷ đồng, tăng 1,73% so với tháng trước, tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chỉ có nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình là giảm nhẹ so với tháng trước, còn lại các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với tháng trước, tăng mạnh ở 2 nhóm hàng là vật phẩm văn hoá, giáo dục và ô tô con. Nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, sang tháng 7 hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đã ổn định do nắng nóng đã diễn ra từ những tháng trước nên nhu cầu mua sắm đồ điện lạnh như điều hoà, tủ lạnh, quạt hơi nước giảm hơn, bên cạnh đó, đây thời điểm mà người dân chuẩn bị bộ sách giáo khoa cho năm học mới nên nhu cầu về vật phẩm giáo dục tăng cao, các chính sách kích cầu sản phẩm ô tô được các hang đưa ra nhằm đẩy mạnh doanh thu trước tháng 7 âm lịch năm nay. Tính chung 7 tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa dự tính đạt 39.871,67 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 19.278,35 tỷ đồng, chiếm 48,35% tổng mức, tăng 26,08%, đây là nhóm hàng thiết yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ, vì vậy sự tăng trưởng của nhóm hàng hóa này đã làm cho tổng mức bán lẻ tăng so với cùng kỳ năm trước; hàng may mặc ước tăng 40,33%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, chiếm 12,52% tổng mức, tăng 39,16%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 46,25%; bên cạnh đó, gỗ và vật liệu xây dựng chiếm 4,5% tổng mức, giảm 9,4%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 42,26%; phương tiện đi lại giảm 58,50%... Có thể thấy vì là những nhóm hàng thiết yếu nên tốc độ tiêu dùng nội địa vẫn rất ổn định và tăng trưởng khá đều, nhóm vật liệu xây dựng giảm so với cùng kỳ do giá cả vật liệu đã hạ nhiệt so với năm trước, nhóm ô tô và phương tiện đi lại vẫn đang gặp khó khăn từ năm trước đến nay do những khó khăn chung của nền kinh tế. Nhìn chung thị trường bán lẻ 7 tháng năm 2024 không có biến động lớn, mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, dịch bệnh, mùa vụ … nhưng cơ bản cung cầu các mặt hàng được bảo đảm; giá có sự gia tăng, giảm đan xen đối với từng nhóm hàng. Đặc biệt có sự kích cầu khi tăng lương cơ bản từ ngày 01/7/2024 từ đó việc mua sắm các mặt hàng thiết yếu được đẩy mạnh; bên cạnh đó, ngành du lịch phát triển đã đóng góp tích cực vào tổng mức bản lẻ. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2024 ước đạt 785,99 tỷ đồng, tăng 4,07% so với tháng trước, tăng 12,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 46,73 tỷ đồng, tăng 10,57% so với tháng trước, tăng 10,27% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 731,44 tỷ đồng, tăng 3,72% so với tháng trước, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 7,8 tỷ đồng, tăng 0,22% so với tháng trước, tăng 37,54% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ du lịch, lữ hành trong tháng vẫn đang trên đà tăng cao do tác động của yếu tố mùa vụ và thời tiết thuận lợi cho hoạt động tham quan, nghỉ mát và du lịch. Trong tháng đang là thời điểm kỳ nghỉ hè của học sinh, sinh viên nên nhu cầu tham quan, nghỉ mát và du lịch tăng, bên cạnh đó trùng ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7 nên số lượt người đến dâng hương tại các địa chỉ đỏ, các nghĩa trang Liệt sĩ tăng lên. Tính chung 7 tháng năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ ước đạt 4.808,27 tỷ đồng, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 170,69 tỷ đồng, giảm 5,56%; ăn uống ước đạt 4.587.881,1 triệu đồng, tăng 13,87%; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 49,70 tỷ đồng, tăng 69,28% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách du lịch theo tour ước đạt 14.160 lượt, tăng 67,04%; ngày khách du lịch theo tour ước đạt 39.660,5 ngày khách, tăng 67,63% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch 7 tháng năm 2024 tăng khá, việc thu nhập người dân đang dần cải thiện khiến nhu cầu ăn uống và du lịch đang được đà tăng trưởng mạnh mẽ, tuy nhiên việc các điểm du lịch chưa có các quy hoạch khu vui chơi giải trí và nghĩ dưỡng khiến lượng khách du lịch đến Hà Tĩnh và ở lại qua đêm vẫn còn rất khiêm tốn, vì vậy sự yêu cầu cần thiết các chính sách quy hoạch các khu du lịch để tương xứng với tiềm năng du lịch tỉnh nhà đang là vấn đề cấp thiết và được các cơ quan, ban ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ tháng 7/2024 ước tính đạt 384,62 tỷ đồng, tăng 2,02% so với tháng trước và tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2024, doanh thu ước đạt 2.645,65 tỷ đồng, tăng 7,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản ước đạt 567,83 tỷ đồng, giảm 8,83%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 637,95 tỷ đồng, tăng 0,80%; giáo dục đào tạo ước đạt 118,39 tỷ đồng, tăng 12,29%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 243,44 tỷ đồng, tăng 18,36%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 260,99 tỷ đồng, tăng 50,97%; dịch vụ khác ước đạt 817,06 tỷ đồng, tăng 11,84% so với cùng kỳ năm trước.  Hoạt động dịch vụ khác trong tháng bắt đầu có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm, cùng với thời tiết thuận lợi các hoạt động sản xuất ngành chế biến công nghiệp, xây dựng tăng trưởng trở lại, thúc đẩy các dịch vụ hành chính, hỗ trợ cho thuê máy móc thiết bị tăng mạnh. Đặc biệt là dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp Bắc Thạch Hà được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Quyết định số 1003/QĐ-TTg ngày 29/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ. VSIP Hà Tĩnh được kiến tạo để trở thành khu công nghiệp xanh, hiện đại và phát triển bền vững với tiêu chuẩn hạ tầng tối ưu. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình kinh doanh vận tải, kho bãi trên địa bàn từ đầu năm đến nay có sự tăng trưởng mạnh mẽ so với các năm gần đây. Những công trình trọng điểm như cao tốc Bắc Nam, đường dây điện 500KV mạch 3 và yếu tố thời tiết thuận lợi làm cho các công trình xây dựng tiếp tục thi công, nhu cầu xây dựng, san lấp mặt bằng đạt tiến độ cao. Bên cạnh đó với sự phục hồi từ hoạt động sản xuất công nghiệp tại khu kinh tế Vũng Áng, tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa dự kiến tăng lên nên các tàu cập cảng chở hàng hóa sẽ nhiều hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hỗ trợ vận tải ổn định và có doanh thu cao. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 7/2024 doanh thu ước đạt 781,85 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước, tăng 24,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 120,58 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 29,29% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 515,32 tỷ đồng, tăng 2,52% so với tháng trước và tăng 28,18% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 140,80 tỷ đồng, giảm 3,21% so với tháng trước và tăng 21,81% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải trong tháng tăng trưởng khá đều ở cả vận tải hành khách và hàng hoá, nguyên nhân chủ yếu do trong tháng điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài khiến người dân tăng nhu cầu sử dụng phương tiện công cộng để đi lại, cũng là thời điểm trùng ngày 27/7, kết thúc các kỳ thi THCS, THPT nên lượng khách thuê xe hành hương về địa chỉ đỏ, các học sinh về tựu trường..vv. nên lượng vận tải hành khách tăng khá. Về vận tải hàng hoá, việc thời tiết phù hợp công với việc đẩy nhanh tiến độ hoàn thành cao tốc Bắc Nam, và xây dựng khu công nghiệp VSIP Bắc Thạch Hà mới được khởi công khiến nhu cầu vận tải liệu xây dựng, đất đá, sắt thép… vẫn ổn định và tăng trưởng khá. Tuy nhiên hoạt động hỗ trợ vận tải có giảm nhẹ so với tháng trước do tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá tiếp tục giảm, việc mưa năng thất thường khiến hàng hoá hạn chế thời gian lưu bãi, việc giao nhận hàng hoá bằng phương tiện khác giảm hơn. Tính chung 7 tháng năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu dự ước đạt 4.948,37 tỷ đồng, tăng 23,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 880,32 tỷ đồng, tăng 50,9%; vận tải hàng hoá ước đạt 3.050,13 tỷ đồng, tăng 17,02%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 982,47 đồng, tăng 36,78% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 7 tháng năm 2024 có sự phát triển khá mạnh và tăng trưởng ổn định. Các đơn vị kinh doanh vận tải chú trọng việc đầu tư chất lượng xe đời mới, chất lượng cao đối với loại phương tiện hành khách, mở thêm các tuyến vận chuyển; đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa chú trọng việc bảo đảm chứa đựng hàng hóa, đúng tiêu chuẩn. Sự phát triển mạnh của ngành du lịch lữ hành, khách du lịch tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị từ hoạt động vận tải, tạo đà cho nhóm ngành này phát triển 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 7 kim ngạch xuất nhập khẩu có dấu hiệu khởi sắc hơn khi tăng mạnh so với tháng trước tuy nhiên vẫn chưa đạt mức so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 7 ước đạt 458,9 triệu USD, tăng 20,84% so với tháng trước (tăng 79,13 triệu USD) nhưng vẫn giảm 18,29% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3.531,82 triệu USD giảm 6,54% so với cùng kỳ (Giảm đến 247,23 triệu USD). Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 7/2024 ước đạt 178,2 triệu USD, tăng 38,68% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm đến 21,41% (giảm 127,9 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu ở việc mặt hàng xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 154,5 triệu USD, mặc dù đãng tăng đến 41,08% so với tháng trước (tăng tương ứng 44,99 triệu USD) nhưng so với cùng kỳ đang giảm sâu 26,87%, do diễn biến giá khó lường cũng nhu cầu tiêu thụ thế giới phục hồi chậm hơn so với kỳ vọng. Mặc dù các mặt hàng dăm gỗ, xơ sợi, may mặc…trong tháng 7 có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhưng do giá trị xuất khẩu quá nhỏ so với mặt hàng thép nên nhìn kim ngạch xuất khẩu vẫn giảm sau so với cùng kỳ, tuy nhiên đây cũng là tín hiệu tích cực đối với các mặt hàng này sau khoảng thời gian gặp khó khăn. Tính chung 7 tháng năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.275,69 triệu USD, giảm 22,22% (tương ứng giảm 364,35 triệu USD) so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 1.135,69 triệu USD (chiếm 89,03% tổng kim ngạch) giảm 25,33% so với cùng kỳ, các nhóm hàng xuất khẩu khác cũng giảm khá sâu, chỉ có duy nhất nhóm ngành Chè có tăng trưởng trong xuất khẩu nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đạt 3,17 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu: Trong tháng 7 ước đạt 280,7 triệu USD, tăng 11,71% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm 16,18%. Chỉ tính riêng nhập khẩu từ Formosa ước đạt 201,5 triệu USD, tăng 11,66% so với tháng trước và tăng 25,91% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.256,13 triệu USD, tăng 5,48% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Với kết quả đến 7 tháng mới chỉ đạt gần 1,3 tỷ USD còn cách mục tiêu rất xa vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: Hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 7 diễn biến thị trường không có biến động lớn, giá cả tăng nhẹ so với tháng trước, nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có biến động lớn nhất tăng 4,34% so với tháng trước do lượng tiêu dùng điện, nước tăng trong mùa nắng nóng, nhưng bên cạnh đó, trong nhóm này giá vật liệu xây dựng trong tháng vẫn đang giảm so tháng trước. Nhóm hàng khác cũng tăng đến 3,89% do trong tháng cùng với việc áp dụng hệ số lương cơ bản mới trong việc tính lương khiến giá bảo hiểm y tế tăng theo, thị trường vàng, trang sức giá vẫn đang ở mức cao và xu hướng tiếp tục tăng. Tháng 7 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó, nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,62% so với tháng trước và tăng đến 8,30% so với cùng tháng năm trước, cụ thể mặt hàng Lương thực tăng 0,86% so với tháng trước và tăng 16,56% so với cùng tháng năm trước do ảnh hưởng giá ở mức cao và đang tăng trở lại; Nhóm thực phẩm 1,73% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 6,49%, giá thịt lợn thời gian qua liên tục tăng cao do nguồn cung trên thị trường đang ở mức thấp, bên cạnh đó thời tiết nắng nóng ảnh hưởng đến khâu sinh trưởng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản rau củ tươi khiến trong tháng rau các loại tăng 5,37% và hoa quả tươi các loại tăng thêm 1,91% so tháng trước. Các nhóm hàng khác trong tháng cũng tăng do những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ thời tiết nắng nóng tiếp tục kéo dài, dẫn đến tăng nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng; Thứ hai, giá gạo và thịt gia súc, rau, quả các loại trên thị trường trong nước tăng do nguồn cung hạn chế. Tính chung 7 tháng năm 2024, chỉ số giá CPI bình quân tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,89%, nông thôn tăng 3,06%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,06%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,34%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,52%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 2,67%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,86%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,52%; giao thông tăng 1,92%; bưu chính viễn thông giảm 1,73%; giáo dục tăng 2,65%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,7%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,64% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay các mặt hàng, dịch vụ có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện, nước sinh hoạt, dịch vụ cho thuê nhà ở. Những yếu tố mùa vụ, tình hình khó khăn ở một số nhóm ngành nghề và thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu. Dự kiến CPI tháng 8/2024 sẽ tiếp tục tăng khi giá thịt lợn vẫn xu hướng tăng và chưa có dấu hiệu dùng lại. Giá đồ dùng học tập, văn phòng phẩm, hàng may mặc tăng trong thời điểm cận kề năm học mới. Trong khi thói quen hạn chế mua sắm tài sản lớn trong tháng 7 âm lịch có thể khiến nhu cầu và giá cả nhóm đồ dùng gia đình, phương tiện giao thông giảm. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI. 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư nhìn chung ổn định, sản xuất nông nghiệp gặp thời tiết thuận lợi nên các cây lương thực, rau, màu ngắn ngày phát triển tốt, dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Tỉnh nhà tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Từ ngày 01/7/2024, điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,8 triệu đồng/tháng lên 2,34 triệu đồng/tháng; mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng cũng tăng thêm 15%. Hầu hết cán bộ, công chức, viên chức và người thụ hưởng đều rất vui mừng, phấn khởi, cho rằng, mức tăng lần này thực sự có ý nghĩa lớn, góp phần quan trọng giúp họ cải thiện đời sống, an tâm công tác, góp phần ổn định an sinh xã hội.2. Giáo dục Giáo dục trong tháng chủ yếu tập trung vào kỳ thi THPT năm 2024. Dẫu không có cơn mưa điểm 10 như năm trước, nhưng Hà Tĩnh tiếp tục củng cố vị trí vững chắc về chất lượng mũi nhọn trên bảng xếp hạng tốp đầu cả nước với 348 bài thi đạt điểm 10 ở tất cả các môn. Trong Kỳ thi Olympic Toán Quốc tế lần thứ 65, đội tuyển Việt Nam có 6/6 học sinh đoạt huy chương và bằng khen gồm: 02 huy chương bạc, 3 huy chương đồng và 1 bằng khen. Trong đó, Hà Tĩnh đã đóng góp 1 trong 2 học sinh đạt huy chương bạc. Hà Tĩnh đã khép lại Chương trình giáo dục phổ thông bằng một mùa thi thắng lợi, thành tích đáng tự hào của mùa thi 2024 đã khẳng định hướng đi đúng của ngành giáo dục trong việc thực hiện đổi mới phương pháp, giáo dục toàn diện cho học sinh; trong quá trình chỉ đạo dạy học, ôn tập kiến thức cho học sinh, đặc biệt là học sinh cuối cấp. Sự chỉ đạo sát sao của ngành, nỗ lực của các thầy cô giáo, quyết tâm của học sinh đã là yếu tố để tạo nên những bước đột phá về chất lượng. Bên cạnh đó, ngành Giáo dục tiếp tục triển khai thực hiện có chất lượng Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 ở lớp 1,2,3,4 lớp 6,7,8 và lớp 10,11 chuẩn bị điều kiện thực hiện Chương trình ở lớp 5,9 và lớp 12 năm học 2024-2025; thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Giáo dục Đào tạo, Hội đồng Nhân dân, UBND tỉnh về chủ trương, chính sách để phát triển sự nghiệp giáo dục cũng như các văn bản chỉ đạo, triển khai Chương trình GDPT 2018. Tổ chức nghiên cứu, đề xuất lựa chọn, tập huấn, bồi dưỡng, cung ứng sách giáo khoa lớp 5, 9, 12; biên soạn, góp ý, hoàn thiện Tài liệu giáo dục địa phương lớp 5, 9, 12 để chuẩn bị tổ chức dạy học năm học 2024-2025. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học theo Chương trình GDPT 2018. 3. Hoạt động y tế Với sự nỗ lực của toàn ngành y tế, đã kiểm soát hiệu quả các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, không để lây lan, bùng phát thành dịch. Hiện nay, dù mới vào đầu mùa dịch đau mắt đỏ nhưng tại Bệnh viện Mắt Hà Tĩnh mỗi ngày đã tiếp nhận 10 - 15 bệnh nhân đau mắt đỏ đến khám và điều trị. Đáng chú ý, một số gia đình có nhiều thành viên gồm người lớn và trẻ nhỏ cùng mắc bệnh, không ít trường hợp người lớn, trẻ nhỏ gặp biến chứng do tự ý điều trị, không khỏi mới đến bệnh viện. Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 01 người nhiễm mới HIV, không có người chuyển thành AIDS hay chết vì AIDS, so với tháng trước giảm 6 người nhiểm mới HIV, giảm 5 người chuyển thành AIDS và giảm 1 người chết vì AIDS, so với cùng kỳ giảm 1 người nhiễm, giảm 1 người chuyển AIDS và giảm 1 người chết vì AIDS. Tính chung 7 tháng năm 2024, đã phát hiện 25 người nhiễm mới HIV, 18 người chuyển thành AIDS, 4 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước giảm 9 người nhiểm mới HIV (giảm 26,47%); giảm 8 người chuyển thành AIDS (giảm 30,77%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 4 người).Công tác an toàn thực phẩm: Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được người dân và các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện nhất là trong mùa du lịch, đặc biệt trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi khiến vi khuẩn phát triển, xâm nhập vào thực phẩm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Trong tháng đã xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể khiến 6 người bị ngộ độc và 97 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc. Tính chung 7 tháng đã xảy ra 2 vụ ngộ độc tập thể khiến 8 người bị ngộ độc, và có 515 ca ngộ độc đơn lẻ, không có người chết vì ngộ độc, so với cùng kỳ năm trước số vụ không thay đổi, giảm 1 người ngộ độc tập thể và giảm 39 ca ngộ độc đơn lẻ.Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng 7, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, cụ thể: 02 ca sốt xuất huyết, 02 ca mắc bệnh quai bị, 02 ca mắc lỵ trực trùng, 07 ca mắc lỵ a míp, 7 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.175 ca mắc bệnh cúm, 02 ca tay chân miệng, 178 ca tiêu chảy và 05 ca viêm gan vi rút khác. Tính chung 7 tháng năm 2024, trên địa bàn các ca bệnh đơn lẻ không tạo thành dịch, cụ thể: 9 ca sốt xuất huyết (Giảm 22 ca so với cùng kỳ năm trước), 8 ca sốt rét (tăng 4 ca), 55 ca mắc bệnh quai bị (giảm 247 ca), 17 ca mắc lỵ trực trùng (giảm đến 152 ca), 55 ca mắc lỵ a míp (giảm 109 ca), 241 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 77 ca), 6 ca rubella (tăng 6 ca), 9491 ca mắc bệnh cúm (tăng 969 ca), …3. Hoạt động văn hoá, thể thao Hoạt động văn hóa: Trong tháng với không khí rộn ràng cùng những giá trị văn hóa độc đáo, lễ hội đánh cá Vực Rào (Xuân Viên, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) thu hút đông đảo người dân, du khách tham gia. Tỉnh Hà Tĩnh vừa diễn ra cuộc thi “Đại sứ văn hóa đọc" năm 2024 với 129.093 bài dự thi của 129.093 học sinh gửi về, trong đó có 129.004 bài viết và 89 video, đây là sân chơi ý nghĩa dành cho học sinh các cấp học từ tiểu học đến THPT trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục lập hồ sơ xếp hạng các di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt: 20 di tích cấp tỉnh, 6 di tích quốc gia (Nguyễn Hoành Từ, Lê Đắc Toàn, Nguyễn Phi Sài, Nguyễn Văn Mạo, Hà Tông Mục, Nguyễn Huy Tựu) và 01 quốc gia đặc biệt (Lê Hữu Trác). Sản xuất, phát sóng định kỳ Chương trình truyền hình Văn hóa - Thể thao - Du lịch số tháng 7, Tổ chức 03 buổi chiếu phim nhân Kỷ niệm 77 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, tổ chức Festival “Về miền Ví, Giặm - Kết nối tinh hoa di sản”Hoạt động thể thao: Về thể thao thành tích cao: Giải vô địch các CLB Karate quốc gia lần thứ XXIV diễn ra từ 12 đến 18/7/2024 Hà Tĩnh xuất sắc giành 11 huy chương (6HCV-1HCB-4HCĐ) xếp thứ 4/67 đoàn tham gia giải đấu; giải Bắn súng Thanh Thiếu niên đạt 1HCV-5HCĐ; Giải Muay vô địch trẻ quốc gia 2024 tổ chức từ ngày 1 - 11/7/2024, đoàn VĐV Hà Tĩnh đã thi đấu xuất sắc và giành được 8 huy chương (1 HCV, 7 HCĐ). Về thể thao quần chúng, tổ chức giải Vô địch cờ vua Hà Tĩnh mở rộng lần thứ 4 năm 2024 do CLB Thành Sen (thuộc Liên đoàn Cờ vua Việt Nam) tổ chức. Ngoài ra tích cục vận động người dân tập luyện TDTT thường xuyên, hàng ngày. Hiện nay, đồng chí Tổng bí thư mất, nên các hoạt động thể dục thể thao giảm trong các ngày Quốc tang để tưởng nhớ đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.Công tác kiểm tra văn hoá, thể thao Sở VHTT&DL tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành kiểm tra tại 20 cơ sở kinh doanh dịch vụ thể thao tại 4 huyện: Đức Thọ, Hương Sơn, Can Lộc, Hương Khê. Qua kiểm tra đã hướng dẫn, nhắc nhở các cơ sở chấp hành các quy định của pháp luật, thực hiện tốt công tác cứu hộ, cứu nạn để đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động.4. Tình hình an toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Tính từ ngày 15/6/2024-14/7/2024 xảy ra 38 vụ tai nạn đường bộ, làm 24 người chết, 21 người bị thương (giảm 4 vụ; giảm 1 người chết; giảm 2 người bị thương so với tháng trước); Giá trị thiệt hại ước tính khoảng 385 triệu đồng. Tính chung từ ngày 15/12/2022-14/7/2023 đã xảy ra 268 vụ tai nạn đường bộ, làm 134 người chết, 180 người bị thương, thiệt hại 1.890 triệu đồng; tăng 79 vụ, tăng 22 người chết và tăng 71 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do lái xe sử dụng rượu bia quá mức quy định; Tai nạn đường sắt xảy ra 3 vụ, làm 1 người chết, 1 người bị thương, không xảy ra tai nạn đường thuỷ.5. Môi trườngTình hình cháy, nổ: Trong tháng (từ ngày 15/6/2024 - 14/7/2024) đã xảy 14 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 63,5 triệu đồng (tăng 7 vụ và giá trị thiệt hại tăng 59,6 triệu đồng so với tháng trước). So với cùng kỳ năm trước giảm 3 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản giảm 65 triệu đồng. Tính chung 7 tháng năm 2024 (từ ngày, từ ngày 15/12/2023-14/7/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 50 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 473,7 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 17 vụ cháy thiệt hại về người không thay đổi (không xảy ra). Về tình hình vụ nổ, tháng 7 và 7 tháng đầu năm hai năm gần đây đều không xảy ra.Vi phạm môi trường: Trong tháng Bảy, trên địa bàn phát hiện 21 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 21 vụ, với tổng số tiền xử phạt 46,06 triệu đồng; tăng 3 vụ phát hiện (tăng 16,67%), tăng 9 vụ đã xử lý (tăng 75,00%), tăng 24,51 triệu đồng (tăng 113,74%) số tiền xử phạt so với tháng trước; và tăng 3 vụ phát hiện (tăng 16,67 %), tăng 6 vụ đã xử lý (tăng 40,0%), giảm 105,18 triệu đồng (giảm 69,55%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2024, phát hiện 209 vụ vi phạm môi trường, giảm 123 vụ (giảm 37,05%); đã xử phạt 191 vụ, giảm 215 vụ (giảm 52,96%); tổng số tiền xử phạt là 691,47 triệu đồng, giảm 669,48 triệu đồng (giảm 49,19%) so với cùng kỳ năm trước.. Tình hình thiên tai:Trong tháng (tính từ 19/6-18/7/2024) và 7 tháng năm 2024 đã xảy ra 1 vụ thiên tai do sét đánh, tại huyện Cẩm Xuyên, làm 1 người tử vong. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

Tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2024
  •   27/07/2024 21:45

Năm 2024 là năm bứt phá để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025. Từ đầu năm đến nay, tăng trưởng kinh tế tiếp tục phục hồi, các hoạt động kinh tế xã hội diễn ra sôi động hơn. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm đạt kết quả ấn tượng. Tuy vậy, nền kinh tế tỉnh nhà vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều khó khăn hơn; xung đột quân sự tiếp tục leo thang tại một số quốc gia, khu vực; nhiều nền kinh tế lớn phục hồi còn chậm. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với việc tìm kiếm thị trường mới. Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Trong đó, đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai nhiều giải pháp phục hồi phát triển kinh tế, triển khai quy hoạch tỉnh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tổ chức các hoạt động mùa du lịch, nghỉ lễ; đẩy mạnh giải ngân đầu tư công; chăm lo đời sống Nhân dân, an sinh xã hội; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 53.379 tỷ đồng tăng 5.969 tỷ đồng; theo giá so sánh ước đạt 27.811 tỷ đồng tăng 1.963 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, xếp thứ 2/6 tỉnh Bắc trung bộ và xếp thứ 20/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh quí II năm 2024 ước tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,78%, đóng góp 7,22 % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 7,98%, đóng góp 45,81 %; khu vực Dịch vụ tăng 7,6% đóng góp 46,97 %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 4,53%, đóng góp 6,65 % vào mức tăng trưởng chung. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 2024 theo giá so sánh ước tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 2,64%, đóng góp 4,8% vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 10,7%, đóng góp 56,38%; khu vực Dịch vụ tăng 6,75% đóng góp 38,83 %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 5,06%, đóng góp 6,59% vào mức tăng trưởng chung. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay thắng lợi cả về năng suất và sản lượng ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Hoạt động chăn nuôi phục hồi, sản xuất lâm nghiệp, thủy sản vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 6 tháng đầu năm 2024, ngành nông nghiệp tăng 2,29%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 5,19% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm. Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng toàn ngành ước đạt 9,33%, đóng góp 2,93 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Riêng ngành xây dựng tăng 15,7%, đóng góp 1,35 điểm phần trăm. Nguyên nhân hiện nay trên địa bàn tỉnh nhiều công trình, dự án lớn đang được đây nhanh tiến độ thi công. Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2024 tăng 6,75% so với cùng kỳ, đóng góp 3,45 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2024 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 14,12%, giảm 0,75% so với cùng kỳ năm 2023; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,54%, tăng 1,32 % (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 32,26%, tăng 1,27 %; ngành xây dựng chiếm 8,28%, tăng 0,06%; khu vực Dịch vụ chiếm 35,81%; giảm 0,33 %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,53%, giảm 0,24 % so với cùng kỳ năm trước 2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, kết quả thu hoạch vụ Đông - Xuân thắng lợi cả về năng suất và sản lượng đặc biệt là cây lúa. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hoạt động lâm nghiệp trong tháng 6 năm 2024 tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài nên hoạt động trồng rừng đạt thấp so với mức bình quân chung các tháng, tuy nhiên tính chung 6 tháng đầu năm vẫn tăng khả quan. Hoạt động thủy sản tăng trưởng khá ổn định, hoạt động đánh bắt và nuổi trồng đều chú trọng nâng cao cả về giá trị sản lượng xũng như chất lượng thủy hải sản. 2.1. Sản xuất nông nghiệp a. Trồng trọt * Cây hàng năm Kết quả sản xuất Vụ Đông Xuân 2023-2024: Toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm sơ bộ đạt 97.389 ha, bằng 98,48% (giảm 1.503 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 423.439 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 102,94% (tăng 12.097 tấn). Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay đã đạt kế hoạch đề ra. Kết quả cụ thể đối với một số cây trồng chủ lực như sau: Diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh sơ bộ đạt 59.317 ha, bằng 99,85% (giảm 90 ha) so với cùng kỳ năm trước; Năng suất gieo trồng lúa sơ bộ đạt 61,18 tạ/ha, bằng 102,67% (tăng 1,59 tạ/ha) năng suất lúa sơ bộ đánh giá đạt cao và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh, vì vậy, sản lượng lúa sơ bộ đạt 362.923 tấn, bằng 102,51% (tăng 8.902 tấn) so với cùng kỳ năm trước; Diện tích ngô vụ Đông Xuân 2023-2024 đạt 11.980 ha, bằng 100,39% so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng đạt 50,52 tạ/ha, bằng 105,17% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ngô sơ bộ đạt 60.517 tấn, bằng 105,57% so với cùng kỳ năm trước; Diện tích khoai lang đạt 2.776 ha, bằng 98,12% so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng đạt 76,39 tạ/ha, bằng 98,2% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng khoai lang sơ bộ đạt 21.204 tấn, bằng 96,37% so với cùng kỳ năm trước; Diện tích lạc sơ bộ đạt 6.611 ha, bằng 87,13% so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng lạc đạt 27,61 tạ/ha, bằng 97% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng lạc sơ bộ đạt 18.256 tấn, bằng 84,51% so với cùng kỳ năm trước; Diện tích rau các loại đạt 10.862 ha, bằng 97,92% (so với cùng kỳ năm trước, năng suất gieo trồng đạt 71,36 tạ/ha, bằng 102,52% với sản lượng rau sơ bộ đạt 77.508 tấn, bằng 100,40% so với cùng kỳ năm trước... Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay năm này dù có một số loại cây trồng giảm sản lượng do giảm diện tích gieo trồng như lạc, khoai lang, rau các loại...thì cây lúa và cây ngô có sự thắng lợi cả về năng suất và sản lượng. Đạt được kết quả đó là nhờ sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch sản xuất sát đúng với tình hình thực tiễn, cùng với đó bà con tuân thủ theo lịch thời vụ; quá trình sinh trưởng, phát triển trong điều kiện thời tiết thuận lợi, sâu bệnh, dịch hại được phòng trừ kịp thời. Bên cạnh đó, vụ Đông Xuân năm nay nhiều giống lúa mới năng suất, chất lượng được đưa vào sản xuất, cùng với hiệu quả của các cánh đồng mẫu lớn cũng đã góp phần vào nâng cao năng suất, chất lượng lúa. Sản xuất vụ Hè Thu năm 2024: Với quan điểm chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu năm 2024 là huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc linh hoạt trong tổ chức chỉ đạo, né tránh thiên tai, phấn đấu sản xuất vụ Hè Thu an toàn, hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2024. Căn cứ Quyết định số 3206/QĐ-UBND ngày 05/12/2023 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về Kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2024 và đề xuất của các huyện, thành phố, thị xã. Chỉ tiêu định hướng sản xuất vụ Hè Thu năm 2024 như sau: Tổng diện tích gieo trồng cây ngắn ngày 55.136 ha; sản lượng lương thực 234.499 tấn, trong đó: Lúa Hè Thu: diện tích 44.570 ha, năng suất 49,7 tạ/ha, sản lượng 22,13 vạn tấn; Đậu diện tích 2.321 ha, năng suất 10,2 tạ/ha, sản lượng 2.356 tấn; Ngô lấy hạt: diện tích 2.434 ha, năng suất 42,2 tạ/ha, sản lượng 10.266 tấn; Ngô sinh khối: diện tích 756 ha, năng suất 276,2 tấn/ha, sản lượng 20.883 tấn; Lạc: diện tích 319 ha, năng suất 22,95 tạ/ha, sản lượng 732 tấn; Khoai lang: diện tích 573 ha, năng suất 59,91 tạ/ha, sản lượng 3.432 tấn; Rau: diện tích 3.030 ha, năng suất 75,5tạ/ha, sản lượng 22.880 tấn; Vừng: diện tích 1.058 ha, năng suất 8,27 tạ/ha, sản lượng 668 tấn. Tính đến ngày 14/6/2024, ước tính toàn tỉnh gieo cấy được 44.572 ha lúa vụ Hè Thu bằng 100,01% so với cùng kỳ năm trước, đạt 100% kế hoạch. Đối với cây trồng cạn tính đến ngày 20/6/2024: ngô lấy hạt 1.787 ha, đạt 73,42% kế hoạch; ngô sinh khối 195 ha, đạt 25,79% kế hoạch; đậu các loại 1.579 ha, đạt 68,03% kế hoạch; rau các loại 2.509 ha, đạt 82,81% kế hoạch; khoai lang 414 ha, đạt 72,25% kế hoạch; vừng 698 ha, đạt 86,39% kế hoạch; lạc 115 ha, đạt 36,05% kế hoạch. * Cây lâu năm Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 31.342 ha, bằng 99,41% giảm 185 ha so với cùng kỳ năm 2023, trong đó: diện tích cây ăn quả ước đạt 19.206 ha, bằng 99,25%, giảm 145 ha; diện tích cây cao su ước đạt 8.439 ha, bằng 100%; diện tích chè búp ước đạt 1.225 ha, giảm 33 ha; chè hái lá ước đạt 1.744 ha, giảm 18 ha. Thời gian qua thực hiện chủ trương chuyển đổi lại cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả kinh tế, xác định cây ăn quả có múi (cam, bưởi) là cây trồng chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao cho những vùng miền núi phía tây tỉnh Hà Tĩnh nên người dân đầu tư phát triển ồ ạt nhưng hiện nay cho chi phí đầu tư quá lớn, giá cả phân bón, ngày công tăng mạnh, thiên tai, sâu bệnh. Trong khi đó sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ, bị tư thương ép giá, nhiều hộ dân đã dần chuyển hướng sang trồng các loại cây khác như keo, mác ca…nên diện tích cây ăn quả giảm. Sản lượng cây ăn quả ước đạt 34.842 tấn, bằng 101,01% tăng 347 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chuối tăng 398 tấn, mít tăng 164 tấn, dứa tăng 35 tấn, ổi tăng 29 tấn các loại cây này dễ trồng và cho thu hoạch nhanh, sản phẩm dễ tiêu thụ. Bên cạnh đó một số cây giảm như: cam giảm 126 tấn, chanh giảm 62 tấn nguyên nhân giảm do thoái hóa sớm nên sản lượng thấp thua so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cao su ước đạt 1.514 tấn, bằng 117,27%, tăng 223 tấn so với cùng kỳ năm 2023 nguyên nhân do đến thời kỳ cao su cho thu hoạch mủ, năm nay chất lượng khá tốt, đáp ứng được yêu cầu. Sản lượng chè búp ước đạt 5.909 tấn, tăng 225 tấn; chè hái lá ước đạt 11.508 tấn, tăng 141 tấn, nhờ chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm nên cây chè đều sinh trưởng, phát triển tốt. Tình hình sâu bệnh, thiên tai: Hiện nay các loại cây trồng vụ Hè Thu năm 2024 mới được gieo trồng, chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Đối với cây ăn quả thì xuất hiện nạn sâu đục thân, đục cành, diện tích nhiễm 10 ha; nhện nhỏ diện tích nhiễm 57 ha; châu chấu diện tích nhiễm 15 ha; Sâu nhớt diện tích nhiễm 15 ha; Sâu vẽ bùa diện tích nhiễm 15 ha phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… b. Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2024 ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn lợn và đàn gia cầm tăng nhẹ, sản lượng xuất chuồng các loại gia súc và gia cầm đều tăng. Tuy nhiên, do chăn nuôi trâu bò không hiệu quả nên tổng đàn trâu, bò đang có xu thế giảm so với cùng kỳ năm trước. Tổng đàn trâu hiện có 66.850 con, bằng 99,78%; đàn bò hiện có 164.050 con, bằng 97,88%; đàn lợn hiện có 399.980 con, bằng 101,2%; đàn gia cầm hiện có 9.880 ngàn con, bằng 101,29%, trong đó đàn gà hiện có 8.434 ngàn con, bằng 101,55% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2024: thịt trâu ước đạt 1.936 tấn, bằng 100,05%, thịt bò ước đạt 5.245 tấn, bằng 99,71%, thịt lợn ước đạt 34.200 tấn, bằng 101,73%, thịt gia cầm ước đạt 14.456 tấn, bằng 102,55% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân trên địa bàn, nhất là nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. Lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào, giá cả ổn định, không xảy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, hiện nay dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, mặc dù giá lợn hơi tiếp tục tăng cao nhưng người dân vẫn còn e ngại không đầu tư tăng đàn vì sợ vẫn còn nhiều rủi ro. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch Dịch tả lợn Châu Phi tại 02 xã, thị trấn (Cẩm Duệ, thị trấn Cẩm Xuyên), huyện Cẩm Xuyên làm 12 con lợn mắc bệnh, chết, tiêu huỷ với trọng lượng 872 kg. Tính chung từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh truyền nhiễm như Viêm da nổi cục trên trâu bò, dịch tả lợn Châu Phi, Dịch Lở mồm long móng gia súc phát sinh với mức độ cục bộ, nhỏ lẻ, được khoanh vùng, khống chế ở diện hẹp. Viêm da nổi cục xảy ra tại 30 hộ chăn nuôi của 06 xã, phường thuộc huyện Thạch Hà, Thị xã Hồng Lĩnh và Thành phố Hà Tĩnh, làm cho 35 con bò mắc bệnh, trong đó có 04 con bị chết, tiêu hủy, khối lượng 324 kg; Lở mồm long móng: xảy ra tại 09 hộ chăn nuôi của 02 xã, phường thuộc huyện Kỳ Anh và Thị xã Kỳ Anh, làm cho 22 con trâu bò mắc bệnh; Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại huyện Cẩm Xuyên và Đức Thọ, làm cho 77 con lợn mắc bệnh, tiêu hủy với khối lượng 2.661 kg. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt I năm 2024 tính đến ngày 15/6/2024: Trên đàn Trâu,bò vắc xin Lở mồm long móng tiêm được 92.969 con, đạt 85,4% KH, vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 84.768 con, đạt 77,8% KH, vắc xin Viêm da nổi cục tiêm được 64.614 con, đạt 69,6% KH; trên đàn lợn: vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 165.509 con, đạt 76,3% KH và vắc xin Dịch tả lợn tiêm được 168.425 đạt 77,6% KH; trên đàn gia cầm vắc xin Cúm gia cầm tiêm được 1.033.102 con, đạt 44,9% KH. 2.2. Lâm nghiệp Hoạt động trồng rừng 6 tháng đầu năm có sự tăng trưởng khá so với cùng kỳ. Diện tích rừng trồng mới tháng 6/2024 ước đạt 202 ha, bằng 101,51% so với cùng kỳ năm trước do tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài nên hoạt động trồng rừng đạt thấp so với mức bình quân chung các tháng, tuy nhiên tính chung 6 tháng đầu năm diện tích rừng trồng mới ước đạt 3.182 ha, bằng 128,77% so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng đóng góp từng quý thì quý II mặc dù thời tiết nắng nóng hơn nhưng diện tích rừng trồng mới lại cao hơn quý I, cụ thể diện tích trồng mới quý II đạt 1.900 ha, tăng mạnh so với quý I (tăng 48,21% tương ứng tăng 618 ha) và quý II năm trước (tăng 37,48% tương ứng tăng 518 ha). Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 6 ước đạt 84 nghìn cây, bằng 95,45%, tính chung 6 tháng đầu năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 1.623 nghìn cây, bằng 101,12% so với cùng kỳ, trồng chủ yếu tập trung ở quý I (1.424 nghìn cây) do yếu tố mùa vụ trùng dịp Tết trồng cây, còn ở quý II chỉ đạt 199 nghìn cây, giảm 86,03% so với quý I và giảm 2,93% so với cùng quý năm trước. Về hoạt động khai thác rừng 6 tháng đầu năm thì sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh, cụ thể tháng 6/2024 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 55.611 m3 bằng 115,28% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 6 tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 209.184 m3, bằng 115,96% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung sản lượng khai thác gỗ chủ yếu tập trung ở quý II do hiện nay diện tích rừng trồng đến tuổi khai thác nhiều, cùng với nhu cầu thu mua nguyên liệu của các đơn vị xuất khẩu dăm gỗ lớn nên người dân tranh thủ khai thác, chỉ tính riêng quý II sản lượng khai thác ước đạt 144.067 m3 tăng 121,24% so với quý trước và tăng 20,70% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù sản lượng khai thác gỗ đã tăng mạnh tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu của các đơn vị xuất khẩu dăm gỗ, hiện nay các đơn vị còn phải thu mua nguyên liệu ở các tỉnh lân cận. Bên cạnh việc khai thác gỗ tăng mạnh thì sản lượng củi khai thác đang có xu hướng giảm dần do nhu cầu về tiêu dùng củi giảm cộng với việc cấm khai thác gỗ nhặt ở các rừng chưa khai thác. Sản lượng củi tháng 6 năm 2024 ước đạt 35.395 ste, bằng 95,26% (giảm 1.760 ste), tính chung 6 tháng ước đạt 135.587 ste, bằng 95,96% (giảm 5.701 ste). Xét trong từng quý thì sản lượng khai thác củi quý II dù tăng 48,02% so với quý trước nhưng so với cùng kỳ vẫn giảm 4,11%. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, nhưng tháng 6 nắng nóng khá gay gắt, vì vậy đã xảy ra 02 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 0,77 ha và 6 vụ phá rừng với diện tích bị phá là 3,40 ha dẫn đến tính chung 6 tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 02 vụ cháy rừng (tăng 01 vụ) với diện tích rừng bị cháy là 0,77 ha (giảm 0,02 ha) và 23 vụ phá rừng (giảm 36 vụ) với diện tích rừng bị phá là 6,577 ha (giảm 10,95 ha) so với cùng kỳ năm trước. 2.3. Thủy sản Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản đang được các cấp, các ngành quan tâm, nhất là đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích ngư dân khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế kinh tế biển, phấn đấu trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực; gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản tháng 6 ước đạt 5.175 tấn, bằng 103,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.684 tấn, bằng 102,28%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.491 tấn, bằng 106,81% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 27.823 tấn, bằng 102,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 21.095 tấn, bằng 102,42%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 6.728 tấn, bằng 104,76% so với cùng kỳ năm trước. Xét riêng từng quý thì với thủy sản nuôi trồng sản lượng quý I và II khá đồng đều, trong khi sản lượng khai thác lớn và tập trung chủ yếu vào quý II. Cụ thể, sản lượng nuôi trồng quý II ước đạt 3.416 tấn, tăng 3,14% so với quý I và tăng 6,65% so với cùng kỳ, trong khi sản lượng khai thác quý II ước đạt 11.167 tấn, tăng 12,48% so với quý trước và tăng 2,95% so với cùng kỳ. Do trong quý thời tiết tương đối thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, dịch bệnh ít xảy ra, mặt khác chi phí về nhiên liệu có phần hạ nhiệt và hoạt động du lịch sôi động trở lại khi bước vào mùa hè, nhu cầu tiêu dùng tăng cao cộng với giá cả ổn định, một số mặt hàng hải sản có phần tăng hơn so nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, thời tiết bất lợi, nắng nóng xen lẫn mưa dông, làm biến động nhiệt độ và các yếu tố môi trường nước, giảm sức đề kháng của tôm; nguy cơ tiếp tục phát sinh, lây lan một số loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên tôm là rất cao. Tổng diện tích dịch bệnh trong 6 tháng đầu năm 2024 là 9,7 ha, trong đó: Dịch bệnh đốm trắng xảy ra tại 4 xã (Hộ Độ, Kỳ Ninh, Kỳ Thọ, Mai Phụ) thuộc 3 huyện, thị xã (Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh, Lộc Hà) với tổng diện tích 7,05 ha; Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra tại xã Nam Phúc Thăng thuộc huyện Cẩm Xuyên với diện tích 2 ha; Bệnh Vi bào tử trùng (EHP) xảy ra tại xã Kỳ Hải huyện Kỳ Anh với diện tích 0,65 ha, giảm 73% so với cùng kỳ năm trước. 3. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều dấu hiệu tích cực, khi có 3/4 nhóm ngành công nghiệp cấp 1 đều ghi nhận mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm 2023. Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Nửa đầu tháng 4 năm 2024, xưởng cán nóng đại tu sửa, dây chuyển sản xuất thép dừng sản xuất. Bên canh đó, trong thời gian vừa qua, sự gia tăng mạnh mẽ các sản phẩm thép nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Ấn Độ đã ảnh hưởng đến việc ổn định sản xuất doanh nghiệp sản xuất thép trong nước. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh do đó sản lượng thép sản xuất giảm mạnh so cùng kỳ. Vì vậy, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính 6 tháng đầu năm 2024 giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước. 3.1 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP). Ước tính tháng 6/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành ước giảm 0,31% so với tháng trước và giảm 1,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 3,56% so với tháng trước và tăng 22,98% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 3,72% so với tháng trước và giảm 7,6% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 14,9% so với tháng trước và tăng 28,4% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước giảm 1,29% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 15,51%. Quý II/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính giảm 5,52% so với quý trước và giảm 10,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng tăng 79,27% so với quý trước và tăng 34,34% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 11,72% so với quý trước và giảm 19,02% so cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,1% so với quý trước và tăng 35,03% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nướ; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,84% so với quý I/2024 và tăng 14,12% so với cùng kỳ năm 2023. Ước tính 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 25,34% đóng góp 0,32 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,18% làm giảm 8,45 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 35,63% đóng góp 4,6 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,21% đóng góp 0,33 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Một số sản phẩm đóng góp vào tăng trưởng của ngành như điện sản xuất, bia, pack pin (điện sản xuất ước đạt 5,87 tỷ kWh, tăng 37,42%; bia ước đạt 39,46 triệu lít, tăng 26,79%; pack pin ước đạt 2.460 pack); trong khi một số sản phẩm như thép, sợi có xu hướng giảm do khó khăn về thị trường đầu ra (thép ước đạt 2,23 triệu tấn, giảm 16,76%; sợi ước đạt 3.239 tấn, giảm 0,67%). Ngoài yếu tố thị trường, sản lượng thép giảm do sự cố tại dây chuyền cán nóng của Formosa từ ngày 1/4-15/4 dẫn đến tăng trưởng ngành công nghiệp cũng như toàn nền kinh tế chưa đạt kỳ vọng. 3.2 Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớn Ước tính 6 tháng đầu năm 2024, trong 19 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 11 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Khai thác quặng kim loại tăng 72,63%; sản xuất đồ uống tăng 42,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 38,6%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 35,63%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,82%; ... Một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 7,95%; sản xuất kim loại giảm 14,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 5,79%; .... 3.3 Chỉ số tiêu thụ, tồn kho, tình hình sử dụng lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 6/2024 giảm 3,17% so với tháng trước, so với tháng 6/2023 giảm 7,64%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 chỉ số tiêu thụ giảm 12,32% so với năm trước. Trong đó, sản phẩm than cốc, dầu mỏ tinh chế với chỉ số tiêu thụ giảm 12,39% so với cùng kỳ năm trước. Tiêu thụ sản phẩm này giảm mạnh do doanh nghiệp giữ lại dùng để sản xuất chế biến tiếp trong doanh nghiệp. Sản phẩm kim loại giảm 15,55% so với cùng kỳ năm trước. Thép nhập khẩu từ các nước khác làm giảm thị trường tiêu thụ đã ảnh hưởng trực tiếp tới chỉ số tiêu thụ của ngành sản xuất kim loại. Còn lại, nhiều mặt hàng trong tổng số các nhóm sản phẩm trên địa bàn có chỉ số tiêu thu tăng cao so với cùng kỳ năm 2023 như: Sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 35,54%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 91,27%; sản xuất trang phục tăng 69,39%; …6 tháng đầu năm 2024, mặc dù chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ, tuy nhiên, số nhóm sản phẩm có chỉ số tiêu thụ tăng chiếm tỷ trọng cao, cho thấy đa số các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh dần phục hồi sau nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong những năm qua. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2024 tăng 32,69% so với tháng trước và tăng 20,05% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao do một số ngành như: Sản xuất trang phục tăng 289,97%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 36,01%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,25%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2024 tăng 0,41% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 3,61%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 6 năm 2024, chỉ số 36 sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 7,55% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 6 tháng đầu năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 0,79% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động 6 tháng đầu năm 2024 đối với ngành này tăng 9,65%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,08%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,11% so với cùng kỳ năm 2023. 4. Tình hình thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp 4.1 Thu hút đầu tư Tính từ đầu năm đến nay Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 16 dự án đầu tư trong nước với tổng mức gần 1.745 tỷ đồng (cùng kỳ chấp thuận 10 dự án 1.254 tỷ đồng). Lũy kế toàn tỉnh hiện có gần 1.500 dự án quy mô 517.000 tỷ đồng (tăng 8% về số lượng, 20% về số vốn so với đầu nhiệm kỳ). Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các biên bản ghi nhớ tại Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh. Tiếp tục kết nối, làm việc với các nhà đầu tư trong nước (Central Group, FPT, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam...) và nước ngoài (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan) nghiên cứu đầu tư các dự án phát triển hạ tầng khu/cụm công nghiệp, năng lượng, điện tử, giáo dục, du lịch. 4.2. Tình hình đăng ký kinh doanh Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 22/11/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đến năm 2025 và những năm tiếp theo. Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Tuy nhiên do sự tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp... Vì vậy số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn không đạt như kỳ vọng. Cụ thể, tính đến ngày 15/6/2024 toàn tỉnh có 528 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký hơn 3.000 tỷ đồng, giảm 5,37% số lượng và tăng 47,5% số vốn; 233 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 3,56%; 107 doanh nghiệp giải thể, tăng 5,94%; 414 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 8,38%; tỷ lệ kê khai phát sinh thuế từ đầu năm đến nay chiếm 39% (cùng kỳ 41%). 4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp Qua tổng hợp kết quả điều tra trên địa bàn tỉnh, nhìn chung đa số các doanh nghiệp đánh giá quý III/2024 và dự báo 6 tháng cuối năm 2024 về tình hình sản xuất kinh doanh, biến động về khối lượng sản xuất, số lượng đơn đặt hàng có xu hướng tăng lên và giữ nguyên. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực và thuận lợi hơn trước. Cụ thể: *Nhận định quý III so với quý II Các doanh nghiệp dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2024 tăng hơn so quý II/2024 khi có tới 35,42% doanh nghiệp nhận định SXKD quý II/2024 sẽ tốt hơn và 50% giữ ổn định so với quý II/2024. Số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước giảm xuống còn 14,58% tổng số các doanh nghiệp trong toàn tỉnh. Quý III/2024 có 39,58% số doanh nghiệp cho rằng khối lượng sản xuất tăng so với quý hiện tại; 47,92% số doanh nghiệp nhận định giữ ổn định sản xuất. Trong khi đó chỉ có 12,5% trong tổng số doanh nghiệp giảm khối lượng sản xuất. Các doanh nghiệp dự báo quý III/2024 tăng số lượng đơn đặt hàng mới (37,5% nhận định tăng lên và 47,92% giữ nguyên như quý II/2024); có 14,58% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng mới giảm hơn so với quý II/2024. Tỷ trọng số doanh nghiệp nhận định lượng tồn kho thành phẩm tăng lên đã tăng lên 18,75%. Trong khi có 81,25% doanh nghiệp dự báo vẫn giữ nguyên như cũ và giảm đi so với quý II/2024. Dự báo lao động quý III/2024 so với quý hiện tại có 72,92% doanh nghiệp khẳng định giữ ổn định số lao động, bên cạnh đó có 12,5% số doanh nghiệp dự kiến tăng số lao động và 14,58% doanh nghiệp dự kiến giảm số lao động. *Dự báo 6 tháng cuối năm 2024 Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo 6 tháng tiếp theo có xu hướng tăng lên chiếm tỷ trọng lớn (52,08% doanh nghiệp); tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên là 39,59% và chỉ có 8,33% doanh nghiệp cho rằng 6 tháng tiếp theo khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo sẽ giảm đi so với hiện tại. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về số lượng đơn đặt hàng mới ngành chế biến chế tạo 6 tháng tiếp theo tăng lên chiếm tỷ trọng lớn nhất (50%). Trong khi đó dự báo xu hướng giảm đi chỉ chiếm 10,42%. Tương tự số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới sẽ tăng lên và giữ nguyên trong 6 tháng tiếp theo chiếm tỷ lệ cao (75%). Với tình hình thực tế hiện nay, các doanh nghiệp vẫn nhận định và dự báo số lượng lao động 6 tháng tiếp theo vẫn tiếp tục giữ nguyên nhằm ổn định sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo giữ nguyên số lao động trong 6 tháng tiếp theo chiếm đến 66,67%, trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp dự báo sẽ tăng lao động chiếm 22,92% và có 10,41% tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ giảm số lượng lao động. 5. Thương mại, dịch vụ Hoạt động thương mại, dịch vụ 6 tháng đầu năm 2024 diễn ra sôi động và tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 20,56%, doanh thu dịch vụ lưu trú giảm 15,92%; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 14,09%; doanh thu du lịch lữ hành tăng 77,21%; dịch vụ khác tăng 6,35%. Bên cạnh đó hoạt động vận tải cũng có doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, do giá vé và nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông công cộng đường bộ và taxi để đi lại của người dân tăng lên. Nguyên nhân chủ yếu là nhờ chính sách kích cầu của Chính phủ, thông qua đầu tư công như xây dựng cầu, đường, điện ... từ đó tạo động lực cho các nhóm, ngành phát triển, cùng với sự phát triển mạnh của ngành du lịch lữ hành, khách du lịch tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị và tạo đà cho các hoạt động kinh doanh ăn uống ngoài gia đình, vận tải… 5.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Nguồn cung hàng hóa tại thị trường trong nước, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…) luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Thị trường các mặt hàng thiết yếu trong quý II và cả 6 tháng đầu năm không có biến động lớn, mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, dịch bệnh, mùa vụ … nhưng cơ bản cung cầu các mặt hàng được bảo đảm, thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp khiến nguồn cung lương thực, thực phẩm đồi dào. Tổng mức bán lẻ hàng hóa: Doanh thu tháng 6 ước đạt 5.753,97 tỷ đồng, tăng 0,82% so với tháng trước, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 34.321,82 tỷ đồng, tăng 20,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó các nhóm hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức đạt mức tăng trưởng khá như: Lương thực, thực phẩm ước đạt 16.527,98 tỷ đồng, chiếm 48,16% tổng mức, tăng 26,85%; hàng may mặc ước đạt 2.184,52 tỷ đồng, chiếm 6,36% tổng mức, tăng 43,78%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 4.345,53 tỷ đồng, chiếm 12,66% tổng mức, tăng 43,46%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.495,20 tỷ đồng, chiếm 4,36% tổng mức, giảm 7,86%; phương tiện đi lại ước đạt 513,03 tỷ đồng, chiếm 1,49% tổng mức, giảm 31,42%... Xét riêng từng quý cho thấy doanh thu bán lẻ ở mức ổn định và tăng tưởng khá đều ở các quý, mức tăng trưởng doanh thu so với cùng kỳ ở quý I và quý II lần lượt ở các mức cao là 21,98% và 19,17%. Do tính mùa vụ quý I trùng các dịp lễ, Tết nên doanh thu quý II ước đạt 17.108 tỷ đồng giảm nhẹ 0,61% so với quý I. Ngoại trừ nhóm hàng gỗ, vật liệu xây dựng và ô tô, phương tiện đi lại các loại có mức doanh thu giảm so cùng kỳ do sự giảm về giá các loại vật liệu xây dựng và nhu cầu các mặt hàng giá trị lớn do tình hình kinh tế khó khăn còn lại các mặt hàng khác đều có doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ ở cả 2 quý. Nhìn chung nguồn cung hàng hóa tại thị trường trong nước, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…) luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Thị trường các mặt hàng thiết yếu trong quý II và 6 tháng đầu năm không có biến động lớn. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, dịch bệnh, mùa vụ … nhưng cơ bản cung cầu các mặt hàng được bảo đảm; thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nên nguồn lương thực, thực phẩm khá dồi dào. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Tháng 6 là thời điểm bắt đầu mùa nghỉ hè, nhu cầu đi tham quan nghỉ mát mùa hè, du lịch, vui chơi giải trí tăng. Cùng với đó, trong tháng có ngày lễ là ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6. Những điều này, phần nào tác động tăng doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, ước doanh thu tháng 6 đạt 742,58 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước, tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng doanh thu ước đạt 4.009,61 tỷ đồng, tăng 13,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lưu trú ước đạt 116,33 tỷ đồng, giảm 15,92%; Ăn uống ước đạt 3.851,32 tỷ đồng, tăng 14,09%; Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 41,96 tỷ đồng, tăng 77,21% so với cùng kỳ năm trước. Có thể thấy mùa du lịch tập trung chủ yếu ở tháng 5,6, vì vậy mức doanh thu du lịch tăng mạnh trong quý II. Doanh thu du lịch trong quý II ước đạt 25,56 tỷ đồng, chiếm 60,92% doanh thu du lịch 6 tháng đầu năm 2024, tăng 55,86% so với quý trước và tăng 70,94% so với cùng kỳ năm trước.Tuy nhiên, việc doanh thu du lịch còn khá nhỏ so với tiềm năng du lịch là bài toán cần phương án giải đáp sớm trong thời gian tới của tỉnh nhà. Hoạt động du lịch tăng mạnh cũng là động lực kéo hoạt động lưu trú, ăn uống ngoài gia đình trong quý tăng trưởng khá, doanh thu lưu trú ăn uống tính riêng quý II đạt 2.074,06 tỷ đồng, tăng 9,53% so với quý trước và tăng 7,31% so với cùng kỳ, trong đó nhu cầu ăn uống ngoài gia đình đang rất cao và xu hướng tăng lên cũng là nhóm ngành trọng yếu quyết định đến tăng trưởng của nhóm ngành này, chỉ tính trong quý II doanh thu ăn uống đạt 1.992,71 tỷ đồng, tăng 7,21% so với quý I và tăng 7,67% so với cùng quý năm trước, trong khi hoạt động lưu trú có sự sụt giảm so với cùng kỳ ở cả 2 quý do việc tạm ngừng để sửa chữa các cơ sở lưu trú do tình trạng xuống cấp. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh. Các đơn vị kinh doanh ngày càng đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Nguyên nhân, là thời điểm mùa du lịch hà Tĩnh đặc biệt là du lịch biển với những bãi biển đẹp như Thiên Cầm, Thạch Hải, Xuân Hải, Xuân Thành…, lượng khách đến các bãi biển, khu nghỉ dưỡng bắt đầu tăng mạnh so với các tháng đầu năm. Cùng với đó là sự thuận lợi về đường giao thông, phương tiện đi lại; chất lượng của các cơ sở lưu trú ngày càng được chú trọng. Năm nay với những chương trình tour du lịch phong phú, đa dạng như du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch biển…hoạt động lữ hành đạt được những kết quả tốt và đã có những tour du lịch nước ngoài, tour phục vụ khách quốc tế là sự tiến bộ so với năm trước. Dịch vụ khác: Doanh thu tháng 6/2024 ước đạt 378,6 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước và tăng 8,98% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 doanh thu ước đạt 2.262,63 tỷ đồng, tăng 6,35% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung các hoạt động dịch vụ khác đạt doanh thu khá ổn định và tăng trưởng đều ở quý I và II, cụ thể mức tăng ở các quý so với cùng kỳ lần lượt là 6,43% và 6,28%. Nguyên nhân do trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm đang được thi công như: cao tốc Bắc Nam, Nhà máy Pin Lithium, Nhà máy nhiệt điện 2…, hoạt động xây dựng đang đẩy nhanh tiến độ thi công, san lấp mặt bằng nhiều đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng máy móc thi công tăng lên; kéo theo đó là hoạt động vệ sinh công trình, cảnh quan đô thị cũng phát triển. Bên cạnh đó các hoạt động dịch vụ như chăm sóc da, làm đẹp, cắt tóc, gội đầu; dịch vụ dọn vệ sinh nhà cửa đã khôi phục và trở lại trạng thái hoạt động khá ổn định, chưa kể việc chi phí tăng khiến giá các mặt hàng khác tăng kéo theo doanh thu nhóm này tăng. 5.2. Hoạt động vận tải Kết quả vận tải, kho bãi tháng 6/2024 doanh thu ước đạt 767,69 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước, tăng 24,43% so với cùng kỳ năm trước, do trong tháng là tháng bắt đầu nghỉ hè, là thời điểm nhu cầu tham quan đi lại của đối tượng khách du lịch ngày càng cao, vận tải hàng hóa trong tháng cũng tăng mạnh do các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển, nhiều dự án mới được đưa vào triển khai thi công, công trình xây dựng cùng với đó nhu cầu vận chuyển vật tư nông nghiệp phân bón, giống để chuẩn bị cho vụ mùa tăng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 4.162,97 tỷ đồng, tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 759,88 tỷ đồng, tăng 55,04%; vận tải hàng hoá ước đạt 2.520,37 tỷ đồng, tăng 14,33%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 852,41 tỷ đồng, tăng 41,44% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trong 6 tháng của hoạt động vận tải chủ yếu tập trung ở quý II, chỉ tính riêng quý II, doanh thu vận tải ước đạt 2.240,43 tỷ đồng, tăng 16,53% so với quý trước và tăng 24,55% so với cùng quý năm trước. Mức tăng chủ yếu ở vận tải hàng hóa khi doanh thu ước đạt 1.433,65 tỷ đồng, tăng đến 31,92% so với quý trước và tăng 22,68% so với cùng quý năm trước, trong khi quý I chỉ tăng 4,91% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, doanh thu vận tải hành khách trong quý giảm 13,33% so với quý trước, do yếu tố mùa vụ khi người về quê và đi làm sau các kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, tết Dương lịch, nhưng so với cùng kỳ vận tải hành khách vẫn đạt mức tăng 41,61% do yếu tố giá vé và nhu cầu vé chất lượng cao tăng. Nhìn chung hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm 2024 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ năm trước, doanh thu vận tải hành khách mặc dù đang thấp hơn vận tải hàng hóa nhưng tốc độ tăng lại rất lớn trên 55% chứng tỏ sự đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng phương tiện đến thái độ phục vụ. Việc mở rộng thêm nhiều tuyến sang các nước như Thái Lan, Lào làm cho khối lượng vận chuyển hành khách tăng lên đáng kể. Với sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt kinh tế Hà Tĩnh đang trên đà tăng trưởng, do đó phát triển hạ tầng giao thông là một trong các chỉ tiêu được đặt ra hàng đầu để tạo điều kiện cho kinh tế phát triển trên mọi mặt, việc hoàn thiện, mở rộng các tuyến Quốc lộ trong tỉnh, các tuyến giao thông đường bộ nội tỉnh, thôn xóm cũng ngày càng hoàn thiện, càng giúp cho hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa thuận lợi hơn. Đó cũng chính là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của hoạt động giao thông vận tải, tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện vận tải lưu thông. 6. Tài chính, ngân hàng 6.1. Hoạt động tài chính Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2024 có nhiều thuận lợi hơn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ, thị trường bất động sản ổn định, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước (đã loại trừ hoàn thuế) tính đến ngày 15/6/2024 đạt 7.048,80 tỷ đồng (tăng 7,03% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 4.389,01 tỷ đồng (chiếm 62,27 % trong tổng thu) tăng 6,46% so với cùng kỳ. Một số thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 558,54 tỷ đồng, giảm 69,03% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm do nguồn thuế thu từ doanh nghiệp Formosa giảm mạnh bởi gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm kim loại; thu từ cân đối hoạt động xuất nhâp khẩu đạt 2.233,60 tỷ đồng, giảm 7,25% so với cùng kỳ. Chủ yếu do hoạt động xuất nhập khẩu của Formosa giảm mạnh so với cùng kỳ. Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp 6 tháng đầu năm 2024 thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 558,54 tỷ đồng tăng 49,61% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 741,39 tỷ đồng, tăng 58,48% so với cùng kỳ năm 2023; các khoản thu về thuế nhà, đất đạt 1.346,68 tỷ đồng, tăng 117,51% so với cùng kỳ năm trước; ... Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/6/2024 đạt 11.497,44 tỷ đồng tăng 13,9% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 5.482,8 tỷ đồng chiếm 47,69% tổng chi, tăng 17% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 6.012,56 tỷ đồng chiếm 52,29% tổng chi, tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 2.104,59 tỷ đồng tăng 21,33%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 1.365,66 tỷ đồng tăng 23,05% so với cùng kỳ năm 2023. 6.2. Hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2024, ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực sự nỗ lực trong việc đáp ứng nhu cầu vốn trên địa bàn và góp phần phục hồi kinh tế xã hội, trong bối cảnh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế thấp. Công tác huy động vốn được các tổ chức tín dụng trên địa bàn đẩy mạnh ngay từ đầu năm. Với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt. Tổng nguồn vốn huy động ước đến đến 30/6/2024 đạt 104.590 tỷ đồng, tăng 4,04% so với cuối năm 2023. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 10.901 tỷ đồng, chiếm 10,42% tổng nguồn vốn huy động, tăng 3,09% so với cuối năm 2023; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 96.688 tỷ đồng, chiếm 89,58%, tăng 4,16% so với cuối năm 2023. Dư nợ cho vay ước đến 30/6/2024 đạt 99.750 tỷ đồng, tăng 3,85% so với cuối năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 73.108 tỷ đồng (chiếm 73,29 % tổng dư nợ), tăng 5,7% so với cuối năm 2023; dư nợ trung dài hạn đạt 26.641 tỷ đồng (chiếm 26,71% tổng dư nợ), giảm 0,9% so với cuối năm 2023. Công tác huy động vốn, tín dụng được tập trung chỉ đạo. Các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay, các chương trình lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, tiếp cận tín dụng. 7. Vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2024, UBND tỉnh và các Sở, ban ngành đã có nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, xử lý kịp thời các vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đồng thời tăng cường vai trò của Chủ đầu tư trong việc đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, nghiệm thu khối lượng hoàn thành và giải ngân vốn kịp thời. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai có chiều sâu các hoạt động xúc tiến, mời gọi doanh nghiệp trong nước và quốc tế tìm hiểu, đầu tư trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tiến độ các dự án trọng điểm, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý II/2024 ước đạt 14.213,01 tỷ đồng, tăng 31,14% so với quý trước và tăng 15,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 25.051,41 tỷ đồng, tăng 15,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 7.586,76 tỷ đồng, tăng 79,12% nhờ các dự án trọng điểm Trung ương triển khai trên địa bàn như cao tốc Bắc – Nam, đường dây 500kV; vốn đầu tư ngoài nhà nước ước đạt 7.766,56 tỷ đồng, giảm 16,19% do hoạt động đầu tư từ khu vực doanh nghiệp còn khó khăn; vốn đầu tư thực hiện khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 9.896,1 tỷ đồng, tăng 19,65% nhờ một số dự án lớn như nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, Nhà máy Pin Lithium. Một số dự án quy mô lớn được chấp thuận trong năm 2024 như: Dự án đường dây 500KV Vũng Áng - rẽ Hà Tĩnh - Đà Nẵng (mạch 3,4) (Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia) với quy mô diện tích hơn 61ha, tổng vốn đăng ký hơn 673 tỷ đồng; Khu dân cư tại xã Phú Phong (huyện Hương Khê) với quy mô diện tích 9,83 ha, tổng vốn đăng ký hơn 154 tỷ đồng; Nhà máy Sản xuất ván ép xuất khẩu (huyện Nghi Xuân) của Công ty TNHH SX&TM Wintech với quy mô diện tích 4,32ha, tổng vốn đăng ký hơn 125 tỷ đồng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, nhiều dự án lớn từ các năm trước đang tiếp tục được tỉnh đôn đốc triển khai thực hiện như: Dự án nhà máy sản xuất Lithium (6.500 tỷ đồng); nhà máy luyện gang thép do Công ty cổ phần gang thép Vũng Áng đầu tư bước đầu chuẩn bị mặt bằng, tổng mức dự án là 2.200 tỷ đồng, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2025; dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2; dự án xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam qua Hà Tĩnh; dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Bắc Thạch Hà đã triển khai giai đoạn 1 với tổng mức đầu tư 1.555 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện tại, dự án đã bước đầu hoàn thành công tác kiểm đếm, đền bù cho hộ dân cư, dự kiến khởi công vào cuối tháng 6 năm 2024.…Đây là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới. 8. Xuất nhập khẩu hàng hóa Sau một năm 2023 với những tín hiệu tích cực từ hoạt động xuất khẩu thì 6 tháng năm 2024 lượng hàng xuất khẩu của Hà Tĩnh giảm xuống khá sâu so với cùng kỳ năm trước, do diễn biến giá khó lường cũng nhu cầu tiêu thụ thế giới phục hồi chậm hơn so với kỳ vọng. Riêng tháng 6/2024 tổng kim ngạch đạt 469,06 triệu USD, giảm 4,93% so với tháng trước và giảm 24,76% so với cùng kỳ, tính chung 6 tháng đầu năm 2024 tổng kim ngạch ước đạt 3.140,91 triệu USD, giảm 0,22% so với cùng kỳ năm 2023. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 6 ước đạt 170,50 triệu USD, giảm 7,53% so với tháng trước và giảm đến 44,75% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do mặt hàng chủ đạo thép, phôi thép xuất khẩu đạt 150,50 triệu USD, giảm 7,66% so với tháng trước và giảm đến 47,49% so với cùng kỳ, bên cạnh đó các mặt hàng dệt, may mặc và xơ, sợi các loại vẫn đang gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Mặc dù nhóm hàng chè và dăm gỗ có kim ngạch xuất khẩu tăng so với tháng trước (tăng lần lượt 13,64% và 1,87%), tuy nhiên vẫn chưa đạt mức so với cùng kỳ và doanh thu xuất khẩu các mặt hàng không lớn nên hầu như không tác động tới tốc độ tăng xuất khẩu. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.139,49 triệu USD, giảm 15,42% so với cùng kỳ. Bên cạnh mặt hàng thép, và phôi thép đạt 1.017,18 triệu USD (chiếm 89,27% kim ngạch xuất khẩu 6 tháng), giảm đến 18,59% so với cùng kỳ, thì mặt hàng xơ, sợi dệt các loại tiếp tục gặp khó khăn khi giảm đến 36,71%. Việc 2 nhóm hàng lớn có kim ngạch giảm sâu nên mặc dù các mặt hàng khác như Chè, Dăm gỗ, Dệt và may mặc có sự tăng trưởng tốt trong 6 tháng nhưng vì giá trị xuất khẩu không qua lớn nên không kéo lại được sự tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu. Chỉ tính riêng xuất khẩu của công ty Formosa trong 6 tháng đầu năm 2024 kim ngạch ước đạt 1.056,95 triệu USD (chiếm đến 92,76% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh), giảm 17,40% so với cùng kỳ cho thấy sự đóng góp cũng như sự quyết định công ty này đối với hoạt động xuất, nhập khẩu của tỉnh nhà. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 6/2024 ước đạt 298,56 triệu USD, giảm 3,38% so với tháng trước và giảm 5,16% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa giảm nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất (Nhập khẩu từ FHS ước đạt 202,45 triệu USD, giảm 6,95% so với tháng trước và giảm 17,15% so với cùng kỳ năm trước) do việc thị trường đầu ra đang gặp khó khăn cùng với việc thời tiết chuyển nắng nóng, sản lượng sản xuất giảm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2.001,42 triệu USD tăng 11,14% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù nhập khẩu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất Formosa đạt 1.436,0 triệu USD (chiếm 71,75%) giảm 2,74% so với cùng kỳ năm trước, nhưng việc nhập khẩu các mặt hàng khác tăng, nhất là các hàng hóa phục vụ dịp Tết trong quý I khiến kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng vẫn có mức tăng khá. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD, kết quả 6 tháng đầu năm 2024 mới chỉ đạt gần 47,48%. Xét riêng từng quý thì hoạt động Xuất - Nhập khẩu chủ yếu ở trong quý I, sang quý II hoạt động có vẻ trầm lắng và giảm khá sâu, vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 9. Giá cả, lạm phát Sáu tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều yếu tố bất lợi, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và tiêu dùng hàng hoá. Mặc dù mức tăng chung chỉ số giá tiêu dùng hàng hoá ở mức 2,73% nhưng chỉ số giá lại tăng mạnh chủ yếu ở các nhóm mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, đồ uống, thước và dịch vụ y tế…Giá vàng và ngoại tệ biến động mạnh, tác động đến chính sách tiền tệ và sự ổn định của dòng vốn lưu thông trong sản xuất kinh doanh. Tháng 6 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tác động đến giá cả trong tháng do yếu tố mùa vụ chịu ảnh hưởng bởi thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh, cũng là thời điểm nhóm học sinh, sinh viên bắt đầu nghỉ hè, ảnh hưởng đến các nhóm văn phòng phẩm, dịch vụ du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí liên quan. Giá nhiên liệu xăng dầu bình quân trong tháng qua các kỳ điều chỉnh tiếp tục giảm so tháng trước và thời điểm đầu năm, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường. Bên cạnh đó, giá gạo và thịt gia súc các loại trên thị trường trong nước vẫn đang ở mức cao và vẫn đang có xu hướng tăng. Giá vàng bình quân trong tháng 6 có sự hạ nhiệt hơn so với tháng trước nhưng vẫn đang ở mức giá 7.487 nghìn đồng/chỉ 9999, giảm 1,07% so với tháng trước, tăng 33,45% so với cùng tháng năm trước. Giá đô la Mỹ bình quân 2.547.491 đồng/100 USD, giảm 0,68% so với tháng trước và tăng 8,47% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 2,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,39%, nông thôn tăng 2,88%. Phân theo nhóm ngành hàng, ngoài 2 nhóm ngành hàng có chỉ số giá giảm là Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,3% và Bưu chính viễn thông giảm 1,76% thì các nhóm hàng khác đều có mức tăng cao, cụ thể: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,70%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,09%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,77%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,47%; giao thông tăng 1,79%; giáo dục tăng 2,56%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,83%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,47% so với cùng kỳ năm trước. Nếu xét riêng từng quý thì giá các mặt hàng trong quý II tăng cao hơn trong quý I. Chỉ số giá bình quân quý II tăng 0,67% so với quý trước và tăng đến 3,15% so với cùng quý năm trước. Đáng lưu ý các nhóm hàng tăng mạnh trong quý II ảnh hưởng trược tiếp tới mức giá bình quân 6 tháng như Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,83% (trong đó: lương thực tăng 15,87%; thực phẩm tăng 5,15%; ăn uống ngoài gia đình tăng 8,34%); Đồ uống và thuốc lá tăng 5,94%; Thuóc và dịch vụ y tế tăng 7,49%... Nguyên nhân do giá gạo đang ở mức cao và tăng do ảnh hưởng bởi giá gạo trên thị trường thế giới tăng trở lại, giá các loại thịt gia súc, gia cầm ở mức cao do nguồn cung trên thị trường khan hiếm, trong khi đó, nhập khẩu thịt lợn trong những tháng vừa qua đã giảm do tình hình dịch bệnh trên đàn lợn, các loại rau quả cũng ở mức giá cao do năm nay sản lượng thấp, nguồn cung hạn chế. Quý II cũng là mùa nắng nóng khiến nhu cầu tiêu thụ cũng như giá các mặt hàng nước giải khát tăng mạnh, giá dịch vụ y tế được điều chỉnh tăng theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT của Bộ Y tế từ ngày 17/11/2023 nên mức giá tăng cao so với cùng kỳ. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ đầu năm đến nay các mặt hàng, dịch vụ có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện nước. Yếu tố mùa vụ, dịch bệnh trên đàn gia súc, thời tiết cũng như các chính sách điều hành của Nhà nước về giá cả dịch vụ, nhiên liệu là những yếu cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ trong thời gian qua. Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 7/2024 dự kiến tiếp tục tăng. Giá các mặt hàng và dịch vụ liên quan đến hoạt động lưu trú, lữ hành, ăn uống ngoài gia đình tiếp tục tăng do tính chất thời vụ mùa du lịch biển. Giá điện và nước sinh hoạt có thể tăng mạnh trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài. Một số mặt hàng khác dự kiến có thể tiếp tục tăng giá gồm hàng điện lạnh, xăng dầu các loại. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Lao động, việc làm 1.1. Tình hình chung Những tháng đầu năm 2024, nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hà Tĩnh cao, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lớn với mức lương, thưởng, chế độ phúc lợi hấp dẫn, song các doanh nghiệp vẫn gặp khó trong tuyển dụng lao động. Thời gian tới cần tập trung tăng cường tổ chức các phiên, sàn giao dịch việc làm trực tiếp, trực tuyến kết nối cung-cầu lao động; gửi thông tin nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp đến các địa phương để thông tin rộng rãi tới người dân. Đồng thời, tiếp tục khảo sát, thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu của người lao động có nhu cầu việc làm để kết nối với doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng lao động; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong tuyển dụng lao động phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của đơn vị. Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh, từ đầu năm 2024 đến nay, nhu cầu tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực may mặc trên địa bàn tỉnh khá lớn. Chỉ riêng trong tháng 6/2024, có 7 doanh nghiệp lĩnh vực may mặc đăng ký nhu cầu tuyển dụng hơn 3.600 lao động phổ thông trong tỉnh. Tuy nhiên, dù đã đưa ra mức lương và các chế độ đãi ngộ hấp dẫn, song nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó trong tuyển dụng lao động, số lượng lao động đến nộp hồ sơ, đăng ký tuyển dụng vẫn còn ít dẫn đến tình hình lao động việc làm tại Hà Tĩnh quý II/2024 có chiều hướng giảm so với quý trước. Số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý II năm 2024 là 6.089 người, tăng 18,72% so với quý trước và 16,31% so cùng kỳ năm 2023; tăng chủ yếu do xuất khẩu lao động (tăng 150,8% so với quý trước và 226,51% so với cùng kỳ năm trước). Tính chung 6 tháng năm 2024, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 11.218 người, giảm 12,11% so cùng kỳ năm 2023, chủ yếu giảm ở lĩnh vực giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh (giảm 34,49%) và đi làm việc ngoại tỉnh (giảm 11,84%). Tất cả điều đó chứng tỏ tình hình về lao động, việc làm quý II/2024 ở Hà Tĩnh có xu hướng giảm so với quý trước. 1.2. Lực lượng lao động Theo kết quả điều tra lao động việc làm, ước tính quý II năm 2024 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh là 503.482 người, giảm 0,24% so với quý trước và tăng 1,91% so với cùng kỳ năm 2023. Trong tổng số, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên là nam giới chiếm tỷ trọng 50,69%, cao hơn 1,38 điểm phần trăm so với nữ giới (chiếm 49,31%); khu vực thành thị chỉ chiếm 25,96%, chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn chiếm đến 74,04%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số từ 15 tuổi trở lên trong quý II năm 2024 là 52,74%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý I/2024 và tăng 0,85 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng có sự chênh lệch giữa nam và nữ (lần lượt là 54,27% và 51,26%); tỷ lệ này cũng không đồng đều giữa các vùng, ở thành thị là 61,37%, cao hơn nông thôn là 11,11 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng năm 2024, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước tính là 504.807 người, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2023; trong đó lực lượng lao động nam là 255.654 người, chiếm 50,72% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị là 130.960 người, chiếm 25,98%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng năm 2024 là 52,8%, giảm 0,35 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2023. So sánh giữa thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ cho thấy cũng có sự chênh lệch đáng kể: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn 3,07 điểm phần trăm so với nữ; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị cao hơn 11,17 điểm phần trăm so với nông thôn. 1.3. Lao động có việc làm Theo kết điều tra lao động việc làm, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2024 là 494.035 người, chiếm 98,12% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; giảm 0,39% so với quý trước và tăng 2,89% so với cùng kỳ năm 2023. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 129.585 người, chiếm 26,23% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 246.540 người, chiếm 49,9%. So sánh với cùng kỳ năm trước ta thấy, số lao động có việc làm ở thành thị, nông thôn, nam và nữ đều có xu hướng giảm, nhưng với mức giảm khác nhau: số lao động có việc làm ở nông thôn giảm 0,31%, còn ở thành thị giảm 0,62%; ở nam giới giảm 0,33%, thấp hơn nữ giới 0,12 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng năm 2024, lao động có việc làm đạt 495.005 người, chiếm 98,2% tổng số lực lượng lao động và tăng 1,74% so với cùng kỳ năm 2023. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 129.991 người, chiếm 26,26%; ở nam giới là 246.954 người, chiếm 49,89%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động chuyển dần theo chiều hướng tích cực: Quý II/2024, lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng là 29,25% (tương ứng 144.497 người), giảm 0,21 điểm phần trăm so với quý trước; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,48% (tương ứng 145.646 người), tăng 0,3 điểm phần trăm; dịch vụ chiếm 41,27% (tương ứng 203.892 người), giảm 0,09 điểm phần trăm. Lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản 6 tháng năm 2024 chiếm tỷ trọng 29,36% (tương ứng 145.314 người), giảm cả về số lượng và tỷ trọng so với cùng kỳ năm trước (lần lượt giảm 0,5% và 0,65 điểm phần trăm); công nghiệp-xây dựng chiếm 29,33% (tương ứng 145.180 người), tăng cả số lượng và tỷ trọng (lần lượt tăng 2,71% và 0,28 điểm phần trăm); dịch vụ chiếm 41,31% (tương ứng 204.511 người), cũng tăng cả số lượng (tăng 2,68%) và tỷ trọng (tăng 0,37 điểm phần trăm). 1.4. Tỷ lệ thiếu việc làm Ước tính quý II/2024 tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh là 2,47%, tăng 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 2,44%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. 1.5. Tình hình thất nghiệp Theo kết quả điều tra lao động việc làm, quý II/2024 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 9.447 người, chiếm 1,88% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, tăng 0,15 điểm phần trăm so quý trước và giảm 0,93 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 87,95% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 8.309 người) và chủ yếu là nam giới (8.683 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý II/2024 ước tính là 5,28%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng năm 2024, số người không có việc làm (thất nghiệp) ước tính là 9.082 người, chiếm 1,8% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 2,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 89,33% (tương đương 8.113 người) và ở nam giới (8.700 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp 6 tháng năm 2024 ước tính là 5,29%, giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý II/2024 là 1.705 người; tính đến tháng 6 năm 2024 là 3.117 người. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư quý II và 6 tháng năm 2024 nhìn chung ổn định, có phần khởi sắc hơn. Một trong những yếu tố được quan tâm nhất hiện nay là cải cách tiền lương của Chính phủ kể từ ngày 1/7/2024, hứa hẹn sự cải thiện về thu nhập và đời sống đối với các cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Chính sách tiền lương chưa được ban hành nhưng giá cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống đã tăng phần nào đã làm ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống của người dân. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. 2.1. Công tác đảm bảo an sinh xã hội Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo, cụ thể: - Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Sáu tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh chi trả trợ cấp hàng và hỗ trợ đột xuất cho đối tượng người có công với tổng số tiền là 601,44 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán đã trao tặng 102.402 suất quà trị giá 30,549 tỷ đồng; Hỗ trợ chi phí học đại học cho 29 bạn là con của người có công với số tiền là 199,05 triệu đồng.- Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Sáu tháng đầu năm 2024, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP với tổng số tiền là 246,66 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán đã trao tặng khoảng 80.791 suất quà, trị giá 31,796 tỷ đồng; tài trợ 224,9 triệu đồng để thực hiện tháng hành động vì trẻ em và tổ chức ngày quốc tế Thiếu nhi.- Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Sáu tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác với tổng số tiền là 50,62 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán trao tặng khoảng 79.740 suất quà, trị giá 43,654 tỷ đồng và 6 tháng đầu năm tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 3,957 tỷ đồng tiền điện cho 11.572 hộ nghèo (57 nghìn đồng/hộ/tháng); hỗ trợ 23 mô hình sinh kế giảm nghèo (bò sinh kế), trị giá 270 triệu đồng. - Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương: nêu rõ số lượng thẻ tương ứng với từng nhóm đối tượng thụ hưởng: Sáu tháng đầu năm 2024, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 404.277 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 13.808 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 28.409 thẻ cho hộ cận nghèo; 144.064 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 43.517 thẻ cho người có công và 174.479 thẻ cho các đối tượng khác.- Tình hình hỗ trợ gạo tại địa phương: Sáu tháng đầu năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 189 triệu đồng mua 10,52 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt thuộc huyện Hương Khê và các hộ nghèo, hộ cận nghèo huyện Cẩm Xuyên.- Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương: Sáu tháng đầu năm 2024, chính quyền địa phương cùng các mạnh thường quân đã chung tay hỗ trợ 267,4 triệu đồng cho một số cá nhân, cụ thể: 1 công ty tư nhân và các mạnh thường quân đã hỗ trợ 250 triệu đồng cho 3 nạn nhân tử vong do lán trại bị đất đá vùi lấp do sạt lở tại Thị xã Kỳ Anh; hỗ trợ 5 triệu cho 1 gia đình cháy xưởng gỗ và tổ chức nấu 620 suất cháo miễn phí cho các bệnh nhân tại trung tâm y tế với số tiền là 12,4 triệu đồng tại huyện Can Lộc.3. Giáo dục đào tạo.Ngày 28/5/2024, Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số 1503/QĐ-BGDĐT về việc công nhận tỉnh Hà Tĩnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Cũng trong thời gian này, vào ngày 6-7/6, gần 19.000 thí sinh tại 36 điểm thi, đã hoàn thành Kỳ thi vào lớp 10 THPT và THPT chuyên ở Hà Tĩnh. Ngoài ra, Hà Tĩnh cũng đã chuẩn bị tốt cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024, kỳ thi này có 17.083 thí sinh đăng kí dự thi; trong đó, có 16.511 thí sinh đang học lớp 12 và 572 thí sinh tự do; kỳ thi sẽ diễn ra từ ngày 27-28/6.4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm. Trong tháng xuất hiện nhiều đợt nắng nóng gay gắt trên diện rộng đầu tiên trong năm đã ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân, đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ. Đây cũng là điều kiện để các loại vi khuẩn, nấm mốc, nên cơ quan chức năng khuyến cáo người dân dân nên có kế hoạch sinh hoạt, làm việc hợp lý; áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe để đề phòng sốc nhiệt. Chủ động lựa chọn, sử dụng, bảo quản thực phẩm đúng cách, tránh nguy cơ gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và trách nhiệm của người nhiễm HIVAIDS với gia đình, xã hội; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.Quý II/2024, toàn tỉnh phát hiện 12 người nhiễm mới HIV, 10 người chuyển thành AIDS và có 1 người chết vì AIDS; so với quý trước: số ca nhiểm mới không thay đổi, tăng 2 người chuyển thành AIDS, giảm 2 người chết vì AIDS; so với cùng kỳ năm trước: giảm 4 người nhiễm mới HIV, giảm 3 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.Tính chung quý 6 tháng năm 2024, có 24 người nhiễm mới HIV, 18 người chuyển thành AIDS và 4 người chết vì AIDS; giảm 8 người nhiễm mới HIV, giảm 7 người chuyển thành AIDS và tăng 1 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch bệnh khác: Quý II/2024, trên địa bàn không xẩy ra dịch nhưng có phát sinh một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca sốt xuất huyết, 4 ca sốt rét, 5 ca quai bị, 8 ca lỵ trực trùng, 16 ca mắc lỵ a míp, 129 ca thủy đậu, 3.907 ca mắc bệnh cúm, 9 ca tay chân miệng, 415 ca tiêu chảy, 8 ca viêm gan vi rút khác; không có người chết do các bệnh trên.Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn mắc một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 7 ca sốt xuất huyết (giảm 19 ca so với cùng kỳ năm trước), 8 ca sốt rét (tăng 5 ca), 53 ca quai bị (giảm 48 ca), 15 ca lỵ trực trùng (giảm 151 ca), 48 ca lỵ a míp (giảm 109 ca), 234 ca thủy đậu (tăng 84 ca), 9 ca tay chân miệng (giảm 115 ca), 8.316 ca bệnh cúm (tăng 1.064 ca), 803 ca tiêu chảy (giảm 536 ca), 23 ca viêm gan vi rút khác (giảm 24 ca); không có người chết do các bệnh trên.Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), địa phương đã triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm ATVSTP cho người tiêu dùng. Quý II/2024, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 248 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; so với quý trước trước: tăng 78 ca ngộc độc đơn lẻ, số vụ ngộ độc và số người chết không thay đổi; so với cùng kỳ năm trước: tăng 7 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 2,9%), số người chết các ca đơn lẻ không thay đổi; giảm 1 vụ ngộc độc tập thể, người chết vì các vụ ngộ độc tập thể không thay đổi.Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 2 người bị ngộ độc và 418 người bị ngộ độc đơn lẻ (số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi nhưng giảm 5 người bị ngộ độc; Giảm 22 ca ngộ độc đơn lẻ và số người chết không thay đổi so với cùng kỳ năm trước);5. Hoạt động văn hóa - thể thao Hoạt động văn hóa: Tiếp tục chỉ đạo các địa phương trên toàn tỉnh triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước.Về thể dục thể thao: 6 tháng năm 2024, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 23 giải thi đấu thành tích cao và giành được 97 huy chương các loại (46 HCV - 21 HCB - 30 HVĐ)6. Tai nạn giao thôngNhằm đảm bảo an toàn giao thông, ngăn ngừa các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông, Công an các huyện, thành phố, thị xã và các đơn vị liên quan tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vi phạm về trật tự ATGT. Đồng thời xem xét trách nhiệm liên đới của chủ phương tiện, doanh nghiệp vận tải khi để xảy ra sai phạm.Quý II/2024 (từ 15/4/2024 - 14/6/2024), trên địa bàn tỉnh xảy ra 112 vụ tai nạn đường bộ, làm 57 người chết, 65 người bị thương (giảm 6 vụ, tăng 4 người chết, giảm 29 người bị thương so với quý trước; Công an tỉnh điều chỉnh tăng 1 vụ, tăng 4 người chết và giảm 3 người bị thương ở quý trước). Trong quý II không xảy ra vụ tai nạn đường sắt nào (giảm 3 vụ, giảm 1 người chết, giảm 1 người bị thương so với quý trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoản 765 triệu đồng.Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 230 vụ tai nạn đường bộ, làm 110 người chết, 159 người bị thương (tăng 66 vụ, tăng 16 người chết, tăng 60 người bị thương so với cùng kỳ năm trước); 3 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 1 người, 1 người bị thương (tăng 3 vụ, tăng 1 người chết, tăng 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoản 1.505 triệu đồng.7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổTình hình cháy: Trong quý II/2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 19 vụ cháy, không làm thiệt hại về người. Giá trị thiệt hại ước tính 196,2 triệu đồng (tăng 2 vụ, không làm thiệt hài về người như với quý trước). Tính chung 6 tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 36 vụ cháy, giá trị thiệt hại ước tính 410,2 triệu đồng (giảm 14 vụ, không làm thiệt hại về người như cùng kỳ năm trước). 6 tháng năm 2024 trên địa bàn không xảy ra vụ nổ nào.Tình hình nổ: Quý II và 6 tháng năm 2024 không xẩy ra tình hình nổ (so cùng kỳ không thay đổi).Công tác bảo vệ môi trường: Trong thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo các địa phương đấy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân trong việc phát triển kinh tế phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, nên người dân ngày càng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, do đó tình hình vi phạm môi trường chiều hướng giảm so với cùng kỳ năm trước.Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 18 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 12 vụ, với tổng số tiền xử phạt 21,55 triệu đồng; tăng 11 vụ phát hiện (tăng 157,14%), tăng 3 vụ đã xử lý (tăng 33,33%), giảm 340,40 triệu đồng (giảm 94,05%) số tiền xử phạt so với tháng trước; và giảm 10 vụ phát hiện (giảm 35,71 %), giảm 9 vụ đã xử lý (giảm 42,86%), giảm 26,50 triệu đồng (giảm 55,15%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng năm 2024, phát hiện 188 vụ vi phạm môi trường, giảm 126 vụ (giảm 40,13%); đã xử phạt 170 vụ, giảm 221 vụ (giảm 56,52%); tổng số tiền xử phạt là 645,41 triệu đồng, giảm 564,30 triệu đồng (giảm 46,65%) so với cùng kỳ năm trước. Vụ vi phạm môi trường điển hình đã xử lý trong 6 tháng đầu năm 2024: ngày 25/04/2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra ra quyết định xử phạt Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng TTP có địa chỉ tại xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về hành vi khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp với số tiền 350 triệu đồng.8. Thiệt hại thiên taiTrong quý II/2024 không xảy ra thiên tai, không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay không xảy ra thiên tai và không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024
  •   27/07/2024 21:31

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2024 trong bối cảnh tình hình kinh tế toàn cầu và trong nước tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức, nhiều mặt hàng đang phải đối mặt với việc tìm kiếm thị trường mới, một số sản phẩm sản lượng thấp do nhà máy sửa chữa, thay mới dây chuyền. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh trong thời gian qua. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế tỉnh nhà nói chung. Mặc dù nền kinh tế của tỉnh nhà gặp khó khăn, song với sự tập trung cao của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, Doanh nghiệp. Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả khá tích cực; nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm đạt kết quả ấn tượng, hoạt động bán lẻ hàng hóa ghi nhận sự khởi sắc, doanh số bán hàng của những đơn vị tăng trưởng tốt, dịch vụ Hà Tĩnh đang đi những bước vững chắc; các đơn vị sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại đã làm tăng nhu cầu vận chuyển trên địa bàn tỉnh; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.  I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 5 năm 2024, toàn tỉnh tập trung thu hoạch lúa vụ Đông Xuân năm 2023- 2024 để tránh mưa, dông lốc xẩy ra gây ngập úng hư hại đồng thời chỉ đạo bà con nông dân chuẩn bị làm đất để gieo trồng lúa vụ Hè Thu đúng thời vụ, với phương châm “thu hoạch đến đâu sản xuất đến đó” tính đến thời điểm 24/5/2024 diện tích thu hoạch đạt hơn 99,5% tổng diện tích. Hoạt động chăn nuôi trong tháng vẫn duy trì ở mức ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động lâm nghiệp và thủy sản cũng đảm bảo sự ổn định khi sản lượng nuôi trồng và khai thác vẫn tăng đều so với cùng kỳ. 1.1 Sản xuất nông nghiệp          *Trồng trọt  Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2023-2024: Toàn tỉnh gieo trồng các loại cây hàng năm ước tính đạt 97.389 ha, bằng 98,48% (giảm 1.503 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 422.107 tấn, so với thực hiện cùng kỳ năm trước bằng 102,62% (tăng 10.765 tấn). Nhìn chung, kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm nay đạt kết quả thắng lợi, nhất là đối với cây lúa, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra. Kết quả cụ thể một số cây trồng chủ lực như sau: Cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước tính đạt 59.317 ha, bằng 99,85% (giảm 90 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng lúa vụ Đông Xuân 2023-2024 ước tính đạt 61,17 tạ/ha, bằng 102,65% (tăng 1,58 tạ/ha), với sản lượng lúa ước tính đạt 362.859 tấn, bằng 102,5% (tăng 8.837 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích gieo trồng lúa giảm do thu hồi để thực hiện các dự án của tỉnh nhưng năng suất và sản lượng lúa được đánh giá đạt cao và khá đồng đều ở tất cả các địa phương trong tỉnh. Về cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân năm 2023-2024 chủ yếu thực hiện gieo cấy nhóm giống chủ lực, nhóm giống có tiềm năng năng suất, chất lượng và triển vọng cao, thời gian sinh trưởng từ 120-135 ngày. Một số giống lúa chất lượng gạo ngon như giống BT09, BQ, Thiên ưu 8, ADI, Bắc Hương 9 đã được một số huyện đưa vào cơ cấu giống chủ lực cho người dân gieo cấy. Cây ngô: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 11.980 ha, bằng 100,38% (tăng 46 ha) so với cùng kỳ năm trước với năng suất gieo trồng đạt 49,46 tạ/ha, bằng 102,97% (tăng 1,43 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ngô ước tính đạt 59.249 tấn, bằng 103,36% (tăng 1.927 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do năm nay giữa vụ thời tiết tốt cây ngô phát triển, bắp to, hạt đều, ít bị sâu bệnh, giá bán ra ổn định nên người dân có đầu tư nhiều hơn. Cây khoai lang: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 2.776 ha, bằng 98,12% (giảm 53 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng ước tính đạt 77,0 tạ/ha, bằng 99% (giảm 0,77 tạ/ha), với sản lượng ước tính đạt 21.374 tấn, bằng 97,14% (giảm 628 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu là do một số xã chuyển từ trồng khoai không hiệu quả sang trồng ngô, ngoài ra do đầu vụ thời tiết mưa nhiều đã gây khó khăn cho việc xuống giống nên giảm năng suất cũng như sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Cây lạc: Diện tích gieo trồng ước tính đạt 6.611 ha, bằng 87,13% (giảm 977 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích lạc giảm là do một số xã đã chủ động được nước tưới nên chuyển diện tích trồng lạc sang trồng các loại cây cho kinh tế cao hơn. Năng suất gieo trồng lạc ước tính đạt 27,23 tạ/ha, bằng 95,63% (giảm 1,24 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước với sản lượng lạc ước tính đạt 17.999 tấn, bằng 83,32% (giảm 3.603 tấn). Rau các loại: Diện tích ước tính đạt 10.861 ha, bằng 97,92% (giảm 231 ha) so với cùng kỳ năm trước. Năng suất gieo trồng ước tính đạt 71,36 tạ/ha, bằng 102,53% (tăng 1,76 tạ/ha), với sản lượng ước tính đạt 77.506 tấn, bằng 100,39% (tăng 305 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do đầu vụ Đông thời tiết có nhiều ngày nắng nên người dân khó xuống giống gieo trồng, đến giữa mùa vụ mưa rét kéo dài đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của cây rau. Tình hình sâu bệnh:Trên cây lúa xuất hiện bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm, diện tích nhiễm 3.385 ha, trong đó có 135 ha nhiễm nặng, phân bố hầu hết các địa phương. Còn lại các bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, đạo ôn cổ bông, đạo ôn lá.. xuất hiện cục bộ ở một số địa phương và đã được phòng ngừa nên diện tích ảnh hưởng không quá lớn đến sản lượng chung toàn tỉnh; Trên cây ngô có nạn Sâu keo mùa thu, bệnh khô vằn, bên cạnh đó hiện tượng cháy lá ngô, xuất hiện trên trà ngô Đông muộn - Xuân sớm; cây lạc xuất hiện bệnh lở cổ rễ, chết ẻo cây con; cây rau có Sâu ăn lá, rệp muội, bệnh sương mai, giả sương mai...tuy nhiên diện tích gây hại các loại bệnh không lớn; Trên cây ăn quả có múi chịu nạn sâu vẽ bùa, sâu nhớt, diện tích nhiễm 75 ha, sâu non bướm phượng 25 ha, nhện nhỏ, Rệp muội gây hại với diện tích nhiễm 55 ha phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… *Chăn nuôi Hiện nay trong điều kiện biến đổi khí hậu, thời tiết thay đổi thất thường, dịch bệnh trên gia súc gia cầm vẫn còn xuất hiện rải rác nên hoạt động chăn nuôi vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các tháng gần đây giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng trở lại trong khi giá thức ăn chăn nuôi đã hạ nhiệt nên người chăn nuôi vẫn có lãi. Mặc dù vậy, người chăn nuôi vẫn đang rất thận trọng khi tăng đàn, tái đàn vì nguy cơ rủi ro về dịch bệnh rất khó lường, giá cả trên thị trường vẫn còn bấp bênh, khó dự đoán. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm do chăn nuôi không hiệu quả, đàn lợn cũng phát triển cầm chừng vì nguy có dịch bệnh luôn rình rập nên người dân có xu thế phát triển chăn nuôi gia cầm nhất là đàn gà.. Kết quả sản xuất chăn nuôi trong tháng 5 so với cùng kỳ cụ thể như sau: Đàn trâu hiện có 66.750 con, bằng 99,64% (giảm 240 con); đàn bò hiện có 164.010 con, bằng 98,15% (giảm 3.090 con); đàn lợn hiện có 399.180 con, bằng 101,7% (tăng 6.680 con); đàn gia cầm hiện có 9.870 nghìn con, bằng 103,03% (tăng 290 nghìn con), trong đó đàn gà hiện có 8.334 nghìn con, bằng 104,44% (tăng 354 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay đang xảy ra dịch Viêm da nổi cục trên đàn trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể: Viêm da nổi cục xảy ra tại xã Cẩm Quan huyện Cẩm Xuyên làm 09 con gia súc bị mắc bệnh. Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 05 xã thuộc 02 huyện (Đức Thọ, Cẩm Xuyên) làm 43 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu huỷ, trọng lượng 3.598 kg. Công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm đợt I năm 2024 tính đến 15/5/2024: Trên đàn Trâu bò: vắc xin Lở mồm long móng tiêm được 92.969 con (đạt 85,4% KH), vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 84.768 con (đạt 77,8% KH), vắc xin Viêm da nổi cục tiêm được 64.614 con (đạt 69,6% KH); Trên đàn lợn: vắc xin Tụ huyết trùng tiêm được 165.509 con (đạt 76,3% KH) và vắc xin Dịch tả lợn tiêm được 168.425 con (đạt 77,6% KH); Trên đàn gia cầm vắc xin Cúm gia cầm tiêm được 1.033.102 con (đạt 44,9% KH) 1.2 Lâm nghiệp Đầu tháng 5 năm 2024 tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài nên hoạt động trồng rừng đạt thấp so với mức bình quân chung các tháng nhưng nhìn chung 5 tháng đầu năm hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua đạt mức tăng trưởng khá khi diện tích rừng trồng mới và sản lượng gỗ khai thác tăng mạnh. Kết quả sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở các địa phương như: huyện Hương Sơn, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh, Hương Khê, Cẩm Xuyên. Kết quả sản xuất: Diện tích rừng trồng mới tháng 5/2024 ước đạt 470 ha, bằng 104,68%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 45.692 m3, bằng 113,58% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.780 ha, bằng 122,36%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 153.573 m3, bằng 116,21% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung sản lượng gỗ tăng mạnh tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu của các đơn vị xuất khẩu dăm gỗ, hiện nay các đơn vị còn phải thu mua nguyên liệu ở các tỉnh lân cận. Sản lượng củi tháng 5 năm 2024 ước đạt 28.086 ste, bằng 96,65% (giảm 974 ste), tính chung 5 tháng ước đạt 100.192 ste, bằng 96,22% (giảm 3.941 ste) nhu cầu về tiêu dùng củi giảm mạnh do người dân sử dụng bếp gas, bếp điện nên việc khai thác củi có phần hạn chế. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 5 ước đạt 75 nghìn cây, bằng 94,94%, tính chung 5 tháng đầu năm 2024, số cây trồng phân tán ước đạt 1.539 nghìn cây, bằng 101,45% so với cùng kỳ. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 5 không có vụ cháy rừng nhưng xẩy ra 6 vụ phá rừng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/5/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra cháy rừng nhưng đã xảy ra 17 vụ phá rừng (giảm 26 vụ), với diện tích rừng bị phá là 3,18 ha (giảm 8,95 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Hoạt động sản xuất thủy sản tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024 đã có những tín hiệu tích cực khi tổng sản lượng tăng so với cùng kỳ do điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng và đánh bắt, dịch bệnh ít xẩy ra, mặt khác chi phí về nhiên liệu có phần hạ nhiệt và hoạt động du lịch sôi động trở lại khi bước vào mùa hè, nhu cầu tiêu dùng tăng cao cộng với giá cả ổn định, một số mặt hàng hải sản có phần tăng hơn so nên khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Kết quả hoạt động thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản tháng 5 ước đạt 5.077 tấn, bằng 102,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.816 tấn, bằng 102,22%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.262 tấn, bằng 104,36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 22.648 tấn, bằng 102,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 17.411 tấn, bằng 102,45%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 5.238 tấn, bằng 104,21% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 5 điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, nguồn thủy hải sản dồi dào cộng với việc hiện nay, các hoạt động dịch vụ du lịch, ăn uống trên địa bàn đang ngày càng phát triển, nhất là ở các khu du lịch biển nên nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao, với giá cả tương đối ổn định nên người dân tích cực ra khơi bám biển. Hiện nay đã bước vào chính vụ nuôi tôm, các địa phương đã và đang triển khai công tác chuẩn bị, cải tạo ao và thả giống cho vụ nuôi năm 2024. Dự báo từ tháng 5 đến cuối năm 2024 thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi, để chủ động ổn định sản xuất, tận dụng các cơ hội thị trường đảm bảo kế hoạch tăng trưởng năm 2024 trong bối cảnh diễn biến thời tiết khí hậu cực đoan đồng thời phát sinh bệnh mới (TPD) và một số bệnh nguy hiểm trên tôm diễn biến phức tạp các địa phương đang tập trung triển khai thực hiện tốt Đề án Nuôi trồng thủy sản, khung lịch thời vụ năm 2024, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm về nuôi trồng thuỷ sản theo đúng quy định của pháp luật. Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy trình nuôi đảm bảo kỹ thuật, chủ động phòng ngừa dịch bệnh. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Từ đầu năm đến ngày 15/5/2024 một số hộ nuôi ốc hương bị chết hàng loạt gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng, nguyên nhân được xác định không phải do dịch mà do tổng hòa của nhiều yếu tố như: nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn, môi trường ao nuôi chưa được xử lý đúng quy định, mật độ thả giống cao hơn nhiều so với khuyến cáo... Cùng với đó, tình hình thời tiết khá thất thường khiến sức đề kháng của ốc hương bị giảm sút. Dịch bệnh đốm trắng xẩy ra tại một hộ nuôi tôm giống ở huyện Lộc Hà diện tích nhiễm 0,9 ha, trên 30 vạn tôm giống nuôi 155 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều dấu hiệu tích cực, khi có 3/4 nhóm ngành công nghiệp cấp 1 đều ghi nhận mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm 2023. Tuy nhiên, nửa đầu tháng 4 năm 2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh khi mà xưởng cán nóng đại tu sửa, dây chuyển sản xuất thép dừng sản xuất, do đó sản lượng thép sản xuất giảm mạnh so cùng kỳ. Vì vậy, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tính 5 tháng đầu năm 2024 giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) - Ước tính tháng 5/2024: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 46,95% so với tháng trước và tăng 4,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 19,38% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 63,46% so với tháng trước và giảm 1,26% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 110,06% so với tháng trước và tăng 36,24% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước tăng 9,87% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 10,78%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2024 tăng mạnh so với tháng trước chủ yếu do chịu tác động từ ngành sản xuất kim loại (tăng 91,07% so với tháng trước). Đại tu sửa xưởng cán nóng đã hoàn tất trong tháng, dây chuyền cán thép đã hoạt động trở lại, do đó sản lượng thép tháng 5/2024 dự ước tăng hơn 230.000 tấn thép thành phẩm. Bên cạnh đó, Công ty điện lực dầu khí Hà Tĩnh chạy tối đa công suất với 2 tổ máy, dự ước sản lượng điện trong tháng 5 đạt 713 triệu Kwh, tăng 78,76% so với cùng kỳ. Dự ước tháng 5, sản lượng quặng do Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh khai thác tăng 40,69% so với tháng 5/2023. Đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,77% so với cùng kỳ năm trước. - Tính chung 5 tháng đầu năm 2024: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,69% đóng góp 0,28 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,03% làm giảm 7,41 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 37,29% đóng góp 4,73 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,56% đóng góp 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Nhìn chung, do chịu tác động từ sụt giảm sản lượng thép do yếu tố thị trường cũng như đại tu sữa chữa dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy, Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 5 tháng đầu năm 2024 đã không đạt được như kỳ vọng. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 13 nhóm sản phẩm cộng dồn 5 tháng đầu năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 6 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. - Một số sản phẩm công nghiệp 5 tháng đầu năm 2024 tăng so với năm trước bao gồm: Vỏ bào, dăm gỗ tăng 80,74%; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 89,71%; bia đóng lon tăng 38,87%; điện sản xuất tăng 39,24%; nước không uống được tăng 17,91%; ... - Một số sản phẩm công nghiệp 5 tháng đầu năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Mực đông lạnh giảm 90,15%, nguyên nhân do khách hàng Nhật bản ngừng đơn hàng, hiện tại doanh nghiệp chưa tìm kiếm được khách hàng mới, thị trường trong nước cũng hạn hẹp; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 10,91%, nguyên nhân do 2 tháng đầu năm chè chưa vào vụ thu hoạch, chưa có nguyên liệu sản xuất; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 45,68%. Một số doanh nghiệp đang tạm ngừng để đầu tư lại máy móc, đồng thời nhu cầu tiêu thụ sản phẩm này đang bị thu hẹp, thay tế bằng sản phẩm khác, nên chủ yếu là bán khối lượng tồn kho, sản lượng sản xuất gạch 5 tháng đầu năm giảm mạnh; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 14,77% 2.3. Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2024 giảm 1,58% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giảm 4,89%. Cộng dồn đến cuối tháng 5 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 9,83% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động 5 tháng đầu năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 4,38% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp khai khoáng mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,04% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,02%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 7,15% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 5 tháng đầu năm 2024 đạt thấp (ước giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, bằng 30,6% so với kế hoạch năm). Xác định việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT-XH, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương vào cuộc triển khai quyết liệt, linh hoạt tháo gỡ vướng mắc nhằm đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Phấn đấu đạt kết quả cao nhất trong việc triển khai, giả ngân vốn đầu tư công năm 2024. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2024 ước đạt 368,33 tỷ đồng, tăng 5,47% so với tháng trước, giảm 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 216,4 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và giảm 30,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 115,14 tỷ đồng, tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 74,27% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 36,78 tỷ đồng, tăng 6,82% so với tháng trước và giảm 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.446,3 tỷ đồng, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 928,95 tỷ đồng, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 397,51 tỷ đồng, tăng 33,14% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 119,84 tỷ đồng, tăng 7,85% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2024 giảm 23,72% so với năm trước. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công 5 tháng đầu năm còn chậm so với kế hoạch giao, vốn ngân sách cấp tỉnh quản lý giải ngân đạt 31,54% kế hoạch vốn đã phân bổ, trong đó nguồn vốn ODA giải ngân đạt 7,76% kế hoạch vốn giao. Các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp. Mặc dù trải qua gần nửa chặng đường năm 2024 tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ mới đạt 30,6% kế hoạch năm. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024, hoạt động bán lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn và tăng trưởng khá ổn định. Các hoạt động kích cầu du lịch diễn ra khá sôi động đã thu hút được lượng khách lớn đổ về trên địa bàn giúp cho ngành dịch vụ ăn uống, lữ hành, lưu trú có thêm điều kiện để phục hồi, phát triển. Các sự kiện chào mừng ngày lễ và hoạt động chào mừng lễ khai trương du lịch biển tại Nghi Xuân, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, huyện Kỳ Anh … đã lan tỏa mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của du khách bốn phương, đã thu hút hàng ngàn lượt khách, hầu hết các phòng nghỉ của các khách sạn và nhà nghỉ đã được khách du lịch đặt chỗ hết từ trước đó. Dịch vụ khác trong tháng bắt đầu có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 5/2024 ước đạt 5.757,94 tỷ đồng, tăng 1,97% so với tháng trước, tăng 19,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó chỉ có 2 nhóm hàng là may mặc và xăng dầu là giảm so với tháng trước, còn lại các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, sau chuyển mùa tháng 4, hàng may mặc đã ổn định và nhu cầu tiêu dùng đã chững lại trong những tháng tiếp theo; tháng 5 đang trong thời gian cao điểm mùa du lịch biển thực phẩm hải sản, đồ uống, hàng lưu niệm các loại tăng mạnh, đồng thời cũng là thời điểm cuối năm học và mùa thi cử của các sĩ tử vì vậy tác động đến các nhóm mặt hàng giáo dục, nhiều cửa hàng đã bắt đầu bán bộ sách giáo khoa phục vụ cho năm học mới, đặc biệt có chương trình giáo dục phổ thông mới, sách giáo khoa lớp 5,9,12 được thay đổi hoàn toàn; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại giảm so với tháng trước; Thứ ba, trong tháng tại các trung tâm thương mại, siêu thị trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá để kích cầu người tiêu dùng, đây là yếu tố quan trọng để ngành bán lẻ sôi động và tăng trưởng mạnh mẽ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa dự tính đạt 28.618,48 tỷ đồng, tăng 21,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 13.802,21 tỷ đồng, tăng 27,49%; hàng may mặc ước đạt 1.852,51 tỷ đồng, tăng 49,53%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 3.693,8 tỷ đồng, tăng 49,79%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 17,11%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.204,18 tỷ đồng, giảm 8,16%; phương tiện đi lại giảm 31,68%.... Có thể thấy vì là những nhóm hàng thiết yếu nên tốc độ tiêu dùng nội địa vẫn rất ổn định và tăng trưởng khá đều, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sẽ tiếp tục có xu hướng tăng cao, đặc biệt là các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng. Nhóm vật liệu xây dựng giảm so với cùng kỳ do giá cả vật liệu đã hạ nhiệt so với năm trước, chỉ có nhóm phương tiện đi lại vẫn đang gặp khó khăn từ năm trước đến nay do những khó khăn chung của nền kinh tế. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 693,74 tỷ đồng, tăng 4,33% so với tháng trước, tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 25,06 tỷ đồng, tăng 10,40% so với tháng trước, tăng 9,48% so với cùng kỳ năm trước. Lượng ngày bình quân mà khách du lịch ở qua đêm tại tỉnh nhà trong năm 2024 là 2,01 ngày, trong khi năm 2023 là 1,9 ngày. Cho thấy đầu tư dịch vụ, vui chơi, chăm sóc khách hàng cũng như phục vụ mua sắm tại nơi khách du lịch lưu trú đã được quan tâm; Dịch vụ ăn uống ước đạt 660,07 tỷ đồng, tăng 4,40% so với tháng trước, tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch dự tính đạt 8,6 tỷ đồng, giảm 13,66% so với tháng trước, tăng 71,10% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 5 vẫn là tháng du lịch tuy nhiên thời tiết khá thất thường vì vậy doanh thu du lịch có phần giảm hơn tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn tăng cao. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ ước đạt 3.268,65 tỷ đồng, tăng 14,72% so với cùng kỳ, trong đó: Lưu trú ước đạt 416,19 tỷ đồng, giảm 21,41%; lượt khách phục vụ 528 nghìn lượt, giảm 19,85% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ 586.918 ngày, tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 3.150,94 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 34,99 tỷ đồng, tăng 92,12% so với cùng kỳ năm trước. Đối với ngành lưu trú do các cơ sở tạm nghỉ để tu sửa chuẩn bị cho mùa du lịch nên doanh thu giảm hơn so với năm trước, nhưng tính chung cả nhóm ngành ăn uống và du lịch tăng khá cao. Để đạt được những kết quả đó, ngay từ đầu năm, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở VH-TT&DL đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, đồng hành cùng các khu, điểm du lịch và các địa phương tăng cường chuẩn bị cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, đội ngũ nhân lực. Đồng thời, phối hợp đẩy mạnh công tác xúc tiến nhằm thu hút du khách về với Hà Tĩnh thông qua việc quảng bá du lịch địa phương tại nhiều sự kiện du lịch khu vực và cả nước… Trong đó nổi bật là hội nghị xúc tiến du lịch Hà Tĩnh với sự tham gia của 22 tỉnh, thành phố phía Bắc dịp đầu tháng 4/2024 và lễ khai trương du lịch biển Hà Tĩnh năm 2024. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ tháng 5/2024 ước tính đạt 374,60 tỷ đồng, tăng 2,45% so với tháng trước và tăng 9,10% so với cùng kỳ năm trước, nhìn chung, các nhóm ngành đều có xu hướng tăng hơn so với các tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024 ước đạt 1.882,69 tỷ đồng, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản giảm 7,81%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 3,81%; giáo dục đào tạo tăng 16,38%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 13,64%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 54,62%; dịch vụ khác tăng 10,91%. Hoạt động dịch vụ khác trong tháng bắt đầu có xu hướng tăng hơn so với các tháng đầu năm, cùng với thời tiết thuận lợi cho các hoạt động dịch vụ khác phát triển, các thành phần kinh tế cũng tập trung ổn định, mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu hút nhu cầu sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng, thời tiết thuận lợi cho việc thi công san lấp mặt bằng, các công trình xây dựng nên nhu cầu sử dụng máy móc tăng lên. 4.2. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động vận tải, kho bãi Hà Tĩnh tháng 5 và 5 tháng đầu năm tiếp tục tăng trưởng ổn định về nhóm ngành vận tải hành khách và vận tải hàng hóa nhờ việc đầu tư vào số lượng cũng như chất lượng phương tiện của các cơ sở kinh doanh, cùng với công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về kinh doanh vận tải của các cơ quan chức năng. Việc chấp hành các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn an toàn, đăng kiểm phương tiện, đảm bảo đạt yêu cầu khi lưu thông. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 5/2024 doanh thu ước đạt 741,33 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước, tăng 21,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 115,01 tỷ đồng, giảm 3,75% so với tháng trước và tăng 36,46% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 492,96 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 25,66% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 128,37 tỷ đồng, giảm 0,84% so với tháng trước và tăng 11,21% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải hành khách tháng 5 giảm nhẹ so với tháng trước nhưng so cùng kỳ vẫn tăng mạnh do tháng trước trùng nhều ngày nghỉ lễ, bên cạnh đó, do mặt bằng giá vé tăng cao hơn các năm trước, giá vé máy bay nội địa trong thời gian qua tăng cao dẫn đến một bộ phận người dân chuyển sang phương tiện vận tải ô tô và đường sắt nhằm di chuyển trong nước. Vận tải hàng hoá vẫn tăng trưởng khá do các hoạt động xây dựng đang tiếp tục phát triển mạnh, các dự án lớn như cao tốc Bắc Nam, đường Hàm Nghi kéo dài, đường điện 500KV mạch 3 và các công trình xây dựng đang đẩy mạnh thi công. Mặt khác, là thời điểm thu hoạch vụ Đông xuân kéo theo nhu cầu vận chuyển sản phẩm trong kỳ thu hoạch cũng như nhu cầu vận chuyển vật tư nông nghiệp phân bón, giống để chuẩn bị cho vụ mùa tiếp theo.        Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, kết quả hoạt động vận tải, kho bãi doanh thu dự ước đạt 3.385,92 tỷ đồng, tăng 22,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 641,58 tỷ đồng, tăng 58,63%; hàng hoá ước đạt 2.047,80 tỷ đồng, tăng 13,14%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 671,31 đồng, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 5 tháng đầu năm 2024 có sự phát triển khá mạnh và tăng trưởng ổn định. Vận tải hành khách các đơn vị kinh doanh với sự cạnh tranh, nâng cao chất lượng phục vụ cũng như đầu tư chất lượng dịch vụ, chất lượng phương tiện đến thái độ phục vụ. Cùng với các tuyến vận tải đường bộ nội địa ổn định như các tuyến Hà Tĩnh - Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh - Đà Nẵng, Hà Tĩnh - Hà Nội, Hà Tĩnh - Hải Phòng, Hà Tĩnh - Tây Nguyên, các đơn vị vận tải còn khai thác thêm nhiều tuyến sang các nước như Thái Lan, Lào để phục vụ nhu cầu đi lại liên kết phục vụ kịp thời lực lượng lao động tăng cao, làm cho khối lượng vận chuyển hành khách các tuyến này tăng hơn so các năm trước. Ngoài sự phát triển của hạ tầng giao thông, sự tăng trưởng của ngành du lịch, lưu trú, lữ hành cũng là yếu tố quan trọng góp phần trong sự phát triển của vận tải hành khách trên địa bàn. Đối với hoạt động vận tải hàng hóa, nhu cầu phục vụ vận chuyển khối lượng hàng hóa vật liệu xây dựng cho các công trình xây dựng, công trình nhà ở trong dân tăng cao. Cùng với điều kiện hiện nay việc vận chuyển vật tư nông nghiệp phục vụ cho sản xuất đến từng thửa ruộng, việc vận chuyển hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu... 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 5 kim ngạch xuất khẩu có dấu hiệu tăng so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn đang giảm mạnh. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 5 ước đạt 538,0 triệu USD, giảm 1,66% so với tháng trước và giảm 12,91% so với cùng kỳ, giảm mạnh ở khẩu Xuất khẩu do sự khó khăn của thị trường thế giới. Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vẫn đạt 2.727,77 triệu USD tăng nhẹ 1,62% so với cùng kỳ chủ yếu do kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng phục vụ dịp Tết cũng như việc nhập nguyên liệu đầu vào từ Formosa do giá quặng thép biến động giảm. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 5/2024 ước đạt 177,50 triệu USD, tăng 18,02% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ giảm đến 41,88% (giảm 127,9 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu ở việc mặt hàng Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 149,70 triệu USD, tăng 13,68% so với tháng trước và giảm đến 48,50% so với cùng kỳ do tháng trước có thời gian 2 tuần tạm ngừng bảo dưỡng dây chuyền, vì vậy tháng này có tăng so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ lượng hàng xuất khẩu giảm xuống khá sâu do diễn biến giá khó lường cũng nhu cầu tiêu thụ thế giới phục hồi chậm hơn so với kỳ vọng. Bên cạnh mặt hàng thép thì các mặt hàng khác cũng giảm khá sâu so với cùng kỳ, mặt hàng dăm gỗ vẫn chưa tìm ra giải pháp tiêu thụ khi so với cùng kỳ năm trước có nhỉnh hơn nhưng so với tháng trước lại giảm. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 952,11 triệu USD, giảm 15,50% (tương ứng giảm 174,61 triệu USD) so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 843,40 triệu USD (chiếm 88,58% tổng kim ngạch) giảm 19,19% (giảm 200,27 triệu USD) so với cùng kỳ, các nhóm hàng xuất khẩu khác cũng giảm khá sâu, chỉ có duy nhất nhóm ngành Chè có tăng trưởng trong xuất khẩu nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đạt 1,51 triệu USD. - Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 5 ước đạt 360,50 triệu USD, giảm 9,12% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 15,42%. Nguyên nhân chủ yếu do việc Formosa hạn chế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào sản xuất vì việc thị trường đầu ra đang gặp khó khăn, cũng do thời tiết chuyển nắng nóng vì vậy sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.775,66 triệu USD, tăng 14,01% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Với kết quả đến 5 tháng còn cách mục tiêu rất xa vì vậy để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng Năm diễn biến thị trường không có biến động lớn, giá cả tăng nhẹ so với tháng trước, nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có biến động lớn nhất tăng 1,11% so với tháng trước do lượng tiêu dùng điện, nước tăng trong mùa nắng nóng, nhưng so với năm trước thì mùa nóng năm nay không thực sự gay gắt vì vậy chỉ số giá cả tháng này so với cùng tháng năm trước giảm khá sâu. Thị trường vàng, trang sức và ngoại tệ sau sự biến động tăng mạnh từ tháng trước thì tháng này giá vẫn ở mức cao và đang tiếp tục tăng. Tháng 4 năm 2024, chỉ số CPI chung chỉ số CPI chung tăng 0,43% so với tháng trước và tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì ngoài nhóm Bưu chính viễn thông ổn định về giá so với tháng trước thì các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Trong đó: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,82% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 6,98%, cụ thể mặt hàng Lương thực tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 15,79% so với cùng tháng năm trước, giá gạo thế giới đang ở mức cao và đang tăng trở lại; Nhóm thực phẩm tăng 0,97% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,42% khi thịt gia súc, gia cầm các loại đều tăng, thịt lợn cũng tăng trở lại sau thời gian dài giảm giá; rau củ tươi và chế biến tăng giá khiến chỉ số giá nhóm này tăng 4,23% so tháng trước. Các nhòm hàng khác trong tháng cũng tăng do những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ nắng nóng, tác động nhu cầu tiêu dùng điện và nước sinh hoạt tăng, lượng sử dụng càng nhiều giá bậc thang thanh toán điện, nước tăng, nhu cầu thực phẩm, hàng dệt may, hàng điện máy đồ dùng tăng mạnh. Việc mưa nắng thất thường ảnh hưởng tới việc phơi sấy lúa vụ Đông Xuân vừa thu hoạch vì vậy nguồn cung ra thị trường đang hạn chế, đang mùa du lịch biển cũng như mùa hải sản ngon nên giá các loại thuỷ, hải sản tăng; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại, giá xăng dầu bình quân trong tháng trên địa bàn cả nước giảm sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua; Thứ ba, nhu cầu cũng như giá gạo, vật liệu xây dựng trong nước và thế giới tăng trở lại. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 2,19%, nông thôn tăng 2,8%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,37%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,83%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,98%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,34%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,69%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,46%; giao thông tăng 1,88%; bưu chính viễn thông giảm 1,78%; giáo dục tăng 2,42%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,44%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng, từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, tình hình khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với nhóm nhiên liệu. Dự kiến CPI tháng 6/2024 sẽ tiếp tục tăng các nhóm hàng hóa, dịch vụ, du lịch, ăn uống, thuỷ hải sản, giá phòng lưu trú, dịch vụ lữ hành. Giá điện và nước sinh hoạt tăng cao khi lượng tiêu thụ khả năng đạt ở mức cao khi tình hình thời tiết nắng nóng trên 40oC trên địa bàn tỉnh và giá điện cơ bản sau điều chỉnh tăng có tác động hoàn toàn đến chu kỳ tính giá điện tiếp theo. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư nhìn chung ổn định, sản xuất nông nghiệp tiếp tục được mùa, người dân đang tập trung thu hoạch lúa Vụ Đông xuân và chuẩn bị sản xuất Vụ Hè thu; thời tiết thuận lợi nên các cây rau, màu ngắn ngày phát triển tốt, giúp người dân có thêm thu nhập. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ hoạt động ổn định. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo. 2. Hoạt động y tế - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, Hà Tĩnh tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 3 người nhiễm mới HIV, 3 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So tháng trước: tăng 1 người nhiểm mới HIV (tăng 50%), tăng 1 người chuyển thành AIDS (tăng 50%) và số người chết vì AIDS không thay đổi (hai kỳ không phát sinh). So cùng kỳ năm trước: giảm 4 người nhiểm mới HIV (giảm 43%); giảm 5 người chuyển thành AIDS (giảm 63%) và số người chết vì AIDS không thay đổi (không phát sinh). Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, đã phát hiện 17 người nhiễm mới HIV, 13 người chuyển thành AIDS, 3 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước: giảm 11 người nhiểm mới HIV (giảm 39,29%); giảm 11 người chuyển thành AIDS (giảm 45,83%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 3 người). - Công tác an toàn thực phẩm: Nhằm đảm bảo công tác an toàn thực phẩm trong mùa du lịch, đặc biệt trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi để vi khuẩn sinh sôi. Các đơn vị cơ quan chức năng liên ngành tăng cường công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm có thể xẩy ra. Công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Đồng thời khuyến cáo người dân cần nắm được những kiến thức cơ bản, trong bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh ăn uống. Trong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào. Có 94 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc. So tháng trước: Giảm 1 vụ ngộ độc tập thể và giảm 2 người chết; tăng 33 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 54,10%), số người chết không thay đổi (hai kỳ không phát sinh). So cùng kỳ năm trước: Số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi (cùng kỳ năm trước xảy ra 1 vụ), giảm 5 người ngộc độc (giảm 71,43%). Có 325 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, so cùng kỳ năm trước giảm 13 ca (giảm 3,85%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (cùng kỳ năm trước không phát sinh số người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ).- Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, gồm: 01 ca sốt xuất huyết (không thay đổi so cùng kỳ), 02 ca quai bị (giảm 15 ca so với cùng kỳ), 02 ca lỵ trực trùng (giảm 31 ca so với cùng kỳ), 6 ca lỵ amip (giảm 18 ca so với cùng kỳ), 58 ca thủy đậu (tăng 27 ca so với cùng kỳ), 1.353 ca mắc bệnh cúm (tăng 45 ca so với cùng kỳ), 154 ca tiêu chảy đơn lẻ (giảm 140 ca so với cùng kỳ). Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết do các bệnh trên.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Nhân kỷ niệm 134 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2024), chính quyền địa phương và đông đảo người dân dâng hoa, thắp hương tưởng niệm tại khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh.Về thể dục thể thao: Trong tháng, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều giải thi đấu thể thao tạo nên không khí vui tươi, đoàn kết, nổi bật là giải Bóng chuyền nam thanh niên Hà Tĩnh diễn ra trong 2,5 ngày (từ chiều 10/5 đến 12/5/2024) đã thực sự trở thành ngày hội, là khoảng thời gian họ được “ăn, ngủ” cùng bóng chuyền. Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra văn hóa trên địa bàn, nhất là các dịch vụ vui chơi giải trí karaoke, dịch vụ kinh doanh văn hóa tranh ảnh, băng đĩa nhạc,… nhằm đảm bảo việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân lành mạnh, loại trừ các văn hóa phẩm đi lệch với các thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước. 4. Tình hình trật tự và toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tháng (tính từ ngày 15/4/2024-14/5/2024) xảy ra 42 vụ tai nạn đường bộ, làm 24 người chết, 20 người bị thương (tăng 14 vụ; tăng 14 người chết và giảm 2 người bị thương so với tháng trước); tai nạn đường sắt và tai nạn đường thủy không xẩy ra (tháng trước không xẩy ra). So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 5 vụ (tăng 13,51%), tăng 8 người chết (tăng 33,33%) và giảm 5 người bị thương (giảm 20,0%); số vụ tai nạn đường sắt và tai nạn đường thủy không thay đổi (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 250 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm (từ 15/12/2023-14/5/2024), xảy ra 187 vụ tai nạn đường bộ, làm 83 người chết, 139 người bị thương; 3 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương, 1 người chết; tai nạn đường thủy không xẩy ra. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 50 vụ (tăng 36,50%), tăng 4 người chết (tăng 5,06%) và tăng 57 người bị thương (tăng 1,7 lần); tai nạn đường sắt tăng 3 vụ, tăng 1 người chết và tăng 1 người bị thương (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 1.140 triệu đồng.  5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ- Tình hình cháy: Trong tháng (từ ngày 15/4/2024-14/5/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 10 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 157,3 triệu đồng; so với tháng trước: tăng 8 vụ cháy (tăng 5 lần), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ cháy (giảm 9,09%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). Tính chung 5 tháng đầu năm (từ ngày, từ ngày 15/12/2023-14/5/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 29 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 406,3 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 12 vụ cháy (giảm 29,27%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra).- Tình hình nổ: Trong tháng và 5 tháng đều không xẩy ra vụ nổ nào (cùng kỳ năm trước không xẩy ra).- Vi phạm môi trường: Thường xuyên triển khai thực hiện các nhiệm vụ nhằm nâng cao công tác kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường nói riêng như: Quản lý và giám sát chặt chẽ hoạt động xã thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của hoạt của các hộ gia đình, ngăn chặn thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.… đồng thời tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức như băng rôn, đài, báo…. Trong tháng, phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 9 vụ, với tổng số tiền xử phạt 361,95 triệu đồng; giảm 1 vụ phát hiện (giảm 12,50%), tăng 3 vụ đã xử lý (tăng 50,00%), tăng 326,45 triệu đồng (tăng 919,58%) tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 21 vụ phát hiện (giảm 75,00 %), giảm 7 vụ đã xử lý (giảm 43,75%), tăng 99,06 triệu đồng (tăng 37,68%) tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Vụ vi phạm môi trường đã xử lý điển hình trong tháng là ngày 25/04/2024, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra ra quyết định xử phạt Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng TTP có địa chỉ tại xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về hành vi khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp với số tiền 350 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, phát hiện 170 vụ vi phạm môi trường, giảm 116 vụ (giảm 40,56%) và đã xử phạt 158 vụ, giảm 212 vụ (giảm 57,30%) với tổng số tiền xử phạt 623,86 triệu đồng; giảm 537,80 triệu đồng số tiền xử phạt (giảm 46,30%) so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng và tính chung 5 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn đã xảy ra 1 vụ thiên tai do ảnh hưởng của mưa lớn vào lúc 14h30 ngày 6/5 tại TX Kỳ Anh, làm 3 người chết, 4 người bị thương; sau khi xảy ra thiên tai, Công ty nơi nạn nhân làm việc, lãnh đạo tỉnh, UBND thị xã Kỳ Anh, cùng chính quyền địa phương và một số mạnh thường quân đã hộ trợ cho các nạn nhân tử vong số tiền khoảng 250 triệu đồng.So với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 3 người chết và tăng 4 người bị thương (tháng trước và cùng kỳ năm trước không xẩy ra thiên tai). Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024
  •   27/07/2024 21:20

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 4 cũng như 4 tháng đầu năm 2024, trong bối cảnh tình hình kinh tế toàn cầu và trong nước tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức; nhiều mặt hàng đang phải đối mặt với việc tìm kiếm thị trường mới; một số sản phẩm sản lượng thấp do nhà máy sửa chữa, thay mới dây chuyền. Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ cả các sản phẩm thép nhập khẩu từ các nước như Trung Quốc, Ấn Độ đã ảnh hưởng đến việc ổn định sản xuất của doanh nghiệp sản xuất thép trong nước. Thị phần bán nội địa giảm, thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh trong thời gian qua. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế tỉnh nhà nói chung. Mặc dù nền kinh tế của tỉnh nhà gặp khó khăn, song với sự tập trung cao của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và thi công các công trình dự án, nhất là các dự án trọng điểm. Bằng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của người dân, doanh nghiệp. Nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm của Hà Tĩnh đạt kết quả ấn tượng. Hoạt động bán lẻ hàng hóa ghi nhận sự khởi sắc; doanh số bán hàng của những đơn vị tăng trưởng tốt; dịch vụ Hà Tĩnh đang đi những bước vững chắc; các đơn vị sản xuất kinh doanh, bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại đã làm tăng nhu cầu vận chuyển trên địa bàn tỉnh; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm; đời sống người dân được bảo đảm; Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.  I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 4 năm 2024, sản xuất trồng trọt chủ yếu tập trung vào chăm sóc cây trồng vụ Xuân. Hiện nay lúa đang trong thời kỳ trổ bông và dự kiến lúa sẽ trổ tập trung vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2024. Tổng đàn vật nuôi vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, xu hướng phát triển chăn nuôi chủ yếu tập trung ở đàn lợn và đàn gia cầm. Hoạt động lâm nghiệp trong tháng vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng sản xuất, sản lượng gỗ khai thác tiếp tục tăng hơn so với cùng kỳ năm trước do diện tích rừng đến tuổi khai thác trên địa bàn vẫn còn khá lớn. Khai thác thủy sản duy trì mức tăng ổn định, hiện nay vào mùa du lịch nên nhu cầu tăng, giá cả ổn định khuyến khích người dân ra khơi bám biển; sản lượng đánh bắt cao hơn mức bình quân chung các tháng trước. 1.1 Sản xuất nông nghiệp          *Trồng trọt  Thời gian này là giai đoạn phát triển quan trọng của lúa, quyết định cơ bản đến năng suất cuối vụ trong khi diễn biến thời tiết bất lợi, dịch bệnh đạo ôn cổ bông tiếp tục có nguy cơ gây hại vì vậy các địa phương cần chỉ đạo bộ phận chuyên môn theo sát, kiểm tra đồng ruộng, đặc biệt là đối với các trà lúa trổ sớm. Cùng với cây lúa thì các loại cây trồng vụ Xuân khác cũng đang được chăm sóc và sinh trưởng, phát triển tốt. Cây lạc đang trong giai đoạn đâm tỉa, phát triển củ; cây ăn quả như cam, bưởi…đang giai đoạn phát triển quả non.           Kết quả gieo trồng các loại cây vụ Xuân 2024:  *Cây lúa: Tổng diện tích gieo, cấy toàn tỉnh 59.022 ha/59.107 ha đạt 99,9% KH, trong đó: Diện tích gieo thẳng 53.874 ha, diện tích cấy 5.148 ha. *Cây trồng cạn: Đến ngày 15/4/2024, diện tích gieo trồng các cây trồng cạn vụ Xuân đạt 21.410 ha/21.835 ha đạt 98,05% KH, cụ thể như sau: Cây lạc 6.702 ha/7.599 ha đạt 88,2% KH; ngô lấy hạt 7.024 ha/6.479 ha đạt 108,4% KH; khoai lang 1.528 ha/1.557 ha đạt 98,2% KH; đậu các loại: 269 ha/355 ha đạt 76% KH; rau các loại 5.887 ha/5.845 ha đạt 100,7% KH. *Tình hình sâu bệnh: Trên cây lúa xuất hiện ở hầu hết các địa phương có bệnh khô vằn gây hại trên những diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm, tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 20-30% diện tích nhiễm 1.420 ha, chuột gây hại trên diện tích 325 ha, còn lại các bệnh đạo ôn, bạc lá, sâu cuốn lá nhỏ... xuất hiện rải rác ở một số địa phương nhưng diện tích gây hại không lớn; trên cây ngô có sâu keo mùa thu, rệp ngô, khô vằn gây hại trên các trà ngô diện tích gây hại từ khoảng 10-15 ha; cây lạc xuất hiện bệnh lở cổ rễ, chết ẻo cây con; cây rau có bệnh sương mai, giả sương mai...tuy nhiên diện tích gây hại các loại bệnh không lớn; trên cây ăn quả có múi chịu nạn sâu vẽ bùa, sâu nhớt, diện tích nhiễm 75 ha, sâu non bướm phượng 25 ha, nhện nhỏ, Rệp muội gây hại với diện tích nhiễm 55 ha phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê,… *Chăn nuôi Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn Hà Tĩnh tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024 chưa có tín hiệu thực sự tích cực, mặc dù vẫn có có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước nhưng tăng chủ yếu tập trung ở đàn lợn và đàn gia cầm. Giá lợn hơi có tăng hơn so với tháng trước nhưng chi phí về thức ăn chăn nuôi vẫn đang ở mức cao nên người dân vẫn đang gặp khó khăn, nhất là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Riêng đàn trâu, bò có xu hướng ngày càng giảm vì chăn nuôi không hiệu quả, người dân không mở rộng đầu tư chăn nuôi.       Kết quả sản xuất chăn nuôi trong tháng 4 so với cùng kỳ cụ thể như sau: Đàn trâu hiện có 65.947 con, bằng 97,28%; đàn bò hiện có 163.890 con, bằng 97,24%; đàn lợn hiện có 394.050 con, bằng 102,78%; đàn gia cầm hiện có 9.380 nghìn con, bằng 104,69%, trong đó đàn gà hiện có 7.850 nghìn con, bằng 103,56% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay đang xảy ra dịch Viêm da nổi cục trên đàn trâu bò và dịch tả lợn Châu Phi, cụ thể: Bệnh Viêm da nổi cục xẩy ra tại 2 huyện (Lộc Hà, Cẩm Xuyên) làm 51 con gia súc mắc bệnh trong đó làm chết, buộc tiêu huỷ 9 con, trọng lượng 1.697kg. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại xã An Dũng huyện Đức Thọ làm 11 con lợn mắc bệnh, chết, buộc tiêu huỷ với trọng lượng 1.091kg. Thời gian tới, để phát triển chăn nuôi bên cạnh các chính sách nhằm phát triển đàn thì công tác phòng, chống dịch bệnh phải tiếp tục được quan tâm thực hiện để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi phát triển. 1.2 Lâm nghiệp Những tháng đầu năm, với điều kiện thời tiết mát mẻ, nhiệt độ thấp, có mưa nên người dân vẫn tiếp tục tiến hành trồng rừng sản xuất. Sản lượng gỗ khai thác tiếp tục tăng hơn so với cùng kỳ năm trước do diện tích rừng đến tuổi khai thác trên địa bàn vẫn còn khá lớn. Bên cạnh đó, do nhu cầu ngày càng giảm nên sản lượng củi khai thác tiếp tục giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất lâm chủ yếu tập trung ở các địa phương như Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, huyện Kỳ Anh....        Kết quả sản xuất: Diện tích rừng trồng mới tháng 4/2024 ước đạt 778 ha, bằng 105,99%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 32.764 m3, bằng 106,05%; sản lượng củi khai thác ước đạt 17.438 ste, bằng 95,97%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 40 nghìn cây, bằng 105,26% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.060 ha, bằng 113%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 97.881 m3, bằng 106,49%; sản lượng củi khai thác ước đạt 72.106 ste, bằng 96,05%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.464 nghìn cây, bằng 101,81% so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/4/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 11 vụ phá rừng (giảm 24 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,64 ha (giảm 6,90 ha) so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng nên các cơ quan chức năng cần phải tăng cường tuần tra kiểm soát và người dân khi vào rừng cần phải nâng cao ý thức để phòng chống cháy rừng. 1.3 Thủy sản Kết quả hoạt động thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản tháng 4/2024 ước đạt 4.201 tấn, bằng 102,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.557 tấn, bằng 102,16%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 644 tấn, bằng 102,55% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 17.441 tấn, bằng 102,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 13.485 tấn, bằng 101,91%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.956 tấn, bằng 102,83% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 4 điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, nguồn thủy hải sản dồi dào cộng với việc hiện nay, các hoạt động dịch vụ du lịch, ăn uống trên địa bàn đang ngày càng phát triển, nhất là ở các khu du lịch biển nên nhu cầu sử dụng hải sản tăng cao, với giá cả tương đối ổn định nên người dân tích cực ra khơi bám biển. Tuy nhiên, do chi phí về nhiên liệu vẫn mức cao nên ngư dân vẫn còn gặp khó khăn trong việc đánh bắt xa bờ. Thời gian tới, với điều kiện thời tiết thuận lợi cho hoạt động đánh bắt và nhu cầu tiêu dùng hải sản tăng trong mùa du lịch biển thì hy vọng hoạt động khai thác hải sản sẽ đạt được kết quả khá hơn. Về hoạt động nuôi trồng, trong tháng các hộ nuôi trồng đã tập trung xuống giống thả nuôi vụ tôm Xuân Hè năm 2024. Theo khung lịch thời vụ năm 2024 của Sở NN&PTNT, vụ nuôi tôm Xuân Hè sẽ xuống giống trong tháng 3 và tháng 4 dương lịch. Toàn tỉnh dự kiến sẽ sản xuất trên diện tích hơn 2.250 ha với hơn 900 triệu con giống. Nuôi tôm vẫn tiếp tục được xem là hoạt động tạo ra sản phẩm thủy sản chủ lực và có lợi thế của tỉnh.. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng một số hộ nuôi ốc hương bị chết hàng loạt gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng, nguyên nhân được xác định không phải do dịch mà do tổng hòa của nhiều yếu tố như: nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn, môi trường ao nuôi chưa được xử lý đúng quy định, mật độ thả giống cao hơn nhiều so với khuyến cáo... Cùng với đó, tình hình thời tiết khá thất thường khiến sức đề kháng của ốc hương bị giảm sút. Dịch bệnh đốm trắng xẩy ra tại một hộ nuôi tôm giống diện tích nhiễm 0,9ha, 30 vạn con tôm nuôi 155 ngày. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 4/2024, một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất công nghiệp tạm ngừng hoạt động do sữa chữa, bão dưỡng, thay mới máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất. Vì vậy chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) dự ước giảm 21,22% so với tháng trước và giảm 20,79% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) - Ước tháng 4/2024: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) dự ước giảm 21,22% so với tháng trước và giảm 20,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước giảm 1,39% so với tháng trước và tăng 13,07% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 27,08% so với tháng trước và giảm 32,33% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính giảm 2,24% so với tháng trước và tăng 44,77% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải dự ước tăng 9,54% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 16,46%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2024 giảm so với tháng trước cũng như so với cùng kỳ chủ yếu do chịu tác động từ ngành sản xuất kim loại (giảm 33,69% so với tháng trước và giảm 41,04% so với cùng kỳ). Từ đầu tháng 4, máy móc của xưởng cán nóng phải đại tu sửa chữa nên dừng toàn bộ dây chuyền cán thép. Đến ngày 15, dây chuyền bắt đầu hoạt động lại, sản lượng thép thành phẩm dự tính sản xuất tháng 4/2024 giảm 46,11% so với cùng kỳ. - Tính chung 4 tháng đầu năm 2024: Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh giảm 2,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 12,23%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 9,03%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 38,62%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 18,19%. Mặc dù các doanh nghiệp công nghiệp tiếp tục duy trì ổn định chuỗi sản xuất. Trong đó: (1) Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I tiếp tục là động lực tăng trưởng của tỉnh, với việc vận hành ổn định song song 2 tổ máy theo thị trường mua bán điện của EVN (cùng kỳ năm trước Tổ máy số 1 gặp sự cố), sản lượng điện ước đạt 3.798 triệu Kwh tăng 40,45% so với cùng kỳ; (2) Sản xuất bia tăng trưởng khá, 2 nhà máy sản xuất bia đóng lon trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn duy trì ổn định sản xuất (sản lượng ước đạt 23,77 triệu lít tăng 38,31%); (3) Nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào vận hành thương mại từ tháng 8 năm 2023 (sản lượng Ắc quy bằng ion lithi 4 tháng đầu năm 2024 ước đạt 88.000 Kwh); (4) Kể từ tháng 12/2023, Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh mở rộng mặt bằng khai thác, mỏ mới được cấp phép nên sản lượng quặng khai thác tăng cao so cùng kỳ. Với sản lượng sản xuất ổn định và nâng công suất không chỉ tăng doanh thu cho doanh nghiệp mà còn góp phần phát triển chỉ số sản xuất công nghiệp Hà Tĩnh. Tuy nhiên, do chịu tác động từ sự suy giảm sản lượng thép do yếu tố thị trường cũng như đại tu sữa chữa dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Vì vậy, Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh 4 tháng đầu năm 2024 đã không đạt như kỳ vọng. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 12 nhóm sản phẩm cộng dồn 4 tháng đầu năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. - Số sản phẩm công nghiệp tăng bao gồm: Quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 147,21%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 71,4%; bia đóng lon tăng 38,31%; điện sản xuất tăng 40,45%; nước không uống được tăng 19,54%; ... - Một số sản phẩm công nghiệp 4 tháng đầu năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước bao gồm: Mực đông lạnh giảm 87,29%, nguyên ngân do khách hàng Nhật Bản ngừng đơn hàng, hiện tại doanh nghiệp chưa tìm kiếm được khách hàng mới, do đó lượng sản xuất đang giảm mạnh so với cùng kỳ; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 45,51%, nguyên nhân do một số doanh nghiệp đang tạm ngừng để đầu tư lại máy móc, đồng thời nhu cầu tiêu thụ những tháng đầu năm thấp nên chủ yếu là bán khối lượng tồn kho, sản lượng sản xuất gạch 4 tháng đầu năm giảm mạnh; thép không gỉ ở dạng bán thành phẩm giảm 16,15%, do từ đầu tháng 4, máy móc của xưởng cán nóng phải đại tu sửa chữa nên dừng toàn bộ dây chuyền cán thép; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 14,03%, nguyên nhân do 2 tháng đầu năm chè chưa vào vụ thu hoạch, chưa có nguyên liệu sản xuất. 2.3 Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2024 giảm 0,72% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,34%. Khi các dự án, nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất đã góp phần tăng số lượng lao động trên địa bàn so với năm trước. Cộng dồn đến cuối năm tháng 4 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 14,38% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 4 tháng đầu năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 9,7% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp khai khoáng mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động 4 tháng đầu năm 2024 đối với ngành này tăng 18,26%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,17%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 1,09% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Xác định việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT-XH, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương vào cuộc triển khai quyết liệt, linh hoạt tháo gỡ vướng nhằm đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công.  Dự ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2024 đạt 334,10 tỷ đồng, tăng 6,82% so với tháng trước, giảm 6,26% so với cùng kỳ năm nước. Nguyên nhân giảm là do kế hoạch thực hiện nguồn ngân sách cấp tỉnh năm 2024 chiếm (66,10% tổng vốn) giảm mạnh (giảm 44,54%), đây là nguyên nhân chính làm cho nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý tháng 4/2024 giảm so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 220,84 tỷ đồng, tăng 5,81% so với tháng trước và giảm 16,56% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 80,12 tỷ đồng, tăng 9,25% so với tháng trước và tăng 24,86% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 33,14 tỷ đồng, tăng 7,87% so với tháng trước và tăng 20,11% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.062,85 tỷ đồng, giảm 11,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 721,6 tỷ đồng, giảm 18,89% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 259,86 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 81,76 tỷ đồng, tăng 12,99% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2024 giảm 27,65% so với năm trước. Các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp. Mặc dù trải qua 1/3 chặng đường năm 2024 tuy nhiên tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ mới đạt 23,71% kế hoạch năm. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong 4 tháng đầu năm 2024 hoạt động bán lẻ hàng hóa ghi nhận sự khởi sắc, doanh số bán hàng tăng trưởng tốt. Tháng Tư bắt đầu bước vào mùa sôi động của ngành du lịch, nhu cầu ăn uống, mua sắm tăng cao, sau phần khởi động chạy đà những tháng đầu năm, dịch vụ Hà Tĩnh đang từng bước đi những bước vững chắc trong tháng cũng trùng các dịp Nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch), ngày Giải phóng Miền Nam 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 các địa phương trong tỉnh gấp rút chuẩn bị khai trương du lịch biển. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 4/2024 ước đạt 5.644,89 tỷ đồng, tăng 2,37% so với tháng trước và tăng 21,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó hầu hết các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do: Thứ nhất, do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời tiết chuyển sang mùa nắng tác động đến các nhóm hàng hóa thực phẩm, đồ uống, điện lạnh, vật liệu xây dựng, hàng may mặc; Thứ hai, do căng thẳng chính trị đã và đang là một nhân tố gây bất ổn cho kinh tế, chính trị thế giới trong những năm gần đây, tác động tiêu cực đối với nền kinh tế toàn cầu. Sự leo thang của cuộc xung đột Israel-Hamas đang khiến người dân và doanh nghiệp ở mọi nơi trên thế giới trở nên thận trọng hơn trong chi tiêu và đầu tư; Thứ ba, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 22.858,72 tỷ đồng, tăng 21,87% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu lớn và tăng mạnh như nhóm lương thực, thực phẩm tăng 26,88%; hàng may mặc tăng 54,08%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 55,86%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 13,10%; xăng dầu các loại tăng 1,72%; nhiên liệu khác tăng 17,23%; đá quý, kim loại quý các loại tăng 61,82% thì một số nhóm hàng dù 4 tháng đầu năm vẫn tăng trưởng nhưng chưa đạt mức năm trước, cụ thể: nhóm ô tô con giảm 33,97%; phương tiện đi lại giảm 30,03%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 6,36%. Có thể thấy tốc độ tiêu dùng nội địa đã dần dần tăng trưởng trở lại, dự báo, dịp 30/4 và 1/5, khi cả nước có kỳ nghỉ lễ kéo dài 5 ngày, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sẽ tiếp tục có xu hướng tăng cao, đặc biệt là các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Tháng Tư là tháng bước vào mùa hè cũng là cao điểm du lịch, đặc biệt trùng vào các dịp Nghỉ lễ (10/3, 30/4, 1/5...) nhu cầu sử dụng các dịch vụ ăn uống, lưu trú sẽ tăng mạnh, đặc biệt khi ngày nghỉ lễ kéo dài 5 ngày liên tục. Để chuẩn bị đón khách đến tham quan, nghỉ dưỡng trong mùa du lịch, hiện nay, các cơ sở kinh doanh nhà hàng ăn uống, các Doanh nghiệp kinh doanh khách sạn đã và đang khẩn trương hoàn thiện khâu sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 4 ước đạt 724,97 tỷ đồng, tăng 11,86% so với tháng trước, tăng 20,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 21,32 tỷ đồng, tăng 55,91% so với tháng trước, giảm 6,72% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 691,81 tỷ đồng, tăng 10,76% so với tháng trước, tăng 20,81% so với cùng kỳ năm trước; Hoạt động kinh doanh lữ hành ước đạt 11,83 tỷ đồng tăng 20,59% so với tháng trước và tăng 165,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình thời tiết khá thuận lợi, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương liên quan tập trung cao cho hoạt động khai trương du lịch biển: Tại Thiên Cầm dự kiến từ 21/4 đến hết tháng 5/2024 sẽ diễn ra Tuần lễ văn hoá khai trương Du Lịch biển Hà Tĩnh; Chương trình khai trương du lịch Biển Xuân Thành dự kiến diễn ra tối 20/4; Chương trình chào mừng biển Thạch Hải (26-28/4) và giới thiệu sản phẩm OCOP đặc sản địa phương Thạch Hà diễn ra suốt chuỗi ngày khai trương tại Khu du lịch biển Thạch Hải; du lịch biển Thị xã Kỳ Anh diễn ra hoạt động văn hoá, thể thao ngày 11-27/4 … Việc chuẩn bị đầy đủ cơ vật chất hạ tầng với nhiều cơ sở lưu trú mới đạt chuẩn, gia tăng nhiều sản phẩm chất lượng, không ngừng nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân lực… đã giúp du lịch tỉnh Hà Tĩnh từng bước đáp ứng nhu cầu của du khách trong bối cảnh mới. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024 doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.634,95 tỷ đồng, tăng 19,69% so với cùng kỳ, trong đó: Lưu trú đạt ước 56,30 tỷ đồng, giảm 28,9%; lượt khách phục vụ 357.015 lượt, giảm 28,3%; ngày khách phục vụ 317.452 ngày, giảm 22,3% so với cùng kỳ năm trước; ăn uống ước đạt 2.550,43 tỷ đồng, tăng 21,59% so với cùng kỳ năm trước; Hoạt động kinh doanh lữ hành ước đạt 28,23 tỷ đồng tăng 114,20% so với cùng kỳ. Có thể nói, hoạt động dịch vụ 4 tháng đầu năm 2024 có nhiều khởi sắc. Bên cạnh, những mặt đạt được khi tỉnh nhà thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch du lịch tại các vùng có tiềm năng, địa phương kêu gọi thu hút các nhà đầu tư triển khai các dự án du lịch vui chơi giải trí, dịch vụ thể thao kết hợp nghỉ dưỡng để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nâng cao cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch; triển khai các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, sản phẩm du lịch tiêu biểu gắn với các di tích lịch sử văn hóa. Ứng dụng công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số trong phát triển du lịch, số hóa các điểm đến di tích lịch sử văn hóa gắn với du lịch. Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, sản phẩm du lịch ở Hà Tĩnh còn thiếu tính độc đáo, chưa có nhiều khu vui chơi, giải trí cao cấp. Một số bãi biển đẹp chưa được quy hoạch tổng thể, tính liên kết giữa các vùng, công tác quảng bá chưa căn cơ, thường xuyên…. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ tháng 4/2024 ước tính đạt 379,45 tỷ đồng, tăng 2,73% so với tháng trước và tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024 ước đạt 1.521,56 tỷ đồng, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung các nhóm dịch vụ khác như hành chính hỗ trợ, dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế, dịch vụ vui chơi giải trí và dịch vụ làm đẹp tăng trưởng khá ổn định bên cạnh đó có thể thấy thị trường bất động sản bắt đầu khôi phục trở lại, sau thời gian dài im ắng, tuy chưa rõ nét nhưng cũng là dấu hiệu đáng mừng. Những tín hiệu tích cực một phần nhờ tạo điều kiện của chính quyền địa phương trong việc kịp thời phê duyệt đưa vào đấu giá các vùng quy hoạch đất phù hợp, đẩy nhanh các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng 4 năm 2024, yếu tố thời tiết chuyển mùa rõ rệt, nhìn chung thuận lợi cho việc lưu thông của các phương tiện vận tải. Các đơn vị sản xuất kinh doanh, bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu hàng hóa ổn định trở lại dẫn đến làm tăng nhu cầu vận chuyển trên địa bàn tỉnh. Trong đó, các kỳ nghỉ lễ dài ngày cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng lượt khách đi lại, du lịch tham quan nghỉ mát, về quê. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải hàng hóa nhu cầu vận chuyển hàng điện tử, điện lạnh, hàng hóa thiết bị máy móc được nhập khẩu từ các nước nhằm phục vụ các dự án, công trình xây dựng nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng tăng.        Kết quả vận tải, kho bãi tháng 4/2024 doanh thu ước đạt 699,95 tỷ đồng, tăng 3,91% so tháng trước và tăng 22,07% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 121,46 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 53,39% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 438,57 tỷ đồng, tăng 8,57% so với tháng trước và tăng 14,88% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 134,94 tỷ đồng, giảm 7,88% so với tháng trước và tăng 40,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải dự tính đạt 2.622,50 tỷ đồng, tăng 21,13% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 528,53 tỷ đồng, tăng 65,08% với số lượng vận chuyển đạt 4.918 nghìn HK, tăng 21,94% và luân chuyển đạt 916.777 nghìn HK.km, tăng 19,35%; vận tải hàng hóa dự tính đạt 1.525,29 tỷ đồng, tăng 7,59% với khối lượng vận chuyển ước đạt 16.366,9 nghìn tấn, tăng 5,43% và luân chuyển ước đạt 506.523,7 nghìn tấn.km, tăng 5,49%. Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 548,42 tỷ đồng, tăng 49,36% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024 có sự phát triển mạnh chủ yếu do những nguyên nhân sau: Vận tải hành khách tăng do yếu tố thời vụ, thời tiết chuyển sang mùa nắng, nhu cầu đi lại bằng các phương tiện vận tải hành khách công cộng xe buýt, taxi tăng. Bên cạnh đó, thời điểm trong tháng rơi vào dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 Âm lịch và dịp lễ 30/4 - 01/5 lượng người du lịch, về thăm quê ở mức cao hơn so với thông thường. Về vận tải hàng hóa các công trình xây dựng đi vào hoạt động mạnh, nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng tăng, cộng với nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đồ dùng, dụng cụ gia đình, nước giải khát, đồ uống có cồn, hàng may mặc, sản phẩm chế biến phục vụ chăn nuôi tăng....đã làm khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng. Trong khi đó dịch vụ hỗ trợ vận tải có giảm hơn các tháng trước do lượng hàng hoá thông qua 2 cảng Sơn Dương và Vũng Áng giảm hơn những tháng Tết nhưng tính chung 4 tháng vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tiếp tục đà chững lại từ tháng trước, tình hình xuất khẩu và nhập khẩu tháng Tư diễn ra khá ảm đạm. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng Tư ước đạt 476,3 triệu USD, giảm 14,93% so với tháng trước và giảm 25,15% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2.129,01 triệu USD tăng nhẹ 2,54% so với cùng kỳ chủ yếu do kim ngạch nhập khẩu ở các tháng trước do nhập khẩu hàng hoá phục vụ dịp Tết. - Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 4/2024 ước đạt 175,8 triệu USD, giảm 4,14% so với tháng trước và so với cùng kỳ giảm đến 25,39%. Nguyên nhân chủ yếu ở việc giảm mặt hàng Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 153,5 triệu USD, giảm 7,32% so với tháng trước và giảm đến 30,14% so với cùng kỳ nguyên nhân khách quan do giảm sức mua giảm chung của thị trường thế giới, bên cạnh đó giá thép đang ở mức khá thấp và được dự báo sẽ tiếp tục giảm. Bên cạnh mặt hàng thép thì ở các mặt hàng khác mặc dù thị trường dăm gỗ, xơ sợi và hàng dệt, may mặc đã có dấu hiệu tích cực khi thời tiết chuyển mùa lượng hàng xuất khẩu tăng so với tháng trước, tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn đang ở mức giảm khá sâu, cụ thể: Dăm gỗ giảm 9,26% (giảm 0,51 triệu USD); hàng dệt và may mặc giảm 67,74% (giảm gần 1,5 triệu USD); xơ, sợi giảm 58,68% (giảm 0,71 triệu USD). Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 810,01 triệu USD, giảm 9,93% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu thép, phôi thép ước đạt 725,52 triệu USD (chiếm 89,57% tổng kim ngạch) giảm 12,84% so với cùng kỳ, các nhóm hàng xuất khẩu khác cũng giảm khá sâu. Bên cạnh các nhóm hàng giảm mạnh chỉ có duy nhất nhóm ngành Chè có tăng trưởng trong xuất khẩu, giá trị xuất khẩu 4 tháng ước đạt 1,16 triệu USD tăng 27,47% so với cùng kỳ năm trước. - Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 4 ước đạt 300,5 triệu USD, giảm 20,19% so với tháng trước và giảm 25,01% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do việc Formosa hạn chế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào sản xuất một phần do bảo trì, bảo dưỡng dây chuyền sản xuất, bên cạnh đó là tâm lý chờ giá nguyên liệu thấp nhập vào lượng lớn. Tính chung 4 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.319 triệu USD, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng 4, thị trường giá cả hàng hoá tiêu dùng khá ổn định, giá cả có tăng nhẹ so với tháng trước, nhóm giao thông có biến động lớn nhất tăng 1,05% so với tháng trước do giá xăng dầu tăng sau các kỳ điều chỉnh giá bán lẻ vừa qua. Đáng chú ý trong tháng là thị trường giá vàng, trang sức và ngoại tệ biến động tăng mạnh theo xu hướng của thị trường thế giới. Tháng 4 năm 2024, chỉ số CPI chung tăng 0,24% so với tháng trước và tăng 2,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính thì ngoài nhóm Bưu chính viễn thông ổn định về giá so với tháng trước thì các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng nhẹ so với tháng trước. Đáng lưu ý trong tháng tình hình thị trường giá vàng và ngoại tệ trong tháng bình quân tăng mạnh: Chỉ số giá vàng tăng 9,16% so với tháng trước, tăng 33,89% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,03% so với tháng trước và tăng 8,22% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 7.460 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.548.496 đồng/100 USD. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng Tư: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ là thời điểm đầu mùa hè khắc nghiệt khi thời tiết nắng nóng, tác động đến nhu cầu thực phẩm, nước giải khát, hàng dệt may, hàng điện máy. Trong tháng cũng là thời điểm khai trương mùa du lịch biển tỉnh Hà Tĩnh; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về giá nhiên liệu xăng, dầu các loại khiến giá xăng dầu bình quân tăng so tháng trước; Thứ ba, giá vật liệu xây dựng tăng trở lại, giá và khối lượng tiêu dùng nước sinh hoạt tăng bên cạnh đó giá gạo trên thị trường thế giới giảm tác động đến giá gạo trong nước giảm nhẹ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá bình quân tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 1,95%, nông thôn tăng 2,65%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,97%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,56%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,77%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,39%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,58%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,45%; giao thông tăng 1,51%; bưu chính viễn thông giảm 1,91%; giáo dục tăng 2,21%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,46%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,67% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường tiêu dùng từ đầu năm đến nay các mặt hàng có mức biến động mạnh chủ yếu tập trung ở các nhóm lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện nước. Những yếu tố mùa vụ, thời tiết là những điểm cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự biến động giá cả hàng hoá dịch vụ. Bên cạnh đó là sự điều hành của các cơ quan quản lý đối với các nhóm nhiên liệu. Dự kiến CPI tháng 5/2024 sẽ tăng hơn và tăng chủ yếu ở các nhóm hàng hóa, dịch vụ, du lịch, ăn uống, thuỷ hải sản, giá phòng lưu trú, dịch vụ lữ hành. Giá điện và nước sinh hoạt tiếp tục tăng cao khi lượng tiêu thụ khả năng đạt ở mức cao trong điều kiện tình hình thời tiết nắng nóng tiệm cận mức 400C trên địa bàn tỉnh. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư nhìn chung ổn định, có phần khởi sắc hơn. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo, kịp thời. 2. Giáo dục Tình hình giáo dục trong tháng 4 trên địa bàn tập trung vào việc chuẩn bị cho các kỳ thi cuối năm học 2023-2024. Trong hai ngày 16/4 và 17/4, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh tổ chức Kỳ thi thử tốt nghiệp THPT năm 2024. Đây là kỳ thi thử duy nhất được tổ chức với hình thức trực tiếp trong năm học, mỗi trường THPT là một điểm thi. Đăng ký tham gia kỳ thi này có gần 17.000 học sinh lớp 12 (bao gồm học sinh các trường THPT công lập, tư thục và trung tâm GDNN-GDTX). Đây cũng là dịp các cơ sở giáo dục khảo sát kết quả của học sinh khối 12, từ đó có kế hoạch dạy học, ôn tập cho học sinh trong thời gian tới, đồng thời tập dượt cho việc tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024. Bên cạnh đó, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định số 407/QĐ-SGDĐT ngày 23/4/2024 về việc giao chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2024 – 2025. Theo đó, năm học 2024 - 2025, Hà Tĩnh sẽ tuyển sinh 15.075 chỉ tiêu vào lớp 10 THPT cho 36 trường THPT công lập trên địa bàn toàn tỉnh, riêng trường THPT Chuyên Hà Tĩnh sẽ tuyển 455 chỉ tiêu, tăng 35 chỉ tiêu so với năm học trước vì có sự điều chỉnh thêm một lớp chuyên tiếng Trung Quốc. 3. Hoạt động y tế - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, Hà Tĩnh đang tập trung tăng cường các hoạt động truyền thông và dự phòng chống lây nhiễm HIV, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân, nhất là đối tượng thanh niên. Trong tháng, trên địa bàn Hà Tĩnh đã phát hiện 2 người nhiễm mới HIV, 2 người chuyển thành AIDS và không có người chết vì AIDS. So tháng trước: giảm 3 người nhiễm mới HIV (giảm 60%), tăng 1 người chuyển thành AIDS (tăng 2 lần) và giảm 1 người chết vì AIDS (tháng 3 chết 1 người). So cùng kỳ năm trước: giảm 3 người nhiểm mới HIV (giảm 60%); giảm 2 người chuyển thành AIDS (giảm 50%) và giảm 1 người chết vì AIDS (cùng kỳ chết 1 người). Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, đã phát hiện 14 người nhiễm mới HIV, 10 người chuyển thành AIDS, 3 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước: giảm 7 người nhiểm mới HIV (giảm 33,33%); giảm 6 người chuyển thành AIDS (giảm 37,50%); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 3 người). - Công tác an toàn thực phẩm: Nhằm đảm bảo công tác an toàn thực phẩm trong mùa du lịch, các dịp nghĩ lễ, đặc biệt trên địa bàn tỉnh thời tiết nắng nóng với nền nhiệt độ cao là môi trường thuận lợi để vi khuẩn sinh sôi. Các đơn vị cơ quan chức năng liên ngành tăng cường công tác kiểm tra ATTP tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống trên địa bàn nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm có thể xẩy ra. Công tác giám sát phát hiện nguy cơ được duy trì, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn và tử vong do ngộ độc thực phẩm. Đồng thời khuyến cáo người dân cần nắm được những kiến thức cơ bản, trong bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh ăn uống. Trong tháng, xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể làm 2 người bị ngộ độc, không có trường hợp nào tử vong (tháng trước và cùng kỳ năm trước đều không có người chết vì các vụ ngộ độc thực phẩm). Ngoài ra còn có 61 ca ngộ độc đơn lẻ; so với tháng trước giảm 13 ca (giảm 17,57%) và giảm 12 ca so với cùng kỳ năm trước (giảm 15,28%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (tháng trước và cùng kỳ năm trước đều không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ). Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, xẩy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm làm 2 người bị ngộ độc; số vụ ngộ độc tập thể không thay đổi so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước xẩy ra 1 vụ) và giảm 5 người bị ngộ độc (giảm 71,42%). Có 231 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, so với cùng kỳ năm trước giảm 41 ca (giảm 15,07%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (cùng kỳ năm trước không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ).- Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, gồm: 3 ca sốt rét (giảm 2 ca so với cùng kỳ), 1 ca quai bị (giảm 21 ca so với cùng kỳ), 4 ca lỵ trực trùng (giảm 23 ca so với cùng kỳ), 5 ca lỵ amip (giảm 24 ca so với cùng kỳ), 59 ca thủy đậu (tăng 42 ca so với cùng kỳ), 1.445 ca mắc bệnh cúm (tăng 300 ca so với cùng kỳ), 153 ca tiêu chảy đơn lẻ (giảm 159 ca so với cùng kỳ), 8 ca viêm gan vi rút khác (tăng 1 ca so với cùng kỳ). Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết do các bệnh trên.4. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Sáng 17/4/2024, tỉnh Hà Tĩnh đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng (1.5.1904 - 1.5.2024). Cũng trong tháng này, đại diện lãnh đạo Sở VH-TT&DL, cấp ủy, chính quyền địa phương và đông đảo bà con cùng dự lễ nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh đền Bàu Ông tại xã Quang Thọ, huyện Vũ Quang và đền Ngư Ông tại Xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà. Bên cạnh đó, các địa phương trong tỉnh đang gấp rút chuẩn bị khai trương du lịch biển.Về thể dục thể thao: Trong tháng, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều giải thi đấu thể thao tạo nên không khí vui tươi, đoàn kết. Vòng 1 Giải Bóng chuyền VĐQG năm 2024 (từ 30/3-6/4) tại Hà Tĩnh đã thực sự trở thành ngày hội, dịp để người hâm mộ “cháy” hết mình với những trận cầu cảm xúc, mãn nhãn.Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra văn hóa trên địa bàn, nhất là các dịch vụ vui chơi giải trí karaoke, dịch vụ kinh doanh văn hóa tranh ảnh, băng đĩa nhạc,… nhằm đảm bảo việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân lành mạnh, loại trừ các văn hóa phẩm đi lệch với các thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước. 5. Tình hình trật tự và toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tháng (tính từ ngày 15/3/2024-14/4/2024) xảy ra 28 vụ tai nạn đường bộ, làm 10 người chết, 22 người bị thương (tăng 4 vụ; giảm 2 người chết và tăng 7 người bị thương so với tháng trước); tai nạn đường sắt không xảy ra (so tháng trước giảm 1 vụ và giảm 1 người chết). So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ không thay đổi (cùng kỳ xảy ra 28 vụ), giảm 7 người chết (giảm 41,76%) và tăng 4 người bị thương (tăng 29,41%); số vụ tai nạn đường sắt không thay đổi (cùng kỳ không xảy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 150 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024 (từ 15/12/2023-14/4/2024), xảy ra 145 vụ tai nạn đường bộ, làm 59 người chết, 119 người bị thương; 3 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương, 1 người chết; tai nạn đường thủy không xẩy ra. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 45 vụ (tăng 45,0%), giảm 4 người chết (giảm 6,35%) và giảm 62 người bị thương (giảm 2,1 lần); tai nạn đường sắt tăng 3 vụ và tăng 1 người bị thương (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 890 triệu đồng.  6. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ- Tình hình cháy: Trong tháng (từ ngày 15/3/2024-14/4/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 2 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 35 triệu đồng; so với tháng trước: giảm 6 vụ cháy (giảm75,0%), thiệt hại về người không thay đổi (không xảy ra). So với cùng kỳ năm trước giảm 7 vụ cháy (giảm 77,78%), thiệt hại về người không thay đổi (không xảy ra). Tính chung 4 tháng đầu năm (từ ngày, từ ngày 15/12/2023-14/4/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 19 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 249 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 11 vụ cháy (giảm 36,67%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). - Tình hình nổ: Trong tháng và 4 tháng đều không xảy ra vụ nổ nào (cùng kỳ năm trước không xảy ra). - Vi phạm môi trường: Địa phương thường xuyên triển khai thực hiện các nhiệm vụ nhằm nâng cao công tác kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường nói riêng như: Quản lý và giám sát chặt chẽ hoạt động xã thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của các hộ gia đình, ngăn chặn thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.… đồng thời tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức như băng rôn, đài, báo…. Trong tháng, phát hiện 8 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 6 vụ, với tổng số tiền xử phạt 35,5 triệu đồng; giảm 5 vụ phát hiện (giảm 38,46 %), giảm 15 vụ đã xử lý (giảm 71,43%), giảm 13,15 triệu đồng (giảm 27,03%) tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 35 vụ phát hiện (giảm 81,40 %), giảm 29 vụ đã xử lý (giảm 82,86%), giảm 103,77 triệu đồng (giảm 74,51%) tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, phát hiện 163 vụ vi phạm môi trường, giảm 95 vụ (giảm 36,82%) và đã xử phạt 149 vụ, giảm 205 vụ (giảm 57,91%) với tổng số tiền xử phạt 261,91 triệu đồng; giảm 636,86 triệu đồng số tiền xử phạt (giảm 70,86%) so với cùng kỳ năm trước. 7. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước không thay đổi (không xẩy ra).Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng Ba và quý I năm 2024
  •   27/07/2024 11:15

Năm 2024 là năm bứt phá thực hiện kế hoạch 5 năm 2021-2025.Những tháng đầu năm 2024, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Tĩnh có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn thách thức. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi; tổ máy số 1 của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, Nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào sản xuất, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thuận lợi… sẽ là hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng của nền kinh tế tỉnh nhà.v.v. Tuy nhiên, tăng trưởng thương mại toàn cầu tiếp tục chịu ảnh hưởng từ cạnh tranh chính trị diễn biến căng thẳng, khó lường, bên cạnh áp lực từ giá dầu thô, lương thực biến động mạnh sẽ tác động đến xu hướng phục hồi của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp ngay từ đầu năm. Trong đó, đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi phát triển. Tình hình kinh tế - xã hội quốc phòng an ninh quý I năm 2024 tiếp tục được giữ vững ổn định. I.   LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất trồng trọt trong quý I/2024 chủ yếu tập trung thu hoạch cây trồng vụ Đông 2023-2024 và tiến hành gieo trồng, chăm sóc cây vụ Xuân 2024. Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt, bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại, cây ăn quả đang trong thời vụ ra hoa kết quả. Chăn nuôi trong quý I năm 2024 khá ổn định, các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, tổng đàn lợn và đàn gia cầm tăng nhẹ; Sản xuất lâm nghiệp thời tiết khá thuận lợi cho việc trồng rừng nên các chủ rừng tích cực triển khai trồng và chăm sóc rừng, sản lượng gỗ khai thác trong quý tăng khá do đến chu kỳ khai thác; Hoạt động sản xuất thủy sản có nhiều tín hiệu khả quan khi người dân tích cực ra khơi bám biển, sản lượng khai thác và nuôi trồng tăng so với cùng kỳ năm trước. 1.1. Sản xuất nông nghiệp 1.1.1.Trồng trọt a. Cây hàng năm: Kết quả chính thức sản xuất vụ Đông 2023-2024: Toàn tỉnh gieo trỉa đạt 13.673 ha cây trồng các loại, bằng 97,54% (giảm 344 ha) so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn vượt 14,99% (tăng 1.783 ha) so với kế hoạch đặt ra. Trong đó: Cây ngô diện tích gieo trồng đạt 4.994 ha, bằng 95,36% (giảm 243 ha) so với cùng kỳ. Nguyên nhân diện tích ngô giảm so với cùng kỳ do một số địa phương có diện tích trồng sớm gặp mưa lớn kéo dài nên người dân không trồng lại ngô bắp mà thay vào đó là trồng ngô sinh khối phục vụ cho chăn nuôi. Năng suất ngô đạt 42,84 tạ/ha, bằng 103,51% (tăng 1,45 tạ/ha) với sản lượng ngô đạt 21.394 tấn, bằng 98,7% (giảm 281 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tuy năng suất tăng nhưng do diện tích giảm nên sản lượng ngô giảm so với cùng kỳ năm trước. Cây lấy củ có chất bột diện tích đạt 1.256 ha, bằng 94,97% (giảm 67 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là diện tích khoai lang với 1.238 ha, bằng 94,99% (giảm 65 ha) so với cùng kỳ, chiếm 98,56% tổng diện tích cây lấy củ có chất bột. Năng suất khoai lang đạt 64,19 tạ/ha, bằng 101,6% (tăng 1,01 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khoai lang đạt 7.944 tấn, bằng 96,51% (giảm 288 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cây có hạt chứa dầu diện tích đạt 10 ha, bằng 109,46% (tăng 1 ha). Đây là diện tích lạc vụ Đông ở huyện Nghi Xuân do thời tiết đầu vụ nhiều mưa, việc gieo trồng lạc gặp khó khăn nên người dân ít gieo trỉa mà chủ yếu sản xuất lạc vụ Xuân. Năng suất lạc đạt 22,6 tạ/ha, bằng 118,16% (tăng 3,47 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước với sản lượng lạc đạt 23 tấn, bằng 129,33% (tăng 5 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích nhóm rau, đậu, hoa và cây cảnh chính thức đạt 4.849 ha, bằng 98,80% (giảm 59 ha), trong đó: Diện tích rau các loại đạt 4.839 ha, bằng 98,75% (giảm 61 ha) do vụ Đông năm nay thời tiết đầu vụ có nhiều ngày nắng khó xuống giống, giữa mùa vụ mưa rét kéo dài đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của cây rau. Diện tích hoa, cây cảnh chính thức đạt 10 ha, trong đó chủ yếu là hoa cúc. Năng suất các loại rau vụ Đông đạt 63,21 ta/ha, bằng 100,63% (tăng 0,4 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng rau đạt 30.584 tấn, bằng 99,37% (giảm 194 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất vụ Xuân 2024:Tính đến ngày 13/3/2024, toàn tỉnh tiến hành gieo, cấy lúa 59.022 ha/59.107 ha đạt 99,86% kế hoạch, và bằng 99,35% so với cùng kỳ. Trong đó: Diện tích lúa gieo thẳng 53.874 ha, diện tích lúa cấy là 5.148 ha. Gieo trồng các cây trồng cạn khác với diện tích 20.441 ha/21.745 ha đạt 93,87% kế hoạch, cụ thể: Lạc 6.558 ha/7.599 ha đạt 86,30% KH; Ngô lấy hạt: 6.712 ha/6.389 ha đạt 105,06% KH; Khoai lang: 1.278 ha/1.557 ha đạt 82,08% KH; Đậu các loại: 197 ha/355 ha đạt 55,49% KH; Rau các loại: 5.696 ha/5.845 ha đạt 97,45% KH. Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Bà con nông dân đang tích cực chăm sóc các loại cây trồng, đặc biệt là thăm đồng phát hiện và phòng trừ các loại sâu bệnh phá hoại cây trồng vụ Xuân. b. Cây lâu năm Diện tích cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh hiện là 31.642 ha, cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Diện tích và sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu như sau: Diện tích xoài là 509 ha, bằng 103,46%; diện tích chuối hiện có là 2.172 ha, bằng 101,12%, sản lượng chuối thu hoạch trong quý I ước đạt 8.265 tấn, bằng 102,87%; diện tích thanh long hiện có là 219 ha, bằng 100,46%, sản lượng thu hoạch trong quý I ước đạt 110 tấn, bằng 98,21%; diện tích cam hiện có là 7.353 ha, bằng 96,17%, sản lượng thu hoạch trong quý I ước đạt 7.957 tấn, bằng 102,16%...Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh, hiện nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Hiện nay cây ăn quả trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định. Bên cạnh các loại cây ăn quả, biến động một số cây công nghiệp lâu năm chủ yếu được trồng ở địa phương như sau: diện tích cao su hiện có là 8.439 ha, bằng 100%, sản lượg thu hoạch trong quý I ước đạt 670 tấn, bằng 103,11%; diện tích chè hiện có là 1.225 ha, bằng 100,66%, sản lượng thu hoạch trong quý I ước đạt 3.230 tấn, bằng 102,51% so với cùng kỳ năm trước. c. Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa: Bệnh đạo ôn lá phát sinh gây hại ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tỉ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 10-15%, diện tích nhiễm 50 ha, trong đó 2 ha nhiễm nặng, tập trung chủ yếu trên giống NX30, P6, Thái Xuyên 111, Bắc hương 9, ADI28, Hana 7, Bắc thịnh, VNR20. Bệnh khô vằn xuất hiện trên một số diện tích gieo cấy giày, bón thừa đạm ở Hồng Lĩnh, tỷ lệ 3-7%, diện tích 35 ha. Nạn ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên những chân ruộng trũng, ngập nước, mật độ 3-5con/m2, nơi cao 5-7 con/m2, diện tích 24 ha phân bố ở Cẩm Xuyên. Chuột gây hại hầu hết các địa phương, đặc biệt vùng cao cưỡng gần làng, tỉ lệ 5-7%, nơi cao 10-15% diện tích nhiễm 182 ha. Trên cây trồng cạn: Sâu keo mùa thu, sâu cắn lá gây hại trên các trà ngô diện tích nhiễm 18 ha; Bệnh sương mai gây hại với diện tích nhiễm 10 ha; Sâu ăn lá (sâu xanh, sâu khoang): Gây hại chủ yếu trên nhóm rau ăn lá họ hoa thập tự trong vườn hộ và vùng rau tập trung ở Thạch Hà, Thành phố Hà Tĩnh mật độ trung bình 3-5 con/m2, nơi cao 7-10 con/m2, diện tích 5 ha Cây ăn quả có múi: Sâu vẽ bùa, sâu nhớt, diện tích nhiễm 85ha, sâu non bướm phượng 25ha, nhện nhỏ, Rệp muội 20ha gây hại trên lộc Xuân, phân bố tại Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê… Nhìn chung, trong tháng 3 và cả quý I/2024 tình hình sâu bệnh trên các loại cây có phát sinh nhưng không ảnh hưởng quá lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn. 1.1.2. Chăn nuôi Trong quý I/2024, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh dịp Tết vừa qua tương đối dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân, không xẩy ra hiện tượng khan hàng và tăng giá thực phẩm chăn nuôi. Kết quả sản xuất chăn nuôi trong quý I/2024: Đàn trâu hiện có 66.550 con, bằng 97,65%, sản lượng xuất chuồng quý I ước đạt 980 tấn, bằng 98,0%; đàn bò hiện có 164 nghìn con, bằng 97,58%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 2.820 tấn, bằng 99,82%; đàn lợn hiện có 398.890 con, bằng 101,05%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 18.300 tấn, bằng 103,06%; đàn gia cầm hiện có 9.950 nghìn con, bằng 100,98%, sản lượng xuất chuồng ước đạt 7.610 tấn, bằng 101,22% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, sản xuất chăn nuôi quý I năm 2024 ổn định, các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện, tổng đàn lợn và đàn gia cầm tăng nhẹ. Tuy nhiên, do chăn nuôi trâu, bò không hiệu quả nên người dân không mở rộng quy mô chăn nuôi đã làm cho tổng đàn trâu, bò đang có xu thế giảm so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay giá thức ăn và các chi phí vẫn còn cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng 3/2024 đã xuất hiện Dịch lở mồm long móng trên gia súc xuất hiện tại xã Bùi La Nhân huyện Đức Thọ, làm cho 02 con gia súc mắc bệnh, đến ngày 14/3/2024, bệnh LMLM đã qua 16 ngày không phát sinh ca bệnh mới. Bệnh Viêm da nổi cục xảy ra tại 7 xã của 3 huyện (Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân) đã làm cho 77 con trâu bò mắc bệnh; trong đó gia súc mắc bệnh chết, tiêu hủy 9 con, khối lượng 1.865 kg. Hiện nay, bệnh Viêm da nổi cục tại các huyện chưa qua 21 ngày. 1.2. Lâm nghiệp Thời gian qua, điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho việc trồng cây nên các chủ rừng đã tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2024. Diện tích rừng trồng mới tháng 3 và quý I năm 2024 đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng tập trung tháng 3 ước đạt 335 ha, bằng 107,72%, quý I ước đạt 1.282 ha, bằng 117,72%. Cùng với diện tích rừng trồng tăng thì sản lượng gỗ khai thác tháng 3 và quý I tăng so với cùng kỳ, cụ thể sản lượng gỗ khai thác tháng 3 ước đạt 25.914 m3, bằng 103,72%, quý I ước đạt 65.117 m3, bằng 106,71% so với cùng kỳ năm trước. Việc trồng cây xanh phân tán để tạo môi trường sống trong lành luôn được các địa phương quan tâm thực hiện. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 3 ước đạt 551 ngàn cây, bằng 95,99%, quý I ước đạt 1.424 ngàn cây, bằng 101,71%.  Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 11 vụ phá rừng (giảm 8 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,64 ha (giảm 1,7 ha) so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Tổng sản lượng thủy sản tháng 3 năm 2024 ước đạt 4.535 tấn, bằng 101,86% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 3.190 tấn, bằng 101,72%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.345 tấn, bằng 102,20%. Tính chung quý I năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 13.240 tấn, bằng 102,09% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 9.928 tấn, bằng 101,83%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3.312 tấn, bằng 102,89%. Nhìn chung, hoạt động sản xuất thủy sản tháng 3 và quý I năm 2024 trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định, sản lượng tăng hơn so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết tương đối thuận lợi ngư dân tranh thủ ra khơi bám biển và đã trúng nhiều mẻ cá lớn như cá trích, sứa, tôm, mực...và cho thu nhập khá trong mỗi chuyến ra khơi. Sản lượng hải sản khai thác biển chiếm hơn 70% tổng sản lượng thủy, hải sản trong khi điều kiện, phương tiện, tiềm lực khai thác biển không có nhiều thay đổi nên khó để tạo ra bước đột phá trong khai thác hải sản. Tuy giá bán sản phẩm ổn định nhưng giá nhiên liệu và các chi phí khác vẫn ở mức cao nên ngư dân gặp rất nhiều khó khăn khi vươn khơi đánh bắt hải sản. Bên cạnh hoạt động khai thác thì hoạt động nuôi trồng cũng chưa có bước đột phá gì đáng kể, cơ bản duy trì diện tích nuôi trồng hiện có ở các địa phương có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản. Dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh. 2. Sản xuất công nghiệp Quý I năm 2024 sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh nỗ lực ổn định hoạt động sản xuất; tích cực đẩy mạnh tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong quý I năm 2024 ước tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Ước tính tháng 3/2024, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng 15,6% so với tháng trước và giảm 3,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 65% so với tháng trước và giảm 0,46% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước tăng 10,81% so với tháng trước và giảm 8,11% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 44,38% so với tháng trước và tăng 27,01% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước tăng 3,61% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 9,81%. Dự ước quý I năm 2024 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh ổn định hơn so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh quý I tăng 4,27% so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 6,60% đóng góp 0,15 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,09% làm tăng 0,42 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 29,60% đóng góp 3,37 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,44% đóng góp 0,33 điểm vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp trong quý I/2024 tăng so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân chính là do: (1) Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 vận hành ổn định song song 2 tổ máy theo thị trường mua bán điện của EVN (cùng kỳ năm trước Tổ máy số 1 gặp sự cố), sản lượng điện ước đạt 2.687 triệu Kwh tăng 36,13% so với cùng kỳ; (2) Sản xuất bia tăng trưởng khá, 2 nhà máy sản xuất bia đóng lon trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn duy trì ổn định sản xuất (sản lượng ước đạt 17,39 triệu lít tăng 32,20%); (3) Nhà máy sản xuất Pin VinES đã đi vào vận hành thương mại từ tháng 8 năm 2023 (sản lượng Ắc quy bằng ion lithi quí I năm 2024 ước đạt 77.000 Kwh); (4) Kể từ tháng 12/2023, Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh mở rộng mặt bằng khai thác, mỏ mới được cấp phép nên sản lượng quặng khai thác tăng cao so cùng kỳ. Khởi đầu năm 2024 với nhiều tín hiệu tốt, với quyết tâm cao, hành động quyết liệt, các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực công nghiệp đang mở ra những kỳ vọng cho tăng trưởng của Hà Tĩnh cả năm 2024. 2.2.Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 12 nhóm sản phẩm cộng dồn 3 tháng đầu năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 3 tháng đầu năm 2024 tăng so với năm trước: Vỏ bào, dăm gỗ tăng 60,9%; quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 38,82%; bia đóng lon tăng 32,2%; điện sản xuất tăng 36,13%; nước không uống được tăng 18,46%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 3 tháng đầu năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Mực đông lạnh giảm 85,29%; chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 55,78%; mực đông lạnh giảm 61,69%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 38,6%; dịch vụ sản xuất dược phẩm giảm 16,82%; ... 2.3. Chỉ số ngành công nghiệp - Chỉ số tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dự tính tháng 3/2024 tăng 3,1% so với tháng trước, tuy nhiên so với tháng 3/2023 giảm 20,33%. Tính chung quý I/2024 chỉ số tiêu thụ giảm 7,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản phẩm than cốc, dầu mỏ tinh chế với chỉ số tiêu thụ giảm 29,12% so với cùng kỳ năm trước, do doanh nghiệp giữ lại dùng để sản xuất chế biến tiếp trong doanh nghiệp. - Chỉ số tồn kho: Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2024 tăng 34,48% so với tháng trước và tăng 37,61% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao do một số ngành như: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 83,44%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 41,23%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 33,03%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 31,89%; … - Tình hình sử dụng lao động: Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 3 năm 2024 giảm 0,05% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 14,26%. Cộng dồn đến cuối năm tháng 3 năm 2024, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 14,43% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động của ngành khai khoáng tăng 9,31% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số sử dụng lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,39%, hiện nay một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,08%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 2,45% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Tình hình hoạt động doanh nghiệp. Những tháng đầu năm 2024, số lượng doanh nghiệp thành lập mới trên địa bàn tỉnh giảm so với cùng kỳ năm trước, ngoài ra số lượng các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể tăng so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy nền kinh tế còn nhiều khó khăn, rủi ro và thách thức. Bên canh các đơn vị doanh nghiệp thành lập mới, các doanh nghiệp cũ hiện nay đang tập trung vào sản xuất kinh doanh với kỳ vọng một năm hoạt động hiệu quả, hoàn thành thắng lợi kế hoạch đề ra. 3.1. Tình hình đăng ký kinh doanh Tính từ đầu năm đến ngày 20/3/2024, toàn tỉnh thành lập mới 230 doanh nghiệp, giảm 9,09% so với cùng kỳ năm 2023. Tổng vốn đăng ký đạt 1.636 tỷ đồng, tăng 116,95%, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 7,11 tỷ đồng, gấp 2,4 lần so cùng kỳ năm trước.Trong kỳ có 146 doanh nghiệp hoạt động trở lại (tăng 16,96% so với cùng kỳ). Bên cạnh các Doanh nghiệp thành lập mới, có nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm ngừng và giải thể, cụ thể: có 313 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (tăng 19,47%); 69 doanh nghiệp giải thể (tăng 30,19%). Hiện nay để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, phát triển, tháo gỡ khó khăn về thị trường tiêu thụ. Khi có thêm những giải pháp thúc đẩy đầu ra thì doanh nghiệp mới cải thiện được khả năng trả nợ, tăng khả năng hấp thụ vốn. 3.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Đánh giá tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2024 có 52,08% doanh nghiệp đánh giá SXKD của họ tốt lên và giữ ổn định so với quý trước. Bên cạnh đó, số doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD của họ khó khăn hơn chiếm đến 47,92% trong tổng số các doanh nghiệp toàn tỉnh. Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2024 so quý I/2024, có tới 56,25% doanh nghiệp nhận định SXKD quý II/2024 sẽ tốt hơn và 31,25% giữ ổn định so với quý I/2024. Số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước giảm xuống còn 12,5% tổng số các doanh nghiệp trong toàn tỉnh. Dự báo xu hướng sản xuất theo hình thức sở hữu có 60,61% số doanh nghiệp ngoài nhà nước nhận định SXKD quý II/2024 tốt hơn quý I/2023; tỷ lệ này của các doanh nghiệp Nhà nước là 50%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 44,44%. Nhìn chung phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2024 và dự báo quý II/2024 tốt hơn so với quý trước. Điều này cho thấy tình hình sản xuất ngành công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực và thuận lợi hơn. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng: Nhìn chung, hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng 3 và quý I hoạt động khá nhộn nhịp, mặc dù quý này không đạt mức doanh thu cao như quý trước nhưng vẫn tăng mạnh so với cùng quý năm trước (Doanh thu bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng tính cả quý ước đạt 20.179,5 tỷ đồng tăng 20,29% so với quý I năm 2023). Do trùng với nhiều ngày lễ lớn như Tết dương lịch, tết Nguyên đán, Ngày Quốc tế phụ nữ….giá cả các mặt hàng tiêu dùng có biến động tăng, tình hình kiểm tra, kiểm soát chất lượng hàng hoá, an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh được các cấp chính quyền thực hiện triệt để. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2024, ước đạt 5.442,41 tỷ đồng, giảm 2,23% so với tháng trước và tăng 21,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả quý I/2024 đạt 17.142,1 tỷ đồng, tăng 21,47% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng đều có doanh thu tăng khá, trong đó một số mặt hàng chiếm doanh thu lớn và tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 8.296,36 tỷ đồng, tăng 26,07%; hàng may mặc ước đạt 1.138,76 tỷ đồng, tăng 53,78%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 2.245,72 tỷ đồng, tăng 55,87%; đá quý, kim loại quý các loại ước đạt 405,17 tỷ đồng, tăng 58,26%; hàng hóa khác ước đạt 985,92 tỷ đồng, tăng 49,02%... Bên cạnh các nhóm hàng tăng mạnh về doanh thu thì nhóm ô tô và phương tiện đi lại mặc dù đã có nhiều chính sách ưu đãi từ các hãng xe và đơn vị kinh doanh, tuy nhiên doanh thu vẫn chưa phục hồi như những năm trước (doanh thu quý I nhóm ô tô dưới 9 chỗ ngồi giảm 35,59% và phương tiện đi lại giảm 27,04% so với cùng kỳ), doanh thu nhóm xăng, dầu khá ổn định, giảm nhẹ 0,87% so với cùng kỳ chủ yếu do ảnh hưởng của sự điều tiết giá cả mặt hàng hàng này. Nhìn chung, trong quý nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của người dân tăng mạnh, mức tăng trưởng tập trung chủ yếu vào dịp trước, trong Tết. Thị trường giá cả hàng hóa nhìn chung ổn định, một số mặt hàng giá cả tăng mạnh so quý trước chủ yếu chỉ trong dịp Tết và ổn định lại sau Tết. Các cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát, chống gian lận thương mại, hàng giả, kiểm soát chặt chẽ. Các mặt hàng như: Gạo nếp, bánh kẹo, bia rượu, thực phẩm tươi, thực phẩm chế biến… là những mặt hàng có doanh số bán ra cao và ổn định. Bên cạnh đó, các ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, gian lận thương mại; đảm bảo nhu cầu hàng hóa, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu, các dịch vụ công thông suốt để phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhân dân và doanh nghiệp. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành: Doanh thu tháng 3/2024 dự tính đạt 599,93 tỷ đồng, tăng 5,88% so với tháng trước, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 15,27 tỷ đồng, tăng 51,67% so với tháng trước, giảm 18,92% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 616,34 tỷ đồng, tăng 5,07% so với tháng trước, tăng 15,56% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước đạt 3,6 tỷ đồng, tăng 10,09% so với tháng trước và tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình thời tiết thuận lợi, các cơ sở kinh doanh nhà hàng ăn uống hoạt động ổn định hơn, các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn dần hoàn thành việc sữa chữa nâng cấp buồng phòng để chuẩn bị cho một mùa du lịch sắp tới nên doanh thu nhóm hàng này trong tháng những tháng tới sẽ có nhiều sự khởi sắc. Tính chung quý I năm 2024, doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.897,09 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ, trong đó: Lưu trú ước đạt 36,57 tỷ đồng, giảm 35,06%; lượt khách phục vụ 230.501 lượt, giảm 34,52%; ngày khách phục vụ 191.813 ngày, giảm 33,64% so với cùng kỳ năm trước. Ăn uống ước đạt 1.850,33 tỷ đồng, tăng 21,33% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước đạt 10,19 tỷ đồng, tăng 16,79% so với cùng kỳ năm trước Hoạt động dịch vụ, du lịch trong quý I/2024 nhìn chung giữ được sự ổn định, hoạt động khá nhộn nhịp, doanh thu dù không đạt mức cao như quý trước nhưng vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, hoạt động ăn uống ngoài gia đình vẫn là nhóm chiếm tỷ trọng doanh thu cao nhất và tăng trưởng ổn định ở cả 3 tháng trong quý, quyết định trực tiếp đến doanh thu cả khu vực dịch vụ này. Dịp đầu năm người dân thường đi lễ hội đến các di tích, đền chùa đề cầu mong những điều tốt đẹp cho bản thân và gia đình, lượng khách đăng ký các tour du lịch tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.Dự tính những tháng tới, khi Hà Tĩnh bước vào cao điểm mùa nóng các hoạt động du lịch, lưu trú và ăn uống tại các bãi biễn sẽ tăng rất lớn, đây cũng là cơ hội để tỉnh nhà phát huy tiềm năng lợi thế với rất nhiều bãi biển đẹp như: Thiên Cầm, Thạch Hải, Thạch Bằng... Ngoài ra, các khu du lịch sinh thái với cảnh đẹp thu hút khách quan cũng là hình thức du lịch mới phát triển khá nhiều trên địa bàn Dịch vụ khác: Doanh thu dịch vụ khác tháng 3/2024 dự tính đạt 367,55 tỷ đồng, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 5,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2024 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.140,31 tỷ đồng, tăng 6,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm kinh doanh bất động sản tăng 0,15%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 3,72%; giáo dục đào tạo tăng 9,23%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 4,87%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 58,8%; dịch vụ khác tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ phát triển mạnh do nhu cầu làm đẹp, chăm sóc da, tóc chuẩn bị đón Tết của mọi người dân tăng nên các cơ sở kinh doanh dịch vụ này hoạt động hết công suất, một số cơ sở phải thuê thêm thợ thời vụ. Dịch vụ làm ma két, cắt chữ, làm biển quảng cáo trong quý I năm 2024 cũng tăng hơn quý trước do nhu cầu làm market chào mừng năm mới, mừng thọ, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền, chào mừng các ngày lễ trọng đại của quê hương, đất nước. Bên cạnh đó hoạt động cho thuê đồ dùng gia đình phục vụ cưới hỏi, ăn uống tất niên...diễn ra khá nhộn nhịp. 4.2. Hoạt động vận tải Hoạt động kinh doanh vận tải trong tháng đã trở lại hoạt động bình thường sau dịp Tết Nguyên đán. Tình hình thời tiết thuận lợi cho việc lưu thông của các phương tiện vận tải hành khách và hàng hóa. Các đơn vị sản xuất kinh doanh, bán buôn bán lẻ, xuất nhập khẩu hàng hóa hoạt động ổn định trở lại, tăng nhu cầu vận chuyển hàng hoá trên thị trường. Kết quả vận tải, kho bãi tháng 3/2024 ước đạt 658,07 tỷ đồng, tăng 10,39% so tháng trước và tăng 17,13% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 111,10 tỷ đồng, giảm 26,71% so với tháng trước và tăng 40,54% so với cùng kỳ năm trước; Vận tải hàng hóa ước đạt 409,01 tỷ đồng, tăng 38,45% so với tháng trước và tăng 9,99% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 132,98 tỷ đồng, giảm 7,63% so với tháng trước và tăng 40,4% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả kinh doanh vận tải tháng 3/2023 đạt kết quả tăng trưởng tốt chủ yếu do ngành vận tải hàng hóa trong tháng thời tiết tương đối thuận lợi hoạt động vận tải hàng hóa cũng như hoạt động của các đơn vị xây dựng, công nghiệp chế biến, nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu như xi măng, sắt thép, gỗ.. tăng. Bên cạnh đó, vận tải hành khách giảm hơn so tháng trước do nhu cầu đi lại trong dịp trước trong và sau Tết cao, hiện tại như cầu đã bão hòa lại, nhưng so cùng kỳ năm trước mức doanh thu vẫn tăng cao do nhu cầu thị phần vé xe giá cao (dòng chất lượng) ngày càng tăng. Tính chung quý I năm 2024, doanh thu vận tải dự tính đạt 1.906,97 tỷ đồng, tăng 19,81% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 399,88 tỷ đồng, tăng 65,94% với số lượng vận chuyển đạt 3.758,6 nghìn HK, tăng 23,63% và luân chuyển đạt 696.522,2 nghìn HK.km, tăng 20,34%; Vận tải hàng hóa dự tính đạt 1.091,76 tỷ đồng, tăng 5,39% với khối lượng vận chuyển ước đạt 11.902,1 nghìn tấn, tăng 5,01% và luân chuyển ước đạt 360.866,1 nghìn tấn.km, tăng 2,68%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 399,97 tỷ đồng, tăng 47,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý I vừa qua, tình hình hoạt động kinh doanh ngành vận tải trên địa bàn tỉnh khá sôi động và nhộn nhịp, đây là quý có kỳ nghỉ Tết Dương lịch và tết Nguyên đán, nên nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa của người dân trong dịp Tết tăng cao. Dịch vụ vận tải đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, nhất là các thời điểm trước, trong và sau Tết. Hoạt động vận tải hành khách trong quý có doanh thu tăng so với quý trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và lượng khách du lịch tăng đột biến so với cùng kỳ năm trước đã góp phần làm gia tăng giá trị từ hoạt động vận tải, tạo đà cho nhóm ngành này phát triển trở lại sau thời gian dài bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động. Bên cạnh đó, thời tiết thuận lợi cho các công trình xây dựng tiếp tục thi công, nhu cầu xây dựng, san lấp mặt bằng và xuất khẩu hàng hóa ổn định nên các doanh nghiệp, cơ sở vận tải hàng hóa, cho thuê máy móc hoạt động thuận lợi và có doanh thu cao hơn. 5. Tài chính, ngân hàng 5.1. Hoạt động tài chính Nhờ triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tăng cường quản lý thu, chống thất thu gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tổng thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/3/2024 tăng 46,78% so với cùng kỳ. Chi ngân sách cơ bản đáp ứng được các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: Tổng thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/3/2024 đạt 4.342,14 tỷ đồng, (tăng 46,78% so với cùng kỳ). Trong đó: thu nội địa ước đạt 1.853,40 tỷ đồng tăng 64,21% so với cùng kỳ năm trước. Một số sắc thuế thu đạt kết quả cao từ những tháng đầu năm như: thu thuế, phí đạt 890,42 tỷ đồng tăng 53,96% so với cùng kỳ; thuế bảo vệ môi trường đạt 213,29 tỷ đồng tăng 195,05%; thu tiền sử dụng đất đạt 549,73 tỷ đồng tăng 73,52% do những tháng đầu năm 2024, thị trường bất động sản ở Hà Tĩnh khởi sắc, tăng cả về giá và lượng giao dịch... Bên cạnh thu nội địa thì thu xuất nhập khẩu đạt 2.153,07 tỷ đồng, tăng 33,18% so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng II, Công ty cổ phần Giải pháp năng lượng VINES Hà Tĩnh đẩy mạnh nhập khẩu hệ thống máy móc, thiết bị, vật tư để tiếp tục triển khai xây dựng nhà máy. Ngoài ra, tháng đầu năm, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đẩy mạnh nhập khẩu nguyên vật liệu (than, quặng sắt...) để phục vụ sản xuất, kinh doanh cũng góp phần tăng thu thuế xuất nhập khẩu cho Hà Tĩnh. Tổng chi ngân sách nhà nước:Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 15/3/2024 đạt 5.698,96 tỷ đồng, tăng 10,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 2.810,9 tỷ đồng, chiếm 49,32% tăng 5,12% so với cùng kỳ năm trước. Chi thường xuyên đạt 2.887,39 tỷ đồng, chiếm 50,67% tổng chi, tăng 16,82% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung hoạt động chi ngân sách ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, cấp bách gắn với việc thực hiện các mục tiêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 5.2. Hoạt động ngân hàng Công tác huy động vốn trên địa bàn tỉnh quý I năm 2024 tiếp tục được đẩy mạnh. Theo đó, các tổ chức tín dụng ở Hà Tĩnh đã chủ động triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nhờ đó, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng khá tốt, ước tăng 4,08% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, sức hấp thụ vốn của nền kinh tế kém khiến tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Hà Tĩnh những tháng đầu năm chậm, so với cuối năm 2023, dư nợ cho vay tăng 0,39%. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng tại Hà Tĩnh ước đến thời điểm 31/3/2024, đạt 104.630 tỷ đồng, tăng 4,08% so với cuối năm 2023. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 10.850 tỷ đồng, giảm 16,93% so với cuối năm 2023. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 77.110 tỷ đồng, tăng 4,90%; tiền gửi thanh toán đạt 26.980 tỷ đồng, tăng 2,18% so với cuối năm 2023. Với việc triển khai nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn như triển khai các chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng, trong 3 tháng đầu năm, nguồn tiền gửi tiết kiệm trên địa bàn đạt mức tăng trưởng tốt. Dư nợ cho vay ước đến 31/3/2024 đạt 96.425 tỷ đồng, tăng 0,39% so với cuối năm 2023. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 69.770 tỷ đồng, tăng 0,87%; dư nợ trung dài hạn đạt 26.655 tỷ đồng, giảm 0,85%. Mặc dù, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã thực hiện các biện pháp giảm lãi suất, triển khai các chính sách ưu đãi của Chính phủ và của UBND tỉnh để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục khó khăn và phục hồi phát triển kinh tế nhưng dư nợ tín dụng trên địa bàn chỉ tăng thấp so với cuối năm 2023. Lãi suất huy động tiền gửi bằng VNĐ ở mức 0,1-0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 1,7-4,1% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 2,9-4,7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 4,2- 6,3%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và dân cư. Lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn phổ biến 5,4-9%/năm, trung dài hạn phổ biến 6,9-10,5%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 3-4,5%/năm; trung, dài hạn phổ biến mức 4-6,1%/năm. Tính đến 31/3/2024 nợ xấu ước tính 639 tỷ đồng, chiếm 0,66% tổng dư nợ. 6. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư toàn xã hội quí I năm 2024 tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tăng 21,98%) chủ yếu nhờ giải ngân cao từ khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong đó, một số dự án đóng góp vốn đầu tư đáng kể như Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II, cao tốc Bắc Nam, nhà máy sản xuất Pin Lithium tập trung xây dựng và nhập khẩu máy móc, thiết bị sản xuất chờ lắp đặt. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh quý I năm 2024 dự ước đạt 11.351,32 tỷ đồng, giảm 30,98% so với quý trước, tăng 21,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.472,06 tỷ đồng, giảm 43,68% so với quý trước và tăng 38,23% so với cùng kỳ năm trước. Để kịp tiến độ đề ra, các nhà thầu đang huy động tối đa nhân lực, máy móc, chia làm nhiều mũi thi công đẩy nhanh dự án cao tốc Bắc - Nam qua Hà Tĩnh. Tổng vốn đầu tư dự án này thực hiện trong quý I/2024 ước đạt 1.393 tỷ đồng, tăng 85,46% so với cùng kỳ năm trước. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến vốn nhà nước tăng mạnh quý I/2024 tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, so với quý trước, do là quý đầu năm ảnh hưởng bởi giao kế hoạch vốn ngân sách địa phương quản lý, thời gian nghĩ lễ kéo dài. Cho nên vốn đầu tư khu vực nhà nước nước trên địa bàn giảm 45,1% so với quý IV/2023. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 3.706,56 tỷ đồng, giảm 10,73% so với quý trước và giảm 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước quý I năm 2024 (chiếm 30,27%) tăng 26% so với quý trước, tuy nhiên so với cùng kỳ, dự án VinES đã hoàn thành đi vào sản xuất kinh doanh, do đó vốn đầu tư thực hiện khu vực này giảm 40,08%. Vốn đầu tư khu vực hộ dân cư (chiếm 69,72%) cũng giảm mạnh so với quý trước (giảm 20,75%), nguyên nhân chủ yếu do quý này trùng vào các ngày lễ kéo dài, do đó giá trị đầu năm đạt thấp so với các quý khác trong năm. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 5.172,70 tỷ đồng, giảm 34,57% so với quý trước và tăng 66,36% so với cùng kỳ năm trước. Chủ yếu vốn đầu tư nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đạt 4.220 tỷ đồng giảm 37,08% so với quý trước, tăng 38,45% so với cùng kỳ. Dự án nhà máy sản xuất Pin Lithium xây dựng và nhập khẩu máy móc, thiết bị sản xuất chờ lắp đặt, vốn đầu tư thực hiện đạt 460 tỷ đồng, giảm 37,58% với quý trước, tăng 11 lần so với cùng kỳ năm trước. 7.Xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 3/2024 hoạt động xuất, nhập khẩu có dấu hiệu chững lại so với các tháng trước do những tháng trước nhu cầu hàng ngoại cho dịp Tết tăng cao. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 3 năm 2024 ước đạt 563,8 triệu USD, giảm 10,79% so với tháng trước, nhưng so cũng kỳ vẫn tăng ổn định ở mức 5,9%. Tính chung quý I, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức tăng 14,84% so với cùng kỳ chủ yếu do kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh, trong khi thị trường xuất khẩu trong quý có giảm không đáng kể so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 3 năm 2024 ước đạt 215,0 triệu USD, giảm 12,25% so với tháng trước, giảm 8,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, quý I/2023 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 662,81 triệu USD, giảm 0,13% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do sự biến động xuất khẩu mặt hàng thép, phôi thép mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu (xuất khẩu khẩu thép tháng 3 ước đạt 191,4 triệu USD giảm 15,74% so với tháng trước và giảm 13,48% so với cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu cả quý I ước đạt 592,79 triệu USD giảm 3,25%). Mặc dù kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác như: Chè, dăm gỗ, dệt và may mặc có tăng trưởng khá so với cùng kỳ nhưng do giá trị xuất khẩu trong tổng kim ngạch là không đáng kể nên không ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng chung. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 3 năm 2024 ước đạt 348,8 triệu USD, giảm 9,87% so với tháng trước tuy nhiễn vẫn tăng 17,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, quý I năm 2023 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 990,8 triệu USD, tăng 27,64% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do Formosa tăng nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất (Ước đạt 756,16 triệu USD tăng 19,08% so với cùng kỳ năm trước). Có thể thấy rõ kim ngạch xuất, nhập khẩu của tỉnh chịu tác động trực tiếp từ hoạt động xuất, nhập khẩu từ công ty Formosa, mặc dù đã có cách chính sách đa dạng hóa các mặt hàng và có sự tăng trưởng khá ở các nhóm hàng như chè, dệt và may mặc...tuy nhiên việc thị trường Dăm gỗ vẫn còn nhiều khó khăn khiến việc tránh phụ thuộc thép trong kim ngạch xuất nhập khẩu chưa có biến động nhiều, kỳ vọng đặt vào các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. 8. Giá cả, lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 3 năm 2024 có giảm nhẹ so với tháng trước nhưng so cùng tháng năm trước vẫn tăng ở mức 2,51%. Tính chung chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I tăng 2,31% so với cùng kỳ, cơ bản diễn biến giá cả biến động mạnh chủ yếu vẫn ở nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống khi giá gạo và lương thực, thực phẩm vẫn đang ở mức cao. Tháng 3 năm 2024, chỉ số CPI chung giảm 0,50% so với tháng trước nhưng tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 02 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước là Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,27% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 3,63%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,12% so tháng trước, tăng 4,5% so cùng tháng năm trước; Bên cạnh các hàng hóa có chỉ số giá tăng thì có 06 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,17% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,46%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,31% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,35%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,6% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 1,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,36% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,49%; giao thông giảm 0,61% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,44%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,41% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,54%. Có 03 nhóm ổn định về chỉ số so với tháng trước là Bưu chính viễn thông; thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục. Một số yếu tố chính tác động đến giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng. Thứ nhất, do Ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ là thời điểm sau Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ có sự thay đổi ảnh hưởng đến sự biến động của giá. Bên cạnh đó, việc chuyển mùa từ mùa lạnh sang mùa nắng cũng làm ảnh hưởng đến nhu cầu và giá cả. Thứ hai, giá xăng dầu bình quân tăng so tháng trước. Thứ ba, khối lượng tiêu dùng điện và nước sinh hoạt cao hơn tháng trước dẫn đến giá điện tăng. Thị trường giá vàng và ngoại tệ trong tháng tăng mạnh theo xu hướng của thị trường thế giới. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 6.830 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.522.439 đồng/100 USD. Tính cả quý I CPI bình quân 2024 tăng 2,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Phân theo khu vực thì khu vực thành thị tăng 1,8%, nông thôn tăng 2,54%. Phân theo nhóm ngành hàng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,58%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,24%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,61%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 3,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,57%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,46%; giao thông tăng 1,21%; bưu chính viễn thông giảm 1,82%; giáo dục tăng 2,19%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,75% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, thị trường tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ quý I năm 2024 tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Do dịp Tết Nguyên đán rơi vào thời điểm giữa quý, các nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, hoa, giao thông, đồ uống, thuốc lá tăng mạnh so với quý trước. Dự kiến CPI tháng 4/2024 dự kiến tăng và sẽ tăng mạnh nhóm thực phẩm thủy sản biển do là tháng bước vào mùa du lịch biển, do đó nhu cầu mặt hàng tươi sống biển như tôm, cá, mực tăng. Ngoài ra các nhóm hàng hóa khác như giá khách sạn, nhà nghỉ và thực phẩm hải sản các loại dự kiến tăng giá. Trong khi đó, thời tiết chuyển mùa nắng nóng nên nhu cầu mua sắm đồ dùng điện lạnh, quạt điện đều tăng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Dân số, lao động việc làm Quý I/2024, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước; tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có tín hiệu phục hồi; nhiều loại hình, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh và mô hình sản xuất của doanh nghiệp ngày càng đa dạng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tính từ 01/01/2024-20/3/2024, số doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động trở lại là 376 doanh nghiệp (bao gồm 230 doanh nghiệp thành lập mới và 146 doanh nghiệp hoạt động trở lại), tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước, góp phần tạo điều kiện để thu hút thêm lao động; có 69 doanh nghiệp đã giải thể và 313 doanh nghiệp tạm dừng hoạt động. Ngoài ra, theo kết quả khảo sát của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh, trong quý I năm 2024, có 45 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có nhu cầu tuyển dụng gần 7.000 lao động, trong đó: Công ty cổ phần May thể thao chuyên nghiệp Nghi Xuân (huyện Nghi Xuân) do nhu cầu đơn hàng mới và mở rộng sản xuất nên cần tuyển 1.000 lao động. Ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng tương đối lớn chủ yếu: lắp ráp linh kiện điện tử, dệt may, xây dựng, cơ khí, lái xe, điện, tự động hóa... phần lớn là lao động phổ thông (chiếm 70%) làm việc trong các ngành nghề lắp ráp linh kiện điện tử, dệt may. Lực lượng lao động: Theo kết quả điều tra lao động việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính quý I năm 2024 là 536.328 người, tăng 0,27% so với quý trước và giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, lực lượng lao động là nam 278.208 người (chiếm 51,87%);lực lượng lao động là nữ 258.120 người (chiếm 48,13%); lực lượng lao động khu vực thành thị là 136.012 người (chiếm 25,36%); lực lượng lao động khu vực thành thị là 400.316 người (chiếm 74,64%) trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Lao động có việc làm: Theo kết điều tra lao động việc làm, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ước tính quý I năm 2024 là 520.117 người, chiếm 96,98% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,6% so với quý trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước). Trong tổng số lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 131.608 người, chiếm 25,3% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 268.933 người, chiếm 51,71%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy cơ cấu lao động chuyển dần theo chiều hướng tích cực: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 28,98% trong tổng số (tương ứng 149.467 người), giảm 0,25 điểm phần trăm so với quý trước; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 27,93% (tương ứng 145.266 người), tăng 0,01 điểm phần trăm; Thương mại - Dịch vụ chiếm 43,33% (tương ứng 225.384 người), tăng 0,24 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Quý I/2024 dân số lao động không có việc làm (thất nghiệp) là 16.211 người, chiếm 3,02% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,31 điểm phần trăm so quý trước và 3,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có đến 72,83% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn (tương đương 11.807 người). Còn theo giới tính, lao động nam chiếm nhiều hơn nữ, chiếm 57,21 % (tương đương 9.275 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý I/2024 ước tính là 5,3%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Tính đến hết tháng 2/2024 đã nhận và giải quyết 966 hồ sơ đăng ký hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 1.003 người. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý I/2024 là 2,61%, tăng 0,08 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tình hình giải quyết việc làm: Để giúp người lao động có việc làm ổn định, ngoài tổ chức các sàn giao dịch định kỳ, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Tĩnh đã kết nối với một số doanh nghiệp tổ chức các phiên giao dịch việc làm, sàn giao dịch việc làm; đồng thời triển khai chương trình hợp tác xuất khẩu lao động, mở thêm nhiều lớp đào tạo tay nghề cho lao động. Theo số liệu từ Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động quý I năm 2024 là 5.129 người, tăng 26,89% so với quý trước và giảm 2,02% so cùng kỳ năm 2023. Trong đó: lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 1.746 người, chiếm 34,04% trong tổng số, tăng gấp 2 lần so với quý trước; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 2.072 người, chiếm 40,4%, tăng gấp 6 lần; xuất khẩu lao động 1.311 người, chiếm 25,56%, giảm 59,35%. Tất cả điều đó đã góp phần làm cho tình hình về lao động, việc làm quý I/2024 ở Hà Tĩnh được ổn định và khởi sắc hơn. 2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Những tháng đầu năm 2024 là thời gian trùng với dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 và các lễ hội, người dân vui tết đón xuân trong không khí đầm ấm, an toàn. Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư quý I/2024 nhìn chung ổn định, có phần khởi sắc hơn. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động công nghiệp, xây dựng thương mại, dịch vụ đi vào hoạt động ổn định nên tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc. Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai. Các dịch bệnh đối với chăn nuôi cơ bản được kiểm soát, việc tái đàn và phục hồi chăn nuôi đang tiếp tục được thực hiện. Hà Tĩnh tiếp tục triển khai các chương trình, đề án giảm nghèo với mục tiêu là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, an toàn nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh. Tăng cường kết nối về hạ tầng, đào tạo nghề và hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống nhân dân ổn định, toàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói trong dân cư. Công tác đảm bảo an sinh xã hội: công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời; các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với các mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm chu đáo, cụ thể: Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Ba tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã trao tặng 102.402 suất quà cho đối tượng người có công, trị giá 30,549 tỷ đồng.Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Ba tháng đầu năm 2024, Hà Tĩnh đã trao tặng khoảng 80.791 suất quà cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP, trị giá 31,796 tỷ đồng. Trong đó, trao tặng 20.082 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trị giá 8,619 tỷ đồng; 37.331 suất quà cho người cao tuổi, người già cô đơn, trị giá 13,546 tỷ đồng và 23.378 suất quà cho các đối tượng xã hội khác, trị giá 9,631 tỷ đồng.Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Ba tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 79.740 suất quà cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác, trị giá 43,654 tỷ đồng. Bên cạnh những hỗ trợ về hiện vật và tiền mặt, thì ba tháng đầu năm 2024 tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 1,978 tỷ đồng tiền điện cho 11.572 hộ nghèo.Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế: nêu rõ số lượng thẻ tương ứng với từng nhóm đối tượng thụ hưởng: Ba tháng đầu năm 2024, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 401.797 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 13.774 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 28.442 thẻ cho hộ cận nghèo; 142.635 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 38.507 thẻ cho người có công và 178.439 thẻ cho các đối tượng khác.Tình hình hỗ trợ gạo: Ba tháng đầu năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đã hỗ trợ 186,3 triệu đồng mua 10,37 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt thuộc huyện Hương Khê và các hộ nghèo, hộ cận nghèo huyện Cẩm Xuyên.3. Giáo dục đào tạoNăm học 2023-2024, Hà Tĩnh triển khai thực hiện Quyết định số 2457/QĐ-BGDĐT ngày 23/8/2023 của Bộ Giáo dục & Đào tạo về ban hành kế hoạch nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2023 – 2024 của ngành Giáo dục, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự nỗ lực của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn Ngành nên đã gặt hái được nhiều kết quả cao trong thời gian qua.Kết quả kỳ thi Học sinh giỏi THPT năm học 2023-2024 được Bộ GD&ĐT công bố, Hà Tĩnh giành được 76 giải/100 thí sinh dự thi, cụ thể các giải sau: 5 giải nhất, 20 giải nhì, 30 giải ba và 21 giải khuyến khích. Bên cạnh đó, Kỳ thi học sinh giỏi tỉnh lớp 10 diễn ra vào ngày 4/3/2024 với 1.299 thí sinh tham gia thi ở 10 bộ môn gồm: Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Lịch sử, Địa lý. Trong đó có 879 thí sinh đạt giải.4. Hoạt động Văn hóa - Thể thaoHoạt động văn hóa: Quý I/2024, là những tháng trùng với Tết Nguyên đán, Hà Tĩnh đã triển khai công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền các sự kiện chính trị, văn hóa, các ngày lễ kỷ niệm của quê hương, đất nước, đặc biệt là tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Giáp Thìn. Tổ chức bắn pháo hoa vào thời khắc giao thừa. Toàn tỉnh thay mới tranh cổ động tấm lớn, pano, áp phích các loại và hàng trăm lượt khẩu hiệu, băng rôn, cờ Tổ quốc,... Hoạt động thể thao: Quý I/2024, trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức nhiều giải thể thao, trò chơi dân gian mừng Đảng, mừng Xuân. Đặc biệt, trong thời gian này, huyện Can Lộc đã tổ chức được nhiều hoạt động thể thao tại Lễ Khai hội Chùa Hương Tích "Mở đầu năm du lịch Hà Tĩnh 2024”. Trong quý, đoàn thể thao Hà Tĩnh đã tham gia 5 giải thi đấu thành tích cao và giành được 9 huy chương các loại (2 HCV – 1 HCB – 6 HVĐ).5. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmTrong tháng xuất hiện đợt nắng nóng gay gắt trên diện rộng đầu tiên trong năm đã ảnh hưởng khá nhiều đến đời sống, sức khỏe của người dân, đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ. Đây cũng là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của các loại vi khuẩn, nấm mốc, nên cơ quan chức năng khuyến cáo người dân dân nên có kế hoạch sinh hoạt, làm việc hợp lý; áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe để đề phòng sốc nhiệt. Chủ động lựa chọn, sử dụng, bảo quản thực phẩm đúng cách, tránh nguy cơ gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm.Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, cần tiếp tục tăng cường các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, xét nghiệm phát hiện và điều trị sớm HIV/AIDS, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân đặc biệt cho những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao. Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và trách nhiệm của người nhiễm HIVAIDS với gia đình, xã hội; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.Trong tháng, có 5 người nhiễm mới HIV, 1 người chuyển thành AIDS và có 1 người chết vì AIDS; giảm 4 người chuyển thành AIDS, còn số người nhiễm HIV và số người chết vì AIDS không thay đổi so với tháng trước; giảm 5 người nhiễm AIDS, giảm 9 người chuyển thành AIDS, số người chết vì AIDS không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.Tính chung quý I/2024, có 12 người nhiễm mới HIV, 8 người chuyển thành AIDS và 3 người chết vì AIDS; giảm 4 người nhiễm HIV, giảm 4 người chuyển thành AIDS và tăng 2 người chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, trên địa bàn có một số ca bệnh đơn lẻ, cụ thể: 2 ca sốt xuất huyết, 2 ca sốt rét, 2 ca lỵ trực trùng, 17 ca mắc lỵ a míp, 32 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.361 ca mắc bệnh cúm, 124 ca tiêu chảy, 8 ca viêm gan vi rút khác và không có người chết do các bệnh trên.Tính chung quý I/2024, trên địa bàn cũng có một số ca bệnh đơn lẻ, không tạo thành dịch, cụ thể: 5 ca sốt xuất huyết (giảm 5 ca so với cùng kỳ năm trước), 4 ca sốt rét (tăng 3 ca), 48 ca mắc bệnh quai bị (tăng 7 ca), 7 ca mắc lỵ trực trùng (giảm 54 ca), 32 ca mắc lỵ a míp (giảm 45 ca), 105 ca mắc bệnh thủy đậu (tăng 44 ca), 4.409 ca mắc bệnh cúm (tăng 647 ca), 388 ca tiêu chảy (tăng 168 ca), 15 ca viêm gan vi rút khác (giảm 7 ca) và không có người chết do các bệnh trên. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Quý I/2024 là thời gian trùng vào dịp Tết Nguyên đán và các lễ hội mùa xuân, nhu cầu sử dụng thực phẩm vì thế tăng cao. Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), địa phương đã triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm ATVSTP cho người tiêu dùng. Trong tháng, không có vụ ngộ độc tập thể nào xảy ra, chỉ có 74 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; so với tháng trướcgiảm 29 ca ngộc độc đơn lẻ, số vụ ngộ độc và số người chết không thay đổi; so với cùng kỳ năm trước giảm 6 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 8,82%) số người chết các ca đơn lẻ không thay đổi, giảm 1 vụ ngộc độc tập thể và 7 người chết vì ngộ độc. Tính chung quý I/2024, không có vụ ngộ độc tập thể nào xẩy ra, 170 ca ngộ độc đơn lẻ và không có người chết vì ngộ độc; giảm 1 vụ ngộ độc tập thể và giảm 7 người chết vì ngộc độc, giảm 29 ca ngộ độc đơn lẻ (giảm 14,57%) và số người chết các ca ngộ đọc đơn lẻ không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. 6. Tai nạn giao thông Nhằm đảm bảo an toàn giao thông, ngăn ngừa các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông, Công an các huyện, thành phố, thị xã và các đơn vị liên quan tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vi phạm về trật tự ATGT. Đồng thời xem xét trách nhiệm liên đới của chủ phương tiện, doanh nghiệp vận tải khi để xảy ra sai phạm.Tính từ 15/02/2024 – 14/3/2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 23 vụ tai nạn đường bộ, làm 12 người chết, 15 người bị thương (giảm 31 vụ; giảm 9 người chết, giảm 26 người bị thương so với tháng trước); 1 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người chết (số vụ không thay đổi, tăng 1 người chết, giảm 1 người bị thương so với tháng trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoản 120 triệu đồng. Tính chung quý I/2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 117 vụ tai nạn đường bộ, làm 49 người chết, 97 người bị thương (tăng 45 vụ, tăng 3 người chết, tăng 57 người bị thương so với cùng kỳ năm trước); 3 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 01 người, 01 người bị thương (tăng 3 vụ, tăng 1 người chết, tăng 1 người bị thương so với cùng kỳ năm trước). Giá trị thiệt hại ước tính khoản 740 triệu đồng.7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổTình hình cháy: Tính từ 15/02/2024 - 14/3/2024, xảy ra 8 vụ cháy, không thiệt hại về người, giá trị thiệt hại ước tính 63 triệu đồng; số vụ và thiệt hại về người không đổi so với tháng trước; giảm 3 vụ, không thiệt hại về người so với cùng kỳ năm trước.Tính chung quý I/2024, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã xảy ra 17 vụ cháy, giá trị thiệt hại ước tính 214 triệu đồng (giảm 4 vụ, không làm thiệt hại về người như cùng kỳ năm trước).Tình hình nổ: trong tháng và quý I/2024 không xẩy ra tình hình nổ (so cùng kỳ không thay đổi).Công tác bảo vệ môi trường: Song hành với phát triển kinh tế thì công tác bảo vệ môi trường luôn được chú trọng, đẩy mạnh và được xem là “đòn bẩy” cho phát triển hướng đến mục tiêu bền vững. Vì vậy, trong thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo các địa phương đấy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân trong việc phát triển kinh tế phải gắn với công tác bảo vệ môi trường, nên người dân ngày càng ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, do đó tình hình vi phạm môi trường chiều hướng giảm so với cùng kỳ năm trước.Trong tháng, phát hiện 13 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 21 vụ, với tổng số tiền xử phạt 48,65 triệu đồng; giảm 65 vụ phát hiện (giảm 83,33 %), giảm 80 vụ đã xử lý (giảm 79,21%), giảm 93,51 triệu đồng (giảm 65,78%) tiền xử phạt so với tháng trước và giảm 16 vụ phát hiện (giảm 55,17%), giảm 30 vụ đã xử lý (giảm 58,82%), giảm 45,95 triệu đồng (giảm 48,57%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Quý I/2024, phát hiện 155 vụ vi phạm môi trường, giảm 60 vụ (giảm 27,91%) và đã xử phạt 143 vụ, giảm 176 vụ (giảm 55,17%) với tổng số tiền xử phạt 226,41 triệu đồng; giảm 533,09 triệu đồng số tiền xử phạt (giảm 70,19%) so với cùng kỳ năm trước.8. Thiệt hại thiên taiTrong tháng không xảy ra, không thay đổi so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay không xảy ra thiên tai và không thay đổi so cùng kỳ năm trước. III. DỰ BÁO, ĐẾ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI    Năm 2024 là năm bứt phá để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2021-2025. Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động, diễn biến phức tạp, khó lường, xung đột tại Ukraine, Trung Đông có thể còn kéo dài; kinh tế trong nước nước dự báo còn chịu sức ép lạm phát, tỷ giá; giá nhiều yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất kinh doanh tiếp tục xu hướng tăng; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thị trường lao động việc làm dự báo còn gặp nhiều khó khăn; biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục diễn biến bất thường, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của ngành nông nghiệp.        Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế xã hội theo Nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu sau đây:Một là, Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp lớn, trọng điểm: Tạo mọi điều kiện để Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II vận hành thử vào cuối năm; nhà máy Pin Lithium hoàn thành và đi vào sản xuất; các dự án đầu tư hạ tầng khu/cụm công nghiệp được đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ thủ tục; tích cực thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp sau thép, khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu. Thứ hai, Chủ động bám sát diễn biến thời tiết, tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch tả lợn châu Phi, dịch viêm da nổi cục trên đàn trâu bò; tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết 51/2021/NQ-HĐND; phát huy hiệu quả phong trào tập trung, tích tụ ruộng đất theo Nghị quyết 06-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tập trung triển khai đề án, chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ, nhất là chuỗi liên kết sản xuất gắn với Tập đoàn Quế Lâm. Ba là, Triển khai quyết liệt nhiệm vụ thu ngân sách ngay từ đầu năm; tăng cường công tác hậu kiểm, chống thất thu, thu hồi nợ thuế. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh khung cơ chế chính sách giai đoạn 2021-2025. Thực hiện đồng bộ các giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, nhất là các dự án ODA, 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; đảm bảo cơ cấu đầu tư hợp lý, hiệu quả giữa các địa phương, lĩnh vực.Bốn là, Tập trung nguồn lực cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với đào tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, nhân rộng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là các sản phẩm chủ lực của tỉnh; chú trọng hỗ trợ, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; phát triển tài sản trí tuệ; truy xuất nguồn gốc sản phẩm; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, hàng hóa.Năm là, Tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai; giải quyết các xung đột pháp lý về thủ tục giao đất, xác định đơn giá đền bù, thủ tục thanh quyết toán xây dựng cơ bản để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Trước mắt, ưu tiên tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng Ba và quý I năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Tình hình KTXH tỉnh Hà Tĩnh tháng Hai và 2 tháng năm 2024
  •   27/07/2024 11:01

I. LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 02/2024, sản xuất trồng trọt chủ yếu tập trung gieo trồng và chăm sóc các loại cây vụ Xuân năm 2024 với quyết tâm đạt và vượt diện tích, năng suất, sản lượng đề ra; Hoạt động chăn nuôi nhìn chung ổn định, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh dịp Tết vừa qua tương đối dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm; Hoạt động lâm nghiệp trong tháng khá nhộn nhịp khi trùng dịp Tết trồng cây Xuân Giáp Thìn, cùng với đó điều kiện thời tiết mát mẻ nên người dân tranh thủ khai thác rừng trồng đã đến kỳ thu hoạch; Hoạt động thủy sản không có nhiều biến động so với cùng kỳ. 1.1 Sản xuất nông nghiệp          *Trồng trọt  Hiện nay tranh thủ thời tiết nắng ráo sau kỳ nghỉ Tết, bà con nông dân đang chạy đua với thời gian, quyết tâm hoàn thành tiến độ sản xuất theo đúng kế hoạch. Đối với cây lúa, thời gian gieo trỉa trùng với đợt rét đậm rét hại kèm theo mưa ngập nên tỷ lệ hạt nảy mần đạt thấp vì vậy bà con nông dân đang đẩy nhanh tiến độ dặm tỉa, bón phân nhằm nâng cao sức đề kháng cho lúa Xuân. Cùng với gieo cấy lúa thì cũng đã xuống giống sản xuất các loại cây trồng vụ Xuân khác, tuy nhiên do thời gian qua đang tập trung gieo cấy lúa và điều kiện thời tiết có mưa, đất ướt nên tiến độ sản xuất các loại cây trồng cạn vụ Xuân tính đến ngày 15/02/2024 vẫn đạt thấp so với kế hoạch. Tiến độ gieo trồng cây vụ Xuân 2024: Cây lúa: Tổng diện tích gieo, cấy toàn tỉnh 59.022 ha/59.107 ha đạt 99,86% KH, trong đó: Diện tích gieo thẳng 53.874 ha, diện tích cấy 5.148 ha. Hiện nay các trà lúa đang giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng phát triển tốt. Cây trồng cạn: Đến ngày 15/02/2024, diện tích gieo trồng các cây trồng cạn vụ Xuân 11.179 ha/21.414 ha đạt 52,2% KH, cụ thể như sau: Lạc 1.590 ha/7.599 ha đạt 20,92% KH; Ngô lấy hạt: 5.054 ha/6.059 ha đạt 83,41% KH; Khoai lang: 1.066 ha/1.557 ha đạt 68,46% KH; Rau các loại: 3.469 ha/5.845 ha đạt 59,35% KH.. Thiên tai, dịch bệnh: Trong tháng 02/2024 trên cây lúa xuất hiện nạn ốc bươu vàng phát sinh gây hại trên chân ruộng trũng, chuột gây hại rãi rác; Trên cây ngô: Sâu keo mùa thu, bệnh đốm lá, khô vằn gây hại trên trà ngô Đông muộn. Cơ bản các loại dịch bệnh và côn trùng gây hại chủ yếu trên diện tích nhỏ, hầu như không gây hại đối với các loại cây trồng.  *Chăn nuôi Tháng 02/2024, tổng đàn các loại vật nuôi biến động nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Đầu tháng 2/2024, người chăn nuôi đã cung ứng các sản phẩm chăn nuôi phục vụ dịp Tết. Nhìn chung, lượng cung các sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh dịp Tết vừa qua tương đối dồi dào, sau khi tiêu thụ sản phẩm phục vụ nhu cầu dịp Tết thì người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Tuy nhiên, do giá thức ăn và các chi phí đang tăng cao là khó khăn và rào cản lớn đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn trong thời gian tới. Kết quả sản xuất chăn nuôi trong tháng cụ thể: Đàn trâu hiện có 66.920 con, bằng 99,81%; đàn bò hiện có 164.080 con, bằng 98,99% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn hiện có 388.500 con, bằng 101,93%; đàn gia cầm hiện có 9.250 ngàn con, bằng 101,87% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh việc đàn lợn, đàn gia cầm vẫn ổn định đàn thì đàn trâu, bò có xu hướng giảm do giá bán trâu, bò hơi đang ở mức khá thấp. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Hiện nay trên địa bàn tỉnh đang xảy ra Dịch tả lợn Châu Phi và Viêm da nổi cục, cụ thể: Bệnh Viêm da nổi cục xẩy ra từ ngày 08/01/2024 tại xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc; đến này 15/02/2024 dịch bệnh làm cho 26 con bò mắc bệnh (tiêu hủy trọng lượng 343 kg). Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xẩy ra tại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên tiêu hủy trọng lượng 449 kg. Đã qua 12 ngày dịch bệnh không có phát sinh thêm. 1.2 Lâm nghiệp Tháng Hai là dịp Tết trồng cây Xuân Giáp Thìn với điều kiện thời tiết mát mẻ nên người dân tranh thủ khai thác rừng trồng, tuy nhiên do sau Tết người dân vẫn còn nghỉ ngơi, du xuân nên kết quả đạt thấp so với mức bình quân chung các tháng trong năm.  Kết quả sản xuất: Tháng 02/2024 diện tích rừng trồng đạt 343 ha, bằng 106,85%, sản lượng gỗ khai thác đạt 18.677 m3, bằng 116,29%, sản lượng củi khai thác đạt 15.069 ste, bằng 97,80%, số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 613 ngàn cây, bằng 109,27% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, diện tích rừng trồng đạt 810 ha, bằng 104,11%, sản lượng gỗ khai thác đạt 39.203 m3, bằng 108,78%, sản lượng củi khai thác đạt 35.441 ste, bằng 96,44%, số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 873 ngàn cây, bằng 105,69% so với cùng kỳ năm trước. Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong tháng 2/2024 đã xảy ra 6 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá là 1,24 ha. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/02/2024, trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra cháy rừng nhưng đã xảy ra 9 vụ phá rừng, với diện tích rừng bị phá gần 1,48 ha. 1.3 Thủy sản Tháng 02 năm 2024 là tháng trùng trọn vẹn kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên ngư dân đang dành thời gian nghỉ ngơi, du xuân chưa ra khơi khai thác nên sản lượng có giảm nhẹ so với tháng trước, cũng là tháng sản lượng thấp nhất trong năm, tuy nhiên so với cùng kỳ nhìn chung vẫn có sự ổn định và tăng nhẹ. Kết quả hoạt động thủy sản trong tháng 02/2024: Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 3.958 tấn, bằng 102,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2.927 tấn, bằng 101,32%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.031 tấn, bằng 104,78%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 8.830 tấn, bằng 101,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 6.885 tấn, bằng 101,83%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.945 tấn, bằng 102,21%. Hiện nay là mùa của cá trích, ruốc...người dân chủ yếu đánh bắt vùng lộng gần bờ bằng tàu thuyền cỡ nhỏ nên ít tốn kém chi phí hơn trong khi thu hoạch được khá nên người dân phấn khởi hơn. Trong thời gian tới hoạt động khai thác hải sản dự báo vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi mà chi phí sản xuất tăng cao, nguồn vốn phát triển sản xuất hạn chế. Dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay chưa có dịch bệnh xảy ra đối với các sản phẩm thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh.2.    Sản xuất công nghiệp Tháng 02/2024, trùng với thời điểm nghỉ tết Nguyên Đán 2024, các doanh nghiệp cũng như các hộ cá thể công nghiệp tạm ngừng sản xuất dài ngày, vì vậy chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với tháng trước. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 02 năm 2024 dự ước giảm 12,05% so với tháng trước và tăng 0,18 % so với cùng kỳ năm trước. 2.1. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP) Trong đó: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tháng 02/2024 giảm 30,22% so với tháng trước và giảm 11,89% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 8,96% so với tháng trước và giảm 2,21% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 26,51% so với tháng trước và tăng 14,94% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,65% so với tháng trước và tăng 18,03% so với cùng kỳ năm 2023. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, các doanh nghiệp công nghiệp tiếp tục duy trì ổn định chuỗi sản xuất, trong đó gang thép Formosa, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I; ... tiếp tục là động lực tăng trưởng của tỉnh. Với sản lượng sản xuất ổn định và nâng công suất không chỉ tăng doanh thu cho doanh nghiệp mà còn góp phần phát triển chỉ số công nghiệp Hà Tĩnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh tính đến cuối tháng 02/2024 tăng 10,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 17,06%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 6,56%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 34,49%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 18,78%. 2.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong số 20 nhóm sản phẩm chủ yếu được tổng hợp, có 12 nhóm sản phẩm cộng dồn 2 tháng đầu năm 2024 tăng so cùng kỳ và có 7 nhóm sản phẩm có chỉ số giảm trong tổng số sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Một số sản phẩm công nghiệp 2 tháng đầu năm 2024 tăng so với năm trước: Quặng zircon và tinh quặng zircon tăng 59,88%; bia đóng lon tăng 48,9%; điện sản xuất tăng 36,36%; nước không uống được tăng 21,77%; vỏ bào, dăm gỗ tăng 21,07%; ... Một số sản phẩm công nghiệp 2 tháng đầu năm 2024 giảm so với cùng kỳ năm trước: Chè (trà) nguyên chất (như: chè (trà) xanh, chè (trà) đen) giảm 81,57%; mực đông lạnh giảm 61,69%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 28,21%; dịch vụ sản xuất dược phẩm giảm 20,91%; ... 2.3 Tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2024 tăng 0,03% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 16,58%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp cộng dồn đến cuối tháng 2 năm 2024, tăng 15,03% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sử dụng lao động tháng 2 tháng đầu năm 2024 của ngành khai khoáng tăng 11,79% so với năm trước. Hiện nay, một số doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm vì vậy nguồn nhân lực tăng so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động 2 tháng đầu năm 2024 đối với ngành này tăng 19,09%. Chỉ số sử dụng lao động ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,69%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 3,59% so với cùng kỳ năm 2023. 3. Vốn đầu tư Tháng 02/2024 trùng với dịp Tết Nguyên Đán, thời gian nghỉ tết kéo dài, các công trình tạm thời dừng thi công. Bên cạnh đó trong tháng chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp năm trước, việc triển khai khởi công các công trình mới vẫn đang gặp nhiều khó khăn do quy trình thủ tục đầu tư cần nhiều thời gian, mặt khác nguồn vốn ODA chưa giao vốn kế hoạch tới công trình. Tổng vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 02/2024 giảm 28 % so với tháng trước và giảm 26,94% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 02/2024 ước đạt 165,62 tỷ đồng, giảm 28% so với tháng trước và giảm 39,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 120,76 tỷ đồng, giảm 25,07% so với tháng trước và giảm 40,22% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 41,18 tỷ đồng, giảm 28,62% so với tháng trước và giảm 27,53% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 3,68 tỷ đồng, giảm 67,03% so với tháng trước và giảm 77,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, dự tính chỉ có một số công trình thi công như: Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương, tỉnh Hà Tĩnh; đường nối quốc lộ 1A vào Khu đô thị trung tâm Khu kinh tế Vũng Áng (giai đoạn 2); dự án Đường vành đai phía Đông thành phố Hà Tĩnh;… Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 395,65 tỷ đồng, giảm 26,94% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do vốn kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh được giao năm 2024 giảm 27,65% so với năm trước. Các công trình lớn thuộc nguồn vốn Trung ương và vốn ODA thực hiện chậm do còn vướng mắc công tác giải phóng mặt bằng cũng như quy trình thủ tục đầu tư, hồ sơ thi công dẫn đến giá trị thực hiện các tháng đầu năm còn đạt thấp, chỉ đạt 8,83% kế hoạch năm. 4. Thương mại, dịch vụ 4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 02/2024 rơi vào thời điểm trong và sau dịp tết Nguyên đán, số ngày sản xuất kinh doanh của các cơ sở đều giảm dẫn tới nhu cầu và giá cả các mặt hàng tiêu dùng đều có xu hướng giảm mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Hai ước giảm 10,3% so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ vẫn tăng 23,93%, tính chung 2 tháng đầu năm 2024 doanh thu ước tăng 18,99%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng 02/2024 ước đạt 5.472,19 tỷ đồng, giảm 10,19% so với tháng trước và tăng 25,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu các nhóm hàng doanh thu lớn biến động như: Lương thực, thực phẩm giảm 5,16% so với tháng trước, tăng 27,82% so với cùng kỳ; Hàng may mặc giảm 7,06% so với tháng trước, tăng 81,43% so với cùng kỳ; Đồ dùng, dụng cụ gia đình giảm 9,6% so với tháng trước, tăng 72,1% so với cùng kỳ; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 54,6% so với tháng trước, giảm 20,69% so với cùng kỳ; Gỗ và vật liệu xây dựng giảm 22,65% so với tháng trước, giảm 13,7% so với cùng kỳ; Xăng, dầu các loại giảm 15,22% so với tháng trước, giảm 12,97% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do trong tháng mức tiêu thụ các mặt hàng trong nhóm như hàng nội thất, vật phẩm trang trí nhà ở, hoa tươi, cây cảnh, phương tiện đi lại giảm mạnh sau tết Nguyên đán. Bên cạnh đó, những khó khăn từ nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm đồ dùng có giá trị của người dân, bên cạnh đó các công trình xây dựng cơ bản thường nghỉ Tết sớm và bắt đầu muộn, trong khi nhu cầu xây dựng nhà ở dân cư đầu năm đang ở mức thấp. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024 doanh thu ước đạt 11.565,16 tỷ đồng, tăng 20,06% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, các nhóm hàng đều có doanh thu tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, giá cả của các loại hàng hoá, cùng với đó là ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về thuế, giá nhiên liệu xăng, dầu các loại. Đặc biệt, nhiều cơ sở mới bắt đầu kinh doanh từ sau thời điểm rằm tháng giêng (25/02 dương lịch) càng ảnh hưởng đến doanh thu bán buôn và bán lẻ hàng hóa. Dịch vụ l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành: Những tháng đầu năm là dịp để tham quan, du lịch, vãn cảnh đầu xuân năm mới 2024, tháng 02 thời tiết thuận lợi cho việc đi lại vui xuân. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành trong tháng 02/2024 dự tính đạt 587,0 tỷ đồng, giảm 11,32% so với tháng trước, tăng 13,19% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ lưu trú tăng 1,57% so với tháng trước, giảm 36,4% so với cùng kỳ; Dịch vụ ăn uống giảm 11,59% so với tháng trước, tăng 15,05% so với cùng kỳ; Du lịch lữ hành giảm 3,31% so với tháng trước và tăng 2,06% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 1.248,95 tỷ đồng, tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu lưu trú đạt 22,62 tỷ đồng, giảm 39,63% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ ăn uống ước tính đạt 1.219,79 tỷ đồng, tăng 23,01% so với cùng kỳ năm trước; Du lịch lữ hành ước tính đạt 6,54 tỷ đồng, tăng 25,77% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch trong 2 tháng đầu năm tăng khá do doanh thu ăn uống ngoài gia đình chiếm tỷ trọng lớn, tăng trưởng khá ổn định khi nhu cầu người dân ngày càng tăng, trong 2 tháng lại trùng vào mùa cưới hỏi và có nhiều ngày nghỉ lễ, Tết Dương lịch, tổng kết cuối năm nên nhu cầu ăn uống, đặt tiệc vẫn được duy trì ổn định. Bên cạnh đó, dịch vụ lưu trú lại gặp không ít khó khăn, do từ đầu quý 4 năm 2023 tới nay các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú lớn trên địa bàn tiến hành sữa chữa, cộng với các điểm du lịch chưa được đầu tư những điểm mới, đa dạng các loại hình giải trí để níu chân du khách ở lại. Doanh thu du lịch mặc dù không lớn nhưng về cuối năm vẫn tăng khá đáng kể do lượng đặt tour du lịch trong và ngoài trong dịp Tết Dương lịch, đặc biệt là loại hình du lịch tâm linh tăng. Dịch vụ khác: Doanh thu kinh doanh dịch vụ khác tháng 02/2024 dự tính đạt 334,80 tỷ đồng, giảm 17,99% so với tháng trước và giảm 4,48% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân do trùng vào dịp nghỉ tết Nguyên Đán dài ngày, các doanh nghiệp cũng như hộ cá thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ khác giảm ngày hoạt động. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024 ước đạt 743,05 tỷ đồng, tăng 2,35% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung tình hình kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh có những thay đổi tùy theo từng nhóm ngành hàng, do tính chất thời vụ dịp Tết Âm lịch ảnh hưởng đến một số ngành như lữ hành, dịch vụ hành chính hỗ trợ, dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế, dịch vụ vui chơi giải trí và dịch vụ làm đẹp. Bên cạnh đó, là những ảnh hưởng từ thời tiết và giá cả thị trường. 4.2. Hoạt động vận tải Tháng 02/2024 là tháng cao điểm về nhu cầu vận tải hành khách trong năm, lượng hành khách vận chuyển thời điểm trước, trong và sau tết Nguyên đán tuy nhiên trên địa bàn tỉnh không xảy ra hiện tượng thiếu phương tiện đưa đón người dân đi lại. Tuy giá xăng, dầu tăng cao, nhưng hiện tại các phương tiện vận tải cự ly ngắn và trung bình chưa tăng giá. Trong khi đó, các tuyến vận tải liên tỉnh chỉ cho phép tăng giá vé một chiều từ các tỉnh về Hà Tĩnh. Bên cạnh đó hoạt động vận tải hành khách đường sông tăng chủ yếu phục vụ đối tượng đi lễ chùa Hương Tích. Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 02/2024 ước đạt đạt 652,81 tỷ đồng, giảm 0,35% so tháng trước và tăng 29,71% so cùng kỳ năm trước. Bên cạnh việc vận tải hành khách trong tháng tăng mạnh (tăng 6,98% so với tháng trước và tăng 93,79% so với cùng kỳ năm trước) thì vận tải hàng hóa và dịch vụ hỗ trợ vận tải, kho bãi trong tháng này giảm với biên độ đáng kể do nghỉ hoạt động dài ngày (Vận tải hàng hóa ước giảm 26,08% so với tháng trước; giảm 17,25% so với cùng kỳ; Kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 14,26% so với tháng trước và tăng 19,34% so với cùng kỳ năm trước) Tính chung 2 tháng đầu năm doanh thu vận tải dự tính đạt 1.196,55 tỷ đồng, tăng 16,19% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó: Vận tải hành khách dự tính đạt 283,97 tỷ đồng, tăng 75,37%; Vận tải hàng hóa dự tính đạt 673,69 tỷ đồng, tăng 1,45%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 228,53 tỷ đồng, tăng 29,57% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, kết quả kinh doanh vận tải tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2024 chịu ảnh hưởng chủ yếu do những nguyên nhân sau: Vận tải hành khách tăng do yếu tố thời vụ, trùng dịp tết Nguyên đán, thời điểm trước, trong và sau Tết lượng khách đi lại luôn ở mức cao, tình trạng cháy vé các tuyến xe đường dài xảy ra, cùng với việc tăng giá để bù chiều chạy rỗng. Vận tải hàng hóa, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm kỳ nghỉ tết Nguyên đán kéo dài, các công trình xây dựng giảm khối lượng thi công. 4.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa Tình hình xuất khẩu trong tháng 02/2024 tăng so với tháng trước nhưng không đạt mức kỳ vọng so với cùng kỳ. Bên cạnh đó việc Nhập khẩu hàng hoá được đẩy mạnh cả so với tháng trước và so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do Formosa, và các đơn vị doanh nghiệp tăng việc nhập khẩu nguyên liệu phục vụ cho sản xuất sau kỳ nghỉ Tết dài ngày. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 954,91 triệu USD, tăng 5,23% so với cùng kỳ năm 2023. Kim ngạch xuất khẩu: Tháng 02/2024 ước đạt 216,5 triệu USD, tăng 5,20% so với tháng trước, nhưng so với cùng kỳ giảm 3,83%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, kim ngạch ước đạt 422,3 triệu USD, giảm 1,40% so với cùng kỳ năm trước. Lý giải cho sự giảm sút nhẹ này là do hoạt động xuất khẩu nhiều ngành hàng giai đoạn đầu năm gặp khó khăn khi nhu cầu hàng hóa chưa cao. Riêng lĩnh vực may mặc đã có những dấu hiệu khởi sắc về thị trường so với năm 2023. Đây cũng là mặt hàng duy nhất có kim ngạch xuất khẩu tăng với mức tăng trong tháng Hai 42,86%, và chung 2 tháng tăng 107,22% so với cùng kỳ năm 2023. Xuất khẩu thép, phôi thép tháng 02/2024 mặc dù có tăng nhẹ so với tháng trước (3,49%) tuy nhiên so với cùng kỳ vẫn đang giảm khá sâu (11,49%). Tính chung 2 tháng xuất khẩu thép, phôi thép giảm 6,84% so với cùng kỳ, các nhóm hàng xuất khẩu khác cũng giảm khá sâu, ngành dăm gỗ vẫn tiếp tục gặp khó khăn chưa có dấu hiệu phục hồi. Kim ngạch nhập khẩu: Tháng 02/2024 ước đạt 277,6 triệu USD, tăng cả so với tháng trước (tăng 8,86%) và so với cùng kỳ năm 2023 (tăng 15,41%). Tính chung 2 tháng đầu năm 2024 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 532,61 triệu USD, tăng 11,15% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (chiếm gần 68%). Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD. Để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng hoạt động xuất khẩu, tại kỳ họp cuối năm 2023, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Nghị quyết một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025. Với nhiều chính sách hấp dẫn như: hỗ trợ phương tiện vận tải biển bằng container qua cảng Vũng Áng; hỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ, các đoàn xúc tiến thương mại, khảo sát tìm hiểu thị trường xuất khẩu; hỗ trợ xây dựng gian hàng hóa để quảng bá, xuất khẩu trên sàn thương mại điện tử. Kỳ vọng những tín hiệu tích cực trong năm 2024 đối với hoạt động này. 5. Chỉ số giá tiêu dùng Nhìn chung, thị trường hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ tháng 02 năm 2024 trùng dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn, giá cả nhiều mặt hàng tăng, nhất là các nhóm lương thực thực phẩm, đồ uống, giao thông. Thị trường hàng hoá đa dạng, nhiều mẫu mã, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, không xảy ra hiện tượng khan hiếm. Tuy nhiên, do những khó khăn chung của nền kinh tế ảnh hưởng đến thu nhập của người dân đã khiến nhu cầu tiêu dùng nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ không cao. Tháng 02/2024, chỉ số CPI chung tăng 1,26% so với tháng trước và tăng 2,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có sự biến động như sau: Có 07 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,03% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 5,07%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,77% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 5,68%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,55% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,06%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,47% so tháng trước, so cùng tháng năm trước giảm 3,54%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,43% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 0,91%; giao thông tăng 3,08% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,86%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,91% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 6,17%. Có 01 nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm so với tháng trước là nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,04% so tháng trước, tăng 4,4% so cùng tháng năm trước. Và có 03 nhóm ổn định về chỉ số so với tháng trước như: Bưu chính viễn thông; thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục. Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng 02/2024 chủ yếu do các nguyên nhân chính như: Thứ nhất, do yếu tố mùa vụ là tháng trùng dịp Tết Nguyên đán rơi vào đầu và giữa tháng 02/2024, nhu cầu tiêu dùng và giá cả đa số các nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng cao, về cuối tháng, giá cả giảm dần và ổn định lại; Thứ hai, do ảnh hưởng của các chính sách điều hành từ Chính phủ về thuế, giá nhiên liệu xăng, dầu các loại Thị trường giá vàng và ngoại tệ trong tháng bình quân tăng mạnh theo xu hướng của thị trường thế giới. Chỉ số giá vàng tăng 3,15% so với tháng trước, tăng 19,03% so với cùng tháng năm trước; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,64% so với tháng trước và tăng 6,11% so với cùng tháng năm trước. Giá vàng bình quân trong tháng ở mức 6.530 nghìn đồng/chỉ 9999, giá đô la Mỹ bình quân 2.511.446 đồng/100 USD. Dự kiến CPI tháng 03/2024 sẽ giảm hơn do thời điểm sau tháng Tết, nhu cầu tiêu dùng cũng như giá cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ đều giảm. Ngoại trừ nhóm vật liệu xây dựng, giá điện và nước sinh hoạt dự kiến tăng khi thời tiết bắt đầu chuyển nắng nóng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội Tháng 02/2024 là dịp Tết Nguyên đán, nguồn cung hàng hóa phong phú, đa dạng về mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, giá cả cơ bản ổn định, không có mặt hàng nào tăng đột biến so với trước Tết. Tuy nhiên, sức mua năm nay có phần sụt giảm, thị trường kém sôi động hơn so với những năm trước. Với mục tiêu “Không để gia đình nào không có tết, không có gia đình nào bị bỏ lại phía sau”, cùng với sự quan tâm thường xuyên trong năm, dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, tỉnh Hà Tĩnh đã trao tặng 262.933 suất quà trao cho người có công, người cao tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng BTXH, trẻ em, người lao động, với tổng kinh phí hơn 105 triệu đồng. Hỗ trợ huyện Hương Khê 152 triệu đồng mua 8,46 tấn gạo cho các hộ dân tộc Chứt thuộc bản Rào Tre xã Hương Liên và bản Giàng II xã Hương Vĩnh trong dịp Tết Nguyên Đán và thời gian giáp hạt đầu năm 2024.2. Hoạt động y tế - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế nhiễm HIV/AIDS, Hà Tĩnh đang tập trung tăng cường các hoạt động truyền thông và dự phòng chống lây nhiễm HIV, cung cấp các dịch vụ toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS cho người dân, nhất là đối tượng thanh niên. Trong tháng, phát hiện 5 người nhiễm mới HIV, 5 người chuyển thành AIDS, 1 người chết vì AIDS. So tháng trước: tăng 3 người nhiểm mới HIV (tăng 2,5 lần), tăng 3 người chuyển thành AIDS (tăng 2,5 lần) và số người chết vì AIDS không thay đổi. So cùng kỳ năm trước: tăng 2 người nhiểm mới HIV (tăng 66,67%); tăng 4 người chuyển thành AIDS (tăng 5 lần); số người chết vì AIDS không thay đổi (cùng kỳ chết 1 người). Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, đã phát hiện 7 người nhiễm mới HIV, 7 người chuyển thành AIDS, 2 người chết vì AIDS. So cùng kỳ năm trước: tăng 1 người nhiểm mới HIV (tăng 16,67%); tăng 5 người chuyển thành AIDS (tăng2,5 lần); tăng 1 người chết vì AIDS (tăng 100%). - Công tác an toàn thực phẩm: Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết và nguy cơ ngộ độc do mất vệ sinh an toàn thực phẩm có thể xảy ra trong dịp Tết Nguyên đán, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai công tác bảo đảm an toàn thực phẩm nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm dẫn đến các ngộ độc thực phẩm có thể xẩy ra trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán và mùa lễ hội đầu xuân năm 2024. Trong tháng, không xảy ra các vụ ngộ độc tập thể (tháng trước không xẩy ra các vụ ngộ độc tập thể nào); chỉ có 45 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, so với tháng trước giảm 6 ca (giảm 11,76%) và giảm 33 ca so với cùng kỳ năm trước (giảm 42,31%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (tháng trước và cùng kỳ năm trước đều không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ). Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, không xẩy ra các vụ ngộ độc thực phẩm (so với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ); có 96 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ, so với cùng kỳ năm trước giảm 35 ca (giảm 26,72%); không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ (cùng kỳ năm trước không có người chết vì các ca ngộ độc đơn lẻ). - Tình hình dịch bệnh khác: Trong tháng, không có bệnh nào tạo thành dịch, trên địa bàn chỉ có một số ca mắc các bệnh đơn lẻ, gồm: 2 ca sốt xuất huyết (giảm 1 ca so với cùng kỳ), 1 ca sốt rét (cùng kỳ năm trước không xẩy ra), 1 ca quai bị (giảm 12 ca so với cùng kỳ), 3 ca lỵ trực trùng (giảm 18 ca so với cùng kỳ), 5 ca lỵ amip (giảm 18 ca so với cùng kỳ), 26 ca thủy đậu (tăng 9 ca so với cùng kỳ), 1.399 ca mắc bệnh cúm (tăng 260 ca so với cùng kỳ), 120 ca tiêu chảy đơn lẻ (giảm 75 ca so với cùng kỳ), 7 ca viêm gan vi rút khác (giảm 1 ca so với cùng kỳ). Tất cả các ca bệnh trên không tạo thành dịch, chỉ là các ca bệnh đơn lẻ và không có người chết do các bệnh trên.3. Hoạt động văn hoá, thể thao Về văn hóa: Là tháng trùng với dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn, Hà Tĩnh đã tổ chức các hoạt động văn hóa mừng Đảng, mừng xuân sôi nổi trên toàn tỉnh. Năm nay, nhiều tổ chức, đoàn thể, địa phương đã tổ chức các chương trình nghệ thuật quy mô, có sự góp mặt của nghệ sỹ tên tuổi cả nước, tạo nên nhiều “bữa tiệc” văn hóa chất lượng phục vụ bà con. Ngoài ra, tỉnh còn tổ chức bắn pháo hoa đêm giao thừa đón Xuân Giáp Thìn 2024 (tại thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Kỳ Anh), mang theo niềm tin, khát vọng của người dân về một năm mới bình an, may mắn.Về thể dục thể thao: Trong dịp Tết, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều giải đấu thể thao, các trò chơi dân gian thu hút đông đảo người dân tham dự, tạo nên không khí vui Tết, dón Xuân, vui tươi, đoàn kết trong những ngày đầu năm mới.Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động văn hóa: Trong tháng, đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra văn hóa trên địa bàn, nhất là các dịch vụ vui chơi giải trí karaoke, dịch vụ kinh doanh văn hóa tranh ảnh, băng đĩa nhạc,… nhằm đảm bảo việc tiếp cận các giá trị văn hóa của người dân nhất là trong dịp Tết cổ truyền được tốt hơn, loại trừ các văn hóa phẩm đi lệch với các thuần phong mỹ tục của quê hương, đất nước. 4. Tình hình trật tự và toàn giao thông Để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) cho Nhân dân vui đón Tết Nguyên đán Giáp Thìn và Lễ hội xuân 2024, UBND tỉnh và cơ quan, lực lượng chuyên môn đã ban hành các văn bản chỉ đạo, thắt chặt các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tháng (tính từ ngày 15/01/2024-14/02/2024) xảy ra 54 vụ tai nạn đường bộ, làm 21 người chết, 41 người bị thương (tăng 14 vụ, tăng 5 người chết so với tháng trước); 1 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương (số vụ không thay đổi, tăng 1 người bị thương so với tháng trước); tai nạn đường thủy không xảy ra.So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 27 vụ (tăng 2 lần), tăng 7 người chết (tăng 50%) và tăng 22 người bị thương (tăng 2,1 lần); số vụ tai nạn đường sắt tăng 1 vụ (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 310 triệu đồng. Trong đó, tính riêng trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn xảy ra 11 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 04 người, bị thương 11 người (giảm 01 vụ, 01 người chết, bằng số người bị thương so với dịp Tết Quý Mão 2023).Tính chung 2 tháng đầu năm (từ 15/12/2023-14/02/2024), xảy ra 94 vụ tai nạn đường bộ, làm 37 người chết, 82 người bị thương; 2 vụ tai nạn đường sắt, làm 1 người bị thương, không có người chết; tai nạn đường thủy không xẩy ra. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn đường bộ tăng 42 vụ (tăng 80,77%), tăng 3  người chết (tăng 8,82%) và tăng 54 người bị thương (tăng192,86%); số vụ tai nạn đường sắt tăng 2 vụ và tăng 1 người bị thương (cùng kỳ không xẩy ra). Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 620 triệu đồng 5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ- Tình hình cháy: Trong tháng (từ ngày 15/01/2024-14/02/2024)  trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 8 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 150 triệu đồng; so với tháng trước: tăng 7 vụ cháy (tăng 8 lần), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). Tính riêng trong dịp Tết Giáp Thìn 2024 xảy ra 03 vụ cháy, thiệt hại tài sản hơn 60 triệu đồng (giảm 01 vụ so với dịp Tết Quý Mão 2023). So với cùng kỳ năm trước giảm 1 vụ cháy (giảm 11,11%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). Tính chung 2 tháng đầu năm (từ ngày, từ ngày 15/12/2023-14/02/2024) trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy 9 vụ cháy, không làm thiệt hại về người, ước tính giá trị thiệt hại tài sản 151 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 9 vụ cháy (giảm 50,0%), thiệt hại về người không thay đổi (không xẩy ra). - Tình hình nổ: Trong tháng và 2 tháng đều không xẩy ra vụ nổ nào.- Vi phạm môi trường: Song hành với phát triển kinh tế thì công tác bảo vệ môi trường luôn được chú trọng, đẩy mạnh và được xem là “đòn bẩy” cho phát triển hướng đến mục tiêu bền vững. Tuy nhiên, một số người dân vẫn chưa ý thực trách nhiệm của bản thân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, do đó tình hình vi phạm môi trường trong tháng tăng so với tháng trước. Trong tháng, Hà Tĩnh phát hiện 78 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 101 vụ, với tổng số tiền xử phạt 142,16 triệu đồng; tăng 14 vụ phát hiện (tăng 21,88 %), tăng 80 vụ đã xử lý (tăng 4,81 lần), tăng 106,56 triệu đồng (tăng 3,99 lần) tiền xử phạt so với tháng trước và tăng 42 vụ phát hiện (tăng 116,67%), tăng 4 vụ đã xử lý (tăng 4,12%), giảm 184,04 triệu đồng (giảm 56,42%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2024, phát hiện 142 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 122 vụ, với tổng số tiền xử phạt 177,76 triệu đồng; giảm 44 vụ phát hiện (giảm 23,66%), giảm 146 vụ đã xử lý (giảm 54,48%), giảm 487,14 triệu đồng (giảm 73,27%) số tiền xử phạt so với cùng kỳ năm trước. 6. Tình hình thiên tai Trong tháng, không xảy ra thiên tai. So với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước không thay đổi. Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.